← Glamour_ A World Problem song ngữ

[Webinar 89] – [Webinar 89]

Trích nội dung chương

1. Through wrong perception of an idea. The disciple cannot distinguish between an idea and an ideal, between an idea and a thoughtform, or between an intuitive and a mental concept. This is one of the ways of producing illusion found most commonly among aspirants. The mental atmosphere in which we all dwell is one of illusion. It [58] is also an atmosphere or area of conscious contact wherein thoughtforms of all kinds are to be found. Some of them are placed there by the Hierarchy for man’s finding; some of them are men’s thoughtforms, built around ideas; some of them are very ancient ideals and have been discarded, but still persist as…


[Webinar 89] – [Webinar 89]

VI. This illusion demonstrates in seven ways usually:

VI. Ảo tưởng này thường biểu lộ theo bảy cách:

1. Through wrong perception of an idea. The disciple cannot distinguish between an idea and an ideal, between an idea and a thoughtform, or between an intuitive and a mental concept. This is one of the ways of producing illusion found most commonly among aspirants. The mental atmosphere in which we all dwell is one of illusion. It [58] is also an atmosphere or area of conscious contact wherein thoughtforms of all kinds are to be found. Some of them are placed there by the Hierarchy for man’s finding; some of them are men’s thoughtforms, built around ideas; some of them are very ancient ideals and have been discarded, but still persist as thoughtforms; some of them are entirely new, and therefore are not yet potent, but most attractive. All of them have been created by man at some stage or another of his individual and racial development. Many of them are the shells of long exploded concepts; still others are embryonic; some of them are static and stable; many are in process of descent from intuitional levels; a few are still illumined by the clear light of the soul and are ready for embodiment. A large number of other thoughtforms are in process of disintegration. Some of these forms or embodied ideas are of a destructive nature, owing to the type of matter of which they are formed. Others are constructive. All of them are coloured by some ray energy. A large number of these forms are necessarily built through the activity of the world of personality; others are in process of construction through the agency of the soul, as well as through the joint activity of both these manifestations. Right perception is therefore essential for each mind, functioning correctly. Aspirants must learn to distinguish between:

1. Qua sự nhận thức sai lầm về một ý tưởng. Người đệ tử không thể phân biệt giữa ý tưởng và lý tưởng, giữa ý tưởng và hình tư tưởng, hoặc giữa khái niệm trực giác và khái niệm trí tuệ. Đây là một trong những cách tạo ra ảo tưởng thường gặp nhất nơi người chí nguyện. Bầu không khí trí tuệ mà tất cả chúng ta đang sống trong đó là một bầu không khí ảo tưởng. Nó [58] cũng là một bầu không khí hay khu vực tiếp xúc có ý thức, nơi có thể tìm thấy đủ loại hình tư tưởng. Một số do Thánh đoàn đặt ở đó để con người tìm thấy; một số là những hình tư tưởng của con người, được xây dựng quanh các ý tưởng; một số là những lý tưởng rất cổ xưa, đã bị loại bỏ nhưng vẫn tồn tại dưới dạng hình tư tưởng; một số hoàn toàn mới, vì vậy chưa có sức mạnh nhưng rất hấp dẫn. Tất cả đều do con người tạo ra ở một giai đoạn nào đó trong sự phát triển cá nhân và sự phát triển của nhân loại. Nhiều hình tư tưởng là những lớp vỏ của các khái niệm đã bị bác bỏ từ lâu; những hình tư tưởng khác còn ở dạng phôi thai; một số tĩnh tại và ổn định; nhiều hình tư tưởng đang đi xuống từ các cấp độ trực giác; một số ít vẫn được ánh sáng trong trẻo của linh hồn soi sáng và sẵn sàng hiện thân. Rất nhiều hình tư tưởng khác đang trong tiến trình tan rã. Một số hình tướng hay ý tưởng đã hiện thân này có bản chất phá hoại do loại vật chất cấu thành chúng. Những hình tướng khác mang tính xây dựng. Tất cả đều mang sắc thái của một năng lượng cung nào đó. Tất yếu, rất nhiều hình tướng này hình thành qua hoạt động của thế giới phàm ngã; những hình tướng khác đang được xây dựng nhờ tác động của linh hồn, cũng như nhờ hoạt động kết hợp của cả hai biểu hiện ấy. Vì vậy, sự nhận thức đúng đắn là điều thiết yếu đối với mỗi thể trí hoạt động đúng cách. Người chí nguyện phải học cách phân biệt giữa:

a. An idea and an ideal.

a. Ý tưởng và lý tưởng.

b. Between that which is embodied, that which is in process of being embodied, and that which is awaiting disintegration. [59]

b. Những gì đã hiện thân, những gì đang trong tiến trình hiện thân và những gì đang chờ tan rã. [59]

c. Between that which is constructive and that which is destructive.

c. Những gì mang tính xây dựng và những gì mang tính phá hoại.

d. Between the old and the new forms and ideas.

d. Những hình tướng và ý tưởng cũ với những hình tướng và ý tưởng mới.

e. Between the ray ideas and forms as they colour the higher presentations.

e. Các ý tưởng và hình tướng của những cung, khi chúng nhuốm màu các biểu hiện cao hơn.

f. Between ideas and thoughtforms, and between those which are purposely created by the Hierarchy and those which are created by humanity.

f. Ý tưởng và hình tư tưởng, cũng như giữa những gì Thánh đoàn chủ ý tạo ra và những gì nhân loại tạo ra.

g. Between racial thoughtforms and group ideas.

g. Các hình tư tưởng của nhân loại và các ý tưởng nhóm.

I could list many more differentiations, but the above will suffice to show the need for right perceptions, and to indicate the roots of the prevalence of the world illusion, brought about by wrong perception.

Tôi có thể liệt kê nhiều sự biến phân nữa, nhưng những điều trên đủ để cho thấy nhu cầu về sự nhận thức đúng đắn và chỉ ra căn nguyên của tình trạng ảo tưởng thế gian lan tràn do sự nhận thức sai lầm gây ra.

The cause is an untrained, unillumined mind.

Nguyên nhân là một thể trí chưa được rèn luyện, chưa được soi sáng.

The cure is training in the technique of Raja Yoga.

Phương thuốc là sự rèn luyện theo kỹ thuật Du già Vương giả.

This results in the ability to hold the mind steady in the light, to perceive correctly, to achieve a right outlook, and to attain a right mental attitude. It was these right attitudes with which the Buddha was dealing when He outlined the Noble Eightfold Path. It involves the reaching of a right mental altitude. Yes, I said altitude, my brothers, and not attitude.

Điều này mang lại khả năng giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng, nhận thức đúng đắn, đạt được cách nhìn đúng đắn và một thái độ trí tuệ đúng đắn. Chính những thái độ đúng đắn này là điều Đức Phật đề cập khi Ngài trình bày Bát Chánh Đạo. Điều đó bao hàm việc đạt đến một tầm cao trí tuệ đúng đắn. Đúng vậy, các huynh đệ của Tôi, Tôi nói tầm cao chứ không phải thái độ.

[Webinar 90] – [Webinar 90]

2. Through wrong interpretation. The idea, a vital entity or a germ of living potency, is seen through the medium of a partial view, distorted through the inadequacy of the mental equipment, and frequently stepped down into futility. The [60] mechanism for right understanding is lacking, and though the man may be giving his highest and his best, and though he may be able in some measure to hold his mind steady in the light, yet what he is offering to the idea is but a poor thing at the best. This leads to illusion through misinterpretation.

2. Qua sự diễn giải sai lầm. Ý tưởng, một thực thể sinh động hay một mầm quyền năng sống, được nhìn qua một góc nhìn phiến diện, bị méo mó do bộ máy trí tuệ chưa đầy đủ, và thường bị hạ giảm đến mức vô dụng. [60] Bộ máy để thấu hiểu đúng đắn còn thiếu; dù con người có thể đang dâng hiến những gì cao nhất và tốt nhất của mình, và dù y có thể giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ở một mức độ nào đó, thì ngay cả trong trường hợp tốt nhất, những gì y đem đến cho ý tưởng vẫn chỉ là một điều nghèo nàn. Điều này dẫn đến ảo tưởng do diễn giải sai.

The cause is an over-estimation of one’s mental powers. The sin, par excellence, of the mental type is pride, and that colours all activities in the early stages.

Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao các năng lực trí tuệ của bản thân. Lỗi lầm nổi bật nhất của người thuộc loại hình trí tuệ là lòng kiêu hãnh, và điều đó nhuốm màu mọi hoạt động trong những giai đoạn đầu.

The cure is the development of a cautious spirit.

Phương thuốc là phát triển một tinh thần thận trọng.

[Webinar 91] – [Webinar 91]

3. Through wrong appropriation of ideas. Misappropriation of an idea is based upon the drama-making faculty and tendency of the personality to the self-assertion of the little self. These lead a man to appropriate an idea as his own, to credit himself with its formulation, and to give therefore undue importance to it, because he regards it as his. He proceeds to build his life around his idea, and to make his aims and his objectives of major importance, expecting others to recognise his proprietorship of the idea. He forgets that no one idea belongs to anyone but, coming as ideas do, from the plane of the intuition, they are a universal gift and possession, and the property of no one mind. His life, as a personality also, becomes subordinated to his idea of an idea, and his ideal of an idea. The idea becomes the dramatic agent of his self-imposed life purpose, driving him from one extreme to another. This leads to illusion through misappropriation. [61]

3. Qua sự chiếm hữu sai lầm các ý tưởng. Sự chiếm hữu sai lầm một ý tưởng dựa trên khả năng tạo kịch tính và khuynh hướng của phàm ngã muốn khẳng định cái tôi nhỏ bé. Những điều này khiến con người chiếm lấy một ý tưởng làm của riêng, tự nhận công lao hình thành nó và do đó gán cho nó tầm quan trọng quá mức, vì y xem nó là của mình. Y bắt đầu xây dựng cuộc đời của mình quanh ý tưởng của mình, và đặt những mục đích của mình cùng những mục tiêu của mình lên vị trí quan trọng hàng đầu, mong người khác công nhận quyền sở hữu của y đối với ý tưởng ấy. Y quên rằng không một ý tưởng nào thuộc về riêng ai; vì đến từ cõi trực giác, các ý tưởng là món quà và tài sản chung của tất cả, không phải tài sản của bất kỳ thể trí riêng lẻ nào. Cuộc đời y, xét như một phàm ngã, cũng trở nên lệ thuộc vào quan niệm của y về một ý tưởng và lý tưởng của y về một ý tưởng. Ý tưởng trở thành tác nhân tạo kịch tính cho mục đích sống mà y tự áp đặt, đẩy y từ cực đoan này sang cực đoan khác. Điều này dẫn đến ảo tưởng do chiếm hữu sai lầm. [61]

The cause is over-estimation of personality and undue impress of personality reactions upon the sensed idea and upon all who attempt to contact the same idea.

Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao phàm ngã và dấu ấn quá mức của các phản ứng phàm ngã lên ý tưởng được cảm nhận, cũng như lên tất cả những ai cố gắng tiếp xúc với cùng ý tưởng ấy.

The cure is a steady attempt to decentralise the life from the personality, and to centre it in the soul.

Phương thuốc là nỗ lực bền bỉ nhằm phi tập trung đời sống khỏi phàm ngã và đặt trọng tâm của nó nơi linh hồn.

One point I would like to make clear at this point. Ideas very seldom come into the world consciousness and into the human mind direct from the intuitional levels. The stage of human development today does not yet permit this. They can come from the intuitional levels only when there is a very highly developed soul contact, a potent mind control, a trained intelligence, a purified emotional body, and a good glandular equipment, as the result of the above requirements. Ponder upon this thought.

Ở đây, Tôi muốn làm rõ một điểm. Rất hiếm khi các ý tưởng đi thẳng từ những cấp độ trực giác vào tâm thức thế giới và thể trí con người. Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại chưa cho phép điều này. Chúng chỉ có thể đến từ các cấp độ trực giác khi có sự tiếp xúc với linh hồn đã phát triển rất cao, khả năng kiểm soát thể trí mạnh mẽ, trí thông minh đã được rèn luyện, thể cảm xúc đã được thanh lọc, cùng một hệ tuyến tốt là kết quả của những yêu cầu nói trên. Hãy suy ngẫm về tư tưởng này.

Most ideas, when of a very high order, are stepped down into the consciousness of a disciple by his Master and are imparted to him through mental telepathy, and as a result of his sensitivity to the “psychic gift waves,” as the Tibetan teaching calls them. Ideas are also sensed in the interplay between disciples. Frequently, when disciples meet together and thus stimulate each others’ minds and centralise each others’ focussed attention, they can unitedly make a contact with the world of ideas which would otherwise be impossible, and bring through the newer concepts into being. Again, certain great ideas are to be found existing as currents of energy upon the mental plane, and can there be contacted and forced into embodiment through the trained attention of disciples. These currents of mental energy, coloured by a basic idea, are placed there by the Hierarchy. When thus contacted and discovered, the neophyte is apt to regard his achievement in a personal way [62] and attribute the idea to his own wisdom and power. You will note therefore the great need for right understanding of that which is contacted as well as for right interpretation.

Hầu hết các ý tưởng, khi thuộc một trật tự rất cao, đều được Chân sư của người đệ tử hạ giảm vào tâm thức y và truyền cho y qua viễn cảm trí tuệ, nhờ sự nhạy cảm của y đối với “các làn sóng ân tứ thông linh”, như giáo huấn của Chân sư Tây Tạng gọi. Các ý tưởng cũng được cảm nhận trong sự tương tác giữa các đệ tử. Khi các đệ tử gặp nhau và qua đó kích thích thể trí của nhau, đồng thời quy tụ sự chú ý đã tập trung của nhau, họ thường có thể cùng nhau tiếp xúc với thế giới ý tưởng—điều mà nếu không như vậy thì không thể thực hiện—và đưa những khái niệm mới hơn vào hiện tồn. Ngoài ra, có thể tìm thấy một số ý tưởng lớn tồn tại như những dòng năng lượng trên cõi trí; tại đó, sự chú tâm đã được rèn luyện của các đệ tử có thể tiếp xúc với chúng và thúc đẩy chúng hiện thân. Thánh đoàn đặt những dòng năng lượng trí tuệ mang sắc thái của một ý tưởng căn bản này ở đó. Khi tiếp xúc và khám phá chúng theo cách ấy, người sơ cơ dễ nhìn thành tựu của mình theo góc độ cá nhân [62] và quy ý tưởng ấy cho minh triết cùng quyền năng của riêng mình. Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy nhu cầu rất lớn về sự thấu hiểu đúng đắn những gì được tiếp xúc, cũng như về sự diễn giải đúng đắn.

[Webinar 92] – [Webinar 92]

4. Through wrong direction of ideas. This is due to the fact that, as yet, the disciple does not see the picture as it is. His horizon is limited, his vision myopic. A fraction or a fragment of some basic idea impinges upon his consciousness and he interprets it as belonging to a range of activities with which it may have absolutely no relation at all. He therefore starts to work with the idea, distributing it in directions where it is entirely useless; he begins to clothe it in form from an utterly wrong angle, embodying it in such a way that its usefulness is negated. Thus, from the very first moment of contact, the disciple has been suffering from illusion and as long as this is persisted in, the general illusion is strengthened. This is one of the most ordinary forms of illusion, and is one of the first ways in which the mental pride of the disciple can be broken. It is illusion through an initial misapplication, leading to a wrong use or wrong direction of the idea.

4. Qua sự định hướng sai lầm các ý tưởng. Điều này là do người đệ tử vẫn chưa nhìn thấy bức tranh đúng như thực trạng của nó. Chân trời của y hạn hẹp, tầm nhìn của y thiển cận. Một phần hay một mảnh của một ý tưởng căn bản nào đó tác động vào tâm thức y, và y diễn giải nó như thuộc về một phạm vi hoạt động mà nó có thể hoàn toàn không liên quan. Vì vậy, y bắt đầu làm việc với ý tưởng ấy, truyền nó theo những hướng mà ở đó nó hoàn toàn vô dụng; y bắt đầu khoác cho nó hình tướng từ một góc độ hoàn toàn sai lầm, cho nó hiện thân theo một cách làm mất đi tính hữu ích của nó. Như vậy, ngay từ khoảnh khắc tiếp xúc đầu tiên, người đệ tử đã chịu ảnh hưởng của ảo tưởng; chừng nào y còn tiếp tục như thế, ảo tưởng chung còn được củng cố. Đây là một trong những dạng ảo tưởng thông thường nhất, và là một trong những cách đầu tiên để phá vỡ lòng kiêu hãnh trí tuệ của người đệ tử. Đó là ảo tưởng do áp dụng sai ngay từ đầu, dẫn đến việc sử dụng sai hay định hướng sai ý tưởng.

Its cause is a small and non-inclusive mind.

Nguyên nhân của nó là một thể trí hạn hẹp và thiếu tính bao gồm.

Its cure is the training of the mind to be inclusive, well-stocked and well developed from the angle of modern intelligence.

Phương thuốc của nó là rèn luyện thể trí để có tính bao gồm, được trang bị phong phú và phát triển tốt xét theo trí thông minh hiện đại.

5. Through wrong integration of an idea. Every disciple has a life plan, and some chosen field of service. If he has not such a field, he is not a disciple. It may be the home or the school or a [63] larger field, but it is a definite place wherein he expresses that which is in him. In his meditation life and through his contact with his fellow disciples, he touches some idea of importance, perhaps, to the world. Immediately he seizes upon it and seeks to integrate it into his life purpose and life plan. It may have for him no definite use, and is not an idea with which he should be working. The over-activity of his mind is probably responsible for his so seizing upon this idea. All ideas sensed and contacted need not necessarily be ideas with which every disciple should work. This the disciple does not always realise. He therefore seizes upon the idea and attempts to integrate it into his plans, and tries to work with energies for which he is not temperamentally suited. He imposes an energy current upon his mental body with which he cannot cope and disaster follows. Many good disciples demonstrate this over-fertile, over-active mind, and arrive at no good constructive objectives, or life activity. They seize upon every idea that comes their way, and use no discrimination of any kind. This is illusion, through acquisitiveness.

5. Qua sự tích hợp sai lầm một ý tưởng. Mỗi đệ tử đều có một kế hoạch cuộc đời và một lĩnh vực phụng sự đã chọn. Nếu không có một lĩnh vực như vậy, y không phải là đệ tử. Đó có thể là gia đình, trường học hay một [63] lĩnh vực rộng lớn hơn, nhưng đó là một nơi xác định để y biểu lộ những gì có trong mình. Trong đời sống tham thiền và qua sự tiếp xúc với các đệ tử đồng môn, y tiếp xúc với một ý tưởng có tầm quan trọng, có lẽ đối với thế giới. Lập tức, y nắm lấy nó và tìm cách tích hợp nó vào mục đích sống và kế hoạch cuộc đời mình. Đối với y, nó có thể không có công dụng xác định nào, và không phải là một ý tưởng mà y nên làm việc cùng. Có lẽ sự hoạt động quá mức của thể trí là nguyên nhân khiến y nắm lấy ý tưởng ấy như vậy. Không nhất thiết mọi ý tưởng được cảm nhận và tiếp xúc đều là những ý tưởng mà mỗi đệ tử nên làm việc cùng. Người đệ tử không phải lúc nào cũng nhận ra điều này. Vì vậy, y nắm lấy ý tưởng, cố gắng tích hợp nó vào các kế hoạch của mình và tìm cách làm việc với những năng lượng không phù hợp với khí chất của y. Y áp đặt lên thể trí mình một dòng năng lượng mà y không thể xử lý, và tai họa xảy ra. Nhiều đệ tử tốt biểu lộ một thể trí sản sinh quá nhiều ý tưởng và hoạt động quá mức như vậy, nhưng không đạt được những mục tiêu xây dựng tốt đẹp hay hoạt động hữu ích trong cuộc sống. Họ nắm lấy mọi ý tưởng đến với mình mà không có bất kỳ sự phân biện nào. Đây là ảo tưởng do lòng ham thu nhận.

Its cause is selfish grasping for the little self, even if this is unrealised and the disciple is glamoured by the idea of his own selfless interests.

Nguyên nhân của nó là sự chiếm giữ ích kỷ vì cái tôi nhỏ bé, ngay cả khi người đệ tử không nhận ra điều này và bị ý tưởng về những mối quan tâm vị tha của mình mê hoặc bằng ảo cảm.

Its cure is a humble spirit.

Phương thuốc của nó là một tinh thần khiêm nhường.

[Webinar 93] – [Webinar 93]

6. Through wrong embodiment of ideas. This refers primarily to the difficulties encountered by those developed souls who do touch the world of the intuition, who do intuit the great spiritual ideas, [64] and whose responsibility it is to embody them in some form, automatically and spontaneously, through a trained and rhythmic activity of the soul and mind, working always in the closest collaboration. The idea is contacted, but is wrongly clothed in mental matter and therefore wrongly started on its way to materialisation. It finds itself, for instance, integrated into a group thoughtform of a colouring, keynote and substance which is entirely unsuited to its right expression. This happens far more often than you might think. It concerns the higher interpretations of the Hindu aphorism: Better one’s own dharma than the dharma of another.

6. Do thể hiện ý tưởng sai lạc. Điều này chủ yếu đề cập đến những khó khăn mà các linh hồn đã phát triển gặp phải—những linh hồn thực sự tiếp xúc với thế giới trực giác, thực sự trực nhận những ý tưởng tinh thần vĩ đại, [64] và có trách nhiệm thể hiện chúng trong một hình tướng nào đó, một cách tự động và tự phát, thông qua hoạt động có nhịp điệu và đã được rèn luyện của linh hồn và thể trí, luôn phối hợp hết sức chặt chẽ. Ý tưởng được tiếp xúc, nhưng lại khoác lấy vật chất trí tuệ không đúng cách, và vì vậy khởi đầu sai lạc trên con đường đi đến hiện hình. Chẳng hạn, nó được tích hợp vào một hình tư tưởng nhóm có sắc thái, chủ âm và chất liệu hoàn toàn không phù hợp để biểu đạt nó đúng đắn. Điều này xảy ra thường xuyên hơn nhiều so với các bạn có thể nghĩ. Nó liên quan đến những cách diễn giải cao hơn của châm ngôn Ấn giáo: Thà làm bổn phận của mình còn hơn làm bổn phận của người khác.

This is illusion through wrong discrimination where substance is concerned.

Đây là ảo tưởng do phân biện sai lạc về chất liệu.

Its cause is lack of esoteric training in creative activity.

Nguyên nhân của nó là thiếu sự huấn luyện huyền bí trong hoạt động sáng tạo.

Its cure is the application of fifth ray methods, which are the methods of the mental plane.

Phương cách chữa trị là áp dụng các phương pháp cung năm, vốn là những phương pháp của cõi trí.

This form of error seldom applies to the average aspirant and concerns an illusion which is the testing applied to many initiates of fairly high degree. The ordinary disciple, such as you and others in this group, seldom touch a pure idea, and hence seldom need to embody it.

Dạng sai lầm này hiếm khi xảy ra với người chí nguyện thông thường, và liên quan đến một ảo tưởng dùng để thử thách nhiều điểm đạo đồ có cấp độ khá cao. Người đệ tử thông thường, như các bạn và những người khác trong nhóm này, hiếm khi tiếp xúc với một ý tưởng thuần khiết, và do đó hiếm khi cần thể hiện nó trong hình tướng.

7. Through wrong application of ideas. How often does this form of illusion descend upon a disciple! He contacts an idea intuitively and also intelligently (note the distinction here expressed) and misapplies it. This is perhaps an aspect of the synthetic illusion or the illusion of the whole of [65] the mental plane, as modern man contacts it. Illusion varies from age to age, according to what the Hierarchy is attempting to do, or according to the general trend of men’s thoughts. The disciple can therefore be swept into a wrong activity and a wrong application of ideas because the general illusion (growing out of the six types of illusion to which I have referred above) is over-dominant in his mind.

7. Do áp dụng ý tưởng sai lạc.Dạng ảo tưởng này thường xuyên phủ xuống một đệ tử biết bao! Y tiếp xúc với một ý tưởng bằng trực giác và cả bằng trí tuệ (hãy lưu ý sự phân biệt được nêu ở đây), rồi áp dụng nó sai lạc. Đây có lẽ là một phương diện của ảo tưởng tổng hợp, hay ảo tưởng của toàn bộ [65] cõi trí như con người hiện đại tiếp xúc với nó. Ảo tưởng thay đổi theo từng thời đại, tùy theo điều Thánh đoàn đang cố gắng thực hiện, hoặc theo xu hướng chung trong tư tưởng con người. Vì vậy, đệ tử có thể bị cuốn vào một hoạt động sai lạc và một cách áp dụng ý tưởng sai lạc, vì ảo tưởng chung (phát sinh từ sáu loại ảo tưởng mà Tôi đã đề cập ở trên) chi phối quá mạnh thể trí của y.

I could continue enlarging on the ways whereby illusion traps the unwary disciple but this will suffice to awaken in you that constructive analysis which leads from knowledge to wisdom. We have noted that the seven major ways of illusion are as follows:

Tôi có thể tiếp tục trình bày thêm về những cách mà ảo tưởng giăng bẫy người đệ tử thiếu cảnh giác, nhưng chừng này cũng đủ để khơi dậy trong các bạn sự phân tích mang tính xây dựng, dẫn từ tri thức đến minh triết. Chúng ta đã ghi nhận rằng bảy con đường chủ yếu của ảo tưởng là:

1. The way of wrong perception.

1. Con đường tri giác sai lạc.

2. The way of wrong interpretation.

2. Con đường diễn giải sai lạc.

3. The way of wrong appropriation.

3. Con đường chiếm hữu sai lạc.

4. The way of wrong direction.

4. Con đường định hướng sai lạc.

5. The way of wrong integration.

5. Con đường tích hợp sai lạc.

6. The way of wrong embodiment.

6. Con đường thể hiện sai lạc trong hình tướng.

7. The way of wrong application.

7. Con đường áp dụng sai lạc.

These are the third steps towards expression. The form of the expression is also qualified. Thus the seven ways of illusion are produced.

Đây là những bước thứ ba hướng đến sự biểu đạt. Hình tướng biểu đạt cũng mang phẩm tính. Như vậy, bảy con đường của ảo tưởng hình thành.

[Webinar 94] – [Webinar 94]

I have here outlined for you the causes and the various types of illusion to which the disciple is prone. In its pure form, this illusion has to be met and some day surmounted; it has to be isolated and dispelled by the initiate. It was the final successful effort to do this that led Jesus upon the Cross to cry out in words of apparent distress. He then finally dissipated the illusion of the personal, objective [66] Deity. At that moment, He entered fully into the consciousness that He was Himself God, and naught else; that the theory of unity outlined by Him in the Gospel of St. John, chapter XVII, was indeed and in truth a fact in His Own consciousness, established unalterably. Yet, nevertheless, in this infinite and supreme realisation, there entered for a moment a sense of loss and of negation, forcing from His dying Personality that tremendous utterance which has bewildered, and at the same time comforted, so many. This signified the surmounting of the final synthetic illusion. When that has been dispelled, illusion, as it can be understood in the human family, disappears. The man stands free. The illusion of the mental plane can no longer deceive him. His mind is a pure instrument for the reflection of light and of truth. The glamours of the astral plane have no further hold over him, and the astral body itself fades out.

Ở đây, Tôi đã phác họa cho các bạn những nguyên nhân và các loại ảo tưởng khác nhau mà đệ tử dễ mắc phải. Trong hình thức thuần khiết của nó, đệ tử phải đối diện với ảo tưởng này và một ngày nào đó vượt qua nó; điểm đạo đồ phải cô lập và xua tan nó. Chính nỗ lực cuối cùng thành công trong việc này đã khiến Đức Jesus trên Thập Giá thốt lên những lời dường như đầy đau khổ. Khi ấy, cuối cùng Ngài đã làm tiêu tan ảo tưởng về một [66] Thượng đế mang tính cá nhân, khách thể. Vào khoảnh khắc đó, Ngài hoàn toàn bước vào tâm thức rằng chính Ngài là Thượng đế, không gì khác; rằng lý thuyết về sự hợp nhất mà Ngài đã phác họa trong Phúc Âm Thánh Gioan, chương XVII, quả thực là một sự thật trong chính tâm thức Ngài, được xác lập không thể thay đổi. Tuy vậy, trong sự chứng nghiệm vô hạn và tối thượng này, một cảm giác mất mát và phủ định đã thoáng xuất hiện, buộc Phàm ngã đang hấp hối của Ngài thốt ra lời nói đầy sức mạnh ấy, lời đã khiến biết bao người hoang mang, đồng thời cũng an ủi họ. Điều này biểu thị sự vượt qua ảo tưởng tổng hợp cuối cùng. Khi ảo tưởng ấy đã được xua tan, ảo tưởng, theo cách hiểu trong gia đình nhân loại, biến mất. Con người đứng trong tự do. Ảo tưởng của cõi trí không còn có thể lừa dối y. Thể trí của y là một công cụ thuần khiết để phản chiếu ánh sáng và chân lý. Những ảo cảm của cõi cảm dục không còn chi phối y, và chính thể cảm dục cũng dần tan biến.

You will remember that I hinted to you in A Treatise on White Magic that the astral body itself was an illusion. It is the definition of the illusory mind upon the mental plane of that which we call the sum total of the desires of the man in incarnation. When illusion and glamour have both been overcome, the astral body fades out in the human consciousness. There is no desire left for the separated self. Kama-manas disappears, and man is then regarded as consisting essentially of soul-mind-brain, within the body nature. This is a great mystery, and its significance can only be understood when a man has controlled his personality and eliminated all aspects of glamour and of illusion. This is accomplished by accomplishing. This mastery is achieved by mastering. This elimination of desire is brought about by conscious eliminating. Get therefore to work, my brothers, and clarification of the problem must inevitably ensue.

Các bạn sẽ nhớ rằng trong Luận về Chánh Thuật, Tôi đã gợi ý với các bạn rằng chính thể cảm dục là một ảo tưởng. Nó là sự định nghĩa mà thể trí bị ảo tưởng chi phối trên cõi trí đưa ra về điều chúng ta gọi là tổng thể những dục vọng của con người đang lâm phàm. Khi cả ảo tưởng lẫn ảo cảm đều đã được vượt qua, thể cảm dục dần tan biến trong tâm thức con người. Không còn dục vọng nào dành cho cái ngã riêng biệt. Dục vọng–trí tuệ biến mất, và khi ấy con người được xem là về cơ bản gồm linh hồn–thể trí–bộ não, trong bản chất thân thể. Đây là một huyền nhiệm lớn, và chỉ khi một người đã kiểm soát phàm ngã của mình, loại bỏ mọi phương diện của ảo cảm và ảo tưởng, y mới có thể thấu hiểu thâm nghĩa của nó. Điều này được hoàn thành bằng việc thực sự hoàn thành. Sự làm chủ này đạt được bằng việc thực sự làm chủ. Việc loại bỏ dục vọng này diễn ra nhờ sự loại bỏ có ý thức. Vì vậy, hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy bắt tay vào việc, rồi vấn đề tất yếu sẽ sáng tỏ.

[67] That which is the opposite pole of illusion is, as you well know, the intuition. The intuition is that recognition of reality which becomes possible as glamour and illusion disappear. An intuitive reaction to truth will take place when—along a particular line of approach to truth—the disciple has succeeded in quieting the thoughtform-making propensities of the mind, so that light can flow directly, and without any deviation, from the higher spiritual worlds. The intuition can begin to make its presence felt when glamour no longer grips the lower man, and a man’s low or high desires, interpreted emotionally or self- centredly, can no longer come between his brain consciousness and the soul. Fleeting moments of this high freedom come to all true aspirants at times, during their life struggle. They have then an intuitive flash of understanding. The outline of the future and the nature of truth sweeps momentarily through their consciousness, and life is never again exactly the same thing. They have had their guarantee that all struggle is warranted and will evoke its adequate reward.

[67] Như các bạn biết rõ, cực đối lập với ảo tưởng là trực giác. Trực giác là sự nhận biết thực tại trở nên khả hữu khi ảo cảm và ảo tưởng biến mất. Một đáp ứng trực giác với chân lý sẽ diễn ra khi—trên một con đường cụ thể tiếp cận chân lý—đệ tử đã thành công trong việc làm lắng dịu các khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí, để ánh sáng có thể tuôn chảy trực tiếp, không chút lệch hướng, từ các cõi tinh thần cao hơn. Trực giác có thể bắt đầu biểu lộ sự hiện diện của nó khi ảo cảm không còn khống chế phàm nhân, và những dục vọng thấp hay cao của một người, được diễn giải theo cảm xúc hoặc theo cách tập trung vào bản thân, không còn có thể xen vào giữa tâm thức bộ não của y và linh hồn. Trong cuộc đấu tranh của đời mình, mọi người chí nguyện chân chính đôi khi đều có những khoảnh khắc thoáng qua của sự tự do cao cả này. Khi ấy, họ có một tia chớp trực giác của sự thấu hiểu. Đường nét của tương lai và bản chất của chân lý thoáng lướt qua tâm thức họ, và đời sống không bao giờ còn hoàn toàn như trước nữa. Họ đã có sự bảo đảm rằng mọi cuộc đấu tranh đều có lý do chính đáng và sẽ gợi lên phần thưởng tương xứng.

[Webinar 95] – [Webinar 95]

As pointed out in the tabulation (See page 41), that which dispels illusion and substitutes for it a true spiritual and infallible perception is contemplation,—a contemplation necessarily carried on by the soul. Perhaps some grasp of the sequence of development can be arrived at, if you realise that the entire meditation process (in its three major divisions) can be divided as follows:

Như đã chỉ ra trong bảng liệt kê (Xem trang 41), điều xua tan ảo tưởng và thay thế nó bằng một tri giác tinh thần chân thực, không sai lầm, là sự chiêm ngưỡng—một sự chiêm ngưỡng nhất thiết do linh hồn thực hiện. Có lẽ các bạn có thể phần nào nắm bắt trình tự phát triển nếu nhận ra rằng toàn bộ tiến trình tham thiền (trong ba phần chính của nó) có thể được phân chia như sau:

1. The Aspirant

1. Người Chí Nguyện

Probationary Path

Con Đường Dự Bị

Concentration

Định trí

Maya.

Ảo lực.

2. The Disciple

2. Đệ Tử

Path of Discipleship

Con Đường Đệ Tử

Meditation

Tham thiền

Glamour.

Ảo cảm.

3. The Initiate

3. Điểm Đạo Đồ

Path of Initiation

Con Đường Điểm Đạo

Contemplation

Chiêm ngưỡng

Illusion.

Ảo tưởng.

The above tabulation will suffice to show the connection between the meditation process as outlined and taught in the Arcane School, and the problem which all of you have to face.

Bảng liệt kê trên đủ để cho thấy mối liên hệ giữa tiến trình tham thiền như được phác họa và giảng dạy tại Trường Arcane, với vấn đề mà tất cả các bạn phải đối diện.

[68] The technique of the dispelling of illusion, as used by the initiate, is that of contemplation. But of what use is it for me to discuss this with you, if you are not initiate? Would it profit you at all, or would it only satisfy your curiosity, if I outlined for you the peculiar processes, employed by a soul in contemplation for penetrating and (through an act of the trained will and through some first ray formulas) for dispelling it? Naught that I can imagine.

[68] Kỹ thuật mà điểm đạo đồ sử dụng để xua tan ảo tưởng là chiêm ngưỡng. Nhưng việc Tôi thảo luận điều này với các bạn có ích gì nếu các bạn chưa phải là điểm đạo đồ? Liệu các bạn có được lợi ích nào không, hay chỉ thỏa mãn trí tò mò, nếu Tôi phác họa cho các bạn những tiến trình đặc thù mà một linh hồn đang chiêm ngưỡng sử dụng để xuyên thấu và (thông qua một hành động của ý chí đã được rèn luyện và một số công thức cung một) xua tan ảo tưởng? Tôi không thể nghĩ ra lợi ích nào.

I shall therefore conclude my remarks on this point concerning illusion from the angle of your evolutionary status. Glamour is your problem, as it is the problem of the world, at this time. Some of you, whose mental bodies are in process of organising, may suffer somewhat from illusion, but your major problem—as a group and as individuals—is one of glamour. Your field of living experience is on the higher levels of the astral plane. Your task is to overcome glamour, each in your individual lives, and, as a group, later to approach the arduous task of aiding in the dispelling of the world glamour. This you may later be able to do, if you submit to training and, as individuals, understand and master your personal glamours. Just as soon as you have begun to do this, I can begin to use you, as a group. But before you can work as a group, and before you can assist in the dissipation of the world glamour, you have to understand better and master more definitely the glamours and illusions of your personality. The time has now come for me to help you deal more drastically with this problem of glamour, with the view to your destined group service and not with a view of your personal release....

Vì vậy, Tôi sẽ kết thúc những nhận xét về điểm này liên quan đến ảo tưởng, xét từ trình độ tiến hoá của các bạn. Hiện nay, ảo cảm là vấn đề của các bạn, cũng như là vấn đề của thế giới. Một số bạn, với thể trí đang trong tiến trình tổ chức, có thể phần nào chịu ảnh hưởng của ảo tưởng, nhưng vấn đề chủ yếu của các bạn—với tư cách một nhóm và từng cá nhân—là ảo cảm. Phạm vi trải nghiệm sống của các bạn nằm trên những cấp độ cao hơn của cõi cảm dục. Nhiệm vụ của các bạn là vượt qua ảo cảm, mỗi người trong đời sống riêng của mình, và về sau, với tư cách một nhóm, tiến đến nhiệm vụ gian nan là hỗ trợ xua tan ảo cảm thế giới. Sau này, các bạn có thể làm được điều đó nếu chấp nhận sự huấn luyện và, với tư cách từng cá nhân, thấu hiểu và làm chủ những ảo cảm riêng của mình. Ngay khi các bạn bắt đầu làm điều này, Tôi có thể bắt đầu sử dụng các bạn, với tư cách một nhóm. Nhưng trước khi các bạn có thể hoạt động như một nhóm, và trước khi có thể hỗ trợ làm tiêu tan ảo cảm thế giới, các bạn phải thấu hiểu rõ hơn và làm chủ vững chắc hơn những ảo cảm và ảo tưởng của phàm ngã mình. Giờ đã đến lúc Tôi giúp các bạn xử lý quyết liệt hơn vấn đề ảo cảm này, nhằm hướng đến công việc phụng sự nhóm đã định cho các bạn, chứ không nhằm sự giải thoát cá nhân của các bạn....

I ask you to set to work, therefore, with fresh courage and determination and with fresh understanding, and to carry on for another year. Will you bend your effort to the task? For task it is. [69]

Vì vậy, Tôi yêu cầu các bạn bắt tay vào việc với lòng can đảm, quyết tâm và sự thấu hiểu mới, rồi tiếp tục thêm một năm nữa. Các bạn có dốc sức vào nhiệm vụ này không? Bởi đây quả là một nhiệm vụ. [69]

2. Glamour on the Astral Plane... Glamour – 2. Ảo cảm trên Cõi Cảm Dục... Ảo cảm

I have dealt with the problem of illusion or glamour on the mental plane. I dealt with it succinctly and briefly, pointing out that it is not primarily the major problem of this group of aspirants but that they—along with the world aspirant, humanity—are primarily occupied with glamour. Those aspirants who stand in the forefront of humanity and whose task it is to confront the world glamour and forge a way through it, have the task of releasing soul energy and mind potency. Among these pioneering souls you should take your stand, realising the magnitude of the opportunity and the imminence of the hour of release.

Tôi đã bàn đến vấn đề ảo tưởng hay ảo cảm trên cõi trí. Tôi đã trình bày súc tích và ngắn gọn, chỉ ra rằng về cơ bản, đó không phải là vấn đề chủ yếu của nhóm người chí nguyện này, mà họ—cùng với người chí nguyện thế giới là nhân loại—chủ yếu đang phải đối phó với ảo cảm. Những người chí nguyện đứng ở hàng đầu của nhân loại, có nhiệm vụ đối diện với ảo cảm thế giới và mở một con đường xuyên qua nó, phải giải phóng năng lượng linh hồn và sức mạnh của thể trí. Các bạn nên đứng trong hàng ngũ những linh hồn tiên phong này, nhận ra tầm vóc lớn lao của cơ hội và thời khắc giải thoát đang đến gần.

You stand on the verge of accepted discipleship. This means that you will shortly have to add to your battle with glamour that of the battle with illusion. Are you strong enough for this? Forget not, that a disciple who is dealing with the aspiration of his nature and who is also wrestling with the problems that result from mental polarisation and awareness, and with the energies which become active through soul contact, is rapidly becoming an integrated personality. His task is not therefore easy and calls for the focussed activity of his best self. By that phrase, I mean the soul and the aspirational personality.

Các bạn đang đứng trước ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận. Điều này có nghĩa là chẳng bao lâu nữa, bên cạnh cuộc chiến với ảo cảm, các bạn sẽ phải thêm vào cuộc chiến với ảo tưởng. Các bạn có đủ mạnh mẽ cho điều này không? Đừng quên rằng một đệ tử đang xử lý khát vọng trong bản chất mình, đồng thời vật lộn với những vấn đề phát sinh từ sự phân cực trí tuệ và nhận biết, cũng như với các năng lượng trở nên hoạt động nhờ tiếp xúc linh hồn, đang nhanh chóng trở thành một phàm ngã tích hợp. Vì vậy, nhiệm vụ của y không dễ dàng, và đòi hỏi hoạt động tập trung của phần tốt đẹp nhất trong y. Với cụm từ ấy, Tôi muốn nói đến linh hồn và phàm ngã đầy khát vọng.

Already you are battling somewhat with the illusion of ideas with which I dealt in my last instruction. You are thus beginning to develop that discrimination which will lead to right choice of life themes. In this instruction I seek to cast some light upon the glamour which confronts the disciple as an individual and also consider the aspect of glamour with which he must deal as a world server in training.

Các bạn đã phần nào đấu tranh với ảo tưởng về ý tưởng mà Tôi đã bàn đến trong huấn thị trước. Như vậy, các bạn đang bắt đầu phát triển sự phân biện sẽ dẫn đến việc lựa chọn đúng đắn những chủ đề của đời sống. Trong huấn thị này, Tôi tìm cách soi sáng phần nào ảo cảm mà đệ tử đối diện với tư cách một cá nhân, đồng thời xem xét phương diện ảo cảm mà y phải xử lý với tư cách một Người Phụng Sự Thế Gian đang được huấn luyện.

Speaking symbolically, I would say that the planetary astral body (viewing it from soul levels) is lost in the [70] depths of a surrounding fog. When at night you look out at some clear sky, you see the stars and suns and planets shining with a clear cold brilliancy and with a twinkling blazing light which penetrates for many millions of miles (or light years as they are called) until the human eye registers them and records the existence of these shining stars. Looking, however, at the astral body of the planet, could you but do so, you would see no such clear shining but simply a murky ball of seeming steam and mist and fog. This fog is of a density and thickness which would indicate not only impenetrability but also those conditions which are unfavourable to life. Yet we pass and come and go, we the Teachers on the inner side; and in that fog—seeing all things misshapen and distorted—labour the sons of men. Some are so habituated to the fog and the density that they remain oblivious of its existence, regarding it as right and good and the unchangeable place of their daily life. Others have caught faint glimpses of a clearer world wherein more perfect forms and shapes can be seen and where the fog hides not a dimly sensed reality—though what that reality may be they know not. Still others, such as yourselves, see before you an open path leading to the clear light of day. You know not yet, however, that as you tread the path you must, on the Path itself, work actively and intelligently with the surrounding glamour, following a trail blazed by those who have liberated themselves from the environing mists and passed on into a world of clear horizons. So much of the time spent by disciples on the Path is a process of almost cyclic immersion in glamour and fog, alternating with hours of clarity and vision.

Theo nghĩa biểu tượng, Tôi muốn nói rằng thể cảm dục hành tinh (khi nhìn từ các cấp độ linh hồn) chìm sâu trong [70] màn sương mù bao quanh. Khi nhìn lên một bầu trời quang đãng vào ban đêm, các bạn thấy những ngôi sao, những mặt trời và các hành tinh tỏa sáng với vẻ rực rỡ trong trẻo, lạnh, cùng ánh sáng lấp lánh chói lọi xuyên qua hàng triệu dặm (hay những năm ánh sáng, như cách người ta gọi), cho đến khi mắt người ghi nhận chúng và ghi lại sự hiện hữu của những ngôi sao rực sáng ấy. Tuy nhiên, nếu có thể nhìn vào thể cảm dục của hành tinh, các bạn sẽ không thấy vẻ sáng trong như thế, mà chỉ thấy một khối cầu tối mờ, dường như gồm hơi nước, sương và sương mù. Màn sương mù này đậm đặc và dày đến mức không chỉ cho thấy tính không thể xuyên thấu, mà còn cho thấy những điều kiện bất lợi cho sự sống. Tuy vậy, chúng ta, những huấn sư ở phía bên trong, vẫn đi qua, đến rồi đi; và trong màn sương ấy—nhìn mọi vật đều méo mó và biến dạng—những người con của nhân loại đang lao động. Một số người đã quá quen với sương mù và sự đậm đặc ấy đến mức không nhận biết sự hiện hữu của nó, xem đó là nơi chốn đúng đắn, tốt đẹp và không thể thay đổi của đời sống hằng ngày. Những người khác đã thoáng thấy một thế giới trong sáng hơn, nơi có thể nhìn thấy những hình tướng và hình dạng hoàn hảo hơn, và nơi sương mù không che khuất một thực tại được cảm nhận lờ mờ—dù họ không biết thực tại ấy có thể là gì. Lại có những người khác, như chính các bạn, nhìn thấy trước mình một con đường rộng mở dẫn đến ánh sáng trong trẻo của ban ngày. Tuy nhiên, các bạn chưa biết rằng khi bước trên con đường ấy, ngay trên chính Đường Đạo, các bạn phải xử lý ảo cảm bao quanh một cách tích cực và sáng suốt, theo dấu con đường mà những người đã tự giải thoát khỏi sương mù quanh mình và tiến vào một thế giới có chân trời quang đãng đã mở ra. Phần lớn thời gian đệ tử trải qua trên Đường Đạo là một tiến trình gần như có chu kỳ: chìm trong ảo cảm và sương mù, xen kẽ với những giờ phút sáng tỏ và có tầm nhìn.

There are four things which you who seek to work with glamour need to grasp; four basic recognitions which, [71] when understood, will serve to clear and lighten, and therefore straighten your way:

Có bốn điều mà các bạn, những người tìm cách xử lý ảo cảm, cần nắm bắt; bốn nhận biết căn bản mà, [71] khi được thấu hiểu, sẽ giúp làm con đường của các bạn sáng tỏ và nhẹ nhàng hơn, do đó cũng thẳng hơn:

1. Each human being stands in an environing world of glamour which is the result of:

1. Mỗi con người đều đứng trong một thế giới ảo cảm bao quanh, là kết quả của:

a. His own past, with its wrong thinking, selfish desires, and misinterpretation of the purposes of life. There is, or has been, no comprehension of the intended life purpose as visioned by the soul and there cannot be until there is some definite organisation of the mental body.

a. Quá khứ của chính y, với tư duy sai lạc, những dục vọng ích kỷ và sự diễn giải sai lạc về các mục đích của đời sống. Y không có, hoặc chưa từng có, sự thấu hiểu về mục đích đời sống đã định như linh hồn hình dung, và cũng không thể có sự thấu hiểu ấy cho đến khi thể trí được tổ chức một cách rõ rệt.

b. His family “desire life,” both past and present. This becomes increasingly potent as evolution proceeds and the desire life of the family unit becomes comes marked and emphasised, constituting then inherited and demonstrated psychological tendencies and characteristics.

b. “Đời sống dục vọng” của gia đình y, cả quá khứ lẫn hiện tại. Điều này ngày càng mạnh mẽ khi tiến hoá tiếp diễn và đời sống dục vọng của đơn vị gia đình trở nên rõ nét, nổi bật, rồi hình thành những khuynh hướng và đặc điểm tâm lý được thừa hưởng và biểu lộ.

c. National glamour, which is the sum total of the desire life, plus the illusions, of any nation. These we term national characteristics and they are so persistent and marked that they are usually recognised as embodying national psychological traits. These are, of course, based on ray tendencies, past history, and world inter-relations but constitute in themselves a glamorous condition out of which every nation must work as it marches on towards the realisation of (and identification with) reality.

c. Ảo cảm quốc gia, là tổng thể đời sống dục vọng cộng với những ảo tưởng của bất kỳ quốc gia nào. Chúng ta gọi chúng là những đặc điểm quốc gia; chúng dai dẳng và rõ nét đến mức thường được nhận biết là hiện thân của những nét tâm lý quốc gia. Dĩ nhiên, chúng dựa trên các khuynh hướng cung, lịch sử đã qua và những mối quan hệ tương hỗ trên thế giới, nhưng bản thân chúng tạo thành một trạng thái ảo cảm mà mỗi quốc gia phải tìm cách thoát ra khi tiến đến sự chứng nghiệm thực tại (và đồng hoá với thực tại).

d. An extension of the above idea into what we call racial glamour, using the word race to mean the human race. This constitutes a very ancient glamour or almost a series of glamours, of entrenched desires, potent aspirations of some kind and definitely human-made forms which—fluidic, enveloping and pulsating with dynamic life—seek to [72] hold the consciousness of humanity upon the astral plane. Such a glamorous concept is that of money and its materialistic value. This glamorous desire is like a dense widely distributed fog, cutting off the vision of truth, and distorting a very large number of human values.

d. Sự mở rộng ý tưởng trên thành điều chúng ta gọi là ảo cảm nhân loại, dùng từ nhân loại để chỉ toàn thể loài người. Điều này tạo thành một ảo cảm rất cổ xưa, hay gần như một chuỗi những ảo cảm, những dục vọng đã ăn sâu, những khát vọng mạnh mẽ thuộc một loại nào đó, và những hình tướng rõ ràng do con người tạo ra; những hình tướng ấy—linh động, bao bọc và rung động theo sức sống mãnh liệt—tìm cách [72] giữ tâm thức nhân loại trên cõi cảm dục. Một quan niệm mang tính ảo cảm như vậy là quan niệm về tiền bạc và giá trị vật chất của nó. Dục vọng mang tính ảo cảm này giống như một màn sương mù đậm đặc lan rộng, che khuất tầm nhìn về chân lý và làm méo mó rất nhiều giá trị của con người.

2. This fog, this glamour which envelops humanity at this time must be realised as a definite substantial thing, and must be dealt with as such. The disciple or aspirant who is seeking to dispel glamour, either in his own life or as a service rendered to the world, must recognise that he is working with substance, with the breaking up of the forms which it has assumed, and with the dissipation of a material all-enveloping substance—material in the same sense as thoughtforms are substantial things but (and here is a point of importance) of a less substantial nature than the forms of glamour found upon the astral plane. We are quite willing to remember that “thoughts are things” and that they have a form life and a purpose of their own. But they have a more unique and separative existence, and more clearly defined and more definite outlines. The forms of glamour on the astral plane are even more substantial but are less clearly defined. Thoughtforms are dynamic, penetrating, clear cut and outlined. Glamours are smothering, vague, and enveloping. In them, a person is immersed as in the ocean or in a “sea of fog.” With thoughtforms, he is confronted or faced, but not immersed. It might almost be said that the astral body of a person comes into being as a part of the general world glamour; it is difficult for him to differentiate between his own astral body and the glamours which affect and sway and submerge him. His problem upon the mental plane is more clearly defined, even if it is equally difficult. [73]

2. Phải nhận ra rằng màn sương mù này, ảo cảm đang bao phủ nhân loại hiện nay, là một sự vật có chất liệu rõ rệt, và phải xử lý nó như vậy. Người đệ tử hay người chí nguyện đang tìm cách xua tan ảo cảm, dù trong đời sống riêng hay như một công việc phụng sự thế giới, phải nhận biết rằng mình đang làm việc với chất liệu, với việc phá vỡ những hình tướng mà chất liệu ấy đã mang lấy, và với việc làm tiêu tan một chất liệu vật chất bao trùm tất cả—mang tính vật chất theo cùng nghĩa rằng các hình tư tưởng là những sự vật có chất liệu, nhưng (và đây là một điểm quan trọng) có bản chất ít mang tính chất liệu hơn những hình tướng ảo cảm trên cõi cảm dục. Chúng ta rất sẵn lòng ghi nhớ rằng “tư tưởng là sự vật”, và rằng chúng có một đời sống hình tướng cùng mục đích riêng. Nhưng chúng có sự hiện hữu riêng biệt và tách biệt hơn, với những đường nét được xác định rõ ràng và dứt khoát hơn. Những hình tướng ảo cảm trên cõi cảm dục còn mang tính chất liệu nhiều hơn, nhưng lại có đường nét kém rõ ràng hơn. Các hình tư tưởng năng động, xuyên thấu, sắc nét và có đường nét rõ rệt. Những ảo cảm gây ngột ngạt, mơ hồ và bao bọc. Trong chúng, một người chìm ngập như trong đại dương hay trong một “biển sương mù”. Với các hình tư tưởng, y đối diện hay đương đầu, chứ không chìm ngập. Gần như có thể nói rằng thể cảm dục của một người hình thành như một phần của ảo cảm thế giới nói chung; y khó phân biệt giữa thể cảm dục của chính mình và những ảo cảm đang tác động, chi phối và nhấn chìm y. Vấn đề của y trên cõi trí được xác định rõ ràng hơn, dù cũng khó khăn không kém. [73]

3. Astral glamour is a form of energy and an energy of great potency, owing to three factors:

3. Ảo cảm cảm dục là một dạng năng lượng, và là một năng lượng có sức mạnh lớn, do ba yếu tố:

a. It is of such an ancient rhythm, being inherent in astral substance itself, that it is most difficult for a human being to become aware of it or to understand it; it is the result of the age-long activity of human desire.

a. Nó có một nhịp điệu quá cổ xưa, vốn nằm trong chính chất liệu cảm dục, đến mức một người rất khó nhận biết hay thấu hiểu nó; nó là kết quả của hoạt động dục vọng của con người qua bao thời đại.

b. It is a corporate part of a man’s own energy nature, and therefore constitutes for him the line of least resistance; it is part of a great world process and therefore a part of the individual life process also, and is, in itself, not wrong but an aspect of reality. This realisation necessarily complicates man’s thought about it.

b. Nó là một phần hợp thành bản chất năng lượng của chính con người, và vì vậy tạo nên con đường ít trở ngại nhất đối với y; nó là một phần của tiến trình thế giới rộng lớn, do đó cũng là một phần của tiến trình đời sống cá nhân, và bản thân nó không sai, mà là một phương diện của thực tại. Nhận biết này tất nhiên làm cho suy nghĩ của con người về nó trở nên phức tạp.

c. It is likewise definitely Atlantean in nature, being brought to a very high point of development in that race. It can therefore only be finally dissipated by the Aryan race using the right technique. The individual who is learning to dissipate glamour has to do two things:

c. Nó cũng rõ ràng mang bản chất Atlantis, vì đã đạt đến một trình độ phát triển rất cao trong giống dân ấy. Vì vậy, chỉ nhân loại Arya, sử dụng kỹ thuật đúng đắn, mới có thể cuối cùng làm tiêu tan nó. Cá nhân đang học cách làm tiêu tan ảo cảm phải làm hai điều:

1. Stand in spiritual being.

1. An trụ trong bản thể tinh thần.

2. Keep the mind steady in the light.

2. Giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng.

From this it will be apparent that the energy of the astral plane as it expresses itself in the sentient desire life of the race, produces the major glamours of humanity, and can only be dissipated, dispersed and dispelled by the bringing in of the higher energy of the mind, motivated by the soul.

Từ đó, sẽ thấy rõ rằng năng lượng của cõi cảm dục, khi biểu đạt trong đời sống dục vọng có cảm thụ của nhân loại, tạo ra những ảo cảm chủ yếu của nhân loại, và chỉ có thể được làm tiêu tan, phân tán và xua tan bằng cách đưa vào năng lượng cao hơn của thể trí, do linh hồn thúc đẩy.

4. The glamours which hold humanity in thrall are:

4. Những ảo cảm đang nô dịch nhân loại là:

a. The glamour of materiality.

a. Ảo cảm của tính vật chất.

b. The glamour of sentiment.

b. Ảo cảm của tình cảm.

c. The glamour of devotion.

c. Ảo cảm Sùng tín.

d. The glamour of the pairs of opposites.

d. Ảo cảm của các cặp đối cực.

e. The glamours of the Path.

e. Những ảo cảm của Đường Đạo.

[74] Let me now elucidate these glamours for you a little more in detail.

[74] Giờ đây, hãy để Tôi làm sáng tỏ những ảo cảm này cho các bạn một cách chi tiết hơn đôi chút.

The glamour of materiality is the cause of all the present world distress, for what we call the economic problem is simply the result of this particular glamour. Down the ages, this glamour has held the race increasingly interested, until today the entire world has been swept into the rhythm of money interest. A rhythm emanating from soul levels has always existed, being established by Those Who have freed Themselves from the control of material requirements, from the thraldom of money and the love of possessions. Today that higher rhythm is commensurate with the lower rhythmic glamour, and hence the whole world is thinking in terms of the way out from this present material impasse. Those souls who stand in the light to be found upon the mountain top of liberation and those who are advancing upward out of the fogs of materiality are now sufficient in numbers to do some definite work in connection with the dissipation of this glamour. The influence of their thoughts and words and lives can and will bring about a readjustment of values, and a new standard of living for the race, based upon clear vision, a correct sense of proportion and a realisation of the true nature of the relationship existing between soul and form, between spirit and matter. That which will meet a need that is vital and real ever exists within the divine plan. That which is unnecessary to the right expression of divinity and to a full and rich life can be gained and can be possessed, but only through the loss of the more real and the negation of the essential.

Ảo cảm của tính vật chất là nguyên nhân của mọi nỗi khốn khổ trên thế giới hiện nay, vì điều chúng ta gọi là vấn đề kinh tế chỉ đơn giản là kết quả của ảo cảm đặc thù này. Qua bao thời đại, ảo cảm này ngày càng khiến nhân loại chú tâm vào nó, cho đến ngày nay, toàn thế giới đã bị cuốn vào nhịp điệu của sự quan tâm đến tiền bạc. Một nhịp điệu phát ra từ các cấp độ linh hồn vẫn luôn tồn tại, do những Đấng đã tự giải thoát khỏi sự kiểm soát của các nhu cầu vật chất, khỏi sự nô dịch của tiền bạc và lòng yêu thích sở hữu xác lập. Ngày nay, nhịp điệu cao hơn ấy đã tương xứng với ảo cảm mang nhịp điệu thấp hơn, và do đó toàn thế giới đang suy nghĩ về con đường thoát khỏi bế tắc vật chất hiện tại. Những linh hồn đứng trong ánh sáng trên đỉnh núi giải thoát, cùng những linh hồn đang tiến lên ra khỏi sương mù của tính vật chất, giờ đã đủ đông để thực hiện một công việc rõ rệt liên quan đến việc làm tiêu tan ảo cảm này. Ảnh hưởng từ tư tưởng, lời nói và đời sống của họ có thể và sẽ đem lại sự điều chỉnh lại các giá trị, cùng một chuẩn mực sống mới cho nhân loại, dựa trên tầm nhìn sáng rõ, một Ý thức về tỉ lệ đúng đắn và sự nhận biết bản chất chân thực của mối quan hệ hiện hữu giữa linh hồn và hình tướng, giữa tinh thần và vật chất. Điều đáp ứng một nhu cầu thiết yếu và thực sự luôn hiện hữu trong Thiên Cơ. Những gì không cần thiết cho sự biểu đạt đúng đắn của thiên tính và cho một đời sống đầy đủ, phong phú vẫn có thể đạt được và sở hữu, nhưng chỉ bằng cái giá đánh mất những gì chân thực hơn và phủ nhận những gì thiết yếu.

Students, however, need to remember that that which is necessary varies according to the stage of evolution which [75] has been reached by an individual. For some people, for instance, the possession of that which is material may be as great a spiritual experience and as potent a teacher in life expression as the more elevated and less material requirements of the mystic or hermit. We are rated as regards action and point of view by our place upon the ladder of evolution. We are rated really by our point of view and not by our demand upon life. The spiritually minded man and the man who has set his feet upon the Path of Probation and who fails to attempt the expression of that which he believes, will be judged as caustically and pay as high a price as does the pure materialist—the man whose desires centre around substantial effects. Bear this in mind and sit not in the seat of the judge or the scornful.

Tuy nhiên, các đạo sinh cần nhớ rằng những gì cần thiết thay đổi tùy theo giai đoạn tiến hoá mà [75] một cá nhân đã đạt đến. Chẳng hạn, đối với một số người, việc sở hữu những thứ vật chất có thể là một trải nghiệm tinh thần lớn lao và một huấn sư mạnh mẽ trong sự biểu đạt đời sống, không kém những nhu cầu cao hơn và ít mang tính vật chất hơn của nhà thần bí hay người ẩn tu. Hành động và quan điểm của chúng ta được đánh giá theo vị trí của chúng ta trên thang tiến hoá. Thực ra, chúng ta được đánh giá theo quan điểm của mình, chứ không theo những đòi hỏi của mình đối với đời sống. Người có khuynh hướng tinh thần, người đã đặt chân lên Con Đường Dự Bị mà không cố gắng biểu đạt điều mình tin tưởng, sẽ bị phán xét nghiêm khắc và phải trả giá đắt không kém người thuần duy vật—người có dục vọng tập trung vào những kết quả vật chất. Hãy ghi nhớ điều này và đừng ngồi vào chỗ của người phán xét hay kẻ khinh miệt.

Today the glamour of materiality is lessening perceptibly. The peoples of the world are entering the wilderness experience, and will find in the wilderness how little is required for full living, true experience and real happiness. The gluttonous desire for possessions is not regarded as so reputable a desire as formerly, and a desire for riches is not producing the clutching hands as earlier in racial history. Things and possessions are slipping out of the hands which have hitherto tightly held them, and only when men stand with empty hands and a realised new standard of values do they again acquire the right to own and to possess. When desire is absent and the man seeks nothing for the separated self, the responsibility of material wealth can again be handed back to man, but his point of view will then be free from that particular glamour, and the fogs of astral desire will be lessened. Illusion in many forms may still hold sway but the glamour of materiality will be gone. It is the first destined to disappear. Students would do well to remember that all forms of possessions and all material objects, whether it is money, or a house, a picture or an automobile, [76] have an intrinsic life of their own, an emanation of their own, and an activity which is essentially that of their own inherent atomic structures (for an atom is a unit of active energy). This produces counterparts in the world of etheric and astral life, though not in the mental world. These subtler forms and distinctive emanations swell the potency of the world desire; they contribute to the world glamour and form part of a great and powerful miasmic world, which is on the involutionary arc but in which humanity, upon the upward arc, is nevertheless immersed. Therefore the Guides of the Race have felt the necessity of standing by whilst the forces set up by man himself proceed to strip him and thus release him to walk in the wilderness. There, in what is called straightened circumstances, he can readjust his life and change his way of living, thus discovering that freedom from material things carries with it its own beauty and reward, its own joy and glory. Thus he is liberated to live the life of the mind.

Ngày nay, ảo cảm của tính vật chất đang giảm đi rõ rệt. Các dân tộc trên thế giới đang bước vào trải nghiệm nơi hoang mạc, và ở đó sẽ nhận ra rằng cần rất ít để sống trọn vẹn, có trải nghiệm chân thực và hạnh phúc thực sự. Dục vọng tham lam muốn sở hữu không còn được xem là đáng trọng như trước, và lòng ham muốn giàu có không còn khiến những bàn tay nắm chặt như trong các thời kỳ trước của lịch sử nhân loại. Đồ vật và tài sản đang tuột khỏi những bàn tay từ trước đến nay vẫn nắm giữ chúng thật chặt; chỉ khi con người đứng với đôi tay trống không và nhận biết một chuẩn mực giá trị mới, họ mới lại có được quyền sở hữu và nắm giữ. Khi không còn dục vọng và con người không tìm kiếm gì cho cái ngã riêng biệt, trách nhiệm đối với của cải vật chất có thể lại được trao cho con người, nhưng khi ấy quan điểm của y sẽ thoát khỏi ảo cảm đặc thù này, và sương mù của dục vọng cảm dục sẽ giảm bớt. Ảo tưởng dưới nhiều hình thức vẫn có thể chi phối, nhưng ảo cảm của tính vật chất sẽ không còn. Nó là ảo cảm được định sẽ biến mất đầu tiên. Các đạo sinh nên nhớ rằng mọi hình thức sở hữu và mọi vật thể vật chất, dù là tiền bạc, một ngôi nhà, một bức tranh hay một chiếc ô tô, [76] đều có đời sống nội tại riêng, sự phát xạ riêng và một hoạt động mà về cơ bản là hoạt động của các cấu trúc nguyên tử vốn có trong chúng (vì một nguyên tử là một đơn vị năng lượng hoạt động). Điều này tạo ra các đối phần trong thế giới đời sống dĩ thái và cảm dục, dù không có trong thế giới trí tuệ. Những hình tướng tinh tế hơn và những phát xạ đặc trưng này làm gia tăng sức mạnh của dục vọng thế giới; chúng góp phần vào ảo cảm thế giới và tạo thành một phần của một thế giới khí độc rộng lớn, mạnh mẽ, nằm trên cung giáng hạ tiến hoá, nhưng nhân loại, trên cung đi lên, vẫn chìm ngập trong đó. Vì vậy, các Đấng Hướng Dẫn Nhân Loại đã thấy cần phải đứng ngoài trong khi những mãnh lực do chính con người tạo ra tiếp tục tước bỏ mọi thứ của y, qua đó giải thoát y để bước đi trong hoang mạc. Ở đó, trong những gì được gọi là hoàn cảnh túng thiếu, y có thể điều chỉnh lại đời sống và thay đổi cách sống, từ đó khám phá rằng sự tự do khỏi những thứ vật chất mang theo vẻ đẹp và phần thưởng riêng, sự hoan hỉ và vinh quang riêng. Như vậy, y được giải thoát để sống đời sống trí tuệ.

The glamour of sentiment holds the good people of the world in thrall, and in a dense fog of emotional reactions. The race has reached a point wherein the men of good intention, of some real understanding and owning a measure of freedom from the love of gold (symbolic way of speaking of the glamour of materiality) are turning their desire to their duty, their responsibilities, their effects upon others, and to their sentimental understanding of the nature of love. Love, for many people, for the majority indeed, is not really love but a mixture of the desire to love and the desire to be loved, plus a willingness to do anything to show and evoke this sentiment, and consequently to be more comfortable in one’s own interior life. The selfishness of the people who are desirous of being unselfish is great. So many contributing sentiments gather around the sentiment or desire to show those amiable and pleasant characteristics which will evoke a corresponding reciprocation towards the would-be lover [77] or server who is still completely surrounded by the glamour of sentiment.

Ảo cảm của tình cảm nô dịch những người tốt trên thế giới, giữ họ trong một màn sương mù đậm đặc của những phản ứng cảm xúc. Nhân loại đã đạt đến một điểm mà những người có thiện ý, có phần nào sự thấu hiểu chân thực và phần nào tự do khỏi lòng yêu vàng bạc (một cách nói biểu tượng về ảo cảm của tính vật chất), đang hướng dục vọng của mình vào bổn phận, trách nhiệm, những tác động của mình lên người khác và cách thấu hiểu nặng về tình cảm của mình đối với bản chất của tình thương. Đối với nhiều người, thật ra là đa số, tình thương không thực sự là tình thương, mà là sự pha trộn giữa mong muốn yêu thương và mong muốn được yêu thương, cộng với sự sẵn lòng làm bất cứ điều gì để biểu lộ và gợi lên tình cảm này, rồi nhờ đó thấy dễ chịu hơn trong đời sống nội tâm của chính mình. Sự ích kỷ của những người mong muốn trở nên không ích kỷ thật lớn lao. Biết bao tình cảm góp phần quy tụ quanh tình cảm hay mong muốn biểu lộ những đặc điểm dễ mến và dễ chịu, nhằm gợi lên sự đáp lại tương ứng đối với người muốn trở thành người yêu thương [77] hay người phụng sự, nhưng vẫn còn hoàn toàn bị ảo cảm của tình cảm bao quanh.

It is this pseudo-love, based primarily on a theory of love and service, which characterises so many human relationships such as those existing, for instance, between husband and wife, parents and their children. Glamoured by their sentiment for them and knowing little of the love of the soul which is free itself and leaves others free also, they wander in a dense fog, often dragging with them the ones they desire to serve in order to draw forth a responsive affection. Study the word “affection,” my brother, and see its true meaning. Affection is not love. It is that desire which we express through an exertion of the astral body and this activity affects our contacts; it is not the spontaneous desirelessness of the soul which asks nothing for the separated self. This glamour of sentiment imprisons and bewilders all the nice people in the world, imposing upon them obligations which do not exist, and producing a glamour which must eventually be dissipated by the pouring in of true and selfless love.

Chính thứ tình thương giả tạo này, chủ yếu dựa trên một lý thuyết về tình thương và phụng sự, là đặc trưng của rất nhiều mối quan hệ giữa người với người, chẳng hạn như giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Bị tình cảm dành cho những người ấy làm cho chìm trong ảo cảm, và biết rất ít về tình thương của linh hồn vốn tự do và cũng để người khác được tự do, họ lang thang trong một màn sương dày đặc, thường kéo theo những người mà họ muốn phụng sự nhằm khơi dậy tình cảm quyến luyến đáp lại. Huynh đệ của tôi, hãy nghiên cứu từ “quyến luyến” và nhận ra ý nghĩa thực sự của nó. Quyến luyến không phải là tình thương. Đó là dục vọng mà chúng ta biểu lộ bằng cách vận dụng thể cảm dục, và hoạt động này tác động đến những người chúng ta tiếp xúc; đó không phải là trạng thái tự nhiên không có dục vọng của linh hồn, vốn không đòi hỏi điều gì cho bản ngã biệt lập. Ảo cảm tình cảm này giam hãm và làm hoang mang tất cả những người tử tế trên thế giới, đặt lên họ những nghĩa vụ không hề tồn tại, và tạo ra một ảo cảm mà cuối cùng dòng tình thương chân thực và vô vị kỷ tuôn vào phải làm tiêu tan.

I am but touching with brevity upon these glamours for each of you can elaborate them for yourselves, and in so doing will discover where you stand in the world of fog and glamour. Thus, with knowledge, you can begin to free yourselves from the glamour of the world.

Tôi chỉ đề cập ngắn gọn đến những ảo cảm này, vì mỗi người trong các bạn đều có thể tự triển khai chúng, và khi làm như vậy, các bạn sẽ khám phá mình đang đứng ở đâu trong thế giới sương mù và ảo cảm. Nhờ đó, với sự hiểu biết, các bạn có thể bắt đầu tự giải thoát khỏi ảo cảm của thế giới.

The glamour of devotion causes many probationary disciples to wander circuitously around in the world of desire. This is primarily a glamour which affects sixth ray persons and is particularly potent at this time owing to the age-long activity of the sixth Ray of Devotion during the rapidly passing Piscean Age. It is today one of the potent glamours of the really devoted aspirant. They are devoted to a cause, to a teacher, to a creed, to a person, to a duty, or to a responsibility. Ponder on this. This harmless desire along some line of idealism which confronts them becomes definitely [78] harmful both to themselves and to others, because through this glamour of devotion they swing into the rhythm of the world glamour which is essentially the fog of desire. Potent desire along any line, when it obliterates the wider vision and shuts a man within a tiny circle of his own desire to satisfy his sentiment of devotion, is just as hampering as any of the other glamours, and is even more dangerous because of the beautiful colouring which the resultant fog takes on. A man gets lost in a rapturous mist of his own making, which emanates from his astral body and which is composed of the sentimentalising of his own nature about his own desire and devotion to the object of his attracted attention.

Ảo cảm Sùng tín khiến nhiều đệ tử dự bị lang thang vòng vèo trong thế giới dục vọng. Đây chủ yếu là một ảo cảm tác động đến những người thuộc cung sáu, và hiện nay nó đặc biệt mạnh do hoạt động kéo dài suốt nhiều thời đại của cung sáu Sùng tín trong Thời đại Song Ngư đang nhanh chóng qua đi. Ngày nay, đây là một trong những ảo cảm mạnh mẽ của người chí nguyện thực sự sùng tín. Họ tận hiến cho một sự nghiệp, một huấn sư, một tín điều, một người, một bổn phận, hoặc một trách nhiệm. Hãy suy ngẫm về điều này. Dục vọng vô tổn hại này, hướng theo một đường lối lý tưởng nào đó đang hiện ra trước họ, lại trở nên rõ ràng [78] có hại cho cả bản thân họ lẫn người khác, vì qua Ảo cảm Sùng tín này, họ bị cuốn vào nhịp điệu của ảo cảm thế giới, vốn về bản chất là màn sương dục vọng. Dục vọng mạnh mẽ theo bất kỳ đường hướng nào, khi nó che lấp tầm nhìn rộng lớn hơn và giam một người trong vòng tròn nhỏ hẹp của chính dục vọng muốn thỏa mãn tình cảm sùng tín của mình, cũng gây cản trở như mọi ảo cảm khác, và thậm chí còn nguy hiểm hơn vì sắc màu đẹp đẽ mà màn sương phát sinh từ đó khoác lên. Một người lạc lối trong màn sương ngây ngất do chính mình tạo ra, phát xuất từ thể cảm dục của y và hình thành từ việc y phủ đầy tình cảm lên bản chất của mình, xoay quanh dục vọng và lòng sùng tín của chính y đối với đối tượng thu hút sự chú ý của y.

With all true aspirants, owing to the increased potency of their vibrations, this devotional sentiment can be particularly difficult and bring about a lengthy imprisonment. One illustration of this is the sentiment of devotion poured out in a glamorous ecstasy by probationary disciples upon the Masters of the Wisdom. Around the names of the Members of the Hierarchy and around Their work, and the work of the initiates and the disciplined disciples (mark that phrase) a rich glamour is created which prevents Them ever reaching the disciple or his reaching Them. It is not possible to penetrate the dense glamour of devotion, vibrating with dynamic ecstatic life, which emanates from the concentrated energy of the disciple, working still through the solar plexus centre.

Với mọi người chí nguyện chân chính, do rung động của họ ngày càng mạnh, tình cảm sùng tín này có thể đặc biệt khó khắc phục và dẫn đến sự giam hãm kéo dài. Một minh họa cho điều này là tình cảm sùng tín mà các đệ tử dự bị tuôn đổ lên các Chân sư Minh Triết trong trạng thái ngây ngất đầy ảo cảm. Quanh danh hiệu của các Thành viên Thánh đoàn và quanh công việc của Các Ngài, cùng công việc của các điểm đạo đồ và các đệ tử đã được rèn luyện kỷ luật (hãy lưu ý cụm từ đó), một lớp ảo cảm dày đặc hình thành, ngăn Các Ngài đến với người đệ tử hoặc ngăn y đến với Các Ngài. Không thể xuyên qua lớp Ảo cảm Sùng tín dày đặc, rung động với sức sống ngây ngất mãnh liệt, phát xuất từ năng lượng tập trung của người đệ tử vẫn còn hoạt động qua trung tâm tùng thái dương.

For this glamour there are some age-old rules: Contact the greater Self through the medium of the higher Self and thus lose sight of the little self, its reactions, its desires, and intentions. Or: The pure love of the soul which is not personalised in any way and which seeks no recognition can then pour into the world of glamour which surrounds the [79] devotee, and the mists of his devotion (upon which he prides himself) will melt away.

Đối với ảo cảm này, có một số quy luật từ xa xưa: Hãy tiếp xúc với Bản Ngã vĩ đại qua trung gian của chân ngã, và nhờ đó không còn chú tâm đến bản ngã nhỏ bé, những phản ứng, dục vọng và ý định của nó. Hoặc: Khi ấy, tình thương thuần khiết của linh hồn, không bị cá nhân hóa dưới bất kỳ hình thức nào và không tìm kiếm sự công nhận, có thể tuôn vào thế giới ảo cảm bao quanh [79] người sùng tín, và những màn sương của lòng sùng tín nơi y (điều mà y lấy làm tự hào) sẽ tan biến.

Upon the Probationary Path there comes the swing, consciously registered, between the pairs of opposites until the middle way is sighted and emerges. This activity produces the glamour of the pairs of opposites, which is of a dense and foggy nature, sometimes coloured with joy and bliss and sometimes coloured with gloom and depression as the disciple swings back and forth between the dualities. This condition persists just as long as the emphasis is laid upon feeling—which feeling will run the gamut between a potent joyfulness as the man seeks to identify himself with the object of his devotion or aspiration, or fails to do so and therefore succumbs to the blackest despair and sense of failure. All this is, however, astral in nature and sensuous in quality and is not of the soul at all. Aspirants remain for many years and sometimes for many lives imprisoned by this glamour. Release from the world of feeling and the polarising of the disciple in the world of the illumined mind will dissipate this glamour which is part of the great heresy of separateness. The moment a man differentiates his life into triplicities (as he inevitably must as he deals with the pairs of opposites and identifies himself with one of them) he succumbs to the glamour of separation. Perhaps this point of view may aid or perhaps it will remain a mystery, for the secret of world glamour lies hid in the thought that this triple differentiation veils the secret of creation. God Himself produced the pairs of opposites—spirit and matter—and also produced the middle way which is that of the consciousness aspect or the soul aspect. Ponder deeply on this thought.

Trên Con Đường Dự Bị, sự dao động giữa các cặp đối cực xuất hiện và được ghi nhận một cách có ý thức, cho đến khi trung đạo được nhìn thấy và hiện ra. Hoạt động này tạo ra ảo cảm của các cặp đối cực, vốn có bản chất dày đặc và mờ mịt, đôi khi nhuốm màu hoan hỉ và chí phúc, đôi khi nhuốm màu u ám và trầm uất khi người đệ tử dao động qua lại giữa các mặt nhị nguyên. Tình trạng này còn kéo dài chừng nào người ta vẫn đặt trọng tâm vào cảm xúc—thứ cảm xúc trải suốt một dải từ niềm hoan hỉ mạnh mẽ khi một người tìm cách đồng hóa với đối tượng sùng tín hoặc khát vọng của mình, cho đến nỗi tuyệt vọng tăm tối nhất và cảm giác thất bại khi y không làm được điều đó và vì thế suy sụp. Tuy nhiên, tất cả những điều này đều mang bản chất cảm dục, có phẩm tính thuộc cảm giác, và hoàn toàn không thuộc về linh hồn. Người chí nguyện bị ảo cảm này giam hãm trong nhiều năm, đôi khi trong nhiều kiếp sống. Việc giải thoát khỏi thế giới cảm xúc và sự phân cực của người đệ tử trong thế giới của thể trí được soi sáng sẽ làm tiêu tan ảo cảm này, vốn là một phần của Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Ngay khi một người phân chia đời sống của mình thành các bộ ba (như y tất yếu phải làm khi đề cập đến các cặp đối cực và đồng hóa với một trong hai cực), y sa vào ảo cảm chia rẽ. Có lẽ quan điểm này có thể giúp ích, hoặc có lẽ nó vẫn sẽ là một điều bí ẩn, vì bí mật của ảo cảm thế giới ẩn trong tư tưởng rằng sự biến phân tam phân này che phủ bí mật của sự sáng tạo. Chính Thượng đế đã tạo ra cặp đối cực—tinh thần và vật chất—và cũng tạo ra trung đạo, tức con đường của phương diện tâm thức hay phương diện linh hồn. Hãy suy ngẫm sâu sắc về tư tưởng này.

The triplicity of the pairs of opposites and of the narrow way of balance between them, the noble middle path, is the reflection on the astral plane of the activity of spirit, soul [80] and body; of life, consciousness and form, the three aspects of divinity—all of them equally divine.

Bộ ba gồm cặp đối cực và con đường cân bằng hẹp giữa chúng, trung đạo cao quý, là sự phản chiếu trên cõi cảm dục của hoạt động của tinh thần, linh hồn [80] và thân thể; của sự sống, tâm thức và hình tướng, ba phương diện của thiên tính—tất cả đều thiêng liêng như nhau.

As the aspirant learns to free himself from the glamours upon which we have touched, he discovers another world of fog and mist through which the Path seems to run and through which he must penetrate and thus free himself from the glamours of the Path. What are these glamours, my brothers? Study the three temptations of Jesus, if you would know clearly what they are. Study the effect that the affirmation schools which emphasise divinity (materially employed) have upon the thought of the world; study the failures of disciples through pride, the world saviour complex, the service complex, and all the various distortions of reality which a man encounters upon the Path, which hinder his progress and which spoils the service to others which he should be rendering. Emphasise in your own minds the spontaneity of the life of the soul and spoil it not with the glamour of high aspiration selfishly interpreted, self-centredness, self-immolation, self-aggressiveness, self-assertiveness in spiritual work—such are some of the glamours of the Path.

Khi người chí nguyện học cách tự giải thoát khỏi những ảo cảm mà chúng ta đã đề cập, y khám phá một thế giới sương mù khác mà Đường Đạo dường như đi xuyên qua; y phải xuyên qua thế giới ấy và nhờ đó tự giải thoát khỏi những ảo cảm của Đường Đạo. Các huynh đệ của Tôi, những ảo cảm này là gì? Hãy nghiên cứu ba cám dỗ của Đức Jesus nếu các bạn muốn biết rõ chúng là gì. Hãy nghiên cứu ảnh hưởng mà các trường phái khẳng định nhấn mạnh thiên tính (được vận dụng vào mục đích vật chất) gây ra đối với tư tưởng của thế giới; hãy nghiên cứu những thất bại của đệ tử do kiêu hãnh, phức cảm cứu tinh thế giới, phức cảm phụng sự, và mọi sự xuyên tạc thực tại khác nhau mà một người gặp trên Đường Đạo, vốn cản trở sự tiến bộ của y và làm hỏng việc phụng sự người khác mà y lẽ ra phải thực hiện. Hãy nhấn mạnh trong thể trí của các bạn tính tự nhiên của đời sống linh hồn, và đừng làm hỏng nó bằng ảo cảm của khát vọng cao cả được diễn giải theo lối ích kỷ, sự tập trung vào bản thân, sự tự hiến sinh, sự hung hăng của bản thân, sự tự khẳng định trong công việc tinh thần—đó là một số ảo cảm của Đường Đạo.

Next, we will consider glamour on the etheric plane and the theme of the Dweller upon the Threshold, and thus complete the brief outline of our problem which the first part of this teaching was intended to convey.

Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét ảo cảm trên cõi dĩ thái và chủ đề Kẻ Chận Ngõ, qua đó hoàn tất phần phác thảo ngắn gọn về vấn đề của chúng ta mà phần đầu của giáo huấn này nhằm truyền đạt.

Before taking up this subject in some detail, I would like to add something to our previous consideration of the problem of glamour. In your last instruction, I elaborated somewhat upon the subject of the various types of glamour and left with you the concept of their great importance in your individual lives. The battlefield (for the man who is nearing accepted discipleship or who is upon the path of discipleship, in the academic sense) is primarily that of [81] glamour. That is the major problem and its solution is imminent and urgent for all disciples and senior aspirants. It will be apparent, therefore, to you why the emphasis has been put, during the Aryan age, upon the necessity for the study of Raja Yoga, and the cultivation of submission to its discipline. Only through Raja Yoga can a man stand steady in the light, and only through illumination and the achievement of clear vision can the fogs and miasmas of glamour be finally dissipated. Only as the disciple learns to hold his mind “steady in the light,” and as the rays of pure light stream forth from the soul, can the glamour be discovered, discerned, recognised for what it essentially is and thus be made to disappear, as the mists of earth dissolve in the rays of the rising sun. Therefore I would counsel you to pay more adequate attention to your meditation, cultivating ever the ability to reflect and to assume the attitude of reflection—held steady throughout the day.

Trước khi xem xét chủ đề này một cách tương đối chi tiết, Tôi muốn bổ sung đôi điều vào phần xem xét trước đây của chúng ta về vấn đề ảo cảm. Trong huấn thị trước dành cho các bạn, Tôi đã triển khai phần nào chủ đề về các loại ảo cảm khác nhau và để lại cho các bạn quan niệm về tầm quan trọng lớn lao của chúng trong đời sống cá nhân. Chiến trường (đối với người đang tiến gần đến địa vị đệ tử được chấp nhận hoặc đang ở trên Con Đường Đệ Tử, theo nghĩa học thuật) chủ yếu là chiến trường [81] ảo cảm. Đó là vấn đề chính, và việc giải quyết nó đã cận kề và cấp bách đối với mọi đệ tử và người chí nguyện tiến xa. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ tại sao trong thời đại Arya người ta đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu Du Già Vương Giả và vun bồi sự tuân phục kỷ luật của pháp môn này. Chỉ qua Du Già Vương Giả, một người mới có thể đứng vững trong ánh sáng, và chỉ qua sự soi sáng cùng việc đạt được tầm nhìn rõ ràng, những màn sương và chướng khí của ảo cảm mới có thể cuối cùng tiêu tan. Chỉ khi người đệ tử học cách giữ thể trí của mình “vững vàng trong ánh sáng”, và khi những tia sáng thuần khiết tuôn ra từ linh hồn, ảo cảm mới có thể được khám phá, phân biện, nhận biết đúng bản chất của nó và nhờ đó biến mất, như những màn sương trên mặt đất tan trong những tia nắng của mặt trời đang lên. Vì vậy, Tôi khuyên các bạn hãy chú tâm đầy đủ hơn đến việc tham thiền, luôn vun bồi khả năng suy ngẫm và duy trì thái độ suy ngẫm—giữ vững thái độ ấy suốt ngày.

You would find it of real value to ponder deeply upon the purposes for which the intuition must be cultivated and the illumined mind developed, asking yourselves if those purposes are identical in objective and synchronous in time. You would then discover that their objectives differ, and the effects of their pronounced unfoldment upon the personality life are likewise different. Glamour is not dispelled through the means of the intuition nor is illusion overcome by the use of the illumined mind.

Các bạn sẽ thấy việc suy ngẫm sâu sắc về những mục đích mà vì đó trực giác phải được vun bồi và thể trí được soi sáng phải được phát triển thực sự có giá trị, đồng thời tự hỏi liệu những mục đích ấy có cùng mục tiêu và đồng thời về thời gian hay không. Khi ấy, các bạn sẽ khám phá rằng mục tiêu của chúng khác nhau, và những ảnh hưởng mà sự khai mở rõ rệt của chúng gây ra đối với đời sống phàm ngã cũng khác nhau. Ảo cảm không bị xua tan nhờ trực giác, và ảo tưởng cũng không được khắc phục bằng việc sử dụng thể trí được soi sáng.

The intuition is a higher power than is the mind, and is a faculty latent in the Spiritual Triad; it is the power of pure reason, an expression of the buddhic principle, and lies beyond the world of the ego and of form. Only when a man is an initiate can the exercise of the true intuition become normally possible. By that I mean that the intuition will then be as easily operative as is the mind principle in the case of an actively intelligent person. The intuition, however, will [82] make its presence felt much earlier in extremity or on urgent demand.

Trực giác là một quyền năng cao hơn thể trí, và là một năng lực tiềm tàng trong Tam Nguyên Tinh Thần; đó là quyền năng của lý trí thuần khiết, một biểu hiện của nguyên khí Bồ đề, và nằm ngoài thế giới của chân ngã và hình tướng. Chỉ khi một người là điểm đạo đồ, việc vận dụng trực giác chân thực mới có thể trở thành khả năng bình thường. Qua đó, Tôi muốn nói rằng khi ấy trực giác sẽ hoạt động dễ dàng như nguyên khí trí tuệ nơi một người có trí thông minh hoạt động tích cực. Tuy nhiên, trực giác sẽ [82] biểu lộ sự hiện diện của nó sớm hơn nhiều trong hoàn cảnh cùng cực hoặc khi có nhu cầu cấp bách.

It is illumination that the majority of aspirants, such as are found in this group, must seek; and they must cultivate the power to use the mind as a reflector of soul light, turning it upon the levels of glamour, and therefore dissipating it. The difficulty, my brothers, is to do so when in the midst of the agonies and deceptions of glamour. It requires a quiet withdrawing in mind and thought and desire from the world in which the personality habitually works, and the centering of the consciousness in the world of the soul, there silently and patiently to await developments, knowing that the light will shine forth, and illumination eventually take place.

Chính sự soi sáng là điều mà đa số người chí nguyện, như những người trong nhóm này, phải tìm kiếm; và họ phải vun bồi quyền năng sử dụng thể trí như một tấm gương phản chiếu ánh sáng linh hồn, hướng ánh sáng ấy vào các cấp độ ảo cảm, và nhờ đó làm tiêu tan ảo cảm. Các huynh đệ của Tôi, khó khăn là làm được điều này khi đang ở giữa những nỗi đau đớn và sự lừa dối của ảo cảm. Điều đó đòi hỏi phải lặng lẽ rút thể trí, tư tưởng và dục vọng ra khỏi thế giới nơi phàm ngã thường hoạt động, và tập trung tâm thức vào thế giới linh hồn, ở đó âm thầm và kiên nhẫn chờ đợi những diễn biến, biết rằng ánh sáng sẽ tỏa chiếu và sự soi sáng cuối cùng sẽ diễn ra.

A deep distrust of one’s reactions to life and circumstance, when such reactions awaken and call forth criticism, separativeness or pride, is of value. The qualities enumerated above are definitely breeders of glamour. They are occultly “the glamorous characteristics.” Ponder on this. If a man can free himself from these three characteristics, he is well on the way to the relinquishing and the dissipation of all glamour. I am choosing my words with care in an effort to arrest your attention.

Một thái độ hoài nghi sâu sắc đối với những phản ứng của mình trước cuộc sống và hoàn cảnh, khi những phản ứng ấy khơi dậy và làm nảy sinh sự chỉ trích, tính chia rẽ hoặc lòng kiêu hãnh, là điều có giá trị. Những phẩm tính vừa liệt kê chắc chắn là nguồn sinh ra ảo cảm. Theo nghĩa huyền bí, chúng là “những đặc tính gây ảo cảm”. Hãy suy ngẫm về điều này. Nếu một người có thể tự giải thoát khỏi ba đặc tính ấy, y đã tiến khá xa trên con đường buông bỏ và làm tiêu tan mọi ảo cảm. Tôi đang lựa chọn từ ngữ cẩn thận nhằm thu hút sự chú ý của các bạn.

Illusion is dispelled, rejected, and thrust away through the conscious use of the intuition. The initiate insulates himself from the world of illusion and of illusory forms and from the attractive urges of a personality nature and thereby—through the medium of isolation—comes into touch with the reality in all forms, hidden hitherto by the veil of illusion. This is one of the paradoxes of the Path. Insulation and isolation of the right kind lead to the right relationships and the correct contacts with the real. They produce eventual identification with reality, through insulation of oneself against the unreal. It is this idea which lies [83] behind the teaching given in the last book in the Yoga Sutras of Patanjali. These have often been misinterpreted and their meaning twisted into a plea for the wrong kind of isolation by those with separative tendencies and for selfish ends.

Ảo tưởng bị xua tan, loại bỏ và đẩy lùi qua việc sử dụng trực giác một cách có ý thức. Điểm đạo đồ tự cách ly khỏi thế giới ảo tưởng và những hình tướng hư ảo, cũng như khỏi những thôi thúc đầy hấp lực của bản chất phàm ngã, và nhờ đó—qua sự biệt lập—tiếp xúc với thực tại trong mọi hình tướng, vốn cho đến lúc ấy vẫn bị bức màn ảo tưởng che giấu. Đây là một trong những nghịch lý của Đường Đạo. Sự cách ly và biệt lập đúng đắn dẫn đến những mối quan hệ đúng đắn và những tiếp xúc đúng đắn với cái thực. Chúng cuối cùng tạo ra sự đồng hóa với thực tại, thông qua việc tự cách ly khỏi cái không thực. Chính ý tưởng này nằm [83] sau giáo huấn trong quyển cuối của Kinh Du Già của Patanjali. Những giáo huấn này thường bị những người có khuynh hướng chia rẽ diễn giải sai, và ý nghĩa của chúng bị bóp méo thành lời biện hộ cho kiểu biệt lập sai lầm và cho những mục đích ích kỷ.

It is the soul itself which dispels illusion, through the use of the faculty of the intuition. It is the illumined mind which dissipates glamour.

Chính linh hồn xua tan ảo tưởng bằng việc sử dụng năng lực trực giác. Chính thể trí được soi sáng làm tiêu tan ảo cảm.

I would like here to point out that many well-meaning aspirants fail at this point, due to two errors.

Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng nhiều người chí nguyện có thiện ý thất bại tại điểm này do hai sai lầm.

1. They omit to discriminate between illusion and glamour.

1. Họ không phân biện giữa ảo tưởng và ảo cảm.

2. They endeavour to dispel glamour through what they believe to be right method,—by calling in the soul, whereas they really need to use the mind correctly.

2. Họ cố gắng xua tan ảo cảm bằng điều mà họ cho là phương pháp đúng,—bằng cách triệu thỉnh linh hồn, trong khi điều họ thực sự cần là sử dụng thể trí đúng cách.

When one is in the midst of fogs and glamours, however, it is much easier to sit down and hypnotise oneself into the belief that one is “calling in the soul” than it is to subject one’s astral and emotional nature to the effect of hard straight thinking, using the mind as the instrument whereby glamour can be dispelled. Strange as it may seem, the “calling in of the soul” to deal directly with glamour may (and frequently does) lead to an intensification of the difficulty. The mind is the means whereby light can be brought to bear on all conditions of glamour, and students would do well to bear this thought constantly in their consciousness. The process is one of linking up the mind with the soul and then focussing oneself consciously and with precision in the mind nature or in the mental body, and not in the soul nature or the egoic form. Then, through analysis, discrimination and right thought one proceeds to deal with the problem of glamour. The trouble is that disciples often do not recognise [84] the condition as one of glamour and it is difficult to give a clear and infallible rule whereby that recognition can come. It might be stated, however, that glamour can always be found where there exists:

Tuy nhiên, khi đang ở giữa những màn sương và ảo cảm, ngồi xuống và tự thôi miên để tin rằng mình đang “triệu thỉnh linh hồn” dễ hơn nhiều so với việc đặt bản chất cảm dục và cảm xúc của mình dưới tác động của tư duy nghiêm túc, thẳng thắn, sử dụng thể trí làm công cụ để xua tan ảo cảm. Dù có vẻ kỳ lạ, việc “triệu thỉnh linh hồn” để trực tiếp xử lý ảo cảm có thể (và thường thực sự) làm khó khăn gia tăng. Thể trí là phương tiện để đưa ánh sáng tác động lên mọi tình trạng ảo cảm, và các đạo sinh nên luôn giữ tư tưởng này trong tâm thức. Tiến trình ấy là nối kết thể trí với linh hồn, rồi tập trung bản thân một cách có ý thức và chính xác vào bản chất trí tuệ hay vào thể trí, chứ không phải vào bản chất linh hồn hay hình tướng chân ngã. Sau đó, qua phân tích, phân biện và tư tưởng đúng đắn, người ta tiến hành xử lý vấn đề ảo cảm. Khó khăn là các đệ tử thường không nhận biết [84] tình trạng ấy là một tình trạng ảo cảm, và khó đưa ra một quy luật rõ ràng, không thể sai lầm, để đạt được sự nhận biết đó. Tuy nhiên, có thể nói rằng luôn có thể tìm thấy ảo cảm ở nơi hiện hữu:

1. Criticism, when careful analysis would show that no criticism is really warranted.

1. Sự chỉ trích, khi việc phân tích cẩn thận sẽ cho thấy thực sự không có lý do chính đáng nào để chỉ trích.

2. Criticism, where there is no personal responsibility involved. By that I mean, where it is not the place or the duty of the man to criticise.

2. Sự chỉ trích, khi không có trách nhiệm cá nhân nào liên quan. Qua đó, Tôi muốn nói đến những trường hợp mà việc chỉ trích không thuộc vị trí hay bổn phận của người ấy.

3. Pride in achievement or satisfaction that one is a disciple.

3. Lòng kiêu hãnh về thành tựu hoặc sự tự mãn vì mình là một đệ tử.

4. Any sense of superiority or separative tendency.

4. Bất kỳ cảm giác hơn người hay khuynh hướng chia rẽ nào.

Many other clues to a right recognition of glamour might be given, but if all of you would pay close attention to the above four suggestions, you would release your lives most perceptibly from the influence of glamour and be of greater service consequently to your fellowmen. I have endeavoured to give you here some practical assistance in this difficult battle between the pairs of opposites, which is the major cause of glamour.

Có thể đưa ra nhiều dấu hiệu khác để nhận biết đúng ảo cảm, nhưng nếu tất cả các bạn chú tâm kỹ đến bốn gợi ý trên, các bạn sẽ giải thoát đời sống mình khỏi ảnh hưởng của ảo cảm một cách rất rõ rệt, và nhờ đó phụng sự đồng loại nhiều hơn. Ở đây, Tôi đã cố gắng mang đến cho các bạn một sự trợ giúp thiết thực trong cuộc chiến khó khăn giữa các cặp đối cực, vốn là nguyên nhân chính của ảo cảm.