Letters On Occult Meditation
Received and Edited by
Được Tiếp nhận và Biên tập bởi
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
Dedicated to
Kính Dâng Tặng
THE TIBETAN TEACHER
CHÂN SƯ TÂY TẠNG
who wrote these letters
người đã viết những lá thư này
and authorised their publication
và cho phép xuất bản chúng
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các vị giáo sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.
Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với hơi thở hổn hển) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ tâm trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.
AUGUST 1934
THÁNG 8 NĂM 1934
THE GREAT INVOCATION
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”
ALICE A. BAILEY
FOREWORD
[Commentary 1]
The following letters were received during the period included within the dates, May 16th, 1920, and October 20th, 1920, with the exception of the two letters which were received in 1919. With the consent of their author they have been gathered together for publication.
Những lá thư sau đây được nhận trong khoảng thời gian bao gồm các ngày, từ 16 tháng 5, 1920, và 20 tháng 10, 1920, ngoại trừ hai lá thư được nhận vào năm 1919. Với sự đồng ý của tác giả, chúng đã được tập hợp lại để xuất bản.
They are published in full as received, with the exception of certain parts which have a purely personal application, those having reference to a certain occult school, and those of a prophetic or esoteric nature, which may not now be communicated.
Chúng được xuất bản đầy đủ như khi nhận được, ngoại trừ một số phần có ứng dụng hoàn toàn cá nhân, những phần liên quan đến một trường huyền môn nhất định, và những phần có tính chất tiên tri hoặc huyền bí, mà hiện nay chưa thể được truyền đạt.
It is hoped that those who read these letters will endeavour to do two things:
Hy vọng rằng những ai đọc những lá thư này sẽ nỗ lực thực hiện hai điều:
1. Read always with an open mind, remembering that the truth is a many-sided diamond, and that its different aspects will appear at different times, as those who guide the race see a need which must be met. Many books on meditation have been written, some too abstruse and some too superficial to satisfy the average educated man. The writer of these letters has apparently attempted to supply the need of a brief yet scientific exposition of a rationale of meditation, emphasising the goal immediately ahead and the intermediate stages.
1. Luôn đọc với một tâm trí cởi mở, nhớ rằng chân lý là một viên kim cương nhiều mặt, và rằng các phương diện khác nhau của nó sẽ xuất hiện vào những thời điểm khác nhau, khi những đấng dẫn dắt nhân loại thấy một nhu cầu cần phải được đáp ứng. Nhiều cuốn sách về tham thiền đã được viết ra, một số quá trừu tượng và một số quá hời hợt để thỏa mãn người có giáo dục trung bình. Tác giả của những lá thư này dường như đã cố gắng cung cấp nhu cầu về một sự trình bày ngắn gọn nhưng khoa học về cơ sở lý luận của tham thiền, nhấn mạnh vào mục tiêu ngay phía trước và các giai đoạn trung gian.
2. Judge of the letters on their merits and not upon claims put forth on behalf of the writer. For this reason he has chosen to preserve his anonymity and has requested the recipient of the letters to publish them under his pseudonym.
2. Đánh giá các lá thư dựa trên giá trị của chúng chứ không phải dựa trên những tuyên bố được đưa ra nhân danh người viết. Vì lý do này, ngài đã chọn giữ ẩn danh và đã yêu cầu người nhận thư xuất bản chúng dưới bút danh của ngài.
If the subject matter of the letters is of value it will call forth a response from the readers and serve to help some onward towards the goal, and prove to many the inspiration and aid it already has to a few.
Nếu chủ đề của các lá thư có giá trị, nó sẽ khơi gợi một sự đáp ứng từ độc giả và giúp ích cho một số người tiến về phía mục tiêu, và chứng minh cho nhiều người thấy nguồn cảm hứng và sự trợ giúp mà nó đã mang lại cho một số ít người.
ALICE A. BAILEY. NEW YORK, 1922.
ALICE A. BAILEY. NEW YORK, 1922.
The constitution of man (see diagram above), as considered in the following pages, is basically threefold, as follows:—
Cấu tạo của con người (xem sơ đồ trên), như được xem xét trong các trang sau, về cơ bản là tam phân, như sau:—
I. The Monad, or pure Spirit, the Father in Heaven—Chân Thần, hay Tinh thần thuần khiết, Cha trên Trời.
This aspect reflects the three aspects of the Godhead:
Phương diện này phản ánh ba phương diện của Thượng đế:
1. Will or Power.........The Father
1. Ý Chí hoặc Quyền Năng.........Cha
2. Love-Wisdom........The Son
2. Bác Ái-Minh Triết........Con
3. Active Intelligence.... The Holy Spirit
3. Trí Tuệ Linh Hoạt.... Chúa Thánh Thần
and is only contacted at the final initiations, when man is nearing the end of his journey and is perfected.
và chỉ được tiếp xúc tại các cuộc điểm đạo cuối cùng, khi con người đang đến gần cuối hành trình của mình và được hoàn thiện.
The Monad reflects itself again in
Chân Thần lại phản ánh chính nó trong
II. The Ego, Higher Self, or Individuality—Chân Ngã, Cái Ngã Cao Cả, hay Cá Thể Tính.
This aspect is potentially:—
Phương diện này tiềm tàng:—
1. Spiritual Will... Atma
1. Ý Chí Tinh Thần... Atma
2. Intuition....Buddhi, Love-Wisdom, the Christ principle.
2. Trực giác....Buddhi, Bác Ái-Minh Triết, nguyên khí Christ.
3. Higher or abstract Mind...Higher Manas.
3. Thượng Trí hay Trí trừu tượng...Thượng Manas.
The Ego begins to make its power felt in advanced men, and increasingly on the Probationary Path until by the third initiation the control of the lower self by the higher is perfected, and the highest aspect begins to make its energy felt.
Chân Ngã bắt đầu làm cho quyền năng của nó được cảm thấy ở những người tiến hóa cao, và ngày càng tăng trên Đường Dự Bị cho đến khi tại lần điểm đạo thứ ba, sự kiểm soát phàm ngã bởi chân ngã được hoàn thiện, và phương diện cao nhất bắt đầu làm cho năng lượng của nó được cảm thấy.
The Ego reflects itself in
Chân Ngã phản ánh chính nó trong
III. The Personality, or lower self, physical plane man.
III. Phàm Ngã, hay cái ngã thấp, con người cõi hồng trần.
This aspect is also threefold:—
Phương diện này cũng là tam phân:—
1. A mental body...lower manas.
1. Một thể trí...hạ manas.
2. An emotional body... astral body.
2. Một thể cảm dục... thể astral.
3. A physical body...the dense physical and the etheric body.
3. Một thể xác...thể xác đậm đặc và thể dĩ thái.
The aim of meditation is therefore to bring man to the realisation of the Egoic aspect and to bring the lower nature under its control. This is the immediate goal for the average man.
Vì vậy, mục đích của tham thiền là đưa con người đến sự chứng nghiệm về phương diện Chân Ngã và đưa bản chất thấp kém vào dưới sự kiểm soát của nó. Đây là mục tiêu trước mắt đối với người trung bình.
LETTER I—THE ALIGNMENT OF THE EGO WITH THE PERSONALITY
[Commentary 2]
1—The Aligning of the three lower bodies.
1—Sự chỉnh hợp của ba thể thấp.
2—Aligning with the Causal Body.
2—Chỉnh hợp với Thể Nguyên Nhân.
3—The Method of Alignment.
3—Phương pháp chỉnh hợp.
4—Macrocosmic and Microcosmic Alignment. [1]
4—Sự chỉnh hợp vĩ mô và vi mô. [1]
ALIGNMENT OF THE EGO WITH THE PERSONALITY—SỰ CHỈNH HỢP CỦA CHÂN NGÃ VỚI PHÀM NGÃ.
Sunday, May 16, 1920.
Chủ nhật, ngày 16 tháng 5, 1920.
It is in the aligning of the three vehicles, the physical, the emotional, and the lower mind body, within the causal periphery, and their stabilising there by an effort of the will, that the real work of the Ego or Higher Self in any particular incarnation can be accomplished. The great thinkers of the race, the true exponents of lower mind, are fundamentally those whose three lower bodies are aligned; that is to say those whose mental body holds the other two in circumspect alignment. The mental body, then, is in direct communication, unobstructed and free from interference, straight through to the physical brain.
Chính trong việc chỉnh hợp ba vận cụ—thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí—ở trong chu vi nhân thể, và làm cho chúng ổn định tại đó bằng một nỗ lực của ý chí, mà công việc thực sự của Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu trong bất kỳ một kiếp lâm phàm cụ thể nào có thể được hoàn thành. Những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, những người thực sự tiêu biểu cho hạ trí, về căn bản là những người có ba thể thấp được chỉnh hợp; nghĩa là những người mà thể trí giữ hai thể kia trong sự chỉnh hợp thận trọng. Khi ấy, thể trí ở trong sự giao thông trực tiếp, không bị ngăn trở và không bị can thiệp, đi thẳng xuyên suốt đến bộ não hồng trần.
When the alignment is fourfold and when the three above-mentioned bodies are aligned with the body of the Higher Self, the causal or egoic body, and held steady within its circumference, then the great leaders of the race,—those who emotionally and intellectually sway mankind, can be seen working; then the inspirational writers and dreamers can bring down their inspirations and dreams; and then the synthetic and abstract thinkers [2] can transfer their conceptions to the world of form. It is, right through, a question of an unimpeded channel. Study, therefore, in this connection and when time permits, physical co-ordination; then to physical co-ordination add emotional stability, and you have the two vehicles functioning as one. When the co-ordination extends to the mental body, the threefold lower man is reaching his apotheosis, and has rung most of the changes in the world of form.
Khi sự chỉnh hợp là tứ phân và khi ba thể vừa nêu được chỉnh hợp với thể của Bản Ngã Cao Siêu, tức thể nguyên nhân hay thể chân ngã, và được giữ vững trong chu vi của nó, thì có thể thấy các nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân loại,—những người chi phối nhân loại về mặt cảm xúc và trí tuệ—đang làm việc; khi ấy các nhà văn đầy cảm hứng và những người mộng tưởng có thể đem các cảm hứng và giấc mơ của họ xuống; và khi ấy các nhà tư tưởng tổng hợp và trừu tượng [2] có thể chuyển các quan niệm của họ vào thế giới hình tướng. Xuyên suốt, đó là vấn đề của một kênh thông suốt không bị cản trở. Vì vậy, hãy nghiên cứu, trong mối liên hệ này và khi thời gian cho phép, sự phối hợp thể xác; rồi vào sự phối hợp thể xác hãy thêm sự ổn định cảm xúc, và các bạn sẽ có hai vận cụ hoạt động như một. Khi sự phối hợp mở rộng đến thể trí, phàm nhân tam phân đang đạt đến đỉnh cao của y, và đã trải qua hầu hết mọi biến chuyển trong thế giới hình tướng.
Later comes co-ordination perfected with the Higher Self, the channel of communication reaching in line direct,—via an unimpeded funnel, if so I might express it,—to the physical brain consciousness. Heretofore it has only been direct at rare intervals. The four lesser brain centres are functioning at high vibration in the man of a highly co-ordinated personality; when the Ego is nearing alignment with the lower bodies, the pineal gland and the pituitary body are in process of development; and when they are functioning with correlation (which eventuates by the time the third Initiation is taken), then the third, or alta major centre, intensifies its hitherto gentle vibration. When the fifth Initiation is taken, the interplay between the three centres is perfected, and the alignment of the bodies is geometrically rectified; you have then the perfected fivefold superman.
Về sau mới đến sự phối hợp được hoàn thiện với Bản Ngã Cao Siêu, kênh giao thông vươn tới theo một đường thẳng trực tiếp,—qua một cái phễu không bị cản trở, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy,—đến tâm thức bộ não hồng trần. Trước đây, nó chỉ trực tiếp trong những khoảng hiếm hoi. Bốn trung tâm não bộ nhỏ hơn đang hoạt động ở mức rung động cao ở người có một phàm ngã được phối hợp cao độ; khi Chân ngã đang tiến gần đến sự chỉnh hợp với các thể thấp, tuyến tùng và tuyến yên đang trong tiến trình phát triển; và khi chúng hoạt động trong sự tương quan phối hợp (điều này xảy ra vào lúc lần điểm đạo thứ ba), thì trung tâm thứ ba, hay trung tâm alta major, tăng cường sự rung động vốn trước đây còn nhẹ nhàng của nó. Khi lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, sự tương tác giữa ba trung tâm được hoàn thiện, và sự chỉnh hợp của các thể được hiệu chỉnh một cách hình học; khi ấy các bạn có siêu nhân ngũ phân hoàn thiện.
For the average man, then, this alignment occurs only at intervals, in moments of stress, in hours of needed humanitarian effort and in times of intensest aspiration. Abstraction of a more or less degree has to enter in before the Ego takes continued notice of the personality or lower self. When that abstraction involves the emotions, is based in the mentality and contacts the physical brain, then alignment is commencing. [3]
Vì vậy, đối với người bình thường, sự chỉnh hợp này chỉ xảy ra từng lúc, trong những khoảnh khắc căng thẳng, trong những giờ phút cần nỗ lực nhân đạo, và trong những thời điểm khát vọng mãnh liệt nhất. Phải có sự trừu xuất ở một mức độ nào đó trước khi Chân ngã liên tục lưu tâm đến phàm ngã hay bản ngã thấp. Khi sự trừu xuất ấy liên quan đến cảm xúc, dựa trên trí tuệ và tiếp xúc với bộ não hồng trần, thì sự chỉnh hợp đang bắt đầu. [3]
Hence the work of meditation, for it tends to abstraction and seeks to awaken to abstract consciousness both the emotions and the mentality.
Do đó cần tham thiền, vì nó hướng đến sự trừu xuất và tìm cách đánh thức tâm thức trừu tượng ở cảm xúc lẫn trí tuệ.
Alignment and Vibration—Sự Chỉnh Hợp và Rung Động.
Forget not either that it is largely a question of matter and vibration. The abstract levels of the mental plane consist of the three higher levels, the first being that termed the third subplane. As I have explained to you before, each subplane has its correlations on the major planes. When, therefore, you have built into your bodies,—physical, emotional and mental,—matter of the third subplane of each of those planes, then the Higher self commences consciously and ever more continuously to function through the aligning Personality. Perhaps we might reverse the idea and state that it is only when third subplane matter of a certain percentage (which percentage is one of the secrets of Initiation) is contained in the vehicles, that the Personality as a conscious whole recognises and obeys that Higher self. After such a percentage is attained, it is then necessary to build in matter of the two higher subplanes on the physical and emotional planes; hence the struggle for the aspirant to purify and discipline the physical body and to subdue the emotional. Purification and subjugation describe the work to be done on the two planes. This involves the use of lower mind, and the three lower vehicles thus become aligned.
Cũng đừng quên rằng phần lớn đây là vấn đề của vật chất và rung động. Các cấp độ trừu tượng của cõi trí gồm ba cấp độ cao hơn, trong đó cấp thứ nhất là cấp được gọi là cõi phụ thứ ba. Như Tôi đã giải thích với các bạn trước đây, mỗi cõi phụ đều có các tương quan của nó trên các cõi chính. Vì vậy, khi các bạn đã xây dựng vào trong các thể của mình,—thể xác, thể cảm dục và thể trí,—vật chất của cõi phụ thứ ba của mỗi cõi ấy, thì Bản Ngã Cao Siêu bắt đầu một cách có ý thức và ngày càng liên tục hơn hoạt động qua phàm ngã đã được chỉnh hợp. Có lẽ chúng ta có thể đảo ngược ý tưởng và nói rằng chỉ khi vật chất cõi phụ thứ ba đạt một tỷ lệ nhất định (tỷ lệ ấy là một trong những bí mật của điểm đạo) được chứa trong các vận cụ, thì phàm ngã như một toàn thể có ý thức mới nhận biết và vâng phục Bản Ngã Cao Siêu ấy. Sau khi đạt được tỷ lệ đó, thì cần xây dựng thêm vật chất của hai cõi phụ cao hơn trên cõi hồng trần và cõi cảm dục; bởi thế là cuộc đấu tranh của người chí nguyện nhằm thanh lọc và kỷ luật thể xác và chế ngự thể cảm dục. Thanh lọc và chế ngự mô tả công việc phải làm trên hai cõi ấy. Điều này liên quan đến việc sử dụng hạ trí, và do đó ba vận cụ thấp trở nên được chỉnh hợp.
The vibrations of the abstract levels can then begin to be felt. You need to remember that they come via the causal body, the vehicle of the Higher Self, and the average causal body is on the third subplane of the mental plane. This is a point not sufficiently recognised. Ponder on it. Real abstract thought becomes possible only when the Personality has, by vibration reciprocal to that of the [4] Ego, aligned itself sufficiently to form a fairly unimpeded channel. Then at intervals, rare at first but of increasing frequency, will abstract ideas begin to filter down, to be followed in due time by flashes of real illumination or intuition from the spiritual Triad or the true threefold Ego itself.
Khi ấy, các rung động của các cấp độ trừu tượng có thể bắt đầu được cảm nhận. Các bạn cần nhớ rằng chúng đến qua thể nguyên nhân, vận cụ của Bản Ngã Cao Siêu, và thể nguyên nhân trung bình ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Đây là một điểm chưa được nhận ra đầy đủ. Hãy suy ngẫm về điều đó. Tư tưởng trừu tượng thực sự chỉ trở nên khả dĩ khi phàm ngã, bằng rung động tương ứng với rung động của [4] Chân ngã, đã tự chỉnh hợp đủ để tạo thành một kênh khá thông suốt. Khi ấy, theo từng lúc—ban đầu hiếm hoi nhưng ngày càng thường xuyên—các ý niệm trừu tượng sẽ bắt đầu thấm lọc xuống, và theo thời gian thích hợp sẽ được tiếp nối bởi những tia chớp của sự soi sáng hay trực giác thực sự từ Tam Nguyên Tinh Thần hoặc từ chính Chân ngã tam phân đích thực.
The Chord of the Ego—Hợp Âm của Chân Ngã.
[Commentary 3]
When I use the term “reciprocal vibration,” what do I mean? I mean the adaptation of the Personality or Lower Self, to the Ego, or Higher Self, the dominating of the Personality ray by the ray of the Ego and the combining of their tones. I mean the blending of the primary colour of the Higher Self with the secondary hue of the Lower Self until beauty is achieved. At first, there is dissonance and discord, a clashing of the colours, and a fight between the Higher and the Lower. But as time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of colour and tone is produced (a synonymous matter), until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned Personality, the dominant fifth of the Ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit.
Khi Tôi dùng thuật ngữ “rung động tương ứng,” Tôi muốn nói gì? Tôi muốn nói đến sự thích nghi của phàm ngã hay phàm ngã đối với Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu; sự chế ngự cung phàm ngã bởi cung chân ngã và sự kết hợp các âm điệu của chúng. Tôi muốn nói đến sự hòa trộn màu sắc chủ đạo của Bản Ngã Cao Siêu với sắc độ thứ cấp của phàm ngã cho đến khi đạt được vẻ đẹp. Lúc đầu có sự bất hòa và chỏi nhau, sự xung đột của các màu sắc, và một cuộc chiến giữa Cao và Thấp. Nhưng khi thời gian trôi qua, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hòa về màu sắc và âm điệu được tạo ra (là một điều đồng nghĩa), cho đến cuối cùng các bạn sẽ có nốt nền tảng của vật chất, nốt thứ ba chủ yếu của phàm ngã đã được chỉnh hợp, nốt thứ năm át âm của Chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của Chân thần hay tinh thần.
It is the dominant we seek at adeptship, and earlier the perfected third of the Personality. During our various incarnations we strike and ring the changes on all the intervening notes, and sometimes our lives are major and sometimes minor, but always they tend to flexibility and greater beauty. In due time, each note fits into its chord, the chord of the Spirit; each chord forms part of a phrase, the phrase or group to which the chord belongs; and the phrase goes to the completion of one seventh of the whole. The entire seven sections, then, complete the sonata of this solar system,—a part of the threefold masterpiece of the Logos or God, the Master-Musician. [5]
Chính át âm là điều chúng ta tìm kiếm ở địa vị chân sư, và trước đó là note thứ ba đã được hoàn thiện của phàm ngã. Trong các kiếp lâm phàm khác nhau, chúng ta gảy lên và làm vang các biến đổi trên mọi nốt trung gian, và đôi khi đời sống của chúng ta là trưởng và đôi khi là thứ, nhưng luôn luôn chúng hướng đến tính linh hoạt và vẻ đẹp lớn hơn. Đến thời điểm thích hợp, mỗi nốt khớp vào hợp âm của nó, hợp âm của tinh thần; mỗi hợp âm tạo thành một phần của một cụm nhạc, cụm nhạc hay nhóm mà hợp âm ấy thuộc về; và cụm nhạc góp phần hoàn tất một phần bảy của toàn thể. Vậy thì toàn bộ bảy phần hoàn tất bản sonata của hệ mặt trời này,—một phần của kiệt tác tam phân của Thượng đế hay Thượng đế, Nhạc Sư Tối Thượng. [5]
June 2, 1920.
Ngày 2 tháng 6, 1920.
June 2nd, 1920. 10 am.
Ngày 2 tháng 6 năm 1920. 10 giờ sáng.
Again for a week or two, brother of mine, we will take another cycle of instruction. You have correctly deduced that such is the intention and before I commence on the matter for communication I wish to make certain suggestions to you which you may follow for the good of the work if so you are inclined. We order not, nor give commands, we do but indicate, the working detail being left to the discrimination.
Một lần nữa, trong một hoặc hai tuần, huynh đệ của tôi, chúng ta sẽ tiếp tục một chu kỳ giảng dạy khác. Bạn đã suy luận đúng rằng đó là ý định, và trước khi tôi bắt đầu về nội dung cần truyền đạt, tôi muốn đưa ra một số đề xuất mà bạn có thể thực hiện vì lợi ích của công việc, nếu bạn thấy phù hợp. Chúng tôi không ra lệnh, cũng không ban hành mệnh lệnh, mà chỉ đưa ra gợi ý, còn chi tiết thực hiện được để cho sự phân biện quyết định.
1. At the earliest moment write for the edification of the membership a letter on the Messenger indicating its present use and outlining a policy of greater usefulness.
1. Ngay khi có thể, hãy viết một lá thư cho hội viên để làm sáng tỏ về Thông điệp, chỉ ra công dụng hiện tại của nó và phác thảo một chính sách nhằm gia tăng tính hữu ích.
2. With that article let FB [Foster Bailey] immediately publish a brief treatise on the system or proxies at present in use. The work that you do carrieth the blessing of the Great Ones and leadeth to results. Be not discouraged—the stage is being set, and the leading actor thereon shortly maketh his appearance. Not yet you know all the unforeseen oft upsetteth the plans well laid of parties politic. In steadfastness of purpose, wise utilisation of time, the elimination of anxiety, and a confidence firm in the working of the Law, will come the manifestation (through all of you who with altruism work) of the plans of our two Masters.
2. Cùng với bài viết đó, hãy để FB [Foster Bailey] ngay lập tức xuất bản một chuyên luận ngắn về hệ thống đại diện đang được sử dụng. Công việc mà bạn thực hiện mang theo phước lành của các Đấng Cao Cả và dẫn đến kết quả. Đừng nản lòng—sân khấu đang được dàn dựng, và diễn viên chính của nó sẽ sớm xuất hiện. Hiện tại bạn chưa biết hết mọi thứ, và những điều không lường trước thường làm đảo lộn những kế hoạch được đặt ra chu đáo của các thế lực chính trị. Trong sự kiên định về mục đích, sự sử dụng khôn ngoan thời gian, việc loại bỏ lo âu và sự tin tưởng vững chắc vào sự vận hành của Định luật, sẽ có sự biểu hiện (thông qua tất cả những ai đang làm việc với tinh thần vị tha) của các kế hoạch từ hai vị Chân sư của chúng ta.
3. With speed accomplish the writing of the articles for BPW [B. P. Wadia]. It is desired that you get to the public with as little delay as may be. See that all are mailed to India prior to Convention. The next few weeks should be for you weeks of clearing off of accumulated work:—letters, home correspondence, and the filing of the communicated material. For you commenceth shortly your real life work, and it is always the part of wisdom to close each chapter of the book of existence with as much completeness as possible. See you to it brother of old.
3. Hãy hoàn thành nhanh chóng việc viết các bài viết cho BPW [B. P. Wadia]. Mong muốn là bạn sẽ công bố chúng đến công chúng càng sớm càng tốt. Hãy đảm bảo rằng tất cả đều được gửi đến Ấn Độ trước kỳ Hội nghị. Vài tuần tới nên là thời gian để bạn giải quyết công việc tồn đọng:—các lá thư, thư tín gia đình và việc lưu trữ tài liệu đã được truyền đạt. Vì công việc thực sự của bạn sẽ sớm bắt đầu, và luôn là điều khôn ngoan khi khép lại mỗi chương của cuốn sách đời mình một cách trọn vẹn nhất có thể. Hãy lưu tâm đến điều đó, huynh đệ của ngày xưa.
4. Articles of explanatory interest for the public should be for you in the future a side issue of importance. Write on matters of psychic speculation, and on data conveying information in a style comprehended of the public anent matters regarded as occult. These articles may by you claim my attention, and where assistance is needed you are permitted to claim it.
4. Trong tương lai, các bài viết mang tính giải thích dành cho công chúng đối với bạn chỉ nên là một vấn đề phụ, có tầm quan trọng thứ yếu. Hãy viết về những vấn đề thuộc suy đoán thông linh, và về những dữ liệu truyền đạt thông tin, bằng một văn phong mà công chúng có thể lĩnh hội được, liên quan đến các đề tài được xem là huyền bí học. Những bài viết này có thể được bạn trình lên để tôi lưu tâm, và khi cần sự trợ giúp, bạn được phép yêu cầu điều đó.
5. Begin in small measure as we send them to you to train in teaching those who are marked out by us as helpers in the coming work of reconstruction. Seek them not out. They will be indicated to you, and already we have sent to [you] JI and VB. I needed a link, and VB standeth in need of concrete instruction.
5. Bắt đầu ở mức độ nhỏ, khi chúng tôi gửi đến bạn, việc đào tạo những người mà chúng tôi đã chỉ định là những trợ thủ trong công cuộc tái thiết sắp tới. Đừng chủ động tìm kiếm họ. Họ sẽ được chỉ dẫn đến bạn, và chúng tôi đã gửi đến [bạn] JI và VB. Tôi cần một liên kết, và VB đang cần sự hướng dẫn cụ thể.
6. FB is conjured to focus his attention fully on sectional matters and in the gathering of data and the preparation of papers available for use in convention lieth the work, added to the detail work of pamphleteering. Advise him from me to focus, and to vibrate more rapidly.
6. FB được yêu cầu tập trung hoàn toàn vào các vấn đề theo từng phần và thu thập dữ liệu, chuẩn bị tài liệu có thể sử dụng trong hội nghị, cùng với công việc chi tiết về việc phổ biến tài liệu bằng sách nhỏ. Hãy khuyên y từ tôi rằng hãy tập trung và gia tăng tốc độ rung động.
You see, brother of old, I give no help or advice save on matter connected with the work we have in hand. On matters personal we leave you to work yourself, though we watch, or more occultly I put it, we study re-actions. One work only I give,—in adjustment to the plan comes expansion in service. See therefore that you build no wall through anxiety or the admission of personal issues. Through a clear channel cometh unimpeded vision and the accurate grasp of the work to be done. In application to that work, in the making of a beginning, comes to us indication of suitability, and then it behooveth us to facilitate the work by the removal of obstacles, financial or otherwise. But the beginning resteth with you.
Bạn thấy đó, huynh đệ của ngày xưa, tôi không đưa ra sự giúp đỡ hay lời khuyên ngoại trừ những vấn đề liên quan đến công việc mà chúng ta đang thực hiện. Đối với những vấn đề cá nhân, chúng tôi để bạn tự xử lý, dù chúng tôi quan sát—hoặc nói một cách huyền môn hơn, chúng tôi nghiên cứu các phản ứng. Tôi chỉ đưa ra một chỉ dẫn—trong sự điều chỉnh với Thiên Cơ sẽ có sự mở rộng trong phụng sự. Do đó, hãy đảm bảo rằng bạn không dựng lên bất kỳ rào cản nào do lo lắng hoặc do những vấn đề cá nhân. Qua một kênh trong sáng, tầm nhìn sẽ đến một cách không bị cản trở và việc nắm bắt chính xác công việc cần làm sẽ được thực hiện. Trong sự ứng dụng vào công việc đó, trong việc khởi đầu một nhiệm vụ, chúng tôi sẽ nhận thấy dấu hiệu về sự thích hợp, và khi đó, chúng tôi có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc bằng cách loại bỏ các chướng ngại, dù là tài chính hay những trở ngại khác. Nhưng sự khởi đầu vẫn nằm ở bạn.
[Commentary 4]
Microcosmic and Macrocosmic Alignment.—Sự Chỉnh Hợp Vi Mô và Vĩ Mô.
This morning, I would touch on the matter of egoic alignment again, showing you, under the Law of Correspondences, the universal application. It lies based in geometry, or in figures and numbers.
Sáng nay, tôi muốn đề cập lại vấn đề chỉnh hợp chân ngã, và chỉ cho bạn thấy sự áp dụng phổ quát theo Định luật Tương ứng. Nó dựa trên cơ sở hình học, hoặc các con số và hình dạng.
The aim of the evolution of man in the three worlds—the physical, emotional and mental planes—is the alignment of his threefold Personality with the body egoic, till the one straight line is achieved and the man becomes the One.
Mục đích của sự tiến hóa của con người trong ba cõi giới—cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí—là sự chỉnh hợp của Phàm ngã tam phân với thể chân ngã, cho đến khi đạt được một đường thẳng và con người trở thành Đấng Duy Nhất.
Each life that the Personality leads is, at the close, represented by some geometrical figure, some utilisation of the lines of the cube, and their demonstration in a form of some kind. Intricate and uncertain in outline and crude in design are the forms of the earlier lives; definite and clear in outline are the forms built by the average advanced man of this generation. But when he steps upon the Path of Discipleship, the purpose consists in merging all these many lines into one line, and gradually this consummation is achieved. The Master is He Who has blended all the lines of fivefold development first into the three, and then into the one. The six-pointed star becomes the five-pointed star, the cube becomes the triangle, and the triangle becomes the one; whilst the one (at the end of the greater cycle) becomes the point in the circle of manifestation.
Mỗi kiếp sống mà Phàm ngã trải qua, vào lúc kết thúc được đại diện bởi một hình dạng hình học nào đó, một sự sử dụng nào đó các đường nét của khối lập phương, và sự thể hiện của chúng trong một hình tướng nào đó. Các hình thể của những kiếp sống ban đầu thì phức tạp, đường nét bất định và thiết kế thô kệch; còn các hình tướng do con người tiến bộ trung bình của thế hệ này kiến tạo thì xác định và rõ ràng trong đường nét. Nhưng khi y bước lên Con Đường Đệ Tử, mục đích bao gồm việc hợp nhất tất cả các đường nét này thành một đường, và dần dần sự viên mãn này đạt được. Chân sư là Đấng đã hòa quyện tất cả các đường nét của sự phát triển ngũ phân trước hết thành ba, và sau đó thành một. Ngôi sao sáu cánh trở thành ngôi sao năm cánh, khối lập phương trở thành tam giác, và tam giác trở thành một; trong khi một (vào cuối chu kỳ lớn hơn) trở thành điểm trong vòng tròn biểu hiện.
Hence the effort made to teach all devotees simplicity, based on a trinity of foundation truths, and the inculcation of one-pointedness.
Do đó có nỗ lực dạy cho tất cả những người sùng tín sự đơn giản, dựa trên một bộ ba các chân lý nền tảng, và việc khắc ghi tính nhất tâm.
Each life tends to greater stability but seldom is the three-fold Personality yet to be found lined up, if so I [6] may put it, with the causal consciousness. Temporary moments occur when this is the case and when (in moments of highest aspiration and for purposes of unselfish endeavor) the higher and the lower form a line direct. Usually the emotional body, through violent emotion and vibration, or a fluctuating restlessness, is continuously out of alignment. Where the emotional body may be momentarily aligned, then the mental body acts as an obstruction, preventing the percolation down from the higher to the lower, and so to the physical brain. It takes many lives of strenuous endeavor before the emotional body can be stilled and a mental body built that will act as a filter and not as an impediment. Even when this has been somewhat accomplished and the emotional body is stabilised and a pure reflector, and the mental body serves the purpose of a sensitive plate and discriminator, and the intelligent explainer of the higher imparted truth,—even then, I say, it takes much discipline and many lives of effort to align the two at the same time. When that is done, the control of the physical brain and its final alignment remain to be effected, so that it may act as a direct receiver and transmitter of the imparted teaching, and may reflect with accuracy the higher consciousness.
Mỗi kiếp sống đều hướng đến sự ổn định lớn hơn, nhưng hiếm khi có thể thấy phàm ngã tam phân đã được chỉnh hợp với tâm thức nhân thể, nếu tôi [6] có thể nói như vậy. Có những khoảnh khắc tạm thời khi điều này xảy ra, khi đó (trong những lúc khát vọng cao nhất và vì mục đích nỗ lực vô ngã) cái cao và cái thấp tạo thành một đường thẳng trực tiếp. Thông thường, thể cảm dục, do cảm xúc mãnh liệt và rung động, hoặc do một sự bồn chồn dao động, liên tục bị lệch khỏi sự chỉnh hợp. Khi thể cảm dục có thể được chỉnh hợp trong chốc lát, thì thể trí lại hành động như một vật cản, ngăn sự thấm xuống từ cái cao đến cái thấp, và do đó đến bộ não thể xác. Phải trải qua nhiều kiếp sống nỗ lực gian khổ thì thể cảm dục mới có thể được làm cho tĩnh lặng, một thể trí được xây dựng sao cho nó sẽ hành động như một bộ lọc chứ không phải như một chướng ngại. Ngay cả khi điều này đã phần nào được hoàn thành, thể cảm dục được ổn định và là một tấm phản chiếu thuần khiết, thể trí phục vụ mục đích như một tấm bản nhạy cảm và là một năng lực phân biện, kẻ giải thích thông minh về chân lý cao hơn được truyền đạt,—ngay cả khi ấy, tôi nhấn mạnh, vẫn cần nhiều kỷ luật và nhiều kiếp sống nỗ lực để chỉnh hợp cả hai cùng một lúc. Khi điều đó được thực hiện, thì sự kiểm soát bộ não hồng trần và sự chỉnh hợp sau cùng của nó vẫn còn phải được thực hiện, để nó có thể hành động như một bộ thu nhận và truyền đạt trực tiếp giáo huấn được truyền trao, và có thể phản chiếu một cách chính xác tâm thức cao hơn.
Wherein, therefore, lies the macrocosmic correspondence? Where is the analogy in the Solar System? An indication I give here. In the direct alignment of certain planets in the process of systemic evolution, with each other and with the Sun comes Logoic or divine alignment. Think this out, but one word of warning I give. Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there. Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom.
Vậy thì, sự tương ứng đại vũ trụ nằm ở đâu? Sự tương đồng trong hệ mặt trời là ở đâu? Ở đây, Tôi sẽ đưa ra ở đây một chỉ dẫn. Trong sự thắng hàng trực tiếp của một số hành tinh nhất định trong tiến trình tiến hoá của hệ thống, của chúng với nhau và với Mặt Trời, sẽ đưa đến sự chỉnh hợp Thiêng liêng hay sự chỉnh hợp của Thượng đế. Hãy suy ngẫm về điều này, nhưng tôi đưa ra một lời cảnh báo. Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết về sự chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó. Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và cả ba đó trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp sau cùng, thì sự chỉnh hợp đánh dấu sự thành tựu [7] của Thượng đế về tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trái Đất không phải là một trong ba hành tinh ấy, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm dục.
Further still the alignment may be progressed:—in the alignment of our entire solar system with the system of Sirius lies a still more remote goal. It is a point far ahead in time, but holds hid the secret of the greater cycle.
Sự chỉnh hợp có thể được diễn ra xa hơn nữa:— có một mục tiêu xa xôi hơn nữa trong sự chỉnh hợp của toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta với hệ thống của Sirius. Đó là một điểm nằm xa về phía trước, nhưng nó ẩn chứa bí mật của chu kỳ lớn hơn.
LETTER II - THE IMPORTANCE OF MEDITATION
[Commentary 5]
LETTER II - IMPORTANCE OF MEDITATION
LÁ THƯ II – TẦM QUAN TRỌNG CỦA THAM THIỀN
l—It results in egoic contact and alignment.
1—Nó đưa đến sự tiếp xúc và chỉnh hợp với chân ngã.
2—It brings about a state of equilibrium.
2—Nó mang lại một trạng thái quân bình.
3—It stabilises vibration.
3—Nó ổn định rung động.
4—It assists in a transference of polarisation.
4—Nó hỗ trợ cho sự chuyển dịch phân cực.
JUNE 3, 1920.
NGÀY 3 THÁNG 6, 1920.
[Page 9]
[Page 9]
Let me this morning give you some more thoughts on the subject of meditation; they will bear somewhat on the matter given yesterday, and on the 16th ultimo.
Sáng nay, tôi muốn chia sẻ với bạn thêm một vài suy nghĩ về chủ đề tham thiền; chúng sẽ liên quan phần nào đến nội dung đã đưa ra hôm qua và vào ngày 16 tháng trước.
Fundamentally, meditation is to assist alignment and so permit of contact with the Higher Self; hence its institution. I would, in order duly to elucidate, take up the study of this topic under the following heads:
Về cơ bản, tham thiền là để hỗ trợ sự chỉnh hợp và từ đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; đó chính là lý do cho sự thiết lập của nó. Để làm sáng tỏ một cách đúng đắn, tôi sẽ thực hiện việc nghiên cứu chủ đề này theo các đề mục sau:
Points considered when assigning a Meditation.
Các điểm cần xem xét khi chỉ định một phương pháp thiền.
The use of the Sacred Word in Meditation.
Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong Tham thiền.
Dangers to be avoided in Meditation.
Các nguy hiểm cần tránh trong Tham thiền.
The use of Form in Meditation.
Việc sử dụng Hình thức trong Tham thiền.
The use of Colour and Sound in Meditation.
Việc sử dụng Màu sắc và Âm thanh trong Tham thiền.
Access to the Masters through Meditation.
Tiếp cận với các Chân sư thông qua Tham thiền.
Future Schools of Meditation.
Các Trường Tham thiền trong Tương lai.
Purification of the Vehicles.
Sự Thanh lọc các Vận cụ.
The Exoteric Life of Service.
Một Đời sống Phụng sự Bên Ngoài.
Let us today take up the consideration of the first point:—What makes Meditation of importance?
Hôm nay chúng ta hãy cùng xem xét điểm đầu tiên:—Điều gì làm cho Tham thiền trở nên quan trọng?
The emphasis upon the importance of meditation follows naturally upon the realisation by the student of the absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego.
Sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của tham thiền diễn ra một cách tự nhiên sau khi môn sinh nhận thức được sự cần thiết tuyệt đối của việc phàm ngã phải bị thống trị bởi Chân ngã.
Points considered when assigning a Meditation.
Các điểm cần xem xét khi chỉ định một Bài thiền.
Man at this time is engaged in many pursuits and through the force of circumstances he is polarised entirely in the lower self, that polarisation being in either the emotional or mental body. One point of interest I would indicate:—as long as the polarisation is purely [Page 10] physical or purely emotional, no need for meditation is ever felt. Even when the mental body is active, no urge arises until the man has run through many changes and many lives, has tasted the cup of pleasure and of pain through many incarnations, has sounded the depths of the life lived entirely for the lower self and found it unsatisfying. Then he begins to turn his thought to other things, to aspire to that which is unknown, to realize and sense within himself the pairs of opposites, and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, and yet from their use he derives no content; always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. The man begins to turn within and to seek the source from whence he came. Then he begins to meditate, to ponder, to intensify vibration until in process of time he garners the fruits of meditation.
Vào thời điểm hiện nay, con người đang dấn thân vào nhiều theo đuổi khác nhau, và do mãnh lực của hoàn cảnh, y hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã thấp, sự phân cực ấy nằm hoặc trong thể cảm dục, hoặc trong thể trí. Có một điểm đáng lưu ý mà tôi muốn chỉ ra: — chừng nào sự phân cực còn thuần túy ở thể xác hoặc thuần túy ở thể cảm dục, thì nhu cầu tham thiền hoàn toàn không bao giờ được cảm nhận. Ngay cả khi thể trí hoạt động, vẫn không có thôi thúc nào khởi lên cho đến khi con người đã trải qua nhiều biến đổi và nhiều kiếp sống, đã nếm cốc khoái lạc và đau khổ qua vô số lần nhập thể, đã dò đến tận đáy của đời sống được sống hoàn toàn cho phàm ngã và nhận ra rằng điều ấy không đem lại sự thỏa mãn. Khi ấy, y bắt đầu hướng tư tưởng của mình sang những điều khác, bắt đầu khát vọng hướng đến cái chưa biết, bắt đầu nhận ra và cảm nhận bên trong chính mình các cặp đối cực, và bắt đầu tiếp xúc trong tâm thức của y những khả năng và những lý tưởng mà trước đây y chưa từng mơ tưởng. Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; luôn luôn, thôi thúc bên trong vẫn dai dẳng cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức khát vọng vươn ra và vươn lên, khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. Con người bắt đầu quay vào nội tâm và tìm kiếm cội nguồn mà từ đó y đã đi ra. Khi ấy, y bắt đầu tham thiền, bắt đầu suy tư, bắt đầu gia tăng rung động cho đến khi, theo thời gian, y thu hoạch được những hoa trái của tham thiền.
Four things meditation does:—
Bốn điều mà tham thiền thực hiện:
l—It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies.
1—Nó cho phép một người tiếp xúc với Chân ngã và chỉnh hợp ba thể thấp.
2—It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. Thus is afforded opportunity to the Ego, and later to the Master, to disturb that equilibrium and tune the quiescent vibration to a higher note than heretofore; to cause the consciousness to vibrate to a newer and higher measure, and to swing (if so I may express it) into the periphery of the threefold Spirit. By the constant practice of this, the whole point of equilibrium is gradually shifted higher and higher, until the time comes when the lower point of [Page 11] attraction in the swinging and adjustment, is not the physical, touches not the emotional, contacts not the mental (the causal body even escaping) and the man is polarised in the spiritual consciousness from thenceforth.
2—Nó đưa con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở điểm cân bằng. Do đó tạo cơ hội cho Chân ngã, và sau này là Chân sư, làm xáo trộn sự thăng bằng đó và điều chỉnh rung động tĩnh lặng sang một âm điệu cao hơn trước đây; làm cho tâm thức rung động theo một nhịp độ mới hơn và cao hơn, và chuyển dịch (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) vào chu vi của Tinh thần tam phân. Bằng việc thực hành liên tục điều này, toàn bộ điểm thăng bằng dần dần được dịch chuyển ngày càng cao hơn, cho đến khi tới lúc điểm thu hút thấp hơn trong sự dao động và điều chỉnh không còn là cõi hồng trần, không chạm đến cõi cảm dục, không tiếp xúc với cõi trí (ngay cả thể nguyên nhân cũng thoát khỏi) và con người được phân cực trong tâm thức tinh thần từ đó trở đi.
This marks the fourth Initiation; after that Initiation, the Adept makes for Himself a body of manifestation, a free creation,—there is nothing in Him to call into objectivity a body for use in the three worlds and evolved under the Law of Causes.
Điều này đánh dấu lần Điểm đạo thứ tư; sau lần Điểm đạo đó, vị Cao đồ tự tạo cho Ngài một thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do,— trong Ngài không có gì khiến phải dùng một thể trong tam giới và phát triển theo Luật Nhân quả.
3—It stabilises the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes. It commences the work of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, until that subplane is dominated. The second subplane is then the next to be synchronised.
3—Nó ổn định các rung động thấp trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí. Nó bắt đầu công việc điều chỉnh phàm ngã theo rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi cõi trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị thống trị. Cõi phụ thứ hai sau đó là cõi tiếp theo được đồng bộ hóa.
A man reaches the point of personality attainment in this cycle when he has the capacity to vibrate and move consciously on the fourth subplane. We might term the fourth subplane on the physical, emotional and mental planes (when dominated, aligned and functioning simultaneously in the same incarnation) the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. That particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self,—physically perfect, emotionally vibrant, and mentally colossal. Then succeeding that, begins the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego.
Một người đạt đến điểm thành tựu phàm ngã trong chu kỳ này khi y có khả năng rung động và di chuyển một cách có ý thức trên cõi phụ thứ tư. Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí (khi được thống trị, chỉnh hợp và hoạt động đồng thời trong cùng một lần lâm phàm) là cõi của phàm ngã hoàn thiện theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp. Lần lâm phàm cụ thể đó sẽ là lần mà con người đạt được sự biểu hiện đầy đủ nhất của phàm ngã mình,—hoàn hảo về thể xác, sống động về cảm xúc và vĩ đại về trí tuệ. Sau đó, bắt đầu sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự nâng lên với Chân Ngã, và sự điều hòa Phàm Ngã, hay bậc ba chính, với bậc năm chủ đạo của Chân Ngã.
4—It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. Later I will elucidate this further. [Page 12]
4—Nó hỗ trợ trong việc chuyển dịch sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã sang nguyên tử tương ứng trong Tam nguyên tinh thần. Sau này tôi sẽ làm rõ điều này hơn.
Hence may easily be seen the essential nature of Meditation and its wise, diligent and serious following.
Do đó có thể dễ dàng thấy được bản chất cốt yếu của Tham thiền và việc tuân theo nó một cách khôn ngoan, siêng năng và nghiêm túc.
Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. Disorderly at first are his attempts, and sometimes several incarnations may go by in which the Higher self only forces the man to think and seriously to meditate at rare and separated intervals. More frequently come the occasions of withdrawing within, until there arises for the man several lives given to mystic meditation and aspiration, culminating usually in a life given entirely to it. It marks the point of the highest emotional aspiration, apart from the scientific application of the law, via the mental body. These laws are those governing the true occult meditation.
Giai đoạn đầu trong trải nghiệm, sau khi đạt được mức cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. Những nỗ lực của y lúc đầu lộn xộn, và đôi khi vài kiếp sống có thể trôi qua trong đó Bản Ngã Cao Siêu chỉ buộc con người suy nghĩ và tham thiền một cách nghiêm túc vào những khoảng thời gian hiếm hoi và tách biệt. Thường xuyên hơn là những dịp rút lui vào bên trong, cho đến khi nảy sinh đối với con người một vài kiếp sống dành cho tham thiền thần bí và khát vọng, thường lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống hoàn toàn dành cho nó. Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, tách biệt khỏi việc áp dụng định luật một cách khoa học, thông qua thể trí. Những định luật này là những định luật chi phối tham thiền huyền môn chân chính.
Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination: —the life of worldly apotheosis and the life of intensest meditation along the mystic or emotional-intuitional line. This meditative life was taken either in a monastery or nunnery in middle Europe by those linked with the Master Jesus and His disciples, or in India, Tibet or China by the pupils of the Master M. or the Master K. H.
Đằng sau mỗi người trong các bạn đang làm việc dứt khoát dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư, là hai kiếp sống tột đỉnh: —kiếp sống tôn vinh thế tục và kiếp sống tham thiền mãnh liệt nhất theo dòng thần bí hoặc cảm xúc-trực giác. Kiếp sống tham thiền này được thực hiện hoặc trong một tu viện hoặc ni viện ở trung tâm Châu Âu bởi những người liên kết với Chân sư Jesus và các đệ tử của Ngài, hoặc ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa bởi các học trò của Chân sư M. hoặc Chân sư K. H.
Now comes to all of you the most important series of lives to which the previous points of culmination were but stepping stones. In the lives immediately ahead of those upon the Path will come final achievement through the instrumentality of the ordered occult meditation, based on law. For some few may come attainment in this life or the next; for others, shortly in other lives. For a few there lies ahead the attainment of the mystic method, to be the basis later on of the occult or mental method.
Chuỗi kiếp sống quan trọng nhất giờ đây đến với tất cả các bạn, mà những điểm đỉnh cao trước đó chỉ là những bước đệm dẫn tới. Thành tựu cuối cùng sẽ đến trong những kiếp sống ngay phía trước của những ai đang trên Thánh đạo thông qua công cụ của tham thiền huyền bí có trật tự, dựa trên định luật. Với một số ít các bạn, sự thành tựu có thể đến trong kiếp này hoặc kiếp kế tiếp; đối với những người khác, sẽ sớm trong các kiếp khác. Đối với một số ít, sự đạt được phương pháp thần bí đang chờ đợi phía trước, để trở thành nền tảng sau này cho phương pháp huyền bí hay phương pháp trí tuệ.
LETTER III - POINTS CONSIDERED WHEN ASSIGNING MEDITATION—
[Commentary 6]
LÁ THƯ THỨ BA – CÁC ĐIỂM CẦN XEM XÉT KHI CHỈ ĐỊNH THAM THIỀN