[←11]
[←11]
These seven Life-Streams and the six additional ingresses for the lowest Elemental Kingdom in the remaining six Chains, thirteen in all, are the successive impulses which make up, for this Scheme, what Theosophists call the `second Life-wave,’ i.e., the form-evolving current of Life from the Second LOGOS, the Vishnu of the Hindu, the Son of the Christian, Trinities.
Bảy Dòng Sự Sống này và sáu lần nhập lưu bổ sung cho giới hành khí thấp nhất trong sáu Dãy còn lại, tổng cộng mười ba, là các xung lực kế tiếp nhau tạo thành, đối với hệ hành tinh này, điều các nhà Thông Thiên Học gọi là “làn sóng Sự Sống thứ hai,” tức dòng Sự Sống tiến hoá hình tướng từ Thượng đế thứ hai, Vishnu của người Hindu, Con của các Ba Ngôi Kitô giáo.
[←12]
[←12]
“My Father worketh hitherto and I work.” S. John, 17. See in Chapter V the description of this on our Earth, when the Spirit of the Moon incarnates therein.
“Cha Ta làm việc cho đến nay, và Ta cũng làm việc.” Thánh John, 17. Xem trong Chương V phần mô tả điều này trên Trái Đất của chúng ta, khi Tinh thần của Mặt Trăng lâm phàm trong đó.
[←13]
[←13]
Psalms, ciii, 21.
Thánh Vịnh, ciii, 21.
[←14]
[←14]
Those who have passed the fourth Great Initiation.
Những vị đã vượt qua Cuộc Điểm Đạo Vĩ Đại thứ tư.
[←15]
[←15]
(³ Those who have passed the fifth Great Initiation.
(³ Những vị đã vượt qua Cuộc Điểm Đạo Vĩ Đại thứ năm.
[←16]
[←16]
Nirvanic.
Niết Bàn.
[←17]
[←17]
Buddhic.
Bồ đề.
[←18]
[←18]
It may be remembered that the first and second Races on our present world also showed something of this peculiarity, though on a level so much lower.
Có thể nhớ rằng các Nhân loại thứ nhất và thứ hai trên thế giới hiện tại của chúng ta cũng biểu lộ phần nào đặc điểm này, dù ở một cấp độ thấp hơn rất nhiều.
[←19]
[←19]
2 The Hindus divide time into cycles composed of four Yugas, or Ages, that succeed each other, the Satya, the first of the series, being the most spiritual and the longest. When the fourth is ended, a new cycle opens, again with a Satya.
2 Người Hindu chia thời gian thành các chu kỳ gồm bốn Yuga, hay Thời đại, nối tiếp nhau; Satya, thời đại đầu tiên trong loạt này, là thời đại tinh thần nhất và dài nhất. Khi thời đại thứ tư kết thúc, một chu kỳ mới mở ra, lại bắt đầu bằng Satya.
[←20]
[←20]
The Barhishad Pitris of The Secret Doctrine.
Các Barhishad Pitris của Giáo Lý Bí Nhiệm.
[←21]
[←21]
2 These Asuras acted on the second Chain as Barhishad Pitris, and on the third as Agnishvatta Pitris, and formed one of the highest classes of the superhuman Manasaputras who came to our earth, according to The Secret Doctrine. It must be remembered that these stages are all superhuman; they apparently indicate the superhuman stages of the fifth of the seven Paths named on p.14. In The Secret Doctrine a difficulty is created by the use of this same name Asuras for those who left the lunar Chain from the first globe of its seventh Round, and who caused trouble on Earth by `refusing to create’. Readers of The Pedigree of Man must correct it by this, and by details given later, for I was led into a mistake by the double use of the word in The Secret Doctrine. The human beings can never exist, as such, on more than two successive Chains. They must have become Supermen, for such appearance.–AB.
2 Các Asura này đã hoạt động trên Dãy thứ hai như Barhishad Pitris, và trên dãy thứ ba như Agnishvatta Pitris, và tạo thành một trong những lớp cao nhất của các Manasaputra siêu nhân đã đến Trái Đất chúng ta, theo Giáo Lý Bí Nhiệm. Cần nhớ rằng tất cả các giai đoạn này đều siêu nhân; dường như chúng chỉ các giai đoạn siêu nhân của con đường thứ năm trong bảy Con Đường được nêu ở trang 14. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm có một khó khăn phát sinh do việc dùng cùng tên Asuras này cho những vị đã rời Dãy Mặt Trăng từ bầu hành tinh thứ nhất của cuộc tuần hoàn thứ bảy của nó, và đã gây rắc rối trên Trái Đất bằng cách “từ chối sáng tạo”. Độc giả của Gia Phả của Con Người phải sửa điều đó bằng ghi chú này, và bằng các chi tiết được đưa ra về sau, vì tôi đã bị dẫn vào sai lầm bởi việc dùng hai nghĩa của từ này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Con người không bao giờ có thể tồn tại, với tư cách như thế, trên hơn hai Dãy liên tiếp. Họ hẳn đã trở thành Siêu nhân mới có sự xuất hiện như vậy. – AB.
[←22]
[←22]
In the nomenclature of The Secret Doctrine, becoming its Barhishad Pitris.
Theo danh pháp của Giáo Lý Bí Nhiệm, trở thành các Barhishad Pitris của nó.
[←23]
[←23]
The official titles of the Heads–the King and the Priest, the Ruler and the Teacher–of a Root Race.
Các danh hiệu chính thức của những Vị Đứng Đầu, Vua và Tư tế, Người Cai trị và Huấn sư, của một Giống dân Gốc.
[←24]
[←24]
See `Rents in the Veil of Time’ in The Theosophist of 1910, The Mahaguru is the Lord Gautama, Surya is the Lord Maitreya. Why did these animals come into this close connection with those who were to be their Masters on the then far-off Earth? Had they been plants tended by them, as we tend our plants now, in the higher cases–for the Lord Gautama and Maitreya were men on the second Chain–or in the lower cases animals and plants that had an affinity for each other?.
Xem “Những Vết Rách trong Bức Màn Thời Gian” trong The Theosophist năm 1910. Đức Mahaguru là Đức Gautama, Surya là Đức Maitreya. Vì sao các con vật này lại đi vào mối liên hệ gần gũi như thế với những vị sẽ là các Chân sư của chúng trên Trái Đất lúc ấy còn xa xôi? Phải chăng chúng đã từng là cây cối được các Ngài chăm sóc, như chúng ta hiện nay chăm sóc cây của mình, trong các trường hợp cao hơn, vì Đức Gautama và Maitreya là những con người trên Dãy thứ hai, hoặc trong các trường hợp thấp hơn, là các con vật và cây cối có sự tương hợp với nhau?
[←25]
[←25]
See on this C. W. Leadbeater’s `Modes of Individualisation’, in The Inner Life, vol, ii, § 6.
Về điều này, xem “Các Cách Biệt Ngã Hóa” của C. W. Leadbeater, trong Đời Sống Nội Tâm, quyển ii, § 6.
[←26]
[←26]
In the household of Mars were: Herakles, Siwa, Corona, Vajra, Capella, Pindar, Beatrix, Lutetia, Theodoros, Ulysses, Aurora. In the household of Mercury: Sirius, Alcyone, Mizar, Orion, Achilles, Hector, Albireo, Olympia, Aldebaran, Leo, Castor, Rhea.
Trong gia đình của Mars có: Herakles, Siwa, Corona, Vajra, Capella, Pindar, Beatrix, Lutetia, Theodoros, Ulysses, Aurora. Trong gia đình của Mercury: Sirius, Alcyone, Mizar, Orion, Achilles, Hector, Albireo, Olympia, Aldebaran, Leo, Castor, Rhea.
[←27]
[←27]
Atma, Buddhi, Manas.
Atma, Bồ đề, Manas.
[←28]
[←28]
The vehicle of desire, Kama.
Vận cụ của dục vọng, Kama.
[←28*]
[←28*]
It will, of course, be understood that the seven hundred and one thousand two hundred years’ intervals are `averages,’ and the `exact’ length of each interval will depend on the length and conditions of the preceding life. There is this marked difference between the sub-groups, as though the members of the one lived with greater intensity than the other in the heaven-world, and thus crowded a similar amount into a briefer time.
Dĩ nhiên, cần hiểu rằng các khoảng cách bảy trăm và một ngàn hai trăm năm là “trung bình,” và độ dài “chính xác” của mỗi khoảng sẽ tùy thuộc vào độ dài và các điều kiện của kiếp sống trước đó. Có sự khác biệt rõ rệt này giữa các phân nhóm, như thể các thành viên của nhóm này sống với cường độ lớn hơn nhóm kia trong cõi thiên, và do đó nén một lượng kinh nghiệm tương tự vào một thời gian ngắn hơn.
[←29]
[←29]
See the suggestive little book, Two New Worlds, by E. E. Fournier d’ Albe.
Xem quyển sách nhỏ gợi ý nhiều điều, Hai Thế Giới Mới, của E. E. Fournier d’Albe.
[←30]
[←30]
See Ante, p.65.
Xem trước đây, trang 65.
[←31]
[←31]
The Root-Manu Vaivasvata must not be confused with the Manu Vaivasvata of the Aryan Root Race. The former was a far loftier Being, as will be seen from the statement of His long ascent, made in this same paragraph.
Đức Căn Manu Vaivasvata không được lẫn lộn với Đức Manu Vaivasvata của Giống dân Gốc Arya. Vị trước là một Hữu Thể cao cả hơn rất nhiều, như sẽ thấy qua lời trình bày về sự thăng tiến lâu dài của Ngài, được đưa ra trong cùng đoạn này.
[←32]
[←32]
It must be remembered that when a man reaches the level appointed for the Chain on which he is evolving, he may remain upon it and proceed on his further evolution, as Adepts, attaining now on our globe, may, without leaving it, reach the higher levels of the Hierarchy.
Cần nhớ rằng khi một người đạt đến cấp độ được ấn định cho Dãy mà y đang tiến hoá trên đó, y có thể ở lại trên đó và tiếp tục sự tiến hoá xa hơn của mình, cũng như các Chân sư, hiện đang thành tựu trên bầu hành tinh của chúng ta, có thể, không cần rời khỏi nó, đạt đến các cấp độ cao hơn của Thánh đoàn.
[←33]
[←33]
The Secret Doctrine, (1897 Edition. Iii), 560; (Adyar Edition. V), 533.
Giáo Lý Bí Nhiệm, Ấn bản 1897, iii, 560; Ấn bản Adyar, v, 533.
[←34]
[←34]
The word Manasaputra is used in The Secret Doctrine to indicate not only These, but also all egos who are sufficiently advanced to quicken into activity the germ of mind in others, as we may now do with animals. The word thus covers a huge class, containing many varying grades in evolution.
Từ Manasaputra được dùng trong Giáo Lý Bí Nhiệm để chỉ không chỉ các Vị này, mà còn tất cả các chân ngã đã tiến bộ đủ để làm linh hoạt mầm trí tuệ nơi những kẻ khác, như hiện nay chúng ta có thể làm với các con vật. Như vậy, từ này bao trùm một lớp rất lớn, chứa nhiều cấp độ tiến hoá khác nhau.
[←35]
[←35]
See Ante, p.65.
Xem trước đây, trang 65.
[←36]
[←36]
All these are included under the name Barhishad Pitris in The Secret Doctrine.
Tất cả các vị này được bao gồm dưới tên Barhishad Pitris trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
[←37]
[←37]
See Ante, p. 32.
Xem trước đây, trang. 32.
[←38]
[←38]
See Ante, p. 65.
Xem trước đây, trang. 65.
[←39]
[←39]
While this is going through the press a report has appeared in the newspapers of the discovery of some skulls of this type, but no particulars are yet available. See The Theosophist for August, 1912, in `On the Watch-Tower, p.631.
Trong khi phần này đang được đưa in, trên báo chí đã xuất hiện một bản tin về việc phát hiện một số hộp sọ thuộc kiểu này, nhưng hiện chưa có chi tiết nào. Xem The Theosophist tháng Tám, 1912, trong mục “Trên Tháp Canh,” trang 631.
[←40]
[←40]
The Secret Doctrine, (1897 Edition. ii, 294, 295; (Adyar Edition. iii, 282, 283.
Giáo Lý Bí Nhiệm, Ấn bản 1897, ii, 294, 295; Ấn bản Adyar, iii, 282, 283.
[←41]
[←41]
It may be noted that while the general rule was that the less evolved should be sent first to the Earth. exceptions were made where help was wanted, as in this case with this special boatload.
Có thể lưu ý rằng, trong khi quy luật chung là những kẻ kém tiến hoá hơn sẽ được gửi đến Trái Đất trước, vẫn có những ngoại lệ khi cần sự trợ giúp, như trong trường hợp chiếc thuyền đặc biệt này.
[←42]
[←42]
These intervals must be taken provisionally; the intervals between death and re-birth in this group and in the one mentioned below were relatively about as these lengths.
Các khoảng này phải được xem là tạm thời; khoảng giữa cái chết và sự tái sinh trong nhóm này và trong nhóm được nhắc dưới đây tương đối xấp xỉ như những độ dài này.
[←43]
[←43]
They were once Sir Thomas More and `Philalethes’ Thomas Vaughan.
Họ từng là Sir Thomas More và “Philalethes” Thomas Vaughan.
[←44]
[←44]
Known in later history as Julius Caesar.
Được biết trong lịch sử về sau là Julius Caesar.
[←45]
[←45]
See the Proem for these and other names.
Xem Lời Mở Đầu về các tên này và những tên khác.
[←46]
[←46]
Usually given roughly as the 80,000 B.C. catastrophe.
Thường được nêu đại khái là thảm họa năm 80.000 trước Công nguyên.
[←47]
[←47]
See `Rents in the Veil of Time,’ The Theosophist, May, 1910.
Xem “Những Vết Rách trong Bức Màn Thời Gian,” The Theosophist, tháng Năm, 1910.
[←48]
[←48]
Chariots which moved in the air–the ancient aeroplanes.
Những cỗ xe di chuyển trong không trung, tức các máy bay cổ đại.
[←49]
[←49]
The Secret Doctrine (1897 Edition. ii, 445, 446; (Adyar Edition. iii, 424, 425.
Giáo Lý Bí Nhiệm, Ấn bản 1897, ii, 445, 446; Ấn bản Adyar, iii, 424, 425.
[←50]
[←50]
A good account of this may be read in The Story of Atlantis by W. Scott-Elliot. The writers of the present book were among the collaborateurs who collected the materials therein so ably arranged and presented; so the ground is very familiar to us.
Có thể đọc một tường thuật hay về điều này trong Câu Chuyện Atlantis của W. Scott-Elliot. Những người viết quyển sách hiện tại nằm trong số các cộng tác viên đã thu thập các tài liệu được sắp xếp và trình bày rất khéo léo trong đó; vì vậy, nền tảng ấy rất quen thuộc với chúng tôi.
[←51]
[←51]
Wheat, bees and ants were brought from Venus by the Lords of the Flame, and the crossing of these with species already existing on the earth brought about the results named. The nature-spirits in charge of some departments of animal and vegetable evolution also attempted on their own account to imitate, with the purely terrestrial resources at their disposal, these importations from another planet. Their efforts, which were only partially successful, are responsible for some of the more unpleasant results above-mentioned.
Lúa mì, ong và kiến được các Chúa Tể của Lửa đem từ Sao Kim đến, và sự lai phối chúng với các loài đã hiện hữu trên Trái Đất đã đem lại các kết quả được nêu. Các tinh linh tự nhiên phụ trách một số ngành của tiến hoá động vật và thực vật cũng tự mình cố gắng bắt chước, với các tài nguyên thuần túy thuộc Trái Đất sẵn có cho họ, những du nhập từ một hành tinh khác này. Các nỗ lực của họ, vốn chỉ thành công một phần, chịu trách nhiệm cho một số kết quả khó chịu hơn đã được nhắc ở trên.
[←52]
[←52]
The exclusion of women from political power in England only came, it should be remembered, with the growth of democracy, and the consequent idea that physical force, not intelligence or character, should be the basis of Government. This is the nadir of political life, as the occult system is its zenith.
Việc loại trừ phụ nữ khỏi quyền lực chính trị ở Anh, cần nhớ, chỉ xảy ra cùng với sự phát triển của dân chủ, và ý tưởng kéo theo rằng sức mạnh thể chất, chứ không phải trí thông minh hay Tính cách, phải là nền tảng của Chính phủ. Đây là thiên đế của đời sống chính trị, cũng như hệ thống huyền bí là thiên đỉnh của nó.
[←53]
[←53]
The opening pages of this description of Ancient Peru, as given in The Theosophical Review, will be found in Appendix iii, with a brief statement of the circumstances under which it was originally written.
Các trang mở đầu của phần mô tả này về Peru Cổ đại, như được đưa ra trong The Theosophical Review, sẽ được tìm thấy trong Phụ lục iii, cùng với một trình bày ngắn về các hoàn cảnh trong đó nó vốn được viết.
[←54]
[←54]
Readers of ancient Hindu literature will at once recognise the likeness between this system and that prevailing among the Aryans in the early days. This is but natural, since the successive Manus are all members of the same Hierarchy, and are engaged in similar work.
Độc giả văn học Hindu cổ sẽ lập tức nhận ra sự tương tự giữa hệ thống này và hệ thống thịnh hành giữa người Arya trong những ngày đầu. Điều này chỉ là tự nhiên, vì các Đức Manu kế tiếp đều là thành viên của cùng một Thánh đoàn, và đang tham gia vào công việc tương tự.
[←55]
[←55]
See Appendix IV.
Xem Phụ lục IV.
[←56]
[←56]
Indeed, we may say at once that the Chaldaean theory upon these s ubjects was practically that which is held by many Theosophists at the present day. Mr. C. W. Leadbeater, in A Textbook of Theosophy and The Hidden Side of Things, has made, as the result of his own investigations, a statement on p lanetary influences which is to all intents and purposes identical with the belief held thousands of years ago (as the result of similar investigations. by the Chaldaean priests.
Thật vậy, chúng ta có thể nói ngay rằng lý thuyết Chaldea về các đề tài này thực tế là lý thuyết hiện nay được nhiều nhà Thông Thiên Học nắm giữ. Ông C. W. Leadbeater, trong Một Giáo Trình Thông Thiên Học và Mặt Khuất của Sự Vật, đã đưa ra, như kết quả từ các khảo cứu của chính ông, một trình bày về các ảnh hưởng hành tinh mà về mọi phương diện thực tế đều giống hệt niềm tin được các tư tế Chaldea nắm giữ hàng ngàn năm trước, như kết quả của các khảo cứu tương tự.
[←57]
[←57]
Erato, one of the Fellows of the Theosophical Society, some of whose lives are given in `Rents in the veil of Time’ in The Theosophist.
Erato, một trong các Hội viên của Hội Thông Thiên Học, một số kiếp sống của bà được đưa ra trong “Những Vết Rách trong Bức Màn Thời Gian” trong The Theosophist.
[←58]
[←58]
This was the condition in which they were about 75,000 B.C., when Vaivasvata Manu led His small caravan through them.
Đây là tình trạng của họ vào khoảng năm 75.000 trước Công nguyên, khi Đức Manu Vaivasvata dẫn đoàn lữ hành nhỏ của Ngài đi qua họ.
[←59]
[←59]
See Chapter XVIII.
Xem Chương XVIII.
[←60]
[←60]
Usually called that of 80,000 B.C.
Thường được gọi là thảm họa năm 80.000 trước Công nguyên.
[←61]
[←61]
Five-sixths of the nine thousand were from the fifth sub-race; one-twelfth were Akkadian, and one-twelfth Toltec, each the best of its kind.
Năm phần sáu trong số chín ngàn là từ giống dân phụ thứ năm; một phần mười hai là Akkadian, và một phần mười hai là Toltec, mỗi nhóm đều là loại tốt nhất của mình.
[←62]
[←62]
See Appendix III.
Xem Phụ lục III.
[←63]
[←63]
We were much surprised at finding what was evidently a form of Samskrit existing such an enormous time ago in a recognisable form. It appeared that the language brought from Venus by the Lords of the Flame was this mother-Samskrit–truly a `divine language’ –and, while the people were in touch with Them, it persisted without much change.
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy điều rõ ràng là một hình thức của Samskrit đã tồn tại từ một thời xa xưa khổng lồ như thế trong một dạng còn nhận ra được. Dường như ngôn ngữ do các Chúa Tể của Lửa đem từ Sao Kim đến chính là Samskrit mẹ này, thật sự là một “ngôn ngữ thiêng liêng”; và khi dân chúng còn tiếp xúc với các Ngài, nó tồn tại mà không thay đổi nhiều.
[←64]
[←64]
Readers of `Rents in the Veil of Time,’ The Theosophist, July, 1910, will remember in Alcyone’s Life, X, the description of the gathering of the Chiefs of the emigration in this Hall, and the appearing of the four Kumaras.
Độc giả của “Những Vết Rách trong Bức Màn Thời Gian,” The Theosophist, tháng Bảy, 1910, sẽ nhớ trong Kiếp X của Alcyone phần mô tả cuộc tụ họp của các Thủ lĩnh cuộc di cư trong Đại Sảnh này, và sự xuất hiện của bốn Kumara.
[←65]
[←65]
The Gobi Sea, at that time, was a little smaller than the present Black Sea in Europe.
Biển Gobi, vào thời ấy, nhỏ hơn một chút so với Biển Đen hiện nay ở châu Âu.
[←66]
[←66]
If the present writers had known at the time of the existence of these carvings, they might have saved themselves much trouble in their researches into occult Chemistry.
Nếu các tác giả hiện tại vào thời điểm ấy biết đến sự tồn tại của những hình chạm khắc này, họ có thể đã tiết kiệm cho mình nhiều công sức trong các khảo cứu về Hóa Học Huyền Bí.
[←67]
[←67]
Called also Manova, the City of Manu.
Cũng được gọi là Manova, Thành phố của Manu.
[←68]
[←68]
Shamballa is still the Imperishable Sacred Land, where dwell the four Kumaras, and where gather every seven years, Initiates of all nations.
Shamballa vẫn là Vùng Đất Thiêng Liêng Bất Diệt, nơi bốn Kumara cư ngụ, và nơi cứ mỗi bảy năm các điểm đạo đồ của mọi quốc gia tụ hội.
[←69]
[←69]
The name, translated from the Samskrit, means `Eternal Virgin,’ the termination showing that `Virgin’ is masculine.
Tên này, dịch từ tiếng Samskrit, có nghĩa là “Trinh Nữ Vĩnh Cửu,” phần kết thúc của từ cho thấy “Trinh Nữ” là giống đực.
[←70]
[←70]
In later time, when the population of the City had grown very large, officials received it, to distribute to the houses in their districts.
Về sau, khi dân số của Thành phố đã tăng lên rất lớn, các viên chức tiếp nhận nó để phân phối đến các nhà trong khu vực của họ.
[←71]
[←71]
See Chapter XIV.
Xem Chương XIV.
[←72]
[←72]
See Appendix vii, for the complete lists.
Xem Phụ lục vii để có các danh sách đầy đủ.
[←73]
[←73]
See Appendix viii, for complete lists.
Xem Phụ lục viii để có các danh sách đầy đủ.
[←74]
[←74]
See Appendix ix.
Xem Phụ lục ix.
[←75]
[←75]
Possibly out of this arose the later teaching of Ormuzd and Ahriman. There are passages which show that the double of Ormuzd was not originally an evil power, but rather matter, while Ormuzd was Spirit.
Có thể từ điều này đã phát sinh giáo lý về sau của Ormuzd và Ahriman. Có những đoạn cho thấy đối phần của Ormuzd ban đầu không phải là một quyền lực tà ác, mà đúng hơn là vật chất, trong khi Ormuzd là Tinh thần.
[←76]
[←76]
Our band of Servers took no part in the founding of the fourth and fifth sub-races. They were at work in many countries, and may be met in the Lives of Alcyone.
Đoàn Người Phụng Sự của chúng tôi không tham gia vào việc sáng lập các giống dân phụ thứ tư và thứ năm. Họ làm việc ở nhiều quốc gia, và có thể gặp họ trong Các Kiếp Sống của Alcyone.
[←77]
[←77]
See Appendix X.
Xem Phụ lục X.
[←78]
[←78]
See Appendix X.
Xem Phụ lục X.
[←79]
[←79]
See Appendix XI.
Xem Phụ lục XI.
[←80]
[←80]
See Appendix XII. For a graphic account of it, see the tenth life in The Lives of Alcyone.
Xem Phụ lục XII. Để có một tường thuật sinh động về điều đó, xem kiếp thứ mười trong Các Kiếp Sống của Alcyone.
[←81]
[←81]
See Appendix XIII.
Xem Phụ lục XIII.