Trích nội dung chương
There has been a great deal of nonsense talked and taught about the science of the breath. Many groups give a great deal of dangerous instruction anent breathing—dangerous because it is based on book knowledge and its exponents have never practised it extensively themselves, and dangerous because many groups simply exploit the unready, [254] usually for commercial gain. Fortunately for the mass of aspirants, the information and the instruction given are both feeble, inaccurate and frequently innocuous, though there are many cases of significantly bad reaction; fortunately, also, the purpose of the average aspirant is so weak that he is…
There has been a great deal of nonsense talked and taught about the science of the breath. Many groups give a great deal of dangerous instruction anent breathing—dangerous because it is based on book knowledge and its exponents have never practised it extensively themselves, and dangerous because many groups simply exploit the unready, [254] usually for commercial gain. Fortunately for the mass of aspirants, the information and the instruction given are both feeble, inaccurate and frequently innocuous, though there are many cases of significantly bad reaction; fortunately, also, the purpose of the average aspirant is so weak that he is incapable of persistent, daily, unchanging compliance with the requirements and fails to render that application which would be the guarantee of a dubious success; hence, in these cases, no danger exists. Many occult groups exploit the subject in order to build up mystery and to hold out inducements to the unwary, or give their adherents something to do and thus gain kudos for themselves as learned and well trained occultists. Anyone can teach breathing exercises. It is largely a matter of periodic in-breathing and exhalation, timed and spaced according to the wish of the teacher. Where there is persistence in effort, results will be achieved and these will usually be undesirable because the average teacher emphasises the technique of the breath and not the ideas which—upon the energy which that breath engenders—should take form in the life of the disciple.
Đã có rất nhiều điều vô nghĩa được nói và giảng dạy về khoa học hơi thở. Nhiều nhóm đưa ra rất nhiều chỉ dẫn nguy hiểm về việc thở—nguy hiểm vì chúng dựa trên kiến thức sách vở, còn những người truyền dạy chưa bao giờ tự thực hành sâu rộng, và nguy hiểm vì nhiều nhóm chỉ đơn thuần lợi dụng những người chưa sẵn sàng, [254] thường vì lợi nhuận thương mại. May mắn cho đông đảo người chí nguyện, cả thông tin lẫn chỉ dẫn được đưa ra đều yếu kém, thiếu chính xác và thường không gây hại, dù có nhiều trường hợp xuất hiện phản ứng xấu đáng kể; cũng may mắn là quyết tâm của người chí nguyện thông thường yếu đến mức y không có khả năng tuân thủ các yêu cầu một cách bền bỉ, hằng ngày và không thay đổi, và không thể thực hành chuyên cần đến mức bảo đảm cho một thành công đáng ngờ; do đó, trong những trường hợp này, không có nguy hiểm. Nhiều nhóm huyền bí khai thác chủ đề này nhằm tạo ra sự bí ẩn và đưa ra những lời dụ dỗ cho người thiếu cảnh giác, hoặc cho những người theo họ một việc gì đó để làm, qua đó đạt được danh tiếng cho mình như những nhà huyền bí học uyên bác và được đào tạo bài bản. Bất cứ ai cũng có thể dạy các bài tập thở. Phần lớn chỉ là việc hít vào và thở ra theo chu kỳ, với thời lượng và khoảng cách theo ý muốn của người dạy. Khi nỗ lực được duy trì bền bỉ, sẽ đạt được kết quả, và những kết quả ấy thường không đáng mong muốn, vì người dạy thông thường nhấn mạnh kỹ thuật thở chứ không nhấn mạnh những ý tưởng vốn phải thành hình trong đời sống của đệ tử nhờ năng lượng mà hơi thở ấy tạo ra.
The entire science of the breath is built around the use of the Sacred Word, the OM. The use of the Word is intended to be confined to those aspirants who are earnestly pledged to tread the Way, but it has been passed on and its use enjoined by many unscrupulous teachers, particularly those swamis who come from India, pose as Holy Men and get the silly women of the occident into their clutches. The Word is then used with no spiritual intent but simply as a sound which, carried on the breath, produces psychic results which indicate to the gullible their deep spirituality. The trouble is that breathing is inevitably related to the OM, but the effects are dependent upon motive and inner fixed intention. The oriental, unless he has attained the fourth or fifth initiation, has no true understanding of the [255] occidental or of his mechanism and equipment which, as the result of a civilisation and a mode of living, differs widely from that of the oriental. In the East, the problem of the teacher or Guru is to take negatively polarised people and make them positive. In the West, the races are as a whole positive in attitude and need no such training as is rightly given to the oriental. What exactly do I mean when I make this statement? I mean that in the East, the will factor (the quality of the first aspect) is absent. The oriental, particularly the inhabitant of India, lacks will, dynamic incentive and the ability to exert that inner pressure upon himself which will produce definite results. That is why that particular civilisation is so unadaptable to modern civilisation, and that is why the people of India make so little progress along the lines of regulated municipal and national life, and why they are so behind the times as far as modern civilised living is concerned. Generalising, the occidental is positive and needs the directive force of the soul and can produce it with very little teaching. In the Aryan race, a fusion is today taking place between the will aspect, the mind and the brain. This is not so in the Orient. It will be so later.
Toàn bộ khoa học hơi thở được xây dựng quanh việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng, OM. Việc sử dụng Linh từ vốn chỉ dành cho những người chí nguyện đã nghiêm túc cam kết bước trên Đường Đạo, nhưng nhiều người dạy vô lương tâm đã truyền lại và thúc giục người ta sử dụng nó, đặc biệt là những tu sĩ đến từ Ấn Độ, tự xưng là những Bậc Thánh và khiến những phụ nữ phương Tây khờ dại rơi vào tay họ. Khi ấy, Linh từ được sử dụng không với ý định tinh thần nào, mà chỉ như một âm thanh nương theo hơi thở, tạo ra những kết quả thông linh khiến người cả tin xem đó là dấu hiệu cho đời sống tinh thần sâu sắc của mình. Vấn đề là việc thở tất yếu có liên hệ với OM, nhưng các tác động lại phụ thuộc vào động cơ và ý định kiên định bên trong. Trừ khi đã đạt lần điểm đạo thứ tư hoặc thứ năm, người phương Đông không thực sự thấu hiểu [255] người phương Tây, cũng như bộ máy và những phương tiện của họ, vốn khác biệt rất lớn với người phương Đông do nền văn minh và lối sống. Ở phương Đông, vấn đề của huấn sư hay đạo sư là tiếp nhận những người phân cực âm và khiến họ trở nên dương tính. Ở phương Tây, nhìn chung các dân tộc có thái độ dương tính và không cần sự huấn luyện như loại thích hợp dành cho người phương Đông. Chính xác Tôi muốn nói gì khi đưa ra phát biểu này? Tôi muốn nói rằng ở phương Đông, yếu tố ý chí (phẩm tính của phương diện thứ nhất) vắng mặt. Người phương Đông, đặc biệt là người sống ở Ấn Độ, thiếu ý chí, động lực mạnh mẽ và khả năng tạo áp lực nội tâm lên chính mình để đạt những kết quả rõ rệt. Đó là lý do nền văn minh ấy khó thích nghi đến vậy với nền văn minh hiện đại, và là lý do người dân Ấn Độ tiến bộ rất ít trong đời sống đô thị và quốc gia được tổ chức có trật tự, cũng như quá lạc hậu xét về lối sống văn minh hiện đại. Nói khái quát, người phương Tây có tính dương và cần mãnh lực hướng dẫn của linh hồn, và có thể tạo ra mãnh lực ấy chỉ với rất ít sự chỉ dạy. Ngày nay, trong nhân loại Arya đang diễn ra một sự dung hợp giữa phương diện ý chí, thể trí và bộ não. Ở phương Đông thì chưa như vậy. Sau này sẽ như vậy.
The only factor which makes the breath effective is the thought, the intent and the purpose which lie behind it. In this statement, you have the clue to dynamic useful breathing exercises. Unless there is a clear appreciation of purpose, unless the disciple knows just what he is doing as he practises esoteric breathing, and unless the significance of the words “energy follows thought” is understood, breathing exercises are sheer waste of time and can be dangerous. From this it can be gathered that only when there is an alliance between breathing and thinking will results be possible.
Yếu tố duy nhất khiến hơi thở có hiệu quả là tư tưởng, ý định và mục đích nằm sau nó. Trong phát biểu này, các bạn có chìa khoá cho những bài tập thở mạnh mẽ và hữu ích. Nếu không có sự nhận thức rõ ràng về mục đích, nếu đệ tử không biết chính xác mình đang làm gì khi thực hành thở theo huyền bí học, và nếu không thấu hiểu thâm nghĩa của câu “năng lượng đi theo tư tưởng”, thì các bài tập thở hoàn toàn là sự lãng phí thời gian và có thể nguy hiểm. Từ đây, có thể thấy rằng chỉ khi có sự kết hợp giữa việc thở và suy nghĩ thì mới có thể đạt kết quả.
Behind this lies a third and even more important factor—the WILL. Therefore, the only person who can safely [256] and usefully practise breathing exercises is the man whose will is active—his spiritual will and, therefore, the will of the Spiritual Triad. Any disciple who is in process of building the antahkarana can begin to use, with care, directed breathing exercises. But, in the last analysis, it is only the initiates of the third degree and who are coming under monadic influence who can properly and successfully employ this form of life direction and reach effective results. This is fundamentally true. However, a beginning has to be made and to this effort all true disciples are invited.
Đằng sau điều này có một yếu tố thứ ba còn quan trọng hơn—Ý CHÍ. Vì vậy, người duy nhất có thể thực hành các bài tập thở một cách an toàn [256] và hữu ích là người có ý chí đang hoạt động—ý chí tinh thần của y, và do đó là ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Bất cứ đệ tử nào đang trong quá trình xây dựng antahkarana đều có thể bắt đầu sử dụng một cách thận trọng các bài tập thở có định hướng. Nhưng xét cho cùng, chỉ những điểm đạo đồ bậc ba đang chịu ảnh hưởng của chân thần mới có thể sử dụng đúng đắn và thành công hình thức hướng dẫn đời sống này và đạt những kết quả hữu hiệu. Về căn bản, điều này là đúng. Tuy nhiên, phải có một sự khởi đầu, và mọi đệ tử chân chính đều được mời tham gia nỗ lực này.
If all the implications in the above paragraph are considered, it will be apparent that the disciple has to establish—as a preliminary step—a direct relation between his brain, his mind and the will aspect of the Spiritual Triad; in other words, the negative receptor of thought (the brain), the agent of the will (the mind), and the Triad itself, have to be brought into contact with each other, via the antahkarana. When such a relation exists or is beginning to be established, then breathing exercises can safely and profitably be attempted. You see, my brother, only the directed will, using the organised rhythmic breath as its agent, can control the centres and produce an ordered purpose in life. Therefore, it is the dominating idea or line of mental activity with which the disciple must be concerned as he performs a breathing exercise. This idea must embody some purpose, some planned activity and some recognised goal before the breath which will engineer or implement it is generated, assembled, sent forth and thus becomes the carrier of power. This has to be done upon the wings of conscious intention, if I may here speak symbolically. I would urge you to read these last sentences with frequency because they concern the Science of the Breath and hold the clue to needed work. This science is primarily and fundamentally concerned with ideas as formulated into clear thoughtforms [257] and thus condition the life of the disciple upon etheric levels. From there, they eventually condition his physical plane life.
Nếu xem xét mọi hàm ý trong đoạn trên, sẽ thấy rõ rằng đệ tử phải thiết lập—như một bước sơ bộ—mối quan hệ trực tiếp giữa bộ não, thể trí và phương diện ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần; nói cách khác, cơ quan tiếp nhận tư tưởng mang tính âm (bộ não), tác nhân của ý chí (thể trí), và chính Tam Nguyên Tinh Thần phải tiếp xúc với nhau qua antahkarana. Khi một mối quan hệ như thế tồn tại hoặc bắt đầu được thiết lập, có thể thử thực hành các bài tập thở một cách an toàn và có lợi. Huynh đệ của tôi, các bạn thấy rằng chỉ ý chí có định hướng, sử dụng hơi thở nhịp nhàng đã được tổ chức làm tác nhân, mới có thể kiểm soát các trung tâm và tạo ra một mục đích có trật tự trong đời sống. Vì vậy, chính ý tưởng chủ đạo hoặc dòng hoạt động trí tuệ mới là điều đệ tử phải quan tâm khi thực hiện một bài tập thở. Ý tưởng này phải thể hiện một mục đích, một hoạt động đã hoạch định và một mục tiêu đã nhận biết, trước khi hơi thở sẽ tổ chức hoặc thực hiện nó được tạo ra, tập hợp, phát ra và nhờ đó trở thành phương tiện chuyên chở quyền năng. Điều này phải được thực hiện trên đôi cánh của ý định có ý thức, nếu ở đây Tôi có thể nói theo nghĩa biểu tượng. Tôi muốn thúc giục các bạn thường xuyên đọc lại những câu cuối này, vì chúng liên quan đến Khoa Học về Hơi Thở và chứa chìa khoá cho công việc cần thiết. Trước hết và về căn bản, khoa học này liên quan đến những ý tưởng được định hình thành các hình tư tưởng rõ ràng [257] và qua đó định hình đời sống của đệ tử trên các cấp độ dĩ thái. Từ đó, cuối cùng chúng định hình đời sống của y trên cõi hồng trần.
I have no intention here of giving any breathing exercises which disciples or aspirants could use—or, more probably, misuse. Their first responsibility is to become aware of the impulses within themselves which could galvanise the centres into activity and so produce conditions and events upon the physical plane. When these are clear and firmly established in the mind consciousness of the disciple, nothing can then stop their emergence in due time into the light of day. But they must follow an ordered process of gestation and of timed appearance.
Ở đây, Tôi không có ý định đưa ra bất cứ bài tập thở nào mà các đệ tử hoặc người chí nguyện có thể sử dụng—hoặc, nhiều khả năng hơn, sử dụng sai. Trách nhiệm đầu tiên của họ là nhận biết những xung lực bên trong mình có thể khơi dậy các trung tâm hoạt động và nhờ đó tạo ra những điều kiện cùng sự kiện trên cõi hồng trần. Khi những xung lực này trở nên rõ ràng và được thiết lập vững chắc trong tâm thức trí tuệ của đệ tử, không gì có thể ngăn chúng xuất hiện dưới ánh sáng ban ngày vào đúng thời điểm. Nhưng chúng phải tuân theo một tiến trình thai nghén có trật tự và xuất hiện đúng thời điểm.
When there is true idealism, right thought, plus an understanding of the vehicle of expression and the world of forces into which the idea has to be launched, then the student can safely follow certain scheduled breathing exercises and the second phase or the result of sound rhythmic breathing will appear. This is Inspiration.
Khi có lý tưởng chân chính, tư tưởng đúng đắn, cùng sự thấu hiểu hiện thể biểu hiện và thế giới mãnh lực mà ý tưởng phải được phóng vào, đạo sinh có thể an toàn thực hiện một số bài tập thở theo lịch trình, và giai đoạn thứ hai, hay kết quả của việc thở nhịp nhàng đúng đắn, sẽ xuất hiện. Đó là Cảm Hứng.
Breathing exercises, my brother, have a purely physiological effect when not impelled or motivated by directed thought and when they are not the result of the aspirant attaining and adhering to a point of tension. Steadily, whilst the process of inhalation and exhalation is being carried forward, a clear line of active thinking must be preserved so that the breath (as it is sent out) is qualified and conditioned by some idea. It is here that the average aspirant fails so often. He is usually so intensely preoccupied with the process of directing breathing and so expectant of some phenomenal results, that the living purpose of the breath is forgotten; this is to energise and add quality to the life of the centres through the medium of some projected and presented thought, expressing some sensed and determined idea. Where this background of idealistic thought is lacking, then the results of the breath will be practically nil or—[258] where there are results of any kind under these circumstances—they will be in no way concerned with thought but will be psychic in nature. They can then produce lasting psychic trouble, for the emanating source of the activity is astral and the projected energy goes to centres below the diaphragm, thus feeding the lower nature, enriching and strengthening its astral content and thereby enhancing and deepening glamour. The results can also be physiological, producing the stimulation of the etheric body leading to the strengthening of the physical nature; this often leads to serious results, for the breath is carried to centres which should be in “process of elevation” as it is esoterically called; this increases their physical potency, feeds the physical appetites and makes the task of the aspirant much harder as he seeks to sublimate the lower nature and anchor or focus the life of the centres above the diaphragm or in the head.
Huynh đệ của tôi, các bài tập thở chỉ có tác động thuần tuý sinh lý khi không được tư tưởng có định hướng thúc đẩy hoặc tạo động lực, và khi chúng không phải là kết quả của việc người chí nguyện đạt tới và duy trì một điểm tập trung nhất tâm. Trong suốt quá trình hít vào và thở ra, phải liên tục duy trì một dòng suy nghĩ chủ động rõ ràng để hơi thở (khi được phát ra) mang phẩm tính và chịu sự định hình của một ý tưởng nào đó. Chính ở đây người chí nguyện thông thường rất hay thất bại. Y thường quá mải mê với quá trình hướng dẫn hơi thở và quá mong đợi những kết quả hiện tượng nào đó, đến mức quên mất mục đích sống động của hơi thở; mục đích ấy là tiếp năng lượng và bổ sung phẩm tính cho sự sống của các trung tâm thông qua một tư tưởng được phóng chiếu và đưa ra, biểu hiện một ý tưởng đã cảm nhận và xác định. Khi thiếu nền tảng tư tưởng lý tưởng này, kết quả của hơi thở thực tế sẽ bằng không, hoặc—[258] nếu có bất cứ kết quả nào trong những hoàn cảnh ấy—chúng sẽ không liên quan đến tư tưởng mà mang bản chất thông linh. Khi ấy, chúng có thể gây ra những rối loạn thông linh kéo dài, vì nguồn phát ra hoạt động thuộc về cảm dục, và năng lượng được phóng chiếu đi đến các trung tâm dưới cơ hoành, qua đó nuôi dưỡng bản chất thấp, làm phong phú và tăng cường nội dung cảm dục của nó, và do đó làm gia tăng và sâu đậm thêm ảo cảm. Kết quả cũng có thể mang tính sinh lý, tạo ra sự kích thích thể dĩ thái dẫn đến việc tăng cường bản chất hồng trần; điều này thường dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, vì hơi thở được dẫn đến các trung tâm lẽ ra phải ở trong “tiến trình nâng cao”, như cách gọi trong huyền bí học; điều này làm tăng sức mạnh hồng trần của chúng, nuôi dưỡng các dục vọng thể xác và khiến nhiệm vụ của người chí nguyện khó khăn hơn nhiều khi y tìm cách thăng hoa bản chất thấp và neo giữ hoặc tập trung sự sống của các trung tâm ở phía trên cơ hoành hoặc trong đầu.
Glamour and maya are then increased and for the life in which these exercises are misapplied, the aspirant remains in a static and unprofitable condition. As he breathes in or inhales, he draws the breath from within his own aura, his auric ring-pass-not; he feeds the lower nature and sets up a vicious circle within himself which strengthens day by day until he is completely enmeshed by the glamour and maya which he is constantly establishing and re-establishing. The lower centres are steadily vitalised and become extremely active and the point of tension from which the aspirant then works is found in the personality and is not focussed in relation to the soul; the consciousness of the uniqueness of special breathing and the expectancy of phenomenal results bar out all thought, except lower reactions of a kama-manasic nature; emotion is fostered and the power of the astral body is tremendously increased; very frequently also the physiological results are potent and [259] noticeable, such as a great chest development and the muscular strengthening of the diaphragm. Something of this can be seen in the case of operatic singers. Singing, as now taught, is an expression of some of the lower aspects of the breath, and the breathing in the case of the above vocalists produces much breast development, intensifying emotionalism, producing instability in the life expression (which is often referred to as temperament) and keeps the singing aspect entirely astral in nature.
Khi ấy, ảo cảm và ảo lực gia tăng, và trong kiếp sống mà những bài tập này bị áp dụng sai, người chí nguyện vẫn ở trong một tình trạng trì trệ và không mang lại lợi ích. Khi hít vào, y hút hơi thở từ bên trong hào quang của chính mình, vòng-giới-hạn hào quang của y; y nuôi dưỡng bản chất thấp và tạo ra bên trong mình một vòng luẩn quẩn ngày càng mạnh lên, cho đến khi hoàn toàn mắc vào lưới ảo cảm và ảo lực mà y không ngừng thiết lập rồi tái thiết lập. Các trung tâm thấp liên tục được tiếp sinh lực và trở nên cực kỳ hoạt động, còn điểm tập trung nhất tâm mà từ đó người chí nguyện làm việc lúc này nằm trong phàm ngã, không tập trung trong mối liên hệ với linh hồn; tâm thức về tính độc đáo của cách thở đặc biệt và sự mong đợi các kết quả hiện tượng ngăn chặn mọi tư tưởng, ngoại trừ những phản ứng thấp mang bản chất trí-cảm; cảm xúc được nuôi dưỡng và quyền năng của thể cảm dục gia tăng vô cùng mạnh mẽ; rất thường xuyên, các kết quả sinh lý cũng mạnh mẽ và [259] rõ rệt, chẳng hạn như lồng ngực phát triển lớn và các cơ của cơ hoành được tăng cường. Có thể thấy phần nào điều này ở các ca sĩ nhạc kịch. Cách dạy hát hiện nay là một biểu hiện của một số phương diện thấp của hơi thở, và cách thở của những ca sĩ nói trên làm vùng ngực phát triển nhiều, tăng cường tính thiên về cảm xúc, tạo ra sự bất ổn trong biểu hiện đời sống (thường được gọi là tính khí), và khiến phương diện ca hát vẫn hoàn toàn mang bản chất cảm dục.
There is a higher and better mode of song, actuated by a difference in the point of tension and involving a breathing process which draws the needed energy upon the breath from sources higher and far more extensive than those normally used; this will produce the inspiration which will involve the whole man and not simply his emotional reaction to the theme of his song and his audience. This will bring into being a new mode and type of singing and of breathing, based on a form of mental breathing which will carry energy and consequent inspiration from sources without the personality aura. The time for this is not yet. My words will be little understood today, but the singing in the next century will be by those who will know how to tap the reservoirs of inspiration by means of a new method and technique in breathing. These techniques and exercises will be taught, to start with, in the new and coming schools of esotericism.
Có một cách ca hát cao hơn và tốt hơn, được thúc đẩy do sự khác biệt ở điểm tập trung nhất tâm và bao hàm một tiến trình hô hấp thu hút năng lượng cần thiết theo hơi thở từ những nguồn cao hơn và rộng lớn hơn nhiều so với những nguồn thường dùng; điều này sẽ tạo ra cảm hứng bao trùm toàn bộ con người, chứ không chỉ phản ứng cảm xúc của y đối với chủ đề bài hát và thính giả. Điều này sẽ khai sinh một cách thức và loại hình ca hát và hô hấp mới, dựa trên một hình thức hô hấp trí tuệ mang năng lượng cùng cảm hứng phát sinh từ đó đến từ những nguồn bên ngoài hào quang phàm ngã. Thời điểm cho điều này vẫn chưa đến. Lời Tôi sẽ ít được thấu hiểu ngày nay, nhưng trong thế kỷ tới, những người ca hát sẽ biết cách khai thác các kho cảm hứng bằng một phương pháp và kỹ thuật hô hấp mới. Ban đầu, những kỹ thuật và bài tập này sẽ được giảng dạy trong các trường huyền bí học mới sắp xuất hiện.
Inspiration is a process of qualifying, vitalising and stimulating the reaction of the personality—via the centres—to that point of tension where soul control becomes present and apparent. It is the mode whereby energy from the soul can flood the personality life, can sweep through the centres, expelling that which hinders, ridding the aspirant of all remaining glamours and maya, and perfecting an instrument whereby the music of the soul and, later, the musical quality of the Hierarchy can be heard. Forget not [260] that sound permeates all forms; the planet itself has its own note or sound; each minute atom also has its sound; each form can be evoked into music and each human being has his peculiar chord and all chords contribute to the great symphony which the Hierarchy and Humanity are playing, and playing now. Every spiritual group has its own tune (if I may employ so inappropriate a word) and the groups which are in process of collaborating with the Hierarchy make music ceaselessly. This rhythm of sound and this myriad of chords and notes blend with the music of the Hierarchy itself and this is a steadily enriching symphony; as the centuries slip away, all these sounds slowly unite and are resolved into each other until some day the planetary symphony which Sanat Kumara is composing will be completed and our Earth will then make a notable contribution to the great chords of the solar system—and this is a part, intrinsic and real, of the music of the spheres. Then, as the Bible says, the Sons of God, the planetary Logoi, will sing together. This, my brother, will be the result of right breathing, of controlled and organised rhythm, of true pure thought and of the correct relation between all parts of the chorus.
Cảm hứng là một tiến trình phú phẩm tính, tiếp sinh lực và kích thích sự đáp ứng của phàm ngã—qua các trung tâm—đối với điểm tập trung nhất tâm nơi sự kiểm soát của linh hồn hiện diện và trở nên rõ rệt. Đó là cách thức để năng lượng từ linh hồn tràn ngập đời sống phàm ngã, quét qua các trung tâm, trục xuất những gì gây cản trở, giải thoát người chí nguyện khỏi mọi ảo cảm và ảo lực còn sót lại, và hoàn thiện một khí cụ để qua đó có thể nghe được âm nhạc của linh hồn và, về sau, phẩm tính âm nhạc của Thánh đoàn. Đừng quên [260] rằng âm thanh thấm nhuần mọi hình tướng; chính hành tinh có âm điệu hay âm thanh riêng; mỗi nguyên tử nhỏ bé cũng có âm thanh riêng; mỗi hình tướng đều có thể được gợi lên thành âm nhạc, và mỗi con người có hợp âm đặc thù của mình; mọi hợp âm đều góp phần vào bản giao hưởng vĩ đại mà Thánh đoàn và Nhân loại đang cùng trình tấu, ngay lúc này. Mỗi nhóm tinh thần có giai điệu riêng (nếu Tôi có thể dùng một từ không thích hợp đến thế), và các nhóm đang trong tiến trình cộng tác với Thánh đoàn không ngừng tạo nên âm nhạc. Nhịp điệu âm thanh này cùng vô vàn hợp âm và âm điệu hòa vào âm nhạc của chính Thánh đoàn, tạo thành một bản giao hưởng ngày càng phong phú; qua bao thế kỷ, tất cả những âm thanh này từ từ hợp nhất và hòa quyện vào nhau, cho đến một ngày bản giao hưởng hành tinh mà Sanat Kumara đang sáng tác sẽ hoàn tất; khi ấy Trái Đất của chúng ta sẽ đóng góp đáng kể vào những hợp âm vĩ đại của hệ mặt trời—và đây là một phần nội tại, có thực, của âm nhạc các khối cầu. Khi ấy, như Kinh Thánh nói, các Con của Thượng đế, các Hành Tinh Thượng đế, sẽ cùng ca hát. Huynh đệ của tôi, đây sẽ là kết quả của việc hô hấp đúng đắn, của nhịp điệu được kiểm soát và tổ chức, của tư tưởng chân thực, thanh khiết, và của mối quan hệ đúng đắn giữa mọi thành phần trong dàn hợp xướng.
Think out this theme as a meditation exercise and gain inspiration thereby.
Hãy suy xét thấu đáo chủ đề này như một bài tập tham thiền và qua đó đón nhận cảm hứng.
c. The Technique of Indifference
c. Kỹ Thuật Điềm Nhiên
I have, in my other books, given much information anent the etheric body and the centres—major and minor—which are to be found within its radius. There is a tendency among students to identify the centres with the physical body in their thinking and not so clearly with the etheric body. This concerns location in the majority of cases and is a mistake. Aspirants would do well to avoid any concentration at all [261] upon the physical body and learn gradually to shift their focus of attention into the etheric body. Necessarily the physical body is active and potent but increasingly it should be regarded as an automaton, influenced and directed by:
Trong những cuốn sách khác của Tôi, Tôi đã cung cấp nhiều thông tin về thể dĩ thái và các trung tâm—chính và phụ—nằm trong phạm vi của thể này. Trong suy nghĩ, các đạo sinh có khuynh hướng đồng nhất các trung tâm với thể xác hơn là nhận rõ mối liên hệ của chúng với thể dĩ thái. Trong đa số trường hợp, điều này liên quan đến vị trí và là một sai lầm. Người chí nguyện nên tránh mọi sự tập trung [261] vào thể xác và dần học cách chuyển trọng tâm chú ý sang thể dĩ thái. Tất nhiên, thể xác hoạt động và có sức mạnh, nhưng ngày càng nên xem nó như một bộ máy tự động, chịu ảnh hưởng và sự điều khiển của:
1. The vital body and the forces of maya; or by inspiration, emanating from points of spiritual tension.
1. Thể sinh lực và các mãnh lực ảo lực; hoặc cảm hứng phát xạ từ những điểm tập trung nhất tâm tinh thần.
2. The astral vehicle and the forces of glamour; or sentient, conscious love, emanating from the soul.
2. Hiện thể cảm dục và các mãnh lực ảo cảm; hoặc tình thương có cảm nhận và có ý thức, phát xạ từ linh hồn.
3. The mind and the forces of illusion; or by illumination, coming from higher sources than the life in the three worlds.
3. Thể trí và các mãnh lực ảo tưởng; hoặc sự soi sáng đến từ những nguồn cao hơn đời sống trong ba cõi giới.
4. The soul, as the vehicle of monadic impression, until such time as the antahkarana is built—that bridge in mental matter which will eventually link the Monad and the personality.
4. Linh hồn, với tư cách là hiện thể tiếp nhận ấn tượng chân thần, cho đến khi antahkarana được xây dựng—cây cầu bằng vật chất trí tuệ ấy cuối cùng sẽ nối liền Chân thần và phàm ngã.
One of the problems which disciples have to solve is the source of the incentive, impulses, impressions or inspiration which—via the etheric body—sweep the physical vehicle into activity upon the physical plane, thus giving a demonstration of the quality, purpose and point of tension of the incarnating man, and manifesting the nature of the man as he is at any particular point upon the ladder of evolution. According to the tensions and impulses indicated, will be the activity of the centres. You can see, therefore, how much that I teach reverses the usual occult procedures. I teach no mode of awakening the centres because right impulse, steady reaction to higher impulsions and the practical recognition of the sources of inspiration will automatically and safely swing the centres into needed and appropriate activity. This is the sound method of development. It is slower, but leads to no premature development and produces a rounded out unfoldment; it enables the aspirant to [262] become truly the Observer and to know with surety what he is doing; it brings the centres, one by one, to a point of spiritual responsiveness and then establishes the ordered and cyclic rhythm of a controlled lower nature. That breathing exercises may eventually find a place in the training of the disciple is true and possible, but they will be self-initiated as a result of rhythmic living and a constant right use of the Sacred Word, the OM. When, for instance, a disciple in meditation sounds the OM seven times, it is the equivalent of a breathing exercise; when he can send the energy thus generated on the wings of conscious planned thought to one or other of the centres, he is bringing about changes and readjustments within the mechanism which handles force, and when this can be carried out with ease and with the mind held at a point of “thought-full tension,” then the disciple is well on the way to shifting his entire focus of attention away from the world of illusion, glamour and maya and into the realm of the soul, in the world of the “clear cold light” and into the kingdom of God.
Một trong những vấn đề đệ tử phải giải quyết là xác định nguồn của động lực, xung lực, ấn tượng hoặc cảm hứng vốn—qua thể dĩ thái—thúc đẩy hiện thể hồng trần hoạt động trên cõi hồng trần, qua đó biểu lộ phẩm tính, mục đích và điểm tập trung nhất tâm của con người đang nhập thể, đồng thời biểu hiện bản chất của y tại bất kỳ bậc cụ thể nào trên thang tiến hoá. Hoạt động của các trung tâm sẽ tùy thuộc vào những mức độ tập trung nhất tâm và xung lực đã nêu. Vì vậy, các bạn có thể thấy những điều Tôi giảng dạy đảo ngược các cách thực hành huyền bí thông thường đến mức nào. Tôi không dạy phương thức đánh thức các trung tâm, vì xung lực đúng đắn, sự đáp ứng bền bỉ với những thúc đẩy cao hơn và việc nhận biết các nguồn cảm hứng trong thực hành sẽ tự động và an toàn đưa các trung tâm vào hoạt động cần thiết và thích hợp. Đây là phương pháp phát triển vững chắc. Nó chậm hơn, nhưng không dẫn đến sự phát triển sớm trước thời điểm và tạo nên sự khai mở toàn diện; nó giúp người chí nguyện [262] thực sự trở thành Người Quan Sát và biết chắc mình đang làm gì; nó lần lượt đưa từng trung tâm đến một điểm đáp ứng tinh thần, rồi thiết lập nhịp điệu có trật tự và theo chu kỳ của bản chất thấp đã được kiểm soát. Việc các bài tập hô hấp cuối cùng có thể có chỗ đứng trong sự huấn luyện đệ tử là điều đúng đắn và khả thi, nhưng y sẽ tự khởi xướng chúng như kết quả của lối sống có nhịp điệu và việc thường xuyên sử dụng đúng Linh từ Thiêng Liêng, OM. Chẳng hạn, khi một đệ tử xướng OM bảy lần trong lúc tham thiền, điều đó tương đương với một bài tập hô hấp; khi y có thể gửi năng lượng được tạo ra như vậy, trên đôi cánh của tư tưởng có ý thức và được hoạch định, đến trung tâm này hay trung tâm khác, y đang tạo nên những biến đổi và điều chỉnh bên trong bộ máy xử lý mãnh lực; và khi y có thể thực hiện điều này dễ dàng, với thể trí được giữ tại một điểm “tập trung nhất tâm đầy tư tưởng”, thì đệ tử đã tiến xa trên con đường chuyển toàn bộ trọng tâm chú ý của mình ra khỏi thế giới ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực, để đi vào cảnh giới linh hồn, vào thế giới của “ánh sáng trong trẻo, lạnh” và vào Thiên Giới.
When he also adds to this an understanding and the practice of the Technique of Indifference, he stands free and liberated and is essentially at all times the Observer and User of the apparatus of manifestation.
Khi y bổ sung vào đó sự thấu hiểu và thực hành Kỹ Thuật Điềm Nhiên, y đứng trong tự do và giải thoát, và về bản chất, lúc nào cũng là Người Quan Sát và Người Sử Dụng bộ máy biểu hiện.
What is this technique? What is indifference? I wonder, brother of mine, if you understand the significance of this word “indifference”? It means in reality the achieving of a neutral attitude towards that which is regarded as the Not-self; it involves a repudiation of similarity; it marks the recognition of a basic distinction; it signifies refusal to be identified with anything save the spiritual reality as far as that is sensed and known at any given point in time and space. It is, therefore, a much stronger and vital thing than what is usually meant when the word is used. It is active repudiation without any concentration upon that which is [263] repudiated. That is a statement of moment and warrants your careful consideration. It is concerned with the point of tension from which the observing disciple or aspirant is working. The point of tension becomes the emanating source of some type of energy, and this pours down into and through the etheric body without being in any way affected by maya or by the concentration of diverse forces of which the etheric body is ever composed. Indifference, technically understood, signifies direct descent from there to here, without deviation or distortion. The manifesting entity, the disciple, stands steady and firm at this point of tension and his first step is, therefore, to ascertain where that is, on what plane it is found, and what is the strength of the tension upon which he has to depend. The next step is to discover if that which he seeks to convey to the physical body, and thus produce effects upon the outer world of experiment and experience, is distorted by illusion of any kind, arrested in its expression by glamour, or liable to be sidetracked by uncontrolled forces and by the maya which these produce. This he ascertains not by identifying himself, stage by stage of descent, with the hindrances and possible obstructions but by intensifying his point of tension, by the constant recollection of the truth that he is the Self and not the not-self and by a process of projection; this projection is defined as sending of energy, qualified and recognised, from the point of tension direct and undeviatingly to the vital body from whence it can find its way to the seven centres of control.
Kỹ thuật này là gì? Điềm nhiên là gì? Huynh đệ của tôi, Tôi tự hỏi liệu các bạn có thấu hiểu thâm nghĩa của từ “điềm nhiên” này không? Thực ra, nó có nghĩa là đạt được một thái độ trung lập đối với những gì được xem là Phi ngã; nó bao hàm sự phủ nhận tính tương đồng; nó đánh dấu việc nhận biết một sự khác biệt căn bản; nó có nghĩa là từ chối đồng hoá với bất cứ điều gì ngoài thực tại tinh thần, trong phạm vi thực tại ấy được cảm nhận và nhận biết tại bất kỳ điểm nào trong thời gian và không gian. Vì vậy, nó mạnh mẽ và đầy sức sống hơn nhiều so với ý nghĩa thông thường người ta gán cho từ này. Đó là sự khước từ tích cực mà không hề tập trung vào những gì [263] bị khước từ. Đây là một phát biểu quan trọng, đáng để các bạn suy xét cẩn thận. Nó liên quan đến điểm tập trung nhất tâm mà từ đó người đệ tử hay người chí nguyện đang quan sát tiến hành công việc. Điểm tập trung nhất tâm trở thành nguồn phát xạ một loại năng lượng nào đó; năng lượng này tuôn xuống, đi vào và xuyên qua thể dĩ thái mà không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào của ảo lực hay của sự tập trung nhiều mãnh lực khác nhau vốn luôn cấu thành thể dĩ thái. Hiểu theo nghĩa kỹ thuật, điềm nhiên có nghĩa là đi xuống trực tiếp từ đó đến đây, không chệch hướng hay biến dạng. Thực Thể đang biểu hiện, tức người đệ tử, đứng vững vàng và kiên định tại điểm tập trung nhất tâm này; vì vậy, bước đầu tiên của y là xác định điểm ấy ở đâu, nằm trên cõi nào, và mức độ tập trung nhất tâm mà y phải dựa vào mạnh đến đâu. Bước tiếp theo là khám phá xem điều y tìm cách truyền đến thể xác, và qua đó tạo tác động lên thế giới thử nghiệm và trải nghiệm bên ngoài, có bị bất kỳ loại ảo tưởng nào làm biến dạng, bị ảo cảm ngăn chặn sự biểu lộ, hay có nguy cơ bị làm chệch hướng do những mãnh lực không được kiểm soát và do ảo lực mà chúng tạo ra hay không. Y xác định điều này không phải bằng cách đồng hoá mình, qua từng giai đoạn đi xuống, với những trở ngại và chướng ngại có thể có, mà bằng cách tăng cường điểm tập trung nhất tâm, bằng việc luôn ghi nhớ chân lý rằng y là Bản Ngã chứ không phải Phi ngã, và bằng một tiến trình phóng chiếu; sự phóng chiếu này được định nghĩa là gửi năng lượng đã được phú phẩm tính và nhận biết, từ điểm tập trung nhất tâm trực tiếp và không chệch hướng đến thể sinh lực, để từ đó năng lượng có thể tìm đường đến bảy trung tâm kiểm soát.
It is at this point that he applies the technique of indifference for, if he does not, that which he is seeking to express may be held up and arrested by etheric force or by the veils of maya. He works consequently from a point of intense concentration; he refuses any “attachment” to any form or plane as he projects the energy into and [264] through the three worlds. When he discovers any arresting or sidetracking of progress through active illusion, or glamour, he “detaches” himself consciously from such contacts and braces himself for the final stage of indifference or repudiation of all forces except those which he—consciously and with purpose—is seeking to use upon the physical plane.
Chính tại điểm này, y áp dụng kỹ thuật điềm nhiên, vì nếu không, điều y tìm cách biểu lộ có thể bị mãnh lực dĩ thái hoặc những màn che ảo lực giữ lại và ngăn chặn. Y do đó làm việc từ một điểm tập trung cao độ; y từ chối mọi sự “gắn bó” với bất kỳ hình tướng hay cõi nào khi phóng chiếu năng lượng vào và [264] xuyên qua ba cõi giới. Khi phát hiện bất kỳ sự ngăn chặn hay làm chệch hướng tiến trình nào do ảo tưởng hoặc ảo cảm đang hoạt động, y có ý thức “tách rời” mình khỏi những tiếp xúc ấy và chuẩn bị vững vàng cho giai đoạn cuối cùng của sự điềm nhiên, hay sự khước từ mọi mãnh lực ngoại trừ những mãnh lực mà y—một cách có ý thức và có mục đích—đang tìm cách sử dụng trên cõi hồng trần.
In the last analysis, my brother, the point of tension for the average disciple will be found on mental levels, involving the illumined mind and a growing soul contact:
Xét đến cùng, huynh đệ của tôi, điểm tập trung nhất tâm của người đệ tử trung bình sẽ nằm trên các cấp độ trí tuệ, bao hàm thể trí được soi sáng và sự tiếp xúc ngày càng sâu sắc với linh hồn:
a. He will be able then to “see” clearly in the light of the soul, and with a developed sense of values; he can consequently dispel illusion.
a. Khi ấy, y sẽ có thể “thấy” rõ trong ánh sáng linh hồn, với một ý thức về giá trị đã phát triển; do đó, y có thể xua tan ảo tưởng.
b. He will be able to project light, consciously, on to the astral plane and can thus dissipate glamour.
b. Y sẽ có thể phóng chiếu ánh sáng một cách có ý thức lên cõi cảm dục và nhờ đó làm tiêu tan ảo cảm.
c. He will be able to pour light energy through the etheric body and anchor the light or energy in the appropriate centres because there will be complete indifference or non-identification with maya.
c. Y sẽ có thể tuôn năng lượng ánh sáng qua thể dĩ thái và neo giữ ánh sáng hay năng lượng ấy trong các trung tâm thích hợp, vì sẽ có sự điềm nhiên hoàn toàn, hay sự không đồng hoá với ảo lực.
Where the initiate is concerned, the process is carried on at first from a point of tension within the soul and later from a point of tension in the Spiritual Triad. In all cases, however, once within the ring-pass-not of the three worlds, the directing energy produces results as outlined in this book and brings about:
Đối với điểm đạo đồ, ban đầu tiến trình này được thực hiện từ một điểm tập trung nhất tâm trong linh hồn, và về sau từ một điểm tập trung nhất tâm trong Tam Nguyên Tinh Thần. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, một khi đã đi vào vòng-giới-hạn của ba cõi giới, năng lượng chỉ đạo tạo ra những kết quả như đã trình bày trong cuốn sách này và đem lại:
1. The dispelling of illusion.
1. Sự xua tan ảo tưởng.
2. The dissipation of glamour.
2. Sự làm tiêu tan ảo cảm.
3. The overcoming of maya.
3. Sự khắc phục ảo lực.
It sounds fairly simple and easy of accomplishment as the aspirant reads these fairly simple elucidations of a difficult [265] process but that in itself is delusion. Age-long identification with the form side of life is not easily overcome and the task ahead of the disciple is a long and arduous one but one which promises eventual success, provided there is clear thinking, earnest purpose and planned scientific work.
Khi người chí nguyện đọc những giải thích khá đơn giản này về một tiến trình khó khăn [265] , mọi việc nghe có vẻ khá đơn giản và dễ thực hiện, nhưng chính điều đó lại là một nhận định sai lầm. Sự đồng hoá qua bao thời đại với phương diện hình tướng của sự sống không dễ khắc phục; nhiệm vụ trước mắt đệ tử là một nhiệm vụ lâu dài và gian nan, nhưng hứa hẹn thành công cuối cùng, miễn là có tư duy rõ ràng, mục đích nghiêm túc và công việc khoa học được hoạch định.
SECTION FOUR: THE TECHNIQUE OF FUSION – PHẦN BỐN: KỸ THUẬT DUNG HỢP
[266] In this, our final point, we are concerned with the control—constant and unremitting—of the soul over the personality. We are therefore concerned with the stage of initiation which brings to an end the path of development for humanity and inaugurates a cycle of existence of which we know, and can know, nothing except that the liberated Master then begins to function in a dual manner: as a member of the Hierarchy, cooperating with the Plan and occupied with the salvaging of humanity and, secondly, as a disciple of Sanat Kumara. The task of Sanat Kumara in relation to the Masters is to prepare Them to tread the Way of the Higher Evolution. When this becomes possible, the shift of the spiritual “attention” (I use this inadequate word for lack of a better one) is away from the soul and the Angel of the Presence to the mysterious Presence itself; this has hitherto only been sensed and dimly visioned. The Master—freed from the three and five worlds of human and so-called superhuman evolution—has now the full gifts of omnipresence and omniscience. He is aware of the underlying unity, brought about by the factual nature of the One Life and Being Who pervades all manifestation; He has also mastered all possible techniques and modes and methods of activity, of control and of fusion. But having developed those capacities, He now becomes faintly aware of that which conditions the One Being, and senses energies and contacts which are extra-planetary and of which He has hitherto been totally unaware. Knowledge comes to Him after the fifth initiation.
[266] Trong điểm cuối cùng này, chúng ta xem xét sự kiểm soát—thường xuyên và không ngừng—của linh hồn đối với phàm ngã. Vì vậy, chúng ta xem xét giai đoạn điểm đạo kết thúc con đường phát triển của nhân loại và mở đầu một chu kỳ hiện tồn mà chúng ta không biết, và cũng không thể biết, điều gì ngoài việc Chân sư đã giải thoát khi ấy bắt đầu hoạt động theo hai cách: với tư cách một thành viên của Thánh đoàn, cộng tác với Thiên Cơ và chuyên tâm cứu độ nhân loại; và thứ hai, với tư cách một đệ tử của Sanat Kumara. Nhiệm vụ của Sanat Kumara đối với các Chân sư là chuẩn bị cho Các Ngài bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Khi điều này trở nên khả thi, “sự chú ý” tinh thần (Tôi dùng từ không đầy đủ này vì không có từ nào tốt hơn) chuyển khỏi linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện để hướng đến chính Hiện Diện huyền nhiệm; cho đến lúc này, Hiện Diện ấy mới chỉ được cảm nhận và nhìn thấy mờ nhạt trong linh thị. Chân sư—đã thoát khỏi ba cõi và năm cõi của tiến hoá nhân loại và của điều được gọi là tiến hoá siêu nhân loại—giờ đây có đầy đủ những quyền năng toàn tại và toàn tri. Ngài nhận biết sự hợp nhất nền tảng do bản chất thực hữu của Sự Sống và Đấng Duy Nhất thấm nhuần mọi biểu hiện tạo nên; Ngài cũng đã làm chủ mọi kỹ thuật, cách thức và phương pháp khả hữu của hoạt động, kiểm soát và dung hợp. Nhưng sau khi phát triển những năng lực ấy, giờ đây Ngài bắt đầu nhận biết mờ nhạt điều tác động lên Đấng Duy Nhất, và cảm nhận những năng lượng cùng những tiếp xúc ngoài hành tinh mà cho đến lúc này Ngài hoàn toàn chưa nhận biết. Tri thức đến với Ngài sau lần điểm đạo thứ năm.
[267] Before Him lies the attainment of a still higher range of perceptions and, in order to garner the reward of those possible contacts, He has to master techniques and methods of development which will make Him omnipotent and, therefore, expressive of the highest of the three divine aspects. This development will put into His grasp potencies and experiences which can only be manipulated and understood through the scientific activity of the WILL and this must be implemented from a point of tension, focussed in whatever is meant by the word “Monad.” Do you know what that means, my brother? I am sure that you do not. Only the Masters of the Wisdom have any appreciation of these final unfoldments and then only in the sense of the Will-full aspiration—a phase of aspiration which is characterised by the conscious will, just as the aspiration of the disciple is characterised by sublimated desire. These things are, however, beyond the comprehension of the average disciple; their sole value is to depict the unending opportunity which presents itself at every stage and point of crisis upon the everlasting Way.
[267] Trước mắt Ngài là việc đạt đến một phạm vi nhận thức còn cao hơn nữa; để thu nhận thành quả từ những tiếp xúc khả hữu ấy, Ngài phải làm chủ những kỹ thuật và phương pháp phát triển sẽ khiến Ngài trở nên toàn năng và, do đó, biểu lộ phương diện cao nhất trong ba phương diện thiêng liêng. Sự phát triển này sẽ đặt trong tầm nắm bắt của Ngài những quyền năng và trải nghiệm chỉ có thể vận dụng và thấu hiểu thông qua hoạt động khoa học của Ý CHÍ; hoạt động này phải được thực hiện từ một điểm tập trung nhất tâm, quy tụ trong điều mà từ “Chân thần” hàm ý. Huynh đệ của tôi, các bạn có biết điều đó có nghĩa là gì không? Tôi chắc rằng các bạn không biết. Chỉ các Chân sư Minh Triết mới có chút nhận thức về những sự khai mở cuối cùng này, và ngay cả Các Ngài cũng chỉ nhận thức theo nghĩa khát vọng đầy Ý Chí—một giai đoạn khát vọng có đặc trưng là ý chí có ý thức, cũng như khát vọng của đệ tử có đặc trưng là dục vọng đã được thăng hoa. Tuy nhiên, những điều này vượt ngoài sự thấu hiểu của người đệ tử trung bình; giá trị duy nhất của chúng là phác họa cơ hội bất tận xuất hiện ở mỗi giai đoạn và mỗi điểm khủng hoảng trên Đường Đạo vĩnh cửu.
We are concerned at this time with the great point of crisis which faces the disciple when he attempts to resolve the final pair of opposites, prior to certain major initiations; this is the confronting the personality by the Angel of the PRESENCE. There is no need for me to define the two aspects of the disciple’s nature, for that is what they essentially are. You have been told and have known that the Dweller upon the Threshold is the fully developed personality—the sum total of all the past and the composite presentation upon the physical plane of all unresolved problems, all undeclared desires, all latent characteristics and qualities, all phases of thought and of self-will, all lower potencies and ancient habits of any of the three bodies (both bad and good). These, in their totality, are brought to the surface [268] of consciousness, there to be dealt with in such a way that their control is broken. The disciple is then free to take the final initiations. This process is not consummated in one particular facing of the two antagonistic forces. It is a threefold process, covering each of the three periods before the first three initiations or (from the angle of the Hierarchy) before the two initiations of the threshold and the first major initiation, the Transfiguration.
Lúc này, chúng ta xem xét điểm khủng hoảng lớn mà đệ tử đối diện khi y cố gắng giải quyết cặp đối cực cuối cùng trước một số cuộc điểm đạo trọng đại; đó là việc Thiên Thần của HIỆN DIỆN đối diện với phàm ngã. Tôi không cần định nghĩa hai phương diện trong bản chất của đệ tử, vì về thực chất chúng chính là như vậy. Các bạn đã được cho biết và đã biết rằng Kẻ Chận Ngõ là phàm ngã đã phát triển đầy đủ—tổng thể của toàn bộ quá khứ và sự biểu lộ tổng hợp trên cõi hồng trần của mọi vấn đề chưa được giải quyết, mọi dục vọng chưa được bộc lộ, mọi đặc điểm và phẩm tính tiềm ẩn, mọi giai đoạn tư tưởng và ý chí riêng, mọi tiềm lực thấp và thói quen lâu đời của bất kỳ thể nào trong ba thể phàm ngã (cả xấu lẫn tốt). Toàn bộ những điều này được đưa lên bề mặt [268] tâm thức, để tại đó được xử lý sao cho sự kiểm soát của chúng bị phá vỡ. Khi ấy, đệ tử tự do tiếp nhận những cuộc điểm đạo cuối cùng. Tiến trình này không hoàn tất trong một lần đối diện riêng lẻ giữa hai mãnh lực đối kháng. Đó là một tiến trình tam phân, bao trùm từng thời kỳ trong ba thời kỳ trước ba cuộc điểm đạo đầu tiên, hoặc (theo góc nhìn của Thánh đoàn) trước hai cuộc điểm đạo nơi ngưỡng cửa và cuộc điểm đạo trọng đại đầu tiên, Biến hình.
For many lives, the disciple has been dwelling upon the threshold. He himself is the Dweller. Behind the slowly opening door he senses life, energy, spiritual embodiment, and the fact of the Angel. Between him and that door is a burning-ground; this he faces, and this he knows he has to cross if he seeks to pass through the door. The question for him to answer is whether his will to achieve is strong enough for him to submit his personal lower self to the fires of the final purification. The personal self is now very highly developed; it is a useful instrument which the soul can use; it is a highly trained agent for service; it is essentially a piece of adequate and useful equipment. It has, however, its points of weakness which are liable at any time to present points of crisis; it has likewise its points of strength which can be transmuted with relative ease into points of tension; on the whole, it is a dependable instrument and one which can render good service. Can it and should it be sacrificed so that (esoterically speaking) its life is lost and in its place consecration and devotion are substituted? This is a hard problem for all disciples to solve, to understand and to make effectively practical. Only by crossing the burning ground three successive times are all impediments to the free use of the will destroyed. The relation between the Angel and the Dweller must be released, by means of the will, to full expression. I here refer to the spiritual will and to its three aspects which [269] must be brought into play before the divine will can begin to control. The disciple brings the two aspects of his nature together in full consciousness and with clear intention through a planned act of the will, and this act produces a point of tension in the “centre of the burning-ground wherein the two can meet,” as the ancient Archives put it.
Qua nhiều kiếp sống, đệ tử đã lưu lại nơi ngưỡng cửa. Chính y là Kẻ Chận Ngõ. Phía sau cánh cửa đang từ từ mở ra, y cảm nhận sự sống, năng lượng, hiện thân tinh thần và sự thực về Thiên Thần. Giữa y và cánh cửa ấy là một vùng đất cháy; y đối diện với nó và biết rằng mình phải vượt qua nếu muốn đi qua cánh cửa. Câu hỏi y phải trả lời là liệu ý chí thành tựu của mình có đủ mạnh để y đưa phàm ngã cá nhân vào những ngọn lửa của sự thanh luyện cuối cùng hay không. Bản ngã cá nhân giờ đây đã phát triển rất cao; nó là một khí cụ hữu ích mà linh hồn có thể sử dụng; nó là một tác nhân được huấn luyện kỹ lưỡng để phụng sự; về thực chất, nó là một phương tiện đầy đủ và hữu dụng. Tuy nhiên, nó có những điểm yếu có thể bất cứ lúc nào tạo thành các điểm khủng hoảng; nó cũng có những điểm mạnh có thể tương đối dễ dàng chuyển hoá thành các điểm tập trung nhất tâm; nhìn chung, nó là một khí cụ đáng tin cậy và có thể phụng sự tốt. Có thể và có nên hy sinh nó để (nói theo nghĩa huyền bí) sự sống của nó mất đi, và thay vào đó là sự thánh hiến cùng lòng sùng tín hay không? Đây là một vấn đề khó để mọi đệ tử giải quyết, thấu hiểu và thực sự đưa vào thực hành. Chỉ khi vượt qua vùng đất cháy ba lần liên tiếp, mọi chướng ngại đối với việc tự do sử dụng ý chí mới bị tiêu diệt. Nhờ ý chí, mối quan hệ giữa Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ phải được giải phóng để biểu lộ trọn vẹn. Ở đây, Tôi nói đến ý chí tinh thần và ba phương diện của nó, vốn [269] phải được đưa vào hoạt động trước khi Ý Chí thiêng liêng có thể bắt đầu kiểm soát. Đệ tử kết hợp hai phương diện trong bản chất của mình với tâm thức đầy đủ và ý định rõ ràng, thông qua một hành động ý chí được hoạch định; và hành động này tạo ra một điểm tập trung nhất tâm tại “trung tâm của vùng đất cháy, nơi cả hai có thể gặp nhau”, như các Văn Khố cổ diễn đạt.
I would call your attention to the fact that it is at a “midway point” that the great submission of the lower to the higher takes place. It does not happen when the disciple hovers uncertainly upon the periphery of the burning-ground or when he stands before the door with the burning ground experience behind him. The essential point of crisis, producing the needed point of tension, is the result of the “invocative decision” of the personality which, in time, produces an “evocative response” from the Angel. The two factors involved (and forget not, my brother, that all this takes place within the field of consciousness of the disciple) move together and towards each other. In the centre of the burning ground they meet, and then the lesser light (a true light in its own right) of the personality is absorbed into the greater light of the Angel or soul. The Angel, therefore, “occultly obliterates” the Dweller who becomes lost to sight in the radiant aura of the Angel. This has been symbolically portrayed for us in the picture book of the heavens when, according to Catholic Festivals, the Assumption of the Virgin takes place and the constellation Virgo is lost to sight in the radiance of the sun. There you have the three factors:
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng chính tại một “điểm ở giữa”, sự quy phục lớn lao của cái thấp trước cái cao diễn ra. Điều này không xảy ra khi đệ tử lưỡng lự quanh rìa vùng đất cháy, hoặc khi y đứng trước cánh cửa với trải nghiệm vùng đất cháy đã ở phía sau. Điểm khủng hoảng cốt yếu tạo ra điểm tập trung nhất tâm cần thiết là kết quả của “quyết định khẩn cầu” từ phàm ngã, theo thời gian sẽ tạo nên một “đáp ứng được gợi lên” từ Thiên Thần. Hai yếu tố liên quan (và đừng quên, huynh đệ của tôi, rằng tất cả điều này diễn ra trong trường tâm thức của đệ tử) cùng chuyển động và tiến về phía nhau. Chúng gặp nhau tại trung tâm vùng đất cháy, và khi ấy ánh sáng nhỏ hơn của phàm ngã (vốn thực sự là ánh sáng theo đúng nghĩa của nó) được thu hút vào ánh sáng lớn hơn của Thiên Thần hay linh hồn. Vì vậy, Thiên Thần “xóa mờ theo nghĩa huyền bí” Kẻ Chận Ngõ, khiến Kẻ Chận Ngõ khuất khỏi tầm nhìn trong hào quang rực rỡ của Thiên Thần. Điều này đã được mô tả bằng biểu tượng trong cuốn sách tranh của bầu trời: theo các ngày lễ Công giáo, khi lễ Đức Trinh Nữ Lên Trời diễn ra, chòm sao Xử Nữ khuất khỏi tầm nhìn trong ánh rực rỡ của Mặt Trời. Ở đó, các bạn có ba yếu tố:
1.
1.
The Virgin
Đức Trinh Nữ
material form
hình tướng vật chất
personality
phàm ngã
Dweller.
Kẻ Chận Ngõ.
2.
2.
The Sun
Mặt Trời
spiritual nature
bản chất tinh thần
soul
linh hồn
Angel.
Thiên Thần.
3.
3.
The Earth
Trái Đất
aspiring man
con người có khát vọng
the disciple
người đệ tử
The personality remains; it still exists but it is seen no more as of old. The light of the Angel envelops it; the burning ground has done its work and the personality is now nothing [270] more or less than the purified shell or form through which the light, the radiance, the quality and the characteristics of the Angel can shine. It is a fusion of lights, with the stronger and the more powerful obliterating the lesser.
Phàm ngã vẫn còn; nó vẫn tồn tại nhưng không còn được nhìn thấy như trước. Ánh sáng của Thiên Thần bao bọc nó; vùng đất cháy đã hoàn thành công việc, và phàm ngã giờ đây không gì [270] khác hơn là lớp vỏ hay hình tướng đã được thanh luyện, qua đó ánh sáng, sự rực rỡ, phẩm tính và những đặc điểm của Thiên Thần có thể tỏa chiếu. Đó là sự dung hợp các ánh sáng, trong đó ánh sáng mạnh hơn và đầy quyền năng hơn xóa mờ ánh sáng nhỏ hơn.
How has this been brought about? I refer not here to the preparation of the Dweller on the Threshold for this great event or to the aeon of disciplining, of preparation, of experiment and of experience from life to life which has made this consummating event possible and successful. The two aspects in man can only meet in full power and with intention and finality when illusion can no longer control the mind, when glamour has lost all power to veil and when the forces of maya can no longer hinder. Discrimination, dispassion and indifference have produced the dispelling through focussed light, the dissipating potency of distributed light and the directing power of light energy. Only five recognitions now control the disciple:
Điều này đã diễn ra như thế nào? Ở đây, Tôi không nói đến việc chuẩn bị Kẻ Chận Ngõ cho biến cố lớn lao này, hay đến thời đại dài lâu của kỷ luật, chuẩn bị, thử nghiệm và trải nghiệm từ kiếp này sang kiếp khác, vốn đã khiến biến cố hoàn tất này trở nên khả thi và thành công. Hai phương diện trong con người chỉ có thể gặp nhau với đầy đủ sức mạnh, có chủ đích và dứt khoát khi ảo tưởng không còn có thể kiểm soát thể trí, khi ảo cảm đã mất mọi quyền năng che phủ, và khi các mãnh lực ảo lực không còn có thể cản trở. Sự phân biện, sự không đam mê và sự điềm nhiên đã tạo nên khả năng xua tan nhờ ánh sáng tập trung, tiềm lực làm tiêu tan của ánh sáng phân bố và quyền năng chỉ đạo của năng lượng ánh sáng. Giờ đây, chỉ có năm sự nhận biết chi phối đệ tử:
1. The fact of his discipleship.
1. Sự thực về địa vị đệ tử của y.
2. The perception of the Angel, waiting and dynamic.
2. Sự nhận thức về Thiên Thần đang chờ đợi và đầy năng lực hoạt động.
3. The invocative appeal of the Dweller on the Threshold.
3. Lời khẩn cầu của Kẻ Chận Ngõ.
4. The necessity to use the will in a new and different manner.
4. Sự cần thiết phải sử dụng ý chí theo một cách mới và khác biệt.
5. The need to cross the burning ground.
5. Nhu cầu vượt qua vùng đất cháy.
The issues are now entirely clear. It is a question of timing and of decision. I would remind you that in all these processes, it is the disciple who, in full consciousness, acts. He initiates all the processes himself. It is not the Angel or the Dweller but the spiritual man himself who has to employ the will and take definite forward moving action. Once the disciple has taken the necessary steps and moved irrevocably forward, the response of the Angel is sure, automatic and all-enveloping. Complete obliteration of [271] the personal self in three successive stages is the immediate and normal result. It was to this that John the Baptist referred when he said “He shall increase but I must decrease.” When he spoke these words, he spoke as a disciple, prior to the second initiation of the threshold. This occult waxing and waning is portrayed for us in the phases of the moon and, for the planet as a whole, in the sign Gemini, where the light of one of the twins is slowly dimming and the light of the other is gaining in intensity.
Giờ đây, mọi vấn đề đã hoàn toàn rõ ràng. Đây là vấn đề về thời điểm và quyết định. Tôi muốn nhắc các bạn rằng trong tất cả những tiến trình này, chính đệ tử hành động với tâm thức đầy đủ. Y tự khởi xướng mọi tiến trình. Không phải Thiên Thần hay Kẻ Chận Ngõ, mà chính con người tinh thần phải vận dụng ý chí và thực hiện hành động tiến tới một cách dứt khoát. Một khi đệ tử đã thực hiện những bước cần thiết và tiến tới không thể đảo ngược, sự đáp ứng của Thiên Thần là chắc chắn, tự động và bao trùm tất cả. Sự xóa mờ hoàn toàn [271] bản ngã cá nhân qua ba giai đoạn liên tiếp là kết quả tức thời và bình thường. Gioan Tẩy Giả đã nói đến điều này khi ông nói: “Ngài sẽ lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Khi nói những lời ấy, ông nói với tư cách một đệ tử, trước lần điểm đạo thứ hai nơi ngưỡng cửa. Sự tăng trưởng và suy giảm huyền bí này được mô tả cho chúng ta qua các pha của Mặt Trăng và, đối với toàn thể hành tinh, qua dấu hiệu Song Tử, nơi ánh sáng của một trong hai người song sinh đang từ từ mờ đi, còn ánh sáng của người kia đang tăng cường độ.
When this “occult obliteration” has taken place, what then is the destiny of the disciple? It is complete control by the soul and this, in practice, connotes group realisation, group work, group service and eventually group initiation. With these developments, it is not my intent to deal, for I have covered much of these matters in my other books. Here I have been dealing in this short elucidation with the effects that substances and the substantial forces, found in the three worlds, produce in the disciple and as they affect the aspirant. I have not considered the problem of glamour, illusion and maya from the angle of average man. The latter is necessarily immersed in them, and under their constant impact he passes his life. By their means he learns. He is not at the point where he seeks deliverance from them as does the man upon the Path. I have, therefore, considered the problem from the angle of the disciples and aspirants.
Khi sự “xóa mờ huyền bí” này đã diễn ra, vận mệnh của đệ tử sẽ là gì? Đó là sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn; trong thực hành, điều này hàm ý sự chứng nghiệm nhóm, công việc nhóm, phụng sự nhóm và cuối cùng là điểm đạo nhóm. Tôi không có ý định bàn đến những sự phát triển này, vì Tôi đã đề cập nhiều về các vấn đề ấy trong những cuốn sách khác. Ở đây, trong phần giải thích ngắn này, Tôi đã bàn đến những tác động mà các chất liệu và các mãnh lực chất liệu trong ba cõi giới tạo ra nơi đệ tử, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với người chí nguyện. Tôi không xem xét vấn đề ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực theo góc nhìn của con người trung bình. Người ấy tất nhiên chìm đắm trong chúng và sống dưới tác động thường xuyên của chúng. Nhờ chúng, y học hỏi. Y chưa đến điểm tìm cách giải thoát khỏi chúng như con người trên Đường Đạo. Vì vậy, Tôi đã xem xét vấn đề theo góc nhìn của các đệ tử và người chí nguyện.
From them the WAY opens up, and for them comes the conscious recognition of the light. The need for the service of men and women, free from illusion and glamour, has never been so dramatically present as it is today and it is for these potential servers of a desperate necessity that I have written.
Từ nơi họ, ĐƯỜNG ĐẠO mở ra, và sự nhận biết có ý thức về ánh sáng đến với họ. Nhu cầu phụng sự của những người nam và nữ đã thoát khỏi ảo tưởng và ảo cảm chưa bao giờ hiện diện gay gắt như ngày nay; và chính vì những người phụng sự tiềm năng cho nhu cầu vô cùng cấp thiết này mà Tôi đã viết.
That the Angel of the PRESENCE may make His nearness felt and inspire you to pass courageously through [272] the fires of the burning ground is my earnest prayer; that the fact of the PRESENCE may be sensed by you and lead you to greater activity—once the burning ground is passed—is my deepest wish for you; and that the light may shine upon your way and bring a certain and assured consummation of all the travail and struggle which has characterised your way of life is my heart’s desire for you. To more active and steady enterprise I call you.
Lời cầu nguyện tha thiết của Tôi là mong Thiên Thần của HIỆN DIỆN khiến các bạn cảm nhận sự gần gũi của Ngài và truyền cảm hứng để các bạn can đảm đi qua [272] những ngọn lửa của vùng đất cháy; ước nguyện sâu xa nhất của Tôi dành cho các bạn là mong sự thực về HIỆN DIỆN được các bạn cảm nhận và dẫn các bạn đến hoạt động lớn lao hơn—một khi đã vượt qua vùng đất cháy; và điều lòng Tôi mong mỏi cho các bạn là ánh sáng tỏa chiếu trên đường các bạn đi, đem lại sự hoàn tất chắc chắn và vững vàng cho mọi gian lao và đấu tranh vốn đã làm nên lối sống của các bạn. Tôi kêu gọi các bạn dấn thân tích cực và bền bỉ hơn.
THE TIBETAN.
CHÂN SƯ TÂY TẠNG.
Publisher’s Note: See also the Techniques of Fusion and Integration in A Treatise on the Seven Rays, Vol. II, Esoteric Psychology, pp. 345-401.
Ghi chú của nhà xuất bản: Xem thêm các Kỹ Thuật Dung Hợp và Tích Hợp trong Luận về Bảy Cung, Tập II, Tâm Lý Học Nội Môn, tr. 345-401.