← Mental Rules – Introduction

chapter 002 03

Trích nội dung chương

[38] I. First, that there exists in our manifested universe the expression of an Energy or Life which is the responsible cause of the diverse forms and the vast hierarchy of sentient beings who compose the sum total of all that is. [38] I. Đầu tiên, tồn tại trong vũ trụ biểu hiện của chúng ta sự biểu lộ của một Năng lượng hoặc Sự Sống, nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hình tướng đa dạng và hệ thống phân cấp rộng lớn của các thực thể hữu tình tạo thành tổng số của tất cả những gì đang tồn tại.


[38] I. First, that there exists in our manifested universe the expression of an Energy or Life which is the responsible cause of the diverse forms and the vast hierarchy of sentient beings who compose the sum total of all that is.

[38] I. Đầu tiên, tồn tại trong vũ trụ biểu hiện của chúng ta sự biểu lộ của một Năng lượng hoặc Sự Sống, nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hình tướng đa dạng và hệ thống phân cấp rộng lớn của các thực thể hữu tình tạo thành tổng số của tất cả những gì đang tồn tại.

An energy or life, and I call this energy or life the universal Logos. Others would have other names for it and you know some people would simply say well the God of the universe and so forth.

Một năng lượng hoặc sự sống, và tôi gọi năng lượng hoặc sự sống này là Thượng đế Vũ Trụ. Người khác có thể dùng tên khác cho nó, và bạn biết, một số người chỉ đơn giản gọi đó là Thượng đế của vũ trụ.

[39] This is the so-called hylozoistic theory, though the term but serves to confuse.

[39] Đây là thuyết được gọi là Hoạt Vật Luận (hylozoistic), mặc dù thuật ngữ này chỉ làm tăng sự phức tạp.

He has told us that Theosophists just loved these high sounding difficult and possibly confusing terms.

Ngài đã nói rằng các nhà Triết Học rất thích những thuật ngữ khó hiểu và có thể gây nhầm lẫn này.

[40] This great Life is the basis of Monism, and all enlightened men are Monists.

[40] Sự Sống vĩ đại này là cơ sở của Chủ nghĩa Nhất nguyên, và tất cả những người giác ngộ đều là người theo Chủ nghĩa Nhất nguyên.

In other words, they see or understand that the One prevails, the God is the One and the One is fundamental to the appearance of the beings.

Nói cách khác, họ thấy hoặc hiểu rằng Đấng Duy Nhất chi phối, rằng Thượng đế là Duy Nhất và Đấng Duy Nhất là nền tảng của sự xuất hiện của các sinh mệnh.

[41] "God is One" is the utterance of truth. One life pervades all forms.

[41] "Thượng Đế là Duy Nhất" là một phát biểu của chân lý. Sự sống Duy Nhất thâm nhập vào tất cả các hình tướng,

One life. It's such a platitude in a way, but if we would realize what it really means it would be an astonishing realization

Một Sự Sống. Đó là một câu nói quen thuộc, nhưng nếu chúng ta nhận ra ý nghĩa thực sự của nó thì đó sẽ là một sự nhận thức đáng kinh ngạc...

[42] and those forms are the expressions, in time and space,

[42] và những hình tướng đó là sự biểu hiện, trong thời gian và không gian,

Which is always due to the limitation of consciousness

thời gian và không gian luôn là do sự giới hạn của tâm thức...

[43] of the central universal energy.

[43] của năng lượng trung tâm phổ quát.

Time and space without limitation of consciousness, there is no time and space. The utterly unlimited consciousness of what I call the absolute deity, which is an extra-universal deity, for that Being there is no time in space such as we are familiar with; there is no division whatsoever.

Không có sự giới hạn của tâm thức thì không có thời gian và không gian. Tâm thức hoàn toàn không bị giới hạn của cái mà tôi gọi là Thiên Tính Tuyệt Đối, là một Thượng đế ngoài vũ trụ; đối với Bản Thể (Being) đó, không có thời gian và không gian như chúng ta quen thuộc; không có sự phân chia nào cả.

[44] Life in manifestation produces existence and being.

[44] Sự sống trong sự biểu hiện tạo ra sự tồn tại và hiện hữu.

Well if being means existence - when I think about being I think it is the absolute, the substratum of all - the Absolute substance. So there are different ways of looking at being and one of the ways is to consider it very close to the factor of existence, that which comes out of Absolute infinitude. But anyway this Being this universe Logos, this one God, this God is One, this cause of all monism.

Nếu bản thể (being) có nghĩa là tồn tại. Khi tôi nghĩ về bản thể, tôi nghĩ đó là cái tuyệt đối, nền tảng của tất cả—Chất Liệu tuyệt đối. Vì vậy, có nhiều cách nhìn về bản thể, và một trong những cách đó là xem nó rất gần với yếu tố của sự tồn tại, thứ xuất hiện từ sự vô tận tuyệt đối. Nhưng dù sao đi nữa, Bản thể này, Thượng đế phổ quát này, Thượng đế Duy Nhất này là Duy Nhất, nguyên nhân của mọi chủ nghĩa nhất nguyên.

[45] It is the root cause, therefore, of duality.

[45] Do đó, nó là nguyên nhân gốc rễ của tính nhị nguyên.

Well duality has to do with the rising of consciousness, in my view. Duality arises when the great Deity observes itself. But actually it arises even before when there is the extrusion of a universal Logos from absolute infinitude or from the absolute Deity which is an extra-universal being.

Nhị nguyên liên quan đến sự xuất hiện của tâm thức, theo quan điểm của tôi. Nhị nguyên xuất hiện khi Đấng Thượng đế Vĩ Đại quan sát chính mình. Nhưng thực ra, nó xuất hiện thậm chí trước đó khi có sự đẩy ra của một Thượng đế phổ quát từ sự vô tận tuyệt đối hoặc từ thiên tính tuyệt đối, một bản thể ngoài vũ trụ.

[46] This duality which is seen when objectivity is present and which disappears when the form aspect vanishes is covered by many terms, of which for the sake of clarity, the most usual might be here listed:

[46] Tính nhị nguyên này—được thấy khi có khách quan tính và biến mất khi khía cạnh hình tướng biến mất—được bao phủ bởi nhiều thuật ngữ, và để rõ ràng hơn, những thuật ngữ thông thường nhất có thể được liệt kê ở đây:

So duality is not real but it is actual, and it is a condition in consciousness which exists for all emanated beings in cosmos. As a matter of fact, I say the prime duality is the fact that there even should be a universal Logos which is extruded from absoluteness, the absolute Deity, the absolute infinitude - that's the primary duality universe and the source of universe.

Vì vậy, nhị nguyên không thực (unreal) nhưng nó hiện hữu (actual), và nó là một điều kiện trong tâm thức tồn tại cho tất cả các sinh mệnh xuất lộ (emanated beings) trong vũ trụ. Thực tế, tôi nói nhị nguyên nguyên thủy là việc thậm chí có sự tồn tại của một Thượng đế phổ quát được đẩy ra từ TUYỆT ĐỐI, THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI, đó là nhị nguyên chính—vũ trụ và nguồn của vũ trụ.

But anyway, this duality, we are constantly dealing with it. Any object of perception involves the perceiver and that which is perceived, apparently as an other, and then of course the act of perception, maybe it makes it a triplicity.

Dù sao đi nữa, nhị nguyên này, chúng ta liên tục làm việc với nó. Bất kỳ đối tượng nhận thức nào cũng liên quan đến người nhận thức và những gì được nhận thức, dường như là một đối tượng khác, và sau đó tất nhiên hành động nhận thức, có thể làm cho nó thành một bộ ba.

So there's a life and

Vì vậy, có một sự sống và

[47] Spirit and matter.

[47] Tinh Thần (Spirit) Vật chất (Matter)

Matter is always the result of self-observation. That's actually quite a statement. Matter arises from self-observation. We have to think about that one. In a way it doesn't even exist, but it is an artifact of consciousness.

Vật chất luôn là kết quả của sự tự quan sát. Thực tế đây là một tuyên bố khá đặc biệt—Vật chất xuất hiện từ sự tự quan sát. Chúng ta phải suy nghĩ về điều đó. Theo một cách nào đó, nó thậm chí không tồn tại, nhưng nó là một sản phẩm phụ của tâm thức.

[48] Life and form

[48] Sự Sống (Life) Sắc tướng (Form)

The energy and the confinement of that energy due to limited perception which we call form.

Năng lượng và sự hạn chế của năng lượng đó, mà do nhận thức hạn chế chúng ta gọi là hình tướng.

[49] Father and Mother.

[49] Cha Mẹ

[50] Positive and negative.

[50] Dương/Tích cực Âm/Tiêu cực

[51] Darkness and light.

[51] Bóng tối Ánh sáng

We see that the spirit in a way is darkness. But when observation, self-observation arises, that is the arising of light as well. The rising of light is due to self-observation. admittedly, this is a fairly psychological idealistic view of the nature of that which has arisen, the nature of reality.

Chúng ta thấy rằng, theo một cách nào đó tinh thần là bóng tối. Nhưng khi sự tự quan sát xuất hiện, đó là sự xuất hiện của ánh sáng. Sự xuất hiện của ánh sáng là do tự quan sát. Phải thừa nhận rằng đây là một quan điểm khá lý tưởng về bản chất của những gì đã xuất hiện, bản chất của thực tại.

So, we have these dualities in mind and there's always a relationship between them which creates a triplicity and that relationship is generally consciousness, the son. And various triplicities, such as father, son and mother. Positive, neutral, negative – I don't know what I put here for darkness and light, a kind of twilight and spirit, consciousness, matter and so forth. There's always a triplicity but it begins with a duality, and out of the great universal self-observer arises consciousness or the capacity to self-observe. I believe we are living in a psychological universe -- all factors within it being the result of various scopes of self-observation – all the way from that form of self-observation which is the tiniest ultimate particle event, subatomic particle – as small as it can possibly be and the degree of small determined by the will of the observer. All the way from that tiny little thing to a full type of self-observation wherein spirit observing itself sees matter or the result of self-observation.

Chúng ta có những cặp đối lập này trong đầu, và luôn có một mối quan hệ giữa chúng tạo ra một bộ ba, và mối quan hệ đó thường là tâm thức, phương diện con. Các bộ ba khác nhau, như Cha, Con và Mẹ; Tích cực, Trung Lập, Tiêu Cực; Ánh Sáng, Bóng Tối và Tôi không biết mình đã đặt gì ở đây, một loại ánh sáng mờ (twilight); Tinh Thần, Tâm Thức, Vật Chất v.v. Luôn có một bộ ba nhưng nó bắt đầu với một cặp đối lập, và từ người quan sát vũ trụ vĩ đại xuất hiện tâm thức hoặc khả năng tự quan sát. Tôi tin rằng chúng ta đang sống trong một vũ trụ tâm lý, tất cả các yếu tố bên trong nó đều là kết quả của các phạm vi tự quan sát khác nhau, từ dạng tự quan sát là sự kiện hạt nhỏ nhất, hạt hạ nguyên tử, nhỏ đến mức tối đa có thể và mức độ nhỏ được xác định bởi ý chí của người quan sát. Từ hạt nhỏ đó đến dạng tự quan sát đầy đủ, nơi tinh thần tự quan sát chính mình thấy vật chất hoặc kết quả của sự tự quan sát [Quá trừu tượng].

Anyway, that's sort of a philosophical take on all of this. If we go more deeply into it maybe it will make sense; at least for me it makes sense. But maybe everybody has to come to their own ontology, their own understanding of being and that which apparently derives from being.

Dù sao, đó là một cách tiếp cận triết học về tất cả những điều này. Nếu chúng ta đi sâu vào nó, có thể nó sẽ có lý, ít nhất đối với tôi nó có lý. Nhưng có lẽ mọi người phải tự tìm hiểu bản thể học của riêng mình, sự hiểu biết của riêng mình về bản thể và những gì dường như phát sinh từ bản thể.

[52] Students must clearly have this essential unity in mind e’en when they talk (as they needs must) in finite terms of that duality which is everywhere, cyclically, apparent.

[52] Học viên phải giữ rõ ràng trong trí về sự thống nhất cơ bản này ngay cả khi họ nói (khi họ cần phải làm) trong các thuật ngữ hữu hạn về tính nhị nguyên, có vẻ hiện diện khắp nơi theo chu kỳ,

Obviously when the universe arises, duality arises with it, but when it disappears, duality as well disappears. And long before the disappearance of a universe, we rejoin our original nature wherein we realize that the apparent mayavic duality is just an apparency and not real. We begin to identify as the subject with the apparent object and realize that that object is, in fact, the subject; so that unification of subject and object is something that we can look forward to as we learn to contemplate. Unification of subject and object will occur when we can truly contemplate which is more than meditate.

Rõ ràng khi vũ trụ xuất hiện, nhị nguyên xuất hiện cùng với nó, nhưng khi nó biến mất, nhị nguyên cũng biến mất. Và từ lâu trước khi vũ trụ biến mất, chúng ta sẽ tái hợp với bản chất ban đầu của mình, nơi chúng ta nhận ra rằng cái dường như nhị nguyên chỉ là một ảo tưởng và không thực. Chúng ta bắt đầu nhận diện bản thân với cái dường như đối tượng và nhận ra rằng đối tượng đó, thực tế, là chủ thể; vì vậy sự hợp nhất của chủ thể và đối tượng là điều mà chúng ta có thể mong đợi khi chúng ta học cách chiêm ngưỡng (contemplate). Sự hợp nhất của chủ thể và đối tượng sẽ xảy ra khi chúng ta thực sự có thể chiêm ngưỡng, điều này cao hơn là tham thiền.

It is an extension of the sense of identity into that which is identified. This is contemplation or at least one way of thinking about it. I understand that there are books written about this that go far deeper into it, and Alice Bailey's From Intellect to Intuition goes deeply into it and the mystic Evelyn Underhill I think went very deeply into the nature of contemplation. But, it's something that occurs under the sign Libra, it's a marriage, it's a marriage sign: the marriage between subject and object.

Đó là sự mở rộng cảm giác của bản sắc vào trong những gì được đồng hóa. Đây là sự chiêm ngưỡng hoặc ít nhất là một cách nghĩ về nó. Tôi hiểu rằng có những cuốn sách viết về điều này sâu hơn nhiều, và cuốn "From Intellect to Intuition" của Alice Bailey đi sâu vào điều này, và tôi nghĩ nhà thần bí Evelyn Underhill đã đi rất sâu vào bản chất của sự chiêm ngưỡng. Nhưng, đó là điều xảy ra dưới dấu hiệu Thiên Bình, đó là một cuộc hôn nhân, Thiên Bình là một dấu hiệu hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chủ thể và đối tượng.

Now that's the first postulate. I've been doing so much talking that one can forget the postulate. Anyway, let's just call it the first postulate, it is all about one life and no matter how many lives there seem to be. We have to learn that all the many apparent lives are one life. That's going to take some work in overcoming the apparency of separateness: the great heresy, the great mistake in consciousness of perceiving separateness. There is a kind of practical separation one has to deal with, but there has to be a fundamental understanding that separateness is not real. It's simply a maya, as it were.

Đó là tiên đề đầu tiên. Tôi đã nói quá nhiều đến nỗi có thể quên tiên đề này. Dù sao, hãy gọi nó là tiên đề đầu tiên, và tất cả là về một Sự Sống, và không quan trọng có bao nhiêu sự sống dường như tồn tại. Chúng ta phải học rằng tất cả các sự sống hiện diện đều là Một Sự Sống Duy Nhất. Điều này sẽ đòi hỏi một công việc khắc phục vẻ bề ngoài của sự chia rẻ tách biệt: đại tà thuyết, sai lầm lớn trong tâm thức về việc nhận thức sự tách biệt. Có một sự tách biệt thực tế mà chúng ta phải đối phó, nhưng cần phải có một hiểu biết cơ bản rằng sự tách biệt không phải là thực. Đó chỉ là một ảo tưởng (maya).

[53] II. The second postulate grows out of the first and states that the one Life, manifesting through matter, produces a third factor which is consciousness.

[53] II. Tiên đề thứ hai phát triển từ tiên đề thứ nhất và tuyên bố rằng Sự Sống duy nhất, biểu hiện qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ ba là tâm thức.

the one life produces this consciousness and you kind of wonder: would the appearance of matter even be possible without consciousness? So, it is a question of when consciousness arises, or do all three: subject, object and consciousness arise together? This is a deep question because self-observation, what is there about the self? So there is no other, at that point; you have to create otherness, the illusion of otherness and it requires consciousness to produce the illusion of otherness.

Vậy, Sự Sống Duy Nhất tạo ra tâm thức này, và bạn tự hỏi: liệu sự xuất hiện của vật chất có thể xảy ra không nếu không có tâm thức? Vì vậy, câu hỏi đặt ra là khi nào tâm thức xuất hiện, hay tất cả ba yếu tố: chủ thể, đối tượng và tâm thức xuất hiện cùng lúc? Đây là một câu hỏi sâu sắc bởi vì tự quan sát, cái gì liên quan đến Bản ngã? Vì vậy, không có cái khác vào thời điểm đó; bạn phải tạo ra sự khác biệt, ảo tưởng về sự khác biệt và điều đó đòi hỏi tâm thức để tạo ra ảo tưởng về sự khác biệt.

This has to be gone into deeply and we cannot necessarily fall right into the thoughtforms which are always present around this subject.

Điều này cần được nghiên cứu sâu hơn và chúng ta không nhất thiết phải rơi vào các hình thái tư duy luôn tồn tại xung quanh chủ đề này.

[54] This consciousness, which is the result of the union of the two poles of spirit and matter

[54] Tâm thức này, là kết quả của sự kết hợp của hai cực là tinh thần và vật chất,

I'm saying, would that pole of matter even exist if there were no consciousness? I think that's a good question. What I'm saying is that consciousness produces matter, at least as it seems to me at this time, at my present level of ignorance. I am saying that self-observation is matter, or produces matter. Now this really has to be thought about, but anyway this consciousness, which is the result of the union of the two poles of spirit and matter – see, see which comes first? Does consciousness come first or does matter?

Tôi đang nói rằng, liệu cực vật chất có tồn tại nếu không có tâm thức? Tôi nghĩ đó là một câu hỏi hay. Tôi đang nói rằng tâm thức tạo ra vật chất, ít nhất là theo quan điểm của tôi vào thời điểm này, ở mức độ nhận thức hiện tại của tôi. Tôi đang nói rằng tự quan sát chính là vật chất hoặc tạo ra vật chất. Bây giờ điều này thực sự cần được suy nghĩ. Nhưng dù sao đi nữa, tâm thức này, là kết quả của sự kết hợp giữa hai cực tinh thần và vật chất, và bạn thấy, cái nào có trước? Tâm thức có trước hay vật chất có trước?

[55] is the soul of all things;

[55] là linh hồn của mọi thứ;

The knowingness of all beings

Sự biết của mọi sinh linh

[56] it permeates all substance or objective energy; it underlies all forms,

[56] nó thẩm thấu vào tất cả các chất liệu hoặc năng lượng khách quan; nó là nền tảng của tất cả các hình tướng,

I call it "infusception"

Tôi gọi nó là "infusception"

[57] whether it be the form of that unit of energy which we call an atom, or the form of man, a planet, or a solar system.

[57] dù đó là hình tướng của đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là nguyên tử, hoặc hình tướng của con người, một hành tinh, hoặc một hệ mặt trời.

As He has dealt with these analogous stages in A Treatise on Cosmic Fire, let's just say consciousness is all pervading, and I call this consciousness by the name infusception. It infuses everything and it is a type of perception or it gives the possibility of perception.

Như Ngài đã đề cập đến các giai đoạn tương tự trong Luận về Lửa Vũ Trụ, hãy nói rằng tâm thức là tất cả, và tôi gọi tâm thức này bằng tên infusception. Nó thấm nhuần mọi thứ và là một loại nhận thức hoặc nó cung cấp khả năng nhận thức.

[58] This is the Theory of Self-determination

[58] Đây là Thuyết Tự Quyết [Page 9]

Very interesting

rất thú vị

[59] or the teaching that all the lives of which the one life is formed, in their sphere and in their state of being, become, so to speak, grounded in matter and assume forms whereby their peculiar specific state of consciousness may be realised and their vibration stabilised;

[59] hoặc giáo lý rằng tất cả các sự sống hình thành Sự Sống Duy Nhất, trong phạm vi và trạng thái tồn tại của chúng, có thể nói, trở nên gắn kết vào vật chất và đảm nhận các hình tướng qua đó trạng thái tâm thức đặc biệt của chúng có thể được nhận biết và rung động của chúng được ổn định;

You know that consciousness holds onto a form until there is stabilization of that consciousness and some kind of, for those beings who are self-conscious, some kind of realization and the necessity to move on, and for those that are not self-conscious then there is a moving on caused by a greater life which somehow embodies these lesser lives.

Các bạn biết rằng tâm thức nắm giữ một hình tướng cho đến khi có sự ổn định của tâm thức đó, và đối với những sinh mệnh tự ý thức, có một sự nhận thức nào đó và sự cần thiết phải tiến xa hơn, còn đối với những sinh thể không tự ý thức thì sự tiến xa hơn được gây ra bởi một sự sống lớn hơn bao hàm những sự sống nhỏ hơn này

[60] thus they

[60] do đó chúng

The self-conscious ones, at least

Ít nhất là những người tự ý thức

[61] may know themselves as existences.

[61] có thể biết mình là các sinh mệnh hiện tồn.

So, a certain amount of self-knowledge, a degree of self-knowledge, is needed by all self-conscious beings on the path of return.

Vậy nên, một mức độ nhận thức bản thân nào đó là cần thiết cho tất cả những sinh mệnh tự ý thức trên con đường trở về.

[62] Thus again the one life becomes a stabilised and conscious entity through the medium of the solar system, and is essentially, therefore the sum total of energies, of all states of consciousness, and of all forms in existence.

[62] Do đó, một lần nữa, sự sống duy nhất trở thành một thực thể ổn định và có tâm thức thông qua phương tiện của hệ mặt trời, và do đó, bản chất là tổng số của các năng lượng, của tất cả các trạng thái tâm thức và của tất cả các hình tướng đang tồn tại.

In that solar system. Of course it goes on to greater beings, or maybe originated with greater beings in that solar system.

trong hệ mặt trời đó. Tất nhiên nó tiếp tục đến những sinh mệnh lớn hơn, hoặc có thể khởi nguồn từ những sinh mệnh lớn hơn trong hệ mặt trời đó.

[63] The homogeneous becomes the heterogeneous, and yet remains a unity; the one manifests in diversity and yet is unchanged;

[63] Sự thuần nhất trở thành không thuần nhất, nhưng vẫn thống nhất; cái một biểu hiện trong sự đa dạng nhưng không thay đổi;

This a wonderful statement and deserves to be augmented in scope, and, this is a good thing to remember, the homogeneous

Đây là một tuyên bố tuyệt vời và xứng đáng được mở rộng phạm vi, và đây là điều tốt để ghi nhớ, sự thuần nhất...

[64] the central unity is known in time and space as composite and differentiated and yet, when time and space are not (being but states of consciousness),

[64] sự thống nhất trung tâm được biết đến trong thời gian và không gian như là phức hợp và phân biệt, nhưng khi thời gian và không gian không còn tồn tại (vốn chỉ là các trạng thái tâm thức),

As we might say, as has Kant said, he called them categories of consciousness

Như Kant đã nói, ông gọi chúng là các phạm trù của tâm thức

[65] only the unity will remain, and only spirit will persist, plus an increased vibratory action, plus capacity for an intensification of the light when again the cycle of manifestation returns.

[65] chỉ còn lại sự thống nhất, và chỉ còn lại tinh thần, cộng với một hoạt động rung động tăng cường, cộng với khả năng tăng cường ánh sáng khi chu kỳ biểu hiện trở lại.

What an important section this is. Fairly abstract, we have to think that way. It's the kind of thing I don't want to leave: the theory of self-determination. All things come from the one self and all diversity arises out of unity and the sense of the unity is lost in the lower levels of diversification, but following the arc of return, the sense of unity returns and eventually not only the unity but the sense of one, one it is, even more than the unity. You can put many different factors together into a relationship which one considers to be totally interrelated, but are all of those factors which are now seen as interrelated seen as one thing only and that would be a state of synthesis or the perception of synthesis.

Đoạn này thật quan trọng. Nó khá trừu tượng, và chúng ta phải suy nghĩ theo cách đó. Đó là loại lý thuyết mà tôi không muốn bỏ qua: lý thuyết tự quyết. Tất cả mọi thứ đều xuất phát từ Bản Ngã duy nhất và tất cả sự đa dạng nảy sinh từ sự thống nhất và cảm giác về sự thống nhất bị mất trong các cấp độ thấp hơn của sự phân hóa, nhưng theo vòng cung trở lại, cảm giác về sự thống nhất trở lại và cuối cùng không chỉ là sự thống nhất mà còn là cảm giác về ĐẤNG DUY Nhất, về cái MỘT, MỘT là tất cả, thậm chí còn hơn cả sự thống nhất. Bạn có thể đưa nhiều yếu tố khác nhau vào một mối quan hệ mà người ta cho là hoàn toàn liên quan đến nhau, nhưng liệu tất cả những yếu tố đó, hiện được coi là liên quan đến nhau, có được coi là CÁI MỘT duy nhất hay không, và đó sẽ là trạng thái của sự tổng hợp hay nhận thức về sự tổng hợp.

This is the Theory of Self-determination or the teaching that all the lives of which the one life is formed, in their sphere and in their state of being, become, so to speak, grounded in matter.

Đây là Thuyết Tự Quyết hoặc giáo lý rằng tất cả các sự sống hình thành Sự Sống Duy Nhất, trong phạm vi và trạng thái tồn tại của chúng, có thể nói, trở nên gắn kết vào vật chất

Now, in that, so to speak of course, a lot is left out. He's not getting into the technicalities of how it happens. Grounded in matter or grounded in limited self-perception. That's what I'm going to call it. For me this means grounded in limited self-perception. This is a perceptual, maybe an ideal view of the universe.

Tất nhiên, trong cách nói đó nhiều điều bị bỏ qua. Ngài không đi sâu vào chi tiết về cách thức xảy ra. Gắn chặt (grounded) vào vật chất hay gắn vào sự tự nhận thức hạn chế. Đó là cách tôi sẽ gọi nó. Đối với tôi, điều này có nghĩa là gắn vào sự tự nhận thức hạn chế. Đây có thể là một cái nhìn mang tính lý tưởng về vũ trụ.

Maybe I'm joining those philosophers that are called Idealists. Maybe they are "idea-ists, that all things are ideas first and ideas are things and all things are ideas grounded in limited self-perception and self-perception is matter. That's how I see it. Self-perception is matter. Now, you might say that's kind of a crazy idea. Okay. But I think it has to be thought through, because when we start we have nothing but the One and so all things must arise from the One as a self-becoming. And how is that done? And I'm saying it's done through self-observation and that which is observed is the self as matter. There's the self as the observer and the self as matter.

Có thể tôi đang gia nhập vào những triết gia được gọi là những “Nhà Lý tưởng”. Có thể họ là "những người theo chủ nghĩa-ý tưởng (Idea-ists)", rằng tất cả mọi vật đều là ý tưởng trước, và ý tưởng là sự vật, tất cả sự vật đều là ý tưởng bám rễ (grounded) vào sự tự nhận thức hạn chế, và tự nhận thức là vật chất. Đó là cách tôi thấy điều đó. Tự nhận thức là vật chất. Bây giờ, bạn có thể nói rằng đó là một ý tưởng điên rồ. Vâng, nhưng tôi nghĩ nó cần được suy nghĩ kỹ, vì khi chúng ta bắt đầu, chúng ta không có gì ngoài Đấng Duy Nhất, và vì vậy tất cả mọi thứ phải xuất phát từ Đấng Duy Nhất như là một sự tự trở thành. Và làm thế nào điều đó được thực hiện? Và tôi nói rằng nó được thực hiện thông qua sự tự quan sát và điều được quan sát là Bản ngã như là vật chất. Có Bản ngã như là Người Quan Sát và Bản ngã như là Vật Chất.

So, there is the self as the observer and the self being observed is matter. So from the one to the many and returning from the many to the one. Right now people like us, we're deeply buried in many-ness, but can we develop that infusception which allows us to perceive the many as the One while not losing touch with their mayavic forms. The mayavic forms of the One which have to be manipulated in such a way that they recreate the original design or archetype which sent them forth.

Vậy có Bản ngã như là người quan sát và Bản ngã đang được quan sát như là vật chất. Vậy từ một đến nhiều và trở lại từ nhiều đến một. Hiện tại, những người như chúng ta, chúng ta đang bị chôn vùi sâu trong sự đa dạng (many-ness), nhưng liệu chúng ta có thể phát triển được sự thấm nhuần cho phép chúng ta nhận thức được cái nhiều như là Một trong khi không mất liên lạc với các hình thức ảo ảnh (mayavic) của chúng. Những hình thức ảo ảnh của CÁI DUY Nhất phải được thao tác theo cách mà chúng tái tạo lại thiết kế hoặc nguyên mẫu ban đầu đã gửi chúng ra ngoài.

The homogeneous becomes the heterogeneous, and yet remains a unity;

Cái đồng nhất trở thành biệt, và tuy vậy vẫn là một sự hợp nhất;

And that ‘and yet’ is a big study, a big meditation. We're faced every day with the heterogeneous. For us, is the heterogeneous the homogeneous? That's the question we all have to answer. When I observe the heterogeneous – that great seeming; that maya, that maha maya – is it realized and understood as the homogeneous..

Và cái 'và tuy vậy' đó là một nghiên cứu lớn, một sự chiêm ngưỡng lớn. Chúng ta đối mặt mỗi ngày với cái dị biệt. Đối với chúng ta, cái dị biệt có phải là cái đồng nhất không? Đó là câu hỏi tất cả chúng ta phải trả lời. Khi tôi quan sát cái dị biệt – cái vẻ ngoài vĩ đại đó; cái ảo lực đó, cái đại ảo lực đó – nó có được chứng nghiệm và thấu hiểu như cái đồng nhất không..

the one manifests in diversity and yet is unchanged;

cái duy nhất biểu hiện trong sự đa dạng và tuy vậy không thay đổi;

And in that and yet so much is contained

Và trong cái và tuy vậy đó rất nhiều điều được chứa đựng

the central unity is known in time and space as composite and differentiated and yet, when time and space are not (being but states of consciousness),

sự hợp nhất trung tâm được biết đến trong thời gian và không gian như hợp thành và được biến phân và tuy vậy, khi thời gian và không gian không còn (chỉ là các trạng thái của tâm thức),

[considering] categories of consciousness, and I might say being of states of, I want to say, limited consciousness or limited self-consciousness

[xem xét] các phạm trù của tâm thức, và tôi có thể nói là các trạng thái của, tôi muốn nói, tâm thức hạn chế hay ngã thức hạn chế

only the unity will remain, and only spirit will persist, plus an increased vibratory action, plus capacity for an intensification of the light when again the cycle of manifestation returns.

chỉ có sự hợp nhất sẽ còn lại, và chỉ có tinh thần sẽ tồn tại, cộng với một hoạt động rung động tăng lên, cộng với năng lực cho một sự tăng cường ánh sáng khi một lần nữa chu kỳ biểu hiện trở lại.

And always getting into the idea of reincarnation, which He is doing here.

Và luôn luôn đi vào ý tưởng về luân hồi, điều mà Ngài đang làm ở đây.

There is always, while the universe persists, an ideal heightening of vibration which occurs with each reincarnation and with that heightening of vibration comes a deepening, an extension of perception. Thus the invisible becomes visible. We're on our way. We're veiled down here; the onion has many, many layers, even though there's nothing in the middle and we have a lot of layers, we’re in an onion with many layers here.

Luôn có, trong khi vũ trụ tồn tại, một sự nâng cao lý tưởng của rung động xảy ra với mỗi lần luân hồi và với sự nâng cao rung động đó đến một sự làm sâu sắc thêm, một sự mở rộng của nhận thức. Như vậy cái vô hình trở nên hữu hình. Chúng ta đang trên đường đi. Chúng ta bị che khuất ở dưới đây; củ hành có nhiều, nhiều lớp, mặc dù không có gì ở giữa và chúng ta có rất nhiều lớp, chúng ta đang ở trong một củ hành với nhiều lớp ở đây.

[66] Within the vibratory pulsation of the one manifesting Life all the lesser lives repeat the process of being,—

[66] Bên trong nhịp đập rung động của Sự sống duy nhất biểu hiện, tất cả các sự sống nhỏ hơn lặp lại quá trình tồn tại,

Here He is going into the Kaballah where, how is it – where the mineral becomes a plant, the plant becomes the animal, the animal becomes the man, the man becomes the angel, the angel becomes the God. That's as far as we need to go.

Ngài đang đi vào Kaballah, nơi mà khoáng vật trở thành cây cối, cây cối trở thành động vật, động vật trở thành con người, con người trở thành thiên thần, thiên thần trở thành Thượng đế. Đó là tất cả những gì chúng ta cần biết.

[67] Gods, angels, men, and the myriad lives which express themselves through the forms of the kingdoms of nature and the activities of the evolutionary process. All become self-centered and self-determined.

[67] — Thượng đế, thiên thần, con người, và vô số các sự sống thể hiện qua các hình tướng của các giới tự nhiên và các hoạt động của quá trình tiến hóa. Tất cả trở nên tập trung vào bản thân và tự quyết định.

They may have begun that way, but due to what I call self-veiling, they have forgotten. Due to self-veiling, these lesser lives have forgotten what they are and it's a big what – what they essentially are.

Chúng có thể đã bắt đầu như vậy, nhưng do cái mà tôi gọi là sự tự che giấu, chúng đã quên. Do sự tự che giấu, những sự sống nhỏ hơn này đã quên chúng là gì và đó là một câu hỏi lớn – chúng thực sự là gì.

This seems to repeat itself. A great arc and its return repeats itself interminably, and always with a new type of algorithm, a new type of selection, a finite selection from absolute infinity. Who knows how that selection is made? We do know that because the universe is cyclic, it has to be finite. The absolute deity self-selects each time it's about to send forth a universe – a universal Logos – limited though, but compared to us, a vastly powerful creative being. In that self-selection process there's the mystery. No universe is infinitely evolved, yet if the universe is improved one after another and endless infinite succession of universes would produce the infinite universe, and every one of them would be infinite, every one being succeeded by an infinitude of improving universes. So, some other method of explanation is required of us and here is just a little introduction into A Treatise on White Magic which deals with such fundamental things.

Điều này dường như lặp lại chính nó. Một vòng cung lớn và sự quay trở lại của nó được lặp lại vô tận, và luôn với một thuật toán mới, một loại lựa chọn mới, một lựa chọn hữu hạn từ Vô Hạn Tuyệt Đối. Ai biết được cách mà lựa chọn đó được thực hiện như thế nào? Chúng ta biết rằng vì vũ trụ là chu kỳ, nó phải là hữu hạn. Thượng Đế Tuyệt Đối tự chọn mỗi lần Ngài sắp gửi đi một vũ trụ – một Thượng đế Vũ trụ– mặc dù hữu hạn, nhưng so với chúng ta, Ngài là một thực thể sáng tạo cực kỳ mạnh mẽ. Trong quá trình tự chọn đó có một bí ẩn. Không có vũ trụ nào là tiến hóa vô hạn, nhưng nếu vũ trụ được cải thiện hết lần này đến lần khác và sự kế tiếp vô tận của các vũ trụ cải thiện sẽ tạo ra vũ trụ vô hạn, và mỗi một trong số đó sẽ là vô hạn, mỗi một vũ trụ được kế tiếp bởi một vô tận các vũ trụ cải thiện. Vì vậy, một phương pháp giải thích khác là cần thiết, và đây chỉ là một chút giới thiệu về quyển "Luận về Chánh Thuật" (A Treatise on White Magic) đề cập đến những vấn đề cơ bản như vậy.

So, we're dealing with three postulates. The first postulate is about the One life. That's the first postulate. The second postulate is that the One life, manifesting through matter, produces a third which is consciousness. Now I've offered a question regarding that: How does matter even arise if not through self-observation? That is my theory. That is my postulate, and I'd like it to be considered along with this, but let's just say that consciousness is the relation between spirit and matter. But matter, too, is a God. The question is, what aspect of God is it, and matter is the object. But how do you get an object except through in this case self-observation?

Chúng ta đang xem xét ba tiên đề. Tiên đề đầu tiên là về Sự Sống duy nhất. Đó là tiên đề đầu tiên. Tiên đề thứ hai là Sự Sống duy nhất, biểu hiện qua vật chất, sinh ra điều thứ ba là tâm thức. Tôi đã đưa ra một câu hỏi về điều đó: Làm thế nào mà vật chất thậm chí có thể phát sinh nếu không phải thông qua tự quan sát? Đó là lý thuyết của tôi. Đó là tiên đề của tôi, và tôi muốn nó được xem xét cùng với điều này, nhưng chúng ta hãy chỉ nói rằng tâm thức là mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất. Nhưng vật chất cũng là một Thượng đế. Câu hỏi là, vật chất là khía cạnh nào của Thượng đế, và vật chất là đối tượng. Nhưng làm thế nào bạn có được một đối tượng trừ khi trong trường hợp này thông qua tự quan sát?

Maybe I appear to deviate a little from what is being said here, but all I can do is talk about what makes sense to me, and if it at a certain point in my development it no longer makes sense, then I'll be happy to relinquish the theory.

Có thể tôi dường như lạc đề một chút so với những gì đang được nói ở đây, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là nói về những gì có ý nghĩa với tôi, và nếu đến một thời điểm nào đó trong sự phát triển của tôi nó không còn có ý nghĩa nữa, thì tôi sẽ vui lòng từ bỏ lý thuyết đó.

We're going to go on to the third postulate, but not now because we have about an hour's worth of programming here and the people who are doing the transcription told me that if I create three-hour programs it's so daunting that nobody even wants to begin to transcribe, so I have to be a little careful.

Chúng ta sẽ tiếp tục với tiên đề thứ ba, nhưng không phải bây giờ vì chúng ta đã có khoảng một giờ ở đây, và những người đang thực hiện bản transcript đã nói với tôi rằng nếu tôi tạo ra các chương trình dài ba giờ thì nó quá khó khăn đến nỗi không ai muốn transcript nó, vì vậy tôi phải cẩn thận.

This will be the end of A Treatise on White Magic program number 2, page 9 so far.

Đây sẽ là phần kết của chương trình số 2 của cuốn "Luận về Chánh Thuật", trang 9 cho đến bây giờ.

I never know really what I'm going to say, it's what arises for me as I read these words and it may have been already 20 years since I have read these words, so if we were having a class together this is probably what I would say, and if what I say is useful to you and extends your thought or deepens your thought then these video commentaries will have been of some service.

Tôi không bao giờ thực sự biết mình sẽ nói gì, đó là những gì nảy sinh trong tôi khi tôi đọc những từ này và có thể đã là 20 năm kể từ khi tôi đọc những từ này, vì vậy nếu chúng ta đang có một lớp học cùng nhau, đây có lẽ là những gì tôi sẽ nói, và nếu những gì tôi nói là hữu ích cho bạn và mở rộng suy nghĩ của bạn hoặc làm sâu sắc thêm suy nghĩ của bạn thì những bình luận video này sẽ là một sự phục vụ.

For fun, let's just say that this is the beginning of A Treatise on White Magic #3, page 9, and at least read the third postulate:

Chúng ta hãy chỉ nói cho vui rằng đây là phần mở đầu của A Treatise on White Magic số 3, trang 9, và ít nhất hãy đọc tiên đề thứ ba:

This is where we will begin when we start next, whether it's tonight or some other time and I'll reread that, just for fun.

Đây là nơi chúng ta sẽ bắt đầu khi chúng ta tiếp tục, có thể là tối nay hay vào thời gian khác, và tôi sẽ đọc lại đoạn này.

[68] III. The third basic postulate is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being is the unfoldment of consciousness, or the revelation of the soul. This might be called the Theory of the Evolution of Light.

[68] III. Tiên đề cơ bản thứ ba là mục tiêu của sự sống khoác lấy hình tướng và mục đích của tồn tại biểu hiện là sự phát triển của tâm thức, hoặc sự tiết lộ linh hồn. Điều này có thể được gọi là Thuyết Tiến hóa của Ánh sáng.

At least in the world of unconsciousness, in the world of maya, in the Maha Maya. Now, let’s recall, absolute consciousness forever exists, absolute infinitude forever exists, the self-perception of the absolute deity revealing absolute infinity forever exists.

Hãy nhớ rằng, tâm thức tuyệt đối tồn tại mãi mãi, vô hạn tuyệt đối tồn tại mãi mãi, sự tự nhận thức của Thượng đế tuyệt đối tiết lộ vô hạn tuyệt đối tồn tại mãi mãi.

We are definitely working in the realm of privation. I think I'll put that in. When we say these things we are working, I'll call it the realm of privation, which equals the idea that infinitude is deprived of infinity and becomes finitude. I know it sounds hopelessly abstract and kind of philosophical, but I think that's basically what happens: every universe is a privation. It has lost absolute infinitude and has become finite and any finitude is infinitely removed from absolute infinitude. In this realm we can talk about the unfoldment of consciousness, once we are deep in matter, but the absolute noumenon, the supra-noumenon maybe of consciousness forever exists at least cyclically.

Chúng ta chắc chắn đang làm việc trong “sự thiếu hụt” (privation). Tôi nghĩ tôi sẽ ghi điều đó vào. Khi chúng ta nói những điều này, tôi gọi nó là “lĩnh vực thiếu hụt” (privation), điều này đồng nghĩa với ý tưởng rằng Sự Vô Hạn mất đi tính vô hạn và trở thành hữu hạn. Tôi biết điều đó nghe có vẻ vô cùng trừu tượng và hơi triết lý, nhưng tôi nghĩ đó là điều cơ bản xảy ra: mọi vũ trụ đều là một sự thiếu hụt. Nó đã mất đi sự vô hạn tuyệt đối và trở thành hữu hạn, và bất kỳ sự hữu hạn nào cũng bị loại bỏ vô hạn so với vô hạn tuyệt đối. Trong lĩnh vực này, chúng ta có thể nói về sự khai mở của tâm thức, một khi chúng ta đã đi sâu vào vật chất, nhưng bản chất tuyệt đối, có thể gọi là siêu bản chất của tâm thức, tồn tại mãi mãi ít nhất là theo chu kỳ.

All right that ought to be enough for right now and we will work further, as we go on, with this introduction which is very, very deep and we'll do our best with it. Okay. See you soon.

Vâng, điều đó đủ cho bây giờ và chúng ta sẽ tiếp tục làm việc với phần giới thiệu này, rất, rất sâu sắc và chúng ta sẽ cố gắng hết sức với nó. Hẹn gặp lại các bạn sớm.