Trích nội dung chương
The dark aspect has been brought about by ages of glamour. The light is being emphasised and made clear by the world aspirants and disciples who by their attitudes, their actions, their writings and their utterances are bringing the light into dark places. Bao thời đại của ảo cảm đã tạo ra phương diện tối tăm. Những người chí nguyện và đệ tử thế giới đang nhấn mạnh và làm rõ ánh sáng; bằng thái độ, hành động, các tác phẩm và lời nói của mình, họ đang đưa ánh sáng vào những nơi tối tăm.
The dark aspect has been brought about by ages of glamour. The light is being emphasised and made clear by the world aspirants and disciples who by their attitudes, their actions, their writings and their utterances are bringing the light into dark places.
Bao thời đại của ảo cảm đã tạo ra phương diện tối tăm. Những người chí nguyện và đệ tử thế giới đang nhấn mạnh và làm rõ ánh sáng; bằng thái độ, hành động, các tác phẩm và lời nói của mình, họ đang đưa ánh sáng vào những nơi tối tăm.
3. Preparing the way for the three spiritual energies which will sweep humanity into an era of comprehension, leading to a focussed mental clarification of men’s minds throughout the world. These three imminent energies are: [165]
3. Chuẩn bị con đường cho ba năng lượng tinh thần sẽ cuốn nhân loại vào một kỷ nguyên thấu hiểu, dẫn đến sự khai sáng trí tuệ tập trung nơi thể trí của con người trên khắp thế giới. Ba năng lượng sắp đến này là: [165]
a. The energy of the intuition which will gradually dispel world illusion, and produce automatically a great augmentation of the ranks of the initiates.
a. Năng lượng trực giác sẽ dần dần xua tan ảo tưởng thế giới và tự động làm gia tăng mạnh mẽ hàng ngũ các điểm đạo đồ.
b. The activity of light which will dissipate, by the energy of illumination, the world glamour and bring many thousands on to the Path of Discipleship.
b. Hoạt động của ánh sáng, thông qua năng lượng soi sáng, sẽ làm tiêu tan ảo cảm thế giới và đưa nhiều nghìn người bước vào Con Đường Đệ Tử.
c. The energy of inspiration which will bring about, through the medium of its sweeping potency, the devitalisation or the removal, as by a wind, of the attractive power of maya or substance. This will release untold thousands on to the Path of Probation.
c. Năng lượng cảm hứng, thông qua sức mạnh cuốn quét của nó, sẽ làm suy kiệt sinh lực hoặc cuốn đi như một ngọn gió sức hút của ảo lực hay chất liệu. Điều này sẽ giải phóng vô số nghìn người để bước vào Con Đường Dự Bị.
4. Releasing new life into the planet through the medium of every possible agency. The first step towards this release is the proving that the power of materialism is broken by the complete defeat of the Axis Powers and, secondly, by the ability of the United Nations to demonstrate (when this has been done) the potency of the spiritual values by their constructive undertakings to restore world order and to lay those foundations which will guarantee a better and more spiritual way of life. These constructive attitudes and undertakings must be assumed individually by every person, and by nations as collective wholes. The first is being undertaken at this time. The second remains as yet to be done.
4. Giải phóng sự sống mới vào hành tinh thông qua mọi phương tiện có thể. Bước đầu tiên hướng đến sự giải phóng này là chứng minh rằng quyền lực của chủ nghĩa duy vật đã bị phá vỡ bằng sự thất bại hoàn toàn của các cường quốc phe Trục; và bước thứ hai là khả năng của các quốc gia Đồng Minh chứng tỏ (sau khi điều này hoàn tất) sức mạnh của các giá trị tinh thần qua những công cuộc xây dựng nhằm khôi phục trật tự thế giới và đặt những nền móng bảo đảm một lối sống tốt đẹp hơn và có tính tinh thần hơn. Mỗi người với tư cách cá nhân, và các quốc gia với tư cách những toàn thể tập hợp, đều phải thể hiện những thái độ này và đảm nhận những công cuộc xây dựng ấy. Hiện nay điều thứ nhất đang được thực hiện. Điều thứ hai vẫn còn phải làm.
5. Bringing home to the nations of the world the truths taught by the Buddha, the Lord of Light, and the Christ, the Lord of Love. In this connection it might be pointed out that basically:
5. Làm cho các quốc gia trên thế giới thấu hiểu sâu sắc những chân lý mà Đức Phật, Chúa Tể của Ánh Sáng, và Đức Christ, Chúa Tể của Tình Thương, đã giảng dạy. Về phương diện này, có thể chỉ ra rằng về căn bản:
a. The Axis nations need to grasp the teaching of the Buddha as He enunciated it in the Four Noble [166] Truths; they need to realise that the cause of all sorrow and woe is desire—desire for that which is material.
a. Các quốc gia phe Trục cần nắm bắt giáo lý của Đức Phật như Ngài đã trình bày trong Tứ Diệu [166] Đế; họ cần nhận ra rằng nguyên nhân của mọi đau khổ và bất hạnh là dục vọng—dục vọng đối với những gì thuộc về vật chất.
b. The United Nations need to learn to apply the Law of Love as enunciated in the life of Christ and to express the truth that “no man liveth unto himself” and no nation either, and that the goal of all human effort is loving understanding, prompted by a programme of love for the whole.
b. Các quốc gia Đồng Minh cần học cách áp dụng Định luật Bác Ái như đã được thể hiện trong cuộc đời Đức Christ, và biểu lộ chân lý rằng “không ai sống chỉ cho riêng mình”, cũng không quốc gia nào như vậy, và rằng mục tiêu của mọi nỗ lực của con người là sự thấu hiểu đầy tình thương, được thúc đẩy bởi một chương trình bác ái dành cho toàn thể.
If the lives and teachings of these two great Avatars can be comprehended and wrought out anew in the lives of men today, in the world of human affairs, in the realm of human thinking and in the arena of daily living, the present world order (which is today largely disorder) can be so modified and changed that a new world and a new race of men can gradually come into being. Renunciation and the use of the sacrificial will should be the keynote for the interim period after the war, prior to the inauguration of the New Age.
Nếu cuộc đời và giáo lý của hai Đấng Hoá Thân vĩ đại này có thể được thấu hiểu và thực hiện lại trong đời sống của con người ngày nay, trong thế giới các hoạt động nhân loại, trong lĩnh vực tư tưởng con người và trên trường đời sống hằng ngày, thì trật tự thế giới hiện nay (ngày nay phần lớn là hỗn loạn) có thể được điều chỉnh và thay đổi đến mức một thế giới mới và một nhân loại mới có thể dần dần hình thành. Sự từ bỏ và việc vận dụng ý chí hi sinh nên là chủ âm cho thời kỳ chuyển tiếp sau chiến tranh, trước khi Kỷ Nguyên Mới bắt đầu.
Students need to remember that all manifestations and every point of crisis are symbolised by the ancient symbol of a point within the circle, the focus of power within a sphere of influence or aura. So it is today with the entire problem of ending the world glamour and illusion which fundamentally lie behind the present acute situation and world catastrophe. The possibility of such a dispelling and dissipation is definitely centred in the two Avatars, the Buddha and the Christ.
Các đạo sinh cần nhớ rằng mọi biểu hiện và mọi điểm khủng hoảng đều được tượng trưng bằng biểu tượng cổ xưa của một điểm nằm trong vòng tròn, tiêu điểm quyền năng nằm trong một khối cầu ảnh hưởng hay hào quang. Ngày nay cũng vậy đối với toàn bộ vấn đề chấm dứt ảo cảm và ảo tưởng thế giới, vốn là những yếu tố căn bản nằm sau tình thế gay gắt và thảm hoạ thế giới hiện nay. Khả năng xua tan và làm tiêu tan như vậy rõ ràng tập trung nơi hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ.
Within the world of glamour—the world of the astral plane and of the emotions—appeared a point of light. The Lord of Light, the Buddha, undertook to focus in Himself the illumination which would eventually make possible the dissipation of glamour. Within the world of illusion—the world of the mental plane—appeared the Christ, the Lord [167] of Love Himself, Who embodied in Himself the power of the attractive will of God. He undertook to dispel illusion by drawing to Himself (by the potency of love) the hearts of all men, and stated this determination in the words, “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” (John 12:32) From the point they then will have reached, the world of spiritual perception, of truth and of divine ideas will stand revealed. The result will be the disappearing of illusion.
Trong thế giới ảo cảm—thế giới của cõi cảm dục và của cảm xúc—đã xuất hiện một điểm ánh sáng. Chúa Tể Ánh sáng, Đức Phật, đảm nhận việc tập trung trong chính Ngài sự soi sáng mà cuối cùng sẽ khiến việc làm tiêu tan ảo cảm trở nên khả thi. Trong thế giới ảo tưởng—thế giới của cõi trí—đã xuất hiện Đức Christ, chính Chúa Tể [167] của Tình thương, Đấng thể hiện trong chính Ngài quyền năng của ý chí thu hút của Thượng đế. Ngài đảm nhận việc xua tan ảo tưởng bằng cách thu hút trái tim của mọi người về với Ngài (nhờ sức mạnh của tình thương), và tuyên bố quyết tâm này qua lời: “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.” (Giăng 12:32) Từ điểm mà khi ấy họ đã đạt tới, thế giới của tri giác tinh thần, của chân lý và của các ý tưởng thiêng liêng sẽ hiển lộ. Kết quả sẽ là sự biến mất của ảo tưởng.
The combined work of these two great Sons of God, concentrated through the world disciples and through Their initiates must and will inevitably shatter illusion and dispel glamour—the one by the intuitive recognition of reality by minds attuned to it, and the other by the pouring in of the light of reason. The Buddha made the first planetary effort to dissipate world glamour; the Christ made the first planetary effort towards the dispelling of illusion. Their work must now be intelligently carried forward by a humanity wise enough to recognise its dharma. Men are being rapidly disillusioned and will consequently see more clearly. The world glamour is being steadily removed from the ways of men. These two developments have been brought about by the incoming new ideas, focussed through the world intuitives and released to the general public by the world thinkers. It has been also largely aided by the well-nigh unconscious, but none the less real, recognition of the true meaning of these Four Noble Truths by the masses. Disillusioned and de-glamoured (if I may use such a term), humanity awaits the coming revelation. This revelation will be brought about by the combined efforts of the Buddha and the Christ. All that we can foresee or foretell anent that revelation is that some potent and far-reaching results will be achieved by the merging of light and love, and by the reaction of “lighted substance to the attractive power of love.” In this sentence I have given those who can understand [168] a profound and useful hint as to the method and purpose of the undertaking which was staged for the June Full Moon, 1942. I have also given a clue to the true understanding of the work of these Avatars—a thing hitherto quite unrealised. It might be added that when an appreciation of the meaning of the words “transfiguration of a human being” is gained, the realisation will come that when “the body is full of light” then “in that light shall we see LIGHT.” This means that when the personality has reached a point of purification, of dedication and of illumination, then the attractive power of the soul (whose nature is love and understanding) can function, and fusion of these two will take place. This is what the Christ proved and demonstrated.
Công việc phối hợp của hai Con của Thượng đế vĩ đại này, tập trung qua các đệ tử trên thế giới và qua các điểm đạo đồ của Các Ngài, phải và chắc chắn sẽ phá tan ảo tưởng và xua tan ảo cảm—ảo tưởng nhờ sự nhận biết thực tại bằng trực giác của những thể trí đã hòa điệu với thực tại, còn ảo cảm nhờ ánh sáng của lý trí tuôn vào. Đức Phật đã thực hiện nỗ lực đầu tiên trên quy mô hành tinh để làm tiêu tan ảo cảm thế giới; Đức Christ đã thực hiện nỗ lực đầu tiên trên quy mô hành tinh nhằm xua tan ảo tưởng. Giờ đây, nhân loại phải tiếp tục công việc của Các Ngài một cách sáng suốt, với đủ minh triết để nhận biết bổn phận của mình. Con người đang nhanh chóng thoát khỏi ảo tưởng và do đó sẽ thấy rõ hơn. Ảo cảm thế giới đang dần được loại bỏ khỏi những con đường của con người. Hai bước phát triển này xuất phát từ các ý tưởng mới đang đi vào, tập trung qua những người có trực giác trên thế giới và được các nhà tư tưởng trên thế giới truyền đến công chúng. Tiến trình ấy cũng nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ việc quần chúng nhận biết ý nghĩa chân thực của Tứ Diệu Đế, một sự nhận biết gần như vô thức nhưng vẫn có thực. Thoát khỏi ảo tưởng và được giải trừ ảo cảm (nếu Tôi có thể dùng một thuật ngữ như thế), nhân loại đang chờ đợi sự mặc khải sắp tới. Sự mặc khải này sẽ đến nhờ những nỗ lực phối hợp của Đức Phật và Đức Christ. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy trước hoặc tiên đoán về sự mặc khải ấy là sự hòa nhập của ánh sáng và tình thương, cùng với đáp ứng của “chất liệu được soi sáng đối với quyền năng thu hút của tình thương”, sẽ đem lại một số kết quả mạnh mẽ và sâu rộng. Trong câu này, Tôi đã trao cho những ai có thể thấu hiểu [168] một gợi ý sâu sắc và hữu ích về phương pháp và mục đích của công việc đã được triển khai vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942. Tôi cũng đã trao một manh mối để thấu hiểu đúng công việc của các Đấng Hoá Thân này—một điều cho đến nay hoàn toàn chưa được nhận biết. Có thể nói thêm rằng khi hiểu được ý nghĩa của những lời “sự Biến hình của một con người”, người ta sẽ nhận ra rằng khi “thân thể tràn đầy ánh sáng” thì “trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG”. Điều này có nghĩa là khi phàm ngã đã đạt đến một mức độ thanh luyện, tận hiến và soi sáng, thì quyền năng thu hút của linh hồn (vốn có bản chất là tình thương và sự thấu hiểu) có thể hoạt động, và sự dung hợp giữa linh hồn và phàm ngã sẽ diễn ra. Đây là điều Đức Christ đã chứng minh và thể hiện.
When the work of the Buddha (or the embodied buddhic principle) is consummated in the aspiring disciple and in his integrated personality, then the full expression of the work of the Christ (the embodied principle of love) can also be consummated and both these potencies—light and love—will find radiant expression in the transfigured disciple. What is true, therefore, of the individual is true also of humanity as a whole, and today humanity (having reached maturity) can “enter into realisation” and consciously take part in the work of enlightenment and of spiritual, loving activity. The practical effects of this process will be the dissipation of glamour and the release of the human spirit from the thraldom of matter; it will produce, also, the dispelling of illusion and the recognition of truth as it exists in the consciousness of those who are polarised in the “awareness of the Christ.”
Khi công việc của Đức Phật (hay nguyên khí Bồ đề được thể hiện) hoàn tất trong người đệ tử có khát vọng và trong phàm ngã tích hợp của y, thì sự biểu hiện trọn vẹn của công việc của Đức Christ (nguyên khí tình thương được thể hiện) cũng có thể hoàn tất, và cả hai sức mạnh này—ánh sáng và tình thương—sẽ biểu hiện rực rỡ trong người đệ tử đã Biến hình. Do đó, điều đúng với cá nhân cũng đúng với toàn thể nhân loại, và ngày nay nhân loại (đã đạt đến sự trưởng thành) có thể “bước vào chứng nghiệm” và tham gia một cách hữu thức vào công việc giác ngộ và hoạt động tinh thần đầy tình thương. Những hiệu quả thực tiễn của tiến trình này sẽ là việc làm tiêu tan ảo cảm và giải phóng tinh thần con người khỏi sự nô dịch của vật chất; tiến trình ấy cũng sẽ xua tan ảo tưởng và đem lại sự nhận biết chân lý như chân lý hiện hữu trong tâm thức của những ai phân cực trong “sự nhận biết về Đức Christ”.
This is necessarily no rapid process but is an ordered and regulated procedure, sure in its eventual success but relatively slow also in its establishment and sequential process. This process was initiated upon the astral plane [169] by the Buddha, and on the mental plane when Christ manifested on Earth. It indicated the approaching maturity of humanity. The process has been slowly gathering momentum as these two great Beings have gathered around Them Their disciples and initiates during the past two thousand years. It has reached a point of intensive usefulness as the channel of communication between Shamballa and the Hierarchy has been opened and enlarged, and as the contact between these two great Centres and Humanity has been more firmly established.
Tất nhiên, đây không phải là một tiến trình nhanh chóng, mà là một phương thức có trật tự và được điều chỉnh, chắc chắn sẽ thành công cuối cùng nhưng cũng tương đối chậm trong việc thiết lập và diễn tiến tuần tự. Đức Phật đã khởi đầu tiến trình này trên cõi cảm dục [169], và tiến trình ấy bắt đầu trên cõi trí khi Đức Christ biểu hiện trên Trái Đất. Nó báo hiệu nhân loại đang tiến gần đến sự trưởng thành. Tiến trình này đã chậm rãi gia tăng đà phát triển khi hai Đấng vĩ đại này quy tụ quanh Các Ngài những đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài trong hai nghìn năm qua. Nó đã đạt đến mức độ hữu ích cao khi kênh giao tiếp giữa Shamballa và Thánh đoàn được mở ra và mở rộng, và khi sự tiếp xúc giữa hai Trung Tâm vĩ đại này với Nhân loại được thiết lập vững chắc hơn.
At the June Full Moon, 1942, the first test as to the directness of the communication between the Centre where the Will of God holds sway, the Centre where the Love of God rules, and the Centre where there is intelligent expectancy was made. The medium of the test was the united effort of the Christ, of the Buddha, and of those who responded to Their blended influence. This test had to be carried out in the midst of the terrific onslaught of the powers of evil and was extended over the two weeks beginning on the day of the Full Moon (May 30th 1942) and ending on June 15th 1942. There was a great concentration of the Spiritual Forces at that time, and the use of a special Invocation (one which humanity itself may not use), but the success or failure of the test was, in the last analysis, determined by mankind itself.
Vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942, cuộc thử nghiệm đầu tiên về tính trực tiếp của sự giao tiếp giữa Trung Tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế chi phối, Trung Tâm nơi Tình thương của Thượng đế cai quản, và Trung Tâm nơi có sự mong đợi sáng suốt đã diễn ra. Phương tiện của cuộc thử nghiệm là nỗ lực hợp nhất của Đức Christ, Đức Phật và những người đáp ứng ảnh hưởng hòa quyện của Các Ngài. Cuộc thử nghiệm này phải tiến hành giữa cuộc tấn công dữ dội của các quyền lực tà ác, và kéo dài trong hai tuần, bắt đầu vào ngày Trăng Tròn (30 tháng Năm năm 1942) và kết thúc vào ngày 15 tháng Sáu năm 1942. Khi ấy có một sự tập trung lớn của các Mãnh Lực Tinh Thần, cùng với việc sử dụng một lời Khẩn Cầu đặc biệt (một lời mà chính nhân loại không được sử dụng), nhưng xét cho cùng, chính nhân loại quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc thử nghiệm.
You may feel, though wrongly, that not enough people know about or understand the nature of the opportunity or what is transpiring. But the success of such a test is not dependent upon the esoteric knowledge of the few, the relatively few, to whom the facts and the information have been partially imparted. It is dependent also upon the tendency of the many who unconsciously aspire towards the spiritual realities, who seek for a new and better way of life for all, who desire the good of the whole and whose [170] longing and desire is for a true experience of goodness, of right human relations and of spiritual enterprise among men. Their name is Legion and they are to be found in every nation.
Các bạn có thể cảm thấy, dù cảm nhận ấy là sai, rằng chưa đủ người biết hoặc thấu hiểu bản chất của cơ hội hay những gì đang diễn ra. Nhưng thành công của một cuộc thử nghiệm như thế không phụ thuộc vào kiến thức nội môn của số ít người, tương đối ít người, đã được truyền đạt một phần các sự kiện và thông tin. Nó còn phụ thuộc vào khuynh hướng của đông đảo những người vô thức hướng khát vọng về các thực tại tinh thần, tìm kiếm một lối sống mới và tốt đẹp hơn cho mọi người, mong muốn điều tốt lành cho toàn thể, và có [170] niềm khao khát cùng ước muốn thực sự trải nghiệm lòng thiện, những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và hoạt động tinh thần trong nhân loại. Tên họ là Quân Đoàn, và họ hiện diện trong mọi quốc gia.
When the Will of God, expressed in Shamballa and focussed in the Buddha, the Love of God, expressed in the Hierarchy and focussed through the Christ, and the intelligent desire of humanity, focussed through the world disciples, the world aspirants and the men of goodwill are all brought into line—either consciously or unconsciously—then a great re-orientation can and will take place. This event is something that can happen.
Khi Ý Chí của Thượng Đế, biểu hiện tại Shamballa và tập trung trong Đức Phật, Tình thương của Thượng đế, biểu hiện trong Thánh đoàn và tập trung qua Đức Christ, cùng với dục vọng sáng suốt của nhân loại, tập trung qua các đệ tử trên thế giới, những người chí nguyện trên thế giới và những người thiện chí, tất cả đều được đưa vào sự chỉnh hợp—một cách hữu thức hoặc vô thức—thì một sự tái định hướng lớn có thể và sẽ diễn ra. Đây là một sự kiện có thể xảy ra.
The first result will be the illumination of the astral plane and the beginning of the process which will dissipate glamour; the second result will be the irradiation of the mental plane and the dispelling of all past illusions and the gradual revelation of the new truths of which all past ideals and so-called formulations of truth have only been the signposts. Ponder on that statement. The signpost indicates the way to go; it does not reveal the goal. It is indicative but not conclusive. So with all truth up to the present time.
Kết quả đầu tiên sẽ là sự soi sáng cõi cảm dục và khởi đầu tiến trình làm tiêu tan ảo cảm; kết quả thứ hai sẽ là sự tỏa chiếu ánh sáng trên cõi trí, việc xua tan mọi ảo tưởng trong quá khứ và sự mặc khải dần dần những chân lý mới, mà mọi lý tưởng trong quá khứ cùng những cái gọi là cách diễn đạt chân lý chỉ là những biển chỉ đường. Hãy suy ngẫm về lời này. Biển chỉ đường chỉ hướng đi; nó không mặc khải đích đến. Nó mang tính chỉ dẫn, chứ không mang tính kết luận. Mọi chân lý cho đến hiện tại cũng như vậy.
The demand is, therefore, for knowers and for those whose minds and hearts are open; who are free from preconceived ideas fanatically held, and from ancient idealisms which must be recognised as only partial indications of great unrealised truths—truths which can be realised in great measure and for the first time IF the lessons of the present world situation and the catastrophe of the war are duly learned and the sacrificial will is called into play.
Do đó, điều cần thiết là những thức giả và những người có thể trí cùng trái tim rộng mở; những người thoát khỏi các ý tưởng định kiến được bám giữ một cách cuồng tín, và khỏi những chủ nghĩa lý tưởng xưa cũ mà cần nhận biết rằng chúng chỉ là những chỉ dẫn từng phần về các chân lý vĩ đại chưa được chứng nghiệm—những chân lý có thể được chứng nghiệm ở mức độ lớn và lần đầu tiên NẾU những bài học của tình hình thế giới hiện nay và thảm họa chiến tranh được học hỏi đầy đủ, và ý chí hi sinh được đưa vào hoạt động.
I have made this practical application and the immediate illustration of the teaching anent glamour, illusion and maya because the whole world problem has reached a crisis today and because its clarification will be the outstanding theme [171] of all progress—educational, religious and economic—until 2025 A.D.
Tôi đã đưa ra sự áp dụng thực tiễn và minh họa trực tiếp này cho giáo huấn về ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực, vì ngày nay toàn bộ vấn đề thế giới đã đi đến một cuộc khủng hoảng, và vì việc làm sáng tỏ vấn đề ấy sẽ là chủ đề nổi bật [171] của mọi tiến bộ—giáo dục, tôn giáo và kinh tế—cho đến năm 2025 sau Công nguyên.
In the section with which we are now concerned we shall consider the practical ways in which illusion, glamour and the power of maya can be brought to an end in the life of the individual, and eventually in the life of nations and finally in the world. Always we must begin with the unity of life, the Microcosm; then, having grasped process and progress in connection with the individual, the idea can then be extended to the group, the organisation, the nation, and to humanity as a whole. Thus gradually we shall approach the great Idea to which we give the name of God, the Macrocosm.
Trong phần mà hiện nay chúng ta đang xem xét, chúng ta sẽ khảo sát những phương cách thực tiễn để chấm dứt ảo tưởng, ảo cảm và quyền năng của ảo lực trong đời sống cá nhân, rồi cuối cùng trong đời sống các quốc gia và sau hết là trên thế giới. Chúng ta luôn phải bắt đầu với chỉnh thể sự sống, tức Tiểu thiên địa; rồi, sau khi đã nắm bắt tiến trình và sự tiến bộ liên quan đến cá nhân, ý tưởng ấy có thể mở rộng đến nhóm, tổ chức, quốc gia và toàn thể nhân loại. Như thế, chúng ta sẽ dần tiếp cận Ý Tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi bằng danh xưng Thượng đế, tức Đại thiên địa.
We shall in this section deal with techniques, and these might be summarised as follows:
Trong phần này, chúng ta sẽ bàn đến các kỹ thuật, và có thể tóm tắt chúng như sau:
1. The Technique of the Presence. By means of this technique, the soul assumes control of the integrated personality and of its relations, horizontal and vertical. This technique involves the unfolding of the flower of the intuition, dispelling illusion, revealing the Angel, indicating the Presence, and opening up to the disciple the world of ideas and the door of the higher initiations. Through the disciple’s grasp and application of these divine ideas or seed thoughts, he becomes initiate and the third initiation becomes possible as an immediate goal. The intuition is the applied power of transfiguration. This technique is related to the little known yoga called Agni Yoga or the yoga of fire.
1. Kỹ Thuật của Hiện Diện. Nhờ kỹ thuật này, linh hồn nắm quyền kiểm soát phàm ngã tích hợp và các mối quan hệ của nó, theo chiều ngang lẫn chiều dọc. Kỹ thuật này bao gồm việc khai mở đóa hoa trực giác, xua tan ảo tưởng, mặc khải Thiên Thần, chỉ ra Hiện Diện, và mở ra cho người đệ tử thế giới ý tưởng cùng cánh cửa của những cuộc điểm đạo cao hơn. Qua việc nắm bắt và áp dụng những ý tưởng thiêng liêng hay tư tưởng hạt giống này, người đệ tử trở thành điểm đạo đồ, và lần điểm đạo thứ ba trở thành một mục tiêu trước mắt có thể đạt được. Trực giác là quyền năng Biến hình được áp dụng. Kỹ thuật này liên quan đến môn yoga ít được biết đến gọi là Agni Yoga, hay yoga của lửa.
2. The Technique of Light. By means of this technique, the illumined mind assumes control over the astral or emotional body and dissipates glamour. When light pours in, glamour fades out. Illumination dominates and the vision [172] of reality can be seen. This technique is related to Raja Yoga and its goal is the second initiation; it produces ability to tread the Path of Discipleship, and enables the man to “live a life, enlightened by divinity.” Illumination is the applied power of transformation.
2. Kỹ Thuật Ánh sáng. Nhờ kỹ thuật này, thể trí được soi sáng nắm quyền kiểm soát thể cảm dục hay thể cảm xúc và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tuôn vào, ảo cảm phai đi. Sự soi sáng chiếm ưu thế và linh thị [172] về thực tại trở nên hiển hiện. Kỹ thuật này liên quan đến Raja Yoga và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai; nó đem lại khả năng bước trên Con Đường Đệ Tử, và giúp con người “sống một đời sống được thiên tính soi sáng”. Sự soi sáng là quyền năng chuyển đổi được áp dụng.
3. The Technique of Indifference. By means of this technique, maya is ended; for the control of the purified astral vehicle is consciously and technically brought into activity, producing the freeing of the energies of the etheric body from the control of matter or force-substance, and bringing men in large numbers on to the Probationary Path. Where there is “divine indifference” to the call or pull of matter, then inspiration becomes possible. This technique is related to Karma Yoga in its most practical form and the use of matter with complete impersonality. The goal of this technique is the first initiation, which enables man to “live a life, inspired by God.” Inspiration is the applied power of transmission.
3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên. Nhờ kỹ thuật này, ảo lực chấm dứt; bởi quyền kiểm soát của hiện thể cảm dục đã được thanh luyện được đưa vào hoạt động một cách hữu thức và theo đúng kỹ thuật, giải phóng các năng lượng của thể dĩ thái khỏi sự kiểm soát của vật chất hay mãnh lực-chất liệu, và đưa đông đảo con người bước vào Con Đường Dự Bị. Nơi nào có “Điềm nhiên thiêng liêng” đối với tiếng gọi hay sức lôi kéo của vật chất, thì cảm hứng trở nên khả thi. Kỹ thuật này liên quan đến Karma Yoga dưới hình thức thực tiễn nhất của nó và việc sử dụng vật chất với tính phi cá nhân hoàn toàn. Mục tiêu của kỹ thuật này là lần điểm đạo thứ nhất, giúp con người “sống một đời sống được Thượng đế truyền cảm hứng”. Cảm hứng là quyền năng truyền dẫn được áp dụng.
1. The Technique of the Presence – 1. Kỹ Thuật của Hiện Diện
As we enter upon our consideration of this subject, the student has three things to bear in mind: the existence of the Intuition, the fact of Illusion, and the overshadowing Presence. This Presence is revealed by the intuition through the medium of the Angel and, when revealed and recognised, brings illusion to an end.
Khi bắt đầu xem xét chủ đề này, đạo sinh cần ghi nhớ ba điều : sự tồn tại của Trực Giác, thực tế về Ảo Tưởng, và Hiện Diện đang phủ bóng. Trực giác mặc khải Hiện Diện này qua trung gian Thiên Thần, và khi được mặc khải cùng nhận biết, Hiện Diện chấm dứt ảo tưởng.
The story of illusion is one which must not be confounded with glamour; illusion is related to the whole process of revelation. Glamour can be and often is related to the distortion of that which has been revealed, but it must be borne in mind that illusion is primarily concerned with the reaction of the mind to the unfolding revelation, [173] as the soul registers it and seeks to impress it on the highest aspect of the personal lower self. Illusion is, therefore, the failure of the mind correctly to register, to interpret or translate that which has been transmitted and it is consequently a sin (if you care for that word) of the intelligent and highly developed people, of those who stand on the Path and who are in process of becoming rightly oriented; it is also a sin of accepted disciples as they seek to expand their consciousness in response to soul contact. When they have “seen through illusion” (and I use this phrase in its esoteric sense) then they are ready for the third initiation.
Câu chuyện về ảo tưởng không được nhầm lẫn với ảo cảm; ảo tưởng liên quan đến toàn bộ tiến trình mặc khải. Ảo cảm có thể và thường liên quan đến sự xuyên tạc những gì đã được mặc khải, nhưng cần ghi nhớ rằng ảo tưởng chủ yếu liên quan đến đáp ứng của thể trí đối với sự mặc khải đang khai mở, [173] khi linh hồn ghi nhận sự mặc khải ấy và tìm cách ghi khắc nó lên phương diện cao nhất của phàm ngã cá nhân. Do đó, ảo tưởng là sự thất bại của thể trí trong việc ghi nhận, diễn giải hoặc chuyển nghĩa đúng những gì đã được truyền đến, và vì thế là một tội lỗi (nếu các bạn muốn dùng từ ấy) của những người thông minh và phát triển cao, của những người đứng trên Đường Đạo và đang trong tiến trình định hướng đúng; đó cũng là một tội lỗi của các đệ tử được chấp nhận khi họ tìm cách mở rộng tâm thức để đáp ứng sự tiếp xúc với linh hồn. Khi họ đã “nhìn thấu ảo tưởng” (và Tôi dùng cụm từ này theo nghĩa nội môn), họ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba.
Our theme is, therefore, the theme of revelation and I would like to make some general remarks upon the subject, because thereby the problem of world illusion can be clarified and incidentally individual illusion also.
Do đó, chủ đề của chúng ta là chủ đề về sự mặc khải, và Tôi muốn đưa ra một số nhận xét tổng quát về chủ đề này, vì qua đó vấn đề ảo tưởng thế giới có thể được làm sáng tỏ, đồng thời cả ảo tưởng cá nhân cũng vậy.
The unfoldment of human awareness has been progressive down the ages, and has been dependent upon two major and related factors:
Sự khai mở nhận biết của con người đã tiến triển qua các thời đại, và phụ thuộc vào hai yếu tố chính có liên hệ với nhau:
1. The factor of the gradual development of the human mind through the processes of evolution itself. This might be regarded as the innate capacity of that which we call the mind, the chitta, or mind stuff, to become more and more sensitive to the impact of the phenomenal world, and to the impression from the higher worlds of being. The mind is the instrument which registers the process of “becoming” but it is also—during the later stages of human unfoldment—capable of registering the nature or function of being. Becoming is revealed through the medium of the intellect; Being, through the medium of the intuition. In all study of illusion, the instrumental nature of the mind must be remembered and its power to register accurately, to interpret [174] and transmit knowledge coming from the world of phenomena and wisdom from the realm of the soul.
1. Yếu tố phát triển dần dần của trí tuệ con người qua chính các tiến trình tiến hoá. Có thể xem đây là khả năng bẩm sinh của cái mà chúng ta gọi là thể trí, tâm chất, hay chất liệu trí tuệ, trong việc ngày càng trở nên nhạy cảm với tác động của thế giới hiện tượng, và với ấn tượng từ các thế giới Bản Thể cao hơn. Thể trí là công cụ ghi nhận tiến trình “trở thành”, nhưng nó cũng—trong những giai đoạn về sau của sự khai mở con người—có khả năng ghi nhận bản chất hay chức năng của Bản Thể. Sự Trở Thành được mặc khải qua trung gian trí năng; Bản Thể, qua trung gian trực giác. Trong mọi nghiên cứu về ảo tưởng, cần ghi nhớ bản chất công cụ của thể trí và khả năng của nó trong việc ghi nhận chính xác, diễn giải [174] và truyền đạt tri thức đến từ thế giới hiện tượng cùng minh triết đến từ lĩnh vực linh hồn.
2. The factor of the method whereby humanity is made aware of that which is not immediately apparent. This is the method or process of what has been called “imposed revelation” or the impression conveyed to minds capable of reception of those ideas, beings, plans and purposes which exist behind the scenes, so to speak, and which are (in the last analysis) the factors which determine and condition the world process. These revelations or subjective, vital impressions are revealed by the intuition and have nothing to do with the knowledges, impressions and impacts which are related to the three worlds of human evolution, except in so far that (when grasped and apprehended) they have steadily transformed man’s way of living, revealed to him his goals, and indicated his true nature. The revelations given throughout the ages and impressed on the minds of those trained to receive them deal with the great universals, are concerned with the whole, and lead to a developed appreciation of the oneness of life and with hylozoistic expression.
2. Yếu tố phương pháp giúp nhân loại nhận biết những gì không hiển nhiên ngay lập tức. Đây là phương pháp hay tiến trình của cái được gọi là “sự mặc khải được áp đặt”, hay ấn tượng truyền đến những thể trí có khả năng tiếp nhận các ý tưởng, sinh linh, kế hoạch và mục đích tồn tại, có thể nói, ở hậu trường, và xét cho cùng là những yếu tố quyết định và định hình tiến trình thế giới. Trực giác mặc khải những sự mặc khải hay những ấn tượng chủ quan, sống động này, và chúng không liên quan đến các tri thức, ấn tượng và tác động gắn với ba cõi giới tiến hoá của con người, ngoại trừ ở chỗ (khi được nắm bắt và lĩnh hội) chúng đã không ngừng chuyển đổi lối sống của con người, mặc khải cho y những mục tiêu của y và chỉ ra bản chất chân thực của y. Những sự mặc khải được trao truyền qua các thời đại và ghi khắc lên thể trí của những người đã được huấn luyện để tiếp nhận chúng đều đề cập đến những điều phổ quát vĩ đại, liên quan đến toàn thể, và dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về tính nhất thể của sự sống và về sự biểu hiện theo quan niệm vạn vật hữu sinh.
Two paralleling processes have produced humanity and its civilisation: One is the evolutionary process itself whereby the mind of the individual has been gradually unfolded until it becomes the dominant aspect in the personality; and at the same time a graded, wisely imparted series of revelations which have led humanity as a whole nearer to the inevitable apprehension of being; they have led him steadily away from identification with form and into those states of consciousness which are super-normal from the ordinary human angle but entirely normal from the spiritual.
Hai tiến trình song song đã tạo nên nhân loại và nền văn minh của nhân loại: Một là chính tiến trình tiến hoá, qua đó thể trí của cá nhân dần khai mở cho đến khi trở thành phương diện chi phối trong phàm ngã; đồng thời là một chuỗi mặc khải theo từng cấp độ, được truyền đạt một cách minh triết, đã dẫn toàn thể nhân loại đến gần hơn với sự lĩnh hội Bản Thể tất yếu; chúng không ngừng dẫn con người rời khỏi sự đồng hoá với hình tướng và đi vào những trạng thái tâm thức vốn siêu thường từ góc nhìn thông thường của con người, nhưng hoàn toàn bình thường từ góc nhìn tinh thần.
[175] Putting this concept specifically into occult terminology: Individuality has led to the steady perfecting of the mind with its perception, apprehension, analysis and interpretation whilst initiation, through the growth of the intuition, brings about (when the mental perfecting process has reached a relatively high degree of development) the apprehension of the world of spiritual values, of unified being and of intuitive understanding. This involves a consequent moving of the point of individual focus out of the world of phenomena into the world of reality. The lower use of the mind and its processes of unfoldment have produced illusion whilst the unfoldment of the higher mind and, later, its use as the transmitter of the intuition and of the higher revelation, will produce the transfiguration of the three worlds of phenomena in terms of the world of being.
[175] Diễn đạt quan niệm này một cách cụ thể bằng thuật ngữ huyền bí học: Tính cá thể đã dẫn đến sự hoàn thiện không ngừng của thể trí, với khả năng tri giác, lĩnh hội, phân tích và diễn giải của nó, trong khi điểm đạo, thông qua sự phát triển của trực giác, đem lại (khi tiến trình hoàn thiện trí tuệ đã đạt đến một mức phát triển tương đối cao) sự lĩnh hội thế giới của các giá trị tinh thần, của Bản Thể hợp nhất và của sự thấu hiểu bằng trực giác. Hệ quả của điều này là điểm tập trung của cá nhân dịch chuyển khỏi thế giới hiện tượng vào thế giới thực tại. Việc sử dụng thể trí ở cấp thấp và các tiến trình khai mở của nó đã tạo ra ảo tưởng, trong khi sự khai mở thượng trí và, về sau, việc sử dụng thượng trí làm phương tiện truyền dẫn trực giác cùng sự mặc khải cao hơn, sẽ đem lại sự Biến hình của ba cõi giới hiện tượng theo Thế Giới Bản Thể.
Illusion is frequently misinterpreted and misapplied mental perception of truth. It has naught to do with the mental phase of glamour, though illusion can be carried down into the world of feeling and become glamour. When this happens, its potency is exceedingly great because a thoughtform has become an entity, with vital power, and the magnetic power of feeling is added to the cold form of thought. Ponder on this. But at the stage with which we are now dealing, which is that of pure illusion, a revelation has precipitated upon the mental plane and—owing to failure rightly to apprehend and interpret it or to apply it usefully—it has developed into an illusion and enters upon a career of deception, of crystallisation and of misinformation.
Ảo tưởng thường là tri giác trí tuệ về chân lý bị diễn giải sai và áp dụng sai. Nó không liên quan gì đến giai đoạn trí tuệ của ảo cảm, dù ảo tưởng có thể được đưa xuống thế giới cảm xúc và trở thành ảo cảm. Khi điều này xảy ra, sức mạnh của nó hết sức lớn lao, vì một hình tư tưởng đã trở thành một thực thể, có quyền năng thiết yếu, và quyền năng từ tính của cảm xúc được thêm vào hình tướng lạnh lẽo của tư tưởng. Hãy suy ngẫm về điều này. Nhưng ở giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, tức giai đoạn ảo tưởng thuần túy, một sự mặc khải đã ngưng tụ trên cõi trí và—do không được lĩnh hội, diễn giải đúng hoặc áp dụng một cách hữu ích—nó đã phát triển thành một ảo tưởng và bắt đầu một quá trình lừa dối, kết tinh và truyền bá thông tin sai lệch.
The theme of this technique is, therefore, concerned primarily with:
Do đó, chủ đề của kỹ thuật này chủ yếu liên quan đến:
1. The process of revelation. This process has been and today is the main testimony and guarantee of the existence, [176] behind the scenes of the phenomenal life, of a revealing Group or Agency whose task is of a triple nature:
1. Tiến trình mặc khải. Tiến trình này đã và hiện nay vẫn là bằng chứng cùng sự bảo đảm chính yếu cho sự tồn tại, [176] đằng sau đời sống hiện tượng, của một Nhóm hay Cơ Quan thực hiện sự mặc khải, có nhiệm vụ mang bản chất tam phân:
a. To gauge the unfoldment of the human consciousness and to meet its constant appeal and demand for further light and knowledge.
a. Đánh giá sự khai mở của tâm thức nhân loại và đáp ứng lời kêu gọi cùng nhu cầu không ngừng của nhân loại về thêm ánh sáng và tri thức.
b. To judge what is the next needed revelation and what form it should take, through what medium it should emerge, and where and when it should appear.
b. Xác định sự mặc khải tiếp theo cần có là gì, nó nên mang hình thức nào, nên xuất hiện qua phương tiện nào, và nên xuất hiện ở đâu, vào lúc nào.
c. To ascertain with what obstructions, hindrances, and preconceived ideas the new incoming revelation will have to contend.
c. Xác định những trở ngại, cản trở và ý tưởng định kiến mà sự mặc khải mới đang đi vào sẽ phải đối mặt.
2. The fact of the Presence. This Presence is the impelling force behind all revelation and is in reality God Immanent, striving ever for recognition and Itself impelled thereto by the fact of God Transcendent.
2. Thực tế về Hiện Diện. Hiện Diện này là mãnh lực thúc đẩy đằng sau mọi sự mặc khải, và thực ra là Thượng đế Nội Tại, luôn nỗ lực để được nhận biết, và chính Ngài được thúc đẩy hướng đến điều đó bởi thực tế về Thượng đế Siêu Việt.
3. The influence of the Angel, who is the individualised seed of consciousness through whom, after due growth and response of the personal lower self, will come the revelation of the Presence. All true revelation is concerned with the unfolding glory of divinity in some field of expression, thereby testifying to the latent hidden Presence.
3. Ảnh hưởng của Thiên Thần, là hạt giống tâm thức đã biệt ngã hóa, mà qua đó, sau khi phàm ngã cá nhân tăng trưởng và đáp ứng đúng mức, sự mặc khải về Hiện Diện sẽ đến. Mọi sự mặc khải chân thực đều liên quan đến vinh quang đang khai mở của thiên tính trong một lĩnh vực biểu hiện nào đó, qua đó làm chứng cho Hiện Diện tiềm ẩn.
4. The reaction of the intuitives throughout the world to that revelation and the form in which they present it to the world thinkers. These latter are ever the first to appreciate and appropriate the new truth. The intuitives present the next phase of truth in a relatively pure form even though at the time of presentation it may be symbolically veiled. [177]
4. Phản ứng của những người có trực giác trên khắp thế giới đối với sự mặc khải ấy và hình thức mà họ dùng để trình bày nó cho các nhà tư tưởng trên thế giới. Những nhà tư tưởng này luôn là những người đầu tiên nhận biết giá trị và tiếp nhận chân lý mới. Những người có trực giác trình bày giai đoạn tiếp theo của chân lý dưới một hình thức tương đối thuần khiết, dù vào lúc trình bày, nó có thể được che phủ bằng biểu tượng. [177]
5. The response of the thinking world to the presented truth. It is at this point that illusion appears and misinterpretation and misrepresentation take place. These untrue interpretations of revealed truth, when they have lasted long enough and have acquired momentum, add to the general illusion and become part of it and thus feed and are fed by the world illusion. This is the built-up illusory form of thought, developed down the ages, which controls so much of the mass belief. When the revelation reaches this stage, the mass of men become involved; they recognise the illusion as the truth; they regard this illusion as reality; they fail to grasp the significance of the veiled, symbolically presented revelation but confuse it with the illusory presentation, and thus the intuitively perceived revelation becomes a distorted, twisted doctrine.
5. Đáp ứng của giới tư tưởng đối với chân lý được trình bày. Chính tại điểm này, ảo tưởng xuất hiện và sự diễn giải sai cùng trình bày sai diễn ra. Những cách diễn giải không đúng này về chân lý được mặc khải, khi đã tồn tại đủ lâu và có được đà phát triển, sẽ góp thêm vào ảo tưởng chung và trở thành một phần của nó, do đó vừa nuôi dưỡng vừa được ảo tưởng thế giới nuôi dưỡng. Đây là hình tướng tư tưởng mang tính ảo tưởng được tích lũy, phát triển qua các thời đại, chi phối rất nhiều niềm tin của quần chúng. Khi sự mặc khải đạt đến giai đoạn này, đông đảo con người bị cuốn vào; họ nhận ảo tưởng là chân lý; họ xem ảo tưởng này là thực tại; họ không nắm bắt được thâm nghĩa của sự mặc khải được che phủ và trình bày bằng biểu tượng, mà nhầm lẫn nó với cách trình bày mang tính ảo tưởng, và như thế sự mặc khải được tri giác bằng trực giác trở thành một giáo thuyết méo mó, xuyên tạc.
Theological interpretations and dogmas fall into this category and there ensues a re-enactment of the ancient drama of the blind leading the blind, to which Christ referred as He faced the theologians of His time.
Những cách diễn giải thần học và các giáo điều thuộc loại này, và rồi diễn ra sự tái hiện vở kịch xưa về người mù dẫn dắt người mù, điều mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài đối diện với các nhà thần học thời Ngài.
The above statements are true of all revelation as it comes forth from the emanating centre of light, whether they concern so-called religious truth or scientific discoveries or the great standard of spiritual values whereby advanced humanity of both hemispheres seek to live and which, from time to time, move on a step in significance and in importance.
Những phát biểu trên đúng với mọi sự mặc khải khi nó phát ra từ trung tâm phát xạ ánh sáng, dù chúng liên quan đến cái gọi là chân lý tôn giáo, hay các khám phá khoa học, hay chuẩn mực vĩ đại của các giá trị tinh thần mà nhân loại tiến bộ ở cả hai bán cầu tìm cách sống theo và thỉnh thoảng lại tiến thêm một bước về thâm nghĩa và tầm quan trọng.
a. Intuition dispels Individual Illusion
a. Trực giác xua tan Ảo tưởng Cá nhân
Today we have reached a crisis in the field of human apprehension and can now enter into a new era wherein illusion can be dispelled and thinkers can begin to register accurately and without misapprehension that which the intuitives convey to them. This statement does not as yet apply to the [178] general public. It will be a long time before they will respond without illusion, because illusion is based upon the thoughtform-building activity of the lower mind. The masses are just beginning to use that lower mind and illusion is, therefore, for them a necessary stage of testing and training and one through which they must pass or they will lose much valuable experience, leaving undeveloped their powers of discrimination. This is a point which all teachers of occultism should have in mind. It is essential consequently that the masses are taught the significance of illusion and be trained to see and choose the kernel of pure truth in any presentation of truth with which they may be confronted. It is essential likewise that the world intuitives learn to use and control and understand the faculty of spiritual perception, of divine isolation and appropriate response which characterises the intuition. This they can do through the practice of the Technique of the Presence, but not as it is usually taught and presented.
Ngày nay, chúng ta đã đi đến một cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực lĩnh hội của con người, và giờ đây có thể bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó ảo tưởng có thể được xua tan và các nhà tư tưởng có thể bắt đầu ghi nhận chính xác, không hiểu sai những gì những người có trực giác truyền đạt cho họ. Phát biểu này chưa áp dụng cho [178] công chúng nói chung. Sẽ còn lâu nữa họ mới đáp ứng mà không có ảo tưởng, vì ảo tưởng dựa trên hoạt động kiến tạo hình tư tưởng của hạ trí. Quần chúng chỉ mới bắt đầu sử dụng hạ trí ấy, và do đó, đối với họ, ảo tưởng là một giai đoạn thử thách và huấn luyện cần thiết, một giai đoạn họ phải trải qua, nếu không họ sẽ mất nhiều kinh nghiệm quý giá, khiến các năng lực phân biện của họ không được phát triển. Đây là một điểm mà mọi huấn sư huyền bí học cần ghi nhớ. Vì vậy, điều thiết yếu là quần chúng được dạy về thâm nghĩa của ảo tưởng và được huấn luyện để nhìn thấy và chọn lấy cốt lõi chân lý thuần khiết trong bất kỳ cách trình bày chân lý nào mà họ có thể gặp. Tương tự, điều thiết yếu là những người có trực giác trên thế giới học cách sử dụng, kiểm soát và thấu hiểu năng lực tri giác tinh thần, sự cô lập thiêng liêng và đáp ứng thích hợp vốn là đặc trưng của trực giác. Họ có thể làm được điều này qua việc thực hành Kỹ Thuật của Hiện Diện, nhưng không phải theo cách kỹ thuật ấy thường được giảng dạy và trình bày.
Perhaps I shall make my meaning clearer if I state that this technique falls into certain scientific lines or modes of work, for which much of the training given in schools of true meditation and in the Raja Yoga systems have prepared the aspirant. These stages begin where the usual formulas leave off, and pre-suppose facility in approach to the Angel or the soul, and an ability to raise the consciousness to a point of soul fusion. I will list the processes or stages as follows:
Có lẽ Tôi sẽ làm rõ ý mình hơn nếu nói rằng kỹ thuật này tuân theo một số đường hướng hay phương thức hoạt động khoa học, mà phần lớn sự huấn luyện trong các trường tham thiền chân chính và trong các hệ thống Raja Yoga đã chuẩn bị cho người chí nguyện. Những giai đoạn này bắt đầu ở nơi các công thức thông thường kết thúc, và đòi hỏi sẵn có sự thuần thục trong việc tiếp cận Thiên Thần hay linh hồn, cùng khả năng nâng tâm thức đến một điểm dung hợp với linh hồn. Tôi sẽ liệt kê các tiến trình hay giai đoạn như sau:
1. The evocation of the stage of tension. This is basic and essential. It is a tension brought about by complete control of the personal self so that it is “fitted for contact with the real.”
1. Gợi lên giai đoạn tập trung nhất tâm. Đây là điều cơ bản và thiết yếu. Đó là sự tập trung nhất tâm do việc kiểm soát hoàn toàn bản ngã cá nhân tạo nên, để bản ngã ấy “thích hợp cho sự tiếp xúc với thực tại”.
2. The achieving of a state of fusion with the soul or with the Angel which guards the approach to the Path of the Higher Evolution. [179]
2. Đạt đến trạng thái dung hợp với linh hồn hay với Thiên Thần canh giữ lối vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. [179]
3. The holding of the mind steady in the light of the soul, which remains the attitude of the lower self for the entire remaining period of work, held at the point of tension by the soul and not by an effort of the personality. The soul undertakes this holding when the personal self has done its utmost to achieve the desired tension.
3. Giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng của linh hồn, một thái độ mà phàm ngã duy trì trong toàn bộ thời gian làm việc còn lại, được linh hồn giữ tại điểm tập trung nhất tâm chứ không phải nhờ nỗ lực của phàm ngã. Linh hồn đảm nhận việc duy trì này khi bản ngã cá nhân đã làm hết sức để đạt được sự tập trung nhất tâm mong muốn.
These are the three preliminary steps for which the practice of alignment should have prepared the student of the higher mysteries. These steps must precede all effort to develop the intuition, and this may take several months (or even years) of careful preparation. Fire is the symbol of the mind and these are the first three stages of the Agni Yoga discipline or of the yoga of fire for which Raja Yoga has prepared the student.
Đây là ba bước sơ bộ mà việc thực hành chỉnh hợp hẳn đã chuẩn bị cho đạo sinh nghiên cứu những huyền nhiệm cao hơn. Những bước này phải đi trước mọi nỗ lực phát triển trực giác, và điều này có thể cần vài tháng (hay thậm chí vài năm) chuẩn bị cẩn thận. Lửa là biểu tượng của thể trí, và đây là ba giai đoạn đầu tiên của phép tu luyện Agni Yoga, hay yoga của lửa, mà Raja Yoga đã chuẩn bị cho đạo sinh.
Next come six more stages in the Technique, and these must be thoroughly understood and form the basis of prolonged brooding and intelligent reflection, carried on whilst the daily avocations and duties are being performed and not carried out at certain set times. The trained intuitive or disciple lives ever the dual life of mundane activity and of intense and simultaneous spiritual reflection. This will be the outstanding characteristic of the Western disciple in contradistinction to the Eastern disciple who escapes from life into the silent places and away from the pressures of daily living and constant contact with others. The task of the Western disciple is much harder, but that which he will prove to himself and to the world as a whole will be still higher. This is to be expected if the evolutionary process means anything. The Western races must move forward into spiritual supremacy, without obliterating the Eastern contribution, and the functioning of the Law of Rebirth holds the clue to this and demonstrates this necessity. The [180] tide of life moves from East to West as moves the sun, and those who in past centuries struck the note of Eastern mysticism must strike and are now striking the note of Western occultism. Therefore, the following stages must follow upon the three earlier. We will continue with the numbering as given, for what I here suggest is a formula for a more advanced meditation attitude. I said not form.
Tiếp theo là sáu giai đoạn nữa trong Kỹ Thuật, và cần thấu hiểu chúng một cách thấu đáo, lấy chúng làm nền tảng cho sự suy ngẫm lâu dài và tư duy sáng suốt, tiến hành trong khi thực hiện các công việc và bổn phận hằng ngày chứ không phải vào những thời điểm cố định nào đó. Người có trực giác đã được huấn luyện hay người đệ tử luôn sống đời sống kép, vừa hoạt động trần thế vừa suy tư tinh thần mãnh liệt và đồng thời. Đây sẽ là đặc điểm nổi bật của người đệ tử phương Tây, tương phản với người đệ tử phương Đông, vốn rời bỏ đời sống để đến những nơi tĩnh lặng, tránh xa các áp lực của đời sống hằng ngày và sự tiếp xúc không ngừng với người khác. Nhiệm vụ của người đệ tử phương Tây khó khăn hơn nhiều, nhưng điều y sẽ chứng minh cho chính mình và cho toàn thể thế giới sẽ còn cao hơn nữa. Đây là điều có thể kỳ vọng nếu tiến trình tiến hoá thực sự có ý nghĩa. Các dân tộc phương Tây phải tiến lên vị thế ưu việt về tinh thần mà không xóa bỏ sự đóng góp của phương Đông , và sự vận hành của Định luật Tái Sinh nắm giữ manh mối cho điều này, đồng thời chứng minh tính tất yếu của nó. [180] Dòng sự sống chuyển từ Đông sang Tây như mặt trời chuyển động, và những ai trong các thế kỷ trước đã xướng âm điệu của Thần bí học phương Đông phải xướng, và hiện đang xướng, âm điệu của huyền bí học phương Tây. Do đó, những giai đoạn sau đây phải tiếp nối ba giai đoạn trước. Chúng ta sẽ tiếp tục cách đánh số đã dùng, vì điều Tôi đề nghị ở đây là một công thức cho thái độ tham thiền tiến bộ hơn. Tôi không nói là hình thức.
4. Definite and sustained effort to sense the Presence throughout the Universe in all forms and in all presentations of truth. This could be expressed in the words: “the effort to isolate the germ or seed of divinity which has brought all forms into being.” I would point out that this is not the attainment of a loving attitude and a sentimental approach to all people and circumstances. That is the mystical way and though not intended to be negated in the disciple’s life, is not used at this time in the process of effective approach. It is the effort primarily to see in the light which the Angel radiates the point of light behind all phenomenal appearances. This is, therefore, the transference of the mystical vision to the higher levels of awareness. It is not the vision of the soul but the vision or the spiritual sensing of that which the light of the soul can aid in revealing. The flickering soul light in the personal self has enabled the disciple to see the vision of the soul and in that light to reach union with the soul, even if only temporarily. Now the greater light of the soul becomes focussed like a radiant sun and it reveals in its turn a still more stupendous vision—that of the Presence, of which the Angel is the guarantee and promise. As the light of the Moon is the guarantee that the light of the Sun exists, so the light of the Sun is the guarantee, did you but know it, of a still greater light. [181]
4. Nỗ lực rõ ràng và bền bỉ để cảm nhận Hiện Diện khắp Vũ Trụ, trong mọi hình tướng và trong mọi cách trình bày chân lý. Có thể diễn đạt điều này bằng những lời sau: “nỗ lực tách riêng mầm hay hạt giống thiên tính đã đưa mọi hình tướng vào hiện tồn.” Tôi muốn chỉ ra rằng đây không phải là việc đạt được một thái độ yêu thương và một cách tiếp cận đầy tình cảm đối với mọi người và mọi hoàn cảnh. Đó là con đường thần bí; tuy không có ý loại bỏ con đường ấy khỏi đời sống của đệ tử, nhưng vào lúc này, người ta không dùng nó trong tiến trình tiếp cận hữu hiệu. Trước hết, đây là nỗ lực nhìn thấy trong ánh sáng mà Thiên Thần tỏa ra điểm ánh sáng phía sau mọi biểu hiện của hiện tượng. Vì vậy, đây là sự chuyển dịch linh ảnh thần bí lên những cấp độ nhận biết cao hơn. Đó không phải là linh ảnh về linh hồn, mà là linh thị hay sự cảm nhận tinh thần về điều mà ánh sáng của linh hồn có thể giúp hé lộ. Ánh sáng linh hồn chập chờn trong phàm ngã đã giúp đệ tử thấy được linh ảnh về linh hồn và, trong ánh sáng ấy, đạt đến sự hợp nhất với linh hồn, dù chỉ tạm thời. Giờ đây, ánh sáng lớn hơn của linh hồn tập trung như một mặt trời rực rỡ và đến lượt nó hé lộ một linh ảnh còn kỳ vĩ hơn nữa—linh ảnh về Hiện Diện, mà Thiên Thần là sự bảo chứng và lời hứa hẹn. Cũng như ánh sáng của Mặt Trăng bảo chứng rằng ánh sáng của Mặt Trời hiện hữu, ánh sáng của Mặt Trời cũng bảo chứng—giá như các bạn biết được điều ấy—cho một ánh sáng còn lớn hơn nữa. [181]
5. Then, having sensed the Presence—not theoretically but in vibrating response to its Existence—there next comes the stage of the ascertaining of the Purpose. Hope of identification with the purpose lies too far ahead even for the average initiate, under the status of Master. With that unattainable stage (for us) we are not concerned. But we are concerned with the effort to achieve an understanding of that which through the medium of form is seeking to embody the high purpose at any particular point in the evolutionary cycle. This is possible and has been achieved down the ages by those who have rightly approached and duly reflected upon the Way of the Higher Evolution. This Way is revealed to the disciple, e’en though it may not concern the intuitive message which he may bring back from his high adventure.
5. Sau đó, khi đã cảm nhận Hiện Diện—không phải trên lý thuyết mà bằng sự đáp ứng rung động trước sự Hiện Hữu của Hiện Diện—giai đoạn tiếp theo là xác định Mục Đích. Hy vọng đồng hoá với mục đích còn ở quá xa phía trước, ngay cả đối với điểm đạo đồ thông thường chưa đạt cấp bậc Chân sư. Chúng ta không bàn đến giai đoạn ấy, vốn chưa thể đạt tới đối với chúng ta. Nhưng chúng ta quan tâm đến nỗ lực đạt được sự thấu hiểu về điều đang tìm cách thể hiện mục đích cao cả qua trung gian hình tướng, tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào trong chu kỳ tiến hoá. Điều này là khả thi, và qua các thời đại, những người đã tiếp cận đúng đắn và suy ngẫm thích đáng về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu đã đạt được điều đó. Con Đường này hiển lộ với đệ tử, dù có thể nó không liên quan đến thông điệp trực giác mà y mang về từ cuộc phiêu lưu cao siêu của mình.
6. He then carries some world problem, some design which his mind has evolved or his heart desired for the helping of humanity into what is esoterically called “the triple light of the intuition.” This light is formed by the blending of the light of the personal self, focussed in the mind, the light of the soul, focussed in the Angel, and the universal light which the Presence emits; this, when done with facility through concentration and long practice, will produce two results:
6. Khi ấy, y đưa một vấn đề nào đó của thế giới, một dự định nào đó mà thể trí y đã hình thành hoặc trái tim y mong muốn nhằm giúp đỡ nhân loại, vào điều mà theo cách gọi huyền bí là “ánh sáng tam phân của trực giác.” Ánh sáng này hình thành từ sự hòa trộn ánh sáng của phàm ngã, tập trung trong thể trí, ánh sáng của linh hồn, tập trung trong Thiên Thần, và ánh sáng vũ trụ do Hiện Diện phát ra; khi sự hòa trộn này được thực hiện thuần thục nhờ tập trung và thực hành lâu dài, nó sẽ tạo ra hai kết quả:
a. There will suddenly dawn upon the disciple’s waiting mind (which still remains the agent of reception) the answer to his problem, the clue to what is needed to bring relief to humanity, the information desired which, when applied, will unlock some door in the realm of science, psychology or religion. This door, when opened, will bring relief or release to many. As before I have told you, the intuition is never concerned [182] with individual problems or enquiries, as so many self-centred aspirants think. It is purely impersonal and only applicable to humanity in a synthetic sense.
a. Trong thể trí đang chờ đợi của đệ tử—vẫn giữ vai trò tác nhân tiếp nhận—sẽ đột nhiên lóe sáng câu trả lời cho vấn đề của y, manh mối về điều cần thiết để làm vơi nỗi khổ của nhân loại, thông tin mong muốn mà khi áp dụng sẽ mở một cánh cửa nào đó trong lĩnh vực khoa học, tâm lý học hay tôn giáo. Khi mở ra, cánh cửa này sẽ mang lại sự nhẹ nhõm hoặc giải thoát cho nhiều người. Như Tôi đã nói với các bạn trước đây, trực giác không bao giờ liên quan [182] đến các vấn đề hay câu hỏi của cá nhân, như rất nhiều người chí nguyện tập trung vào bản thân vẫn nghĩ. Trực giác hoàn toàn phi cá nhân và chỉ áp dụng cho nhân loại theo nghĩa tổng hợp.
b. The “intruding agent of light” (as the Old Commentary calls these adventuring intuitives) is recognised as one to whom can be entrusted some revelation, some new impartation of truth, some significant expansion from a seed of truth already given to the race. He then sees a vision, hears a voice, registers a message, or—highest form of all—he becomes a channel of power and light to the world, a conscious Embodiment of divinity, or a Custodian of a divine principle. These forms constitute true revelation, imparted or embodied; they are still rare but will increasingly be developed in humanity.
b. “Tác nhân ánh sáng thâm nhập” (như Cổ Luận gọi những người có trực giác dấn thân vào cuộc phiêu lưu này) được nhìn nhận là người có thể được giao phó một sự mặc khải nào đó, một sự truyền đạt chân lý mới nào đó, một sự mở rộng quan trọng từ một hạt giống chân lý đã trao cho nhân loại. Khi ấy, y thấy một linh ảnh, nghe một tiếng nói, ghi nhận một thông điệp, hoặc—hình thức cao nhất trong tất cả—trở thành một kênh truyền quyền năng và ánh sáng đến thế giới, một Hiện Thân hữu thức của thiên tính, hoặc một Người Gìn Giữ một nguyên khí thiêng liêng. Những hình thức này cấu thành sự mặc khải chân chính, được truyền đạt hoặc được thể hiện; chúng vẫn còn hiếm, nhưng sẽ ngày càng phát triển trong nhân loại.
7. The next few stages are called, in preparation for the revelation:
7. Một vài giai đoạn tiếp theo, nhằm chuẩn bị cho sự mặc khải, được gọi là:
a. The relinquishing of the Higher Way.
a. Rời bỏ Con Đường Cao Siêu.
b. The return to the Angel, or a refocussing in the soul.
b. Trở về với Thiên Thần, hay tái tập trung trong linh hồn.
c. A pause or interlude for constructive thinking, under the influence of the Angel.
c. Một khoảng dừng hay khoảng chuyển tiếp để tư duy mang tính xây dựng, dưới ảnh hưởng của Thiên Thần.
d. The turning of the mind to the formulation of those forms of thought which must embody the revelation.
d. Hướng thể trí vào việc tạo lập những hình tư tưởng phải thể hiện sự mặc khải.
e. Then again a pause which is called “the pause preceding presentation.”
e. Rồi lại một khoảng dừng, gọi là “khoảng dừng trước khi trình bày.”
8. The presentation of the revelation or of the imparted truth and its precipitation into the world of illusion comes next. In that world of illusion, it undergoes the “fiery ordeal” wherein “some of the fire within that which is revealed wings its way back to the source from whence it came; some of it serves to destroy the revealer, [183] and some to burn those who recognise the revelation.” This is a phase of Agni Yoga which, as you can see, is only for those who can penetrate beyond the Angel into the place “where fire dwelleth,” and where God, the Presence, functions as a consuming fire and waits for the hour of total revelation. This is a symbolic rendering of a great truth. In the case of the individual initiate, the third initiation, the Transfiguration, marks the consummation of the process. Only glory then is seen: only the voice of the Presence is heard and union with the past, the present and the future is reached.
8. Tiếp theo là việc trình bày sự mặc khải hay chân lý đã được truyền đạt, cùng sự ngưng tụ của nó vào thế giới ảo tưởng. Trong thế giới ảo tưởng ấy, nó trải qua “thử thách bằng lửa”, trong đó “một phần lửa bên trong điều được mặc khải cất cánh trở về nguồn mà nó đã xuất phát; một phần dùng để hủy diệt người mặc khải, [183] và một phần để thiêu đốt những người nhận ra sự mặc khải.” Đây là một giai đoạn của pháp tu hợp nhất bằng Lửa mà, như các bạn có thể thấy, chỉ dành cho những người có thể xuyên qua bên kia Thiên Thần để vào nơi “lửa ngự”, và nơi Thượng đế, Hiện Diện, hoạt động như một ngọn lửa thiêu rụi và chờ đợi giờ phút mặc khải toàn vẹn. Đây là cách diễn đạt bằng biểu tượng một chân lý vĩ đại. Trong trường hợp của từng điểm đạo đồ, lần điểm đạo thứ ba, cuộc Biến hình, đánh dấu sự hoàn tất của tiến trình. Khi ấy, chỉ vinh quang hiện ra: chỉ tiếng nói của Hiện Diện vang lên, và sự hợp nhất với quá khứ, hiện tại và tương lai được đạt tới.
9. The succumbing of the revelation to the prevailing illusion, its descent into the world of glamour, and its subsequent disappearance as a revelation and its emergence as a doctrine. But, in the meantime, humanity has been helped and led forward; the intuitives continue to work and the inflow of that which is to be revealed never ceases.
9. Sự mặc khải khuất phục trước ảo tưởng đang thịnh hành, đi xuống thế giới ảo cảm, rồi sau đó biến mất với tư cách một sự mặc khải và xuất hiện như một giáo lý. Nhưng trong thời gian ấy, nhân loại đã nhận được sự trợ giúp và dẫn dắt tiến lên; những người có trực giác tiếp tục hoạt động, và dòng tuôn vào của điều sẽ được mặc khải không bao giờ ngừng.
This basic technique underlies both primary and secondary revelations. In the case of the first, the time cycle is long; in the second, the time cycle is short. A very good instance of this process is demonstrated by one of the secondary points of revelation in connection with the teaching which emanated from the Hierarchy (the Custodian of secondary revelations, as Shamballa is of primary) fifty years ago and which took the form of The Secret Doctrine. H.P.B. was the “penetrating, sensing, appropriating intuitive.” The revelation she conveyed followed the accustomed routine of all secondary revelation from the Source to the outer plane. There the minds of men, veiled by illusion and clouded by glamour, formulated it into an inelastic doctrine, recognising no further revelation and holding steadily—many of the theosophical groups—that The Secret Doctrine was a final [184] revelation and that naught must be recognised but that book and naught deemed correct but their interpretations of that book. If they are correct, then evolutionary revelation is ended and the plight of humanity is hard indeed.
Kỹ thuật căn bản này là nền tảng của cả những sự mặc khải sơ cấp lẫn thứ cấp. Trong trường hợp thứ nhất, chu kỳ thời gian dài; trong trường hợp thứ hai, chu kỳ thời gian ngắn. Một minh họa rất rõ cho tiến trình này là một trong những điểm mặc khải thứ cấp liên quan đến giáo huấn phát ra từ Thánh đoàn (Đấng Gìn Giữ những sự mặc khải thứ cấp, cũng như Shamballa gìn giữ những sự mặc khải sơ cấp) cách đây năm mươi năm và mang hình thức Giáo Lý Bí Nhiệm. H.P.B. là “người có trực giác xuyên thấu, cảm nhận và tiếp nhận.” Sự mặc khải mà Bà truyền đạt đi theo trình tự quen thuộc của mọi sự mặc khải thứ cấp, từ Nguồn đến cõi bên ngoài. Tại đó, thể trí của con người, bị ảo tưởng che phủ và ảo cảm làm mờ, đã định hình nó thành một giáo lý cứng nhắc, không thừa nhận sự mặc khải nào thêm nữa; nhiều nhóm Thông Thiên Học vẫn kiên trì khẳng định rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là một sự mặc khải cuối cùng [184] và không được thừa nhận điều gì ngoài cuốn sách ấy, cũng không được xem điều gì là đúng ngoài những cách diễn giải của họ về cuốn sách ấy. Nếu họ đúng, thì sự mặc khải trong tiến hoá đã chấm dứt, và tình cảnh của nhân loại quả thật khốn khó.
Even the neophyte upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognise that which the lower mind cannot give him. Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind; some new light upon an old, old truth may penetrate, releasing the truth from the trammels of orthodoxy, thus illumining his consciousness. This he must use for all and not for himself alone. Little by little, he learns the way into the world of the intuition; day by day, and year by year, he becomes more sensitive to divine Ideas and more apt in appropriating them wisely for the use of his fellowmen.
Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong mình khả năng nhận ra điều mà hạ trí không thể mang lại cho y. Một tư tưởng nào đó có sức mạnh mặc khải, để dùng vào việc giúp đỡ nhiều người, có thể đi vào thể trí y; một ánh sáng mới nào đó soi lên một chân lý rất lâu đời có thể xuyên vào, giải phóng chân lý khỏi những ràng buộc của giáo điều chính thống, nhờ đó soi sáng tâm thức y. Y phải dùng điều này cho tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng mình. Từng chút một, y học con đường đi vào thế giới trực giác; ngày qua ngày, năm qua năm, y trở nên nhạy cảm hơn với các Ý Tưởng thiêng liêng và khéo léo hơn trong việc tiếp nhận chúng một cách minh triết để phục vụ đồng loại.
The hope of the world and the dispelling of illusion lies in the development of intuitives and their conscious training. There are many natural intuitives whose work is a blend of the higher psychism with flashes of true intuition. There must be the training of the exact intuitive. Paralleling their intuitive response and their effort to precipitate their intuition into the world of human thought, there must also be the steady development of the human mind so that it can grasp and apprehend what is projected, and in this too lies the hope of the race.
Hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm ở sự phát triển những người có trực giác và việc huấn luyện họ một cách hữu thức. Có nhiều người có trực giác tự nhiên mà công việc là sự hòa trộn giữa năng lực thông linh cao cấp và những tia lóe của trực giác chân chính. Cần huấn luyện người có trực giác chính xác. Song song với sự đáp ứng trực giác của họ và nỗ lực ngưng tụ trực giác ấy vào thế giới tư tưởng của nhân loại, cũng phải có sự phát triển bền bỉ của trí tuệ con người để nó có thể nắm bắt và lĩnh hội điều được phóng chiếu; chính trong điều này cũng có hy vọng của nhân loại.
b. Group Intuition dispels World Illusion
b. Trực giác nhóm xua tan Ảo tưởng Thế giới
Today the world is full of illusions, many of them veiled under the form of idealisms; it is full of wishful thinking and planning, and even though much of this is rightly oriented and expresses the fixed determination of the intelligentsia to create better living conditions for the entire population [185] of the world, the question arises: Is there in the sum total of this wishful thinking enough of the essential dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration and factual expression and thus truly meet human need? I would point out that the two greatest revealing Agents Who have ever come to Earth within the range of modern history made the following simple revelations to humanity:
Ngày nay, thế giới đầy những ảo tưởng, nhiều ảo tưởng ẩn dưới hình thức các chủ nghĩa lý tưởng; thế giới đầy những tư tưởng và kế hoạch theo ước muốn, và dù phần lớn trong số đó có định hướng đúng đắn và biểu lộ quyết tâm kiên định của giới trí thức nhằm tạo ra những điều kiện sống tốt hơn cho toàn thể dân cư [185] thế giới, câu hỏi vẫn đặt ra: Trong tổng thể những tư tưởng theo ước muốn này, có đủ sức sống năng động thiết yếu để đưa chúng xuống thành sự thể hiện trên cõi hồng trần và biểu hiện thực tế, nhờ đó thật sự đáp ứng nhu cầu của con người hay không? Tôi muốn chỉ ra rằng hai Đấng Mặc Khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong phạm vi lịch sử hiện đại đã ban cho nhân loại những sự mặc khải đơn giản sau đây:
1. The cause of all human suffering is desire and personal selfishness. Give up desire and you will be free.
1. Nguyên nhân của mọi đau khổ nơi con người là dục vọng và sự ích kỷ cá nhân. Hãy từ bỏ dục vọng, các bạn sẽ được tự do.
2. There is a way of liberation and it leads to illumination.
2. Có một con đường giải thoát, và con đường ấy dẫn đến sự soi sáng.
3. It profits a man nothing to gain the whole world and lose his soul.
3. Một người được cả thế giới mà mất linh hồn mình thì chẳng ích gì.
4. Every human being is a Son of God.
4. Mỗi con người đều là một Con của Thượng đế.
5. There is a way of liberation and it is the way of love and sacrifice.
5. Có một con đường giải thoát, và đó là con đường tình thương và hi sinh.
The lives of these Revealers were symbolic representations of that which They taught, and the rest of Their teaching but an extension of Their central themes. Their contribution was an integral part of the general revelation of the ages which has led men from the primitive state of human existence to the complex state of modern civilisation. This general revelation can be called the Revelation of the Path which leads out of form to the Centre of all life; the purity of this revelation has been preserved down the ages by a small handful of disciples, initiates and true esotericists who have always been present upon the Earth—defending the simplicity of that teaching, seeking for those who could respond to and recognise the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception. One of the major tasks of the Hierarchy is to seek for and find those who are sensitive to revelation [186] and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged. All revelation, however, when put into words and word forms, loses something of its divine clarity.
Cuộc đời của các Đấng Mặc Khải này là những biểu hiện mang tính biểu tượng của điều Các Ngài giảng dạy, và phần giáo huấn còn lại của Các Ngài chỉ là sự mở rộng những chủ đề trung tâm ấy. Đóng góp của Các Ngài là một phần không thể tách rời của sự mặc khải chung qua các thời đại, vốn đã dẫn con người từ trạng thái hiện tồn nguyên thủy của nhân loại đến trạng thái phức tạp của nền văn minh hiện đại. Có thể gọi sự mặc khải chung này là Sự Mặc Khải về Đường Đạo dẫn ra khỏi hình tướng đến Trung Tâm của mọi sự sống; sự thuần khiết của sự mặc khải này đã được gìn giữ qua các thời đại nhờ một nhóm nhỏ đệ tử, điểm đạo đồ và các nhà bí truyền học chân chính luôn hiện diện trên Trái Đất—bảo vệ tính đơn giản của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận ra mầm hay hạt giống chân lý, và huấn luyện con người để thay thế Các Ngài và bước trên con đường tri giác trực giác. Một trong những nhiệm vụ lớn của Thánh đoàn là tìm kiếm và tìm ra những người nhạy cảm với sự mặc khải [186] và có thể trí đã được huấn luyện, để họ có thể diễn đạt những chân lý đang xuất hiện sao cho chúng đến được tai những nhà tư tưởng của thế giới mà tương đối không bị biến đổi. Tuy nhiên, mọi sự mặc khải, khi đưa vào ngôn từ và các hình thức ngôn từ, đều mất đi phần nào sự sáng rõ thiêng liêng.
Much of the revelation of the past has come along the lines of the religious impulse and, as the illusion has deepened and grown in time, the original simplicity (as it was conveyed by its Revealers) has been lost. All basic revelations are presented in the simplest forms. Accretion after accretion crept in; the minds of men made the teaching complex through their mental dissertations until the great theological systems were built up which we call, for instance, the Christian Church and the Buddhist system. Their Founders would have much difficulty in recognising the two or three fundamental and divine facts or truths which They sought to reveal and emphasise, so great is the mantle of illusion which has been thrown over the simple pronouncements of the Christ and of the Buddha. The vast cathedrals and the pompous ceremonies of the orthodox are far removed from the humble way of the life of the Christ, the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men, and from the simplicity of His present way of life as He watches and waits for the return of His people to the simple way of spiritual realisation.
Phần lớn sự mặc khải trong quá khứ đã đến theo con đường của xung lực tôn giáo; khi ảo tưởng ngày càng sâu đậm và lớn mạnh theo thời gian, tính đơn giản ban đầu—như các Đấng Mặc Khải đã truyền đạt—đã mất đi. Mọi sự mặc khải căn bản đều được trình bày dưới những hình thức đơn giản nhất. Lớp bồi đắp này tiếp nối lớp bồi đắp khác đã len vào; thể trí con người làm giáo huấn trở nên phức tạp qua những luận giải trí tuệ, cho đến khi hình thành các hệ thống thần học lớn mà chúng ta gọi, chẳng hạn, là Giáo hội Kitô giáo và hệ thống Phật giáo. Các Đấng Sáng Lập sẽ rất khó nhận ra hai hoặc ba sự kiện hay chân lý căn bản và thiêng liêng mà Các Ngài tìm cách mặc khải và nhấn mạnh, vì lớp áo ảo tưởng phủ lên những lời tuyên bố đơn giản của Đức Christ và Đức Phật quá dày. Những thánh đường đồ sộ và các nghi lễ phô trương của giới chính thống cách xa lối sống khiêm nhường của Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư và Huấn sư của cả thiên thần lẫn con người, cũng như cách xa sự đơn giản trong lối sống hiện nay của Ngài, khi Ngài dõi theo và chờ đợi những người thuộc về Ngài trở lại con đường đơn giản của sự chứng nghiệm tinh thần.
So great has been the illusion that in the West today men talk of the “temporal power of the Catholic Church”; the Protestant Churches are split up into warring factions; the Christian Science Church is known for its ability to amass money and to teach its adherents to do so and to achieve temporary good health; the Greek Orthodox Church was corrupt throughout, and only the simple faith of the uncultured and the poor has preserved any semblance of the truth in its original simple form. They have no ability for [187] high sounding theological discussions, but they do believe that God is love—just simply that—that there is a way which leads to peace and light, and that if they deny their own material desires they are pleasing God. I am, I know, widely generalising, brother of mine, for I do know also that there are wise and good Christians and churchmen within the theological systems; these, however, spend not their time in theological discussions but in loving their fellowmen, and this they do because they love Christ and all for which He stands. They are not interested in building great churches of stone and marble and in gathering together the money needed for their support; they are interested to gather out those who form the true Church upon the inner spiritual plane and in helping them to walk in the light.
Ảo tưởng đã lớn đến mức ngày nay ở phương Tây, người ta nói về “quyền lực thế tục của Giáo hội Công giáo”; các Giáo hội Tin Lành chia rẽ thành những phe phái xung đột; Giáo hội Khoa học Kitô giáo nổi tiếng về khả năng tích lũy tiền bạc và dạy tín đồ làm như vậy, cũng như đạt được sức khỏe tốt trong một thời gian; Giáo hội Chính thống Hy Lạp đã từng hoàn toàn suy đồi, và chỉ đức tin đơn giản của những người thiếu học và nghèo khổ mới gìn giữ được chút dáng dấp của chân lý trong hình thức đơn giản ban đầu. Họ không có khả năng tham gia [187] những cuộc thảo luận thần học với lời lẽ cao siêu, nhưng họ tin rằng Thượng đế là tình thương—chỉ đơn giản như vậy—rằng có một con đường dẫn đến bình an và ánh sáng, và rằng nếu từ bỏ những dục vọng vật chất của mình thì họ làm đẹp lòng Thượng đế. Huynh đệ của tôi, Tôi biết rằng Tôi đang khái quát rất rộng, vì Tôi cũng biết rằng trong các hệ thống thần học có những tín đồ Kitô giáo và giáo sĩ minh triết, tốt lành; tuy nhiên, những người này không dành thời gian cho các cuộc thảo luận thần học mà dành cho việc yêu thương đồng loại, và họ làm điều đó vì họ yêu Đức Christ cùng tất cả những gì Ngài đại diện. Họ không quan tâm đến việc xây dựng những nhà thờ lớn bằng đá và cẩm thạch, hay gom góp tiền bạc cần thiết để duy trì chúng; họ quan tâm đến việc quy tụ những người hợp thành Giáo Hội chân chính trên cõi tinh thần bên trong và giúp họ bước đi trong ánh sáng.
The illusion of power, the illusion of superiority, taints them not. After the world crisis is over, Churchmen everywhere will not rest until they can discover how to penetrate through the illusion of doctrine and dogma which engulfs them, and find their way back to Christ and His simple message which has in it the power to save the world, if recognised and practised.
Ảo tưởng về quyền lực, ảo tưởng về sự ưu việt không làm họ hoen ố. Sau khi cuộc khủng hoảng thế giới kết thúc, các giáo sĩ khắp nơi sẽ không ngừng nỗ lực cho đến khi khám phá được cách xuyên qua ảo tưởng về giáo lý và giáo điều đang nhấn chìm họ, rồi tìm đường trở về với Đức Christ và thông điệp đơn giản của Ngài, vốn có quyền năng cứu thế giới nếu được nhận ra và thực hành.
Much of the true revelation since the time of Christ has come to the world along the line of science. The presentation, for instance, of material substance (scientifically proven) as essentially only a form of energy was as great a revelation as any given by the Christ or the Buddha. It completely revolutionised men’s thinking and was—little as you may think it—a major blow struck at the Great Illusion. It related energy to force, form to life, and man to God and held the secret of transformation, transmutation and transfiguration. The revelations of science when basic and fundamental are as divine as those of religion, but both have been prostituted to meet human demand. The era is [188] close at hand when science will bend every effort to heal humanity’s sores and build a better and happier world.
Phần lớn sự mặc khải chân chính kể từ thời Đức Christ đã đến với thế giới theo con đường khoa học. Chẳng hạn, việc trình bày chất liệu vật chất—đã được khoa học chứng minh—rằng về bản chất nó chỉ là một hình thức năng lượng, là một sự mặc khải vĩ đại không kém bất kỳ sự mặc khải nào do Đức Christ hay Đức Phật ban ra. Nó đã hoàn toàn cách mạng hóa tư duy con người và—dù các bạn có thể ít nghĩ như vậy—là một đòn mạnh giáng vào Ảo Tưởng Lớn. Nó liên kết năng lượng với mãnh lực, hình tướng với sự sống, con người với Thượng đế, và chứa đựng bí mật của sự chuyển đổi, chuyển hoá và biến hình. Những sự mặc khải của khoa học, khi mang tính căn bản và nền tảng, cũng thiêng liêng như những sự mặc khải của tôn giáo, nhưng cả hai đều đã bị sử dụng sai lệch để đáp ứng đòi hỏi của con người. Thời đại ấy đang [188] đến gần, khi khoa học sẽ dốc mọi nỗ lực để chữa lành những vết thương của nhân loại và xây dựng một thế giới tốt đẹp, hạnh phúc hơn.
The revelations of science, though focussed often through one man or woman, are more specifically the result of group endeavour and of trained group activity than are the revelations of religion, so called. Revelation, therefore, comes in two ways:
Những sự mặc khải của khoa học, dù thường tập trung qua một người nam hay nữ, là kết quả của nỗ lực nhóm và hoạt động nhóm đã được huấn luyện rõ rệt hơn so với những sự mặc khải của cái gọi là tôn giáo. Vì vậy, sự mặc khải đến theo hai cách:
1. Through the effort, aspiration and achievement of one man who is so close to the Hierarchy and so imbued with conscious divinity that he can receive the message direct from the central divine Source. He has joined the ranks of the Great Intuitives and works freely in the world of divine Ideas. He knows His mission clearly; He chooses His sphere of activity with deliberation and isolates the truth or truths which He deems appropriate to the need of the time. He comes forth as a Messenger of the Most High, leads a dramatic and arresting life of service and symbolises in His life-events certain basic truths which have already been revealed but which He pictorially re-enacts. He epitomises in Himself the revelations of the past, and to them adds His Own contribution of the new revelation which it is His specific function to present to the world.
1. Qua nỗ lực, khát vọng và thành tựu của một người gần gũi với Thánh đoàn đến mức, và thấm nhuần thiên tính hữu thức đến mức, có thể nhận thông điệp trực tiếp từ Nguồn thiêng liêng trung tâm. Ngài đã gia nhập hàng ngũ những Đấng Trực Giác Vĩ Đại và hoạt động tự do trong thế giới các Ý Tưởng thiêng liêng. Ngài biết rõ sứ mệnh của mình; Ngài cân nhắc lựa chọn phạm vi hoạt động và tách riêng chân lý hay những chân lý mà Ngài xem là phù hợp với nhu cầu của thời đại. Ngài xuất hiện như một Sứ Giả của Đấng Tối Cao, sống một cuộc đời phụng sự đầy kịch tính và thu hút sự chú ý, và qua những sự kiện trong đời mình, Ngài biểu tượng hóa một số chân lý căn bản đã được mặc khải nhưng được Ngài tái hiện một cách sinh động. Ngài kết tinh trong chính mình những sự mặc khải của quá khứ, rồi bổ sung vào đó đóng góp riêng của Ngài về sự mặc khải mới mà chức năng đặc thù của Ngài là trình bày với thế giới.
2. Through the effort of a group of seekers, such as the scientific investigators in every country, who together are searching for light on the problems of manifestation or for some means to alleviate human suffering, a revelation comes. The effort of such a group often lifts upon the wings of its unrealised aspiration some one man who can then penetrate into the world of divine Ideas and there find the longed for cure or key and thus he intuitively discovers a long sought secret. The discovery, [189] when of the first rank, is as much a revelation as the truths presented by the World Teachers. Who shall say that the statement that God is Love is of more value than the statement that All is Energy?
2. Qua nỗ lực của một nhóm người tìm kiếm, chẳng hạn các nhà nghiên cứu khoa học ở mọi quốc gia, những người cùng nhau tìm ánh sáng soi rõ các vấn đề của sự biểu hiện hay một phương tiện nào đó để làm vơi đau khổ của con người, một sự mặc khải xuất hiện. Nỗ lực của một nhóm như vậy thường nâng một người nào đó lên trên đôi cánh khát vọng mà chính nhóm chưa nhận biết; khi ấy, người này có thể thâm nhập thế giới các Ý Tưởng thiêng liêng và tìm thấy ở đó phương thuốc hay chìa khóa hằng mong mỏi, nhờ đó khám phá bằng trực giác một bí mật đã tìm kiếm từ lâu. Khám phá ấy, [189] khi thuộc hàng cao nhất, cũng là một sự mặc khải như những chân lý do các Đức Chưởng Giáo trình bày. Ai có thể nói rằng lời khẳng định Thượng đế là Tình Thương có giá trị hơn lời khẳng định Tất Cả đều là Năng Lượng?
The route which the revelation then follows is the same in both cases, and illusion overtakes both forms of revelation but—and here is a point upon which I would ask you to reflect—there is a little less illusion gathered around the revelations of science than has gathered around the revelations of what humanity calls the more definitely spiritual truths. One reason lies in the fact that the last great spiritual revelation, given by the Christ, was given two thousand years ago, and the development of man’s mind and his responsiveness to truth has grown greatly since that time. Again, the revelations of science are largely the result of group tension, eventually focussed in one intuitive recipient, and the revelation is thereby protected.
Lộ trình mà sự mặc khải đi theo sau đó giống nhau trong cả hai trường hợp, và ảo tưởng đều bắt kịp cả hai hình thức mặc khải; nhưng—đây là điểm Tôi muốn các bạn suy ngẫm—ảo tưởng tích tụ quanh những sự mặc khải của khoa học ít hơn đôi chút so với quanh những sự mặc khải về điều mà nhân loại gọi là những chân lý mang tính tinh thần rõ rệt hơn. Một lý do nằm ở chỗ sự mặc khải tinh thần vĩ đại gần đây nhất, do Đức Christ ban ra, đã được ban cách đây hai nghìn năm, và kể từ đó, trí tuệ con người cùng khả năng đáp ứng chân lý đã phát triển rất nhiều. Hơn nữa, những sự mặc khải của khoa học phần lớn là kết quả của sự tập trung nhất tâm của nhóm, cuối cùng quy tụ nơi một người tiếp nhận có trực giác, và nhờ đó sự mặc khải được bảo vệ.
Today, as humanity awaits the revelation which will embody the thoughts and dreams and constructive goal of the New Age, the demand comes for the first time from a large group of intuitively inclined people. I said not intuitives, brother of old. This group is now so large and its focus is now so real and its demand so loud that it is succeeding in focussing the massed intent of the people. Therefore, whatever revelation may emerge in the immediate future will be better “protected by the spirit of understanding” than any previous one. This is the significance of the words of the New Testament, “every eye shall see Him”; humanity as a whole will recognise the revealing One. In past ages the Messenger from on High was only recognised by and known to a mere handful of men, and it took decades and sometimes centuries for His message to penetrate into the hearts of humanity.
Ngày nay, khi nhân loại chờ đợi sự mặc khải sẽ thể hiện những tư tưởng, ước mơ và mục tiêu xây dựng của Kỷ Nguyên Mới, lần đầu tiên lời yêu cầu đến từ một nhóm đông đảo những người có khuynh hướng trực giác. Huynh Đệ của Ngày Xưa, Tôi không nói là những người có trực giác. Hiện nay, nhóm này đông đảo đến mức, sự tập trung của nhóm chân thực đến mức và lời yêu cầu của nhóm mạnh mẽ đến mức, nhóm đang thành công trong việc tập trung ý hướng chung của quần chúng. Vì vậy, bất kỳ sự mặc khải nào xuất hiện trong tương lai gần cũng sẽ được “tinh thần thấu hiểu bảo vệ” tốt hơn mọi sự mặc khải trước đó. Đây là thâm nghĩa của những lời trong Tân Ước: “mọi mắt sẽ thấy Ngài”; toàn thể nhân loại sẽ nhận ra Đấng mặc khải. Trong các thời đại trước, chỉ một số rất ít người nhận ra và biết đến Sứ Giả từ Trên Cao, và phải mất nhiều thập niên, đôi khi nhiều thế kỷ, thông điệp của Ngài mới thấm vào trái tim nhân loại.
[190] The stress of the times also and the development of the sense of proportion, plus an enforced return to simplicity of living and requirements may save the coming revelation from too swift and quick submergence in the fire of the Great Illusion.
[190] Áp lực của thời đại, cùng sự phát triển của Ý thức về tỉ lệ, cộng với việc buộc phải trở lại sự đơn giản trong lối sống và nhu cầu, cũng có thể cứu sự mặc khải sắp đến khỏi bị nhấn chìm quá nhanh trong ngọn lửa của Ảo Tưởng Lớn.
It will be apparent to you from the above that the mode of handling world affairs, states of consciousness and conditions in the three worlds is one in which the disciple and initiate work from above downwards. The method is in reality a repetition of the involutionary arc in which—like the Creator, from a vantage point of exterior direction—energy, force and forces are directed into the world of phenomena and produce definite effects upon the substance of the three planes. This is a point which should be most carefully remembered; and it is for this reason that the Technique of the Presence must always be employed, prior to all other techniques. It establishes contact with the directing spiritual Agent and enables the disciple to assume the attitude of the detached Observer and an agent of the Plan. When this technique is correctly followed, it brings the intuition into play and the world of meaning (lying behind the world of phenomena) stands revealed, thereby dispelling illusion. Truth, as it is, is seen and known. Forms in the outer world of phenomena (outer from the angle of the soul and therefore encompassing the three worlds of our familiar daily living) are seen to be but symbols of an inward and spiritual Reality.
Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng cách xử lý các vấn đề thế giới, các trạng thái tâm thức và các điều kiện trong ba cõi giới là cách mà đệ tử và điểm đạo đồ làm việc từ trên xuống dưới. Thực ra, phương pháp này lặp lại vòng cung giáng hạ tiến hoá, trong đó—giống như Đấng Sáng Tạo, từ một vị thế chỉ đạo ở bên ngoài—năng lượng, mãnh lực và các mãnh lực được hướng vào thế giới hiện tượng và tạo ra những tác động xác định lên chất liệu của ba cõi. Đây là điểm cần ghi nhớ hết sức cẩn thận; chính vì lý do này, Kỹ Thuật của Hiện Diện phải luôn được vận dụng trước mọi kỹ thuật khác. Nó thiết lập sự tiếp xúc với Tác Nhân tinh thần chỉ đạo và giúp đệ tử đảm nhận thái độ của Người Quan Sát tách rời và một tác nhân của Thiên Cơ. Khi được thực hiện đúng đắn, kỹ thuật này đưa trực giác vào hoạt động và Thế giới của thâm nghĩa—nằm phía sau thế giới hiện tượng—hiển lộ, nhờ đó xua tan ảo tưởng. Chân lý được nhìn thấy và nhận biết đúng như nó vốn có. Các hình tướng trong thế giới hiện tượng bên ngoài—bên ngoài theo góc nhìn của linh hồn, và do đó bao gồm ba cõi giới của đời sống hằng ngày quen thuộc với chúng ta—được thấy chỉ là những biểu tượng của một Thực Tại tinh thần bên trong.
2. The Technique of Light – 2. Kỹ Thuật Ánh sáng
We come now to the consideration of the next development and service to be rendered through the medium of another technique.
Giờ đây, chúng ta xét đến bước phát triển tiếp theo và công việc phụng sự cần thực hiện qua trung gian một kỹ thuật khác.
This theme is so vast and there is so much literature to be found in all the world Scriptures, commentaries and theological [191] dissertations on the subject of Light that the simple truth and a few basic principles are lost to sight in a welter of words.
Chủ đề này rộng lớn đến mức, và có quá nhiều tài liệu trong mọi Kinh Điển, các bài bình giảng và những luận giải thần học [191] trên thế giới về chủ đề Ánh Sáng, đến mức chân lý đơn giản cùng một vài nguyên khí căn bản bị khuất lấp trong một biển ngôn từ hỗn độn.
In my various books I have given much anent this subject and in the book, The Light of the Soul, which I wrote in collaboration with A.A.B., an effort was made to indicate the nature of the light of the soul. The key to this technique is to be found in the words: In that Light shall we see LIGHT. A simple paraphrase of these apparently abstract and symbolic words could be given as follows: When the disciple has found that lighted centre within himself and can walk in its radiating light, he is then in a position (or in a state of consciousness, if you prefer) wherein he becomes aware of the light within all forms and atoms. The inner world of reality stands visible to him as light-substance (a different thing to the Reality, revealed by the intuition). He can then become an efficient cooperator with the Plan because the world of psychic meaning becomes real to him and he knows what should be done to dispel glamour. It might be stated that this process of bringing light into dark places falls naturally into three stages:
Trong các cuốn sách khác nhau của mình, Tôi đã trình bày nhiều điều về chủ đề này; trong cuốn Ánh Sáng của Linh Hồn, mà Tôi viết với sự cộng tác của A.A.B., đã có một nỗ lực nhằm chỉ ra bản chất của ánh sáng linh hồn. Chìa khóa của kỹ thuật này nằm trong những lời: Trong Ánh Sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG. Có thể diễn giải đơn giản những lời có vẻ trừu tượng và mang tính biểu tượng này như sau: Khi đệ tử đã tìm thấy trung tâm được soi sáng ấy bên trong mình và có thể bước đi trong ánh sáng tỏa ra từ đó, y ở vào một vị thế—hay một trạng thái tâm thức, nếu các bạn thích cách nói ấy—trong đó y nhận biết ánh sáng bên trong mọi hình tướng và nguyên tử. Thế giới thực tại bên trong hiện ra trước y như chất liệu ánh sáng—khác với Thực Tại do trực giác hé lộ. Khi ấy, y có thể trở thành một người cộng tác hữu hiệu với Thiên Cơ, vì thế giới thâm nghĩa thông linh trở nên thực đối với y, và y biết cần làm gì để xua tan ảo cảm. Có thể nói rằng tiến trình đưa ánh sáng vào những nơi tối tăm này tự nhiên chia thành ba giai đoạn:
1. The stage wherein the beginner and the aspirant endeavour to eradicate glamour out of their own life by the use of the light of the mind. The light of knowledge is a major dispelling agent in the earlier phases of the task and effectively eliminates the various glamours which veil the truth from the aspirant.
1. Giai đoạn trong đó người mới bắt đầu và người chí nguyện cố gắng loại bỏ ảo cảm khỏi đời sống của chính mình bằng cách sử dụng ánh sáng của thể trí. Ánh sáng của tri thức là một tác nhân xua tan chủ yếu trong những giai đoạn đầu của công việc, và hữu hiệu loại bỏ những ảo cảm khác nhau đang che khuất chân lý trước người chí nguyện.
2. The stage wherein the aspirant and disciple work with the light of the soul. This is the light of wisdom which is the interpreted result of long experience, and this streams forth, blending with the light of knowledge.
2. Giai đoạn trong đó người chí nguyện và đệ tử làm việc với ánh sáng của linh hồn. Đây là ánh sáng của minh triết, tức kết quả đã được diễn giải từ kinh nghiệm lâu dài; ánh sáng này tuôn ra, hòa trộn với ánh sáng của tri thức.
3. The stage wherein the disciple and the initiate work with the light of the intuition. It is through the blended [192] medium of the light of knowledge (personality light) and the light of wisdom (soul light) that the Light is seen, known and appropriated. This light puts out the lesser lights through the pure radiance of its power.
3. Giai đoạn trong đó đệ tử và điểm đạo đồ làm việc với ánh sáng của trực giác. Chính qua trung gian hòa trộn [192] của ánh sáng tri thức—ánh sáng phàm ngã—và ánh sáng minh triết—ánh sáng linh hồn—mà Ánh Sáng được nhìn thấy, nhận biết và tiếp nhận. Ánh sáng này dập tắt những ánh sáng nhỏ hơn bằng sự tỏa chiếu thuần khiết của quyền năng nó.
You have therefore the light of knowledge, the light of wisdom and the light of the intuition, and these are three definite stages or aspects of the One Light. They correspond to the physical Sun, the heart of the Sun, and the Central Spiritual Sun. In this last sentence you have the clue and the key to the relation of man to the Logos.
Vì vậy, các bạn có ánh sáng của tri thức, ánh sáng của minh triết và ánh sáng của trực giác; đây là ba giai đoạn hay phương diện xác định của Ánh Sáng Duy Nhất. Chúng tương ứng với Mặt trời hồng trần, trái tim của Mặt trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Trong câu cuối này, các bạn có manh mối và chìa khóa cho mối quan hệ giữa con người và Thượng đế.
These stages and their corresponding techniques are apt to be misunderstood if the student fails to remember that between them lie no real lines of demarcation but only a constant overlapping, a cyclic development and a process of fusion which is most confusing to beginners. Just as the result of innate reaction to environment produces the apparatus needed to contact that environment, so the unfoldment of the powers which these techniques serve produces modes of contact with soul and spiritual environments. Each of these techniques is related to a new environment; each of them eventually develops power in the initiate or disciple which can be used in the service of humanity and in higher spheres of divine activity; each is related to the other techniques, and each releases the disciple into a conscious relationship with a new environment, new states of awareness and new fields of service. For instance:
Những giai đoạn này và các kỹ thuật tương ứng dễ bị hiểu lầm nếu đạo sinh không nhớ rằng giữa chúng không có những đường phân định thực sự, mà chỉ có sự chồng lấn liên tục, sự phát triển theo chu kỳ và một tiến trình dung hợp gây rất nhiều bối rối cho người mới bắt đầu. Cũng như phản ứng bẩm sinh với môi trường tạo ra bộ máy cần thiết để tiếp xúc với môi trường ấy, sự khai mở các quyền năng mà những kỹ thuật này phục vụ cũng tạo ra những phương thức tiếp xúc với các môi trường linh hồn và tinh thần. Mỗi kỹ thuật này đều liên quan đến một môi trường mới; cuối cùng, mỗi kỹ thuật đều phát triển nơi điểm đạo đồ hay đệ tử một quyền năng có thể dùng để phụng sự nhân loại và trong những lĩnh vực cao hơn của hoạt động thiêng liêng; mỗi kỹ thuật đều liên quan đến các kỹ thuật khác, và mỗi kỹ thuật đều đưa đệ tử vào một mối quan hệ hữu thức với một môi trường mới, những trạng thái nhận biết mới và những lĩnh vực phụng sự mới. Chẳng hạn:
1. The Technique of the Presence, when successfully followed, enables the intuition to flow in and to supersede the activity of the rationalising mind and to dispel illusion, substituting for that illusion divine ideas, formulated into concepts which we call ideals. The Masters, it should be remembered, only use the mind for two activities: [193]
1. Kỹ Thuật của Hiện Diện, khi được thực hiện thành công, cho phép trực giác tuôn vào và thay thế hoạt động của thể trí lý luận, đồng thời xua tan ảo tưởng, thay vào đó bằng những ý tưởng thiêng liêng được diễn đạt thành các quan niệm mà chúng ta gọi là lý tưởng. Cần nhớ rằng các Chân sư chỉ dùng thể trí cho hai hoạt động: [193]
a. To reach the minds of Their disciples and attract aspirants through the medium of an instrument similar to the disciple’s mind.
a. Tiếp cận thể trí của các đệ tử của Các Ngài và thu hút người chí nguyện qua trung gian một công cụ tương tự thể trí của đệ tử.
b. To create thoughtforms on concrete levels which can embody these divine ideas. The directing Agent, the Angel of the Presence, produces the power to create in this manner, and this we call the result of the intuition—idea or truth, its perception and its reproduction.
b. Tạo ra các hình tư tưởng trên những cấp độ cụ thể có thể thể hiện các ý tưởng thiêng liêng này. Tác Nhân chỉ đạo, Thiên Thần của Hiện Diện, tạo ra quyền năng sáng tạo theo cách này; chúng ta gọi đây là kết quả của trực giác—ý tưởng hay chân lý, sự tri giác và sự tái hiện nó.
2. The Technique of Light is more closely related to the mind and signifies the method whereby the illumination which flows from the soul (whose nature is light) can irradiate not only ideals but life, circumstances and events, revealing the cause and the meaning of the experience. When the power of the disciple to illumine is grasped, he has taken the first step towards dispelling glamour; and just as the technique of the Presence becomes effective upon the mental plane, so this technique produces powers which can become effective on the astral plane and eventually bring about the dissipation and the disappearance of that plane.
2. Kỹ Thuật Ánh sáng liên quan chặt chẽ hơn với thể trí và chỉ phương pháp nhờ đó sự soi sáng tuôn ra từ linh hồn—có bản chất là ánh sáng—có thể tỏa chiếu không chỉ lên các lý tưởng mà cả đời sống, hoàn cảnh và sự kiện, hé lộ nguyên nhân và ý nghĩa của kinh nghiệm. Khi đệ tử nắm được quyền năng soi sáng của mình, y đã bước bước đầu tiên hướng đến việc xua tan ảo cảm; cũng như Kỹ Thuật của Hiện Diện trở nên hữu hiệu trên cõi trí, kỹ thuật này tạo ra những quyền năng có thể trở nên hữu hiệu trên cõi cảm dục và cuối cùng làm cho cõi ấy tiêu tan rồi biến mất.