← Man : Whence, How and Whither

TRAINING THE IMAGINATION — HUẤN LUYỆN SỰ TƯỞNG TƯỢNG

TRAINING THE IMAGINATION — HUẤN LUYỆN SỰ TƯỞNG TƯỢNG

Let me take as an example the practice of a school attached to one of the yellow Temples, and see how they begin the intellectual development of the lowest class. First the master sets before them a little shining ball, and they are asked to make an image of it in their minds. Some who are quite babies can do it really well. The teacher says:

Hãy để tôi lấy làm ví dụ thực hành của một trường gắn với một trong các Đền màu vàng, và xem họ bắt đầu sự phát triển trí tuệ của lớp thấp nhất như thế nào. Trước hết vị thầy đặt trước chúng một quả cầu nhỏ sáng chói, và chúng được yêu cầu tạo một hình ảnh của nó trong trí mình. Một số em còn rất bé có thể làm điều đó thật sự tốt. Giáo viên nói:

“You can see my face; now, shut your eyes; can you see it still? Now look at this ball; can you shut your eyes and still see it?”

“Các con có thể thấy mặt thầy; bây giờ, hãy nhắm mắt lại; các con vẫn có thể thấy nó chứ? Bây giờ hãy nhìn quả cầu này; các con có thể nhắm mắt lại mà vẫn thấy nó chứ?”

The teacher, by the use of his clairvoyant faculty, can see whether or not the children are making satisfactory images. Those who can do it are set to practise day by day, with all sorts of simple forms and colours. Then they are asked to suppose that point moving, and leaving a track behind it as a shooting star does; then to imagine the luminous track, that is to say, a line. Then they are asked to imagine this line as moving at right angles to itself, every point in it leaving a similar track, and thus they mentally construct for themselves a square. Then all sorts of permutations and divisions of that square are put before them. It is broken up into triangles of various sorts, and it is explained to them that in reality all these things are living symbols with a meaning. Even quite the babies are taught some of these things.

Giáo viên, bằng cách sử dụng năng lực thông nhãn của mình, có thể thấy trẻ em có tạo được các hình ảnh thỏa đáng hay không. Những em có thể làm điều đó được cho thực hành ngày này qua ngày khác, với đủ mọi hình tướng và màu sắc đơn giản. Rồi chúng được yêu cầu giả định rằng điểm ấy đang chuyển động, và để lại một vệt phía sau như một ngôi sao băng; rồi tưởng tượng vệt sáng ấy, nghĩa là một đường thẳng. Sau đó chúng được yêu cầu tưởng tượng đường thẳng này đang chuyển động vuông góc với chính nó, mỗi điểm trong nó để lại một vệt tương tự, và như vậy chúng tự kiến tạo trong trí mình một hình vuông. Rồi đủ mọi hoán vị và phân chia của hình vuông ấy được đặt trước chúng. Nó được chia thành những tam giác thuộc nhiều loại khác nhau, và người ta giải thích cho chúng rằng thật ra tất cả những điều này là các biểu tượng sống có ý nghĩa. Ngay cả những em rất bé cũng được dạy một số điều này.

“What does the point mean to you?”

“Điểm ấy có nghĩa gì đối với con?”

“One.”

“Một.”

“Who is One?”

“Ai là Một?”

“God.”

“Thượng đế.”

“Where is He?”

“Ngài ở đâu?”

“He is everywhere.”

“Ngài ở khắp nơi.”

And then presently they learn that two signifies the duality of Spirit and matter, that three dots of a certain kind and colour mean three aspects of the Deity, while three others of a different kind mean the soul in man. A later class has also an intermediate three which obviously mean the Monad. In this way, by associating grand ideas with simple objects, even tiny little children possess an amount of Theosophical information which would seem quite surprising to a person accustomed to an older and less intelligent educational system. An ingenious kind of kindergarten machine was observed, a sort of ivory ball—at least it looked like ivory—which, when a spring is touched, opens out into a cross with a rose drawn upon it like the Rosicrucian symbol, out of which come a number of small balls each of which in turn subdivides. By another movement it can be made to close again, the mechanism being cleverly concealed. This is meant as a symbol to illustrate the idea of the One becoming many and of the eventual return of the many into the One.

Và rồi chẳng bao lâu chúng học rằng hai biểu thị Nhị nguyên của Tinh thần và vật chất, rằng ba chấm thuộc một loại và màu sắc nào đó có nghĩa là ba phương diện của Thượng đế, trong khi ba chấm khác thuộc một loại khác có nghĩa là linh hồn trong con người. Một lớp về sau cũng có một bộ ba trung gian, rõ ràng có nghĩa là chân thần. Theo cách này, bằng cách liên kết các ý tưởng cao cả với các đối tượng đơn giản, ngay cả trẻ rất nhỏ cũng sở hữu một lượng thông tin Thông Thiên Học có vẻ khá đáng ngạc nhiên đối với một người quen với một hệ thống giáo dục cũ hơn và kém thông minh hơn. Người ta quan sát thấy một loại máy mẫu giáo khéo léo, một thứ quả cầu bằng ngà—ít nhất trông giống như ngà—khi chạm vào một lò xo thì mở ra thành một thập giá có vẽ một bông hồng trên đó giống như biểu tượng Rosicrucian, từ đó xuất hiện một số quả cầu nhỏ, mỗi quả lại lần lượt phân chia. Bằng một chuyển động khác, nó có thể được làm khép lại, cơ cấu được che giấu một cách tài tình. Điều này nhằm làm biểu tượng minh họa ý tưởng về Đấng Duy Nhất trở thành nhiều, và về sự trở về cuối cùng của nhiều vào Đấng Duy Nhất.

MORE ADVANCED CLASSES — CÁC LỚP CAO HƠN

For a later class that luminous square moves again at right angles to itself and produces a cube, and then still later the cube moves at right angles to itself and produces a tesseract, and most of the children are able to see it and to make its image clearly in their minds. Children who have a genius for it are taught to paint pictures, trees and animals, landscapes and scenes from history, and each child is taught to make his picture living. He is taught that the concentration of his thought can actually alter the physical picture, and the children are proud when they can succeed in doing this. Having painted a picture as well as they can, the children concentrate upon it and try to improve it, to modify it by their thought. In a week or so, working at the concentration for some time each day, they are able to produce considerable modifications, and a boy of fourteen can, from much practice, do it quite rapidly.

Đối với một lớp về sau, hình vuông sáng ấy lại chuyển động vuông góc với chính nó và tạo ra một hình lập phương, rồi về sau nữa hình lập phương chuyển động vuông góc với chính nó và tạo ra một tesseract, và phần lớn trẻ em có thể thấy nó và tạo hình ảnh của nó rõ ràng trong trí mình. Những trẻ có thiên tài về điều ấy được dạy vẽ tranh, cây cối và động vật, phong cảnh và các cảnh trong lịch sử, và mỗi trẻ được dạy làm cho bức tranh của mình trở nên sống động. Y được dạy rằng sự tập trung tư tưởng của y có thể thật sự làm biến đổi bức tranh hồng trần, và trẻ em hãnh diện khi chúng có thể thành công trong việc này. Sau khi vẽ một bức tranh tốt nhất có thể, trẻ em tập trung vào nó và cố gắng cải thiện nó, sửa đổi nó bằng tư tưởng của mình. Trong khoảng một tuần, bằng cách làm việc với sự tập trung một thời gian mỗi ngày, chúng có thể tạo ra những biến đổi đáng kể, và một cậu bé mười bốn tuổi, nhờ thực hành nhiều, có thể làm điều đó khá nhanh.

Having modified his picture, the child is taught to make a thought-form of it, to look at it, to contemplate it earnestly, and then to shut his eyes and visualise it. He takes, first, ordinary physical pictures; then a glass vessel containing a coloured gas is given to him, and by the effort of his will he has to mould the gas into certain shapes—to make it take a form by thought—to make it become, inside its vessel, a sphere, a cube, a tetrahedron or some such shape. Many children can do this easily after a little practice. Then they are asked to make it take the shape of a man, and then that of the picture at which they have previously been looking. When they can manage this gaseous matter fairly easily they try to do it in etheric, then in astral, and then in purely mental matter. The teacher himself makes materialisations for them to examine when necessary, and in this way they gradually work upward to more advanced acts of thought-creation. All these classes are open to visits from parents and friends, and often many older people like to attend them and themselves practise the exercises set for the children.

Sau khi đã sửa đổi bức tranh của mình, đứa trẻ được dạy tạo một hình tư tưởng của nó, nhìn nó, chiêm ngưỡng nó một cách nghiêm túc, rồi nhắm mắt lại và hình dung nó. Trước hết y lấy các bức tranh hồng trần thông thường; rồi người ta trao cho y một bình thủy tinh chứa một chất khí có màu, và bằng nỗ lực của ý chí, y phải nắn chất khí ấy thành những hình dạng nhất định—làm cho nó mang một hình tướng bằng tư tưởng—làm cho nó trở thành, bên trong bình của nó, một khối cầu, một khối lập phương, một tứ diện hay một hình dạng nào đó tương tự. Nhiều trẻ em có thể làm điều này dễ dàng sau một ít thực hành. Rồi chúng được yêu cầu làm cho nó mang hình dạng của một người, và sau đó là hình dạng của bức tranh mà trước đó chúng đã nhìn. Khi chúng có thể xử lý vật chất khí này khá dễ dàng, chúng thử làm điều đó trong chất liệu dĩ thái, rồi trong chất liệu cảm dục, và rồi trong vật chất trí tuệ thuần túy. Chính giáo viên tạo các hiện hình cho chúng khảo sát khi cần thiết, và bằng cách này chúng dần dần tiến lên đến những hành vi sáng tạo bằng tư tưởng cao hơn. Tất cả các lớp này đều mở cho cha mẹ và bạn bè đến thăm, và thường có nhiều người lớn tuổi thích tham dự chúng và tự mình thực hành các bài tập dành cho trẻ em.

THE SCHOOL SYSTEM — HỆ THỐNG TRƯỜNG HỌC

There is nothing in the nature of the boarding-school, and all children live happily at home and attend the school which is most convenient for them. In a few cases the Deva-priests are training children to take their places; but even in these cases the child is not taken away from home, though he is usually surrounded by a special protective shell, so that the influence which the Deva pours in upon him may not be interfered with by other vibrations.

Không có gì mang bản chất của trường nội trú, và tất cả trẻ em sống hạnh phúc ở nhà và đi học tại trường thuận tiện nhất cho chúng. Trong một vài trường hợp, các tư tế thiên thần đang huấn luyện trẻ em để thay thế vị trí của mình; nhưng ngay cả trong các trường hợp này, đứa trẻ cũng không bị đưa khỏi nhà, mặc dù y thường được bao quanh bởi một lớp vỏ bảo vệ đặc biệt, để ảnh hưởng mà vị thiên thần tuôn vào y không bị các rung động khác can thiệp.

A child does not belong to a class at all in the same way as under older methods; each child has a list of numbers for different subjects; he may be in the first class for one subject, in the third for another, in the fifth for some other. Even for small children the arrangement seems to be far less a class than a kind of lecture-room. In trying to comprehend the system, we must never for a moment forget the effect of the immediate reincarnations, and that consequently not only are these children on the average far more intelligent and developed than other children of their age, but also they are unequally developed. Some children of four remember more of a previous incarnation, and of what they learnt then, than other children of eight or nine; and again some children remember a certain subject fully and clearly, and yet have almost entirely lost their knowledge of some other subjects which seem quite as easy. So that we are dealing with entirely abnormal conditions, and the schemes adopted have to be suited to them.

Một đứa trẻ hoàn toàn không thuộc về một lớp theo cùng cách như dưới các phương pháp cũ; mỗi trẻ có một danh sách số cho các môn học khác nhau; y có thể ở lớp thứ nhất về một môn, lớp thứ ba về một môn khác, lớp thứ năm về một môn khác nữa. Ngay cả đối với trẻ nhỏ, sự sắp xếp dường như ít giống một lớp học hơn rất nhiều so với một loại phòng giảng. Khi cố gắng thấu hiểu hệ thống này, chúng ta không bao giờ được quên dù chỉ trong khoảnh khắc hiệu quả của các sự tái sinh tức thời, và do đó những trẻ em này không chỉ trung bình thông minh và phát triển hơn nhiều so với những trẻ khác cùng tuổi, mà còn phát triển không đồng đều. Một số trẻ bốn tuổi nhớ nhiều hơn về một kiếp trước, và về những gì chúng đã học khi đó, so với những trẻ khác tám hay chín tuổi; và lại có một số trẻ nhớ một môn nào đó đầy đủ và rõ ràng, nhưng hầu như đã hoàn toàn mất tri thức về một số môn khác có vẻ cũng dễ như vậy. Vì thế chúng ta đang xử lý những điều kiện hoàn toàn bất thường, và các hệ thống được áp dụng phải phù hợp với chúng.

At what corresponds to the opening of the school, they all stand together and sing something. They get four lessons into their morning session, but the lessons are short, and there is always an interval for play between them. Like all their houses, the schoolroom has no walls, but is supported entirely on pillars, so that practically the whole life of the children, as well as of the rest of the community, is lived in the open air; but nevertheless the children are turned out even from that apology for a room after each of the lessons, and left to play about in the park which surrounds the school. Girls and boys are taught together promiscuously. This morning session covers all of what would be called the compulsory subjects—the subjects which everybody learns; there are some extra lessons in the afternoon on additional subjects for those who wish to take them, but a considerable number of the children are satisfied with the morning work.

Vào thời điểm tương ứng với việc mở đầu buổi học, tất cả chúng đứng cùng nhau và hát một điều gì đó. Chúng có bốn bài học trong buổi sáng, nhưng các bài học đều ngắn, và luôn có một khoảng nghỉ để chơi giữa các bài. Giống như mọi ngôi nhà của chúng, phòng học không có tường, mà hoàn toàn được chống đỡ trên các cột, đến nỗi hầu như toàn bộ đời sống của trẻ em, cũng như của phần còn lại trong cộng đồng, được sống ngoài trời; tuy nhiên, sau mỗi bài học, trẻ em vẫn bị đưa ra khỏi ngay cả cái hình thức phòng học ấy, và được để chơi trong công viên bao quanh trường. Bé gái và bé trai được dạy chung không phân biệt. Buổi học sáng này bao gồm tất cả những gì có thể gọi là các môn bắt buộc—những môn mà mọi người đều học; có một số bài học thêm vào buổi chiều về các môn bổ sung cho những ai muốn học, nhưng một số đáng kể trẻ em thỏa mãn với công việc buổi sáng.

THE CURRICULUM — CHƯƠNG TRÌNH HỌC

The school curriculum is different from that of the twentieth century. The very subjects are mostly different, and even those which are the same are taught in an entirely different way. Arithmetic, for example, has been greatly simplified; there are no complex weights and measures of any kind, everything being arranged on a decimal system; they calculate but little, and the detailed working-out of long rows of figures would be denounced as insufferably tedious. Nothing is taught but what is likely to be practically useful to the average person in after-life; all the rest is a matter of reference. In earlier centuries they had books of logarithms, by reference to which long and complicated calculations could be avoided; now they have the same system immensely extended, and yet, at the same time, much more compressed. It is a scheme by which the result of practically any difficult calculation can be looked up in a few moments by a person who knows the book. The children know how to calculate, just as a man may know how to make his own logarithms, and yet habitually use a book for them to avoid the waste of time in tedious processes involving long rows of figures.

Chương trình học khác với chương trình của thế kỷ hai mươi. Chính các môn học phần lớn đã khác, và ngay cả những môn giống nhau cũng được dạy theo một cách hoàn toàn khác. Chẳng hạn, số học đã được đơn giản hóa rất nhiều; không có bất cứ hệ thống cân đo phức tạp nào, mọi thứ được sắp xếp theo hệ thập phân; họ tính toán rất ít, và việc giải chi tiết những hàng dài con số sẽ bị lên án là buồn tẻ không chịu nổi. Không gì được dạy ngoài những điều có khả năng hữu dụng thực tiễn cho người trung bình trong đời sống về sau; tất cả phần còn lại là vấn đề tra cứu. Trong các thế kỷ trước, họ có các sách logarit, nhờ tra cứu mà những phép tính dài và phức tạp có thể tránh được; nay họ có cùng hệ thống ấy được mở rộng vô cùng, nhưng đồng thời lại cô đọng hơn nhiều. Đó là một hệ thống nhờ đó kết quả của hầu như bất cứ phép tính khó nào cũng có thể được tra ra trong vài khoảnh khắc bởi một người biết cuốn sách ấy. Trẻ em biết cách tính toán, cũng như một người có thể biết cách tự lập logarit của mình, nhưng vẫn thường dùng một cuốn sách cho chúng để tránh lãng phí thời gian vào những tiến trình buồn tẻ liên quan đến những hàng dài con số.

Arithmetic with them is hardly a subject in itself, but is taken only as leading up to calculations connected with the geometry which deals with solid figures and the higher dimensions. The whole thing is so different from previous ideas that it is not easy to describe it clearly. For example, in all the children’s sums there is no question of money, and no complicated calculation. To understand the sum and know how to do it is sufficient. The theory in the school-master’s mind is not to cram the brains of the children, but to develop their faculties and tell them where to find facts. Nobody, for example, would dream of multiplying a line of six figures by another similar line, but would employ either a calculating machine (for these are common), or one of the books to which I have referred.

Đối với họ, số học hầu như không phải là một môn tự thân, mà chỉ được dùng như dẫn nhập đến các phép tính liên quan với hình học xử lý các khối rắn và các chiều cao hơn. Toàn bộ sự việc khác với những ý tưởng trước kia đến nỗi không dễ mô tả nó rõ ràng. Chẳng hạn, trong tất cả bài toán của trẻ em không có vấn đề tiền bạc, và không có phép tính phức tạp. Thấu hiểu bài toán và biết cách làm là đủ. Lý thuyết trong trí của thầy giáo không phải là nhồi nhét bộ não trẻ em, mà là phát triển các năng lực của chúng và cho chúng biết nơi tìm các sự kiện. Chẳng hạn, không ai mơ đến việc nhân một hàng sáu chữ số với một hàng tương tự khác, mà sẽ dùng hoặc một máy tính, vì những máy này rất phổ biến, hoặc một trong những cuốn sách mà tôi đã đề cập.

The whole problem of reading and writing is far simpler than it used to be, for all spelling is phonetic, and pronunciation cannot be wrong when a certain syllable must always have a certain sound. The writing has somewhat the appearance of shorthand. There is a good deal to learn in it, but at the same time, when he has learnt it, the child is in possession of a finer and more flexible instrument than any of the older languages since he can write at least as fast as any ordinary person can speak. There is a large amount of convention about it, and a whole sentence is often expressed by a mark like a flash of lightning.

Toàn bộ vấn đề đọc và viết đơn giản hơn rất nhiều so với trước kia, vì mọi chính tả đều theo âm, và cách phát âm không thể sai khi một âm tiết nhất định luôn phải có một âm thanh nhất định. Chữ viết có phần mang dáng vẻ của tốc ký. Có khá nhiều điều phải học trong đó, nhưng đồng thời, khi đã học xong, đứa trẻ sở hữu một khí cụ tinh vi và linh hoạt hơn bất cứ ngôn ngữ cũ nào, vì y có thể viết ít nhất nhanh bằng bất cứ người bình thường nào có thể nói. Có rất nhiều quy ước trong đó, và cả một câu thường được biểu đạt bằng một dấu hiệu giống như tia chớp.

The language which they are speaking is naturally English, since the community has arisen in an English-speaking country, but it has been modified considerably. Many participial forms have disappeared, and some of the words are different. All subjects are learnt so differently now. Nobody learns any history, except isolated interesting stories, but everyone has in his house a book in which an epitome of all history can be found. Geography is still learnt to a limited extent. They know where all the different races live, and with great precision in what these races differ, and what qualities they are developing. But the commercial side has dropped; no one bothers about the exports of Bulgaria; nobody knows where they make woollen cloth, or wants to know. All these things can be turned up at a moment’s notice in books which are part of the free furniture of every house, and it would be considered a waste of time to burden the memory with such valueless facts.

Ngôn ngữ họ đang nói tự nhiên là tiếng Anh, vì cộng đồng đã phát sinh trong một xứ nói tiếng Anh, nhưng nó đã được biến đổi đáng kể. Nhiều hình thức phân từ đã biến mất, và một số từ đã khác. Mọi môn học nay được học khác đi rất nhiều. Không ai học lịch sử, ngoại trừ những câu chuyện thú vị riêng lẻ, nhưng mọi người đều có trong nhà một cuốn sách trong đó có thể tìm thấy bản tóm lược toàn bộ lịch sử. Địa lý vẫn được học ở một mức độ giới hạn. Họ biết tất cả các nhân loại khác nhau sống ở đâu, và biết với độ chính xác cao những nhân loại này khác nhau ở điểm nào, và những phẩm tính nào họ đang phát triển. Nhưng phương diện thương mại đã rơi rụng; không ai bận tâm về hàng xuất khẩu của Bulgaria; không ai biết họ sản xuất vải len ở đâu, hay muốn biết. Tất cả những điều này có thể được tra ra ngay lập tức trong các sách vốn là một phần đồ dùng miễn phí của mỗi nhà, và việc chất gánh nặng lên ký ức bằng những sự kiện vô giá trị như thế sẽ bị xem là lãng phí thời gian.

The scheme is in every respect strictly utilitarian; they do not teach the children anything which can be easily obtained from an encyclopaedia. They have developed a scheme of restricting education to necessary and valuable knowledge. A boy of twelve usually has behind him, in his physical brain, the entire memory of what he knew in previous lives. It is the custom to carry a talisman over from life to life, which helps the child to recover the memory in the new vehicles—a talisman which he wore in his previous birth, so that it is thoroughly loaded with the magnetism of that birth and can now stir up again the same vibrations.

Hệ thống này trong mọi phương diện đều hết sức thực dụng; họ không dạy trẻ em bất cứ điều gì có thể dễ dàng lấy được từ một bách khoa thư. Họ đã phát triển một hệ thống giới hạn giáo dục vào tri thức cần thiết và có giá trị. Một cậu bé mười hai tuổi thường đã có phía sau mình, trong bộ não hồng trần, toàn bộ ký ức về những gì y đã biết trong các đời sống trước. Tập quán là mang một bùa hộ mệnh từ đời này sang đời khác, giúp đứa trẻ khôi phục ký ức trong các hiện thể mới—một bùa hộ mệnh mà y đã đeo trong lần sinh trước, nên nó được nạp đầy từ điện của lần sinh ấy và nay có thể lại khuấy động các rung động tương tự.

CHILDREN’s SERVICES — CÁC BUỔI PHỤNG SỰ CỦA TRẺ EM

Another interesting educational feature is what is called the children’s service at the Temple. Many others than children attend this, especially those who are not yet quite up to the level of the other services already described. The children’s service in the music-Temple is exceedingly beautiful; the children perform a series of graceful evolutions, and both sing and play upon instruments as they march about. That in the colour-Temple is something like an especially gorgeous Drury Lane pantomime, and has evidently been many times carefully rehearsed.

Một nét giáo dục thú vị khác là điều được gọi là buổi phụng sự của trẻ em tại Đền. Nhiều người khác ngoài trẻ em cũng tham dự buổi này, đặc biệt là những người chưa hoàn toàn đạt tới cấp độ của các buổi phụng sự khác đã được mô tả. Buổi phụng sự của trẻ em trong Đền âm nhạc vô cùng đẹp đẽ; trẻ em thực hiện một loạt những chuyển động duyên dáng, vừa hát vừa chơi nhạc cụ khi chúng diễu quanh. Buổi ở Đền màu sắc thì giống như một vở kịch câm Drury Lane đặc biệt lộng lẫy, và hiển nhiên đã được tập luyện cẩn thận nhiều lần.

In one case they are reproducing the choric dance of the priests of Babylon, which represents the movement of the planets round the sun. This is performed upon an open plain, as it used to be in Assyria, and groups of children dress in special colours (representing the various planets) and move harmoniously, so that in their play they have also an astronomical lesson. But it must be understood that they fully feel that they are engaging in a sacred religious rite, and that to do it well and thoroughly will not only be helpful to themselves, but that it also constitutes a kind of offering of their services to the Deity. They have been told that this used to be done in an old religion many thousands of years ago.

Trong một trường hợp, chúng tái hiện vũ điệu hợp xướng của các tư tế Babylon, tượng trưng cho chuyển động của các hành tinh quanh mặt trời. Việc này được thực hiện trên một đồng bằng mở, như xưa kia ở Assyria, và các nhóm trẻ mặc những màu đặc biệt, tượng trưng cho các hành tinh khác nhau, và chuyển động hài hòa, để trong trò chơi của mình chúng cũng có một bài học thiên văn. Nhưng cần hiểu rằng chúng hoàn toàn cảm thấy mình đang tham dự một nghi lễ tôn giáo thiêng liêng, và rằng làm điều đó tốt đẹp và trọn vẹn sẽ không chỉ hữu ích cho chính chúng, mà còn cấu thành một loại dâng hiến sự phụng sự của chúng lên Thượng đế. Chúng đã được bảo rằng điều này từng được thực hiện trong một tôn giáo cổ xưa cách đây nhiều ngàn năm.

The children take great delight in it, and there is quite a competition to be chosen to be part of the Sun! Proud parents also look on, and are pleased to be able to say: “My boy is part of Mercury to-day,” and so on. The planets all have their satellites—more satellites in some cases than used to be known, so that astronomy has evidently progressed. The rings of Saturn are remarkably well represented by a number of children in constant motion in a figure closely resembling the `grand chain’ at the commencement of the fifth figure of the Lancers. An especially interesting point is that even the inner `crape’ ring of Saturn is represented, for those children who are on the inside of the next ring keep a gauzy garment floating out so as to represent it. The satellites are single children or pairs of children waltzing outside the ring. All the while, though they enjoy it immensely, they never forget that they are performing a religious function and that they are offering this to God. Another dance evidently indicates the transfer of life from the Moon Chain to the Earth Chain. All sorts of instruction is given to the children in this way, half a play and half a religious ceremony.

Trẻ em rất thích thú với điều đó, và có hẳn một sự cạnh tranh để được chọn làm một phần của Mặt Trời! Cha mẹ đầy tự hào cũng đứng xem, và hài lòng khi có thể nói: “Hôm nay con trai tôi là một phần của Sao Thủy,” v.v. Tất cả các hành tinh đều có các vệ tinh của chúng—trong một số trường hợp có nhiều vệ tinh hơn trước kia người ta từng biết, nên hiển nhiên thiên văn học đã tiến bộ. Các vành đai của Sao Thổ được trình bày đáng chú ý bởi một số trẻ em liên tục chuyển động trong một hình thức rất giống “chuỗi lớn” ở phần mở đầu của hình thứ năm trong điệu Lancers. Một điểm đặc biệt thú vị là ngay cả vòng “lụa mỏng” bên trong của Sao Thổ cũng được biểu thị, vì những trẻ ở phía trong của vòng kế tiếp giữ một y phục mỏng nhẹ bay ra để tượng trưng cho nó. Các vệ tinh là những trẻ đơn lẻ hoặc từng cặp trẻ nhảy valse bên ngoài vòng. Suốt thời gian ấy, mặc dù chúng vui thích vô cùng, chúng không bao giờ quên rằng chúng đang thực hiện một chức năng tôn giáo và đang dâng điều này lên Thượng đế. Một vũ điệu khác hiển nhiên chỉ sự chuyển dịch sự sống từ Dãy Mặt Trăng sang Dãy Địa Cầu. Đủ mọi loại giáo huấn được trao cho trẻ em theo cách này, nửa là trò chơi và nửa là nghi lễ tôn giáo.

SYMBOLIC DANCES — CÁC VŨ ĐIỆU BIỂU TƯỢNG

There are great festivals which each Temple celebrates by special performances of this kind, and on these occasions they all do their best in the way of gorgeous decoration. The buildings are so arranged that the lines are picked out in a kind of permanent phosphorescence, not a line of lamps, but a glow which seems to come from the substance. The lines of the architecture are graceful, and this has a splendid effect. The children’s service is an education in colours. The combinations are really wonderful, and the drilling of the children is perfect. Great masses of them are dressed identically in the most lovely hues, delicate and yet brilliant, and they move in and out among one another in the most complicated figures. In their choric dance they are taught that they must not only wear the colour of the star for spectacular purposes, but must also try mentally to make the same colour. They are instructed to try to fancy themselves that colour, and try to think that they actually are part of the planet Mercury or Venus, as the case may be. As they move they sing and play, each planet having it own special chords, so that all the planets as they go round the sun may produce an imitation of the music of the spheres. In these children’s services also the Devas often take part, and aid with the colours and the music. Both kama and rupa Devas move quite freely among the people, and take part in daily life.

Có những lễ hội lớn mà mỗi Đền cử hành bằng các trình diễn đặc biệt thuộc loại này, và trong những dịp ấy tất cả họ đều làm hết sức mình về mặt trang hoàng lộng lẫy. Các tòa nhà được sắp đặt sao cho các đường nét được nhấn bằng một loại lân quang thường trực, không phải là một hàng đèn, mà là một ánh sáng dường như phát ra từ chính chất liệu. Các đường nét của kiến trúc rất duyên dáng, và điều này tạo một hiệu quả huy hoàng. Buổi phụng sự của trẻ em là một nền giáo dục về màu sắc. Các kết hợp thật sự kỳ diệu, và việc huấn luyện trẻ em thật hoàn hảo. Những khối lớn trẻ em mặc giống hệt nhau trong các sắc màu đáng yêu nhất, tinh tế nhưng rực rỡ, và chúng di chuyển ra vào giữa nhau trong những hình thể phức tạp nhất. Trong vũ điệu hợp xướng của mình, chúng được dạy rằng không những chúng phải mặc màu của ngôi sao nhằm mục đích trình diễn, mà còn phải cố gắng trong trí tạo ra cùng màu ấy. Chúng được chỉ dẫn cố gắng tưởng tượng chính mình là màu ấy, và cố gắng nghĩ rằng chúng thật sự là một phần của hành tinh Sao Thủy hay Sao Kim, tùy trường hợp. Khi chuyển động, chúng hát và chơi nhạc, mỗi hành tinh có các hợp âm đặc biệt của riêng mình, để tất cả các hành tinh khi đi quanh mặt trời có thể tạo ra một sự mô phỏng âm nhạc của các khối cầu. Trong các buổi phụng sự của trẻ em này, các thiên thần cũng thường tham dự, và hỗ trợ bằng màu sắc và âm nhạc. Cả các thiên thần kama và rupa đều di chuyển khá tự do giữa mọi người, và tham dự vào đời sống hằng ngày.

The children’s service in connection with the yellow Temple is exceedingly interesting. Here they dance frequently in geometrical figures, but the evolutions are difficult to describe. One performance, for example, is exceedingly pretty and effective. Thirty-two boys wearing golden brocaded robes are arranged in a certain order, not all standing on the same level, but on raised stages. They evidently represent the angles of some solid figure. They hold in their hands thick ropes of a golden-coloured thread, and they hold these ropes from one to another so as to indicate the outline of a certain figure—say a dodecahedron. Suddenly, at a preconcerted signal, they drop one end of the rope or throw it to another boy, and in a moment the outline has changed into that of an icosahedron. This is wonderfully effective, and gives quite a remarkable illusory effect of changing solid figures one into another. All such changes are gone through in a certain order, which is somehow connected with the evolution of the matter of the planes at the commencement of a solar system. Another evolution is evidently to illustrate something of the formation of atoms out of bubbles. The children represent bubbles. A number of them rush out from the centre and arrange themselves in a certain way. Then they rush back again to the centre and again come still further out, and group themselves in quite a different way. All this needs much training, but the children appear most enthusiastic about it.

Buổi phụng sự của trẻ em liên hệ với Đền màu vàng vô cùng thú vị. Ở đây chúng thường múa theo các hình hình học, nhưng các chuyển động khó mô tả. Chẳng hạn, một màn trình diễn vô cùng xinh đẹp và hiệu quả. Ba mươi hai bé trai mặc áo choàng gấm vàng được sắp xếp theo một trật tự nhất định, không phải tất cả đứng trên cùng một cấp độ, mà trên các bục nâng cao. Hiển nhiên chúng tượng trưng cho các góc của một khối nào đó. Chúng cầm trong tay những sợi dây thừng dày bằng chỉ màu vàng, và giữ các dây này từ em này sang em khác để chỉ đường viền của một hình nào đó—chẳng hạn một thập nhị diện. Bất ngờ, theo một tín hiệu đã định trước, chúng thả một đầu dây hoặc ném nó cho một bé trai khác, và trong khoảnh khắc đường viền đã đổi thành đường viền của một nhị thập diện. Điều này hiệu quả kỳ diệu, và tạo ra một ảo giác đáng chú ý về các khối rắn biến đổi từ khối này sang khối khác. Tất cả những thay đổi như thế được thực hiện theo một trật tự nhất định, bằng cách nào đó liên hệ với sự tiến hoá của vật chất các cõi vào lúc khởi đầu của một hệ mặt trời. Một chuyển động khác hiển nhiên nhằm minh họa điều gì đó về sự hình thành các nguyên tử từ các bong bóng. Trẻ em tượng trưng cho các bong bóng. Một số em lao ra từ trung tâm và tự sắp xếp theo một cách nhất định. Rồi chúng lao trở lại trung tâm và lại đi ra xa hơn nữa, rồi nhóm lại theo một cách hoàn toàn khác. Tất cả điều này cần nhiều huấn luyện, nhưng trẻ em dường như hết sức nhiệt tình với nó.

THE UNDERLYING IDEA — Ý TƯỞNG NỀN TẢNG

The education and the religion are so closely mingled that it is difficult clearly to differentiate one from the other. The children are playing in the Temple. The underlying idea which is kept before them is that all this is only the physical side of something far greater and grander, which belongs to higher worlds, so that they feel that to everything they do there is an inner side, and they hope to realise this and to be able to see and comprehend it directly; and this is always held before them as the final reward of their efforts.

Giáo dục và tôn giáo hòa lẫn chặt chẽ đến nỗi khó phân biệt rõ ràng cái này với cái kia. Trẻ em đang chơi trong Đền. Ý tưởng nền tảng luôn được đặt trước chúng là tất cả điều này chỉ là phương diện hồng trần của một điều gì đó lớn lao và cao cả hơn rất nhiều, thuộc về các thế giới cao hơn, để chúng cảm thấy rằng đối với mọi điều chúng làm đều có một phương diện bên trong, và chúng hy vọng chứng nghiệm điều này cũng như có thể thấy và thấu hiểu nó trực tiếp; và điều này luôn được đặt trước chúng như phần thưởng cuối cùng cho các nỗ lực của chúng.

BIRTH AND DEATH — SINH VÀ TỬ

The various influences which take such a prominent part in the education of the children are brought to bear upon them even before birth. Once more we must reiterate that when a birth is about to take place the father and mother and all parties concerned are quite aware what ego is to come to them, and therefore they take care that for months before the actual birth takes place the surroundings shall in every way be suitable to that ego, and such as may conduce to a perfect physical body. Great stress is laid upon the influence of beautiful surroundings. The future mother has always before her eyes lovely pictures and graceful statues. The whole of life is pervaded with this idea of beauty—so much so that it would be considered a crime against the community that any object should be ugly or ungraceful. In all architecture this beauty of line as well as of colour is the first consideration, and the same is true with regard to all the minor accessories of life. Even before the child’s birth preparation will be made for him; his mother dresses chiefly in certain colours, and surrounds herself with flowers and lights of what are considered the most appropriate kind.

Các ảnh hưởng khác nhau giữ phần nổi bật như thế trong việc giáo dục trẻ em được đem tác động lên chúng ngay cả trước khi sinh. Một lần nữa chúng ta phải nhắc lại rằng khi một sự sinh ra sắp diễn ra, người cha và người mẹ cùng tất cả các bên liên quan đều hoàn toàn biết chân ngã nào sẽ đến với họ, và vì vậy họ lo liệu để trong nhiều tháng trước khi sự sinh ra thực sự diễn ra, hoàn cảnh xung quanh trong mọi phương diện phải thích hợp với chân ngã ấy, và có thể dẫn đến một thể xác hoàn hảo. Người ta đặt sự nhấn mạnh lớn vào ảnh hưởng của các hoàn cảnh đẹp đẽ xung quanh. Người mẹ tương lai luôn có trước mắt mình những bức tranh đáng yêu và các pho tượng duyên dáng. Toàn bộ đời sống thấm nhuần ý tưởng về cái đẹp này—đến mức việc bất cứ vật nào xấu xí hay không duyên dáng sẽ bị xem là một tội ác chống lại cộng đồng. Trong mọi kiến trúc, vẻ đẹp của đường nét cũng như của màu sắc là sự quan tâm đầu tiên, và điều tương tự cũng đúng đối với mọi phụ kiện nhỏ của đời sống. Ngay cả trước khi đứa trẻ sinh ra, sự chuẩn bị cũng sẽ được thực hiện cho y; mẹ y mặc chủ yếu một số màu nhất định, và bao quanh mình bằng hoa cùng ánh sáng thuộc loại được xem là thích hợp nhất.

Parentage is a matter of arrangement between all parties concerned, and death is usually voluntary. As the members of this community live entirely healthy lives, and have surrounded themselves with perfect sanitary conditions, disease has been practically eliminated, so that except in the rare case of an accident no one dies except of old age, and they do not drop the body as long as it is useful. They do not feel at all that they are giving up life, but only that they are changing a worn-out vehicle. The absence of worry and unhealthy conditions has certainly tended on the whole to lengthen physical life. Nobody looks at all old until at least eighty, and many pass beyond the century.

Việc làm cha mẹ là một vấn đề sắp đặt giữa tất cả các bên liên quan, và cái chết thường là tự nguyện. Vì các thành viên của cộng đồng này sống những đời sống hoàn toàn lành mạnh, và đã bao quanh mình bằng các điều kiện vệ sinh hoàn hảo, bệnh tật hầu như đã bị loại trừ, nên ngoại trừ trường hợp hiếm hoi của tai nạn, không ai chết trừ vì tuổi già, và họ không bỏ thể xác chừng nào nó còn hữu dụng. Họ hoàn toàn không cảm thấy rằng mình đang từ bỏ sự sống, mà chỉ rằng họ đang thay đổi một vận cụ đã mòn cũ. Sự vắng mặt của lo âu và các điều kiện không lành mạnh chắc chắn nhìn chung đã có khuynh hướng kéo dài đời sống hồng trần. Không ai trông có vẻ già cho đến ít nhất tám mươi tuổi, và nhiều người vượt quá một thế kỷ.

When a man begins to find his powers failing him, he also begins to look round him for a desirable re-birth. He selects a father and mother whom he thinks would suit him, and goes round to call upon them to ask whether they are willing to take him. If they are, he tells them that he expects to die soon, and then hands over to them his personal talisman which he has worn all his life, and also sends to them any personal effects which he wishes to carry over to his next life. The talisman is usually a jewel of the particular type appropriate to the ego, according to the sign of the Zodiac to which as an ego he belongs, the influence under which he attained individuality. This charm he always wears, so that it may be fully impregnated with his magnetism, and he is careful to make arrangements that it may be handed over to him in his next birth, in order to help in the arousing in the new body of the memory of past lives, so as to make it easier to keep unbroken the realisation of life as an ego. This amulet is always correspondent to his name as an ego—the name which he carries with him from life to life. In many cases men are already using this name in ordinary life, though in others they have perpetuated the name which they bore when they entered the community, carrying it on from life to life and altering its termination so as to make it masculine or feminine according to the sex of the moment. Each person has therefore his own name, his permanent name, and in addition in each incarnation he takes that of the family into which he happens or chooses to be born.

Khi một người bắt đầu thấy các quyền năng của mình suy giảm, y cũng bắt đầu nhìn quanh để tìm một sự tái sinh mong muốn. Y chọn một người cha và một người mẹ mà y nghĩ sẽ thích hợp với mình, và đến thăm họ để hỏi xem họ có sẵn lòng nhận y hay không. Nếu họ sẵn lòng, y nói với họ rằng y dự kiến sẽ sớm chết, rồi trao cho họ bùa hộ mệnh cá nhân mà y đã đeo suốt đời, và cũng gửi cho họ bất cứ đồ dùng cá nhân nào mà y muốn mang sang đời sống kế tiếp. Bùa hộ mệnh thường là một viên ngọc thuộc loại đặc biệt thích hợp với chân ngã, theo dấu hiệu hoàng đạo mà y thuộc về với tư cách một chân ngã, ảnh hưởng dưới đó y đạt được sự biệt ngã hóa. Bùa này y luôn đeo, để nó có thể được thấm nhuần đầy đủ bằng từ điện của y, và y cẩn thận sắp đặt để nó có thể được trao lại cho y trong lần sinh kế tiếp, nhằm giúp khơi dậy trong thể mới ký ức về các đời sống quá khứ, để dễ dàng hơn trong việc giữ cho sự chứng nghiệm đời sống như một chân ngã không bị gián đoạn. Bùa hộ mệnh này luôn tương ứng với tên của y như một chân ngã—cái tên mà y mang theo từ đời này sang đời khác. Trong nhiều trường hợp, người ta đã dùng tên này trong đời sống thường ngày, mặc dù trong những trường hợp khác họ vẫn duy trì tên mà họ mang khi gia nhập cộng đồng, đem nó tiếp tục từ đời này sang đời khác và thay đổi phần kết thúc của nó để làm cho nó thành nam tính hay nữ tính tùy theo giới tính trong lúc ấy. Vì vậy mỗi người có tên riêng của mình, tên thường tồn của mình, và thêm vào đó trong mỗi lần lâm phàm y nhận lấy tên của gia đình mà y tình cờ hoặc lựa chọn sinh vào.

The personal effects do not include anything of the nature of money, for money is no longer used, and no man has more than a life-interest in houses or land, or in other property. But he has sometimes a few books or ornaments which he wishes to preserve, and if so he hands them over to his prospective father and mother, who, when they hear that his death is approaching, can begin to prepare for him. He does not alter his ordinary mode of life; he does nothing which in the slightest degree resembles committing suicide; but he simply loses the will to live—lets his life go, as it were—and generally passes away peacefully in sleep within a short period of time. Usually, indeed, he takes up his abode with the prospective father and mother as soon as the agreement is made, and dies at their house.

Các vật dụng cá nhân không bao gồm bất cứ thứ gì thuộc bản chất tiền bạc, vì tiền không còn được dùng nữa, và không ai có quyền gì hơn là quyền hưởng dụng suốt đời đối với nhà cửa hay đất đai, hoặc các tài sản khác. Nhưng đôi khi y có một ít sách hay đồ trang sức mà y muốn giữ lại, và nếu vậy, y trao chúng cho người cha và người mẹ tương lai của mình; khi họ nghe rằng cái chết của y đang đến gần, họ có thể bắt đầu chuẩn bị cho y. Y không thay đổi lối sống thường ngày; y không làm điều gì dù ở mức nhỏ nhất giống với việc tự sát; nhưng y chỉ đơn giản mất đi ý chí sống — có thể nói là buông cho sự sống của mình ra đi — và thường qua đời bình an trong giấc ngủ trong một thời gian ngắn. Thật vậy, thường thì y đến ở với người cha và người mẹ tương lai ngay khi thỏa thuận được lập, và chết tại nhà họ.

There is no funeral ceremony of any sort, as death is not regarded as an event of any importance. The body is not cremated, but is instead placed in a kind of retort into which some chemical is poured—probably a strong acid of some sort. The retort is then hermetically sealed, and a power resembling electricity, but far stronger, is passed through it. The acid fizzes vigorously, and in a few minutes the whole body is entirely dissolved. When the retort is opened and the process is completed there is nothing left but a fine grey powder. This is not preserved or regarded with any reverence. The operation of disposing of the body is easily performed at the house, the apparatus being brought there when desired. There is no ceremony of any kind, and the friends of the deceased do not assemble for the occasion. They do, however, come round and pay him a visit soon after his rebirth, as the sight of them is supposed to help to reawaken the memory in the new baby body. Under these circumstances there are of course no prayers or ceremonies of any kind for the dead, nor is there any need of help upon the astral plane, for every member of the community remembers his past lives and knows perfectly well the body which he is about to take as soon as it can be prepared for him. Many members of the community continue to act as invisible helpers to the rest of the world, but within the community itself nothing of that kind is necessary.

Không có nghi lễ tang ma thuộc bất cứ loại nào, vì cái chết không được xem là một sự kiện có tầm quan trọng nào. Thể xác không được hỏa táng, mà thay vào đó được đặt trong một loại bình chưng cất, rồi người ta đổ vào đó một hóa chất nào đó — có lẽ là một loại axít mạnh. Sau đó bình được niêm kín hoàn toàn, và một quyền năng giống như điện, nhưng mạnh hơn nhiều, được truyền qua nó. Axít sủi bọt mạnh, và trong vài phút toàn bộ thể xác tan rã hoàn toàn. Khi bình được mở ra và tiến trình hoàn tất, không còn lại gì ngoài một lớp bột mịn màu xám. Thứ này không được giữ lại hay được xem với bất cứ sự tôn kính nào. Việc xử lý thể xác được thực hiện dễ dàng tại nhà, dụng cụ được mang đến đó khi cần. Không có nghi lễ thuộc bất cứ loại nào, và bạn bè của người đã mất không tụ họp nhân dịp ấy. Tuy nhiên, họ có đến thăm y ngay sau khi y tái sinh, vì việc nhìn thấy họ được cho là giúp đánh thức lại ký ức trong thể em bé mới. Trong những hoàn cảnh ấy, dĩ nhiên không có lời cầu nguyện hay nghi lễ nào dành cho người chết, cũng không cần sự trợ giúp nào trên cõi cảm dục, vì mỗi thành viên của cộng đồng đều nhớ các kiếp trước của mình và biết hoàn toàn rõ thể mà y sắp nhận lấy ngay khi thể ấy có thể được chuẩn bị cho y. Nhiều thành viên của cộng đồng tiếp tục hoạt động như những người trợ giúp vô hình cho phần còn lại của thế giới, nhưng trong chính cộng đồng thì không cần điều gì thuộc loại ấy.

The Manu has a careful record kept of all the successive incarnations of each of the members of His community, and in some rare cases He interferes with an ego’s choice of his parents. As a general rule all the members of the community have already disposed of such grosser karma as would limit them in their choice, and they also know enough of their own type and of the conditions which they require not to make an unsuitable selection, so that in almost every case they are left perfectly free to make their own arrangements. The matter is, however, always within the knowledge of the Manu, so that He may alter the plan if He does not approve.

Đức Manu cho lưu giữ một hồ sơ cẩn thận về tất cả các lần lâm phàm kế tiếp nhau của từng thành viên trong cộng đồng của Ngài, và trong một số trường hợp hiếm hoi, Ngài can thiệp vào sự lựa chọn cha mẹ của một chân ngã. Theo quy luật chung, tất cả các thành viên của cộng đồng đã xử lý xong loại nghiệp quả thô nặng hơn vốn có thể giới hạn họ trong sự lựa chọn của mình, và họ cũng biết đủ về loại hình riêng của họ cũng như các điều kiện mà họ cần, để không đưa ra một lựa chọn không thích hợp; vì thế, trong hầu như mọi trường hợp, họ được hoàn toàn tự do sắp đặt lấy. Tuy nhiên, vấn đề ấy luôn nằm trong tri thức của Đức Manu, để Ngài có thể thay đổi Thiên Cơ nếu Ngài không chấp thuận.

As a rule the dying man is at liberty to select the sex of his next birth, and many people seem to make a practice of taking birth alternately as man and as woman. There is no actual regulation as to this, and everything is left as free as possible; but at the same time the due proportion of the sexes in the community must be maintained, and if the number of either sex falls temporarily below what it should be, the Manu calls for volunteers to bring things once more into harmony. Parents usually arrange to have ten or twelve children in the family, and generally the same number of girls as boys. Twins, and even triplets, are not at all uncommon. Between the birth of one child and the next there is mostly an interval of two or three years, and there are evidently theories with regard to this matter. The great object is to produce perfect children, and no cripples or deformed persons are to be seen, nor is there any infant mortality. It is manifest that the labour of child-birth has diminished almost to vanishing-point; indeed, there seems to be scarcely any trouble, except perhaps a little with the first child.

Theo quy luật, người sắp chết được tự do chọn giới tính cho lần sinh kế tiếp của mình, và nhiều người dường như có thói quen sinh ra luân phiên làm nam rồi làm nữ. Không có quy định thực sự nào về việc này, và mọi sự được để tự do hết mức có thể; nhưng đồng thời, tỷ lệ đúng giữa các giới trong cộng đồng phải được duy trì, và nếu số lượng của một giới nào đó tạm thời giảm xuống dưới mức nên có, Đức Manu kêu gọi những người tình nguyện để đưa mọi việc trở lại hài hòa. Cha mẹ thường sắp xếp để có mười hoặc mười hai người con trong gia đình, và thường số con gái bằng số con trai. Sinh đôi, và thậm chí sinh ba, hoàn toàn không hiếm. Giữa lần sinh của một đứa trẻ và lần sinh kế tiếp thường có khoảng cách hai hoặc ba năm, và hiển nhiên có những lý thuyết liên quan đến vấn đề này. Mục tiêu lớn là tạo ra những đứa trẻ hoàn hảo, và không thấy có người què quặt hay dị dạng, cũng không có tử vong ở trẻ sơ sinh. Rõ ràng việc sinh nở đã giảm nhẹ gần như đến mức biến mất; thật vậy, dường như hầu như không có khó khăn nào, ngoại trừ có lẽ một chút với đứa con đầu lòng.

MARRIAGE — HÔN NHÂN

This brings us to the question of marriage. There is no restriction placed upon this, except the one great restriction that no one must marry outside the community; but it is generally regarded as rather undesirable that people of the same type of religious feeling should intermarry. There is no rule against it, but it is understood that on the whole the Manu prefers that it should not take place. There is a certain, all-sufficing expression which practically puts any matter beyond the limits of discussion: “It is not His wish.”

Điều này đưa chúng ta đến vấn đề hôn nhân. Không có hạn chế nào đặt lên việc này, ngoại trừ một hạn chế lớn là không ai được kết hôn bên ngoài cộng đồng; nhưng nói chung, người ta xem là khá không nên khi những người thuộc cùng một loại cảm thức tôn giáo kết hôn với nhau. Không có quy luật nào chống lại điều đó, nhưng người ta hiểu rằng xét toàn thể Đức Manu thích điều ấy không xảy ra. Có một cách diễn đạt nhất định, đủ để kết thúc mọi vấn đề và thực tế đặt nó ra ngoài giới hạn tranh luận: “Đó không phải là ý muốn của Ngài.”

People choose their own partners for life—fall in love, in fact—much as they used to do, but the dominant idea of duty is always supreme, and even in matters of the heart no one permits himself to do anything or feel anything which he does not think to be for the best for the community. The great motive is not passion, but duty. The ordinary sex passions have been dominated, so that people now unite themselves definitely with a view to carrying on the community and to creating good bodies for the purpose. They regard married life chiefly as an opportunity to that end, and what is necessary for such production is a religious and magical action which needs to be carefully directed. It forms part of the sacrifice of themselves to the LOGOS, so that no one must lose his balance or his reason in connection with it.

Người ta tự chọn bạn đời của mình — thật ra là yêu nhau — cũng gần như cách họ từng làm, nhưng ý tưởng chủ đạo về bổn phận luôn tối thượng, và ngay cả trong những vấn đề của trái tim, không ai cho phép mình làm hay cảm thấy điều gì mà y không nghĩ là tốt nhất cho cộng đồng. Động lực lớn không phải là đam mê, mà là bổn phận. Những đam mê tính dục thông thường đã được chế ngự, vì thế giờ đây người ta kết hợp với nhau một cách xác định nhằm tiếp tục cộng đồng và tạo ra những thể tốt cho mục đích ấy. Họ xem đời sống hôn nhân chủ yếu như một cơ hội cho mục tiêu đó, và điều cần thiết cho sự sinh sản như vậy là một hành động tôn giáo và huyền thuật cần được hướng dẫn cẩn thận. Nó tạo thành một phần trong sự hiến dâng chính họ cho Thượng đế, vì thế không ai được mất thăng bằng hay lý trí liên quan đến điều ấy.

When people fall in love, and, as we should say, engage themselves, they go to the Manu Himself and ask Him for a benediction on their union. Usually they also arrange with a prospective son or daughter, so that when they go to the Manu they say that such and such a man wishes to be born from them, and ask that they may be permitted to marry. The Manu examines them to see whether they will suit each other, and if He approves He pronounces for them a formula: “Your life together shall be blessed.” Marriage is regarded almost entirely from the point of view of the prospective offspring. Sometimes it is even arranged by them. One man will call on another and say:

Khi người ta yêu nhau và, như chúng ta sẽ nói, đính hôn, họ đến với chính Đức Manu và xin Ngài ban phúc lành cho sự kết hợp của họ. Thường thì họ cũng sắp xếp với một người con trai hay con gái tương lai, vì thế khi họ đến với Đức Manu, họ nói rằng người này hay người kia muốn được sinh ra từ họ, và xin được phép kết hôn. Đức Manu xem xét họ để thấy liệu họ có phù hợp với nhau không, và nếu Ngài chấp thuận, Ngài tuyên đọc cho họ một công thức: “Đời sống chung của các con sẽ được ban phúc.” Hôn nhân hầu như được nhìn hoàn toàn từ quan điểm của hậu duệ tương lai. Đôi khi nó thậm chí do chính những người ấy sắp đặt. Một người sẽ đến thăm một người khác và nói:

“I am expecting to die in a few weeks, and I should like to have you and Miss X for my father and mother, as I have some karmic ties with both of you that I should like to work off; would that be agreeable to you?”

“Tôi dự kiến sẽ chết trong vài tuần nữa, và tôi muốn anh cùng cô X làm cha mẹ của tôi, vì tôi có một số ràng buộc nghiệp quả với cả hai người mà tôi muốn giải quyết; điều đó có thuận tiện cho anh không?”

Not infrequently the suggestion seems to be accepted, and the plan works out well. One man, who was taken at random for the purpose of investigation, was found to have three egos desiring to incarnate through him, so that when he took his prospective wife to the Manu he asked:

Không hiếm khi lời đề nghị dường như được chấp nhận, và kế hoạch diễn ra tốt đẹp. Một người, được chọn ngẫu nhiên cho mục đích khảo sát, được thấy là có ba chân ngã muốn lâm phàm qua y, vì thế khi y đưa người vợ tương lai của mình đến với Đức Manu, y hỏi:

“May we two marry, with these three egos waiting to take birth through us?”

“Hai chúng con có thể kết hôn, với ba chân ngã này đang chờ sinh ra qua chúng con, được không?”

And the Manu gave His consent. There is no other marriage ceremony than this benediction given by the Manu, nor is a wedding made the occasion of feasting or the giving of presents. There is nothing in the nature of a marriage contract. The arrangements are exclusively monogamous, and there is no such thing as divorce, though the agreement is always terminable by mutual consent. People marry distinctly with a view of furnishing a vehicle for a certain soul, and when that is safely done it seems to be entirely at their option whether they renew their agreement or not. Since the parents are selected with care, in the majority of cases the agreement is renewed, and they remain as husband and wife for life; but there are cases in which the agreement is terminated, and both parties form other alliances. Here also, as in everything else, duty is the one ruling factor, and everyone is always ready to yield his personal preference to what is thought to be best for the community as a whole. There is therefore far less of passion in these lives than in those of the older centuries; and the strongest affection is probably that between parents and children.

Và Đức Manu đã ban sự đồng thuận của Ngài. Không có nghi lễ hôn nhân nào khác ngoài phúc lành do Đức Manu ban, cũng không có tiệc cưới hay việc tặng quà nhân dịp hôn lễ. Không có gì thuộc bản chất của một khế ước hôn nhân. Các sắp đặt đều hoàn toàn một vợ một chồng, và không có điều gọi là ly dị, dù thỏa thuận luôn có thể chấm dứt bằng sự đồng thuận của cả hai. Người ta kết hôn rõ ràng với mục tiêu cung cấp một vận cụ cho một linh hồn nhất định, và khi điều đó đã được thực hiện an toàn, dường như việc họ có gia hạn thỏa thuận hay không hoàn toàn tùy chọn. Vì cha mẹ được chọn lựa cẩn thận, trong đa số trường hợp thỏa thuận được gia hạn, và họ vẫn là vợ chồng suốt đời; nhưng có những trường hợp thỏa thuận chấm dứt, và cả hai bên tạo lập những liên kết khác. Ở đây cũng vậy, như trong mọi điều khác, bổn phận là yếu tố cai quản duy nhất, và mọi người luôn sẵn sàng nhường sở thích cá nhân của mình cho điều được xem là tốt nhất cho toàn thể cộng đồng. Vì vậy, trong những đời sống này có ít đam mê hơn rất nhiều so với các thế kỷ xưa; và tình cảm mạnh mẽ nhất có lẽ là giữa cha mẹ và con cái.

There are cases in which the unwritten rule as to not marrying a person of the same type is abrogated, as, for example, when it is desired to produce children who can be trained by the Devas as priests for a particular Temple. In the rare case where a man is killed by some accident, he is at once impounded in the astral body and arrangements are made for his re-birth. Large numbers of people desire to be born as children of the members of the Council; those, however, have only the usual number of children, lest the quality should be deteriorated. Birth in the family of the Manu Himself is the greatest of all honours; but of course He selects His children Himself. There is no difference of status between the sexes, and they take up indifferently any work that is to be done. On this matter it may be interesting to record the opinion of a mind of that period which was examined for that special purpose. This man does not seem to think much of the difference between man and woman. He says that there must be both, in order that the Race may be founded, but that we know there is a better time coming for the women. He feels that in bearing children the women are taking a harder share of the work, and are therefore to be pitied and protected. The Council, however, is composed entirely of men, and, under the direction of the Manu, its members are making experiments in the creation of mind-born bodies. They have produced some respectable copies of humanity, but have not yet succeeded in satisfying the Manu.

Có những trường hợp trong đó quy luật bất thành văn về việc không kết hôn với người cùng loại được bãi bỏ, chẳng hạn khi người ta muốn tạo ra những đứa trẻ có thể được các thiên thần huấn luyện làm tư tế cho một Đền Thờ đặc biệt. Trong trường hợp hiếm hoi một người bị chết do tai nạn nào đó, y lập tức bị giữ lại trong thể cảm dục và các sắp đặt được thực hiện cho sự tái sinh của y. Rất nhiều người muốn được sinh ra làm con của các thành viên Hội Đồng; tuy nhiên, những người ấy chỉ có số con thông thường, e rằng phẩm tính bị suy giảm. Sinh ra trong gia đình của chính Đức Manu là vinh dự lớn nhất trong tất cả; nhưng dĩ nhiên chính Ngài tự chọn con cái của Ngài. Không có khác biệt về địa vị giữa các giới, và họ đảm nhận một cách bình đẳng bất cứ công việc nào cần làm. Về vấn đề này, có thể thú vị khi ghi lại ý kiến của một thể trí thuộc thời kỳ ấy, đã được khảo sát cho mục đích đặc biệt đó. Người này dường như không nghĩ nhiều về sự khác biệt giữa nam và nữ. Y nói rằng phải có cả hai để Nhân loại có thể được thiết lập, nhưng chúng ta biết rằng một thời kỳ tốt đẹp hơn đang đến cho phụ nữ. Y cảm thấy rằng khi sinh con, phụ nữ đang nhận phần công việc khó khăn hơn, và do đó đáng được thương xót và bảo vệ. Tuy nhiên, Hội Đồng hoàn toàn gồm nam giới, và dưới sự hướng dẫn của Đức Manu, các thành viên của Hội Đồng đang thực nghiệm việc tạo ra các thể sinh bởi trí. Họ đã tạo ra một số bản sao khá đáng kể của nhân loại, nhưng vẫn chưa thành công trong việc làm Đức Manu hài lòng.

CHAPTER XXVI — CHƯƠNG XXVI

BUILDINGS AND CUSTOMS — CÁC CÔNG TRÌNH VÀ PHONG TỤC

RACIAL CHARACTERISTICS — ĐẶC TÍNH CHỦNG TỘC

IN appearance the community is still like the sixth sub-race from which it sprang—that is to say, it is a white Race, although there are among it people with darker hair and eyes and a Spanish or Italian complexion. The stature of the Race has distinctly increased, for none of the men are under six feet, and even the women are but little short of this. The people are all muscular and well-proportioned, and much attention is paid to exercise and the equal development of the muscles. It is noteworthy that they preserve a free and graceful carriage even to extreme old age.

Về vẻ ngoài, cộng đồng vẫn giống như giống dân phụ thứ sáu mà từ đó nó phát sinh — nghĩa là, đó là một Nhân loại da trắng, mặc dù trong đó có những người có tóc và mắt sẫm màu hơn, cùng nước da Tây Ban Nha hay Ý. Tầm vóc của Nhân loại ấy đã tăng lên rõ rệt, vì không người nam nào thấp hơn sáu bộ, và ngay cả phụ nữ cũng chỉ thấp hơn đôi chút. Tất cả mọi người đều cơ bắp và cân đối, và người ta rất chú ý đến việc luyện tập cũng như sự phát triển đồng đều của các cơ. Điều đáng chú ý là họ giữ được dáng điệu tự do và duyên dáng ngay cả đến tuổi rất già.

PUBLIC BUILDINGS — CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG

It was mentioned in the beginning that when the community was founded a vast block of central buildings was erected, and that the houses of the first settlers were grouped round that, though always with ample space between them for beautiful gardens. By this time many subordinate towns have sprung up in the district—though perhaps the word town may mislead a twentieth century reader, since there is nothing in the least resembling the sort of town to which he is accustomed. The settlements may rather be called groups of villas thinly scattered amidst lovely parks and gardens; but at least all such settlements have their Temples, so that every inhabitant is always within easy reach of a Temple of the variety which he happens to prefer. The inhabited part of the estate is not of great size, some forty or fifty miles in diameter, so that even the great central buildings are, after all, quite easily available for anyone who wishes to visit them. Each Temple has usually in its neighbourhood a block of other public buildings—a sort of public hall, an extensive library, and also a set of school buildings.

Ở phần đầu đã có nói rằng khi cộng đồng được thành lập, một khối công trình trung tâm đồ sộ được dựng lên, và nhà của những người định cư đầu tiên được nhóm quanh đó, dù luôn có khoảng không gian rộng rãi giữa chúng dành cho những khu vườn đẹp. Đến thời điểm này, nhiều thị trấn phụ đã mọc lên trong khu vực — dù có lẽ từ thị trấn có thể khiến độc giả thế kỷ hai mươi hiểu lầm, vì không có gì dù là chút ít giống loại thị trấn mà y quen thuộc. Đúng hơn, các khu định cư có thể được gọi là những nhóm biệt thự thưa thớt rải giữa các công viên và vườn tược đáng yêu; nhưng ít nhất mọi khu định cư như vậy đều có các Đền Thờ của mình, để mỗi cư dân luôn ở trong tầm dễ dàng đến một Đền Thờ thuộc loại mà y tình cờ ưa thích. Phần có cư dân của điền địa không lớn lắm, đường kính khoảng bốn mươi hay năm mươi dặm, vì thế ngay cả các công trình trung tâm lớn rốt cuộc cũng khá dễ tiếp cận đối với bất cứ ai muốn đến thăm. Mỗi Đền Thờ thường có gần đó một khối các công trình công cộng khác — một loại hội trường công cộng, một thư viện rộng lớn, và cả một nhóm các tòa nhà trường học.

HOUSES — NHÀ CỬA

The houses built for the community before its foundation were all on the same general plan and, though a good deal of individual taste has been shown in those erected since, the broad principle is still the same. The two great features of their architecture which much differentiate it from almost all that preceded it, are the absence of walls and of corners. Houses, temples, schools, factories, all of them are nothing but roofs supported upon pillars—pillars in most cases as lofty as those of the Egyptian Temples, though far lighter and more graceful. There is, however, provision for closing the spaces between the pillars when necessary—something distantly resembling the patent automatic rolling shop-blinds of earlier centuries, but they can be made transparent at will. These devices, however, are rarely employed, and the whole of the life of the people, night and day, is in reality spent in the open air.

Những ngôi nhà được xây cho cộng đồng trước khi nó được thành lập đều theo cùng một kiểu mẫu chung, và mặc dù khá nhiều thị hiếu cá nhân đã được thể hiện trong những ngôi nhà được dựng lên sau đó, nguyên tắc rộng vẫn như cũ. Hai đặc điểm lớn trong kiến trúc của họ, vốn phân biệt nó nhiều với hầu như mọi thứ đi trước, là sự vắng mặt của tường và góc. Nhà cửa, đền thờ, trường học, nhà máy, tất cả chỉ là những mái được đỡ trên các cột — những cột trong hầu hết các trường hợp cao như cột của các Đền Thờ Ai Cập, dù nhẹ hơn và duyên dáng hơn nhiều. Tuy nhiên, có phương tiện để đóng các khoảng trống giữa các cột khi cần — một thứ hơi giống xa xa với các màn cuốn tự động có bằng sáng chế của những cửa hàng trong các thế kỷ trước, nhưng chúng có thể được làm trong suốt theo ý muốn. Tuy vậy, các thiết bị này hiếm khi được dùng, và toàn bộ đời sống của dân chúng, ngày cũng như đêm, thực sự diễn ra ngoài trời.

Domes of many shapes and sizes are prominent features. Some of them are of the shape of that of S. Peter’s, though smaller; some are low and broad, like those of San Giovanni degli Eremiti, in Palermo; some with the lotus-bud shape of those of a Muhammadan mosque. These domes are full of windows, or are often themselves built of some transparent substance of various colours. Every Temple has a great central dome, and every house has one at least. The general scheme of the house is to have a sort of great circular or oval hall under the dome, which is the general living room. Fully three-fourths of its circumference is quite open, but behind the fourth part are often built rooms and offices of various kinds, which usually rise to only half the height of the columns, having above them other small rooms which are used as bed rooms. All those rooms, though separated from one another by partitions, have no outside walls, so that in them also people are still practically in the open air. There are no corners anywhere, every room being circular or oval. There is always some part of the roof upon which it is possible to walk. Every house is full of flowers and statues, and another striking feature is the abundance of water everywhere; there are fountains, artificial cascades, miniature lakes and pools in all directions.

Các mái vòm đủ hình dạng và kích cỡ là những đặc điểm nổi bật. Một số có hình dạng như mái vòm của Thánh Phêrô, dù nhỏ hơn; một số thấp và rộng, như các mái vòm của San Giovanni degli Eremiti ở Palermo; một số có hình nụ sen như các mái vòm của một thánh đường Hồi giáo. Những mái vòm này đầy cửa sổ, hoặc thường chính chúng được xây bằng một chất liệu trong suốt có nhiều màu. Mỗi Đền Thờ có một mái vòm trung tâm lớn, và mỗi ngôi nhà có ít nhất một mái vòm. Sơ đồ chung của ngôi nhà là có một loại đại sảnh tròn hay bầu dục lớn dưới mái vòm, đó là phòng sinh hoạt chung. Trọn ba phần tư chu vi của nó hoàn toàn mở, nhưng phía sau phần tư còn lại thường xây các phòng và văn phòng đủ loại, thường chỉ cao bằng nửa chiều cao của các cột, phía trên chúng có các phòng nhỏ khác dùng làm phòng ngủ. Tất cả các phòng ấy, dù được ngăn cách với nhau bằng vách ngăn, không có tường ngoài, vì thế trong đó người ta cũng vẫn thực tế ở ngoài trời. Không có góc nào ở bất cứ đâu, mọi phòng đều tròn hay bầu dục. Luôn có một phần nào đó của mái mà người ta có thể đi lại trên đó. Mỗi ngôi nhà đều đầy hoa và tượng, và một đặc điểm nổi bật khác là sự phong phú của nước ở khắp nơi; có các vòi phun, thác nhân tạo, hồ nhỏ và ao ở mọi hướng.

The houses are always lighted from the roof. No lamps or lanterns are seen, but the dome is made to glow out in a mass of light, the colour of which can be changed at will, and in the smaller rooms a section of the ceiling is arranged to glow in the same way. All the parks and streets are thoroughly lighted at night with a soft and moonlike but penetrating light—a far nearer approach to daylight than anything previously secured.

Nhà cửa luôn được chiếu sáng từ mái. Không thấy đèn hay lồng đèn nào, nhưng mái vòm được làm cho phát sáng thành một khối ánh sáng, màu sắc của nó có thể thay đổi theo ý muốn, và trong các phòng nhỏ hơn, một phần trần được bố trí để phát sáng theo cùng cách. Tất cả các công viên và đường phố đều được chiếu sáng kỹ vào ban đêm bằng một ánh sáng dịu và giống ánh trăng nhưng xuyên thấu — gần với ánh sáng ban ngày hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì từng đạt được trước đó.

FURNISHING — ĐỒ ĐẠC

Furniture is principally conspicuous by its absence. There are scarcely any chairs in the houses, and there are no seats of any sort in the Temples or public halls. The people recline upon cushions somewhat in the oriental style, or rather perhaps like the ancient Romans, for they do not sit cross-legged. The cushions, however, are curious; they are always either air-cushions or entirely vegetable products stuffed with some especially soft fibrous material, not altogether unlike coconut fibre. These things are washable, and indeed are constantly being washed. When going to the Temple, to the library or to any public meeting each person usually carries his own air-cushion with him, but in the houses large numbers are seen lying about which may be used by anybody. There are small low tables—or perhaps they are rather to be described as book-rests, which can be so arranged as to be flat like a table. All the floors are of marble, or of stone polished like marble—often a rich crimson hue. Beds, filled either with air or water, or made of the same vegetable material as that used for the cushions, are laid upon the floor, or sometimes suspended like hammocks, but no bedsteads are used. In the few cases where there are comparatively permanent walls, as for example between the bed rooms and offices and the great hall, they are always beautifully painted with landscapes and historic scenes. Curiously, all these things are interchangeable, and there is a department which is always prepared to arrange exchanges—a kind of circulating library for decorations, through the medium of which any person can change the wall-panels or statues which decorate his house, whenever he wishes to do so.

Đồ đạc nổi bật chủ yếu bởi sự vắng mặt của nó. Hầu như không có ghế trong nhà, và không có chỗ ngồi thuộc bất cứ loại nào trong các Đền Thờ hay hội trường công cộng. Người ta ngả mình trên các đệm theo kiểu hơi phương Đông, hoặc có lẽ đúng hơn giống người La Mã cổ, vì họ không ngồi xếp bằng. Tuy nhiên, các đệm ấy thật kỳ lạ; chúng luôn là đệm khí hoặc hoàn toàn là sản phẩm thực vật được nhồi bằng một chất liệu sợi đặc biệt mềm, không hoàn toàn khác xơ dừa. Những thứ này có thể giặt được, và thật vậy thường xuyên được giặt. Khi đi đến Đền Thờ, thư viện hay bất cứ cuộc họp công cộng nào, mỗi người thường mang theo đệm khí riêng của mình, nhưng trong nhà có rất nhiều đệm nằm rải rác mà bất cứ ai cũng có thể dùng. Có những bàn nhỏ thấp — hoặc có lẽ đúng hơn nên mô tả chúng như giá đỡ sách, có thể được sắp đặt để phẳng như một cái bàn. Tất cả sàn đều bằng cẩm thạch, hoặc bằng đá đánh bóng như cẩm thạch — thường có sắc đỏ thẫm phong phú. Giường, được chứa đầy không khí hoặc nước, hoặc làm bằng cùng chất liệu thực vật như dùng cho đệm, được đặt trên sàn, hoặc đôi khi treo như võng, nhưng không dùng khung giường. Trong vài trường hợp có các bức tường tương đối cố định, chẳng hạn giữa các phòng ngủ và văn phòng với đại sảnh, chúng luôn được vẽ đẹp đẽ bằng phong cảnh và các cảnh lịch sử. Kỳ lạ thay, tất cả những thứ này đều có thể hoán đổi, và có một bộ phận luôn sẵn sàng sắp xếp các cuộc trao đổi — một loại thư viện luân chuyển dành cho trang trí, qua đó bất cứ người nào cũng có thể thay các tấm tường hay tượng trang trí nhà mình bất cứ khi nào y muốn.

DRESS — TRANG PHỤC

The dress of the people is simple and graceful, but at the same time strictly utilitarian. Most of it is not unlike that of India, though we sometimes see an approach to the ancient Greek dress. There is no uniformity about it, and people wear all sorts of different things. But there is nothing inharmonious; all is in perfect taste. Colours both brilliant and delicate are worn by both men and women alike, for there seems to be no distinction between the clothing of the sexes. Not a single article is made of wool; it is never worn. The substance employed is exclusively linen or cotton, but it is steeped in some chemical which preserves its fibres so that the garments last for a long time, even though all are washed daily. The chemical process imparts a glossy satin-like surface, but does not interfere in the least with the softness or flexibility of the material. No shoes or sandals or any other foot-coverings are worn by the members of the community, and scarcely any people wear hats, though there are a few something like the panama, and one or two small linen caps were seen. The idea of distinctive clothes for certain offices has disappeared; no uniforms of any sort are worn, except that the officiating Deva always materialises round himself robes of the colour of his Temple while conducting a service; and the children, as before described, dress themselves in certain colours when they are about to take part in the religious festivals.

Trang phục của dân chúng đơn giản và duyên dáng, nhưng đồng thời hoàn toàn thực dụng. Phần lớn không khác lắm trang phục Ấn Độ, dù đôi khi chúng ta thấy có nét gần với trang phục Hy Lạp cổ. Không có sự đồng nhất trong đó, và người ta mặc đủ loại khác nhau. Nhưng không có gì bất hòa; tất cả đều hoàn toàn có thẩm mỹ. Cả nam lẫn nữ đều mặc những màu sắc vừa rực rỡ vừa tinh tế, vì dường như không có sự phân biệt giữa y phục của các giới. Không một món nào làm bằng len; len không bao giờ được mặc. Chất liệu được dùng hoàn toàn là lanh hoặc bông, nhưng nó được ngâm trong một hóa chất nào đó để bảo tồn các sợi của nó, khiến y phục bền trong thời gian dài, dù tất cả đều được giặt hằng ngày. Tiến trình hóa học đem lại một bề mặt bóng như xa tanh, nhưng không hề cản trở chút nào đến độ mềm hay tính linh hoạt của chất liệu. Các thành viên của cộng đồng không mang giày, dép hay bất cứ vật che chân nào khác, và hầu như không ai đội mũ, dù có vài thứ hơi giống mũ panama, và người ta thấy một hai chiếc mũ nhỏ bằng vải lanh. Ý tưởng về y phục phân biệt cho một số chức vụ đã biến mất; không mặc đồng phục thuộc bất cứ loại nào, ngoại trừ vị thiên thần hành lễ luôn hiện hình quanh mình các áo choàng có màu của Đền Thờ của Ngài khi đang cử hành một buổi lễ; và trẻ em, như đã mô tả trước đây, tự mặc những màu sắc nhất định khi chúng sắp tham dự các lễ hội tôn giáo.

FOOD — THỨC ĂN

The community is entirely vegetarian, because it is one of the standing rules that nothing must be killed. Even the outer world is by this time largely vegetarian, because it has begun to be recognised that the eating of flesh is coarse, vulgar, and above all unfashionable! Comparatively few people take the trouble of preparing their own meals, or eat in their own houses, though they are perfectly free to do so if they wish. Most go to what may be called restaurants although, as they are practically entirely in the open air, they may be supposed rather to resemble tea-gardens. Fruit enters largely into the diet of the period. We have a bewildering variety of fruits, and centuries of care have been devoted to scientific crossing of fruits, so as to produce the most perfect forms of nourishment and to give them at the same time remarkable flavours.

Cộng đồng hoàn toàn ăn chay, vì một trong các quy luật thường trực là không được giết bất cứ gì. Đến thời này, ngay cả thế giới bên ngoài phần lớn cũng ăn chay, vì người ta đã bắt đầu nhận ra rằng việc ăn thịt là thô lỗ, tầm thường, và trên hết là không hợp thời! Tương đối ít người chịu khó tự chuẩn bị bữa ăn cho mình, hoặc ăn trong nhà riêng, dù họ hoàn toàn tự do làm vậy nếu muốn. Phần lớn đến những nơi có thể gọi là nhà hàng, mặc dù, vì chúng thực tế hoàn toàn ở ngoài trời, có lẽ nên xem chúng giống các vườn trà hơn. Trái cây chiếm phần lớn trong chế độ ăn của thời kỳ ấy. Chúng ta có một sự đa dạng gây choáng ngợp về trái cây, và nhiều thế kỷ chăm sóc đã được dành cho việc lai tạo trái cây một cách khoa học, nhằm tạo ra những hình thức dinh dưỡng hoàn hảo nhất và đồng thời đem lại cho chúng những hương vị đáng chú ý.

If we look in at a fruit-farm we see that the section devoted to each kind of fruit is always divided into smaller sections, and each section is labelled as having a particular flavour. We may have, for example, grapes or apples, let us say, with a strawberry flavour, a clove flavour, a vanilla flavour, and so on—mixtures which would seem curious from the point of view of those who are not accustomed to them. This is a country where there is almost no rain, so that all cultivation is managed by means of irrigation, and as they irrigate these different sections they throw into the water what is called `plant-food’ and by variations in this they succeed in imparting different flavours. By varying the food, growth can be intensified or retarded, and the size of the fruits can also be regulated. The estate of the community runs up into the hills, so they have the opportunity at different levels of cultivating almost all possible kinds of fruit.

Nếu chúng ta ghé nhìn một nông trại trái cây, chúng ta thấy rằng khu vực dành cho mỗi loại trái cây luôn được chia thành các khu nhỏ hơn, và mỗi khu được ghi nhãn là có một hương vị đặc biệt. Chẳng hạn, chúng ta có thể có nho hoặc táo, giả sử vậy, với hương dâu, hương đinh hương, hương vani, vân vân — những hỗn hợp có vẻ kỳ lạ từ quan điểm của những người chưa quen với chúng. Đây là một xứ gần như không có mưa, vì thế mọi canh tác được quản lý bằng tưới tiêu, và khi họ tưới các khu khác nhau này, họ đưa vào nước thứ được gọi là “thức ăn thực vật”, và bằng cách biến đổi thứ này họ thành công trong việc truyền các hương vị khác nhau. Bằng cách thay đổi thức ăn, sự tăng trưởng có thể được tăng cường hoặc làm chậm lại, và kích cỡ của trái cây cũng có thể được điều chỉnh. Điền địa của cộng đồng vươn lên các đồi, vì thế ở các độ cao khác nhau họ có cơ hội trồng hầu như mọi loại trái cây có thể có.

The food which is most eaten is a sort of substance somewhat resembling blanc-mange. It is to be had in all kinds of colourings, and the colouring indicates the flavour, just as it used to do in ancient Peru. There is a large selection. Perhaps the choice of different flavours in the food may to some extent take the place of many habits which have now disappeared, such as smoking, wine-drinking, or the eating of sweets. There is also a substance which looks like cheese, but is sweet. It is certainly not cheese, for no animal products are used, and no animals are kept in the colony except as pets. Milk is used, but it is exclusively the vegetable milk obtained from what is sometimes called the cow-tree, or an exact imitation made from some kind of bean. Knives and forks do not appear, but spoons are still used, and most people bring their own with them. The attendant has a sort of weapon like a hatchet with which he opens fruits and nuts. It is made of an alloy which has all the qualities of gold but has a hard edge, which apparently does not need resharpening. It is possibly made of one of the rarer metals, such as iridium. In these restaurant gardens also there are no chairs, but each person half-reclines in a marble depression in the ground, and there is a marble slab which can be turned round in front of him so that he can put his food upon it, and when he has finished he turns this up and water flows over it.

Thức ăn được ăn nhiều nhất là một loại chất hơi giống bánh blanc-mange. Nó có đủ mọi loại màu, và màu sắc cho biết hương vị, giống như từng như vậy ở Peru cổ. Có một sự lựa chọn rất lớn. Có lẽ việc chọn các hương vị khác nhau trong thức ăn ở một mức độ nào đó thay thế nhiều thói quen nay đã biến mất, như hút thuốc, uống rượu, hay ăn đồ ngọt. Cũng có một chất trông giống phô mai, nhưng có vị ngọt. Chắc chắn đó không phải là phô mai, vì không dùng sản phẩm động vật nào, và trong thuộc địa không giữ động vật nào ngoại trừ làm thú nuôi. Sữa được dùng, nhưng hoàn toàn là sữa thực vật lấy từ thứ đôi khi được gọi là cây bò sữa, hoặc một mô phỏng chính xác làm từ một loại đậu nào đó. Dao và nĩa không xuất hiện, nhưng thìa vẫn được dùng, và phần lớn người ta mang theo thìa riêng. Người phục vụ có một loại dụng cụ giống rìu nhỏ để mở trái cây và các loại hạt. Nó được làm bằng một hợp kim có mọi phẩm tính của vàng nhưng có lưỡi cứng, rõ ràng không cần mài lại. Có thể nó được làm từ một trong các kim loại hiếm hơn, như iridi. Trong các vườn nhà hàng này cũng không có ghế, nhưng mỗi người nửa ngả mình trong một chỗ lõm bằng cẩm thạch trên mặt đất, và có một phiến cẩm thạch có thể xoay ra trước mặt y để y đặt thức ăn lên đó, và khi y ăn xong, y xoay nó lên và nước chảy qua nó.

On the whole people eat distinctly less than in the twentieth century. The usual custom is to have one regular meal in the middle of the day, and to take a light refection of fruit in the morning and evening. Everybody is at breakfast just after sunrise, for people are always up then or a little before. The light evening meal is at about five o’ clock, for most people go to bed fairly early. So far as has been seen, no one sits down to a heavy meal in the evening; but there is complete individual freedom with regard to all these matters, so that people follow their own taste. The drinking of tea or coffee has not been observed; indeed there seems to be but little drinking of any sort, possibly because so much fruit is eaten.

Nhìn chung, người ta ăn ít hơn rõ rệt so với thế kỷ hai mươi. Tập quán thông thường là có một bữa chính đều đặn vào giữa ngày, và dùng một bữa nhẹ bằng trái cây vào buổi sáng và buổi tối. Mọi người ăn sáng ngay sau khi mặt trời mọc, vì lúc ấy người ta luôn đã thức dậy hoặc thức dậy trước đó một chút. Bữa nhẹ buổi tối vào khoảng năm giờ, vì phần lớn người ta đi ngủ khá sớm. Theo những gì đã thấy, không ai ngồi xuống ăn một bữa nặng vào buổi tối; nhưng có tự do cá nhân hoàn toàn liên quan đến mọi vấn đề này, vì thế người ta theo khẩu vị riêng của mình. Việc uống trà hay cà phê không được quan sát thấy; thật vậy dường như có rất ít việc uống thuộc bất cứ loại nào, có thể vì người ta ăn quá nhiều trái cây.

Plenty of water is available everywhere, even though there is almost no rain. They have enormous works for the distillation of sea-water, which is raised to a great height and then sent out on a most liberal scale. It is worthy of note, however, that the water specially sent out for drinking is not the pure result of the distillation, but they add to it a small proportion of certain chemicals—the theory being that pure distilled water is not the most healthy for drinking purposes. The manager of the distillation-works explains that they use natural spring water as far as it will go, but they cannot get nearly enough of it, and so it has to be supplemented by the distilled water; but then it is necessary to add the chemicals to this in order to make it fresh and sparkling and really thirst-quenching.

Nước có sẵn dồi dào ở khắp nơi, dù hầu như không có mưa. Họ có những công trình khổng lồ để chưng cất nước biển, được nâng lên một độ cao lớn rồi phân phối ra trên một quy mô rất rộng rãi. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là nước được gửi riêng để uống không phải là kết quả tinh khiết của sự chưng cất, mà họ thêm vào đó một tỷ lệ nhỏ của một số hóa chất — lý thuyết là nước chưng cất tinh khiết không phải là thứ lành mạnh nhất cho mục đích uống. Người quản lý các công trình chưng cất giải thích rằng họ dùng nước suối tự nhiên đến mức có thể, nhưng họ không thể có gần đủ lượng nước ấy, nên nó phải được bổ sung bằng nước chưng cất; nhưng khi ấy cần thêm các hóa chất vào nước này để làm cho nó tươi, có bọt lăn tăn và thật sự làm dịu cơn khát.

LIBRARIES — THƯ VIỆN

The literary arrangements are curious but perfect. Every house is provided, gratis and as part of its permanent fittings, with a sort of encyclopaedia of the most comprehensive nature, containing an epitome of practically all that is known, put as tersely as possible and yet with great wealth of detail, so as to contain all the information that an ordinary man is ever likely to want on any subject. If, however, for some reason he needs to know more, he has only to go to the nearest district library, of which there is one connected with each Temple. There he finds a far fuller encyclopaedia, in which the article on any given subject contains a careful epitome of every book that has ever been written upon it—a most colossal work. If he wants to know still more, or if he wants to consult original books printed in the old languages or the ancient Roman type now disused, he has to go to the central library of the community, which is on a scale commensurate with that of the British Museum. Translations into the English of the day printed in this shorthand-like script are always appended to these originals.

Các sắp đặt văn học thật kỳ lạ nhưng hoàn hảo. Mỗi ngôi nhà được cung cấp miễn phí và như một phần của trang bị cố định thường xuyên, một loại bách khoa thư có tính bao quát nhất, chứa một bản tóm lược gần như tất cả những gì được biết đến, được trình bày ngắn gọn nhất có thể nhưng vẫn hết sức giàu chi tiết, để chứa mọi thông tin mà một người bình thường có thể cần về bất cứ chủ đề nào. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó y cần biết thêm, y chỉ cần đến thư viện khu vực gần nhất, mà mỗi Đền Thờ đều có một thư viện liên kết. Ở đó y tìm thấy một bách khoa thư đầy đủ hơn nhiều, trong đó bài viết về bất cứ chủ đề nào cũng chứa một bản tóm lược cẩn thận của mọi cuốn sách từng được viết về chủ đề ấy — một công trình đồ sộ nhất. Nếu y muốn biết thêm nữa, hoặc nếu y muốn tham khảo các sách nguyên bản được in bằng các ngôn ngữ xưa hoặc kiểu chữ La Mã cổ nay không còn dùng, y phải đến thư viện trung tâm của cộng đồng, có quy mô tương xứng với Bảo tàng Anh. Các bản dịch sang tiếng Anh của thời ấy, được in bằng lối chữ giống tốc ký này, luôn được đính kèm với các nguyên bản ấy.

Thus it is possible for a man to study to the fullest any subject in which he is interested, for all instruments of research and books are provided free in this way. New books are being written all the time on all conceivable subjects. The fiction of the day is almost entirely based upon reincarnation, the characters always passing from life to life and exemplifying the working of karma; but a novelist in these days writes not with a view to fame or money, but always to the good of the community. Some people are writing short articles, and these are always on view at their own district Temple hall. Anyone may go and read them there, and anyone who is interested has only to go and ask for a copy and it is given to him. If a man is writing a book it is exhibited in this way, chapter by chapter; the whole life is in this way communal; the people share with their neighbours what they are doing while they are doing it.

Như vậy, một người có thể nghiên cứu đến mức đầy đủ nhất bất cứ chủ đề nào mà y quan tâm, vì mọi dụng cụ nghiên cứu và sách vở đều được cung cấp miễn phí theo cách này. Sách mới luôn được viết về mọi chủ đề có thể tưởng tượng được. Tiểu thuyết của thời ấy hầu như hoàn toàn dựa trên luân hồi, các nhân vật luôn chuyển từ đời này sang đời khác và minh họa hoạt động của nghiệp quả; nhưng một tiểu thuyết gia trong thời này viết không nhằm danh tiếng hay tiền bạc, mà luôn vì điều tốt đẹp của cộng đồng. Một số người viết các bài ngắn, và những bài này luôn được trưng bày tại hội trường Đền Thờ khu vực của chính họ. Bất cứ ai cũng có thể đến đó đọc, và bất cứ ai quan tâm chỉ cần đến xin một bản sao thì sẽ được trao cho. Nếu một người đang viết một cuốn sách, nó được trưng bày theo cách này, từng chương một; toàn bộ đời sống theo cách ấy là cộng đồng; người ta chia sẻ với láng giềng của mình điều họ đang làm ngay trong khi họ đang làm nó.

NEWSPAPERS — BÁO CHÍ

The daily newspaper has disappeared—or perhaps we may rather say that it survives in a much amended form. To make it comprehensible it must be premised that in each house there is a machine which is a kind of combination of a telephone and recording tape-machine. This is in connection with a central office in the capital city, and is so arranged that not only can one speak through it as through a telephone, but that anything written or drawn upon a specially prepared plate and put into the box of the large machine at the central office will reproduce itself automatically upon slips which fall into the box of the machine in each of the houses. What takes the place of the morning newspaper is managed in this way. It may be said that each person has his newspaper printed in his own house. When any news of importance arrives at any time it is instantly forwarded in this way to every house in the community; but a special collection of such news is sent early each morning and is commonly called the Community Breakfast Chat. It is a comparatively small affair and has a certain resemblance to a table of contents and an index, for it gives the briefest epitome of the news, but attaches a number to each item, the different departments being printed upon different colours. If any person wants full information as to any of the items, he has only to ring up the central office and ask for details of number so-and-so, and all that is available is at once sent along his wire and dropped before him. But the newspaper differs greatly from those of older times. There is hardly any political news, for even the outer world has changed in many ways. There is a great deal of information upon scientific subjects, and as to new theories. There are still notes of the private doings of royal people, but they are quite brief. There is a department for community news, but even that is chiefly concerned with scientific papers, inventions and discoveries, although it also records marriages and births.

Tờ báo hằng ngày đã biến mất — hoặc có lẽ đúng hơn chúng ta có thể nói rằng nó vẫn tồn tại dưới một hình thức đã được cải thiện rất nhiều. Để làm cho điều này dễ hiểu, cần nói trước rằng trong mỗi ngôi nhà có một chiếc máy là một loại kết hợp giữa điện thoại và máy ghi băng. Nó liên kết với một văn phòng trung tâm trong thủ đô, và được sắp xếp sao cho không chỉ người ta có thể nói qua nó như qua điện thoại, mà bất cứ thứ gì được viết hay vẽ trên một tấm bản được chuẩn bị đặc biệt và đặt vào hộp của chiếc máy lớn tại văn phòng trung tâm sẽ tự động tái hiện trên các mảnh giấy rơi vào hộp của chiếc máy trong mỗi ngôi nhà. Thứ thay thế tờ báo buổi sáng được quản lý theo cách này. Có thể nói rằng mỗi người có tờ báo của mình được in ngay trong nhà mình. Khi bất cứ tin tức quan trọng nào đến vào bất cứ lúc nào, nó lập tức được chuyển theo cách này đến mọi nhà trong cộng đồng; nhưng một tuyển tập đặc biệt các tin tức như vậy được gửi đi vào sáng sớm mỗi ngày và thường được gọi là Cuộc Trò Chuyện Bữa Sáng của Cộng Đồng. Đó là một việc tương đối nhỏ và có phần giống với mục lục và bảng chỉ dẫn, vì nó đưa ra bản tóm lược ngắn nhất của tin tức, nhưng gắn một con số cho mỗi mục, các ban khác nhau được in trên các màu khác nhau. Nếu bất cứ người nào muốn thông tin đầy đủ về một mục nào đó, y chỉ cần gọi văn phòng trung tâm và hỏi chi tiết của số này hay số kia, và tất cả những gì có sẵn lập tức được gửi dọc theo đường dây của y và rơi xuống trước mặt y. Nhưng tờ báo khác rất nhiều với những tờ báo của thời xưa. Hầu như không có tin chính trị, vì ngay cả thế giới bên ngoài cũng đã thay đổi theo nhiều cách. Có rất nhiều thông tin về các chủ đề khoa học và về các lý thuyết mới. Vẫn còn những ghi chú về các việc riêng của những người thuộc hoàng gia, nhưng chúng rất ngắn. Có một ban dành cho tin tức cộng đồng, nhưng ngay cả ban ấy cũng chủ yếu liên quan đến các bài khoa học, phát minh và khám phá, mặc dù nó cũng ghi nhận các cuộc hôn nhân và sinh nở.

The same instrument is also used for adding to the household encyclopaedias whenever it is necessary. Extra slips are sent out daily whenever there is anything to say, so that just as the newspaper is being delivered in slices all day, so now and then come little slips to be added to the various departments of the encyclopaedia.

Cùng một dụng cụ ấy cũng được dùng để bổ sung cho các bách khoa thư trong gia đình bất cứ khi nào cần. Các mảnh giấy bổ sung được gửi ra hằng ngày bất cứ khi nào có điều gì cần nói, vì thế cũng như tờ báo được chuyển đến từng phần suốt cả ngày, thì thỉnh thoảng lại có những mảnh giấy nhỏ để thêm vào các ban khác nhau của bách khoa thư.

PUBLIC MEETINGS — CÁC CUỘC HỌP CÔNG CỘNG

In connection with each Temple there is a definite scheme of educational buildings, so that broadly speaking the school-work of each district is done under the aegis of its Temple. The great central Temple has in connection with it the huge open-air places of assembly, where, when necessary, almost the entire community can be gathered together. More usually, when the Manu desires to promulgate some edict or information to all His people He Himself speaks in the great central Temple, and what He says is simultaneously produced by a sort of altogether improved phonographic system in all the other Temples. It would seem that each of the district Temples has a sort of representative phonograph in the central Temple, which records at the other end of the line all that takes place there, so that all particulars are in this way immediately reproduced.

Liên quan đến mỗi Đền Thờ có một hệ thống nhất định các tòa nhà giáo dục, vì thế nói chung công việc trường học của mỗi khu vực được thực hiện dưới sự bảo trợ của Đền Thờ của khu ấy. Đền Thờ trung tâm lớn có liên kết với nó những nơi hội họp khổng lồ ngoài trời, nơi khi cần thiết hầu như toàn thể cộng đồng có thể được tập hợp lại. Thường hơn, khi Đức Manu muốn ban bố một sắc lệnh hay thông tin nào đó cho toàn dân của Ngài, chính Ngài nói trong Đền Thờ trung tâm lớn, và những gì Ngài nói được một loại hệ thống ghi âm đã cải tiến hoàn toàn tạo ra đồng thời trong tất cả các Đền Thờ khác. Dường như mỗi Đền Thờ khu vực có một loại máy ghi âm đại diện trong Đền Thờ trung tâm, ghi lại ở đầu kia của đường dây mọi điều diễn ra tại đó, để mọi chi tiết theo cách này được tái hiện ngay lập tức.

SCIENCE DEPARTMENTS — CÁC BAN KHOA HỌC

Mention has already been made of the great central library in connection with the central Temple. In addition to that, as another part of the same great mass of buildings, there is a complete and well-appointed museum, and also what may be called a university. Many branches of study are taken up here, but they are pursued by methods different from those of old. The study of animals and plants, for example, is entirely and only done by means of clairvoyance, and never by destruction of any kind, only those being professors and students of these arts who have developed sufficient sight to work in this manner. There is a department of what we may call physical geography, which has already mapped out the entire earth in a vast number of large-scale models, which show by coloured signs and inscriptions not only the nature of the surface soil, but also what is to he found in the way of minerals and fossils down to a considerable depth.

Trước đây đã có nhắc đến thư viện trung tâm lớn liên kết với Đền Thờ trung tâm. Ngoài ra, như một phần khác của cùng khối công trình lớn ấy, có một bảo tàng hoàn chỉnh và được trang bị tốt, và cũng có thứ có thể gọi là một trường đại học. Nhiều ngành học được tiến hành ở đây, nhưng chúng được theo đuổi bằng các phương pháp khác với xưa. Chẳng hạn, việc nghiên cứu động vật và thực vật hoàn toàn và chỉ được thực hiện bằng thông nhãn, và không bao giờ bằng bất cứ hình thức hủy diệt nào; chỉ những người đã phát triển đủ khả năng thấy để làm việc theo cách này mới là giáo sư và đạo sinh của các nghệ thuật ấy. Có một ban mà chúng ta có thể gọi là địa lý hồng trần, đã lập bản đồ toàn bộ Trái Đất trong một số lượng rất lớn các mô hình tỷ lệ lớn, cho thấy bằng các dấu hiệu màu và chữ ghi không chỉ bản chất của lớp đất bề mặt, mà còn những gì có thể tìm thấy về khoáng vật và hóa thạch xuống đến một độ sâu đáng kể.

There is also an elaborate ethnographical department in which there are life-size statues of all races of men which have ever existed on the earth, and also models of those existing on other planets of this chain. There is even a department with reference to the other chains of the solar system. For each of the statues there is an exhaustive description with diagrams showing in what way his higher vehicles differ. The whole is tabulated and arranged from the point of view of the Manu, to show what the development of mankind has been in the various Races and sub-races. A good deal is also shown of the future, and models with detailed explanations are given for them also. In addition to this there is also the anatomical department, dealing with the whole detailed anatomy of the human and animal bodies in the past, the present and the future. There is not exactly any medical department, for illness no longer exists; it has been eliminated. There is still, however, surgery for cases of accident, though even that has been much improved. Few professors of that art are needed, for naturally accidents are rare. There is nothing corresponding to the great hospitals of former times, but only a few light and airy rooms, in which the victims of accidents can be temporarily laid if necessary.

Cũng có một ban dân tộc học công phu, trong đó có các tượng kích thước thật của tất cả các nhân loại từng tồn tại trên Trái Đất, và cả các mô hình của những nhân loại tồn tại trên các hành tinh khác của Dãy này. Thậm chí còn có một ban liên quan đến các Dãy khác của hệ mặt trời. Đối với mỗi pho tượng có một mô tả đầy đủ với các sơ đồ cho thấy các vận cụ cao của y khác nhau như thế nào. Toàn bộ được lập bảng và sắp xếp từ quan điểm của Đức Manu, để cho thấy sự phát triển của nhân loại đã diễn ra như thế nào trong các Nhân loại và giống dân phụ khác nhau. Một phần đáng kể của tương lai cũng được trình bày, và các mô hình cùng những giải thích chi tiết cũng được đưa ra cho chúng. Ngoài ra còn có ban giải phẫu, đề cập đến toàn bộ giải phẫu chi tiết của các thể người và động vật trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Không hẳn có một ban y học nào, vì bệnh tật không còn tồn tại; nó đã bị loại trừ. Tuy nhiên, vẫn còn phẫu thuật cho các trường hợp tai nạn, dù ngay cả điều đó cũng đã được cải thiện nhiều. Cần rất ít giáo sư của nghệ thuật ấy, vì tự nhiên tai nạn hiếm khi xảy ra. Không có gì tương ứng với các bệnh viện lớn của thời trước, mà chỉ có vài phòng sáng sủa và thoáng khí, nơi các nạn nhân tai nạn có thể được đặt tạm thời nếu cần.

Connected with the centre of learning is also an elaborate museum of all sorts of arts and crafts which have existed in the world from the beginning onwards. There are also models of all kinds of machinery, most of which is new to us, since it has been invented between the twentieth century and the twenty-eighth. There is also much Atlantean machinery which had long been forgotten, so that there is a complete arrangement for any kind of study along these lines.

Liên kết với trung tâm học thuật cũng có một bảo tàng công phu về đủ loại nghệ thuật và thủ công từng tồn tại trên thế giới từ ban đầu trở đi. Cũng có các mô hình của đủ loại máy móc, phần lớn là mới đối với chúng ta, vì chúng đã được phát minh trong khoảng giữa thế kỷ hai mươi và thế kỷ hai mươi tám. Cũng có nhiều máy móc Atlantis từ lâu đã bị quên lãng, vì thế có một sự sắp đặt hoàn chỉnh cho bất cứ loại nghiên cứu nào theo các tuyến này.

History is still being written, and it has been in process of production for more than a hundred years; but it is being written from a reading of the records. It is illustrated by a method which is quite new to us—a method which precipitates a scene from the records when it is considered important. We have in addition a series of models illustrating the history of the world at all periods. In the central library there are certain small rooms somewhat like telephone-cabinets, into which students can take the record of any prominent event in history, and by putting it into a machine and setting that in motion they can have the whole scene reproduced audibly and visibly, with the exact presentment of the appearance of the actors, and their words in the very tones in which they were spoken.

Lịch sử vẫn đang được viết, và nó đã ở trong tiến trình tạo ra hơn một trăm năm; nhưng nó đang được viết từ việc đọc các hồ sơ. Nó được minh họa bằng một phương pháp hoàn toàn mới đối với chúng ta — một phương pháp ngưng tụ một cảnh từ các hồ sơ khi cảnh ấy được xem là quan trọng. Ngoài ra, chúng ta có một loạt mô hình minh họa lịch sử thế giới ở mọi thời kỳ. Trong thư viện trung tâm có một số phòng nhỏ hơi giống buồng điện thoại, nơi các đạo sinh có thể mang hồ sơ của bất cứ biến cố nổi bật nào trong lịch sử vào, và bằng cách đặt nó vào một chiếc máy rồi cho máy ấy hoạt động, họ có thể có toàn cảnh được tái hiện bằng âm thanh và hình ảnh, với sự trình bày chính xác vẻ ngoài của các nhân vật, và lời nói của họ đúng bằng những âm sắc mà chúng đã được nói ra.

There is also an astronomical department, with most interesting machinery indicating the exact position at any moment of everything visible in the sky. There is a great mass of information about all these worlds. There are two departments, one for direct observation by various means and another for the tabulation of information acquired by testimony. Much of this information has been given by Devas connected with various planets and stars; but this is always kept entirely apart from the results of direct observation. Chemistry has been carried to a wonderful height and depth. All possible combinations are now fully understood, and the science has an extension in connection with elemental essence, which leads on to the whole question of nature-spirits and Devas as a definite department of science, studied with illustrative models. There is also a department of talismans, so that any sensitive person can by psychometry go behind the mere models, and see the things in themselves.

Cũng có một ban thiên văn, với những máy móc rất thú vị cho biết vị trí chính xác vào bất cứ khoảnh khắc nào của mọi thứ nhìn thấy được trên bầu trời. Có một khối lượng thông tin lớn về tất cả các thế giới này. Có hai ban, một ban dành cho quan sát trực tiếp bằng nhiều phương tiện khác nhau và một ban khác dành cho việc lập bảng thông tin thu được qua lời chứng. Phần lớn thông tin này do các thiên thần liên kết với các hành tinh và ngôi sao khác nhau cung cấp; nhưng điều này luôn được giữ hoàn toàn tách biệt với các kết quả của quan sát trực tiếp. Hóa học đã được đưa lên một chiều cao và chiều sâu kỳ diệu. Mọi kết hợp có thể có nay đều được thấu hiểu đầy đủ, và khoa học này có một phần mở rộng liên quan đến Tinh chất hành khí, dẫn đến toàn bộ vấn đề tinh linh tự nhiên và các thiên thần như một ban khoa học xác định, được nghiên cứu với các mô hình minh họa. Cũng có một ban bùa hộ mệnh, để bất cứ người nhạy cảm nào cũng có thể nhờ Thuật trắc tâm đi ra sau các mô hình đơn thuần, và thấy chính các sự vật.

ARTS — NGHỆ THUẬT

It does not seem that lecturing holds at all a prominent place. Sometimes a man who is studying a subject may talk to a few friends about it, but beyond that, if he has anything to say he submits it to the officials and it gets into the daily news. If anybody writes poetry or an essay he communicates it to his own family, and perhaps puts it up in the district hall. People still paint, but only as a kind of recreation. No one now devotes the whole of his time to that. Art, however, permeates life to a far greater extent than ever before, for everything, even the simplest object for daily use, is artistically made, and the people put something of themselves into their work and are always trying new experiments.

Dường như việc thuyết giảng hoàn toàn không giữ một vị trí nổi bật. Đôi khi một người đang nghiên cứu một chủ đề có thể nói chuyện với vài người bạn về nó, nhưng ngoài điều đó, nếu y có điều gì muốn nói, y nộp nó cho các viên chức và nó đi vào tin tức hằng ngày. Nếu ai đó viết thơ hay một tiểu luận, y truyền đạt nó cho gia đình riêng của mình, và có lẽ đưa nó lên hội trường khu vực. Người ta vẫn vẽ tranh, nhưng chỉ như một loại giải trí. Nay không ai dành toàn bộ thời gian của mình cho việc ấy. Tuy nhiên, nghệ thuật thấm nhuần đời sống ở mức độ lớn hơn nhiều so với trước kia, vì mọi thứ, ngay cả vật dụng đơn giản nhất cho đời sống hằng ngày, đều được làm một cách nghệ thuật, và người ta đặt một phần chính mình vào công việc của họ và luôn thử những thí nghiệm mới.

There is nothing corresponding to a theatre, and on bringing the idea to the notice of an inhabitant, a definition of it comes into his mind as a place in which people used to run about and declaim, pretending to be other than they were, and taking the parts of great people. They consider it as archaic and childish. The great choric dances and processions may be considered as theatrical, but to them these appear as religious exercises.

Không có gì tương ứng với nhà hát, và khi đưa ý tưởng ấy đến sự chú ý của một cư dân, trong thể trí của y xuất hiện một định nghĩa về nó như một nơi mà người ta từng chạy qua chạy lại và ngâm diễn, giả vờ là khác với chính họ, và đóng vai các nhân vật lớn. Họ xem điều đó là cổ xưa và trẻ con. Các điệu múa đồng ca và đoàn rước lớn có thể được xem là có tính sân khấu, nhưng đối với họ, những điều này xuất hiện như các thực hành tôn giáo.

Games and athletics are prominent in this new life. There are gymnasiums, and much attention is given to physical development in women as well as in men. A game much like lawn-tennis is one of the principal favourites. The children play about just as of old, and enjoy great freedom.

Trò chơi và thể thao nổi bật trong đời sống mới này. Có các phòng thể dục, và người ta rất chú ý đến sự phát triển thể chất ở phụ nữ cũng như nam giới. Một trò chơi rất giống quần vợt sân cỏ là một trong những trò được ưa thích chính. Trẻ em chơi đùa như xưa và tận hưởng sự tự do lớn.

WILL-POWER — QUYỀN NĂNG Ý CHÍ

The force of will is universally recognised in the community and many things are performed by its direct action. Nature-spirits are well known, and take a prominent part in the daily life of the people, most of whom can see them. Almost all children are able to see them and to use them in various ways, but they often lose some of this power as they grow up. The use of such methods, and also of telepathy, is a kind of game among the children, and the grown-up people recognise their superiority in this respect, so that if they want to convey a message to some friend at a distance they often call the nearest child and ask him to send it rather than attempt to do it themselves. He can send the message telepathically to some child at the other end, who then immediately conveys it to the person for whom it is intended, and this is a quite reliable and usual method of communication. Adults often lose the power at the time of their marriage, but some few of them retain it, though it needs a far greater effort for them than it does for the child.

Mãnh lực của ý chí được công nhận phổ quát trong cộng đồng và nhiều việc được thực hiện bằng tác động trực tiếp của nó. Các tinh linh tự nhiên được biết rõ, và giữ một phần nổi bật trong đời sống hằng ngày của dân chúng, phần lớn trong số họ có thể thấy chúng. Hầu như mọi trẻ em đều có thể thấy chúng và sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau, nhưng chúng thường mất một phần quyền năng này khi lớn lên. Việc dùng các phương pháp như vậy, và cả viễn cảm, là một loại trò chơi giữa trẻ em, và người lớn nhận ra sự vượt trội của chúng về phương diện này; vì thế nếu họ muốn truyền một thông điệp đến một người bạn ở xa, họ thường gọi đứa trẻ gần nhất và nhờ nó gửi đi hơn là tự cố làm. Nó có thể gửi thông điệp bằng viễn cảm đến một đứa trẻ nào đó ở đầu kia, đứa trẻ ấy lập tức chuyển nó đến người mà thông điệp dành cho, và đây là một phương pháp giao tiếp hoàn toàn đáng tin cậy và thông thường. Người lớn thường mất quyền năng này vào lúc kết hôn, nhưng một số ít trong họ giữ được nó, dù điều đó đòi hỏi nơi họ một nỗ lực lớn hơn rất nhiều so với nơi đứa trẻ.

ECONOMIC CONDITIONS — ĐIỀU KIỆN KINH TẾ

Some effort was made to comprehend the economic conditions of the colony, but it was not found easy to understand them. The community is self-supporting, making for itself everything which it needs. The only importations from outside are curiosities such as ancient manuscripts, books and objects of art. These are always paid for by the officials of the community, who have a certain amount of the money of the outside world, which has been brought in by tourists or visitors. Also they have learnt the secret of making gold and jewels of various kinds by alchemical means, and these are often used for payment for the few goods imported from the outside. If a private member wishes for something which can only be bought from the outer world, he gives notice of his desire to the nearest official, and work of some sort is assigned to him in addition to the daily work which he is normally doing, so that by that he may earn the value of whatever he desires.

Một nỗ lực nào đó đã được thực hiện để thấu hiểu các điều kiện kinh tế của thuộc địa, nhưng người ta thấy không dễ gì thấu hiểu chúng. Cộng đồng này tự túc, tự làm ra mọi thứ mình cần. Những thứ duy nhất được nhập từ bên ngoài là các vật lạ quý hiếm như bản thảo cổ, sách và tác phẩm nghệ thuật. Những thứ này luôn do các viên chức của cộng đồng chi trả; họ có một lượng tiền nhất định của thế giới bên ngoài, do khách du lịch hoặc khách viếng thăm mang vào. Ngoài ra, họ cũng đã học được bí quyết chế tạo vàng và các loại đá quý bằng phương tiện thuật luyện kim, và những thứ này thường được dùng để thanh toán cho số ít hàng hóa nhập từ bên ngoài. Nếu một thành viên tư nhân muốn có thứ gì chỉ có thể mua từ thế giới bên ngoài, y báo ý muốn của mình cho viên chức gần nhất, và một loại công việc nào đó được giao thêm cho y ngoài công việc hằng ngày mà y thường làm, để nhờ đó y có thể kiếm được giá trị của bất cứ thứ gì y mong muốn.

Everybody undertakes some work for the good of the community, but it is usually left entirely to each to choose what it is to be. No one kind of work is esteemed nobler than any other kind, and there is no idea of caste of any sort. The child at a certain age chooses what he will do, and it is always open to him to change from one kind of work to another by giving due notice. Education is free, but the free tuition of the central university is given only to those who have already shown themselves specially proficient in the branches which they wish to pursue. Food and clothing are given freely to all—or rather, to each person is distributed periodically a number of tokens in exchange for one of which he can obtain a meal at any of the great restaurant-gardens anywhere all over the colony. Or if he prefers it he can go to certain great stores and there obtain food-materials, which he can take home and prepare as he wishes. The arrangement appears complicated to an outsider, but it works perfectly simply among those who thoroughly understand it.

Mọi người đều đảm nhận một công việc nào đó vì lợi ích của cộng đồng, nhưng thường thì mỗi người hoàn toàn được tự chọn công việc ấy là gì. Không một loại công việc nào được coi là cao quý hơn loại công việc khác, và không có ý niệm về giai cấp dưới bất cứ hình thức nào. Đến một độ tuổi nhất định, đứa trẻ chọn việc mình sẽ làm, và y luôn có thể chuyển từ loại công việc này sang loại công việc khác bằng cách báo trước đúng hạn. Giáo dục miễn phí, nhưng việc giảng dạy miễn phí tại đại học trung tâm chỉ dành cho những người đã tỏ ra đặc biệt thành thạo trong các ngành mà họ muốn theo đuổi. Thực phẩm và y phục được cấp miễn phí cho tất cả—hay đúng hơn, mỗi người định kỳ được phân phát một số thẻ, đổi lấy một thẻ thì y có thể nhận một bữa ăn tại bất kỳ nhà hàng-vườn lớn nào ở bất cứ nơi đâu trong toàn thuộc địa. Hoặc nếu thích, y có thể đến một số cửa hàng lớn và tại đó nhận nguyên liệu thực phẩm, rồi mang về nhà và chuẩn bị theo ý muốn. Sự sắp đặt này có vẻ phức tạp đối với người ngoài, nhưng nó vận hành hoàn toàn đơn giản giữa những người thấu hiểu nó.

All the people are working for the community, and among the work done is the production of food and clothing, which it then proceeds to hand round. Take, for example, the case of a cloth factory. It is the Government’s factory, and it is turning out on an average so much cloth, but the output can be increased or decreased at will. The work is chiefly in the hands of girls; who join the factory voluntarily; indeed, there is a competition to get in, for only a certain number are needed. If things are not wanted they are not made. If cloth is wanted the factory is there to produce it; if not, it simply waits. The superintendent in charge of the cloth-store of the Government calculates that in a certain time he will need so much cloth, that he has in stock so much, and therefore requires for renewal so much, and he asks for it accordingly; if he does not want any, he says he has enough. The factory never closes, though the hours vary considerably.

Tất cả mọi người đều làm việc cho cộng đồng, và trong số công việc được thực hiện có việc sản xuất thực phẩm và y phục, rồi cộng đồng lại phân phối chúng. Hãy lấy ví dụ trường hợp một xưởng dệt. Đó là xưởng của Chính phủ, và trung bình xưởng sản xuất một lượng vải nhất định, nhưng sản lượng có thể tăng hoặc giảm tùy ý. Công việc chủ yếu nằm trong tay các cô gái; họ tự nguyện gia nhập xưởng; thật vậy, còn có sự cạnh tranh để được vào, vì chỉ cần một số lượng nhất định. Nếu không cần đồ vật thì chúng không được làm ra. Nếu cần vải thì xưởng có đó để sản xuất; nếu không, nó chỉ đơn giản chờ đợi. Người giám quản phụ trách kho vải của Chính phủ tính rằng trong một thời gian nhất định ông sẽ cần bấy nhiêu vải, rằng trong kho ông có bấy nhiêu, và do đó cần bấy nhiêu để bổ sung, rồi ông yêu cầu tương ứng; nếu ông không cần gì, ông nói mình đã có đủ. Xưởng không bao giờ đóng cửa, dù giờ làm thay đổi khá nhiều.

In this cloth factory the workers are mostly women, quite young, and they are doing little but superintending certain machines and seeing that they do not go wrong. Each of them is managing a kind of loom into which she has put a number of patterns. Imagine something like a large clock-face with a number of movable studs on it. When a girl starts her machine she arranges these studs according to her own ideas, and as the machine goes on its movements produce a certain design. She can set it to turn out fifty cloths, each of different pattern, and then leave it. Each girl sets her machine differently—that is where their art comes in; every piece is different from every other piece, unless she allows the machine to run through its list over again after it has finished the fifty. In the meantime, after having started the machines the girls need to glance at them occasionally, and the machinery is so perfect that practically nothing ever goes wrong with it. It is arranged to run almost silently, so that while they are waiting one of the girls reads from a book to the rest.

Trong xưởng dệt này, công nhân phần lớn là phụ nữ, còn rất trẻ, và họ hầu như chỉ giám sát một số máy móc nhất định và xem chúng không trục trặc. Mỗi người điều khiển một loại khung cửi mà vào đó cô đã đặt một số kiểu mẫu. Hãy hình dung một thứ giống như mặt đồng hồ lớn có nhiều chốt di động trên đó. Khi một cô gái khởi động máy của mình, cô sắp xếp các chốt này theo ý tưởng riêng, và khi máy vận hành, các chuyển động của nó tạo ra một kiểu thiết kế nhất định. Cô có thể đặt máy để dệt ra năm mươi tấm vải, mỗi tấm có hoa văn khác nhau, rồi rời đi. Mỗi cô gái đặt máy của mình theo cách khác nhau—chính ở đó nghệ thuật của họ xuất hiện; mỗi mảnh đều khác với mọi mảnh khác, trừ khi cô cho phép máy chạy lại danh sách của nó sau khi đã hoàn tất năm mươi tấm. Trong lúc đó, sau khi đã khởi động máy, các cô gái chỉ cần thỉnh thoảng liếc nhìn chúng, và máy móc hoàn hảo đến nỗi trên thực tế hầu như chẳng bao giờ có trục trặc. Chúng được sắp xếp để vận hành gần như im lặng, nên trong khi chờ đợi, một trong các cô gái đọc sách cho những người còn lại nghe.

THE NEW POWER — QUYỀN NĂNG MỚI

One feature which makes an enormous difference is the way in which power is supplied. There are no longer any fires anywhere, and therefore no heat, no grime, no smoke, and hardly any dust. The whole world has evolved by this time beyond the use of steam, or any other form of power which needs heat to generate it. There seems to have been an intermediate period when some method was discovered of transferring electrical power without loss for enormous distances, and at that time all the available water-power of the earth was collected and syndicated; falls in Central Africa and in all sorts of out-of-the-way places were made to contribute their share, and all this was gathered together at great central stations and internationally distributed. Tremendous as was the power available in that way, it has now been altogether transcended, and all that elaborate arrangement has been rendered useless by the discovery of the best method to utilise what the late Mr. Keely called dynaspheric force—the force concealed in every atom of physical matter.

Một đặc điểm tạo nên sự khác biệt to lớn là cách cung cấp quyền năng. Không còn lửa ở bất cứ đâu, và vì vậy không có nhiệt, không có cáu bẩn, không có khói, và hầu như không có bụi. Đến thời điểm này, toàn thế giới đã tiến hoá vượt khỏi việc sử dụng hơi nước, hay bất kỳ hình thức quyền năng nào khác cần nhiệt để sinh ra nó. Dường như đã có một thời kỳ trung gian khi người ta khám phá ra một phương pháp truyền quyền năng điện đi những khoảng cách khổng lồ mà không tổn thất, và vào thời ấy tất cả thủy năng sẵn có của Trái Đất được thu gom và hợp doanh; các thác nước ở Trung Phi và ở đủ mọi nơi hẻo lánh đều được khiến đóng góp phần của mình, và tất cả được gom lại tại các trạm trung tâm lớn rồi phân phối quốc tế. Dù quyền năng có được theo cách ấy là phi thường, nay nó đã hoàn toàn bị vượt qua, và toàn bộ sự sắp đặt công phu ấy đã trở nên vô dụng nhờ việc khám phá ra phương pháp tốt nhất để sử dụng điều mà ông Keely quá cố gọi là mãnh lực dynaspheric—mãnh lực ẩn giấu trong mỗi nguyên tử vật chất hồng trần.

It will be remembered that as long ago as 1907, Sir Oliver Lodge remarked that “the total output of a million-kilowatt station for thirty million years exists permanently and at present inaccessibly in every cubic millimetre of space”. (Philosophical Magazine, April, 1907, p. 493.) At the period which we are now describing, this power is no longer inaccessible, and consequently unlimited power is supplied free to everyone all over the world. It is on tap, like gas or water, in every house and every factory in this community, as well as everywhere else where it is needed, and it can be utilised for all possible purposes to which power can be turned. Every kind of work all over the world is now done in this way. Heating and lighting are simply manifestations of it. For example, whenever heat is required, no one in any civilised country dreams of going through the clumsy and wasteful process of lighting a fire. He simply turns on the force and, by a tiny little instrument which can be carried in the pocket, converts it into heat at exactly the point required. A temperature of many thousands of degrees can be produced instantly wherever needed, even in an area as small as a pin’s head.

Cần nhớ rằng từ xa xưa như năm 1907, Ngài Oliver Lodge đã nhận xét rằng “tổng sản lượng của một nhà máy một triệu kilowatt trong ba mươi triệu năm tồn tại thường trực và hiện nay chưa thể tiếp cận trong mỗi milimét khối không gian”. (Tạp chí Triết học, tháng Tư, 1907, tr. 493.) Vào thời kỳ mà chúng ta đang mô tả, quyền năng này không còn không thể tiếp cận nữa, và do đó quyền năng vô hạn được cung cấp miễn phí cho mọi người trên khắp thế giới. Nó có sẵn như khí đốt hay nước, trong mỗi ngôi nhà và mỗi nhà máy của cộng đồng này, cũng như ở mọi nơi khác cần đến nó, và nó có thể được sử dụng cho mọi mục đích có thể dùng quyền năng. Mọi loại công việc trên khắp thế giới nay đều được thực hiện theo cách này. Sưởi ấm và chiếu sáng chỉ đơn giản là những biểu hiện của nó. Chẳng hạn, bất cứ khi nào cần nhiệt, không ai trong bất kỳ quốc gia văn minh nào còn nghĩ đến việc trải qua tiến trình thô kệch và lãng phí là nhóm lửa. Y chỉ đơn giản mở mãnh lực và, bằng một dụng cụ cực nhỏ có thể mang trong túi, chuyển nó thành nhiệt đúng tại điểm cần thiết. Một nhiệt độ nhiều ngàn độ có thể được tạo ra tức thì ở bất cứ nơi nào cần đến, ngay cả trong một diện tích nhỏ như đầu kim.

By this power all the machines are running in the factory which we inspected, and one result of this is that all the workers emerge at the end of the day without having even soiled their hands. Another consequence is that the factory is no longer the ugly and barren horror to which in earlier ages we were painfully accustomed. It is beautifully decorated—all the pillars are carved and wreathed with intricate ornament, and there are statues standing all about, white and rose and purple—the last being made of porphyry beautifully polished. Like all the rest of the buildings, the factory has no walls, but only pillars. The girls wear flowers in their hair, and indeed flowers plentifully decorate the factory in all directions. It is quite as beautiful architecturally as a private house.

Nhờ quyền năng này, tất cả máy móc trong xưởng mà chúng tôi khảo sát đều vận hành, và một kết quả của điều này là tất cả công nhân ra về vào cuối ngày mà thậm chí tay cũng không bị bẩn. Một hệ quả khác là nhà máy không còn là nỗi kinh hoàng xấu xí và cằn cỗi mà ở các thời đại trước chúng ta đã đau đớn quen thuộc. Nó được trang hoàng đẹp đẽ—tất cả các cột đều được chạm khắc và quấn quanh bằng hoa văn tinh xảo, và tượng đứng khắp nơi, trắng, hồng và tím—loại sau được làm bằng đá porphyr đánh bóng tuyệt đẹp. Giống như tất cả các tòa nhà còn lại, xưởng không có tường, mà chỉ có cột. Các cô gái cài hoa trên tóc, và quả thật hoa trang trí xưởng dồi dào khắp mọi hướng. Về kiến trúc, nó đẹp chẳng kém gì một ngôi nhà riêng.

CONDITIONS OF WORK — ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC

A visitor who calls to look over the factory obligingly asks some questions from the manageress—a young girl with black hair and a gorgeous garland of scarlet flowers in it. The latter replies:

Một khách viếng thăm ghé vào xem xưởng ân cần hỏi vài câu với nữ quản lý—một cô gái trẻ tóc đen, trên tóc có một vòng hoa đỏ thắm rực rỡ. Cô ấy đáp:

“Oh, we are told how much we are to do. The manager of the community cloth-stores considers that he will want so many cloths by such a time. Sometimes few are wanted, sometimes many, but always some, and we work accordingly. I tell my girls to come to-morrow according to this demand—for one hour, or two, or four according to what there is to do. Usually about three hours is a fair average day’s work, but they have worked as long as five hours a day when there was a great festival approaching. Oh, no, not so much because new clothes were required for the festival, but because the girls themselves wanted to be entirely free from work for a week, in order to attend the festival. You see we always know beforehand how much we are expected to turn out in a given week or month, and we calculate that we can do it by working, say, two and a half hours each day. But if the girls want a week’s holiday for a festival, we can compress two weeks’ work into one by working five hours a day for that week, and then we can close altogether during the next one, and yet deliver the appointed amount of cloth at the proper time. Of course, we rarely work as much as five hours; we should more usually spread the work of the holiday-week over some three previous weeks, so that an hour extra each day would provide all that is needed. An individual girl frequently wants such a holiday, and she can always arrange it by asking someone to come and act as a substitute for her, or the other girls will gladly work a few minutes longer so as to make up for the amount which she would have done. They are all good friends and thoroughly happy. When they take a holiday they generally go in to visit the central library or cathedral, to do which comfortably they need a whole day free.”

“Ồ, chúng tôi được cho biết mình phải làm bao nhiêu. Quản lý các kho vải của cộng đồng xét rằng ông sẽ cần bấy nhiêu tấm vải vào thời điểm như thế. Đôi khi cần ít, đôi khi cần nhiều, nhưng luôn cần một ít, và chúng tôi làm việc tương ứng. Tôi bảo các cô gái của tôi đến ngày mai theo nhu cầu này—một giờ, hoặc hai, hoặc bốn, tùy theo việc phải làm. Thường thì khoảng ba giờ là mức trung bình hợp lý cho một ngày làm việc, nhưng họ từng làm đến năm giờ một ngày khi có một đại lễ sắp tới. Ồ, không, không hẳn vì cần quần áo mới cho lễ hội, mà vì chính các cô gái muốn hoàn toàn rảnh việc trong một tuần để tham dự lễ hội. Bạn thấy đó, chúng tôi luôn biết trước mình được trông đợi phải sản xuất bao nhiêu trong một tuần hay một tháng nhất định, và chúng tôi tính rằng mình có thể làm điều đó bằng cách làm việc, giả sử, hai giờ rưỡi mỗi ngày. Nhưng nếu các cô gái muốn nghỉ một tuần để dự lễ hội, chúng tôi có thể nén công việc của hai tuần vào một tuần bằng cách làm năm giờ mỗi ngày trong tuần ấy, rồi sau đó có thể đóng cửa hoàn toàn trong tuần kế tiếp, mà vẫn giao đủ lượng vải đã định vào đúng thời hạn. Dĩ nhiên, chúng tôi hiếm khi làm đến năm giờ; thông thường hơn, chúng tôi sẽ phân bổ công việc của tuần nghỉ lễ ấy qua khoảng ba tuần trước đó, để mỗi ngày thêm một giờ là đủ cung ứng tất cả những gì cần thiết. Một cô gái riêng lẻ thường muốn có một kỳ nghỉ như thế, và cô luôn có thể sắp xếp bằng cách nhờ ai đó đến thay mình, hoặc các cô gái khác sẽ vui lòng làm lâu hơn vài phút để bù vào phần việc mà cô ấy đáng lẽ đã làm. Tất cả họ đều là bạn tốt và hoàn toàn hạnh phúc. Khi nghỉ, họ thường vào thăm thư viện trung tâm hoặc thánh đường, và để làm việc đó thoải mái, họ cần trọn một ngày rảnh.”

A visitor from the outside world wonders that anyone should work at all where there is no compulsion, and asks why people do so, but meets with little sympathy or comprehension from the inhabitants:

Một khách viếng thăm từ thế giới bên ngoài ngạc nhiên rằng ở nơi không có cưỡng bách mà vẫn có người làm việc, và hỏi vì sao người ta làm như vậy, nhưng gặp rất ít sự đồng cảm hoặc thấu hiểu từ cư dân:

“What do you mean?” says one of them, in answer, “we are here to work. If there is work to do, it is done for His sake. If there is no work, it is a calamity that it happens so, but He knows best.”

“Bạn muốn nói gì?” một người trong số họ đáp, “chúng tôi ở đây để làm việc. Nếu có việc phải làm, việc ấy được làm vì Ngài. Nếu không có việc, thì đó là một tai họa khi sự việc xảy ra như thế, nhưng Ngài biết rõ nhất.”

“It is another world!” exclaims the visitor.

“Đây là một thế giới khác!” vị khách kêu lên.

“But what other world is possible?” asks the bewildered colonist; “for what does man exist?”

“Nhưng còn thế giới nào khác có thể có được?” người thuộc địa bối rối hỏi; “con người hiện hữu để làm gì?”

The visitor gives up the point in despair, and asks:

Vị khách tuyệt vọng bỏ qua điểm ấy, rồi hỏi:

“But who tells you to work, and when and where?”

“Nhưng ai bảo các bạn làm việc, và khi nào, ở đâu?”

“Every child reaches a certain stage,” replies the colonist. “He has been carefully watched by teachers and others, to see in what direction his strength moves most easily. Then he chooses accordingly, perfectly freely, but with the advice of others to help him. You say work must begin at this time or at that time, but that is a matter of agreement between the workers, and of arrangement each day.”

“Mỗi đứa trẻ đạt đến một giai đoạn nhất định,” người thuộc địa đáp. “Nó đã được các huấn sư và những người khác quan sát cẩn thận, để xem sức mạnh của nó chuyển động dễ dàng nhất theo hướng nào. Rồi nó chọn tương ứng, hoàn toàn tự do, nhưng với lời khuyên của người khác để giúp nó. Bạn nói công việc phải bắt đầu vào lúc này hay lúc kia, nhưng đó là vấn đề thỏa thuận giữa những người làm việc, và sắp xếp mỗi ngày.”

There is a certain difficulty in following this conversation, for though the language is the same a good many new words have been introduced, and the grammar has been much modified. There is, for example, a common-gender pronoun, which signifies either `he’ or `she’. It is probable that the invention of this has become a necessity because of the fact that people remember and frequently have to speak of incarnations in both sexes.

Có một khó khăn nhất định trong việc theo dõi cuộc trò chuyện này, vì dù ngôn ngữ vẫn là một, khá nhiều từ mới đã được đưa vào, và ngữ pháp đã được sửa đổi nhiều. Chẳng hạn, có một đại từ chung giống, biểu thị hoặc ‘ông ấy’ hoặc ‘bà ấy’. Có lẽ việc phát minh ra nó đã trở thành một nhu cầu do sự kiện người ta nhớ và thường phải nói về các lần lâm phàm trong cả hai giới tính.

At all the various kinds of factories visited the methods of work are of much the same kind. In every place the people work by watching machines doing the work, and occasionally touching adjusting buttons or setting the machine going anew. In all, the same short hours of labour are the rule, except that the arrangements at the restaurant-gardens are somewhat different. In this case the staff cannot altogether absent itself simultaneously, because food has to be ready at all times, so that there are always some workers on duty, and no one can go away for a whole day without previous arrangement. In all places where perpetual attendance is necessary, as it is at a restaurant, and at certain repairing shops, and in some other departments, there is an elaborate scheme of substitution. The staff is always greatly in excess of the requirements, so that only a small proportion of it is on duty at any one time. The cooking or arrangement of food, for example, at each of the restaurants is done by one man or one woman for each meal—one for the big meal in the middle of the day, another for morning breakfast, another for tea, each being on duty something like three hours.

Tại tất cả các loại xưởng khác nhau đã được thăm, phương pháp làm việc gần như cùng một loại. Ở mọi nơi, người ta làm việc bằng cách quan sát máy móc làm việc, và thỉnh thoảng chạm vào các nút điều chỉnh hoặc khởi động lại máy. Ở tất cả, những giờ lao động ngắn như nhau là quy luật, ngoại trừ những sắp đặt tại các nhà hàng-vườn hơi khác. Trong trường hợp này, toàn bộ nhân viên không thể đồng thời vắng mặt, vì thức ăn phải sẵn sàng mọi lúc, nên luôn có một số người làm việc trực, và không ai có thể đi vắng cả ngày nếu không sắp xếp trước. Ở mọi nơi cần sự túc trực liên tục, như tại nhà hàng, tại một số xưởng sửa chữa, và trong vài bộ phận khác, có một hệ thống thay thế công phu. Nhân viên luôn vượt xa nhu cầu, nên chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số đó trực vào bất cứ thời điểm nào. Chẳng hạn, việc nấu nướng hay sắp xếp thức ăn tại mỗi nhà hàng do một người nam hoặc một người nữ thực hiện cho mỗi bữa—một người cho bữa chính lớn vào giữa ngày, một người khác cho bữa sáng, một người khác cho bữa trà, mỗi người trực khoảng ba giờ.

Cooking has been revolutionised. The lady who does this work sits at a kind of office-table with a regular forest of knobs within her reach. Messages reach her by telephone as to the things that are required; she presses certain knobs which squirt the required flavour into the blanc-mange, for example, and then it is shot down a kind of tube and is delivered to the attendant waiting in the garden below. In some cases the application of heat is required, but that also she does without moving from her seat, by another arrangement of knobs. A number of little girls hover about her and wait upon her—little girls from eight to fourteen years old. They are evidently apprentices, learning the business; they are seen to pour things out of little bottles, and also to mix other foods in little bowls. But even among these little girls, if one wants a day or a week off, she asks another little girl to take her place, and the request is always granted; and though of course the substitute is likely to be unskilled, yet the companions are always so eager to help her that no difficulty ever arises. There is always a large amount of interplay and exchange in all these matters; but perhaps the most striking thing is the eager universal good-will which is displayed—everybody anxious to help everybody else, and no one ever thinking that he is being unfairly treated or “put upon”.

Việc nấu nướng đã được cách mạng hóa. Người phụ nữ làm công việc này ngồi tại một loại bàn làm việc với cả một rừng núm vặn trong tầm tay. Các thông điệp đến với bà qua điện thoại về những món cần thiết; bà nhấn một số núm nhất định để phun hương vị cần thiết vào món blanc-mange, chẳng hạn, rồi nó được bắn xuống một loại ống và giao cho người phục vụ đang chờ trong khu vườn bên dưới. Trong vài trường hợp, cần áp dụng nhiệt, nhưng bà cũng làm điều đó mà không rời khỏi chỗ ngồi, bằng một sự sắp xếp núm vặn khác. Một số bé gái lượn quanh bà và phục vụ bà—các bé gái từ tám đến mười bốn tuổi. Rõ ràng các em là người học việc, đang học nghề; người ta thấy các em rót các thứ từ những chai nhỏ, và cũng trộn các thức ăn khác trong những bát nhỏ. Nhưng ngay cả giữa các bé gái này, nếu một em muốn nghỉ một ngày hay một tuần, em nhờ một bé gái khác thay chỗ, và yêu cầu ấy luôn được chấp thuận; và dù dĩ nhiên người thay thế có thể chưa thạo việc, các bạn đồng hành luôn háo hức giúp em đến nỗi chẳng bao giờ nảy sinh khó khăn. Luôn có rất nhiều sự tương tác và trao đổi trong tất cả những vấn đề này; nhưng có lẽ điều nổi bật nhất là thiện chí phổ quát đầy nhiệt tình được biểu lộ—ai cũng mong giúp mọi người khác, và không ai từng nghĩ rằng mình bị đối xử bất công hay “bị lợi dụng”.

It is also pleasant to see, as has been already mentioned, that no class of work is considered as inferior to any other class. But indeed there is no longer any mean or dirty labour left. Mining is no longer undertaken, because all that is needed can be as a rule alchemically produced with much less trouble. The knowledge of the inner side of chemistry is such that almost anything can be made in this way, but some things are difficult and therefore impracticable for ordinary use. There are many alloys which were not known to the older world.

Cũng thật dễ chịu khi thấy, như đã đề cập, rằng không hạng công việc nào bị xem là thấp kém hơn hạng công việc khác. Nhưng quả thật không còn lao động hèn kém hay bẩn thỉu nào tồn tại. Việc khai mỏ không còn được tiến hành, vì theo quy luật, mọi thứ cần thiết đều có thể được sản xuất bằng thuật luyện kim với ít phiền toái hơn nhiều. Tri thức về mặt bên trong của hóa học đến mức hầu như bất cứ thứ gì cũng có thể được tạo ra theo cách này, nhưng một số thứ khó và do đó không thực tế cho việc sử dụng thông thường. Có nhiều hợp kim mà thế giới xưa không biết.

All agricultural work is now done by machinery, and no person any longer needs to dig or to plough by hand. A man does not even dig his own private garden, but uses instead a curious little machine which looks something like a barrel on legs, which digs holes to any required depth, and at any required distance apart, according to the way in which it is set, and shifts itself along a row automatically, needing only to be watched and turned back at the end of the row. There is no manual labour in the old sense of the word, for even the machinery itself is now made by other machinery; and though machinery still needs oiling, even that appears to be done in a clean manner. There is really no low or dirty labour required. There are not even drains, for everything is chemically converted and eventually emerges as an odourless grey powder, something like ashes, which is used as a manure for the garden. Each house has its own converter.

Mọi công việc nông nghiệp nay đều do máy móc thực hiện, và không ai còn cần đào hay cày bằng tay. Một người thậm chí không đào khu vườn riêng của mình, mà thay vào đó dùng một chiếc máy nhỏ kỳ lạ trông hơi giống một cái thùng trên chân, có thể đào lỗ đến bất kỳ độ sâu cần thiết nào, và ở bất kỳ khoảng cách cần thiết nào, tùy theo cách nó được đặt, rồi tự động dịch chuyển dọc theo một hàng, chỉ cần được quan sát và quay lại ở cuối hàng. Không có lao động chân tay theo nghĩa cũ của từ ấy, vì ngay cả chính máy móc nay cũng do máy móc khác chế tạo; và dù máy móc vẫn cần tra dầu, ngay cả việc ấy dường như cũng được thực hiện một cách sạch sẽ. Thật sự không cần lao động thấp kém hay bẩn thỉu nào. Thậm chí không có cống rãnh, vì mọi thứ đều được chuyển đổi bằng hóa học và cuối cùng xuất hiện như một loại bột xám không mùi, hơi giống tro, được dùng làm phân bón cho vườn. Mỗi nhà có bộ chuyển hóa riêng.

There are no servants in this scheme of life, because there is practically nothing for them to do; but there are always plenty of people ready to come and help if necessary. There are times in the life of every lady when she is temporarily incapacitated from managing her household affairs; but in such a case some one always comes in to help—sometimes a friendly neighbour, and at other times a kind of ladies’ help, who comes because she is glad to help, but not for a wage. When any such assistance is required, the person who needs it simply applies through the recognised means of communication, and some one at once volunteers.

Không có người hầu trong sơ đồ đời sống này, vì trên thực tế chẳng có gì cho họ làm; nhưng luôn có nhiều người sẵn sàng đến giúp nếu cần. Có những lúc trong đời mỗi phụ nữ tạm thời không đủ khả năng quản lý việc nhà; nhưng trong trường hợp như thế luôn có ai đó đến giúp—đôi khi là một hàng xóm thân thiện, và lúc khác là một loại phụ tá nữ giới, đến vì bà vui lòng giúp đỡ, chứ không vì tiền công. Khi cần bất kỳ sự trợ giúp nào như thế, người cần chỉ đơn giản yêu cầu qua các phương tiện liên lạc được công nhận, và lập tức có người tình nguyện.

PRIVATE PROPERTY — TÀI SẢN RIÊNG

There is but little idea of private property in anything. The whole colony, for example, belongs to the community. A man lives in a certain house, and the gardens are his so that he can alter or arrange them in any way that he chooses, but he does not keep people out of them in any way, nor does he encroach upon his neighbours. The principle in the community is not to own things, but to enjoy them. When a man dies, since he usually does so voluntarily, he takes care to arrange all his business. If he has a wife living, she holds his house until her death or her remarriage. Since all, except in the rarest cases, live to old age, it is scarcely possible that any children can be left unprotected, but if such a thing does happen there are always many volunteers anxious to adopt them. At the death of both parents, if the children are all married, the house lapses to the community and is handed over to the next young couple in the neighbourhood who happen to marry. It is usual on marriage for the young couple to take a new house, but there are cases in which one of the sons or daughters is asked by the parents to remain with them and take charge of the house for them. In one case an extension is built on to a house for a grandchild who marries, in order that she may still remain in close touch with the old people; but this is exceptional.

Hầu như rất ít ý niệm về tài sản riêng trong bất cứ điều gì. Chẳng hạn, toàn bộ thuộc địa thuộc về cộng đồng. Một người sống trong một ngôi nhà nhất định, và các khu vườn là của y để y có thể thay đổi hoặc sắp xếp chúng theo bất kỳ cách nào y chọn, nhưng y không ngăn người khác vào đó theo bất kỳ cách nào, cũng không lấn sang hàng xóm. Nguyên tắc trong cộng đồng không phải là sở hữu các vật, mà là thưởng thức chúng. Khi một người chết, vì y thường làm điều đó một cách tự nguyện, y lo sắp xếp mọi công việc của mình. Nếu y còn vợ đang sống, bà giữ nhà của y cho đến khi bà chết hoặc tái hôn. Vì tất cả, trừ những trường hợp hiếm hoi nhất, đều sống đến tuổi già, hầu như không thể có việc con cái bị bỏ lại không ai bảo hộ, nhưng nếu điều ấy xảy ra thì luôn có nhiều người tình nguyện nóng lòng nhận nuôi chúng. Khi cả cha lẫn mẹ đều chết, nếu con cái đều đã kết hôn, ngôi nhà trở lại cộng đồng và được trao cho cặp trẻ kế tiếp trong khu vực tình cờ kết hôn. Thông thường khi kết hôn, cặp trẻ nhận một ngôi nhà mới, nhưng có những trường hợp một trong các con trai hoặc con gái được cha mẹ yêu cầu ở lại với họ và thay họ trông coi ngôi nhà. Trong một trường hợp, một phần mở rộng được xây thêm vào ngôi nhà cho một cháu gái kết hôn, để cô vẫn có thể giữ liên hệ gần gũi với những người già; nhưng điều này là ngoại lệ.

There is no restriction to prevent people from gathering portable property, and handing it over before death to the parents selected for the next life. This is always done with the talisman, as has already been said, and not infrequently a few books accompany it, and sometimes perhaps a favourite picture or object of art. A man, as we have mentioned, can earn money if he wishes, and can buy things in the ordinary way, but it is not necessary for him to do so, since food, clothing and lodging are provided free, and there is no particular advantage in the private ownership of other objects.

Không có hạn chế nào ngăn người ta thu gom tài sản có thể mang đi, và trao nó trước khi chết cho những cha mẹ đã chọn cho đời sống kế tiếp. Điều này luôn được làm với linh phù, như đã nói, và không hiếm khi vài quyển sách đi kèm, đôi khi có lẽ cả một bức tranh hay tác phẩm nghệ thuật yêu thích. Như chúng tôi đã đề cập, một người có thể kiếm tiền nếu muốn, và có thể mua đồ theo cách thông thường, nhưng y không cần làm vậy, vì thực phẩm, y phục và nơi ở được cung cấp miễn phí, và việc sở hữu riêng các vật khác không đem lại lợi thế đặc biệt nào.

A PARK-LIKE CITY — MỘT THÀNH PHỐ NHƯ CÔNG VIÊN

Although in this community so large a number of people are gathered together into one central city and other subordinate centres, there is no effect of crowding. Nothing now exists in the least like what used to be meant by the central part of a city in earlier centuries. The heart of the great central city is the cathedral, with its attendant block of museum, university and library buildings. This has perhaps a certain resemblance to the buildings of the Capitol and Congressional Library at Washington, though on a still larger scale. Just as in that case, a great park surrounds it. The whole city and even the whole community exists in a park—a park abundantly interspersed with fountains, statues and flowers. The remarkable abundance of water everywhere is one of the striking features. In every direction one finds splendid fountains, shooting up like those at the Crystal Palace of old. In many cases one recognises with pleasure exact copies of old and familiar beauties; for example, one fountain is exactly imitated from the Fontana di Trevi at Rome. The roads are not at all streets in the old sense of the word, but more like drives through the park, the houses always standing well back from them. It is not permitted to erect them at less than a certain minimum distance one from another.

Mặc dù trong cộng đồng này một số lượng rất lớn người được tụ họp vào một thành phố trung tâm và các trung tâm phụ thuộc khác, không có cảm giác chen chúc. Hiện nay chẳng có gì dù là chút ít giống với điều từng được hiểu là khu trung tâm của một thành phố trong các thế kỷ trước. Trái tim của thành phố trung tâm lớn là thánh đường, cùng khối công trình bảo tàng, đại học và thư viện đi kèm. Điều này có lẽ phần nào giống các tòa nhà của Điện Capitol và Thư viện Quốc hội ở Washington, dù ở quy mô còn lớn hơn. Cũng như trường hợp đó, một công viên lớn bao quanh nó. Toàn bộ thành phố và thậm chí toàn bộ cộng đồng tồn tại trong một công viên—một công viên được điểm xuyết dồi dào bằng đài phun nước, tượng và hoa. Sự phong phú đáng chú ý của nước ở khắp nơi là một trong những đặc điểm nổi bật. Theo mọi hướng, người ta thấy những đài phun nước tráng lệ, phun lên như những đài tại Crystal Palace xưa. Trong nhiều trường hợp, người ta vui mừng nhận ra những bản sao chính xác của các vẻ đẹp cũ và quen thuộc; chẳng hạn, một đài phun nước được mô phỏng chính xác từ Fontana di Trevi ở Rome. Đường sá hoàn toàn không phải là phố theo nghĩa cũ của từ ấy, mà giống những lối xe chạy qua công viên hơn, các ngôi nhà luôn nằm lùi xa khỏi chúng. Không được phép dựng nhà dưới một khoảng cách tối thiểu nhất định với nhau.

There is practically no dust, and there are no street sweepers. The road is all in one piece, not made of blocks, for there are no horses now to slip. The surface is a beautiful polished stone with a face like marble and yet an appearance of grain somewhat like granite. The roads are broad, and they have at their sides slight curb-stones; or rather it would be clearer to say that the road is sunk slightly below the level of the grass at each side, and that the curbstones rise to the level of the grass. The whole is thus a kind of shallow channel of polished marble, which is flooded with water every morning, so that the roads are thus kept clean and spotless without the necessity of the ordinary army of cleaners. The stone is of various colours. Most of the great streets are a lovely pale rose-colour, but some are laid in pale green.

Hầu như không có bụi, và không có người quét đường. Mặt đường là một khối liền, không làm bằng các viên lát, vì nay không có ngựa để trượt. Bề mặt là một loại đá bóng đẹp có mặt giống cẩm thạch nhưng lại có vẻ hạt hơi giống hoa cương. Đường rộng, và hai bên có đá viền thấp; hay đúng hơn, nói rõ hơn là mặt đường hơi chìm xuống dưới mức cỏ ở mỗi bên, và đá viền vươn lên ngang mức cỏ. Như vậy toàn bộ là một loại rãnh nông bằng cẩm thạch bóng, được xả nước mỗi buổi sáng, nhờ đó đường sá được giữ sạch sẽ không tì vết mà không cần đội quân quét dọn thông thường. Đá có nhiều màu khác nhau. Phần lớn các đại lộ có màu hồng nhạt đáng yêu, nhưng một số được lát màu xanh lục nhạt.

Thus there is really nothing but grass and highly polished stone for the people to walk upon, which explains the fact that they are always able to go bare-footed, not only without inconvenience but with the maximum of comfort. Even after a long walk the feet are scarcely soiled, but notwithstanding, at the door of every house or factory, there is a depression in the stone—a sort of shallow trough, through which there is a constant rush of fresh water. The people, before entering the house, step into this and their feet are instantly cooled and cleansed. All the Temples are surrounded by a ring of shallow flowing water, so that each person before entering must step into this. It is as though one of the steps leading up to the Temple were a kind of shallow trough, so that no one carries into the Temple even a speck of dust.

Vì vậy thật ra không có gì ngoài cỏ và đá bóng cao để người ta bước đi, điều này giải thích sự kiện họ luôn có thể đi chân trần, không những không bất tiện mà còn với mức thoải mái tối đa. Ngay cả sau một cuộc đi bộ dài, bàn chân hầu như không bẩn, nhưng dù vậy, ở cửa mỗi nhà hoặc xưởng, có một chỗ lõm trong đá—một loại máng nông, qua đó luôn có dòng nước tươi chảy mạnh. Trước khi vào nhà, người ta bước vào đó và chân họ lập tức được làm mát và rửa sạch. Tất cả các Đền đều được bao quanh bởi một vòng nước nông chảy, nên mỗi người trước khi bước vào đều phải đặt chân vào đó. Nó như thể một trong các bậc dẫn lên Đền là một loại máng nông, để không ai mang vào Đền dù chỉ một hạt bụi.

LOCOMOTION — DI CHUYỂN

All this park-like arrangement and the space between the houses make the capital of our community emphatically a `city of magnificent distances’. This, however, does not cause the slightest practical inconvenience, since every house possesses several light running cars of graceful appearance. They are not in the least like any variety of motor-car—they rather resemble bath-chairs made of light metal filigree work, probably aluminium, with tyres of some exceedingly elastic substance, though apparently not pneumatic. They run with perfect smoothness and can attain a high speed, but are so light that the largest size can be readily pushed with one finger. They are driven by the universal power; a person wishing to start on a journey charges from the power-tap a sort of flat shallow box which fits under the seat. This gives him sufficient to carry him clear across the community without recharging, and if he wishes for more than that, he simply calls at the nearest house, and asks to be allowed to attach his accumulator to its tap for a few moments. These little cars are perpetually used; they are in fact the ordinary means of locomotion, and the beautiful hollow polished roads are almost entirely for them, as pedestrians mostly walk along the little paths among the grass. There is little heavy transport—no huge and clumsy vehicles. Any large amount of goods or material is carried in a number of small vehicles, and even large beams and girders are supported on a number of small trolleys which distribute the weight. Flying machines are observed to be commonly in use in the outer world, but are not fashionable in the community, as the members feel that they ought to be able to get about freely in their astral bodies, and therefore rather despise other means of aerial locomotion. They are taught at school to use astral consciousness, and they have a regular course of lessons in the projection of the astral body.

Toàn bộ sự sắp đặt như công viên này và khoảng không giữa các ngôi nhà khiến thủ đô của cộng đồng chúng ta rõ ràng là một “thành phố của những khoảng cách tráng lệ”. Tuy nhiên, điều này không gây ra chút bất tiện thực tế nào, vì mỗi nhà đều có vài chiếc xe chạy nhẹ có dáng vẻ duyên dáng. Chúng không hề giống bất kỳ loại xe hơi nào—chúng giống hơn những ghế đẩy làm bằng kim loại nhẹ chạm rỗng, có lẽ là nhôm, với lốp bằng một chất cực kỳ đàn hồi nào đó, dù dường như không phải loại bơm hơi. Chúng chạy hoàn toàn êm ái và có thể đạt tốc độ cao, nhưng nhẹ đến nỗi loại lớn nhất có thể dễ dàng được đẩy bằng một ngón tay. Chúng được vận hành bằng quyền năng phổ quát; một người muốn khởi hành sạc từ vòi quyền năng một loại hộp dẹt nông khớp dưới ghế. Điều này cung cấp cho y đủ để đưa y đi xuyên qua cộng đồng mà không cần sạc lại, và nếu y muốn nhiều hơn thế, y chỉ đơn giản ghé vào nhà gần nhất, và xin phép gắn bộ tích điện của mình vào vòi của nhà ấy trong vài khoảnh khắc. Những chiếc xe nhỏ này được dùng liên tục; thật ra chúng là phương tiện di chuyển thông thường, và các con đường lõm bóng đẹp hầu như hoàn toàn dành cho chúng, vì người đi bộ phần lớn đi dọc các lối nhỏ giữa cỏ. Có ít vận chuyển nặng—không có những xe cộ khổng lồ và cồng kềnh. Bất kỳ lượng lớn hàng hóa hay vật liệu nào cũng được chở trong nhiều xe nhỏ, và ngay cả các dầm và xà lớn cũng được đỡ trên nhiều xe đẩy nhỏ phân phối trọng lượng. Người ta quan sát thấy máy bay thường được dùng trong thế giới bên ngoài, nhưng chúng không thịnh hành trong cộng đồng, vì các thành viên cảm thấy rằng họ phải có khả năng đi lại tự do trong thể cảm dục của mình, và do đó khá xem thường các phương tiện di chuyển trên không khác. Họ được dạy ở trường cách sử dụng tâm thức cảm dục, và có một khóa học đều đặn về sự phóng chiếu thể cảm dục.

SANITATION AND IRRIGATION — VỆ SINH VÀ TƯỚI TIÊU

There is no trouble with regard to sanitation. The method of chemical conversion, mentioned some time ago, includes deodorisation, and the gases thrown off from it are not in any way injurious. They seem to be principally carbon and nitrogen, with some chlorine, but no carbon dioxide. The gases are passed through water, which contains some solution, as it has a sharp acid feeling. All the gases are perfectly harmless, and so is the grey powder, of which only a little is present. All bad smells of every kind are against the law now, even in the outer world. There is not what we should call a special business-quarter in the town, though certain factories are built comparatively near one another, for convenience in interchanging various products. There is, however, so little difference between a factory and a private house that it is difficult to know them apart, and as the factory makes no noise or smell it is not in any way an objectionable neighbour.

Không có rắc rối gì liên quan đến vệ sinh. Phương pháp chuyển đổi hóa học, đã đề cập trước đây, bao gồm cả khử mùi, và các khí thải ra từ đó không gây hại dưới bất cứ cách nào. Dường như chúng chủ yếu là carbon và nitrogen, với một ít chlorine, nhưng không có carbon dioxide. Các khí được dẫn qua nước, trong đó có một dung dịch nào đó, vì nó có cảm giác acid sắc. Tất cả các khí đều hoàn toàn vô hại, và bột xám cũng vậy, mà chỉ hiện diện một ít. Mọi mùi hôi thuộc mọi loại nay đều trái luật, ngay cả trong thế giới bên ngoài. Trong thành phố không có cái mà chúng ta gọi là khu thương mại đặc biệt, dù một số xưởng được xây tương đối gần nhau, để tiện trao đổi các sản phẩm khác nhau. Tuy nhiên, có quá ít khác biệt giữa một xưởng và một ngôi nhà riêng đến nỗi khó phân biệt chúng, và vì xưởng không gây tiếng ồn hay mùi, nó không phải là láng giềng khó chịu theo bất kỳ cách nào.

One great advantage which these people have is their climate. There is no real winter, and in the season corresponding to it the whole land is still covered with flowers just as at other times. They irrigate even where they do not cultivate; the system has been extended in a number of cases into fields and woods and the country in general, even where there is no direct cultivation. They have specialised the eschscholtzia, which was so common in California even centuries ago, and have developed many varieties of it, scarlet as well as brilliant orange, and they have sown them all about and allowed them to run wild. They have evidently in the beginning imported seeds of all sorts extensively from all parts of the world. People sometimes grow in their gardens plants which require additional heat in winter, but this is not obtained by putting them in a green-house, but by surrounding them with little jets of the power in its heat form. They have not yet needed to build anywhere near the boundary line of the community, nor are there any towns or villages for some distance on the other side of that boundary. The whole estate was a kind of huge farm before they bought it, and it is surrounded principally by smaller farms. The laws of the outside world do not trouble or affect the community, and the Government of the continent does not in any way interfere with it, as it receives a nominal yearly tribute from it. The people of the community are well informed as regards the outside world; even schoolchildren know the names and location of all the principal towns in the world.

Một lợi thế lớn mà những người này có là khí hậu của họ. Không có mùa đông thật sự, và vào mùa tương ứng với nó, toàn bộ vùng đất vẫn phủ đầy hoa như các thời điểm khác. Họ tưới tiêu ngay cả nơi họ không canh tác; hệ thống đã được mở rộng trong nhiều trường hợp vào đồng ruộng, rừng cây và miền quê nói chung, ngay cả nơi không có canh tác trực tiếp. Họ đã chuyên biệt hóa loài eschscholtzia, vốn rất phổ biến ở California ngay cả nhiều thế kỷ trước, và đã phát triển nhiều giống của nó, đỏ thắm cũng như cam rực rỡ, rồi gieo chúng khắp nơi và để chúng mọc hoang. Rõ ràng ngay từ đầu họ đã nhập hạt giống đủ loại rất rộng rãi từ mọi phần của thế giới. Đôi khi người ta trồng trong vườn những cây cần thêm nhiệt vào mùa đông, nhưng điều này không được thực hiện bằng cách đặt chúng trong nhà kính, mà bằng cách bao quanh chúng bằng những tia nhỏ của quyền năng dưới hình thức nhiệt. Họ vẫn chưa cần xây dựng ở bất cứ đâu gần đường biên của cộng đồng, cũng không có thị trấn hay làng mạc nào trong một khoảng cách nào đó ở phía bên kia ranh giới ấy. Toàn bộ khu đất từng là một loại trang trại khổng lồ trước khi họ mua nó, và nó chủ yếu được bao quanh bởi các trang trại nhỏ hơn. Luật của thế giới bên ngoài không làm phiền hay ảnh hưởng đến cộng đồng, và Chính phủ của lục địa không can thiệp vào nó theo bất cứ cách nào, vì nhận từ nó một khoản cống nạp danh nghĩa hằng năm. Người dân của cộng đồng rất am hiểu về thế giới bên ngoài; ngay cả học sinh cũng biết tên và vị trí của tất cả các thành phố chính trên thế giới.

CHAPTER XXVII — CHƯƠNG XXVII

CONCLUSION — KẾT LUẬN

THE FEDERATION OF NATIONS — LIÊN BANG CÁC QUỐC GIA

THE whole object of this investigation was to obtain such information as was possible about the beginnings of the Sixth Root-Race and the community founded by the Manu and the High-Priest for that purpose. Naturally therefore no special attention was directed to any other part of the world than this. Notwithstanding, certain glimpses of other parts were obtained incidentally, and it will perhaps be interesting to note these; but they are put down without attempt at order or completeness, just as they were observed.

TOÀN bộ mục tiêu của cuộc khảo sát này là thu thập được nhiều thông tin nhất có thể về những khởi đầu của Giống Dân Gốc thứ Sáu và cộng đồng do Đức Manu và vị Thượng Tế thành lập cho mục đích ấy. Vì vậy, tự nhiên không có sự chú ý đặc biệt nào hướng đến bất kỳ phần nào khác của thế giới ngoài nơi này. Tuy nhiên, một số thoáng nhìn về các phần khác đã tình cờ được thu nhận, và có lẽ sẽ thú vị khi ghi nhận chúng; nhưng chúng được ghi lại không nhằm trật tự hay đầy đủ, chỉ đúng như đã được quan sát.

Practically the whole world has federated itself politically. Europe seems to be a Confederation with a kind of Reichstag, to which all countries send representatives. This central body adjusts matters, and the Kings of the various countries are Presidents of the Confederation in rotation. The rearrangement of political machinery by which this wonderful change has been brought about is the work of Julius Caesar, who reincarnated some time in the twentieth century in connection with the coming of the Christ to reproclaim the WISDOM. Enormous improvements have been made in all directions, and one cannot but be struck with the extraordinary abundance of wealth that must have been lavished upon these. Caesar, when he succeeds in forming the Federation and persuades all the countries to give up war, arranges that each of them shall set aside for a certain number of years half or a third of the money that it has been accustomed to spend upon armaments, and devote it to certain social improvements which he specifies. According to his scheme the taxation of the entire world is gradually reduced, but notwithstanding, sufficient money is reserved to feed all the poor, to destroy all the slums, and to introduce wonderful improvements into all the cities. He arranges that those countries in which compulsory military service has been the rule shall for a time still preserve the habit, but shall make their conscripts work for the State in the making of parks and roads and the pulling down of slums and the opening up of communications everywhere. He arranges that the old burdens shall be gradually eased off but yet contrives with what is left of them to regenerate the world. He is indeed a great man; a most marvellous genius.

Trên thực tế, toàn thế giới đã liên bang hóa về chính trị. Châu Âu dường như là một Liên minh với một loại Reichstag, nơi tất cả các quốc gia gửi đại diện đến. Cơ quan trung ương này điều chỉnh các vấn đề, và các vị vua của những nước khác nhau luân phiên làm Chủ tịch Liên minh. Việc tái sắp xếp bộ máy chính trị nhờ đó sự thay đổi kỳ diệu này được đem lại là công trình của Julius Caesar, người đã tái lâm phàm vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ hai mươi liên hệ với sự giáng lâm của Đức Christ để tuyên bố lại MINH TRIẾT. Những cải thiện to lớn đã được thực hiện theo mọi hướng, và người ta không thể không bị ấn tượng bởi sự phong phú phi thường của của cải hẳn đã được đổ vào những việc này. Khi Caesar thành công trong việc hình thành Liên bang và thuyết phục tất cả các quốc gia từ bỏ chiến tranh, ông sắp xếp để mỗi nước trong một số năm nhất định dành ra một nửa hoặc một phần ba số tiền mà họ quen chi cho vũ khí, và dành nó cho những cải thiện xã hội nhất định mà ông chỉ rõ. Theo kế hoạch của ông, thuế khóa của toàn thế giới dần được giảm xuống, nhưng dù vậy, vẫn dự trữ đủ tiền để nuôi tất cả người nghèo, phá bỏ mọi khu ổ chuột, và đưa những cải thiện kỳ diệu vào tất cả các thành phố. Ông sắp xếp để những quốc gia nơi nghĩa vụ quân sự bắt buộc từng là quy luật vẫn tạm thời duy trì thói quen ấy, nhưng sẽ khiến lính nghĩa vụ của họ làm việc cho Nhà nước trong việc xây công viên và đường sá, phá bỏ khu ổ chuột và mở rộng các tuyến liên lạc khắp nơi. Ông sắp xếp để các gánh nặng cũ dần được giảm bớt nhưng vẫn khéo dùng phần còn lại của chúng để tái sinh thế giới. Quả thật ông là một con người vĩ đại; một thiên tài kỳ diệu nhất.

There seems to have been some trouble at first and some preliminary quarrelling, but he gets together an exceedingly capable band of people—a kind of cabinet of all the best organisers whom the world has produced—reincarnations of Napoleon, Scipio Africanus, Akbar and others—one of the finest bodies of men for practical work that has ever been seen. The thing is done on a gorgeous scale. When all the Kings and prime ministers are gathered together to decide upon the basis for the Confederation, Caesar builds for the occasion a circular hall with a great number of doors so that all may enter at once, and no one Potentate take precedence of another.

Dường như lúc đầu đã có một vài rắc rối và một số cãi vã sơ bộ, nhưng ông tập hợp được một nhóm người cực kỳ có năng lực—một loại nội các gồm tất cả những nhà tổ chức giỏi nhất mà thế giới đã sản sinh—các lần tái lâm phàm của Napoleon, Scipio Africanus, Akbar và những người khác—một trong những nhóm người tốt đẹp nhất cho công việc thực tế từng được thấy. Việc này được thực hiện trên quy mô lộng lẫy. Khi tất cả các vị vua và thủ tướng tụ họp để quyết định nền tảng cho Liên minh, Caesar xây cho dịp ấy một hội trường hình tròn với rất nhiều cửa để tất cả có thể bước vào cùng lúc, và không một vị quyền thế nào đi trước vị khác.

THE RELIGION OF THE CHRIST — TÔN GIÁO CỦA ĐỨC CHRIST

Caesar arranges all the machinery of this wonderful revolution, but his work is largely made possible by the arrival and preaching of the Christ Himself, so we have here a new era in all senses, not merely in outward arrangement, but in inner feeling as well. All this is long ago from the point of view of the time at which we are looking, and the Christ is now becoming somewhat mythical to the people, much as He was to many people at the beginning of the twentieth century. The religion of the world now is that which He founded; that is the Religion, and there is no other of any real importance, though there are still some survivals, of which the world at large is somewhat contemptuously tolerant, regarding them as fancy religions or curious superstitions. There are a few people who represent the older form of Christianity—who in the name of the Christ refused to receive Him when He came in a new form. The majority regard these people as hopelessly out-of-date. On the whole the state of affairs all the world over is obviously much more satisfactory than in the earlier civilisations. Armies and navies have disappeared, or are only represented by a kind of small force used for police purposes. Poverty also has practically disappeared from civilised lands; all slums in the great cities have been pulled down, and their places taken, not by other buildings, but by parks and gardens.

Caesar sắp xếp toàn bộ bộ máy của cuộc cách mạng kỳ diệu này, nhưng công việc của ông phần lớn trở nên khả thi nhờ sự giáng lâm và thuyết giảng của chính Đức Christ, nên ở đây chúng ta có một kỷ nguyên mới theo mọi nghĩa, không chỉ trong sắp đặt bên ngoài, mà cả trong cảm nhận bên trong. Tất cả điều này là từ rất lâu trước xét theo thời điểm chúng ta đang nhìn vào, và Đức Christ nay đang trở nên phần nào huyền thoại đối với con người, gần giống như Ngài từng là đối với nhiều người vào đầu thế kỷ hai mươi. Tôn giáo của thế giới nay là tôn giáo mà Ngài đã sáng lập; đó là Tôn giáo, và không có tôn giáo nào khác có tầm quan trọng thật sự, dù vẫn còn vài tàn dư, mà thế giới nói chung khoan dung với chút khinh thị, xem chúng như các tôn giáo tưởng tượng hay những mê tín kỳ lạ. Có vài người đại diện cho hình thức Cơ Đốc giáo cũ—những người nhân danh Đức Christ đã từ chối đón nhận Ngài khi Ngài đến trong một hình thức mới. Đa số xem những người này là lỗi thời vô vọng. Nhìn chung, tình trạng sự việc trên khắp thế giới hiển nhiên thỏa đáng hơn nhiều so với trong các nền văn minh trước. Quân đội và hải quân đã biến mất, hoặc chỉ còn được đại diện bởi một loại lực lượng nhỏ dùng cho mục đích cảnh sát. Nghèo đói cũng hầu như đã biến mất khỏi các vùng đất văn minh; mọi khu ổ chuột trong các thành phố lớn đã bị phá bỏ, và chỗ của chúng được thay thế, không phải bằng những tòa nhà khác, mà bằng công viên và vườn cây.

THE NEW LANGUAGE — NGÔN NGỮ MỚI

This curious altered form of English, written in a kind of short-hand with many grammalogues, has been adopted as a universal commercial and literary language. Ordinarily educated people in every country know it in addition to their own, and indeed it is obvious that among the upper and commercial classes it is rapidly superseding the tongues of the different countries. Naturally the common people in every country still speak their old tongue, but even they recognise that the first step towards getting on in the world is to learn the universal language. The great majority of books, for example, are printed only in that, unless they are intended especially to appeal to the uneducated. In this way it is now possible for a book to have a much wider circulation than it could ever have had before. There are still university professors and learned men who know all the old languages, but they are a small minority, and all the specially good books of all languages have long ago been translated into this universal tongue.

Hình thức tiếng Anh biến đổi kỳ lạ này, được viết bằng một loại tốc ký với nhiều ký hiệu ngữ pháp, đã được chấp nhận như một ngôn ngữ thương mại và văn chương phổ quát. Những người có giáo dục thông thường ở mọi quốc gia đều biết nó ngoài ngôn ngữ của mình, và quả thật rõ ràng là trong các tầng lớp thượng lưu và thương mại, nó đang nhanh chóng thay thế các tiếng nói của những quốc gia khác nhau. Tự nhiên, dân thường ở mỗi nước vẫn nói tiếng cũ của họ, nhưng ngay cả họ cũng nhận ra rằng bước đầu tiên để tiến thân trong thế giới là học ngôn ngữ phổ quát. Chẳng hạn, đại đa số sách chỉ được in bằng ngôn ngữ ấy, trừ khi chúng được dự định đặc biệt để hấp dẫn người ít học. Theo cách này, nay một quyển sách có thể có mức lưu hành rộng hơn nhiều so với trước đây. Vẫn còn các giáo sư đại học và học giả biết tất cả các ngôn ngữ cũ, nhưng họ là thiểu số nhỏ, và tất cả những quyển sách đặc biệt hay của mọi ngôn ngữ từ lâu đã được dịch sang ngôn ngữ phổ quát này.

In every country there is a large body of middle and upper class people who know no other language, or know only the few words of the language of the country which are necessary in order to communicate with servants and labourers. One thing which has greatly contributed to this change is this new and improved method of writing and printing, which was first introduced in connection with the English language and is therefore more adapted to it than others. In our community all books are printed on pale sea-green paper in dark blue ink, the theory being apparently that this is less trying to the eyes than the old scheme of black on white. The same plan is being widely adopted in the rest of the world. Civilised rule or colonisation has spread over many parts of the world which formerly were savage and chaotic; indeed almost no real savages are now to be seen.

Ở mỗi quốc gia có một khối lớn người thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu không biết ngôn ngữ nào khác, hoặc chỉ biết vài từ của ngôn ngữ đất nước cần thiết để giao tiếp với người hầu và lao động. Một điều đã góp phần lớn vào sự thay đổi này là phương pháp viết và in mới, cải tiến này, vốn lần đầu được đưa vào liên hệ với tiếng Anh và do đó thích hợp với nó hơn những ngôn ngữ khác. Trong cộng đồng của chúng ta, tất cả sách được in trên giấy màu xanh biển nhạt bằng mực xanh đậm, lý thuyết dường như là điều này đỡ mỏi mắt hơn lối cũ chữ đen trên nền trắng. Cùng kế hoạch ấy đang được áp dụng rộng rãi trong phần còn lại của thế giới. Sự cai trị hoặc thuộc địa hóa văn minh đã lan rộng trên nhiều phần của thế giới trước kia từng man rợ và hỗn loạn; thật vậy, nay hầu như không còn thấy người man rợ thật sự nào.

THE OLD NATIONS — CÁC QUỐC GIA CŨ

People have by no means yet transcended national feelings. The countries no longer fight with one another, but each nation still thinks of itself with pride. The greatest advantage is that they are not now afraid of one another, and that there is no suspicion, and therefore far greater fraternity. But on the whole, people have not changed much; it is only that now the better side of them has more opportunity to display itself. There has not as yet been much mingling of the nations; the bulk of the people still marry in their own neighbourhood, for those who till the soil almost always tend to stay in the same place. Crime appears occasionally, but there is much less of it than of old, because the people on the whole know more than they did, and chiefly because they are much more content.

Con người tuyệt nhiên chưa vượt qua cảm xúc dân tộc. Các quốc gia không còn đánh nhau, nhưng mỗi dân tộc vẫn nghĩ về chính mình với niềm tự hào. Lợi thế lớn nhất là họ nay không sợ nhau, và không có nghi kỵ, do đó có tình huynh đệ lớn hơn nhiều. Nhưng nhìn chung, con người không thay đổi nhiều; chỉ là nay mặt tốt hơn của họ có nhiều cơ hội hơn để tự biểu lộ. Cho đến nay chưa có nhiều sự hòa trộn giữa các dân tộc; phần lớn dân chúng vẫn kết hôn trong khu vực của mình, vì những người canh tác đất hầu như luôn có khuynh hướng ở lại cùng một nơi. Tội phạm thỉnh thoảng xuất hiện, nhưng ít hơn nhiều so với xưa, vì nói chung người ta biết nhiều hơn trước, và chủ yếu vì họ hài lòng hơn nhiều.

The new religion has spread widely and its influence is undoubtedly strong. It is an entirely scientific religion, so that though religion and science are still separate institutions, they are no longer in opposition as they used to he. Naturally people are still arguing, though the subjects are not those which we know so well. For example, they discuss the different kinds of spirit-communion, and quarrel as to whether it is safe to listen to any spooks except those who have been authorised and guaranteed by the orthodox authorities of the time. Schools exist everywhere, but are no longer under the control of the Church, which educates no one except those who are to be its own preachers. Ordinary philanthropy is not needed, since there is practically no poverty. There are still hospitals, and they are all Government institutions. All necessaries of life are controlled, so that there can be no serious fluctuations in their price. All sorts of luxuries and unnecessary things are still left in the hands of private trade—objects of art, and things of that kind. But even with this, there is not so much competition as division of business; if a certain man opens a shop for the sale of ornaments and such things, another one is not likely to start in business close by, simply because there would not be enough trade for the two; but there is no curtailing of liberty with regard to that.

Tôn giáo mới đã lan rộng và ảnh hưởng của nó chắc chắn mạnh mẽ. Đó là một tôn giáo hoàn toàn khoa học, nên dù tôn giáo và khoa học vẫn là các định chế riêng biệt, chúng không còn đối lập như trước kia. Tự nhiên người ta vẫn tranh luận, dù chủ đề không phải là những điều chúng ta biết quá rõ. Chẳng hạn, họ bàn luận các loại giao tiếp với tinh thần khác nhau, và tranh cãi xem liệu có an toàn khi lắng nghe bất kỳ bóng ma nào ngoài những vị đã được các thẩm quyền chính thống của thời ấy cho phép và bảo đảm hay không. Trường học tồn tại khắp nơi, nhưng không còn dưới sự kiểm soát của Giáo hội, vốn không giáo dục ai ngoài những người sẽ trở thành nhà thuyết giảng của chính mình. Hoạt động từ thiện thông thường không cần thiết, vì trên thực tế không còn nghèo đói. Vẫn có bệnh viện, và tất cả đều là định chế của Chính phủ. Mọi nhu yếu phẩm của đời sống đều được kiểm soát, nên không thể có dao động nghiêm trọng về giá cả của chúng. Mọi loại xa xỉ phẩm và những thứ không cần thiết vẫn để trong tay thương mại tư nhân—tác phẩm nghệ thuật, và những thứ thuộc loại ấy. Nhưng ngay cả với điều này, không có quá nhiều cạnh tranh bằng sự phân chia việc kinh doanh; nếu một người nào đó mở một cửa hàng bán đồ trang trí và những thứ như vậy, người khác không có khả năng khởi sự kinh doanh gần đó, đơn giản vì sẽ không có đủ giao dịch cho cả hai; nhưng không có sự cắt giảm tự do nào liên quan đến điều đó.

LAND AND MINES — ĐẤT ĐAI VÀ HẦM MỎ

The conditions as to the ownership of private land and of mines and factories are much changed. A large amount at least of the land is held nominally from the King, on some sort of lease by which it reverts to him unconditionally at the end of a thousand years, but he has the right to resume it at any intervening period if he chooses, with certain compensations. In the meantime it may descend from father to son, or be sold or divided, but never without the consent of the authorities. There are also considerable restrictions as to many of these estates, referring to what kind of buildings may be erected on them. All factories for necessaries are State property, but still there is no restriction which prevents anyone from starting a similar factory if he likes. There is still some mining, but much less than of old. The cavities and galleries of many of the old mines in the northern parts of Europe are now used as sanatoria for the rare cases of consumption or bronchial or other affections, because of their equal temperature in summer and winter. There are also arrangements for raising metal from great depths, which cannot exactly be called mines, for they are much more like wells. This may be considered a modern and improved type of mine. Little of the work is done down below by human beings; rather machines excavate, cut out huge slices and lift them. All these are State property in the ultimate, but in many cases private owners rent them from the State. Iron is burnt out of various earths in some way, and the material is obtained with less trouble than of old.

Các điều kiện về quyền sở hữu đất tư, mỏ và nhà máy đã thay đổi nhiều. Ít nhất một phần lớn đất đai trên danh nghĩa được giữ từ Nhà Vua, theo một loại hợp đồng thuê nào đó, nhờ đó đất ấy sẽ trở lại với Ngài vô điều kiện vào cuối một nghìn năm; nhưng Ngài có quyền thu hồi vào bất cứ thời kỳ trung gian nào nếu Ngài muốn, với một số bồi thường nhất định. Trong khi đó, đất có thể truyền từ cha sang con, hoặc được bán hay phân chia, nhưng không bao giờ được làm như vậy nếu không có sự chấp thuận của nhà chức trách. Cũng có những hạn chế đáng kể đối với nhiều bất động sản này, liên quan đến loại công trình nào có thể được dựng trên đó. Tất cả các nhà máy sản xuất nhu yếu phẩm đều là tài sản Nhà nước, nhưng vẫn không có hạn chế nào ngăn cản bất cứ ai mở một nhà máy tương tự nếu y muốn. Vẫn còn một ít việc khai mỏ, nhưng ít hơn xưa rất nhiều. Các hốc và đường hầm của nhiều mỏ cũ ở miền bắc châu Âu nay được dùng làm nơi điều dưỡng cho những trường hợp hiếm hoi mắc bệnh lao phổi hoặc bệnh phế quản hay các bệnh khác, vì nhiệt độ ở đó đều nhau vào mùa hè cũng như mùa đông. Cũng có những cách bố trí để đưa kim loại lên từ độ sâu rất lớn, tuy không thể gọi đúng là mỏ, vì chúng giống giếng hơn nhiều. Điều này có thể được xem là một kiểu mỏ hiện đại và cải tiến. Rất ít công việc được con người thực hiện ở dưới sâu; đúng hơn, máy móc đào bới, cắt ra những lát khổng lồ và nâng chúng lên. Tất cả những thứ này rốt cuộc đều là tài sản Nhà nước, nhưng trong nhiều trường hợp chủ sở hữu tư nhân thuê chúng từ Nhà nước. Sắt được tách ra khỏi nhiều loại đất khác nhau bằng một cách nào đó, và vật liệu này được thu lấy ít khó nhọc hơn xưa.

THE GOVERNMENT OF BRITAIN — CHÍNH PHỦ ANH QUỐC

The Government of England has been considerably changed. All real power is in the hands of the King, though there are ministers in charge of separate departments. There is no parliament, but there is a scheme the working of which is not easy fully to comprehend in the rapid glimpse which is all that we had. It is something more or less of the nature of the referendum. Everybody has a right to make representations, and these pass through the hands of a body of officials whose business it is to receive complaints or petitions. If these representations show any injustice, it is rapidly set right without reference to the higher authorities. Every such petition is attended to if it can be shown to be reasonable, but it does not usually penetrate to the King himself, unless there are many requests for the same thing. The monarchy is still hereditary, still ruling by the claim of descent from Cerdic. The British Empire appears to be much as in the twentieth century, but it was an earlier federation than the greater one, and it naturally acknowledges permanently one King, while the World-Federation is constantly changing its President. Some of what used to be Colonial Governors now hold their offices by heredity, and are like tributary monarchs.

Chính phủ Anh đã thay đổi đáng kể. Mọi quyền lực thực sự đều nằm trong tay Nhà Vua, dù có các bộ trưởng phụ trách những ngành riêng biệt. Không có nghị viện, nhưng có một hệ thống mà cách vận hành của nó không dễ hiểu trọn vẹn trong cái nhìn thoáng qua nhanh chóng vốn là tất cả những gì chúng tôi có được. Nó ít nhiều có tính chất của trưng cầu dân ý. Mọi người đều có quyền trình bày ý kiến, và những ý kiến này đi qua tay một cơ quan gồm các viên chức có nhiệm vụ tiếp nhận khiếu nại hoặc thỉnh nguyện. Nếu những trình bày ấy cho thấy có bất công nào, điều đó được sửa chữa nhanh chóng mà không cần tham chiếu lên các thẩm quyền cao hơn. Mỗi thỉnh nguyện như vậy đều được quan tâm nếu có thể chứng minh là hợp lý, nhưng thường nó không đi tới chính Nhà Vua, trừ khi có nhiều yêu cầu về cùng một việc. Chế độ quân chủ vẫn là cha truyền con nối, vẫn cai trị dựa trên tuyên bố dòng dõi từ Cerdic. Đế quốc Anh dường như còn khá giống thế kỷ hai mươi, nhưng đó là một liên bang ra đời sớm hơn liên bang lớn hơn kia, và tự nhiên nó vĩnh viễn thừa nhận một Nhà Vua, trong khi Liên Bang Thế Giới thường xuyên thay đổi Tổng thống của mình. Một số người trước kia là Thống đốc Thuộc địa nay giữ chức vụ theo cha truyền con nối, và giống như các quân vương chư hầu.