Trích nội dung chương
Chân sư DK gọi định đề thứ hai là Thuyết Tự Quyết: mọi sự sống thành phần của một Sự Sống đều cắm rễ vào vật chất, nhận lấy hình tướng để nhận ra trạng thái tâm thức riêng và làm ổn định rung động của mình. Thầy MDR diễn giải rằng tâm thức bám vào một hình tướng cho tới khi trạng thái của nó được ổn định và được nhận biết, đặc biệt ở những hữu thể có ngã thức. Thầy còn nhận xét rằng với những sự sống chưa tự ý thức, việc chuyển tiếp sang hình thức cao hơn xảy ra nhờ một Sự Sống lớn hơn bao gồm và chuyên chở chúng. Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh câu “cái đồng nhất trở thành cái dị biệt mà vẫn là một hợp nhất”, xem đây là một mệnh đề tuyệt vời…
Chân sư DK gọi định đề thứ hai là Thuyết Tự Quyết: mọi sự sống thành phần của một Sự Sống đều cắm rễ vào vật chất, nhận lấy hình tướng để nhận ra trạng thái tâm thức riêng và làm ổn định rung động của mình. Thầy MDR diễn giải rằng tâm thức bám vào một hình tướng cho tới khi trạng thái của nó được ổn định và được nhận biết, đặc biệt ở những hữu thể có ngã thức. Thầy còn nhận xét rằng với những sự sống chưa tự ý thức, việc chuyển tiếp sang hình thức cao hơn xảy ra nhờ một Sự Sống lớn hơn bao gồm và chuyên chở chúng.
Từ đồng nhất đến dị biệt rồi trở về một
Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh câu “cái đồng nhất trở thành cái dị biệt mà vẫn là một hợp nhất”, xem đây là một mệnh đề tuyệt vời cần tham thiền sâu. Thầy cho rằng chúng ta sống hằng ngày trong thế giới dị biệt, và câu hỏi lớn là có thể thấy cái dị biệt ấy chính là cái đồng nhất hay không. Thầy lưu ý khi thời gian và không gian không còn, chỉ còn lại sự hợp nhất, chỉ còn tinh thần, nhưng sau mỗi chu kỳ biểu lộ lại có sự gia tăng rung động và cường độ ánh sáng, tức một kiểu tiến hoá qua chu kỳ và tái sinh.
Tái sinh, tăng rung động và các lớp màn che
Thầy MDR đọc trong đoạn văn này cả hàm ý về tái sinh: sau mỗi lần nhập thể có một sự nâng cao lý tưởng về rung động và đồng thời là sự mở rộng tri giác, khiến cái vô hình dần trở nên hữu hình. Thầy mô tả chúng ta hiện đang ở trong nhiều lớp che phủ “như củ hành nhiều lớp”, sống trong tình trạng bị che mờ rất sâu. Thầy nhận xét con đường trở về là tiến trình xuyên qua các lớp màn ấy để phục hồi tri giác về sự hợp nhất vốn có.
Chu kỳ tiến hoá của các giới và sự quên mình do tự che phủ
Khi bình về câu “các sự sống nhỏ lặp lại tiến trình hiện hữu trong nhịp rung của Sự Sống biểu lộ duy nhất”, Thầy MDR liên hệ với Kabbalah: khoáng vật thành thực vật, thực vật thành động vật, động vật thành người, người thành thiên thần, thiên thần thành Thượng đế. Thầy nhận xét mọi sự sống trở nên tập trung vào bản thân và tự quyết, nhưng do “self-veiling” tức tự che phủ, chúng quên mất bản chất thật của mình. Với Thầy, toàn bộ vũ trụ vận hành như sự lặp lại vô tận của một đại vòng cung xuất lộ và trở về, mỗi lần như một “thuật toán” hay một lựa chọn hữu hạn mới từ vô cùng tuyệt đối.
Các suy luận siêu hình riêng của Thầy MDR
Thầy MDR nhiều lần nói rõ ông đang đưa ra một “philosophical take”, không phải chỉ lặp lại nguyên văn Chân sư DK. Thầy suy đoán rằng mỗi vũ trụ là một sự “privation”, tức một sự bị tước mất vô cùng tuyệt đối để trở thành hữu hạn; vũ trụ xuất hiện như một phát xạ từ một Thượng đế ngoài-vũ-trụ và vì có tính chu kỳ nên nhất thiết phải hữu hạn. Thầy lưu ý những suy luận này rất trừu tượng, nhưng cho rằng chúng giúp tư duy sâu hơn về cách từ Đấng Duy Nhất xuất hiện cái nhiều và cách cái nhiều trở về cái một.
Định đề thứ ba được hé mở
Ở cuối buổi, Thầy MDR chỉ mới đọc mở đầu định đề thứ ba: mục đích của việc sự sống khoác lấy hình tướng và của sự hiện hữu biểu lộ là sự khai mở của tâm thức, hay sự mặc khải linh hồn; điều này có thể gọi là Thuyết Tiến Hoá của Ánh Sáng. Thầy nhận xét điều này chỉ đúng trong thế giới của vô minh, ảo lực và Maha Maya, còn tâm thức tuyệt đối và vô cùng tuyệt đối luôn luôn tồn tại ở cấp siêu hiện tượng. Thầy nhấn mạnh rằng từ đây trở đi mọi bàn luận phải được hiểu là đang diễn ra trong cõi giới bị giới hạn, chứ không chạm tới tuyệt đối thể.
Text Introduction 2
[1] I seek in this book to do four things, and to make appeal to three types of people. It is based, as regards its teaching, upon four fundamental postulates. These are intended to:
[1] Tôi tìm cách làm bốn điều trong quyển sách này và hướng đến ba loại người. Về mặt giảng dạy, quyển sách này dựa trên bốn tiên đề cơ bản. Những tiên đề này nhằm:
[2] 1. Teach the laws of spiritual psychology as distinguished from mental and emotional psychology.
[2] 1. Dạy các định luật của tâm lý học tinh thần phân biệt với tâm lý học trí tuệ và cảm xúc.
[3] 2. Make clear the nature of the soul of man and its systemic and cosmic relationships. [4] This will include its group relationship as a preliminary step.
[3] 2. Làm rõ bản chất của linh hồn con người và các mối quan hệ hệ thống và vũ trụ của nó. [4] Điều này sẽ bao gồm mối quan hệ nhóm của nó như một bước sơ bộ.
[5] 3. Demonstrate the relations between the self and the sheaths which that self may use, and thus clarify public thought as to the constitution of man.
[5] 3. Chứng minh mối quan hệ giữa Chân ngã và các thể mà Chân ngã có thể sử dụng, qua đó làm sáng tỏ suy nghĩ của công chúng về cấu trúc của con người.
[6] 4. Elucidate the problem of the supernormal powers, [Page 6] [7] and give the rules for their safe and useful development.
[6] 4. Làm sáng tỏ vấn đề các năng lực siêu thường, [Page 6] [7] và đưa ra các quy tắc để phát triển chúng một cách an toàn và hữu ích.
[8] We stand now towards the close of a great transition period [9] and the subtler realms of life are closer than ever before; unusual phenomena and inexplicable happenings are commoner than at any time heretofore, whilst matters telepathic, psychic, and peculiar occupy the attention even of sceptics, scientists, and religionists.
[8] Chúng ta hiện đang đứng ở giai đoạn cuối của một thời kỳ chuyển tiếp lớn [9] và các lĩnh vực tinh tế của cuộc sống đang gần gũi hơn bao giờ hết; hiện tượng bất thường và các sự kiện không thể giải thích được xảy ra phổ biến hơn bao giờ hết, trong khi các vấn đề về viễn cảm, thông linh và những hiện tượng kỳ lạ thu hút sự chú ý của ngay cả những người hoài nghi, các nhà khoa học và các nhà tôn giáo.
[10] Reasons for the appearance of phenomena are being everywhere sought, and societies are formed for their investigation and demonstration. [11] Many are likewise going astray in the effort to induce in themselves psychic conditions and the energy-producing factors which give rise to the manifestation of peculiar powers. [12] This book will endeavor [13] to fit the information given into the scheme of life as we today recognize it and will show how basically natural and true is all that is termed mysterious. [14] All is under law, and the laws need elucidation now that man’s development has reached the stage of a juster appreciation of their beauty and reality.
[10] Những lý do cho sự xuất hiện của các hiện tượng này đang được tìm kiếm khắp nơi, và các hội nhóm được thành lập để điều tra và chứng minh chúng. [11] Nhiều người cũng đang lạc lối trong nỗ lực tự gây ra các trạng thái thông linh và các yếu tố tạo ra năng lượng phát sinh các năng lực đặc biệt. [12] Quyển sách này sẽ cố gắng [13] khớp thông tin được đưa ra vào sơ đồ của cuộc sống như chúng ta ngày nay công nhận, và sẽ cho thấy tất cả những gì được gọi là bí ẩn về cơ bản là tự nhiên và đúng đắn như thế nào. [14] Mọi thứ đều tuân theo định luật, và các định luật này cần được làm sáng tỏ ngay bây giờ khi sự phát triển của con người đã đạt đến giai đoạn đánh giá đúng đắn hơn về vẻ đẹp và thực tế của chúng.
[15] Three types of people will respond to this book. They are:
[15] Ba loại người sẽ đáp ứng với quyển sách này. Họ là:
[16] 1. Those open minded investigators who are willing to accept its fundamentals as a working hypothesis until these are demonstrated to be erroneous. [17] They will be frankly agnostic, but willing temporarily, in their search for truth, to try out the methods and follow the suggestions laid down for their consideration.
[16] 1. Những nhà điều tra có tư duy cởi mở sẵn sàng chấp nhận các nguyên lý cơ bản của quyển sách này như một giả thuyết làm việc cho đến khi chúng được chứng minh là sai lầm. [17] Họ sẽ thẳng thắn hoài nghi, nhưng tạm thời trong quá trình tìm kiếm sự thật, họ sẽ thử nghiệm các phương pháp và tuân theo những gợi ý được đưa ra để họ xem xét.
[18] 2. Aspirants and disciples. [19] They will study this treatise in order to understand themselves better and because they seek to help their brother man. [20] They will not accept its dicta blindly but will experiment, [21] check and corroborate with care the stages [Page 7] and steps laid down for them in this section of the teachings of the Ageless Wisdom.
[18] 2. Những người chí nguyện và đệ tử. [19] Họ sẽ nghiên cứu luận thuyết này để hiểu rõ hơn về bản thân và vì họ mong muốn giúp đỡ các huynh đệ nhân loại. [20] Họ sẽ không chấp nhận các giáo điều một cách mù quáng mà sẽ thử nghiệm, [21] kiểm tra và xác nhận cẩn thận các giai đoạn và các bước [Page 7] được đưa ra cho họ trong phần này của giáo lý Minh Triết Ngàn Đời.
[22] 3. Initiates. These persons will arrive at a meaning which will not be apparent to those in the first group and which will only be suspected by the more advanced members of the second. [23] Within themselves they know the truth of many of its statements and will realise the subjective working out of many of the laws. [24] These laws of nature have effects in three distinct realms:
[22] 3. Những điểm đạo đồ. Những người này sẽ đạt đến một ý nghĩa vốn không rõ ràng với những người trong nhóm đầu tiên và chỉ được nghi ngờ bởi những thành viên tiên tiến hơn trong nhóm thứ hai. [23] Trong bản thân họ biết sự thật của nhiều tuyên bố và sẽ nhận ra sự vận hành nội tại của nhiều định luật. [24] Những định luật tự nhiên này có ảnh hưởng trong ba lĩnh vực rõ rệt:
[25] a. Physically, where they demonstrate as effects in the dense form.
[25] a. Về mặt vật lý, nơi chúng biểu hiện như các hiệu ứng trong hình tướng đậm đặc.
[26] b. Etherically, where they demonstrate as the energy lying back of those effects.
[26] b. Về mặt dĩ thái, nơi chúng biểu hiện như năng lượng nằm sau những hiệu ứng đó.
[27] c. Mentally, where they concern the impulses which produce the other two.
[27] c. Về mặt trí tuệ, nơi chúng liên quan đến các xung động tạo ra hai hiệu ứng trên.
[28] The Treatise on Cosmic Fire dealt primarily with the solar system and only touched upon human aspects and correspondences insofar as they demonstrated the relation of the part to the whole, and of the unit to the totality.
[28] Luận về Lửa Vũ Trụ chủ yếu đề cập đến hệ mặt trời và chỉ chạm đến các khía cạnh và tương quan của con người trong chừng mực chúng thể hiện mối quan hệ của phần với toàn thể và của đơn vị với tổng thể.
[29] The present book will deal more specifically with human development and unfoldment, elucidating the causes which are responsible for the present effects, [30] and pointing to the future and its possibilities, and to the nature of the unfolding potentialities.
[29] Quyển sách hiện tại sẽ đề cập cụ thể hơn đến sự phát triển và khai mở của con người, làm sáng tỏ các nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hiệu ứng hiện tại, [30] và chỉ ra tương lai và các khả năng của nó, cũng như bản chất của các tiềm năng đang dần được hé lộ.
[31] This book will be based also upon four fundamental postulates [32] which must be admitted by the student of the succeeding pages as providing an hypothesis worthy of his consideration and trial. [33] No true investigator of the Ageless Wisdom is asked to give blind adherence to any presentation of truth; [34] he is asked, however, to have an open mind and seriously to weigh and consider the theories and ideals, [35] the laws and the truths [36] which have guided so many out of darkness into the light of knowledge [Page 8] and experience. [37] The postulates might be enumerated as follows and are given in the order of their importance.
[31] Quyển sách này cũng sẽ dựa trên bốn định đề cơ bản [32] mà học viên của các trang tiếp theo phải chấp nhận như là cung cấp một giả thuyết đáng để họ xem xét và thử nghiệm. [33] Không một nhà nghiên cứu chân chính nào của Minh Triết Ngàn Đời được yêu cầu tuân thủ mù quáng bất kỳ trình bày nào về chân lý; [34] tuy nhiên, y được yêu cầu có một tâm trí cởi mở và cân nhắc nghiêm túc các lý thuyết và lý tưởng, [35] các định luật và sự thật [36] đã hướng dẫn nhiều người từ bóng tối ra ánh sáng của tri thức và kinh nghiệm [Page 8]. [37] Các định đề có thể được liệt kê như sau và được đưa ra theo thứ tự quan trọng của chúng:
[38] I. First, that there exists in our manifested universe the expression of an Energy or Life which is the responsible cause of the diverse forms and the vast hierarchy of sentient beings who compose the sum total of all that is. [39] This is the so-called hylozoistic theory, though the term but serves to confuse. [40] This great Life is the basis of Monism, and all enlightened men are Monists. [41] “God is One” is the utterance of truth. One life pervades all forms [42] and those forms are the expressions, in time and space, [43] of the central universal energy. [44] Life in manifestation produces existence and being. [45] It is the root cause, therefore, of duality. [46] This duality which is seen when objectivity is present and which disappears when the form aspect vanishes is covered by many terms, of which for the sake of clarity, the most usual might be here listed:
[38] I. Đầu tiên, tồn tại trong vũ trụ biểu hiện của chúng ta sự biểu lộ của một Năng lượng hoặc Sự Sống, nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hình tướng đa dạng và hệ thống phân cấp rộng lớn của các thực thể hữu tình tạo thành tổng số của tất cả những gì đang tồn tại. [39] Đây là thuyết được gọi là Hoạt Vật Luận (hylozoistic), mặc dù thuật ngữ này chỉ làm tăng sự phức tạp. [40] Sự Sống vĩ đại này là cơ sở của Chủ nghĩa Nhất nguyên, và tất cả những người giác ngộ đều là người theo Chủ nghĩa Nhất nguyên. [41] "Thượng Đế là Duy Nhất" là một phát biểu của chân lý. Sự sống Duy Nhất thâm nhập vào tất cả các hình tướng, [42] và những hình tướng đó là sự biểu hiện, trong thời gian và không gian, [43] của năng lượng trung tâm phổ quát. [44] Sự sống trong sự biểu hiện tạo ra sự tồn tại và hiện hữu. [45] Do đó, nó là nguyên nhân gốc rễ của tính nhị nguyên. [46] Tính nhị nguyên này—được thấy khi có khách quan tính và biến mất khi khía cạnh hình tướng biến mất—được bao phủ bởi nhiều thuật ngữ, và để rõ ràng hơn, những thuật ngữ thông thường nhất có thể được liệt kê ở đây:
[47] Spirit and Matter
[47] Tinh Thần (Spirit) Vật chất (Matter)
[48] Life and Form
[48] Sự Sống (Life) Sắc tướng (Form)
[49] Father and Mother
[49] Cha Mẹ
[50] Positive and Negative
[50] Dương/Tích cực Âm/Tiêu cực
[51] Darkness and Light
[51] Bóng tối Ánh sáng
[52] Students must clearly have this essential unity in mind e’en when they talk (as they needs must) in finite terms of that duality which is everywhere, cyclically, apparent.
[52] Học viên phải giữ rõ ràng trong trí về sự thống nhất cơ bản này ngay cả khi họ nói (khi họ cần phải làm) trong các thuật ngữ hữu hạn về tính nhị nguyên, có vẻ hiện diện khắp nơi theo chu kỳ,
[53] II. The second postulate grows out of the first and states that the one Life, manifesting through matter, produces a third factor which is consciousness. [54] This consciousness, which is the result of the union of the two poles of spirit and matter [55] is the soul of all things; [56] it permeates all substance or objective energy; it underlies all forms, [57] whether it be the form of that unit of energy which we call an atom, or the form of man, a planet, or a solar system.
[53] II. Tiên đề thứ hai phát triển từ tiên đề thứ nhất và tuyên bố rằng Sự Sống duy nhất, biểu hiện qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ ba là tâm thức. [54] Tâm thức này, là kết quả của sự kết hợp của hai cực là tinh thần và vật chất, [55] là linh hồn của mọi thứ; [56] nó thẩm thấu vào tất cả các chất liệu hoặc năng lượng khách quan; nó là nền tảng của tất cả các hình tướng, [57] dù đó là hình tướng của đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là nguyên tử, hoặc hình tướng của con người, một hành tinh, hoặc một hệ mặt trời.
[58] This is the Theory of Self-determination [Page 9] [59] or the teaching that all the lives of which the one life is formed, in their sphere and in their state of being, become, so to speak, grounded in matter and assume forms whereby their peculiar specific state of consciousness may be realised and their vibration stabilised; [60] thus they [61] may know themselves as existences. [62] Thus again the one life becomes a stabilised and conscious entity through the medium of the solar system, and is essentially, therefore the sum total of energies, of all states of consciousness, and of all forms in existence. [63] The homogeneous becomes the heterogeneous, and yet remains a unity; the one manifests in diversity and yet is unchanged; [64] the central unity is known in time and space as composite and differentiated and yet, when time and space are not (being but states of consciousness), [65] only the unity will remain, and only spirit will persist, plus an increased vibratory action, plus capacity for an intensification of the light when again the cycle of manifestation returns.
[58] Đây là Thuyết Tự Quyết [Page 9] [59] hoặc giáo lý rằng tất cả các sự sống hình thành Sự Sống Duy Nhất, trong phạm vi và trạng thái tồn tại của chúng, có thể nói, trở nên gắn kết vào vật chất và đảm nhận các hình tướng qua đó trạng thái tâm thức đặc biệt của chúng có thể được nhận biết và rung động của chúng được ổn định; [60] do đó chúng [61] có thể biết mình là các sinh mệnh hiện tồn. [62] Do đó, một lần nữa, sự sống duy nhất trở thành một thực thể ổn định và có tâm thức thông qua phương tiện của hệ mặt trời, và do đó, bản chất là tổng số của các năng lượng, của tất cả các trạng thái tâm thức và của tất cả các hình tướng đang tồn tại. [63] Sự thuần nhất trở thành không thuần nhất, nhưng vẫn thống nhất; cái một biểu hiện trong sự đa dạng nhưng không thay đổi; [64] sự thống nhất trung tâm được biết đến trong thời gian và không gian như là phức hợp và phân biệt, nhưng khi thời gian và không gian không còn tồn tại (vốn chỉ là các trạng thái tâm thức), [65] chỉ còn lại sự thống nhất, và chỉ còn lại tinh thần, cộng với một hoạt động rung động tăng cường, cộng với khả năng tăng cường ánh sáng khi chu kỳ biểu hiện trở lại.
[66] Within the vibratory pulsation of the one manifesting Life all the lesser lives repeat the process of being,—[67] Gods, angels, men, and the myriad lives which express themselves through the forms of the kingdoms of nature and the activities of the evolutionary process. All become self-centered and self-determined.
[66] Bên trong nhịp đập rung động của Sự sống duy nhất biểu hiện, tất cả các sự sống nhỏ hơn lặp lại quá trình tồn tại, [67] — Thượng đế, thiên thần, con người, và vô số các sự sống thể hiện qua các hình tướng của các giới tự nhiên và các hoạt động của quá trình tiến hóa. Tất cả trở nên tập trung vào bản thân và tự quyết định.
[68] III. The third basic postulate is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being is the unfoldment of consciousness, or the revelation of the soul. This might be called the Theory of the Evolution of Light.
[68] III. Tiên đề cơ bản thứ ba là mục tiêu của sự sống khoác lấy hình tướng và mục đích của tồn tại biểu hiện là sự phát triển của tâm thức, hoặc sự tiết lộ linh hồn. Điều này có thể được gọi là Thuyết Tiến hóa của Ánh sáng.
Commentary 2
Hi everybody. And now we proceed with a commentary on A Treatise on White Magic.
Xin chào mọi người. Bây giờ chúng ta tiếp tục với phần bình luận về cuốn sách Luận về Chánh Thuật.
By the way one of our colleagues, Paula Martin, has very kindly overseen the transcription of quite a number of my video commentaries and you'll be able to find those presently on Makara, in case you want to have a written version of what I have said. Some people might find it just fine to work with the video version and other people might want to have a written version of the words that were on video or maybe use both simultaneously.
Nhân tiện, một trong những đồng nghiệp của chúng tôi, Paula Martin, đã rất tử tế giám sát việc transcript một số lượng lớn các video bình luận của tôi và các bạn sẽ có thể tìm thấy chúng trên Makara nếu các bạn muốn có phiên bản viết của những gì tôi đã nói. Một số người có thể thấy chỉ cần làm việc với phiên bản video là đủ, trong khi những người khác có thể muốn có phiên bản viết của những lời nói trên video hoặc có thể sử dụng cả hai đồng thời.
But anyway, here we are and we have gone a few pages into the introduction. We've gone here - the Tibetan is expanding upon His 15 rules for magic that are found in A Treatise on Cosmic Fire. But it will be more applicable, rather than general, to the work of the aspirant, He says, and giving suggestions for the better development of soul contact and soul manifestation. So He says, okay we're not babes here, I'm not dealing with babes but with mature men and women who have chosen a certain way and who are pledged to walk in the life. So presumably, hopefully, we can consider ourselves to be pledged, at least pledged disciples; we've made a certain promise to humanity, to the Hierarchy, and a promise to engage with the Ageless Wisdom in a proper, useful, serviceable manner.
Chúng ta đã đi được vài trang ở phần giới thiệu. Chân sư DK nói rằng Ngài sẽ mở rộng 15 quy luật về huyền thuật trong quyển Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng áp dụng nhiều hơn vào công việc của người chí nguyện và đưa ra những gợi ý để phát triển sự tiếp xúc với linh hồn và sự biểu lộ của linh hồn tốt hơn. Ngài nói, chúng ta không phải là những đứa trẻ: “Ở đây, tôi không làm việc với những đứa trẻ mà với những người nam và nữ trưởng thành, đã chọn một con đường nhất định và cam kết bước đi trong ánh sáng”. Vì vậy, hy vọng chúng ta có thể xem mình là những đệ tử đã thệ nguyện; chúng ta đã hứa một điều gì đó với nhân loại, với Thánh đoàn, và một lời hứa tham gia vào Minh Triết Ngàn Đời một cách đúng đắn, hữu ích và phụng sự.
So we go on then and we continue at this point on whatever page it may be. Sometimes I just lose track here, page 5. but Page 5 of the introduction, right? Okay.
Vì vậy chúng ta tiếp tục và đi tiếp từ điểm này, ở bất cứ trang nào cũng được. Đôi khi tôi bị lạc mất mạch ở đây, trang 5. Nhưng là trang 5 của phần mở đầu, đúng không?
[1] I seek in this book to do four things, and to make appeal to three types of people. It is based, as regards its teaching, upon four fundamental postulates. These are intended to:
[1] Tôi tìm cách làm bốn điều trong quyển sách này và hướng đến ba loại người. Về mặt giảng dạy, quyển sách này dựa trên bốn tiên đề cơ bản. Những tiên đề này nhằm:
I might as well highlight these because they are obviously going to be important. It's been a long time since I've read this introduction and naturally have forgotten the four postulates.
Tôi sẽ tô màu những điều này vì chúng rõ ràng là quan trọng. Đã lâu rồi kể từ khi tôi đọc phần giới thiệu này và tự nhiên đã quên bốn nguyên lý đó.
[2] 1. Teach the laws of spiritual psychology as distinguished from mental and emotional psychology.
[2] 1. Dạy các định luật của tâm lý học tinh thần phân biệt với tâm lý học trí tuệ và cảm xúc.
Now we do have to remember that following the writing of this book, Master DK went into His work with esoteric psychology and expanded the subject tremendously. But even so, this book on white magic is considered by him a spiritual psychological book.
Chúng ta nhớ rằng sau khi viết quyển sách này, Chân sư DK đã đi vào lãnh vực tâm lý học nội môn và mở rộng chủ đề rất nhiều. Nhưng dù sao, quyển Luận về Chánh Thuật được Ngài coi là một quyển sách tâm lý học tinh thần.
[3] 2. Make clear the nature of the soul of man and its systemic. . .
[3] 2. Làm rõ bản chất của linh hồn con người và các mối quan hệ hệ thống và vũ trụ của nó.
Solar systemic … and cosmic relationships. Beyond the cosmos beyond rather beyond the solar system.
Quan hệ hệ thống là với hệ mặt trời, và quan hệ vũ trụ là vượt ra ngoài hệ mặt trời.
[4] This will include its group relationship as a preliminary step.
[4] Điều này sẽ bao gồm mối quan hệ nhóm của nó như một bước sơ bộ.
So we might say expand upon the nature of the soul and here teach spiritual psychology. Okay. Now the next one.
Vì vậy, chúng ta có thể nói mở rộng về bản chất của linh hồn, và ở đây giảng dạy tâm lý học tinh thần. Bây giờ là điều tiếp theo.
[5] 3. Demonstrate the relations between the self and the sheaths which that self may use, and thus clarify public thought as to the constitution of man.
[5] 3. Chứng minh mối quan hệ giữa Chân ngã và các thể mà Chân ngã có thể sử dụng, qua đó làm sáng tỏ suy nghĩ của công chúng về cấu trúc của con người.
Demonstrate the relations between the self and the sheaths which that self may use
Chứng minh mối quan hệ giữa Chân ngã và các thể mà Chân ngã có thể sử dụng
Interesting and it tells us for whom this may be intended, not necessarily only the deep student of esotericism,
Thật thú vị, “làm sáng tỏ suy nghĩ của công chúng”, điều này cho chúng ta biết cuốn sách có thể dành cho ai. Nó không nhất thiết chỉ dành cho các học viên sâu sắc về huyền môn,
and thus clarify public thought as to the constitution of man.
qua đó làm sáng tỏ suy nghĩ của công chúng về cấu trúc của con người.
So, what is the self in this case? A spiritual being, the Observer in one of its guises. We can continue to extend the idea of the Observer until we have the Observer of the entire universe. But as high as we tend to go is the monad, which is that emanation of the One Self at core and at root; it is the One Self but it has a smaller scope in its understanding because it has circumscribed its range of consciousness. It has involved, involuted; it has wrapped itself in containing energies.
Vậy, Bản ngã (self) trong trường hợp này là gì? Là một Thực Thể tinh thần, là Người Quan Sát trong một trong những hình dạng của nó. Chúng ta có thể tiếp tục mở rộng ý tưởng về Người Quan Sát cho đến khi chúng ta có Người Quan Sát của toàn bộ vũ trụ. Nhưng cái cao nhất mà chúng ta có xu hướng đi tới là chân thần, là sự xuất lộ (emanation) của Bản Ngã Duy Nhất (One Self) ở cốt lõi và gốc rễ; nó là Bản Ngã Duy Nhất nhưng có phạm vi hiểu biết nhỏ hơn vì nó đã giới hạn phạm vi ý thức của mình. Nó đã tự bao bọc mình trong các năng lượng bao chứa.
[6] 4. Elucidate the problem of the supernormal powers,
[6] 4. Làm sáng tỏ vấn đề các năng lực siêu thường, [Page 6]
Now why problem? Well because for many people it is a problem how to use them, how to judge whether they are accurate, how to see that they are applied properly,
Tại sao lại gọi là vấn đề? Đối với nhiều người, đó là vấn đề về cách sử dụng chúng, làm thế nào để đánh giá liệu chúng có chính xác hay không, làm thế nào để đảm bảo rằng chúng được áp dụng đúng cách,
[7] and give the rules for their safe and useful development.
[7] và đưa ra các quy tắc để phát triển chúng một cách an toàn và hữu ích.
In this case, so many people go astray and over emphasize these. You know of the story of the Buddha and his arhats. They wanted to do a miracle just to exercise their powers and they did. The Buddha allowed them to do that and they caused all kinds of trouble, all kinds of imbalances, and they had to go forward and relieve many distresses and distressed people that their miracle had been put in that condition.
Trong trường hợp này, nhiều người đã đi sai đường và quá nhấn mạnh vào chúng. Bạn đã nghe câu chuyện về Đức Phật và các vị La Hán của Ngài. Họ muốn thực hiện phép lạ chỉ để thể hiện năng lực của mình và họ đã làm. Đức Phật cho phép họ làm điều đó và họ đã gây ra đủ loại rắc rối, đủ loại mất cân bằng, và họ phải tiếp tục giải quyết những nỗi đau và những người chịu đau khổ mà phép lạ của họ đã gây ra.
so the laws of spiritual psychology, that's number one. This is the objective. The nature of the soul of man and it's relationships. The relation of the self with its sheaths and the problem of the supernormal powers. We certainly can say that the Tibetan plans ahead and writes in a manner very well organized. I have admiration for that and one day maybe I'll be able to do it. And thus for all of us.
Vâng, điều đầu tiên là các quy luật của tâm lý học tinh thần, đó là mục tiêu. Bản chất của linh hồn con người và các mối quan hệ của nó. Mối quan hệ của Chân Ngã với các thể của nó, và vấn đề về các năng lực siêu thường (supernormal). Chúng ta chắc chắn rằng Chân Sư DK đã lên kế hoạch trước và viết rất có tổ chức. Tôi ngưỡng mộ điều đó và một ngày nào đó có thể tôi sẽ làm được, và tất cả chúng ta cũng có thể làm như vậy.
[8] We stand now towards the close of a great transition period
[8] Chúng ta hiện đang đứng ở giai đoạn cuối của một thời kỳ chuyển tiếp lớn
Probably between the 6th ray and 7th ray period or between the Age of Pisces and the Age of Aquarius, and even more so it's a transition between a 25,000 year Age of Pisces, a great platonic age, and the upcoming approximately 25,000 year Age of Aquarius and also the end of a 250,000 year cycle. Sort of once around the Pleiades is one way to look at it. A 250,000-year cycle that supposedly ended around the time when the Christ made his appearance with the Master Jesus.
Có lẽ giữa thời kỳ cung sáu và cung bảy, hoặc giữa Kỷ Nguyên SongNgư và Kỷ Nguyên Bảo Bình, và thậm chí còn hơn thế nữa, đó là sự chuyển tiếp giữa Kỷ Nguyên Song Ngư 25.000 năm, một kỷ nguyên Platonic lớn, và Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp tới cũng khoảng 25.000 năm, và cũng là kết thúc của một chu kỳ 250.000 năm. Một cách để nhìn nhận chu kỳ này [250.000 năm] này là một lần quay quanh chòm sao Pleiades. Một chu kỳ 250.000 năm kết thúc khoảng thời gian Đức Christ xuất hiện cùng với Chân sư Jesus.
[9] and the subtler realms of life are closer than ever before; unusual phenomena and inexplicable happenings are commoner than at any time heretofore, whilst matters telepathic, psychic, and peculiar occupy the attention even of sceptics, scientists, and religionists.
[9] và các lĩnh vực tinh tế của cuộc sống đang gần gũi hơn bao giờ hết; hiện tượng bất thường và các sự kiện không thể giải thích được xảy ra phổ biến hơn bao giờ hết, trong khi các vấn đề về viễn cảm, thông linh và những hiện tượng kỳ lạ thu hút sự chú ý của ngay cả những người hoài nghi, các nhà khoa học và các nhà tôn giáo.
What can we say? The inner worlds are drawing nearer, hence the opportunity and the danger of misuse.
Chúng ta có thể nói gì? Các cõi giới nội tại đang đến gần hơn, do đó mang đến cơ hội và cũng nguy cơ bị lạm dụng.
[10] Reasons for the appearance of phenomena are being everywhere sought and societies are formed for their investigation and demonstration.
[10] Những lý do cho sự xuất hiện của các hiện tượng này đang được tìm kiếm khắp nơi, và các hội nhóm được thành lập để điều tra và chứng minh chúng.
I have had some connection with these societies, such as for Psychical Research. When we were doing some investigation as to the death process back in the days when I was with the Arcane School, when their headquarters were there and we met some very interesting people who were members or directors of these societies.
Tôi đã có một số tiếp xúc với các hội nhóm này, chẳng hạn như Hội Nghiên cứu Tâm linh. Chúng tôi đã tiến hành một số nghiên cứu về quá trình chết trong những ngày tôi còn ở Trường Arcane, khi trụ sở của họ ở đó, và chúng tôi gặp gỡ một số người rất thú vị là thành viên hoặc giám đốc của các hội nhóm này.
[11] Many are likewise going astray in the effort to induce in themselves psychic conditions and the energy-producing factors which give rise to the manifestation of peculiar powers.
[11] Nhiều người cũng đang lạc lối trong nỗ lực tự gây ra các trạng thái thông linh và các yếu tố tạo ra năng lượng phát sinh các năng lực đặc biệt.
When we seek the powers for their own sake we go astray. When we seek powers, let's call it prematurely and for their own sake, we go astray.
Khi chúng ta tìm kiếm các năng lực vì bản thân chúng ta, chúng ta đi lạc đường. Khi chúng ta tìm kiếm các năng lực quá sớm và vì chính bản thân các năng lực đó, chúng ta đang lạc đường.
[12] This book will endeavor
[12] Quyển sách này sẽ cố gắng
It was written almost a hundred years ago now, when you think about this maybe the work started here in the late 1920s, middle to late 20s.
Khi bạn nghĩ về điều này, quyển sách đã được viết gần một trăm năm trước, có lẽ công việc bắt đầu vào cuối những năm 1920, vào giữa đến cuối thập kỷ 1920-1930.
[13] to fit the information given into the scheme of life as we today recognize it and will show how basically natural and true is all that is termed mysterious.
[13] khớp thông tin được đưa ra vào sơ đồ của cuộc sống như chúng ta ngày nay công nhận, và sẽ cho thấy tất cả những gì được gọi là bí ẩn về cơ bản là tự nhiên và đúng đắn như thế nào.
So, what are we doing? Trying to remove the mystery from that which is apparently mysterious, make it seem more natural, which it essentially is.
Vậy, chúng ta đang làm gì? Chúng ta cố gắng loại bỏ sự huyền bí từ những gì có vẻ huyền bí, làm cho nó tự nhiên hơn, điều mà thực chất nó là.
[14] All is under law, and the laws need elucidation now that man's development has reached the stage of a juster appreciation of their beauty and reality.
[14] Mọi thứ đều tuân theo định luật, và các định luật này cần được làm sáng tỏ ngay bây giờ khi sự phát triển của con người đã đạt đến giai đoạn đánh giá đúng đắn hơn về vẻ đẹp và thực tế của chúng.
And of course he's given us the laws of the soul, has given us laws of the solar system; he's given us laws and rules of magic. He's given us rules, well rules and laws are very similar. There are some distinctions. He's given us rules for group work. He's given us great cosmic laws, you know, the law of synthesis, law of attraction repulsion, the law of economy, those kinds of things. The intermediate Law of Karma.
Tất nhiên Ngài đã đưa cho chúng ta các định luật của linh hồn, các định luật của hệ mặt trời. Ngài đã đưa cho chúng ta các quy luật của huyền thuật. Ngài đã đưa cho chúng ta các quy luật, nhưng quy luật và định luật có một số khác biệt dù có vẻ tương tự nhau. Ngài đã đưa cho chúng ta các quy luật cho công việc nhóm. Ngài đã đưa cho chúng ta các định luật lớn về vũ trụ—Định luật Tổng Hợp, Định luật Hấp Dẫn Và Đẩy Lùi, Định luật Tiết Kiệm, những định luật như thế. Định Luật trung gian về Nghiệp Quả.
I remember in the Arcane School a discontinued series called Occult Law and it was studied in the earlier days of the school and lesson-sets existed for that, but basically taken from A Treatise on Cosmic Fire where these various laws are at least presented, and I think for us the most important that the laws, the law of the soul law, of sacrifice, the law of magnetic impulse, law of service, law of repulse, the law of elevation, well the law of group progress is the normal name, and there is a law of magnetic expansion, and finally a law of the lower four. It's not exactly magnetic expansion but it is very close to that. Anyway, you can look that up in the Esoteric Psychology book or in A Treatise on Cosmic Fire.
Tôi nhớ ở Trường Arcane có một loạt bài học hiện đã tạm ngừng, được gọi là các Định Luật Huyền bí, và nó đã được nghiên cứu trong những ngày đầu của trường. Có các study sets cho loạt bài học đó, nhưng cơ bản chúng lấy từ Luận về Lửa Vũ Trụ nơi mà các định luật khác nhau này được trình bày. Tôi nghĩ với chúng ta, quan trọng nhất là các định luật của linh hồn—Định Luật Hi Sinh, Định Luật Xung Động Từ Tính, Định Luật Phụng Sự, Định Luật Đẩy Lùi, Định Luật của Tiến Bộ Nhóm, và cuối cùng là Định Luật của Bốn Cái Thấp Hơn. Bạn có thể tra cứu các định luật đó trong quyển Tâm Lý Học Nội Môn và trong Luận về Lửa Vũ Trụ.
[15] Three types of people will respond to this book. They are:
[15] Ba loại người sẽ đáp ứng với quyển sách này. Họ là:
You have to have a target audience I suppose.
Chúng ta phải có một đối tượng mục tiêu.
[16] 1. Those open minded investigators who are willing to accept its fundamentals as a working hypothesis until these are demonstrated to be erroneous.
[16] 1. Những nhà điều tra có tư duy cởi mở sẵn sàng chấp nhận các nguyên lý cơ bản của quyển sách này như một giả thuyết làm việc cho đến khi chúng được chứng minh là sai lầm.
I suppose we have the fifth ray agnostic researcher type.
Tôi cho rằng đây là nhà nghiên cứu cung năm theo chủ nghĩa hoài nghi.
[17] They will be frankly agnostic, but willing temporarily, in their search for truth, to try out the methods and follow the suggestions laid down for their consideration.
[17] Họ sẽ thẳng thắn hoài nghi, nhưng tạm thời trong quá trình tìm kiếm sự thật, họ sẽ thử nghiệm các phương pháp và tuân theo những gợi ý được đưa ra để họ xem xét.
So these people you might say, they are not initially believers but open-minded scientists; at least people who are willing to inquire and to be fair minded about their inquiry.
Như vậy, bạn có thể nói, ban đầu những người này không phải là những người tin tưởng nhưng là những nhà khoa học cởi mở; ít nhất là những người sẵn lòng điều tra và công bằng trong quá trình xem xét của họ.
[18] 2. Aspirants and disciples.
[18] 2. Những người chí nguyện và đệ tử.
They are more in the ranks of the believers I suppose.
Tôi cho là họ đa số thuộc hàng ngũ những người tin tưởng,
[19] They will study this treatise in order to understand themselves better and because they seek to help their brother man.
[19] Họ sẽ nghiên cứu luận thuyết này để hiểu rõ hơn về bản thân và vì họ mong muốn giúp đỡ các huynh đệ nhân loại.
So they work on improving the microcosm.
Vì vậy, họ làm việc để cải thiện tiểu thiên địa.
[20] They will not accept its dicta blindly but will experiment,
[20] Họ sẽ không chấp nhận các giáo điều một cách mù quáng mà sẽ thử nghiệm,
At least reason about it, think about it.
Ít nhất là lý luận về nó, suy nghĩ về nó.
[21] check and corroborate with care the stages and steps laid down for them in this section of the teachings of the Ageless Wisdom.
[21] kiểm tra và xác nhận cẩn thận các giai đoạn và các bước [Page 7] được đưa ra cho họ trong phần này của giáo lý Minh Triết Ngàn Đời.
We assume that true aspirants who according to DK have already taken the first initiation, the true aspirant, aspirants and disciples, have moved beyond the stage of blind belief and it has to make sense to them; it has to be reasonable, not only reasonable but inspiring and attractive, but they do not lose their mind in their beliefs.
Theo Chân sư DK, những người chí nguyện thật sự đã nhận được cuộc điểm đạo đầu tiên, họ đã vượt qua giai đoạn tin tưởng mù quáng và điều đó phải có lý với họ. Nó phải hợp lý, và không chỉ hợp lý mà còn truyền cảm hứng và thu hút, nhưng họ không thiếu lý trí trong niềm tin của mình.
[22] 3. Initiates. These persons will arrive at a meaning which will not be apparent to those in the first group and which will only be suspected by the more advanced members of the second.
[22] 3. Những điểm đạo đồ. Những người này sẽ đạt đến một ý nghĩa vốn không rõ ràng với những người trong nhóm đầu tiên và chỉ được nghi ngờ bởi những thành viên tiên tiến hơn trong nhóm thứ hai.
And we might say in this case namely disciples and not aspirants.
Và chúng ta có thể nói, những thành viên tiên tiến sẽ là những đệ tử chứ không phải là người chí nguyện.
[23] Within themselves they know the truth of many of its statements and will realise the subjective working out of many of the laws.
[23] Trong bản thân họ biết sự thật của nhiều tuyên bố và sẽ nhận ra sự vận hành nội tại của nhiều định luật.
So they have knowledge. These initiates have knowledge and realization.
Vì vậy, họ có kiến thức. Những điểm đạo đồ này có kiến thức và sự nhận thức.
[24] These laws of nature have effects in three distinct realms:
[24] Những định luật tự nhiên này có ảnh hưởng trong ba lĩnh vực rõ rệt:
I mean when we're talking about nature, we are not just confining ourselves to the physical realm. The lower 18 subplanes in a way consist of what we might call nature. So these laws of nature have effects in three distinct realms:
Khi chúng ta nói về tự nhiên, chúng ta không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thể chất. Mười tám cõi phụ thấp có thể được gọi là tự nhiên hay thiên nhiên. Vì vậy, những định luật tự nhiên này có tác động trong ba lĩnh vực riêng biệt:
[25] a. Physically, where they demonstrate as effects in the dense form.
[25] a. Về mặt vật lý, nơi chúng biểu hiện như các hiệu ứng trong hình tướng đậm đặc.
Not all latent causes work out as effects.
Không phải tất cả các nguyên nhân tiềm ẩn đều thể hiện ra như những tác động.
[26] b. Etherically, where they demonstrate as the energy lying back of those effects.
[26] b. Về mặt dĩ thái, nơi chúng biểu hiện như năng lượng nằm sau những hiệu ứng đó.
And we might call this working from below, the first causal realm, the dense physical plane is largely the world of effects.
Chúng ta có thể gọi đây là làm việc từ dưới lên [từ vật chất trọng trược đến dĩ thái]. Cõi vật lý trọng trược chủ yếu là thế giới của các tác động [từ lãnh vực dĩ thái].
[27] c. Mentally, where they concern the impulses which produce the other two.
[27] c. Về mặt trí tuệ, nơi chúng liên quan đến các xung động tạo ra hai hiệu ứng trên.
We have an alignment here between the mind and the etheric-physical brain. He did not mention the astral plane, interestingly enough, although given that there are many lives upon that astral plane, devic lives are active, there will be there certain laws as well.
Chúng ta có sự chỉnh hợp giữa thể trí và bộ não vật lý dĩ thái. Ngài không đề cập đến cõi cảm dục, điều này khá thú vị vì có nhiều sinh mệnh trên cõi cảm dục, các thực thể thiên thần hoạt động, và cũng sẽ có những định luật nhất định ở đó.
[28] The Treatise on Cosmic Fire dealt primarily with the solar system and only touched upon human aspects and correspondences insofar as they demonstrated the relation of the part to the whole, and of the unit to the totality.
[28] Luận về Lửa Vũ Trụ chủ yếu đề cập đến hệ mặt trời và chỉ chạm đến các khía cạnh và tương quan của con người trong chừng mực chúng thể hiện mối quan hệ của phần với toàn thể và của đơn vị với tổng thể.
But I must say, even so, we can learn a lot about ourselves by studying a Treatise on Cosmic Fire. We can still learn quite a bit but nevertheless the idea of analogic and correspondential thinking is prominent in the book A Treatise on Cosmic Fire.
Nhưng tôi phải nói rằng, ngay cả vậy, chúng ta vẫn có thể học hỏi rất nhiều về bản thân mình bằng cách nghiên cứu Luận Về Lửa Vũ Trụ. Chúng ta vẫn có thể học hỏi rất nhiều, nhưng dù sao đi nữa, ý tưởng về tư duy theo nguyên tắc tương tự và tương ứng là nổi bật trong quyển Luận Về Lửa Vũ Trụ.
[29] The present book will deal more specifically with human development and unfoldment, elucidating the causes which are responsible for the present effects
[29] Quyển sách hiện tại sẽ đề cập cụ thể hơn đến sự phát triển và khai mở của con người, làm sáng tỏ các nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hiệu ứng hiện tại,
In the microcosm we might say
Chúng ta có thể nói, trong tiểu vũ trụ
[30] and pointing to the future and its possibilities, and to the nature of the unfolding potentialities.
[30] và chỉ ra tương lai và các khả năng của nó, cũng như bản chất của các tiềm năng đang dần được hé lộ.
This is said to be a book on the control of the astral body, but it also focuses much on the microcosm and maybe in the astrology portion of this book, it does go beyond the microcosm and various types of beings are mentioned which are beyond our particular microcosm, but there is a difference in the degree of practicality and the possibility of applying what is given in this book, A Treatise on White Magic compared with the Treatise on Cosmic Fire.
Đây được coi là một quyển sách về việc kiểm soát thể cảm dục, nhưng nó cũng tập trung nhiều vào tiểu vũ trụ, và trong phần chiêm tinh của quyển sách này, nó vượt ra ngoài tiểu vũ trụ và đề cập đến các sinh mệnh khác nhau nằm ngoài tiểu vũ trụ của chúng ta, nhưng có sự khác biệt về mức độ thực tiễn và khả năng áp dụng những gì được đưa ra trong cuốn sách Luận Về Chánh Thuật so với Luận Về Lửa Vũ Trụ.
[31] This book will be based also upon four fundamental postulates.
[31] Quyển sách này cũng sẽ dựa trên bốn định đề cơ bản
He's kind of laying the groundwork here for all of us
Ngài đang đặt nền tảng cho tất cả chúng ta...
[32] which must be admitted by the student of the succeeding pages as providing an hypothesis worthy of his consideration and trial.
[32] mà học viên của các trang tiếp theo phải chấp nhận như là cung cấp một giả thuyết đáng để họ xem xét và thử nghiệm.
At least an aspirant or disciple has to give it that much, not blind belief, but the estimation I think that what is given is probably true, and then the attitude of testing it out within his own microcosm and the microcosm of others, their energy systems mainly.
Ít nhất, một người chí nguyện hoặc một đệ tử phải chấp nhận như vậy, không phải là niềm tin mù quáng, mà là sự ước lượng rằng những gì được đưa ra có thể là sự thật, và sau đó có thái độ kiểm nghiệm trong tiểu vũ trụ của chính mình và của những người khác, chủ yếu là hệ thống năng lượng của họ.
[33] No true investigator of the Ageless Wisdom is asked to give blind adherence to any presentation of truth;
[33] Không một nhà nghiên cứu chân chính nào của Minh Triết Ngàn Đời được yêu cầu tuân thủ mù quáng bất kỳ trình bày nào về chân lý;
I think that's a really important point and you know in that extract by the Tibetan which is found in the front of most of these books He really tells us that we have to be convinced as our intuition convinces us before we finally and wholly accept what is said. We reason our way there and we observe and we see.
Tôi nghĩ đó là một điểm rất quan trọng, và bạn thấy trong đoạn trích ở đầu hầu hết các cuốn sách này, Ngài nói rằng chúng ta phải được thuyết phục như trực giác của chúng ta thuyết phục chúng ta trước khi chúng ta hoàn toàn chấp nhận những gì được nói. Chúng ta lý luận và quan sát để thấy.
[34] he is asked, however, to have an open mind and seriously to weigh and consider the theories and ideals,
[34] tuy nhiên, y được yêu cầu có một tâm trí cởi mở và cân nhắc nghiêm túc các lý thuyết và lý tưởng,
All of these different factors, speculations, that which would be ideal, laws which are invariable, truths which persist, He's asked us to have an open mind and seriously weigh and consider the theories and ideals
Tất cả các yếu tố khác nhau này—những suy đoán, những gì sẽ là lý tưởng, các định luật không thay đổi, các sự thật bền vững. Ngài yêu cầu chúng ta có một tâm trí mở và nghiêm túc cân nhắc các lý thuyết và lý tưởng.
[35] the laws and the truths
[35] các định luật và sự thật
All of these are words which represent our objectives and we want to deal with them
Đây là các từ đại diện cho các mục tiêu của chúng ta và chúng ta muốn làm việc với chúng...
[36] which have guided so many out of darkness into the light of knowledge and experience.
[36] đã hướng dẫn nhiều người từ bóng tối ra ánh sáng của tri thức và kinh nghiệm [Page 8].
It's a great promise and we know that we are relatively in the dark, especially when we see what a Master like Master DK knows to be able to present all this and He would probably consider himself not so knowledgeable compared to a still higher beings.
Đó là một hứa hẹn lớn. Chúng ta biết rằng chúng ta đang ở trong bóng tối, đặc biệt là khi chúng ta nhìn thấy những gì mà một Chân sư như Chân sư DK biết, có thể trình bày tất cả những điều này, và Ngài có thể sẽ xem chính Ngài không quá hiểu biết so với những Đấng còn cao cả hơn nữa.
Anyway, we're as regards spiritual things, I think it's wholesome to consider, for a great measure, we are in the dark.
Dù sao đi nữa, đối với những điều tinh thần, tôi nghĩ rằng rất hợp lý để xem phần lớn chúng ta vẫn còn đang trong bóng tối.
[37] The postulates might be enumerated as follows and are given in the order of their importance.
[37] Các định đề có thể được liệt kê như sau và được đưa ra theo thứ tự quan trọng của chúng:
Four postulates which we must admit as a hypothesis. And they are:
Bốn định đề mà chúng ta phải thừa nhận như là một giả thuyết. Và chúng là: