← Glamour_ A World Problem song ngữ

SECTION THREE: THE ENDING OF GLAMOUR – PHẦN BA: CHẤM DỨT ẢO CẢM

Trích nội dung chương

2. Those who are on the line of the prophets. These touch the Plan at high intuitive moments and know what the immediate future holds. I do not refer here to the Hebrew prophets, so familiar to the West, but to all who see clearly what should be done to lead humanity out of darkness into light, beginning with the situation as it is and looking forward into a future of divine consummation. They have a clear picture in their minds of what is possible to accomplish, and the power to point it out to the people of their time. They necessarily range all the way from those who have a relatively clear vision of the cosmic picture and objectives to…


[Webinar 141] – [Webinar 141]

2. Those who are on the line of the prophets. These touch the Plan at high intuitive moments and know what the immediate future holds. I do not refer here to the Hebrew prophets, so familiar to the West, but to all who see clearly what should be done to lead humanity out of darkness into light, beginning with the situation as it is and looking forward into a future of divine consummation. They have a clear picture in their minds of what is possible to accomplish, and the power to point it out to the people of their time. They necessarily range all the way from those who have a relatively clear vision of the cosmic picture and objectives to those who simply see the next step ahead for the race or the nation. Isaiah and Ezekiel are the only two of the Hebrew prophets who had true prophetic and cosmic vision. The others were small, but intelligent men who, from analysis and deduction, assessed the immediate future and indicated immediate possibilities. They had no direct revealing intuition. In the New Testament, John, the beloved disciple, was privileged to gain a cosmic picture and a true prophetic vision which he embodied in the Apocalypse, but he is the only one who so achieved and he achieved because he loved so deeply, so wisely and so inclusively. His intuition was evoked through the depth and intensity of his love—as it was in his Master, the Christ.

2. Những người đi theo đường hướng của các nhà tiên tri. Những người này tiếp xúc với Thiên Cơ trong những thời khắc trực giác cao sâu và biết tương lai trước mắt chứa đựng điều gì. Ở đây, Tôi không nói đến các nhà tiên tri Do Thái vốn rất quen thuộc với phương Tây, mà nói đến tất cả những người thấy rõ cần làm gì để dẫn nhân loại ra khỏi bóng tối, bước vào ánh sáng, bắt đầu từ tình hình thực tế và hướng tới một tương lai thành tựu thiêng liêng trọn vẹn. Trong thể trí, họ có một hình ảnh rõ ràng về những gì có thể thực hiện, cùng quyền năng chỉ ra điều đó cho người đương thời. Họ tất yếu trải suốt từ những người có tầm nhìn tương đối rõ về bức tranh và các mục tiêu vũ trụ, đến những người chỉ đơn giản thấy bước tiếp theo trước mắt của nhân loại hoặc quốc gia. Isaiah và Ezekiel là hai nhà tiên tri Do Thái duy nhất có tầm nhìn tiên tri và vũ trụ chân thực. Những người khác là những người có tầm vóc nhỏ bé nhưng thông minh; qua phân tích và suy luận, họ đánh giá tương lai trước mắt và chỉ ra những khả năng trước mắt. Họ không có trực giác mặc khải trực tiếp. Trong Tân Ước, Gioan, người đệ tử được yêu thương, có đặc ân đạt được một bức tranh vũ trụ và một tầm nhìn tiên tri chân thực, mà y thể hiện trong sách Khải Huyền; nhưng y là người duy nhất đạt được như vậy, và y đạt được vì đã yêu thương sâu sắc, minh triết và bao gồm đến thế. Trực giác của y được khơi dậy qua chiều sâu và cường độ tình thương—cũng như nơi Chân sư của y, Đức Christ.

3. Those who are the true priests. They are priests by spiritual calling and not by choice. It is the misunderstanding of the province and duties of a priest which has led all the Churches (in the East and in the West) to their disastrous [138] authoritarian position. The love of God, and the true spiritual incentive which recognises God immanent in all nature and peculiarly expressing that divinity in man, is lacking in the bulk of the priesthood in all the world religions. Love is not the guide, the indicator and the interpreter. Hence the dogmatism of the theologian, his ridiculous and profound assurances of correct interpretation, and his oft-times cruelty, cloaked by his claim of right principles and good intentions. But the true priest exists and is found in all religions. He is the friend and the brother of all and, because he loves deeply, wisdom is his and (if he is of a mental type and training) his intuition is awakened and revelation is his reward. Ponder on this. The true priest is rare and is not found only in the so-called “holy orders”.

3. Những người là các tư tế chân chính. Họ là tư tế do tiếng gọi tinh thần, chứ không do lựa chọn. Chính sự hiểu sai về phạm vi và bổn phận của một tư tế đã dẫn mọi Giáo hội (ở phương Đông và phương Tây) đến lập trường [138] độc đoán tai hại. Phần lớn hàng tư tế trong mọi tôn giáo trên thế giới thiếu tình thương đối với Thượng đế và thiếu động lực tinh thần chân thực vốn nhận biết Thượng đế nội tại trong toàn bộ tự nhiên, biểu hiện thiên tính ấy một cách đặc biệt nơi con người. Tình thương không phải là yếu tố hướng dẫn, chỉ đường và diễn giải. Từ đó nảy sinh tính giáo điều của nhà thần học, những lời quả quyết vừa nực cười vừa hết sức chắc chắn của y về cách diễn giải đúng đắn, cùng sự tàn nhẫn thường thấy, được che đậy bằng lời khẳng định rằng y có những nguyên khí đúng đắn và ý định tốt đẹp. Nhưng tư tế chân chính vẫn tồn tại và có mặt trong mọi tôn giáo. Y là bạn và huynh đệ của tất cả mọi người; vì yêu thương sâu sắc, y có minh triết, và (nếu thuộc loại trí tuệ và được đào luyện về trí tuệ) trực giác của y thức tỉnh, còn sự mặc khải là phần thưởng dành cho y. Hãy suy ngẫm điều này. Tư tế chân chính rất hiếm và không chỉ có trong cái gọi là “hàng giáo phẩm”.

4. Those who are the practical mystics or occultists. These, by virtue of a disciplined life, an ardent aspiration, and a trained intellect, have succeeded in evoking the intuition and are, therefore, personally in touch with the true source of divine wisdom. This, it is their function to interpret and to formulate into temporary systems of knowledge. There are many such, working patiently today in the world, unrecognised and unsought by the unthinking. Their need today is to “assemble themselves” in this hour of the world need and so let their voice be clearly heard. These people are resolving the sense of duality into a known unity, and their preoccupation with reality and their deep love of humanity have released the intuition. When this release has taken place, no barriers are felt and true knowledge as a result of revealed wisdom is the gift which such people have, to give to their race and time.

4. Những người là các nhà thần bí hoặc nhà huyền bí học thực hành. Nhờ một đời sống có kỷ luật, khát vọng nhiệt thành và trí năng được rèn luyện, những người này đã thành công trong việc khơi dậy trực giác, và do đó trực tiếp tiếp xúc với nguồn minh triết thiêng liêng chân thực. Chức năng của họ là diễn giải minh triết ấy và trình bày nó thành những hệ thống tri thức tạm thời. Ngày nay, có nhiều người như vậy đang kiên nhẫn làm việc trên thế giới, không được những người thiếu suy nghĩ nhận biết hoặc tìm đến. Điều họ cần làm hiện nay là “tập hợp lại” trong giờ phút thế giới đang cần này, để tiếng nói của họ được nghe rõ. Những người này đang giải quyết cảm nhận về nhị nguyên thành một sự hợp nhất đã được nhận biết; sự chuyên tâm vào thực tại và tình thương sâu sắc đối với nhân loại của họ đã giải phóng trực giác. Khi sự giải phóng này diễn ra, họ không còn cảm thấy rào chắn nào, và tri thức chân thực, kết quả của minh triết được mặc khải, là món quà họ có để trao cho nhân loại và thời đại của mình.

These are the four groups who are exchanging illusion for the intuition. This is the initial resolution of the pairs of opposites, for there is no such resolution without the aid of the intellect, because the intellect—through analysis, discrimination [139] and right reasoning—indicates what should be done.

Đây là bốn nhóm đang thay thế ảo tưởng bằng trực giác. Đây là sự giải quyết ban đầu các cặp đối cực, vì không thể có sự giải quyết như thế nếu thiếu sự trợ giúp của trí năng, bởi trí năng—thông qua phân tích, phân biện [139] và lập luận đúng đắn—chỉ ra những gì cần làm.

b. The Contrast between Glamour and Illumination

b. Sự Tương Phản giữa Ảo Cảm và Soi Sáng

One of the aptest symbols by which one can gather some picture of the nature of glamour is to picture the astral plane on three of its levels (the second, third and fourth, counting from the top downwards) as a land shrouded in a thick fog of varying densities. The ordinary light of the ordinary man, which is similar to the headlights of a car and their self-sufficient blaze, serves only to intensify the problem and fails to penetrate into the mists and the fog. It simply throws it into relief so that its density and its deterring effects become the more apparent. The condition of fog is revealed—but that is all. So it is on the astral plane in relation to glamour; the light which is in man, self-induced and self-generated, fails ever to penetrate into or to dissipate the gloom and the foggy miasmic conditions. The only light which can dissipate the fogs of glamour and rid the life of its ill effects is that of the soul, which—like a pure dispelling beam—possesses the curious and unique quality of revelation, of immediate dissipation, and of illumination. The revelation vouchsafed is different to that of the intuition for it is the revelation of that which the glamour veils and hides, which is a revelation unique to the astral plane and conditioned by its laws. This particular utilisation of soul light takes the form of a focussed concentration of the light (emanating from the soul, via the mind) upon the state of glamour—particular or specific, or general and world-wide—so that the nature of the glamour is revealed, its quality and basis is discovered, and its power is brought to an end by a steady, prolonged period of concentration which is given to the dispelling of the condition.

Một trong những biểu tượng thích hợp nhất để hình dung phần nào bản chất của ảo cảm là hình dung cõi cảm dục, trên ba cấp độ của nó (thứ hai, thứ ba và thứ tư, tính từ trên xuống), như một vùng đất phủ trong màn sương mù dày đặc với những mật độ khác nhau. Ánh sáng thông thường của người bình thường, tương tự đèn pha của một chiếc xe cùng luồng sáng tự đủ của chúng, chỉ làm vấn đề trầm trọng hơn và không xuyên thấu được màn sương và sương mù. Nó chỉ làm màn sương nổi bật lên, khiến độ dày và tác động cản trở của màn sương càng rõ rệt. Tình trạng sương mù được phơi bày—nhưng chỉ có thế. Trên cõi cảm dục, đối với ảo cảm cũng vậy; ánh sáng trong con người, do chính y khơi dậy và tạo ra, không bao giờ xuyên thấu hoặc làm tiêu tan bóng tối và những tình trạng mù sương đầy khí độc. Ánh sáng duy nhất có thể làm tiêu tan sương mù của ảo cảm và loại bỏ những tác động xấu của nó khỏi đời sống là ánh sáng của linh hồn; ánh sáng ấy—như một tia sáng thuần khiết có sức xua tan—mang phẩm tính kỳ lạ và độc đáo của sự mặc khải, sự làm tiêu tan tức thời và sự soi sáng. Sự mặc khải được ban cho khác với sự mặc khải của trực giác, vì đó là sự mặc khải những gì ảo cảm che phủ và giấu kín; đây là sự mặc khải riêng biệt của cõi cảm dục và chịu tác động của các định luật cõi ấy. Cách sử dụng đặc biệt này đối với ánh sáng linh hồn mang hình thức tập trung ánh sáng (phát xạ từ linh hồn, qua thể trí) vào tình trạng ảo cảm—riêng biệt hoặc cụ thể, hay tổng quát và toàn thế giới—để bản chất của ảo cảm hiển lộ, phẩm tính và nền tảng của nó được khám phá, và quyền lực của nó chấm dứt nhờ một thời gian tập trung kiên định, kéo dài, dành cho việc xua tan tình trạng ấy.

[140] In our next section we will deal in detail with the technique of this scientific use of light and, therefore, I will not elaborate the theme at this point. I will only deal with that much of it as will enable you, as a group, to begin your long awaited work upon the problem of dispelling the present world glamour—at least in some of its aspects. I am not defining glamour in this place or giving you instances of its activity as I did in the case of illusion and its contrasting correspondence, the intuition, because I covered the ground very thoroughly in the section immediately preceding, and you have only to refer to that section to read all that I am prepared to give you at this time.

[140] Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ bàn chi tiết về kỹ thuật sử dụng ánh sáng một cách khoa học này, nên ở đây Tôi sẽ không triển khai thêm chủ đề ấy. Tôi sẽ chỉ bàn đến phần đủ để các bạn, với tư cách một nhóm, bắt đầu công việc đã mong đợi từ lâu là xua tan ảo cảm thế giới hiện nay—ít nhất trong một số phương diện của nó. Ở đây, Tôi không định nghĩa ảo cảm hay đưa ra những ví dụ về hoạt động của nó như đã làm với ảo tưởng và đối phần tương phản của nó, trực giác, vì Tôi đã trình bày vấn đề rất kỹ trong phần ngay trước đó; các bạn chỉ cần tham khảo phần ấy để đọc tất cả những gì Tôi sẵn sàng cung cấp cho các bạn vào lúc này.

I will, however, briefly define illumination, asking you to bear in mind that we are not here dealing with the illumination which reveals Reality, or the nature of the soul or which makes clear to your vision the kingdom of the soul, but with that form of illumination which is thrown down by the soul into the world of the astral plane. This involves the conscious use of light and its employment, first of all, as a searchlight, scanning the astral horizon and localising the glamour which is causing the trouble, and secondly, as a focussed distribution of light, turned with intention upon that area of the astral plane wherein it is proposed that some effort be made to dissipate the fog and mist which are there concentrated.

Tuy nhiên, Tôi sẽ định nghĩa ngắn gọn sự soi sáng, và đề nghị các bạn nhớ rằng ở đây chúng ta không bàn về sự soi sáng mặc khải Thực Tại hay bản chất của linh hồn, hoặc làm cho giới linh hồn trở nên rõ ràng trước tầm nhìn của các bạn, mà bàn về hình thức soi sáng do linh hồn chiếu xuống thế giới của cõi cảm dục. Điều này bao hàm việc sử dụng ánh sáng một cách hữu thức: trước hết, dùng nó như một đèn rọi, quét qua chân trời cảm dục và xác định vị trí của ảo cảm đang gây khó khăn; thứ hai, dùng nó như một sự phân bố ánh sáng có tiêu điểm, có chủ đích hướng vào khu vực trên cõi cảm dục nơi dự định thực hiện một nỗ lực để làm tiêu tan sương mù và màn sương đang tập trung ở đó.

Certain basic premises are, therefore, in order and these might be stated as follows:

Vì vậy, cần nêu một số tiền đề căn bản, có thể trình bày như sau:

1. The quality and the major characteristic of the soul is light. Therefore, if that light is to be used and that quality expressed by the disciple and the worker, he must first of all achieve a recognised contact with the soul through meditation.

1. Phẩm tính và đặc điểm chủ yếu của linh hồn là ánh sáng. Do đó, nếu người đệ tử và người hoạt động muốn sử dụng ánh sáng ấy và biểu hiện phẩm tính ấy, trước hết y phải đạt được sự tiếp xúc với linh hồn mà y nhận biết rõ, thông qua tham thiền.

2. The quality of the astral plane—its major characteristic—[141] is glamour. It is the field whereon the great battle of the pairs of opposites must be fought as they are the expression of ancient desire, in the one case—glamorous, deceptive and false—and in the other, high spiritual longing for that which is real and true. It should be here remembered that astral desire, wrong and selfish emotion and astral reactions to the facts of daily life, are not natural to the soul and constitute eventually a condition which serves to veil successfully the true nature of the spiritual man.

2. Phẩm tính của cõi cảm dục—đặc điểm chủ yếu của nó—[141] là ảo cảm. Đây là chiến trường nơi phải diễn ra cuộc chiến lớn giữa các cặp đối cực, vì một phía là sự biểu hiện của dục vọng cổ xưa—đầy ảo cảm, lừa dối và sai lạc—còn phía kia là niềm khao khát tinh thần cao cả đối với cái thực và cái chân. Ở đây, cần nhớ rằng dục vọng cảm dục, cảm xúc sai lầm và ích kỷ, cùng các phản ứng cảm dục trước những sự kiện của đời sống hằng ngày không thuộc bản chất tự nhiên của linh hồn, và cuối cùng tạo thành một tình trạng che phủ hữu hiệu bản chất chân thực của con người tinh thần.

3. A relation must then be established between the soul and the astral plane, via the astral body of the disciple. This astral body must be regarded by him as his response apparatus to the world of sensation and as the only instrument whereby his soul can contact that level of expression—temporary and non-lasting as it may be. The disciple must, therefore, establish contact with the soul and do this consciously and with the needed emphasis and so carry soul light to his own astral body, learn to focus it there in the solar plexus centre, and from that point of achievement proceed to work upon the astral plane at the arduous task of dispelling glamour.

3. Sau đó, phải thiết lập một mối quan hệ giữa linh hồn và cõi cảm dục, qua thể cảm dục của người đệ tử. Y phải xem thể cảm dục này là bộ máy đáp ứng của mình đối với thế giới cảm giác, và là công cụ duy nhất nhờ đó linh hồn của y có thể tiếp xúc với cấp độ biểu hiện ấy—dù cấp độ ấy có thể tạm thời và không bền vững. Vì vậy, người đệ tử phải thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn, thực hiện điều này một cách hữu thức với sự chú trọng cần thiết, nhờ đó đưa ánh sáng linh hồn vào chính thể cảm dục của mình, học cách tập trung ánh sáng ấy tại trung tâm tùng thái dương, và từ thành tựu đó tiến tới làm việc trên cõi cảm dục với nhiệm vụ gian nan là xua tan ảo cảm.

4. When this line of contact has been made and the soul, the astral body and the astral plane have thus been intimately related, the disciple must carry the focussed light from the solar plexus (where it has been temporarily localised) to the heart centre. There he must steadily hold it and work consistently and perseveringly from that higher centre. I might here paraphrase an ancient instruction for disciples, which can be found in the Archives of the Hierarchy and which refers to this particular process. I am giving you a brief and somewhat inadequate paraphrase of this ancient symbolic wording: [142]

4. Khi đường tiếp xúc này đã được thiết lập và linh hồn, thể cảm dục cùng cõi cảm dục nhờ đó đã liên hệ mật thiết với nhau, đệ tử phải đưa ánh sáng đã tập trung từ tùng thái dương (nơi ánh sáng tạm thời khu trú) đến trung tâm tim. Tại đó, y phải giữ ánh sáng ổn định và làm việc nhất quán, kiên trì từ trung tâm cao hơn ấy. Ở đây, Tôi có thể diễn ý một huấn thị cổ dành cho các đệ tử, lưu trong Văn Khố của Thánh đoàn và đề cập đến tiến trình đặc biệt này. Tôi đưa ra cho các bạn một bản diễn ý ngắn gọn và phần nào chưa đầy đủ của lời văn biểu tượng cổ xưa ấy: [142]

“The disciple stands and, with his back to the glamorous fog, looks towards the East from whence the light must stream. Within his heart he gathers all the light available and from that point of power between the shoulder blades the light streams forth.”

“Đệ tử đứng vững và, quay lưng về phía màn sương ảo cảm, nhìn về phương Đông, nơi ánh sáng phải tuôn đến. Trong tim mình, y tập hợp mọi ánh sáng sẵn có, và từ điểm quyền năng ấy giữa hai xương bả vai, ánh sáng tuôn ra.”

5. The disciple must relinquish all sense of tension or of strain and must learn to work with pure faith and love. The less he feels and the less he is preoccupied with his own feelings or sense of achievement or of non-achievement, the more probable it will be that the work will proceed with effectiveness and the glamour be slowly dispelled. In this work there is no haste. That which is very ancient cannot be immediately dispelled no matter how good the intention or how accurate may be the grasp of the needed technique.

5. Đệ tử phải buông bỏ mọi cảm giác căng thẳng hay gắng sức và phải học cách làm việc với đức tin và tình thương thuần khiết. Y càng ít cảm nhận và càng ít bận tâm đến những cảm xúc của mình hay cảm giác thành tựu hoặc không thành tựu, thì công việc càng có khả năng tiến hành hiệu quả và ảo cảm càng có khả năng dần dần được xua tan. Trong công việc này, không có sự vội vã. Những gì đã tồn tại từ rất xa xưa không thể lập tức bị xua tan, dù ý định tốt đẹp đến đâu hay sự nắm bắt kỹ thuật cần thiết chính xác đến mức nào.

It will be apparent to you that there are elements of danger in this work. Unless the members of the group are exceedingly watchful and unless they cultivate the habit of careful observation, they may suffer from over-stimulation of the solar plexus until such time as they have mastered the process of rapidly transferring the light of the soul, focussed in the solar plexus, and the innate light of the astral body, also found localised in that centre, into the heart centre between the shoulder blades. I would, therefore, warn each and all of you to proceed with the utmost care and I would caution you that if you suffer any solar plexus disturbance or encounter in yourselves any increased emotional instability, to be not unduly disturbed. I would ask you to regard the phenomenon of disturbance as simply a temporary difficulty, incident upon the service which you are seeking to render. If you pay this intelligent attention to the matter and no more, refusing to be distressed or to be disturbed, no bad results will be felt.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng công việc này có những yếu tố nguy hiểm. Trừ khi các thành viên của nhóm hết sức cảnh giác và vun bồi thói quen quan sát cẩn thận, họ có thể chịu sự kích thích quá mức ở tùng thái dương, cho đến khi làm chủ được tiến trình nhanh chóng chuyển ánh sáng của linh hồn, vốn tập trung ở tùng thái dương, cùng ánh sáng vốn có của thể cảm dục, cũng khu trú tại trung tâm ấy, vào trung tâm tim giữa hai xương bả vai. Vì vậy, Tôi muốn cảnh báo từng người và tất cả các bạn hãy tiến hành hết sức thận trọng, đồng thời nhắc các bạn rằng nếu gặp bất kỳ sự rối loạn nào ở tùng thái dương hoặc nhận thấy sự bất ổn cảm xúc gia tăng trong bản thân, thì đừng quá lo lắng. Tôi yêu cầu các bạn xem hiện tượng rối loạn ấy chỉ là một khó khăn tạm thời, phát sinh trong quá trình phụng sự mà các bạn đang tìm cách thực hiện. Nếu các bạn chú tâm một cách sáng suốt đến vấn đề này và không hơn thế, không để mình phiền muộn hay lo lắng, thì sẽ không có hậu quả xấu nào.

[143] In connection with your anticipated group work along these lines, you will proceed with your group meditation as indicated elsewhere (Discipleship in the New Age, Volume I, page 61), and then—when you have arrived at Stage III in the group meditation—you will work together as follows:

[143] Về công việc nhóm mà các bạn dự định thực hiện theo những đường hướng này, các bạn sẽ tiến hành bài tham thiền nhóm như đã chỉ dẫn ở nơi khác (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, trang 61), rồi—khi đã đến Giai đoạn III trong bài tham thiền nhóm—các bạn sẽ cùng làm việc như sau:

1. Having linked up with all your group brothers, then consciously carry out the hints given symbolically in the ancient writing which I paraphrased for you above.

1. Sau khi đã kết nối với tất cả các huynh đệ trong nhóm, hãy thực hiện một cách có ý thức những gợi ý được trình bày bằng biểu tượng trong văn bản cổ mà Tôi đã diễn ý cho các bạn ở trên.

a. Link up consciously with your soul and realise this linking as a fact.

a. Hãy kết nối một cách có ý thức với linh hồn của các bạn và nhận biết sự kết nối này là một sự thật.

b. Then carry the light of the soul, through the power of the creative imagination, direct to your astral body and from thence to the solar plexus centre—which is the line of least resistance.

b. Sau đó, nhờ quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, hãy đưa ánh sáng của linh hồn trực tiếp đến thể cảm dục, rồi từ đó đến trung tâm tùng thái dương—đó là con đường ít trở ngại nhất.

c. Then transfer the light of the soul and the innate light of the astral body from the solar plexus centre to the heart centre, by a definite act of the will.

c. Tiếp đó, bằng một hành động ý chí dứt khoát, hãy chuyển ánh sáng của linh hồn cùng ánh sáng vốn có của thể cảm dục từ trung tâm tùng thái dương đến trung tâm tim.

2. Then, imaginatively, stand with your back to the world of glamour and with the eye of your mind focussed on the soul, whose nature is LOVE.

2. Sau đó, trong sự tưởng tượng, hãy đứng quay lưng về phía thế giới ảo cảm, với con mắt của thể trí tập trung vào linh hồn, mà bản chất là TÌNH THƯƠNG.

3. Let a few minutes’ interlude then take place wherein you stabilise yourself for the work, and definitely and consciously focus the light available, from all sources, within the heart centre. Imagine that centre between the shoulder blades as a radiant sun. I might here point out that this is, in the individual, the microcosmic correspondence to the “heart of the Sun” which is always directed by the “central spiritual Sun,” localised in the head. Get this picture clearly into your consciousness, for it involves the dual, yet synthetic, activity of the head and the heart. [144]

3. Tiếp đó, hãy dành một khoảng dừng vài phút để ổn định bản thân cho công việc, đồng thời tập trung một cách dứt khoát và có ý thức mọi ánh sáng sẵn có, từ tất cả các nguồn, vào trung tâm tim. Hãy tưởng tượng trung tâm ấy giữa hai xương bả vai như một mặt trời tỏa sáng. Ở đây, Tôi có thể chỉ ra rằng, trong mỗi cá nhân, đây là sự tương ứng ở tiểu thiên địa với “trái tim của Mặt Trời”, vốn luôn chịu sự chỉ đạo của “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, khu trú trong đầu. Hãy đưa hình ảnh này vào tâm thức các bạn thật rõ ràng, vì nó bao hàm hoạt động kép, nhưng mang tính tổng hợp, của đầu và tim. [144]

4. Then see a shaft of pure white light, broad and brilliant, pouring out of the heart centre between the shoulder blades, on to that localised glamour with which you, as a group, are dealing. What this localised area is, I will presently disclose.

4. Sau đó, hãy thấy một luồng ánh sáng trắng thuần khiết, rộng và rực rỡ, tuôn ra từ trung tâm tim giữa hai xương bả vai, chiếu lên ảo cảm khu trú mà các bạn, với tư cách một nhóm, đang xử lý. Vùng khu trú ấy là gì, Tôi sẽ sớm tiết lộ.

5. When this is clearly defined in your mind and inspired by your desire and force, and when you have the entire symbolic picture clearly visualised, then see your particular shaft of light blended with the shafts of light which your group brothers are projecting. Thus a great flood of directed light coming from several trained aspirants (and are you trained, my brothers?) will pour on to that area of glamour with which you are supposed to deal.

5. Khi điều này đã được xác định rõ trong thể trí các bạn và được dục vọng cùng mãnh lực của các bạn khơi nguồn cảm hứng, và khi các bạn đã hình dung rõ toàn bộ hình ảnh biểu tượng, hãy thấy luồng ánh sáng riêng của mình hòa vào những luồng ánh sáng mà các huynh đệ trong nhóm đang phóng chiếu. Như vậy, một dòng ánh sáng lớn có định hướng, đến từ nhiều người chí nguyện đã được huấn luyện (và Các huynh đệ của Tôi, các bạn đã được huấn luyện chưa?), sẽ tuôn lên vùng ảo cảm mà các bạn có nhiệm vụ xử lý.

6. Do this work for five carefully sustained minutes and then proceed as indicated in Stage IV of your meditation outline.

6. Hãy thực hiện công việc này trong năm phút, duy trì cẩn thận, rồi tiếp tục như chỉ dẫn ở Giai đoạn IV trong đề cương bài tham thiền của các bạn.

In defining illumination as the antithesis of glamour it is obvious that my remarks must necessarily be limited to certain aspects of illumination and will only concern those directed forms of work and those presentations of the problem which will concern the use of light upon the astral plane and particularly in connection with the work that you have pledged yourselves to do. There are many other definitions possible, for the light of the soul is like an immense searchlight, the beams of which can be turned in many directions and focussed on many levels. We are however only concerned here with its specialised use.

Khi định nghĩa sự soi sáng là điều đối nghịch với ảo cảm, rõ ràng những nhận xét của Tôi nhất thiết phải giới hạn ở một số phương diện của sự soi sáng và chỉ đề cập đến những hình thức công việc có định hướng cùng những cách trình bày vấn đề liên quan đến việc sử dụng ánh sáng trên cõi cảm dục, đặc biệt là trong mối liên hệ với công việc mà các bạn đã cam kết thực hiện. Có thể có nhiều định nghĩa khác, vì ánh sáng của linh hồn giống như một đèn pha khổng lồ, có thể hướng các tia sáng theo nhiều phía và tập trung chúng trên nhiều cấp độ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến cách sử dụng chuyên biệt của ánh sáng ấy.

Illumination and the light of knowledge can be regarded as synonymous terms and many glamours can be dissipated and dispersed when subjected to the potency of the informative mind, for the mind is essentially the subduer of emotion through the presentation of fact. The problem is to [145] induce the individual or the race or nation which is acting under the influence of glamour to call in the mental power of assessing the situation and subject it to a calm, cold scrutiny. Glamour and emotion play into each other’s hands and feeling runs so strong usually in relation to glamour that it is impossible to bring in the light of knowledge with ease and effectiveness.

Có thể xem sự soi sáng và ánh sáng của tri thức là những thuật ngữ đồng nghĩa, và nhiều ảo cảm có thể được làm tiêu tan và phân tán khi chịu tác động của sức mạnh của thể trí cung cấp tri thức, vì về cơ bản, thể trí chế ngự cảm xúc bằng cách trình bày sự thật. Vấn đề là [145] khiến cá nhân, nhân loại hay quốc gia đang hành động dưới ảnh hưởng của ảo cảm huy động quyền năng trí tuệ để đánh giá tình hình và xem xét tình hình ấy một cách bình tĩnh, lạnh lùng. Ảo cảm và cảm xúc tiếp tay cho nhau, và cảm xúc thường mạnh mẽ đến mức, khi liên quan đến ảo cảm, không thể dễ dàng và hiệu quả đưa ánh sáng của tri thức vào.

Illumination and perception of truth are also synonymous terms, but it should be remembered that the truth in this case is not truth on the abstract planes but concrete and knowable truth—truth which can be formulated and expressed in concrete form and terms. Where the light of truth is called in, glamour automatically disappears, even if only for a temporary period. But, again, difficulty arises because few people care to face the actual truth, for it involves eventually the abandonment of the beloved glamour and the ability to recognise error and to admit mistakes, and this the false pride of the mind will not permit. Again, I would assure you that humility is one of the most potent factors in releasing the illuminating power of the mind, as it reflects and transmits the light of the soul. The determined facing of the factual life and the stern recognition of truth—coldly, calmly and dispassionately—will greatly facilitate the calling in of the flood of illumination which will suffice to dispel glamour.

Sự soi sáng và sự nhận thức chân lý cũng là những thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng chân lý trong trường hợp này không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng, mà là chân lý cụ thể và khả tri—chân lý có thể được định hình và diễn đạt bằng hình thức cùng ngôn từ cụ thể. Khi ánh sáng của chân lý được huy động, ảo cảm tự động biến mất, dù chỉ trong một khoảng thời gian tạm thời. Nhưng một lần nữa, khó khăn nảy sinh vì ít người muốn đối diện với chân lý thực tế, bởi cuối cùng điều đó đòi hỏi từ bỏ ảo cảm mình yêu quý, có khả năng nhận ra sai lầm và thừa nhận những lỗi lầm, mà lòng kiêu hãnh giả tạo của thể trí không cho phép điều này. Một lần nữa, Tôi muốn bảo đảm với các bạn rằng lòng khiêm nhường là một trong những yếu tố mạnh mẽ nhất giúp giải phóng quyền năng soi sáng của thể trí, khi thể trí phản chiếu và truyền dẫn ánh sáng của linh hồn. Việc kiên quyết đối diện với đời sống thực tế và nghiêm khắc nhìn nhận chân lý—một cách lạnh lùng, bình tĩnh và không thiên lệch vì cảm xúc—sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho việc huy động dòng soi sáng đủ sức xua tan ảo cảm.

As we are dealing with the problem of glamour and illumination, it might be of value here if I dealt with the particular glamour which I would ask your group to aid in dispelling. I refer here to the glamour of separateness. Work along this line will have most practical and salutary implications, for none of you (as you will discover) will be able to work effectively on this matter if you feel any sense of separativeness; this separative reaction may express itself as hatred, as an active dislike or as a voiced criticism—[146] perhaps, in some cases, all three. There are forces which you may personally regard as separativeness or as the cause of separation. I would remind you that the favourite views and cherished beliefs of those to whom you are mentally opposed (often under the guise of a strenuous adherence to what you regard as right principles) are to those who hold them equally right; they feel that your views are erroneous and they regard them as separative in their effect and as the basis of trouble. They are, in their place, as sincere as you are and as eager for the achievement of the right attitude as you feel yourself to be. This is something often forgotten and I would remind you of it. I might also illustrate this point by pointing out to you that the hatred or the dislike (if hatred is too strong a word) that any of you may feel for the activities of the German Government, and for the line that they have taken against the Jewish people, might be turned with almost equal justification against the Jews themselves. The latter have always been separative and have regarded themselves as “the chosen of the Lord” and have never proved assimilable in any nation. The same can be said of the Germans, and from many they evoke the same reaction as they mete out to the Jew, though not the physical persecution. Neither attitude, as you well know, is justifiable from the angle of the soul; they are both equally wrong, and this is a point of view which the Jew and the anti-Jew must eventually understand and, through understanding, bring to an end.

Vì chúng ta đang bàn đến vấn đề ảo cảm và sự soi sáng, có lẽ ở đây sẽ hữu ích nếu Tôi đề cập đến ảo cảm cụ thể mà Tôi muốn yêu cầu nhóm các bạn góp sức xua tan. Ở đây, Tôi nói đến ảo cảm của sự chia rẽ. Công việc theo đường hướng này sẽ có những tác động hết sức thiết thực và tốt lành, vì không ai trong các bạn (như các bạn sẽ khám phá) có thể làm việc hiệu quả về vấn đề này nếu còn mang bất kỳ cảm thức chia rẽ nào; phản ứng chia rẽ ấy có thể biểu hiện thành lòng thù hận, sự ác cảm rõ rệt hoặc lời chỉ trích thốt ra—[146] có lẽ, trong một số trường hợp, là cả ba. Có những mãnh lực mà cá nhân các bạn có thể xem là tính chia rẽ hoặc nguyên nhân gây chia rẽ. Tôi muốn nhắc các bạn rằng những quan điểm ưa thích và niềm tin được trân trọng của những người mà các bạn chống đối về mặt tư tưởng (thường dưới vỏ bọc của sự kiên quyết tuân theo những gì các bạn xem là nguyên khí đúng đắn) cũng đúng đắn như thế đối với những người giữ các quan điểm và niềm tin ấy; họ cảm thấy quan điểm của các bạn là sai lầm, và xem chúng có tác dụng gây chia rẽ cũng như là nguồn gốc của rắc rối. Trong hoàn cảnh của mình, họ cũng chân thành như các bạn và cũng tha thiết đạt được thái độ đúng đắn như các bạn cảm thấy ở bản thân. Đây là điều thường bị lãng quên, và Tôi muốn nhắc các bạn nhớ đến nó. Tôi cũng có thể minh họa điểm này bằng cách chỉ ra cho các bạn rằng lòng thù hận hay ác cảm (nếu thù hận là một từ quá mạnh) mà bất kỳ ai trong các bạn có thể cảm thấy đối với các hoạt động của Chính phủ Đức và đường lối họ đã áp dụng chống lại người Do Thái, cũng có thể hướng vào chính người Do Thái với lý lẽ biện minh gần như tương đương. Người Do Thái luôn có tính chia rẽ, tự xem mình là “những người được Chúa tuyển chọn” và chưa bao giờ tỏ ra có thể hòa nhập vào bất kỳ quốc gia nào. Cũng có thể nói điều tương tự về người Đức, và ở nhiều người, họ gợi lên cùng một phản ứng như phản ứng mà họ dành cho người Do Thái, tuy không có sự bức hại về thân thể. Như các bạn biết rõ, không thái độ nào có thể biện minh từ góc nhìn của linh hồn; cả hai đều sai như nhau, và đây là một quan điểm mà người Do Thái cùng người chống Do Thái cuối cùng phải thấu hiểu, rồi qua sự thấu hiểu ấy, chấm dứt những thái độ này.

I mention this because I am going to ask you to deal with that ancient and world-wide glamour—the glamour of the hatred of the Jew. In this group there are those who are, in their thought at least, violently anti-German; there are others who are definitely, though intelligently, anti-Jew. I would ask those in both these groups to recognise the problem with which they are faced. It is a problem which [147] is so very ancient and deeply rooted in the consciousness of the race that it is far bigger than the individual can possibly vision; the individual point of view is consequently so limited that constructive usefulness is noticeably impaired. After all, my brothers, the point of view of the “under dog” is not necessarily the only one or necessarily always the correct one. Both the Germans and the Jews merit our impersonal love, particularly as they are both guilty (if I may use such a term) of the same basic errors and faults. The German is powerfully race conscious; so is the Jew. The German is separative in his attitude to the world; so is the Jew. The German insists today on racial purity, a thing upon which the Jew has insisted for centuries. A small group of Germans are anti-Christian; so are an equally small number of Jews. I could continue piling up these resemblances but the above will suffice. Therefore, your dislike of one group is not more warranted than your refusal to recognise any justification for the activities and attitudes of the other. Like frequently repudiates and swings away from like, and the Germans and the Jews are curiously alike. Just as many British people and the preponderance of the British race are reincarnated Romans, so many Germans are reincarnated Jews. Hence the similarity of their points of view. It is a family quarrel and there is nothing more terrible than this.

Tôi đề cập đến điều này vì Tôi sẽ yêu cầu các bạn xử lý ảo cảm cổ xưa và lan rộng khắp thế giới ấy—ảo cảm của lòng thù hận người Do Thái. Trong nhóm này, có những người, ít nhất trong tư tưởng, chống Đức một cách dữ dội; cũng có những người rõ ràng chống Do Thái, tuy theo cách có suy xét. Tôi yêu cầu những người thuộc cả hai nhóm này nhận ra vấn đề mà họ đang đối diện. Đó là một vấn đề [147] quá cổ xưa và ăn sâu vào tâm thức nhân loại đến mức nó lớn lao hơn rất nhiều so với những gì cá nhân có thể hình dung; do đó, góc nhìn cá nhân hạn hẹp đến mức khả năng đóng góp hữu ích mang tính xây dựng bị suy giảm rõ rệt. Xét cho cùng, Các huynh đệ của Tôi, góc nhìn của “người yếu thế” không nhất thiết là góc nhìn duy nhất, cũng không nhất thiết luôn là góc nhìn đúng. Cả người Đức lẫn người Do Thái đều xứng đáng nhận tình thương vô ngã của chúng ta, đặc biệt vì cả hai đều phạm phải (nếu Tôi có thể dùng từ như thế) những sai lầm và khuyết điểm cơ bản giống nhau. Người Đức có ý thức chủng tộc mạnh mẽ; người Do Thái cũng vậy. Người Đức có thái độ chia rẽ đối với thế giới; người Do Thái cũng vậy. Ngày nay, người Đức khăng khăng đòi sự thuần khiết chủng tộc, điều mà người Do Thái đã khăng khăng đòi hỏi suốt nhiều thế kỷ. Một nhóm nhỏ người Đức chống Kitô giáo; một số người Do Thái ít ỏi tương đương cũng vậy. Tôi có thể tiếp tục kể thêm những điểm tương đồng này, nhưng những điều trên đã đủ. Vì vậy, sự ác cảm của các bạn đối với một nhóm không có cơ sở chính đáng hơn việc các bạn từ chối thừa nhận bất kỳ lý lẽ biện minh nào cho các hoạt động và thái độ của nhóm kia. Những gì giống nhau thường chối bỏ và quay lưng với nhau, mà người Đức và người Do Thái lại giống nhau một cách kỳ lạ. Cũng như nhiều người Anh và phần lớn dân tộc Anh là những người La Mã tái sinh, nhiều người Đức là những người Do Thái tái sinh. Vì thế có sự tương đồng trong góc nhìn của họ. Đây là một cuộc tranh chấp trong gia đình, và không có gì khủng khiếp hơn điều này.

I am going to ask you to take the Germans and the Jews into your group meditation and pour out your group love upon both these divisions of your brothers in the human family. See to it that before you begin your meditation you have freed yourselves—emotions and mind—from any latent antagonisms, from any hatreds, from any preconceived ideas of right or wrong but that you simply fall back upon the love of your souls, remembering that both [148] Jews and Germans are souls as you are and identical in their origin, their goal and their life experience with yours.

Tôi sẽ yêu cầu các bạn đưa người Đức và người Do Thái vào bài tham thiền nhóm, và tuôn đổ tình thương của nhóm lên cả hai bộ phận huynh đệ này trong gia đình nhân loại. Hãy bảo đảm rằng trước khi bắt đầu tham thiền, các bạn đã giải phóng bản thân—cả cảm xúc lẫn thể trí—khỏi mọi sự đối kháng tiềm ẩn, mọi lòng thù hận, mọi ý tưởng định sẵn về đúng hay sai, và chỉ đơn thuần nương vào tình thương của linh hồn mình, ghi nhớ rằng cả [148] người Do Thái lẫn người Đức đều là linh hồn như các bạn, và giống các bạn về nguồn gốc, mục tiêu cùng kinh nghiệm sống.

As you pour out the stream of pure white light (as Stage III instructs you), see to it that it pours through you with purity and clarity as one stream. Then see it bisect into equal quantities or proportions—one stream of living light and love going to the Jews and the other to the German peoples. The quality of your love will count and not so much the accuracy of your analysis or the perfection of your technique.

Khi các bạn tuôn đổ dòng ánh sáng trắng thuần khiết (như Giai đoạn III chỉ dẫn), hãy bảo đảm rằng ánh sáng ấy tuôn qua các bạn một cách thuần khiết và trong sáng thành một dòng duy nhất. Sau đó, hãy thấy nó chia đôi thành hai phần hay hai tỷ lệ bằng nhau—một dòng ánh sáng và tình thương sống động đến với người Do Thái, dòng kia đến với các cộng đồng người Đức. Phẩm tính tình thương của các bạn mới là điều quan trọng, chứ không phải quá nhiều ở sự chính xác trong phân tích hay sự hoàn hảo của kỹ thuật.

c. The Contrast between Maya and Inspiration

c. Sự Tương Phản giữa Ảo Lực và Cảm Hứng

Here we come definitely into the realm of material substance. This is essentially and in a peculiar manner the realm of force. Maya is predominantly (for the individual) the aggregate of the forces which control his septenary force centres to the exclusion, I would emphasise, of the controlling energy of the soul. Therefore, you will see that the bulk of humanity, until a man stands upon the Probationary Path, are under the control of maya, for a man succumbs to maya when he is controlled by any other force or forces than those energies which come direct from the soul, conditioning and controlling the lesser forces of the personality as they eventually and inevitably must and will.

Ở đây, chúng ta rõ ràng bước vào lĩnh vực chất liệu vật chất. Về bản chất và theo một cách đặc biệt, đây là lĩnh vực của mãnh lực. Đối với cá nhân, ảo lực chủ yếu là tổng hợp những mãnh lực kiểm soát bảy trung tâm mãnh lực của y, loại trừ—Tôi muốn nhấn mạnh—năng lượng kiểm soát của linh hồn. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rằng phần đông nhân loại, cho đến khi một người đứng trên Con Đường Dự Bị, đều chịu sự kiểm soát của ảo lực, vì con người khuất phục trước ảo lực khi chịu sự kiểm soát của bất kỳ mãnh lực nào khác ngoài những năng lượng đến trực tiếp từ linh hồn, vốn tác động và kiểm soát những mãnh lực thấp hơn của phàm ngã, như cuối cùng những năng lượng ấy tất yếu phải làm và sẽ làm.

When a man is under the control of physical, astral and mental forces, he is convinced at the time that they are, for him, right forces. Herein lies the problem of maya. Such forces, however, when they control a man, determine him in a separative attitude and produce an effect which feeds and stimulates the personality and does not bring in the energy of the soul, the true Individuality. This analysis should prove illuminating to you. If men and [149] women would bring their lives under a closer scrutiny by the true inner or spiritual man and could thus determine what combination of energies conditions their life activity, they would not continue to function—as they do now—so blindly, so inadequately and so ineffectually.

Khi một người chịu sự kiểm soát của các mãnh lực hồng trần, cảm dục và trí tuệ, lúc ấy y tin chắc rằng đối với mình, đó là những mãnh lực đúng đắn. Chính trong đó có vấn đề của ảo lực. Tuy nhiên, khi kiểm soát con người, những mãnh lực ấy khiến y mang thái độ chia rẽ và tạo ra một tác động nuôi dưỡng, kích thích phàm ngã, chứ không đưa vào năng lượng của linh hồn, Cá Thể đích thực. Sự phân tích này hẳn sẽ giúp soi sáng cho các bạn. Nếu những người nam và [149] nữ để con người bên trong hay con người tinh thần đích thực xem xét đời sống của mình kỹ lưỡng hơn, và nhờ đó có thể xác định tổ hợp năng lượng nào đang tác động lên hoạt động đời sống của họ, thì họ sẽ không tiếp tục hoạt động—như hiện nay—một cách mù quáng, thiếu sót và vô hiệu quả đến thế.

It is for this reason that the study and understanding of motives is of such value and importance, for such a study determines intellectually (if properly investigated) what factor or factors inspires the daily life. This is a statement worth careful consideration. I would ask you: What is your major actuating motive? For, whatever it may be, it conditions and determines your predominant life tendency.

Chính vì lý do này mà việc nghiên cứu và thấu hiểu động cơ có giá trị và tầm quan trọng lớn lao như vậy, vì sự nghiên cứu ấy xác định bằng trí tuệ (nếu khảo sát đúng cách) yếu tố hay những yếu tố nào khơi nguồn cảm hứng cho đời sống hằng ngày. Đây là một phát biểu đáng cân nhắc cẩn thận. Tôi muốn hỏi các bạn: Động cơ thúc đẩy chủ yếu của các bạn là gì? Bởi dù đó là gì, nó cũng tác động và quyết định xu hướng chủ đạo trong đời sống của các bạn.

Many people, particularly the unintelligent masses, are solely inspired by desire—material, physical and temporary. Animal desire for the satisfaction of the animal appetites, material desire for possession and for the luxuries of existence, the longing for “things,” for comforts and for security—economic, social and religious—control the majority. The man is under the influence of the densest form of maya, and the forces of his nature are concentrated in the sacral centre. Others are motivated by some form of aspiration or ambition—aspiration towards some material heaven (and most religions portray heaven in this manner), ambitions for power, desire for the satisfaction of the emotional or aesthetic appetites and for the possession of the more subtle realities, and the longing for emotional comfort, for mental stability and assurance that the higher desires will meet with gratification. All this is maya in its emotional form, and it is not the same thing as glamour. In the case of glamour, the forces of a man’s nature are seated in the solar plexus. In the case of maya, they are seated in the sacral centre. Glamour is subtle and emotional. Maya is tangible and etheric.

Nhiều người, đặc biệt là quần chúng kém thông minh, chỉ nhận cảm hứng từ dục vọng—mang tính vật chất, hồng trần và tạm thời. Dục vọng thú tính muốn thỏa mãn những ham muốn thú tính, dục vọng vật chất muốn sở hữu và hưởng những xa hoa của cuộc sống, sự khao khát “đồ vật”, tiện nghi và sự an toàn—về kinh tế, xã hội và tôn giáo—kiểm soát đa số. Con người chịu ảnh hưởng của hình thức ảo lực đậm đặc nhất, và các mãnh lực trong bản chất của y tập trung ở trung tâm xương cùng. Những người khác được thúc đẩy bởi một hình thức khát vọng hay tham vọng nào đó—khát vọng hướng đến một thiên đường vật chất nào đó (và hầu hết các tôn giáo đều mô tả thiên đường theo cách này), tham vọng quyền lực, dục vọng muốn thỏa mãn những ham muốn cảm xúc hay thẩm mỹ và muốn sở hữu những thực tại tinh tế hơn, cùng sự khao khát tiện nghi cảm xúc, sự ổn định trí tuệ và sự bảo đảm rằng những dục vọng cao hơn sẽ được thỏa mãn. Tất cả những điều này là ảo lực dưới hình thức cảm xúc, và không đồng nhất với ảo cảm. Trong trường hợp ảo cảm, các mãnh lực trong bản chất của con người trú tại tùng thái dương. Trong trường hợp ảo lực, chúng trú tại trung tâm xương cùng. Ảo cảm tinh tế và mang tính cảm xúc. Ảo lực hữu hình và mang tính dĩ thái.

[150] Such are the forces of maya which actuate, motivate and energise the life of the ordinary man. Under their influence he is helpless for they inspire all his thinking, all his aspiration and his desire, and all his activity on the physical plane. His problem is twofold:

[150] Đó là những mãnh lực của ảo lực thúc đẩy, tạo động cơ và tiếp năng lượng cho đời sống của người bình thường. Dưới ảnh hưởng của chúng, y bất lực, vì chúng khơi nguồn cảm hứng cho toàn bộ tư duy, mọi khát vọng và dục vọng, cùng mọi hoạt động của y trên cõi hồng trần. Vấn đề của y có hai mặt:

1. To bring all his centres under the inspiration of the soul.

1. Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới cảm hứng của linh hồn.

2. To transfer or transmute the forces of the lower centres, which control the personality, into the energies of the centres above the diaphragm, which respond automatically to the inspiration of the soul.

2. Chuyển dịch hoặc chuyển hoá những mãnh lực của các trung tâm thấp hơn, vốn kiểm soát phàm ngã, thành những năng lượng của các trung tâm phía trên cơ hoành, vốn tự động đáp ứng với cảm hứng của linh hồn.

It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists. The motive is soul control, and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable yet the developing tendency of the life thought will prove inevitably determining and conditioning. The methods used may not save the unprepared physical body from certain evil and disastrous results yet, in the long run and in the last analysis, they may condition the future experience (probably in another life) in such a manner that the aspirant will find himself more able to function as a soul than might otherwise have been the case.

Chính trong tư tưởng này có sức mạnh và giá trị biểu tượng của những bài tập thở. Động cơ là sự kiểm soát của linh hồn, và dù những phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng không đáng mong muốn, xu hướng đang phát triển của tư tưởng chi phối đời sống vẫn tất yếu có tác dụng quyết định và định hình. Những phương pháp được sử dụng có thể không cứu được thể xác chưa được chuẩn bị khỏi một số hậu quả tai hại và thảm khốc, nhưng về lâu dài và xét cho cùng, chúng có thể định hình kinh nghiệm tương lai (có lẽ trong một kiếp sống khác) theo cách khiến người chí nguyện có khả năng hoạt động như một linh hồn tốt hơn so với trường hợp không có chúng.

Before I close this particular instruction upon glamour, I would like to call the attention of the group to the occult sentences which I gave to D.L.R. prior to his leaving the group. They have a definite relation to the group work and I would like you to give them careful consideration and study. The Old Commentary, in speaking of the work of those whose dharma it is to dissipate world glamour, uses the following illuminating sentences:

Trước khi kết thúc huấn thị cụ thể này về ảo cảm, Tôi muốn lưu ý nhóm đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho D.L.R. trước khi người đệ tử ấy rời nhóm. Chúng có mối liên hệ rõ rệt với công việc nhóm, và Tôi muốn các bạn cân nhắc, nghiên cứu chúng cẩn thận. Cổ Luận, khi nói về công việc của những người có bổn phận làm tiêu tan ảo cảm thế giới, dùng những câu mang tính soi sáng sau đây:

“They come and stand. Within the midst of whirling forms—some of beauty rare and some of [151] horror and despair—they stand. They look not here or there but, with their faces turned towards the light, they stand. Thus through their minds the pure light streams to dissipate the fogs.

“Họ đến và đứng vững. Giữa những hình tướng xoáy cuộn—có những hình tướng đẹp hiếm có, cũng có những hình tướng [151] kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng vững. Họ không nhìn đây hay đó, mà đứng vững, mặt hướng về ánh sáng. Như vậy, qua thể trí họ, ánh sáng thuần khiết tuôn đến để làm tiêu tan những màn sương.

“They come and rest. They cease their outer labours, pausing to do a different work. Within their hearts is rest. They run not here and there, but constitute a point of peace and rest. That which upon the surface veils and hides the real begins to disappear and from the heart at rest a beam of dissipating force projects, blends with the shining light and then the mists of man’s creation disappear.

“Họ đến và an nghỉ. Họ ngừng những công việc bên ngoài, tạm dừng để làm một công việc khác. Trong tim họ có sự an nghỉ. Họ không chạy đây chạy đó, mà tạo thành một điểm bình an và an nghỉ. Những gì trên bề mặt che phủ và giấu kín cái thực bắt đầu biến mất, và từ trái tim an nghỉ, một tia mãnh lực làm tiêu tan phóng chiếu ra, hòa vào ánh sáng rạng ngời, rồi những màn sương do con người tạo ra biến mất.

“They come and they observe. They own the eye of vision; likewise they own the right direction of the needed force. They see the glamour of the world, and seeing, they note behind it all the true, the beautiful, the real. Thus through the eye of Buddhi comes the power to drive away the veiling, swirling glamours of that glamorous world.

“Họ đến và quan sát. Họ có con mắt linh thị; họ cũng có khả năng định hướng đúng mãnh lực cần thiết. Họ thấy ảo cảm của thế giới, và khi thấy, họ nhận ra đằng sau tất cả những điều ấy cái chân, cái mỹ, cái thực. Như vậy, qua con mắt Bồ đề, quyền năng đến để xua đi những ảo cảm che phủ, xoáy cuộn của thế giới đầy ảo cảm ấy.

“They stand, they rest, and they observe. Such are their lives and such the service that they render to the souls of men.”

“Họ đứng vững, họ an nghỉ và họ quan sát. Đời sống của họ là như thế, và sự phụng sự mà họ dành cho linh hồn con người cũng là như thế.”

I would commend these lines to your careful thought. They convey to you not only the field of your group service but also the desired attitude of the personal life of every member of the group.

Tôi muốn gửi gắm những dòng này để các bạn suy ngẫm cẩn thận. Chúng truyền đạt cho các bạn không chỉ lĩnh vực phụng sự của nhóm, mà còn cả thái độ mong muốn trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên.

I would also like, at this point, to touch upon a factor of real importance in this work and to repeat my earlier warning: Will you remember that the effort to free yourselves from irritation or from what is called in Agni Yoga “imperil” (a peculiar yet satisfying word, my brothers) is particularly essential for this group? Irritation is exceedingly prevalent these days of nervous tension and it most [152] definitely imperils progress and retards the steps of the disciple upon the Way. It can produce dangerous group tension if present in any of you, and this induced group tension can interfere with the free play of the power and light which you are supposed to use, even when the other group members remain unconscious of the emanating source. Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus. Irritation is a disease, if I might use that word, of the solar plexus centre and it is definitely contagious to an almost alarming extent. So, my brothers, watch yourselves with care and remember that just in so far as you can live in the head and in the heart, you will end the disease of imperil and aid in the transference of the forces of the solar plexus into the heart centre.

Ở điểm này, Tôi cũng muốn đề cập đến một yếu tố thực sự quan trọng trong công việc này và nhắc lại lời cảnh báo trước đây của Tôi: Các bạn có ghi nhớ rằng nỗ lực giải phóng bản thân khỏi sự bực bội, hay khỏi điều mà Du Già Lửa gọi là “hiểm độc” (một từ lạ nhưng thỏa đáng, Các huynh đệ của Tôi), là đặc biệt thiết yếu đối với nhóm này không? Sự bực bội hết sức phổ biến trong những ngày căng thẳng thần kinh này, và nó [152] rõ ràng gây nguy hại cho sự tiến bộ và làm chậm bước chân của đệ tử trên Đường Đạo. Nếu hiện diện trong bất kỳ ai trong các bạn, nó có thể tạo ra sự căng thẳng nguy hiểm trong nhóm; và sự căng thẳng nhóm phát sinh ấy có thể cản trở sự vận hành tự do của quyền năng và ánh sáng mà các bạn có nhiệm vụ sử dụng, ngay cả khi những thành viên khác trong nhóm vẫn không nhận biết nguồn phát xạ. Sự bực bội chắc chắn tạo ra một chất độc khu trú ở vùng dạ dày và tùng thái dương. Sự bực bội là một căn bệnh, nếu Tôi có thể dùng từ ấy, của trung tâm tùng thái dương, và rõ ràng nó có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động. Vì vậy, Các huynh đệ của Tôi, hãy cẩn thận tự quan sát và ghi nhớ rằng trong chừng mực có thể sống trong đầu và tim, các bạn sẽ chấm dứt căn bệnh hiểm độc và góp phần chuyển dịch những mãnh lực của tùng thái dương vào trung tâm tim.

d. The Contrast between the Dweller and its opposite, the Angel of the Presence

d. Sự Tương Phản giữa Kẻ Chận Ngõ và đối cực của nó, Thiên Thần của Hiện Diện

The entire subject of the Dweller and its relation to the Angel (a symbolic way of dealing with a great relationship and possibility, and a great fact in manifestation) is only now possible of consideration. Only when man is an integrated personality does the problem of the Dweller truly arise, and only when the mind is alert and the intelligence organised (as is becoming the case today on a fairly large scale) is it possible for man to sense—intelligently and not just mystically—the Angel and so intuit the PRESENCE. Only then does the entire question of hindrances which the Dweller embodies, and the limitations which it provides to spiritual contact and realisation assume potent proportions. Only then can they be usefully considered and steps taken to induce right action. Only when there is adequate fusion within humanity as a whole does [153] the great human Dweller on the Threshold appear as an integrated entity, or the Dweller in a national or racial sense makes its appearance, spreading and vitalising national, racial and planetary glamour, fostering and feeding individual glamours and making the entire problem unmistakably apparent. Only then can the relation between the soul of humanity and the generated forces of its ancient and potent personality assume proportions which call for drastic activity and intelligent cooperation.

Toàn bộ chủ đề về Kẻ Chận Ngõ và mối liên hệ của nó với Thiên Thần (một cách biểu tượng để bàn đến một mối liên hệ và một khả năng lớn lao, cùng một sự thật lớn lao trong biểu hiện) chỉ đến nay mới có thể được xem xét. Chỉ khi con người là một phàm ngã tích hợp thì vấn đề Kẻ Chận Ngõ mới thực sự nảy sinh, và chỉ khi thể trí tỉnh táo cùng trí thông minh được tổ chức (như ngày nay đang diễn ra trên quy mô khá rộng), con người mới có thể cảm nhận—một cách sáng suốt chứ không chỉ theo lối thần bí—Thiên Thần, và nhờ đó trực nhận HIỆN DIỆN. Chỉ khi ấy, toàn bộ vấn đề về những chướng ngại mà Kẻ Chận Ngõ hiện thân, cùng những giới hạn mà nó đặt ra đối với sự tiếp xúc và chứng nghiệm tinh thần, mới trở nên có sức tác động lớn. Chỉ khi ấy mới có thể xem xét chúng một cách hữu ích và thực hiện những bước đi nhằm tạo ra hành động đúng đắn. Chỉ khi toàn thể nhân loại có sự dung hợp đầy đủ thì [153] Kẻ Chận Ngõ vĩ đại của nhân loại mới xuất hiện như một thực thể tích hợp, hoặc Kẻ Chận Ngõ theo nghĩa quốc gia hay chủng tộc mới xuất hiện, lan truyền và tiếp sinh lực cho ảo cảm quốc gia, chủng tộc và hành tinh, thúc đẩy và nuôi dưỡng những ảo cảm cá nhân, khiến toàn bộ vấn đề hiện ra rõ ràng không thể nhầm lẫn. Chỉ khi ấy, mối liên hệ giữa linh hồn nhân loại và những mãnh lực do phàm ngã cổ xưa, mạnh mẽ của nhân loại tạo ra mới có thể đạt đến quy mô đòi hỏi hoạt động quyết liệt và sự hợp tác sáng suốt.

Such a time has now come, and in the two books, Problems of Humanity and The Reappearance of the Christ, and also in the Wesak and June Full Moon messages, I have dealt with this most practical and urgent situation, which is in itself the guarantee of human progress toward its destined goal as well as the assertion of its major hindrances to spiritual realisation. The sections on which we shall now be engaged are of prime importance to all who are in training for initiation. I said “in training,” my brothers; I did not say that you would take initiation in this life. I know not myself whether you will or no; the issue lies in your hands and in your planned destiny—planned by your souls. Your problem is essentially that of learning to handle the Dweller on the Threshold and of ascertaining the procedures and the processes whereby the momentous activity of fusion can take place. Through the medium of this fusion the Dweller “disappears and is no more seen, though still he functions on the outer plane, the agent of the Angel; the light absorbs the Dweller, and into obscuration—radiant yet magnetic—this ancient form of life dissolves though keeping still its form; it rests and works but is not now itself.” Such are the paradoxical statements of the Old Commentary.

Một thời điểm như thế nay đã đến, và trong hai cuốn sách, Những Vấn Đề của Nhân Loại và Sự Tái Lâm của Đức Christ, cũng như trong các thông điệp dịp Trăng Tròn Wesak và tháng Sáu, Tôi đã bàn đến tình thế hết sức thiết thực và cấp bách này; chính tình thế ấy bảo đảm sự tiến bộ của nhân loại hướng đến mục tiêu định sẵn, đồng thời khẳng định những chướng ngại chủ yếu đối với sự chứng nghiệm tinh thần của nhân loại. Những phần mà giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả những ai đang được huấn luyện để điểm đạo. Các huynh đệ của Tôi, Tôi nói “đang được huấn luyện”; Tôi không nói rằng các bạn sẽ được điểm đạo trong kiếp này. Chính Tôi cũng không biết các bạn có được điểm đạo hay không; vấn đề nằm trong tay các bạn và trong vận mệnh đã hoạch định của các bạn—do linh hồn các bạn hoạch định. Về cơ bản, vấn đề của các bạn là học cách xử lý Kẻ Chận Ngõ và xác định những thủ tục cùng tiến trình mà qua đó hoạt động dung hợp có ý nghĩa trọng đại có thể diễn ra. Qua sự dung hợp này, Kẻ Chận Ngõ “biến mất và không còn được thấy nữa, dù vẫn hoạt động trên cõi bên ngoài, là tác nhân của Thiên Thần; ánh sáng hấp thụ Kẻ Chận Ngõ, và trong sự che khuất—rạng rỡ nhưng mang tính từ tính—hình thức sự sống cổ xưa này tan biến dù vẫn giữ hình tướng của mình; nó an nghỉ và làm việc, nhưng giờ đây không còn là chính nó.” Đó là những phát biểu nghịch lý của Cổ Luận.

I have earlier defined for you in as simple terms as possible the nature of the Dweller. I would like, however, [154] to enlarge upon one or two points and give one or two new suggestions which—for the sake of clarity and for your more rapid comprehension—we will tabulate as follows:

Trước đây, Tôi đã định nghĩa cho các bạn bản chất của Kẻ Chận Ngõ bằng những lời đơn giản nhất có thể. Tuy nhiên, Tôi muốn [154] mở rộng một hai điểm và đưa ra một hai gợi ý mới mà—để rõ ràng và giúp các bạn lĩnh hội nhanh hơn—chúng ta sẽ liệt kê như sau:

1. The Dweller on the Threshold is essentially the personality; it is an integrated unity composed of physical forces, vital energy, astral forces and mental energies, constituting the sum total of the lower nature.

1. Kẻ Chận Ngõ về cơ bản là phàm ngã; nó là một khối thống nhất đã tích hợp, gồm những mãnh lực hồng trần, năng lượng sinh lực, những mãnh lực cảm dục và những năng lượng trí tuệ, tạo thành toàn bộ bản chất thấp.

2. The Dweller takes form when a re-orientation of man’s life has taken place consciously and under soul impression; the whole personality is then theoretically directed towards liberation into service. The problem is to make the theory and the aspiration facts in experience.

2. Kẻ Chận Ngõ thành hình khi đời sống con người đã được tái định hướng một cách có ý thức và dưới ấn tượng của linh hồn; khi ấy, về lý thuyết, toàn bộ phàm ngã hướng đến sự giải thoát để phụng sự. Vấn đề là biến lý thuyết và khát vọng thành những sự thật trong kinh nghiệm.

3. For a great length of time the forces of the personality do not constitute a Dweller. The man is not on the threshold of divinity; he is not consciously aware of the Angel. His forces are inchoate; he works unconsciously in his environment, the victim of circumstance and of his own nature apparently and under the lure and the urge of desire for physical plane activity and existence. When, however, the life of the man is ruled from the mental plane, plus desire or ambition, and he is controlled at least to some large extent by mental influence, then the Dweller begins to take shape as a unified force.

3. Trong một thời gian rất dài, những mãnh lực của phàm ngã không tạo thành một Kẻ Chận Ngõ. Con người chưa ở trên ngưỡng cửa của thiên tính; y chưa nhận biết một cách có ý thức về Thiên Thần. Những mãnh lực của y chưa thành hình; y làm việc một cách vô thức trong môi trường của mình, dường như là nạn nhân của hoàn cảnh và của bản chất riêng, dưới sức lôi cuốn và thôi thúc của dục vọng muốn hoạt động và tồn tại trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi đời sống con người chịu sự cai quản từ cõi trí, cùng với dục vọng hay tham vọng, và ít nhất ở mức độ đáng kể y chịu sự kiểm soát của ảnh hưởng trí tuệ, thì Kẻ Chận Ngõ bắt đầu thành hình như một mãnh lực thống nhất.

4. The stages wherein the Dweller on the Threshold is recognised, subjected to a discriminating discipline and finally controlled and mastered, are mainly three:

4. Những giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ được nhận diện, được đặt dưới một kỷ luật dựa trên sự phân biện, rồi cuối cùng được kiểm soát và làm chủ, chủ yếu gồm ba giai đoạn:

a. The stage wherein the personality dominates and rules the life and ambitions and the goals of man’s life-endeavour. The Dweller then controls.

a. Giai đoạn trong đó phàm ngã thống trị và cai quản đời sống, tham vọng cùng những mục tiêu phấn đấu của con người. Khi ấy, Kẻ Chận Ngõ nắm quyền kiểm soát.

b. The stage of a growing cleavage in the consciousness [155] of the disciple. The Dweller or the personality is then urged in two directions: one, towards the pursuit of personal ambitions and desires in the three worlds; the other, in which the effort is made by the Dweller (note this statement) to take a stand upon the threshold of divinity and before the Portal of Initiation.

b. Giai đoạn có sự phân rẽ ngày càng sâu trong tâm thức [155] của đệ tử. Khi ấy, Kẻ Chận Ngõ hay phàm ngã bị thôi thúc theo hai hướng: một hướng là theo đuổi những tham vọng và dục vọng cá nhân trong ba cõi giới; hướng kia là nỗ lực của Kẻ Chận Ngõ (hãy lưu ý phát biểu này) để đứng vững trên ngưỡng cửa của thiên tính và trước Cổng Điểm Đạo.

c. The stage wherein the Dweller consciously seeks the cooperation of the soul and, though still in itself essentially constituting a barrier to spiritual progress, is more and more influenced by the soul than by its lower nature.

c. Giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ tìm kiếm sự hợp tác của linh hồn một cách có ý thức và, dù về bản chất vẫn là một chướng ngại đối với sự tiến bộ tinh thần, ngày càng chịu ảnh hưởng của linh hồn nhiều hơn là của bản chất thấp của nó.

5. When the final stage is reached (and many are now reaching it today) the disciple strives with more or less success to steady the Dweller (by learning to “hold the mind steady in the light” and thus controlling the lower nature). In this way the constant fluid changefulness of the Dweller is gradually overcome; its orientation towards reality and away from the Great Illusion is made effective, and the Angel and the Dweller are slowly brought into a close rapport.

5. Khi đạt đến giai đoạn cuối cùng (và ngày nay nhiều người đang đạt đến giai đoạn ấy), đệ tử nỗ lực, với mức độ thành công ít nhiều khác nhau, làm cho Kẻ Chận Ngõ ổn định (bằng cách học “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng” và nhờ đó kiểm soát bản chất thấp). Theo cách này, tính biến đổi linh động không ngừng của Kẻ Chận Ngõ dần dần được khắc phục; sự định hướng của nó về thực tại và rời xa Ảo Tưởng Vĩ Đại trở nên hữu hiệu, và Thiên Thần cùng Kẻ Chận Ngõ dần dần đi vào một mối tương giao mật thiết.

6. In the earlier stages of effort and of attempted control, the Dweller is positive and the Soul is negative in their effects in the three worlds of human endeavour. Then there is a period of oscillation, leading to a life of equilibrium wherein neither aspect appears to dominate; after that the balance changes and the personality steadily becomes negative and the soul or psyche becomes dominant and positive.

6. Trong những giai đoạn đầu của nỗ lực và cố gắng kiểm soát, Kẻ Chận Ngõ có tính dương, còn Linh Hồn có tính âm trong tác động của chúng nơi ba cõi giới hoạt động của con người. Sau đó là một thời kỳ dao động, dẫn đến một đời sống quân bình, trong đó dường như không phương diện nào chiếm ưu thế; tiếp đó, thế quân bình thay đổi, phàm ngã dần trở nên âm tính, còn linh hồn hay tâm hồn trở nên chiếm ưu thế và có tính dương.

7. The astrological influences can potently affect these situations and—speaking generally and within certain esoteric limits—it might be noted that: [156]

7. Các ảnh hưởng chiêm tinh có thể tác động mạnh mẽ đến những tình thế này và—nói chung, trong những giới hạn huyền bí nhất định—có thể lưu ý rằng: [156]

a.

a.

Leo

Sư Tử

controls the positive Dweller.

kiểm soát Kẻ Chận Ngõ có tính dương.

b.

b.

Gemini

Song Tử

controls the processes of oscillation.

kiểm soát các tiến trình dao động.

c.

c.

Sagittarius

Nhân Mã

controls the negative Dweller.

kiểm soát Kẻ Chận Ngõ có tính âm.

It might be added that the three signs—Scorpio, Sagittarius, Capricorn—lead finally to the fusion of the Dweller and the Angel.

Có thể nói thêm rằng ba dấu hiệu—Hổ Cáp, Nhân Mã, Ma Kết—cuối cùng dẫn đến sự dung hợp của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần.

8. The soul ray controls and conditions the activity of the Angel and its type of influence upon the Dweller. It affects karma, times and seasons.

8. Cung linh hồn kiểm soát và định hình hoạt động của Thiên Thần cùng kiểu ảnh hưởng của Thiên Thần lên Kẻ Chận Ngõ. Nó tác động đến nghiệp quả, thời điểm và thời kỳ.

9. The personality ray controls the Dweller in all the earlier states and up to the time when the soul ray begins steadily to produce a growing effect. This personality ray is, as you know, a combination of three energies which produce the fourth or personality ray, through the medium of their inter-relation over a vast period of time.

9. Cung phàm ngã kiểm soát Kẻ Chận Ngõ trong tất cả những trạng thái ban đầu, cho đến khi cung linh hồn bắt đầu đều đặn tạo ra một tác động ngày càng lớn. Cung phàm ngã này, như các bạn đã biết, là sự kết hợp của ba năng lượng; thông qua mối tương quan của chúng trong một khoảng thời gian rất dài, ba năng lượng ấy tạo ra cung thứ tư, tức cung phàm ngã.

10. Therefore, the five types of energy which I indicated to you as of importance in your own lives when I gave you indications as to the nature of your five controlling rays, govern also the relation between the Dweller and the Angel, both in the individual and in humanity as a whole. These five are the rays of the physical body, the astral ray, the mind ray, the personality ray and the soul ray.

10. Vì vậy, năm loại năng lượng mà Tôi đã chỉ ra là quan trọng trong đời sống của các bạn, khi Tôi cho các bạn những chỉ dẫn về bản chất của năm cung đang chi phối các bạn, cũng chi phối mối quan hệ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần, cả trong cá nhân lẫn toàn thể nhân loại. Năm cung này là cung thể xác, cung thể cảm dục, cung thể trí, cung phàm ngã và cung linh hồn.

11. The rays which govern humanity and which condition humanity and the present world problem are as follows:

11. Các cung chi phối nhân loại, tác động lên nhân loại và vấn đề thế giới hiện nay như sau:

a.

a.

The Soul ray

Cung linh hồn

2nd

Cung hai

humanity must express love.

nhân loại phải biểu lộ tình thương.

b.

b.

The personality ray

Cung phàm ngã

3rd

Cung ba

developing intelligence for transmutation into love-wisdom.

phát triển trí thông minh để chuyển hoá thành Bác Ái – Minh Triết.

c.

c.

Mind ray

Cung thể trí

5th

Cung năm

scientific achievement.

thành tựu khoa học.

d.

d.

Astral ray

Cung thể cảm dục

6th

Cung sáu

idealistic development.

phát triển lý tưởng.

e.

e.

Physical ray

Cung thể xác

7th

Cung bảy

organisation. Business.

tổ chức. Kinh doanh.

[157] The soul ray controls for an entire life period. The personality rays given above are for the Piscean Age which is now beginning to pass out; but these have definitely and irrevocably conditioned humanity.

[157] Cung linh hồn kiểm soát trong suốt một chu kỳ đời sống. Các cung phàm ngã nêu trên thuộc Kỷ Nguyên Song Ngư, hiện đang bắt đầu qua đi; nhưng chúng đã định hình nhân loại một cách rõ rệt và không thể đảo ngược.

You will note also that the first Ray of Will or Power is missing as is the fourth Ray of Harmony through Conflict. This fourth ray is always active as it controls in a peculiar manner the fourth creative Hierarchy and might be regarded as forming the basic personality ray of the fourth creative Hierarchy. The one given above is a transient and fleeting personality ray of a minor incarnation.

Các bạn cũng sẽ nhận thấy rằng cung một của Ý Chí hay Quyền Năng không có mặt, cũng như cung bốn của Hài Hoà qua Xung Đột. Cung bốn này luôn hoạt động vì nó kiểm soát Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư theo một cách đặc biệt, và có thể xem nó là cung phàm ngã cơ bản của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Cung đã nêu ở trên là một cung phàm ngã nhất thời và ngắn ngủi của một lần lâm phàm nhỏ.

12. In the Aquarian Age which is rapidly coming, the Dweller will present slightly different personality forces:

12. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang nhanh chóng đến gần, Kẻ Chận Ngõ sẽ biểu lộ các mãnh lực phàm ngã hơi khác:

a.

a.

Personality ray

Cung phàm ngã

5th

Cung năm

basic and determining.

cơ bản và mang tính quyết định.

b.

b.

Mind ray

Cung thể trí

4th

Cung bốn

the creative effect.

tác động sáng tạo.

c.

c.

Astral ray

Cung thể cảm dục

6th

Cung sáu

conditioning incentives.

định hình các động lực.

d.

d.

Physical ray

Cung thể xác

7th

Cung bảy

incoming ray.

cung đang đi vào.

13. Each great cycle in the zodiac is in the nature of an incarnation of the human family, and each great race is a somewhat similar happening; the latter is, however, of more importance where the human understanding and consciousness is concerned. The analogy is to the few important incarnations in the life of the soul in contra-distinction to the many unimportant and rapidly succeeding incarnations. Of the important incarnations there are three which are of major import: the Lemurian, the Atlantean, and the Aryan races.

13. Mỗi chu kỳ lớn trong hoàng đạo mang bản chất của một lần lâm phàm của gia đình nhân loại, và mỗi giống dân lớn cũng là một sự kiện có phần tương tự; tuy nhiên, sự kiện sau quan trọng hơn đối với sự thấu hiểu và tâm thức của con người. Điều này tương tự với một số ít lần lâm phàm quan trọng trong đời sống của linh hồn, đối lập với nhiều lần lâm phàm không quan trọng nối tiếp nhau nhanh chóng. Trong những lần lâm phàm quan trọng, có ba lần mang ý nghĩa trọng đại: các giống dân Lemuria, Atlantis và Arya.

14. Each race produced its own type of Dweller on the Threshold who was faced at the close of the spiritual cycle (not the physical which goes on to crystallisation) [158] when maturity was achieved and a certain initiation became possible for its advanced humanity.

14. Mỗi giống dân tạo ra một kiểu Kẻ Chận Ngõ riêng, mà giống dân ấy phải đối diện vào cuối chu kỳ tinh thần (không phải chu kỳ hồng trần, vốn tiếp tục đi đến sự kết tinh) [158] khi đã đạt đến sự trưởng thành và một cuộc điểm đạo nhất định trở nên khả thi đối với bộ phận nhân loại tiến bộ của giống dân ấy.

15. When a racial incarnation and a zodiacal cycle synchronise (which is not always the case) then there comes a significant and important focussing of the attention of the Dweller on the Angel and vice versa. This is taking place at this time at the close of the Piscean era and when the Aryan race has reached maturity and a relatively high water mark of development. Discipleship is significant of maturity, and it is with mature development that the Dweller is met. The Aryan race is ready for discipleship.

15. Khi một lần lâm phàm của giống dân và một chu kỳ hoàng đạo diễn ra đồng thời (điều không phải lúc nào cũng xảy ra), sự chú ý của Kẻ Chận Ngõ tập trung vào Thiên Thần, và ngược lại, theo một cách có thâm nghĩa và quan trọng. Hiện nay điều này đang diễn ra vào cuối thời đại Song Ngư, khi giống dân Arya đã đạt đến sự trưởng thành và một đỉnh cao phát triển tương đối. Địa vị đệ tử biểu thị sự trưởng thành, và chính khi phát triển đến độ trưởng thành, người ta mới gặp Kẻ Chận Ngõ. Giống dân Arya đã sẵn sàng cho địa vị đệ tử.

16. The development of sensitivity in the individual and in the race indicates the imminence of the recognition of the Angel from both angles of vision and the immediacy of the opportunity. This opportunity for active fusion has never been so true as now.

16. Sự phát triển tính nhạy cảm nơi cá nhân và nhân loại cho thấy việc nhận biết Thiên Thần từ cả hai góc nhìn đã gần kề, và cơ hội đang ở ngay trước mắt. Cơ hội chủ động dung hợp này chưa bao giờ hiện thực như lúc này.

17. The lines of demarcation as existing between the recognised areas of influence between the Dweller and the Angel are clearer than ever before in the history of the race. Man knows the difference between right and wrong and must now choose the way that he shall go. In the Atlantean racial crisis (which was also a complete human crisis), the history of which is perpetuated for us in the Bhagavad Gita, Arjuna—symbol of the then disciple and the world disciple—was frankly bewildered. This is not so true now. The disciples of the world and the world disciple do see the issues today relatively quite clearly. Will expediency win or will the Dweller be sacrificed with love and understanding to the Angel? This is the major problem.

17. Những đường phân định giữa các phạm vi ảnh hưởng đã được nhận biết của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần rõ ràng hơn bất cứ lúc nào trước đây trong lịch sử nhân loại. Con người biết sự khác biệt giữa đúng và sai, và giờ đây phải chọn con đường mình sẽ đi. Trong cuộc khủng hoảng của giống dân Atlantis (cũng là một cuộc khủng hoảng của toàn thể nhân loại), mà lịch sử được lưu truyền cho chúng ta trong Chí Tôn Ca, Arjuna—biểu tượng của đệ tử thời ấy và của đệ tử thế giới—quả thực đã hoang mang. Giờ đây điều ấy không còn đúng như trước. Ngày nay, các đệ tử trên thế giới và đệ tử thế giới thực sự nhìn thấy các vấn đề tương đối rõ ràng. Liệu sự vụ lợi sẽ thắng thế, hay Kẻ Chận Ngõ sẽ được hi sinh cho Thiên Thần với tình thương và sự thấu hiểu? Đây là vấn đề chính.

[159] I will ask you, my brother, to do two things: study the above ideas in the light of the present world crisis, and in the light of your own soul-personality problem.

[159] Hỡi huynh đệ của tôi, Tôi sẽ yêu cầu huynh đệ làm hai việc: nghiên cứu những ý tưởng trên dưới ánh sáng của cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay, và dưới ánh sáng của vấn đề linh hồn–phàm ngã của chính huynh đệ.

Advanced humanity stands, as the Dweller, on the very threshold of divinity. The Angel stands expectant—absorbed in the PRESENCE yet ready to absorb the Dweller. Humanity has advanced in consciousness to the very boundaries of the world of spiritual values and the kingdom of Light and of God. The Angel has “come to Earth” in expectation of recognition—an event of which the advent of Christ two thousand years ago was the symbol and the precursor. This is the situation where all advanced aspirants are concerned. It can be yours. It is the situation also where humanity as a whole is concerned and the approaching Hierarchy. The consciousness of humanity from the higher and spiritual standpoint functions today through the steadily growing band of world servers, world aspirants and world disciples, and their name is Legion.

Bộ phận nhân loại tiến bộ, với tư cách Kẻ Chận Ngõ, đang đứng ngay trên ngưỡng cửa của thiên tính. Thiên Thần đứng chờ đợi—đắm mình trong HIỆN DIỆN nhưng vẫn sẵn sàng thu nhận Kẻ Chận Ngõ vào mình. Tâm thức nhân loại đã tiến đến tận ranh giới của thế giới các giá trị tinh thần và giới của Ánh Sáng và Thượng đế. Thiên Thần đã “đến Trái Đất” trong sự chờ đợi được nhận biết—một sự kiện mà sự giáng lâm của Đức Christ hai nghìn năm trước là biểu tượng và dấu hiệu báo trước. Đây là tình thế của tất cả những người chí nguyện tiến bộ. Đó có thể là tình thế của huynh đệ. Đây cũng là tình thế của toàn thể nhân loại và Thánh đoàn đang đến gần. Ngày nay, xét từ quan điểm cao hơn và tinh thần, tâm thức nhân loại hoạt động thông qua đội ngũ ngày càng đông đảo những người phụng sự thế gian, những người chí nguyện thế giới và những đệ tử thế giới; họ đông vô số.

Humanity today is the Dweller whilst the Hierarchy of Souls is the Angel and behind stands the PRESENCE of Divinity Itself, intuited by the Hierarchy and dimly sensed by humanity but providing in this manner that threefold synthesis which is divine manifestation in form.

Ngày nay nhân loại là Kẻ Chận Ngõ, còn Thánh đoàn các Linh Hồn là Thiên Thần, và phía sau là HIỆN DIỆN của chính Thiên Tính; Thánh đoàn trực nhận HIỆN DIỆN ấy, còn nhân loại cảm nhận một cách mơ hồ, nhưng bằng cách này, HIỆN DIỆN tạo nên sự tổng hợp tam phân vốn là sự biểu hiện thiêng liêng trong hình tướng.

All these three have powerful emanations (though the emanation of the PRESENCE via Shamballa has been wisely held in leash since the human race came into being). They all have auras, if you care so to call them, and in the three worlds at present that of the Dweller is still the most powerful, just as in the life of the aspirant, his personality is as yet the dominant predisposing factor. It is this powerful human emanation which constitutes the major glamour in the life of humanity and of the individual disciple. It is a synthesis of glamour, fused and blended by the personality ray but precipitated by the effect of the steadily influencing soul ray. It [160] is the shadow or distortion of reality, now sensed for the first time on a large scale by the race of men and thrown into high relief by the light which shines from the Angel, the transmitter of energy from the PRESENCE.

Cả ba đều có những phát xạ mạnh mẽ (mặc dù phát xạ của HIỆN DIỆN thông qua Shamballa đã được kiềm giữ một cách minh triết kể từ khi nhân loại xuất hiện). Cả ba đều có hào quang, nếu các bạn muốn gọi như vậy, và hiện nay trong ba cõi giới, hào quang của Kẻ Chận Ngõ vẫn mạnh nhất, cũng như trong đời sống của người chí nguyện, phàm ngã của y vẫn là yếu tố chi phối và tạo khuynh hướng chủ đạo. Chính phát xạ mạnh mẽ này của con người tạo thành ảo cảm chủ yếu trong đời sống nhân loại và của từng đệ tử. Đó là một sự tổng hợp của ảo cảm, do cung phàm ngã dung hợp và hoà trộn, nhưng ngưng tụ do tác động của cung linh hồn đang ảnh hưởng ngày càng đều đặn. Nó [160] là cái bóng hay sự biến dạng của thực tại, mà nay lần đầu tiên nhân loại cảm nhận trên quy mô lớn, và ánh sáng toả ra từ Thiên Thần, Đấng truyền năng lượng từ HIỆN DIỆN, làm cho nó hiện rõ nổi bật.

And so they stand—Humanity and the Hierarchy. And so you stand, my brother, personality and soul, with freedom to go forward into the light if you so determine or to remain static and unprogressive, learning nothing and getting nowhere; you are equally free to return to identification with the Dweller, negating thus the influence of the Angel, refusing imminent opportunity and postponing—until a much later cycle—your determining choice. This is true of you and of Humanity as a whole. Will humanity’s third ray materialistic personality dominate the present situation or will its soul of love prove the most powerful factor, taking hold of the personality and its little issues, leading it to discriminate rightly and to recognise the true values and thus bring in the age of soul or hierarchical control? Time alone will show.

Và như thế, Nhân Loại và Thánh đoàn đứng đó. Và huynh đệ cũng đứng như thế, hỡi huynh đệ của tôi, với phàm ngã và linh hồn, tự do tiến vào ánh sáng nếu huynh đệ quyết tâm như vậy, hoặc vẫn đứng yên và không tiến bộ, không học được gì và chẳng đi đến đâu; huynh đệ cũng tự do trở lại đồng hoá với Kẻ Chận Ngõ, qua đó phủ nhận ảnh hưởng của Thiên Thần, từ chối cơ hội đang đến gần và trì hoãn sự lựa chọn mang tính quyết định của mình đến một chu kỳ muộn hơn nhiều. Điều này đúng với huynh đệ và với toàn thể Nhân Loại. Liệu phàm ngã duy vật cung ba của nhân loại sẽ chi phối tình thế hiện nay, hay linh hồn bác ái của nhân loại sẽ chứng tỏ là yếu tố mạnh nhất, nắm lấy phàm ngã cùng những vấn đề nhỏ nhặt của nó, dẫn nó đến sự phân biện đúng đắn và nhận biết các giá trị chân thực, từ đó mở ra thời đại dưới sự kiểm soát của linh hồn hay Thánh đoàn? Chỉ thời gian mới cho thấy.

I will give you no more today. I am anxious for these few essential statements to be mastered by all of you, prior to our taking up Section III. I am anxious too for the general group instructions, which you have lately received, to take much of your time, interest and attention. Inner group adjustments and more firmly established group relations are urgently needed and upon these I ask you to work. I would remind you here also that—as in all else in manifestation—there is a group personality and a group soul; you must learn clearly to distinguish between the two and to throw the entire weight of your influence, desire and pressure on the side of the Group Angel. In this way there might occur that stupendous recognition for which all initiation prepares the applicant—the revelation of the PRESENCE.

Hôm nay Tôi sẽ không truyền đạt thêm. Tôi tha thiết mong tất cả các bạn nắm vững vài điều cốt yếu này trước khi chúng ta đi vào Phần III. Tôi cũng tha thiết mong các huấn thị chung dành cho nhóm mà các bạn vừa nhận được chiếm phần lớn thời gian, sự quan tâm và chú ý của các bạn. Những điều chỉnh nội bộ nhóm và các mối quan hệ nhóm vững chắc hơn là điều hết sức cấp thiết, và Tôi yêu cầu các bạn nỗ lực thực hiện những điều này. Ở đây, Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng—cũng như mọi điều khác trong sự biểu hiện—có một phàm ngã nhóm và một linh hồn nhóm; các bạn phải học cách phân biệt rõ hai điều ấy và dồn toàn bộ sức ảnh hưởng, dục vọng và sức thúc đẩy của mình về phía Thiên Thần của Nhóm. Theo cách này, sự nhận biết kỳ diệu mà mọi cuộc điểm đạo đều chuẩn bị cho người xin điểm đạo có thể xảy ra—sự mặc khải HIỆN DIỆN.

SECTION THREE: THE ENDING OF GLAMOUR – PHẦN BA: CHẤM DỨT ẢO CẢM

[161] We come now to the consideration of the third section relating to world glamour. It is difficult to write clearly about this matter because we are in the midst of its most concentrated expression—the worst the world has ever seen because glamour, incident to centuries of greed and selfishness, of aggression and materialism, has been focussed in a triplicity of nations. It is, therefore, easily to be seen and most effective in manifestation. Three nations express the three aspects of world glamour (illusion, glamour and maya) in an amazing manner, and their powerful assault upon the consciousness of humanity is dependent not only upon the response of Germany, Japan and Italy to this ancient miasma but also upon the fact that every nation—United Nations as well as Totalitarian Nations—are tainted with this universal condition. The freedom of the world is consequently largely dependent upon those people in every nation who (within themselves) have moved forward out of one or other of these “glamorous illusions and mayavic impressions” of the human soul into a state of awareness wherein they can see the conflict in its wider terms, i.e., as that existing for them between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE.

[161] Giờ đây chúng ta đi vào xem xét phần thứ ba liên quan đến ảo cảm thế giới. Khó viết một cách rõ ràng về vấn đề này vì chúng ta đang ở giữa biểu hiện tập trung nhất của nó—biểu hiện tồi tệ nhất mà thế giới từng chứng kiến, bởi ảo cảm nảy sinh từ nhiều thế kỷ tham lam và ích kỷ, xâm lược và chủ nghĩa duy vật đã tập trung vào một bộ ba quốc gia. Vì vậy, có thể dễ dàng nhìn thấy nó, và nó có hiệu lực rất mạnh trong sự biểu hiện. Ba quốc gia biểu lộ ba phương diện của ảo cảm thế giới (ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực) một cách đáng kinh ngạc; cuộc tấn công mạnh mẽ của họ vào tâm thức nhân loại không chỉ phụ thuộc vào sự đáp ứng của Đức, Nhật Bản và Ý đối với chướng khí cổ xưa này, mà còn vào thực tế rằng mọi quốc gia—các quốc gia Đồng Minh cũng như các quốc gia Toàn Trị—đều nhiễm tình trạng phổ biến ấy. Do đó, tự do của thế giới phần lớn phụ thuộc vào những người trong mỗi quốc gia đã tiến lên (trong chính mình), thoát khỏi một trong những “ảo tưởng mang tính ảo cảm và những ấn tượng mang tính ảo lực” này của linh hồn nhân loại để đi vào một trạng thái nhận biết, trong đó họ có thể nhìn cuộc xung đột trên bình diện rộng hơn, tức là cuộc xung đột hiện hữu đối với họ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN.

These people are the aspirants, disciples and initiates of the world. They are aware of the dualism, the essential dualism, of the conflict and are not so pre-eminently conscious of the threefold nature and the differentiated condition of the situation which underlies the realised dualism. [162] Their approach to the problem is therefore simpler and, because of this, world direction lies largely in their hands at this time.

Những người này là các người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới. Họ nhận biết tính nhị nguyên, tính nhị nguyên cốt yếu của cuộc xung đột, nhưng không nhận biết nổi bật đến thế về bản chất tam phân và trạng thái biến phân của tình thế nằm bên dưới tính nhị nguyên đã được nhận ra. [162] Vì vậy, cách họ tiếp cận vấn đề đơn giản hơn, và chính vì điều này, hiện nay việc định hướng thế giới phần lớn nằm trong tay họ.

It is right here that religion has, as a whole, gone astray. I refer to orthodox religion. It has been preoccupied with the Dweller on the Threshold and the eyes of the theologian have been held upon the material, phenomenal aspect of life through fear and its immediacy, and the fact of the Angel has been a theory and a point of wishful thinking. The balance is being adjusted by the humanitarian attitudes which are so largely coming into control, irrespective of any theological trend. These attitudes take their stand upon the belief of the innate rightness of the human spirit, in the divinity of man, and upon the indestructible nature of the soul of mankind. This inevitably brings in the concept of the PRESENCE, or of God Immanent and is the result of the needed revolt against the belief in God Transcendent. This spiritual revolution was entirely a balancing process and need cause no basic concern, for God Transcendent eternally exists but can only be seen and known and correctly approached by God Immanent—immanent in individual man, in groups and nations, in organised forms and in religion, in humanity as a whole and in the planetary Life Itself. Humanity is today (and has been for ages) battling illusion, glamour and maya. Advanced thinkers, those upon the Probationary Path, upon the Path of Discipleship, and the Path of Initiation have reached a point where materialism and spirituality, the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE, and the basic dualism of manifestation can be seen clearly defined. Because of this clarity of demarcation, the issues underlying the present world events, the objectives of the present world-wide struggle, the modes and methods of re-establishing the spiritual contact so prevalent in Atlantean [163] days and so long lost, and the recognition of the techniques which can bring in the new world era and its cultural order can be clearly noted and appraised.

Chính ở điểm này, tôn giáo nói chung đã đi chệch hướng. Tôi muốn nói đến tôn giáo chính thống. Tôn giáo ấy đã quá chú tâm đến Kẻ Chận Ngõ, và nỗi sợ hãi cùng tính cấp bách của nó đã giữ ánh mắt của nhà thần học nơi phương diện vật chất, hiện tượng của đời sống, còn sự hiện hữu của Thiên Thần chỉ là một lý thuyết và một điều mong ước. Những thái độ nhân đạo đang ngày càng chiếm ưu thế, bất kể khuynh hướng thần học nào, đang điều chỉnh lại thế quân bình. Những thái độ này đặt nền tảng trên niềm tin vào tính đúng đắn vốn có của tinh thần con người, vào thiên tính nơi con người và vào bản chất bất hoại của linh hồn nhân loại. Điều này tất yếu đưa đến khái niệm HIỆN DIỆN, hay Thượng đế Nội Tại, và là kết quả của sự phản kháng cần thiết chống lại niềm tin vào Thượng đế Siêu Việt. Cuộc cách mạng tinh thần này hoàn toàn là một tiến trình tạo lập quân bình, và không nhất thiết gây ra bất cứ mối lo ngại căn bản nào, bởi Thượng đế Siêu Việt tồn tại vĩnh cửu, nhưng chỉ Thượng đế Nội Tại mới có thể nhìn thấy, biết và tiếp cận Ngài một cách đúng đắn—Thượng đế nội tại trong từng con người, trong các nhóm và quốc gia, trong những hình tướng có tổ chức và trong tôn giáo, trong toàn thể nhân loại và trong chính Sự Sống hành tinh. Ngày nay nhân loại đang (và từ bao thời đại đã luôn) đấu tranh với ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Những nhà tư tưởng tiến bộ, những người trên Con Đường Dự Bị, trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo đã đạt đến một điểm mà ở đó có thể thấy rõ ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và tinh thần, giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN, cũng như tính nhị nguyên căn bản của sự biểu hiện. Nhờ sự phân định rõ ràng này, có thể nhận biết và thẩm định rõ các vấn đề nằm bên dưới những biến cố thế giới hiện nay, các mục tiêu của cuộc đấu tranh đang diễn ra trên toàn thế giới, những cách thức và phương pháp tái lập sự tiếp xúc tinh thần vốn rất phổ biến vào thời Atlantis [163] nhưng đã mất từ lâu, cùng việc nhận biết các kỹ thuật có thể mở ra thời đại thế giới mới và trật tự văn hoá của nó.

All generalisations admit of error. It might, however, be said that Germany has focussed in herself world glamour—the most potent and expressive of the three aspects of glamour. Japan is manifesting the force of maya—the crudest form of material force. Italy, individualistic and mentally polarised, is the expression of world illusion. The United Nations, with all their faults, limitations, weaknesses and nationalisms, are focussing the conflict between the Dweller and the Angel, and thus the three forms of glamour and the final form of the conflict between the spiritual ideal and its material opponent are appearing simultaneously. The United Nations are, however, gradually and most decisively throwing the weight of their effort and aspiration on to the side of the Angel, thus restoring the lost balance and slowly producing on a planetary scale those attributes and conditions which will eventually dispel illusion, dissipate glamour and devitalise the prevalent maya. This they are doing by the increased clear thinking of the general public of all the nations, bound together to conquer the three Axis Powers, by their growing ability to conceive ideas in terms of the whole, in terms of a desirable world order or federation, and their capacity to discriminate between the Forces of Light and the potency of evil or materialism.

Mọi sự khái quát hoá đều có thể sai lầm. Tuy nhiên, có thể nói rằng nước Đức đã tập trung trong mình ảo cảm thế giới—phương diện mạnh mẽ và biểu lộ rõ nhất trong ba phương diện của ảo cảm. Nhật Bản đang biểu hiện mãnh lực của ảo lực—hình thức thô sơ nhất của mãnh lực vật chất. Nước Ý, mang tính cá nhân chủ nghĩa và phân cực trí tuệ, là biểu hiện của ảo tưởng thế giới. Các quốc gia Đồng Minh, với mọi lỗi lầm, giới hạn, nhược điểm và chủ nghĩa dân tộc của họ, đang tập trung cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần; vì vậy, ba hình thức của ảo cảm và hình thức cuối cùng của cuộc xung đột giữa lý tưởng tinh thần và đối thủ vật chất của nó đang xuất hiện đồng thời. Tuy nhiên, các quốc gia Đồng Minh đang dần dần và hết sức dứt khoát dồn sức nặng của nỗ lực và khát vọng về phía Thiên Thần, qua đó khôi phục thế quân bình đã mất và chậm rãi tạo ra trên quy mô hành tinh những thuộc tính và điều kiện mà cuối cùng sẽ xua tan ảo tưởng, làm tiêu tan ảo cảm và làm suy kiệt sinh lực của ảo lực đang phổ biến. Họ đang thực hiện điều này nhờ tư duy ngày càng sáng rõ của công chúng thuộc tất cả các quốc gia đang liên kết với nhau để đánh bại ba cường quốc phe Trục, nhờ khả năng ngày càng tăng của họ trong việc hình thành ý tưởng xét theo toàn thể, xét theo một trật tự thế giới hay một liên bang đáng mong muốn, và nhờ khả năng phân biện giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và sức mạnh của cái ác hay chủ nghĩa duy vật.

The work being done by those who see the world stage as the arena for the conflict between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE might be itemised as:

Công việc mà những người nhìn sân khấu thế giới như đấu trường của cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN đang thực hiện có thể liệt kê như sau:

1. The producing of those world conditions in which the Forces of Light can overcome the Forces of Evil. This they do by the weight of their armed forces, plus their clear insight. [164]

1. Tạo ra những điều kiện thế giới trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng có thể chiến thắng các Mãnh Lực của Cái Ác. Họ thực hiện điều này bằng sức mạnh của các lực lượng vũ trang, cùng với sự thấy biết sáng rõ của mình. [164]

2. The educating of humanity in the distinction between:

2. Giáo dục nhân loại về sự khác biệt giữa:

a. Spirituality and materialism, pointing to the differing goals of the combatant forces.

a. Tinh thần và chủ nghĩa duy vật, chỉ ra các mục tiêu khác nhau của những lực lượng đang giao chiến.

b. Sharing and greed, outlining a future world wherein the Four Freedoms will be dominant and all will have that which is needed for right living-processes.

b. Chia sẻ và tham lam, phác hoạ một thế giới tương lai trong đó Bốn Quyền Tự Do sẽ chiếm ưu thế và mọi người đều có những gì cần thiết cho các tiến trình sống đúng đắn.

c. Light and dark, demonstrating the difference between an illumined future of liberty and opportunity, and the dark future of slavery.

c. Ánh sáng và bóng tối, cho thấy sự khác biệt giữa một tương lai được soi sáng của tự do và cơ hội, với một tương lai đen tối của cảnh nô lệ.

d. Fellowship and separation, indicating a world order where racial hatreds, caste distinctions and religious differences will form no barrier to international understanding, and the Axis order of master races, determined religious attitudes, and enslaved peoples.

d. Tình huynh đệ và sự chia rẽ, chỉ ra một trật tự thế giới trong đó thù hận chủng tộc, phân biệt đẳng cấp và khác biệt tôn giáo sẽ không tạo thành rào cản đối với sự thấu hiểu quốc tế, đối lập với trật tự của phe Trục gồm các giống dân thống trị, những thái độ tôn giáo cứng nhắc và các dân tộc bị nô dịch.

e. The whole and the part, pointing to the time which is approaching (under the evolutionary urge of spirit) wherein the part or the point of life assumes its responsibility for the whole, and the whole exists for the good of the part.

e. Toàn thể và bộ phận, hướng đến thời kỳ đang đến gần (dưới sự thôi thúc tiến hoá của tinh thần), trong đó bộ phận hay điểm sự sống đảm nhận trách nhiệm của mình đối với toàn thể, và toàn thể tồn tại vì lợi ích của bộ phận.