Trích nội dung chương
We come now to a consideration of the ways and means whereby maya can be ended and the disciple stand free from the influence of physical plane force. In the above statement the whole story of maya can be found. It might be added also (perhaps not wholly correctly but nevertheless with sufficient truth to warrant the statement) that maya, as a recognised effect, is only experienced when one is upon the Path, beginning with the Path of Probation or Purification. One is always in the midst of forces. But maya (as a problem) [85] only becomes so when recognised, and this recognition is not possible in the early stages of evolution. Upon the…
3. Glamour Upon Etheric Levels... Maya – 3. Ảo cảm trên các cấp độ dĩ thái... Ảo lực
We come now to a consideration of the ways and means whereby maya can be ended and the disciple stand free from the influence of physical plane force. In the above statement the whole story of maya can be found. It might be added also (perhaps not wholly correctly but nevertheless with sufficient truth to warrant the statement) that maya, as a recognised effect, is only experienced when one is upon the Path, beginning with the Path of Probation or Purification. One is always in the midst of forces. But maya (as a problem) [85] only becomes so when recognised, and this recognition is not possible in the early stages of evolution. Upon the Path, one begins to watch for and to discover the effects of force; one finds oneself consciously the victim of force currents; one is swept into activity of some kind by uncontrolled forces, and the world of force becomes a consciously sensed reality to the struggling aspirant. It is for this reason that I have stated that maya is predominantly a difficulty of the etheric body, for in relation to maya we are dealing with the forces pouring through the seven centres of the body (in all or in some), producing reactions and effects that are desirable or disastrous.
Giờ đây, chúng ta xem xét những cách thức và phương tiện để ảo lực có thể chấm dứt và người đệ tử được tự do khỏi ảnh hưởng của mãnh lực cõi hồng trần. Trong phát biểu trên có thể tìm thấy toàn bộ câu chuyện về ảo lực. Cũng có thể bổ sung rằng (có lẽ không hoàn toàn chính xác, nhưng vẫn đủ đúng để đưa ra phát biểu này) ảo lực, xét như một tác động đã được nhận biết, chỉ được trải nghiệm khi một người ở trên Đường Đạo, bắt đầu từ Con Đường Dự Bị hay Thanh Luyện. Người ta luôn ở giữa các mãnh lực. Nhưng ảo lực (xét như một vấn đề) [85] chỉ trở thành vấn đề khi được nhận biết, và sự nhận biết này không thể có ở những giai đoạn đầu của tiến hóa. Trên Đường Đạo, người ta bắt đầu quan sát và khám phá những tác động của mãnh lực; người ta ý thức rằng mình là nạn nhân của những dòng mãnh lực; những mãnh lực không được kiểm soát cuốn người ta vào một loại hoạt động nào đó, và thế giới mãnh lực trở thành một thực tại mà người chí nguyện đang phấn đấu cảm nhận một cách có ý thức. Vì lý do này, Tôi đã nói rằng ảo lực chủ yếu là một khó khăn của thể dĩ thái, vì khi đề cập đến ảo lực, chúng ta đang xử lý những mãnh lực tuôn qua bảy trung tâm của thể này (qua tất cả hoặc qua một số trung tâm), tạo ra những phản ứng và tác động đáng mong muốn hoặc tai hại.
It is naturally necessary to realise that all manifestation on all levels is an expression of force, but the forces to which I refer here under the term maya are those uncontrolled energies, those undirected impulses which emanate from the world of prana and from the latent force of matter itself. These sweep a man into wrong activity and surround him with a whirlpool of effects and of conditions in which he is entirely helpless. He is the victim of mass force, hidden in the animal nature or in the world and the environing circumstances in which he finds himself. When to the power of maya is added the condition of glamour and also the illusions of the advanced disciple, it will be seen how necessary it is that there should be quiet differentiation between the three types of deception. It should he remembered that when we use the term “deception,” we mean deception from the angle of the soul. The aspirant has to learn to stand free from illusion, glamour, and maya, and to do this he must understand the means to freedom which are: Intuition, Illumination and Inspiration.
Dĩ nhiên, cần nhận ra rằng mọi sự biểu hiện trên mọi cấp độ đều là biểu hiện của mãnh lực, nhưng những mãnh lực mà Tôi nói đến ở đây bằng thuật ngữ ảo lực là những năng lượng không được kiểm soát, những xung lực không được định hướng phát xuất từ thế giới prana và từ mãnh lực tiềm tàng của chính vật chất. Chúng cuốn một người vào hoạt động sai lầm và bao quanh y bằng một xoáy lốc những tác động và hoàn cảnh mà trong đó y hoàn toàn bất lực. Y là nạn nhân của mãnh lực tập thể, ẩn trong bản chất động vật hoặc trong thế giới và những hoàn cảnh bao quanh y. Khi tình trạng ảo cảm cùng những ảo tưởng của người đệ tử tiến xa được cộng thêm vào quyền năng của ảo lực, người ta sẽ thấy việc bình tĩnh phân biệt ba loại lừa dối này cần thiết đến mức nào. Cần nhớ rằng khi dùng thuật ngữ “lừa dối”, chúng ta muốn nói đến sự lừa dối từ góc nhìn của linh hồn. Người chí nguyện phải học cách đứng tự do khỏi ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực; để làm được điều này, y phải thấu hiểu những phương tiện dẫn đến tự do, đó là: Trực giác, Soi sáng và Cảm hứng.
The problem of maya is complicated by the fact that upon the physical plane (as upon the astral plane, though this is as yet little realised) you have the battle of a pair of [86] opposites. These are of a different nature in some respects to those found upon the astral plane. On the physical plane (and by that I mean upon the etheric levels of the physical plane whereon the deceptive power of maya is experienced) there is the meeting of the forces of the subjective world of the personality and the ancient energies of matter itself, brought over as latent seeds from an earlier solar system.
Vấn đề ảo lực trở nên phức tạp bởi trên cõi hồng trần (cũng như trên cõi cảm dục, dù điều này hiện vẫn ít được nhận biết), có cuộc chiến của một cặp [86] đối cực. Về một vài phương diện, chúng có bản chất khác với những đối cực trên cõi cảm dục. Trên cõi hồng trần (và qua đó Tôi muốn nói đến các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, nơi người ta trải nghiệm quyền năng lừa dối của ảo lực), có sự gặp gỡ giữa các mãnh lực của thế giới chủ quan thuộc phàm ngã và những năng lượng cổ xưa của chính vật chất, được mang sang dưới dạng những hạt giống tiềm tàng từ một hệ mặt trời trước đây.
It might perhaps become clearer to your perception if I worded the truth about maya as follows:
Có lẽ các bạn sẽ nhận thức rõ hơn nếu Tôi diễn đạt chân lý về ảo lực như sau:
The latent impulses of the personality life, when divorced from and not under soul control, are blended with the pranic fluids within the periphery of the personality sphere of influence, and then become potent directed streams of force, seeking emergence into physical manifestation through the medium of the seven centres in the physical body. These forces or impulses, plus the prana available, constitute the etheric body of the undeveloped and frequently of the average man. It will be apparent, therefore, how much the undeveloped man is the victim of mass energy of a low kind, for his etheric body is responsive to, and draws its energy from a type of general environing prana, until such time as there is a definite direction and a higher control—either through oriented aspiration and mental discipline, or later as the result of soul conditioning, to use the psychological phrase.
Những xung lực tiềm tàng của đời sống phàm ngã, khi tách rời khỏi linh hồn và không chịu sự kiểm soát của linh hồn, hòa trộn với các lưu chất prana trong phạm vi khối cầu ảnh hưởng của phàm ngã, rồi trở thành những dòng mãnh lực mạnh mẽ có định hướng, tìm cách xuất hiện trong sự biểu hiện hồng trần qua trung gian của bảy trung tâm trong thể xác. Những mãnh lực hay xung lực này, cộng với prana sẵn có, cấu thành thể dĩ thái của người chưa phát triển và thường cả của người bình thường. Vì vậy, sẽ thấy rõ người chưa phát triển là nạn nhân đến mức nào của năng lượng tập thể thuộc loại thấp, vì thể dĩ thái của y đáp ứng và rút năng lượng từ một loại prana chung trong môi trường xung quanh, cho đến khi có một sự định hướng rõ rệt và một sự kiểm soát cao hơn—hoặc qua khát vọng có định hướng và kỷ luật trí tuệ, hoặc về sau như kết quả của ảnh hưởng định hình từ linh hồn, nếu dùng cách diễn đạt của tâm lý học.
This etheric energy, focussed in an individual etheric body, passes through two stages prior to the period of discipleship:
Năng lượng dĩ thái này, tập trung trong một thể dĩ thái cá nhân, trải qua hai giai đoạn trước thời kỳ địa vị đệ tử:
1. The stage wherein it assimilates the second force to which I referred—the force, latent in the dense physical form, the energy of the atomic substance, thus producing a definite fusing and blending. This causes the animal nature to conform entirely to the inner impulses, [87] emanating from the world of prana, where the entirely undeveloped man is concerned, or from the lower astral where the more developed or average man is concerned.
1. Giai đoạn trong đó nó đồng hóa mãnh lực thứ hai mà Tôi đã đề cập—mãnh lực tiềm tàng trong hình tướng hồng trần đậm đặc, năng lượng của chất liệu nguyên tử, nhờ đó tạo ra sự dung hợp và hòa trộn rõ rệt. Điều này khiến bản chất động vật hoàn toàn tuân theo những xung lực bên trong, [87] phát xuất từ thế giới prana đối với người hoàn toàn chưa phát triển, hoặc từ các cấp độ cảm dục thấp đối với người phát triển hơn hay người bình thường.
2. The moment, however, that an inner orientation towards the world of higher values takes place, then the etheric or vital force is brought into conflict with the lowest aspect of man, the dense physical body, and the battle of the lower pairs of opposites takes place.
2. Tuy nhiên, ngay khi có sự định hướng bên trong về phía thế giới của những giá trị cao hơn, mãnh lực dĩ thái hay sinh lực liền xung đột với phương diện thấp nhất của con người, tức thể xác đậm đặc, và cuộc chiến của các cặp đối cực thấp diễn ra.
It is interesting to note that it is during this stage that the emphasis is laid upon physical disciplines, upon such controlling factors as total abstinence, celibacy, and vegetarianism, and upon physical hygiene and physical exercises. Through these, the control of the life of matter, the lowest expression of the third aspect of divinity can be offset, and the man set free for the true battle of the pairs of opposites. This second battle is the true kurukshetra and is fought out in the astral nature, between the pairs of opposites which are distinctive of our solar system, just as the physical pairs of opposites are distinctive of the past solar system. From one interesting angle the battle of the opposites upon the lower spiral, in which the physical body in its two aspects is concerned, can be seen taking place in the animal kingdom. In this process, human beings act as the agents of discipline, and the domesticated animals, which are forced to conform to human control, are wrestling (even if unconsciously from our point of view) with the problem of this lower pair of opposites. Their battle is fought out through the medium of the dense physical body and the etheric forces, and in this way a higher aspiration is brought into expression. This produces in them the experience which we call “individualisation,” wherein the seed of personality is sown. On the human battlefield, the kurukshetra, the higher aspect of the [88] soul begins to dominate, producing the process of divine-human integration which we call “initiation.” Ponder upon this.
Điều đáng chú ý là chính trong giai đoạn này, người ta nhấn mạnh các kỷ luật hồng trần, những yếu tố kiểm soát như kiêng rượu hoàn toàn, sống độc thân và ăn chay, cùng vệ sinh hồng trần và các bài tập hồng trần. Qua những điều này, có thể hóa giải sự kiểm soát của sự sống vật chất, biểu hiện thấp nhất của phương diện thứ ba của thiên tính, và giải phóng con người để bước vào cuộc chiến chân thực của các cặp đối cực. Cuộc chiến thứ hai này là chiến trường chân thực và diễn ra trong bản chất cảm dục, giữa những cặp đối cực đặc trưng cho hệ mặt trời của chúng ta, cũng như các cặp đối cực hồng trần đặc trưng cho hệ mặt trời trước đây. Từ một góc nhìn thú vị, có thể thấy cuộc chiến của các đối cực trên vòng xoắn thấp hơn, liên quan đến thể xác trong hai phương diện của nó, đang diễn ra trong giới động vật. Trong tiến trình này, con người đóng vai trò tác nhân rèn luyện kỷ luật, và các động vật thuần hóa, bị buộc phải tuân theo sự kiểm soát của con người, đang vật lộn (dù theo quan điểm của chúng ta, chúng không có ý thức về điều đó) với vấn đề của cặp đối cực thấp này. Cuộc chiến của chúng diễn ra qua trung gian của thể xác đậm đặc và các mãnh lực dĩ thái, và bằng cách này, một khát vọng cao hơn được biểu lộ. Điều này tạo ra nơi chúng trải nghiệm mà chúng ta gọi là “biệt ngã hóa”, trong đó hạt giống phàm ngã được gieo. Trên chiến trường của con người, chiến trường nội tâm, phương diện cao hơn của [88] linh hồn bắt đầu chi phối, tạo ra tiến trình tích hợp giữa thiêng liêng và con người mà chúng ta gọi là “điểm đạo”. Hãy suy ngẫm về điều này.
When an aspirant reaches that point in his evolution wherein the control of the physical nature is an urgent necessity, he recapitulates in his own life this earlier battle with the lowest pairs of opposites, and begins then to discipline his dense physical nature.
Khi một người chí nguyện đạt đến điểm trong quá trình tiến hóa của mình mà việc kiểm soát bản chất hồng trần trở thành một nhu cầu cấp bách, y tái diễn trong chính đời sống mình cuộc chiến trước đây với các cặp đối cực thấp nhất, và khi ấy bắt đầu rèn luyện kỷ luật cho bản chất hồng trần đậm đặc của mình.
Making a broad and sweeping generalisation, it might be said that for the human family en masse this dense physical-etheric conflict was fought out in the World War, which was the imposition of a tremendous test and discipline. Remember that our tests and disciplines are self-imposed and grow out of our limitations and our opportunities. The result of this test was the passing on to the Path of Probation of a very large number of human beings, owing to the purging and purification to which they had been subjected. This purificatory process in some measure prepared them for the prolonged conflict upon the astral plane which lies ahead of all aspirants prior to achieving initiation. It is the “Arjuna experience.” This is an interesting point upon which to ponder and explains much of mystery and of difficulty in the sequence of human unfoldment. The individual aspirant is apt to think only in terms of himself and of his individual tests and trials. He must learn to think of the mass occurrences and their preparatory effect where humanity is concerned. The World War was a climaxing point in the process of “devitalising” the world maya. Much force was released and exhausted and much energy expended. Much was consequently clarified.
Nếu khái quát một cách rộng rãi và bao quát, có thể nói rằng đối với gia đình nhân loại nói chung, cuộc xung đột giữa hồng trần đậm đặc và dĩ thái này đã diễn ra trong Chiến tranh Thế giới, vốn đặt nhân loại trước một thử thách và sự rèn luyện kỷ luật vô cùng lớn lao. Hãy nhớ rằng những thử thách và kỷ luật của chúng ta là do chúng ta tự đặt ra, và nảy sinh từ những giới hạn cùng những cơ hội của chúng ta. Kết quả của thử thách này là một số lượng rất lớn con người bước vào Con Đường Dự Bị, nhờ sự tẩy sạch và thanh luyện mà họ đã trải qua. Tiến trình thanh luyện này phần nào chuẩn bị cho họ bước vào cuộc xung đột kéo dài trên cõi cảm dục, đang chờ đợi mọi người chí nguyện trước khi đạt được điểm đạo. Đó là “trải nghiệm Arjuna”. Đây là một điểm thú vị để suy ngẫm, và giải thích nhiều điều bí ẩn cùng khó khăn trong trình tự khai mở của con người. Người chí nguyện riêng lẻ thường chỉ nghĩ đến bản thân cùng những thử thách và gian nan cá nhân của mình. Y phải học cách nghĩ đến những biến cố tập thể và tác động chuẩn bị của chúng đối với nhân loại. Chiến tranh Thế giới là một điểm cao trào trong tiến trình “rút sinh lực” khỏi ảo lực thế giới. Nhiều mãnh lực đã được giải phóng và tiêu hao, nhiều năng lượng đã được sử dụng. Vì vậy, nhiều điều đã trở nên rõ ràng.
Many people are occupied today in their individual lives with exactly the same process and conflict. On a tiny scale that which was worked out in the World War is worked out in their lives. They are busy with the problem of maya [89] and hence today we find an increasing emphasis upon the physical cultures, disciplines, and physical training, such as is imposed in the world of sport, in athletic exercises and military training. In spite of all the wrong motives and the terrible and evil effects (speaking again with a wide generalisation), the training of the body and the organised physical direction of the youth of the world today in all countries, particularly the military countries in Europe, is preparing the way for millions to pass upon the Path of Purification. Is this a hard truth, my brothers? Humanity is under right direction, e’en if (during a brief interlude) they misunderstand the process and apply wrong motives to right activities.
Ngày nay, nhiều người đang trải qua đúng tiến trình và cuộc xung đột ấy trong đời sống cá nhân. Trên một quy mô nhỏ bé, điều đã diễn ra trong Chiến tranh Thế giới đang diễn ra trong đời sống họ. Họ đang bận xử lý vấn đề ảo lực [89], và vì thế, ngày nay chúng ta thấy người ta ngày càng nhấn mạnh việc rèn luyện hồng trần, các kỷ luật và việc huấn luyện hồng trần, như những gì áp dụng trong thế giới thể thao, trong các bài tập điền kinh và huấn luyện quân sự. Bất chấp mọi động cơ sai lầm cùng những tác động khủng khiếp và xấu xa (một lần nữa, đây là một sự khái quát rộng), việc rèn luyện thân thể và định hướng hoạt động hồng trần có tổ chức cho thanh niên thế giới ngày nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia quân phiệt ở châu Âu, đang chuẩn bị con đường để hàng triệu người bước vào Con Đường Thanh Luyện. Các huynh đệ của Tôi, đây có phải là một chân lý khó chấp nhận không? Nhân loại đang được dẫn dắt đúng đắn, ngay cả khi (trong một khoảng thời gian ngắn) họ hiểu sai tiến trình và gán những động cơ sai lầm cho những hoạt động đúng đắn.
All these points we shall later take up in greater detail when we come to our third section and begin to study the modes of ending glamour, illusion and maya. At present I am only occupied with giving you a general picture and a slight elaboration of the tabulation to be found on page 41. Study it with care and memorise it if possible, for in its right understanding lies for you much of real usefulness.
Sau này, chúng ta sẽ xem xét tất cả những điểm này chi tiết hơn khi đến phần thứ ba và bắt đầu nghiên cứu những phương thức chấm dứt ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực. Hiện tại, Tôi chỉ tập trung cung cấp cho các bạn một bức tranh tổng quát và triển khai đôi chút bảng trình bày ở trang 41. Hãy nghiên cứu bảng ấy cẩn thận và ghi nhớ nếu có thể, vì chính trong việc thấu hiểu đúng bảng ấy có nhiều điều thực sự hữu ích cho các bạn.
I would like to point out in connection with the problem of maya that one of the first steps to its right handling is physical coordination; hence the emphasis laid upon this today in the training of children; hence also our use of a similar process under the term “alignment” when dealing with the work of meditation and the effort to induce increased soul control. Students would do well to bear this in mind and to ponder upon the following phrases:
Liên quan đến vấn đề ảo lực, Tôi muốn chỉ ra rằng một trong những bước đầu tiên để xử lý nó đúng đắn là sự phối hợp hồng trần; vì thế, ngày nay người ta nhấn mạnh điều này trong việc huấn luyện trẻ em; cũng vì thế, chúng ta sử dụng một tiến trình tương tự dưới thuật ngữ “chỉnh hợp” khi đề cập đến công việc tham thiền và nỗ lực gia tăng sự kiểm soát của linh hồn. Các đạo sinh nên ghi nhớ điều này và suy ngẫm về những cụm từ sau:
1. Physical co-ordination.
1. Sự phối hợp hồng trần.
2. Astral orientation.
2. Sự định hướng cảm dục.
3. Mental direction.
3. Sự chỉ đạo trí tuệ.
4. Personality alignment.
4. Sự chỉnh hợp phàm ngã.
These are all attempts to express the process of “right activity [90] upon the Path of Return.” This return is the objective of the human family and the culminating goal of the four kingdoms in nature. We could enlarge the concept by expressing the truth in the following manner:
Tất cả những điều này đều là những nỗ lực diễn đạt tiến trình “hoạt động đúng đắn [90] trên Con Đường Trở Về”. Sự trở về này là mục tiêu của gia đình nhân loại và là đích đến tối hậu của bốn giới trong tự nhiên. Chúng ta có thể mở rộng khái niệm ấy bằng cách diễn đạt chân lý theo cách sau:
Process
Tiến trình
Correspondence
Sự tương ứng
Obstacle
Chướng ngại
1.
1.
Physical coordination
Sự phối hợp hồng trần
Mineral kingdom
Giới kim thạch
Maya.
Ảo lực.
2.
2.
Astral orientation
Sự định hướng cảm dục
Vegetable kingdom
Giới thực vật
Glamour.
Ảo cảm.
3.
3.
Mental direction
Sự định hướng trí tuệ
Animal kingdom
Giới động vật
Illusion.
Ảo tưởng.
4.
4.
Personality alignment
Sự chỉnh hợp phàm ngã
Human kingdom
Giới nhân loại
The Dweller on the Threshold.
Kẻ Chận Ngõ.
These processes have, therefore, their equivalents in all the kingdoms and lead up to:
Do đó, những tiến trình này có các tiến trình tương ứng trong mọi giới và dẫn đến:
1. The unfoldment of the divine consciousness. This starts in the mineral kingdom.
1. Sự khai mở tâm thức thiêng liêng. Điều này bắt đầu trong giới kim thạch.
2. The expression of the soul. This is typified in the vegetable kingdom with its uses and beauty.
2. Sự biểu lộ của linh hồn. Giới thực vật, với tính hữu dụng và vẻ đẹp của nó, là biểu tượng cho điều này.
3. The manifestation of the Christ. This is the recognised goal of the animal kingdom which works towards individualisation.
3. Sự biểu hiện của Đức Christ. Đây là mục tiêu đã được nhìn nhận của giới động vật, vốn đang hướng tới sự biệt ngã hóa.
4. The revelation of the glory of God. This is the objective before humanity.
4. Sự mặc khải vinh quang của Thượng đế. Đây là mục tiêu đặt ra trước nhân loại.
4. Glamour upon the Higher Mental Planes... The Dweller on the Threshold. – 4. Ảo cảm trên các Cõi Thượng Trí... Kẻ Chận Ngõ.
We will now touch very briefly upon the problem of the Dweller on the Threshold. This Dweller is oft regarded as a disaster, as a horror to be avoided, and as a final and culminating evil. I would remind you nevertheless that the Dweller is the “one who stands before the Gate of God,” who dwells in the shadow of the portal of initiation, and who faces the Angel of the Presence open-eyed, as the ancient scripture calls it. The Dweller can be defined as the sum total of the forces of the lower nature as expressed in [91] the personality, prior to illumination, to inspiration and to initiation. The personality, at this stage, is exceedingly potent, and the Dweller embodies all the psychic and mental forces which down the ages have been unfolded in a man and nurtured with care; it can be looked upon as the potency of the threefold material form, prior to its consecration and dedication to the life of the soul and to the service of the Hierarchy, of God and humanity.
Giờ đây, chúng ta sẽ đề cập rất ngắn gọn đến vấn đề Kẻ Chận Ngõ. Kẻ Chận Ngõ này thường được xem là một tai họa, một nỗi kinh hoàng cần tránh, và một điều ác cuối cùng, tột đỉnh. Tuy nhiên, Tôi muốn nhắc các bạn rằng Kẻ Chận Ngõ là “kẻ đứng trước Cổng của Thượng đế”, kẻ trú trong bóng tối của cổng điểm đạo và mở to mắt đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, như kinh điển cổ gọi như vậy. Có thể định nghĩa Kẻ Chận Ngõ là tổng thể các mãnh lực của bản chất thấp biểu lộ trong [91] phàm ngã, trước sự soi sáng, cảm hứng và điểm đạo. Ở giai đoạn này, phàm ngã có sức mạnh vô cùng lớn, và Kẻ Chận Ngõ là hiện thân của mọi mãnh lực thông linh và trí tuệ đã khai mở trong con người qua bao thời đại và được nuôi dưỡng cẩn thận; có thể xem nó là sức mạnh của hình tướng vật chất tam phân, trước khi hình tướng ấy được thánh hiến và dâng hiến cho đời sống linh hồn cùng việc phụng sự Thánh đoàn, Thượng đế và nhân loại.
The Dweller on the Threshold is all that a man is, apart from the higher spiritual self; it is the third aspect of divinity as expressed in the human mechanism, and this third aspect must eventually be subordinated to the second aspect, the soul.
Kẻ Chận Ngõ là toàn bộ những gì cấu thành một con người, ngoại trừ bản ngã tinh thần cao siêu; nó là phương diện thứ ba của thiên tính biểu lộ trong bộ máy con người, và cuối cùng phương diện thứ ba này phải phục tùng phương diện thứ hai, tức linh hồn.
The two great contrasting Forces, the ANGEL and the DWELLER, are brought together—face to face—and the final conflict takes place. Again you will note that it is a meeting and a battle between another and higher pair of opposites. The aspirant has, therefore, three pairs of opposites with which to deal as he progresses towards light and liberation.
Hai Mãnh Lực tương phản lớn lao, THIÊN THẦN và KẺ CHẬN NGÕ, được đưa đến với nhau—mặt đối mặt—và cuộc xung đột cuối cùng diễn ra. Một lần nữa, các bạn sẽ nhận thấy đây là cuộc gặp gỡ và trận chiến giữa một cặp đối cực khác, cao hơn. Do đó, khi tiến tới ánh sáng và sự giải thoát, người chí nguyện phải xử lý ba cặp đối cực.
The Pairs of Opposites
Các Cặp Đối Cực
1. On the Physical Plane... The dense and the etheric. Fought out upon the Path of Purification.
1. Trên Cõi Hồng Trần... Phần đậm đặc và phần dĩ thái. Cuộc chiến diễn ra đến cùng trên Con Đường Thanh Luyện.
2. On the Astral Plane... The well-known dualities. Fought upon the Path of Discipleship.
2. Trên Cõi Cảm Dục... Những nhị nguyên quen thuộc. Cuộc chiến diễn ra trên Con Đường Đệ Tử.
3. On the Mental Plane... The Angel and the Dweller. Fought upon the Path of Initiation.
3. Trên Cõi Trí... Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ. Cuộc chiến diễn ra trên Con Đường Điểm Đạo.
I have, I should judge, given you enough to ponder upon; I would close it, however, by pointing out to you the very practical nature of that which I have communicated and would urge you to find out in your own practical experience [92] the nature of the battle you have each to fight. To aid you in this, I am going to help you in one very definite way.
Theo nhận định của Tôi, Tôi đã trao cho các bạn đủ điều để suy ngẫm; tuy nhiên, Tôi muốn kết thúc bằng cách chỉ ra cho các bạn bản chất hết sức thực tiễn của những điều Tôi đã truyền đạt, và thúc giục các bạn tự tìm hiểu qua kinh nghiệm thực tế của mình [92] bản chất của trận chiến mà mỗi người phải chiến đấu. Để hỗ trợ các bạn trong việc này, Tôi sẽ giúp các bạn theo một cách rất cụ thể.
It will be of service to you if I indicate to you—each of you—the rays which govern your threefold personality. You will then be in a position to handle yourselves with greater wisdom, to trace more easily the causes of difficulty and to study more intelligently the effect you may have upon each other and upon those you contact in daily life. I will elaborate in detail the training which should be given to each of the three bodies, taking one of the vehicles at a time and explaining the problem facing each of you in relation to that particular vehicle, and assigning a meditation which will enable you (with greater facility) to handle the personality from that specific angle.
Sẽ hữu ích cho các bạn nếu Tôi chỉ rõ cho từng người những cung cai quản phàm ngã tam phân của các bạn. Khi đó, các bạn sẽ có thể điều khiển bản thân với minh triết lớn hơn, dễ dàng truy tìm nguyên nhân của những khó khăn hơn, và nghiên cứu sáng suốt hơn về ảnh hưởng mà các bạn có thể tạo ra đối với nhau và với những người các bạn tiếp xúc trong đời sống hằng ngày. Tôi sẽ trình bày chi tiết việc rèn luyện cần dành cho từng thể trong ba thể của phàm ngã, lần lượt xem xét từng hiện thể, giải thích vấn đề mà mỗi người phải đối diện liên quan đến hiện thể cụ thể ấy, và giao một bài thiền giúp các bạn điều khiển phàm ngã từ góc độ riêng đó một cách dễ dàng hơn.
You will note from the above that it is, therefore, my intention to give you a much more careful and intensive training. Will you profit by it? In the interim and in order that you can apprehend the truth of what I shall later tell you, will you study yourselves with care during the next six months and see if what I later suggest is not true? Use the information given in A Treatise on the Seven Rays as your guide in this self-analysis; I would remind you that the rays govern the three bodies in the following order:
Từ những điều trên, các bạn sẽ nhận thấy rằng Tôi có ý định dành cho các bạn một sự huấn luyện kỹ lưỡng và chuyên sâu hơn nhiều. Các bạn có tận dụng được điều đó không? Trong thời gian chờ đợi, để có thể lĩnh hội chân lý trong những điều Tôi sẽ nói với các bạn sau này, liệu các bạn có chịu nghiên cứu bản thân cẩn thận trong sáu tháng tới và xem những điều Tôi gợi ý sau này có đúng hay không? Hãy dùng thông tin trong Luận về Bảy Cung làm kim chỉ nam cho việc tự phân tích này; Tôi muốn nhắc các bạn rằng các cung cai quản ba thể của phàm ngã theo thứ tự sau:
1.
1.
Rays governing the mental body
Các cung cai quản thể trí
Rays 1.4.5.
Các cung 1.4.5.
2.
2.
Rays governing the astral body
Các cung cai quản thể cảm dục
Rays 2.6.
Các cung 2.6.
3.
3.
Rays governing the physical body
Các cung cai quản thể xác
Rays 3.7.
Các cung 3.7.
Thus you will note that all the rays play their part in the mechanism of man, making all circumstances the vehicles of opportunity and all conditions the medium of development. This statement as to the governing rays is a statement of an infallible rule, except in the case of accepted disciples.
Như vậy, các bạn sẽ nhận thấy rằng mọi cung đều đóng vai trò của mình trong bộ máy con người, biến mọi hoàn cảnh thành hiện thể của cơ hội và mọi điều kiện thành phương tiện phát triển. Phát biểu này về các cung cai quản là một quy luật không bao giờ sai, ngoại trừ trường hợp các đệ tử được chấp nhận.
As you read and study, you would find it of value to reflect upon and then to answer the following questions: [93]
Trong khi đọc và nghiên cứu, các bạn sẽ thấy hữu ích nếu suy ngẫm rồi trả lời những câu hỏi sau: [93]
1. What is the relation of the intuition to the problem of illusion?
1. Trực giác có mối quan hệ thế nào với vấn đề ảo tưởng?
2. In what manner can illumination dispel glamour, and how can it be brought about?
2. Sự soi sáng có thể xua tan ảo cảm bằng cách nào, và làm thế nào để tạo ra sự soi sáng ấy?
3. Define maya and give your understanding of inspiration as a factor in dispelling it.
3. Hãy định nghĩa ảo lực và trình bày sự thấu hiểu của các bạn về cảm hứng như một yếu tố giúp xua tan ảo lực.
I have purposely not elucidated this technique as I sought to draw out your own ideas. I would urge you to follow the group meditation with care. It is of deep importance to the group in the interest of integration and real spiritual cooperation. The Full Moon work will likewise increase in importance. Later will come facility in recognising and recording the nature of the glamour to be dissipated and aptitude in seeing the process of light distribution.
Tôi đã cố ý không làm sáng tỏ kỹ thuật này, vì Tôi muốn khơi gợi những ý tưởng của chính các bạn. Tôi muốn thúc giục các bạn thực hành bài thiền nhóm một cách cẩn thận. Điều này có tầm quan trọng sâu sắc đối với nhóm, nhằm thúc đẩy sự tích hợp và hợp tác tinh thần đích thực. Công việc vào kỳ Trăng Tròn cũng sẽ ngày càng quan trọng. Sau này, các bạn sẽ dễ dàng nhận ra và ghi lại bản chất của ảo cảm cần làm tiêu tan, đồng thời thành thạo trong việc thấy được tiến trình phân phối ánh sáng.
SECTION TWO: THE CAUSES OF GLAMOUR – PHẦN HAI: CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA ẢO CẢM
1. The Racial and Individual Growth of Glamour – 1. Sự Phát Triển của Ảo Cảm trong Nhân Loại và Cá Nhân
[94] We shall now employ the word “glamour” to cover all the aspects of those deceptions, illusions, misunderstandings and misinterpretations which confront the aspirant at every step of his way until he achieves unity. I would have you note that word “unity,” for it holds the secret of disillusionment, as this process of release from glamour has been occultly called. It will be apparent to you (if you have studied these instructions with care) that the cause of glamour is primarily based upon the sense of duality. If such a duality did not exist, there would be no glamour, and this perception of the dual nature of all manifestation lies at the very root of the trouble or troubles with which humanity is—in time and space—faced. This perception passes through various stages and constitutes the great problem of the conscious entity. This condition is a difficulty in the realm of consciousness itself and is not really inherent in the substance or matter. The dweller in the body perceives wrongly: he interprets incorrectly that which is perceived; he proceeds to identify himself with that which is not himself; he shifts his consciousness into a realm of phenomena which engulfs him, deludes him and imprisons him until such time as he becomes restless and unhappy under the sense that something is wrong. Then he comes finally to the recognition that he is not what he seems to be and that the phenomenal world of appearances is not identical with reality [95] as he had hitherto supposed it to be. From that moment on he comes to the sense of duality, to the recognition of “otherness” and to the perception that his sense of dualism should be ended and that a process of unification and an attempt to achieve at-one-ment should be undertaken. From that moment, the troubles of the evolving man begin to be observed by him and consciously encountered, and he faces a long period of “extrication from glamour and the entering into that world wherein only unity is known.” The stages from then on might be enumerated as follows:
[94] Giờ đây, chúng ta sẽ dùng từ “ảo cảm” để bao quát mọi phương diện của những sự lừa dối, ảo tưởng, hiểu lầm và diễn giải sai mà người chí nguyện gặp phải ở mỗi bước trên đường, cho đến khi y đạt được sự hợp nhất. Tôi muốn các bạn lưu ý từ “hợp nhất”, vì nó chứa đựng bí mật của sự thoát khỏi mê lầm—tên gọi huyền bí của tiến trình giải thoát khỏi ảo cảm này. Nếu đã nghiên cứu cẩn thận những huấn thị này, các bạn sẽ thấy rõ rằng nguyên nhân của ảo cảm chủ yếu dựa trên cảm thức về nhị nguyên. Nếu nhị nguyên ấy không tồn tại, sẽ không có ảo cảm; và chính sự nhận thức về bản chất kép của mọi biểu hiện này nằm ở tận gốc rễ của khó khăn hay những khó khăn mà nhân loại phải đối diện trong thời gian và không gian. Sự nhận thức này trải qua nhiều giai đoạn và tạo thành vấn đề lớn của thực thể hữu thức. Tình trạng này là một khó khăn trong chính lĩnh vực tâm thức, chứ thực ra không vốn có trong chất liệu hay vật chất. Kẻ cư ngụ trong thân thể nhận thức sai: y diễn giải không đúng những gì mình nhận thức; y tiến tới đồng hoá với những gì không phải là chính mình; y chuyển tâm thức vào một lĩnh vực hiện tượng nhấn chìm, mê hoặc và giam hãm y, cho đến khi y trở nên bất an và khổ sở vì cảm thấy có điều gì đó không ổn. Cuối cùng, y nhận ra rằng mình không phải là những gì mình có vẻ là, và thế giới hiện tượng của những vẻ ngoài không đồng nhất với thực tại [95] như y vẫn giả định cho đến lúc ấy. Từ thời điểm đó, y bắt đầu có cảm thức về nhị nguyên, nhận ra “cái khác”, và nhận thức rằng cảm thức nhị nguyên của mình cần chấm dứt, rằng cần thực hiện một tiến trình thống nhất và nỗ lực đạt tới sự hợp nhất. Từ thời điểm đó, con người đang tiến hoá bắt đầu quan sát những khó khăn của mình và đối diện với chúng một cách có ý thức; y bước vào một thời kỳ dài “thoát khỏi ảo cảm và tiến vào thế giới nơi chỉ có sự hợp nhất”. Các giai đoạn từ đó trở đi có thể được liệt kê như sau:
First: The stage wherein the material world is recognised and valued. Temporarily it is made the goal of all activity and the man, refusing to recognise the difference existing between him and the material and natural world, seeks to identify himself with it and to find satisfaction in purely physical pleasures and pursuits. This stage divides itself into two parts:
Thứ nhất: Giai đoạn trong đó thế giới vật chất được nhận biết và coi trọng. Tạm thời, thế giới ấy trở thành mục tiêu của mọi hoạt động; con người, không chịu nhìn nhận sự khác biệt giữa mình với thế giới vật chất và tự nhiên, tìm cách đồng hoá với thế giới ấy và tìm sự thỏa mãn trong những lạc thú và những theo đuổi thuần túy hồng trần. Giai đoạn này chia thành hai phần:
a. That wherein satisfaction is sought in the almost automatic response to the physical instincts, to sex, food and warmth. These loom large in man’s consciousness. The animal nature in man is made the centre of the attempt to produce some sense of unity. Because the inner and subtle man is as yet “weak in impact” (as it is esoterically called), a physical unification temporarily takes place which serves to deepen the glamour and to delay progress into freedom.
a. Giai đoạn tìm kiếm sự thỏa mãn trong việc đáp ứng gần như tự động với các bản năng hồng trần, với tình dục, thức ăn và hơi ấm. Những điều này chiếm vị trí nổi bật trong tâm thức con người. Bản chất động vật trong con người trở thành trung tâm của nỗ lực tạo ra một cảm thức hợp nhất nào đó. Vì con người vi tế bên trong vẫn còn “yếu về sức tác động” (theo cách gọi huyền bí), nên tạm thời diễn ra một sự hợp nhất hồng trần, làm ảo cảm thêm sâu đậm và trì hoãn bước tiến tới tự do.
b. The stage wherein satisfaction and sense of oneness is sought in the realm of material possessions, and in the establishing of a centre of beauty and comfort in life on the physical plane. Therein the man can be at home and oblivious of a growing sense of dualism which, day by day, gets steadily stronger. This stage only takes place [96] ages later when the aspirant is about to re-orient himself to truth and to take the first steps towards the Probationary Path. It is a correspondence towards the end of the Path of Evolution to the stage above mentioned, but the man experiencing it is a very different person to the one who now seeks synthesis in the materialisation of beauty upon the outer plane. The subtle man is now becoming dominant.
b. Giai đoạn tìm kiếm sự thỏa mãn và cảm thức nhất thể trong lĩnh vực sở hữu vật chất, cũng như trong việc thiết lập một trung tâm của vẻ đẹp và sự tiện nghi trong đời sống trên cõi hồng trần. Ở đó, con người có thể cảm thấy yên ổn như ở nhà và không để ý đến cảm thức nhị nguyên đang lớn dần, ngày một mạnh hơn. Giai đoạn này chỉ diễn ra [96] nhiều thời đại về sau, khi người chí nguyện sắp tái định hướng bản thân về chân lý và bước những bước đầu tiên hướng tới Con Đường Dự Bị. Gần cuối Con Đường Tiến Hoá, giai đoạn này tương ứng với giai đoạn đã nêu ở trên, nhưng con người trải nghiệm giai đoạn ấy rất khác với người hiện đang tìm kiếm sự tổng hợp trong việc hiện hình cái đẹp trên cõi bên ngoài. Giờ đây, con người vi tế đang trở nên chi phối.
Secondly: The stage wherein the man first of all becomes aware of the duality which can be expressed by the words “the man and the forces.” He becomes alive to the fact that he and all humanity are the victims of forces and energies over which they have no control and which drive men hither and thither. He becomes aware also of forces and energies within himself over which he likewise has no control and which force him to act in various ways, making him frequently the victim of his own revolts, his own acts and selfishly directed energies. Here the man discovers (unconsciously at first and later consciously), the initial duality—the physical body and the vital or etheric body. One is the mechanism of contact upon the physical plane, the other is the mechanism of contact with the inner forces, energies and worlds of being. This vital body controls and galvanises the physical body into an almost automatic activity. I referred to this duality in an earlier instruction. This stage is one of great difficulty for the man, as an individual, and for humanity as a whole. Men are still so ignorant of the “reality which shines under the envelope which envelops it”—as the Old Commentary calls it—that true perception is difficult and at first well-nigh impossible. Blindly and ignorantly men have to cope with this first pair of opposites. It is this that we see happening in the world at this time. The masses are awakening to the realisation that they are the victims and [97] the exponents of forces over which they have no control and of which they have no understanding. They would like to assume control over them and are determined so to do whenever possible. This constitutes the major problem today in the economic field and in the field of daily living and of government.
Thứ hai: Giai đoạn trong đó, trước hết, con người nhận biết nhị nguyên có thể diễn đạt bằng những từ “con người và các mãnh lực”. Y ý thức rõ rằng mình và toàn thể nhân loại là nạn nhân của các mãnh lực và năng lượng mà họ không kiểm soát được, và chúng thúc đẩy con người đi hết hướng này đến hướng khác. Y cũng nhận biết những mãnh lực và năng lượng bên trong mình mà y cũng không kiểm soát được, chúng buộc y hành động theo nhiều cách khác nhau, thường khiến y trở thành nạn nhân của chính những cuộc nổi loạn, hành động và năng lượng hướng theo sự ích kỷ của mình. Ở đây, con người khám phá (ban đầu một cách vô thức, về sau một cách có ý thức) nhị nguyên đầu tiên—thể xác và thể sinh lực hay thể dĩ thái. Một thể là bộ máy tiếp xúc trên cõi hồng trần, thể kia là bộ máy tiếp xúc với các mãnh lực, năng lượng và những thế giới hiện tồn bên trong. Thể sinh lực này kiểm soát và thúc đẩy thể xác vào hoạt động gần như tự động. Tôi đã đề cập đến nhị nguyên này trong một huấn thị trước. Đây là một giai đoạn vô cùng khó khăn đối với con người xét như một cá nhân, và đối với toàn thể nhân loại. Con người vẫn còn quá thiếu hiểu biết về “thực tại tỏa sáng bên dưới lớp vỏ bao bọc nó”—theo cách gọi của Cổ Luận—đến nỗi nhận thức chân thực là điều khó khăn và thoạt đầu gần như bất khả. Trong mù quáng và thiếu hiểu biết, con người phải đối phó với cặp đối cực đầu tiên này. Đó chính là điều chúng ta thấy đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Quần chúng đang thức tỉnh để nhận ra rằng họ là nạn nhân và [97] là những người biểu lộ các mãnh lực mà họ không kiểm soát được và cũng không thấu hiểu. Họ muốn nắm quyền kiểm soát các mãnh lực ấy và quyết tâm làm như vậy bất cứ khi nào có thể. Điều này tạo thành vấn đề chủ yếu ngày nay trong lĩnh vực kinh tế, đời sống hằng ngày và việc quản trị.
World tension today consists in the fact that physical force and etheric energy are at grips. Forget not what I earlier told you that etheric force is closely related to the Monad or the highest spiritual aspect. It is life itself on the verge of externalisation. Hence the emphasis today upon the spirit of humanity, upon the spirit of a nation, and the spirit of a group. This is all the result of the battle going on between this pair of opposites in the field of human affairs and in the field of individual average human living. It is, however, this conflict—fought out to the point of synthesis and of at-one-ment—which produces the re-orientation of the race and of the individual to the truer values and to the world of reality. It is this conflict—successfully waged—which lands the man, as an individual, and the mass, as a whole, upon the Path of Purification. When there is unification of these energies upon the physical plane, you then have one-pointed activity and a determination to travel in a specific direction. There follows the resolution (note this word and its usage) of the duality into a unity.
Sự căng thẳng trên thế giới ngày nay nằm ở chỗ mãnh lực hồng trần và năng lượng dĩ thái đang giao tranh. Đừng quên điều Tôi đã nói với các bạn trước đây: mãnh lực dĩ thái có quan hệ mật thiết với chân thần, hay phương diện tinh thần cao nhất. Đó là chính sự sống đang ở ngưỡng ngoại hiện. Vì thế, ngày nay người ta nhấn mạnh tinh thần của nhân loại, tinh thần của một quốc gia và tinh thần của một nhóm. Tất cả những điều này là kết quả của cuộc chiến đang diễn ra giữa cặp đối cực ấy trong lĩnh vực các sự việc của nhân loại và trong lĩnh vực đời sống của cá nhân con người bình thường. Tuy nhiên, chính cuộc xung đột này—diễn ra đến khi đạt tới sự tổng hợp và hợp nhất—tạo nên sự tái định hướng của nhân loại và cá nhân về những giá trị chân thực hơn và về thế giới thực tại. Chính cuộc xung đột này, khi được tiến hành thành công, đưa con người xét như một cá nhân, và quần chúng xét như một toàn thể, đến Con Đường Thanh Luyện. Khi những năng lượng này hợp nhất trên cõi hồng trần, sẽ có hoạt động nhất tâm và quyết tâm tiến theo một hướng cụ thể. Tiếp đó là sự hóa giải (hãy lưu ý từ này và cách dùng của nó) nhị nguyên thành một sự hợp nhất.
This resolution works out in the early stages (where the average type of aspirant is concerned) into a temporary astral unity and then there emerges the one-pointed devotee. He is found in all fields—of religion, of science, of politics or in any other department of life. His etheric unity, producing re-orientation—with its results of a clear vision, a grasp of truth, and a picture of the immediate way to go—serves temporarily to glamour the man with a sense of achievement, of surety, of power and of destiny. He goes [98] ahead blindly, furiously and ruthlessly until suddenly he is brought sharply up against changing conditions and recognises another and far more difficult situation. The pairs of opposites upon the astral plane confront him, and he becomes Arjuna upon the field of battle. All his sense of at-one-ment, of direction, of sure and oft-times smug satisfaction disappears and he is lost in the fogs and glamours of the astral plane. This is the plight of many well-meaning disciples at this time and upon it I must for a moment dwell because this group, when it can work as a group, has for its intended task the dissolution of some of the world glamour. Some day (and let us hope that it will take place before long) this group and other such groups should work, as a group and under direction of their Master, in piercing the world glamour and letting in some light and illumination so that men may walk from henceforth more truly on the Way in safety.
Trong những giai đoạn đầu, đối với người chí nguyện thuộc loại bình thường, sự hóa giải này dẫn đến một sự hợp nhất cảm dục tạm thời, rồi người sùng tín nhất tâm xuất hiện. Có thể thấy y trong mọi lĩnh vực—tôn giáo, khoa học, chính trị hoặc bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống. Sự hợp nhất dĩ thái của y tạo ra sự tái định hướng, với những kết quả là một tầm nhìn rõ ràng, sự nắm bắt chân lý và hình dung về con đường cần đi ngay trước mắt; điều này tạm thời khiến y bị ảo cảm mê hoặc bởi cảm thức về thành tựu, sự chắc chắn, quyền năng và vận mệnh. Y tiến [98] tới một cách mù quáng, cuồng nhiệt và không khoan nhượng, cho đến khi đột nhiên phải đối diện gay gắt với những điều kiện thay đổi và nhận ra một tình thế khác, khó khăn hơn nhiều. Các cặp đối cực trên cõi cảm dục hiện ra trước y, và y trở thành Arjuna trên chiến trường. Mọi cảm thức hợp nhất, định hướng, thỏa mãn chắc chắn và thường tự mãn của y đều biến mất; y lạc trong sương mù và ảo cảm của cõi cảm dục. Đây là tình cảnh của nhiều đệ tử có thiện chí hiện nay, và Tôi phải dừng lại ở đó đôi chút, vì nhóm này, khi có thể hoạt động như một nhóm, có nhiệm vụ dự kiến là làm tan biến một phần ảo cảm thế giới. Một ngày nào đó (và chúng ta hãy hy vọng điều ấy sẽ xảy ra không lâu nữa), nhóm này và những nhóm tương tự khác cần hoạt động như một nhóm, dưới sự chỉ đạo của Chân sư của họ, để xuyên thủng ảo cảm thế giới, đưa vào một phần ánh sáng và sự soi sáng, để từ đó con người có thể bước đi chân thực hơn trên Đường Đạo một cách an toàn.
I have, therefore, chosen for participation in this work several aspirants whose tendency is to succumb to glamour, though two of them are less prone to it than are the others. Their relative freedom from it was one of the reasons why I chose them. These two are D.L.R. and D.P.R. Let these two keep their lives free from any tendency to glamour if they are rightly to serve their brothers as desired by me. I will give indication of their tendency in that direction in their personal instructions. The other group members are quickly prone to glamour, but this is a grief to them. It can, however, be as quickly turned into an asset. How can the world glamour be dissipated except by those who recognise it for what it is and who have wrestled with it in their daily lives? How can there be success in removing world glamour through illumination, unless this illumination is brought about by those who have learned to cast the searchlight of the soul into the dark places and the glamour which surrounds [99] them, as individuals, and then see it disappear? Be not discouraged by this “glamorous weakness” but regard your effort to understand the problem and your ability to arrive at the solution in your own lives as part of the contribution which you can make to this most stupendous of world problems. Solve your glamour by dwelling in the light and holding the mind steady in that light, and by learning to throw this light into the fogs of glamour on the astral plane. Do not attempt to solve it, as some aspirants so frequently do, by saying, “Now I understand,” whereas all that they do (and many of you do the same) is to react to a self-evident occult platitude.
Do đó, Tôi đã chọn tham gia công việc này một số người chí nguyện có khuynh hướng khuất phục trước ảo cảm, dù hai người trong số họ ít dễ mắc phải hơn những người khác. Việc họ tương đối thoát khỏi ảo cảm là một trong những lý do Tôi chọn họ. Hai người này là D.L.R. và D.P.R. Hai người ấy hãy giữ đời sống của mình không vướng vào bất cứ khuynh hướng ảo cảm nào, nếu muốn phụng sự đúng đắn các huynh đệ của mình như Tôi mong muốn. Tôi sẽ chỉ ra khuynh hướng của họ theo chiều hướng ấy trong những huấn thị riêng dành cho họ. Những thành viên khác của nhóm dễ nhanh chóng mắc ảo cảm, nhưng điều này khiến họ đau buồn. Tuy nhiên, nó cũng có thể nhanh chóng trở thành một lợi thế. Ai có thể làm tiêu tan ảo cảm thế giới, nếu không phải là những người nhận ra đúng bản chất của nó và đã vật lộn với nó trong đời sống hằng ngày? Làm sao có thể thành công trong việc loại bỏ ảo cảm thế giới bằng sự soi sáng, nếu sự soi sáng ấy không do những người đã học cách rọi đèn pha của linh hồn vào những nơi tối tăm và vào ảo cảm bao quanh [99] chính họ với tư cách cá nhân, rồi thấy nó biến mất? Đừng nản lòng vì “sự yếu đuối trước ảo cảm” này, mà hãy xem nỗ lực thấu hiểu vấn đề và khả năng tìm ra giải pháp trong đời sống của chính các bạn là một phần đóng góp mà các bạn có thể dành cho vấn đề thế giới hết sức to lớn này. Hãy hóa giải ảo cảm của mình bằng cách sống trong ánh sáng, giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ấy, và học cách rọi ánh sáng này vào sương mù ảo cảm trên cõi cảm dục. Đừng cố hóa giải nó, như một số người chí nguyện rất thường làm, bằng cách nói: “Giờ tôi đã thấu hiểu”, trong khi tất cả những gì họ làm (và nhiều người trong các bạn cũng làm như vậy) chỉ là phản ứng với một lời sáo mòn huyền bí hiển nhiên.
Third: This stage of glamour is oft called the Arjuna Experience. Today the world Arjuna is facing the pairs of opposites, just as does the individual disciple, ready—when these pairs have been resolved into a unity—to tread the Path of Discipleship.
Thứ ba: Giai đoạn ảo cảm này thường được gọi là Trải nghiệm Arjuna. Ngày nay, Arjuna của thế giới đang đối diện với các cặp đối cực, cũng như người đệ tử cá nhân, sẵn sàng—khi những cặp này đã được hóa giải thành một sự hợp nhất—bước trên Con Đường Đệ Tử.
It might be pointed out that:
Có thể chỉ ra rằng:
1. The masses in all lands are wrestling with the first pair of opposites, that upon the physical plane. When “resolution” has taken place, these masses will step on to the Path of Purification. This is rapidly taking place. It might be added that this is a long and slow process because the consciousness is—in this stage—not the intelligent awareness of the thinking man but the blind consciousness of the physical man, plus the forces of nature themselves.
1. Quần chúng ở mọi quốc gia đang vật lộn với cặp đối cực đầu tiên, cặp đối cực trên cõi hồng trần. Khi “sự hóa giải” đã diễn ra, những quần chúng này sẽ bước vào Con Đường Thanh Luyện. Điều này đang diễn ra nhanh chóng. Có thể nói thêm rằng đây là một tiến trình dài và chậm, vì ở giai đoạn này, tâm thức không phải là sự nhận biết sáng suốt của con người biết suy tư, mà là tâm thức mù quáng của con người hồng trần, cộng với chính những mãnh lực của tự nhiên.
2. The average educated citizen in all lands is facing today the Arjuna experience and the pairs of opposites upon the astral plane. Hence the intense feeling abroad in the world; hence also the search for illumination, through education, through religion, and through the many agencies of mental instruction, with the consequent [100] growth of knowledge, wisdom and right relationships. These people fall normally into two classes:
2. Ngày nay, người dân có học vấn ở mức trung bình trong mọi quốc gia đang đối diện với trải nghiệm Arjuna và các cặp đối cực trên cõi cảm dục. Vì thế, cảm xúc mãnh liệt lan khắp thế giới; cũng vì thế mà có sự tìm kiếm sự soi sáng thông qua giáo dục, tôn giáo và nhiều cơ quan giảng dạy về trí tuệ, kéo theo [100] sự phát triển của tri thức, minh triết và những mối quan hệ đúng đắn. Những người này thường thuộc hai nhóm:
a. Those who are aware of the necessity for decision and discrimination in thinking and in choice, but who are not yet truly aware of the implications or of the indications. They are called the “bewilderment phase of Arjuna’s plight,” and to racial, national and individual glamour, they have added a spiritual glamour which intensifies the fog.
a. Những người nhận biết sự cần thiết phải quyết định và phân biện trong tư duy cũng như trong lựa chọn, nhưng chưa thực sự nhận biết những hàm ý hay những dấu hiệu. Họ thuộc “giai đoạn hoang mang trong tình cảnh của Arjuna”, và ngoài ảo cảm của nhân loại, quốc gia và cá nhân, họ còn thêm vào một ảo cảm tinh thần khiến màn sương dày đặc hơn.
b. Those who have emerged out of this condition and are becoming aware of their problem. They see the pairs of opposites and are entering upon the “recognition stage of Arjuna’s release.” They see the Form of God and the indwelling Reality within that Form and are arriving at the decision to let the Warrior carry on the fight. They will then (when right decision and choice have been made) “stand up and fight,” and will find themselves no longer on the Path of Purification but upon the Path of Discipleship.
b. Những người đã thoát khỏi tình trạng này và đang nhận biết vấn đề của mình. Họ thấy các cặp đối cực và đang bước vào “giai đoạn nhận biết trong sự giải thoát của Arjuna”. Họ thấy Hình Tướng của Thượng đế và Thực Tại ngự bên trong Hình Tướng ấy, và đang đi đến quyết định để Chiến Sĩ tiếp tục chiến đấu. Khi đó, sau khi đã quyết định và lựa chọn đúng đắn, họ sẽ “đứng lên và chiến đấu”, và thấy mình không còn ở trên Con Đường Thanh Luyện mà đã ở trên Con Đường Đệ Tử.
With this stage you are all familiar, and aspirants such as are found in this group of students need no instruction from me as to the treading of the path out of glamour into light. The rules are well known: the glamours to which you are susceptible are equally familiar; the glamours to which humanity is prone are well recognised by you. It remains but for you to follow the ancient way of Raja Yoga and bring in the mind as a dispelling agency and thus learn to stand in the “light” between the pairs of opposites, and through that “light” achieve freedom by treading the noble middle way. Sometimes, my brothers, I feel that you know so much theoretically but have worked out relatively [101] so little. I ask myself whether I do not shoulder an unreasonable responsibility by giving you any more instructions. But I remind myself that I write for others as well as for you and that my time is short for this particular service.
Tất cả các bạn đều quen thuộc với giai đoạn này, và những người chí nguyện như các đạo sinh trong nhóm này không cần Tôi chỉ dẫn cách bước trên con đường ra khỏi ảo cảm để vào ánh sáng. Các quy luật đã quá quen thuộc; những ảo cảm mà các bạn dễ mắc phải cũng quen thuộc không kém; các bạn cũng nhận biết rõ những ảo cảm mà nhân loại dễ mắc phải. Các bạn chỉ còn cần đi theo con đường cổ xưa của pháp tu vương giả, đưa thể trí vào làm tác nhân xua tan, và nhờ đó học cách đứng trong “ánh sáng” giữa các cặp đối cực, rồi thông qua “ánh sáng” ấy đạt được tự do bằng cách bước trên con đường trung đạo cao quý. Đôi khi, các huynh đệ của Tôi, Tôi cảm thấy các bạn biết rất nhiều về lý thuyết nhưng đã thực hiện tương đối [101] quá ít. Tôi tự hỏi liệu mình có đang gánh một trách nhiệm quá mức hợp lý khi trao thêm cho các bạn bất cứ huấn thị nào hay không. Nhưng Tôi tự nhắc mình rằng Tôi viết cho những người khác cũng như cho các bạn, và thời gian của Tôi dành cho việc phụng sự cụ thể này không còn nhiều.
The resolution of these dualities takes place when the soul, the true spiritual man, no longer identifies itself with either of the opposites, but stands free upon this middle way; the disciple then sees the “lighted Way ahead,” along which he learns to go without being drawn into the glamorous worlds which stretch on either hand. He travels straight towards his goal.
Sự hóa giải những nhị nguyên này diễn ra khi linh hồn, con người tinh thần đích thực, không còn đồng hoá với bất cứ đối cực nào, mà đứng tự do trên con đường trung đạo này; khi ấy, người đệ tử thấy “Đường Đạo được soi sáng phía trước”, và học cách đi trên đó mà không bị lôi cuốn vào những thế giới ảo cảm trải dài ở hai bên. Y tiến thẳng tới mục tiêu của mình.
3. The stage wherein the intelligent thinking man, whether disciple or well-meaning aspirant, or an initiate of the first and second degrees, has to learn to distinguish between the truth and the truths, between knowledge and wisdom, between reality and illusion. When this stage has been passed through it leads to the third initiation, wherein the personality (which is prone to maya, glamour and illusion) stands free. It again experiences a sense of at-one-ment. This is due to the development of the sense of the intuition which puts into the disciple’s hand an infallible instrument whereby to discriminate and to discern. His perception is becoming accurate and he stands relatively free from deception and wrong identifications and interpretations.
3. Giai đoạn trong đó con người suy tư sáng suốt, dù là đệ tử, người chí nguyện có thiện chí hay điểm đạo đồ bậc một và bậc hai, phải học cách phân biệt giữa chân lý và những chân lý, giữa tri thức và minh triết, giữa thực tại và ảo tưởng. Khi đã trải qua giai đoạn này, y tiến tới lần điểm đạo thứ ba, trong đó phàm ngã (vốn dễ mắc ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng) trở nên tự do. Phàm ngã lại trải nghiệm một cảm thức hợp nhất. Điều này là nhờ sự phát triển cảm thức trực giác, đặt vào tay người đệ tử một công cụ không bao giờ sai để phân biện và phân biện tinh thần. Nhận thức của y đang trở nên chính xác, và y tương đối thoát khỏi sự lừa dối, những đồng hoá và diễn giải sai lầm.
You will have noted how the career of the man has, therefore, proceeded from a crisis of duality to one of a relative unity, only to have that sense of unification disturbed by a renewed recognition of a higher and deeper duality. This duality temporarily produces another cleavage in a man’s life, and thus re-initiates a torturing process of bridging or of “occultly healing” [102] this break in the continuity of the spiritual consciousness. I would here remind you that this sense of peace or perception of cleavage is in itself an illusion and of the nature of glamour, and is based upon the illusory sense of identification with that which is not the self, or soul. The entire problem can be solved if the shift of the consciousness is away from identification with the lower forms of experience into that of identification with the real and true man.
Do đó, các bạn hẳn đã nhận thấy cuộc đời con người tiến từ một cuộc khủng hoảng nhị nguyên đến một trạng thái hợp nhất tương đối, chỉ để cảm thức thống nhất ấy lại bị xáo trộn khi y nhận ra một nhị nguyên mới, cao hơn và sâu hơn. Nhị nguyên này tạm thời tạo ra một sự chia rẽ khác trong đời sống con người, và như vậy lại khởi đầu một tiến trình đầy đau đớn để bắc cầu hoặc “chữa lành một cách huyền bí” [102] sự đứt đoạn này trong tính liên tục của tâm thức tinh thần. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính cảm thức bình an hay nhận thức về sự chia rẽ này là một ảo tưởng và mang bản chất ảo cảm, dựa trên cảm thức đồng hoá đầy ảo tưởng với những gì không phải là bản ngã, hay linh hồn. Toàn bộ vấn đề có thể được giải quyết nếu tâm thức chuyển từ sự đồng hoá với những hình tướng trải nghiệm thấp sang sự đồng hoá với con người chân thực, đích thực.
4. Stage by stage, the man has progressed from one state of illusion or glamour to another, from one point of discriminative opportunity to another until he has developed in himself three major capacities:
4. Từng giai đoạn một, con người đã tiến từ trạng thái ảo tưởng hay ảo cảm này sang trạng thái khác, từ cơ hội phân biện này sang cơ hội khác, cho đến khi phát triển trong mình ba năng lực chủ yếu:
1. The capacity to handle force.
1. Năng lực điều khiển mãnh lực.
2. The capacity to tread the middle way between the pairs of opposites.
2. Năng lực bước trên con đường trung đạo giữa các cặp đối cực.
3. The capacity to use the intuition.
3. Năng lực sử dụng trực giác.
These capacities he developed by resolving the pairs of opposites on the physical, astral and lower mental planes. Now he faces his climaxing resolution, equipped with these powers. He becomes aware of those two great and apparently opposing entities (with both of whom he finds himself consciously identified)—the Angel of the Presence and the Dweller on the Threshold. Behind the Angel he dimly senses, not another duality, but a great Identity, a living Unity, which—for lack of a better word—we call the PRESENCE.
Y phát triển những năng lực này bằng cách hóa giải các cặp đối cực trên cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí. Giờ đây, được trang bị những quyền năng ấy, y đối diện với sự hóa giải tột đỉnh của mình. Y nhận biết hai thực thể lớn lao và dường như đối lập (mà y thấy mình đồng hoá một cách có ý thức với cả hai)—Thiên Thần của Hiện Diện và Kẻ Chận Ngõ. Đằng sau Thiên Thần, y cảm nhận lờ mờ không phải một nhị nguyên khác, mà là một Bản Sắc vĩ đại, một Sự Hợp Nhất sống động, mà chúng ta gọi là HIỆN DIỆN vì thiếu một từ thích hợp hơn.
He then discovers that the way out in this case is not the method of handling force or of leaving behind both pairs of opposites, or of right recognition through the intuition, but that this Dweller and this Angel must be brought together; the lower entity must be “blotted out” in the “light,” or “forced to disappear within the [103] radiance.” This is the task of the higher of the two entities, with which the disciple or the initiate, consciously and deliberately, identifies himself. With this process we will later deal. This is the problem which faces the initiate before he takes the final three initiations.
Khi đó, y khám phá rằng lối thoát trong trường hợp này không phải là phương pháp điều khiển mãnh lực, hay bỏ lại phía sau cả hai cặp đối cực, hay nhận biết đúng đắn thông qua trực giác, mà là phải đưa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần này đến với nhau; thực thể thấp phải được “xóa sạch” trong “ánh sáng”, hoặc “buộc phải biến mất trong [103] hào quang”. Đây là nhiệm vụ của thực thể cao hơn trong hai thực thể, thực thể mà người đệ tử hay điểm đạo đồ đồng hoá với một cách có ý thức và có chủ đích. Chúng ta sẽ đề cập đến tiến trình này sau. Đây là vấn đề mà điểm đạo đồ phải đối diện trước khi trải qua ba cuộc điểm đạo cuối cùng.
You must bear in mind that none of these three stages are, in reality, divided off from each other by clear lines of demarcation, nor do they follow each other in a clear sequence. They proceed with much overlapping and often with a partial simultaneity. It is only when the disciple faces certain initiations that he awakens to the fact of these distinctions. Therefore, it might be stated that:
Các bạn phải ghi nhớ rằng, trong thực tế, không giai đoạn nào trong ba giai đoạn này tách biệt với những giai đoạn khác bằng các ranh giới rõ ràng, cũng như chúng không nối tiếp nhau theo một trình tự rành mạch. Chúng diễn tiến với nhiều phần chồng lấn, và thường có những phần diễn ra đồng thời. Chỉ khi người đệ tử đối diện với một số cuộc điểm đạo nhất định, y mới thức tỉnh trước những sự phân biệt này. Do đó, có thể nói rằng:
1. In the first initiation the disciple demonstrates that he has resolved the dualities of the physical plane and can rightly impose etheric energy (the higher of the two) upon physical energy.
1. Trong lần điểm đạo thứ nhất, người đệ tử chứng tỏ rằng y đã hóa giải các nhị nguyên của cõi hồng trần và có thể áp đặt đúng đắn năng lượng dĩ thái (năng lượng cao hơn trong hai năng lượng) lên năng lượng hồng trần.
2. In the second initiation, the initiate demonstrates that he can choose between the pairs of opposites and proceed with decision upon the “middle way.”
2. Trong lần điểm đạo thứ hai, điểm đạo đồ chứng tỏ rằng y có thể lựa chọn giữa các cặp đối cực và tiến bước một cách dứt khoát trên “con đường trung đạo”.
3. In the third initiation, the initiate can employ the intuition for the right perception of truth, and in that initiation he catches the first real glimpse of the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence.
3. Trong lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ có thể sử dụng trực giác để nhận thức đúng đắn chân lý, và trong cuộc điểm đạo ấy, y lần đầu tiên thực sự thoáng thấy Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.
4. In the fourth initiation, the initiate demonstrates his ability to produce complete at-one-ment between the higher and lower aspect of the soul in manifestation and sees the Dweller on the Threshold merge into the Angel of the Presence.
4. Trong lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ chứng tỏ khả năng tạo nên sự hợp nhất trọn vẹn giữa phương diện cao và phương diện thấp của linh hồn đang biểu hiện, và thấy Kẻ Chận Ngõ hòa nhập vào Thiên Thần của Hiện Diện.
5. In the fifth initiation—and here words fail to express the truth—he sees the Dweller on the Threshold, [104] the Angel, and the Presence merged into a divine synthesis.
5. Trong lần điểm đạo thứ năm—và ở đây, ngôn từ không thể diễn đạt chân lý—y thấy Kẻ Chận Ngõ, [104] Thiên Thần và Hiện Diện hòa nhập thành một tổng hợp thiêng liêng.
The question arises as to what produces this glamour and illusion. The subject is so vast (embracing as it does the whole field of planetary history) that I can do little more than indicate some of the causes. Few of them have, as yet, been susceptible of correction except in the case of individuals. This means that when individuals reach the point in evolution where they can identify themselves with their higher aspect, the soul, and can then bring in soul energy to offset, subdue and dominate the lower forces of the personality, then correction becomes possible and inevitably takes place. When, therefore, the time comes when a very large number of persons become aware of the condition of world glamour (through discovering it and dealing with it in their own lives), then we shall have a group approach to the problem. Then we shall have a definite attack upon the world glamour, and when this does take place—speaking esoterically—“an opening will be made which will admit the light of the solar orb. The fogs will slowly disappear, subdued by the solar radiance, and the pilgrims will then find the enlightened WAY which leads from the heart of the fog, straight to the door of light.”
Câu hỏi đặt ra là điều gì tạo nên ảo cảm và ảo tưởng này. Chủ đề này rộng lớn đến mức (vì bao trùm toàn bộ lĩnh vực lịch sử hành tinh) Tôi khó có thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số nguyên nhân. Cho đến nay, chỉ một vài nguyên nhân trong số đó có thể được khắc phục, và cũng chỉ trong trường hợp của từng cá nhân. Điều này có nghĩa là khi các cá nhân đạt đến điểm tiến hoá mà ở đó họ có thể đồng hoá với phương diện cao của mình, tức linh hồn, rồi đưa năng lượng linh hồn vào để hóa giải, chế ngự và làm chủ các mãnh lực thấp của phàm ngã, thì việc khắc phục trở nên khả thi và tất yếu diễn ra. Vì vậy, khi đến lúc rất đông người nhận biết tình trạng ảo cảm thế giới (qua việc khám phá và xử lý nó trong chính cuộc sống của mình), chúng ta sẽ có một cách tiếp cận theo nhóm đối với vấn đề này. Khi ấy, chúng ta sẽ có một cuộc tiến công rõ rệt vào ảo cảm thế giới, và khi điều này thực sự diễn ra—nói một cách huyền bí—“một khoảng mở sẽ được tạo ra, cho phép ánh sáng của khối cầu mặt trời đi vào. Những màn sương mù sẽ từ từ tan biến dưới ánh rạng ngời của mặt trời, và khi ấy những người hành hương sẽ tìm thấy CON ĐƯỜNG được soi sáng, dẫn thẳng từ giữa màn sương mù đến cánh cửa ánh sáng.”
It is with the intention of discovering how far the aspirants and disciples of the world have gone in their understanding and in their handling of this problem that such an experiment as that being carried on in these groups has been undertaken and permitted.
Chính nhằm khám phá xem những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới đã tiến xa đến đâu trong việc thấu hiểu và xử lý vấn đề này mà một cuộc thử nghiệm như cuộc thử nghiệm đang diễn ra trong các nhóm này đã được tiến hành và cho phép.
2. The Causes Producing World Glamour. – 2. Các Nguyên Nhân Tạo Nên Ảo Cảm Thế Giới.
The causes producing world glamour can be divided into three groups: [105]
Các nguyên nhân tạo nên ảo cảm thế giới có thể chia thành ba nhóm: [105]
A. Planetary causes.
A. Các nguyên nhân hành tinh.
B. Causes initiated by humanity itself.
B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát.
C. Causes induced by any individual person which are, nevertheless, founded and based in the two above groups of conditioning factors.
C. Các nguyên nhân do từng cá nhân gây ra, nhưng vẫn có nền tảng và cơ sở trong hai nhóm yếu tố tác động nêu trên.
A. Planetary Causes. These causes are two in number and beyond your finite comprehension. I only state them and ask you to accept them as reasonable speculations and possibly accurate hypotheses:
A. Các Nguyên Nhân Hành Tinh. Có hai nguyên nhân như vậy, và chúng vượt ngoài khả năng thấu hiểu hữu hạn của các bạn. Tôi chỉ nêu chúng ra và đề nghị các bạn chấp nhận chúng như những suy đoán hợp lý và những giả thuyết có thể chính xác:
1. Causes inherent in substance itself. The atoms of which all forms are made have been inherited from an earlier universe or solar system and are, therefore, tinged with or coloured by the results of that great creative manifestation. The effects produced in that expression of divine existence constitute predisposing factors or initiating causes in this solar system and planetary life. These conditioning and inherited factors cannot be evaded. They determine the nature of the life urge, the trend of the evolutionary unfoldment, and the innate tendencies which all forms possess, such as the capacity to grow and to unfold, to orient the type and to express in time and space the archetype or pattern, and to outline and determine the structure of the kingdoms into which science divides the natural world. These are but a few of the innate, inherent characteristics of substance itself, inherited and conditioning our present manifestation of divine life.
1. Các nguyên nhân vốn có trong chính chất liệu. Những nguyên tử cấu thành mọi hình tướng là di sản từ một vũ trụ hoặc hệ mặt trời trước đó, nên mang dấu ấn hoặc sắc thái của những kết quả từ cuộc biểu hiện sáng tạo vĩ đại ấy. Những hiệu quả phát sinh trong sự biểu lộ hiện tồn thiêng liêng đó tạo thành các yếu tố gây khuynh hướng hoặc các nguyên nhân khởi phát trong hệ mặt trời và sự sống hành tinh này. Không thể tránh được những yếu tố tác động và di truyền ấy. Chúng quyết định bản chất của sự thôi thúc sống, chiều hướng khai mở tiến hoá và những khuynh hướng bẩm sinh mà mọi hình tướng đều có, như khả năng tăng trưởng và khai mở, định hướng loại hình và biểu lộ nguyên mẫu hay mô hình trong thời gian và không gian, cũng như phác định và xác lập cấu trúc của các giới mà khoa học dùng để phân chia thế giới tự nhiên. Đây chỉ là một vài đặc tính bẩm sinh, vốn có của chính chất liệu, được kế thừa và tác động lên sự biểu hiện hiện nay của sự sống thiêng liêng nơi chúng ta.
2. The life or manifestation of the planetary Logos, the “One in Whom we live and move and have our being,” is determined by His Own Nature. To us, that great Life embodies perfection and the qualities which distinguish Him are those to which we direct our highest [106] aspiration. But, from the angle of Those Lives Who are ahead of Him upon the cosmic path (I speak symbolically and in terms of human experience) He is among the “imperfect Gods.” These imperfections, hindering unfoldment or the perfect expression of divine energy when brought into conjunction with the inherited qualities and biases of the substances through which He must express His life, His purposes and intentions, produce the “seeds of death and of decay” which characterise our planetary evolution in all the four kingdoms in nature. They create the obstacles, obstructions and hindrances against which the soul in all created forms must struggle, gaining strength and understanding thereby and eventual liberation.
2. Sự sống hay sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn”, do chính Bản Chất của Ngài quyết định. Đối với chúng ta, Sự Sống Vĩ Đại ấy là hiện thân của sự hoàn thiện, và những phẩm tính đặc trưng của Ngài là những phẩm tính mà chúng ta hướng đến bằng [106] khát vọng cao nhất. Nhưng từ góc nhìn của Những Sự Sống đi trước Ngài trên con đường vũ trụ (Tôi nói theo nghĩa biểu tượng và bằng những cách diễn đạt thuộc kinh nghiệm con người), Ngài ở trong số “các Thượng đế bất toàn”. Những sự bất toàn này cản trở sự khai mở hoặc sự biểu lộ hoàn hảo của năng lượng thiêng liêng; khi kết hợp với những phẩm tính và thiên hướng được kế thừa của các chất liệu mà qua đó Ngài phải biểu lộ sự sống, mục đích và ý định của mình, chúng tạo ra những “hạt giống của sự chết và sự suy tàn”, vốn đặc trưng cho sự tiến hoá hành tinh của chúng ta trong cả bốn giới trong thiên nhiên. Chúng tạo ra những chướng ngại, ngăn trở và cản trở mà linh hồn trong mọi hình tướng được tạo thành phải đấu tranh vượt qua, nhờ đó đạt được sức mạnh, sự thấu hiểu và cuối cùng là sự giải thoát.
These are the two major planetary causes. They cannot finally deter the soul from emancipation but they can and do hinder and delay. It is useless for men to speculate upon these hypotheses with their present inadequate equipment and type of brain. Nothing would be achieved and you would be none the wiser.
Đây là hai nguyên nhân hành tinh chủ yếu. Rốt cuộc, chúng không thể ngăn linh hồn đạt đến giải thoát, nhưng chúng có thể và thực sự gây cản trở, trì hoãn. Với bộ máy và loại bộ não còn bất cập hiện nay, con người suy đoán về những giả thuyết này cũng vô ích. Sẽ chẳng đạt được gì, và các bạn cũng không sáng suốt hơn chút nào.
B. Causes initiated by humanity itself. Slowly, step by step, humanity has created and intensified that glamorous condition of consciousness which we call the astral plane. All glamour is produced by the bringing together of one or more streams of energy which produce a temporary whirlpool of energies and, from the angle of man—the onlooker and participator—produce a condition of darkness, a state of bewilderment which makes clear choice and right discrimination difficult and, in the early stages, impossible. It creates an aura which is today of such a general nature and so all-enveloping that everybody is, figuratively speaking, immersed in it. This aura, in the infancy [107] of the race, only surrounded the more advanced people. To understand what I mean by this statement, I would call your attention to the fact that very unintelligent people, those who are among the lowest human types, and those who are little more than active animals, governed primarily by the instincts, are apt to deal very simply and with complete directness with the facts of existence with which they are faced and which to them are of paramount or sole importance—the facts of hunger, of birth and death, of self-protection and perpetuation. There is little true glamour in their reaction to life and living, and their simplicity, like that of a child, saves and protects them from many of the subtler ills. Their emotions are not subtle, and their minds are unawakened. But, as humanity evolved and the higher levels of the racial consciousness became more subtle and the mind factor slowly became more active, then glamour and illusion developed very rapidly.
B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát. Chậm rãi, từng bước một, nhân loại đã tạo ra và làm tăng cường tình trạng tâm thức đầy ảo cảm mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Mọi ảo cảm đều phát sinh từ việc tập hợp một hay nhiều dòng năng lượng, tạo nên một xoáy năng lượng tạm thời và, từ góc nhìn của con người—vừa là người quan sát vừa là người tham dự—tạo nên một tình trạng tối tăm, một trạng thái hoang mang khiến việc lựa chọn sáng suốt và phân biện đúng đắn trở nên khó khăn, và trong những giai đoạn đầu thì không thể thực hiện. Nó tạo ra một hào quang mà ngày nay phổ biến và bao trùm đến mức, nói theo nghĩa bóng, ai cũng đắm chìm trong đó. Vào thời thơ ấu [107] của nhân loại, hào quang này chỉ bao quanh những người tiến hóa hơn. Để các bạn thấu hiểu điều Tôi muốn nói qua nhận định này, Tôi xin lưu ý các bạn rằng những người có trí tuệ rất kém phát triển, những người thuộc các loại hình nhân loại thấp nhất, và những người chỉ hơn các động vật hoạt động đôi chút, chủ yếu do bản năng chi phối, thường xử lý rất đơn giản và hoàn toàn trực tiếp những sự kiện của đời sống mà họ đối diện và xem là quan trọng nhất hoặc duy nhất—những sự kiện về đói khát, sinh và tử, tự bảo vệ và duy trì sự tồn tại. Có rất ít ảo cảm thực sự trong phản ứng của họ đối với sự sống và việc sống, và sự đơn giản của họ, giống như sự đơn giản của một đứa trẻ, cứu họ và bảo vệ họ khỏi nhiều tai hại tinh vi hơn. Cảm xúc của họ chưa tinh tế, và thể trí của họ chưa thức tỉnh. Nhưng khi nhân loại tiến hoá, các cấp độ cao hơn của tâm thức nhân loại trở nên tinh tế hơn, và yếu tố trí tuệ dần hoạt động tích cực hơn, thì ảo cảm và ảo tưởng phát triển rất nhanh chóng.
The first indications of glamour arose when the disciples and the aspirants of the Lemurian world (whose problem was the right comprehension, correct functioning and control of the physical body) began to differentiate between themselves, as self-conscious beings, and physical and vital forces. That immediately set up a tremendous activity in the throat centre which is the higher aspect of the sacral centre (the sex centre) and thus led to the initial glamour and to the first definite recognition and consideration of the sex impulse, of sex attraction, and—for the initiate of that period—of the necessary sex transmutation. This went hand in hand with the earliest Yoga, or the cult of the physical body with the objective of its control by the soul, and the consequent merging of the conscious and the subconscious.
Những dấu hiệu đầu tiên của ảo cảm xuất hiện khi các đệ tử và người chí nguyện trong thế giới Lemuria (mà vấn đề của họ là thấu hiểu đúng đắn, vận hành chính xác và kiểm soát thể xác) bắt đầu phân biệt giữa bản thân mình, với tư cách những sinh linh có ngã thức, và các mãnh lực hồng trần cùng sinh lực. Điều đó lập tức khơi lên một hoạt động mãnh liệt trong trung tâm cổ họng, vốn là phương diện cao hơn của trung tâm xương cùng (trung tâm tính dục), và vì thế dẫn đến ảo cảm ban đầu cùng sự nhận biết và xem xét rõ rệt đầu tiên về xung động tính dục, sức hấp dẫn tính dục và—đối với điểm đạo đồ thời kỳ ấy—sự chuyển hoá tính dục cần thiết. Điều này đi đôi với pháp tu sơ khai nhất, hay việc chuyên tu thể xác nhằm đặt thể xác dưới sự kiểm soát của linh hồn, và sự hòa nhập tiếp theo giữa tâm thức hữu thức và tiềm thức.
Around the aspirants of that time could then be seen gathering the first clouds and fogs of glamour, though illusion [108] was nowhere present. The first recognition of the plane of the emotions, of the astral plane, was evoked in the consciousness of the groups under preparation for the first initiation which was the highest initiation possible at that time. The reason for this slowly emerging astral consciousness in the physically polarised aspirant of that time, was due to the fact that one of the secrets of initiation consists in the right understanding and use of the consciousness which is aware and capable of functioning upon a plane higher than that on which humanity as a whole is, at any given time, living. Hence, in Lemurian times, the physically centred man who was on the verge of admission to the Path was aware of:
Khi ấy, có thể thấy những đám mây và màn sương mù đầu tiên của ảo cảm tụ lại quanh những người chí nguyện thời đó, dù ảo tưởng [108] chưa xuất hiện ở đâu cả. Sự nhận biết đầu tiên về cõi cảm xúc, tức cõi cảm dục, được khơi dậy trong tâm thức của các nhóm đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất, vốn là lần điểm đạo cao nhất có thể đạt được vào thời ấy. Lý do khiến tâm thức cảm dục này từ từ xuất hiện nơi người chí nguyện phân cực hồng trần thời đó là vì một trong những bí mật của điểm đạo nằm ở việc thấu hiểu và sử dụng đúng đắn tâm thức có khả năng nhận biết và hoạt động trên một cõi cao hơn cõi mà toàn thể nhân loại đang sống vào bất kỳ thời điểm nào. Do đó, vào thời Lemuria, người tập trung nơi phương diện hồng trần và sắp được nhận vào Đường Đạo đã nhận biết:
1. The physical duality wherein his consciousness was accustomed to function normally and of the conflict between the physical body per se and the vital etheric body.
1. Nhị nguyên hồng trần, trong đó tâm thức của y đã quen hoạt động bình thường, và sự xung đột giữa chính thể xác với thể dĩ thái mang sinh lực.
2. A dimly sensed higher consciousness which was distinguished by quality and sentiency. This was all that he could at that time contact upon the most familiar plane today, the astral plane.
2. Một tâm thức cao hơn được cảm nhận lờ mờ, có đặc trưng là phẩm tính và khả năng cảm thụ. Đó là tất cả những gì y có thể tiếp xúc vào thời ấy trên cõi quen thuộc nhất ngày nay, tức cõi cảm dục.
3. A growing sense of self-identity which was the awakening soul or self, the Master who was to lead him out of the purely physical consciousness into the next divine stage, the astral consciousness. Forget not, through familiarity and fatigue of conflict, the divinity of each developing step.
3. Một ý thức ngày càng rõ về bản sắc của mình, vốn là linh hồn hay bản ngã đang thức tỉnh, là Chân sư sẽ dẫn y ra khỏi tâm thức thuần túy hồng trần để bước vào giai đoạn thiêng liêng tiếp theo, tức tâm thức cảm dục. Đừng vì đã quá quen thuộc và mệt mỏi do xung đột mà quên đi thiên tính của mỗi bước phát triển.
Thus it will be apparent to you, if the above is a true statement of fact, that glamour arose from the recognition of these factors in consciousness and was the result of man’s reactions to the complexities of his own constitution and to the energy of his own soul.
Như vậy, nếu những điều nêu trên phản ánh đúng sự thật, các bạn sẽ thấy rõ rằng ảo cảm phát sinh từ sự nhận biết những yếu tố này trong tâm thức, và là kết quả của những phản ứng của con người đối với sự phức tạp trong cấu tạo của chính mình và đối với năng lượng của chính linh hồn mình.
[109] As time went on, the entire human family became aware of the new emerging dualism existing between the physical constitution and the astral plane, plus the activity of the centre within himself, which at this stage made its appearance as conscience and innate—and at that time unreasoning—realisation of an urge to higher living or a tendency to lower activity. This nebulous conscience developed eventually into what we call the Voice of Conscience. When that took place, the intricacy and the difficulty of life was greatly increased and glamour was definitely established on Earth. It was that which enfolded and over-emphasised the lower at the expense of the higher, and served to distract the attention of the aspirant away from reality. May I again re-emphasise that, at this early stage, glamour was only evoked by and recognised by the highly evolved people of that period?
[109] Theo thời gian, toàn thể gia đình nhân loại nhận biết tính nhị nguyên mới xuất hiện giữa cấu tạo hồng trần và cõi cảm dục, cùng với hoạt động của trung tâm bên trong mỗi người; ở giai đoạn này, trung tâm ấy biểu lộ thành lương tâm và sự nhận biết bẩm sinh—vào thời đó chưa dựa trên lý trí—về một thôi thúc hướng đến đời sống cao hơn hoặc một khuynh hướng hướng đến hoạt động thấp hơn. Lương tâm còn mơ hồ này cuối cùng phát triển thành điều chúng ta gọi là Tiếng Nói của Lương Tâm. Khi điều đó diễn ra, tính phức tạp và khó khăn của cuộc sống tăng lên rất nhiều, và ảo cảm đã xác lập rõ rệt trên Trái Đất. Chính nó bao phủ và nhấn mạnh quá mức cái thấp, làm lu mờ cái cao, đồng thời khiến sự chú ý của người chí nguyện rời xa thực tại. Xin cho phép Tôi nhấn mạnh lại rằng, ở giai đoạn sơ khai này, chỉ những người tiến hóa cao của thời kỳ ấy mới khơi dậy và nhận biết ảo cảm.
Then the Lemurian race slowly passed away and the Atlantean race came into existence. During the millions of years this race flourished on Earth there were vast numbers of people with the Lemurian consciousness flourishing at the same time, just as today in this modern Aryan race, there are many, many millions of people who express the Atlantean consciousness and are polarised in their astral bodies, the victims of emotion and of consequent glamour.
Sau đó, nhân loại Lemuria dần biến mất và nhân loại Atlantis xuất hiện. Trong hàng triệu năm nhân loại này phát triển mạnh trên Trái Đất, đồng thời vẫn có rất đông người mang tâm thức Lemuria phát triển mạnh, cũng như ngày nay, trong nhân loại Arya hiện đại này, có rất nhiều triệu người biểu lộ tâm thức Atlantis và phân cực trong thể cảm dục của mình, là nạn nhân của cảm xúc và ảo cảm phát sinh từ đó.
In the Atlantean race, the physical duality was then solved, and the physical body and the etheric body constituted a unity, and in the healthy person still do so. The sense of duality shifted then into a growing recognition of the conflict in the realm of quality and into the field of what we today call the “pairs of opposites”—good and evil, pain and pleasure, right and wrong, sense and nonsense, and the multiplicity of opposites by which the aspirant is today faced.
Trong nhân loại Atlantis, nhị nguyên hồng trần lúc ấy đã được giải quyết, và thể xác cùng thể dĩ thái tạo thành một thể thống nhất; ở người khỏe mạnh, chúng vẫn như vậy. Khi ấy, ý thức về nhị nguyên chuyển thành sự nhận biết ngày càng rõ về xung đột trong lĩnh vực phẩm tính và trong lĩnh vực mà ngày nay chúng ta gọi là “các cặp đối lập”—thiện và ác, đau đớn và khoái lạc, đúng và sai, có nghĩa và vô nghĩa, cùng vô số mặt đối lập mà người chí nguyện ngày nay phải đối diện.
[110] Each of these racial histories sees the establishing of a temporary sense of unity in the early stages, when the previous cleavage had been healed and the initial duality had been resolved into a unity. Then there comes a growing recognition of a fresh realm of choice, based upon the emergence of the higher values, and finally a period of conflict in the consciousness of the individual and of humanity as a whole, as the attempt is made to resolve this higher duality with which the man or the race is confronted.
[110] Trong lịch sử của mỗi giai đoạn nhân loại này, một ý thức thống nhất tạm thời được xác lập ở những giai đoạn đầu, khi sự chia rẽ trước đó đã được hàn gắn và nhị nguyên ban đầu đã được giải quyết thành một thể thống nhất. Sau đó, sự nhận biết về một lĩnh vực lựa chọn mới dần tăng lên, dựa trên sự xuất hiện của những giá trị cao hơn, và cuối cùng là một thời kỳ xung đột trong tâm thức của cá nhân cũng như toàn thể nhân loại, khi họ cố gắng giải quyết nhị nguyên cao hơn này mà con người hay nhân loại đang đối diện.
This resolution is brought about when a higher aspect of the consciousness is dimly visioned and men become aware of themselves as mental beings. There is then a growing demand for that mind nature to be developed and brought into play in the effort to solve the problem in this category of opposites upon the astral plane.
Sự giải quyết này diễn ra khi con người thoáng nhận thấy một phương diện cao hơn của tâm thức và nhận biết mình là những sinh linh trí tuệ. Khi ấy, nhu cầu phát triển và vận dụng bản chất trí tuệ đó ngày càng tăng, nhằm giải quyết vấn đề trong nhóm các mặt đối lập này trên cõi cảm dục.
At the same time the sense of self-identity or the consciousness that “I am,” is steadily growing, and the initiate of the day faces the effort to release himself from the thraldom of the senses upon the astral plane, from the dense glamour into which his sensory perception has thrown him, and to establish his freedom by a complete control of the astral body. This he eventually does by developing the power to pass between the pairs of opposites, unaffected by either, and thus leave them behind. He accomplishes this by using the mind as a distributor of the light which reveals the “middle way” and which dissipates the glamour with its brilliance and radiance.
Đồng thời, ý thức về bản sắc của mình, hay tâm thức rằng “Tôi hiện tồn”, không ngừng tăng trưởng, và điểm đạo đồ thời ấy phải nỗ lực giải thoát mình khỏi sự nô dịch của các giác quan trên cõi cảm dục, khỏi ảo cảm dày đặc mà sự tri giác của các giác quan đã đẩy y vào, và xác lập tự do bằng việc kiểm soát hoàn toàn thể cảm dục. Cuối cùng, y làm được điều này bằng cách phát triển quyền năng đi giữa các cặp đối lập mà không chịu ảnh hưởng của bên nào, nhờ đó bỏ chúng lại phía sau. Y thực hiện điều này bằng cách sử dụng thể trí như một phương tiện phân phối ánh sáng, thứ ánh sáng làm hiển lộ “con đường trung đạo” và làm tiêu tan ảo cảm bằng sự chói sáng và rạng ngời của nó.
This glamour has steadily deepened and intensified as more and more people have succeeded in resolving the initial physical cleavage and have become centred in the astral consciousness. Today such is the magnitude of this glamour and such the success of the evolutionary process, that humanity, as a whole, is wandering in the fogs and miasmas of the world of sentient consciousness. When I [111] use the word “sentient” I do not refer to the sensory apparatus of the physical nervous system, but to the sentient awareness of the Self which is today so immersed in glamour that the mass of men are entirely identified with the world of feeling, of quality, of sentient interplay, and of emotional reactions, with their likes and dislikes, and their dominant self-pity. Self-pity is one of the major glamours of the advanced and sensitive man. It is the advanced people who contribute the most to the world glamour. The major glamour is the reaction of the aspirant to the truth, to reality when he first becomes aware of that which lies beyond the astral plane. He interprets all that he there senses and sees in terms of glamour, of emotional understanding, of a sentient fanaticism. He forgets that truth lies beyond the world of feeling altogether, unaffected by it, and can only be sensed in its purity when feeling is transcended and transmuted. The second major glamour is self-pity.
Ảo cảm này không ngừng sâu đậm và mạnh thêm khi ngày càng có nhiều người thành công trong việc giải quyết sự chia rẽ hồng trần ban đầu và tập trung trong tâm thức cảm dục. Ngày nay, ảo cảm này lớn đến mức, và tiến trình tiến hoá thành công đến mức, toàn thể nhân loại đang lang thang trong những màn sương mù và chướng khí của thế giới tâm thức cảm thụ. Khi Tôi [111] dùng từ “cảm thụ”, Tôi không nói đến bộ máy cảm giác của hệ thần kinh thể xác, mà nói đến sự nhận biết có cảm thụ của Chân Ngã, hiện đang chìm đắm trong ảo cảm đến mức đại đa số con người hoàn toàn đồng hoá với thế giới cảm xúc, phẩm tính, sự tương tác cảm thụ và những phản ứng cảm xúc, với những điều họ thích và không thích, cùng sự tự thương thân chi phối họ. Tự thương thân là một trong những ảo cảm chủ yếu của người tiến hóa và nhạy cảm. Chính những người tiến hóa đóng góp nhiều nhất vào ảo cảm thế giới. Ảo cảm chủ yếu là phản ứng của người chí nguyện đối với chân lý, với thực tại, khi y lần đầu nhận biết những gì nằm ngoài cõi cảm dục. Y diễn giải tất cả những gì mình cảm nhận và thấy ở đó theo ảo cảm, theo sự thấu hiểu bằng cảm xúc, theo một sự cuồng tín mang tính cảm thụ. Y quên rằng chân lý hoàn toàn nằm ngoài thế giới cảm xúc, không chịu ảnh hưởng của nó, và chỉ có thể được cảm nhận trong sự thuần khiết khi cảm xúc đã được vượt qua và chuyển hoá. Ảo cảm chủ yếu thứ hai là sự tự thương thân.
The world today is divided into three groups, all of whom are subject to certain phases of glamour:
Thế giới ngày nay chia thành ba nhóm, tất cả đều chịu ảnh hưởng của một số dạng ảo cảm:
1. Those who are Atlantean in their consciousness and are, therefore, completely glamoured by:
1. Những người mang tâm thức Atlantis và do đó hoàn toàn bị những điều sau chi phối bằng ảo cảm:
a. That which is material and to be desired.
a. Những gì thuộc vật chất và đáng ham muốn.
b. That which they feel in all relationships.
b. Những gì họ cảm thấy trong mọi mối quan hệ.
c. That which they believe to be ideal, to be true or just, based on their reactions to the thinkers of the day, but which they themselves do not mentally understand.
c. Những gì họ tin là lý tưởng, chân thực hoặc công bằng, dựa trên phản ứng của họ đối với các nhà tư tưởng đương thời, nhưng bản thân họ không thấu hiểu bằng trí tuệ.
d. That which they demand of beauty, and of emotional comfort.
d. Những gì họ đòi hỏi về cái đẹp và sự an ủi về cảm xúc.
e. That which brings to them spiritual comfort in the realm of religion and religious desire. Note the phrasing.[112]
e. Những gì đem lại cho họ sự an ủi tinh thần trong lĩnh vực tôn giáo và dục vọng tôn giáo. Hãy lưu ý cách diễn đạt này.[112]
2. Those who are more definitely Aryan in their consciousness. This means that the mind factor is awakening and thus constituting a difficulty and that the illusions of the mental plane are now added to the glamours of the astral plane. These illusions are theoretical and intellectual in nature.
2. Những người mang tâm thức Arya rõ rệt hơn. Điều này có nghĩa là yếu tố trí tuệ đang thức tỉnh và vì thế tạo nên một khó khăn, và giờ đây những ảo tưởng của cõi trí lại thêm vào những ảo cảm của cõi cảm dục. Những ảo tưởng này có bản chất lý thuyết và trí thức.
3. A group of people who are emerging out of those subject to glamour and illusion, and who are alive to the Voice of the Silence and to the demands of the soul.
3. Một nhóm người đang thoát ra khỏi hàng ngũ những người chịu ảnh hưởng của ảo cảm và ảo tưởng, và nhạy bén với Tiếng Nói của Im Lặng cùng những đòi hỏi của linh hồn.
The complexity of the modern psychological problem lies in the fact that our race and period sees the synthesis of all the glamours and the emergence of the illusions of the mental plane. Today we have aspirants at all stages of unfoldment, and find the masses recapitulating the different steps upon the evolutionary way, with the lowest layer of the human race definitely Lemurian in their consciousness, even though few in numbers relatively speaking.
Sự phức tạp của vấn đề tâm lý học hiện đại nằm ở chỗ, trong nhân loại và thời kỳ của chúng ta, mọi ảo cảm đang tổng hợp lại và những ảo tưởng của cõi trí đang xuất hiện. Ngày nay, chúng ta có những người chí nguyện ở mọi giai đoạn khai mở, và thấy quần chúng tái diễn các bước khác nhau trên con đường tiến hoá, trong đó tầng lớp thấp nhất của nhân loại mang tâm thức Lemuria rõ rệt, dù xét tương đối thì số lượng không nhiều.
Illusion is rapidly growing as the mental power of the race develops, for illusion is the succumbing to the powerful thoughtforms which the thinkers of the time and of the immediately preceding age have formulated, and which at the time of their creation constituted the hope of the race. They embodied then the new and emerging ideas by means of which the race was intended to progress. These forms, when old and crystallised, become a menace and a hindrance to the expanding life. The realisation of the problems of illusion lies centuries ahead when the race will have left glamour behind, when there will be few Atlantean minded people on the planet, and when there will be no people at all with the Lemurian consciousness. However, as evolution proceeds, things are greatly speeded up, and the time when humanity will be predominantly distinguished by the Aryan consciousness, is not as far ahead as might be [113] generally supposed.
Ảo tưởng đang tăng trưởng nhanh chóng khi năng lực trí tuệ của nhân loại phát triển, vì ảo tưởng là sự khuất phục trước những Hình tư tưởng mạnh mẽ mà các nhà tư tưởng đương thời và thời đại ngay trước đó đã tạo lập, và vào lúc ra đời, chúng là niềm hy vọng của nhân loại. Khi ấy, chúng thể hiện những ý tưởng mới đang xuất hiện, nhằm giúp nhân loại tiến bộ. Khi trở nên cũ kỹ và kết tinh, những hình tướng này trở thành mối đe dọa và sự cản trở đối với sự sống đang mở rộng. Việc nhận biết những vấn đề của ảo tưởng còn ở phía trước nhiều thế kỷ, khi nhân loại đã bỏ ảo cảm lại phía sau, khi trên hành tinh chỉ còn ít người có lối tư duy Atlantis, và khi không còn ai mang tâm thức Lemuria. Tuy nhiên, khi tiến hoá tiếp diễn, mọi việc được đẩy nhanh rất nhiều, và thời điểm mà tâm thức Arya trở thành đặc trưng chủ yếu của nhân loại không còn xa như người ta [113] thường nghĩ.
Race
Nhân loại
Duality
Nhị nguyên
Problem
Vấn đề
Method
Phương pháp
Goal
Mục tiêu
Lemurian
Lemuria
Physical Force versus Vital Energy
Mãnh lực hồng trần đối lập với Năng lượng sinh lực
Maya
Ảo lực
Astral control Hatha Yoga: Aspirants Laya Yoga: Disciples
Sự kiểm soát cảm dục Pháp tu thân thể: Người chí nguyện Pháp tu dung giải: Đệ tử
1st Initiation Inspiration
Lần điểm đạo thứ nhất Cảm hứng
Atlantean
Atlantis
The Pairs of Opposites Qualities Sentiency
Các Cặp Đối Lập Phẩm tính Khả năng cảm thụ
Glamour
Ảo cảm
Mental control Bahkti Yoga: Aspirants Raja Yoga: Disciples
Sự kiểm soát trí tuệ Pháp tu sùng tín: Người chí nguyện Pháp tu vương giả: Đệ tử
2nd Initiation Illumination
Lần điểm đạo thứ hai Soi sáng