← Glamour_ A World Problem song ngữ

[Webinar 74] – [Webinar 74]

Trích nội dung chương

Therefore each of you in this group must of necessity work separately and apart with himself, and learn to induce those conditions of clarity and truth which will overcome the ancient rhythms and deep-seated habits and thus steadily purify the aura. But this has now to be done as a group, and this group constitutes one of the first of the exoteric groups with which it is intended to work in the new age. Through the activity of such groups, the world glamour will be dissipated, [28] but first of all the aspirant must learn to deal with individual and group glamour. It is necessary to remember the following three things. I am going to be…


[Webinar 74] – [Webinar 74]

Therefore each of you in this group must of necessity work separately and apart with himself, and learn to induce those conditions of clarity and truth which will overcome the ancient rhythms and deep-seated habits and thus steadily purify the aura. But this has now to be done as a group, and this group constitutes one of the first of the exoteric groups with which it is intended to work in the new age. Through the activity of such groups, the world glamour will be dissipated, [28] but first of all the aspirant must learn to deal with individual and group glamour. It is necessary to remember the following three things. I am going to be brief and technical in teaching this group, for my time is short and you have an adequate technical knowledge with which to understand that whereof I speak.

Vì vậy, mỗi người trong nhóm này nhất thiết phải làm việc riêng với chính mình và học cách tạo nên những điều kiện sáng tỏ và chân thật để vượt qua các nhịp điệu lâu đời cùng những thói quen ăn sâu, nhờ đó từng bước thanh lọc hào quang. Nhưng giờ đây, điều này phải được thực hiện với tư cách một nhóm, và nhóm này là một trong những nhóm ngoại môn đầu tiên được dự định làm đối tượng cộng tác trong kỷ nguyên mới. Qua hoạt động của những nhóm như vậy, ảo cảm thế giới sẽ tiêu tan, [28] nhưng trước hết, người chí nguyện phải học cách xử lý ảo cảm cá nhân và ảo cảm nhóm. Cần nhớ ba điều sau đây. Tôi sẽ giảng dạy nhóm này một cách ngắn gọn và chuyên môn, vì thời gian của Tôi ít, và các bạn có đủ kiến thức chuyên môn để thấu hiểu những điều Tôi nói.

First, the united auras of the group members ever determine the group condition, the group activity, usefulness, problem and glamour. Hence emerges individual group responsibility and individual usefulness. Each of you either hinders or aids the group, according to his auric condition, which is either in a state of glamour or illusion or is kept relatively free from these conditions.

Thứ nhất, hào quang kết hợp của các thành viên luôn quyết định tình trạng, hoạt động, tính hữu ích, vấn đề và ảo cảm của nhóm. Từ đó phát sinh trách nhiệm của từng cá nhân đối với nhóm và tính hữu ích của từng người. Mỗi người trong các bạn đều cản trở hoặc hỗ trợ nhóm tùy theo tình trạng hào quang của mình: hào quang ấy hoặc ở trong trạng thái ảo cảm hay ảo tưởng, hoặc được giữ tương đối tự do khỏi những tình trạng này.

Second, that the first job that each of you has to do is to determine his own peculiar problem. In giving you your individual instructions, I will take up with you in this instruction where the particular tendency in this direction of each of you lies, and whether it is glamour, illusion or maya to which you habitually succumb. I will deal with directness, for I have tested your sincerity and believe in your willingness to be told the truth. Once you have each determined the specific nature of your peculiar problem, you can then work with deliberation towards its solution—with deliberation, brother of old, and with no speed, but with due care and caution and with right understanding.

Thứ hai, công việc đầu tiên mỗi người trong các bạn phải làm là xác định vấn đề đặc thù của mình. Khi đưa ra những huấn thị riêng, Tôi sẽ cùng từng người xem xét khuynh hướng đặc thù của họ trong phương diện này nằm ở đâu, và họ thường khuất phục trước ảo cảm, ảo tưởng hay ảo lực. Tôi sẽ nói thẳng, vì Tôi đã kiểm chứng sự chân thành của các bạn và tin rằng các bạn sẵn lòng nghe sự thật. Khi mỗi người đã xác định được bản chất cụ thể của vấn đề đặc thù của mình, các bạn có thể thận trọng làm việc để giải quyết nó—một cách thận trọng, Huynh Đệ của Ngày Xưa, không vội vàng, mà với sự cẩn trọng, dè dặt thích đáng và sự thấu hiểu đúng đắn.

Thirdly, you must remember that as I look at the individual in any of these groups, I can at the same time gauge the quality of the group itself as a whole. The amount of inner light that can shine through and make its presence felt in your auras can be seen by me and indicate to me the strength and the efficiency and also the potency of your individual group influence, for the positive auras subordinate the negative auras. What is required is a combination of positive auras, deliberately subordinated to group work. [29] As you deal with illusion and as you free your minds from its effects, and as you dissipate the astral glamour in which you are all more or less immersed, you will enter into a greater freedom of living and usefulness. As the maya of distorted energy currents ceases to swing you into lines of undesirable activity, the light that is in you will shine forth with greater clarity. Incidentally the Dweller on the Threshold will slowly and surely disintegrate and leave your way, to the door of Initiation, free and unimpeded.

Thứ ba, các bạn phải nhớ rằng khi nhìn vào một cá nhân trong bất kỳ nhóm nào trong số này, Tôi đồng thời có thể đánh giá phẩm tính của toàn thể nhóm ấy. Tôi có thể nhìn thấy lượng ánh sáng bên trong có thể chiếu xuyên qua và khiến người ta cảm nhận được sự hiện diện của nó trong hào quang các bạn; điều đó cho Tôi biết sức mạnh, hiệu quả và sức tác động của ảnh hưởng mà từng người đem lại cho nhóm, vì những hào quang dương tính đặt những hào quang âm tính dưới ảnh hưởng của mình. Điều cần có là sự kết hợp của các hào quang dương tính, chủ động đặt dưới sự chi phối của công việc nhóm. [29] Khi các bạn xử lý ảo tưởng và giải phóng thể trí khỏi những tác động của nó, cũng như làm tiêu tan ảo cảm cảm dục mà tất cả các bạn ít nhiều đều đắm chìm trong đó, các bạn sẽ đạt được tự do lớn hơn trong đời sống và trở nên hữu ích hơn. Khi ảo lực của những dòng năng lượng méo lệch không còn đẩy các bạn vào những đường hướng hoạt động không mong muốn, ánh sáng bên trong các bạn sẽ tỏa ra rõ ràng hơn. Đồng thời, Kẻ Chận Ngõ sẽ từ từ nhưng chắc chắn tan rã, để con đường của các bạn đến cửa Điểm Đạo được thông thoáng, không còn chướng ngại.

[Webinar 75] – [Webinar 75]

Strongly mental types are subject to illusion. This illusion is in reality a condition wherein the aspirant is being definitely controlled by:

Những kiểu người thiên mạnh về trí tuệ chịu ảnh hưởng của ảo tưởng. Thực ra, ảo tưởng này là một tình trạng trong đó người chí nguyện chịu sự kiểm soát rõ rệt của:

1. A thoughtform of such potency that it does two things:

1. Một hình tư tưởng mạnh đến mức thực hiện hai việc:

a. Controls the life activity or output.

a. Kiểm soát hoạt động hoặc những gì biểu hiện ra trong đời sống.

b. Tunes the aspirant in on the mass thoughtforms, which are of a similar nature, and which are built by others under the dominance of a similar illusion.

b. Khiến người chí nguyện hòa nhịp với những hình tư tưởng của quần chúng có bản chất tương tự, do những người khác xây dựng dưới sự chi phối của một ảo tưởng tương tự.

This, in its worst aspect, produces mental insanity or idée fixe, but in its least dangerous and normal result produces the fanatic. The fanatic is usually—even if he realises it not—a bewildered man, who has a potent idea of some kind or another, but who finds it quite impossible to integrate it into the world picture; to make those needed, and often divinely directed, compromises which profoundly help humanity; to find the time or place for the realities which are within his natural grasp.

Ở phương diện tệ hại nhất, điều này gây ra chứng loạn trí hoặc ý tưởng cố định, còn trong kết quả thông thường và ít nguy hiểm nhất, nó tạo nên người cuồng tín. Người cuồng tín thường là—dù y không nhận ra—một người hoang mang, có một ý tưởng mạnh mẽ nào đó nhưng hoàn toàn không thể tích hợp nó vào bức tranh thế giới; không thể thực hiện những sự dung hòa cần thiết, thường do sự hướng dẫn thiêng liêng, vốn giúp ích sâu sắc cho nhân loại; không thể tìm ra thời gian hoặc vị trí dành cho những thực tại vốn nằm trong khả năng nắm bắt tự nhiên của y.

2. When a man is highly developed, the mental illusion is built around a definite intuition and this intuition is concretised by the mind until its appearance is so real that the man believes he sees so clearly that which should be done or given to the world that he spends his time endeavouring [30] in a fanatical manner to make others see it too. Thus his life slips away on the wings of illusion and his incarnation is a relatively profitless one. In a few rare cases, this combination of intuition and mental activity produces the genius in some field or another; but then there is no illusion, but clear thinking, coupled with a trained equipment in that particular field or enterprise.

2. Khi một người phát triển cao, ảo tưởng trí tuệ được xây dựng quanh một trực giác rõ rệt, và thể trí cụ thể hóa trực giác ấy đến mức biểu hiện của nó trở nên chân thực đến nỗi y tin rằng mình nhìn thấy hết sức rõ ràng điều cần làm hoặc cần trao cho thế giới, nên y dành thời gian cố gắng [30] một cách cuồng tín để khiến những người khác cũng nhìn thấy điều ấy. Như vậy, đời sống của y trôi qua trên đôi cánh của ảo tưởng, và kiếp nhập thể của y tương đối ít mang lại lợi ích. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, sự kết hợp giữa trực giác và hoạt động trí tuệ này tạo nên thiên tài trong một lĩnh vực nào đó; nhưng khi ấy không có ảo tưởng, mà là tư duy sáng rõ kết hợp với một bộ máy đã được rèn luyện trong lĩnh vực hoặc công việc cụ thể đó.

3. The weaker and more average mental types of people succumb to the general field of illusion and of mass illusion. The mental plane manifests a different sort of distortion to that of the astral plane or the etheric. The faculty of discrimination which is being developed has produced sharper lines of demarcation, and instead of the dense fogs and mists of the astral plane or the swirling tides and currents of energy of the etheric plane, we have on the mental plane masses of sharply indicated thoughtforms of a particular quality and note and tone, around which are grouped lesser thoughtforms, created by those who respond to these forms, and to their note, quality and tone. Similarities are then seen to exist which constitute channels or avenues for the magnetic drawing power of the more potent thoughtforms. Ancient theologies in modern garb, fixed presentations of half truth, the wild thinking of various world groups, and many similar emanating sources have—down the ages—produced the world of illusion and those mental states which have held humanity prisoner to wrong concepts and thoughts. So many are these thought producing illusions that the effect in the world today has been to cause a general division of the human race into varying schools of thought (philosophy, science, religion, sociology, etc., etc.), into many parties and groups, all of them coloured by an analogous idea, into groups of idealists fighting each other on behalf of their pet concepts, and into tens [31] of thousands of participants in group mental activity. These are today producing the world literature, through which the world platforms are coloured; by their means the world leaders are inspired; and they are responsible at this time for the mass of experiments in the field of government, of education, and of religion which are producing so much of the world unrest, and consequently so much of the world illusion.

3. Những kiểu người có trí tuệ yếu hơn và ở mức trung bình hơn khuất phục trước trường ảo tưởng nói chung và ảo tưởng quần chúng. Cõi trí biểu hiện một loại méo lệch khác với cõi cảm dục hoặc cõi dĩ thái. Năng lực phân biện đang phát triển đã tạo nên những đường phân định sắc nét hơn; thay vì những lớp sương mù dày đặc của cõi cảm dục hoặc những đợt triều và dòng năng lượng cuộn xoáy của cõi dĩ thái, trên cõi trí chúng ta có những khối hình tư tưởng hiện rõ nét, mang một phẩm tính, âm điệu và sắc thái riêng; quanh chúng tập hợp những hình tư tưởng nhỏ hơn, do những người đáp ứng với các hình tướng ấy cùng âm điệu, phẩm tính và sắc thái của chúng tạo ra. Khi ấy, người ta nhận thấy những điểm tương đồng tạo nên các kênh hoặc đường dẫn cho sức hút từ tính của những hình tư tưởng mạnh hơn. Những hệ thống thần học cổ xưa trong lớp áo hiện đại, những cách trình bày cố định về chân lý không trọn vẹn, lối tư duy thiếu kiềm chế của các nhóm khác nhau trên thế giới và nhiều nguồn phát xạ tương tự đã—qua các thời đại—tạo nên thế giới ảo tưởng cùng những trạng thái trí tuệ giam cầm nhân loại trong các quan niệm và tư tưởng sai lầm. Những ảo tưởng sản sinh tư tưởng này nhiều đến mức tác động của chúng trong thế giới ngày nay là gây ra sự phân chia chung của nhân loại thành các trường phái tư tưởng khác nhau (triết học, khoa học, tôn giáo, xã hội học, v.v., v.v.), thành nhiều đảng phái và nhóm, tất cả đều nhuốm màu một ý tưởng tương đồng, thành những nhóm người theo lý tưởng tranh đấu với nhau để bảo vệ các quan niệm tâm đắc của mình, và thành hàng chục [31] nghìn người tham gia hoạt động trí tuệ nhóm. Ngày nay, những người này đang tạo nên nền văn chương thế giới, qua đó các cương lĩnh trên thế giới mang sắc thái riêng; thông qua họ, các nhà lãnh đạo thế giới nhận được cảm hứng; và vào lúc này, họ chịu trách nhiệm về vô số thử nghiệm trong lĩnh vực chính quyền, giáo dục và tôn giáo, vốn đang gây ra rất nhiều bất ổn trên thế giới, và do đó cũng gây ra rất nhiều ảo tưởng thế giới.

What is needed therefore at this time, are thinkers who are training themselves in that mental attitude and one-pointedness which is divorced from the danger of a negative receptivity and is responsive, at the same time, to the higher intuitional inspiration. It is mediating interpreters of ideas that are needed and not mediums.

Vì vậy, lúc này cần những nhà tư tưởng đang tự rèn luyện thái độ trí tuệ và sự nhất tâm, tách khỏi nguy cơ tiếp nhận thụ động, đồng thời đáp ứng với cảm hứng trực giác cao hơn. Điều cần có là những người diễn giải ý tưởng giữ vai trò trung gian, chứ không phải các đồng tử.

[Webinar 76] – [Webinar 76]

The emotional types respond with facility to world glamour and to their own individual inherited and self-induced glamour. The bulk of the people are purely emotional with occasional flashes of real mental understanding—very occasional, my brother, and usually entirely absent. Glamour has been likened to a mist or fog in which the aspirant wanders and which distorts all that he sees and contacts, preventing him from ever seeing life truly or clearly or the conditions surrounding him as they essentially are. When he is a somewhat advanced aspirant, he is aware of the glamour and occasionally sees in a flash in what direction truth for him may lie. But then again the glamour settles down upon him and he is rendered powerless to release himself or to do anything constructive. His problem becomes further complicated by his consequent distress and his deep disgust with himself. He walks ever in a fog and sees naught as it truly exists. He is deceived by the appearance and forgets that which the appearance veils. The emanatory astral reactions which each human [32] being initiates ever surround him and through this mist and fog he looks out upon a distorted world. These reactions and the surrounding aura which they constitute blend and merge with the world glamour and fog and form part of the miasmas and unhealthy emanations for which the masses of men, for millions of years, are responsible.

Những kiểu người thiên về cảm xúc dễ dàng đáp ứng với ảo cảm thế giới và với ảo cảm cá nhân của mình, cả phần được thừa hưởng lẫn phần tự gây ra. Phần đông con người thuần túy thiên về cảm xúc, chỉ thỉnh thoảng mới lóe lên sự thấu hiểu trí tuệ thực sự—rất hiếm hoi, huynh đệ của tôi, và thường hoàn toàn không có. Ảo cảm được ví như màn sương hay lớp sương mù mà người chí nguyện lang thang trong đó; nó làm méo lệch mọi điều y nhìn thấy và tiếp xúc, ngăn y nhìn đời sống một cách chân thực, rõ ràng, hoặc nhìn những điều kiện chung quanh đúng như bản chất của chúng. Khi người chí nguyện đã tiến bộ phần nào, y nhận biết ảo cảm và đôi lúc thoáng thấy chân lý dành cho mình có thể nằm ở hướng nào. Nhưng rồi ảo cảm lại phủ xuống y, khiến y bất lực, không thể tự giải thoát hoặc làm bất cứ điều gì có tính xây dựng. Nỗi khổ tâm phát sinh từ đó cùng sự chán ghét sâu sắc đối với chính mình khiến vấn đề của y thêm phức tạp. Y luôn đi trong sương mù và không nhìn thấy điều gì đúng như nó thực sự tồn tại. Y bị vẻ ngoài đánh lừa và quên điều mà vẻ ngoài che khuất. Những phản ứng cảm dục phát xạ mà mỗi con [32] người khởi phát luôn bao quanh y, và qua màn sương mù ấy, y nhìn ra một thế giới méo lệch. Những phản ứng này cùng hào quang bao quanh do chúng tạo thành hòa lẫn và hợp nhất với ảo cảm và sương mù thế giới, trở thành một phần của những chướng khí và phát xạ không lành mạnh mà quần chúng nhân loại đã tạo ra suốt hàng triệu năm.

I would point out to you that, in Lemurian days, glamour and illusion were relatively unknown from the human standpoint. There were no mental reactions and but little emotional response to environment. Men were largely instinctual animals. Glamour began to be found in Atlantean days, and since that time has steadily precipitated, until today when the Hierarchy looks at humanity it appears to be walking in a deep and constantly changing density of currents which hide and distort, and which swirl around the sons of men and prevent their seeing the LIGHT as it is. This is all the more obvious when it is remembered that the other kingdoms of nature are relatively free from glamour and illusion. In our race, the Aryan, the world illusion is gathering weight and slowly emerging into recognition in the human consciousness and this is a real point gained, for that which is recognised can then be intelligently handled, if the will to do so exists. Today illusion is so potent, that few people whose minds are in any way developed but are controlled by these vast illusory thoughtforms, which have their roots and draw their life from the lower personality life and desire nature of the masses of men. It is interesting to remember also in connection with our Aryan race that these thoughtforms draw their vitality also from the realm of ideas, but of ideas wrongly intuited and grasped and forced to serve the selfish purposes of men. Their forms have been brought into activity by the steadily growing creative power of mankind, and have been subordinated to the wishes of men, through the [33] use of language with its power to limit and distort. The illusion is also precipitated more potently than would otherwise be the case by the effort of many devoted idealistic men to impose these distorted thoughtforms upon the mental bodies of the masses. This constitutes one of the major problems with which the Hierarchy today has to concern itself; it is also one of the first factors which a Master has to consider in connection with any aspirant and disciple.

Tôi muốn chỉ ra cho các bạn rằng, vào thời Lemuria, xét từ quan điểm con người, ảo cảm và ảo tưởng tương đối chưa được biết đến. Không có những phản ứng trí tuệ và chỉ có rất ít đáp ứng cảm xúc với môi trường. Phần lớn con người là những động vật sống theo bản năng. Ảo cảm bắt đầu xuất hiện vào thời Atlantis và từ đó liên tục ngưng tụ, cho đến ngày nay, khi Thánh đoàn nhìn nhân loại, nhân loại dường như đang bước đi trong một lớp dòng chảy dày đặc và không ngừng biến đổi, che khuất và làm méo lệch, cuộn xoáy quanh những người con của nhân loại và ngăn họ nhìn thấy ÁNH SÁNG đúng như nó vốn có. Điều này càng rõ ràng hơn khi nhớ rằng các giới khác trong thiên nhiên tương đối tự do khỏi ảo cảm và ảo tưởng. Trong giống dân của chúng ta, giống dân Arya, ảo tưởng thế giới đang ngày càng nặng nề và dần dần được nhận biết trong tâm thức con người; đây là một thành quả thực sự, vì điều đã được nhận biết thì có thể được xử lý một cách thông minh, nếu có ý chí làm như vậy. Ngày nay, ảo tưởng mạnh đến mức rất ít người có thể trí đã phát triển ở bất kỳ mức độ nào lại không chịu sự kiểm soát của những hình tư tưởng hư ảo khổng lồ này; chúng bắt rễ và rút sự sống từ đời sống phàm ngã thấp kém cùng bản chất dục vọng của quần chúng nhân loại. Liên quan đến giống dân Arya của chúng ta, cũng đáng lưu ý rằng những hình tư tưởng này còn rút sinh lực từ cõi ý tưởng, nhưng đó là những ý tưởng được trực giác nhận biết và nắm bắt một cách sai lạc, rồi bị ép phục vụ các mục đích ích kỷ của con người. Quyền năng sáng tạo không ngừng tăng trưởng của nhân loại đã đưa các hình tướng ấy vào hoạt động và đặt chúng dưới sự chi phối của những mong muốn của con người, qua [33] việc sử dụng ngôn ngữ với khả năng giới hạn và làm méo lệch của nó. Nỗ lực của nhiều người theo lý tưởng đầy tận tụy nhằm áp đặt những hình tư tưởng méo lệch này lên thể trí của quần chúng cũng khiến ảo tưởng ngưng tụ mạnh hơn mức vốn có. Đây là một trong những vấn đề lớn mà Thánh đoàn ngày nay phải quan tâm; đó cũng là một trong những yếu tố đầu tiên mà một Chân sư phải cân nhắc đối với bất kỳ người chí nguyện hay đệ tử nào.

Glamour, as we have seen, is of more ancient standing and of earlier emergence than is illusion. It has little in it of the mental quality and is the major factor controlling the majority. The objective of all training given on the Path of Discipleship and up to the third initiation is to induce that clear thinking which will render the disciple free from illusion and give to him that emotional stability and poise which gives no room for the entrance of any of the world glamour. This freedom becomes possible when there is in the aspirant no personal glamour, and no deliberately self-induced response to the determining factors which have produced glamour down the ages. With these factors we will later deal.

Như chúng ta đã thấy, ảo cảm có nguồn gốc lâu đời hơn và xuất hiện sớm hơn ảo tưởng. Nó chứa rất ít phẩm tính trí tuệ và là yếu tố chủ yếu kiểm soát phần đông con người. Mục tiêu của mọi sự huấn luyện trên Con Đường Đệ Tử và cho đến lần điểm đạo thứ ba là tạo nên tư duy sáng rõ giúp người đệ tử thoát khỏi ảo tưởng, đồng thời đem lại cho y sự ổn định và quân bình cảm xúc, không để bất kỳ ảo cảm thế giới nào xâm nhập. Sự tự do này trở nên khả thi khi người chí nguyện không còn ảo cảm cá nhân và không còn cố ý tự tạo ra sự đáp ứng với những yếu tố quyết định đã gây ra ảo cảm qua các thời đại. Chúng ta sẽ bàn đến những yếu tố này sau.

Maya is the result of both glamour and illusion. It connotes, when present, an integrated personality and therefore the capacity to tune in on mental illusion and astral glamour. Where this condition is found, the problem of the disciple is one of the greatest in the world. What constitutes the prime difficulty of any disciple is the fact that the battleground of his life involves every aspect of his nature. The whole man is involved. Technically, the word MAYA should only be used in two cases:

Ảo lực là kết quả của cả ảo cảm lẫn ảo tưởng. Khi hiện diện, nó hàm ý một phàm ngã tích hợp và do đó có khả năng hòa nhịp với ảo tưởng trí tuệ và ảo cảm cảm dục. Khi có tình trạng này, vấn đề của người đệ tử thuộc vào hàng lớn nhất trên thế giới. Khó khăn hàng đầu của bất kỳ đệ tử nào là chiến trường đời sống của y bao gồm mọi phương diện trong bản chất của y. Toàn bộ con người đều tham dự. Theo nghĩa chuyên môn, từ ẢO LỰC chỉ nên dùng trong hai trường hợp:

1. In reference to the united glamour-illusion to which a man who is an integrated personality responds. [34]

1. Khi nói đến ảo cảm–ảo tưởng kết hợp mà một người có phàm ngã tích hợp đáp ứng. [34]

2. In speaking of the limitations of the planetary Logos of our planet.

2. Khi nói đến những giới hạn của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh chúng ta.

In the above remarks I have given you much food for thought—not only as regards your own personal problems (for all of you are subject to these conditions), but I have also indicated to you what is the nature of glamour. The word is used in all esoteric books and teaching to cover the conditions which are differentiated under the words maya, illusion and glamour itself. Later I will give you some teaching upon the causes of glamour and the methods of its dissipation. But I have given you here enough for the present, for it is my desire that you ponder upon these ideas during the next few months and learn somewhat of the significance of these words which you so lightly use. Watch yourselves and your daily life with discrimination, so that you learn to distinguish between glamour, illusion and maya. See whether you can discover the form which your individual Dweller upon the Threshold is likely to assume as you come into conflict with it; and if you do the same for your group brothers and the immediate world need, you will lose no time in the work of your astral clarification and mental release.

Trong những nhận xét trên, Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm—không chỉ về các vấn đề cá nhân của chính các bạn (vì tất cả các bạn đều chịu ảnh hưởng của những tình trạng này), mà Tôi cũng đã chỉ cho các bạn bản chất của ảo cảm là gì. Từ này được dùng trong mọi sách và giáo huấn nội môn để bao quát những tình trạng được phân biệt bằng các từ ảo lực, ảo tưởng và chính ảo cảm. Sau này, Tôi sẽ đưa ra một số giáo huấn về những nguyên nhân của ảo cảm và các phương pháp làm tiêu tan nó. Nhưng hiện tại, những điều Tôi đã trao ở đây là đủ, vì Tôi mong các bạn suy ngẫm về những ý tưởng này trong vài tháng tới và học được phần nào thâm nghĩa của những từ mà các bạn dùng quá dễ dãi. Hãy quan sát chính mình và đời sống hằng ngày với sự phân biện, để học cách phân biệt ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực. Hãy xem các bạn có thể khám phá hình tướng mà Kẻ Chận Ngõ riêng của mình có khả năng mang lấy khi các bạn đối đầu với nó hay không; và nếu các bạn cũng làm như vậy cho các huynh đệ trong nhóm cùng nhu cầu trước mắt của thế giới, các bạn sẽ không mất thời gian trong công việc làm sáng tỏ đời sống cảm dục và giải phóng trí tuệ.

I would ask you to study these instructions with peculiar care, for I am taking the time and trouble these busy days to meet your need and to bring as much light as I can, without infringing your free will, to meet your need and clear your course to service.

Tôi muốn các bạn nghiên cứu những huấn thị này đặc biệt cẩn trọng, vì trong những ngày bận rộn này, Tôi đang dành thời gian và công sức để đáp ứng nhu cầu của các bạn và đem đến nhiều ánh sáng nhất có thể mà không xâm phạm ý chí tự do của các bạn, nhằm đáp ứng nhu cầu ấy và khai thông con đường phụng sự của các bạn.

I would suggest also that you find out all that you can anent the much misunderstood subject of the aura: search out what is said in my books and in the writings extant in any good occult library. I seek no copying out of paragraphs but a formulation of your knowledge so that you [35] can answer clearly questions which might be asked. The following three questions are basic:

Tôi cũng đề nghị các bạn tìm hiểu mọi điều có thể về chủ đề thường bị hiểu sai là hào quang: hãy tìm những gì đã được nói đến trong các sách của Tôi và trong những tác phẩm hiện có tại bất kỳ thư viện huyền bí học tốt nào. Tôi không muốn các bạn chép lại các đoạn văn, mà muốn các bạn hệ thống hóa tri thức của mình để [35] có thể trả lời rõ ràng những câu hỏi có thể được đặt ra. Ba câu hỏi sau đây là căn bản:

1. What is the aura and how does it come into existence?

1. Hào quang là gì và hình thành như thế nào?

2. How can the aura be made the medium of light, and the light which should shine through it be intensified?

2. Làm thế nào để hào quang trở thành trung gian của ánh sáng, và làm thế nào để tăng cường ánh sáng cần chiếu xuyên qua nó?

3. Have you noticed what is the effect which your own individual aura is making upon your environment and how can you improve that effect?

3. Các bạn đã nhận thấy hào quang cá nhân của mình đang tác động như thế nào lên môi trường chung quanh, và làm thế nào để cải thiện tác động ấy?

This will enable you to make practical application of that which I seek to teach you. Forget not that as you look out upon the world and your immediate environment, that you look out through your aura and have, therefore, to deal with glamour and illusion.

Điều này sẽ giúp các bạn áp dụng vào thực tiễn những gì Tôi muốn dạy. Đừng quên rằng khi nhìn ra thế giới và môi trường ngay chung quanh, các bạn nhìn qua hào quang của mình, và vì vậy phải xử lý ảo cảm và ảo tưởng.

There are three further questions which you might put to yourself, facing the issue in the light of your soul:

Có thêm ba câu hỏi mà các bạn có thể tự đặt ra, khi đối diện với vấn đề trong ánh sáng của linh hồn mình:

1. Do I suffer primarily from glamour or from illusion?

1. Tôi chủ yếu chịu ảnh hưởng của ảo cảm hay ảo tưởng?

2. Do I know which quality or characteristic in my nature facilitates my tuning in on the world glamour or the world illusion?

2. Tôi có biết phẩm tính hoặc đặc tính nào trong bản chất của mình khiến tôi dễ hòa nhịp với ảo cảm thế giới hay ảo tưởng thế giới không?

3. Have I reached the point where I can recognise my peculiar Dweller on the Threshold, and can I state what form it takes?

3. Tôi đã đạt đến mức có thể nhận biết Kẻ Chận Ngõ đặc thù của mình chưa, và tôi có thể nói rõ nó mang hình tướng nào không?

That you may indeed as individuals and also as a group learn the meaning of true self-knowledge and so learn to stand in spiritual being, increasingly free from glamour and illusion, is the prayer of your friend and brother who has fought his way through to a greater measure of light...

Mong các bạn thực sự học được ý nghĩa của sự tự hiểu biết chân chính, cả với tư cách cá nhân lẫn với tư cách một nhóm, và nhờ đó học cách an trụ trong sự hiện tồn tinh thần, ngày càng tự do khỏi ảo cảm và ảo tưởng: đó là lời cầu nguyện của người bạn và huynh đệ của các bạn, người đã chiến đấu để tiến đến một mức độ ánh sáng lớn hơn...

[36] During the past six months, four members of this group of students have been fighting glamour in their own individual lives, and for the most part successfully. I make reference to this because in an experimental group such as this, it is well to anticipate such a situation; such wrestling will naturally occur, because only that which is experimentally known becomes a true content of the equipment of the disciple. Earlier I referred to the fact that part of the plan of the Hierarchy embraces the starting of small groups such as this one which would have the definite objective of providing the active means whereby the world glamour—today so potent and deep—can be dissipated.

[36] Trong sáu tháng qua, bốn thành viên của nhóm đạo sinh này đã chiến đấu với ảo cảm trong đời sống riêng của mình và phần lớn đều thành công. Tôi nhắc đến điều này vì trong một nhóm thử nghiệm như thế này, nên dự liệu một tình trạng như vậy; cuộc vật lộn ấy sẽ tự nhiên diễn ra, vì chỉ những gì được biết qua thực nghiệm mới thực sự trở thành một phần trong bộ máy của người đệ tử. Trước đây, Tôi đã đề cập đến việc một phần Thiên Cơ của Thánh đoàn bao gồm việc khởi lập những nhóm nhỏ như nhóm này, với mục tiêu rõ rệt là cung cấp phương tiện hoạt động để làm tiêu tan ảo cảm thế giới—ngày nay hết sức mạnh mẽ và sâu đậm.

The time has not yet come for dealing with the world illusion on a large scale, for the race is not adequately mental nor has the illusion (which is, as I have stated, pre-eminently the result of the misinterpretation of ideas) reached its height. But the hour has struck for the first steps to be taken in the dissipation of glamour, and the hold of glamour upon the race should be appreciably lessened in the future. Hence the practical training now being given in this group in their own lives; hence also the intended teaching later to be given to the group—if they measure up to the opportunity—which will enable them to aid in the concerted and planned attack upon the world glamour. Wrestle therefore with your personal problems along these lines, my brothers, for in this way you will gain facility in discernment, in clear precise action, and in strengthened understanding.

Chưa đến lúc xử lý ảo tưởng thế giới trên quy mô lớn, vì nhân loại chưa phát triển trí tuệ đầy đủ, và ảo tưởng (như Tôi đã nói, chủ yếu là kết quả của việc diễn giải sai các ý tưởng) cũng chưa đạt đến đỉnh điểm. Nhưng giờ đã điểm để thực hiện những bước đầu tiên trong việc làm tiêu tan ảo cảm, và trong tương lai, sức khống chế của ảo cảm đối với nhân loại cần giảm đi đáng kể. Vì vậy, nhóm này hiện đang được huấn luyện thực tiễn ngay trong đời sống của từng người; và cũng vì vậy, sau này nhóm sẽ nhận được giáo huấn dự định—nếu họ đáp ứng được cơ hội—giúp họ tham gia cuộc tấn công phối hợp và có kế hoạch nhằm vào ảo cảm thế giới. Vì vậy, các huynh đệ của Tôi, hãy vật lộn với những vấn đề cá nhân theo các đường hướng này, vì bằng cách ấy, các bạn sẽ trở nên thành thạo hơn trong phân biện tinh thần, trong hành động sáng rõ, chính xác và trong sự thấu hiểu được củng cố.

In the process of dissipating glamour, the way of the greatest potency is to realise the necessity to act purely as a channel for the energy of the soul. If the disciple can make right alignment and consequent contact with his soul, the results show as increased light. This light pours down and irradiates not only the mind, but the brain consciousness [37] as well. He sees the situation more clearly: he realises the facts of the case as against his “vain imaginings”; and so the “light shines upon his way.” He is not yet able to see truly in the larger sweeps of consciousness; the group glamour and, of course, the world glamour remain to him as yet a binding and bewildering mystery, but his own immediate way begins to clear, and he stands relatively free from the fog of his ancient and distorting emotional miasmas. Alignment, contact with his soul, and then steadfastness, are the keynotes to success.

Trong tiến trình làm tiêu tan ảo cảm, cách thức mạnh mẽ nhất là nhận ra sự cần thiết phải hành động thuần túy như một kênh dẫn năng lượng linh hồn. Nếu người đệ tử có thể chỉnh hợp đúng đắn và nhờ đó tiếp xúc với linh hồn mình, kết quả sẽ biểu hiện thành ánh sáng gia tăng. Ánh sáng này tuôn xuống và chiếu sáng không chỉ thể trí mà cả tâm thức bộ não [37] nữa. Y nhìn tình hình rõ ràng hơn: y nhận biết những sự thật của vấn đề, đối lập với các “tưởng tượng hão huyền” của mình; và như vậy, “ánh sáng soi chiếu con đường của y”. Y chưa thể nhìn chân thực trong những phạm vi tâm thức rộng lớn hơn; ảo cảm nhóm và, dĩ nhiên, ảo cảm thế giới vẫn còn là một điều bí ẩn trói buộc và gây hoang mang đối với y, nhưng con đường ngay trước mắt y bắt đầu sáng tỏ, và y tương đối tự do khỏi lớp sương mù của những chướng khí cảm xúc lâu đời gây méo lệch. Chỉnh hợp, tiếp xúc với linh hồn, rồi kiên định là những chủ âm dẫn đến thành công.

It will therefore be apparent to you that small groups such as this, if established in different countries and cities and if successful in their personal activities, could play a most useful part. Such groups would have two aspects to their endeavour. They would have to wrestle with group glamour which creeps inevitably into group life through the instrumentality of the group members. Their united personal glamours provide the open door through which group glamour can enter. An instance of this can be seen in this group, when glamour entered in through the medium of L.T.S-K., and swept I.B.S. into its vortex of force. It was overcome, fortunately, leaving you all the richer and more united on account of the strong stand in love taken by the other group members. May I remind L.T.S-K. and I.B.S. of their deep indebtedness to the love of their brothers. The group love protected them. I.B.S. has gone a long way in freeing herself from certain aspects of glamour. L.T.S-K. is also freer than he was, but still has much to do. It is always difficult for the third ray person to cultivate the intuition. The apparently profound wisdom of the manipulative and devious science of the intelligence inherent in matter prevents oft the entrance of the true wisdom of the illumined mind. Six months ago I felt that it was probably impossible for L.T.S-K. to free himself [38] from the glamour in which he habitually walked. Today a little more light shines upon his way and he may, if he frees himself still further from his self-generated thoughtforms, make the needed grade.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những nhóm nhỏ như thế này, nếu được thành lập tại các quốc gia và thành phố khác nhau và thành công trong những hoạt động cá nhân, có thể đóng một vai trò hết sức hữu ích. Nỗ lực của những nhóm ấy sẽ có hai phương diện. Họ sẽ phải vật lộn với ảo cảm nhóm vốn không tránh khỏi len vào đời sống nhóm qua các thành viên. Những ảo cảm cá nhân kết hợp của họ tạo nên cánh cửa mở để ảo cảm nhóm có thể xâm nhập. Có thể thấy một ví dụ ngay trong nhóm này, khi ảo cảm xâm nhập qua L.T.S-K. và cuốn I.B.S. vào xoáy mãnh lực của nó. May thay, ảo cảm ấy đã được khắc phục, khiến tất cả các bạn phong phú hơn và đoàn kết hơn nhờ lập trường vững vàng trong tình thương của những thành viên khác. Tôi xin nhắc L.T.S-K. và I.B.S. về món nợ sâu sắc đối với tình thương của các huynh đệ mình. Tình thương của nhóm đã bảo vệ họ. I.B.S. đã tiến một đoạn đường dài trong việc giải thoát mình khỏi một số phương diện của ảo cảm. L.T.S-K. cũng tự do hơn trước, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Việc vun bồi trực giác luôn khó khăn đối với người cung ba. Minh triết có vẻ sâu sắc của khoa học trí thông minh vốn có trong vật chất, với tính thao túng và quanh co, thường ngăn minh triết chân chính của thể trí được soi sáng đi vào. Sáu tháng trước, Tôi cảm thấy có lẽ L.T.S-K. không thể tự giải thoát [38] khỏi ảo cảm mà y thường xuyên sống trong đó. Ngày nay, thêm một chút ánh sáng đang soi chiếu con đường của y, và nếu tự giải thoát hơn nữa khỏi những hình tư tưởng do mình tạo ra, y có thể đạt mức cần thiết.

When group glamour has been somewhat dissipated and the group can walk in the “lighted Way” with freedom, then will come the time when the group can be trained in group alignment, group contact and group steadfastness. It can then begin the definite and scientific task of attacking the world glamour. It is of interest in this particular group to be reminded that this is part of the activity now being undertaken by certain people in the New Group of World Servers. Through the emphasis in the world of certain basic ideas such as goodwill and mutual inter-dependence, much is being done to dissipate the glamour in which the people of the world are walking. It is not the function of every server to form part of the massed attack upon the world glamour which is now getting under way. Everyone has to deal with glamour in his own personal life, but functions and activities differ. Yours is the work of the trained observers, and that training takes much time. At present, many of you do not recognise glamour when it meets you, and envelops you. It is only by its effects that you eventually know it for what it is. The time must come when your processes of observation are so keen that you will recognise it in its true nature before it immerses and engulfs you and produces those conditions which enable you to say later: “Why did I allow myself to be glamoured? Why was I so deluded?”

Khi ảo cảm nhóm đã phần nào tiêu tan và nhóm có thể tự do bước đi trên “Con Đường được Soi Sáng”, thì sẽ đến lúc nhóm có thể được huấn luyện về sự chỉnh hợp nhóm, sự tiếp xúc nhóm và sự kiên định của nhóm. Khi ấy, nhóm có thể bắt đầu nhiệm vụ cụ thể và khoa học là tấn công ảo cảm thế giới. Đối với nhóm cụ thể này, điều đáng quan tâm là được nhắc nhớ rằng đây là một phần hoạt động mà một số người trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hiện đang thực hiện. Thông qua việc nhấn mạnh trên thế giới một số ý tưởng căn bản như thiện chí và sự phụ thuộc lẫn nhau, nhiều việc đang được thực hiện để làm tiêu tan ảo cảm mà người dân trên thế giới đang bước đi trong đó. Không phải mọi người phụng sự đều có chức năng tham gia cuộc tấn công tập trung vào ảo cảm thế giới hiện đang bắt đầu. Mỗi người đều phải xử lý ảo cảm trong đời sống cá nhân của mình, nhưng các chức năng và hoạt động khác nhau. Công việc của các bạn là công việc của Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, và việc huấn luyện ấy đòi hỏi nhiều thời gian. Hiện nay, nhiều người trong các bạn không nhận ra ảo cảm khi nó đến và bao phủ các bạn. Chỉ qua những tác động của nó, cuối cùng các bạn mới biết nó thực sự là gì. Phải đến lúc khả năng quan sát của các bạn sắc bén đến mức các bạn nhận ra bản chất đích thực của nó trước khi nó nhấn chìm, nuốt chửng các bạn và tạo ra những tình trạng khiến về sau các bạn phải nói: “Tại sao tôi lại để mình rơi vào ảo cảm? Tại sao tôi lại bị mê lầm đến thế?”

At this point I desire to do two things: I seek to outline a little more carefully this discussion or short treatise on glamour, so that our ideas may be clearly formulated and you will have a textbook for future reference which [39] will serve to guide your group and analogous groups in the way of right activity. Secondly, I wish to recapitulate somewhat those things which I have already stated so as to enrich your understanding of the various phases of the world glamour. This world glamour, the analytical mind has to differentiate into distinctive phases, calling them Illusion, Glamour, Maya and that synthetic thoughtform, found on the Path of Discipleship, which is called by some schools of esotericism the Dweller on the Threshold.

Đến đây, Tôi muốn làm hai việc: Tôi tìm cách phác thảo kỹ lưỡng hơn đôi chút cuộc thảo luận hay khảo luận ngắn này về ảo cảm, để các ý tưởng của chúng ta có thể được trình bày rõ ràng và các bạn có một giáo trình để tham khảo về sau, [39] giúp hướng dẫn nhóm của các bạn cùng những nhóm tương tự theo hướng hoạt động đúng đắn. Thứ hai, Tôi muốn tóm lược phần nào những điều Tôi đã trình bày, nhằm làm phong phú sự thấu hiểu của các bạn về những khía cạnh khác nhau của ảo cảm thế giới. Thể trí phân tích phải phân biệt ảo cảm thế giới này thành những khía cạnh riêng biệt, gọi chúng là Ảo tưởng, Ảo cảm, Ảo lực và hình tư tưởng tổng hợp xuất hiện trên Con Đường Đệ Tử, mà một số trường phái huyền bí học gọi là Kẻ Chận Ngõ.

As you will see from this, my brothers, we have set ourselves a large theme, which must be very carefully handled. My task is a difficult one, because I write for those who are still held by the varying aspects of glamour, and usually by the secondary glamour and maya. Illusion does not yet fully play its part and the Dweller is seldom adequately realised. I would here remind you of a stupendous occult fact and will ask you to endeavour to understand that whereof I speak. The Dweller on the Threshold does not emerge out of the fog of illusion and of glamour until the disciple is nearing the Gates of Life. Only when he can catch dim glimpses of the Portal of Initiation and an occasional flash of light from the Angel of the Presence Who stands waiting beside that door, can he come to grips with the principle of duality, which is embodied for him in the Dweller and the Angel. Do you comprehend that whereof I speak? As yet, my words embody for you symbolically a future condition and event. The day will surely come, however, when you will stand in full awareness between these symbols of the pairs of opposites, with the Angel on the right and the Dweller on the left. May strength then be given to you to drive straight forward between these two opponents, who have for long ages waged warfare in the field of your life, and so may you [40] enter into that Presence where the two are seen as one, and naught is known but life and deity.

Các huynh đệ của Tôi, như các bạn sẽ thấy từ những điều này, chúng ta đã đặt ra cho mình một chủ đề lớn, cần được xử lý hết sức cẩn trọng. Nhiệm vụ của Tôi là một nhiệm vụ khó khăn, vì Tôi viết cho những người vẫn còn chịu sự ràng buộc của các phương diện khác nhau của ảo cảm, và thường là của ảo cảm thứ yếu cùng ảo lực. Ảo tưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò của nó, còn Kẻ Chận Ngõ hiếm khi được nhận biết một cách đầy đủ. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn về một sự thật huyền bí vô cùng lớn lao và đề nghị các bạn cố gắng thấu hiểu điều Tôi đang nói. Kẻ Chận Ngõ không hiện ra khỏi màn sương ảo tưởng và ảo cảm cho đến khi đệ tử tiến gần đến các Cổng Sự Sống. Chỉ khi y có thể thoáng thấy lờ mờ Cổng Điểm Đạo và đôi lúc thấy một tia sáng lóe lên từ Thiên Thần của Hiện Diện, Đấng đứng chờ bên cánh cửa ấy, y mới có thể trực diện với nguyên khí nhị nguyên, mà đối với y, Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần là hiện thân. Các bạn có lĩnh hội điều Tôi đang nói không? Hiện giờ, đối với các bạn, những lời của Tôi mới chỉ biểu đạt bằng biểu tượng một tình trạng và sự kiện trong tương lai. Tuy nhiên, chắc chắn sẽ đến ngày các bạn đứng với sự nhận biết trọn vẹn giữa những biểu tượng này của các cặp đối cực, với Thiên Thần bên phải và Kẻ Chận Ngõ bên trái. Cầu mong khi ấy các bạn được ban sức mạnh để tiến thẳng về phía trước giữa hai đối thủ này, những kẻ từ bao thời đại đã giao chiến trên chiến trường đời sống của các bạn, và nhờ đó các bạn có thể [40] bước vào Hiện Diện ấy, nơi hai được thấy là một, và không còn biết gì ngoài sự sống và Thượng đế.

In summarising some of the information I have given to you concerning the four aspects of glamour, I would offer the following tabulation for your careful consideration.

Để tóm lược một số thông tin Tôi đã cung cấp cho các bạn về bốn phương diện của ảo cảm, Tôi xin đưa ra bảng sau đây để các bạn cân nhắc kỹ lưỡng.

Note:

Lưu ý:

1. A dawning sense of maya arose in Lemurian days, but there was no real glamour and illusion.

1. Một cảm nhận sơ khởi về ảo lực đã xuất hiện vào thời Lemuria, nhưng chưa có ảo cảm và ảo tưởng thực sự.

2. Glamour arose in early Atlantean times.

2. Ảo cảm xuất hiện vào đầu thời Atlantis.

3. Illusion arose among advanced human beings in later Atlantean days and will be a controlling factor in our Aryan race.

3. Ảo tưởng xuất hiện ở những con người tiến bộ vào cuối thời Atlantis và sẽ là một yếu tố chi phối trong giống dân Arya của chúng ta.

4. The Dweller on the Threshold arrives at full potency at the end of this race, the Aryan, and in the lives of all initiates prior to taking the third initiation.

4. Kẻ Chận Ngõ đạt đến toàn bộ sức mạnh vào cuối giống dân này, giống dân Arya, và trong đời sống của mọi điểm đạo đồ trước khi trải qua lần điểm đạo thứ ba.

5. The subhuman kingdoms in nature are free from glamour and illusion, but are immersed in the world maya.

5. Các giới dưới nhân loại trong tự nhiên không chịu ảo cảm và ảo tưởng, nhưng chìm trong ảo lực thế giới.

6. The Buddha and His 900 arhats struck the first blow at the world glamour when He promulgated His Four Noble Truths. The Christ struck the second blow with His teaching of the nature of individual responsibility and of brotherhood. The next blow will be struck by the New Group of World Servers, acting under the direction of Christ and His disciples, symbolically described as “Christ and His 9000 initiates.”

6. Đức Phật và 900 vị A la hán của Ngài đã giáng đòn đầu tiên vào ảo cảm thế giới khi Ngài công bố Tứ Diệu Đế. Đức Christ giáng đòn thứ hai bằng giáo huấn của Ngài về bản chất của trách nhiệm cá nhân và tình huynh đệ. Đòn tiếp theo sẽ do Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian giáng xuống, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Đức Christ và các đệ tử của Ngài, được mô tả bằng biểu tượng là “Đức Christ và 9000 điểm đạo đồ của Ngài”.

7. The Four Keynotes to the solution of the problem of glamour are:

7. Bốn Chủ Âm để giải quyết vấn đề ảo cảm là:

Intuition... Illumination... Inspiration... The Angel of the Presence.

Trực giác... Soi sáng... Cảm hứng... Thiên Thần của Hiện Diện.

[41] THE ASPECTS OF GLAMOUR

[41] CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA ẢO CẢM

Name

Tên gọi

Plane

Cõi

Opposite

Đối cực

Objective

Mục tiêu

Battleground

Chiến trường

Technique

Kỹ thuật

Illusion

Ảo tưởng

Mental

Trí tuệ

Intuition Spritual Perception

Trực giác Tri giác tinh thần

Dispelling

Xua tan

Path of Initiation World of Ideas

Con Đường Điểm Đạo Thế giới Ý tưởng

Contemplation by soul

Sự chiêm ngưỡng của linh hồn

Glamour

Ảo cảm

Astral

Cảm dục

Illumination Lucidity Vision

Soi sáng Sự sáng suốt Tầm nhìn

Dissipation

Làm tiêu tan

Path of Discipleship

Con Đường Đệ Tử

Meditation Holding mind steady in the light

Tham thiền Giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng

Maya

Ảo lực

Etheric

Dĩ thái

Inspiration

Cảm hứng

Devitalisation

Rút sinh lực

Path of Probation Purification

Con Đường Dự Bị Thanh lọc

Occultism. Force manipulation

Huyền bí học. Điều khiển mãnh lực

Dweller on the Threshold

Kẻ Chận Ngõ

Physical Brain Consciousness

Tâm thức của bộ não hồng trần

Angel of the Presence

Thiên Thần của Hiện Diện

Discrimination

Phân biện

Integrated personality

Phàm ngã tích hợp

At-one-ment End of duality

Sự hợp nhất Chấm dứt nhị nguyên

[42] I would call your attention to the fact that the whole problem concerns itself with the use or misuse of force or energy, and that much will clear up in your minds if you will realise three things:

[42] Tôi muốn các bạn chú ý đến sự thật rằng toàn bộ vấn đề liên quan đến việc sử dụng đúng hoặc sai mãnh lực hay năng lượng, và nhiều điều sẽ sáng tỏ trong thể trí của các bạn nếu các bạn nhận ra ba điều:

1. That average man, in everyday life, and the aspirant upon the Path of Probation or Purification, works with the forces of life on the three planes of human endeavour, plus the principle of life itself.

1. Người bình thường trong đời sống hằng ngày, và người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị hay Thanh Lọc, làm việc với các mãnh lực của sự sống trên ba cõi hoạt động của con người, cùng với chính nguyên khí sự sống.

2. That the disciple begins to discriminate between the forces and energy. Upon the Path of Discipleship he begins to work with soul-energy. This eventually dominates the forces.

2. Đệ tử bắt đầu phân biện giữa các mãnh lực và năng lượng. Trên Con Đường Đệ Tử, y bắt đầu làm việc với năng lượng linh hồn. Cuối cùng, năng lượng này chi phối các mãnh lực.

3. That the initiate works, upon the Path of Initiation, with energy and learns to distinguish between the energy of life, the energies of the soul, and the forces of the phenomenal world.

3. Trên Con Đường Điểm Đạo, điểm đạo đồ làm việc với năng lượng và học cách phân biệt giữa năng lượng của sự sống, các năng lượng của linh hồn và các mãnh lực của thế giới hiện tượng.

Another point also should be emphasised here and that is that the nature of these forces and energies, and their use and control have always to be realised and worked out in full consciousness upon the physical plane. Theory must become fact, and the battles which take place on the subtler levels of the astral and mental planes must be realised in the brain consciousness. It is there that the application is made. As these realisations and inner activities become practical parts of the disciple’s life and their consequences become clear to his perception in waking consciousness, they form in time part of his quality equipment. He is in reality integrating and synthesising experience in the three worlds and becoming a Master through conscious mastering. He grasps the fact that all that appears and all that happens is due to the circulation and constant mutation of force. He discovers then how these forces interplay in his own experiences [43] and nature, and grasps then the fundamental fact that only those forces which he himself can use and master in his own life as an individual can be employed by him in group activity and be used in the dispelling of the world glamour. It might be expressed in illustration thus:

Ở đây cũng cần nhấn mạnh một điểm khác: bản chất của các mãnh lực và năng lượng này, cùng việc sử dụng và kiểm soát chúng, luôn phải được nhận biết và thực hiện với tâm thức trọn vẹn trên cõi hồng trần. Lý thuyết phải trở thành sự thật, và những trận chiến diễn ra trên các cấp độ vi tế hơn của cõi cảm dục và cõi trí phải được nhận biết trong tâm thức bộ não. Chính tại đó việc ứng dụng diễn ra. Khi những nhận biết và hoạt động bên trong này trở thành những phần thực tiễn trong đời sống của đệ tử, và y thấy rõ những hệ quả của chúng trong tâm thức tỉnh thức, theo thời gian chúng trở thành một phần hành trang phẩm tính của y. Thực ra, y đang tích hợp và tổng hợp kinh nghiệm trong ba cõi giới và trở thành một Chân sư thông qua sự làm chủ có ý thức. Y nắm bắt sự thật rằng mọi điều xuất hiện và mọi việc xảy ra đều do sự lưu chuyển và biến đổi không ngừng của mãnh lực. Khi ấy, y khám phá cách các mãnh lực này tương tác trong những trải nghiệm [43] và bản chất của chính mình, rồi nắm bắt sự thật căn bản rằng chỉ những mãnh lực mà chính y có thể sử dụng và làm chủ trong đời sống cá nhân mới có thể được y vận dụng trong hoạt động nhóm và dùng để xua tan ảo cảm thế giới. Có thể minh họa điều này như sau:

1. Through alignment and subsequent contact, the intuition is evoked, awakened and used. This is the great dispelling agency, and pours down from the plane of the intuition (the plane of buddhi) through the soul and the brain to the heart of the disciple.

1. Thông qua sự chỉnh hợp và sự tiếp xúc tiếp theo, trực giác được gợi lên, đánh thức và sử dụng. Đây là tác nhân xua tan vĩ đại, tuôn xuống từ cõi trực giác (cõi Bồ đề), qua linh hồn và bộ não đến trái tim của đệ tử.

2. Through alignment and subsequent contact, the energy of the soul is evoked, awakened and used. This is the great dissipating agency, and pours down from soul levels (the higher levels of the mental plane) through the mind to the brain of the disciple carrying illumination to the astral plane.

2. Thông qua sự chỉnh hợp và sự tiếp xúc tiếp theo, năng lượng linh hồn được gợi lên, đánh thức và sử dụng. Đây là tác nhân làm tiêu tan vĩ đại, tuôn xuống từ các cấp độ linh hồn (những cấp độ cao hơn của cõi trí), qua thể trí đến bộ não của đệ tử, mang sự soi sáng đến cõi cảm dục.

3. These two types of spiritual energy work differently upon the forces of the personality, and their purpose and activity have to be realised in the brain consciousness of the disciple as he works upon the physical plane.

3. Hai loại năng lượng tinh thần này tác động khác nhau lên các mãnh lực của phàm ngã, và đệ tử phải nhận biết mục đích cùng hoạt động của chúng trong tâm thức bộ não khi y làm việc trên cõi hồng trần.

4. Then and only then can the light of the intuition and the light of the soul return to the astral plane through the conscious effort and the dynamic intelligent will of the serving disciple.

4. Khi ấy và chỉ khi ấy, ánh sáng trực giác và ánh sáng linh hồn mới có thể trở lại cõi cảm dục thông qua nỗ lực có ý thức và ý chí năng động, thông minh của đệ tử đang phụng sự.

Ponder on these points for they outline your way and your service....

Hãy suy ngẫm những điểm này, vì chúng phác thảo con đường và việc phụng sự của các bạn....

I have organised somewhat our ideas and outlined the plan under which we would approach this theme. I gave you certain basic concepts and a skeleton outline of the subject as a whole. (See the Table of Contents.) Today we will begin with our real discussion. As you know, it is not [44] my intention to write a long and ponderous thesis on this subject. The books which will be compiled from the instructions offered to these groups of disciples, will not be heavy treatises as are those on Cosmic Fire and White Magic. They will constitute a series of relatively short volumes, and must therefore be packed with information, and not discursive in style.

Tôi đã phần nào sắp xếp các ý tưởng của chúng ta và phác thảo kế hoạch để chúng ta tiếp cận chủ đề này. Tôi đã đưa ra cho các bạn một số khái niệm căn bản và một dàn ý sơ lược về toàn bộ chủ đề. (Xem Mục lục.) Hôm nay, chúng ta sẽ bắt đầu cuộc thảo luận thực sự. Như các bạn biết, [44] Tôi không có ý định viết một luận thuyết dài dòng và nặng nề về chủ đề này. Những cuốn sách được biên soạn từ các huấn thị dành cho các nhóm đệ tử này sẽ không phải là những khảo luận nặng nề như các khảo luận về Lửa Vũ Trụ và Chánh Thuật. Chúng sẽ tạo thành một bộ gồm những tập tương đối ngắn, vì vậy phải chứa đựng thông tin cô đọng, chứ không có lối trình bày lan man.

Above everything else, my brothers, these instructions must be of a definitely practical value and must leave the student with the realisation that he understands better the subtle world of thought currents and of forces in which he dwells; and that he knows better the means he must employ and the technique he must follow if he is to clear his path from darkness and confusion and follow on to light and harmony. Our study must be comparative also, and the reader must bear in mind that he will not be able to distinguish the truth or isolate that aspect of the teaching which is for him of paramount importance unless he applies that which is helpful, and ascertains clearly whether he is the victim of illusion or of glamour. In the last analysis, he must know where he stands before he can take his next needed step forward. The disciple is the victim and, let us hope, the dissipator of both glamour and illusion, and hence the complexity of his problem and the subtlety of his difficulties. He must bear in mind also (for his strengthening and cheer) that every bit of glamour dissipated and every illusion recognised and overcome “clears the way” for those who follow after, and makes easier the path of his fellow disciples. This is par excellence, the Great Service, and it is to this aspect of it that I call your attention. Hence my attempts in these instructions to clarify this issue.

Các huynh đệ của Tôi, trên hết, những huấn thị này phải có giá trị thực tiễn rõ rệt và phải giúp đạo sinh nhận ra rằng y thấu hiểu hơn thế giới vi tế của các dòng tư tưởng và mãnh lực mà y đang sống trong đó; và rằng y biết rõ hơn những phương tiện phải sử dụng cùng kỹ thuật phải tuân theo nếu muốn dọn sạch bóng tối và sự rối ren khỏi con đường của mình để tiếp tục tiến đến ánh sáng và sự hài hòa. Việc nghiên cứu của chúng ta cũng phải mang tính so sánh, và người đọc phải ghi nhớ rằng y sẽ không thể phân biệt chân lý hay tách riêng phương diện giáo huấn có tầm quan trọng cao nhất đối với mình, trừ khi y áp dụng những gì hữu ích và xác định rõ mình là nạn nhân của ảo tưởng hay ảo cảm. Xét đến cùng, y phải biết mình đang ở đâu trước khi có thể tiến bước tiếp theo cần thiết. Đệ tử là nạn nhân và, chúng ta hãy hy vọng, cũng là người làm tiêu tan cả ảo cảm lẫn ảo tưởng; vì thế, vấn đề của y phức tạp và những khó khăn của y vi tế. Y cũng phải ghi nhớ (để thêm sức mạnh và niềm vui) rằng mỗi phần ảo cảm được làm tiêu tan và mỗi ảo tưởng được nhận ra và vượt qua đều “dọn đường” cho những người theo sau, và làm cho con đường của các đệ tử đồng môn dễ đi hơn. Đây chính là việc Phụng Sự Vĩ Đại theo nghĩa cao nhất, và Tôi muốn các bạn chú ý đến phương diện này của nó. Vì vậy, trong những huấn thị này, Tôi cố gắng làm sáng tỏ vấn đề ấy.

One of the problems which confronts the aspirant is the problem of duly recognising glamour when it arises, and of being aware of the glamours which beset his path and the [45] illusions which build a wall between him and the light. It is much that you have recognised that glamour and illusion exist. The majority of people are unaware of their presence. Many good people today see this not; they deify their glamours and regard their illusions as their prized and hard won possessions.

Một trong những vấn đề mà người chí nguyện phải đối diện là nhận ra đúng mức ảo cảm khi nó xuất hiện, và nhận biết những ảo cảm vây bủa con đường của mình cùng những [45] ảo tưởng dựng nên bức tường giữa y và ánh sáng. Việc các bạn đã nhận ra rằng ảo cảm và ảo tưởng tồn tại là một bước tiến đáng kể. Phần lớn mọi người không nhận biết sự hiện diện của chúng. Ngày nay, nhiều người tốt không thấy điều này; họ thần thánh hóa những ảo cảm của mình và xem những ảo tưởng của mình là các tài sản quý giá mà họ khó nhọc mới giành được.

The very recognition, in its turn however, carries with it its own problems, so unable is the average disciple to free himself from the glamour-making faculties developed in the past, and so hard does he find it to preserve a due proportion and a proper sense of values in regard to the truths of the mental plane. A hard won truth and a principle of reality can be grasped, and then around it the disciple can build the easily formed illusions of the mind which is just beginning to find itself. The glamours of an emotional nature can emerge and gather about the ideal, for that is as yet unclarified and is prone to attract to itself that which—emotionally and sensitively—it believes itself to be and have.

Tuy nhiên, đến lượt nó, chính sự nhận biết ấy lại mang theo những vấn đề riêng, vì đệ tử bình thường rất khó tự giải thoát khỏi các khả năng tạo ảo cảm đã phát triển trong quá khứ, và rất khó giữ được sự cân đối đúng mức cùng ý thức đúng đắn về các giá trị đối với những chân lý của cõi trí. Y có thể nắm bắt một chân lý khó nhọc mới đạt được và một nguyên khí của thực tại, rồi quanh đó xây dựng những ảo tưởng dễ hình thành của thể trí vừa mới bắt đầu khám phá chính mình. Những ảo cảm có bản chất cảm xúc có thể xuất hiện và tụ quanh lý tưởng, vì lý tưởng ấy vẫn chưa sáng tỏ và có xu hướng thu hút về mình những gì mà—về mặt cảm xúc và cảm nhận—nó tin rằng mình là và có.

Let us illustrate my point from two angles, both of which are entirely in the realm of discipleship, or encountered upon the Path of Probation. We will call them the “illusion of power” and the “glamour of authority.” This form of words will show you that one is to be encountered upon the astral plane and the other upon the mental.

Chúng ta hãy minh họa ý của Tôi từ hai góc độ, cả hai đều hoàn toàn thuộc phạm vi địa vị đệ tử hoặc được gặp trên Con Đường Dự Bị. Chúng ta sẽ gọi chúng là “ảo tưởng về quyền năng” và “ảo cảm về uy quyền”. Cách dùng từ này sẽ cho các bạn thấy rằng một điều được gặp trên cõi cảm dục và điều kia trên cõi trí.

The Glamour of Authority is a mass glamour in most cases. It has its roots in mass psychology and is one of the indications that humanity is at the nursery stage as yet, wherein men are safeguarded from themselves by the imposition of some rule, some set of laws, some authoritative dictum, emanating from state control, from the rule of an oligarchy, or from the dictatorship of some individual. It reduces mankind, as far as one can judge, to set forms and standardises men’s activities, regimenting their lives [46] and work. It is imposed and ordered through catering to the fear complex, rampant in humanity at this time; and this fear is one of the most fruitful sources of glamour which we have. We might perhaps and with reason regard it as the seed of all glamour upon our planet. Fear has been the incentive to those conditions which have brought about the glamour of the astral plane, though not the illusions of the mental levels of consciousness.

Ảo cảm về Uy quyền trong phần lớn trường hợp là một ảo cảm quần chúng. Nó bắt nguồn từ tâm lý quần chúng và là một trong những dấu hiệu cho thấy nhân loại vẫn còn ở giai đoạn ấu thơ, khi con người được bảo vệ khỏi chính mình bằng việc áp đặt một quy luật, một bộ luật hay một tuyên ngôn có uy quyền nào đó, xuất phát từ sự kiểm soát của nhà nước, từ sự cai trị của một tập đoàn thiểu số hay từ chế độ độc tài của một cá nhân. Theo những gì có thể nhận định, nó đưa nhân loại vào những khuôn mẫu cố định và chuẩn hóa các hoạt động của con người, đặt đời sống [46] và công việc của họ vào khuôn phép cứng nhắc. Nó được áp đặt và thiết lập bằng cách chiều theo phức cảm sợ hãi đang lan tràn trong nhân loại hiện nay; và nỗi sợ này là một trong những nguồn sinh ra nhiều ảo cảm nhất mà chúng ta có. Có lẽ chúng ta có lý do để xem nó là hạt giống của mọi ảo cảm trên hành tinh chúng ta. Sợ hãi đã thúc đẩy những tình trạng tạo ra ảo cảm của cõi cảm dục, dù không tạo ra những ảo tưởng của các cấp độ tâm thức trí tuệ.

When the glamour of authority transfers itself into the spiritual consciousness of man, we have such a state of affairs as the period of the Inquisition in its worst forms, of Church authority, with the emphasis upon organisation, government and penalties, or the unquestioned rule of some teacher. In its highest forms we have the recognition of the right of the solar Angel, of the soul or ego, to rule. Between these two extremes, which express the infancy of the race and the freedom which comes when mankind achieves its majority and the freedom of the soul, lie all the many types and kinds of intermediate reactions. In illustration of our point, and thus emphasising the glamour aspect as it affects the disciple and the problem which he faces, what do we find? The disciple has freed himself somewhat from the imposed control of an orthodox teaching and from the rule of a teacher. He stands (as far as he can tell) free from such control. Knowing however his essential weakness and the lure of the personality, he is on guard against himself, and against the ancient rules of control and learns steadily to stand on his own feet, to come to his own decisions, to distinguish truth for himself. He learns to choose his way. But, like all persons who have not taken some of the higher initiations, he can (in due time) become enamoured of his freedom, and automatically then swing into the glamour of his ideal of freedom,—an ideal which he has created. He becomes the prisoner of freedom. He rejects all rule except [47] that which he calls the “rule of his own soul,” forgetting that his contact with his soul is still intermittent. He demands the right to stand alone. He revels in his new found freedom. He forgets that, having given up the authority of a teaching and of a teacher, he has to learn to accept the authority of the soul and of the group of souls with which he is affiliated through his karma, his ray type, his choice, and the inevitability of the effects of the at-one-ment. Having relinquished the guidance of another person upon the Path, and having his eyes partially opened, he now seeks to tread that Path to the goal, forgetting however that he treads the Path in unison with others, and that there are certain “Rules of the Road” which he must master, and which he must master in unison with others. He has exchanged the individual law for the group law, but does not yet know that group law as it should be known. He marches on as best he can alone, glorying in the freedom from authority which he has succeeded in achieving. He promises himself that he will brook no authority or guidance.

Khi ảo cảm về uy quyền chuyển vào tâm thức tinh thần của con người, chúng ta có những tình trạng như thời kỳ Tòa án Dị giáo trong các hình thức tồi tệ nhất của nó, uy quyền của Giáo hội với sự nhấn mạnh vào tổ chức, cai quản và hình phạt, hoặc sự cai trị không bị chất vấn của một huấn sư nào đó. Trong những hình thức cao nhất, chúng ta có sự thừa nhận quyền cai quản của Thái dương Thiên Thần, của linh hồn hay chân ngã. Giữa hai thái cực này, vốn biểu đạt thời thơ ấu của nhân loại và sự tự do có được khi nhân loại đạt đến tuổi trưởng thành cùng sự tự do của linh hồn, là vô số loại phản ứng trung gian. Để minh họa luận điểm của chúng ta, qua đó nhấn mạnh phương diện ảo cảm trong tác động của nó lên đệ tử và vấn đề y phải đối diện, chúng ta thấy gì? Đệ tử đã phần nào tự giải thoát khỏi sự kiểm soát áp đặt của một giáo huấn chính thống và khỏi sự cai quản của một huấn sư. Y đứng đó (trong chừng mực y có thể nhận định), tự do khỏi sự kiểm soát ấy. Tuy nhiên, biết sự yếu đuối căn bản của mình và sức quyến rũ của phàm ngã, y cảnh giác với chính mình và với những quy luật kiểm soát xưa cũ, đồng thời không ngừng học cách tự đứng vững, tự quyết định và tự phân biệt chân lý. Y học cách lựa chọn con đường của mình. Nhưng, như mọi người chưa trải qua một số cuộc điểm đạo cao hơn, y có thể (vào lúc thích hợp) trở nên mê đắm sự tự do của mình, rồi tự động chuyển sang ảo cảm về lý tưởng tự do của chính mình,—một lý tưởng do y tạo ra. Y trở thành tù nhân của tự do. Y khước từ mọi sự cai quản ngoại trừ [47] điều y gọi là “sự cai quản của linh hồn mình”, quên rằng sự tiếp xúc của y với linh hồn vẫn còn gián đoạn. Y đòi quyền đứng một mình. Y say sưa với sự tự do vừa tìm thấy. Y quên rằng, sau khi từ bỏ uy quyền của một giáo huấn và một huấn sư, y phải học cách chấp nhận uy quyền của linh hồn và của nhóm linh hồn mà y liên kết thông qua nghiệp quả, loại cung, sự lựa chọn của mình và tính tất yếu của những tác động do sự hợp nhất mang lại. Sau khi từ bỏ sự hướng dẫn của một người khác trên Đường Đạo, và với đôi mắt đã phần nào mở ra, giờ đây y tìm cách bước trên Đường Đạo ấy đến mục tiêu, nhưng lại quên rằng y bước trên Đường Đạo trong sự đồng hành với những người khác, và rằng có một số “Quy Luật của Đường Đạo” mà y phải nắm vững, và phải nắm vững cùng với những người khác. Y đã đổi định luật cá nhân lấy định luật nhóm, nhưng chưa biết định luật nhóm ấy đúng như cần phải biết. Y tiếp tục tiến bước một mình hết sức có thể, tự hào về sự tự do khỏi uy quyền mà y đã đạt được. Y tự hứa sẽ không dung chịu bất kỳ uy quyền hay sự hướng dẫn nào.

Those of us who are considering him and looking on at him from the clearer heights of attainment see him gradually becoming obscured by wisps of fog and by a glamour which is gradually growing up around him as he becomes a “prisoner of the fog of freedom” and revels in what he deems the fact of his independence. When his sight has cleared, and when his mental aspect is more developed and unfolded, he will know that the Law of the Group must, and will, impose itself upon him, and that the rule of the lower nature has only to be exchanged for the rule of the soul. This is group rule and works under the law of the group. He has struggled out of the mass of seekers of the Road on to the Road itself. He is, therefore, ahead of the masses but he is not alone, even if he thinks that he is. He will discover many others who are travelling the same way with [48] him, and their numbers will steadily increase as he progresses. The rule of interplay, of travel, and of group recognition and work and service will impose themselves upon him until he finds that he is a member of the New Group of World Servers, working under the conditions which are the rules governing their activities. As he learns to travel with them upon the Road, their governing incentives and the techniques of their chosen service will penetrate his consciousness, and automatically and naturally he will begin to obey the higher rhythm and give his assent to the laws which control group life and group consciousness. Finally, he will find himself entering into the silent places where the Masters of the Wisdom dwell, and will work in group rhythm with Them, obeying thus the laws of the spiritual realm, which are the subjective laws of God.

Những người trong chúng ta đang xem xét và quan sát y từ những tầm cao sáng tỏ hơn của sự thành tựu thấy y dần bị che khuất bởi những làn sương và một ảo cảm đang lớn dần quanh y, khi y trở thành “tù nhân của màn sương tự do” và say sưa với điều y cho là sự độc lập thực sự của mình. Khi tầm nhìn của y trở nên sáng rõ và phương diện trí tuệ phát triển, khai mở hơn, y sẽ biết rằng Định luật của Nhóm phải, và sẽ, chi phối y, và rằng chỉ cần thay sự cai quản của bản chất thấp bằng sự cai quản của linh hồn. Đây là sự cai quản của nhóm và vận hành theo định luật của nhóm. Y đã nỗ lực thoát khỏi đám đông những người tìm kiếm Đường Đạo để bước lên chính Đường Đạo. Vì vậy, y đi trước quần chúng, nhưng không đơn độc, dù y nghĩ mình như thế. Y sẽ khám phá nhiều người khác đang đi cùng con đường với [48] mình, và số lượng của họ sẽ không ngừng tăng khi y tiến bước. Những quy luật về sự tương tác, hành trình, sự nhận biết nhóm, công việc và phụng sự nhóm sẽ chi phối y cho đến khi y nhận ra mình là một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, làm việc trong những điều kiện vốn là các quy luật chi phối hoạt động của họ. Khi y học cách cùng họ đi trên Đường Đạo, những động lực chi phối họ và các kỹ thuật phụng sự mà họ đã lựa chọn sẽ thấm vào tâm thức y; một cách tự động và tự nhiên, y sẽ bắt đầu tuân theo nhịp điệu cao hơn và chấp thuận những định luật kiểm soát đời sống nhóm cùng tâm thức nhóm. Cuối cùng, y sẽ thấy mình bước vào những nơi tĩnh lặng mà các Chân sư Minh Triết cư ngụ, và sẽ làm việc trong nhịp điệu nhóm với Các Ngài, qua đó tuân theo những định luật của lĩnh vực tinh thần, vốn là những định luật chủ quan của Thượng đế.

Time and again, along the Road, he will revolt from control and will fall back into the glamour of his supposed freedom. There is freedom from the control of the personality. There is freedom from the control of personalities. But there is never any freedom from the Law of Service, and from the constant interplay between man and man, and soul and soul. To stand really free is to stand in the clear unimpeded light of the soul, which is basically and intrinsically group consciousness.

Hết lần này đến lần khác trên Đường Đạo, y sẽ nổi loạn chống lại sự kiểm soát và lại rơi vào ảo cảm về sự tự do mà y tưởng mình có. Có sự tự do khỏi sự kiểm soát của phàm ngã. Có sự tự do khỏi sự kiểm soát của các phàm ngã. Nhưng không bao giờ có sự tự do khỏi Định luật Phụng sự và khỏi sự tương tác không ngừng giữa người với người, linh hồn với linh hồn. Thực sự đứng trong tự do là đứng trong ánh sáng trong trẻo, không bị cản trở của linh hồn, mà về căn bản và thực chất là tâm thức nhóm.

Therefore, when one of you is beset by uncertainty and unrest, desiring and demanding to walk free and that no authority be imposed upon you, see that you are not submitting to the glamour of a desire to be freed from your group impacts, and make sure that you are not seeking—as a sensitive soul—a way of escape. I am using this phrase in the modern psychological sense. Be sure to ask yourself the question: Is your comfort and your peace of mind of such definite importance to yourself and to others that it warrants your sacrificing the group integrity in order to have it? [49] Does your own interior satisfaction provide an adequate excuse for delaying the planned group purpose? For delay it, it certainly will. Whatever you decide will constitute, in its turn, an authoritative decision with all the consequent reactions upon the group....

Vì vậy, khi một người trong các bạn bị sự bất định và bất an vây bủa, mong muốn và đòi hỏi được tự do bước đi mà không có uy quyền nào áp đặt lên mình, hãy xem xét để chắc rằng mình không đang khuất phục trước ảo cảm của ham muốn thoát khỏi những tác động của nhóm, và hãy bảo đảm rằng mình không đang tìm kiếm—với tư cách một linh hồn nhạy cảm—một lối trốn thoát. Tôi dùng cụm từ này theo nghĩa tâm lý học hiện đại. Hãy nhớ tự hỏi: Sự thoải mái và an ổn trong thể trí của mình có thực sự quan trọng đối với bản thân và những người khác đến mức biện minh cho việc hy sinh tính toàn vẹn của nhóm để có được chúng không? [49] Sự thỏa mãn nội tâm của riêng mình có đủ để biện minh cho việc trì hoãn mục đích đã hoạch định của nhóm không? Bởi chắc chắn nó sẽ gây trì hoãn. Bất cứ quyết định nào của các bạn, đến lượt nó, cũng sẽ trở thành một quyết định mang tính uy quyền, với mọi phản ứng hệ quả đối với nhóm....

What is this occult obedience, my brothers, about which we hear so much? Not what many occult groups make it out to be. It is not the control of an external organisation, dedicated to so-called occult work. It is not the imposed conditions of any teacher of any rank. It is not the exchange of the prison of one set of ideas for those of another set with perhaps a larger range or import. A prison is a prison, whether it is a tiny cell or an isolated island of vast extent, from which escape is impossible.

Các huynh đệ của Tôi, sự tuân phục huyền bí mà chúng ta nghe nói rất nhiều là gì? Không phải điều mà nhiều nhóm huyền bí mô tả. Nó không phải là sự kiểm soát của một tổ chức bên ngoài chuyên thực hiện cái gọi là công việc huyền bí. Nó không phải là những điều kiện áp đặt của bất kỳ huấn sư nào, ở bất kỳ cấp bậc nào. Nó không phải là việc đổi nhà tù của một hệ ý tưởng lấy nhà tù của một hệ ý tưởng khác, có lẽ với phạm vi hay tầm quan trọng lớn hơn. Nhà tù vẫn là nhà tù, dù là một phòng giam nhỏ hay một hòn đảo biệt lập rộng lớn mà không thể trốn thoát.

The authority to which we, the teachers on the inner side, respond is twofold in nature, and to it you are just beginning (as units in a group) to respond. To what do you respond?

Uy quyền mà chúng ta, những huấn sư ở phía bên trong, đáp ứng có bản chất nhị phân, và các bạn chỉ mới bắt đầu đáp ứng uy quyền ấy (với tư cách các đơn vị trong một nhóm). Các bạn đáp ứng điều gì?

1. To the slowly emerging realisation of the “light beyond,” using that phrase as a symbol. This light is different in its appeal to the individual. Yet it is ONE LIGHT. But its recognition reveals new laws, new responsibilities, new duties and obligations, and new relations to others. These constitute an authoritative control. None can escape this authority, but can disobey it in time and space and for a temporary period.

1. Sự nhận biết đang dần xuất hiện về “ánh sáng bên kia”, dùng cụm từ này như một biểu tượng. Ánh sáng ấy khác nhau về sức thu hút đối với từng cá nhân. Tuy nhiên, đó là MỘT ÁNH SÁNG DUY NHẤT. Nhưng việc nhận biết nó mặc khải những định luật mới, trách nhiệm mới, bổn phận và nghĩa vụ mới, cùng những mối quan hệ mới với người khác. Những điều này tạo thành một sự kiểm soát mang uy quyền. Không ai có thể thoát khỏi uy quyền này, nhưng có thể không tuân theo nó trong thời gian và không gian, trong một khoảng thời gian tạm thời.

2. To the authority of the Rules of the Road which are imposed upon one as one passes from the Path of Probation on to the Path of Discipleship. Yet it is ONE ROAD. Upon this “narrow, razor-edged path,” one learns to walk with discipline and discretion and [50] with the desirelessness which one experiences in unison with one’s fellow disciples.

2. Uy quyền của Các Quy Luật của Đường Đạo áp dụng cho mỗi người khi chuyển từ Con Đường Dự Bị sang Con Đường Đệ Tử. Tuy nhiên, đó là MỘT ĐƯỜNG ĐẠO DUY NHẤT. Trên “con đường hẹp, sắc như lưỡi dao” này, người ta học cách bước đi với kỷ luật và sự thận trọng, [50] cùng trạng thái không còn dục vọng mà mình trải nghiệm trong sự hòa hợp với các đệ tử đồng môn.

What, briefly and succinctly, are these rules of the Road? Let me give you six of the simplest rules, begging you to remember that they are not authoritatively imposed by an arbitrary Board of Directors, such as a group teacher or teachers (of whom I might, of course, be one) but are the outcome of the conditions to be found upon the Path itself. They carry the warrant of a man’s own soul and are the result of the experience of millions of travellers upon that Path.

Nói ngắn gọn và súc tích, những quy luật này của Đường Đạo là gì? Tôi xin đưa ra cho các bạn sáu quy luật đơn giản nhất, và tha thiết đề nghị các bạn nhớ rằng chúng không phải do một Ban Lãnh Đạo tùy tiện nào áp đặt bằng uy quyền, chẳng hạn một huấn sư hay các huấn sư của nhóm (dĩ nhiên, Tôi có thể là một trong số đó), mà là kết quả của những điều kiện hiện hữu trên chính Đường Đạo. Chúng mang sự xác nhận của chính linh hồn mỗi người và là kết quả từ kinh nghiệm của hàng triệu người đã đi trên Đường Đạo ấy.

I will give you these six rules (even as I gave them to another aspirant Discipleship in the New Age, Vol. I, pp. 583-584.) in ancient and symbolic form, translating them as well as I can from the ancient records, stored in the Hall of Wisdom, and available to all earnest disciples,—such as you.

Tôi sẽ đưa ra cho các bạn sáu quy luật này (cũng như Tôi đã đưa ra cho một người chí nguyện khác Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, tr. 583-584.) dưới hình thức cổ xưa và mang tính biểu tượng, dịch chúng hết khả năng của Tôi từ những ghi chép cổ xưa, lưu giữ trong Phòng Minh triết và dành cho mọi đệ tử thành tâm,—như các bạn.

The Six Rules of the Path

Sáu Quy Luật của Đường Đạo

(Rules of the Road)

(Các Quy Luật của Đường Đạo)

I. The Road is trodden in the full light of day, thrown upon the Path by Those Who know and lead. Naught can then be hidden, and at each turn, a man must face himself.

I. Hành giả bước trên Đường Đạo trong ánh sáng trọn vẹn của ban ngày, do Những Vị hiểu biết và dẫn dắt chiếu rọi lên Đường Đạo. Khi ấy không gì có thể che giấu, và ở mỗi khúc quanh, con người phải đối diện với chính mình.

II. Upon the Road the hidden stands revealed. Each sees and knows the villainy of each. (I can find no other word, my brother, to translate the ancient word which designates the unrevealed stupidity, the vileness and crass ignorance, and the self-interest which are distinguishing characteristics of the average aspirant.) And yet there is, with that great revelation, no turning back, no spurning of [51] each other, and no shakiness upon the Road. The Road goes forward into day.

II. Trên Đường Đạo, những gì ẩn giấu đều hiển lộ. Mỗi người đều thấy và biết sự xấu xa của người khác. (Huynh đệ của tôi, Tôi không tìm được từ nào khác để dịch từ cổ chỉ sự ngu muội chưa bộc lộ, sự đê tiện và vô minh thô thiển, cùng lòng tư lợi vốn là những đặc điểm nổi bật của người chí nguyện thông thường.) Thế nhưng, cùng với sự mặc khải lớn lao ấy, không có sự quay lui, không có sự khinh miệt [51] lẫn nhau, và không có sự chao đảo trên Đường Đạo. Đường Đạo tiến về phía ánh sáng ban ngày.

III. Upon that Road one wanders not alone. There is no rush, no hurry. And yet there is no time to lose. Each Pilgrim, knowing this, presses his footsteps forward, and finds himself surrounded by his fellowmen. Some move ahead; he follows after. Some move behind; he sets the pace. He travels not alone.

III. Trên Đường Đạo hành giả không đi lang thang một mình. Không có gì hấp tấp, hay vội vàng. Thế nhưng cũng không có thời gian bỏ phí. Hiểu được điều này, mỗi khách hành hương dấn bước tiến lên, và thấy quanh mình có các bạn đồng hành. Một số tiến phía trước; y theo sau. Một số đi sau; y dẫn lối. Y không tiến bước một mình.

IV. Three things the Pilgrim must avoid. The wearing of a hood, the veil which hides his face from others; the carrying of a water pot which only holds enough for his own wants; the shouldering of a staff without a crook to hold.

IV. Khách hành hương phải tránh ba điều. Đội mũ trùm đầu, tấm màn che khuôn mặt y khỏi người khác; mang một bình nước chỉ chứa đủ cho nhu cầu riêng của y; vác trên vai một cây gậy không có đầu cong để nắm.

V. Each Pilgrim on the Road must carry with him what he needs: a pot of fire, to warm his fellowmen; a lamp, to cast its rays upon his heart and show his fellowmen the nature of his hidden life; a purse of gold, which he scatters not upon the Road but shares with others; a sealed vase, wherein he carries all his aspiration to cast before the feet of Him Who waits to greet him at the gate—a sealed vase.

V. Mỗi Khách hành hương trên Đường đạo phải mang theo những gì y cần: một bầu lửa, để sưởi ấm các bạn đồng hành; một ngọn đèn với những tia sáng hắt lên trái tim của y và cho các bạn đồng hành thấy bản tính sự sống ẩn tàng nơi mình; một túi vàng, y không vung vãi trên Đường, mà để chia sẻ cho người khác; một chiếc bình niêm kín, trong đó y mang theo toàn cả tâm nguyện của mình để đặt dưới chân Đấng đang chờ chào đón y ở cửa Đạo—một chiếc bình niêm kín.

VI. The Pilgrim, as he walks upon the Road, must have the open ear, the giving hand, the silent tongue, the chastened heart, the golden voice, the rapid foot, and the open eye which sees the light. He knows he travels not alone.

VI. Khi dấn bước trên Đường, Khách hành hương phải có tai nghe tỏ rõ, bàn tay giúp đỡ, chiếc lưỡi im lặng, tâm hồn tự chủ, tiếng nói vàng, chân nhanh nhẹn, mắt rộng mở đón nhận ánh sáng. Y biết mình không độc hành.

The Illusion of Power is perhaps one of the first and most serious tests which comes to an aspirant. It is also one of the best examples of this “great mistake,” and I [52] therefore bring it to your attention as being one against which I beg you most carefully to guard yourself. It is rare indeed for any disciple to escape the effects of this error of illusion for it is, curiously, based upon right success and right motive. Hence the specious nature of the problem. It might be expressed thus:

Ảo tưởng về Quyền năng có lẽ là một trong những thử thách đầu tiên và nghiêm trọng nhất đến với người chí nguyện. Đây cũng là một trong những ví dụ rõ nhất về “sai lầm lớn lao” này, và vì vậy, Tôi [52] lưu ý các bạn về nó như một điều mà Tôi khẩn thiết đề nghị các bạn hết sức cẩn thận đề phòng. Quả thực, hiếm có đệ tử nào thoát khỏi những tác động của sai lầm do ảo tưởng này, vì điều kỳ lạ là nó dựa trên thành công đúng đắn và động cơ đúng đắn. Vì thế, vấn đề này có vẻ ngoài dễ gây lầm lẫn. Có thể diễn đạt như sau:

An aspirant succeeds in contacting his soul or ego through right effort. Through meditation, good intention, and correct technique, plus the desire to serve and to love, he achieves alignment. He becomes then aware of the results of his successful work. His mind is illumined. A sense of power flows through his vehicles. He is, temporarily at least, made aware of the Plan. The need of the world and the capacity of the soul to meet that need flood his consciousness. His dedication, consecration and right purpose enhance the directed inflow of spiritual energy. He knows. He loves. He seeks to serve, and does all three more or less successfully. The result of all this is that he becomes more engrossed with the sense of power, and with the part he is to play in aiding humanity, than he is with the realisation of a due and proper sense of proportion and of spiritual values. He over-estimates his experience and himself. Instead of redoubling his efforts and thus establishing a closer contact with the kingdom of souls and loving all beings more deeply, he begins to call attention to himself, to the mission he is to develop, and to the confidence that the Master and even the planetary Logos apparently have in him. He talks about himself; he gestures and attracts notice, demanding recognition. As he does so, his alignment is steadily impaired; his contact lessens and he joins the ranks of the many who have succumbed to the illusion of sensed power. This form of illusion is becoming increasingly prevalent among disciples and those who have taken the first two initiations. There are today many people in the world who have taken the first [53] initiation in a previous life. At some period in the present life cycle, recurring and recapitulating as it does the events of an earlier development, they again reach a point in their realisation which they earlier reached. The significance of their attainment pours in upon them, and the sense of their responsibility and their knowledge. Again they over-estimate themselves, regarding their missions and themselves as unique among the sons of men, and their esoteric and subjective demand for recognition enters in and spoils what might otherwise have been a fruitful service. Any emphasis upon the personality can distort most easily the pure light of the soul as it seeks to pour through the lower self. Any effort to call attention to the mission or task which the personality has undertaken detracts from that mission and handicaps the man in his task; it leads to the deferring of its fulfilment until such time when the disciple can be naught but a channel through which love can pour, and light can shine. This pouring through and shining forth has to be a spontaneous happening, and contain no self-reference.

Một người chí nguyện thành công trong việc tiếp xúc với linh hồn hay chân ngã của mình nhờ nỗ lực đúng đắn. Qua tham thiền, ý định tốt đẹp và kỹ thuật đúng đắn, cùng với mong muốn phụng sự và yêu thương, y đạt được sự chỉnh hợp. Khi ấy, y nhận biết những kết quả của công việc thành công của mình. Thể trí của y được soi sáng. Một cảm nhận về quyền năng tuôn chảy qua các hiện thể của y. Ít nhất trong một thời gian, y nhận biết Thiên Cơ. Nhu cầu của thế giới và khả năng của linh hồn đáp ứng nhu cầu ấy tràn ngập tâm thức y. Sự tận hiến, thánh hiến và mục đích đúng đắn của y tăng cường dòng năng lượng tinh thần đang tuôn vào theo định hướng. Y biết. Y yêu thương. Y tìm cách phụng sự, và thực hiện cả ba điều ấy ít nhiều thành công. Kết quả của tất cả những điều này là y mải mê với cảm nhận về quyền năng và với vai trò mình sẽ đảm nhận trong việc trợ giúp nhân loại hơn là với việc nhận thức một ý thức về tỉ lệ cân xứng, thích đáng và về các giá trị tinh thần. Y đánh giá quá cao kinh nghiệm của mình và chính mình. Thay vì tăng gấp đôi nỗ lực để thiết lập sự tiếp xúc mật thiết hơn với giới linh hồn và yêu thương mọi sinh linh sâu sắc hơn, y bắt đầu thu hút sự chú ý vào bản thân, vào sứ mệnh y sẽ triển khai, và vào sự tin tưởng mà dường như Chân sư, thậm chí cả Hành Tinh Thượng đế, dành cho y. Y nói về bản thân; y phô diễn và thu hút sự chú ý, đòi hỏi sự công nhận. Khi làm như vậy, sự chỉnh hợp của y ngày càng suy giảm; sự tiếp xúc của y yếu đi, và y gia nhập hàng ngũ đông đảo những người đã khuất phục trước ảo tưởng về quyền năng mà mình cảm nhận. Dạng ảo tưởng này ngày càng phổ biến trong số các đệ tử và những người đã trải qua hai lần điểm đạo đầu tiên. Ngày nay, trên thế giới có nhiều người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất [53] trong một kiếp trước. Vào một thời điểm nào đó trong chu kỳ sống hiện tại, vốn lặp lại và tái diễn những sự kiện của một giai đoạn phát triển trước đây, họ lại đạt đến một mức độ nhận thức mà trước kia họ đã đạt được. Thâm nghĩa của thành tựu ấy tràn ngập họ, cùng với cảm nhận về trách nhiệm và tri thức của mình. Một lần nữa, họ đánh giá quá cao bản thân, xem sứ mệnh của mình và chính mình là độc nhất giữa những người con của nhân loại; rồi sự đòi hỏi công nhận mang tính nội môn và chủ quan của họ xen vào, làm hỏng điều lẽ ra có thể là một sự phụng sự đầy kết quả. Bất kỳ sự nhấn mạnh nào vào phàm nhân cũng có thể dễ dàng làm méo mó ánh sáng thuần khiết của linh hồn khi ánh sáng ấy tìm cách tuôn qua phàm ngã. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm thu hút sự chú ý vào sứ mệnh hay nhiệm vụ mà phàm nhân đã đảm nhận đều làm suy giảm sứ mệnh ấy và cản trở con người trong nhiệm vụ của mình; điều đó khiến việc hoàn thành nhiệm vụ phải trì hoãn cho đến khi người đệ tử chỉ còn là một kênh dẫn để tình thương có thể tuôn chảy và ánh sáng có thể tỏa chiếu. Sự tuôn chảy xuyên qua và tỏa chiếu này phải diễn ra tự nhiên, không có bất kỳ sự quy chiếu nào về bản thân.

These two illustrations of glamour and of illusion will show you not only the subtlety of the problem, but also the urgent need for its recognition. There are today so many manifesting these two qualities of the lower nature.

Hai ví dụ minh họa về ảo cảm và ảo tưởng này sẽ cho các bạn thấy không chỉ tính tinh vi của vấn đề mà còn cả nhu cầu cấp thiết phải nhận ra nó. Ngày nay có rất nhiều người biểu lộ hai phẩm tính này của bản chất thấp.

1. Glamour on the Mental Plane... Illusion – 1. Ảo cảm trên Cõi Trí... Ảo tưởng

In this section of our discussion we shall give less time to the consideration of illusion than we shall to that of glamour, or of maya. Illusion is not met squarely, faced and overcome until a man has:

Trong phần thảo luận này, chúng ta sẽ dành ít thời gian để xem xét ảo tưởng hơn là ảo cảm hay ảo lực. Con người chỉ có thể trực diện gặp gỡ, đối mặt và vượt qua ảo tưởng khi đã:

a. Shifted the focus of his consciousness on to the mental plane.

a. Chuyển trọng tâm tâm thức của mình lên cõi trí.

b. Worked definitely at the task of intelligent service. [54]

b. Dứt khoát thực hiện nhiệm vụ phụng sự một cách thông minh. [54]

c. Made his soul alignment consciously and easily, and firmly established his technique of contact.

c. Thực hiện sự chỉnh hợp với linh hồn một cách có ý thức và dễ dàng, đồng thời thiết lập vững chắc kỹ thuật tiếp xúc của mình.

d. Taken the first initiation.

d. Trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

The word illusion is frequently lightly used to signify lack of knowledge, unsettled opinions, glamour, misunderstandings, psychic bewilderment, the dominance of the lower psychic powers, and many other forms of the world illusion. But the time has come when the word must be used with a developed discriminating sense, and when the disciple must know clearly and comprehend the nature of that phenomenal miasma in which humanity moves. For the purposes of clarity and in order to distinguish more definitely and effectively between the forms of illusion in which the soul moves, and from which it must liberate itself, it will be necessary for us to separate the Great Illusion (in its various aspects) into its component parts in time and space, and this I attempted partially to do when I defined for you the words Maya, Glamour, Illusion, and the Dweller on the Threshold. I want you to keep very clearly in your mind these distinctions, and to study with care the tabulation earlier given you.

Từ ảo tưởng thường được dùng một cách hời hợt để chỉ sự thiếu hiểu biết, những quan điểm chưa ổn định, ảo cảm, những sự hiểu lầm, tình trạng hoang mang thông linh, sự chi phối của các quyền năng thông linh thấp và nhiều dạng khác của ảo tưởng thế gian. Nhưng đã đến lúc phải sử dụng từ này với năng lực phân biện đã phát triển, và người đệ tử phải biết rõ cũng như thấu hiểu bản chất của màn khí độc thuộc thế giới hiện tượng mà nhân loại đang sống trong đó. Để làm sáng tỏ và phân biệt rõ ràng, hiệu quả hơn giữa các dạng ảo tưởng mà linh hồn đang sống trong đó và phải tự giải thoát khỏi chúng, chúng ta cần tách Đại Ảo Tưởng (trong những phương diện khác nhau của nó) thành các bộ phận cấu thành trong thời gian và không gian; Tôi đã phần nào cố gắng làm điều này khi định nghĩa cho các bạn những từ Ảo lực, Ảo cảm, Ảo tưởng và Kẻ Chận Ngõ. Tôi muốn các bạn ghi nhớ thật rõ những sự phân biệt này và nghiên cứu cẩn thận bảng đã cung cấp trước đó.

Illusion, for our purposes, can be understood to signify the reaction of the undisciplined mind to the newly contacted world of ideas. This contact opens up from the moment a man has aligned himself and brought the lower nature into touch with the higher. Ideas come to us from the plane of the intuition. The soul illumines the plane of the mind and the plane of the intuition so that they stand revealed to each other and their mutual relationship becomes then apparent. The mind of the man (which is slowly becoming the centre of his consciousness and the major reality in his existence) becomes aware of this new and undiscovered world of ideas and he seizes upon some idea or group [55] of ideas and endeavours to make them his own. At first, with the majority of people and especially with the average mystical type, the appreciation of ideas is vague and nebulous, and frequently is arrived at from a second-hand angle. The illumination, coming through the medium of the feebly established soul contact, seems to the unaccustomed neophyte to be of a supreme wonder and of vital moment. The ideas contacted appear to him of great marvel, and superbly unusual, and vitally needed by humanity.

Trong phạm vi chúng ta đang xét, có thể hiểu ảo tưởng là phản ứng của thể trí chưa được rèn luyện đối với thế giới ý tưởng vừa tiếp xúc. Sự tiếp xúc này bắt đầu mở ra ngay từ lúc con người chỉnh hợp và đưa bản chất thấp tiếp xúc với bản chất cao. Những ý tưởng đến với chúng ta từ cõi trực giác. Linh hồn soi sáng cõi trí và cõi trực giác để hai cõi hiển lộ với nhau, và khi ấy mối quan hệ qua lại giữa chúng trở nên rõ ràng. Thể trí của con người (đang dần trở thành trung tâm tâm thức và thực tại chủ yếu trong sự hiện tồn của y) nhận biết thế giới ý tưởng mới mẻ và chưa được khám phá này; y nắm lấy một ý tưởng hoặc một nhóm [55] ý tưởng và cố gắng biến chúng thành của mình. Ban đầu, với đa số người, đặc biệt là người thuộc loại hình thần bí thông thường, sự nhận thức về ý tưởng còn mơ hồ, không rõ nét, và thường có được qua một góc nhìn gián tiếp. Đối với người sơ cơ chưa quen thuộc, sự soi sáng đến qua sự tiếp xúc với linh hồn còn yếu ớt dường như là một điều kỳ diệu tột bậc và có tầm quan trọng thiết yếu. Những ý tưởng mà y tiếp xúc có vẻ vô cùng kỳ diệu, hết sức khác thường và cực kỳ cần thiết cho nhân loại.

But the mind is still self-centred, the contact feeble and the alignment uncertain. The ideas are therefore only dimly sensed. But the uniqueness of the experience in the realised content of the mind of the disciple leads him deep into the realm of illusion. The idea, or ideas, which he has contacted are, if he could realise, only a fragment of a far greater Whole. That which he brings to their interpretation is inadequate. The idea which has emerged in his consciousness, through the partial awakening of his intuition, will be distorted in its descent to his brain consciousness in several ways. That which he brings to the materialising of the idea and to its transformation into a practical working scheme is as yet wholly unsuitable. The equipment does not suffice for accuracy. The ways in which this distortion and this stepping down of the idea take place might be outlined for you as follows:—The passage of an idea from the plane of the intuition to the brain.

Nhưng thể trí vẫn tập trung vào bản thân, sự tiếp xúc còn yếu ớt và sự chỉnh hợp chưa vững chắc. Vì vậy, y chỉ cảm nhận các ý tưởng một cách lờ mờ. Tuy nhiên, tính độc nhất của trải nghiệm, trong những gì thể trí người đệ tử nhận biết, dẫn y đi sâu vào lĩnh vực ảo tưởng. Nếu có thể nhận ra, y sẽ thấy ý tưởng hay những ý tưởng mình đã tiếp xúc chỉ là một mảnh của một Toàn Thể lớn lao hơn nhiều. Những gì y đem vào việc diễn giải chúng còn thiếu sót. Ý tưởng xuất hiện trong tâm thức y qua sự thức tỉnh một phần của trực giác sẽ bị méo mó theo nhiều cách khi đi xuống tâm thức bộ não. Những gì y đem vào việc hiện hình ý tưởng và chuyển đổi nó thành một kế hoạch thực hiện thiết thực vẫn hoàn toàn chưa thích hợp. Bộ máy của y chưa đủ để bảo đảm sự chính xác. Có thể phác thảo cho các bạn những cách mà sự biến dạng và hạ giảm ý tưởng này diễn ra như sau:—Tiến trình một ý tưởng đi từ cõi trực giác đến bộ não.

I. The idea is seen by the mind, “held steady in the light of the soul.”

I. Thể trí, “được giữ vững trong ánh sáng của linh hồn”, nhìn thấy ý tưởng.

II. It descends to the higher levels of the mental plane and there clothes itself with the substance of those levels. It remains still an abstraction, from the angle of the lower mind. This point should be carefully noted by the would-be intuitive. [56]

II. Ý tưởng đi xuống các cấp độ cao của cõi trí và tại đó khoác lấy chất liệu của những cấp độ ấy. Từ góc nhìn của Hạ trí, nó vẫn còn là một điều trừu tượng. Người mong muốn phát triển trực giác cần lưu ý kỹ điểm này. [56]

III. The soul throws its light upward and outward, and the idea, nebulous and faint, emerges into the consciousness of the man. It stands revealed, much as an object stands revealed when the bright beam of a powerful searchlight is thrown upon it. The mind, endeavouring to remain in constant steady conscious contact with the soul, seeing into the higher world through the medium of the “soul’s wide-opened eye,” registers the idea with increasing clarity.

III. Linh hồn chiếu ánh sáng của mình lên trên và ra ngoài, và ý tưởng, còn mơ hồ và mờ nhạt, xuất hiện trong tâm thức con người. Nó hiển lộ, giống như một vật hiển lộ khi luồng sáng chói của một đèn pha mạnh chiếu vào nó. Thể trí, trong khi cố gắng duy trì sự tiếp xúc có ý thức, liên tục và vững vàng với linh hồn, nhìn vào thế giới cao hơn qua “con mắt mở rộng của linh hồn”, ghi nhận ý tưởng ngày càng rõ nét.

IV. The idea, revealed, becomes then an ideal to the attentive mind and eventually something to be desired and materialised. The thoughtform-making faculty of the mind then comes into play; the “mind-stuff” becomes actuated by the energy of the idea, vitalised by the recognition of the soul, and the idea then takes its first real step towards embodiment. An ideal is only an embodied idea.

IV. Khi đã hiển lộ, ý tưởng trở thành một lý tưởng đối với thể trí đang chú tâm, và cuối cùng trở thành điều được mong muốn và tìm cách hiện hình. Khi ấy, khả năng tạo hình tư tưởng của thể trí bắt đầu hoạt động; năng lượng của ý tưởng tác động lên “chất liệu trí tuệ”, sự nhận biết của linh hồn tiếp sinh lực cho chất liệu ấy, và ý tưởng thực sự bước bước đầu tiên hướng đến sự hiện thân. Một lý tưởng chỉ là một ý tưởng đã hiện thân.

These are the first steps towards materialisation. Embodiment becomes possible. Thus illusion is produced.

Đó là những bước đầu tiên hướng đến sự hiện hình. Sự hiện thân trở nên khả thi. Như vậy, ảo tưởng nảy sinh.

V. Distortion now sets in. This is brought about by various causes. These might be enumerated as follows:

V. Giờ đây sự biến dạng bắt đầu xuất hiện. Nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra điều này. Có thể liệt kê chúng như sau:

1. The ray type of the ego colours the man’s interpretation of the idea. It colours the emerging thoughtform. Symbolically speaking, the pure light is changed into coloured light. The idea is then “clothed with colour, and thereby the first veil descends.”

1. Loại cung của chân ngã nhuốm màu cách con người diễn giải ý tưởng. Nó nhuốm màu hình tư tưởng đang xuất hiện. Nói theo nghĩa biểu tượng, ánh sáng thuần khiết biến thành ánh sáng có màu. Khi ấy, ý tưởng “khoác lấy màu sắc, và do đó tấm màn đầu tiên buông xuống”.

2. The point in evolution which the man has reached has also its effect, plus the quality of the [57] integration existing between the three aspects of the personality, and the alignment established between soul-mind-brain. This, being necessarily imperfect, produces indefiniteness of outline and consequently of the final form. Therefore we have:

2. Điểm tiến hoá mà con người đã đạt đến cũng có tác động, cùng với phẩm tính của [57] sự tích hợp giữa ba phương diện của phàm ngã và sự chỉnh hợp đã thiết lập giữa linh hồn–thể trí–bộ não. Vì tất yếu còn chưa hoàn hảo, điều này khiến đường nét thiếu xác định, và do đó hình tướng cuối cùng cũng thiếu xác định. Vì vậy, chúng ta có:

a. Imperfect integration of the personality.

a. Sự tích hợp chưa hoàn hảo của phàm ngã.

b. Indefiniteness of the proposed thoughtform.

b. Tính thiếu xác định của hình tư tưởng dự kiến.

c. The wrong material consequently attracted for the building of the thoughtform.

c. Do đó, vật liệu không thích hợp bị thu hút vào việc xây dựng hình tư tưởng.

d. A shifting focus of attention, owing to the dimness of the seen ideal.

d. Trọng tâm chú ý thay đổi do lý tưởng được nhìn thấy còn mờ nhạt.

e. The rapport of the mind, with the sensed idea, is not stable.

e. Mối liên hệ hòa hợp giữa thể trí và ý tưởng được cảm nhận không ổn định.

3. The quality of the development of the mental body of the disciple produces the next “veiling” of the idea, as it is called. The idea has become changed through the ray colouring of the soul, and now a still more distorting change is brought about by the ray type of the mental body itself, which may be, and usually is, different to that of the soul ray.

3. Phẩm tính của sự phát triển thể trí nơi người đệ tử tạo ra lần “che phủ” tiếp theo đối với ý tưởng, như người ta gọi. Ý tưởng đã biến đổi qua sắc thái cung của linh hồn, và giờ đây chính loại cung của thể trí gây ra một biến đổi làm méo mó hơn nữa; loại cung này có thể, và thường là, khác với cung linh hồn.

These are the second steps towards materialisation. The form of the embodiment is qualified. Thus illusion is produced.

Đó là những bước thứ hai hướng đến sự hiện hình. Hình tướng hiện thân mang những phẩm tính nhất định. Như vậy, ảo tưởng nảy sinh.