Table of Contents
FROM INTELLECT
TO INTUITION
ALICE A. BAILEY
Index Edition
BOOKS BY ALICE A. BAILEY
Initiation, Human and Solar
Letters on Occult Meditation
The Consciousness of the Atom
A Treatise on Cosmic Fire
The Light of the Soul
The Soul and its Mechanism
From Intellect to Intuition
A Treatise on White Magic
From Bethlehem to Calvary
Discipleship in the New Age–Vol. I
Discipleship in the New Age–Vol. II
Problems of Humanity
The Reappearance of the Christ
The Destiny of the Nations
Glamour: A World Problem
Telepathy and the Etheric Vehicle
The Unfinished Autobiography
Education in the New Age
The Externalisation of the Hierarchy
A Treatise on the Seven Rays:
Vol. I–Esoteric Psychology
Vol. II–Esoteric Psychology
Vol. III–Esoteric Astrology
Vol. IV–Esoteric Healing
Vol. V–The Rays and the Initiations
THE GREAT INVOCATION
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được của Ý chí Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Ánh Sáng và Tình thương được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”
ALICE A. BAILEY
CHAPTER ONE - INTRODUCTORY THOUGHTS
NHỮNG SUY NGHĨ MỞ ĐẦU
“The scientific method — apart from a narrowly agnostic and pragmatist point of view — is therefore by itself incomplete and insufficient: it demands in order to make contact with reality the complement of some metaphysic or other.”
“Do đó, phương pháp khoa học — tách rời khỏi quan điểm bất khả tri và thực dụng hạn hẹp — tự nó là không hoàn chỉnh và không đầy đủ: để tiếp xúc với thực tại, nó đòi hỏi phần bổ sung của một nền siêu hình học nào đó.”
JOSEPH MARÉCHAL, S.J.
JOSEPH MARÉCHAL, S.J.
[3]
[3]
The present widespread interest in the subject of Meditation is an evidence of a world need which requires clear understanding. Where we find a popular trend in any particular direction, which is one-pointed and steady, it may be safe to assume that out of it will emerge that which the race needs in its onward march. That meditation is regarded, by those who define loosely, as a “mode of prayer” is, unfortunately, true. But it can be demonstrated that in the right understanding of the meditation process and in its right adaptation to the needs of our modern civilization will be found the solution of the present educational impasse and the method whereby the fact of the soul may be ascertained — that living something which we call the “Soul” for lack of a better term.
Mối quan tâm rộng rãi hiện nay đối với chủ đề Tham thiền là bằng chứng cho một nhu cầu của thế giới đòi hỏi sự thấu hiểu rõ ràng. Bất cứ nơi nào chúng ta tìm thấy một xu hướng phổ biến theo bất kỳ phương hướng cụ thể nào, mà xu hướng đó nhất tâm và vững chắc, thì có thể an toàn khi cho rằng từ đó sẽ xuất hiện điều mà nhân loại cần trong cuộc hành trình tiến lên của mình. Thật không may, đúng là tham thiền được xem, bởi những người định nghĩa lỏng lẻo, như một “phương thức cầu nguyện”. Nhưng có thể chứng minh rằng trong sự thấu hiểu đúng đắn về quy trình tham thiền và trong sự thích ứng đúng đắn của nó với các nhu cầu của nền văn minh hiện đại chúng ta, sẽ tìm thấy giải pháp cho sự bế tắc giáo dục hiện tại và phương pháp nhờ đó sự thật về linh hồn có thể được xác định — cái thực thể sống động nào đó mà chúng ta gọi là “Linh hồn” vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn.
The purpose of this book is to deal with the nature and true significance of meditation, and with its use on a large scale in the West. It is suggested that it may eventually supplant the present methods of memory training, and prove a potent factor in modern educational procedure. It is a subject that has engrossed the attention of thinkers in the East [4] and in the West for thousands of years, and this uniformity of interest is in itself of importance. The next developments which will carry the race forward along the path of its unfolding consciousness must surely lie in the direction of synthesis. The growth of human knowledge must be brought about by the fusion of the Eastern and the Western techniques of mental training. This has already proceeded apace and thinkers in both hemispheres are realizing that this fusion is leading towards some most significant realization. Edward Carpenter says that:
Mục đích của cuốn sách này là bàn về bản chất và thâm nghĩa thực sự của tham thiền, và về việc sử dụng nó trên quy mô lớn ở phương Tây. Có ý kiến cho rằng cuối cùng nó có thể thay thế các phương pháp rèn luyện trí nhớ hiện tại, và chứng tỏ là một yếu tố mạnh mẽ trong quy trình giáo dục hiện đại. Đó là một chủ đề đã thu hút sự chú ý của các nhà tư tưởng ở phương Đông [4] và phương Tây trong hàng ngàn năm, và sự thống nhất về mối quan tâm này tự thân nó đã rất quan trọng. Những phát triển tiếp theo sẽ đưa nhân loại tiến lên dọc theo con đường mở rộng tâm thức của mình chắc chắn phải nằm ở hướng của sự tổng hợp. Sự phát triển kiến thức của con người phải được mang lại bởi sự dung hợp các kỹ thuật rèn luyện trí tuệ của phương Đông và phương Tây. Điều này đã tiến triển nhanh chóng và các nhà tư tưởng ở cả hai bán cầu đang nhận ra rằng sự dung hợp này đang dẫn đến một sự chứng nghiệm ý nghĩa nhất. Edward Carpenter nói rằng:
“We seem to be arriving at a time when, with the circling of our knowledge of the globe, a great synthesis of all human thought...is quite naturally and inevitably taking place.... Out of this meeting of elements is already arising the dim outline of a philosophy which must surely dominate human thought for a long period.”
“Chúng ta dường như đang đi đến một thời điểm mà, với sự quay vòng kiến thức của chúng ta về địa cầu, một sự tổng hợp vĩ đại của mọi tư tưởng con người... đang diễn ra hoàn toàn tự nhiên và tất yếu.... Từ sự gặp gỡ của các yếu tố này đã trỗi lên phác thảo lờ mờ của một triết lý chắc chắn sẽ chi phối tư tưởng con người trong một thời gian dài.”
CARPENTER, EDWARD, “THE ART OF CREATION”, P. 7.
CARPENTER, EDWARD, “THE ART OF CREATION” (NGHỆ THUẬT SÁNG TẠO), TR. 7.
Herein lies the glory and hope of the race and the outstanding triumph of science. We are now one people. The heritage of any race lies open to another; the best thought of the centuries is available for all; and ancient techniques and modern methods must meet and interchange. Each will have to modify its mode of presentation and each will have to make an effort to understand the underlying spirit which has produced a peculiar phraseology and imagery, but when these concessions are made, a structure of truth will be found to emerge which will embody the spirit of the New Age. Modern thinkers are realizing this and Dr. Overstreet points out that: [5]
Ở đây nằm vinh quang và hy vọng của nhân loại và chiến thắng nổi bật của khoa học. Giờ đây chúng ta là một dân tộc. Di sản của bất kỳ giống dân nào cũng mở ra cho giống dân khác; tư tưởng tốt nhất của các thế kỷ đều sẵn có cho tất cả; và các kỹ thuật cổ xưa cùng các phương pháp hiện đại phải gặp gỡ và trao đổi. Mỗi bên sẽ phải sửa đổi phương thức trình bày của mình và mỗi bên sẽ phải nỗ lực để thấu hiểu tinh thần tiềm ẩn vốn đã tạo ra một cách diễn đạt và hình tượng đặc thù, nhưng khi những nhượng bộ này được thực hiện, một cấu trúc chân lý sẽ được tìm thấy xuất hiện, thể hiện tinh thần của Kỷ Nguyên Mới. Các nhà tư tưởng hiện đại đang nhận ra điều này và Tiến sĩ Overstreet chỉ ra rằng: [5]
“Eastern philosophy, one suspects, has had small effect upon western thought chiefly because of its manner. But there is every reason to believe that as the influence of western thinking — particularly its experimental hard-headedness — is felt in the East, a new philosophic manner will be adopted, and the profound spirituality of eastern thought will be expressed in ways more acceptable to the western mind.”
“Người ta nghi ngờ rằng triết học phương Đông đã có ít ảnh hưởng đến tư tưởng phương Tây chủ yếu là do cách thức của nó. Nhưng có mọi lý do để tin rằng khi ảnh hưởng của tư duy phương Tây — đặc biệt là tính thực tế mang tính thực nghiệm của nó — được cảm nhận ở phương Đông, một phong cách triết học mới sẽ được áp dụng, và tính chất tinh thần sâu sắc của tư tưởng phương Đông sẽ được diễn đạt theo những cách dễ chấp nhận hơn đối với trí tuệ phương Tây.”
OVERSTREET, H. A., “THE ENDURING QUEST”, P. 271.
OVERSTREET, H. A., “THE ENDURING QUEST” (CUỘC TÌM KIẾM BỀN BỈ), TR. 271.
Both schools have hitherto tended to antagonize each other, yet the quest for truth has been one; the interest in that which is, and that which can be, is not confined to either group; and the factors with which each has had to work have been the same. Though the mind of the eastern thinker may run to creative imagery and that of the western worker to creative scientific achievement, yet the world into which they enter is curiously the same; the instrument of thought which they employ is called the “mind” in the West and “mind-stuff” (chitta) in the East; both use the language of symbology to express their conclusions and both reach the point where words prove futile to embody the intuited possibilities.
Cả hai trường phái cho đến nay đều có khuynh hướng đối kháng nhau, tuy nhiên cuộc tìm kiếm chân lý vẫn là một; mối quan tâm đến cái đang là, và cái có thể là, không giới hạn ở nhóm nào; và các yếu tố mà mỗi nhóm phải làm việc cùng đều giống nhau. Mặc dù trí tuệ của nhà tư tưởng phương Đông có thể chạy theo hình tượng sáng tạo và trí tuệ của người làm việc phương Tây chạy theo thành tựu khoa học sáng tạo, nhưng thế giới mà họ bước vào lạ lùng thay lại giống nhau; công cụ tư duy mà họ sử dụng được gọi là “trí tuệ” (mind) ở phương Tây và “chất liệu trí tuệ” (chitta) ở phương Đông; cả hai đều sử dụng ngôn ngữ biểu tượng để diễn đạt các kết luận của mình và cả hai đều đạt đến điểm mà ngôn từ trở nên vô ích để thể hiện các khả năng được trực giác nhận biết.
Dr. Jung, one of the people who is seeking to bring these hitherto discordant elements together, touches on this in the following extract from his Commentary on an ancient Chinese writing. He says
Tiến sĩ Jung, một trong những người đang tìm cách đưa các yếu tố cho đến nay vẫn bất hòa này lại với nhau, đề cập đến điều này trong đoạn trích sau đây từ Bình luận của ông về một văn bản cổ Trung Hoa. Ông nói:
“Western consciousness is by no means consciousness in general, but rather a historically conditioned, and geographically limited, factor, representative of only one part of humanity. The widening of our own consciousness ought [6] not to proceed at the expense of other kinds of consciousness, but ought to take place through the development of those elements of our psyche which are analogous to those of a foreign psyche, just as the East cannot do without our technique, science and industry. The European invasion of the East was a deed of violence on a great scale, and it has left us the duty — noblesse oblige — of understanding the mind of the East. This is perhaps more necessary than we realize at present.”
“Tâm thức phương Tây hoàn toàn không phải là tâm thức nói chung, mà đúng hơn là một yếu tố bị quy định về mặt lịch sử, và bị giới hạn về mặt địa lý, chỉ đại diện cho một phần của nhân loại. Việc mở rộng tâm thức của chính chúng ta không nên [6] tiến hành bằng cái giá của các loại tâm thức khác, mà nên diễn ra thông qua sự phát triển của những yếu tố trong tâm hồn chúng ta vốn tương đồng với những yếu tố của một tâm hồn xa lạ, cũng giống như phương Đông không thể làm gì nếu thiếu kỹ thuật, khoa học và công nghiệp của chúng ta. Cuộc xâm lăng của châu Âu vào phương Đông là một hành động bạo lực trên quy mô lớn, và nó đã để lại cho chúng ta nhiệm vụ — noblesse oblige (trách nhiệm của vị thế cao) — là phải thấu hiểu tâm trí của phương Đông. Điều này có lẽ cần thiết hơn chúng ta nhận thấy hiện nay.”
WILHELM, RICHARD, AND JUNG, DR. C. G., “THE SECRET OF THE GOLDEN FLOWER”, P. 136.
WILHELM, RICHARD, VÀ JUNG, DR. C. G., “THE SECRET OF THE GOLDEN FLOWER” (BÍ MẬT CỦA HOA VÀNG), TR. 136.
Dr. Hocking of Harvard also brings us the same idea when he says:
Tiến sĩ Hocking của Đại học Harvard cũng mang đến cho chúng ta cùng một ý tưởng khi ông nói:
“There seems reason to hope for a better physical future of the race by the aid of a sound mental hygiene. After the era of the charlatans has gone by, and to some extent by their aid, there appears a possibility of steadily enlarging self-mastery, as the spiritual sense of such discipline as the Yoga joins with the sober elements of Western psychology and a sane system of ethics. No one of these is worth much without the others.”
“Dường như có lý do để hy vọng vào một tương lai vật lý tốt đẹp hơn của nhân loại nhờ sự hỗ trợ của một nền vệ sinh tinh thần lành mạnh. Sau khi kỷ nguyên của những kẻ bịp bợm đã qua đi, và ở một mức độ nào đó nhờ sự hỗ trợ của họ, xuất hiện khả năng mở rộng đều đặn sự tự làm chủ, khi cảm thức tinh thần của kỷ luật như Yoga kết hợp với các yếu tố nghiêm túc của tâm lý học phương Tây và một hệ thống đạo đức lành mạnh. Không yếu tố nào trong số này có nhiều giá trị nếu thiếu những yếu tố khác.”
HOCKING, WM. E., SELF, “ITS BODY AND FREEDOM”, P. 75.
HOCKING, WM. E., SELF, “ITS BODY AND FREEDOM” (BẢN NGÃ, CƠ THỂ VÀ SỰ TỰ DO CỦA NÓ), TR. 75.
Those who have studied in both schools tell us that the mystical imagery of the East (and also of our Western mystical exponents) is only a veil behind which those gifted with intuitive perception have always been able to penetrate. The science of the West, with its emphasis upon the nature of the form, has also led us into the realm of the intuition and it would seem as if the two ways could blend and that it should be possible for each — discarding the non-essentials — to arrive at a basis of understanding. [7] Thus they work out a new approach to the central mystery of man founded on old and demonstrated truths. Dr. Jung again takes this up as follows:
Những người đã nghiên cứu cả hai trường phái cho chúng ta biết rằng hình ảnh thần bí của phương Đông (và cả của các đại diện thần bí phương Tây của chúng ta) chỉ là một bức màn mà đằng sau đó những người được thiên phú khả năng nhận thức trực giác luôn có thể thâm nhập vào. Khoa học phương Tây, với sự nhấn mạnh vào bản chất của hình tướng, cũng đã dẫn chúng ta vào cõi của trực giác và dường như hai con đường có thể hòa quyện và lẽ ra mỗi bên — bằng cách loại bỏ những điều không cốt yếu — có thể đi đến một cơ sở của sự thấu hiểu. [7] Do đó, họ vạch ra một cách tiếp cận mới đối với bí nhiệm trung tâm của con người dựa trên những chân lý cũ và đã được chứng minh. Tiến sĩ Jung một lần nữa đề cập đến điều này như sau:
“Science is the best tool of the Western mind and with it more doors can be opened than with bare hands. Thus it is part and parcel of our understanding and only clouds our insight when it lays claim to being the one and only way of comprehending. But it is the East that has taught us another, wider, more profound, and a higher understanding, that is, understanding through life. We know this way only vaguely, as a mere shadowy sentiment culled from religious terminology, and therefore we gladly dispose of Eastern ‘wisdom’ in quotation marks, and push it away into the obscure territory of faith and superstition. But in this way Eastern ‘realism’ is completely misunderstood. It does not consist of sentimental, exaggeratedly mystical, intuitions bordering on the pathological and emanating from ascetic recluses and cranks; the wisdom of the East is based on practical knowledge...which we have not the slightest justification for undervaluing.”
“Khoa học là công cụ tốt nhất của trí tuệ phương Tây và với nó, nhiều cánh cửa có thể được mở ra hơn là với đôi tay trần. Vì vậy, nó là một phần không thể thiếu trong sự thấu hiểu của chúng ta và chỉ làm lu mờ cái nhìn sâu sắc của chúng ta khi nó tuyên bố là cách thức duy nhất để thấu hiểu. Nhưng chính phương Đông đã dạy chúng ta một sự thấu hiểu khác, rộng hơn, sâu sắc hơn và cao hơn, đó là sự thấu hiểu thông qua cuộc sống. Chúng ta chỉ biết mơ hồ về con đường này, như một cảm nghĩ mơ hồ được lượm lặt từ thuật ngữ tôn giáo, và do đó chúng ta vui vẻ vứt bỏ ‘minh triết’ phương Đông trong dấu ngoặc kép, và đẩy nó vào vùng lãnh thổ tối tăm của đức tin và mê tín. Nhưng theo cách này, ‘chủ nghĩa hiện thực’ phương Đông hoàn toàn bị hiểu sai. Nó không bao gồm những trực giác ủy mị, thần bí thái quá tiếp giáp với bệnh hoạn và phát xuất từ những ẩn sĩ khổ hạnh và những kẻ lập dị; minh triết của phương Đông dựa trên kiến thức thực tế... mà chúng ta không có biện minh nhỏ nhất nào để đánh giá thấp.”
WILHELM, RICHARD, AND JUNG, DR. C. G., “THE SECRET OF THE GOLDEN FLOWER”, P. 78.
WILHELM, RICHARD, VÀ JUNG, DR. C. G., “THE SECRET OF THE GOLDEN FLOWER” (BÍ MẬT CỦA HOA VÀNG), TR. 78.
It is in the training of the mind that the crux of the situation lies. The human mind is apparently an instrument which we are able to use in two directions. One direction is outward. The mind, in this mode of functioning, registers our contacts with the physical and mental worlds in which we live, and recognizes emotional and sensory conditions. It is the recorder and correlator of our sensations, of our reactions, and of all that is conveyed to it via the five senses and the brain. This is a field of knowledge [8] that has been extensively studied, and much headway has been made by psychologists in understanding the processes of mentation. “Thinking,” Dr. Jung tells us, “is one of the four basic psychological functions. It is that psychological function which, in accordance with its own laws, brings given presentations into conceptual connection. It is an apperceptive activity — both active and passive. Active thinking is an act of the will; passive thinking is an occurrence.” (Dibblee, George Binney, “Instinct and Intuition”, p. 85.)
Chính trong sự rèn luyện trí tuệ mà mấu chốt của tình hình nằm ở đó. Trí tuệ con người dường như là một công cụ mà chúng ta có thể sử dụng theo hai hướng. Một hướng là hướng ngoại. Trí tuệ, trong phương thức hoạt động này, ghi nhận các tiếp xúc của chúng ta với thế giới vật lý và thế giới trí tuệ mà chúng ta đang sống, và nhận biết các điều kiện cảm xúc và giác quan. Nó là người ghi chép và người tương quan các cảm giác của chúng ta, các phản ứng của chúng ta, và tất cả những gì được truyền đến nó thông qua năm giác quan và bộ não. Đây là một lĩnh vực kiến thức [8] đã được nghiên cứu sâu rộng, và các nhà tâm lý học đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc thấu hiểu các quá trình hoạt động trí tuệ. Tiến sĩ Jung nói với chúng ta: “Tư duy là một trong bốn chức năng tâm lý cơ bản. Đó là chức năng tâm lý mà, phù hợp với các quy luật của riêng nó, đưa các biểu hiện đã cho vào mối liên hệ khái niệm. Đó là một hoạt động tri giác — vừa chủ động vừa thụ động. Tư duy chủ động là một hành động của ý chí; tư duy thụ động là một sự kiện xảy ra.” (Dibblee, George Binney, “Instinct and Intuition” (Bản năng và Trực giác), tr. 85.)
As we shall see later, it is the thought apparatus which is involved in Meditation and which must be trained to add to this first function of the mind an ability to turn in another direction, and to register with equal facility the inner or intangible world. This ability to re-orient itself will enable the mind to register the world of subjective realities, of intuitive perception and of abstract ideas. This is the high heritage of the mystic, but seems as yet not to be within the grasp of the average man.
Như chúng ta sẽ thấy sau này, chính bộ máy tư duy là cái tham gia vào Tham thiền và phải được rèn luyện để thêm vào chức năng đầu tiên này của trí tuệ một khả năng xoay sang hướng khác, và ghi nhận thế giới bên trong hay thế giới vô hình với sự dễ dàng tương đương. Khả năng tự tái định hướng này sẽ cho phép trí tuệ ghi nhận thế giới của các thực tại chủ quan, của nhận thức trực giác và của các ý tưởng trừu tượng. Đây là di sản cao quý của nhà thần bí, nhưng dường như chưa nằm trong tầm tay của người bình thường.
The problem facing the human family today in the realms both of science and of religion results from the fact that the follower of both schools finds he is standing at the portal of a metaphysical world. A cycle of development has come to an end. Man, as a thinking, feeling entity, seems now to have arrived at a fair measure of understanding the instrument with which he has to work. He is asking himself: What use is he to make of it? Where is the mind, [9] which he is slowly learning to master, going to lead him?
Vấn đề đối mặt với gia đình nhân loại ngày nay trong cả lĩnh vực khoa học và tôn giáo bắt nguồn từ thực tế là người theo cả hai trường phái đều thấy mình đang đứng trước cổng của một thế giới siêu hình. Một chu kỳ phát triển đã kết thúc. Con người, với tư cách là một thực thể biết suy nghĩ, biết cảm nhận, dường như giờ đây đã đạt đến một mức độ thấu hiểu khá tốt về công cụ mà y phải làm việc với nó. Y đang tự hỏi mình: Y sẽ sử dụng nó để làm gì? Trí tuệ, [9] cái mà y đang dần học cách làm chủ, sẽ dẫn y đi về đâu?
What does the future hold for man? Something, we feel, of greater beauty and certainty than anything we have hitherto known. Perhaps it will be a universal arrival at that knowledge which the individual mystic has had. Our ears are deafened by the din of our modern civilization and yet at times we catch those overtones which testify to a world which is immaterial. Our eyes are blinded by the fog and the smoke of our immediate foreground, yet there do come flashes of clear vision which reveal a subtler state of being, and which lift the fog, letting in “the glory which never was on sea or land.” Dr. Bennett of Yale expresses these ideas in very beautiful terms. He says:
Tương lai nắm giữ điều gì cho con người? Chúng ta cảm thấy, một cái gì đó có vẻ đẹp và sự chắc chắn lớn hơn bất cứ điều gì chúng ta từng biết cho đến nay. Có lẽ đó sẽ là một sự đạt đến phổ quát kiến thức mà nhà thần bí cá nhân đã có. Tai chúng ta bị làm điếc bởi tiếng ồn của nền văn minh hiện đại và tuy nhiên đôi khi chúng ta bắt được những bồi âm chứng thực cho một thế giới phi vật chất. Mắt chúng ta bị làm mù bởi sương mù và khói của tiền cảnh ngay trước mắt, tuy nhiên vẫn có những tia chớp của tầm nhìn rõ ràng tiết lộ một trạng thái tồn tại tinh tế hơn, và làm tan sương mù, để cho “vinh quang chưa từng có trên biển hay trên đất liền” tràn vào. Tiến sĩ Bennett của Đại học Yale diễn đạt những ý tưởng này bằng những thuật ngữ rất đẹp. Ông nói:
“A film falls from the eyes and the world appears in a new light. Things are no longer ordinary. There comes the certainty that this is the real world whose true character human blindness has until now concealed.
“Một lớp màng rơi khỏi mắt và thế giới hiện ra trong một ánh sáng mới. Mọi vật không còn bình thường nữa. Xuất hiện sự chắc chắn rằng đây là thế giới thực mà bản chất chân thực của nó đã bị sự mù quáng của con người che giấu cho đến tận bây giờ.
Not where the wheeling systems darken
Chẳng phải nơi các hệ thống đang xoay vần trở nên tối tăm
And our benumbed conceiving soars; —
Và nhận thức tê liệt của chúng ta bay vút lên; —
The drift of pinions, would we harken,
Mà tiếng đập của những đôi cánh, nếu chúng ta lắng nghe,
Beats at our own clay-shuttered doors.
Đang đập vào những cánh cửa bằng đất sét đóng kín của chính chúng ta.
The angels keep their ancient places;
Các thiên thần vẫn giữ những vị trí xưa cũ của họ;
Turn but a stone and start a wing!
Chỉ cần lật một hòn đá và làm giật mình một đôi cánh!
‘Tis ye, ‘tis your estrangèd faces
Chính các bạn, chính những khuôn mặt lạ lẫm của các bạn
That miss the many-splendoured thing.
Đã bỏ lỡ điều huy hoàng rực rỡ.
“The experience is at first tantalizing, alluring. There is a rumor of a new world and the spirit is eager for the voyage upon strange seas. The familiar world must be left behind. The great adventure of religion begins.... [10]
“Trải nghiệm thoạt đầu thật trêu ngươi, quyến rũ. Có tin đồn về một thế giới mới và tinh thần háo hức cho chuyến hành trình trên những vùng biển lạ. Thế giới quen thuộc phải được để lại phía sau. Cuộc phiêu lưu vĩ đại của tôn giáo bắt đầu.... [10]
“There must somewhere be a point of certainty. A growing universe may provide for open futures, but whoso declares that the universe is growing states an unalterable fact about its structure, which fact is the eternal guarantee of the possibility and validity of experiment....
“Đâu đó phải có một điểm chắc chắn. Một vũ trụ đang phát triển có thể cung cấp những tương lai mở, nhưng bất cứ ai tuyên bố rằng vũ trụ đang phát triển đều nêu lên một sự thật không thể thay đổi về cấu trúc của nó, sự thật đó là sự bảo đảm vĩnh cửu cho khả năng và tính hợp lệ của thử nghiệm....
“Man is a bridge. Even the superman, once we perceive that he is only the symbol of the strenuous ideal, turns out to be a bridge too. Our only assurance is that the gates of the future are always open.”
“Con người là một cây cầu. Ngay cả siêu nhân, một khi chúng ta nhận thấy rằng y chỉ là biểu tượng của lý tưởng tích cực, cũng hóa ra là một cây cầu. Sự bảo đảm duy nhất của chúng ta là những cánh cổng của tương lai luôn rộng mở.”
BENNETT, CHARLES A., “A PHILOSOPHICAL STUDY OF MYSTICISM”, PP. 23, 117, 130.
BENNETT, CHARLES A., “A PHILOSOPHICAL STUDY OF MYSTICISM” (MỘT NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC VỀ CHỦ NGHĨA THẦN BÍ), TR. 23, 117, 130.
Perhaps the problem consists in this: that the gates of the future seem to open upon an immaterial world, and upon a realm that is intangible, metaphysical, supersensuous. We have well-nigh exhausted the resources of the material world, but we have not yet learned to function in a non-material one. We even deny its existence at times. We face the inevitable experience, which we call death, and yet take no rational steps to ascertain whether there really is a life beyond. The progress of evolution has produced a wonderful race, equipped with a sensitive response apparatus and a reasoning mind. We possess the rudiments of a sense which we call the intuition and, with this equipment, we stand before the gates of the future and ask the question: “To what purpose shall we put this composite, complex mechanism which we call a human being?” Have we reached our full development? Are there shades of meaning to life which have hitherto escaped our attention, and have they escaped our attention because we have latent powers and capacities as yet [11] unrealized? Is it possible that we are blind to a vast world of life and of beauty, with its own appropriate laws and phenomena? Mystics, seers and thinkers of all ages and in both hemispheres have said such a world exists.
Có lẽ vấn đề nằm ở chỗ này: rằng các cánh cổng của tương lai dường như mở ra một thế giới phi vật chất, và một vương quốc vô hình, siêu hình, siêu cảm giác. Chúng ta gần như đã cạn kiệt các nguồn lực của thế giới vật chất, nhưng chúng ta vẫn chưa học cách hoạt động trong một thế giới phi vật chất. Thậm chí đôi khi chúng ta phủ nhận sự tồn tại của nó. Chúng ta đối mặt với trải nghiệm tất yếu, mà chúng ta gọi là cái chết, nhưng lại không thực hiện các bước hợp lý nào để xác định xem liệu có thực sự có một cuộc sống ở bên kia hay không. Tiến trình tiến hóa đã tạo ra một giống dân tuyệt vời, được trang bị một bộ máy phản ứng nhạy bén và một trí tuệ biết suy luận. Chúng ta sở hữu những mầm mống của một giác quan mà chúng ta gọi là trực giác và, với trang thiết bị này, chúng ta đứng trước những cánh cổng của tương lai và đặt câu hỏi: “Chúng ta sẽ sử dụng cơ chế phức hợp, phức tạp mà chúng ta gọi là con người này vào mục đích gì?” Chúng ta đã đạt đến sự phát triển đầy đủ của mình chưa? Có những sắc thái ý nghĩa nào của cuộc sống đã trốn thoát sự chú ý của chúng ta cho đến nay, và liệu chúng trốn thoát sự chú ý của chúng ta vì chúng ta có những quyền năng và năng lực tiềm ẩn vẫn chưa [11] được nhận ra? Có thể nào chúng ta đang mù quáng trước một thế giới rộng lớn của sự sống và vẻ đẹp, với những quy luật và hiện tượng thích hợp của riêng nó? Các nhà thần bí, các nhà thông nhãn và các nhà tư tưởng của mọi thời đại và ở cả hai bán cầu đều đã nói rằng một thế giới như vậy tồn tại.
With this equipment, which we might call the personality, man stands with the past behind him, in a present that is full of chaos, and before a future into which he cannot look. He cannot stand still. He must go forward, and the vast educational, scientific, philosophic and religious organizations are all doing their utmost to tell him which way to go and to present to him a solution of his problem.
Với trang thiết bị này, cái mà chúng ta có thể gọi là phàm ngã, con người đứng với quá khứ sau lưng, trong một hiện tại đầy hỗn loạn, và trước một tương lai mà y không thể nhìn vào. Y không thể đứng yên. Y phải đi tới, và các tổ chức giáo dục, khoa học, triết học và tôn giáo rộng lớn đều đang làm hết sức mình để nói cho y biết phải đi đường nào và trình bày cho y một giải pháp cho vấn đề của y.
That which is static and crystallized eventually falls to pieces and, where there is arrested growth, abnormalities will occur and retrogression be found. Someone has said that the danger which we must avoid is that of a “disintegrating personality.” If humanity is not potential, if man has reached his zenith and can go no further, then he should recognize this fact and make his decline and fall as easy and as beautiful as possible. It is encouraging to note how in 1850 the dim outlines of that portal into the New Age were vaguely seen and how much concern thinkers then evinced that man should not fail to learn his lesson and go forward. Read the words of Carlyle and note how appropriate they are to the present time.
Cái gì tĩnh tại và kết tinh cuối cùng sẽ vỡ vụn và, nơi nào có sự ngưng trệ tăng trưởng, các sự bất thường sẽ xảy ra và sự thoái trào sẽ được tìm thấy. Có người đã nói rằng mối nguy hiểm mà chúng ta phải tránh là mối nguy hiểm của một “phàm ngã đang tan rã”. Nếu nhân loại không tiềm tàng khả năng, nếu con người đã đạt đến thiên đỉnh của mình và không thể đi xa hơn nữa, thì y nên nhận ra thực tế này và làm cho sự suy tàn và sụp đổ của mình trở nên dễ dàng và đẹp đẽ nhất có thể. Thật khích lệ khi ghi nhận vào năm 1850, những phác thảo lờ mờ của cánh cổng dẫn vào Kỷ Nguyên Mới đã được nhìn thấy một cách mơ hồ như thế nào và các nhà tư tưởng khi đó đã tỏ ra lo lắng bao nhiêu rằng con người không nên thất bại trong việc học bài học của mình và đi tới. Hãy đọc những lời của Carlyle và lưu ý chúng thích hợp như thế nào với thời điểm hiện tại.
“In the days that are passing over us, even fools are arrested to ask the meaning of them; few of the generations of men have seen more impressive days. Days of endless [12] calamity, disruption, dislocation, confusion worse confounded....It is not a small hope that will suffice us, the ruin being clearly...universal. There must be a new world if there is to be a world at all. That human beings in Europe can ever return to the old sorry routine, and proceed with any steadiness or continuance therein, — this small hope is not now a tenable one. These days of universal death must be days of universal rebirth, if the ruin is not to be total and final. It is a time to make the dullest man consider whence he came and whither he is bound.”
“Trong những ngày đang trôi qua trên chúng ta, ngay cả những kẻ ngu cũng bị bắt giữ lại để hỏi ý nghĩa của chúng; ít thế hệ con người nào đã nhìn thấy những ngày ấn tượng hơn. Những ngày của [12] tai ương, sự phá vỡ, sự trật khớp, sự hỗn loạn vô tận còn tồi tệ hơn cả sự bối rối.... Không phải là một hy vọng nhỏ nhoi sẽ đủ cho chúng ta, khi sự hủy hoại rõ ràng là... phổ quát. Phải có một thế giới mới nếu muốn có một thế giới. Rằng con người ở châu Âu có thể quay trở lại thói quen cũ kỹ đáng buồn, và tiếp tục với bất kỳ sự ổn định hay liên tục nào trong đó, — hy vọng nhỏ nhoi này giờ đây không phải là một hy vọng có thể biện hộ được. Những ngày chết chóc phổ quát này phải là những ngày tái sinh phổ quát, nếu sự hủy hoại không phải là toàn diện và cuối cùng. Đó là thời gian để làm cho người đần độn nhất cũng phải xem xét y đến từ đâu và y đang đi về đâu.”
JACKS, L. P., “RELIGIOUS PERPLEXITIES”, P. 46.
JACKS, L. P., “RELIGIOUS PERPLEXITIES” (NHỮNG RỐI RẮM TÔN GIÁO), TR. 46.
Looking back over the seventy or more years that have elapsed since Carlyle wrote these words, we know that mankind did not fail to go forward. The electrical age was inaugurated and the wonders of the scientific achievements of our time are known by us all. With optimism, therefore, in a time of fresh crisis, we can go forward with true courage, for the portals into the New Age are far more clearly seen. Perhaps it is true also that man is only now attaining his majority and is about to enter upon his inheritance and to discover within himself powers and capacities, faculties and tendencies which are the guarantee of a vital and useful manhood, and of eternal existence. We are completing the stage wherein the emphasis has been laid upon the mechanism, upon the sum-total of cells, which constitute the body and the brain, with their automatic reaction to pleasure, to pain and to thought. We know much about Man, the machine. The mechanistic school of psychologists have placed us deeply in their debt [13] with their discoveries about the apparatus whereby a human being comes into contact with his environment. But there are men among us, men who are not mere machines. We have the right to measure our ultimate capacities and our potential greatness by the achievements of the best among us; these great ones are not “freak” products of divine caprice or of blind evolutionary urge, but are themselves the guarantee of the ultimate achievement of the whole.
Nhìn lại hơn bảy mươi năm đã trôi qua kể từ khi Carlyle viết những lời này, chúng ta biết rằng nhân loại đã không thất bại trong việc đi tới. Kỷ nguyên điện khí hóa đã được khai mạc và những kỳ quan của các thành tựu khoa học trong thời đại chúng ta được tất cả chúng ta biết đến. Vì vậy, với sự lạc quan, trong thời điểm khủng hoảng mới, chúng ta có thể đi tới với lòng can đảm thực sự, vì các cánh cổng dẫn vào Kỷ Nguyên Mới được nhìn thấy rõ ràng hơn nhiều. Có lẽ cũng đúng rằng con người chỉ mới bây giờ đạt đến tuổi trưởng thành của mình và sắp sửa bước vào di sản của mình và khám phá bên trong bản thân các quyền năng và năng lực, các quan năng và xu hướng vốn là sự bảo đảm cho một nhân tính đầy sức sống và hữu ích, và cho sự tồn tại vĩnh cửu. Chúng ta đang hoàn tất giai đoạn trong đó sự nhấn mạnh được đặt vào cơ chế, vào tổng số các tế bào, cấu thành nên cơ thể và bộ não, với phản ứng tự động của chúng đối với khoái cảm, đau đớn và suy nghĩ. Chúng ta biết nhiều về Con người, cỗ máy. Trường phái cơ giới của các nhà tâm lý học đã khiến chúng ta mang nợ họ sâu sắc [13] với những khám phá của họ về bộ máy mà nhờ đó một con người tiếp xúc với môi trường của mình. Nhưng có những con người giữa chúng ta, những người không chỉ là những cỗ máy đơn thuần. Chúng ta có quyền đo lường các năng lực tối hậu và sự vĩ đại tiềm tàng của chúng ta bằng những thành tựu của những người giỏi nhất trong chúng ta; những con người vĩ đại này không phải là những sản phẩm “quái dị” của sự thất thường thiêng liêng hay của sự thúc đẩy tiến hóa mù quáng, mà chính họ là sự bảo đảm cho thành tựu tối hậu của toàn thể.
Irving Babbitt remarks, that there is a something in man’s nature “that sets him apart simply as man, from other animals, and that something Cicero defines as a ‘sense of order and decorum and measure in deeds and words’.” Babbitt adds (and this is the point to note) that “the world would have been a better place if more persons had made sure they were human before setting out to be superhuman.” (Babbitt, Irving, “Humanism: An Essay at Definition”.) There is, perhaps, an intermediate stage wherein we function as men, sustain our human relations, and discharge our just obligations, thus fulfilling our temporary destiny. The question arises here as to whether such a stage is even yet generally possible when we remember that there are millions of illiterate persons on our planet at this time!
Irving Babbitt nhận xét rằng, có một cái gì đó trong bản chất con người “khiến y tách biệt đơn giản là con người, khỏi các loài động vật khác, và cái gì đó Cicero định nghĩa là một ‘ý thức về trật tự và sự đúng mực và chừng mực trong hành động và lời nói’.” Babbitt nói thêm (và đây là điểm cần lưu ý) rằng “thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn nếu nhiều người chắc chắn rằng họ là con người trước khi bắt đầu trở thành siêu nhân.” (Babbitt, Irving, “Humanism: An Essay at Definition” (Chủ nghĩa nhân văn: Một tiểu luận về định nghĩa).) Có lẽ, có một giai đoạn trung gian trong đó chúng ta hoạt động như những con người, duy trì các mối quan hệ con người của mình, và thực hiện các nghĩa vụ chính đáng của mình, do đó hoàn thành vận mệnh tạm thời của chúng ta. Câu hỏi nảy sinh ở đây là liệu một giai đoạn như vậy thậm chí có thể thực hiện được một cách phổ biến hay không khi chúng ta nhớ rằng có hàng triệu người mù chữ trên hành tinh của chúng ta vào lúc này!
But, along with this tendency toward pure humanity and the drift away from the standardization of the human unit, there emerges a group to whom we give the name of mystics. They testify to another world of experience and contacts. They bear witness [14] to a personal realization and to a phenomenal manifestation and satisfaction of which the average man knows nothing. As Dr. Bennett says “the mystics themselves have described their attainment as a seeing into the meaning of the universe, a seeing of how all things belong together. They have found the clue.” (Bennett, Charles A., “A Philosophical Study of Mysticism”, p. 81.) Down the ages they have come forth and said in unison: there is another kingdom in nature. This kingdom has its own laws, its own phenomena and its own intimate relationships. It is the kingdom of the spirit. We have found it and you too can ascertain its nature. These witnesses fall into two groups; the purely mystical and emotional quester who sees the vision and falls down in an illuminated rapture before the beauty that he has sensed, and secondly, the knowers, who have added to the emotional rapture an intellectual achievement (an orientation of the mind) which enables them to do more than sense and enjoy. They understand; they know, and have become identified with that new world of being towards which the pure mystic reaches. The line of demarcation between these knowers of divine things and those who sense the vision is very slight.
Nhưng, cùng với xu hướng hướng tới nhân tính thuần túy và sự trôi dạt khỏi sự chuẩn hóa của đơn vị con người, xuất hiện một nhóm mà chúng ta đặt tên là những nhà thần bí. Họ làm chứng cho một thế giới trải nghiệm và tiếp xúc khác. Họ làm chứng [14] cho một sự chứng nghiệm cá nhân và cho một biểu hiện và sự thỏa mãn phi thường mà người bình thường không biết gì cả. Như Tiến sĩ Bennett nói “chính các nhà thần bí đã mô tả sự đạt được của họ như một sự nhìn vào ý nghĩa của vũ trụ, một sự nhìn thấy cách tất cả mọi thứ thuộc về nhau. Họ đã tìm thấy manh mối.” (Bennett, Charles A., “A Philosophical Study of Mysticism” (Một nghiên cứu triết học về chủ nghĩa thần bí), tr. 81.) Trải qua các thời đại, họ đã bước ra và đồng thanh nói: có một giới khác trong tự nhiên. Giới này có các quy luật riêng, các hiện tượng riêng và các mối quan hệ mật thiết riêng của nó. Đó là giới của tinh thần. Chúng tôi đã tìm thấy nó và bạn cũng có thể xác định bản chất của nó. Những nhân chứng này rơi vào hai nhóm; người tìm kiếm thuần túy thần bí và cảm xúc, người nhìn thấy linh ảnh và ngã xuống trong một niềm hân hoan được soi sáng trước vẻ đẹp mà y đã cảm nhận, và thứ hai, những thức giả, những người đã thêm vào niềm hân hoan cảm xúc một thành tựu trí tuệ (một sự định hướng của tâm trí) cho phép họ làm nhiều hơn là cảm nhận và tận hưởng. Họ thấu hiểu; họ biết, và đã trở nên đồng nhất với thế giới bản thể mới đó mà nhà thần bí thuần túy vươn tới. Ranh giới phân chia giữa những người biết về những điều thiêng liêng này và những người cảm nhận linh ảnh là rất mong manh.
There is, however, a no-man’s ground between the two groups on which a great transition takes place. There is an interlude in experience and in development which changes the visionary mystic into the practical knower. There is a process and a technique to which the mystic can subject himself which coordinates him and develops in him a new and subtle [15] apparatus, by means of which he no longer sees the vision of divine reality but knows himself to be that reality itself. It is with this transitional process and with this work of educating the mystic, that the meditation technique has to do. It is this with which we deal in this book.
Tuy nhiên, có một vùng đất vô chủ giữa hai nhóm trên đó một sự chuyển tiếp lớn diễn ra. Có một khoảng thời gian trong trải nghiệm và trong sự phát triển làm thay đổi nhà thần bí nhìn thấy linh ảnh thành thức giả thực tế. Có một quy trình và một kỹ thuật mà nhà thần bí có thể tự đặt mình vào đó, cái phối hợp y và phát triển trong y một bộ máy mới và tinh vi [15], nhờ đó y không còn nhìn thấy linh ảnh của thực tại thiêng liêng nữa mà biết bản thân mình chính là thực tại đó. Chính với quy trình chuyển tiếp này và với công việc giáo dục nhà thần bí này, mà kỹ thuật tham thiền có liên quan. Đây chính là điều mà chúng tôi đề cập đến trong cuốn sách này.
The problem of leading man into his heritage as a human being is the function of the educators and of the psychologists. They must lead him up to the door of the mystical world. Paradoxical as it may sound, the work of leading him into his spiritual heritage is the work of religion and of science. Dr. Pupin tells us that “science and religion supplement each other, they are the two pillars of the portal through which the human soul enters into the world where divinity resides.” (Pupin, Michael, “The New Reformation”, p. 217.)
Vấn đề dẫn dắt con người vào di sản của mình như một con người là chức năng của các nhà giáo dục và các nhà tâm lý học. Họ phải dẫn y đến trước cửa của thế giới thần bí. Dù nghe có vẻ nghịch lý, công việc dẫn dắt y vào di sản tinh thần của mình là công việc của tôn giáo và của khoa học. Tiến sĩ Pupin nói với chúng ta rằng “khoa học và tôn giáo bổ sung cho nhau, chúng là hai trụ cột của cánh cổng qua đó linh hồn con người bước vào thế giới nơi thiên tính cư ngụ.” (Pupin, Michael, “The New Reformation” (Cuộc Cải cách Mới), tr. 217.)
Let us give the word “spiritual” a wide connotation! I do not here speak of religious truths; the formulations of the theologians and the churchmen in all the big religious organizations, both Eastern and Western, may, or may not, be true. Let us use the word “spiritual” to signify the world of light and beauty, of order and of purpose, about which the world Scriptures speak, which is the object of the attentive research of the scientists, and into which the pioneers of the human family have always penetrated, returning to tell us of their experiences. Let us regard all manifestations of life as spiritual, and so widen the usual meaning of this word to signify [16] the energies and potencies which lie back of every form in nature and which give to each of them their essential distinguishing characteristics and qualities. For thousands of years all over the planet, the mystics and knowers have borne witness to experiences in subtler worlds where they have been brought into contact with forces and phenomena which are not of this physical world. They speak of meeting with angelic hosts; they refer to the great cloud of witnesses; they commune with the elder brothers of the race who work in other dimensions and who demonstrate powers about which ordinary human beings know nothing; they speak of a light and of a glory; of a direct knowledge of truth and of a world of phenomena which is uniform to the mystics of all races. That much of the testimony can be discarded on the grounds of hallucination may be true; that many of the saints of old were psychopathic cases and neurotics may be equally true; but there still remains a residue of testimony and a sufficient number of reputable witnesses, substantiating this testimony, to force our belief in its verity. These witnesses to the unseen world spoke with words of power and gave forth messages which have moulded the thoughts of men, and directed the lives of millions. They claimed there was a science of spiritual knowledge and a technique of development whereby men could attain to the mystical experience and whereby they could know God.
Chúng ta hãy mang lại cho từ “tinh thần” một ý nghĩa rộng! Tôi không nói ở đây về các chân lý tôn giáo; các công thức của các nhà thần học và các giáo sĩ trong tất cả các tổ chức tôn giáo lớn, cả phương Đông và phương Tây, có thể đúng, hoặc có thể không. Chúng ta hãy sử dụng từ “tinh thần” để biểu thị thế giới của ánh sáng và vẻ đẹp, của trật tự và của mục đích, mà các Kinh sách thế giới nói đến, vốn là đối tượng nghiên cứu chăm chú của các nhà khoa học, và là nơi những người tiên phong của gia đình nhân loại luôn thâm nhập vào, trở về để kể cho chúng ta về những trải nghiệm của họ. Chúng ta hãy xem tất cả các biểu hiện của sự sống là tinh thần, và do đó mở rộng ý nghĩa thông thường của từ này để biểu thị [16] các năng lượng và tiềm năng nằm đằng sau mọi hình tướng trong tự nhiên và mang lại cho mỗi hình tướng những đặc điểm và phẩm tính phân biệt thiết yếu của chúng. Trong hàng ngàn năm trên khắp hành tinh, các nhà thần bí và thức giả đã làm chứng cho những trải nghiệm trong các thế giới tinh tế hơn, nơi họ đã được tiếp xúc với các mãnh lực và hiện tượng không thuộc về thế giới vật lý này. Họ nói về việc gặp gỡ với các thiên thần; họ đề cập đến đám mây nhân chứng vĩ đại; họ giao tiếp với các huynh trưởng của nhân loại, những người làm việc trong các chiều đo khác và thể hiện các quyền năng mà con người bình thường không biết gì cả; họ nói về một ánh sáng và một vinh quang; về một sự hiểu biết trực tiếp chân lý và về một thế giới hiện tượng thống nhất đối với các nhà thần bí của tất cả các giống dân. Việc nhiều lời chứng có thể bị loại bỏ vì lý do ảo giác có thể là đúng; việc nhiều vị thánh ngày xưa là những trường hợp bệnh hoạn và loạn thần kinh chức năng cũng có thể đúng; nhưng vẫn còn lại một phần lời chứng và một số lượng đủ các nhân chứng có uy tín, chứng minh cho lời chứng này, buộc chúng ta tin vào sự thật của nó. Những nhân chứng cho thế giới vô hình này đã nói với những lời quyền năng và đưa ra những thông điệp đã hun đúc tư tưởng của con người, và định hướng cuộc sống của hàng triệu người. Họ tuyên bố có một khoa học về kiến thức tinh thần và một kỹ thuật phát triển nhờ đó con người có thể đạt tới trải nghiệm thần bí và nhờ đó họ có thể biết Thượng đế.
It is this science which we will study in this book, [17] and this technique which we will seek to unfold. It deals with the right use of the mind, whereby the world of souls reveals itself and that secret door is found and opened which leads from darkness to light, from death to immortality and from the unreal to the Real.
Chính khoa học này chúng ta sẽ nghiên cứu trong cuốn sách này, [17] và kỹ thuật này chúng ta sẽ tìm cách mở ra. Nó đề cập đến việc sử dụng đúng đắn trí tuệ, nhờ đó thế giới của các linh hồn tự tiết lộ và cánh cửa bí mật đó được tìm thấy và mở ra, dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ cái chết đến sự bất tử và từ cái không thực đến Thực Tại.
The ultimate solution of our world problem lies in our arrival at this knowledge — a knowledge that is neither eastern nor western, but which is known to both. When we have joined hands with the Orient and when we have united the best thoughts of the East with those of the West, we shall have a synthetic and balanced teaching which will liberate the coming generations. It must begin in the educational field and with the young.
Giải pháp tối hậu cho vấn đề thế giới của chúng ta nằm ở việc chúng ta đạt đến kiến thức này — một kiến thức không phải là phương Đông cũng không phải là phương Tây, mà được biết đến bởi cả hai. Khi chúng ta đã bắt tay với phương Đông và khi chúng ta đã hợp nhất những tư tưởng tốt nhất của phương Đông với những tư tưởng của phương Tây, chúng ta sẽ có một giáo lý tổng hợp và cân bằng sẽ giải phóng các thế hệ tương lai. Nó phải bắt đầu trong lĩnh vực giáo dục và với giới trẻ.
In the West, consciousness has been focused upon the material aspects of living, and all of our mental power has been concentrated upon the control and utilization of material things, the perfecting of physical comforts, and the accumulation of possessions. In the East, where the spiritual realities have been more uniformly held, mental power has been used in concentration and meditation and in deep philosophical and metaphysical study, but the masses of the people, not capable of these activities, have been left in peculiar and strikingly terrible conditions, from the standpoint of physical living. Through the blending of the achievements of the two civilizations (now going on with increasing rapidity) a balance is being struck by means of which the race [18] as a whole will be able to demonstrate its full potency. Both the East and the West are gradually learning to take from each other to mutual advantage, and work in this field is one of the fundamental and necessary things of the present cycle.
Ở phương Tây, tâm thức đã tập trung vào các phương diện vật chất của cuộc sống, và tất cả sức mạnh trí tuệ của chúng ta đã được tập trung vào việc kiểm soát và sử dụng các vật chất, hoàn thiện các tiện nghi vật lý, và tích lũy của cải. Ở phương Đông, nơi các thực tại tinh thần được nắm giữ đồng nhất hơn, sức mạnh trí tuệ đã được sử dụng trong sự tập trung và tham thiền và trong nghiên cứu triết học và siêu hình sâu sắc, nhưng quần chúng nhân dân, không có khả năng cho các hoạt động này, đã bị bỏ lại trong các điều kiện đặc biệt và khủng khiếp một cách nổi bật, từ quan điểm sống vật lý. Thông qua sự hòa trộn các thành tựu của hai nền văn minh (hiện đang diễn ra với tốc độ ngày càng tăng), một sự cân bằng đang được thiết lập nhờ đó nhân loại [18] nói chung sẽ có thể thể hiện tiềm năng đầy đủ của mình. Cả phương Đông và phương Tây đang dần học cách nhận lấy từ nhau vì lợi ích chung, và công việc trong lĩnh vực này là một trong những điều cơ bản và cần thiết của chu kỳ hiện tại.
CHAPTER TWO - THE PURPOSE OF EDUCATION—MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC
“...education is undergoing important transformations. From a relatively external process of pouring in facts, it is increasingly becoming a process of evoking the deeper, generative possibilities that lie within the individual.”
“...giáo dục đang trải qua những biến đổi quan trọng. Từ một quy trình tương đối bên ngoài của việc nhồi nhét các sự kiện, nó ngày càng trở thành một quy trình gợi lên những khả năng tạo tác sâu sắc hơn nằm bên trong cá nhân.”
H. A. OVERSTREET
H. A. OVERSTREET
[21]
[21]
One of the many factors which have brought humanity to its present point of development has been the growth and perfecting of its educational methods and systems. At first this was in the hands of the organized religions, but now it is practically divorced from the control of the religious bodies, and lies in the hands of the state. In the past, education was largely colored by theology and its methods were dictated by the churchmen and the priests. Now the vast body of teachers are trained by the state; any religious bias is ignored on account of the many differentiated religious bodies, and the trend of the teaching is almost entirely materialistic and scientific. In the past, both in the East and in the West, we have had the education of the more highly evolved members of the human family. Today we have mass education. In approaching any understanding of the future and (we believe) higher education, these two facts must be borne in mind for it will be in a synthesis of these two methods — individual and mass education — religious and scientific — that the way out will be found.
Một trong nhiều yếu tố đã đưa nhân loại đến điểm phát triển hiện tại của mình là sự tăng trưởng và hoàn thiện các phương pháp và hệ thống giáo dục. Lúc đầu việc này nằm trong tay các tôn giáo có tổ chức, nhưng bây giờ nó thực tế đã tách khỏi sự kiểm soát của các cơ quan tôn giáo, và nằm trong tay nhà nước. Trong quá khứ, giáo dục phần lớn bị tô màu bởi thần học và các phương pháp của nó bị sai khiến bởi các giáo sĩ và linh mục. Bây giờ đội ngũ giáo viên đông đảo được đào tạo bởi nhà nước; bất kỳ thiên kiến tôn giáo nào cũng bị lờ đi vì có nhiều cơ quan tôn giáo khác biệt, và xu hướng của việc giảng dạy gần như hoàn toàn mang tính duy vật và khoa học. Trong quá khứ, cả ở phương Đông và phương Tây, chúng ta đã có sự giáo dục dành cho các thành viên tiến hóa cao hơn của gia đình nhân loại. Ngày nay chúng ta có giáo dục đại chúng. Khi tiếp cận bất kỳ sự thấu hiểu nào về tương lai và (chúng tôi tin rằng) giáo dục đại học, hai thực tế này phải được ghi nhớ vì chính trong sự tổng hợp của hai phương pháp này — giáo dục cá nhân và giáo dục đại chúng — tôn giáo và khoa học — mà lối thoát sẽ được tìm thấy.
Like everything else in this transitional period, our educational systems are in a state of flux and [22] of change. A general feeling that much has been done to raise the level of the human mind is everywhere to be found, coupled with a deep undercurrent of dissatisfaction with the results. We are questioning whether our educational systems are achieving the widest good. We appreciate the enormous advance that has been made during the past two hundred years, and yet we wonder whether we are, after all, getting as much out of life as should be possible to people with an adequate system of training. We are smugly satisfied with our growth in knowledge, our accumulation of information, and our control of the forces of nature, and yet we hold collegiate debates as to whether we have any true culture. We teach our children to memorize an enormous array of facts, and to assimilate a vast amount of widely diversified detail, and yet we question sometimes whether we are teaching them to live more satisfactorily. We use billions of dollars to build and endow universities and colleges and yet our most far-sighted educators are gravely concerned as to whether this organized education is really meeting the needs of the average citizen. It certainly seems to fail in its mission with the unusual child and with the gifted man or woman. Our mode of training our youth is standing decidedly before the bar of judgment. Only the future can settle whether some way out will not have to be found whereby the culture of the individual can proceed alongside the civilizing, through education, of the masses.
Giống như mọi thứ khác trong giai đoạn chuyển tiếp này, các hệ thống giáo dục của chúng ta đang trong tình trạng biến động và [22] thay đổi. Một cảm giác chung rằng nhiều điều đã được thực hiện để nâng cao trình độ của trí tuệ con người được tìm thấy ở khắp mọi nơi, đi đôi với một dòng ngầm sâu sắc của sự không hài lòng với các kết quả. Chúng ta đang đặt câu hỏi liệu các hệ thống giáo dục của chúng ta có đang đạt được lợi ích rộng lớn nhất hay không. Chúng ta đánh giá cao sự tiến bộ to lớn đã đạt được trong hai trăm năm qua, nhưng chúng ta tự hỏi liệu rốt cuộc chúng ta có nhận được nhiều từ cuộc sống như lẽ ra phải có đối với những người có một hệ thống đào tạo đầy đủ hay không. Chúng ta tự mãn với sự tăng trưởng về kiến thức, sự tích lũy thông tin, và sự kiểm soát các lực của tự nhiên, nhưng chúng ta lại tổ chức các cuộc tranh luận đại học về việc liệu chúng ta có bất kỳ nền văn hóa đích thực nào hay không. Chúng ta dạy con cái mình ghi nhớ một loạt dữ kiện khổng lồ, và đồng hóa một lượng lớn chi tiết đa dạng, nhưng đôi khi chúng ta đặt câu hỏi liệu chúng ta có đang dạy chúng sống thỏa đáng hơn hay không. Chúng ta sử dụng hàng tỷ đô la để xây dựng và tài trợ cho các trường đại học và cao đẳng nhưng các nhà giáo dục nhìn xa trông rộng nhất của chúng ta lại lo ngại sâu sắc về việc liệu nền giáo dục có tổ chức này có thực sự đáp ứng nhu cầu của công dân bình thường hay không. Nó chắc chắn dường như thất bại trong sứ mệnh của mình đối với đứa trẻ khác thường và đối với người đàn ông hay phụ nữ có năng khiếu. Phương thức đào tạo giới trẻ của chúng ta chắc chắn đang đứng trước tòa án phán xét. Chỉ có tương lai mới có thể giải quyết liệu một lối thoát nào đó sẽ không phải được tìm thấy nhờ đó sự tu dưỡng cá nhân có thể tiến hành song song với việc khai hóa, thông qua giáo dục, cho quần chúng.
In an age of scientific achievement and of a synthesis [23] of thought in every department of human knowledge, one of our educators, Dr. Rufus M. Jones says:
Trong một thời đại của thành tựu khoa học và của sự tổng hợp [23] tư tưởng trong mọi bộ phận của kiến thức nhân loại, một trong những nhà giáo dục của chúng ta, Tiến sĩ Rufus M. Jones nói:
“But, alas, none of these achievements makes us better men. There is no equation between bank accounts and goodness of heart. Knowledge is by no means the same thing as wisdom or nobility of spirit....The world has never seen before such an immense army of educators at work on the youth of the country, nor has there ever been before in the history of the world, such a generous outlay of money for education both lower and higher. The total effect, however, is disappointing, and misses the central point. Our institutions of learning produce some good scholars and give a body of scientific facts to a great number. But there is a pitiable failure in the main business of education which is, or should be, the formation of character, the culture of the spirit, the building of the soul.”
“Nhưng, than ôi, không thành tựu nào trong số này làm cho chúng ta trở thành những người tốt hơn. Không có sự ngang bằng giữa tài khoản ngân hàng và lòng tốt. Kiến thức hoàn toàn không giống như sự minh triết hay sự cao thượng của tinh thần.... Thế giới chưa bao giờ thấy trước đây một đội quân các nhà giáo dục khổng lồ như vậy làm việc trên giới trẻ của đất nước, cũng chưa bao giờ có trước đây trong lịch sử thế giới, một khoản chi tiêu hào phóng như vậy cho giáo dục cả thấp và cao. Tuy nhiên, hiệu quả tổng thể lại đáng thất vọng, và bỏ lỡ điểm trọng tâm. Các tổ chức học tập của chúng ta tạo ra một số học giả giỏi và cung cấp một khối lượng sự kiện khoa học cho một số lượng lớn. Nhưng có một sự thất bại đáng thương trong công việc chính của giáo dục, đó là, hoặc nên là, sự hình thành tính cách, sự tu dưỡng tinh thần, sự xây dựng linh hồn.”
JONES, RUFUS M., “THE NEED FOR A SPIRITUAL ELEMENT IN EDUCATION”. WORLD UNITY MAGAZINE, OCTOBER, 1928.
JONES, RUFUS M., “THE NEED FOR A SPIRITUAL ELEMENT IN EDUCATION” (NHU CẦU VỀ MỘT YẾU TỐ TINH THẦN TRONG GIÁO DỤC). TẠP CHÍ WORLD UNITY, THÁNG 10 NĂM 1928.
Old Mother Asia and Europe, up to the eighteenth century, trained and cultured the individual. An intensified training was given to the so-called upper classes, and to the man who showed a marked aptitude for spiritual culture. Under the Brahmanical system in the East, and in the monasteries in the West, a specialized culture was imparted to those who could profit by it, and rare individuals were produced, who, to this day, set their mark upon human thought. For this our modern Occidental world has substituted mass education. For the first time, men in their thousands are being taught to use their minds; they are beginning to assert their own individualities, [24] and to formulate their own ideas. The freedom of human thought, liberation from the control of theologies (religious or scientific) are the war cries of the present, and much has thereby been gained. The masses are beginning to do their own thinking. But it is largely mass thinking, and haphazard public opinion now moulds thought just as much as theologies formerly did. The pioneering individual has still as much difficulty in making himself felt in the present world of thought and of endeavor, as of old.
Châu Á và Châu Âu già cỗi, cho đến thế kỷ mười tám, đã đào tạo và tu dưỡng cá nhân. Một sự đào tạo tăng cường đã được trao cho các tầng lớp được gọi là thượng lưu, và cho người thể hiện năng khiếu rõ rệt về sự tu dưỡng tinh thần. Dưới hệ thống Bà-la-môn ở phương Đông, và trong các tu viện ở phương Tây, một sự tu dưỡng chuyên biệt đã được truyền đạt cho những người có thể hưởng lợi từ nó, và những cá nhân hiếm hoi đã được tạo ra, những người, cho đến ngày nay, vẫn đặt dấu ấn của họ lên tư tưởng nhân loại. Vì điều này, thế giới phương Tây hiện đại của chúng ta đã thay thế bằng giáo dục đại chúng. Lần đầu tiên, hàng ngàn người đang được dạy sử dụng trí tuệ của mình; họ bắt đầu khẳng định cá tính riêng của mình, [24] và hình thành các ý tưởng của riêng mình. Sự tự do của tư tưởng con người, sự giải phóng khỏi sự kiểm soát của các thần học (tôn giáo hoặc khoa học) là những tiếng gọi xung trận của hiện tại, và nhiều điều đã đạt được nhờ đó. Quần chúng đang bắt đầu tự mình suy nghĩ. Nhưng đó phần lớn là tư duy đám đông, và công luận ngẫu nhiên giờ đây nhào nặn tư tưởng cũng nhiều như các thần học trước kia đã làm. Cá nhân tiên phong vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc làm cho mình được cảm nhận trong thế giới tư tưởng và nỗ lực hiện tại, cũng như ngày xưa.
Perhaps in the turning of the great wheel of life, we are due again to revert to the ancient method of specialized training for the special individual-—a reversion which will not involve a discarding of mass education. In this way, we may ultimately unify the methods of the past and of the East with those of the present and of the West.
Có lẽ trong sự quay vòng của bánh xe vĩ đại của cuộc sống, chúng ta lại đến lúc quay trở lại phương pháp cổ xưa về đào tạo chuyên biệt cho cá nhân đặc biệt — một sự quay trở lại sẽ không liên quan đến việc loại bỏ giáo dục đại chúng. Theo cách này, cuối cùng chúng ta có thể thống nhất các phương pháp của quá khứ và của phương Đông với các phương pháp của hiện tại và của phương Tây.
Before considering these two methods let us attempt to define education, to express to ourselves its goal and so clarify our ideas as to the objectives ahead of all our endeavor.
Trước khi xem xét hai phương pháp này, chúng ta hãy cố gắng định nghĩa giáo dục, để diễn đạt cho chính mình mục tiêu của nó và làm sáng tỏ các ý tưởng của chúng ta về những mục tiêu phía trước của tất cả nỗ lực của chúng ta.
This is no easy thing to do. Viewed from its most uninteresting aspect, education can briefly be defined as the imparting of knowledge to a student, and usually to an unwilling student, who receives a mass of information that does not interest him in the least. A note of dryness and of aridity is struck; we feel that this presentation deals primarily with memory training, with the impartation of so-called facts, and with giving the student a little information [25] on a vast number of unrelated subjects. The literal meaning of the word, however, is “to lead out of,” or “to draw out,” and this is most instructive. The thought latent in this idea is that we should draw out the inherent instincts and potentialities of the child in order to lead him out of one state of consciousness into another and wider one. In this way we lead children, for instance, who are simply conscious of being alive, into a state of self-consciousness; they become aware of themselves and of their group relationships; they are taught to develop powers and capacities, especially through vocational training, in order that they may be economically independent, and thus self-supporting members of society. We exploit their instinct of self-preservation in order to lead them on along the path of knowledge. Could it be said that we begin with the utilization of their instinctive apparatus to lead them on to the way of the intellect? Perhaps this may be true, but I question whether, having brought them thus far we carry on the good work and teach them the real meaning of intellection as a training whereby the intuition is released. We teach them to utilize their instincts and intellect as part of the apparatus of self-preservation in the external world of human affairs, but the use of pure reason and the eventual control of the mind by the intuition in the work of self-preservation and of continuity of consciousness in the subjective and real worlds, is as yet but the privileged knowledge of a few pioneers.
Đây không phải là điều dễ làm. Nhìn từ khía cạnh kém thú vị nhất của nó, giáo dục có thể được định nghĩa ngắn gọn là việc truyền đạt kiến thức cho một học sinh, và thường là cho một học sinh không tự nguyện, người nhận một khối lượng thông tin không làm y quan tâm chút nào. Một nốt nhạc khô khan và cằn cỗi được gióng lên; chúng ta cảm thấy rằng cách trình bày này chủ yếu đề cập đến việc rèn luyện trí nhớ, với việc truyền đạt cái gọi là sự kiện, và với việc cung cấp cho học sinh một chút thông tin [25] về vô số chủ đề không liên quan. Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này (education) là “dẫn ra khỏi”, hoặc “kéo ra”, và điều này rất bổ ích. Tư tưởng tiềm ẩn trong ý tưởng này là chúng ta nên kéo ra những bản năng và tiềm năng vốn có của đứa trẻ để dẫn nó ra khỏi một trạng thái tâm thức này vào một trạng thái tâm thức khác và rộng hơn. Theo cách này, ví dụ, chúng ta dẫn dắt những đứa trẻ, vốn chỉ đơn giản ý thức về việc đang sống, vào một trạng thái tự ý thức; chúng trở nên nhận biết về bản thân và về các mối quan hệ nhóm của mình; chúng được dạy phát triển các quyền năng và năng lực, đặc biệt thông qua đào tạo nghề nghiệp, để chúng có thể độc lập về kinh tế, và do đó là những thành viên tự lực của xã hội. Chúng ta khai thác bản năng tự bảo tồn của chúng để dẫn chúng đi tiếp dọc theo con đường kiến thức. Có thể nói rằng chúng ta bắt đầu với việc sử dụng bộ máy bản năng của chúng để dẫn chúng vào con đường của trí năng không? Có lẽ điều này là đúng, nhưng tôi đặt câu hỏi liệu, sau khi đã đưa chúng đi xa đến thế, chúng ta có tiếp tục công việc tốt đẹp đó và dạy chúng ý nghĩa thực sự của hoạt động trí tuệ như một sự rèn luyện nhờ đó trực giác được giải phóng hay không. Chúng ta dạy chúng sử dụng bản năng và trí năng như một phần của bộ máy tự bảo tồn trong thế giới bên ngoài của các công việc con người, nhưng việc sử dụng lý tính thuần khiết và sự kiểm soát cuối cùng của trí tuệ bởi trực giác trong công việc tự bảo tồn và sự liên tục của tâm thức trong các thế giới chủ quan và thực tại, cho đến nay vẫn chỉ là kiến thức đặc quyền của một vài người tiên phong.
[26]
[26]
If Professor H. Wildon Carr is right, in his definition of the intuition, then our educational methods do not tend to its development. He defines it as “the apprehension by the mind of reality directly as it is, and not under the form of a perception or a conception, nor as an idea or object of the reason, all of which by contrast are intellectual apprehension.” (Carr, H. Wildon, “Philosophy of Change”, p. 21.)
Nếu Giáo sư H. Wildon Carr đúng, trong định nghĩa của ông về trực giác, thì các phương pháp giáo dục của chúng ta không có xu hướng phát triển nó. Ông định nghĩa nó là “sự lĩnh hội của tâm trí về thực tại trực tiếp như nó là, và không phải dưới hình thức của một tri giác hay một khái niệm, cũng không phải như một ý tưởng hay đối tượng của lý trí, tất cả những thứ đó ngược lại đều là sự lĩnh hội của trí năng.” (Carr, H. Wildon, “Philosophy of Change” (Triết lý của sự Thay đổi), tr. 21.)
We rate the science of the mind or the modifications of the thinking principle (as the Hindu calls it) as strictly human, relegating man’s instinctual reactions to qualities he shares in common with the animals. May it not be possible that the science of the intuition, the art of clear synthetic vision, may some day stand to the intellect as it, in its turn, stands to the instinctual faculty.
Chúng ta đánh giá khoa học của tâm trí hay những biến đổi của nguyên lý tư duy (như người Hindu gọi nó) là hoàn toàn thuộc về con người, quy các phản ứng bản năng của con người vào các phẩm chất mà y chia sẻ chung với động vật. Có thể nào khoa học của trực giác, nghệ thuật của tầm nhìn tổng hợp rõ ràng, một ngày nào đó sẽ đứng với trí năng giống như trí năng, đến lượt nó, đứng với quan năng bản năng.
Dr. Dibblee of Oxford makes the following interesting comments upon instinct and intuition, which have their place here on account of our plea in this book for the recognition of an educational technique which would lead to the development of a faculty of a higher awareness. He says:
Tiến sĩ Dibblee của Oxford đưa ra những bình luận thú vị sau đây về bản năng và trực giác, những bình luận có chỗ đứng ở đây vì lời kêu gọi của chúng ta trong cuốn sách này về sự công nhận một kỹ thuật giáo dục sẽ dẫn đến sự phát triển của một quan năng nhận thức cao hơn. Ông nói:
“...both instinct and intuition begin within the extra-conscious parts of ourselves, to speak in a local figure, and emerge equally unexpectedly into the light of every day consciousness....The impulses of instinct and the promptings of intuition are engendered in total secrecy. When they do appear, they are necessarily almost complete, and their advent into our consciousness is sudden.”
“...cả bản năng và trực giác đều bắt đầu bên trong các phần ngoại-ý thức của chúng ta, nói theo một hình tượng cục bộ, và xuất hiện cũng bất ngờ như nhau vào ánh sáng của tâm thức hàng ngày.... Các xung lực của bản năng và sự nhắc nhở của trực giác được sinh ra trong sự bí mật hoàn toàn. Khi chúng xuất hiện, chúng nhất thiết gần như hoàn chỉnh, và sự hiện diện của chúng trong tâm thức của chúng ta là đột ngột.”
DIBBLEE, GEORGE BINNEY, “INSTINCT AND INTUITION”, P. 128.
DIBBLEE, GEORGE BINNEY, “INSTINCT AND INTUITION” (BẢN NĂNG VÀ TRỰC GIÁC), TR. 128.
[27]
[27]
And he adds in another place that intuition lies on the other side of reason to instinct. We have, therefore, this interesting triplicity — instinct, intellect and intuition — with instinct lying below the threshold of consciousness, so to speak, with the intellect holding the first place in the recognition of man, as human, and with the intuition lying beyond both of them, and only occasionally making its presence felt in the sudden illuminations and apprehensions of truth which are the gift of our greatest thinkers.
Và ông nói thêm ở một nơi khác rằng trực giác nằm ở phía bên kia của lý trí đối với bản năng. Do đó, chúng ta có bộ ba thú vị này — bản năng, trí năng và trực giác — với bản năng nằm dưới ngưỡng của tâm thức, có thể nói như vậy, với trí năng giữ vị trí đầu tiên trong sự nhận biết của con người, với tư cách là con người, và với trực giác nằm bên kia cả hai, và chỉ thỉnh thoảng làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy trong những sự soi sáng và lĩnh hội chân lý đột ngột vốn là món quà của những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của chúng ta.
Surely there must be something more to the educational process than just fitting a man to cope with external facts and with his arbitrary environment? Humanity must be led out and into a deeper and wider future and realization. It must be equipped to meet and handle whatever may come, so as to get the highest and the best results. Men’s powers should be drawn out to their fullest constructive expression. There must be no standardized limit of achievement, the attainment of which will leave them complacent, self-satisfied and, therefore, static. They must always be led from lower to higher states of realization, and the faculty of awareness must be steadily expanded. Expansion and growth is the law of life and while the mass of men must be lifted by a system of education, fitted to bring the greatest good to the greatest number, the individual must be given his full heritage, and special culture provided which will foster and strengthen the finest and the best amongst us, for in their achievement lies the [28] promise of the New Age. The inferior and the backward must also have special training in order that they may come up to the high standard which the educators set. But it is of even greater importance that no man, with a special aptitude and equipment, should be held down to the dead level of the mass standard of the educated class.
Chắc chắn phải có điều gì đó hơn cho quy trình giáo dục so với việc chỉ trang bị cho một người để đối phó với các sự kiện bên ngoài và với môi trường tùy ý của y? Nhân loại phải được dẫn ra và đi vào một tương lai và sự chứng nghiệm sâu hơn và rộng hơn. Nó phải được trang bị để gặp gỡ và xử lý bất cứ điều gì có thể đến, để đạt được kết quả cao nhất và tốt nhất. Các quyền năng của con người nên được kéo ra để đạt tới biểu hiện xây dựng đầy đủ nhất của chúng. Không được có giới hạn chuẩn hóa nào về thành tựu, mà việc đạt được nó sẽ khiến họ tự mãn, tự hài lòng và do đó, tĩnh tại. Họ phải luôn được dẫn dắt từ các trạng thái chứng nghiệm thấp hơn lên cao hơn, và quan năng nhận thức phải được mở rộng đều đặn. Mở rộng và tăng trưởng là quy luật của sự sống và trong khi quần chúng nhân dân phải được nâng lên bằng một hệ thống giáo dục, phù hợp để mang lại lợi ích lớn nhất cho số lượng đông nhất, thì cá nhân phải được trao cho di sản đầy đủ của mình, và sự tu dưỡng đặc biệt được cung cấp sẽ nuôi dưỡng và củng cố những gì tốt đẹp nhất và ưu tú nhất trong chúng ta, vì trong thành tựu của họ nằm [28] lời hứa của Kỷ Nguyên Mới. Những người thấp kém và chậm tiến cũng phải có sự đào tạo đặc biệt để họ có thể vươn lên tiêu chuẩn cao mà các nhà giáo dục đặt ra. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là không ai, với năng khiếu và trang thiết bị đặc biệt, nên bị kìm hãm ở mức độ chết của tiêu chuẩn đại chúng của tầng lớp có giáo dục.
It is right here that the difficulty of defining education becomes apparent, and the questions arise as to the real goal and the true objectives. Dr. Randall realizes this in an article he wrote, in which he says:
Chính ngay tại đây mà khó khăn trong việc định nghĩa giáo dục trở nên rõ ràng, và các câu hỏi nảy sinh về mục tiêu thực sự và các mục đích chân thực. Tiến sĩ Randall nhận ra điều này trong một bài báo ông viết, trong đó ông nói:
“I would like to recommend the defining of education as a possible exercise for private meditation. Let each one ask himself what he means by ‘education’; and if he ponders the question deeply he will discover that in order to answer it he will have to probe down to the innermost meaning of life itself. Thinking earnestly about the meaning of education compels us to face the fundamental questions of life as we never have before....Is the goal of education knowledge? Assuredly yes, but knowledge for what? Is its goal power? Again yes, but power to what end? Is its goal social adjustment? The modern age replies emphatically, yes, but what kind of adjustment shall it be, and determined by what ideals? That education aims not at mere knowledge or mere power of any kind, but at knowledge and power put to right uses is clearly recognized by the most progressive educational thought, though not by the popular opinion of the day....
“Tôi muốn đề nghị việc định nghĩa giáo dục như một bài tập khả thi cho sự tham thiền riêng tư. Hãy để mỗi người tự hỏi mình y có ý gì bởi ‘giáo dục’; và nếu y suy ngẫm câu hỏi một cách sâu sắc y sẽ khám phá ra rằng để trả lời nó, y sẽ phải thăm dò xuống tận ý nghĩa sâu xa nhất của chính cuộc sống. Suy nghĩ nghiêm túc về ý nghĩa của giáo dục buộc chúng ta phải đối mặt với những câu hỏi cơ bản của cuộc sống như chúng ta chưa bao giờ làm trước đây.... Mục tiêu của giáo dục có phải là kiến thức không? Chắc chắn là có, nhưng kiến thức để làm gì? Mục tiêu của nó có phải là quyền lực không? Một lần nữa là có, nhưng quyền lực cho mục đích gì? Mục tiêu của nó có phải là sự điều chỉnh xã hội không? Thời đại hiện đại trả lời dứt khoát, có, nhưng sẽ là loại điều chỉnh nào, và được xác định bởi những lý tưởng nào? Rằng giáo dục nhắm không phải ở kiến thức đơn thuần hay quyền lực đơn thuần thuộc bất kỳ loại nào, mà ở kiến thức và quyền lực được đưa vào những sử dụng đúng đắn được tư tưởng giáo dục tiến bộ nhất công nhận rõ ràng, mặc dù không phải bởi ý kiến phổ biến của thời đại....
“The new education has for its great end, therefore, the training and development of the individual for social ends, that is, for the largest service to man....
“Do đó, nền giáo dục mới có mục đích vĩ đại của nó là sự đào tạo và phát triển cá nhân cho các mục đích xã hội, tức là, cho sự phụng sự lớn nhất đối với con người....
“We commonly classify education under three heads — primary, secondary and higher. To these three I should like [29] to add a fourth, highest. The highest education is religion but it is also education.”
“Chúng ta thường phân loại giáo dục dưới ba tiêu đề — tiểu học, trung học và đại học. Vào ba tiêu đề này tôi muốn [29] thêm một thứ tư, cao nhất. Giáo dục cao nhất là tôn giáo nhưng nó cũng là giáo dục.”
RANDALL, JOHN HERMAN, “EDUCATION AND RELIGION”, WORLD UNITY MAGAZINE, OCTOBER, 1928.
RANDALL, JOHN HERMAN, “EDUCATION AND RELIGION” (GIÁO DỤC VÀ TÔN GIÁO), TẠP CHÍ WORLD UNITY, THÁNG 10 NĂM 1928.
It is interesting to note that the same ideas are expressed by Bhagavan Das at the First All-Asia Educational Conference. He says:
Thật thú vị khi lưu ý rằng những ý tưởng tương tự được Bhagavan Das bày tỏ tại Hội nghị Giáo dục Toàn châu Á lần thứ nhất. Ông nói:
“The rules of Religion, i.e., of the larger Science, enable us...to discharge all these wider debts and duties. Religion has been described as the command or revelation of God. This only means, in other words, the laws of God’s Nature, as revealed to us by the labours, intellectual, intuitional, inspirational, of the seers and scientists of all religions and all nations....We have heard of the three R’s long enough. This fourth R, of genuine Religion, is more important than them all....But it has to be carefully discovered and thought out first. It behooves all sincere educators to help in this work by applying the scientific method of ascertaining agreements amidst differences.”
“Các quy luật của Tôn giáo, tức là, của Khoa học lớn hơn, cho phép chúng ta... hoàn trả tất cả các món nợ và nghĩa vụ rộng lớn hơn này. Tôn giáo đã được mô tả như mệnh lệnh hay sự mặc khải của Thượng đế. Điều này chỉ có nghĩa, nói cách khác, là các quy luật của Bản chất Thượng đế, như được tiết lộ cho chúng ta bởi những lao động, trí tuệ, trực giác, đầy cảm hứng, của các nhà tiên tri và nhà khoa học của tất cả các tôn giáo và tất cả các quốc gia.... Chúng ta đã nghe về ba chữ R đủ lâu rồi. Chữ R thứ tư này, của Tôn giáo chân chính, quan trọng hơn tất cả chúng.... Nhưng nó phải được khám phá và suy nghĩ cẩn thận trước tiên. Tất cả các nhà giáo dục chân thành có bổn phận giúp đỡ trong công việc này bằng cách áp dụng phương pháp khoa học để xác định các thỏa thuận giữa những khác biệt.”
DAS, BHAGAVAN, “THE UNITY OF ASIATIC THOUGHT, I.E., OF ALL RELIGIONS”, P. 12.
DAS, BHAGAVAN, “THE UNITY OF ASIATIC THOUGHT, I.E., OF ALL RELIGIONS” (SỰ THỐNG NHẤT CỦA TƯ TƯỞNG Á CHÂU, TỨC LÀ, CỦA TẤT CẢ TÔN GIÁO), TR. 12.
Both East and West seem to feel that an educational system that does not eventually lead a man out of the world of human affairs into the wider consciousness of spiritual things has failed in its mission and will not measure up to the soaring demand of the human soul. A training that stops short with the intellect, and ignores the faculty to intuit truth which the best minds evidence, lacks much. If it leaves its students with closed and static minds, it has left them without the equipment to touch that intangible and finest “four-fifths of life” which Dr. Wiggam tells us, lies outside the realm of scientific [30] training altogether. (Wiggam, Albert Edward, “The New Decalogue of Science”.) The door must be opened for those who can go beyond the academic training of the mind with relation to physical plane living.
Cả phương Đông và phương Tây dường như cảm thấy rằng một hệ thống giáo dục không cuối cùng dẫn dắt một con người ra khỏi thế giới của các công việc con người vào tâm thức rộng lớn hơn của những điều thuộc về tinh thần đã thất bại trong sứ mệnh của mình và sẽ không đáp ứng được nhu cầu cao cả của linh hồn con người. Một sự đào tạo dừng lại ở trí năng, và lờ đi quan năng trực nhận chân lý mà những trí tuệ tốt nhất chứng minh, còn thiếu sót nhiều. Nếu nó để lại cho các học sinh của mình những tâm trí đóng kín và tĩnh tại, nó đã để lại cho họ không có trang thiết bị để chạm vào “bốn phần năm cuộc sống” vô hình và tinh tế nhất mà Tiến sĩ Wiggam nói với chúng ta, nằm bên ngoài lĩnh vực đào tạo khoa học [30] hoàn toàn. (Wiggam, Albert Edward, “The New Decalogue of Science” (Mười Điều Răn Mới của Khoa học).) Cánh cửa phải được mở ra cho những người có thể đi xa hơn sự đào tạo học thuật của trí tuệ liên quan đến cuộc sống cõi trần.
The success of the future of the race is bound up with the success of those individuals who have the capacity to achieve greater, because more spiritual, things. These units of the human family must be discovered and encouraged to go on and to penetrate into the realm of the intangible. They must be cultured and trained and given an education which will be adapted to the highest and the best that is in them. Such an education requires a proper perception of individual growth and status, and a right understanding of what the next step in any given case should be. It requires insight, sympathy and understanding on the part of the teacher.
Sự thành công của tương lai của nhân loại gắn liền với sự thành công của những cá nhân có khả năng đạt được những điều lớn lao hơn, bởi vì thuộc về tinh thần hơn. Những đơn vị này của gia đình nhân loại phải được khám phá và khuyến khích để đi tiếp và thâm nhập vào vương quốc của cái vô hình. Họ phải được tu dưỡng và đào tạo và được trao một nền giáo dục sẽ thích ứng với những gì cao nhất và tốt nhất có trong họ. Một nền giáo dục như vậy đòi hỏi một sự nhận thức đúng đắn về sự tăng trưởng và địa vị cá nhân, và một sự thấu hiểu đúng đắn về bước tiếp theo trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào nên là gì. Nó đòi hỏi sự sáng suốt, sự thông cảm và sự thấu hiểu về phía người thầy.
There is an increasing realization among educators of this need to lift the more advanced educational processes and so raise those subjected to their influence out of the realm of the purely analytical critical mind into that of pure reason and intuitive perception. Bertrand Russell points out that “Education should not aim at a passive awareness of dead facts but at an activity directed towards the world that our efforts are to create.” But we must remember that creation posits an alive and functioning creator, acting with intention and utilizing the creative imagination. Could it be said that this is the effect of our modern educational systems? Is not the mind standardized and held down by our mass system [31] and by the method of cramming the memory with ill digested facts? If Herbart is right when he says that the “chief business of education is the ethical revelation of the universe” then perhaps Dr. Moran is also right when he points out that “one of the underlying causes, perhaps the greatest, of our materialistic age is the lack of the spiritual element in our formal education.”
Ngày càng có sự nhận thức rõ rệt giữa các nhà giáo dục về nhu cầu này để nâng cao các quy trình giáo dục tiến bộ hơn và do đó nâng những người chịu ảnh hưởng của họ ra khỏi lĩnh vực của trí tuệ phân tích phê phán thuần túy vào lĩnh vực của lý tính thuần khiết và nhận thức trực giác. Bertrand Russell chỉ ra rằng “Giáo dục không nên nhắm vào một sự nhận biết thụ động về các sự kiện chết mà vào một hoạt động hướng tới thế giới mà những nỗ lực của chúng ta sẽ tạo ra.” Nhưng chúng ta phải nhớ rằng sự sáng tạo ấn định một đấng sáng tạo sống động và đang hoạt động, hành động với ý định và sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo. Có thể nói rằng đây là hiệu quả của các hệ thống giáo dục hiện đại của chúng ta không? Chẳng phải trí tuệ bị chuẩn hóa và bị kìm hãm bởi hệ thống đại chúng của chúng ta [31] và bởi phương pháp nhồi nhét vào trí nhớ những sự kiện chưa được tiêu hóa kỹ hay sao? Nếu Herbart đúng khi ông nói rằng “công việc chính của giáo dục là sự tiết lộ đạo đức của vũ trụ” thì có lẽ Tiến sĩ Moran cũng đúng khi ông chỉ ra rằng “một trong những nguyên nhân cơ bản, có lẽ là lớn nhất, của thời đại duy vật của chúng ta là sự thiếu hụt yếu tố tinh thần trong nền giáo dục chính quy của chúng ta.”
Some of us feel also that there exists an even wider goal than an ethical revelation; and that it is possible that humanity is the custodian of an illumination and a glory which will only be realized in its fulness when the masses achieve some of the magnificence which has characterized the World Figures of the past. Is it not in line with evolutionary development that the real goal of education is to lead humanity out of the fourth or human kingdom into that spiritual realm where the pioneers whom we call Mystics, and the standard-setting Figures of the race live and move and have their being? Thus mankind will be raised out of the objective material world into the realm of spirit, where the truer values are to be found, and wherein that larger Self is contacted which the individual selves exist only to reveal. Keyserling hints at this in the following words:
Một số người trong chúng ta cũng cảm thấy rằng tồn tại một mục tiêu thậm chí còn rộng lớn hơn một sự tiết lộ đạo đức; và rằng có khả năng nhân loại là người giám hộ của một sự soi sáng và một vinh quang sẽ chỉ được nhận ra trong sự trọn vẹn của nó khi quần chúng đạt được một số sự tráng lệ đã đặc trưng cho các Nhân vật Thế giới của quá khứ. Chẳng phải là phù hợp với sự phát triển tiến hóa sao khi mục tiêu thực sự của giáo dục là dẫn dắt nhân loại ra khỏi giới thứ tư hay giới nhân loại vào vương quốc tinh thần đó nơi những người tiên phong mà chúng ta gọi là các Nhà Thần bí, và các Nhân vật thiết lập tiêu chuẩn của nhân loại sống và hoạt động và hiện hữu? Do đó, loài người sẽ được nâng lên khỏi thế giới vật chất khách quan vào vương quốc của tinh thần, nơi các giá trị chân thực hơn được tìm thấy, và trong đó Chân ngã rộng lớn hơn được tiếp xúc mà các bản ngã cá nhân tồn tại chỉ để tiết lộ. Keyserling gợi ý về điều này trong những lời sau:
“We are aware of the limits of human reason; we understand the significance of our striving; we are the masters of nature. We can simultaneously overlook the inner and the outer world. Since we can scientifically determine what are our real intentions, we need no more become the prey [32] of self-deceptions....From now on, this possibility must become the conscious motive of life. Hitherto it has not yet played that part. Yet this precisely is all-important for the centre of consciousness determines the starting-point of man. Wherever he shifts the emphasis within himself, there it actually rests; the whole Being of man is reorganized accordingly...therefore, an education to the synthesis of understanding and action is necessary for a life based on recognition.
“Chúng ta nhận thức được các giới hạn của lý trí con người; chúng ta thấu hiểu ý nghĩa của sự phấn đấu của mình; chúng ta là những người chủ của tự nhiên. Chúng ta có thể đồng thời nhìn bao quát thế giới bên trong và bên ngoài. Vì chúng ta có thể xác định một cách khoa học những ý định thực sự của mình là gì, chúng ta không cần phải trở thành con mồi [32] của những sự tự lừa dối nữa.... Từ giờ trở đi, khả năng này phải trở thành động cơ có ý thức của cuộc sống. Cho đến nay nó vẫn chưa đóng vai trò đó. Tuy nhiên, chính điều này là quan trọng nhất vì trung tâm của tâm thức xác định điểm xuất phát của con người. Bất cứ nơi nào y chuyển sự nhấn mạnh bên trong chính mình, ở đó nó thực sự nghỉ ngơi; toàn bộ Bản thể của con người được tổ chức lại cho phù hợp... do đó, một nền giáo dục hướng tới sự tổng hợp của sự thấu hiểu và hành động là cần thiết cho một cuộc sống dựa trên sự nhận biết.
“All education in the East is purely directed towards Sense-understanding, which...is the only way that can be shown as leading to a raising of the level of essential Being....The essential thing is not information, but understanding, and understanding can be attained only by personal creative application....Sense-perception always means giving a thing meaning; the dimension of Significance lies in the direction from within to the outside. Therefore, knowledge (in the sense of information) and understanding in reality, bear the same relationship to each other as nature and Spirit. Information is gained from without to the inside; understanding is a creative process in the opposite direction. Under these circumstances, there is no direct way leading from one goal to the other. One may know everything without at the same time understanding anything at all. And that is precisely the pass to which our education, that aims at a hoarding of information, has brought the majority.”
“Tất cả giáo dục ở phương Đông hoàn toàn hướng tới Sự thấu hiểu qua giác quan, vốn... là cách duy nhất có thể được chỉ ra như dẫn đến việc nâng cao trình độ của Bản Thể cốt yếu.... Điều thiết yếu không phải là thông tin, mà là sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu chỉ có thể đạt được bằng sự ứng dụng sáng tạo cá nhân.... Tri giác giác quan luôn có nghĩa là mang lại cho một sự vật ý nghĩa; chiều đo của Thâm nghĩa nằm ở hướng từ bên trong ra bên ngoài. Do đó, kiến thức (theo nghĩa thông tin) và sự thấu hiểu trong thực tế, mang mối quan hệ tương tự với nhau như tự nhiên và Tinh thần. Thông tin được thu nhận từ bên ngoài vào bên trong; sự thấu hiểu là một quy trình sáng tạo theo hướng ngược lại. Trong những trường hợp này, không có con đường trực tiếp nào dẫn từ mục tiêu này sang mục tiêu kia. Người ta có thể biết mọi thứ mà không đồng thời thấu hiểu bất cứ điều gì cả. Và đó chính xác là tình trạng mà nền giáo dục của chúng ta, vốn nhắm vào việc tích trữ thông tin, đã đưa đa số đến đó.”
KEYSERLING, COUNT HERMANN, “CREATIVE UNDERSTANDING”, PP. 257, 216, 217.
KEYSERLING, BÁ TƯỚC HERMANN, “SỰ HIỂU BIẾT SÁNG TẠO”, TR. 257, 216, 217.
This book seeks to deal with the method whereby the capacity to function in the larger consciousness can be developed, and man can re-organize his Being towards the wider issues. It concerns itself with the technique by which a specialized training and self-culture can be applied by every individual unit who [33] is capable of desiring this larger goal. If that desire can take a clear and rational form in his mind and can be appreciated as a perfectly legitimate objective, capable of successful achievement, he will eagerly grasp at it. If society can provide the means and opportunity for such advancement, many will gladly seek the way. The method proposed is an individual technique which will enable the student, who has profited by the usual academic educational advantages and the experiences of life, to expand his consciousness until he gradually transcends his present limitations and reorients his mind to wider realizations. He will discover the soul as the great Reality, thus gaining direct experience of spiritual things.
Cuốn sách này tìm cách đề cập đến phương pháp nhờ đó khả năng hoạt động trong tâm thức rộng lớn hơn có thể được phát triển, và con người có thể tổ chức lại Bản thể của mình hướng tới những vấn đề rộng lớn hơn. Nó quan tâm đến kỹ thuật mà qua đó một sự rèn luyện chuyên biệt và sự tự tu dưỡng có thể được áp dụng bởi mỗi đơn vị cá nhân, người [33] có khả năng khao khát mục tiêu rộng lớn hơn này. Nếu ham muốn đó có thể mang một hình thức rõ ràng và hợp lý trong tâm trí y và có thể được đánh giá như một mục tiêu hoàn toàn chính đáng, có khả năng đạt được thành công, y sẽ hăm hở nắm lấy nó. Nếu xã hội có thể cung cấp các phương tiện và cơ hội cho sự tiến bộ như vậy, nhiều người sẽ vui vẻ tìm kiếm con đường này. Phương pháp được đề xuất là một kỹ thuật cá nhân sẽ cho phép người đạo sinh, người đã hưởng lợi từ những thuận lợi giáo dục hàn lâm thông thường và những trải nghiệm của cuộc sống, mở rộng tâm thức của mình cho đến khi y dần dần vượt qua các giới hạn hiện tại và tái định hướng tâm trí mình tới những sự chứng nghiệm rộng lớn hơn. Y sẽ khám phá linh hồn như là Thực Tại vĩ đại, do đó đạt được kinh nghiệm trực tiếp về những điều thuộc tinh thần.
Everett Dean Martin defines education for us as a “spiritual revaluation of human life. Its task is to reorient the individual, to enable him to take a richer and more significant view of his experiences, to place him above and not within the system of his beliefs and ideals.” (Martin, Everett Dean, “The Meaning of a Liberal Education”, p. viii, Preface.) This definition necessarily opens the door to controversy, for we live, each of us, in a different environment; we have each our special problems and characteristics, based upon our heredity, our physical condition and many other factors. The consequent standard of values will have to be modified for each person, for each generation, country and race. That education is intended to prepare us for “complete living” (as Herbert Spencer [34] says) may be true, but the scope and capacity of each man differs. The lowest and the highest attainable point for men varies infinitely, and a man, moreover, who is equipped to function in one particular sphere might prove ludicrously inadequate in another. Some standard of “complete living” must therefore be worked out if the definition is to be useful. To do this we shall have to ascertain what is the pure type of the rounded out and perfected man, and what is the sum total of his range of contacts. It does not seem possible that we have exhausted the possibilities of man’s response apparatus, nor of the environment with which it can put him in touch. What are the limits within which man can function? If there are states of awareness, ranging all the way from that of the Hottentot up to that of our intelligentsia and on to the geniuses and leaders in all fields of human expression, what constitutes the difference between them? Why are their fields of perception so widely diverse? Racial development, one will reply; glandular stability, or instability, another will say; the possession, or the lack, of adequate educational advantages, differences in environment and in heritage, other groups of thinkers will decide.
Everett Dean Martin định nghĩa giáo dục cho chúng ta là một “sự đánh giá lại về mặt tinh thần đối với đời sống con người. Nhiệm vụ của nó là tái định hướng cá nhân, cho phép y có một cái nhìn phong phú và ý nghĩa hơn về những trải nghiệm của mình, đặt y lên trên chứ không phải ở bên trong hệ thống niềm tin và lý tưởng của y.” (Martin, Everett Dean, “Ý Nghĩa của một Nền Giáo Dục Khai Phóng”, tr. viii, Lời tựa.) Định nghĩa này nhất thiết mở ra cánh cửa cho sự tranh luận, vì mỗi người chúng ta sống trong một môi trường khác nhau; mỗi người chúng ta có những vấn đề và đặc điểm riêng biệt, dựa trên sự di truyền, thể chất và nhiều yếu tố khác. Tiêu chuẩn giá trị kéo theo đó sẽ phải được điều chỉnh cho từng người, từng thế hệ, quốc gia và chủng tộc. Việc giáo dục đó nhằm chuẩn bị cho chúng ta một “cuộc sống trọn vẹn” (như Herbert Spencer [34] nói) có thể đúng, nhưng phạm vi và năng lực của mỗi người là khác nhau. Điểm thấp nhất và cao nhất có thể đạt được đối với con người thay đổi vô tận, và hơn nữa, một người được trang bị để hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể tỏ ra bất lực một cách nực cười trong một lĩnh vực khác. Do đó, một số tiêu chuẩn về “cuộc sống trọn vẹn” phải được đề ra nếu định nghĩa này muốn trở nên hữu ích. Để làm điều này, chúng ta sẽ phải xác định đâu là loại hình thuần túy của con người toàn diện và hoàn hảo, và tổng số phạm vi tiếp xúc của y là gì. Dường như không thể có chuyện chúng ta đã dùng hết các khả năng của bộ máy đáp ứng của con người, cũng như của môi trường mà nó có thể giúp y tiếp xúc. Đâu là những giới hạn mà trong đó con người có thể hoạt động? Nếu có các trạng thái nhận thức, trải dài từ trạng thái của người Hottentot lên đến trạng thái của giới trí thức chúng ta và tiếp đến các thiên tài và các nhà lãnh đạo trong mọi lĩnh vực biểu đạt của con người, thì điều gì tạo nên sự khác biệt giữa họ? Một người sẽ trả lời là do sự phát triển chủng tộc; người khác sẽ nói là do sự ổn định hay bất ổn của tuyến nội tiết; các nhóm tư tưởng gia khác sẽ quyết định rằng đó là do việc sở hữu, hay thiếu thốn, những thuận lợi giáo dục đầy đủ, những khác biệt về môi trường và di truyền.
But out of the welter of opinion emerges the basic fact of the wide range of the human states of awareness, and the wonder of the realization that humanity has produced such marvels of comprehensive understanding, of purity of expression and of perfected world-wide influence as we see evidenced by [35] the Christ, the Buddha, Plato and many others, whose thoughts and words have set their mark upon the minds of men for thousands of years. What has made them what they are? Are they miracles, emerging from the heart of the Infinite, and, hence, can never find their equal? Are they products of the evolutionary process, and so have become potent through vast experience and unfoldment? Or are they the flower of the human race, who added to their equipment and training a specialized culture which enabled them to enter a spiritual world, which is sealed to the majority, and to function in a dimension of which even our most advanced thinkers know nothing? Have our present educational systems brought humanity, as a whole, to a condition where many thousands are ready for this specialized culture, and, therefore, are we facing a crisis in the educational field which has its roots in a success, which, if carried forward along the same lines, will become a detriment instead of a help, — because man is ready for something new? Some of us believe that this is possible, and that it is time that educators should begin to prepare men for the new and divine experience and for that wonderful experiment which will put them everywhere in possession of themselves — a thing hitherto the choice prerogative of the mystics and knowers of the race. These knowers have testified to a wider world than the one revealed to us by the mechanism of the nerves, and investigated by the chemist, the physicist, the biologist and the anthropologist. They have spoken in no uncertain [36] terms of a realm of contacts and of awareness in which the ordinary senses are useless. They claim to have lived and moved in these subtler realms, and the perseverance displayed in the mystical search for reality, and the similarity of their testimony down the ages lead one to believe in the possibility of that intangible world and of a response apparatus, by means of which it can be contacted. The ranks of these “deluded” mystics and intuitional thinkers number tens of thousands of the best minds of the race. They say to us in the words of Walt Whitman: “I and my kind do not convince by argument; we convince by our presence.” (Whitman, Walt, “Leaves of Grass”.)
Tuy nhiên, từ mớ hỗn độn của các ý kiến nổi lên một thực tế cơ bản về phạm vi rộng lớn của các trạng thái nhận thức của con người, và sự kỳ diệu của việc chứng nghiệm rằng nhân loại đã sản sinh ra những điều kỳ diệu của sự thấu hiểu bao quát, của sự thuần khiết trong biểu đạt và của ảnh hưởng hoàn hảo trên toàn thế giới như chúng ta thấy được minh chứng bởi [35] Đức Christ, Đức Phật, Plato và nhiều vị khác, những người mà tư tưởng và lời nói đã để lại dấu ấn trong tâm trí con người hàng ngàn năm qua. Điều gì đã tạo nên họ như thế? Phải chăng họ là những phép lạ, xuất hiện từ trái tim của Đấng Vô Hạn, và do đó, không bao giờ có thể tìm thấy người ngang hàng? Phải chăng họ là sản phẩm của quá trình tiến hóa, và vì thế đã trở nên đầy quyền năng nhờ trải nghiệm và sự mở mang to lớn? Hay họ là tinh hoa của nhân loại, những người đã thêm vào trang thiết bị và sự rèn luyện của mình một sự tu dưỡng chuyên biệt cho phép họ bước vào một thế giới tinh thần, vốn bị đóng kín đối với đa số, và hoạt động trong một chiều kích mà ngay cả những tư tưởng gia tiến bộ nhất của chúng ta cũng không biết gì? Phải chăng các hệ thống giáo dục hiện tại của chúng ta đã đưa nhân loại, nói chung, đến một tình trạng mà hàng ngàn người đã sẵn sàng cho sự tu dưỡng chuyên biệt này, và vì vậy, chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực giáo dục vốn có gốc rễ từ một thành công, mà nếu được tiếp tục theo các đường lối cũ, sẽ trở thành một trở ngại thay vì là một sự giúp đỡ, — bởi vì con người đã sẵn sàng cho một điều gì đó mới mẻ? Một số người trong chúng tôi tin rằng điều này là có thể, và đã đến lúc các nhà giáo dục nên bắt đầu chuẩn bị con người cho trải nghiệm mới mẻ và thiêng liêng, và cho cuộc thử nghiệm tuyệt vời sẽ đặt họ ở mọi nơi vào vị thế sở hữu chính bản thân mình — một điều cho đến nay vẫn là đặc quyền lựa chọn của các nhà thần bí và các thức giả của giống dân. Những thức giả này đã làm chứng cho một thế giới rộng lớn hơn thế giới được tiết lộ cho chúng ta bởi cơ chế của các dây thần kinh, và được nghiên cứu bởi nhà hóa học, nhà vật lý, nhà sinh học và nhà nhân chủng học. Họ đã nói bằng những thuật ngữ không hề mơ hồ [36] về một cõi giới của những tiếp xúc và nhận thức nơi mà các giác quan thông thường trở nên vô dụng. Họ tuyên bố đã sống và hoạt động trong những cõi giới tinh tế hơn này, và sự kiên trì được thể hiện trong cuộc tìm kiếm thực tại của các nhà thần bí, cùng sự tương đồng trong lời chứng của họ qua các thời đại khiến người ta tin vào khả năng của thế giới vô hình đó và của một bộ máy đáp ứng, mà nhờ đó thế giới ấy có thể được tiếp xúc. Hàng ngũ của những nhà thần bí và những tư tưởng gia trực giác “bị ảo tưởng” này lên tới hàng chục ngàn người thuộc những bộ óc ưu tú nhất của giống dân. Họ nói với chúng ta bằng những lời của Walt Whitman: “Tôi và đồng loại của tôi không thuyết phục bằng lý lẽ; chúng tôi thuyết phục bằng sự hiện diện của mình.” (Whitman, Walt, “Lá Cỏ”.)
Education has also been expressed as “an adventurous quest for the meaning of life, involving an ability to think things through.” Who said this I do not know, but it seems to me a most excellent description of the way of the mystic and the technique of meditation whereby the mystic becomes the fully conscious knower. However much one may seek to explain it away, the fact remains that man goes questing through the ages, and his quest leads him far deeper than the concrete externals of the world in which he lives. Dr. Overstreet calls this to our attention in words that carry the true mystical message. He says:
Giáo dục cũng đã được diễn đạt như là “một cuộc tìm kiếm đầy phiêu lưu về ý nghĩa của cuộc sống, bao hàm khả năng suy nghĩ thấu đáo mọi việc.” Tôi không biết ai đã nói điều này, nhưng đối với tôi, nó dường như là một mô tả xuất sắc nhất về con đường của nhà thần bí và kỹ thuật tham thiền nhờ đó nhà thần bí trở thành thức giả hoàn toàn ý thức. Dù người ta có tìm cách giải thích lấp liếm thế nào đi nữa, sự thật vẫn là con người vẫn tiếp tục tìm kiếm qua các thời đại, và cuộc tìm kiếm dẫn y đi sâu hơn nhiều so với những cái bên ngoài cụ thể của thế giới mà y đang sống. Tiến sĩ Overstreet kêu gọi sự chú ý của chúng ta về điều này bằng những lời mang thông điệp thần bí thực sự. Ông nói:
“In the main, we are creatures who see ‘things’. We see what we see and usually not beyond what we see. To experience the world as merely a world of things is doubtless to fail of something that is significant. The experience of [37] things, to be sure, is good as far as it goes. It enables us to move about our world and to manipulate the life-factors with some success....It is possible, however, to get a different ‘feel’ of one’s world if one is able to develop another habit of mind. It is, in short, the habit of seeing the invisible in the visible reality; the habit of penetrating surfaces, of seeing through things to their initiating sources.”
“Về cơ bản, chúng ta là những sinh vật nhìn thấy ‘sự vật’. Chúng ta thấy những gì mình thấy và thường không thấy xa hơn những gì mình thấy. Trải nghiệm thế giới chỉ đơn thuần là một thế giới của các sự vật chắc chắn là đã không nắm bắt được điều gì đó có ý nghĩa. Chắc chắn, trải nghiệm về [37] các sự vật là tốt trong phạm vi của nó. Nó cho phép chúng ta di chuyển trong thế giới của mình và vận dụng các yếu tố cuộc sống với một số thành công.... Tuy nhiên, có thể có được một ‘cảm nhận’ khác về thế giới của một người nếu người đó có khả năng phát triển một thói quen tâm trí khác. Tóm lại, đó là thói quen nhìn thấy cái vô hình trong thực tại hữu hình; thói quen thâm nhập vào các bề mặt, nhìn xuyên qua sự vật để thấy các nguồn khởi phát của chúng.”
OVERSTREET, H. A., “THE ENDURING QUEST”, P. 114.
OVERSTREET, H. A., “CUỘC TÌM KIẾM BỀN BỈ”, TR. 114.
Men are now perhaps ready to penetrate beneath the surface and to carry their search within the outer form of nature to that which is its cause. We are perhaps, too apt to confuse the religious spirit with the mystic search. All clear thinking about life and about the great laws of nature, if carried forward with persistence and steadfastness, leads eventually into the mystic world, and this the foremost scientists of our day are beginning to realize. Religion starts with the accepted hypothesis of the unseen and the mystical. But science arrives at the same point by working from the seen to the unseen and from the objective to the subjective. Thus, as has been said, by the process of investigation and of passing inwards from form to form, the mystic arrives eventually at the glory of the unveiled Self. It seems to be unalterably true that all paths lead to God — viewing God as the ultimate goal, the symbol of man’s search for Reality. It is no longer a sign of superstition to believe in a higher dimension and in another world of Being. Even the word “supernatural” has become deeply and profoundly respectable, and it seems possible that some day our [38] educational systems may regard the preparation of the individual to transcend his natural limitations as an entirely legitimate part of its affairs. It is interesting to note what Dr. C. Lloyd Morgan in the Gifford Lectures, delivered in 1923, has to say about this word “supernatural.” He says:
Có lẽ giờ đây con người đã sẵn sàng thâm nhập xuống dưới bề mặt và tiến hành cuộc tìm kiếm của mình bên trong hình tướng bên ngoài của tự nhiên để đến với cái là nguyên nhân của nó. Có lẽ chúng ta quá dễ nhầm lẫn tinh thần tôn giáo với cuộc tìm kiếm thần bí. Mọi tư duy rõ ràng về cuộc sống và về các định luật vĩ đại của tự nhiên, nếu được thực hiện với sự kiên trì và kiên định, cuối cùng sẽ dẫn vào thế giới thần bí, và đây là điều mà các nhà khoa học hàng đầu trong thời đại chúng ta đang bắt đầu nhận ra. Tôn giáo bắt đầu với giả thuyết được chấp nhận về cái vô hình và cái thần bí. Nhưng khoa học đi đến cùng một điểm bằng cách làm việc từ cái hữu hình đến cái vô hình và từ cái khách quan đến cái chủ quan. Do đó, như đã nói, bằng quá trình điều tra và đi sâu vào bên trong từ hình tướng này sang hình tướng khác, nhà thần bí cuối cùng đi đến vinh quang của Chân ngã không bị che vel. Dường như luôn đúng rằng mọi con đường đều dẫn đến Thượng đế — xem Thượng đế là mục tiêu tối hậu, là biểu tượng cho cuộc tìm kiếm Thực Tại của con người. Tin vào một chiều kích cao hơn và vào một thế giới khác của Bản thể không còn là dấu hiệu của sự mê tín nữa. Ngay cả từ “siêu nhiên” cũng đã trở nên đáng kính trọng một cách sâu sắc và thâm thúy, và dường như có thể một ngày nào đó các hệ thống giáo dục [38] của chúng ta có thể coi việc chuẩn bị cho cá nhân vượt qua các giới hạn tự nhiên của mình là một phần hoàn toàn chính đáng trong công việc của nó. Thật thú vị khi lưu ý những gì Tiến sĩ C. Lloyd Morgan trong các Bài giảng Gifford, được trình bày vào năm 1923, nói về từ “siêu nhiên” này. Ông nói:
“There is, I submit, an intelligible sense in which it may be said that, in the ascending hierarchy of stages of progress, regarded as manifestations of Divine Purpose, each higher stage is in turn supernatural to that which precedes it. In this sense life is supernatural to the inorganic; reflective comprehension in thought is supernatural to naive unreflective perception; the religious attitude, with acknowledgement of Divine Purpose, is supernatural to the ethical attitude in social affairs. For those who reach this highest stage, as they deem it, the religious attitude affords the supreme exemplar of the supernatural. It is distinctive of the spiritual man.”
“Tôi cho rằng, có một ý nghĩa dễ hiểu trong đó có thể nói rằng, trong thang bậc đi lên của các giai đoạn tiến bộ, được xem như những biểu hiện của Thiên Ý, mỗi giai đoạn cao hơn lần lượt là siêu nhiên đối với giai đoạn đi trước nó. Theo nghĩa này, sự sống là siêu nhiên đối với cái vô cơ; sự thấu hiểu phản tư trong tư tưởng là siêu nhiên đối với sự nhận thức ngây thơ không phản tư; thái độ tôn giáo, với sự thừa nhận Thiên Ý, là siêu nhiên đối với thái độ đạo đức trong các vấn đề xã hội. Đối với những người đạt đến giai đoạn cao nhất này, như họ coi là vậy, thái độ tôn giáo cung cấp hình mẫu tối cao của cái siêu nhiên. Nó là đặc trưng của con người tinh thần.”
MORGAN, C. LLOYD, “LIFE, MIND AND SPIRIT”, P. X, PREFACE.
MORGAN, C. LLOYD, “SỰ SỐNG, TRÍ TUỆ VÀ TINH THẦN”, TR. X, LỜI TỰA.
and, he adds most beautifully and most appositely, as far as our subject is concerned, that “The stress for us is on a new attitude, for it is this that is, as I think, emergent. Hence we may speak of a new ‘vision,’ and a new ‘heart,’ capable of a higher and richer form of joy.” (Morgan, C. Lloyd, “Life, Mind and Spirit”, p. X, Preface.)
và, ông nói thêm một cách tuyệt đẹp và thích hợp nhất, liên quan đến chủ đề của chúng ta, rằng “Đối với chúng ta, trọng tâm nằm ở một thái độ mới, vì tôi nghĩ rằng chính điều này đang xuất hiện. Do đó, chúng ta có thể nói về một ‘tầm nhìn’ mới, và một ‘trái tim’ mới, có khả năng đạt được một hình thức niềm vui cao hơn và phong phú hơn.” (Morgan, C. Lloyd, “Sự Sống, Trí Tuệ và Tinh thần”, tr. X, Lời tựa.)
.
.
In Dr. Hocking’s notable book “Human Nature and Its Remaking” he points out that education has two functions. It must first of all communicate the type and then provide for growth beyond that type. Education is intended to make man truly human; it must round out and perfect his nature, and so reveal [39] and make possible those deeper potentialities towards which all humanity tends. The evocation of the will-to-know, and, later, of the will-to-be, must follow a natural process of development. It is in this connection that the method of meditation will be seen as a part of the technique of the higher education which the New Age will see developed; it will be found to be the means whereby the rounded out human being can be still further developed, and led forth into a new kingdom in nature. Meditation is primarily a self-initiated process of education, calling forth all the powers of the will, basing itself upon the equipment present, but producing at the end a new type, the soul type, with its own internal apparatus, and holding within itself again the seeds of still greater unfoldment.
Trong cuốn sách đáng chú ý của Tiến sĩ Hocking “Bản Chất Con Người và Sự Tái Tạo Của Nó”, ông chỉ ra rằng giáo dục có hai chức năng. Trước hết nó phải truyền đạt mẫu hình và sau đó cung cấp cho sự tăng trưởng vượt ra ngoài mẫu hình đó. Giáo dục nhằm mục đích làm cho con người thực sự là con người; nó phải hoàn thiện và làm trọn vẹn bản chất của y, và do đó tiết lộ [39] và làm cho những tiềm năng sâu xa hơn mà toàn thể nhân loại hướng tới trở nên khả thi. Sự khơi gợi ý chí-muốn-biết, và sau đó là ý chí-muốn-là, phải tuân theo một quá trình phát triển tự nhiên. Chính trong sự liên hệ này mà phương pháp tham thiền sẽ được xem như một phần của kỹ thuật giáo dục cao hơn mà Kỷ Nguyên Mới sẽ thấy phát triển; nó sẽ được nhận thấy là phương tiện nhờ đó con người toàn diện có thể được phát triển xa hơn nữa, và được dẫn dắt vào một giới mới trong tự nhiên. Tham thiền chủ yếu là một quá trình giáo dục tự khởi xướng, huy động tất cả các sức mạnh của ý chí, dựa trên sự trang bị hiện có, nhưng cuối cùng tạo ra một loại hình mới, loại hình linh hồn, với bộ máy bên trong của riêng nó, và chứa đựng trong chính nó những hạt giống của sự mở mang vĩ đại hơn nữa.
From being something imposed from without, the new educational process wells up from within, and becomes that self-imposed mental discipline, which we cover by those much misunderstood words — concentration, meditation, and contemplation. From being a process of memory training, and the development of a quick handling of the response apparatus which puts us in touch with the external world, the educational technique becomes a system of mind-control, leading eventually to an inner awareness of a new state of being. It produces at length a rapid reaction and responsiveness to a world, intangible and unseen, and to a new series of instinctual recognitions which have their seat in a subtler response apparatus. The soul type imposes itself upon the [40] human type, as the human has done upon the animal, and just as the human type is the product of mass training and instinct and has been tremendously unfolded by our modern educational systems, so the soul type is the product of a new method of mental training, imposed on the individual by his soul, and called forth by the urgency of the quest and by the act of his will. This soul is always latent in the human form, but is drawn into demonstrated activity through the practice of meditation.
Từ chỗ là một cái gì đó bị áp đặt từ bên ngoài, quy trình giáo dục mới tuôn trào từ bên trong, và trở thành kỷ luật tinh thần tự áp đặt đó, mà chúng ta bao hàm bằng những từ ngữ bị hiểu lầm nhiều nhất — tập trung, tham thiền, và chiêm ngưỡng. Từ chỗ là một quá trình rèn luyện trí nhớ, và sự phát triển khả năng xử lý nhanh chóng của bộ máy đáp ứng giúp chúng ta tiếp xúc với thế giới bên ngoài, kỹ thuật giáo dục trở thành một hệ thống kiểm soát tâm trí, dẫn đến một nhận thức nội tại về một trạng thái hiện hữu mới. Cuối cùng, nó tạo ra một phản ứng và sự đáp ứng nhanh chóng với một thế giới, vô hình và không thể nắm bắt, và với một loạt các nhận biết bản năng mới có chỗ dựa trong một bộ máy đáp ứng tinh tế hơn. Loại hình linh hồn áp đặt chính nó lên [40] loại hình con người, cũng như con người đã làm đối với loài vật, và cũng như loại hình con người là sản phẩm của sự rèn luyện đại chúng và bản năng và đã được mở mang to lớn bởi các hệ thống giáo dục hiện đại của chúng ta, thì loại hình linh hồn là sản phẩm của một phương pháp rèn luyện tinh thần mới, được linh hồn áp đặt lên cá nhân, và được khơi dậy bởi sự cấp bách của cuộc tìm kiếm và bởi hành động của ý chí y. Linh hồn này luôn tiềm tàng trong hình tướng con người, nhưng được lôi kéo vào hoạt động được chứng minh thông qua việc thực hành tham thiền.
These two methods of rounding out the human being and raising him to a mass standard, and of producing the emergence of the new type, the soul, constitute the main distinction between the western and eastern educational methods.
Hai phương pháp này nhằm hoàn thiện con người và nâng y lên một tiêu chuẩn đại chúng, và nhằm tạo ra sự xuất hiện của loại hình mới, linh hồn, cấu thành sự khác biệt chính giữa các phương pháp giáo dục phương Tây và phương Đông.
The contrast between the two ways of development is most instructive. In the East we have the careful culture of the individual, with the masses left practically without any education. In the West we have mass education, but the individual is left, speaking generally, without any specific culturing. These two great and divergent systems have each produced a civilization, expressing its peculiar genius and manifestations, but also its marked defects. The premises upon which the systems are based are widely divergent, and it would be worth our while to consider them, for in understanding them and in the eventual union of the two it is possible that the way out may be found for the new race in the New Age.
Sự tương phản giữa hai cách phát triển này rất bổ ích. Ở phương Đông, chúng ta có sự tu dưỡng kỹ lưỡng đối với cá nhân, trong khi quần chúng thực tế không được giáo dục gì cả. Ở phương Tây, chúng ta có giáo dục đại chúng, nhưng cá nhân, nói chung, không có bất kỳ sự tu dưỡng cụ thể nào. Hai hệ thống lớn và khác biệt này, mỗi hệ thống đã tạo ra một nền văn minh, biểu đạt thiên tài và các biểu hiện đặc thù của nó, nhưng cũng có những khiếm khuyết rõ rệt. Các tiền đề mà các hệ thống này dựa vào là rất khác biệt, và sẽ rất đáng để chúng ta xem xét chúng, vì khi hiểu chúng và trong sự kết hợp cuối cùng của cả hai, có thể tìm ra lối thoát cho giống dân mới trong Kỷ Nguyên Mới.
First: In the eastern system, it is assumed that [41] within every human form dwells an entity, a being, called the self or soul. Second: This self utilizes the form of the human being as its instrument or means of expression, and through the sum total of the mental and emotional states will eventually manifest itself, utilizing the physical body as its functioning mechanism on the physical plane. Finally, the control of these means of expression is brought about under the Law of Rebirth. Through the evolutionary process (carried forward through many lives in a physical body) the self gradually builds a fit instrument through which to manifest, and learns to master it. Thus the self or soul becomes truly creative and self-conscious in the highest sense and active in its environment, manifesting its true nature perfectly. Eventually it gains complete liberation from form, from the thralldom of the desire nature, and the domination of the intellect. This final emancipation, and consequent transfer of the centre of consciousness from the human to the spiritual kingdom, is hastened and nurtured by a specialized education, called the meditation process, which is superimposed upon a mind widely and wisely cultured.
Thứ nhất: Trong hệ thống phương Đông, người ta cho rằng [41] bên trong mỗi hình tướng con người ngự trị một thực thể, một sinh linh, được gọi là bản ngã hay linh hồn. Thứ hai: Bản ngã này sử dụng hình tướng của con người làm công cụ hay phương tiện biểu đạt của nó, và thông qua tổng thể các trạng thái trí tuệ và cảm xúc sẽ biểu hiện chính nó, sử dụng thể xác làm cơ chế hoạt động của nó trên cõi hồng trần. Cuối cùng, việc kiểm soát các phương tiện biểu đạt này được thực hiện dưới Định luật Tái sinh. Thông qua quá trình tiến hóa (được tiến hành qua nhiều kiếp sống trong một thể xác), bản ngã dần dần xây dựng một công cụ phù hợp để qua đó biểu hiện, và học cách làm chủ nó. Do đó, bản ngã hay linh hồn trở nên thực sự sáng tạo và tự ý thức theo nghĩa cao nhất và hoạt động trong môi trường của nó, biểu hiện bản chất thực sự của nó một cách hoàn hảo. Cuối cùng, nó đạt được sự giải thoát hoàn toàn khỏi hình tướng, khỏi sự nô lệ của bản chất dục vọng, và sự thống trị của trí năng. Sự giải thoát cuối cùng này, và sự chuyển dịch tâm thức sau đó từ giới nhân loại sang giới tinh thần, được thúc đẩy và nuôi dưỡng bởi một nền giáo dục chuyên biệt, gọi là quy trình tham thiền, được đặt lên trên một tâm trí đã được tu dưỡng rộng rãi và khôn ngoan.
The result of this intensive and individual training has been spectacular in the extreme. The eastern method is the only one which has produced the Founders of all the world religions, for all are Asiatic in origin. It is responsible for the appearance of those inspired Scriptures of the world which have moulded the thoughts of men, and for the coming [42] forth of all the world Saviours — the Buddha, Zoroaster, Shri Krishna, the Christ, and others. Thus the East has manifested forth, as the result of its particular technique, all the Great Individuals, who have sounded the note for their particular age, given the needed teaching for the unfoldment in the minds of men of the God-Idea, and so led humanity forward along the path of spiritual perception. The exoteric result of their lives is to be seen in the great organized religions.
Kết quả của sự rèn luyện chuyên sâu và cá nhân này cực kỳ ngoạn mục. Phương pháp phương Đông là phương pháp duy nhất đã sản sinh ra Các Đấng Sáng Lập của tất cả các tôn giáo thế giới, vì tất cả đều có nguồn gốc từ châu Á. Nó chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của những Kinh điển được truyền cảm hứng của thế giới vốn đã đúc kết tư tưởng của con người, và cho sự xuất hiện [42] của tất cả các Đấng Cứu Thế — Đức Phật, Zoroaster, Shri Krishna, Đức Christ, và những vị khác. Như vậy, phương Đông đã biểu hiện, như là kết quả của kỹ thuật đặc biệt của nó, tất cả Các Cá Nhân Vĩ Đại, những người đã xướng lên âm thanh cho thời đại cụ thể của họ, đưa ra giáo huấn cần thiết cho sự mở mang Ý Niệm Thượng đế trong tâm trí con người, và do đó dẫn dắt nhân loại tiến lên trên con đường nhận thức tinh thần. Kết quả ngoại môn của cuộc đời các Ngài có thể được thấy trong các tôn giáo có tổ chức lớn.
In the training of the highly developed individuals, however, the masses throughout Asia have been neglected, and the system, consequently, (from the angle of racial development), leaves much to be desired. The defects of the system are the development of visionary and impractical tendencies. The mystic is frequently unable to cope with his environment, and where the emphasis is laid entirely upon the subjective side of life, the physical welfare of the individual and the race is neglected and overlooked. The masses are left to struggle in the mire of ignorance, disease and dirt, and, hence, we have the deplorable conditions found throughout the Orient, alongside the highest spiritual illumination of the favored few.
Tuy nhiên, trong việc rèn luyện các cá nhân phát triển cao, quần chúng khắp châu Á đã bị bỏ bê, và do đó, hệ thống (từ góc độ phát triển chủng tộc), còn nhiều điều đáng mong ước. Những khiếm khuyết của hệ thống là sự phát triển của các khuynh hướng mơ mộng và thiếu thực tế. Nhà thần bí thường không thể đối phó với môi trường của mình, và khi sự nhấn mạnh được đặt hoàn toàn vào mặt chủ quan của cuộc sống, phúc lợi thể chất của cá nhân và chủng tộc bị bỏ bê và xem nhẹ. Quần chúng bị bỏ mặc vật lộn trong vũng lầy của sự ngu dốt, bệnh tật và dơ bẩn, và do đó, chúng ta có những điều kiện tồi tệ được tìm thấy khắp phương Đông, bên cạnh sự soi sáng tinh thần cao nhất của một số ít người được ưu ái.
In the West the emphasis is entirely reversed. The subjective is ignored and regarded as hypothetical, and the premises upon which our culture is based are as follows: First, there is an entity, called the human being, who possesses a mind, a set of emotions and a response apparatus through which he is [43] brought into contact with his environment. Second, according to the calibre of his apparatus and the condition of his mind, plus the nature of his environing circumstances, so will be his character and disposition. The goal of the educational process, applied wholesale and indiscriminately, is to make him physically fit, mentally alert, to provide a trained memory, controlled reactions, and a character which makes him a social asset and a contributing factor in the body economic. His mind is regarded as a storehouse for imparted facts and the training given every child is intended to make him a useful member of society, self-supporting and decent. The product of these premises is the reverse of the Oriental. We have no specific culture of a kind to produce such world figures as Asia has produced, but we have evolved a mass system of education, and we have developed groups of thinkers. Hence, our universities, colleges and public and private schools. These set their mark upon tens of thousands of men, standardizing them and training them so that we turn out a human product, possessing a certain uniform knowledge, a certain stereotyped store of facts and a smattering of information. This means that there is no such deplorable ignorance as we find in the East, but a fairly high level of general knowledge. It has produced what we call civilization, with its wealth of books, and its many sciences. It has produced the scientific investigation of man, and (on the crest of the wave of human evolution) the great Groups in contradistinction to the great Individuals. [44] The contrasts might be crudely summed up as follows:
Ở phương Tây, sự nhấn mạnh hoàn toàn ngược lại. Cái chủ quan bị lờ đi và được coi là giả thuyết, và các tiền đề mà văn hóa của chúng ta dựa vào là như sau: Thứ nhất, có một thực thể, được gọi là con người, sở hữu một tâm trí, một bộ cảm xúc và một bộ máy đáp ứng qua đó y được [43] đưa vào tiếp xúc với môi trường của mình. Thứ hai, tùy theo năng lực của bộ máy và tình trạng tâm trí y, cộng với bản chất của hoàn cảnh môi trường, mà tính cách và khuynh hướng của y sẽ được hình thành. Mục tiêu của quy trình giáo dục, được áp dụng đại trà và không phân biệt, là làm cho y khỏe mạnh về thể chất, lanh lợi về tinh thần, cung cấp một trí nhớ được rèn luyện, các phản ứng được kiểm soát, và một tính cách làm cho y trở thành một tài sản xã hội và một yếu tố đóng góp trong nền kinh tế. Tâm trí y được coi là một kho chứa các sự kiện được truyền đạt và việc rèn luyện cho mọi đứa trẻ nhằm làm cho nó trở thành một thành viên hữu ích của xã hội, tự nuôi sống mình và đàng hoàng. Sản phẩm của các tiền đề này ngược lại với phương Đông. Chúng ta không có sự tu dưỡng cụ thể nào để tạo ra những nhân vật thế giới như châu Á đã sản sinh, nhưng chúng ta đã phát triển một hệ thống giáo dục đại chúng, và chúng ta đã phát triển các nhóm tư tưởng gia. Do đó, chúng ta có các trường đại học, cao đẳng và các trường công lập và tư thục. Những trường này để lại dấu ấn trên hàng chục ngàn người, chuẩn hóa họ và rèn luyện họ để chúng ta tạo ra một sản phẩm con người, sở hữu một kiến thức đồng nhất nhất định, một kho sự kiện rập khuôn nhất định và một chút thông tin. Điều này có nghĩa là không có sự ngu dốt tồi tệ như chúng ta thấy ở phương Đông, mà là một trình độ kiến thức chung khá cao. Nó đã tạo ra cái mà chúng ta gọi là nền văn minh, với sự phong phú của sách vở, và nhiều ngành khoa học của nó. Nó đã tạo ra sự điều tra khoa học về con người, và (trên đỉnh con sóng tiến hóa của nhân loại) các Nhóm lớn trái ngược với các Cá nhân lớn. [44] Các sự tương phản có thể được tóm tắt một cách thô sơ như sau:
WEST EAST
PHƯƠNG TÂY PHƯƠNG ĐÔNG
Groups Individuals
Các Nhóm Các Cá Nhân
Books Bibles
Sách vở Kinh điển
Knowledge Wisdom
Kiến thức Minh triết
Objective Civilization Subjective Culture
Văn minh Khách quan Văn hóa Chủ quan
Mechanical Development Mystical Development
Phát triển Cơ khí Phát triển Thần bí
Standardization Uniqueness
Tiêu chuẩn hóa Sự độc đáo
Mass Education Specialized Training
Giáo dục Đại chúng Rèn luyện Chuyên biệt
Science Religion
Khoa học Tôn giáo
Memory Training Meditation
Rèn luyện Trí nhớ Tham thiền
Investigation Reflection
Điều tra Suy ngẫm
Yet the cause is basically one — a method of education. Both are also fundamentally right, yet both are needed to supplement and complement each other. The education of the masses of the Orient will lead to the rectifying of their physical plane problems which call aloud for solution. A wide general system of education reaching down among the illiterate masses of the people in Asia is the outstanding need. The culturing of the individual in the West, and the grafting upon his body of imposed knowledge, of a technique of Soul Culture, as it has come to us from the Orient, will lift and salvage our civilization which is so fast breaking down. The East needs knowledge and the imparting of information. The West needs wisdom and the technique of meditation.
Tuy nhiên, nguyên nhân về cơ bản là một — một phương pháp giáo dục. Cả hai cũng đúng về cơ bản, nhưng cả hai đều cần thiết để bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau. Việc giáo dục quần chúng phương Đông sẽ dẫn đến việc khắc phục các vấn đề trên cõi hồng trần của họ vốn đang kêu gọi giải pháp. Một hệ thống giáo dục chung rộng rãi tiếp cận đến quần chúng mù chữ ở châu Á là nhu cầu nổi bật. Sự tu dưỡng cá nhân ở phương Tây, và việc ghép lên cơ thể y kiến thức được áp đặt, một kỹ thuật Tu dưỡng Linh hồn, như nó đã đến với chúng ta từ phương Đông, sẽ nâng cao và cứu vãn nền văn minh của chúng ta vốn đang sụp đổ quá nhanh. Phương Đông cần kiến thức và sự truyền đạt thông tin. Phương Tây cần minh triết và kỹ thuật tham thiền.
This scientific and cultural system, when applied to our highly educated human beings, will produce [45] that bridging body of men, who will unify the achievements of the two hemispheres and link the subjective and objective realms. They will act as the pioneers of the New Age, when men will be practical men of affairs with their feet firmly planted on earth and yet, at the same time, be mystics and seers, living also in the world of spirit and carrying inspiration and illumination with them into the life of every day.
Hệ thống khoa học và văn hóa này, khi được áp dụng cho những con người được giáo dục cao của chúng ta, sẽ tạo ra [45] một tập thể những người làm cầu nối, những người sẽ thống nhất những thành tựu của hai bán cầu và liên kết các cõi giới chủ quan và khách quan. Họ sẽ hành động như những người tiên phong của Kỷ Nguyên Mới, khi con người sẽ là những người thực tế trong công việc với đôi chân đặt vững chắc trên mặt đất nhưng đồng thời, là những nhà thần bí và nhà thông nhãn, cũng sống trong thế giới tinh thần và mang cảm hứng và sự soi sáng cùng với họ vào cuộc sống hàng ngày.
For the bringing about of these conditions and the production of that great group of practical mystics who will eventually save the world, two things are needed: — trained minds with wide general knowledge as a foundation (and this our western system can give), plus a spiritual awareness of the indwelling divinity, the soul, to be achieved through the eastern system of scientific meditation. Our greatest need in the West lies in our failure to recognize the Soul and the faculty of the intuition which in its turn leads to illumination. The late Professor Luzzatti, Prime Minister of Italy, in the Preface to his most valuable and scholarly book “God and Freedom” says: “It is everywhere noticed that the growth of the empire of man over himself does not keep step with the growth of the empire of man over nature.” (Luzzatti, Luigi, “God and Freedom”.) It is essential that the western world should perfect its educational systems in such a way as to bring about this conquest of the empire of ourselves.
Để mang lại những điều kiện này và tạo ra nhóm lớn các nhà thần bí thực tế, những người cuối cùng sẽ cứu thế giới, hai điều là cần thiết: — những tâm trí được rèn luyện với kiến thức chung rộng rãi làm nền tảng (và điều này hệ thống phương Tây của chúng ta có thể cung cấp), cộng với một nhận thức tinh thần về thiên tính nội tại, linh hồn, đạt được thông qua hệ thống tham thiền khoa học của phương Đông. Nhu cầu lớn nhất của chúng ta ở phương Tây nằm ở việc chúng ta không nhận ra Linh hồn và năng lực trực giác, cái đến lượt nó dẫn đến sự soi sáng. Cố Giáo sư Luzzatti, Thủ tướng Ý, trong Lời tựa cho cuốn sách giá trị và uyên bác nhất của ông “Thượng đế và Tự do” nói: “Ở mọi nơi đều nhận thấy rằng sự phát triển của đế chế của con người đối với chính mình không theo kịp sự phát triển của đế chế của con người đối với tự nhiên.” (Luzzatti, Luigi, “Thượng đế và Tự do”.) Điều thiết yếu là thế giới phương Tây nên hoàn thiện các hệ thống giáo dục của mình theo cách mang lại sự chinh phục đế chế của chính chúng ta.
CHAPTER THREE - THE NATURE OF THE SOUL—BẢN CHẤT CỦA LINH HỒN