Trích nội dung chương
One of the requirements in this group work is a most careful choice of those who are to participate in the work. They must be chosen because they can work together. They must either know each other exceedingly well and be free from personality frictions or they must be relatively unknown to each other as personalities but are drawn to each other as soul-collaborators in this particular work. They must, as far as in them lies, endeavour to work with regularity so that a rhythm can be set up which will lead to a steady rhythmic impact of the light upon the glamour. They must also adhere faithfully to the formula given. This is one of the…
One of the requirements in this group work is a most careful choice of those who are to participate in the work. They must be chosen because they can work together. They must either know each other exceedingly well and be free from personality frictions or they must be relatively unknown to each other as personalities but are drawn to each other as soul-collaborators in this particular work. They must, as far as in them lies, endeavour to work with regularity so that a rhythm can be set up which will lead to a steady rhythmic impact of the light upon the glamour. They must also adhere faithfully to the formula given. This is one of the initial formulas and is most powerful because it is one of the very first to be used in group dissipation of glamour. This whole procedure is entirely new as far as man is concerned, and the work to be done will necessarily prove hard as it involves an interesting situation. The groups who will do this work of piercing the glamours which dim the vision of humanity and of dissipating them will be the first non-initiate groups to work this way upon the physical plane and to work consciously and with fixed intent. Hitherto the work has been carried forward by members of the Hierarchy, and then only with the idea of holding back the glamours until such time as humanity was ready to destroy that which it had created. Glamours have also been pierced before now by massed effort carried forward for a long time and usually without any very real conscious understanding. An illustration of this would be the work done by the Church in a diffused and vague way in piercing the glamour of material desire and material good by substituting the idea of a heavenly substitute. The work that is [226] now planned is dynamic and clear cut, consciously carried forward and specific in its impact. It is a definite method of handling and projecting the energy of light with the objective of destroying the impediments of an emotional-mental nature upon the Path of Return to God.
Một yêu cầu trong công việc nhóm này là lựa chọn hết sức cẩn thận những người sẽ tham gia. Phải chọn họ vì họ có thể làm việc cùng nhau. Hoặc họ phải biết nhau rất rõ và không có những va chạm phàm ngã, hoặc họ tương đối chưa biết nhau về mặt phàm ngã nhưng thu hút lẫn nhau như những cộng sự linh hồn trong công việc đặc thù này. Trong khả năng của mình, họ phải cố gắng hoạt động đều đặn để thiết lập một nhịp điệu dẫn đến sự tác động nhịp nhàng, bền bỉ của ánh sáng lên ảo cảm. Họ cũng phải trung thành tuân theo công thức đã cho. Đây là một trong những công thức ban đầu và có sức mạnh rất lớn, vì là một trong những công thức đầu tiên dùng để làm tiêu tan ảo cảm theo nhóm. Toàn bộ quy trình này hoàn toàn mới đối với con người, và công việc cần thực hiện tất yếu sẽ khó khăn vì liên quan đến một tình huống đáng chú ý. Những nhóm thực hiện công việc xuyên thấu và làm tiêu tan các ảo cảm che mờ tầm nhìn của nhân loại sẽ là những nhóm chưa được điểm đạo đầu tiên hoạt động theo cách này trên cõi hồng trần, một cách có ý thức và với ý định kiên định. Cho đến nay, các thành viên của Thánh đoàn đã đảm nhiệm công việc này, nhưng chỉ nhằm kiềm chế các ảo cảm cho đến khi nhân loại sẵn sàng phá hủy những gì mình đã tạo ra. Trước đây, những nỗ lực tập thể kéo dài, thường không có sự thấu hiểu hữu thức thực sự, cũng đã xuyên thấu các ảo cảm. Một minh họa cho điều này là công việc Giáo hội thực hiện một cách phân tán và mơ hồ để xuyên thấu ảo cảm về dục vọng vật chất và lợi ích vật chất, bằng cách thay vào đó ý tưởng về một sự thay thế trên thiên đàng. Công việc [226] đang được hoạch định hiện nay mang tính năng động và rõ ràng, được tiến hành có ý thức và có tác động cụ thể. Đó là một phương pháp xác định để xử lý và phóng chiếu năng lượng ánh sáng, nhằm phá hủy những trở ngại mang bản chất cảm xúc–trí tuệ trên Con Đường Trở Về với Thượng đế.
It is desirable and aids an easier and more concentrated form of work if the group can meet together for the use of the formula. If, however, this proves not possible, then the personnel of the group can arrange to work apart but with the idea of the work being group work firmly realised and with a steady recognition of the members who form the group body. This is necessary both for the “pooling of the light” and also for protection from the glamour to be attacked. This “pooling of the light” is a major requirement and must ever be borne in mind. Whenever possible, the rule should be that the work is done at some definite planned group meeting, even if this entails quite drastic sacrifice on the part of some of the members.
Nếu nhóm có thể tụ họp để sử dụng công thức thì điều đó đáng mong muốn và giúp công việc dễ dàng, tập trung hơn. Tuy nhiên, nếu không thể làm vậy, các thành viên có thể sắp xếp hoạt động riêng, nhưng phải nhận biết vững chắc rằng đây là công việc nhóm và luôn ý thức về những thành viên hợp thành tập thể ấy. Điều này cần thiết cả cho việc “hợp nhất ánh sáng” lẫn việc bảo vệ khỏi ảo cảm sắp bị tấn công. Sự “hợp nhất ánh sáng” này là một yêu cầu chính yếu và phải luôn ghi nhớ. Bất cứ khi nào có thể, quy luật cần tuân theo là thực hiện công việc tại một buổi họp nhóm đã được lên kế hoạch cụ thể, dù điều này đòi hỏi một số thành viên phải hy sinh rất nhiều.
I advise that some glamour which all the group members recognise as a major hindrance to the progress of humanity be one of the first handled by the group. I would also advise that in the early stages of their work, they deal with a glamour affecting aspirants and that they do not attempt to tackle the more widely spread and deeply centred glamours of the race as a whole. Let them develop facility in handling some of the lesser and more easily visualised glamours. Then as time goes on and facility in the work is gained, the group can pass to the more difficult tasks and handle the glamours further removed from their own orbit of difficulties. It is surely needless for me to point out that the group members be but those who are endeavouring to keep their own lives free from glamour. I would also add that if a group member is in the thick of glamour himself and is occupied with wrestling with it, he should abstain [227] from the group work until he has freed himself with the aid of the individual formula.
Tôi khuyên rằng một ảo cảm mà mọi thành viên đều nhận biết là trở ngại lớn đối với sự tiến bộ của nhân loại nên nằm trong số những ảo cảm đầu tiên mà nhóm xử lý. Tôi cũng khuyên rằng trong các giai đoạn đầu của công việc, họ nên xử lý một ảo cảm ảnh hưởng đến những người chí nguyện, và không cố giải quyết những ảo cảm lan rộng hơn và bám rễ sâu trong toàn thể nhân loại. Hãy để họ phát triển sự thành thạo trong việc xử lý một số ảo cảm nhỏ hơn và dễ hình dung hơn. Rồi theo thời gian, khi đã thành thạo công việc, nhóm có thể chuyển sang những nhiệm vụ khó khăn hơn và xử lý những ảo cảm nằm xa hơn phạm vi khó khăn của chính mình. Hẳn Tôi không cần chỉ ra rằng thành viên của nhóm chỉ nên là những người đang cố gắng giữ cho đời sống mình không vướng ảo cảm. Tôi cũng muốn nói thêm rằng nếu một thành viên đang chìm sâu trong ảo cảm và bận vật lộn với nó, y nên tạm ngừng [227] công việc nhóm cho đến khi tự giải thoát nhờ công thức cá nhân.
Those who can face themselves with an open eye and who see the truth as it is, who can face the same facts in connection with humanity, and can stand serene and unafraid in the face of the worst kind of discoveries about themselves and the world of men, are those who will employ this technique with the most success. I would also remind you that the group will need to protect itself from the glamour or glamours which it is attempting to dissipate. Their individual tendency to glamour is the factor which gives them the right to serve in this way but it also lays them open to danger, and for this a protective formula will be necessary.
Những người có thể nhìn thẳng vào chính mình với đôi mắt rộng mở và thấy chân lý đúng như nó vốn có, có thể đối diện với những sự thật tương tự về nhân loại, và có thể giữ sự tĩnh lặng, không sợ hãi khi đối diện với những khám phá tồi tệ nhất về chính mình và thế giới con người, sẽ sử dụng kỹ thuật này thành công nhất. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng nhóm cần tự bảo vệ khỏi ảo cảm hoặc các ảo cảm mà mình đang cố làm tiêu tan. Khuynh hướng cá nhân dễ vướng ảo cảm là yếu tố cho họ quyền phụng sự theo cách này, nhưng cũng khiến họ dễ gặp nguy hiểm; vì vậy, cần có một công thức bảo vệ.
The formula will, therefore, be divided into three parts:
Do đó, công thức sẽ chia thành ba phần:
1. The Preparatory Stages.
1. Các Giai Đoạn Chuẩn Bị.
2. The Use of the Protective Formula.
2. Sử Dụng Công Thức Bảo Vệ.
3. Group Formula for the Dissipation of Glamour.
3. Công Thức Nhóm để Làm Tiêu Tan Ảo Cảm.
The work done by the individual in dealing with his personal problems of glamour will greatly facilitate the preparatory work of the group.
Công việc cá nhân thực hiện để xử lý những vấn đề ảo cảm riêng của mình sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho công việc chuẩn bị của nhóm.
You will note that in outlining to you this work, I make no reference to the type of room, to the position of the group members, to posture assumed, to the use of incense, or to any of the paraphernalia which so many occult groups deem of importance. The set physical rituals are today (from the angle of the Hierarchy) entirely obsolete and of no importance where disciples and advanced aspirants are concerned. They are of value to the little evolved in whom the sense of drama has to be developed and who need external aids, and they do provide a setting which serves to help beginners to keep the theme of their work and their objective in view. The only ritual which is [228] still regarded as of value to the human family as a whole—particularly to the advanced person—is the Masonic Ritual. The reason for this is that it is a pictorial representation of the process of Creation, of the relation between God and man, of the Path of Return and also of those great Initiations through the means of which the liberated initiate passes into the Council Chamber of the Most High. But with the exception of this, the small petty rituals of position and of physical relations in respect to attitude and seating arrangements are regarded as unnecessary and as usurping frequently the attention which should be given to the work in hand.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng khi phác thảo công việc này cho các bạn, Tôi không đề cập đến loại phòng, vị trí của các thành viên trong nhóm, tư thế, việc dùng hương, hay bất kỳ vật dụng nghi lễ nào mà rất nhiều nhóm huyền bí xem là quan trọng. Ngày nay, theo góc nhìn của Thánh đoàn, những nghi thức hồng trần cố định đã hoàn toàn lỗi thời và không quan trọng đối với các đệ tử và người chí nguyện tiến bộ. Chúng có giá trị đối với những người ít tiến hoá, nơi họ cần phát triển cảm nhận về tính kịch và cần sự trợ giúp bên ngoài; chúng quả thực tạo ra một khung cảnh giúp người mới bắt đầu ghi nhớ chủ đề công việc và mục tiêu của mình. Nghi thức duy nhất [228] vẫn được xem là có giá trị đối với toàn thể gia đình nhân loại—đặc biệt đối với người tiến bộ—là Nghi Thức Tam Điểm. Lý do là nghi thức ấy thể hiện bằng hình ảnh tiến trình Sáng Tạo, mối liên hệ giữa Thượng đế và con người, Con Đường Trở Về, cùng những cuộc Điểm Đạo vĩ đại mà nhờ đó điểm đạo đồ đã giải thoát bước vào Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao. Nhưng ngoài ngoại lệ này, những nghi thức nhỏ nhặt về vị trí và các tương quan hồng trần liên quan đến tư thế và cách sắp xếp chỗ ngồi đều được xem là không cần thiết, và thường chiếm mất sự chú ý đáng lẽ phải dành cho công việc đang thực hiện.
Those using these formulas are presumed to have acquired some measure of inner polarisation and to be able to withdraw themselves to their spiritual centre in any place and at any time. This is the centre of quiet thought from whence the work is carried on.
Những người sử dụng các công thức này được xem là đã đạt một mức độ phân cực bên trong và có khả năng thu mình về trung tâm tinh thần ở bất kỳ nơi nào, vào bất kỳ lúc nào. Đây là trung tâm của tư tưởng tĩnh lặng, nơi công việc được tiến hành.
All that is needed as a preface to this group work is ten minutes of complete silence in which the group members attempt to set up that magnetic field of positive receptive activity (note here the paradoxes of the occult sciences) which will make the rest of the work possible.
Tất cả những gì cần để mở đầu công việc nhóm này là mười phút hoàn toàn im lặng, trong đó các thành viên cố gắng thiết lập trường từ tính của hoạt động tiếp nhận tích cực (hãy lưu ý ở đây những nghịch lý của các khoa học huyền bí), để phần công việc còn lại có thể thực hiện.
The leader of the group (chosen in rotation so that all the members of the group occupy that position) starts the work by calling the names of the group members and as each name is called, the other group members look directly into the eyes of the one named, who rises and for a minute faces them. Thus a rapport and a relationship is established because the directive magnetic force of each soul is always reached from “eye to eye.” This is the occult significance of the words “Can you look me in the eye?” or “They eyed each other” and similar phrases. Then, having established this interlocking relationship, the group sits in silence for ten minutes. This is done in order to withdraw the consciousness [229] from all world and personal affairs and centre it upon the work to be done. At the end of that time, the leader names the glamour with which the group is to be occupied. There will be no dissension anent the glamour at the time of the group meeting because the group members—outside the meetings and for a month prior to undertaking the task of dissipating the glamour will have made a study of it, its implications, its historicity and effects—psychological, individual, group and national, and also its widespread influence over humanity as a whole. The experience of the group in this type of work will determine the nature of the glamour to be dealt with. As I earlier pointed out, the inexperienced group of workers will begin by dealing with one of the glamours which hinder aspirants and will pass on from these to handle the more powerful and more widely dispersed glamours which trouble humanity as a whole. This preface to the work is frequently called the Act of Naming, because both the group members and also the glamour are named.
Người lãnh đạo nhóm (được chọn luân phiên để mọi thành viên đều đảm nhiệm vị trí ấy) bắt đầu công việc bằng cách gọi tên các thành viên; khi mỗi tên được gọi, những thành viên khác nhìn thẳng vào mắt người ấy, người được gọi tên đứng lên và đối diện với họ trong một phút. Nhờ vậy, sự hòa hợp và mối liên hệ được thiết lập, vì luôn có thể tiếp cận mãnh lực từ tính định hướng của mỗi linh hồn qua sự giao tiếp “mắt với mắt.” Đây là thâm nghĩa huyền bí của những lời “Bạn có thể nhìn thẳng vào mắt tôi không?” hay “Họ nhìn vào mắt nhau” và những câu tương tự. Sau khi thiết lập mối liên hệ gắn kết này, nhóm ngồi im lặng trong mười phút. Điều này nhằm thu hồi tâm thức [229] khỏi mọi việc thế giới và cá nhân, rồi tập trung nó vào công việc cần thực hiện. Khi hết thời gian ấy, người lãnh đạo định danh ảo cảm mà nhóm sẽ xử lý. Sẽ không có bất đồng về ảo cảm ấy trong buổi họp nhóm, vì các thành viên—ngoài những buổi họp và trong một tháng trước khi đảm nhận nhiệm vụ làm tiêu tan ảo cảm—đã nghiên cứu nó, các hàm ý, lịch sử và những tác động của nó về tâm lý, cá nhân, nhóm và quốc gia, cũng như ảnh hưởng rộng khắp của nó lên toàn thể nhân loại. Kinh nghiệm của nhóm trong loại công việc này sẽ quyết định bản chất của ảo cảm cần xử lý. Như Tôi đã chỉ ra trước đây, nhóm hoạt động chưa có kinh nghiệm sẽ bắt đầu bằng việc xử lý một trong những ảo cảm cản trở người chí nguyện, rồi từ đó chuyển sang những ảo cảm mạnh mẽ hơn, lan rộng hơn, đang gây khó khăn cho toàn thể nhân loại. Phần mở đầu công việc này thường được gọi là Hành Động Định Danh, vì cả các thành viên trong nhóm lẫn ảo cảm đều được định danh.
The next stage is similar to the preparatory stages in the formula for the dissipation of glamour for the individual. You have therefore the following:
Giai đoạn tiếp theo tương tự các giai đoạn chuẩn bị trong công thức làm tiêu tan ảo cảm dành cho cá nhân. Vì vậy, các bạn có trình tự sau:
THE PREPARATORY STAGES
CÁC GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
1. The Act of Naming.
1. Hành Động Định Danh.
2. The Protective Formula.
2. Công Thức Bảo Vệ.
The Protective Formula is very simple. The members of the group will say in unison:
Công Thức Bảo Vệ rất đơn giản. Các thành viên của nhóm sẽ đồng thanh nói:
“As a soul I work in light and darkness cannot touch me.
“Là một linh hồn, tôi hoạt động trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.
I take my stand within the light.
Tôi trụ vững trong ánh sáng.
I work and from that point I never move.”
Tôi hoạt động và không bao giờ rời khỏi điểm ấy.”
[230] As they say this, each person in the group makes the sign of the Cross by touching the centre of the forehead, the centre of the chest, and each of the two eyes, thus forming the long limbed Cross of the Christ or of divine humanity. The Cross is not, as you well know, simply a Christian symbol. It is the great symbol of light and of consciousness and signifies the vertical light and the horizontal light, the power of attraction and the power of radiation, soul life and service. The Cross as now made in the Catholic Churches, touching the forehead, the heart and the two shoulders is the sign of matter. It signifies in reality the third Aspect. The Cross which the group will make is the Cross of Christ and of the Christ consciousness. Gradually the Cross of Christ (the Cross of the Risen Christ) will supersede the Cross of matter and of the Mother aspect. Its likeness to the swastika is obvious and will be one of the reasons for its disappearance.
[230] Khi nói những lời này, mỗi người trong nhóm làm dấu Thập Giá bằng cách chạm vào giữa trán, giữa ngực và từng mắt, qua đó tạo thành Thập Giá có các nhánh dài của Đức Christ hay của nhân loại thiêng liêng. Như các bạn biết rõ, Thập Giá không chỉ đơn thuần là một biểu tượng Kitô giáo. Đó là biểu tượng vĩ đại của ánh sáng và tâm thức, biểu thị ánh sáng theo chiều dọc và ánh sáng theo chiều ngang, quyền năng thu hút và quyền năng phát xạ, đời sống linh hồn và sự phụng sự. Dấu Thập Giá hiện nay trong các Giáo hội Công giáo, chạm vào trán, tim và hai vai, là dấu hiệu của vật chất. Thực ra, nó biểu thị Phương diện thứ ba. Thập Giá mà nhóm sẽ làm là Thập Giá của Đức Christ và của tâm thức Christ. Dần dần, Thập Giá của Đức Christ (Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh) sẽ thay thế Thập Giá của vật chất và của phương diện Mẹ. Sự tương đồng của thập giá ấy với chữ vạn là rõ ràng và sẽ là một trong những lý do khiến nó biến mất.
3. The Preparatory Stages:
3. Các Giai Đoạn Chuẩn Bị:
a. Focussing the dual personality light of matter and of mind.
a. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã: ánh sáng của vật chất và ánh sáng của thể trí.
b. Meditation on soul contact and the recognition of soul light.
b. Tham thiền về sự tiếp xúc với linh hồn và nhận biết ánh sáng linh hồn.
c. The blending and fusion of the two lesser lights and of soul light. This is carried forward as a group, each member making his contribution and consciously attempting to visualise the process of blending the triple light which each contributes, into one sphere of light.
c. Hòa trộn và dung hợp hai ánh sáng nhỏ hơn với ánh sáng linh hồn. Công việc này được tiến hành theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp phần mình và có ý thức cố gắng hình dung tiến trình hòa trộn ánh sáng tam phân mà mỗi người đóng góp thành một khối cầu ánh sáng.
4. Then the group says in unison, at a signal from the leader: [231]
4. Sau đó, theo hiệu lệnh của người lãnh đạo, nhóm đồng thanh nói: [231]
“The light is one and in that light shall we see light.
“Ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng.
This is the light that turns the darkness into day.”
Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.”
OM.
OM.
OM.
OM.
OM.
OM.
The processes of individual and group alignment and integration can now be regarded as completed and when it is really correctly accomplished, each meeting thereafter should see a more rapid integration and fusion and a greater brilliance of the sphere of light thus created. The sounding of OM indicates both the fusion and the sphere of action because OM is first of all sounded forth by the group soul (the realised unity of the souls of all the group members) and then as the soul upon the mental plane, and finally as the soul ready to function as lightbearer and distributor of light upon the astral plane. These are all symbolic ways of registering the inner reality and are an attempt to externalise force, for that is what all symbols and symbolic ways of acting are capable of doing; they thus serve to keep the workers at a point of tension. This is an important recognition and should keep the workers from attributing undue power to the form aspect of the simple ritual and aid them in focussing their attention in the world of meaning and of subjective spiritual activity. These three stages are called:
Giờ đây, có thể xem các tiến trình chỉnh hợp và tích hợp cá nhân và nhóm là đã hoàn tất; khi điều này thực sự được thực hiện đúng đắn, mỗi buổi họp sau đó sẽ chứng kiến sự tích hợp và dung hợp nhanh hơn, cùng độ rực sáng lớn hơn của khối cầu ánh sáng được tạo ra như vậy. Việc xướng OM biểu thị cả sự dung hợp lẫn khối cầu hoạt động, vì trước hết hồn nhóm (sự hợp nhất đã được chứng nghiệm của linh hồn mọi thành viên trong nhóm) xướng OM, rồi xướng với tư cách linh hồn trên cõi trí, và cuối cùng với tư cách linh hồn sẵn sàng hoạt động như người mang ánh sáng và phân phối ánh sáng trên cõi cảm dục. Tất cả đều là những cách mang tính biểu tượng để ghi nhận thực tại bên trong và là một nỗ lực ngoại hiện mãnh lực, vì đó là điều mà mọi biểu tượng và cách hành động mang tính biểu tượng đều có khả năng thực hiện; nhờ vậy, chúng giúp giữ những người hoạt động tại một điểm tập trung nhất tâm. Đây là một nhận biết quan trọng, cần giúp những người hoạt động tránh gán quyền năng quá mức cho phương diện hình tướng của nghi thức đơn giản này, và giúp họ tập trung sự chú ý vào thế giới ý nghĩa và hoạt động tinh thần chủ quan. Ba giai đoạn này được gọi là:
1. The Act of Naming.
1. Hành Động Định Danh.
2. The Act of Protection.
2. Hành Động Bảo Vệ.
3. The Act of Focussing the Light.
3. Hành Động Tập Trung Ánh Sáng.
It will be apparent to you that much depends upon the ability of the group members to visualise clearly as well as to think clearly. Practice naturally tends to perfect both processes. At the close of these three stages, the group members are united as souls insulated against the attractive power of the glamour, and united as souls with mind and brain held steady and positive in the light. Their blended [232] light is looked upon by them as a great searchlight whose beams are to be directed through an act of the will downward from the mental plane on to the glamour existing on the astral plane and which has been brought into relation with the group by the very act of naming it. I am going into detail on this matter because the work is a new venture and I am anxious for you to start it with a clear understanding as to how the task is to be carried out. At the close of this instruction you will find the two long and two short formulas so that they can be seen and grasped apart from their explanatory context. This initial work should take fifteen minutes at first and later not more than five (excluding the ten minutes of silent preparation which precedes the formal work) for the group members will get used to working together and will eventually attain the objectives of the preparatory work with great rapidity.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng rất nhiều điều phụ thuộc vào khả năng hình dung rõ ràng cũng như tư duy rõ ràng của các thành viên trong nhóm. Việc thực hành tự nhiên sẽ hoàn thiện cả hai tiến trình. Khi kết thúc ba giai đoạn này, các thành viên hợp nhất như những linh hồn được bảo vệ khỏi sức hút của ảo cảm, và hợp nhất như những linh hồn với thể trí và bộ não được giữ vững, tích cực trong ánh sáng. Ánh sáng hòa trộn [232] của họ được họ xem như một đèn pha lớn; bằng một hành động của ý chí, các tia sáng của nó sẽ hướng xuống từ cõi trí đến ảo cảm hiện hữu trên cõi cảm dục, vốn đã được đưa vào mối liên hệ với nhóm qua chính hành động định danh nó. Tôi đi sâu vào chi tiết vấn đề này vì công việc là một bước đi mới, và Tôi mong các bạn bắt đầu với sự thấu hiểu rõ ràng về cách thực hiện nhiệm vụ. Ở cuối phần huấn thị này, các bạn sẽ thấy hai công thức dài và hai công thức ngắn, để có thể xem và nắm bắt chúng tách khỏi phần giải thích. Ban đầu, công việc mở đầu này nên kéo dài mười lăm phút, và về sau không quá năm phút (không tính mười phút chuẩn bị trong im lặng trước công việc chính thức), vì các thành viên sẽ quen làm việc cùng nhau và cuối cùng đạt được các mục tiêu của công việc chuẩn bị rất nhanh chóng.
THE TECHNIQUE OR FORMULA
KỸ THUẬT HAY CÔNG THỨC
5. Then together and in vocal unison the group says:
5. Sau đó, cả nhóm cùng đồng thanh nói:
“Radiance we are and power. We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.
“Chúng ta là sự rạng rỡ và quyền năng. Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, kết nối trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm.
“We reach into the Light and bring it down to meet the need. We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day.”
“Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu. Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu. Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.”
As they say this, the group visualises the turning of the great searchlight which they have jointly created by their unified light on to the glamour to be dissipated, holding the light steady [233] and realising mentally the work of dissipation it is intended to do. This is called the Act of Direction.
Khi nói những lời này, nhóm hình dung việc hướng đèn pha lớn mà họ đã cùng tạo ra bằng ánh sáng hợp nhất của mình vào ảo cảm cần làm tiêu tan, giữ ánh sáng ổn định [233] và nhận biết bằng trí tuệ công việc làm tiêu tan mà ánh sáng ấy có nhiệm vụ thực hiện. Điều này được gọi là Hành Động Định Hướng.
6. Then follows a pause for a few minutes in which the group attempts to throw behind the searchlight their united directed and dynamic will or intent; this carries along the projected beam of light the destructive quality of the spiritual will—destructive to all that hinders the manifestation of divinity. This is done by attaining a united point of tension, and the dedication of the individual and group will to the will of God. This is called the Act of Will and is carried on by each member of the group silently and with a deep realisation that all are thus accepted and that it is the group will which is being silently focussed. Then together they say:
6. Tiếp theo là một khoảng dừng vài phút, trong đó nhóm cố gắng đặt sau đèn pha ý chí hay ý định hợp nhất, có định hướng và năng động của mình; điều này truyền theo tia sáng phóng chiếu phẩm tính phá hủy của ý chí tinh thần—phá hủy tất cả những gì cản trở sự biểu hiện của thiên tính. Điều này được thực hiện bằng cách đạt đến một điểm tập trung nhất tâm hợp nhất và hiến dâng ý chí cá nhân cùng ý chí nhóm cho Ý Chí của Thượng Đế. Đây được gọi là Hành Động Ý Chí, và mỗi thành viên thực hiện trong im lặng, với sự nhận biết sâu sắc rằng tất cả đều được chấp nhận như vậy, và chính ý chí nhóm đang được tập trung trong im lặng. Sau đó, họ cùng nói:
“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.”
“Mang quyền năng trên tia chiếu của mình, ánh sáng tập trung vào mục tiêu.”
7. Then comes the Act of Projection and the saying of the words of power which—again naming the particular glamour which is the subject of attention and thus bringing it consciously into relation with the focussed light—begins the task of dissipation.
7. Tiếp đến là Hành Động Phóng Chiếu và việc xướng các quyền năng từ; những lời này—một lần nữa định danh ảo cảm cụ thể đang là đối tượng chú ý, qua đó đưa nó vào mối liên hệ có ý thức với ánh sáng đã tập trung—khởi đầu nhiệm vụ làm tiêu tan.
“The power of our united light prevents the appearance of the glamour of... (naming it). The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting men. The power of our united light destroys the life behind the glamour.”
“Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn sự xuất hiện của ảo cảm về... (định danh nó). Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn phẩm tính của ảo cảm ảnh hưởng đến con người. Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phá hủy sự sống đằng sau ảo cảm.”
These words are very nearly the same as those in the individual formula and gain strength from the experience of the aspirant and from his familiarity with their use. This constitutes an Act of Affirmation [234] which is the second part of the Act of Projection.
Những lời này gần như giống hệt những lời trong công thức dành cho cá nhân và có thêm sức mạnh nhờ kinh nghiệm của người chí nguyện cũng như sự quen thuộc của y với việc sử dụng chúng. Điều này tạo thành một Hành động Khẳng Định [234], là phần thứ hai của Hành động Phóng Chiếu.
8. Then comes an important aspect of the work in which the group members visualise the gradual dissipation and dispersal of the glamour by the penetration of the light into its darkness. They endeavour to see it disintegrating and the reality emerging, doing this by an effort of the creative imagination. Each will do this in his own way and according to his understanding and capacity. This is the Act of Penetration.
8. Tiếp đến là một phương diện quan trọng của công việc, trong đó các thành viên nhóm hình dung ảo cảm dần tiêu tan và phân tán khi ánh sáng xuyên vào bóng tối của nó. Họ nỗ lực thấy ảo cảm tan rã và thực tại xuất hiện, thực hiện điều này bằng nỗ lực của sự tưởng tượng sáng tạo. Mỗi người sẽ làm điều này theo cách riêng, tùy theo sự thấu hiểu và khả năng của mình. Đây là Hành động Xuyên Thấu.
9. Now follows five minutes of silence and intensity of purpose while the group waits for the work instituted to go forward. Then follows the group withdrawal of its consciousness from the astral plane and the world of glamour. The group members refocus their attention first of all on the mental plane and then on the soul, relinquishing all thought of the glamour, knowing that the work has been successfully carried forward. They re-organise themselves as a group in relation to the kingdom of souls and to each other. Occultly speaking, the “searchlight of the soul is shut off.” This is the Act of Withdrawal.
9. Tiếp theo là năm phút im lặng và tập trung mãnh liệt vào mục đích, trong khi nhóm chờ đợi công việc đã khởi sự tiếp tục tiến triển. Sau đó, nhóm thu hồi tâm thức khỏi cõi cảm dục và thế giới ảo cảm. Các thành viên nhóm trước hết tập trung lại sự chú ý vào cõi trí, rồi vào linh hồn, buông bỏ mọi ý nghĩ về ảo cảm, biết rằng công việc đã được tiến hành thành công. Họ tái tổ chức mình thành một nhóm trong mối liên hệ với giới linh hồn và với nhau. Nói theo nghĩa huyền bí, “đèn pha của linh hồn được tắt đi.” Đây là Hành động Thu Hồi.
10. The OM is then sounded in group formation; and then, in order to emphasise that the group work is ended, each member of the group sounds the OM alone, saying:
10. Sau đó, nhóm cùng xướng linh từ OM; rồi, để nhấn mạnh rằng công việc nhóm đã kết thúc, mỗi thành viên riêng rẽ xướng linh từ OM và nói:
“So let it be, and help me in my own life to end all glamour and untruth.”
“Nguyện được như vậy, và xin giúp tôi chấm dứt mọi ảo cảm và điều không chân thật trong chính cuộc sống của mình.”
It will take aspirants some time to gain facility in this work, but it is surely obvious that in learning what is an [235] entirely new technique of service each step must be mastered and practised for quite a long time. Every new branch of learning takes some time to become familiar and this one is no exception. But the effort is well worth while both from the individual angle and as an act of service to humanity.
Người chí nguyện sẽ cần một thời gian để trở nên thành thạo trong công việc này, nhưng chắc chắn có thể thấy rõ rằng, khi học một [235] kỹ thuật phụng sự hoàn toàn mới, mỗi bước đều phải được nắm vững và thực hành trong một thời gian khá dài. Mỗi lĩnh vực học tập mới đều cần một thời gian để trở nên quen thuộc, và lĩnh vực này cũng không ngoại lệ. Nhưng nỗ lực ấy rất đáng giá, cả trên phương diện cá nhân lẫn như một hành động phụng sự nhân loại.
That all the groups may learn to function in the light and that glamour may disappear from all your lives so that you may walk freely in that light and use that light for others is the wish of my heart for you.
Mong rằng mọi nhóm đều học được cách hoạt động trong ánh sáng, và ảo cảm biến mất khỏi cuộc sống của tất cả các bạn, để các bạn có thể tự do bước đi trong ánh sáng ấy và dùng ánh sáng ấy cho người khác—đó là điều trái tim Tôi mong ước cho các bạn.
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF GLAMOUR
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM
(For the Individual)
(Dành cho Cá Nhân)
Preparatory Stages
Các Giai Đoạn Chuẩn Bị
1. Recognition of the glamour to be dissipated. This involves:
1. Nhận biết ảo cảm cần làm tiêu tan. Điều này bao gồm:
a. A willingness to cooperate with the soul.
a. Sẵn lòng hợp tác với linh hồn.
b. Understanding the nature of the particular glamour.
b. Thấu hiểu bản chất của ảo cảm cụ thể ấy.
2. The three stages of focussing:
2. Ba giai đoạn tập trung:
a. Focussing the dual light of matter and mind in the mental body.
a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và trí tuệ trong thể trí.
b. Focussing, through meditation, this dual light and the light of the soul.
b. Qua tham thiền, tập trung ánh sáng kép này cùng với ánh sáng của linh hồn.
c. Focussing these three lights and so creating the searchlight for the dissipation of glamour.
c. Tập trung ba ánh sáng này, qua đó tạo ra đèn pha để làm tiêu tan ảo cảm.
3. Preparedness through alignment and integration. This is the production of a field of magnetic thought substance.
3. Chuẩn bị sẵn sàng qua chỉnh hợp và sự tích hợp. Đây là việc tạo ra một trường chất liệu tư tưởng có từ tính.
4. The turning of the attention and of the searchlight of the mind on to the astral plane. [236]
4. Hướng sự chú ý và đèn pha của thể trí vào cõi cảm dục. [236]
The Formula
Công Thức
5. The soul breathes out the OM into the waiting personality and the light and power thus generated are retained for use.
5. Linh hồn thở ra linh từ OM vào phàm ngã đang chờ đợi, và ánh sáng cùng quyền năng được tạo ra như vậy được giữ lại để sử dụng.
6. An intense light is slowly and consciously generated.
6. Từ từ và một cách có ý thức, tạo ra một ánh sáng mãnh liệt.
7. The spiritual will is invoked whilst the mind is held steady in the light.
7. Khẩn cầu ý chí tinh thần trong khi giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng.
8. The glamour to be dissipated and the searchlight of the mind are brought into relationship.
8. Đưa ảo cảm cần làm tiêu tan và đèn pha của thể trí vào mối liên hệ với nhau.
9. The searchlight is then turned on by an act of the will and a strong beam of light is projected into the glamour.
9. Sau đó, bật đèn pha bằng một hành động của ý chí và phóng chiếu một chùm ánh sáng mạnh vào ảo cảm.
10. The glamour is named and the aspirant says with tension inaudibly:
10. Gọi tên ảo cảm, và người chí nguyện nói thầm với sự tập trung căng thẳng:
“The power of the light prevents the appearance of the glamour (naming it). The power of the light negates the quality of the glamour from affecting me. The power of the light destroys the life behind the glamour.”
“Quyền năng của ánh sáng ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm (gọi tên nó). Quyền năng của ánh sáng ngăn không cho phẩm tính của ảo cảm tác động đến tôi. Quyền năng của ánh sáng hủy diệt sự sống đằng sau ảo cảm.”
11. The OM is sounded by the aspirant, producing an Act of Penetration. This produces impact, penetration and dissipation.
11. Người chí nguyện xướng linh từ OM, tạo ra một Hành động Xuyên Thấu. Điều này tạo ra sự tác động, xuyên thấu và làm tiêu tan.
12. The aspirant, having done his work, withdraws himself consciously on to the mental plane and the beam of light fades out.
12. Sau khi hoàn thành công việc, người chí nguyện chủ động rút về cõi trí, và chùm ánh sáng dần tắt.
Brief Form of the Individual Formula.
Dạng Rút Gọn của Công Thức Cá Nhân.
1. The four preparatory stages:
1. Bốn giai đoạn chuẩn bị:
a. Recognition of the glamour to be dissipated. [237]
a. Nhận biết ảo cảm cần làm tiêu tan. [237]
b. Focussing the dual light of the personality.
b. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã.
c. Meditation and recognition of soul light.
c. Tham thiền và nhận biết ánh sáng linh hồn.
d. Unification of the three lights.
d. Hợp nhất ba ánh sáng.
2. The process of alignment and of recognised integration.
2. Tiến trình chỉnh hợp và sự tích hợp được nhận biết.
3. The turning of the searchlight of the mind to the astral plane.
3. Hướng đèn pha của thể trí vào cõi cảm dục.
The Formula.
Công Thức.
4. Soul activity and the retention of the triple light.
4. Hoạt động của linh hồn và việc giữ lại ánh sáng tam phân.
5. The generating and visualising of the searchlight.
5. Tạo ra và hình dung đèn pha.
6. The evocation of the WILL behind the searchlight of the mind.
6. Gợi lên Ý CHÍ đằng sau đèn pha của thể trí.
7. The searchlight of the mind is turned upon the glamour, directed by thought.
7. Hướng đèn pha của thể trí vào ảo cảm, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng.
8. The naming of the glamour and the triple affirmation.
8. Gọi tên ảo cảm và khẳng định tam phân.
9. The Act of Penetration.
9. Hành động Xuyên Thấu.
10. The process of Withdrawing.
10. Tiến trình Thu Hồi.
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF WORLD GLAMOUR
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM THẾ GIỚI
(Technique for a Group)
(Kỹ Thuật dành cho một Nhóm)
The Preparatory Stages
Các Giai Đoạn Chuẩn Bị
1. The naming of the group members, followed by ten minutes silence.
1. Gọi tên các thành viên nhóm, tiếp theo là mười phút im lặng.
2. The Protective Formula: The group members say in unison: [238]
2. Công Thức Bảo Vệ: Các thành viên nhóm đồng thanh nói: [238]
“As a soul I work in light and darkness cannot touch me.
“Là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.
I take my stand within the light.
Tôi đứng vững trong ánh sáng.
I work and from that point I never move.”
Tôi làm việc và không bao giờ rời khỏi vị trí ấy.”
As these words are uttered, each group member makes the sign of the Cross of Divinity.
Khi nói những lời này, mỗi thành viên nhóm làm dấu Thập Giá của Thiên Tính.
3. The three preparatory stages:
3. Ba giai đoạn chuẩn bị:
a. Focussing the dual light of matter and mind.
a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và trí tuệ.
b. Meditation on soul contact and recognition of soul light.
b. Tham thiền về sự tiếp xúc với linh hồn và nhận biết ánh sáng linh hồn.
c. The fusion of the two lesser lights with soul light.
c. Dung hợp hai ánh sáng thấp hơn với ánh sáng linh hồn.
4. On a signal from the leader, the group says together:
4. Theo hiệu lệnh của người hướng dẫn, nhóm cùng nói:
“The light is one and in that light shall we see light. This is the light that turns the darkness nto day.”
“Ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng. Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.”
5. Then together the group says:
5. Sau đó, nhóm cùng nói:
“Radiance are we and power. We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.
“Chúng ta là ánh sáng rạng ngời và quyền năng. Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, kết nối trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm.
We reach into the light and bring it down to meet the need. We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day.”
Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu. Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu. Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.”
[239] As these words are said, the group members visualise the great searchlight they have created turning its light upon the astral plane.
[239] Khi nói những lời này, các thành viên nhóm hình dung đèn pha lớn mà họ đã tạo ra đang hướng ánh sáng vào cõi cảm dục.
6. A pause follows and then comes the invocation of the spiritual will. When this has been done the group says:
Tiếp theo là một khoảng dừng, rồi khẩn cầu ý chí tinh thần. Sau khi hoàn thành việc này, nhóm nói:
“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.”
“Mang quyền năng trên chùm tia của mình, ánh sáng tập trung vào mục tiêu.”
7. The glamour to be dissipated is named and the light is thrown upon it. The Words of Power are uttered:
7. Gọi tên ảo cảm cần làm tiêu tan và chiếu ánh sáng vào nó. Xướng các Quyền năng từ:
“The power of our united light prevents the appearance of the glamour of... (naming it).
“Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm về... (gọi tên nó).
The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting man.
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn không cho phẩm tính của ảo cảm tác động đến con người.
The power of our united light destroys the life behind the glamour.”
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta hủy diệt sự sống đằng sau ảo cảm.”
8. Visualisation of the light, penetrating into the glamour and producing its weakening and dissipation.
8. Hình dung ánh sáng xuyên vào ảo cảm, khiến nó suy yếu và tiêu tan.
9. Five minutes of silence and intensity of purpose whilst the work is seen proceeding. Then the group members refocus themselves upon the mental plane, turning their attention away from the astral plane. The searchlight of the soul is shut off.
9. Năm phút im lặng và tập trung mãnh liệt vào mục đích trong khi thấy công việc đang tiến triển. Sau đó, các thành viên nhóm tập trung trở lại vào cõi trí, chuyển sự chú ý khỏi cõi cảm dục. Đèn pha của linh hồn được tắt đi.
10. The sounding of the OM individually and aloud by each member.
10. Mỗi thành viên riêng rẽ xướng lớn linh từ OM.
Brief Form of the Group Formula.
Dạng Rút Gọn của Công Thức Nhóm.
1. The Act of Naming.
1. Hành động Gọi Tên.
2. The Act of Protection.
2. Hành động Bảo Vệ.
3. The Act of Focussing the Lights.
3. Hành động Tập Trung các Ánh Sáng.
4. The Act of Direction. [240]
4. Hành động Định Hướng. [240]
5. The Act of Invoking the Will.
5. Hành động Khẩn Cầu Ý Chí.
6. The Act of Projection and Affirmation.
6. Hành động Phóng Chiếu và Khẳng Định.
7. The Act of Penetration.
7. Hành động Xuyên Thấu.
8. The Act of Withdrawal.
8. Hành động Thu Hồi.
Our consideration of glamour is nearing its close. We have carried a consecutive theme steadily and have traced the threefold aspect of the world illusion as it appears upon the mental plane, and there conditions the intelligentsia of the world; as it appears upon the astral plane where it constitutes the glamour to which the masses of men succumb; we shall now consider the world of maya in which we, physically, live and move and have our being.
Việc xem xét ảo cảm của chúng ta đang gần đến hồi kết. Chúng ta đã kiên trì theo đuổi một chủ đề xuyên suốt và khảo sát phương diện tam phân của ảo tưởng thế giới: khi nó xuất hiện trên cõi trí và tại đó tác động lên giới trí thức thế giới; khi nó xuất hiện trên cõi cảm dục, nơi nó tạo thành ảo cảm mà quần chúng nhân loại khuất phục trước đó; giờ đây chúng ta sẽ xem xét thế giới ảo lực, trong đó chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn về mặt hồng trần.
I wonder if those who read my words appreciate the importance of this entire subject or if they are aware of the wide field of service which it opens up, making practical—as it does—all human living, and indicating likewise the steps whereby Reality can be known and all veiling forms disappear. Behind these words of illusion, glamour and maya, lies TRUTH. This truth is the clear consciousness of Being, of Existence and of essential, initial Reality. That is the reason that Christ stood mute before Pilate who symbolised the human intellect; He knew that no reply could convey meaning to that veiled, inhibited mind.
Tôi tự hỏi liệu những người đọc lời Tôi có nhận thức được tầm quan trọng của toàn bộ chủ đề này hay không, hoặc liệu họ có biết đến lĩnh vực phụng sự rộng lớn mà nó mở ra hay không; lĩnh vực ấy khiến toàn bộ đời sống con người trở nên thiết thực, đồng thời chỉ ra các bước để có thể nhận biết Thực Tại và mọi hình tướng che phủ đều biến mất. Đằng sau những từ ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực là CHÂN LÝ. Chân lý này là tâm thức sáng rõ về Bản Thể, về Hiện Hữu và về Thực Tại cốt yếu, nguyên sơ. Đó là lý do Đức Christ đứng im lặng trước Pilate, người tượng trưng cho trí năng con người; Ngài biết rằng không câu trả lời nào có thể truyền đạt ý nghĩa đến thể trí bị che phủ và kìm hãm ấy.
Illusion is the mode whereby limited understanding and material knowledge interpret truth, veiling and hiding it behind a cloud of thoughtforms. Those thoughtforms become then more real than the truth they veil, and consequently control man’s approach to Reality. Through illusion, he becomes aware of the apparatus of thought, of its activity, expressed in thoughtform building, and of that which he succeeds in constructing and which he views as the creation of his intellect. He has, however, created a barrier between himself and that which is and, until he has exhausted [241] the resources of his intellect or has deliberately refused to utilise it, his divine intuition cannot function. It is the intuition which reveals true Being and which induces a state of spiritual perception. Then the technique of the PRESENCE becomes an established habit.
Ảo tưởng là phương thức mà sự thấu hiểu hạn hẹp và tri thức vật chất dùng để diễn giải chân lý, che phủ và giấu kín chân lý sau một đám mây hình tư tưởng. Khi ấy, những hình tư tưởng này trở nên thực hơn cả chân lý mà chúng che phủ, và do đó kiểm soát cách con người tiếp cận Thực Tại. Qua ảo tưởng, y nhận biết bộ máy tư tưởng, hoạt động của nó biểu hiện qua việc xây dựng hình tư tưởng, cùng những gì y xây dựng thành công và xem là sản phẩm của trí năng mình. Tuy nhiên, y đã tạo ra một rào cản giữa mình và cái đang hiện hữu; cho đến khi y đã dùng hết [241] những nguồn lực của trí năng hoặc chủ tâm từ chối sử dụng nó, trực giác thiêng liêng của y không thể hoạt động. Chính trực giác mặc khải Bản Thể chân thực và đưa đến một trạng thái tri giác tinh thần. Khi ấy, Kỹ Thuật của Hiện Diện trở thành một thói quen vững chắc.
Glamour, in its turn, veils and hides the truth behind the fogs and mists of feeling and emotional reaction; it is of unique and terrible potency, owing to the strength of human nature to identify itself with the astral nature and to the vital nature of conscious and sentient response itself. As you know and have been taught, glamour can only be dissipated by the inflow of clear, directed light; this is true of the life of the individual or of humanity as a whole. Illumination reveals first of all the existence of glamour; it provides the distressing contrasts with which all true aspirants wrestle and then gradually it floods the life to such an extent that eventually glamour completely vanishes. Men see things then as they are—a facade hiding the good, the beautiful and true. The opposites are then resolved and consciousness is superseded by a condition of realisation—a realisation of Being for which we have no adequate term. The technique of LIGHT becomes a permanent condition.
Ảo cảm, đến lượt nó, che phủ và giấu kín chân lý sau những màn sương mù của cảm giác và phản ứng cảm xúc; nó có sức mạnh đặc biệt và khủng khiếp, do sức mạnh của bản chất con người trong việc đồng hoá với bản chất cảm dục và do bản chất sống động của sự đáp ứng hữu thức và có cảm giác ấy. Như các bạn biết và đã được dạy, chỉ dòng ánh sáng sáng rõ, được định hướng, tuôn vào mới có thể làm tiêu tan ảo cảm; điều này đúng với đời sống cá nhân cũng như với toàn thể nhân loại. Sự soi sáng trước hết cho thấy sự tồn tại của ảo cảm; nó phơi bày những tương phản gây khổ não mà mọi người chí nguyện chân chính phải vật lộn, rồi dần dần tràn ngập đời sống đến mức cuối cùng ảo cảm hoàn toàn biến mất. Khi ấy, con người thấy sự vật đúng như chúng vốn là—một lớp vỏ che giấu cái thiện, cái mỹ và cái chân. Khi ấy, các mặt đối lập được dung giải và tâm thức nhường chỗ cho một trạng thái chứng nghiệm—một sự chứng nghiệm Bản Thể mà chúng ta không có thuật ngữ thích đáng để diễn tả. Kỹ Thuật Ánh sáng trở thành một trạng thái thường trực.
3. The Technique of Indifference – 3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên
We come now to a brief study of the third aspect of illusion, to which we give the name Maya, and to the technique which can overcome it. We will deal next with the Technique of Indifference which is concerned with the distribution of soul force upon the physical plane, via the etheric plane, leading to inspiration. This is related to the Science of the Breath.
Giờ đây, chúng ta bước vào một nghiên cứu ngắn về phương diện thứ ba của ảo tưởng, mà chúng ta gọi là Ảo lực, và về kỹ thuật có thể khắc phục nó. Tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến Kỹ Thuật Điềm Nhiên, liên quan đến việc phân phối mãnh lực linh hồn trên cõi hồng trần qua cõi dĩ thái, đưa đến cảm hứng. Điều này có liên hệ với Khoa Học về Hơi Thở.
What then is maya? This, my brother, is not easy to define because it is related to the form-building activity of [242] the planetary Logos Himself. However, a consideration of the analogy existing between the microcosm and the Macrocosm may help somewhat. The soul creates a threefold expression in the three worlds of human living. This is an occult truism. The outer form, the dual physical body (dense and vital or etheric) is produced, created, motivated, energised and conditioned by certain energies and forces, emanating from those levels whereon the soul has—rightly or wrongly—engineered a reaction of identification. Note this phrase, my brother. These make the man what he is; they give him his temperament, profession and quality upon the physical plane; they make him negative or positive to various types of impacting energy; they give him his character and make him what he appears to be to others; they produce his colouring, his capacities and his personality. With all of these the average man identifies himself; he believes himself to be the form, the medium through which he attempts to express his desires and his ideas. This complete identification with the transient creation and with the outer appearance is maya. It must be remembered that individual maya is a fractional part of the world of energies and forces which constitute the life expression of the planetary Logos, which condition our outer planetary life, and make our planet what it appears to be to the other planets.
Vậy ảo lực là gì? Huynh đệ của tôi, điều này không dễ định nghĩa, vì nó liên quan đến hoạt động xây dựng hình tướng của [242] chính Hành Tinh Thượng đế. Tuy nhiên, việc xem xét sự tương đồng giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa có thể giúp ích phần nào. Linh hồn tạo ra một biểu hiện tam phân trong ba cõi giới của đời sống con người. Đây là một chân lý hiển nhiên trong huyền bí học. Hình tướng bên ngoài, thể xác kép (đậm đặc và sinh lực hay dĩ thái), do một số năng lượng và mãnh lực sản sinh, tạo dựng, thúc đẩy, tiếp năng lượng và định hình; chúng phát ra từ những cấp độ mà tại đó linh hồn đã—đúng hay sai—tạo nên một phản ứng đồng hoá. Hãy lưu ý cụm từ này, huynh đệ của tôi. Những năng lượng và mãnh lực ấy làm nên con người như y hiện là; chúng đem lại cho y khí chất, nghề nghiệp và phẩm tính trên cõi hồng trần; chúng khiến y trở nên âm tính hoặc dương tính đối với các loại năng lượng tác động khác nhau; chúng đem lại cho y tính cách và làm nên con người mà y biểu lộ trước người khác; chúng tạo ra sắc thái, khả năng và phàm ngã của y. Người bình thường đồng hoá mình với tất cả những điều này; y tin mình là hình tướng, là trung gian mà qua đó y cố gắng biểu lộ dục vọng và ý tưởng của mình. Sự đồng hoá hoàn toàn với tạo vật phù du và vẻ ngoài ấy là ảo lực. Cần nhớ rằng ảo lực cá nhân là một phần nhỏ của thế giới năng lượng và mãnh lực tạo thành biểu hiện sự sống của Hành Tinh Thượng đế, tác động lên đời sống hành tinh bên ngoài của chúng ta và làm nên hành tinh chúng ta như nó biểu lộ trước các hành tinh khác.
The difference between man, the microcosm, and the planetary Logos, the Lord of the World, the Macrocosm, lies in the fact that the Lord of the World is not identified with the maya which He has created, and which has its purpose in eventually bringing about the release of the “prisoners of the planet.” To that Maya, HE is supremely indifferent and it is this divine indifference which has led to the great theological illusion of an anthropomorphic Deity and to the belief (in the East) that our planet is but the background [243] or the plaything of the Gods. It is this cosmic indifference which has led to the human glamour concerning the “inscrutable will of God” and to the affirmation that God is far away and not immanent in every creature and in every atom of which creatures are made. These are some aspects of the glamours and illusions which must be dispelled and dissipated and, in the process, discovery will be made that the form is only maya and can be disregarded, that forces can be organised and directed by energy and that the world of thought, the field of sentient consciousness and the playground of the energies are something apart from the Thinker, from the One who feels and from the Actor and Player of the many parts which the Soul undertakes to play.
Sự khác biệt giữa con người, Tiểu thiên địa, và Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đại thiên địa, nằm ở chỗ Đức Chúa Tể Thế Giới không đồng hoá với ảo lực mà Ngài đã tạo ra, và mục đích của ảo lực ấy là cuối cùng đem lại sự giải thoát cho “những tù nhân của hành tinh.” Đối với Ảo lực ấy, NGÀI hoàn toàn điềm nhiên, và chính sự điềm nhiên thiêng liêng này đã dẫn đến ảo tưởng thần học lớn lao về một Thượng đế mang hình người và đến niềm tin (ở phương Đông) rằng hành tinh chúng ta chỉ là bối cảnh [243] hoặc đồ chơi của các Thượng đế. Chính sự điềm nhiên vũ trụ này đã dẫn đến ảo cảm của con người về “ý chí khôn dò của Thượng đế” và đến lời khẳng định rằng Thượng đế ở xa, chứ không nội tại trong mọi sinh vật và trong mọi nguyên tử cấu thành các sinh vật. Đây là một số phương diện của những ảo cảm và ảo tưởng cần được xua tan và làm tiêu tan; trong tiến trình ấy, người ta sẽ khám phá rằng hình tướng chỉ là ảo lực và có thể không cần chú ý đến, rằng năng lượng có thể tổ chức và chỉ đạo các mãnh lực, và rằng thế giới tư tưởng, lĩnh vực tâm thức hữu cảm cùng sân chơi của các năng lượng là những gì tách biệt với Chủ Thể Tư Duy, với Đấng cảm nhận và với Chủ Thể Hành Động và Diễn Xuất nhiều vai mà Linh Hồn đảm nhận.
The disciple learns eventually to know himself to be, above everything else (whilst in incarnation), the director of forces: these he directs from the altitude of the divine Observer and through the attainment of detachment. These are things which I have oft told you before. These truths are, for you, only the platitudes of occultism and yet, if you could but grasp the full significance of detachment and stand serene as the observing Director, there would be no more waste motion, no more mistaken moves and no more false interpretations, no wandering down the bypaths of daily living, no seeing others through distorted and prejudiced vision and—above all—no more misuse of force.
Cuối cùng, người đệ tử học cách nhận biết rằng, trên hết mọi điều (trong khi đang lâm phàm), mình là người chỉ đạo các mãnh lực: y chỉ đạo chúng từ tầm cao của Chủ Thể Quan Sát thiêng liêng và qua việc đạt đến sự tách rời. Đây là những điều Tôi đã thường nói với các bạn trước đây. Đối với các bạn, những chân lý này chỉ là những điều quen thuộc của huyền bí học; tuy nhiên, nếu các bạn có thể nắm bắt trọn vẹn thâm nghĩa của sự tách rời và đứng tĩnh lặng như Chủ Thể Chỉ Đạo đang quan sát, thì sẽ không còn chuyển động phí phạm, không còn hành động sai lầm, không còn diễn giải sai, không còn lạc vào những đường rẽ của đời sống hằng ngày, không còn nhìn người khác qua tầm nhìn méo mó và đầy định kiến, và—trên hết—không còn lạm dụng mãnh lực.
Again and again, down the ages, the Masters have told Their disciples (as I have told you) that the occultist works in the world of forces. All human beings live and move and express themselves in and through that same world of ever-moving, ever-impacting, outgoing and incoming energies. The occultist, however, works there; he becomes a conscious directing agent; he creates upon the physical plane that which he desires, and that which he desires is the pattern of [244] things and the design laid down upon the trestle board of the spiritual consciousness by the great divine Architect. Yet he identifies himself not with the pattern or with the forces which he employs. He moves in the world of maya, free from all illusion, unhindered by glamour and uncontrolled by the mayavic forces. He is rapidly arriving, as far as his own little world is concerned, at the same “divine indifference” which characterises Sanat Kumara, the Lord of the World; therefore increasingly he becomes aware of the Plan as it exists in the Universal Mind and the Purpose which motivates the Will of God.
Hết lần này đến lần khác, qua các thời đại, các Chân sư đã nói với các đệ tử của Các Ngài (như Tôi đã nói với các bạn) rằng nhà huyền bí học làm việc trong thế giới mãnh lực. Mọi con người đều sống, hoạt động và biểu lộ mình trong và qua cùng thế giới ấy, thế giới của những năng lượng luôn chuyển động, luôn tác động, đi ra và đi vào. Tuy nhiên, nhà huyền bí học làm việc ở đó; y trở thành một tác nhân chỉ đạo có ý thức; y tạo ra trên cõi hồng trần điều mình mong muốn, và điều y mong muốn là mô hình của [244] vạn vật cùng bản thiết kế mà Đấng Kiến Trúc Sư thiêng liêng vĩ đại đã đặt lên bảng vẽ của tâm thức tinh thần. Tuy nhiên, y không đồng hoá mình với mô hình hay với các mãnh lực mà y sử dụng. Y hoạt động trong thế giới ảo lực, tự do khỏi mọi ảo tưởng, không bị ảo cảm cản trở và không chịu sự kiểm soát của các mãnh lực ảo lực. Trong phạm vi thế giới nhỏ bé của mình, y đang nhanh chóng đạt đến cùng một “sự điềm nhiên thiêng liêng” vốn là đặc trưng của Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới; do đó, y ngày càng nhận biết Thiên Cơ như nó hiện hữu trong Vũ Trụ Trí và Thiên Ý thúc đẩy Ý Chí của Thượng Đế.
It is this divine indifference which is responsible for the fact that in attempting to describe “Pure Being” or God, and in the effort to arrive at some understanding of the nature of divinity, the formula of negation has been evolved. God is not this; God is not that; God is no-thing; God is neither time nor space; God is not feeling or thought; God is not form or substance. God simply IS. God IS—apart from all expression and manifestation as the Manipulator of energy, the Creator of the tangible and the intangible worlds, the Pervader of life, or the Indweller in all forms. God is the ONE WHO can withdraw and, in withdrawing, dispel, dissipate and devitalise all that has been created—using those words in their fullest significance.
Chính sự điềm nhiên thiêng liêng này là nguyên nhân khiến công thức phủ định hình thành trong nỗ lực mô tả “Bản Thể Thuần Khiết” hay Thượng đế và trong nỗ lực đạt đến một mức độ thấu hiểu nào đó về bản chất của thiên tính. Thượng đế không phải cái này; Thượng đế không phải cái kia; Thượng đế không phải bất cứ sự vật nào; Thượng đế không phải thời gian cũng không phải không gian; Thượng đế không phải cảm giác hay tư tưởng; Thượng đế không phải hình tướng hay chất liệu. Thượng đế đơn giản là HIỆN HỮU. Thượng đế HIỆN HỮU—tách biệt với mọi biểu lộ và biểu hiện trong vai trò Đấng Điều Khiển năng lượng, Đấng Sáng Tạo các thế giới hữu hình và vô hình, Đấng Thấm Nhuần sự sống, hay Đấng Ngự Trong mọi hình tướng. Thượng đế là ĐẤNG có thể thu hồi và, trong khi thu hồi, xua tan, làm tiêu tan và rút hết sinh lực của mọi điều đã được tạo ra—dùng những từ ấy theo thâm nghĩa đầy đủ nhất của chúng.
It will be obvious to you, therefore, that in these three activities of that Reality which is not identified with appearance, the will of God, the Destroyer aspect of Deity, is beneficently present. The act of abstraction produces the dispelling of the illusory world of thought; the withdrawal of the divine attention dissipates the sentient universe and brings glamour to an end; the cessation of divine direction brings death to the physical world. All these activities are evidences of the will or of the first aspect—the will-to-good which can and will function in perfection only when goodwill [245] is finally and fully developed on Earth, through the agency of humanity.
Do đó, các bạn hẳn thấy rõ rằng, trong ba hoạt động này của Thực Tại không đồng hoá với vẻ ngoài ấy, ý chí của Thượng đế, phương diện Hủy Diệt của Thượng đế, hiện diện một cách thiện lành. Hành động rút về tạo ra sự xua tan thế giới tư tưởng đầy ảo tưởng; việc thu hồi sự chú ý thiêng liêng làm tiêu tan vũ trụ hữu cảm và chấm dứt ảo cảm; việc ngừng chỉ đạo thiêng liêng đem cái chết đến thế giới hồng trần. Tất cả những hoạt động này đều là bằng chứng của ý chí hay phương diện thứ nhất—Ý Chí-hướng Thiện, vốn chỉ có thể và sẽ hoạt động hoàn hảo khi thiện chí [245] cuối cùng được phát triển đầy đủ trên Trái Đất, thông qua nhân loại.
The will and the breath, my brother, are occultly synonymous terms. In this statement you have the clue to the ending of maya.—
Huynh đệ của tôi, xét theo nghĩa huyền bí, ý chí và hơi thở là những thuật ngữ đồng nghĩa. Trong lời khẳng định này, huynh đệ có manh mối để chấm dứt ảo lực.—
The above remarks are preliminary to our study of the Technique of Indifference. It is necessary to point out analogies and to link together the various aspects of related teaching if true perception is to be developed. Let us divide our consideration of this subject as follows:
Những nhận xét trên là phần mở đầu cho việc nghiên cứu Kỹ Thuật Điềm Nhiên của chúng ta. Nếu muốn phát triển tri giác chân thực, cần chỉ ra những sự tương đồng và liên kết các phương diện khác nhau của giáo huấn có liên quan. Chúng ta hãy chia việc xem xét chủ đề này như sau:
1. Activity upon the etheric plane, i.e., the world of forces.
1. Hoạt động trên cõi dĩ thái, tức thế giới mãnh lực.
a. Their distribution.
a. Sự phân phối các mãnh lực.
b. Their manipulation.
b. Sự điều khiển các mãnh lực.
2. The Science of the Breath.
2. Khoa Học về Hơi Thở.
a. The relation of the will and the breath.
a. Mối liên hệ giữa ý chí và hơi thở.
b. Inspiration.
b. Cảm hứng.
3. The Technique of Indifference.
3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên.
a. Through concentration.
a. Qua sự tập trung.
b. Through detachment.
b. Qua sự tách rời.
We enter now the field of practical occultism. This is not the field of aspiration or the sphere of a planned moving forward towards that which is higher and desirable. It is, in some ways, a reverse activity. From the point reached upon the ladder of evolution, the disciple “stands in spiritual Being” (as far as in him lies), and consciously, deliberately works with the energies in the three worlds. He directs them into the etheric body from whatever level he chooses to work—mental, emotional, or from the vital plane itself. He does this in conformity with some visioned idea, some cherished ideal, some sensed divine pattern, some spiritual hope, some consecrated ambition or some dedicated desire.
Giờ đây, chúng ta bước vào lĩnh vực huyền bí học thực hành. Đây không phải là lĩnh vực khát vọng hay phạm vi của sự tiến bước có kế hoạch hướng đến những gì cao cả hơn và đáng mong muốn. Theo một vài phương diện, đây là một hoạt động theo chiều ngược lại. Từ điểm đã đạt tới trên thang tiến hoá, đệ tử “đứng trong Bản Thể tinh thần” (trong khả năng của y), và làm việc một cách có ý thức, có chủ đích với các năng lượng trong ba cõi giới. Y dẫn chúng vào thể dĩ thái từ bất cứ cấp độ nào y chọn để làm việc—trí tuệ, cảm xúc, hoặc từ chính cõi sinh lực. Y làm điều này phù hợp với một ý tưởng đã hình dung, một lý tưởng ấp ủ, một mô hình thiêng liêng đã cảm nhận, một niềm hy vọng tinh thần, một hoài bão đã thánh hiến hoặc một ước muốn tận hiến.
[246] The etheric body of the individual is, as you know, a part of the etheric body of humanity and this, in its turn, is an aspect of the etheric body of the planet, which is likewise an intrinsic part of the etheric body of the solar system. Incidentally, in this far-reaching factual relationship, you have the basis of all astrological influences. Man moves, therefore, in a whirlpool of forces of all types and qualities. He is composed of energies in every part of his manifested and unmanifested expression; he is, therefore, related to all other energies. His task is one of supreme difficulty and needs the great length of the evolutionary cycle. With the mass of world energies and systemic forces we cannot here deal, but we will confine ourselves to the consideration of the individual problem, advising the student to endeavour to extend his understanding of the microcosmic situation to the macrocosmic.
[246] Như các bạn biết, thể dĩ thái của cá nhân là một phần của thể dĩ thái của nhân loại, và đến lượt mình, thể dĩ thái này là một phương diện của thể dĩ thái hành tinh, vốn cũng là một phần nội tại của thể dĩ thái của hệ mặt trời. Nhân đây, trong mối quan hệ thực tế có tầm bao quát sâu rộng này, các bạn có cơ sở của mọi ảnh hưởng chiêm tinh. Vì vậy, con người vận động trong một xoáy lốc mãnh lực thuộc mọi loại và phẩm tính. Y được cấu thành từ các năng lượng trong mọi phần biểu hiện và không biểu hiện của mình; do đó, y có liên hệ với mọi năng lượng khác. Nhiệm vụ của y vô cùng khó khăn và đòi hỏi khoảng thời gian dài của chu kỳ tiến hoá. Ở đây, chúng ta không thể bàn đến toàn bộ các năng lượng thế giới và các mãnh lực của hệ mặt trời, mà sẽ giới hạn trong việc xem xét vấn đề cá nhân, đồng thời khuyên đạo sinh cố gắng mở rộng sự thấu hiểu của mình từ tình trạng tiểu thiên địa sang tình trạng đại thiên địa.
a. Force distribution and manipulation upon the etheric plane
a. Phân phối và vận dụng mãnh lực trên cõi dĩ thái
We will now assume that the aspirant is aware of the need for him to establish a new and higher rhythm in his physical plane life, to organise his time in obedience to the injunction of his higher self, and to produce, consciously and scientifically, those effects which—in his highest moments—are presented to him as desirable. He has now a certain amount of knowledge as to the equipment available for his task and has mastered some facts anent the etheric vehicle. The pairs of opposites are clearly seen by him, even if he is as yet influenced by one or other of them; he is aware of a basic disagreement between his vision of goodness and his expression of that goodness. He has learnt that he is a triple reflection of a higher Trinity and that this Trinity is—for him—the Reality. He understands that [247] mind, emotions and physical being are intended eventually to manifest that Reality. In the last analysis, he knows that if that intermediate aspect of himself, the etheric body, can be controlled and rightly directed, then vision and expression will and must finally coincide. He is also aware that the dense physical body (the outer tangible appearance) is only an automaton, obedient to whatever forces and energies are the controlling factors in the subjective, conditioning the man. Is that physical body to be controlled by emotional force, pouring through the sacral centre and producing desire for the satisfaction of the physical appetites, or through the solar plexus leading to emotional satisfaction of some kind? Is it to be responsive to the mind and work largely under the impulse of projected thought? Is it perhaps to be directed by an energy greater than any of these but hitherto apparently impotent, the energy of the soul as an expression of pure Being? Is it to be swept into action under the impulse of sentient reactions, ideas and thoughts, emanating from other human beings or is it to be motivated and spurred into activity under the direction of the spiritual Hierarchy? Such are some of the questions to which answers must be found. The stage of aspiring, dreaming and of wishful thinking must now be superseded by direct action and by the carefully planned use of the available forces, swept into activity by the breath, under the direction of the inner eye and controlled by the spiritual man. Which energies can and must be thus used? What forces must be brought under direction? In what manner can they be controlled? Should they be ignored and so rendered futile by that ignoring, or are they forces which are needed in the great creative work?
Giờ đây, chúng ta sẽ giả định rằng người chí nguyện nhận biết nhu cầu phải thiết lập một nhịp điệu mới và cao hơn trong đời sống trên cõi hồng trần của mình, phải tổ chức thời gian tuân theo huấn lệnh của chân ngã, và phải tạo ra một cách có ý thức và khoa học những hiệu quả mà—trong những thời khắc cao cả nhất—y thấy là đáng mong muốn. Giờ đây, y có một lượng kiến thức nhất định về những phương tiện sẵn có để thực hiện nhiệm vụ của mình và đã nắm vững một số sự kiện liên quan đến hiện thể dĩ thái. Y thấy rõ các cặp đối cực, dù vẫn còn chịu ảnh hưởng của bên này hoặc bên kia; y nhận biết một sự bất tương hợp căn bản giữa tầm nhìn của mình về điều thiện và sự biểu hiện điều thiện ấy. Y đã học được rằng mình là sự phản chiếu tam phân của một Tam Vị cao hơn, và đối với y, Tam Vị này là Thực Tại. Y thấu hiểu rằng [247] thể trí, cảm xúc và sự hiện tồn hồng trần cuối cùng phải biểu hiện Thực Tại ấy. Xét cho cùng, y biết rằng nếu có thể kiểm soát và hướng dẫn đúng đắn phương diện trung gian của mình, tức thể dĩ thái, thì tầm nhìn và sự biểu hiện cuối cùng sẽ và phải trùng khớp. Y cũng nhận biết rằng thể xác đậm đặc (vẻ ngoài hữu hình) chỉ là một bộ máy tự động, tuân theo bất cứ mãnh lực và năng lượng nào đang giữ vai trò kiểm soát trong lĩnh vực chủ quan, định hình con người. Thể xác ấy sẽ chịu sự kiểm soát của mãnh lực cảm xúc tuôn qua trung tâm xương cùng và tạo ra ham muốn thoả mãn các dục vọng thể xác, hay qua tùng thái dương dẫn đến một dạng thoả mãn cảm xúc nào đó? Nó sẽ đáp ứng với thể trí và hoạt động phần lớn dưới xung lực của tư tưởng được phóng chiếu chăng? Có lẽ nó sẽ do một năng lượng lớn hơn bất cứ năng lượng nào trong số này hướng dẫn, nhưng cho đến nay dường như vẫn bất lực—năng lượng của linh hồn như một biểu hiện của Bản Thể thuần khiết? Nó sẽ bị cuốn vào hành động dưới xung lực của những phản ứng cảm nhận, những ý tưởng và tư tưởng phát ra từ những người khác, hay sẽ được thúc đẩy và khơi dậy hoạt động dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn? Đó là một số câu hỏi cần tìm lời giải đáp. Giờ đây, giai đoạn khát vọng, mơ mộng và suy nghĩ theo điều mình mong muốn phải nhường chỗ cho hành động trực tiếp và việc sử dụng có kế hoạch cẩn thận các mãnh lực sẵn có, được hơi thở khơi dậy hoạt động, dưới sự hướng dẫn của con mắt bên trong và sự kiểm soát của con người tinh thần. Những năng lượng nào có thể và phải được sử dụng như vậy? Những mãnh lực nào phải được đặt dưới sự hướng dẫn? Có thể kiểm soát chúng bằng cách nào? Có nên bỏ qua chúng, và bằng sự bỏ qua ấy khiến chúng trở nên vô hiệu, hay đó là những mãnh lực cần thiết trong công việc sáng tạo vĩ đại?
It will be apparent to you that the first step the spiritual investigator has to take is to ascertain—truly and in the light of his soul—where exactly is his focus of identification. [248] By that I mean: Is his major use of energy to be found upon the mental plane? Is he predominantly emotional and utilising force from the astral plane the greater part of the time? Can he contact the soul and bring in soul energy in such a manner that it negates or offsets his personality force? Can he thus live like a soul upon the physical plane, via the etheric body? If he earnestly studies this problem, he will in time discover which forces are dominant in the etheric body and will become aware consciously of the times and experience which call for the expenditure of soul energy. This, my brother, will take time and will be the result of prolonged observation and a close analysis of acts and sentient reactions, of words and thoughts. We are here concerned, as you can see, with an intensely practical problem which is at the same time an intrinsic part of our study and which will be evocative of basic changes in the life of the disciple.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng bước đầu tiên người khảo cứu tinh thần phải thực hiện là xác định—một cách chân thực và trong ánh sáng của linh hồn mình—chính xác trọng tâm đồng hoá của y ở đâu. [248] Qua đó, Tôi muốn nói: Việc sử dụng năng lượng chủ yếu của y có diễn ra trên cõi trí không? Y có thiên về cảm xúc và phần lớn thời gian sử dụng mãnh lực từ cõi cảm dục không? Y có thể tiếp xúc với linh hồn và đưa năng lượng linh hồn vào theo cách phủ định hoặc hoá giải mãnh lực phàm ngã của mình không? Như vậy, y có thể sống như một linh hồn trên cõi hồng trần, thông qua thể dĩ thái không? Nếu nghiêm túc nghiên cứu vấn đề này, theo thời gian, y sẽ khám phá những mãnh lực nào đang chiếm ưu thế trong thể dĩ thái và sẽ nhận biết một cách có ý thức những thời điểm và trải nghiệm đòi hỏi phải sử dụng năng lượng linh hồn. Huynh đệ của tôi, điều này sẽ cần thời gian và sẽ là kết quả của sự quan sát lâu dài cùng việc phân tích kỹ lưỡng các hành động và phản ứng cảm nhận, lời nói và tư tưởng. Như các bạn thấy, ở đây chúng ta đang bàn đến một vấn đề hết sức thực tiễn, đồng thời là một phần nội tại trong việc nghiên cứu của chúng ta và sẽ gợi lên những thay đổi căn bản trong đời sống của đệ tử.
He will add to this observation and analysis of the strength of the force or the forces engaged, the conditions which will swing them into action, the frequency of their appearance, indicating to him novelty or habit, and likewise the nature of their expression. In this way, he will arrive at a new understanding of the conditioning factors which work through his vital body and make him—upon the physical plane—what he essentially is. This will prove to him of deep spiritual and significant help.
Y sẽ bổ sung vào sự quan sát và phân tích này việc xem xét sức mạnh của mãnh lực hoặc các mãnh lực đang tham gia, những điều kiện sẽ khơi dậy chúng hoạt động, tần suất xuất hiện của chúng, cho y biết đó là điều mới mẻ hay thói quen, và cả bản chất biểu hiện của chúng. Bằng cách này, y sẽ đạt đến một sự thấu hiểu mới về những yếu tố định hình đang hoạt động qua thể sinh lực của mình và khiến y—trên cõi hồng trần—trở thành đúng con người mà về căn bản y là. Điều này sẽ mang lại cho y sự trợ giúp sâu sắc về mặt tinh thần và đầy thâm nghĩa.
This period of observation is, however, confined to mental and intelligent observation. It forms the background of the work to be done, giving assurance and knowledge but leaving the situation as it was. His next step is to become aware of the quality of the forces applied; in ascertaining this, he will find it necessary to discover not only his soul ray and his personality ray but to know also the rays of his mental apparatus, and his emotional nature. This will lead [249] necessarily to another period of investigation and careful observation, if he is not already aware of them. When I tell you that to this information he must add a close consideration of the potencies of the forces and energies reaching him astrologically, you will see what a stern task he has set himself. Not only has he to isolate his five ray energies, but he has to allow for the energy of his sun sign as it conditions his personality, and of his rising sign as it seeks to stimulate that personality into soul responsiveness, thus working out soul purpose through personality cooperation.
Tuy nhiên, giai đoạn quan sát này chỉ giới hạn ở sự quan sát bằng trí tuệ và sự thông minh. Nó tạo nền tảng cho công việc cần thực hiện, đem lại sự chắc chắn và kiến thức, nhưng vẫn để tình trạng như cũ. Bước tiếp theo của y là nhận biết phẩm tính của các mãnh lực đang được sử dụng; khi xác định điều này, y sẽ thấy cần phải khám phá không chỉ cung linh hồn và cung phàm ngã, mà còn phải biết các cung của bộ máy trí tuệ và bản chất cảm xúc của mình. Điều này tất yếu sẽ dẫn [249] đến một giai đoạn khảo cứu và quan sát cẩn thận khác, nếu y chưa nhận biết chúng. Khi Tôi nói với các bạn rằng ngoài thông tin này, y còn phải xem xét kỹ lưỡng sức mạnh của các mãnh lực và năng lượng đến với y qua chiêm tinh, các bạn sẽ thấy y đã đặt ra cho mình một nhiệm vụ nghiêm ngặt đến mức nào. Y không chỉ phải phân biệt riêng năm năng lượng cung của mình, mà còn phải tính đến năng lượng của dấu hiệu Mặt Trời khi nó định hình phàm ngã của y, và năng lượng của Dấu hiệu mọc khi nó tìm cách kích thích phàm ngã ấy đáp ứng với linh hồn, qua đó thực hiện mục đích của linh hồn thông qua sự hợp tác của phàm ngã.
There are, therefore, seven factors which condition the quality of the forces which seek expression through the etheric body:
Vì vậy, có bảy yếu tố định hình phẩm tính của các mãnh lực đang tìm cách biểu hiện qua thể dĩ thái:
1. The ray of the soul.
1. Cung của linh hồn.
2. The ray of the personality.
2. Cung của phàm ngã.
3. The ray of the mind.
3. Cung của thể trí.
4. The ray of the emotional nature.
4. Cung của bản chất cảm xúc.
5. The ray of the physical vehicle.
5. Cung của hiện thể hồng trần.
6. The energy of the sun sign.
6. Năng lượng của dấu hiệu Mặt Trời.
7. The influence of the rising sign.
7. Ảnh hưởng của Dấu hiệu mọc.
Once, however, these are ascertained and there is some assurance as to their factual truth, the entire problem begins to clarify and the disciple can work with knowledge and understanding. He becomes a scientific worker in the field of hidden forces. He knows then what he is doing, with what energies he must work, and he begins to feel these energies as they find their way into the etheric vehicle.
Tuy nhiên, một khi đã xác định được những yếu tố này và có một mức độ chắc chắn nào đó về tính xác thực của chúng, toàn bộ vấn đề bắt đầu sáng tỏ, và đệ tử có thể làm việc với kiến thức và sự thấu hiểu. Y trở thành một người hoạt động khoa học trong lĩnh vực các mãnh lực ẩn tàng. Khi ấy, y biết mình đang làm gì, phải làm việc với những năng lượng nào, và y bắt đầu cảm nhận những năng lượng này khi chúng tìm đường vào hiện thể dĩ thái.
Now comes the stage wherein he is in a position to find out the reality and the work of the seven centres which provide inlet and outlet for the moving forces and energies with which he is immediately concerned in this particular incarnation. He enters upon a prolonged period of observation, of experiment and experience and institutes a trial and error, [250] a success and failure, campaign which will call for all the strength, courage and endurance of which he is capable.
Giờ đây đến giai đoạn y có khả năng tìm hiểu thực tại và hoạt động của bảy trung tâm, vốn cung cấp lối vào và lối ra cho các mãnh lực và năng lượng đang vận động mà y trực tiếp quan tâm trong lần lâm phàm cụ thể này. Y bước vào một giai đoạn quan sát, thử nghiệm và trải nghiệm lâu dài, đồng thời bắt đầu một quá trình thử và sai, [250] thành công và thất bại, đòi hỏi tất cả sức mạnh, lòng can đảm và sự bền bỉ mà y có thể có.
Broadly speaking, the energy of the soul works through the highest head centre and is brought into activity through meditation and applied aptitude in contact. The energy of the integrated personality is focussed through the ajna centre, between the eyes; and when the disciple can identify himself with that, and is also aware of the nature and the vibration of his soul energy, then he can begin to work with the power of direction, using the eyes as directing agencies. There are, as you have gathered in your studies, three eyes of vision and direction at the disposal of the disciple.
Nói khái quát, năng lượng của linh hồn hoạt động qua trung tâm cao nhất ở đầu, và được khơi dậy hoạt động qua tham thiền cùng việc vận dụng năng lực tiếp xúc. Năng lượng của phàm ngã tích hợp tập trung qua trung tâm ajna, giữa hai mắt; khi đệ tử có thể đồng hoá mình với năng lượng ấy, đồng thời nhận biết bản chất và rung động của năng lượng linh hồn mình, y có thể bắt đầu làm việc với quyền năng hướng dẫn, sử dụng đôi mắt làm các cơ quan hướng dẫn. Như các bạn đã biết qua việc nghiên cứu, đệ tử có thể sử dụng ba con mắt để nhìn và hướng dẫn.
1. The inner eye, the single eye of the spiritual man. This is the true eye of vision and involves the idea of duality (of the see-er and that which is seen). It is the divine eye. It is that through which the soul looks forth into the world of men and through which direction of the personality takes place.
1. Con mắt bên trong, con mắt duy nhất của con người tinh thần. Đây là con mắt đích thực của tầm nhìn và bao hàm ý tưởng về nhị nguyên (người thấy và điều được thấy). Đó là con mắt thiêng liêng. Qua con mắt ấy, linh hồn nhìn ra thế giới nhân loại, và cũng qua đó diễn ra sự hướng dẫn phàm ngã.
2. The right eye, the eye of buddhi, the eye which is in direct responsive relation to the inner eye. Through this eye the highest activity of the personality can be directed upon the physical plane. You have therefore in this connection a triangle of spiritual forces which can be swept into unique activity by the advanced disciple and initiate.
2. Con mắt phải, con mắt của Bồ đề, con mắt có mối quan hệ đáp ứng trực tiếp với con mắt bên trong. Qua con mắt này, hoạt động cao nhất của phàm ngã có thể được hướng dẫn trên cõi hồng trần. Vì vậy, trong mối liên hệ này, các bạn có một tam giác mãnh lực tinh thần mà đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ có thể khơi dậy thành một hoạt động độc đáo.
[251] It is through this triplicity, for instance, that the trained initiate works when dealing with a group of people or with an individual.
[251] Chẳng hạn, chính qua bộ ba này mà điểm đạo đồ đã qua huấn luyện làm việc khi tiếp xúc với một nhóm người hoặc một cá nhân.
3. The left eye, the eye of manas, the distributor of mental energy under correct control—correct as far as personality purposes are concerned. This eye is also a part of a triangle of forces, available for the use of the aspirant and the probationary disciple.
3. Con mắt trái, con mắt của manas, cơ quan phân phối năng lượng trí tuệ dưới sự kiểm soát đúng đắn—đúng đắn xét theo các mục đích của phàm ngã. Con mắt này cũng là một phần của một tam giác mãnh lực mà người chí nguyện và đệ tử dự bị có thể sử dụng.
The inner or divine eye is quiescent and relatively inactive, being only the organ of observation where the soul is concerned and it is not yet—in the majority of cases—a distributor of directing soul energy. The disciplined reoriented aspirant, however, integrated and focussed in his purified personality, is using both buddhic and manasic force; he is beginning to be intuitional and predominantly mental. It is when these two triangles are under control and are beginning to function properly that the seven centres in the etheric body are brought under clear direction, become the recipients of the established rhythm of the developed human being, and present consequently an instrument to the soul through which appropriate energies can flow and the full organisation and purpose of a functioning son of God can be manifested on Earth.
Con mắt bên trong, hay con mắt thiêng liêng, ở trạng thái tĩnh và tương đối bất hoạt, chỉ là cơ quan quan sát đối với linh hồn, và trong đa số trường hợp chưa phải là cơ quan phân phối năng lượng hướng dẫn của linh hồn. Tuy nhiên, người chí nguyện có kỷ luật và đã tái định hướng, đã tích hợp và tập trung trong phàm ngã được thanh luyện của mình, đang sử dụng cả mãnh lực Bồ đề lẫn mãnh lực manas; y đang bắt đầu có trực giác và thiên về trí tuệ. Khi hai tam giác này nằm dưới sự kiểm soát và bắt đầu hoạt động đúng đắn, bảy trung tâm trong thể dĩ thái mới được đặt dưới sự hướng dẫn rõ ràng, trở thành những nơi tiếp nhận nhịp điệu đã thiết lập của con người phát triển, và do đó cung cấp cho linh hồn một công cụ mà qua đó các năng lượng thích hợp có thể tuôn chảy, và toàn bộ sự tổ chức cùng mục đích của một Con của Thượng đế đang hoạt động có thể biểu hiện trên Trái Đất.
Next comes what we have called the stage of direction. The soul or the integrated personality is in command or—on a higher turn of the spiral—the Monad is in command [252] and the personality is simply then the agent of spirit. Through the two triangles or through both of them working synchronously, the centres up the spine (five in all) are brought under rhythmic control. Energy is directed into them or through them; they are steadily brought into a beauty of organisation which has been described as a “life aflame with God”; it is a life of spiritual application and service wherein the higher triangle is the most potent.
Tiếp theo là điều chúng ta đã gọi là giai đoạn hướng dẫn. Linh hồn hoặc phàm ngã tích hợp nắm quyền chỉ huy, hoặc—trên một vòng xoắn ốc cao hơn—Chân thần nắm quyền chỉ huy [252] và khi ấy phàm ngã chỉ đơn thuần là tác nhân của tinh thần. Qua hai tam giác, hoặc qua cả hai cùng hoạt động đồng bộ, các trung tâm dọc cột sống (tổng cộng là năm) được đặt dưới sự kiểm soát nhịp nhàng. Năng lượng được dẫn vào chúng hoặc qua chúng; chúng dần đạt tới vẻ đẹp của sự tổ chức đã được mô tả là một “đời sống rực cháy với Thượng đế”; đó là một đời sống vận dụng tinh thần và phụng sự, trong đó tam giác cao hơn có sức mạnh lớn nhất.
The following three statements sum up the story of the eventual release of the disciple from the Great Illusion:
Ba phát biểu sau đây tóm lược quá trình đệ tử cuối cùng thoát khỏi Đại Ảo Tưởng:
First: As the soul, working through the higher triangle, becomes the directing agent, illusion is dispelled. The mind becomes illumined.
Thứ nhất: Khi linh hồn, hoạt động qua tam giác cao hơn, trở thành tác nhân hướng dẫn, ảo tưởng được xua tan. Thể trí trở nên sáng tỏ.
Second: As the personality (under the growing influence of the soul) works through the second triangle, glamour is dissipated. The control of the astral nature is broken.
Thứ hai: Khi phàm ngã (dưới ảnh hưởng ngày càng tăng của linh hồn) hoạt động qua tam giác thứ hai, ảo cảm tiêu tan. Sự kiểm soát của bản chất cảm dục bị phá vỡ.
Third: As the disciple, working as the soul and as an integrated personality, assumes direction of his life expression, maya or the world of etheric energies becomes devitalised, and only those forces and energies are employed which serve the need of the disciple or the initiate as he fulfils divine intent.
Thứ ba: Khi đệ tử, hoạt động như linh hồn và như một phàm ngã tích hợp, đảm nhận việc hướng dẫn sự biểu hiện đời sống của mình, ảo lực hay thế giới năng lượng dĩ thái mất đi sinh lực, và chỉ những mãnh lực cùng năng lượng đáp ứng nhu cầu của đệ tử hoặc điểm đạo đồ mới được sử dụng khi y thực hiện ý định thiêng liêng.
You will note that this is all embodied and brought about in the sevenfold work described above. This can be summarised as follows:
Các bạn sẽ nhận thấy rằng tất cả điều này đều được thể hiện và thực hiện trong công việc thất phân đã mô tả ở trên. Có thể tóm lược như sau:
1. The disciple discovers the focus of his identification.
1. Đệ tử khám phá trọng tâm đồng hoá của mình.
2. He ascertains the nature of the forces he is in the habit of using and which perpetually seem to swing him into action. [253]
2. Y xác định bản chất của các mãnh lực mà mình có thói quen sử dụng và dường như không ngừng thúc đẩy y hành động. [253]
3. He becomes aware of the strength and frequency of this force expression.
3. Y nhận biết sức mạnh và tần suất của sự biểu hiện mãnh lực này.
All this is carried forward as the mental observer.
Y thực hiện tất cả điều này trong vai trò người quan sát bằng trí tuệ.
4. He becomes conscious of the quality of the forces employed, their ray relation or their astrological significance.
4. Y nhận biết phẩm tính của các mãnh lực được sử dụng, mối liên hệ cung hoặc thâm nghĩa chiêm tinh của chúng.
This is a sentient, feeling activity and is not so basically mental as the previous three stages.
Đây là một hoạt động cảm nhận, cảm xúc, và về căn bản không mang tính trí tuệ như ba giai đoạn trước.
5. He identifies the centres in the etheric body and becomes aware of their individual existence as force agents.
5. Y xác định các trung tâm trong thể dĩ thái và nhận biết sự tồn tại riêng biệt của chúng như những tác nhân mãnh lực.
6. The two “triangles of vision and direction” in the head reach a stage of organisation and become
6. Hai “tam giác của tầm nhìn và hướng dẫn” trong đầu đạt đến một giai đoạn tổ chức và trở thành
a. Active and functioning mechanisms.
a. Những bộ máy tích cực và đang hoạt động.
b. Related and functioning, as one expressive instrument. This is an objective and subjective activity.
b. Có liên hệ và hoạt động như một công cụ biểu hiện duy nhất. Đây là một hoạt động khách quan và chủ quan.
7. The galvanising of the physical body into activity through the medium of the directing agencies in the head and through the centres up the spine.
7. Khơi dậy thể xác hoạt động thông qua các cơ quan hướng dẫn trong đầu và qua các trung tâm dọc cột sống.
The question now arises as to how this is to be brought about. This brings us to our second point.
Giờ đây nảy sinh câu hỏi: Làm thế nào để thực hiện điều này? Điều đó đưa chúng ta đến điểm thứ hai.
b. The use of the Science of the Breath.
b. Sử dụng Khoa Học về Hơi Thở.