← LETTERs ON OCCULT MEDITATION – Alice A. Bailey

August 3rd, 1920.

August 3rd, 1920.

Ngày 3 tháng 8, 1920.

During these coming days, brother of mine, application to the immediate duty is the part of wisdom. It is desired that much should be accomplished both in your individual work and in the work that you and FB have undertaken for the section. The future holdeth changes and in the finished scheme lieth hope for that which is hidden in the lap of destiny.

Trong những ngày sắp đến này, huynh đệ của tôi, chuyên chú vào bổn phận trước mắt là phần của minh triết. Người ta mong muốn rằng nhiều việc sẽ được hoàn thành, cả trong công việc cá nhân của các bạn lẫn trong công việc mà các bạn và FB đã đảm nhận cho phân bộ. Tương lai chứa đựng những đổi thay và trong kế hoạch đã hoàn tất có ẩn chứa hy vọng cho điều đang được giấu kín trong lòng định mệnh.

...We have for our topic this morning the final section of our letter on the dangers incidental to meditation. We have dealt somewhat with individual dangers inherent in the three bodies; we have touched upon the risks that may be run when the karma of the student and his group affiliations are overlooked. Today the subject involves real difficulty. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtler planes. The difficulty arises in three ways:—

...Sáng nay, chủ đề của chúng ta là phần cuối của bức thư về những nguy hiểm kèm theo tham thiền. Chúng ta đã bàn phần nào về những nguy hiểm cá nhân vốn có trong ba thể; chúng ta đã chạm đến các rủi ro có thể gặp khi nghiệp quả của đạo sinh và các liên hệ nhóm của y bị bỏ qua. Hôm nay, đề tài này thực sự khó khăn. Chúng ta phải đề cập đến những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và con người, từ các thực thể và các nhóm đang hoạt động trên các cõi vi tế hơn. Khó khăn phát sinh theo ba cách:—

l—The ignorance of the average student as to the nature of those forces and as to the personnel of the groups on the subtler planes.

l—Sự thiếu hiểu biết của đạo sinh trung bình về bản chất của các mãnh lực ấy và về nhân sự của các nhóm trên các cõi vi tế hơn.

2—The risk of revealing more than would be wise in an exoteric publication.

2—Rủi ro tiết lộ nhiều hơn điều minh triết cho phép trong một ấn phẩm ngoại môn.

3—An occult risk that is little comprehended by the uninitiated. It lies in the fact that in the concentration of thought that necessarily arises in discussing these problems, thought-waves are set in motion, currents are contacted and thoughtforms circulated that attract the attention of those under discussion. This may lead at times to undesirable results. Therefore, I shall with brevity touch upon the subject. Upon the inner planes the needed light and protection are afforded.

3—Một rủi ro huyền bí mà người chưa được điểm đạo ít thấu hiểu. Nó nằm ở sự kiện rằng trong sự tập trung tư tưởng tất yếu phát sinh khi thảo luận các vấn đề này, các làn sóng tư tưởng được khởi động, các dòng chảy được tiếp xúc và các hình tư tưởng được lưu hành, vốn thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến. Điều này đôi khi có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn. Vì vậy, tôi sẽ ngắn gọn chạm đến đề tài này. Trên các cõi bên trong, ánh sáng và sự bảo vệ cần thiết được ban cấp.

Three groups of entities:—

Ba nhóm thực thể:—

These groups of entities can be differentiated in a threefold manner:—

Các nhóm thực thể này có thể được phân biệt theo một cách tam phân:—

l—Groups of discarnate beings on either the emotional or the mental planes.

l—Các nhóm chúng sinh đã thoát xác trên hoặc cõi cảm dục hoặc cõi trí.

2—Devas, either singly or in groups.

2—Các thiên thần, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.

3—The dark Brotherhood. [121]

3—Huynh đệ Đoàn Hắc đạo. [121]

Let us take each division and deal with it carefully, first laying the foundation of knowledge by pointing out that the dangers arise from a threefold condition of the bodies of the student which may be the result sometimes of meditation. These conditions are:

Chúng ta hãy lấy từng phân bộ và bàn đến một cách cẩn trọng, trước hết đặt nền tảng tri thức bằng cách chỉ ra rằng các nguy hiểm phát sinh từ một tình trạng tam phân của các thể của đạo sinh, đôi khi có thể là kết quả của tham thiền. Các tình trạng ấy là:

A negative condition that makes the entire three bodies of the personality receptive and quiescent, and open therefore to the attack of the watching denizens of other planes.

Một tình trạng tiêu cực khiến toàn bộ ba thể của phàm ngã trở nên tiếp nhận và tĩnh lặng, và do đó mở ra cho sự tấn công của những cư dân canh chừng của các cõi khác.

A condition of ignorance or foolhardiness that, in attempting to use certain forms and mantrams without the permission of the Teacher, involves the student with certain groups of devas, bringing him into contact with the devas of the emotional or mental planes and making him therefore (through his ignorance) the butt of their attack and the plaything of their destructive instincts.

Một tình trạng thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh mà, khi cố gắng sử dụng một số hình thức và mantram nhất định mà không có sự cho phép của huấn sư, khiến đạo sinh vướng vào một số nhóm thiên thần, đưa y tiếp xúc với các thiên thần của cõi cảm dục hoặc cõi trí và do đó (vì sự ngu dốt của y) trở thành mục tiêu bị tấn công và món đồ chơi cho các bản năng phá hoại của họ.

A condition which is the reverse of the above, which makes a man positive and a channel, therefore, for force or power. When this is the case, the man proceeds, under occult rule or law and with the aid of his Teacher, to wield the electrical fluid of the inner planes. He becomes then a centre of the attention of those who strive against the Brothers of Light.

Một tình trạng trái ngược với điều trên, khiến một người trở nên tích cực và do đó là một kênh cho mãnh lực hoặc quyền năng. Khi điều này xảy ra, người ấy tiến hành, theo quy luật hay định luật huyền bí và với sự trợ giúp của huấn sư của y, để vận dụng lưu chất điện của các cõi bên trong. Khi ấy y trở thành một trung tâm thu hút sự chú ý của những kẻ chống lại các Huynh Đệ Ánh Sáng.

The first two conditions are all the result of meditation unwisely and ignorantly practised, the last state of affairs is frequently the reward of success. In the first two, the remedy lies within the student himself and in the wise correction of the type of meditation and its more careful following; in the third case the remedy must be sought in various ways which I will later indicate.

Hai tình trạng đầu đều là kết quả của tham thiền được thực hành một cách thiếu minh triết và thiếu hiểu biết; trạng thái sau thường là phần thưởng của thành công. Trong hai tình trạng đầu, phương thuốc nằm trong chính đạo sinh và trong việc sửa chữa minh triết loại tham thiền cùng với việc theo sát cẩn trọng hơn; trong trường hợp thứ ba, phương thuốc phải được tìm theo nhiều cách mà về sau tôi sẽ chỉ ra.

Dangers of obsession.—Những nguy hiểm của sự ám nhập.

Dangers from discarnate entities are frankly those of obsession, either of a temporary nature and lasting for a few moments or more enduring and lasting for a longer [122] period. It may even be permanent and lasting through a lifetime. I have earlier written to you a letter upon this subject which you might here incorporate. We never duplicate effort if it can be avoided. I seek primarily to emphasise the point that this entrance which we call obsession is effected largely through the negative attitude assumed through the unwise following of an unsuitable meditation. In his anxiety to be the recipient of light from above, in his determination to force himself to a place where he can contact the teachers or even the Master, and in his endeavour to eliminate all thought and lower vibrations, the student makes the mistake of rendering his entire lower personality receptive. Instead of making it firmly positive to environing factors and to all lower contacts, and instead of only allowing the “apex of the mind” (if I may use so unusual a term) to be receptive and open to transmission from the causal or the abstract levels and even from the intuitional, the student permits reception from all sides. Only a point within the brain should be receptive, all the rest of the consciousness should be so polarised that outer interference will not be possible. This refers to the emotional and to the mental bodies, though with the majority these days it refers solely to the emotional. At this particular period of the world’s history the emotional plane is so densely populated and the response of the physical to the emotional is now becoming so exquisitely attuned, that the danger of obsession is greater than ever heretofore. But for your cheering—the reverse holds good also, and response to the divine and rapid reaction to the higher inspiration has never been so great. Divine inspiration or that “divine obsession” which is the privilege of all advanced souls, will be understood in the coming years as never before, and will be definitely one of the [123] methods used by the coming Lord and His Great Ones for the helping of the world.

Những nguy hiểm từ các thực thể đã thoát xác, nói thẳng ra, là những nguy hiểm của sự ám nhập, hoặc tạm thời và kéo dài vài khoảnh khắc hoặc lâu hơn, hoặc bền hơn và kéo dài trong một thời gian dài [122] hơn. Nó thậm chí có thể thường trực và kéo dài suốt một đời. Trước đây tôi đã viết cho các bạn một bức thư về đề tài này mà các bạn có thể ghép vào đây. Chúng tôi không bao giờ lặp lại nỗ lực nếu có thể tránh. Trước hết, tôi tìm cách nhấn mạnh điểm rằng sự xâm nhập mà chúng ta gọi là ám nhập này được thực hiện phần lớn qua thái độ tiêu cực được giả định do việc theo đuổi thiếu minh triết một kiểu tham thiền không thích hợp. Trong nỗi lo muốn là người tiếp nhận ánh sáng từ bên trên, trong quyết tâm ép mình đến một nơi mà y có thể tiếp xúc các huấn sư hay thậm chí Chân sư, và trong nỗ lực loại bỏ mọi tư tưởng và các rung động thấp, đạo sinh phạm sai lầm khi làm cho toàn bộ phàm ngã thấp của mình trở nên tiếp nhận. Thay vì làm cho nó vững vàng tích cực đối với các yếu tố bao quanh và đối với mọi tiếp xúc thấp, và thay vì chỉ cho phép “đỉnh của thể trí” (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ khác thường như vậy) được tiếp nhận và mở ra cho sự truyền đạt từ các cấp nguyên nhân hay trừu tượng và thậm chí từ trực giác, đạo sinh lại cho phép sự tiếp nhận từ mọi phía. Chỉ một điểm trong bộ não nên tiếp nhận; toàn bộ phần còn lại của tâm thức nên được phân cực sao cho sự can thiệp từ bên ngoài sẽ không thể xảy ra. Điều này áp dụng cho thể cảm dục và thể trí, mặc dù với đa số ngày nay nó chỉ áp dụng cho thể cảm dục. Trong giai đoạn đặc thù này của lịch sử thế giới, cõi cảm dục đông đúc đến mức đậm đặc và sự đáp ứng của thể xác đối với cảm dục nay đang trở nên tinh vi đến mức được chỉnh điệu, nên nguy hiểm của sự ám nhập lớn hơn bao giờ hết trước đây. Nhưng để các bạn được khích lệ,—điều ngược lại cũng đúng, và sự đáp ứng đối với thiêng liêng cùng phản ứng nhanh đối với cảm hứng cao hơn chưa bao giờ lớn đến thế. Cảm hứng thiêng liêng hay “sự ám nhập thiêng liêng” vốn là đặc quyền của mọi linh hồn tiến hoá, sẽ được thấu hiểu trong những năm sắp tới như chưa từng có, và sẽ chắc chắn là một trong những [123] phương pháp được Đấng Đang Đến và Các Đấng Cao Cả của Ngài sử dụng để trợ giúp thế gian.

The thing to be remembered is that in the case of wrong obsession the man is at the mercy of the obsessing entity, and is unconsciously or unwillingly a partner in the transaction. In divine obsession the man consciously and willingly co-operates with the One Who seeks to inspire, or to occupy or employ his lower vehicles. The motive is ever the greater helping of the race. The obsession is then not the result of a negative condition but of a positive collaboration and proceeds under law and for a specific period.... HPB is a concrete instance of a case in point; the initiate Jesus was another. As more and more of the race develop continuity of consciousness between the physical and the emotional and later the mental, this act of transference of the vehicles will be more frequent and more understood.

Điều cần ghi nhớ là trong trường hợp ám nhập sai lạc, người ấy ở trong tay thực thể ám nhập, và một cách vô thức hoặc miễn cưỡng là một đối tác trong cuộc giao dịch. Trong ám nhập thiêng liêng, người ấy hợp tác một cách có ý thức và tự nguyện với Đấng đang tìm cách truyền cảm hứng, hoặc chiếm dụng hay sử dụng các vận cụ thấp của y. Động cơ luôn là sự trợ giúp lớn hơn cho nhân loại. Khi ấy, sự ám nhập không phải là kết quả của một tình trạng tiêu cực mà là của một sự cộng tác tích cực và tiến hành theo luật và trong một thời kỳ xác định.... Bà HPB là một ví dụ cụ thể của một trường hợp như vậy; điểm đạo đồ Jesus là một trường hợp khác. Khi ngày càng nhiều nhân loại phát triển sự liên tục của tâm thức giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục và về sau là cõi trí, hành vi chuyển dịch các vận cụ này sẽ thường xuyên hơn và được thấu hiểu hơn.

October 9, 1919.

Ngày 9 tháng 10, 1919.

Causes of Obsession.—Nguyên nhân của sự ám nhập.

One of the activities ahead of the occult student is the study and the scientific observation of this matter. We have been told in various occult books that obsession and insanity are very closely allied. Insanity may exist in all three bodies, the least harmful being that of the physical body, whilst the most enduring and the hardest to cure is that of the mental body. Insanity in the mental body is the heavy fate that descends upon those who for many incarnations have followed the path of selfish cruelty, using the intelligence as a means to serve selfish ends and using it willfully, knowing it to be wrong. But insanity of this type is a means whereby the Ego sometimes arrests the progress of a man towards the left-hand path. In this sense it is a disguised blessing. Let us deal first with the causes of obsession, leaving the subject of insanity [124] for another day. These causes are four in number and each responds to a different treatment:—

Một trong những hoạt động phía trước của đạo sinh huyền bí là nghiên cứu và quan sát khoa học vấn đề này. Chúng ta đã được nói trong nhiều sách huyền bí rằng ám nhập và điên loạn có liên hệ rất chặt chẽ. Điên loạn có thể tồn tại trong cả ba thể; ít gây hại nhất là điên loạn của thể xác, trong khi bền dai nhất và khó chữa nhất là điên loạn của thể trí. Điên loạn trong thể trí là số phận nặng nề giáng xuống những kẻ qua nhiều kiếp lâm phàm đã theo con đường tàn ác ích kỷ, dùng trí tuệ như một phương tiện để phục vụ các mục đích ích kỷ và dùng nó một cách cố ý, biết rõ là sai. Nhưng điên loạn thuộc loại này đôi khi là một phương tiện nhờ đó Chân ngã ngăn chặn sự tiến triển của một người về phía tả đạo. Theo nghĩa này, đó là một phúc lành được che giấu. Trước hết, chúng ta hãy bàn về các nguyên nhân của ám nhập, để lại đề tài điên loạn [124] cho một ngày khác. Các nguyên nhân này có bốn, và mỗi nguyên nhân đáp ứng với một cách xử lý khác nhau:—

One cause is a definite weakness of the etheric double, in the separating web, which like a piece of relaxed elastic permits entry of an extraneous entity from the emotional plane. The door of entrance which is formed by this web is not closed tight, and entrance can be effected from without. This is a physical plane cause, and is the result of the maladjustment of physical plane matter. It is the result of karma, and is prenatal, existing from the earliest moment. Usually the sufferer is physically weak, intellectually feeble, but possessed of a powerful emotional body which suffers and fights and struggles to prevent entrance. The attacks are intermittent, and more frequently attack women than men.

Một nguyên nhân là một sự yếu kém xác định của bản sao dĩ thái, ở màng ngăn cách, vốn như một mảnh dây thun bị chùng cho phép một thực thể ngoại lai từ cõi cảm dục đi vào. Cánh cửa đi vào được tạo bởi màng này không khép chặt, và sự xâm nhập có thể được thực hiện từ bên ngoài. Đây là một nguyên nhân thuộc cõi hồng trần, và là kết quả của sự sai lệch điều chỉnh của vật chất cõi hồng trần. Nó là kết quả của nghiệp quả, và là tiền sinh, tồn tại từ khoảnh khắc sớm nhất. Thường thì người chịu đựng yếu về thể chất, kém về trí tuệ, nhưng lại sở hữu một thể cảm dục mạnh mẽ, vốn đau đớn và chiến đấu và vật lộn để ngăn sự xâm nhập. Các cuộc tấn công gián đoạn, và thường tấn công phụ nữ hơn đàn ông.

Another cause is due to emotional reasons. A lack of co-ordination exists between the emotional and the physical and when the man functions in the emotional body (as at night) the moment of re-entry is attended with difficulty, and opportunity exists for other beings to enter the physical vehicle, and prevent its occupation by the real Ego. This is the most common form of obsession, and affects those with powerful physical bodies and strong astral vibrations, but with weak mental bodies. It leads, in the ensuing struggle, to the violent scenes of screaming lunatics and to the paroxysms of the epileptic. Men are more subject to this than women, as women are usually more definitely polarised in the emotional body.

Một nguyên nhân khác là do các lý do cảm dục. Có sự thiếu phối hợp giữa cảm dục và thể xác, và khi người ấy hoạt động trong thể cảm dục (như ban đêm) thì khoảnh khắc tái nhập đi kèm khó khăn, và cơ hội tồn tại cho các chúng sinh khác đi vào vận cụ thể xác, và ngăn nó được Chân ngã thật sự chiếm dụng. Đây là hình thức ám nhập phổ biến nhất, và ảnh hưởng đến những người có thể xác mạnh mẽ và rung động cảm dục mạnh, nhưng có thể trí yếu. Nó dẫn, trong cuộc giằng co tiếp theo, đến những cảnh bạo liệt của kẻ điên gào thét và đến những cơn co giật của người động kinh. Đàn ông dễ mắc hơn phụ nữ, vì phụ nữ thường phân cực rõ rệt hơn trong thể cảm dục.

A rarer kind of obsession is the mental. In coming days as the mental body develops, one may expect perhaps to see more of it. Mental obsession involves the displacement taking place on the mental levels—hence its rarity. The physical body and the emotional body remain as a unit, but the Thinker is left in his mental body, [125] whilst the obsessing entity (clothed in mental matter) enters the two lower vehicles. In the case of emotional obsession the Thinker is left with his emotional body and his mental body but with no physical. In this latter case he is left with neither emotional nor physical. The cause lies in the fact of the over-development of the mental, and of the relative weakness of the emotional and physical bodies. The Thinker is too powerful for his other bodies and disdains their use; he is too interested in work on mental levels, and thus gives opportunity to obsessing entities to assume control. This, as I said before, is rare and is the result of lop-sided development. It attacks women and men equally; it principally shows itself in childhood and is difficult to cure.

Một loại ám nhập hiếm hơn là ám nhập trí. Trong những ngày sắp tới khi thể trí phát triển, người ta có thể kỳ vọng sẽ thấy nhiều hơn. Ám nhập trí liên quan đến sự thay thế xảy ra trên các cấp trí—do đó tính hiếm của nó. Thể xác và thể cảm dục vẫn là một đơn vị, nhưng Thức giả bị bỏ lại trong thể trí của y, [125] trong khi thực thể ám nhập (khoác vật chất trí) đi vào hai vận cụ thấp. Trong trường hợp ám nhập cảm dục, Thức giả bị bỏ lại với thể cảm dục và thể trí nhưng không có thể xác. Trong trường hợp sau này, y bị bỏ lại không có cả cảm dục lẫn thể xác. Nguyên nhân nằm ở sự kiện của sự phát triển quá mức của thể trí, và sự yếu tương đối của thể cảm dục và thể xác. Thức giả quá mạnh so với các thể khác và khinh thường việc sử dụng chúng; y quá quan tâm đến công việc trên các cấp trí, và vì thế tạo cơ hội cho các thực thể ám nhập nắm quyền kiểm soát. Điều này, như tôi đã nói trước, là hiếm và là kết quả của sự phát triển lệch lạc. Nó tấn công phụ nữ và đàn ông như nhau; nó chủ yếu biểu hiện trong thời thơ ấu và khó chữa.

A still rarer cause of obsession is definitely the work of the dark Brothers. It takes the form of snapping the magnetic link that attaches the Ego to the lower physical body, leaving him in his emotional and mental bodies. This would normally result in the death of the physical body, but in cases such as these the dark Brother, who is to use the physical body, enters it and makes connection with his own cord. These cases are not common. They involve only two classes of people:—

Một nguyên nhân còn hiếm hơn của ám nhập chắc chắn là công việc của Huynh đệ Đoàn Hắc đạo. Nó mang hình thức bẻ gãy mối liên kết từ tính gắn Chân ngã với thể xác thấp, để y ở lại trong thể cảm dục và thể trí. Điều này bình thường sẽ dẫn đến cái chết của thể xác, nhưng trong những trường hợp như vậy, huynh đệ hắc đạo, kẻ sẽ sử dụng thể xác, đi vào đó và nối kết với sợi dây của chính hắn. Những trường hợp này không phổ biến. Chúng chỉ liên quan đến hai hạng người:—

Those who are highly evolved and on the Path, but who through some wilful shortcoming fail for some one incarnation and so lay themselves open to the evil force. Sin (as you call it) in the Personality of a disciple leads to a weakness in some one spot, and this is taken advantage of. This type of obsession shows itself in the transformation that is sometimes seen when a great soul suddenly plunges on an apparent downward path, when he changes the whole trend of his existence and besmirches a fair character with mud. It carries with it its own punishment, for on the inner planes the disciple looks [126] on, and in agony of mind sees his lower vehicle dishonouring the fair name of its real owner and causing evil to be said of a loved cause.

Những người tiến hoá cao và đang trên Con Đường, nhưng vì một thiếu sót cố ý nào đó mà thất bại trong một kiếp lâm phàm và do đó tự đặt mình mở ra cho mãnh lực xấu. Tội lỗi (như các bạn gọi) trong phàm ngã của một đệ tử dẫn đến sự yếu kém ở một điểm nào đó, và điều này bị lợi dụng. Loại ám nhập này biểu hiện trong sự biến đổi đôi khi được thấy khi một linh hồn lớn đột nhiên lao vào một con đường dường như đi xuống, khi y đổi hẳn xu hướng tồn tại của mình và bôi bẩn một tính cách tốt đẹp bằng bùn nhơ. Nó mang theo hình phạt của chính nó, vì trên các cõi bên trong, đệ tử nhìn [126] theo, và trong cơn thống khổ của thể trí thấy vận cụ thấp của mình làm ô nhục danh tiếng tốt đẹp của chủ nhân thật sự của nó và khiến điều xấu được nói về một chính nghĩa được yêu quý.

The little evolved, weakly organised, and so unable to resist.

Những kẻ ít tiến hoá, tổ chức yếu ớt, và do đó không thể kháng cự.

The Kinds of Obsessing Entities.—Các loại thực thể ám nhập.

These are too numerous to mention in detail but I might enumerate a few.

Chúng quá nhiều để nêu chi tiết, nhưng tôi có thể liệt kê một vài.

l—Discarnate entities of a low order awaiting incarnation, and who see, in cases one and two, their wanted opportunity.

l—Các thực thể đã thoát xác thuộc loại thấp đang chờ nhập thể, và thấy, trong trường hợp một và hai, cơ hội mong muốn của họ.

2—Suicides, anxious to undo the deed and to again get into contact with earth.

2—Những kẻ tự sát, nóng lòng hoàn lại hành vi và lại được tiếp xúc với Trái Đất.

3—Earth-bound spirits, good and bad, who from anxiety over loved ones, over their business affairs, or eager to do some wrong or to undo some evil act, rush in and take possession of cases one and two.

3—Các vong linh bị trói buộc với Trái Đất, tốt và xấu, do lo lắng về người thân yêu, về công việc làm ăn của họ, hoặc háo hức làm điều sai trái hay sửa lại một hành vi xấu, lao vào và chiếm hữu các trường hợp một và hai.

4—Dark Brothers as aforesaid, who avail themselves principally of the third and fourth cases already cited. They require highly developed bodies, having no use for weak or unrefined bodies. In case three the weakness is entirely relative, due to over-accentuation of the mental vehicle.

4—Các huynh đệ hắc đạo như đã nói, chủ yếu lợi dụng trường hợp thứ ba và thứ tư đã nêu. Họ cần các thể phát triển cao, không dùng được các thể yếu hay thô. Trong trường hợp ba, sự yếu kém hoàn toàn là tương đối, do sự nhấn mạnh quá mức vận cụ trí.

5—Elementals and subhuman entities of a malicious nature who rush in on the slightest opportunity and where kindred vibration may be felt.

5—Các hành khí và các thực thể dưới nhân loại có bản chất ác ý, lao vào chỉ với cơ hội nhỏ nhất và nơi có thể cảm thấy rung động đồng loại.

6—Some of the lower devas, harmless but mischievous1 who, from sheer freakishness2 and fun, enter another body in much the same way that a child loves to dress up.

6—Một số thiên thần thấp, vô hại nhưng tinh quái, do tính kỳ quặc và vui đùa thuần tuý, đi vào một thể khác theo cách gần giống như một đứa trẻ thích hoá trang.

7—Occasional visitors from other planets who enter certain highly evolved bodies for purposes of their own. This is very, very rare.... [127]

7—Những vị khách thỉnh thoảng từ các hành tinh khác đi vào một số thể tiến hoá cao vì các mục đích riêng của họ. Điều này rất, rất hiếm.... [127]

Let me now give you some of the methods that eventually will be the first attempts at cure.

Giờ đây tôi xin đưa ra một số phương pháp mà rốt cuộc sẽ là những thử nghiệm đầu tiên nhằm chữa trị.

In the first type of cases, those due to physical plane weakness, the stress of the cure will be laid first on building up a strong physical body in both its departments, though especially the etheric body. This will be done in future years with the direct aid of the devas of the shadows (the violet devas or devas of the ethers). The strengthening of the etheric web will be aided by means of the violet light, with its corresponding sound, administered in quiet sanitariums. Coincident with this treatment will be the attempt to strengthen the mental body. With the strengthening of the physical body will come longer and longer periods of freedom from attack. Eventually the attacks will cease altogether.

Trong loại trường hợp thứ nhất, những trường hợp do sự yếu kém cõi hồng trần, trọng tâm chữa trị trước hết sẽ đặt vào việc xây dựng một thể xác mạnh mẽ trong cả hai bộ phận của nó, dù đặc biệt là thể dĩ thái. Điều này trong những năm tới sẽ được thực hiện với sự trợ giúp trực tiếp của các thiên thần của bóng tối (các thiên thần tím hay các thiên thần của các cõi dĩ thái). Việc tăng cường màng dĩ thái sẽ được hỗ trợ bằng ánh sáng tím, với âm thanh tương ứng của nó, được áp dụng trong các viện điều dưỡng yên tĩnh. Song song với sự chữa trị này sẽ là nỗ lực tăng cường thể trí. Cùng với việc tăng cường thể xác sẽ đến những thời kỳ ngày càng dài được tự do khỏi sự tấn công. Cuối cùng các cuộc tấn công sẽ chấm dứt hoàn toàn.

When the cause is lack of co-ordination between the physical and the emotional vehicles the first methods of cure will be definite exorcism3 by the aid of mantrams and ceremonial (such as religious ritual). Qualified persons will use these mantrams at night when the obsessing entity may be supposed to be absent during the hours of sleep. Those mantrams will call the real owner back, will build a protective wall after his re-entry and will seek to force the obsessing one to stay absent. When the real owner has returned, the work then will be to keep him there. Educative work during the day and protective measures at night for longer or shorter periods will gradually eliminate the evil occupant, or unwanted tenant, and in the course of time the sufferer will continue to procure immunity. More anent this can later be given.

Khi nguyên nhân là sự thiếu phối hợp giữa vận cụ thể xác và vận cụ cảm dục, các phương pháp chữa trị đầu tiên sẽ là trừ tà dứt khoát với sự trợ giúp của mantram và nghi lễ (như nghi thức tôn giáo). Những người đủ năng lực sẽ dùng các mantram này vào ban đêm khi thực thể ám nhập có thể được giả định là vắng mặt trong giờ ngủ. Những mantram ấy sẽ gọi chủ nhân thật sự trở lại, sẽ dựng một bức tường bảo vệ sau khi y tái nhập và sẽ tìm cách buộc kẻ ám nhập phải tiếp tục vắng mặt. Khi chủ nhân thật sự đã trở lại, công việc khi ấy sẽ là giữ y ở lại đó. Công tác giáo dục ban ngày và các biện pháp bảo vệ ban đêm trong những thời kỳ dài hay ngắn sẽ dần dần loại bỏ kẻ chiếm hữu xấu, hay kẻ thuê nhà không mong muốn, và theo thời gian người chịu đựng sẽ tiếp tục đạt được sự miễn nhiễm. Về điều này, về sau có thể nói thêm.

Where mental obsession is involved the matter is more difficult. Most of the first cures achieved in the future will centre around the first two groups. Mental obsession must await greater knowledge, though experimentation [128] from the very first should be undertaken. The work will have to be done mostly from the mental plane by those who can function there freely and so contact the Thinker in his mental body. The co-operation of the Thinker must then be procured and a definite attack conjointly made on the obsessed physical and emotional bodies. During the night much of the work in the first two cases of cures will be done, but in the latter case the Thinker has to win back his physical and his emotional bodies as well, hence the exceeding difficulty. Death often eventuates in these cases.

Khi liên quan đến ám nhập trí, vấn đề khó hơn. Phần lớn các chữa trị đầu tiên đạt được trong tương lai sẽ tập trung quanh hai nhóm đầu. Ám nhập trí phải chờ tri thức lớn hơn, dù ngay từ đầu [128] việc thử nghiệm cũng nên được tiến hành. Công việc sẽ phải được thực hiện phần lớn từ cõi trí bởi những người có thể hoạt động tự do ở đó và do đó tiếp xúc Thức giả trong thể trí của y. Khi ấy phải giành được sự hợp tác của Thức giả và một cuộc tấn công dứt khoát sẽ được thực hiện chung lên thể xác và thể cảm dục đang bị ám nhập. Ban đêm, phần lớn công việc trong hai trường hợp chữa trị đầu sẽ được thực hiện, nhưng trong trường hợp sau, Thức giả phải giành lại cả thể xác lẫn thể cảm dục của y, do đó sự khó khăn tột bậc. Cái chết thường là kết cục trong những trường hợp này.

In the severing of the magnetic cord naught can be done as yet.

Trong việc cắt đứt sợi dây từ tính, hiện nay chưa thể làm gì.

Dangers from the deva evolution.—Những nguy hiểm từ tiến hoá thiên thần.

This second point is more complex. You will remember how it has been said earlier in these letters that contact with the devas can be brought about through specific forms and mantrams and that in this contact lies peril for the unwary. This danger is curiously real now, owing to the following reasons:

Điểm thứ hai này phức tạp hơn. Các bạn sẽ nhớ rằng trước đây trong các bức thư này đã nói rằng tiếp xúc với các thiên thần có thể được tạo ra qua những hình thức và mantram đặc thù và rằng trong sự tiếp xúc này có hiểm nguy cho người bất cẩn. Nguy hiểm này hiện nay kỳ lạ là có thật, do các lý do sau:

a—The coming in of the violet ray, the seventh or Ceremonial Ray, has rendered this contact more easy of attainment than heretofore. It is therefore the ray on which approximation is possible, and in the use of ceremonial and of set forms, coupled to regulated rhythmic movement, will be found a meeting place for the two allied evolutions. In the use of ritual this will be apparent, and psychics are already bearing witness to the fact that both in the ritual of the Church and in that of Masonry this has been evidenced. More and more will this be the case, and it carries with it certain risks that will inevitably work themselves into common knowledge and thus affect in various ways the unwary sons of men. [129] As you know, a definite effort is being made at this time by the Planetary Hierarchy to communicate to the devas their part in the scheme of things, and the part the human family must likewise play. The work is slow, and certain results are inevitable. It is not my purpose to take up with you in these letters the part that ritual and set mantric forms play in the evolution of devas and of men. I only desire to point out that danger for human beings lies in the unwise use of forms for the calling of the devas, in experimenting with the Sacred Word with the object in view of contacting the Builders who are so largely affected by it, and in endeavouring to pry into the secrets of ritual with its adjuncts of colour and of sound. Later on, when the pupil has passed the portal of initiation, such knowledge will be his, coupled with the necessary information that teaches him to work with the law. In the following of the law, no danger lurks.

a—Sự đến vào của cung tím, cung bảy hay Cung Nghi Lễ, đã khiến sự tiếp xúc này dễ đạt được hơn trước đây. Vì vậy, đây là cung mà trên đó sự xích lại gần là có thể, và trong việc sử dụng nghi lễ và các hình thức định sẵn, kết hợp với vận động nhịp điệu được điều hoà, sẽ tìm thấy một nơi gặp gỡ cho hai tiến hoá đồng minh. Trong việc sử dụng nghi thức, điều này sẽ hiển nhiên, và các nhà thông linh đã đang làm chứng cho sự kiện rằng cả trong nghi thức của Giáo hội lẫn trong nghi thức của Hội Tam Điểm, điều này đã được biểu lộ. Ngày càng nhiều điều này sẽ là như vậy, và nó mang theo những rủi ro nhất định mà tất yếu sẽ tự đưa mình vào tri thức phổ thông và do đó ảnh hưởng theo nhiều cách đến những người con của nhân loại bất cẩn. [129] Như các bạn biết, một nỗ lực dứt khoát đang được thực hiện vào lúc này bởi Thánh Đoàn Hành Tinh để truyền đạt cho các thiên thần phần việc của họ trong kế hoạch sự vật, và phần việc mà gia đình nhân loại cũng phải đóng. Công việc chậm, và một số kết quả là không thể tránh. Mục đích của tôi không phải là bàn với các bạn trong các bức thư này về phần mà nghi lễ và các hình thức mantram định sẵn đóng trong sự tiến hoá của thiên thần và của con người. Tôi chỉ mong chỉ ra rằng nguy hiểm cho con người nằm ở việc sử dụng thiếu minh triết các hình thức để gọi các thiên thần, trong việc thử nghiệm với Linh từ Thiêng Liêng nhằm tiếp xúc các đấng kiến tạo vốn bị nó ảnh hưởng rất lớn, và trong nỗ lực dòm ngó các bí mật của nghi lễ với các phụ trợ của màu sắc và âm thanh. Về sau, khi môn sinh đã vượt qua cổng điểm đạo, tri thức ấy sẽ là của y, đi kèm với thông tin cần thiết dạy y làm việc với định luật. Trong việc tuân theo định luật, không có nguy hiểm ẩn nấp.

b—The race is possessed of a strong determination to penetrate within the veil, and to find out what lies on the other side of the unknown. Men and women everywhere are conscious within themselves of budding powers which meditation enhances. They find that by the careful following of certain rules they become more sensitive to the sights and sounds of the inner planes. They catch fleeting glimpses of the unknown; occasionally and at rare intervals, the organ of inner vision temporarily opens and they hear and see on the astral or the mental plane. They see devas at a meeting in which ritual has been employed; they catch a sound or a voice that tells them truths that they recognise as true. The temptation to force the issue, to prolong meditation, to try out certain methods that promise intensification of psychic faculty is too strong. They unwarily force matters and dire disaster results. One hint here I give:- In meditation [130] it is literally possible to play with fire. The devas of the mental levels manipulate the latent fires of the system and thus incidentally the latent fires of the inner man. It is woefully possible to be the plaything of their endeavour and to perish at their hands. A truth I speak here; I give not voice to the interesting chimeras4 of a fanciful brain. Beware of playing with fire.

b—Nhân loại bị thúc đẩy bởi một quyết tâm mạnh mẽ muốn xuyên qua bức màn, và tìm ra điều gì nằm ở phía bên kia của cái chưa biết. Những người nam và nữ ở khắp nơi đều tự nhận biết trong chính mình các quyền năng đang nảy nở mà tham thiền làm tăng cường. Họ thấy rằng bằng việc theo sát cẩn trọng một số quy luật nhất định, họ trở nên nhạy cảm hơn với các cảnh tượng và âm thanh của các cõi bên trong. Họ bắt gặp những thoáng nhìn chớp nhoáng của cái chưa biết; đôi khi và vào những khoảng hiếm hoi, cơ quan linh thị tạm thời mở ra và họ nghe và thấy trên cõi cảm dục hoặc cõi trí. Họ thấy các thiên thần tại một cuộc họp nơi nghi lễ đã được sử dụng; họ bắt được một âm thanh hay một tiếng nói nói với họ những chân lý mà họ nhận ra là đúng. Cám dỗ muốn ép cho sự việc xảy ra, muốn kéo dài tham thiền, muốn thử một số phương pháp hứa hẹn làm tăng cường năng lực thông linh là quá mạnh. Họ bất cẩn ép buộc sự việc và tai hoạ khủng khiếp xảy ra. Ở đây tôi đưa ra một gợi ý:- Trong tham thiền [130] thực sự có thể đùa với lửa. Các thiên thần của các cấp trí thao tác các ngọn lửa tiềm ẩn của hệ thống và do đó, một cách phụ thuộc, các ngọn lửa tiềm ẩn của con người bên trong. Thật đáng buồn là có thể trở thành món đồ chơi của nỗ lực của họ và chết dưới tay họ. Tôi nói một chân lý ở đây; tôi không lên tiếng cho những ảo ảnh thú vị của một bộ não tưởng tượng. Hãy coi chừng việc đùa với lửa.

c—This transition period is largely responsible for much of the danger. The right type of body for the holding and the handling of the occult force has not yet been built, and in the interim the bodies now in use but spell disaster to the ambitious student. When a man starts out to follow the path of occult meditation, it takes well-nigh fourteen years to rebuild the subtle bodies, and incidentally the physical. All through that period it is not safe to tamper with the unknown for only the very strong refined physical body, the controlled stable and equalised emotional body and the properly striated mental body can enter into the subtler planes and literally work with Fohat, for that is what the occult does. Therefore is the emphasis laid by all wise Teachers everywhere on the Path of Purification, which must precede the Path of Illumination. They lay the emphasis on the building in of spiritual faculty before psychic faculty can be safely permitted; they demand service to the race every day throughout the scope of life before a man may be permitted to manipulate the forces of nature, to dominate the elementals, to co-operate with the devas, and to learn the forms and ceremonies, the mantrams and the key-words, that will bring those forces within the circle of manifestation.

c—Giai đoạn chuyển tiếp này chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều nguy hiểm. Loại thể đúng đắn để chứa đựng và xử lý mãnh lực huyền bí vẫn chưa được xây dựng, và trong thời gian chuyển tiếp, các thể hiện đang dùng chỉ gieo tai hoạ cho đạo sinh đầy tham vọng. Khi một người bắt đầu theo con đường tham thiền huyền bí, gần như mất mười bốn năm để tái kiến tạo các thể vi tế, và kèm theo đó là thể xác. Suốt thời kỳ ấy, không an toàn khi can thiệp vào cái chưa biết, vì chỉ một thể xác rất mạnh và tinh luyện, một thể cảm dục được kiểm soát, ổn định và quân bình, và một thể trí được tạo vân đúng cách mới có thể đi vào các cõi vi tế hơn và thực sự làm việc với Fohat, vì đó là điều mà nhà huyền bí làm. Vì vậy, mọi Huấn sư minh triết ở khắp nơi đều nhấn mạnh Con Đường Thanh Lọc, vốn phải đi trước Con Đường Soi Sáng. Các Ngài nhấn mạnh việc xây dựng năng lực tinh thần trước khi năng lực thông linh có thể được cho phép một cách an toàn; các Ngài đòi hỏi phụng sự nhân loại mỗi ngày trong suốt phạm vi đời sống trước khi một người có thể được cho phép thao tác các mãnh lực của bản chất, thống trị các hành khí, hợp tác với các thiên thần, và học các hình thức và nghi lễ, các mantram và các linh từ then chốt, vốn sẽ đưa các mãnh lực ấy vào trong vòng biểu hiện.

August 4, 1920.

Ngày 4 tháng 8, 1920.

Danger from the Dark Brothers.—Nguy hiểm từ các Huynh đệ Hắc đạo.

I think I gave you earlier practically all that I can as [131] yet impart anent the Brothers of Darkness, as they are sometimes termed. I only want at this point to lay emphasis upon the fact that no danger need be feared by the average student from this source. It is only as discipleship is approached and a man stands out ahead of his fellows as an instrument of the White Brotherhood that he attracts the attention of those who seek to withstand. When through application to meditation, and power and activity in service, a man has developed his vehicles to a point of real achievement, then his vibrations set in motion matters of a specific kind, and he learns to work with that matter, to manipulate the fluids, and to control the builders. In so doing he encroaches on the domain of those who work with the forces of involution and thus he may bring attack upon himself. This attack may be directed against any of his three vehicles and may be of different kinds. Let me briefly point out some of the methods employed against a disciple which are the ones which alone concern the student of these letters:

Tôi nghĩ trước đây tôi đã đưa cho các bạn hầu như tất cả những gì tôi có thể, vào lúc này, truyền đạt về các Huynh đệ Bóng Tối, như đôi khi họ được gọi. Ở điểm này tôi chỉ muốn nhấn mạnh sự kiện rằng đạo sinh trung bình không cần sợ nguy hiểm từ nguồn này. Chỉ khi địa vị đệ tử được tiến gần và một người nổi bật trước các bạn đồng hành như một công cụ của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo thì y mới thu hút sự chú ý của những kẻ tìm cách chống lại. Khi nhờ áp dụng tham thiền, và quyền năng cùng hoạt động trong phụng sự, một người đã phát triển các vận cụ của mình đến mức thành tựu thực sự, thì các rung động của y khởi động những vật chất thuộc một loại đặc thù, và y học cách làm việc với vật chất ấy, thao tác các lưu chất, và kiểm soát các đấng kiến tạo. Khi làm như vậy, y xâm lấn lãnh địa của những kẻ làm việc với các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá và do đó y có thể tự chuốc lấy sự tấn công. Sự tấn công này có thể nhắm vào bất kỳ vận cụ nào trong ba vận cụ của y và có thể thuộc các loại khác nhau. Tôi xin ngắn gọn chỉ ra một số phương pháp được dùng chống lại một đệ tử, là những điều duy nhất liên quan đến đạo sinh của các bức thư này:

a—Definite attack on the physical body. All kinds of means are employed to hinder the usefulness of the disciple through disease or the crippling of his physical body. Not all accidents are the result of karma, for the disciple has usually surmounted a good deal of that type of karma and is thus comparatively free from that source of hindrance in active work.

a—Tấn công dứt khoát lên thể xác. Mọi loại phương tiện được sử dụng để cản trở tính hữu dụng của đệ tử qua bệnh tật hoặc làm tàn phế thể xác của y. Không phải mọi tai nạn đều là kết quả của nghiệp quả, vì đệ tử thường đã vượt qua khá nhiều loại nghiệp quả ấy và do đó tương đối tự do khỏi nguồn cản trở này trong công việc phụng sự tích cực.

b—Glamour is another method used, or the casting over the disciple of a cloud of emotional or mental matter which suffices to hide the real, and to temporarily obscure that which is true. The study of the cases wherein glamour has been employed is exceedingly revealing and demonstrates how hard it is for even an advanced disciple always to discriminate between the real and the false, the true and the untrue. Glamour may be either on the [132] emotional or mental levels but is usually on the former. One form employed is to cast over the disciple the shadows of the thought of weakness or discouragement or criticism to which he may at intervals give way. Thus cast, they loom in undue proportion and the unwary disciple, not realising that he is but seeing the gigantic outlines of his own momentary and passing thoughts, gives way to discouragement, aye even to despair, and becomes of little use to the Great Ones. Another form is to throw into his mental aura suggestions and ideas purporting to come from his own Master but which are but subtle suggestions that hinder and help not. It takes a wise disciple always to discriminate between the voice of his real Teacher and the false whispers of the masquerading one, and even high initiates have been temporarily misled.

b—Ảo cảm là một phương pháp khác được dùng, hay việc phủ lên đệ tử một đám mây vật chất cảm dục hoặc trí, đủ để che khuất cái thực, và tạm thời làm mờ điều chân thật. Việc nghiên cứu các trường hợp trong đó ảo cảm đã được sử dụng là cực kỳ vén mở và chứng tỏ rằng ngay cả một đệ tử tiến bộ cũng khó mà luôn luôn phân biện giữa cái thực và cái giả, cái đúng và cái không đúng. Ảo cảm có thể ở các [132] cấp cảm dục hoặc trí, nhưng thường ở cấp thứ nhất. Một hình thức được dùng là phủ lên đệ tử những bóng tối của tư tưởng về yếu đuối hay nản lòng hay chỉ trích mà đôi lúc y có thể nhượng bộ. Khi bị phủ như vậy, chúng phóng lớn quá mức tỉ lệ và đệ tử bất cẩn, không nhận ra rằng y chỉ đang thấy những đường nét khổng lồ của các tư tưởng thoáng qua và tạm thời của chính mình, liền nhượng bộ nản lòng, vâng, thậm chí tuyệt vọng, và trở nên ít hữu dụng đối với Các Đấng Cao Cả. Một hình thức khác là ném vào hào quang trí của y những gợi ý và ý niệm giả như đến từ chính Chân sư của y nhưng thực ra chỉ là những gợi ý vi tế cản trở chứ không giúp. Cần một đệ tử minh triết để luôn phân biện giữa tiếng nói của huấn sư thật sự của y và những lời thì thầm giả dối của kẻ giả trang, và ngay cả các điểm đạo đồ cao cũng đã từng tạm thời bị dẫn lạc.

Many and subtle are the means used to deceive and thereby curtail the effective output of the worker in the field of the world. Wisely therefore have all aspirants been enjoined to study and work at the development of viveka or that discrimination which safeguards from deception. If this quality is laboriously built in and cultivated in all events, big and little, in the daily life, the risks of being led astray will be nullified.

Nhiều và vi tế là các phương tiện được dùng để lừa dối và do đó cắt giảm sản lượng hữu hiệu của người hoạt động trong cánh đồng thế gian. Vì vậy, mọi người chí nguyện đã được khuyên một cách minh triết phải nghiên cứu và làm việc để phát triển viveka hay sự phân biện ấy vốn bảo vệ khỏi sự lừa dối. Nếu phẩm tính này được xây dựng một cách cần mẫn và được nuôi dưỡng trong mọi sự kiện, lớn và nhỏ, trong đời sống hằng ngày, thì các rủi ro bị dẫn lạc sẽ bị triệt tiêu.

c—A third method frequently employed is to envelop the disciple in a thick cloud of darkness, to surround him with an impenetrable night and fog through which he stumbles and often falls. It may take the form of a black cloud of emotional matter, of some dark emotion that seems to imperil all stable vibration and plunges the bewildered student into a blackness of despair; he feels that all is departing from him; he is a prey to varied and dismal emotions; he deems himself forsaken of all; he considers that all past effort has been futile and that naught remains but to die. At such times he needs much the gift [133] of viveka, and to earnestly weigh up and calmly reason out the matter. He should at these times remind himself that the darkness hides naught from the God within, and that the stable centre of consciousness remains there, untouched by aught that may betide. He should persevere until the end,—the end of what? The end of the enveloping cloud, the point where it merges itself into sunlight; he should pass through its length and out into the daylight, realising that nothing can at any time reach to and hurt the inner consciousness. God is within, no matter what transpires without. We are so apt to look out at environing circumstances, whether physical, astral or mental, and to forget that the inmost centre of the heart hides our points of contact with the Universal Logos.

c—Một phương pháp thứ ba thường được dùng là bao bọc đệ tử trong một đám mây dày đặc của bóng tối, vây quanh y bằng một đêm đen và sương mù không thể xuyên thấu, qua đó y loạng choạng và thường ngã quỵ. Nó có thể mang hình thức một đám mây đen của vật chất cảm dục, của một cảm xúc u tối nào đó dường như đe doạ mọi rung động ổn định và quăng người môn sinh bối rối vào một màn đen tuyệt vọng; y cảm thấy mọi thứ đang rời bỏ y; y trở thành mồi cho những cảm xúc đa dạng và thê lương; y cho rằng mình bị tất cả ruồng bỏ; y nghĩ rằng mọi nỗ lực trong quá khứ đều vô ích và chẳng còn gì ngoài cái chết. Vào những lúc như thế, y rất cần ân huệ [133] của viveka, và phải nghiêm túc cân nhắc, bình tĩnh suy lý cho thấu đáo vấn đề. Vào những lúc ấy, y nên tự nhắc mình rằng bóng tối không che giấu được điều gì khỏi Thượng đế bên trong, và trung tâm tâm thức ổn định vẫn ở đó, không bị chạm đến bởi bất cứ điều gì có thể xảy đến. Y nên kiên trì cho đến cùng,—đến cùng của điều gì? Đến cùng của đám mây bao phủ, đến điểm nơi nó hoà nhập vào ánh mặt trời; y nên đi xuyên suốt chiều dài của nó và bước ra ánh ban ngày, chứng nghiệm rằng không có gì, vào bất kỳ lúc nào, có thể vươn tới và làm tổn thương tâm thức nội tại. Thượng đế ở bên trong, bất kể bên ngoài xảy ra điều gì. Chúng ta rất dễ nhìn ra các hoàn cảnh bao quanh, dù là hồng trần, cảm dục hay trí tuệ, và quên rằng trung tâm thẳm sâu nhất của trái tim che giấu những điểm tiếp xúc của chúng ta với Thượng đế Vũ Trụ.

d—Finally (for I cannot touch on all the methods used), the means employed may be to cast a mental darkness over the disciple. The darkness may be intellectual, and is consequently still more difficult to penetrate, for in this case the power of the Ego must be called in, whereas in the former frequently the calm reasoning of the lower mind may suffice to dispel the trouble. Here, in this specific case, the disciple will be wise if he not only attempts to call his Ego or Higher Self for the dispelling of the cloud, but calls likewise upon his Teacher, or even upon his Master, for the assistance that they can give.

d—Sau cùng (vì tôi không thể đề cập đến mọi phương pháp được dùng), phương tiện được sử dụng có thể là phủ một bóng tối thể trí lên đệ tử. Bóng tối ấy có thể là trí thức, và do đó còn khó xuyên thấu hơn, vì trong trường hợp này phải kêu gọi quyền năng của chân ngã, trong khi ở trường hợp trước, thường thì sự suy lý bình tĩnh của hạ trí có thể đủ để xua tan rắc rối. Ở đây, trong trường hợp đặc thù này, đệ tử sẽ khôn ngoan nếu y không chỉ cố gắng kêu gọi chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu của mình để xua tan đám mây, mà còn kêu gọi huấn sư của y, hoặc thậm chí Chân sư của y, để nhận sự trợ giúp mà Các Ngài có thể ban.

These are but a few of the dangers encircling the aspirant, and I hint at them solely for the purpose of warning and guidance, and not to cause alarm. You can here interpolate the earlier letter with the rules that I there give for the assistance of the disciple.

Đó chỉ là một vài hiểm nguy bao quanh người chí nguyện, và tôi gợi ra chúng chỉ nhằm mục đích cảnh báo và hướng dẫn, chứ không phải để gây hoảng sợ. Ở đây các bạn có thể xen vào bức thư trước với các quy luật mà tôi đã nêu ở đó để trợ giúp đệ tử.

September 25, 1919.

Ngày 25 tháng 9, 1919.

The Dark Brotherhood.—Huynh đệ Đoàn Bóng Tối.

Today I seek to speak to you on the powers of the Dark Brotherhood. Certain laws that govern their actions, [134] certain methods employed by them in work need to be realised and certain methods of protection apprehended and utilised. As before I have told you the danger is as yet inappreciable to the majority, but more and more as time elapses shall we find it necessary to teach you, the physical plane workers, how to shield and guard yourselves from attack.

Hôm nay tôi muốn nói với các bạn về các quyền năng của Huynh đệ Đoàn Bóng Tối. Cần phải nhận thức một số định luật chi phối hành động của họ, [134] một số phương pháp họ sử dụng trong công việc, và cần nắm bắt rồi vận dụng một số phương pháp tự bảo vệ. Như trước đây tôi đã nói với các bạn, mối nguy hiện vẫn chưa thể được đa số đánh giá đúng mức, nhưng càng về sau, khi thời gian trôi qua, chúng ta sẽ thấy cần thiết phải dạy các bạn, những người hoạt động trên cõi hồng trần, cách che chở và bảo vệ chính mình khỏi sự tấn công.

The Dark Brothers are—remember this always—brothers, erring and misguided yet still sons of the one Father though straying far, very far, into the land of distances. The way back for them will be long, but the mercy of evolution inevitably forces them back along the path of return in cycles far ahead. Anyone who over-exalts the concrete mind and permits it continuously to shut out the higher, is in danger of straying on the left-hand path. Many so stray...but come back, and then in the future avoid like errors in the same way as a child once burnt avoids the fire. It is the man who persists in spite of warning and of pain who eventually becomes a brother of darkness. Mightily fights the Ego at first to prevent the Personality so developing, but the deficiencies of the causal body (for forget not that our vices are but our virtues misused) result in a lop-sided causal body, over-developed in some direction and full of great gulfs and gaps where virtues should be.

Các Huynh đệ Bóng Tối là—hãy luôn nhớ điều này—những huynh đệ, lầm lạc và bị dẫn sai, nhưng vẫn là những người con của một Đấng Cha duy nhất, dù đã lạc xa, rất xa, vào miền cách biệt. Con đường trở về của họ sẽ dài, nhưng lòng từ bi của tiến hoá tất yếu buộc họ quay lại theo Con Đường Trở Về trong những chu kỳ rất xa về sau. Bất cứ ai tôn sùng quá mức trí cụ thể và liên tục để nó che khuất thượng trí, đều có nguy cơ lạc vào tả đạo. Nhiều người đã lạc như thế... nhưng rồi trở lại, và về sau tránh những sai lầm tương tự, giống như một đứa trẻ từng bị bỏng thì tránh lửa. Chính người nào vẫn cố chấp bất chấp cảnh báo và đau đớn thì rốt cuộc trở thành một huynh đệ bóng tối. Lúc đầu chân ngã chiến đấu mãnh liệt để ngăn phàm ngã phát triển theo hướng ấy, nhưng những khiếm khuyết của thể nguyên nhân (vì đừng quên rằng các thói xấu của chúng ta chỉ là các đức hạnh bị lạm dụng) dẫn đến một thể nguyên nhân lệch lạc, phát triển quá mức theo một hướng nào đó và đầy những vực sâu và khoảng trống lớn nơi lẽ ra phải có các đức hạnh.

The dark brother recognises no unity with his species, only seeing in them people to be exploited for the furtherance of his own ends. This then, on a small scale, is the mark of those who are being used by them wittingly or unwittingly. They respect no person, they regard all men as fair prey, they use everyone to get their own way enforced, and by fair means or foul they seek to break down all opposition and for the personal self acquire that which they desire. [135]

Huynh đệ bóng tối không thừa nhận sự hợp nhất nào với đồng loại của y, chỉ thấy ở họ những người để bị khai thác nhằm thúc đẩy các mục đích riêng của y. Như vậy, ở quy mô nhỏ, đây là dấu hiệu của những kẻ đang bị họ sử dụng, dù hữu ý hay vô ý. Họ không tôn trọng bất kỳ ai, họ xem mọi người là con mồi chính đáng, họ dùng mọi người để áp đặt ý muốn của mình, và bằng phương tiện công khai hay đê hèn, họ tìm cách phá vỡ mọi đối kháng và, cho bản ngã cá nhân, giành lấy điều họ ham muốn. [135]

The dark brother considers not what suffering he may cause; he cares not what agony of mind he brings upon an opponent; he persists in his intention and desists not from the hurt of any man, woman or child, provided that in the process his own ends are furthered. Expect absolutely no mercy from those opposing the Brotherhood of Light.

Huynh đệ bóng tối không xét đến nỗi khổ đau y có thể gây ra; y không màng đến sự thống khổ của thể trí mà y gieo lên một đối thủ; y kiên trì ý định của mình và không ngừng làm hại bất kỳ người nam, người nữ hay trẻ em nào, miễn là trong tiến trình ấy các mục đích riêng của y được thúc đẩy. Tuyệt đối đừng mong lòng thương xót từ những kẻ chống lại Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng.

On the physical plane and on the emotional plane, the dark brother has more power than the Brother of the Light,—not more power per se but more apparent power, because the White Brothers choose not to exert Their power on those two planes, as do the Dark Brothers. They could exert Their authority but They choose to refrain, working with the powers of evolution and not of involution. The elemental forces to be found on these two planes are manipulated by two factors.

Trên cõi hồng trần và trên cõi cảm dục, huynh đệ bóng tối có nhiều quyền năng hơn Huynh đệ Ánh Sáng,—không phải quyền năng lớn hơn xét chính nó mà là quyền năng có vẻ lớn hơn, bởi vì các Huynh đệ Trắng chọn không vận dụng quyền năng của Các Ngài trên hai cõi ấy, như các Huynh đệ Bóng Tối vẫn làm. Các Ngài có thể vận dụng thẩm quyền của Các Ngài, nhưng Các Ngài chọn kiềm chế, làm việc với các quyền năng của tiến hoá chứ không phải của giáng hạ tiến hoá. Các mãnh lực hành khí có thể tìm thấy trên hai cõi này được thao túng bởi hai yếu tố.

a—The inherent forces of evolution that direct all on to eventual perfection. The White Adepts co-operate in this.

a—Các mãnh lực nội tại của tiến hoá, vốn dẫn dắt mọi sự đến sự hoàn thiện rốt ráo. Các Chân sư Chánh đạo hợp tác trong điều này.

b—The Dark Brothers who occasionally employ these elemental forces to wreak their will and vengeance on all opponents. Under their control work sometimes the elementals of the earth plane, the gnomes and the elemental essence as found in evil form, some of the brownies, and the fairy folk of colours brown, grey and sombre-hued. They cannot control the devas of high development, nor the fairies of colours blue, green and yellow, though a few of the red fairies can be made to work under their direction. The water elementals (though not the sprites or sylphs) move on occasion to their assistance, and in the control of these forces of involution they at times damage the furtherance of our work. [136]

b—Các Huynh đệ Bóng Tối, đôi khi sử dụng các mãnh lực hành khí ấy để thực thi ý chí và sự báo thù của họ lên mọi đối thủ. Dưới sự kiểm soát của họ, đôi khi hoạt động các hành khí của cõi hồng trần, các gnome và tinh chất hành khí như được thấy trong hình thức xấu xa, một số brownie, và các giống tiên có màu nâu, xám và sắc u tối. Họ không thể kiểm soát các thiên thần có mức phát triển cao, cũng không thể kiểm soát các giống tiên có màu xanh lam, xanh lục và vàng, dù một vài giống tiên đỏ có thể bị khiến làm việc dưới sự chỉ đạo của họ. Các hành khí nước (dù không phải các sprite hay sylph) đôi khi chuyển động để trợ giúp họ, và trong việc kiểm soát các mãnh lực giáng hạ tiến hoá này, họ đôi lúc làm tổn hại sự thúc đẩy công việc của chúng ta. [136]

Oft too the Dark Brother masquerades as an agent of the light, oft he poses as a messenger of the gods, but for your assurance I would say that he who acts under the guidance of the Ego will have clear vision, and will escape deception.

Cũng thường xuyên, Huynh đệ Bóng Tối giả dạng như một tác nhân của ánh sáng, thường xuyên y đóng vai một sứ giả của các vị thần, nhưng để các bạn được an tâm, tôi muốn nói rằng người nào hành động dưới sự hướng dẫn của chân ngã sẽ có tầm nhìn rõ ràng, và sẽ thoát khỏi sự lừa dối.

At this time their power is ofttimes mighty. Why? Because so much exists as yet in the Personalities of all men that respond to their vibration, and so it is easy for them to affect the bodies of men. So few of the races, comparatively speaking, have as yet built in the higher vibration that responds to the key-note of the Brotherhood of Light, who move practically entirely on the two highest levels (or the atomic and sub-atomic subplane) of the mental, emotional and physical planes. When moving on these subplanes the attacks of elementals on lower planes may be felt but effect no harm, hence the necessity of pure living and controlled pure emotions and elevated thought.

Vào thời điểm này, quyền năng của họ thường rất mạnh. Vì sao? Vì trong các phàm ngã của mọi người vẫn còn quá nhiều điều đáp ứng rung động của họ, và vì thế họ dễ tác động lên các thể của con người. Tương đối mà nói, rất ít giống dân cho đến nay đã xây dựng được rung động cao hơn, rung động đáp ứng với chủ âm của Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng, những vị gần như hoạt động hoàn toàn trên hai cấp độ cao nhất (hay cõi phụ nguyên tử và cõi phụ hạ nguyên tử) của các cõi trí, cảm dục và hồng trần. Khi hoạt động trên các cõi phụ này, các cuộc tấn công của hành khí trên các cõi thấp có thể được cảm nhận nhưng không gây hại; do đó cần thiết phải sống thanh khiết, cảm xúc thanh khiết được kiểm soát, và tư tưởng được nâng cao.

You will notice that I said that the power of the Dark Brotherhood is dominant apparently on the physical and emotional planes. Not so is it on the mental, which is the plane on which the Brothers of the Light work. Mighty dark magicians may be located on the lower mental levels, but on the higher, the White Lodge dominates, the three higher subplanes being the levels that They beg the evolving sons of men to seek; it is Their region, to which all must strive and aspire. The Dark Brother impresses his will on human beings (if analogous vibration exists) and on the elemental kingdoms of involution. The Brothers of Light plead as pleaded the Man of Sorrows for an erring humanity to rise upward to the light. The Dark Brother retards progress and shapes all to his own ends; the Brother of Light bends every effort to the hastening [137] of evolution and—foregoing all that might be His as the price of achievement—stays amid the fogs, the strife, the evil and the hatred of the period if, in so doing, He may by all means aid some, and (lifting them up out of the darkness of earth) set their feet upon the Mount, and enable them to surmount the Cross.

Các bạn sẽ nhận thấy rằng tôi đã nói quyền năng của Huynh đệ Đoàn Bóng Tối dường như trội hơn trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Không phải vậy trên cõi trí, vốn là cõi mà các Huynh đệ Ánh Sáng làm việc. Những nhà huyền thuật đen mạnh mẽ có thể hiện diện ở các cấp độ hạ trí, nhưng ở các cấp độ cao hơn, Thánh đoàn chi phối; ba cõi phụ cao hơn là các cấp độ mà Các Ngài khẩn cầu những người con đang tiến hoá của nhân loại hãy tìm kiếm; đó là vùng của Các Ngài, nơi mà mọi người phải phấn đấu và khát vọng vươn tới. Huynh đệ Bóng Tối áp đặt ý chí của y lên con người (nếu có rung động tương đồng) và lên các giới hành khí của giáng hạ tiến hoá. Các Huynh đệ Ánh Sáng khẩn cầu, như Người Đau Khổ đã khẩn cầu, để một nhân loại lầm lạc vươn lên ánh sáng. Huynh đệ Bóng Tối làm chậm sự tiến bộ và uốn nắn mọi sự theo mục đích riêng của y; Huynh đệ Ánh Sáng dốc mọi nỗ lực để thúc nhanh [137] tiến hoá và—từ bỏ mọi điều có thể thuộc về Ngài như cái giá của thành tựu—vẫn ở lại giữa sương mù, tranh chấp, điều ác và hận thù của thời kỳ, nếu nhờ vậy, bằng mọi cách, Ngài có thể giúp được một số người, và (nâng họ ra khỏi bóng tối của trần gian) đặt chân họ lên Núi, và giúp họ vượt qua Thập Giá.

And now what methods may be employed to safeguard the worker in the field of the world? What can be done to ensure his safety in the present strife and in the greater strife of the coming centuries?

Và giờ đây, những phương pháp nào có thể được dùng để bảo vệ người hoạt động trong trường thế gian? Có thể làm gì để bảo đảm sự an toàn của y trong cuộc tranh đấu hiện tại và trong cuộc tranh đấu lớn hơn của các thế kỷ sắp tới?

1—A realisation that purity of all the vehicles is the prime essential. If a Dark Brother gains control over any man it but shows that that man has in his life some weak spot. The door whereby entrance is effected must be opened by the man himself; the opening whereby malignant force can be poured in must be caused by the occupant of the vehicles. Therefore the need of scrupulous cleanliness of the physical body, of clean steady emotions permitted in the emotional body, and of purity of thought in the mental body. When this is so, co-ordination will be present in the lower vehicles and the indwelling Thinker himself permits no entrance.

1—Một sự nhận thức rằng sự thanh khiết của mọi vận cụ là điều thiết yếu hàng đầu. Nếu một Huynh đệ Bóng Tối giành được quyền kiểm soát đối với bất kỳ người nào, điều đó chỉ cho thấy rằng người ấy có một điểm yếu nào đó trong đời sống của mình. Cánh cửa để sự xâm nhập được thực hiện phải do chính người đó mở ra; lối mở để mãnh lực ác độc có thể tuôn vào phải do kẻ cư ngụ trong các vận cụ tạo nên. Vì vậy cần sự sạch sẽ nghiêm ngặt của thể xác, những cảm xúc sạch sẽ và ổn định được cho phép trong thể cảm dục, và sự thanh khiết của tư tưởng trong thể trí. Khi như vậy, sự phối hợp sẽ hiện diện trong các vận cụ thấp và chính Thức giả nội tại không cho phép bất kỳ sự xâm nhập nào.

2—The elimination of all fear. The forces of evolution vibrate more rapidly than those of involution and in this fact lies a recognisable security. Fear causes weakness; weakness causes a disintegration; the weak spot breaks and a gap appears, and through that gap evil force may enter. The factor of entrance is the fear of the man himself, who opens thus the door.

2—Loại bỏ mọi sợ hãi. Các mãnh lực của tiến hoá rung động nhanh hơn các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá, và chính trong điều này có một sự an toàn có thể nhận ra. Sợ hãi gây yếu đuối; yếu đuối gây phân rã; điểm yếu bị phá vỡ và một kẽ hở xuất hiện, và qua kẽ hở ấy mãnh lực xấu có thể đi vào. Yếu tố của sự xâm nhập là nỗi sợ của chính người đó, nhờ vậy y mở cửa.

3—A standing firm and unmoved, no matter what occurs. Your feet may be bathed in the mud of earth, but your head may be bathed in the sunshine of the higher regions. Recognition of the filth of earth involves not contamination. [138]

3—Đứng vững và bất lay chuyển, bất kể điều gì xảy ra. Chân các bạn có thể bị tắm trong bùn đất, nhưng đầu các bạn có thể được tắm trong ánh nắng của các miền cao hơn. Nhận biết sự nhơ bẩn của trần gian không hàm ý bị nhiễm bẩn. [138]

4—A Recognition of the use of common-sense and the application of this common-sense to the matter in hand. Sleep much and, in sleeping, learn to render the body positive; keep busy on the emotional plane and achieve the inner calm. Do naught to overtire the body physical, and play whenever possible. In hours of relaxation comes the adjustment that obviates later tension. [139]

4—Nhận thức về việc sử dụng lẽ thường và áp dụng lẽ thường ấy vào vấn đề đang xét. Ngủ nhiều và, trong khi ngủ, học cách làm cho thể xác trở nên dương tính; hãy bận rộn trên cõi cảm dục và đạt được sự bình an nội tại. Đừng làm gì khiến thể xác quá mệt, và hãy vui chơi bất cứ khi nào có thể. Trong những giờ thư giãn sẽ có sự điều chỉnh giúp ngăn ngừa sự căng thẳng về sau. [139]

1 tinh nghịch, tinh quái, ranh mãnh, láu lỉnh

2 tính quái đản, tính kỳ cục

3 lời phù phép, câu thần chú (để đuổi tà ma)

4 Điều hão huyền; ảo tưởng

LETTER VI—THE USE OF FORM IN MEDITATION

a—The Use of Form in raising the consciousness.

a—Việc sử dụng hình tướng trong việc nâng cao tâm thức.

b—The Use of Form by the mystic and the occultist.

b—Việc sử dụng hình tướng bởi nhà thần bí và nhà huyền bí học.

c—Specific Forms.

c—Các hình tướng đặc thù.

d—The Use of Form collectively. [140]

d—Việc sử dụng hình tướng một cách tập thể. [140]

August 6, 1920.

Ngày 6 tháng 8, 1920.

Your very natural desire to have me give you in this sixth letter certain specific forms to achieve certain results cannot be fully acquiesced in. I do not propose to outline for you any forms for careful following. The risks, as before I have pointed out, are too great apart from the supervision of a teacher at hand to watch reactions. These forms may later be given. The work is duly planned out for the coming generation of students, this series of letters having its place within that outline. What I intend to do today is something different. I purpose to do four things which we will separately take up and elucidate. These things, if duly assimilated and acted upon, will lead to further enlightenment. In the occult method of teaching step by step is given, point by point slowly laid before the pupil, and only as each step is taken and each point is grasped, will the next in order become clear. The teacher gives an indication, drops a hint, and touches some high light. The pupil follows the point emphasised, and finds on thus acting that further light pours in, another stage appears and other hints are dropped. In joint action and reaction therefore the occult student is trained by the occultist.

Ước muốn rất tự nhiên của các bạn là muốn tôi, trong bức thư thứ sáu này, trao cho các bạn một số hình tướng đặc thù để đạt được những kết quả nhất định, thì tôi không thể hoàn toàn thuận theo. Tôi không chủ trương phác thảo cho các bạn bất kỳ hình tướng nào để các bạn cẩn trọng làm theo. Những rủi ro, như trước đây tôi đã chỉ ra, là quá lớn nếu không có sự giám sát của một huấn sư ở bên cạnh để theo dõi các phản ứng. Những hình tướng ấy về sau có thể sẽ được trao. Công việc đã được hoạch định đúng đắn cho thế hệ đạo sinh sắp tới, và loạt thư này có vị trí của nó trong bản phác thảo ấy. Điều tôi dự định làm hôm nay là một việc khác. Tôi dự định làm bốn điều, và chúng ta sẽ lần lượt nêu ra và làm sáng tỏ. Những điều này, nếu được đồng hoá đúng mức và đem ra thực hành, sẽ dẫn đến sự soi sáng thêm nữa. Trong phương pháp giảng dạy huyền bí, từng bước được trao, từng điểm được trình bày chậm rãi trước người học, và chỉ khi mỗi bước đã được thực hiện và mỗi điểm đã được nắm bắt, thì điều kế tiếp theo trật tự mới trở nên rõ ràng. Huấn sư đưa ra một chỉ dấu, thả xuống một gợi ý, và chạm đến một điểm nhấn. Người học đi theo điểm được nhấn mạnh, và khi hành động như vậy thì thấy ánh sáng thêm nữa tuôn vào, một giai đoạn khác hiện ra và những gợi ý khác lại được thả xuống. Vì vậy, chính trong hành động và phản ứng tương hỗ mà đạo sinh huyền bí được nhà huyền bí học huấn luyện.

In studying the topic, “The use of form in meditation,” the four divisions under which I seek to place the intended data are as follows:—

Khi nghiên cứu chủ đề “Việc sử dụng hình tướng trong tham thiền”, bốn phân mục mà tôi muốn đặt các dữ kiện dự định trình bày dưới đó là như sau:—

1—The use of Form in raising the consciousness.

1—Việc sử dụng Hình tướng trong việc nâng cao tâm thức.

2.—The use of Form by the mystic and the occultist. [141]

2.—Việc sử dụng Hình tướng bởi nhà thần bí và nhà huyền bí học. [141]

3—The use of specific forms for specific ends.

3—Việc sử dụng các hình tướng đặc thù cho những mục đích đặc thù.

4—The use of Form collectively.

4—Việc sử dụng Hình tướng một cách tập thể.

In the exposition of these subjects you will see that what I am endeavouring to produce is a just apprehension of the value of forms in meditation and not the imparting of any definite method. I seek to show the essential nature of proceeding under law in this the most important means of bringing about union with the divine, and of producing that at-one-ment between the higher and the lower that is the aim of all evolution. I desire to leave in the minds of those who read these words a just apprehension of the relationship between spirit and matter which is the basis of all work of this nature.

Trong phần trình bày các đề tài này, các bạn sẽ thấy rằng điều tôi đang cố gắng tạo ra là một sự lĩnh hội đúng đắn về giá trị của các hình tướng trong tham thiền, chứ không phải là truyền đạt bất kỳ phương pháp xác định nào. Tôi tìm cách cho thấy bản chất thiết yếu của việc tiến hành theo định luật trong phương tiện quan trọng nhất này nhằm đem lại sự hợp nhất với thiêng liêng, và tạo ra sự hiệp nhất giữa cái cao và cái thấp vốn là mục tiêu của mọi tiến hoá. Tôi mong để lại trong thể trí của những ai đọc những lời này một sự lĩnh hội đúng đắn về mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, là nền tảng của mọi công việc thuộc loại này.

The method employed by the Logos in this the second solar system is definitely the use of form for purposes of manifestation, as a medium of expression and as the vehicle whereby the indwelling life may grow, expand, experience and find itself. This is the case whether the form is an entire solar system, whether it is a human being in his complexity, or whether it is a form built by that human being in his endeavour to realise and know,—a form built for the very purpose of providing a vehicle whereby the consciousness may, by set stages, raise itself step by step to some visualised point. This brings us to our first point:

Phương pháp được Logos sử dụng trong hệ mặt trời thứ hai này, một cách xác định, là dùng hình tướng cho các mục đích biểu hiện, như một môi trường biểu đạt và như vận cụ nhờ đó sự sống nội tại có thể lớn lên, mở rộng, trải nghiệm và tìm thấy chính nó. Điều này đúng dù hình tướng là toàn bộ một hệ mặt trời, dù đó là một con người trong tính phức tạp của y, hay dù đó là một hình tướng do chính con người ấy xây dựng trong nỗ lực chứng nghiệm và biết,—một hình tướng được xây dựng chính nhằm cung cấp một vận cụ nhờ đó tâm thức có thể, qua những giai đoạn ấn định, tự nâng mình lên từng bước đến một điểm đã được hình dung. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ nhất:

l—The use of Form in raising the consciousness.—l—Việc sử dụng Hình tướng trong việc nâng cao tâm thức.

We have under this heading to consider three things:

Dưới tiêu đề này, chúng ta cần xét ba điều:

a—The Consciousness itself.

a—Chính tâm thức.

b—The goal towards which it seeks to rise.

b—Mục tiêu mà nó tìm cách vươn lên.

c—The steps whereby it succeeds.

c—Những bước nhờ đó nó thành công.

Each unit of the human race is a part of the divine consciousness, and is that which is conscious of, or is [142] aware of something without itself,—something which knows itself to be differentiated from the vehicle which encloses it or the forms which environ it.

Mỗi đơn vị trong nhân loại là một phần của tâm thức thiêng liêng, và là cái có tâm thức về, hay [142] nhận biết một điều gì đó ở bên ngoài chính nó,—một điều gì đó biết rằng nó được phân biệt với vận cụ bao bọc nó hay với các hình tướng bao quanh nó.

At this particular stage in evolution the average man is simply conscious of differentiation, or of being separated off from all other members of the human family, thus forming in himself a unit among other units. He acknowledges this and acknowledges the right of all other separated units so to consider themselves. He adds to this a recognition that somewhere in the universe there exists a supreme Consciousness, Whom he theoretically calls God, or Nature. Between this purely selfish point of view (I use the term “selfish” in the scientific sense and not as a belittling adjective) and the nebulous theory of God immanent there are to be found numerous stages, at each of which occurs an expansion of consciousness, or an enlargement of the point of view, that leads that self-recognising unit, step by step, from self-recognition to the recognition of superior selves, to the fitting of himself to be likewise recognised as a superior self, and eventually to the occult recognition of his own superior Self. He comes to recognise his Higher Self or Ego as his true Self, and from that stage passes on into that of the group consciousness. Here he realises first his egoic group and then other egoic groups.

Ở giai đoạn tiến hoá đặc thù này, người trung bình đơn giản chỉ có tâm thức về sự phân biệt, hay về việc bị tách rời khỏi mọi thành viên khác của gia đình nhân loại, do đó tự tạo thành trong chính y một đơn vị giữa các đơn vị khác. Y thừa nhận điều này và thừa nhận quyền của mọi đơn vị tách rời khác cũng tự xem mình như vậy. Y còn thêm vào đó sự thừa nhận rằng ở đâu đó trong vũ trụ có tồn tại một Tâm thức tối cao, Đấng mà về mặt lý thuyết y gọi là Thượng đế, hay Bản chất. Giữa quan điểm thuần tuý vị kỷ này (tôi dùng thuật ngữ “vị kỷ” theo nghĩa khoa học chứ không như một tính từ hạ thấp) và lý thuyết mơ hồ về Thượng đế nội tại, có thể tìm thấy vô số giai đoạn, ở mỗi giai đoạn đều xảy ra một sự mở rộng tâm thức, hay một sự mở rộng quan điểm, dẫn đơn vị tự nhận biết ấy, từng bước một, từ sự tự nhận biết đến sự nhận biết các bản ngã cao hơn, đến việc tự chuẩn bị để cũng được nhận biết như một bản ngã cao hơn, và cuối cùng đến sự nhận biết huyền bí về Bản Ngã Cao Siêu của chính y. Y đi đến chỗ nhận ra chân ngã hay Chân ngã của y là bản ngã đích thực của y, và từ giai đoạn ấy tiến vào tâm thức nhóm. Ở đây y trước hết chứng nghiệm nhóm chân ngã của y và rồi các nhóm chân ngã khác.

This stage is succeeded by the recognition of the universal principle of Brotherhood; it involves not just a theoretical recognition, but a merging of the consciousness into that of the human consciousness, in its entirety; this is really that development of consciousness which enables a man to realise not only his egoic group affiliations but his place in the human Hierarchy on its own plane. He knows himself in fact as a part of one of the great Heavenly Men. This expands later into an almost [143] inconceivably vast point of view—that of his place in the Grand Heavenly Man, as represented by the Logos Himself.

Giai đoạn này tiếp theo là sự nhận biết nguyên khí phổ quát của Huynh Đệ; nó không chỉ bao hàm sự thừa nhận về mặt lý thuyết, mà là sự hoà nhập tâm thức vào tâm thức nhân loại, trong tính toàn thể của nó; đây thực sự là sự phát triển tâm thức giúp một người không chỉ chứng nghiệm các liên hệ nhóm chân ngã của y mà còn chứng nghiệm vị trí của y trong Thánh Đoàn nhân loại trên chính cõi của nó. Thực tế, y biết mình như một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại. Về sau điều này mở rộng thành một quan điểm gần như [143] không thể hình dung—đó là vị trí của y trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, như được Logos chính Ngài đại diện.

This is as far as we need go for our purpose, for this series of letters, aims not at the development of cosmic consciousness.

Đến đây là đủ cho mục đích của chúng ta, vì loạt thư này không nhằm phát triển tâm thức vũ trụ.

It will therefore be apparent to you that all these stages have to be taken systematically and that each one has to be mastered step by step. It is necessary first to grasp that the place where the expansion takes place, and the realisation has to be felt, has to be finally in the thinking, waking consciousness. The Ego on its own plane may be well aware of the unity of its consciousness with all other consciousnesses, and be realising his group as one with himself, but until the man (in physical plane consciousness) has raised himself to that same plane and is likewise aware of his group consciousness, and likewise regards himself as the higher Self within the egoic group and not as a separated unit, it is of no more use than a recognised theory is of use when not carried out in experience.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng tất cả các giai đoạn này phải được thực hiện một cách có hệ thống và mỗi giai đoạn phải được làm chủ từng bước một. Trước hết cần nắm bắt rằng nơi chốn nơi sự mở rộng diễn ra, và nơi sự chứng nghiệm phải được cảm nhận, rốt cuộc phải ở trong tâm thức tư duy, tỉnh thức. Chân ngã trên cõi của nó có thể rất nhận biết sự hợp nhất của tâm thức nó với mọi tâm thức khác, và đang chứng nghiệm nhóm của nó như một với chính nó, nhưng cho đến khi con người (trong tâm thức cõi hồng trần) đã tự nâng mình lên cùng cõi ấy và cũng nhận biết tâm thức nhóm của y, và cũng xem y như Bản Ngã Cao Siêu bên trong nhóm chân ngã chứ không phải như một đơn vị tách rời, thì điều đó chẳng hữu ích hơn một lý thuyết được thừa nhận mà không được đem ra trải nghiệm.

The man has to experience these stages in his physical consciousness and to know experimentally and not just theoretically that whereof I speak before he is deemed ready to pass on into the succeeding stages. The whole matter resolves itself into the expansion of the mind until it dominates the lower, and into the faculty of abstract conception which results eventually in physical plane manifestation. It means making your highest theories and ideals demonstrable facts and it is that blending of the higher and the lower and the equipping of that lower until it provides a fitting expression for the higher. It is here that the practice of meditation plays its part. The true scientific meditation provides [144] graded forms whereby the consciousness is raised and the mind expanded until it embraces:

Con người phải trải nghiệm các giai đoạn ấy trong tâm thức hồng trần của y và phải biết bằng thực nghiệm chứ không chỉ bằng lý thuyết điều mà tôi nói đến, trước khi y được xem là sẵn sàng bước vào các giai đoạn kế tiếp. Toàn bộ vấn đề quy về sự mở rộng của thể trí cho đến khi nó thống trị cái thấp, và quy về năng lực quan niệm trừu tượng mà rốt cuộc đưa đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Điều đó có nghĩa là làm cho những lý thuyết và lý tưởng cao nhất của các bạn trở thành những sự kiện có thể chứng minh, và là sự hoà trộn giữa cái cao và cái thấp cùng với việc trang bị cho cái thấp cho đến khi nó cung cấp một sự biểu đạt thích đáng cho cái cao. Chính tại đây việc thực hành tham thiền đóng vai trò của nó. Tham thiền khoa học chân chính cung cấp [144] những hình tướng theo cấp bậc nhờ đó tâm thức được nâng lên và thể trí được mở rộng cho đến khi nó bao hàm:

l—Its family and friends.

l—Gia đình và bạn hữu của nó.

2—Its environing associates.

2—Những người liên hệ xung quanh nó.

3—Its affiliated groups.

3—Các nhóm liên kết của nó.

4—Its egoic group.

4—Nhóm chân ngã của nó.

5—Other egoic groups.

5—Các nhóm chân ngã khác.

6—That Man of the Heavens of which the egoic groups form a centre.

6—Đấng Thiên Nhân mà các nhóm chân ngã tạo thành một trung tâm.

7—The Grand Heavenly Man.

7—Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

To effect this certain forms will be laid down later, that (working along the line of a man’s ray) will teach him in graded steps to do this. You will note that I have dealt with the consciousness itself and the goal it aspires to and have thus dealt with our first two points. This brings me to our last subsidiary heading, the steps whereby attainment eventuates.

Để thực hiện điều này, về sau sẽ có những hình tướng nhất định được đặt ra, để (làm việc theo con đường của cung của một người) dạy y theo những bước cấp bậc mà làm được điều ấy. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi đã bàn về chính tâm thức và mục tiêu mà nó khát vọng, và như vậy đã bàn đến hai điểm đầu của chúng ta. Điều này đưa tôi đến tiêu đề phụ cuối cùng của chúng ta: những bước nhờ đó sự đạt được trở thành hiện thực.

Each man who enters upon occult development and who aspires toward the higher, has passed the stage of the average man,—the man who regards himself from the purely isolated standpoint and who works for what is good for himself. The aspirant is aiming at something different; he seeks to merge himself with his higher Self and with all that is entailed when we use that term. The stages beyond that, in all their intricacies, are the secrets of Initiation and with them we have naught to do.

Mỗi người bước vào sự phát triển huyền bí và khát vọng hướng đến cái cao hơn, đều đã vượt qua giai đoạn của người trung bình,—người chỉ nhìn mình từ lập trường cô lập thuần tuý và làm việc vì điều tốt cho riêng mình. Người chí nguyện đang nhắm đến một điều khác; y tìm cách hoà nhập mình với Bản Ngã Cao Siêu của y và với tất cả những gì được hàm ý khi chúng ta dùng thuật ngữ ấy. Những giai đoạn vượt quá điều đó, trong mọi sự tinh vi của chúng, là các bí mật của Điểm đạo và với chúng ta không có gì phải bàn.

Aspiration towards the Ego and the bringing in of that higher consciousness with the subsequent development of group consciousness very directly concern all who will read these letters. It is the next step ahead for those upon the Probationary Path. It is not achieved by simply giving thirty minutes a day to certain set forms of meditation. It involves an hour by hour attempt, [145] all day long and every day, to keep the consciousness as near to the high pitch attained in the morning meditation as possible. It presumes a determination to consider oneself at all times as the Ego, and not as a differential Personality. Later, as the Ego comes more and more into control, it will involve also the ability to look upon oneself as part of a group, with no interests and desires, no aims or wishes apart from the good of that group. It necessitates a constant watchfulness every hour of the day to prevent the falling back into the lower vibration. It entails a constant battle with the lower self that drags down; it is a ceaseless fight to preserve the higher vibration. And—which is the point I am aiming to impress upon you—the aim should be the development of the habit of meditation all the day long, and the living in the higher consciousness till that consciousness is so stable that the lower mind, desire and the physical elementals, become so atrophied and starved through lack of nourishment that the threefold lower nature becomes simply the means whereby the Ego contacts the world for purposes of helping the race.

Khát vọng hướng đến Chân ngã và việc đem vào tâm thức cao hơn ấy, cùng với sự phát triển tiếp theo của tâm thức nhóm, liên quan trực tiếp đến tất cả những ai sẽ đọc những bức thư này. Đó là bước kế tiếp phía trước cho những ai đang trên Con Đường Dự Bị. Nó không đạt được chỉ bằng cách dành ba mươi phút mỗi ngày cho một số hình tướng tham thiền ấn định. Nó bao hàm một nỗ lực từng giờ, [145] suốt ngày dài và mỗi ngày, để giữ tâm thức càng gần càng tốt với cao độ đã đạt được trong buổi tham thiền buổi sáng. Nó giả định một quyết tâm luôn luôn xem mình là Chân ngã, chứ không phải là một phàm ngã phân biệt. Về sau, khi Chân ngã ngày càng kiểm soát nhiều hơn, nó cũng sẽ bao hàm khả năng nhìn mình như một phần của một nhóm, không có lợi ích và dục vọng, không có mục tiêu hay ước muốn nào tách khỏi điều tốt của nhóm ấy. Nó đòi hỏi một sự canh chừng thường trực từng giờ trong ngày để ngăn việc rơi trở lại vào rung động thấp. Nó kéo theo một cuộc chiến thường xuyên với phàm ngã vốn kéo xuống; đó là một cuộc đấu không ngừng để giữ gìn rung động cao hơn. Và—điểm mà tôi muốn khắc sâu vào các bạn—mục tiêu phải là phát triển thói quen tham thiền suốt ngày dài, và sống trong tâm thức cao hơn cho đến khi tâm thức ấy vững ổn đến mức hạ trí, dục vọng và các hành khí thể xác trở nên teo rút và đói lả vì thiếu dưỡng nuôi, khiến bản chất thấp tam phân đơn giản chỉ còn là phương tiện nhờ đó Chân ngã tiếp xúc với thế gian nhằm giúp đỡ nhân loại.

In so doing he is accomplishing something that is little realised by the average student. He is building a form, a definite thoughtform that eventually provides a vehicle whereby he steps out of the lower consciousness into the higher, a kind of mayavirupa that acts as his intermediate channel. These forms are usually, though not invariably, of two kinds:—

Khi làm như vậy, y đang hoàn thành một điều mà đạo sinh trung bình ít nhận ra. Y đang xây dựng một hình tướng, một hình tư tưởng xác định, rốt cuộc cung cấp một vận cụ nhờ đó y bước ra khỏi tâm thức thấp vào tâm thức cao, một loại mayavirupa hoạt động như kênh trung gian của y. Những hình tướng này thường, dù không phải luôn luôn, thuộc hai loại:—

- The student builds a form daily, with care and love and attention, of his Master, to him the embodiment of the ideal higher consciousness. He lays the outline of this form in meditation and builds in the fabric in his daily life and thought. The form is provided with all the virtues, scintillates with all the colours, and is vivified, [146] first of all, by the love of the man for his Master, and later (when adequate for the purpose) it is vitalised by the Master Himself. At a certain stage in development this form provides the ground for the occult experience of entering into the higher consciousness. The man recognises himself as a part of the Master’s consciousness and through that all embracing consciousness slips into the egoic group soul consciously. This form provides the medium for that experience until such a time as it can be dispensed with, and the man can at will transfer himself into his group, and later consciously dwell there permanently. This method is the one most largely used, and is the path of love and devotion.

Đạo sinh hằng ngày xây dựng một hình tướng, với sự cẩn trọng và tình thương và chú tâm, về Chân sư của y, đối với y là hiện thân của lý tưởng tâm thức cao hơn. Y đặt đường nét của hình tướng ấy trong tham thiền và xây dựng chất liệu của nó trong đời sống và tư tưởng hằng ngày. Hình tướng ấy được ban cho mọi đức hạnh, lấp lánh mọi sắc màu, và được tiếp sinh lực, [146] trước hết, bởi tình thương của người ấy đối với Chân sư của y, và về sau (khi đã thích đáng cho mục đích) được tiếp sinh lực bởi chính Chân sư Ngài. Ở một giai đoạn phát triển nhất định, hình tướng này cung cấp nền tảng cho kinh nghiệm huyền bí về việc đi vào tâm thức cao hơn. Người ấy nhận ra mình là một phần của tâm thức của Chân sư và qua tâm thức bao trùm ấy, y trượt vào hồn nhóm chân ngã một cách có tâm thức. Hình tướng này cung cấp môi trường cho kinh nghiệm ấy cho đến khi có thể không cần đến nó nữa, và người ấy có thể theo ý muốn chuyển mình vào nhóm của y, và về sau có tâm thức an trú ở đó thường trực. Phương pháp này là phương pháp được dùng nhiều nhất, và là con đường bác ái và sùng tín.

- In the second method the student pictures himself as the ideal man. He visualises himself as the exponent of all the virtues, and he attempts in his daily life to make himself what he visualises himself to be. This method is employed by the more mental types, the intellectuals, and those whose ray is not so coloured by love, by devotion or by harmony. It is not so common as the first. The mental thoughtform thus built up serves as the mayavirupa as did the other and the man passes from these forms into the higher consciousness. As you therefore see, in building these forms certain steps will have to be taken and each type will build the form somewhat differently.

– Trong phương pháp thứ hai, đạo sinh hình dung mình như con người lý tưởng. Y hình dung chính mình là hiện thân của mọi đức hạnh, và trong đời sống hằng ngày, y cố gắng tự làm cho mình trở thành đúng như điều y đã hình dung. Phương pháp này được sử dụng bởi những kiểu người thiên về thể trí, những trí thức, và những người có cung không được nhuốm màu nhiều bởi tình thương, bởi lòng sùng tín hay bởi sự hài hoà. Nó không phổ biến bằng phương pháp thứ nhất. Hình tư tưởng thể trí được xây dựng như vậy sẽ đóng vai trò là mayavirupa, cũng như trong trường hợp kia, và con người từ những hình tướng này mà bước vào tâm thức cao hơn. Vì vậy, như các bạn thấy, trong việc xây dựng những hình tướng này, một số bước nhất định sẽ phải được thực hiện, và mỗi kiểu người sẽ xây dựng hình tướng theo một cách hơi khác nhau.

The first type will start with some beloved individual, and from that individual, will rise through the various other individuals to the Master. For instance, some new student might start by thinking of some adored and respected fellow TS member, who brought him in touch with the society, pass from him to AB [Annie Besant] and CWL, from them to the great teacher HPB, and from him to the Master chosen.

Loại thứ nhất sẽ bắt đầu với một cá nhân được yêu mến, và từ cá nhân ấy, sẽ vươn lên qua các cá nhân khác nhau đến Chân sư. Chẳng hạn, một đạo sinh mới có thể bắt đầu bằng cách nghĩ về một hội viên Thông Thiên Học được y yêu mến và kính trọng, người đã đưa y tiếp xúc với hội, rồi chuyển từ người ấy đến Bà AB [Annie Besant] và Ông CWL, từ họ đến vị huấn sư vĩ đại Bà HPB, và từ bà đến Chân sư được chọn.

The other type will start with meditation on the virtue most desired, add virtue to virtue in the building of the form of the ideal self until all the virtues have been attempted and the Ego is suddenly contacted. [147]

Loại kia sẽ bắt đầu bằng tham thiền về đức hạnh mà y khao khát nhất, thêm đức hạnh vào đức hạnh trong việc xây dựng hình tướng của bản ngã lý tưởng cho đến khi mọi đức hạnh đã được cố gắng thực hành và Chân ngã bỗng nhiên được tiếp xúc. [147]

Tomorrow we will take up this same subject from a different angle and study the difference between the occultist and the mystic.

Ngày mai chúng ta sẽ bàn tiếp cùng đề tài này từ một góc độ khác và nghiên cứu sự khác biệt giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí.

August 8, 1920.

Ngày 8 tháng 8, 1920.

August 8, 1920. 2:45 pm.

Ngày 8 tháng 8, 1920. 2:45 chiều.

If I might be allowed to suggest to you, brother of mine, you will draw the line of demarcation fairly tight, and endeavour to conform in detail to the hints given. Exceptions are left to your discrimination, as we give no hard or fast rules until such a time as definite preparation for initiation is entered upon. Facility in obedience will come if conformity to suggestions is given now. Make no exceptions except the need is very real.

Nếu tôi được phép gợi ý với các bạn, huynh đệ của tôi, các bạn sẽ vạch ranh giới phân định khá chặt, và cố gắng tuân theo chi tiết những gợi ý đã được trao. Các ngoại lệ được để cho sự phân biện của các bạn, vì chúng tôi không đưa ra những quy luật cứng nhắc cho đến khi bước vào một giai đoạn chuẩn bị xác định cho điểm đạo. Sự dễ dàng trong vâng phục sẽ đến nếu ngay bây giờ các bạn tuân theo các gợi ý. Đừng đưa ra ngoại lệ nào trừ khi nhu cầu thật sự rất rõ ràng.

I seek, before taking up our matter for instruction to give you another extract for the stanzas. Before beginning close your eyes and listen with care to what will be enunciated.

Trước khi đi vào đề tài để chỉ dạy, tôi muốn trao cho các bạn một trích đoạn khác cho các bài kệ. Trước khi bắt đầu, hãy nhắm mắt và lắng nghe cẩn trọng điều sẽ được tuyên đọc.

---

---

You have got it somewhat right, brother of mine, and in transcribing greated accuracy will come. Certain words need altering. You have not recorded all the technical terms that exist in the original stanzas. Link up with me in transcribing and we will endeavour to get the Sanskrit expressions that are to be found in the original books.

Các bạn đã ghi được phần nào đúng, huynh đệ của tôi, và khi chép lại sẽ đạt độ chính xác lớn hơn. Một số từ cần được sửa. Các bạn chưa ghi lại hết mọi thuật ngữ kỹ thuật có trong các bài kệ nguyên bản. Hãy chỉnh hợp với tôi trong việc chép lại và chúng ta sẽ cố gắng lấy được các cách diễn đạt Sanskrit có trong các sách nguyên bản.

2—Form as used by the occultist and the mystic.—2—Hình tướng như được nhà huyền bí học và nhà thần bí sử dụng.

The subject of this letter today will interest you for we are to take up form as used by the occultist and the mystic.

Đề tài của bức thư hôm nay sẽ làm các bạn quan tâm, vì chúng ta sẽ bàn về hình tướng như được nhà huyền bí học và nhà thần bí sử dụng.

It might be of value to us if we first differentiated with care between the two types. I would begin by a statement of fact. The mystic is not necessarily an occultist, but the occultist embraces the mystic. Mysticism is but one step on the path of occultism. In this solar system—the system of love in activity—the path of least resistance for the majority is that of the mystic, or the path of love and devotion. In the next solar system the path of least resistance will be that which we now understand as the occult path. The mystic path will have been trodden. Wherein lies the difference between these two types? The mystic deals with the evolving life; the occultist deals with the form.

Sẽ có giá trị cho chúng ta nếu trước hết phân biệt cẩn trọng giữa hai loại này. Tôi sẽ bắt đầu bằng một sự kiện. Nhà thần bí không nhất thiết là một nhà huyền bí học, nhưng nhà huyền bí học bao hàm nhà thần bí. Thần bí học chỉ là một bước trên con đường của huyền bí học. Trong hệ mặt trời này—hệ của bác ái trong hoạt động—con đường ít trở ngại nhất đối với đa số là con đường của nhà thần bí, hay con đường bác ái và sùng tín. Trong hệ mặt trời kế tiếp, con đường ít trở ngại nhất sẽ là điều mà hiện nay chúng ta hiểu là con đường huyền bí. Con đường thần bí khi ấy đã được bước qua. Vậy sự khác biệt giữa hai loại này ở đâu? Nhà thần bí đề cập đến sự sống đang tiến hoá; nhà huyền bí học đề cập đến hình tướng.

The mystic deals with the God within; the occultist with God in outer manifestation.

Nhà thần bí đề cập đến Thượng đế bên trong; nhà huyền bí học đề cập đến Thượng đế trong biểu hiện bên ngoài.

The mystic works from the centre to the periphery; the occultist reverses the process.

Nhà thần bí làm việc từ trung tâm ra chu vi; nhà huyền bí học đảo ngược tiến trình.

The mystic mounts by aspiration and intensest devotion to the God within or to the Master Whom he recognises; the occultist attains by the recognition of the law in operation and by the wielding of the law which binds matter and conforms it to the needs of the indwelling life. In this manner the occultist arrives at those Intelligences Who work with the law, till he attains the fundamental Intelligence Himself. [148]

Nhà thần bí vươn lên bằng khát vọng và sự sùng tín mãnh liệt nhất hướng đến Thượng đế bên trong hay hướng đến Chân sư mà y nhận biết; nhà huyền bí học đạt được bằng sự nhận biết định luật đang vận hành và bằng việc vận dụng định luật vốn ràng buộc vật chất và làm cho nó phù hợp với nhu cầu của sự sống nội tại. Bằng cách này, nhà huyền bí học đi đến những Đấng Thông Tuệ làm việc với định luật, cho đến khi y đạt đến chính Đấng Thông Tuệ nền tảng. [148]

The mystic works through the Rays of Love, Harmony and Devotion, or by the path of the second, the fourth and the sixth rays. The occultist works through the Rays of Power, Activity, and Ceremonial Law, or the first, the third and the seventh. Both meet and blend through the development of mind, or through the fifth Ray of Concrete Knowledge (a fragment of cosmic intelligence), and on this fifth ray the mystic is resolved into the occultist and works then with all the rays.

Nhà thần bí làm việc qua các Cung Bác ái, Hài hoà và Sùng tín, hay theo con đường của cung hai, cung bốn và cung sáu. Nhà huyền bí học làm việc qua các Cung Quyền lực, Hoạt động, và Định luật Nghi lễ, hay cung một, cung ba và cung bảy. Cả hai gặp nhau và hoà trộn qua sự phát triển của thể trí, hay qua Cung năm của Tri thức Cụ thể (một mảnh của trí tuệ vũ trụ), và trên cung năm này nhà thần bí được hoá giải vào nhà huyền bí học và rồi làm việc với mọi cung.

By finding the kingdom of God within himself and by the study of the laws of his own being, the mystic becomes proficient in the laws which govern the universe of which he is a part. The occultist recognises the kingdom of God in nature or the system and regards himself as a small part of that greater whole, and therefore governed by the same laws.

Bằng việc tìm thấy Thiên Giới bên trong chính mình và bằng việc nghiên cứu các định luật của chính bản thể mình, nhà thần bí trở nên tinh thông các định luật chi phối vũ trụ mà y là một phần. Nhà huyền bí học nhận biết Thiên Giới trong bản chất hay trong hệ thống và xem mình như một phần nhỏ của toàn thể lớn hơn ấy, và vì vậy bị chi phối bởi cùng các định luật.

The mystic works as a general rule under the department of the World Teacher, or the Christ, and the occultist more frequently under that of the Manu, or Ruler, but when both types have passed through the four minor rays in the department of the Lord of Civilisation, then a completion of their development may be seen, and the mystic becomes the occultist and the occultist includes the characteristics of the mystic. To make it more simple for general comprehension:—after initiation the mystic is merged in the occultist for he has become a student of occult law; he has to work with matter, with its manipulation and uses, and he has to master and control all lower forms of manifestation, and learn the rules whereby the building devas work. Before initiation the mystic path might be expressed by the term, Probationary Path. Before the occultist can manipulate wisely the matter of the solar system he must have mastered the laws that govern the microcosm, and even though he is naturally [149] on the occult path yet he will still have to find the God within his own being before he can safely venture on the path of occult law.

Nhà thần bí, như một quy luật chung, làm việc dưới bộ phận của Đức Chưởng Giáo, hay Đức Christ, còn nhà huyền bí học thường xuyên hơn dưới bộ phận của Đức Manu, hay Đấng Cai Quản, nhưng khi cả hai loại đã đi qua bốn cung phụ trong bộ phận của Chúa Tể của Văn Minh, thì có thể thấy sự hoàn tất phát triển của họ, và nhà thần bí trở thành nhà huyền bí học, còn nhà huyền bí học bao hàm các đặc tính của nhà thần bí. Để đơn giản hơn cho sự hiểu biết chung:—sau điểm đạo, nhà thần bí hoà nhập vào nhà huyền bí học vì y đã trở thành một đạo sinh của định luật huyền bí; y phải làm việc với vật chất, với sự thao tác và các công dụng của nó, và y phải làm chủ và kiểm soát mọi hình thức biểu hiện thấp, và học các quy luật nhờ đó các thiên thần kiến tạo làm việc. Trước điểm đạo, con đường thần bí có thể được diễn tả bằng thuật ngữ Con Đường Dự Bị. Trước khi nhà huyền bí học có thể thao tác một cách khôn ngoan vật chất của hệ mặt trời, y phải làm chủ các định luật chi phối tiểu thiên địa, và dù y vốn tự nhiên [149] ở trên con đường huyền bí, y vẫn phải tìm thấy Thượng đế bên trong chính bản thể mình trước khi có thể an toàn dấn bước trên con đường của định luật huyền bí.

The mystic seeks to work from the emotional to the intuitional, and thence to the Monad, or Spirit. The occultist works from the physical to the mental, and thence to the atma or Spirit. One works along the line of love; the other along the line of will. The mystic fails in the purpose of his being—that of love demonstrated in activity—unless he co-ordinates the whole through the use of intelligent will. Therefore he has to become the occultist.

Nhà thần bí tìm cách làm việc từ cảm xúc đến trực giác, và từ đó đến chân thần, hay tinh thần. Nhà huyền bí học làm việc từ hồng trần đến trí tuệ, và từ đó đến atma hay tinh thần. Một người làm việc theo con đường bác ái; người kia theo con đường ý chí. Nhà thần bí thất bại trong mục tiêu của bản thể y—đó là bác ái được chứng minh trong hoạt động—trừ khi y phối hợp toàn bộ bằng việc sử dụng ý chí thông tuệ. Vì vậy y phải trở thành nhà huyền bí học.

The occultist similarly fails and becomes only a selfish exponent of power working through intelligence, unless he finds a purpose for that will and knowledge by an animating love which will give to him sufficient motive for all that he attempts.

Tương tự, nhà huyền bí học cũng thất bại và chỉ trở thành một kẻ vị kỷ biểu hiện quyền lực qua trí tuệ, trừ khi y tìm thấy một mục đích cho ý chí và tri thức ấy bằng một bác ái sinh động sẽ trao cho y đủ động cơ cho mọi điều y cố gắng.

I have attempted to make clear to you the distinction between these two groups, as the importance of the matter is great when studying meditation. The form used by the two types is entirely different and when seen clairvoyantly is very interesting.

Tôi đã cố gắng làm rõ cho các bạn sự phân biệt giữa hai nhóm này, vì tầm quan trọng của vấn đề là rất lớn khi nghiên cứu tham thiền. Hình tướng được hai loại sử dụng hoàn toàn khác nhau và khi được thấy bằng thông nhãn thì rất thú vị.

The mystic form.—Hình tướng của nhà thần bí.

The expression, “the mystic form,” is almost a paradoxical remark, for the mystic—if left to himself—eliminates the form altogether. He concentrates upon the God within, brooding on that inner centre of consciousness; he seeks to link that centre with other centres—such as his Master, or some saint, or even with the supreme Logos Himself—and to mount by the line of life, paying no attention whatsoever to the environing sheaths. He works along the path of fire. “Our God is a consuming fire” [150] is to him a literal statement of fact, and of realised truth. He rises from fire to fire, and from graded realisations of the indwelling Fire till he touches the fire of the universe. The only form that the mystic may be said to use would be a ladder of fire or a cross of fire, by means of which he elevates his consciousness to the desired point. He concentrates on abstractions, on attributes more than on aspects, and on the life side more than the concrete. He aspires, he burns, he harmonises, he loves and he works through devotion. He meditates by attempting to eliminate the concrete mind altogether, and aspires to leap from the plane of the emotions to that of the intuition.

Cụm từ “hình tướng của nhà thần bí” gần như là một nhận xét nghịch lý, vì nhà thần bí—nếu để mặc y—sẽ loại bỏ hình tướng hoàn toàn. Y tập trung vào Thượng đế bên trong, trầm tư về trung tâm tâm thức nội tại ấy; y tìm cách nối kết trung tâm ấy với các trung tâm khác—như Chân sư của y, hay một vị thánh nào đó, hoặc thậm chí với chính Logos tối cao—và vươn lên theo sinh mệnh tuyến, hoàn toàn không chú ý gì đến các vỏ bọc bao quanh. Y làm việc theo con đường lửa. “Thượng đế của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt” [150] đối với y là một tuyên bố sự kiện theo nghĩa đen, và là chân lý đã được chứng nghiệm. Y vươn lên từ lửa đến lửa, và từ những chứng nghiệm theo cấp bậc về Lửa nội tại cho đến khi chạm đến lửa của vũ trụ. Hình tướng duy nhất mà có thể nói nhà thần bí sử dụng là một chiếc thang lửa hay một thập giá lửa, nhờ đó y nâng tâm thức mình lên đến điểm mong muốn. Y tập trung vào các trừu tượng, vào các thuộc tính hơn là vào các phương diện, và vào phía sự sống hơn là cái cụ thể. Y khát vọng, y bừng cháy, y hài hoà, y yêu thương và y làm việc qua sùng tín. Y tham thiền bằng cách cố gắng loại bỏ hoàn toàn trí cụ thể, và khát vọng nhảy vọt từ cõi cảm xúc sang cõi trực giác.

He has the faults of his type,—dreamy, visionary, impractical, emotional, and lacking that quality of mind that we call discrimination. He is intuitive, prone to martyrdom and self-sacrifice. Before he can achieve and before he can take initiation he has three things to do:—

Y có những khuyết điểm của loại mình,—mơ mộng, linh ảnh, thiếu thực tiễn, cảm xúc, và thiếu phẩm chất của trí tuệ mà chúng ta gọi là phân biện. Y có trực giác, dễ nghiêng về tử đạo và hi sinh bản thân. Trước khi y có thể đạt được và trước khi y có thể nhận điểm đạo y có ba điều phải làm:—

- First, by meditation, to bring his whole nature under rule, and to learn to build the forms, and hence to learn their value.

Thứ nhất, bằng tham thiền, đem toàn bộ bản chất của y vào dưới sự cai quản, và học cách xây dựng các hình tướng, và do đó học giá trị của chúng.

- Secondly, to develop appreciation of the concrete, and to learn clearly the place within the scheme of things of the various sheaths through which the life he so much loves has to manifest. He has to work at his mental body and bring it to the store house of facts before he can proceed much further.

Thứ hai, phát triển sự trân trọng đối với cái cụ thể, và học một cách rõ ràng vị trí của các vỏ bọc khác nhau trong hệ thống sự vật, qua đó sự sống mà y yêu mến đến thế phải biểu hiện. Y phải làm việc với thể trí của y và đưa nó đến kho tàng các sự kiện trước khi y có thể tiến xa hơn nhiều.

- Thirdly, to learn through the intelligent study of the microcosm, his little spirit-matter system, the dual value of the macrocosm.

Thứ ba, học qua việc nghiên cứu thông tuệ về tiểu thiên địa, hệ tinh thần-vật chất nhỏ bé của y, giá trị kép của đại thiên địa.

Instead of only knowing the fire that burns he has to understand and work through the fire that builds, that fuses and develops form. He has, through meditation, to learn the threefold use of Fire. This last sentence is of very real importance and I seek to emphasise it. [151]

Thay vì chỉ biết ngọn lửa thiêu đốt, y phải thấu hiểu và làm việc qua ngọn lửa kiến tạo, ngọn lửa dung hợp và phát triển hình tướng. Y phải, qua tham thiền, học việc sử dụng Lửa tam phân. Câu cuối này có tầm quan trọng rất thực, và tôi tìm cách nhấn mạnh nó. [151]

August 10, 1920.

Ngày 10 tháng 8, 1920.

The occult form.—Hình tướng của nhà huyền bí học.

We studied, two days ago, the method whereby the mystic attains union, and outlined very briefly the path whereby he attempts to reach his goal. Today we will outline as briefly the course taken by the occultist, and his type of meditation, contrasting it with that of the mystic, and pointing out later how the two have to merge and their individual elements be fused into one.

Chúng ta đã khảo cứu, hai ngày trước, phương pháp nhờ đó nhà thần bí đạt đến sự hợp nhất, và đã phác thảo thật vắn tắt con đường nhờ đó y cố gắng đạt mục tiêu của mình. Hôm nay chúng ta sẽ phác thảo, cũng vắn tắt như vậy, tiến trình mà nhà huyền bí học đi theo, và loại tham thiền của y, đối chiếu nó với loại của nhà thần bí, và về sau chỉ ra cách mà hai con đường ấy phải hòa nhập, và các yếu tố riêng rẽ của chúng phải được dung hợp thành một.

The line of form is, for the occultist, the line of least resistance, and incidentally I might here interpolate a thought. The fact being admitted, we may therefore look with some certainty at this time for a rapid development of occult knowledge, and for the appearance of some true occultists. By the coming in of the seventh ray, the Ray of Form or Ritual, the finding of the occult path, and the assimilation of occult knowledge is powerfully facilitated. The occultist is at first occupied more with the form through which the Deity manifests than with the Deity Himself, and it is here that the fundamental difference between the two types is at first apparent. The mystic eliminates or endeavours to transcend mind in his process of finding the Self. The occultist, through his intelligent interest in the forms which veil the Self and by the employment of the principle of mind on both its levels, arrives at the same point. He recognises the sheaths that veil. He applies himself to the study of the laws that govern the manifested solar system. He concentrates on the objective, and in his earlier years may at times overlook the value of the subjective. He arrives eventually at the central life by the elimination, through conscious knowledge and control, of sheath after sheath. He meditates upon form until the form is lost sight of, and the creator of the form becomes all in all. [152]

Đối với nhà huyền bí học, tuyến đường của hình tướng là con đường ít trở ngại nhất, và nhân đây tôi có thể xen vào một ý. Khi sự kiện ấy đã được thừa nhận, vì vậy vào lúc này chúng ta có thể khá chắc chắn trông đợi một sự phát triển nhanh chóng của tri thức huyền bí, và sự xuất hiện của một số nhà huyền bí học chân chính. Do sự đi vào của cung bảy, Cung của Hình Tướng hay Nghi Lễ, việc tìm ra con đường huyền bí và sự đồng hóa tri thức huyền bí được hỗ trợ mạnh mẽ. Lúc đầu, nhà huyền bí học bận tâm nhiều hơn với hình tướng qua đó Thượng đế biểu lộ hơn là với chính Thượng đế, và chính tại đây sự khác biệt căn bản giữa hai loại người trước hết trở nên hiển nhiên. Nhà thần bí loại bỏ, hoặc cố gắng vượt lên trên thể trí trong tiến trình tìm ra Chân Ngã. Nhà huyền bí học, nhờ mối quan tâm thông minh đối với các hình tướng che phủ Chân Ngã và nhờ vận dụng nguyên khí của thể trí trên cả hai cấp độ của nó, đạt đến cùng một điểm. Y nhận ra các vỏ bọc che phủ. Y chuyên tâm nghiên cứu các định luật chi phối hệ mặt trời đã biểu lộ. Y tập trung vào cái khách quan, và trong những năm đầu đôi khi có thể bỏ qua giá trị của cái chủ quan. Cuối cùng y đi đến sự sống trung tâm bằng cách loại bỏ, qua tri thức và sự kiểm soát có ý thức, hết vỏ bọc này đến vỏ bọc khác. Y tham thiền về hình tướng cho đến khi hình tướng không còn được thấy nữa, và đấng sáng tạo ra hình tướng trở thành tất cả trong tất cả. [152]

He, like the mystic, has three things to do:—

Y, cũng như nhà thần bí, có ba điều phải làm:—

1—He has to learn the law and to apply that law to himself. Rigid self-discipline is his method, and necessarily so, for the dangers threatening the occultist are not those of the mystic. Pride, selfishness, and a wielding of the law from curiosity or desire for power have to be burnt out of him before the secrets of the Path can safely be entrusted to his care.

1—Y phải học định luật và áp dụng định luật ấy vào chính mình. Kỷ luật bản thân nghiêm ngặt là phương pháp của y, và tất yếu phải như vậy, vì những nguy hiểm đe dọa nhà huyền bí học không phải là những nguy hiểm của nhà thần bí. Tính kiêu ngạo, lòng ích kỷ, và việc vận dụng định luật do tò mò hoặc do ham muốn quyền lực phải được thiêu đốt khỏi y trước khi các bí mật của Con Đường có thể được giao phó an toàn cho sự chăm nom của y.

2—In meditation he has, through the form built, to concentrate upon the indwelling life. He has to seek the inner burning fire that irradiates all forms that shelter the divine life.

2—Trong tham thiền, qua hình tướng đã được xây dựng, y phải tập trung vào sự sống nội tại. Y phải tìm ngọn lửa cháy bên trong, ngọn lửa chiếu rạng mọi hình tướng che chở sự sống thiêng liêng.

3—Through the scientific study of the macrocosm, “the kingdom of God without,” he has to reach a point where he locates that kingdom likewise within.

3—Qua sự nghiên cứu khoa học về đại thiên địa, “Thiên Giới ở bên ngoài,” y phải đạt đến một điểm mà tại đó y cũng định vị Thiên Giới ấy ở bên trong.

Here, therefore, is the merging point of the mystic and the occultist. Here their paths become one. I spoke earlier in this letter of the interest to the clairvoyant in noting the difference in the forms built by the mystic and the occultist in meditation. I might touch on some of the differences for your interest, though until such vision is yours my point may be but words to you.

Vì vậy, đây là điểm hòa nhập của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tại đây con đường của họ trở thành một. Trước đó trong bức thư này tôi đã nói về mối quan tâm của nhà thông nhãn khi ghi nhận sự khác biệt trong các hình tướng được xây dựng bởi nhà thần bí và nhà huyền bí học trong tham thiền. Tôi có thể đề cập đến một vài khác biệt để các bạn quan tâm, mặc dù cho đến khi linh thị ấy là của các bạn, điều tôi nói có lẽ chỉ là lời lẽ đối với các bạn.

Occult and mystic forms clairvoyantly seen.—Các hình tướng huyền bí và thần bí được thấy bằng thông nhãn.