← LETTERs ON OCCULT MEDITATION – Alice A. Bailey

The physical centres as enumerated by CWL [C. W. Leadbeater] are, as you know:—

The physical centres as enumerated by CWL [C. W. Leadbeater] are, as you know:—

Các trung tâm hồng trần được liệt kê bởi CWL [C. W. Leadbeater] như bạn đã biết là:—

l—The base of the spine.

l—Đáy cột sống.

2—The solar plexus.

2—Tùng thái dương.

3—The spleen.

3—Lá lách.

4—The heart.

4—Tim.

5—The throat.

5—Cổ họng.

6—The pineal gland.

6—Tuyến tùng.

7—The pituitary body.

7—Tuyến yên.

This enumeration is correct, but I seek to give you another division, based on earlier imparted facts, those anent the solar system. These seven centres may be enumerated as five if we eliminate the spleen and count the two head centres as one. The five centres thus specified [72] are applicable to our fivefold evolution in this the second solar system.

Sự liệt kê này là chính xác, nhưng tôi tìm cách đưa cho bạn một sự phân chia khác, dựa trên các sự thật đã được truyền đạt trước đó, những điều liên quan đến hệ mặt trời. Bảy trung tâm này có thể được liệt kê thành năm nếu chúng ta loại bỏ lá lách và tính hai trung tâm đầu là một. Năm trung tâm được chỉ định như vậy [72] có thể áp dụng cho sự tiến hóa ngũ phân của chúng ta trong hệ mặt trời thứ hai này.

In the first solar system the three lower centres were developed and with them the occultist has naught to do. They form the basis of the development of the lower quaternary before individualisation, but are now transcended and the divine fire must be focalised in other and higher centres.

Trong hệ mặt trời thứ nhất, ba trung tâm thấp đã được phát triển và nhà huyền bí học không có việc gì làm với chúng. Chúng tạo thành cơ sở cho sự phát triển của bộ tứ thấp trước khi biệt ngã hóa, nhưng hiện nay đã được vượt qua và lửa thiêng liêng phải được tập trung vào các trung tâm khác và cao hơn.

The Spleen.

Lá lách.

The spleen, the third centre, has a specific purpose. It has its correspondence in the third or activity aspect, and in the third or Activity (Adaptability) Ray, and is the basis of all the fundamental activities of the microcosm, and of the recurring adaptations of the microcosm to its environment, to its need and to the macrocosm. It controls the selective processes of the microcosm; it takes the vibratory force and energy of the macrocosm and transmutes it for the use of the microcosm. We might call it the organ of transmutation, and—as its functions are more completely understood—it will be found that it provides a magnetic link between the conscious, thinking, three-fold man and his lower vehicles, regarding those lower vehicles as the Not-Self, and as themselves animated by informing entities. It is the life force contacting those entities that is the issue and aim.

Lá lách, trung tâm thứ ba, có một mục đích cụ thể. Nó có sự tương ứng với phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động, và với Cung ba hay Cung Hoạt động (Tính Thích ứng), và là cơ sở của tất cả các hoạt động nền tảng của tiểu thiên địa, và của những sự thích ứng lặp đi lặp lại của tiểu thiên địa với môi trường của nó, với nhu cầu của nó và với đại thiên địa. Nó kiểm soát các quá trình chọn lọc của tiểu thiên địa; nó tiếp nhận mãnh lực rung động và năng lượng của đại thiên địa và chuyển hóa nó để tiểu thiên địa sử dụng. Chúng ta có thể gọi nó là cơ quan chuyển hóa, và—khi các chức năng của nó được thấu hiểu đầy đủ hơn—người ta sẽ thấy rằng nó cung cấp một mối liên kết từ tính giữa con người tam phân đang suy nghĩ, có ý thức và các hiện thể thấp của y, xem các hiện thể thấp đó là Phi-Ngã, và chính chúng được thấm nhuần bởi các thực thể phú linh. Chính lực sống tiếp xúc với các thực thể đó mới là vấn đề và mục tiêu.

In its emotional counterpart, it is the organ of emotional vitality, again in the same sense as providing a link; on the mental plane it serves somewhat the same purpose, only this time through this centre are the thoughtforms vitalised by means of the energising will. I will not, therefore, deal more fully with this centre beyond these general indications. Few people have the faculty of stimulating [73] it through the use of the Word, nor is it desirable that they should. It develops normally if the aspirant himself—as a totality—progresses as desired:—if his physical body receives adequate application of the life forces of the sun, if his emotional body is moved by high desire, and open to the downflow of force from the causal and intuitional levels, and if his mental life is intense, vibrant, and animated by a powerful will. Then the spleen, with its inner counterparts, will progress and be in a healthy condition.

Trong đối phần cảm xúc của nó, nó là cơ quan của sinh lực cảm xúc, một lần nữa theo cùng nghĩa là cung cấp một mối liên kết; trên cõi trí, nó phục vụ phần nào cùng mục đích đó, chỉ có điều lần này thông qua trung tâm này, các hình tư tưởng được tiếp sinh lực bằng ý chí tăng cường năng lượng. Do đó, tôi sẽ không bàn sâu hơn về trung tâm này ngoài những chỉ dẫn tổng quát này. Ít người có năng lực kích thích [73] nó thông qua việc sử dụng Linh từ, và điều đó cũng không đáng mong đợi. Nó phát triển bình thường nếu chính người chí nguyện—như một tổng thể—tiến bộ như mong muốn:—nếu thể xác của y nhận được sự áp dụng đầy đủ các lực sống của mặt trời, nếu thể cảm dục của y bị lay động bởi khát vọng cao cả, và mở ra cho dòng lực tuôn xuống từ các cấp độ nguyên nhân và trực giác, và nếu đời sống trí tuệ của y mãnh liệt, rung động và được thấm nhuần bởi một ý chí mạnh mẽ. Khi đó lá lách, với các đối phần bên trong của nó, sẽ tiến triển và ở trong tình trạng khỏe mạnh.

We will therefore thus dispose of it and give no further space to it in these letters.

Vì vậy, chúng ta sẽ giải quyết nó như thế và không dành thêm không gian cho nó trong những bức thư này.

The fundamental centres.

Các trung tâm nền tảng.

The three fundamental centres of vital importance from the standpoint of the average man, polarised in his emotional body and living the normal life of the man of the world, are:

Ba trung tâm nền tảng có tầm quan trọng thiết yếu từ quan điểm của người trung bình, vốn phân cực trong thể cảm dục và sống cuộc đời bình thường của một người thế gian, là:

l—The base of the spine.

l—Đáy cột sống.

2—The solar plexus.

2—Tùng thái dương.

3—The heart centre.

3—Trung tâm tim.

The three major centres for the man nearing the Probationary Path and for the man who is aiming at a life of altruism, having examined the attractions of the three worlds, are:

Ba trung tâm chính đối với người đang tiến gần đến Con Đường Dự Bị và đối với người đang hướng tới một cuộc đời vị tha, sau khi đã xem xét những sự hấp dẫn của ba cõi, là:

l—The base of the spine.

l—Đáy cột sống.

2—The heart.

2—Tim.

3—The throat.

3—Cổ họng.

His solar plexus is left then to normal functioning, having served its purpose as a centre for the emotional focussing. The activity of the fire becomes more centered in the throat. [74]

Khi đó tùng thái dương của y được để lại cho hoạt động bình thường, sau khi đã phục vụ mục đích của nó như một trung tâm để tập trung cảm xúc. Hoạt động của lửa trở nên tập trung hơn ở cổ họng. [74]

The three major centres for the man on the Path itself in its twofold divisions [typescript has: on the Probationary Path and on the Path of Initiation] are:––

Ba trung tâm chính đối với người đang trên chính Con Đường trong hai sự phân chia của nó [bản đánh máy ghi: trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo] là:––

l—The heart.

l—Tim.

2—The throat.

2—Cổ họng.

3—The head.

3—Đầu.

The divine activity has developed the solar plexus centre, is controlling all the centres below the solar plexus, and is passing upward in ordered progression until it is focussed and vivifying the head centres.

Hoạt động thiêng liêng đã phát triển trung tâm tùng thái dương, đang kiểm soát tất cả các trung tâm bên dưới tùng thái dương, và đang đi lên theo sự tiến triển có trật tự cho đến khi nó được tập trung và làm sống động các trung tâm đầu.

Earlier we divided the life of the man into five main periods, tracing his development in each. We might (if we are careful to generalise widely) apply the same to the five centres.

Trước đây chúng ta đã chia cuộc đời của con người thành năm giai đoạn chính, truy tìm sự phát triển của y trong mỗi giai đoạn. Chúng ta có thể (nếu cẩn thận tổng quát hóa một cách rộng rãi) áp dụng điều tương tự cho năm trung tâm.

Period I—wherein the base of the spine is the most active in the purely rotary sense and not in a fourth-dimensional. The inner fire is focussed on the vivification of the organs of generation and on the functional physical life of the personality.

Giai đoạn I—trong đó đáy cột sống hoạt động mạnh nhất theo nghĩa xoay thuần túy chứ không phải theo chiều thứ tư. Lửa bên trong tập trung vào việc làm sống động các cơ quan sinh sản và vào đời sống hồng trần chức năng của phàm ngã.

Period II—wherein the solar plexus is the goal of the attention of the fire and when the emotional counterpart vibrates synchronously. Two centres are thus vibrating, even though the measure be slow; the others are alive; pulsation can be seen, but there is no circular movement.

Giai đoạn II—trong đó tùng thái dương là mục tiêu chú ý của lửa và khi đối phần cảm xúc rung động đồng bộ. Do đó, hai trung tâm đang rung động, ngay cả khi nhịp điệu còn chậm; những trung tâm khác thì sống động; có thể thấy sự mạch động, nhưng không có chuyển động tròn.

Period III—The divine fire now mounts to the heart centre and the three rotate in ordered measured unison. I would point out that the vivification of any one centre. causes an accession of force in all, and I would further point out that in the head are seven centres (three major and four minor) and that these centres directly correspond to one or other centre in the body. They are the synthesis, and, on the stimulation of their corresponding centre, receive themselves a corresponding acquisition of rotary power. [75]

Giai đoạn III—Lửa thiêng liêng giờ đây lên đến trung tâm tim và cả ba xoay trong sự hòa hợp có trật tự và nhịp nhàng. Tôi muốn chỉ ra rằng việc làm sống động bất kỳ một trung tâm nào cũng gây ra một sự gia tăng mãnh lực trong tất cả, và tôi muốn chỉ ra thêm rằng trong đầu có bảy trung tâm (ba chính và bốn phụ) và các trung tâm này tương ứng trực tiếp với một hoặc các trung tâm khác trong cơ thể. Chúng là sự tổng hợp, và khi kích thích trung tâm tương ứng của chúng, chính chúng nhận được một sự tiếp thu tương ứng về quyền năng xoay. [75]

Period IV—marks the definite stimulation of the throat centre. All the creative activity of the three-fold man—physical, emotional and mental—is turned upward in service, and his life begins occultly to sound. He is occultly productive. He manifests forth and his sound goes out before him. This is an occult statement of fact definitely apparent to those who have the inner vision. Coordination between the centres becomes apparent; rotation is intensified, and the centres themselves change in appearance, becoming unfolded, and the rotary movement becomes fourth-dimensional, turning inward upon itself. The centres are then radiating nuclei of light, and the corresponding four lower head centres are equally alive.

Giai đoạn IV—đánh dấu sự kích thích xác định của trung tâm cổ họng. Tất cả hoạt động sáng tạo của con người tam phân—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—đều hướng lên trên trong sự phụng sự, và cuộc đời y bắt đầu xướng lên một cách huyền bí. Y có năng suất về mặt huyền bí. Y biểu hiện ra ngoài và âm thanh của y đi ra trước y. Đây là một phát biểu huyền bí về sự thật rõ ràng đối với những ai có linh thị. Sự phối hợp giữa các trung tâm trở nên rõ rệt; sự xoay được tăng cường, và chính các trung tâm thay đổi vẻ ngoài, trở nên khai mở, và chuyển động xoay trở thành chiều thứ tư, tự quay vào bên trong chính nó. Khi đó các trung tâm là những hạt nhân ánh sáng phát xạ, và bốn trung tâm đầu thấp tương ứng cũng sống động tương tự.

Period V—marks the application of the fire to the head centres and their complete awakening.

Giai đoạn V—đánh dấu việc áp dụng lửa vào các trung tâm đầu và sự thức tỉnh hoàn toàn của chúng.

Before initiation, all the centres will be rotating in fourth dimensional order, but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty, The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals. At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched. The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator.

Trước khi điểm đạo, tất cả các trung tâm sẽ xoay theo trật tự chiều thứ tư, nhưng sau khi điểm đạo chúng trở thành những bánh xe rực lửa, và—khi nhìn bằng thông nhãn—chúng có vẻ đẹp hiếm có. Lửa Kundalini khi đó được thức tỉnh và đang tiến triển theo các đường xoắn ốc cần thiết. Tại lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm dục cũng được thức tỉnh tương tự, và tại lần điểm đạo thứ ba, những trung tâm trên cõi trí được chạm đến. Điểm đạo đồ khi đó có thể đứng trước Hiện Diện của Đức Đại Vương, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất.

I seek to point out that the student must ever remember that here generalisations only are given. The complexity in the development of the microcosm is as great as in the macrocosm. The awakening of the centres and their particular order is dependent on several factors, such as:

Tôi tìm cách chỉ ra rằng đạo sinh phải luôn nhớ rằng ở đây chỉ đưa ra những sự tổng quát hóa. Sự phức tạp trong sự phát triển của tiểu thiên địa cũng lớn như trong đại thiên địa. Sự thức tỉnh của các trung tâm và trật tự cụ thể của chúng phụ thuộc vào một vài yếu tố, chẳng hạn như:

a—The Ray of the Spirit or Monad.

a—Cung của Tinh thần hay Chân thần.

b—The Ray of the Ego, Higher Self, or Son, or the sub-ray. [76]

b—Cung của Chân ngã, Bản Ngã Cao Siêu, hay Người Con, hoặc cung phụ. [76]

c—Race and nationality.

c—Giống dân và quốc tịch.

d—The special type of work to be done.

d—Loại công việc đặc biệt cần thực hiện.

e—The application of the student.

e—Sự chuyên tâm của đạo sinh.

Hence you can see for yourself that it is useless to lay down rules for the development of the centres and to formulate methods whereby the fire can be circulated until such time as trained teachers with expert knowledge and clairvoyant faculty are in charge of the work on the physical plane. It is not desirable for aspirants to focus their thought on any one centre. They run the risk of overstimulation, [77] or of attrition. It is not wished that effort be made to turn the fire towards any particular point; in ignorant manipulation lies insanity and fell disease. If the aspirant but seeks spiritual development, if he but aims at sincerity of purpose and at compassionate altruism, if he, with serene application, concentrates on the subjugation of the emotional body and the enlargement of the mental, and cultivates the habit of abstract thinking, the desired results upon the centres will be produced from necessity and danger will be eliminated.

Do đó, tự bạn có thể thấy rằng việc đặt ra các quy luật cho sự phát triển của các trung tâm và xây dựng các phương pháp để lửa có thể lưu thông là vô ích cho đến khi các huấn sư lão luyện với kiến thức chuyên môn và năng lực thông nhãn chịu trách nhiệm về công việc trên cõi hồng trần. Người chí nguyện không nên tập trung tư tưởng của mình vào bất kỳ một trung tâm nào. Họ có nguy cơ bị kích thích quá mức, [77] hoặc bị tiêu mòn. Không mong muốn rằng nỗ lực được thực hiện để hướng lửa về bất kỳ điểm cụ thể nào; trong sự thao tác thiếu hiểu biết có chứa sự điên rồ và căn bệnh khủng khiếp. Nếu người chí nguyện chỉ tìm cầu sự phát triển tinh thần, nếu y chỉ hướng tới sự chân thành của mục đích và lòng vị tha từ bi, nếu y, với sự chuyên tâm tĩnh lặng, tập trung vào việc chinh phục thể cảm dục và mở rộng thể trí, và trau dồi thói quen tư duy trừu tượng, thì các kết quả mong muốn trên các trung tâm sẽ được tạo ra một cách tất yếu và nguy hiểm sẽ bị loại bỏ.

When these triangles are paths of threefold fire, emanating from the base of the spine, when the interlacing is complete and the fire progresses along the path from centre to centre in the correct manner, and when this is accomplished in the order required by the man’s primary ray, then the work is completed. The fivefold man has attained perfection for this present greater cycle and the goal is reached.

Khi các tam giác này là những con đường của lửa tam phân, xuất phát từ đáy cột sống, khi sự đan xen hoàn tất và lửa tiến triển dọc theo con đường từ trung tâm này sang trung tâm khác theo cách thức chính xác, và khi điều này được hoàn thành theo trật tự yêu cầu bởi cung sơ cấp của con người đó, thì công việc được hoàn tất. Con người ngũ phân đã đạt đến sự hoàn thiện cho đại chu kỳ hiện tại này và mục tiêu đã đạt được.

(Note that this order has to be attained in the head centres likewise.)

(Lưu ý rằng trật tự này cũng phải đạt được trong các trung tâm đầu tương tự.)

Tomorrow we will continue the study of the centres more specifically and somewhat describe them, pointing to the effect upon the life through the awakening of these wheels.

Ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu các trung tâm một cách cụ thể hơn và mô tả chúng phần nào, chỉ ra tác động lên đời sống thông qua sự thức tỉnh của những bánh xe này.

June 25, 1920.

Ngày 25 tháng 6 năm 1920.

June 25th, 1920. 10:15 am.

Ngày 25 tháng 6 năm 1920, 10:15 sáng.

Brother of mine, I would to you and through you to the others, give certain suggestions anent the coming Convention. This convention marketh a climax, and a point of disruption. I would to you therefore say: Form no opinion on the early days of convention as to the ultimate results. All is planned and if adherence to sane level-headed methods is followed, if refusal to deal in personalities is the rule, if principles are emphasised and constructive plans put before the people, if no word is spoken on your side that could engender bitter feeling (the truth may hurt but it poisoneth not), and if the thought of the Great Ones permeateth all your minds then you will work in conformity with the law and results for good will be inevitable. Trust not too widely; communicate with all, attend to all requirements, give each worker scope but keep the inner circle intact,—a nucleus for power. Dissipate not force, but form plans, speek [speak] freely, stand for straight clean speech and no underground methods of attack, and believe that the watching inner guides will steer the convention along desired lines. See that the morning Group is kept regularly, and admit no fresh units in Chicago. Enlargement of the chalice is not desirable at the very moment of filling.

Huynh đệ của tôi, tôi muốn gửi đến bạn, và qua bạn đến những người khác, một số gợi ý liên quan đến Đại Hội sắp tới. Đại hội này đánh dấu một cao trào và cũng là một điểm đứt gãy. Vì vậy, tôi muốn nói với bạn rằng: Đừng vội đưa ra kết luận về kết quả cuối cùng dựa trên những ngày đầu tiên của đại hội. Mọi thứ đã được hoạch định, và nếu tuân theo các phương pháp hợp lý và điềm tĩnh, nếu giữ vững nguyên tắc không dính mắc vào vấn đề cá nhân, nếu nhấn mạnh vào các nguyên tắc và trình bày những kế hoạch mang tính xây dựng trước mọi người, nếu không có lời nào từ phía bạn có thể gây ra cảm xúc cay đắng (sự thật có thể gây tổn thương nhưng nó không mang độc tố), và nếu tư tưởng về Các Đấng Cao Cả thấm nhuần vào tâm trí của tất cả các bạn, thì các bạn sẽ hoạt động phù hợp với Định luật thiêng liêng và những kết quả tốt đẹp sẽ là điều tất yếu. Đừng quá tin tưởng một cách rộng rãi; hãy giao tiếp với tất cả, quan tâm đến mọi yêu cầu, tạo điều kiện cho mỗi người làm việc nhưng vẫn giữ vững vòng tròn nội bộ—một hạt nhân của sức mạnh. Đừng để mãnh lực bị phân tán, mà hãy lập kế hoạch, nói chuyện cởi mở, duy trì ngôn từ thẳng thắn và trong sạch, không dùng những phương thức tấn công ngầm, và tin rằng các vị hướng dẫn nội giới đang quan sát sẽ điều hướng đại hội theo hướng mong muốn. Hãy đảm bảo rằng nhóm tham thiền buổi sáng được duy trì đều đặn, và không kết nạp thêm thành viên mới tại Chicago. Sự mở rộng của chén thánh không phải là điều nên làm vào chính thời điểm nó đang được lấp đầy.

Tell WS from me that the force of gentleness is irresistible, and that he can achieve great things for us by radiation. See that he shatter not his opponents. In shattering, karma is incurred that later has to be worked out.

Nói với WS từ tôi rằng sức mạnh của sự hiền hòa là không thể cưỡng lại, và y có thể đạt được những thành tựu lớn lao cho chúng ta bằng cách tỏa ra ảnh hưởng của mình. Đảm bảo rằng y không phá hủy đối thủ của mình. Nếu y làm vậy, nghiệp quả sẽ phát sinh và cần được giải quyết về sau.

To FB I would say: Be prepared for all that cometh. The unexpected may occur, but in steadiness and inner concentration will come illumination. He must be ready through calmness and the strength that cometh from an inner contact to turn the tide at a moment of seeming disaster.

Với FB, tôi muốn nói rằng: Hãy chuẩn bị cho tất cả những gì sẽ đến. Điều không mong đợi có thể xảy ra, nhưng trong sự vững vàng và tập trung nội tâm sẽ đến sự khai sáng. Y phải sẵn sàng, bằng sự bình tĩnh và sức mạnh đến từ tiếp xúc nội tâm, để xoay chuyển tình thế vào thời điểm tưởng chừng như thất bại.

I have too a message for MM. Tell her to hold the vision steady and to work on the inner planes as much as may be during the hours of strife. She goes to convention to act as a focal point from which the healing force may radiate on many. Inner concentration on the love force of the Master is her work for us in trying times.

Tôi cũng có một thông điệp cho MM. Nói với cô ấy rằng hãy giữ vững tầm nhìn và làm việc trên các cõi nội giới nhiều nhất có thể trong những giờ phút căng thẳng. Cô ấy đến đại hội để trở thành một điểm hội tụ từ đó mãnh lực chữa lành có thể lan tỏa đến nhiều người. Việc tập trung nội tâm vào mãnh lực tình thương của Chân sư chính là công việc của cô ấy dành cho chúng ta trong những thời điểm thử thách.

As for you, my brother, in utter self-forgetfulness lieth the path of service. Go as a healer and constructive builder and fear nought. Fear and self are terms synonymous, hence for you the need of self forgetfulness. The Master's work calls for attention; it mattereth not if you experience joy or pain. Concentration on the [or: that] work bringeth in due time the reward. Forgetfulness of the reward resulteth in sudden illumination.

Còn bạn, huynh đệ của tôi, con đường phục vụ nằm trong sự quên mình hoàn toàn. Hãy đến như một người chữa lành và một nhà kiến tạo đầy tính xây dựng, và đừng sợ hãi điều gì. Sợ hãi và bản ngã là hai từ đồng nghĩa, vì vậy đối với bạn, sự quên mình là điều cần thiết. Công việc của Chân sư đòi hỏi sự chú ý; việc bạn trải nghiệm niềm vui hay nỗi đau không quan trọng. Sự tập trung vào công việc ấy sẽ mang lại phần thưởng vào thời điểm thích hợp. Việc quên đi phần thưởng ấy sẽ dẫn đến sự khai sáng bất ngờ.

Now, brother of mine, let us take up the matter of the chakras and continue with what hath already been communicated: -

Bây giờ, huynh đệ của tôi, hãy tiếp tục với chủ đề về các luân xa và tiếp nối những gì đã được truyền đạt trước đây.

2—The growth and development of the centres.—2—Sự tăng trưởng và phát triển của các trung tâm.

We will now enumerate the centres again, this time considering their psychic correspondences and will note the colours and the number of the petals.

Bây giờ chúng ta sẽ liệt kê lại các trung tâm, lần này xem xét các sự tương ứng thông linh của chúng và sẽ lưu ý các màu sắc và số lượng cánh hoa.

1—The base of the spine. Four petals. These petals are in the shape of a cross, and radiate with orange fire. [78]

1—Đáy cột sống. Bốn cánh hoa. Những cánh hoa này có hình dạng của một thập giá, và phát xạ với lửa màu cam. [78]

2—The solar plexus. Ten petals. The colour rosy, with an admixture of green.

2—Tùng thái dương. Mười cánh hoa. Màu hồng, có pha trộn màu xanh lá cây.

3— The heart centre. Twelve petals. Colour glowing golden.

3— Trung tâm tim. Mười hai cánh hoa. Màu vàng kim rực rỡ.

4—The throat centre. Sixteen petals. Colour silvery blue, the blue predominating.

4—Trung tâm cổ họng. Mười sáu cánh hoa. Màu xanh bạc, màu xanh lam chiếm ưu thế.

5—The head centres. These are in a twofold division;—

5—Các trung tâm đầu. Những trung tâm này ở trong một sự phân chia kép;—

a—Between the eyebrows. Ninety-six petals. Colour, one-half of the lotus is rose and yellow, and the other half is blue and purple.

a—Giữa hai lông mày. Chín mươi sáu cánh hoa. Màu sắc, một nửa hoa sen là hồng và vàng, và nửa kia là xanh lam và tím.

b—The top of the head. There are twelve major petals of white and gold, and 960 secondary petals are arranged around the central twelve. This makes a total of 1068 petals in the two head centres, or 356 triplicities. All these figures have an occult significance.

b—Đỉnh đầu. Có mười hai cánh hoa chính màu trắng và vàng, và 960 cánh hoa phụ được sắp xếp xung quanh mười hai cánh hoa trung tâm. Điều này tạo nên tổng cộng 1068 cánh hoa trong hai trung tâm đầu, hay 356 bộ ba. Tất cả những con số này đều có một thâm nghĩa huyền bí.

This description is taken from “The Inner Life.” This description applies to the etheric centres, which are themselves the working out into physical plane manifestation of corresponding vortices on the emotional plane, with emotional vitality playing through. They have their mental counterparts, and in their awakening as aforesaid, and in their growth and development, comes the final vivification, and the resultant liberation.

Mô tả này được trích từ cuốn "The Inner Life" [Đời Sống Bên Trong]. Mô tả này áp dụng cho các trung tâm dĩ thái, vốn chính là sự biểu hiện ra cõi hồng trần của các xoáy tương ứng trên cõi cảm dục, với sinh lực cảm dục tuôn chảy qua. Chúng có các đối phần trí tuệ của mình, và trong sự thức tỉnh của chúng như đã nói ở trên, và trong sự tăng trưởng và phát triển của chúng, sẽ dẫn đến sự làm sống động cuối cùng, và sự giải thoát kết quả.

The connection between the centres, the causal body and meditation lies hid in the following hint: it is through the rapid whirling and interaction of these centres and their increased force through meditation (the ordered occult meditation) that the shattering of the causal body is effected. When the inner fire is circulating through each centre and when kundalini is spiralling [79] accurately and geometrically from vortex to vortex, the intensification interacts in three directions.

Sự kết nối giữa các trung tâm, thể nguyên nhân và tham thiền nằm ẩn trong gợi ý sau đây: chính thông qua sự xoay tròn nhanh chóng và sự tương tác của các trung tâm này và mãnh lực gia tăng của chúng thông qua tham thiền (cuộc tham thiền huyền môn có trật tự) mà việc phá vỡ thể nguyên nhân được thực hiện. Khi lửa bên trong đang lưu thông qua mỗi trung tâm và khi kundalini đang xoắn ốc [79] một cách chính xác và hình học từ xoáy này sang xoáy khác, sự tăng cường sẽ tương tác theo ba hướng.

a—It focuses the light or the consciousness of the Higher Self into the three lower vehicles, drawing it downward into fuller expression and widening its contact on all the three planes in the three worlds.

a—Nó tập trung ánh sáng hoặc tâm thức của Bản Ngã Cao Siêu vào ba hiện thể thấp, kéo nó xuống để biểu hiện đầy đủ hơn và mở rộng sự tiếp xúc của nó trên cả ba cõi trong ba cõi thấp.

b—It draws down from the threefold Spirit more and more of the fire of the Spirit, doing for the causal body what the Ego is doing for the three lower vehicles.

b—Nó kéo xuống từ Tinh thần tam phân ngày càng nhiều lửa của Tinh thần, thực hiện cho thể nguyên nhân những gì Chân ngã đang thực hiện cho ba hiện thể thấp.

c—It forces the unification of the higher and lower, and it attracts the spiritual life itself. When this is done, when each successive life sees an increase of vitality in the centres, and when kundalini in its seven-fold capacity touches each centre, then even the causal body proves inadequate for the influx of life from above. If I might so express it, the two fires meet, and eventually the egoic body disappears; the fire burns up entirely the Temple of Solomon; the permanent atoms are destroyed, and all is reabsorbed into the Triad. The essence of the Personality, the faculties developed, the knowledge gained, and the remembrance of all that has transpired becomes part of the equipment of the Spirit and eventually finds its way to the Spirit or Monad on its own plane.

c—Nó thúc ép sự hợp nhất giữa cái cao và cái thấp, và nó thu hút chính sự sống tinh thần. Khi điều này được thực hiện, khi mỗi kiếp sống kế tiếp thấy một sự gia tăng sinh lực trong các trung tâm, và khi kundalini trong năng lực thất phân của nó chạm đến mỗi trung tâm, thì ngay cả thể nguyên nhân cũng tỏ ra không đủ cho dòng sự sống tuôn vào từ bên trên. Nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, hai ngọn lửa gặp nhau, và cuối cùng thể chân ngã biến mất; lửa đốt cháy hoàn toàn Đền thờ Solomon; các nguyên tử trường tồn bị phá hủy, và tất cả được tái hấp thụ vào Tam nguyên tinh thần. Tinh chất của Phàm ngã, các năng lực đã phát triển, tri thức đã đạt được, và sự ghi nhớ về tất cả những gì đã diễn ra trở thành một phần trang bị của Tinh thần và cuối cùng tìm đường trở về Tinh thần hay Chân thần trên cõi riêng của nó.

Now let me enumerate for you the things as to which it will not be possible as yet to furnish more information; the risks involved would be too great.

Bây giờ hãy để tôi liệt kê cho bạn những điều mà hiện tại chưa thể cung cấp thêm thông tin; những rủi ro liên quan sẽ là quá lớn.

l—The method of arousing the Sacred Fire.

l—Phương pháp đánh thức Lửa Thiêng liêng.

2—The order of its progression.

2—Trật tự tiến triển của nó.

3—The geometrical forms it makes as it mounts.

3—Các hình dạng hình học mà nó tạo ra khi đi lên.

4—The order of the development of the centres according to the ray of the Spirit. The complexity is too great. [80]

4—Trật tự phát triển của các trung tâm theo cung của Tinh thần. Sự phức tạp là quá lớn. [80]

You will therefore observe that the subject really becomes more abstruse, the longer it is studied. It is complicated by ray development, by the man’s own place upon the ladder of evolution, by the uneven awakening of the different centres due to the type of a man’s lives; it is rendered more complex by the threefold nature of the centres themselves,—etheric, emotional and mental—by the fact, that some people have one or other emotional centre completely awakened and demonstrating etherically whilst the mental counterparts may be quiescent; others may have the mental centres awake and the emotional not so vivified and be etherically quiet. Therefore, it will be obvious how great is the need for conscious clairvoyant teachers, who can judiciously work with the pupils, stimulating through scientific knowledge and methods the dormant or sluggish centres, and aligning them so that the current can freely flow back and forth between the external vortices and the inner centre. Later the teacher can train the pupil in the safe awakening of the inner fire, in its scientific culture and transmission, and instruct him in the order required for its convolutions along the path of the triangles until it reaches the head centres. When kundalini has traversed these geometrical lines the man is perfected, the personality has served its purpose, and the goal is reached. Hence the fact that all the centres have petals whose numbers are multiples of four, for four is the number of the lower self, of the quaternary. The total number of petals in the centres, if we eliminate the spleen which has a purpose all its own, and the three lower organs of creation, is one thousand, one hundred and ten, the total number signifying the perfection of the microcosm,—ten the number of perfected personality, one hundred the number of causal perfection, and one thousand the number of spiritual [81] achievement. When every petal vibrates in all the dimensions, then the goal for this manvantara is reached. The lower lotus is full blown, and reflects the greater with precision.

Do đó, bạn sẽ quan sát thấy rằng chủ đề này thực sự trở nên thâm thúy hơn khi càng nghiên cứu lâu. Nó bị phức tạp hóa bởi sự phát triển cung, bởi vị trí của chính con người trên nấc thang tiến hóa, bởi sự thức tỉnh không đồng đều của các trung tâm khác nhau do loại kiếp sống của một người; nó trở nên phức tạp hơn bởi bản chất tam phân của chính các trung tâm—dĩ thái, cảm dục và trí tuệ—bởi thực tế là, một số người có một hoặc các trung tâm cảm dục khác thức tỉnh hoàn toàn và biểu hiện ra về mặt dĩ thái trong khi các đối phần trí tuệ có thể đang tĩnh lặng; những người khác có thể có các trung tâm trí tuệ thức tỉnh và các trung tâm cảm dục không được làm sống động như vậy và tĩnh lặng về mặt dĩ thái. Do đó, sẽ rõ ràng nhu cầu về các huấn sư thông nhãn có ý thức lớn đến mức nào, những người có thể làm việc một cách sáng suốt với các môn sinh, kích thích thông qua kiến thức và phương pháp khoa học các trung tâm đang ngủ yên hoặc trì trệ, và chỉnh hợp chúng để dòng điện có thể tự do chảy qua lại giữa các xoáy bên ngoài và trung tâm bên trong. Sau này, huấn sư có thể huấn luyện môn sinh trong việc đánh thức lửa bên trong một cách an toàn, trong sự nuôi dưỡng và truyền dẫn khoa học của nó, và hướng dẫn y về trật tự cần thiết cho các đường xoắn của nó dọc theo con đường của các tam giác cho đến khi nó chạm tới các trung tâm đầu. Khi kundalini đã đi qua các đường hình học này, con người được hoàn thiện, phàm ngã đã phục vụ xong mục đích của nó, và mục tiêu đã đạt được. Do đó, thực tế là tất cả các trung tâm đều có các cánh hoa mà số lượng của chúng là bội số của bốn, vì bốn là con số của phàm ngã, của bộ tứ thấp. Tổng số cánh hoa trong các trung tâm, nếu chúng ta loại bỏ lá lách vốn có mục đích riêng của nó, và ba cơ quan sáng tạo thấp, là một ngàn một trăm mười, tổng số biểu thị sự hoàn thiện của tiểu thiên địa,—mười là con số của phàm ngã hoàn thiện, một trăm là con số của sự hoàn thiện nguyên nhân, và một ngàn là con số của thành tựu tinh thần [81]. Khi mỗi cánh hoa rung động trong tất cả các chiều, thì mục tiêu cho giai kỳ sinh hóa này đã đạt được. Hoa sen thấp đã nở rộ hoàn toàn, và phản chiếu hoa sen lớn hơn với sự chính xác.

June 26, 1920.

Ngày 26 tháng 6 năm 1920.

The effect of occult meditation on the centres.

Tác động của tham thiền huyền môn lên các trung tâm.

We shall study today the effect of occult meditation upon the centres and their consequent vivification, positing a meditation prefaced always by the use of the Sacred Word, uttered according to rule.

Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu tác động của tham thiền huyền môn lên các trung tâm và sự làm sống động kết quả của chúng, giả định một cuộc tham thiền luôn được mở đầu bằng việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng, được xướng lên theo quy luật.

We speak also of a meditation followed under the guidance of a teacher. The man therefore will meditate correctly or approximately so; thus what we are to consider today is the factor of time, in its relationship to the centres, for the work is slow and necessarily gradual. Here I would pause to emphasize to you the need of ever remembering that in all work that is truly occult expected effects are very slowly achieved. Should a man seem in any one incarnation to make spectacular progress it is due to the fact that he is but demonstrating what has already been earlier acquired (the manifesting forth of innate faculty, acquired in previous incarnations) and is preparing for a fresh period of slow, careful and painstaking endeavor. He recapitulates in the present life the processes surmounted in the past, and thus lays the foundation for renewed effort. This slow and laborious effort, which is the consistent method of all that evolves, is after all but an illusion of time and is due to the fact that consciousness is at present for the majority polarised in the lower vehicles and not in the causal. The states of consciousness succeed each other apparently slowly, and in their slow progression lies the chance for the Ego to assimilate the fruit of these stages. [82] It takes a long time to establish a stable vibration, and it takes as long to shatter it, and to impose another and still higher rhythm. Growth is one long period of building in order to destroy, of constructing in order to disorganise later, of developing certain rhythmic processes in order to later disrupt them, and to force the old rhythm to give place to the new. What the Personality spends many thousands of lives in establishing is not going to be lightly altered when the Ego—working in the lower consciousness—seeks to effect a change. The shifting of polarisation from emotional to mental, and thence to the causal and later to the three-fold Spirit inevitably entails a period of great difficulty, of violent conflict both internally and with the environment, intense suffering and apparent darkness and disruption—all these things characterise the life of the aspirant or the disciple. What causes this and why is this so? The following reasons may make it apparent why the path is so hard to tread and the process of mounting the ladder (as one nears the higher rungs) becomes ever more complicated and difficult.

Chúng ta cũng nói về một cuộc tham thiền được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một huấn sư. Do đó, con người sẽ tham thiền một cách chính xác hoặc gần đúng như vậy; vì vậy những gì chúng ta sẽ xem xét hôm nay là yếu tố thời gian, trong mối quan hệ của nó với các trung tâm, vì công việc này chậm chạp và nhất thiết phải dần dần. Ở đây tôi muốn dừng lại để nhấn mạnh với bạn nhu cầu luôn phải nhớ rằng trong tất cả các công việc thực sự huyền bí, các tác động mong đợi đạt được rất chậm. Nếu một người dường như trong bất kỳ một kiếp lâm phàm nào đạt được tiến bộ ngoạn mục thì đó là do thực tế là y chỉ đang thể hiện những gì đã đạt được trước đó (sự biểu hiện ra năng lực bẩm sinh, đạt được trong các kiếp lâm phàm trước) và đang chuẩn bị cho một giai đoạn mới của nỗ lực chậm chạp, cẩn thận và khổ công. Y lặp lại trong đời sống hiện tại các quá trình đã vượt qua trong quá khứ, và do đó đặt nền móng cho nỗ lực mới. Nỗ lực chậm chạp và tốn công này, vốn là phương pháp nhất quán của tất cả những gì tiến hóa, suy cho cùng chỉ là một ảo tưởng của thời gian và là do thực tế là tâm thức hiện nay đối với đa số đang phân cực trong các hiện thể thấp chứ không phải trong thể nguyên nhân. Các trạng thái tâm thức kế tiếp nhau dường như chậm chạp, và trong sự tiến triển chậm chạp của chúng có cơ hội để Chân ngã đồng hóa thành quả của các giai đoạn này. [82] Phải mất một thời gian dài để thiết lập một rung động ổn định, và cũng mất chừng ấy thời gian để phá vỡ nó, và áp đặt một nhịp điệu khác và cao hơn nữa. Sự tăng trưởng là một giai đoạn dài xây dựng để rồi phá hủy, kiến tạo để rồi làm mất tổ chức sau đó, phát triển các quá trình nhịp điệu nhất định để rồi sau đó phá vỡ chúng, và buộc nhịp điệu cũ phải nhường chỗ cho nhịp điệu mới. Những gì Phàm ngã dành hàng ngàn kiếp sống để thiết lập sẽ không dễ dàng bị thay đổi khi Chân ngã—làm việc trong tâm thức thấp—tìm cách thực hiện một sự thay đổi. Việc chuyển dịch sự phân cực từ cảm dục sang trí tuệ, và từ đó sang nguyên nhân và sau đó là Tinh thần tam phân chắc chắn kéo theo một giai đoạn vô cùng khó khăn, xung đột dữ dội cả bên trong lẫn với môi trường, sự đau khổ mãnh liệt và bóng tối cùng sự tan rã rõ rệt—tất cả những điều này đặc trưng cho cuộc đời của người chí nguyện hoặc đệ tử. Điều gì gây ra điều này và tại sao lại như vậy? Những lý do sau đây có thể làm rõ tại sao con đường lại khó đi như vậy và quá trình leo lên nấc thang (khi người ta tiến gần đến các bậc cao hơn) ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn.

1—Each body has to be dealt with and disciplined separately and thus purified.

1—Mỗi thể phải được xử lý và kỷ luật riêng biệt và do đó được thanh lọc.

2—Each body has to be readjusted and aligned.

2—Mỗi thể phải được điều chỉnh lại và chỉnh hợp.

3—Each body has to be subjected to repolarisation.

3—Mỗi thể phải chịu sự tái phân cực.

4—Each body is practically reconstructed.

4—Mỗi thể thực tế được tái cấu trúc.

5—Each subplane above the fourth (for on the fourth the life of the aspirant starts) has to be dominated.

5—Mỗi cõi phụ trên cõi thứ tư (vì trên cõi thứ tư đời sống của người chí nguyện bắt đầu) phải được chế ngự.

6—Each centre has to be gradually, carefully and scientifically awakened, its revolutions have to be intensified, its radiations electrified (if I may borrow that term and apply it to the centres) and its force must demonstrate through the higher dimension. [83]

6—Mỗi trung tâm phải được thức tỉnh dần dần, cẩn thận và khoa học, các vòng quay của nó phải được tăng cường, các bức xạ của nó được điện hóa (nếu tôi có thể mượn thuật ngữ đó và áp dụng nó cho các trung tâm) và mãnh lực của nó phải thể hiện qua chiều cao hơn. [83]

7—Each etheric centre has to be magnetically linked, in full alignment, with the corresponding centres in the emotional and mental bodies, so that the flow of force is unimpeded.

7—Mỗi trung tâm dĩ thái phải được liên kết từ tính, trong sự chỉnh hợp hoàn toàn, với các trung tâm tương ứng trong thể cảm dục và thể trí, để dòng lực không bị cản trở.

8—Each centre has then to be awakened afresh by the Sacred Fire till the radiations, the velocity and the colours are keyed to the egoic note. This is part of the work of Initiation.

8—Mỗi trung tâm sau đó phải được thức tỉnh mới bởi Lửa Thiêng liêng cho đến khi các bức xạ, vận tốc và màu sắc được điều chỉnh theo âm điệu chân ngã. Đây là một phần của công việc Điểm đạo.

As each change is gradually made, it responds to the same law that governs all cyclic growth in the macrocosm:

Khi mỗi sự thay đổi được thực hiện dần dần, nó đáp ứng cùng một định luật chi phối mọi sự tăng trưởng theo chu kỳ trong đại thiên địa:

l—First comes the clashing of the old with the new rhythm.

l—Đầu tiên là sự xung đột của nhịp điệu cũ với nhịp điệu mới.

2—This is followed by a period of gradual dominance of the new, elimination of the old, and the stabilisation of the new vibration.

2—Tiếp theo là một giai đoạn thống trị dần dần của cái mới, loại bỏ cái cũ, và sự ổn định của rung động mới.

3—Then finally comes the passing on and out, and again a repetition of the process.

3—Cuối cùng là sự vượt qua và đi ra, và một lần nữa lặp lại quá trình đó.

It is this work that is done on the bodies and on the centres by the work of meditation and the use of the Sacred Word. This Word aids in the adjustment of the matter, its vitalisation by fire, and enables the aspirant to work in line with the law. This unfoldment of the centres is a gradual process, paralleling the work done on the bodies, the refining of the vehicles and the slow development of causal consciousness.

Chính công việc này được thực hiện trên các thể và trên các trung tâm bằng công việc tham thiền và việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng. Linh từ này hỗ trợ trong việc điều chỉnh vật chất, sự làm sống động nó bằng lửa, và cho phép người chí nguyện làm việc phù hợp với định luật. Sự khai mở các trung tâm này là một quá trình dần dần, song hành với công việc được thực hiện trên các thể, sự tinh luyện các hiện thể và sự phát triển chậm chạp của tâm thức nguyên nhân.

Concluding remarks.

Lời kết.

In concluding this division upon the use of the Sacred Word in meditation, I would like to indicate certain things, though more than a hint is not possible. This matter has been difficult for you to comprehend, and I fully realise it. The difficulty lies in the fact that so little [84] can be safely said, that the real use of the Word is one of the secrets of initiation and may not therefore be divulged, and that what little can be indicated is of small value to the student apart from the wise attempt to experiment, which experiment must be carried on under the guidance of one who knows. Still, I will indicate certain things which, wisely pondered upon, may lead to illumination.

Để kết thúc phần này về việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong tham thiền, tôi muốn chỉ ra một số điều, mặc dù không thể đưa ra nhiều hơn một gợi ý. Vấn đề này đã gây khó khăn cho bạn để thấu hiểu, và tôi hoàn toàn nhận ra điều đó. Khó khăn nằm ở chỗ có quá ít [84] điều có thể được nói ra một cách an toàn, rằng việc sử dụng thực sự Linh từ là một trong những bí mật của điểm đạo và do đó không được tiết lộ, và rằng những gì ít ỏi có thể được chỉ ra có giá trị nhỏ đối với đạo sinh ngoài nỗ lực khôn ngoan để thử nghiệm, cuộc thử nghiệm đó phải được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một người am tường. Tuy nhiên, tôi sẽ chỉ ra một số điều mà nếu được suy ngẫm một cách khôn ngoan, có thể dẫn đến sự soi sáng.

When meditating in the heart centre, picture it as a golden lotus closed. When the Sacred Word is enunciated, picture it as a lotus slowly expanding until the inner centre or vortex is seen as a radiating whirlpool of electric light, more blue than golden. Build there the picture of the Master, in etheric, emotional and mental matter. This entails the withdrawing of the consciousness ever more and more inwards. When the picture is fully built then gently sound the Word again, and with an effort of the will withdraw still further inwards and link up with the twelve petalled head centre, the centre of causal consciousness. Do all this very slowly and gradually, maintaining an attitude of perfect peace and calm. There is a direct relationship between the two twelve petalled centres and occult meditation, and the action of the kundalini fire will later reveal its significance. This visualization leads to synthesis, to causal development and expansion, and eventually conducts a man into the presence of the Master.

Khi tham thiền trong trung tâm tim, hãy hình dung nó như một đóa sen vàng đang khép lại. Khi Linh từ Thiêng liêng được phát âm, hãy hình dung nó như một đóa sen đang từ từ nở ra cho đến khi trung tâm bên trong hoặc xoáy được thấy như một bồn xoáy phát xạ ánh sáng điện, mang sắc xanh nhiều hơn vàng. Hãy xây dựng ở đó hình ảnh của Chân sư, bằng chất liệu dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. Điều này đòi hỏi việc rút tâm thức ngày càng nhiều hơn vào bên trong. Khi hình ảnh được xây dựng hoàn chỉnh, hãy nhẹ nhàng xướng Linh từ một lần nữa, và với một nỗ lực của ý chí hãy rút sâu hơn nữa vào bên trong và liên kết với trung tâm đầu mười hai cánh hoa, trung tâm của tâm thức nguyên nhân. Hãy thực hiện tất cả những điều này thật chậm rãi và dần dần, duy trì một thái độ hoàn toàn bình an và tĩnh lặng. Có một mối quan hệ trực tiếp giữa hai trung tâm mười hai cánh hoa và tham thiền huyền môn, và hành động của lửa kundalini sau này sẽ tiết lộ thâm nghĩa của nó. Sự hình dung này dẫn đến sự tổng hợp, đến sự phát triển và mở rộng nguyên nhân, và cuối cùng dẫn đưa một người vào hiện diện của Chân sư.

The solar plexus is the seat of the emotions and should not be centred upon in meditation. It is a basis for physical healing and will later be more completely understood. It is the centre of activity—an activity which must later be intuitional. The throat centre works radiantly when the polarisation is shifting from the physical atom to the mental permanent atom as dealt with earlier. [85] The mental permanent atom becomes the centre of pure reason or of abstract thought. Then comes a time in the development of consciousness when the emotional force which governs so many is transcended and superseded by the force of the higher intellect. It often marks a period when a man is swayed purely by reason and his emotions do not control him. This may demonstrate in the personal life on the physical plane as intellectual hardness. Later, the emotional permanent atom gives place to the intuitional, and pure intuition and perfect comprehension through love is the motive power, with the faculty of reason added. Then the solar plexus is distinguished by the preponderance of the green of activity, for the emotional body is actively the agent of the higher, and engenders but little of the rose of human desire.

Tùng thái dương là nơi ngự trị của các cảm xúc và không nên tập trung vào đó trong tham thiền. Nó là cơ sở cho việc chữa trị hồng trần và sau này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn. Nó là trung tâm của hoạt động—một hoạt động mà sau này phải mang tính trực giác. Trung tâm cổ họng hoạt động rạng rỡ khi sự phân cực đang chuyển dịch từ nguyên tử hồng trần sang nguyên tử trường tồn trí tuệ như đã bàn trước đây. [85] Nguyên tử trường tồn trí tuệ trở thành trung tâm của lý trí thuần túy hoặc của tư duy trừu tượng. Sau đó đến một thời điểm trong sự phát triển của tâm thức khi mãnh lực cảm xúc vốn chi phối rất nhiều người được vượt qua và thay thế bằng mãnh lực của trí tuệ cao hơn. Nó thường đánh dấu một giai đoạn khi một người bị chi phối thuần túy bởi lý trí và các cảm xúc của y không kiểm soát y. Điều này có thể biểu hiện trong đời sống cá nhân trên cõi hồng trần như là sự cứng nhắc về trí tuệ. Sau đó, nguyên tử trường tồn cảm dục nhường chỗ cho nguyên tử trực giác, và trực giác thuần túy cùng sự thấu hiểu hoàn hảo thông qua tình thương là động lực, với năng lực lý trí được thêm vào. Khi đó tùng thái dương được phân biệt bởi sự ưu thế của màu xanh lá cây của hoạt động, vì thể cảm dục là tác nhân tích cực của cái cao hơn, và chỉ tạo ra rất ít màu hồng của dục vọng nhân loại.

In the whirling of the force through the vortex (which whirling forms the petals of the lotus) it will be observed that certain petals predominantly stand out, and each centre demonstrates one particular type of cross, with the exception of the two head centres which are the synthesis of the lower crosses. The four-armed cross of the third Logos is found at the base of the spine and the cross of the fourth human Hierarchy in the heart.

Trong sự xoay tròn của lực qua xoáy (sự xoay tròn tạo nên các cánh hoa sen), người ta sẽ quan sát thấy rằng các cánh hoa nhất định nổi bật lên một cách chiếm ưu thế, và mỗi trung tâm thể hiện một loại thập giá cụ thể, ngoại trừ hai trung tâm đầu vốn là sự tổng hợp của các thập giá thấp hơn. Thập giá bốn tay của Ngôi Lời thứ ba được tìm thấy tại đáy cột sống và thập giá của Huyền Giai nhân loại thứ tư ở trong tim.

When the Sacred Word is intoned by the average aspirant, it carries force through all the inner centres to the etheric, and causes a definite stimulation of the petals in each centre. If the lotus is only partially unfolded, then only some of the petals receive the stimulation. This stimulation creates a vibration (especially in the centre in which a man meditates—the head or the heart) which causes reflex action in the spine and down to the base. This is not in itself sufficient to arouse the fire; that can only be done in due form, in the right key and subject to certain rules. [86]

Khi Linh từ Thiêng liêng được xướng lên bởi người chí nguyện trung bình, nó mang lực qua tất cả các trung tâm bên trong đến cõi dĩ thái, và gây ra một sự kích thích xác định các cánh hoa trong mỗi trung tâm. Nếu hoa sen chỉ mới nở một phần, thì chỉ một số cánh hoa nhận được sự kích thích. Sự kích thích này tạo ra một rung động (đặc biệt là trong trung tâm mà một người tham thiền—đầu hoặc tim) gây ra phản xạ trong cột sống và xuống đến tận đáy. Bản thân điều này không đủ để đánh thức lửa; điều đó chỉ có thể được thực hiện theo đúng hình thức, đúng âm điệu và tuân theo các quy luật nhất định. [86]

When meditation is done in the heart and under occult laws, with the correct intoning of the Word, the force comes through the emotional centres from the intuitional levels. When it is done in the head, the force comes through the mental centres from the abstract manasic levels, and later from the atmic. The one gives spiritual intuition, and the other causal consciousness.

Khi tham thiền được thực hiện trong tim và dưới các định luật huyền môn, với việc xướng Linh từ chính xác, lực sẽ đi qua các trung tâm cảm dục từ các cấp độ trực giác. Khi nó được thực hiện ở đầu, lực sẽ đi qua các trung tâm trí tuệ từ các cấp độ manas trừu tượng, và sau đó từ các cấp độ atma. Một cái mang lại trực giác tinh thần, và cái kia mang lại tâm thức nguyên nhân.

The advanced man is the man who is linking up the two major centres,—the head and the heart,—into one, synthetic instrument, and whose throat centre vibrates to the same measure. Then you have will and love blended in harmonious service, and the lower physical activity is transmuted into idealism and altruism. When this stage is reached, the man is ready for the awakening of the inner fire. His bodies are refined enough to withstand the pressure and the onrush; they contain nothing dangerous to its progress; the centres are keyed high enough to receive the acquisition of fresh stimulation. When this has been done, the hour of initiation comes when the would-be server of humanity will stand before his Lord, with purified desire, consecrated intellect, and a physical body that is his servant and not his master.

Con người tiến bộ là người đang liên kết hai trung tâm chính,—đầu và tim,—thành một công cụ tổng hợp duy nhất, và trung tâm cổ họng của y rung động theo cùng một nhịp điệu. Khi đó bạn có ý chí và tình thương hòa quyện trong sự phụng sự hài hòa, và hoạt động hồng trần thấp được chuyển hóa thành chủ nghĩa lý tưởng và lòng vị tha. Khi đạt đến giai đoạn này, con người đã sẵn sàng cho việc đánh thức lửa bên trong. Các thể của y đủ tinh luyện để chịu đựng áp lực và sự lao tới; chúng không chứa đựng điều gì nguy hiểm cho sự tiến triển của nó; các trung tâm được điều chỉnh đủ cao để tiếp nhận sự tiếp thu kích thích mới. Khi điều này đã được thực hiện, giờ điểm đạo đến khi người muốn phụng sự nhân loại sẽ đứng trước Chúa Tể của mình, với dục vọng đã được thanh lọc, trí tuệ đã được thánh hiến, và một thể xác là đầy tớ chứ không phải là chủ nhân của y.

Today we will bring this letter to a close. Tomorrow, we will take up the dangers that confront the man who meditates. I shall seek to point out what he must guard against and wherein he must move with caution. [87]

Hôm nay chúng ta sẽ kết thúc bức thư này. Ngày mai, chúng ta sẽ đề cập đến những nguy hiểm đối mặt với người tham thiền. Tôi sẽ tìm cách chỉ ra những gì y phải đề phòng và y phải di chuyển thận trọng ở đâu. [87]

LETTER V—DANGERS TO BE AVOIDED IN MEDITATION

LETTER V

THƯ V

DANGERS TO BE AVOIDED IN MEDITATION.

NHỮNG NGUY HIỂM CẦN TRÁNH TRONG THAM THIỀN.

l—Dangers inherent in the Personality.

l—Những nguy hiểm vốn có trong phàm ngã.

2—Dangers arising from Karma.

2—Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả.

3—Dangers arising from subtle forces. [88]

3—Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế. [88]

July 22, 1920.

Ngày 22 tháng 7, 1920.

July 22nd, 1920. 5 am.

Ngày 22 tháng 7, 1920. 5 giờ sáng.

The hour is quiet, brother of mine, there is no hurry, and as there seemeth but little to distract I thought I would continue the instructions on meditation. The time is brief before it is desired that you submit the book on meditation to those destined to publish. Much along the line of writing it is deemed desirable that you undertake in the immediate future. Let me briefly enumerate, prior to taking up the matter in hand.

Giờ này thật yên tĩnh, huynh đệ của tôi, không có gì vội vã, và vì dường như rất ít điều gây xao lãng nên tôi nghĩ tôi sẽ tiếp tục các chỉ dẫn về tham thiền. Thời gian còn ngắn trước khi người ta mong các bạn nộp cuốn sách về tham thiền cho những người được định sẽ xuất bản. Về việc viết lách theo hướng đó, người ta cho là điều đáng mong muốn rằng trong tương lai gần các bạn sẽ đảm nhận nhiều việc. Trước khi đi vào vấn đề đang bàn, tôi xin liệt kê vắn tắt.

1. Finish certain articles for the first publication on evolution.

1. Hoàn tất một số bài viết cho ấn phẩm đầu tiên về tiến hoá.

2. Finish and submit the letters on occult meditation.

2. Hoàn tất và nộp các bức thư về tham thiền huyền bí.

3. Write some articles for independent publication on Psychism, the sex question and on symbolism.

3. Viết một số bài để xuất bản độc lập về thông linh, vấn đề tính dục và về biểu tượng học.

4. Compile the Stanzas dictated and transcribe some others that I shall in ensuing days dictate.

4. Biên soạn các bài kệ đã được đọc cho chép lại và chép lại một số bài khác mà trong những ngày tới tôi sẽ đọc cho chép.

5. Then enlarge and amplify your SD [The Secret Doctrine] outline, making it more generally useful, and securing the necessary able collaboration.

5. Rồi mở rộng và triển khai dàn ý SD [Giáo Lý Bí Nhiệm] của các bạn, làm cho nó hữu ích hơn một cách phổ quát, và bảo đảm sự cộng tác cần thiết của những người có năng lực.

6. Finish your book on the Bible and submit for publication. Discuss with BPW the advisability of having this book printed over here.

6. Hoàn tất cuốn sách của các bạn về Kinh Thánh và nộp để xuất bản. Hãy bàn với BPW về việc có nên in cuốn sách này tại đây hay không.

In concluding these suggestions, brother of old, I would simply add,—in the pursuance of duty comes the conformity to the law, and where the law is followed comes the needed supply, and when obedience is the rule of life, comes revelation of the plan of the Great Ones for those whose karma permitteth liberation for work among the little ones.

Kết thúc các gợi ý này, huynh đệ của ngày xưa, tôi chỉ xin thêm rằng,—trong việc theo đuổi bổn phận có sự thuận theo định luật, và nơi nào định luật được tuân theo thì nơi đó có sự cung ứng cần thiết, và khi vâng phục trở thành quy luật của đời sống thì sẽ có sự mặc khải về Thiên Cơ của Các Đấng Cao Cả dành cho những ai mà nghiệp quả cho phép được giải thoát để làm việc giữa những kẻ bé nhỏ.

To take up our work on meditation: -

Giờ ta hãy tiếp tục công việc về tham thiền: -

The Withholding of Information.—Sự Giữ Lại Thông Tin.