← Glamour_ A World Problem song ngữ

3. The Contrast between Higher and Lower Glamours – 3. Sự Tương Phản giữa Những Ảo Cảm Cao và Thấp

Trích nội dung chương

I speak not in terms of the Aryan race as it is generally understood today or in its Nordic implications. Tôi không nói về nhân loại Arya theo cách hiểu phổ biến ngày nay, hay theo những hàm ý liên quan đến người Bắc Âu.


Aryan

Arya

Dweller on the Threshold Angel of the Presence

Kẻ Chận Ngõ Thiên Thần của Hiện Diện

Illusion

Ảo tưởng

Soul control Raja Yoga: Aspirants Agni Yoga: Disciples

Sự kiểm soát của linh hồn Pháp tu vương giả: Người chí nguyện Pháp tu Lửa: Đệ tử

3rd Initiation Intuition

Lần điểm đạo thứ ba Trực giác

I speak not in terms of the Aryan race as it is generally understood today or in its Nordic implications.

Tôi không nói về nhân loại Arya theo cách hiểu phổ biến ngày nay, hay theo những hàm ý liên quan đến người Bắc Âu.

C. Causes initiated by the individual. If you have studied all the above with the needed care, it will be apparent to you that the individual man enters upon incarnation already handicapped by existent glamour of a very ancient origin and utterly beyond his power to control at this stage. It is of great potency. I use the word “handicapped” advisedly for lack of a better term. I would like, however, to point out that the true significance of the situation exists in the fact that these conditions offer the opportunity to the man of evoking the understanding and point of view of the soul, for they provide the means whereby experience is gained. This experience will lead eventually to the soul assuming control of the mechanism, the personality, and thus giving to that soul a definite field of service. The vehicles through which the soul is seeking experience and expression are normally and naturally subject to world glamours, and to the glamours of humanity as well as illusion. When the soul, in the early stages of experience, falls into the snare of maya, of glamour and eventually of illusion, the reason is that the soul is identifying itself with those forms and therefore with the surrounding glamour, and thus failing to achieve identification with itself. As evolution proceeds, the nature of the problem becomes apparent to the soul in incarnation and a process is then instituted whereby the soul frees itself from the results of wrong identification. Every soul in incarnation which succeeds in releasing its consciousness from the world of illusion and of glamour is definitely serving the race, and helping to free humanity from this ancient and potent thraldom.

C. Các nguyên nhân do cá nhân khởi phát. Nếu các bạn đã nghiên cứu cẩn thận đúng mức tất cả những điều trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng khi bước vào nhập thể, mỗi cá nhân đã bị cản trở bởi ảo cảm sẵn có từ nguồn gốc rất xa xưa, hoàn toàn nằm ngoài khả năng kiểm soát của y ở giai đoạn này. Nó có sức mạnh rất lớn. Tôi có chủ ý khi dùng từ “bị cản trở”, vì chưa có thuật ngữ nào thích hợp hơn. Tuy nhiên, Tôi muốn chỉ ra rằng thâm nghĩa thực sự của tình thế này nằm ở chỗ những điều kiện ấy đem lại cho con người cơ hội khơi dậy sự thấu hiểu và quan điểm của linh hồn, vì chúng cung cấp phương tiện để thu nhận kinh nghiệm. Kinh nghiệm này cuối cùng sẽ dẫn đến việc linh hồn nắm quyền kiểm soát bộ máy, tức phàm ngã, và nhờ đó đem lại cho linh hồn ấy một lĩnh vực phụng sự rõ rệt. Các hiện thể mà qua đó linh hồn tìm kiếm kinh nghiệm và sự biểu lộ thường chịu ảnh hưởng một cách tự nhiên của những ảo cảm thế giới, những ảo cảm của nhân loại cũng như ảo tưởng. Khi linh hồn, trong những giai đoạn trải nghiệm ban đầu, rơi vào cạm bẫy của ảo lực, ảo cảm và cuối cùng là ảo tưởng, nguyên nhân là linh hồn đang đồng hoá với những hình tướng ấy, và do đó với ảo cảm xung quanh, nên không đạt được sự đồng hoá với chính mình. Khi tiến hoá tiếp diễn, bản chất của vấn đề trở nên rõ ràng đối với linh hồn đang nhập thể, và khi ấy một tiến trình bắt đầu, qua đó linh hồn tự giải thoát khỏi những hậu quả của sự đồng hoá sai lầm. Mỗi linh hồn đang nhập thể thành công trong việc giải thoát tâm thức của mình khỏi thế giới ảo tưởng và ảo cảm đều đang thực sự phụng sự nhân loại, và giúp giải thoát nhân loại khỏi sự nô dịch cổ xưa và mạnh mẽ này.

[115] But it must be borne in mind that when a man is nearing the stage of consciousness when both the astral body and the mental body are active and functioning, he himself becomes a manufacturer of glamour. He struggles with forces within himself and within the world in which he lives, and the increasing potency of the inflowing soul energy (which comes in conflict with personality forces) gradually produces around him a field of glamour and an environment of illusion that brings this third category of glamour into full play.

[115] Nhưng cần nhớ rằng khi một người tiến gần đến giai đoạn tâm thức mà cả thể cảm dục lẫn thể trí đều hoạt động và vận hành, thì chính y trở thành người tạo ra ảo cảm. Y đấu tranh với các mãnh lực bên trong mình và trong thế giới nơi mình sống, và sức mạnh ngày càng tăng của năng lượng linh hồn tuôn vào (xung đột với các mãnh lực phàm ngã) dần tạo ra quanh y một trường ảo cảm và một môi trường ảo tưởng, khiến loại ảo cảm thứ ba này phát huy đầy đủ tác động.

These glamours are dependent upon the expression of the different forces which constitute a man’s lower nature, of which he is becoming increasingly aware, and which pass through the stages of emergence into recognition, potency in expression, and violence in conflict until the struggling soul sits down—as did Arjuna—in the midst between the two opposing forces (personality force and soul energy) and asks himself:

Những ảo cảm này tùy thuộc vào sự biểu lộ của các mãnh lực khác nhau cấu thành bản chất thấp của con người, mà y ngày càng nhận biết rõ hơn; chúng trải qua các giai đoạn từ xuất hiện và được nhận biết, đến biểu lộ mạnh mẽ, rồi xung đột dữ dội, cho đến khi linh hồn đang đấu tranh ngồi xuống—như Arjuna đã làm—ở giữa hai mãnh lực đối nghịch (mãnh lực phàm ngã và năng lượng linh hồn), và tự hỏi:

1. Which is right, this or that?

1. Bên nào đúng, bên này hay bên kia?

2. How can I distinguish where my duty or my responsibility lies?

2. Làm sao tôi có thể phân biệt bổn phận hay trách nhiệm của mình nằm ở đâu?

3. How can I find my way out of this bewildering situation?

3. Làm sao tôi có thể tìm được lối thoát khỏi tình thế gây hoang mang này?

4. How can I bring in the control of the Warrior so that the two groups of forces which I love may be resolved into a unity?

4. Làm sao tôi có thể đưa sự kiểm soát của Chiến Binh vào, để hai nhóm mãnh lực mà tôi yêu thương có thể hợp thành một thể thống nhất?

5. How can I find my way out of this impasse?

5. Làm sao tôi có thể tìm được lối thoát khỏi tình thế bế tắc này?

6. Why must I hurt that which I love and through which I have expressed myself for ages?

6. Vì sao tôi phải làm tổn thương những gì tôi yêu thương và đã dùng để biểu lộ bản thân suốt bao thời đại?

7. How can I become aware of that mental illumination which will reveal the “middle way” between the pairs of opposites?

7. Làm sao tôi có thể nhận biết sự soi sáng trí tuệ sẽ làm hiển lộ “con đường trung đạo” giữa các cặp đối lập?

8. How can I see God? or else the Form of God?

8. Làm sao tôi có thể thấy Thượng đế? Hoặc ít ra là Hình Tướng của Thượng đế?

[116] Many such questions arise in the mind of the aspirant. They indicate dilemma, bewilderment, a realisation of surrounding glamour, a stage of illusion and a condition of impotency. Against the disciple are fighting all the forces of his own nature, and also those of humanity as a whole and of the planetary state. He feels helpless, inert, feeble and hopeless. He cannot even see the way out. Only one clear fact remains and that is the fact of the Soul, of the immortal Identity, the Warrior behind the scenes, the Charioteer, Krishna, the Christ within.

[116] Nhiều câu hỏi như vậy nảy sinh trong thể trí của người chí nguyện. Chúng cho thấy một tình thế khó xử, sự hoang mang, sự nhận biết về ảo cảm xung quanh, một giai đoạn ảo tưởng và một tình trạng bất lực. Mọi mãnh lực thuộc bản chất của chính đệ tử, cũng như các mãnh lực của toàn thể nhân loại và của trạng thái hành tinh, đều đang chống lại y. Y cảm thấy bất lực, trì trệ, yếu đuối và tuyệt vọng. Y thậm chí không thấy lối thoát. Chỉ còn lại một sự thật rõ ràng duy nhất, đó là sự thật về Linh Hồn, về Bản Sắc bất tử, về Chiến Binh phía sau hậu trường, Người Đánh Xe, Krishna, Đức Christ bên trong.

The Bhagavad Gita can be read entirely from the standpoint of the disciple’s combat with glamour and students would be well-advised so to study it.

Chí Tôn Ca có thể được đọc hoàn toàn từ góc nhìn về cuộc chiến của đệ tử với ảo cảm, và các đạo sinh nên nghiên cứu tác phẩm theo cách ấy.

The individual glamours of which the disciple becomes aware are consequently of five types of force. These, when brought into activity simultaneously, produce those glamours which are strictly initiated and produced by the man himself. They are:

Do đó, những ảo cảm cá nhân mà đệ tử nhận biết thuộc năm loại mãnh lực. Khi đồng thời được đưa vào hoạt động, chúng tạo ra những ảo cảm hoàn toàn do chính con người khởi phát và tạo nên. Đó là:

1. The forces of his dense physical nature and of the vital body which latter, functioning through the dense physical nature, produce a condition of maya or of uncontrolled energy.

1. Các mãnh lực của bản chất hồng trần đậm đặc và của thể sinh lực nơi y; thể sinh lực này hoạt động qua bản chất hồng trần đậm đặc, tạo nên một tình trạng ảo lực hay năng lượng không được kiểm soát.

2. The forces of the astral nature, based upon desire and upon sentiency. These, at this stage, fall into two groups which we call the pairs of opposites. Their potency is accentuating at this period of individual history, for the disciple is polarised in the majority of cases in his astral body and is, therefore, subject to the glamours produced by the interplay of the opposites, plus the condition of maya, referred to above.

2. Các mãnh lực của bản chất cảm dục, dựa trên dục vọng và khả năng cảm thụ. Ở giai đoạn này, chúng chia thành hai nhóm mà chúng ta gọi là các cặp đối lập. Sức mạnh của chúng gia tăng trong thời kỳ này của lịch sử cá nhân, vì trong đa số trường hợp, đệ tử phân cực trong thể cảm dục của mình, và do đó chịu ảnh hưởng của những ảo cảm do sự tương tác giữa các mặt đối lập tạo ra, cộng thêm tình trạng ảo lực đã nói ở trên.

3. The forces of the lower mental nature, of the chitta or mind-stuff of which the mental body is composed. This [117] is coloured by past activity, as is the substance composing all the vehicles. This adds to maya and glamour, the state of illusion.

3. Các mãnh lực của bản chất hạ trí, của tâm chất hay chất trí cấu thành thể trí. Chất liệu này [117] mang sắc thái của hoạt động quá khứ, cũng như chất liệu cấu thành mọi hiện thể. Điều này thêm trạng thái ảo tưởng vào ảo lực và ảo cảm.

4. The personality ray then emerges and intensifies all these three aspects of force expression, producing eventually their synthetic work. Then we have the emerging of what has been called “the threefold glamorous condition,” into one major glamour.

4. Sau đó, cung phàm ngã xuất hiện và tăng cường cả ba phương diện biểu lộ mãnh lực này, cuối cùng tạo nên hoạt động tổng hợp của chúng. Khi ấy, điều được gọi là “tình trạng ảo cảm tam phân” xuất hiện, hợp thành một ảo cảm chủ yếu.

5. The soul ray or energy is all this time steadily increasing its rhythmic potency, and seeking to impose its purpose and will upon the personality. It is the united relation and the interplay between these two which—when a point of balance has been achieved—sweeps the man on to the Probationary Path, on to the Path of Discipleship, and right up to the gate of initiation. There, standing before the Gate, he recognises the final duality which awaits resolution. The Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE.

5. Trong suốt thời gian này, cung linh hồn hay năng lượng linh hồn không ngừng gia tăng sức mạnh nhịp điệu của mình, đồng thời tìm cách áp đặt mục đích và ý chí của mình lên phàm ngã. Chính mối quan hệ hợp nhất và sự tương tác giữa hai bên—khi đã đạt đến điểm cân bằng—thúc đẩy con người tiến vào Con Đường Dự Bị, rồi Con Đường Đệ Tử, và thẳng đến tận cổng điểm đạo. Tại đó, đứng trước Cổng, y nhận ra nhị nguyên cuối cùng đang chờ được giải quyết: Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

The nature of these glamours differs with different people, for the ray quality determines the type of glamour or illusion to which a man will easily succumb, and that kind of glamour which he will the most easily create. Disciples have to learn to differentiate between:

Bản chất của những ảo cảm này khác nhau ở mỗi người, vì phẩm tính cung quyết định loại ảo cảm hay ảo tưởng mà một người dễ khuất phục, cũng như loại ảo cảm mà y dễ tạo ra nhất. Các đệ tử phải học cách phân biệt giữa:

1. The glamours or glamour already existent in his environment, to which he will easily be attracted, or which he will easily attract, for they constitute the line of least resistance.

1. Những ảo cảm hay ảo cảm đã tồn tại trong môi trường của y, mà y dễ bị thu hút vào hoặc dễ thu hút về phía mình, vì chúng tạo thành con đường ít trở ngại nhất.

2. The glamour that he creates as he tackles life through the medium of a particular equipment, which is coloured by the experiences of past incarnations, and by the ray quality under which he has come into being.

2. Ảo cảm mà y tạo ra khi ứng phó với cuộc sống thông qua một hệ thống trang bị cụ thể, mang sắc thái của những kinh nghiệm từ các kiếp trước và của phẩm tính cung mà dưới ảnh hưởng của nó, y đã ra đời.

[118] This subject is so intricate that it will serve no useful purpose for me to go into detailed particulars. I can indicate the major glamours (and under this term I include the various maya and illusions) to which the ray types predispose the man. If you then apply these to the three vehicles of manifestation as well as to the personality and the soul, you will note how complicated is the problem. Yet remember this, my brother:

[118] Chủ đề này phức tạp đến mức việc Tôi đi sâu vào từng chi tiết sẽ không mang lại ích lợi nào. Tôi có thể chỉ ra những ảo cảm chính (và trong thuật ngữ này, Tôi bao gồm các dạng ảo lực và ảo tưởng khác nhau) mà các kiểu cung khiến con người dễ mắc phải. Nếu sau đó các bạn áp dụng chúng vào ba hiện thể biểu hiện, cũng như vào phàm ngã và linh hồn, các bạn sẽ nhận thấy vấn đề phức tạp đến mức nào. Tuy vậy, hãy nhớ điều này, huynh đệ của tôi:

The issue is certain and determined for, in this solar system, the triumph of the soul and its final dominance and control is a foregone conclusion, no matter how great the glamour or how fierce the strife. Thus, the ascertaining (by the aspirant) of his ray influence is one of the first steps towards understanding the nature of his problem and the method of release. The psychology of the future will direct attention to the discovery of the two rays which govern the soul and personality. Having done this through a study of the physical type, emotional reactions and mental tendencies, attention will then be directed to the discovery of the rays governing the specialised vehicles. When these five rays (egoic, personality, physical, astral and mental) have been approximately ascertained, then the following factors will need consideration:

Kết quả là chắc chắn và đã được định đoạt, vì trong hệ mặt trời này, sự chiến thắng của linh hồn cùng quyền chi phối và kiểm soát cuối cùng của nó là điều tất yếu, bất kể ảo cảm lớn đến đâu hay cuộc đấu tranh khốc liệt đến mức nào. Vì vậy, việc người chí nguyện xác định ảnh hưởng cung của mình là một trong những bước đầu tiên để thấu hiểu bản chất vấn đề của mình và phương pháp giải thoát. Tâm lý học trong tương lai sẽ hướng sự chú ý đến việc khám phá hai cung cai quản linh hồn và phàm ngã. Sau khi thực hiện điều này qua việc nghiên cứu kiểu thể xác, các phản ứng cảm xúc và những khuynh hướng trí tuệ, sự chú ý sẽ hướng đến việc khám phá các cung cai quản những hiện thể chuyên biệt. Khi đã xác định tương đối được năm cung này (cung chân ngã, cung phàm ngã, cung thể xác, cung thể cảm dục và cung thể trí), cần xem xét những yếu tố sau:

1. The nature, quality and stability of the glandular system.

1. Bản chất, phẩm tính và sự ổn định của hệ tuyến.

2. The point attained in evolution. This will be done by a careful consideration of the centres and the glands and their relation to each other.

2. Điểm đã đạt được trong tiến hoá. Việc xác định này sẽ dựa trên sự xem xét cẩn thận các trung tâm, các tuyến và mối quan hệ giữa chúng.

3. The recognition of the points of cleavage or the splits in the personality which exist. These can be:

3. Việc nhận ra những điểm phân cách hay những sự chia tách hiện có trong phàm ngã. Chúng có thể nằm:

a. Between the etheric and the physical bodies, leading to a lack of vitality, physical weakness, obsession and many forms of difficulty. [119]

a. Giữa thể dĩ thái và thể xác, dẫn đến thiếu sinh lực, suy yếu thể xác, ám nhập và nhiều dạng khó khăn. [119]

b. In the sentient astral body, leading to a vast number of problems and psychological difficulties based upon undue sensitivity, reaction to glamour in the environment, innate tendencies to glamour in the equipment or resulting from sensitivity to the glamours of other people.

b. Trong thể cảm dục có khả năng cảm nhận, dẫn đến vô số vấn đề và khó khăn tâm lý do quá nhạy cảm, do phản ứng với ảo cảm trong môi trường, do những khuynh hướng bẩm sinh dễ mắc ảo cảm trong hệ thống trang bị, hoặc do nhạy cảm với những ảo cảm của người khác.

c. In the mental body, imposing mental illusions of many kinds, such as control by self-created thoughtforms, sensitivity to existing world, national, or environing thoughtforms of any school of thought, idée fixe, the sense of the dramatic or of importance, or a fanatical adherence to groups of ideas, inherited from the past, or mental reactions of a purely personal nature.

c. Trong thể trí, gây ra nhiều loại ảo tưởng trí tuệ, chẳng hạn như chịu sự kiểm soát của những hình tư tưởng do chính mình tạo ra, nhạy cảm với những hình tư tưởng hiện có trên thế giới, trong quốc gia hoặc trong môi trường xung quanh thuộc bất kỳ trường phái tư tưởng nào, ý tưởng ám ảnh, cảm thức về tính kịch tính hay tầm quan trọng, hoặc sự bám giữ cuồng tín vào những nhóm ý tưởng thừa hưởng từ quá khứ, hay những phản ứng trí tuệ mang bản chất thuần túy cá nhân.

d. Between any of these groups of forces which we call bodies:

d. Giữa bất kỳ nhóm mãnh lực nào trong số những nhóm mà chúng ta gọi là các thể của phàm ngã:

Between the etheric and astral bodies.

Giữa thể dĩ thái và thể cảm dục.

Between the astral and the mental bodies.

Giữa thể cảm dục và thể trí.

There is, for instance, a definite correspondence between the condition of negativity to physical plane living which is the result of a lack of integration between the physical and the etheric bodies, and that lack of interest and that failure to handle physical plane living which the thinker on abstract and scientific levels so frequently evidences. Both groups fail to make a definite and decisive manifestation upon the physical plane, both groups fail to deal with the problems of physical plane living in a clear and satisfactory manner, both are non-positive physically, but the causes producing these relatively similar conditions are totally different—though alike in their effects.

Chẳng hạn, có một sự tương ứng rõ rệt giữa trạng thái thụ động đối với đời sống trên cõi hồng trần do thiếu sự tích hợp giữa thể xác và thể dĩ thái, với sự thiếu quan tâm và bất lực trong việc xử lý đời sống trên cõi hồng trần mà người tư duy ở các cấp độ trừu tượng và khoa học thường biểu lộ. Cả hai nhóm đều không thể biểu hiện rõ rệt và dứt khoát trên cõi hồng trần; cả hai nhóm đều không thể xử lý những vấn đề của đời sống trên cõi hồng trần một cách rõ ràng và thỏa đáng; cả hai đều thiếu tính chủ động về mặt hồng trần. Nhưng những nguyên nhân tạo ra các trạng thái tương đối giống nhau này lại hoàn toàn khác biệt—dù có những tác động tương tự.

4. The comprehension of the Path of Life for an individual, through a study of his astrological indications. It is necessary in this connection to regard the sun sign [120] into which a man is born, as indicative of his personality trends, and as embodying the characteristics which he has inherited from the past, but to regard the rising sign as holding within it the indications of the way that a man’s soul would have him go.

4. Việc thấu hiểu Con Đường Sự Sống của một cá nhân qua việc nghiên cứu những chỉ dấu chiêm tinh của y. Trong mối liên hệ này, cần xem dấu hiệu Mặt Trời [120] mà một người sinh ra dưới đó là chỉ dấu về những khuynh hướng phàm ngã của y và là sự thể hiện những đặc điểm mà y thừa hưởng từ quá khứ; nhưng cần xem dấu hiệu mọc là nơi chứa đựng những chỉ dấu về con đường mà linh hồn muốn y đi theo.

Many other factors will warrant careful attention. The problem of the individual is complicated by certain inherited tendencies of a family, national and racial nature. These powerfully affect the physical body in both its aspects, producing glamours of many kinds. It is also affected by certain inherited ideas which are the embodied thoughtforms of family, national and racial approaches to truth. These produce powerful illusions to which the individual man easily succumbs. There are also the inflowing forces of the sign into which the sun may be passing, such as the conditions found in the world today, due to the fact that our sun is passing into a new sign of the zodiac. Therefore powerful and new energies are playing upon humanity, producing effects in all the three bodies. They are evoking glamours in the emotional nature and illusions in the mental nature. Those easily subject to glamour become at this time conscious of an emphasised duality. The subject, as you will therefore see, is vast, and this science of the psychological influences and the results of their impact upon the human mechanism is, as yet, in its infancy. I have, however, indicated enough to arouse interest and to start investigation in this new field of psychological activity.

Nhiều yếu tố khác cũng cần được chú ý cẩn thận. Vấn đề của cá nhân trở nên phức tạp do một số khuynh hướng thừa hưởng mang bản chất gia đình, quốc gia và nhân loại. Những khuynh hướng này tác động mạnh mẽ lên thể xác ở cả hai phương diện của nó, tạo ra nhiều loại ảo cảm. Vấn đề ấy còn chịu ảnh hưởng của một số ý tưởng thừa hưởng, vốn là những hình tư tưởng đã thành hình, thể hiện các cách tiếp cận chân lý của gia đình, quốc gia và nhân loại. Chúng tạo ra những ảo tưởng mạnh mẽ mà cá nhân dễ khuất phục. Còn có những mãnh lực tuôn vào từ dấu hiệu mà Mặt Trời có thể đang đi vào, chẳng hạn như những điều kiện hiện có trên thế giới ngày nay do Mặt Trời của chúng ta đang đi vào một dấu hiệu hoàng đạo mới. Vì vậy, những năng lượng mới và mạnh mẽ đang tác động lên nhân loại, tạo ra những ảnh hưởng trong cả ba thể của phàm ngã. Chúng khơi dậy những ảo cảm trong bản chất cảm xúc và những ảo tưởng trong bản chất trí tuệ. Lúc này, những người dễ chịu ảnh hưởng của ảo cảm trở nên có ý thức về một nhị nguyên nổi bật hơn. Do đó, như các bạn sẽ thấy, chủ đề này rất rộng lớn, và khoa học về những ảnh hưởng tâm lý cùng các kết quả do chúng tác động lên bộ máy con người hiện vẫn còn trong giai đoạn sơ khai. Tuy nhiên, Tôi đã chỉ ra đủ để khơi dậy sự quan tâm và khởi đầu việc nghiên cứu trong lĩnh vực hoạt động tâm lý mới này.

To return to the consideration of the many glamours which are produced by and related to certain ray types:

Trở lại việc xem xét nhiều ảo cảm do một số kiểu cung tạo ra và có liên quan đến các kiểu cung ấy:

RAY I

CUNG I

The glamour of physical strength.

Ảo cảm của sức mạnh thể chất.

The glamour of personal magnetism. [121]

Ảo cảm của từ tính cá nhân. [121]

The glamour of self-centredness and personal potency.

Ảo cảm của việc tập trung vào bản thân và sức mạnh cá nhân.

The glamour of “the one at the centre.”

Ảo cảm của “người ở trung tâm.”

The glamour of selfish personal ambition.

Ảo cảm của tham vọng cá nhân ích kỷ.

The glamour of rulership, of dictatorship and of wide control.

Ảo cảm của sự cai trị, của sự độc tài hoặc của sự kiểm soát rộng rãi.

The glamour of the Messiah complex in the field of politics.

Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong lĩnh vực chính trị.

The glamour of selfish destiny, of the divine right of kings personally exacted.

Ảo cảm của vận mệnh ích kỷ, của việc đích thân đòi hỏi quyền thiêng liêng của các vị vua.

The glamour of destruction.

Ảo cảm của sự hủy diệt.

The glamour of isolation, of aloneness, of aloofness.

Ảo cảm của sự cô lập, của sự đơn độc, của sự xa cách.

The glamour of the superimposed will—upon others and upon groups.

Ảo cảm của ý chí áp đặt—lên người khác và lên các nhóm.

RAY II

CUNG II

The glamour of the love of being loved.

Ảo cảm của sự yêu thích được yêu.

The glamour of popularity.

Ảo cảm của sự nổi tiếng.

The glamour of personal wisdom.

Ảo cảm của minh triết cá nhân.

The glamour of selfish responsibility.

Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ.

The glamour of too complete an understanding, which negates right action.

Ảo cảm của sự thấu hiểu quá toàn diện, khiến hành động đúng đắn bị phủ định.

The glamour of self-pity, a basic glamour of this ray.

Ảo cảm của sự tự thương hại, một ảo cảm căn bản của cung này.

The glamour of the Messiah complex, in the world of religion and world need.

Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong thế giới tôn giáo và nhu cầu của thế giới.

The glamour of fear, based on undue sensitivity.

Ảo cảm của sự sợ hãi, dựa trên tính nhạy cảm quá mức.

The glamour of self-sacrifice.

Ảo cảm của sự tự hy sinh.

The glamour of selfish unselfishness.

Ảo cảm của lòng vị tha ích kỷ.

The glamour of self-satisfaction.

Ảo cảm của sự tự mãn.

The glamour of selfish service.

Ảo cảm của sự phụng sự ích kỷ.

RAY III

CUNG III

The glamour of being busy.

Ảo cảm của sự bận rộn.

The glamour of cooperation with the Plan in an individual [122] and not a group way.

Ảo cảm của việc hợp tác với Thiên Cơ theo cách cá nhân [122] chứ không theo cách nhóm.

The glamour of active scheming.

Ảo cảm của sự tính toán tích cực.

The glamour of creative work—without true motive.

Ảo cảm của công việc sáng tạo—không có động cơ chân chính.

The glamour of good intentions, which are basically selfish.

Ảo cảm của những ý định tốt đẹp nhưng về căn bản là ích kỷ.

The glamour of “the spider at the centre.”

Ảo cảm của “con nhện ở trung tâm.”

The glamour of “God in the machine.”

Ảo cảm của “Thượng đế trong cỗ máy.”

The glamour of devious and continuous manipulation.

Ảo cảm của sự thao túng quanh co và liên tục.

The glamour of self-importance, from the standpoint of knowing, of efficiency.

Ảo cảm của việc tự cho mình là quan trọng, xét từ góc độ hiểu biết và hiệu quả.

RAY IV

CUNG IV

The glamour of harmony, aiming at personal comfort and satisfaction.

Ảo cảm của sự hài hòa nhằm đem lại sự thoải mái và thỏa mãn cá nhân.

The glamour of war.

Ảo cảm của chiến tranh.

The glamour of conflict, with the objective of imposing righteousness and peace.

Ảo cảm của xung đột, với mục tiêu áp đặt lẽ phải và hòa bình.

The glamour of vague artistic perception.

Ảo cảm của sự cảm nhận nghệ thuật mơ hồ.

The glamour of psychic perception instead of intuition.

Ảo cảm của sự cảm nhận thông linh thay vì trực giác.

The glamour of musical perception.

Ảo cảm của sự cảm nhận âm nhạc.

The glamour of the pairs of opposites, in the higher sense.

Ảo cảm của các cặp đối cực, theo nghĩa cao hơn.

RAY V

CUNG V

The glamour of materiality, or over-emphasis of form.

Ảo cảm của tính vật chất, hay sự nhấn mạnh quá mức vào hình tướng.

The glamour of the intellect.

Ảo cảm của trí năng.

The glamour of knowledge and of definition.

Ảo cảm của tri thức và của sự định nghĩa.

The glamour of assurance, based on a narrow point of view.

Ảo cảm của sự quả quyết, dựa trên một quan điểm hẹp hòi.

The glamour of the form which hides reality.

Ảo cảm của hình tướng che giấu thực tại.

The glamour of organisation.

Ảo cảm của sự tổ chức.

The glamour of the outer, which hides the inner. [123]

Ảo cảm của cái bên ngoài che giấu cái bên trong. [123]

RAY VI

CUNG VI

The glamour of devotion.

Ảo cảm Sùng tín.

The glamour of adherence to forms and persons.

Ảo cảm của sự bám giữ vào các hình tướng và con người.

The glamour of idealism.

Ảo cảm của chủ nghĩa lý tưởng.

The glamour of loyalties, of creeds.

Ảo cảm của những lòng trung thành, của các tín điều.

The glamour of emotional response.

Ảo cảm của sự đáp ứng cảm xúc.

The glamour of sentimentality.

Ảo cảm của tính đa cảm.

The glamour of interference.

Ảo cảm của sự can thiệp.

The glamour of the lower pairs of opposites.

Ảo cảm của các cặp đối cực thấp.

The glamour of World Saviours and Teachers.

Ảo cảm của các Đấng Cứu Thế và các Huấn sư Thế Gian.

The glamour of the narrow vision.

Ảo cảm của tầm nhìn hạn hẹp.

The glamour of fanaticism.

Ảo cảm của sự cuồng tín.

RAY VII

CUNG VII

The glamour of magical work.

Ảo cảm của công việc huyền thuật.

The glamour of the relation of the opposites.

Ảo cảm của mối quan hệ giữa các đối cực.

The glamour of the subterranean powers.

Ảo cảm của những quyền năng dưới lòng đất.

The glamour of that which brings together.

Ảo cảm của những gì kết hợp lại với nhau.

The glamour of the physical body.

Ảo cảm của thể xác.

The glamour of the mysterious and the secret.

Ảo cảm của những điều huyền bí và bí mật.

The glamour of sex magic.

Ảo cảm của huyền thuật tính dục.

The glamour of the emerging manifested forces.

Ảo cảm của những mãnh lực biểu hiện đang xuất hiện.

I have here enumerated many glamours. But their names are legion, and I have by no means covered the possibilities or the field of glamour.

Ở đây, Tôi đã liệt kê nhiều ảo cảm. Nhưng tên gọi của chúng nhiều vô kể, và Tôi hoàn toàn chưa bao quát hết những khả năng hay lĩnh vực của ảo cảm.

One of the groups with which I have worked had certain characteristics and difficulties, and it might be of value if I mentioned it here.

Một trong những nhóm mà Tôi từng làm việc cùng có một số đặc điểm và khó khăn, và có lẽ việc Tôi đề cập đến nhóm ấy ở đây sẽ có giá trị.

This group had a curious history in relation to other groups, because its personnel changed several times. Each time, the person who left the group had been in it from karmic right and old relation to myself or to the group members, [124] and had, therefore, earned the opportunity to participate in this activity. Each time they failed, and each time for personality reasons. They lacked group realisation and were definitely occupied with themselves. They lacked the new and wider vision. So they eliminated themselves from this initial new age activity. I am explaining this, for it is valuable to disciples to grasp the fact that karmic relation cannot be ignored and that group opportunity must be offered, even though it delay functioning in group service.

Nhóm này có một lịch sử khác thường so với những nhóm khác, vì thành phần của nhóm đã thay đổi nhiều lần. Mỗi lần như vậy, người rời nhóm trước đó đã có mặt trong nhóm nhờ quyền do nghiệp quả đem lại và mối quan hệ từ xưa với Tôi hoặc với các thành viên trong nhóm, [124] và do đó đã xứng đáng có cơ hội tham gia hoạt động này. Mỗi lần họ đều thất bại, và lần nào cũng vì những lý do thuộc phàm ngã. Họ thiếu sự nhận biết về nhóm và rõ ràng chỉ bận tâm đến bản thân. Họ thiếu tầm nhìn mới và rộng lớn hơn. Vì vậy, họ tự loại mình khỏi hoạt động mở đầu này của kỷ nguyên mới. Tôi giải thích điều này vì các đệ tử sẽ được lợi khi nắm bắt sự thật rằng không thể phớt lờ mối quan hệ nghiệp quả, và phải trao cơ hội tham gia nhóm, ngay cả khi điều đó làm chậm việc thực hiện công việc phụng sự nhóm.

Several of the group members were still struggling with glamour and it needed a longer time for them to adjust themselves to recognition of it when encountered. The major task of this group was to dissipate some of the universal glamour by a united indicated meditation. Certain of the group members also were facing or had major adjustments in their lives, and it took a little time for the needed subjective rhythm to become established. But they all worked with understanding, perseverance and enthusiasm, and it was not long before the group work was started.

Một số thành viên của nhóm vẫn đang đấu tranh với ảo cảm, và họ cần nhiều thời gian hơn để tự điều chỉnh, nhằm nhận ra nó khi gặp phải. Nhiệm vụ chính của nhóm này là làm tiêu tan một phần ảo cảm phổ quát bằng một bài tham thiền hợp nhất đã được chỉ dẫn. Một số thành viên trong nhóm cũng đang đối diện hoặc đã trải qua những điều chỉnh lớn trong cuộc sống, và cần một ít thời gian để thiết lập nhịp điệu chủ quan cần thiết. Nhưng tất cả họ đều làm việc với sự thấu hiểu, lòng kiên trì và nhiệt tình, và chẳng bao lâu công việc nhóm đã bắt đầu.

You would find it of value to consider the following questions:

Các bạn sẽ thấy việc xem xét những câu hỏi sau đây là có giá trị:

1. What is the method whereby ideas are developed from the moment of impressing the mind of some intuitive?

1. Các ý tưởng phát triển theo phương pháp nào kể từ lúc chúng tạo ấn tượng lên thể trí của một người có trực giác?

Broadly speaking, they pass through the following stages, as you have oft been told:

Nói chung, chúng trải qua những giai đoạn sau, như các bạn đã thường được cho biết:

a. The idea... based on intuitive perception.

a. Ý tưởng... dựa trên sự cảm nhận trực giác.

b. The ideal... based on mental formulation and distribution.

b. Lý tưởng... dựa trên sự định hình và phân phối bằng trí tuệ.

c. The idol... based on the concretising tendency of physical manifestation.

c. Ngẫu tượng... dựa trên khuynh hướng cụ thể hóa của sự biểu hiện hồng trần.

2. What glamours do you feel are particularly dominant in the world today, and why? [125]

2. Các bạn cảm thấy những ảo cảm nào đặc biệt chi phối thế giới ngày nay, và tại sao? [125]

3. I have spoken often of the work which this group and certain other groups are intending to do in dissipating world glamour. Have you any ideas as to how this should be done, or what will be demanded of you?

3. Tôi đã thường nói về công việc mà nhóm này cùng một số nhóm khác dự định thực hiện để làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Các bạn có ý tưởng nào về cách thực hiện công việc này, hoặc về những gì sẽ đòi hỏi ở các bạn không?

3. The Contrast between Higher and Lower Glamours – 3. Sự Tương Phản giữa Những Ảo Cảm Cao và Thấp

In the preceding part of this section we considered (briefly and all too cursorily) some of the causes of the dense glamour which surrounds humanity. That this glamour is very ancient, powerfully organised, and is the dominant characteristic of the astral plane emerged clearly, as did the fact of the three major predisposing subsidiary causes:

Trong phần trước của mục này, chúng ta đã xem xét (một cách ngắn gọn và quá sơ lược) một số nguyên nhân của ảo cảm đậm đặc bao quanh nhân loại. Đã hiện rõ rằng ảo cảm này có từ rất xa xưa, được tổ chức mạnh mẽ và là đặc điểm chi phối của cõi cảm dục; đồng thời cũng hiện rõ ba nguyên nhân phụ trợ chính khiến con người dễ mắc ảo cảm:

1. The glamours induced by the planetary life and inherent in substance itself.

1. Những ảo cảm do sự sống hành tinh gây ra và vốn có trong chính chất liệu.

2. Those glamours which are initiated by humanity, as a whole, and intensified throughout an aeonial past.

2. Những ảo cảm do toàn thể nhân loại khởi xướng và tăng cường qua một quá khứ kéo dài nhiều thời đại.

3. Glamour engendered by the individual himself, either in the past, through participation in world glamour, or started this life.

3. Ảo cảm do chính cá nhân tạo ra, hoặc trong quá khứ qua việc tham dự vào ảo cảm thế giới, hoặc khởi đầu trong kiếp sống này.

To all of these, every human being is prone and for many lives proves himself the helpless victim of that which he later discovers to be erroneous, false and deceiving. He learns then that he need not fall supinely under the domination of the past—astral, emotional and glamorous—but that he is adequately equipped to handle it, did he but know it, and that there are methods and techniques whereby he can emerge the conqueror of illusion, the dissipator of glamour and the master of maya. This is the initial revelation, and it is when he has realised the implication of this and has [126] set out to dominate the undesirable condition that he arrives later at a recognition of an essential duality. This is, for the time being, in no case an illusion. He discovers the relationship between himself as a personality, the true Dweller on the Threshold, and the Angel of the PRESENCE—guarding the door of initiation. This marks a critical moment in the life of the disciple for it indicates the moment wherein he can begin to tread the Path of Initiation, if he so desires and possesses the required fortitude.

Mọi người đều dễ mắc tất cả những ảo cảm này, và trong nhiều kiếp sống, mỗi người tỏ ra là nạn nhân bất lực của điều mà về sau y khám phá là sai lầm, giả dối và lừa gạt. Khi ấy, y học được rằng mình không cần thụ động chịu sự chi phối của quá khứ—thuộc cảm dục, cảm xúc và ảo cảm—mà y có đủ trang bị để xử lý nó, giá như y biết điều này; và rằng có những phương pháp cùng kỹ thuật giúp y trở thành người chiến thắng ảo tưởng, người làm tiêu tan ảo cảm và người làm chủ ảo lực. Đây là sự mặc khải ban đầu, và chính khi y nhận ra hàm ý của điều này và đã [126] bắt đầu chế ngự trạng thái không mong muốn ấy, thì về sau y mới nhận biết một nhị nguyên căn bản. Trong giai đoạn này, nó hoàn toàn không phải là một ảo tưởng. Y khám phá mối quan hệ giữa chính mình với tư cách phàm ngã, Kẻ Chận Ngõ thực sự, và Thiên Thần của Hiện Diện—đang canh giữ cửa điểm đạo. Điều này đánh dấu một thời điểm then chốt trong cuộc đời người đệ tử, vì nó chỉ ra thời điểm y có thể bắt đầu bước trên Con Đường Điểm Đạo, nếu y mong muốn và có được sự kiên cường cần thiết.

In the last analysis, the partial subjugation of glamour and escape from the complete thraldom of illusion are indications to the watching Hierarchy that a man is ready for the processes of initiation. Until he is no longer completely deceived and until he is somewhat free mentally, it is not possible for him to face the waiting Angel and pass through the door. One thing I would here point out to you: after passing through the door of initiation, the disciple returns each time again to take up anew his tasks in the three worlds of activity; he there re-enacts the former processes—briefly and with understanding—after which he proceeds to master the essentials of the next initiatory lesson. I am here putting a great deal of information in a very condensed form, but that is all that is possible at this time.

Xét đến cùng, việc phần nào chế ngự được ảo cảm và thoát khỏi sự nô dịch hoàn toàn của ảo tưởng là những dấu hiệu cho Thánh đoàn đang quan sát thấy rằng một người đã sẵn sàng cho các tiến trình điểm đạo. Chừng nào y còn hoàn toàn bị lừa gạt và chưa có được phần nào tự do về trí tuệ, y vẫn chưa thể đối diện với Thiên Thần đang chờ đợi và bước qua cửa. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra với các bạn một điều: mỗi lần sau khi bước qua cửa điểm đạo, người đệ tử lại trở về để tiếp tục những nhiệm vụ của mình trong ba cõi giới hoạt động; tại đó, y tái diễn những tiến trình trước đây—một cách ngắn gọn và với sự thấu hiểu—rồi tiến đến làm chủ những điều cốt yếu của bài học điểm đạo kế tiếp. Ở đây, Tôi đang trình bày rất nhiều thông tin dưới một hình thức hết sức cô đọng, nhưng đó là tất cả những gì có thể làm vào lúc này.

For a long time, the sense of dualism pervades the disciple’s being and makes his life appear to be a ceaseless conflict between the pairs of opposites. The battle of the contraries is taking place consciously in the disciple’s life. He alternates between the experiences of the past and a recollection of the experience of initiation through which he has passed, with the emphasis, first of all, in the earlier experiences; later, in the final great experience which is so deeply colouring his inner life. He has prolonged moments wherein he is the baffled disciple, struggling with glamour, and brief moments wherein he is the triumphant initiate. He [127] discovers in himself the sources of glamour and illusion and the lure of maya until the moment arrives when again he stands before the portal and faces the major dualities in his own particular little cosmos—the Dweller and the Angel. At first he fears the Angel and dreads the light which streams from that Angel’s countenance, because it throws into vivid reality the nature of the Dweller who is himself. He senses, as never before, the formidable task ahead of him and the true significance of the undertaking to which he has pledged himself. Little by little, two things emerge with startling clarity in his mind:

Trong một thời gian dài, cảm thức nhị nguyên thấm khắp con người của đệ tử và khiến cuộc sống của y dường như là một cuộc xung đột không ngừng giữa các cặp đối cực. Cuộc chiến giữa các đối cực đang diễn ra một cách có ý thức trong cuộc sống của người đệ tử. Y luân phiên giữa những kinh nghiệm của quá khứ và sự hồi tưởng về kinh nghiệm điểm đạo mà y đã trải qua, ban đầu nhấn mạnh những kinh nghiệm trước kia; về sau nhấn mạnh kinh nghiệm lớn lao cuối cùng đang nhuộm sắc sâu đậm cho đời sống bên trong của y. Y có những lúc kéo dài trong vai trò người đệ tử bối rối, đấu tranh với ảo cảm, và những lúc ngắn ngủi trong vai trò điểm đạo đồ chiến thắng. Y [127] khám phá trong chính mình những nguồn gốc của ảo cảm và ảo tưởng cùng sức quyến rũ của ảo lực, cho đến khi lại đến thời điểm y đứng trước cổng và đối diện với những nhị nguyên chính trong tiểu vũ trụ riêng của mình—Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần. Ban đầu, y sợ Thiên Thần và khiếp sợ ánh sáng tuôn ra từ gương mặt Thiên Thần ấy, vì ánh sáng này làm hiện rõ sống động bản chất của Kẻ Chận Ngõ, vốn chính là y. Hơn bao giờ hết, y cảm nhận được nhiệm vụ vô cùng khó khăn phía trước cùng thâm nghĩa đích thực của công việc mà y đã cam kết thực hiện. Dần dần, hai điều hiện ra trong thể trí y với một sự rõ ràng đáng kinh ngạc:

1. The significance of his own nature, with its essential dualism.

1. Thâm nghĩa của bản chất y, với nhị nguyên căn bản của nó.

2. The recognition of the relationship between the pairs of opposites with which he, as a disciple, has to work.

2. Sự nhận biết mối quan hệ giữa các cặp đối cực mà y, với tư cách đệ tử, phải làm việc cùng.

Once he grasps the relation of the lower major duality (that of the personality and the soul) he is then prepared to pass on to the higher reality, that of the integrated Self (personality and soul) and its relation to the PRESENCE. In this statement, you have expressed in a few concise words the result of the first three initiations and the two final. Ponder on this.

Một khi nắm bắt được mối quan hệ của nhị nguyên chính thấp hơn (nhị nguyên giữa phàm ngã và linh hồn), y đã sẵn sàng tiến đến thực tại cao hơn, tức Bản Ngã tích hợp (phàm ngã và linh hồn) cùng mối quan hệ của nó với HIỆN DIỆN. Trong lời phát biểu này, các bạn có được kết quả của ba cuộc điểm đạo đầu tiên và hai cuộc cuối cùng, diễn đạt bằng vài từ súc tích. Hãy suy ngẫm về điều này.

It will be of real value, I believe, if I relate for your benefit the various contrasting characteristics of the intelligent man and the disciple, using the word “disciple” to cover all stages of development from that of accepted disciple to that of the Master. There is naught but the Hierarchy, which is a term denoting a steady progress from a lower state of being and of consciousness to a higher. This is in every case the state of consciousness of some Being, limited and confined and controlled by substance. You will note that [128] I say “substance” and not “form” for it is in reality substance which controls spirit for a long, a very long, cycle of expression; it is not matter that controls, for the reason that gross matter is always controlled by the forces which are esoterically regarded as etheric in nature and, therefore, as substance, not form. Remember this at all times for it holds the clue to the true understanding of the lower nature.

Tôi tin rằng sẽ thực sự có giá trị nếu Tôi trình bày cho các bạn những đặc điểm tương phản khác nhau giữa người thông minh và người đệ tử, dùng từ “đệ tử” để bao hàm mọi giai đoạn phát triển, từ đệ tử được chấp nhận đến Chân sư. Không có gì ngoài hệ thống thứ bậc, một thuật ngữ biểu thị sự tiến triển đều đặn từ một trạng thái hiện tồn và tâm thức thấp hơn đến một trạng thái cao hơn. Trong mọi trường hợp, đây là trạng thái tâm thức của một Sinh Mệnh nào đó, chịu sự giới hạn, giam hãm và kiểm soát của chất liệu. Các bạn sẽ nhận thấy rằng [128] Tôi nói “chất liệu” chứ không phải “hình tướng”, vì thật ra chính chất liệu chi phối tinh thần trong một chu kỳ biểu hiện dài, rất dài; không phải vật chất chi phối, vì vật chất thô luôn chịu sự kiểm soát của những mãnh lực mà theo quan điểm huyền bí, bản chất là dĩ thái và do đó là chất liệu, chứ không phải hình tướng. Hãy luôn ghi nhớ điều này, vì nó chứa đựng manh mối để thực sự thấu hiểu bản chất thấp.

[Webinar 135] – [Webinar 135]

We will study, therefore, the basic essential contrasts which the disciple must intuitively grasp and with which he must familiarise himself. We will divide what we have to say into four parts, dealing briefly, but I trust helpfully, with each:

Vì vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu những tương phản căn bản, cốt yếu mà người đệ tử phải nắm bắt bằng trực giác và phải làm quen. Chúng ta sẽ chia những điều cần nói thành bốn phần, bàn ngắn gọn về từng phần, nhưng Tôi tin rằng sẽ hữu ích:

a.

The contrast between Illusion and its opposite

Intuition.

b.

The contrast between Glamour and its opposite

Illumination.

c.

The contrast between Maya and its opposite

Inspiration.

d.

The contrast between the Dweller on the Threshold and its opposite

The Angel of the PRESENCE.

This, you will realise, is a large subject and deals with the major problem of the disciple. I would refer you at this point to what I have already said anent these four aspects of glamour, and would ask you to refer with care to the various charts and tabulations which have been given to you from time to time.

Các bạn sẽ nhận ra rằng đây là một chủ đề rộng lớn, liên quan đến vấn đề chính của người đệ tử. Tại điểm này, Tôi muốn hướng các bạn trở lại những điều Tôi đã nói về bốn phương diện này của ảo cảm, và yêu cầu các bạn tham khảo cẩn thận những sơ đồ cùng các bảng đã được cung cấp cho các bạn qua từng thời điểm.

a. The Contrast between Illusion and Intuition.

a. Sự Tương Phản giữa Ảo Tưởng và Trực Giác.

I have chosen this as the first contrast with which to deal as it should (even though it probably may not) constitute the major glamour of the members of this group. Unfortunately the emotional glamour dominates still and, for the majority of you, the second contrast, that between glamour and illumination, may prove the most useful and the most constructive.

Tôi đã chọn đây là sự tương phản đầu tiên để bàn đến, vì nó hẳn phải là ảo cảm chủ yếu của các thành viên trong nhóm này (dù có lẽ thực tế không phải vậy). Đáng tiếc là ảo cảm thuộc cảm xúc vẫn chiếm ưu thế, và đối với đa số các bạn, sự tương phản thứ hai, giữa ảo cảm và soi sáng, có thể tỏ ra hữu ích nhất và có tính xây dựng nhất.

Illusion is the power of some mental thoughtform, of some ideal, and some concept—sensed, grasped and interpreted [129] in mental form—to dominate the mental processes of the individual or of the race and consequently to produce the limitation of the individual or group expression. Such ideas and concepts can be of three kinds, as I realise you should know:

Ảo tưởng là quyền lực của một hình tư tưởng trí tuệ nào đó, một lý tưởng nào đó và một khái niệm nào đó—được cảm nhận, nắm bắt và diễn giải [129] dưới hình tướng trí tuệ—chi phối các tiến trình trí tuệ của cá nhân hoặc nhân loại, và do đó hạn chế sự biểu hiện của cá nhân hoặc nhóm. Những ý tưởng và khái niệm như vậy có thể thuộc ba loại, như Tôi nhận thấy các bạn hẳn đã biết:

1. They can be inherited ideas, as in the case of those who find it so difficult to adjust themselves to the new vision of world life and of social order, as expressed in the newer ideologies. They are powerfully conditioned by their cast, their tradition and their background.

1. Chúng có thể là những ý tưởng được kế thừa, như trường hợp những người thấy rất khó điều chỉnh mình theo tầm nhìn mới về đời sống thế giới và trật tự xã hội, thể hiện trong các hệ tư tưởng mới hơn. Họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của đẳng cấp, truyền thống và hoàn cảnh xuất thân của mình.

2. They can be the more modern ideas which are, in the last analysis, the reaction of modern thought to world conditions and situations, and to these many other aspirants are very prone and most naturally so, especially if living in the vortex of force which we call modern Europe. Such modern ideas are construed today into major currents and dominating ideologies, and to these every intelligent person must inevitably react, though they forget that that reaction is based on tradition, or upon national or international predisposition.

2. Chúng có thể là những ý tưởng hiện đại hơn, xét cho cùng là phản ứng của tư tưởng hiện đại trước các điều kiện và tình hình thế giới; nhiều người chí nguyện khác rất dễ ngả theo những ý tưởng này, và điều đó hoàn toàn tự nhiên, nhất là khi họ sống trong xoáy mãnh lực mà chúng ta gọi là châu Âu hiện đại. Ngày nay, những ý tưởng hiện đại ấy được diễn giải thành các trào lưu lớn và những hệ tư tưởng chi phối; mọi người thông minh tất yếu đều phải phản ứng trước chúng, dù họ quên rằng phản ứng ấy dựa trên truyền thống hoặc trên khuynh hướng sẵn có của quốc gia hay quốc tế.

3. They can be the newer dimly sensed ideas which have in them the power to condition the future and lead the modern generation out of darkness into light. None of you as yet really sense these new ideas, though in moments of high meditation and spiritual achievement, you may vaguely and briefly react to them. That reaction may be real just in so far that it conditions, with definiteness, your service to your fellowmen. You can react correctly and can do so increasingly if you preserve your soul’s integrity and are not overcome by the battle and the fever of your surroundings within your chosen field of service.

3. Chúng có thể là những ý tưởng mới hơn, được cảm nhận lờ mờ, mang trong mình quyền năng định hình tương lai và dẫn thế hệ hiện đại ra khỏi bóng tối, bước vào ánh sáng. Chưa ai trong các bạn thực sự cảm nhận được những ý tưởng mới này, dù trong những thời khắc tham thiền cao sâu và thành tựu tinh thần, các bạn có thể phản ứng với chúng một cách mơ hồ và thoáng qua. Phản ứng ấy chỉ có thể là chân thực trong chừng mực nó định hình một cách rõ rệt việc các bạn phụng sự đồng loại. Các bạn có thể phản ứng đúng đắn và ngày càng làm được như vậy nếu giữ gìn tính toàn vẹn của linh hồn mình, không để cuộc đấu tranh và sự sôi sục của môi trường xung quanh trong lĩnh vực phụng sự đã chọn lấn át mình.

[130] A mental illusion might perhaps be described as an idea, embodied in an ideal form, which permits no room or scope for any other form of ideal. It precludes an ability, therefore, to contact ideas. The man is tied to the world of ideals and of idealism. He cannot move away from it. This mental illusion ties and limits and imprisons the man. A good idea may consequently become an illusion with great facility and prove a disastrous conditioning factor in the life of the man who registers it.

[130] Có lẽ có thể mô tả một ảo tưởng trí tuệ là một ý tưởng hiện thân trong một hình tướng lý tưởng, không dành chỗ hay phạm vi cho bất kỳ hình tướng lý tưởng nào khác. Vì vậy, nó ngăn cản khả năng tiếp xúc với các ý tưởng. Con người bị ràng buộc vào thế giới của những lý tưởng và chủ nghĩa lý tưởng. Y không thể rời khỏi thế giới ấy. Ảo tưởng trí tuệ này trói buộc, giới hạn và giam hãm con người. Do đó, một ý tưởng tốt có thể rất dễ trở thành ảo tưởng và tỏ ra là một yếu tố tác động tai hại trong đời sống của người ghi nhận nó.

[Webinar 136] – [Webinar 136]

You might well ask here if the Hierarchy itself is not conditioned by an idea and, therefore, is itself a victim of general and widespread illusion. Apart from the fact that the Directors of the Hierarchy and the Custodians of the Plan are never permitted to become such until they are free from the incentive of illusion, I would remind you that all ideas stream into the planetary consciousness along the channel of the seven rays. Thus, the Hierarchy is wide open, in any case, to the seven major groups of ideas which are the IDEA of God for any specific point in time, expressed in seven major ways—all of them equally right and serving the sevenfold need of humanity. Each of these seven formulations of God’s Idea has its specific contribution to make; each of them is a true idea which has its part to play in human or planetary service; and each of them is so interrelated with the other six expressions of the same divine Idea, working out as ideals upon the mental plane, that there can be no narrowing down to one idea with its ramifications as happens among men. There is, at least, sensitivity to seven groups of ideas and their resultant ideals and—if it were no more than that—the Hierarchy is so far fluid and pliable. But it is far more than just this, for, to the members of the Hierarchy, the idea and its effects are not only interpreted in terms of human thoughtforms and human idealism, but they are also to be contacted and studied in their relation to the [131] Mind of God Himself and to the planetary kingdoms. These ideas come from and they emanate from the buddhic plane, which is seldom open to the consciousness of the average disciple and certainly is not open to the contact of the average idealist. I would here remind you that few idealists are personally in touch with the idea which has given birth to the idealism. They are only in touch with the human interpretation of the idea, as formulated by some disciple or intuitive—a very different thing.

Đến đây, các bạn hoàn toàn có thể hỏi liệu chính Thánh đoàn có chịu tác động của một ý tưởng và do đó cũng là nạn nhân của một ảo tưởng phổ biến, lan rộng hay không. Ngoài sự thật rằng những Vị Chỉ Đạo Thánh đoàn và những Vị Gìn Giữ Thiên Cơ không bao giờ được phép đảm nhiệm những vai trò ấy cho đến khi thoát khỏi động lực của ảo tưởng, Tôi muốn nhắc các bạn rằng mọi ý tưởng đều tuôn vào tâm thức hành tinh theo kênh của bảy cung. Vì vậy, trong bất kỳ trường hợp nào, Thánh đoàn cũng hoàn toàn rộng mở trước bảy nhóm ý tưởng chính, vốn là Ý TƯỞNG của Thượng đế ở bất kỳ thời điểm cụ thể nào, được biểu hiện theo bảy cách chính—tất cả đều đúng đắn như nhau và đáp ứng nhu cầu thất phân của nhân loại. Mỗi cách trình bày trong bảy cách trình bày Ý Tưởng của Thượng đế đều có phần đóng góp riêng; mỗi cách đều là một ý tưởng chân thực, có vai trò trong việc phụng sự nhân loại hoặc hành tinh; và mỗi cách đều liên hệ mật thiết với sáu biểu hiện còn lại của cùng Ý Tưởng thiêng liêng ấy, đang triển khai thành những lý tưởng trên cõi trí, đến mức không thể có sự thu hẹp vào một ý tưởng cùng các nhánh phát triển của nó như thường xảy ra nơi con người. Ít nhất, có sự nhạy cảm với bảy nhóm ý tưởng và những lý tưởng phát sinh từ chúng; và—dù chỉ có thế thôi—Thánh đoàn cũng đã linh động và linh hoạt đến mức ấy. Nhưng điều này còn vượt xa hơn thế, vì đối với các thành viên của Thánh đoàn, ý tưởng và những tác động của nó không chỉ được diễn giải theo các hình tư tưởng và chủ nghĩa lý tưởng của con người, mà còn phải được tiếp xúc và nghiên cứu trong mối quan hệ với [131] Trí của chính Thượng đế và với các giới hành tinh. Những ý tưởng này đến từ và phát xạ từ cõi Bồ đề, vốn hiếm khi mở ra cho tâm thức của người đệ tử trung bình, và chắc chắn không mở ra cho sự tiếp xúc của người theo lý tưởng trung bình. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng rất ít người theo lý tưởng trực tiếp tiếp xúc với ý tưởng đã làm nảy sinh chủ nghĩa lý tưởng ấy. Họ chỉ tiếp xúc với cách con người diễn giải ý tưởng, do một đệ tử hoặc một người có trực giác nào đó trình bày—một điều rất khác.

[Webinar 137] – [Webinar 137]

An illusion can, therefore, be defined as the consequence of an idea (translated into ideal) being regarded as the entire presentation, as the complete story or solution and as being separated from and visioned independently of all other ideas—both religious in nature or apparently completely unrelated to religion. In this statement lies the story of separation and of man’s inability to relate the various implications of a divine idea with each other. When visioned and grasped in a narrow and separative manner, there is necessarily a distortion of the truth, and the disciple or aspirant inevitably pledges himself to a partial aspect of reality or of the Plan and not to the truth as far as it can be revealed or to the Plan as the Members of the Hierarchy know it. This illusion evokes in the disciple or idealist an emotional reaction which immediately feeds desire and consequently shifts off the mental plane on to the astral; a desire is thus evoked for a partial and inadequate ideal and thus the idea cannot arrive at full expression, because its exponent sees only this partial ideal as the whole truth and cannot, therefore, grasp its social and planetary and its cosmic implications.

Do đó, có thể định nghĩa ảo tưởng là hệ quả của việc xem một ý tưởng (đã chuyển thành lý tưởng) như toàn bộ sự trình bày, như toàn bộ câu chuyện hoặc giải pháp, và như một điều tách biệt, được nhìn nhận độc lập với mọi ý tưởng khác—dù mang bản chất tôn giáo hay có vẻ hoàn toàn không liên quan đến tôn giáo. Chính trong phát biểu này có câu chuyện về sự chia rẽ và việc con người không thể liên hệ các hàm ý khác nhau của một ý tưởng thiêng liêng với nhau. Khi nhìn nhận và nắm bắt một cách hẹp hòi, chia rẽ, tất yếu sẽ có sự bóp méo chân lý, và người đệ tử hoặc người chí nguyện không tránh khỏi việc cam kết với một phương diện phiến diện của thực tại hoặc của Thiên Cơ, chứ không phải với chân lý trong chừng mực chân lý có thể hiển lộ, hay với Thiên Cơ như các Thành Viên của Thánh đoàn biết đến. Ảo tưởng này khơi dậy trong người đệ tử hoặc người theo lý tưởng một phản ứng cảm xúc, lập tức nuôi dưỡng dục vọng và do đó chuyển từ cõi trí sang cõi cảm dục; như vậy, dục vọng đối với một lý tưởng phiến diện và không đầy đủ được khơi dậy, và ý tưởng không thể đạt tới sự biểu hiện trọn vẹn, vì người truyền bá nó chỉ thấy lý tưởng phiến diện này là toàn bộ chân lý, nên không thể nắm bắt những hàm ý xã hội, hành tinh và vũ trụ của nó.

Where there is a real grasp of the whole idea (a rare thing indeed) there can be no illusion. The idea is so much bigger than the idealist that humility saves him from narrowness. Where there is illusion (which is usual and commonplace) [132] and a vague interpretive reaction to an idea, we find emerging fanatics, vague idealists, sadistic enforcers of the idea as grasped, one-pointed and narrow men and women, seeking to express their interpretation of God’s idea, and limited, cramped visionaries. Such illusionary picturing of reality and such visionary showing forth of the idea has been both the pride and the curse of the world. It is one of the factors which has brought our modern world to its sorry pass, and it is from this misuse of the divine faculty of touching the idea and transforming it into the ideal that the world is today suffering—probably inevitably. The imposition of these humanly and mentally interpreted ideas in the form of limited ideologies has had a sorry effect upon men. They need to learn to penetrate to the true idea which lies behind their ideal and to interpret it with accuracy in the light of their soul, besides employing those methods which have the warrant and the sanction of LOVE. It is, for instance, no illusion that the idea which finds expression in the statement that “all men are equal” is a fact which needs emphasis. This has been seized upon by the democratically inclined. It is indeed a statement of fact, but when no allowance is made for the equally important ideas of evolution, of racial attributes, and of national and religious characteristics, then the basic idea receives only limited application. Hence the enforced ideological systems of our modern times and of the present day, and the rapid growth of ideological illusions, which are nevertheless based on a true idea—each and all without any exception. It is again no illusion that the development of the Christ consciousness is the goal of the human family, but when it is interpreted in terms of authoritative religion and by those in whom the Christ consciousness is as yet undeveloped, it becomes simply a nice concept and often a sadistic incentive and thus enters immediately into the realm of illusion. [133]

Ở đâu có sự nắm bắt thực sự toàn bộ ý tưởng (quả thật là một điều hiếm có), ở đó không thể có ảo tưởng. Ý tưởng lớn lao hơn người theo lý tưởng rất nhiều, nên sự khiêm nhường cứu y khỏi tính hẹp hòi. Ở đâu có ảo tưởng (vốn là điều thường thấy và phổ biến) [132] và một phản ứng diễn giải mơ hồ trước một ý tưởng, chúng ta thấy xuất hiện những kẻ cuồng tín, những người theo lý tưởng mơ hồ, những kẻ áp đặt ý tưởng theo cách mình nắm bắt với tính tàn bạo, những người nam và nữ nhất tâm nhưng hẹp hòi, tìm cách biểu hiện cách họ diễn giải ý tưởng của Thượng đế, và những người có tầm nhìn nhưng bị giới hạn, bó hẹp. Việc hình dung thực tại đầy ảo tưởng như thế và việc trình bày ý tưởng theo tầm nhìn như thế vừa là niềm kiêu hãnh vừa là tai họa của thế giới. Đó là một trong những yếu tố đã đưa thế giới hiện đại của chúng ta đến tình cảnh đáng buồn này; và chính vì sự lạm dụng năng lực thiêng liêng tiếp xúc với ý tưởng rồi chuyển đổi nó thành lý tưởng mà thế giới ngày nay đang đau khổ—có lẽ không thể tránh khỏi. Việc áp đặt những ý tưởng do con người diễn giải bằng trí tuệ này dưới hình thức các hệ tư tưởng giới hạn đã gây tác động đáng buồn lên con người. Họ cần học cách thâm nhập vào ý tưởng chân thực nằm sau lý tưởng của mình và diễn giải nó chính xác trong ánh sáng của linh hồn, đồng thời sử dụng những phương pháp có sự bảo đảm và chuẩn thuận của TÌNH THƯƠNG. Chẳng hạn, không phải là ảo tưởng khi cho rằng ý tưởng thể hiện trong phát biểu “mọi người đều bình đẳng” là một sự thật cần được nhấn mạnh. Những người có khuynh hướng dân chủ đã nắm lấy ý tưởng này. Quả thật, đó là một phát biểu về sự thật, nhưng khi không xét đến những ý tưởng cũng quan trọng không kém về tiến hoá, về các thuộc tính của nhân loại, và về những đặc điểm quốc gia và tôn giáo, thì ý tưởng căn bản ấy chỉ được áp dụng một cách giới hạn. Từ đó xuất hiện những hệ thống tư tưởng bị áp đặt trong thời hiện đại và hiện nay, cùng sự gia tăng nhanh chóng của các ảo tưởng về hệ tư tưởng, dù mỗi ảo tưởng ấy, không có bất kỳ ngoại lệ nào, đều dựa trên một ý tưởng chân thực. Cũng không phải là ảo tưởng khi cho rằng sự phát triển tâm thức Đức Christ là mục tiêu của gia đình nhân loại; nhưng khi điều này được diễn giải theo tôn giáo mang tính áp đặt quyền uy, và do những người mà tâm thức Đức Christ chưa phát triển diễn giải, nó chỉ trở thành một khái niệm đẹp đẽ, và thường là một động lực tàn bạo, do đó lập tức đi vào lĩnh vực ảo tưởng. [133]

[Webinar 138] – [Webinar 138]

I cite these two illustrations, out of many possible ones, so that you may realise how illusions come, how they develop and how they must eventually disappear; thus you can achieve some standard of comparison whereby to grasp the relative value of the true and the false, of the immediately temporal and the basic eternality of the real.

Tôi nêu hai minh họa này trong số nhiều minh họa có thể có, để các bạn nhận ra ảo tưởng xuất hiện như thế nào, phát triển ra sao và cuối cùng phải biến mất thế nào; nhờ đó, các bạn có thể đạt được một chuẩn mực so sánh để nắm bắt giá trị tương đối của cái thật và cái giả, của cái nhất thời trước mắt và tính vĩnh cửu căn bản của cái thực.

It will, therefore, be apparent to you that the lower or concrete levels of the mental plane will have acquired or accumulated—down the ages—a vast number of ideas, which have been formulated as ideals, clothed in mental matter, nourished by the vitality of those who have recognised as much of the truth of the idea as they are capable of expressing and who have given to these ideals the emphasis of their thoughtform-making faculty and their directed attention, which necessarily implies the energising of the limited formulated ideal because—as you know—energy follows thought.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng các cấp độ thấp hay cụ thể của cõi trí đã thu nhận hoặc tích lũy—qua nhiều thời đại—một số lượng ý tưởng khổng lồ. Những ý tưởng này đã được trình bày thành các lý tưởng, khoác lấy vật chất trí tuệ, được nuôi dưỡng bằng sinh lực của những người đã nhận biết phần chân lý của ý tưởng trong chừng mực họ có khả năng biểu hiện, và đã nhấn mạnh các lý tưởng này bằng năng lực tạo hình tư tưởng cùng sự chú ý có định hướng của mình. Điều đó tất yếu hàm ý việc tiếp năng lượng cho lý tưởng giới hạn đã được định hình, vì—như các bạn biết—năng lượng đi theo tư tưởng.

These forms of thought become objectives towards which the subjective reality, man, reaches and with which he identifies himself for long periods of time; into them, he projects himself, thus vitalising them and giving them life and persistence. They become part of him; they condition his reactions and activities; they feed his desire nature and consequently assume undue importance, creating a barrier (of varying density, according to the extent of the identification) between the man in incarnation and the reality which is his true Being.

Những hình tư tưởng này trở thành các mục tiêu mà thực tại chủ quan, tức con người, vươn tới và đồng hoá với trong những thời gian dài; y phóng chiếu mình vào chúng, nhờ đó tiếp sinh lực, ban cho chúng sự sống và sức tồn tại bền bỉ. Chúng trở thành một phần của y; chúng định hình các phản ứng và hoạt động của y; chúng nuôi dưỡng bản chất dục vọng của y và do đó trở nên quan trọng quá mức, tạo ra một rào chắn (có độ đậm đặc khác nhau, tùy theo mức độ đồng hoá) giữa con người đang lâm phàm và thực tại vốn là Bản Thể chân thực của y.

There is no need for me here to itemise any of these prevailing thoughtforms and aspects of intellectual and mental illusion. I would not have you think for a moment that the embodied idea, which we call an ideal, is in itself an illusion. It only becomes so when it is regarded as an end in itself instead of being what it essentially is, a means to an end. An ideal, rightly grasped and used, provides a temporary [134] aid towards the attainment of immediate and imminent reality which it is the goal of the man or the race, at any particular time, to reach. The idea before the race today is the re-establishing (upon a higher turn of the spiral) of that spiritual relationship which characterised the race in its child state, in its primitive condition. Then, under the wise guidance and the paternalistic attitude of the Hierarchy and the initiate-priests of the time, men knew themselves to be one family—a family of brothers—and achieved this through a feeling and a developed sensuous perception. Today, under the name of Brotherhood, the same idea is seeking mental form and the establishment of a renewed spiritual relationship (the idea) through training in right human relations (the ideal). This is the immediate goal of humanity.

Ở đây, Tôi không cần liệt kê bất kỳ hình tư tưởng thịnh hành nào hay phương diện nào của ảo tưởng thuộc trí năng và trí tuệ. Tôi không muốn các bạn dù chỉ trong chốc lát nghĩ rằng ý tưởng đã hiện thân, mà chúng ta gọi là lý tưởng, chính nó là một ảo tưởng. Nó chỉ trở thành ảo tưởng khi được xem là mục đích tự nó, thay vì là điều mà nó vốn có trong bản chất: một phương tiện để đạt mục đích. Một lý tưởng, khi được nắm bắt và sử dụng đúng đắn, đem lại sự trợ giúp tạm thời [134] để đạt tới thực tại trước mắt và sắp hiện hữu, mà con người hoặc nhân loại hướng tới như mục tiêu ở bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Ý tưởng đặt trước nhân loại ngày nay là tái lập (trên một vòng xoắn ốc cao hơn) mối quan hệ tinh thần từng là đặc trưng của nhân loại trong thời thơ ấu, trong tình trạng nguyên sơ. Khi ấy, dưới sự hướng dẫn minh triết và thái độ dìu dắt như người cha của Thánh đoàn cùng các tư tế–điểm đạo đồ đương thời, con người biết mình thuộc về một gia đình—một gia đình gồm các huynh đệ—và đạt được điều này qua cảm nhận cùng tri giác giác quan đã phát triển. Ngày nay, dưới tên gọi Tình Huynh Đệ, chính ý tưởng ấy đang tìm kiếm hình tướng trí tuệ và sự thiết lập một mối quan hệ tinh thần được đổi mới (ý tưởng) thông qua việc huấn luyện các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người (lý tưởng). Đây là mục tiêu trước mắt của nhân loại.

[Webinar 139] – [Webinar 139]

This result will be inevitably brought about by means of the cycle of necessity through which we are now passing and the dimly sensed idea will—as a result of dire necessity—impose its rhythm upon the race and thus force the realisation of true Being upon all men. If a close study is made of the basic foundation of all the ideologies without excepting any, it will be discovered that this idea of integral relationships (often distorted in presentation and hidden through wrong methods), of spiritual objectives and of definite positive brotherly activity lies behind every outer form. I have used the current situation as an illustration of the idea taking form as the ideal and, alas, brother of mine, oft becoming the idol and the fanatical misunderstood and over-emphasised goal of the masses, under the guidance of some pronounced idealist. An ideal is a temporary expression of a basic idea; it is not intended to be permanent but simply to serve a need and to indicate a way out of the past into a more adequate future. All the present ideals, expressing themselves through the current ideologies, will serve their [135] purpose and eventually pass away, as all else has passed in the history of the race and will give place, eventually, to a recognised spiritual relationship, a subjective fellowship, as a defined and expressed brotherhood. These will produce, when sufficiently developed and understood, a form of control and guidance and a species of government which it is not possible for even advanced thinkers at this time to grasp.

Kết quả này tất yếu sẽ xuất hiện nhờ chu kỳ tất yếu mà chúng ta hiện đang trải qua; và ý tưởng được cảm nhận lờ mờ ấy—do nhu cầu cấp bách—sẽ áp đặt nhịp điệu của nó lên nhân loại, qua đó buộc mọi người nhận biết Bản Thể chân thực. Nếu nghiên cứu kỹ nền tảng căn bản của tất cả các hệ tư tưởng, không trừ một hệ nào, người ta sẽ phát hiện rằng đằng sau mọi hình tướng bên ngoài đều có ý tưởng này về các mối quan hệ toàn vẹn (thường bị bóp méo trong cách trình bày và bị che khuất qua những phương pháp sai lầm), về các mục tiêu tinh thần và về hoạt động huynh đệ rõ ràng, tích cực. Tôi đã dùng tình hình hiện nay để minh họa cho ý tưởng đang thành hình như lý tưởng và, than ôi, huynh đệ của Tôi, thường trở thành thần tượng và mục tiêu cuồng tín, bị hiểu sai và nhấn mạnh quá mức của quần chúng, dưới sự hướng dẫn của một người theo lý tưởng nổi bật nào đó. Một lý tưởng là sự biểu hiện tạm thời của một ý tưởng căn bản; nó không nhằm tồn tại vĩnh viễn, mà chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu và chỉ ra con đường thoát khỏi quá khứ để bước vào một tương lai thích hợp hơn. Mọi lý tưởng hiện nay, đang biểu hiện qua các hệ tư tưởng đương thời, sẽ hoàn thành [135] mục đích của chúng và cuối cùng sẽ qua đi, như mọi điều khác đã qua đi trong lịch sử nhân loại; cuối cùng, chúng sẽ nhường chỗ cho một mối quan hệ tinh thần được nhận biết, một tình thân hữu chủ quan, dưới hình thức một tình huynh đệ được xác định và biểu hiện. Khi phát triển đầy đủ và được thấu hiểu, những điều này sẽ tạo ra một hình thức kiểm soát và hướng dẫn, cùng một kiểu quản trị mà ngay cả các nhà tư tưởng tiến bộ hiện nay cũng không thể nắm bắt.

When ideals and mental concepts and formulated thoughtforms dominate the mind of an individual, a race or humanity in general, to the exclusion of all perspective or vision and to the shutting out of the real, then they constitute an illusion for as long as they control the mind and method of life. They prevent the free play of the intuition, with its real power to reveal the immediate future; they frequently exclude in their expression the basic principle of the solar system, Love, through the imposed control of some secondary and temporary principle; they can thus constitute a “forbidding dark cloud of rain” which serves to hide from view the “raincloud of knowable things” (to which Patanjali refers in his final book)—that cloud of wisdom which hovers over the lower mental plane and which can be tapped and used by students and aspirants through the free play of the intuition.

Khi các lý tưởng, các khái niệm trí tuệ và những hình tư tưởng đã được định hình chi phối thể trí của một cá nhân, một dân tộc hoặc nhân loại nói chung, loại trừ mọi góc nhìn hay tầm nhìn và ngăn cái thực ở bên ngoài, thì chúng tạo thành một ảo tưởng chừng nào còn kiểm soát thể trí và cách sống. Chúng ngăn cản sự vận hành tự do của trực giác, với quyền năng thực sự mặc khải tương lai trước mắt; trong sự biểu hiện của mình, chúng thường loại trừ nguyên khí căn bản của hệ mặt trời, Tình thương, bằng sự kiểm soát áp đặt của một nguyên khí thứ yếu và tạm thời nào đó; do vậy, chúng có thể tạo thành một “đám mây mưa đen tối đáng sợ”, che khuất “đám mây mưa của những điều khả tri” (mà Patanjali đề cập trong quyển cuối cùng của mình)—đám mây minh triết lơ lửng trên cõi hạ trí, mà các đạo sinh và người chí nguyện có thể khai thác, sử dụng nhờ sự vận hành tự do của trực giác.

[Webinar 140] – [Webinar 140]

Let us now consider the intuition, which is the opposite of illusion, remembering that illusion imprisons a man upon the mental plane and surrounds him entirely with man-made thoughtforms, barring out escape into the higher realms of awareness or into that loving service which must be given in the lower worlds of conscious, manifested effort.

Giờ đây, chúng ta hãy xét trực giác, vốn đối lập với ảo tưởng, và nhớ rằng ảo tưởng giam hãm con người trên cõi trí, bao quanh y hoàn toàn bằng những hình tư tưởng do con người tạo ra, ngăn y thoát lên những lĩnh vực nhận biết cao hơn hoặc bước vào việc phụng sự đầy tình thương phải được thực hiện trong các cõi thấp của nỗ lực hữu thức đã biểu hiện.

The major point I would seek to make here is that the intuition is the source or the bestower of revelation. Through the intuition, progressive understanding of the ways of God in the world and on behalf of humanity are [136] revealed; through the intuition, the transcendence and the immanence of God is sequentially grasped and man can enter into that pure knowledge, that inspired reason, which will enable him to comprehend not only the processes of nature in its fivefold divine expression but also the underlying causes of these processes, proving them effects and not initiatory events; through the intuition man arrives at the experience of the kingdom of God, and discovers the nature, the type of lives and of phenomena, and the characteristics of the Sons of God as They come into manifestation. Through the intuition, some of the plans and purposes working out through the manifested created worlds are brought to his attention, and he is shown in what way he and the rest of humanity can cooperate and hasten the divine purpose; through the intuition, the laws of the spiritual life, which are the laws governing God Himself, conditioning Shamballa, and guiding the Hierarchy, are brought to his notice progressively and as he proves capable of appreciating them and working them.

Điểm chính Tôi muốn nêu ở đây là trực giác chính là nguồn hoặc tác nhân ban phát sự mặc khải. Qua trực giác, sự thấu hiểu ngày càng sâu về những cách thức Thượng đế hoạt động trong thế giới và vì nhân loại [136] được mặc khải; qua trực giác, con người lần lượt nắm bắt tính siêu việt và tính nội tại của Thượng đế, và có thể đi vào tri thức thuần khiết, lý trí được cảm hứng ấy, nhờ đó thấu hiểu không chỉ các tiến trình của tự nhiên trong sự biểu hiện thiêng liêng ngũ phân, mà còn cả những nguyên nhân nền tảng của các tiến trình này, chứng tỏ chúng là những kết quả chứ không phải những sự kiện khởi phát; qua trực giác, con người đạt tới trải nghiệm về Thiên Giới, khám phá bản chất, các loại sự sống và hiện tượng, cùng những đặc điểm của các Con của Thượng đế khi Các Ngài đi vào biểu hiện. Qua trực giác, y nhận biết một số Thiên Cơ và mục đích đang triển khai qua các thế giới thụ tạo đã biểu hiện, và thấy cách mình cùng phần còn lại của nhân loại có thể hợp tác, đẩy nhanh sự thực hiện Thiên Ý; qua trực giác, các định luật của đời sống tinh thần—những định luật chi phối chính Thượng đế, định hình Shamballa và hướng dẫn Thánh đoàn—dần dần được đưa vào tầm nhận biết của y, khi y chứng tỏ khả năng lĩnh hội và vận dụng chúng.

Four types of people are subject to revelation through the awakening of the intuition:

Bốn loại người đón nhận sự mặc khải thông qua sự thức tỉnh trực giác:

1. Those on the line of the world saviours. These touch and sense the divine plan and are pledged to service, and to work for the salvation of humanity. They are found expressing different and varying degrees of realisation, stretching all the way from the man who seeks to reveal divinity in his own life and to his immediate small circle (through the medium of the changes and effects wrought in his personal life) to those great Intuitives and world Saviours, such as the Christ. The former is motivated in all probability by some one intuitive crisis which entirely remade him and gave him a new sense of values; the latter can, at will, rise into the world of intuitive perception and [137] values and there ascertain the will of God and a wide vision of the Plan. Such great Representatives of Deity have the freedom of the Holy City (Shamballa) and of the New Jerusalem (the Hierarchy). They are thus unique in their contacts and there have been relatively few of Them as yet.

1. Những người đi theo đường hướng của các đấng cứu thế. Những người này tiếp xúc và cảm nhận Thiên Cơ, cam kết phụng sự và làm việc để cứu độ nhân loại. Họ biểu hiện những mức độ chứng nghiệm khác nhau, trải suốt từ người tìm cách mặc khải thiên tính trong đời sống của mình và cho nhóm nhỏ gần gũi quanh mình (thông qua những thay đổi và tác động diễn ra trong đời sống cá nhân), đến những Đấng có Trực Giác vĩ đại và những Đấng Cứu Thế như Đức Christ. Người thuộc loại thứ nhất rất có thể được thúc đẩy bởi một cuộc khủng hoảng trực giác nào đó, đã hoàn toàn đổi mới y và đem lại cho y một ý thức mới về các giá trị; những Đấng thuộc loại thứ hai có thể tùy ý vươn lên thế giới của tri giác trực giác và [137] các giá trị, và tại đó xác định Ý Chí của Thượng Đế cùng một tầm nhìn rộng lớn về Thiên Cơ. Những Vị Đại Diện vĩ đại như thế của Thượng đế có quyền tự do ra vào Thánh Đô (Shamballa) và Jerusalem Mới (Thánh đoàn). Vì vậy, Các Ngài độc đáo trong những mối tiếp xúc của mình, và cho đến nay số lượng Các Ngài còn tương đối ít.