← Mental Rules – Introduction

Mental Rule 3

Tóm lược chương

Thầy MDR nhấn mạnh Luận về Chánh Thuật là sách mọi đệ tử của Chân sư DK nên nắm vững vì trọng tâm của sách là kiểm soát thể cảm dục, vốn theo Thầy là hiện thể mất kiểm soát nhiều nhất nơi đa số người tu do tình trạng phân cực cảm dục của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, và thậm chí cả Thái dương Thượng đế cũng còn mang dấu ấn phân cực cảm dục mạnh. Thầy nhắc hai định đề đầu đã được xét trước: có một Sự sống hay Năng lượng duy nhất là nguyên nhân “chịu trách nhiệm” cho mọi hình tướng và mọi hữu thể có tâm thức, kể cả giới kim thạch cũng có tâm thức theo cách riêng. Định đề thứ hai nói Sự sống duy nhất biểu lộ qua vật chất tạo ra yếu tố thứ ba…


Mental Rule 3

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Commentary webinar 3_tagged

Mục đích của Luận về Chánh Thuật và bối cảnh bốn định đề

Thầy MDR nhấn mạnh Luận về Chánh Thuật là sách mọi đệ tử của Chân sư DK nên nắm vững vì trọng tâm của sách là kiểm soát thể cảm dục, vốn theo Thầy là hiện thể mất kiểm soát nhiều nhất nơi đa số người tu do tình trạng phân cực cảm dục của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, và thậm chí cả Thái dương Thượng đế cũng còn mang dấu ấn phân cực cảm dục mạnh. Thầy nhắc hai định đề đầu đã được xét trước: có một Sự sống hay Năng lượng duy nhất là nguyên nhân “chịu trách nhiệm” cho mọi hình tướng và mọi hữu thể có tâm thức, kể cả giới kim thạch cũng có tâm thức theo cách riêng. Định đề thứ hai nói Sự sống duy nhất biểu lộ qua vật chất tạo ra yếu tố thứ ba là tâm thức, và Thầy MDR lưu ý đây là vấn đề bản thể học lớn: vật chất có phụ thuộc vào tâm thức hay tâm thức phát sinh từ tương tác giữa chủ thể và đối thể, hoặc cả hai xuất hiện đồng thời.

Định đề thứ ba: mục đích của việc nhập hình là khai mở tâm thức

Theo Chân sư DK, mục đích mà sự sống khoác lấy hình tướng và ý nghĩa của hiện hữu biểu lộ là sự khai mở tâm thức, hay sự mặc khải của linh hồn; Thầy MDR diễn giải đây là tiến trình tự-khách thể-hóa của Hữu thể vô hạn trong vũ trụ. Thầy nhận xét mọi vũ trụ đều có mục đích, và sự xuất hiện của các vũ trụ là quá trình tự khách thể hóa tăng dần của Đấng Duy Nhất, vốn “đã luôn luôn là” và “sẽ luôn luôn là”. Thầy cũng tự nhắc mình và người nghe rằng những vấn đề tối hậu này vượt quá khả năng chứng tri hiện tại của chúng ta, dù trên cấp độ cao hơn của bản thể, ta vốn đã biết các chân lý ấy.

Sự mặc khải của linh hồn như “Thuyết Tiến Hóa của Ánh sáng”

Chân sư DK gọi định đề thứ ba là “Thuyết Tiến Hóa của Ánh sáng”, và Thầy MDR triển khai rằng trong trạng thái giới hạn của hiện hữu hữu hạn, ánh sáng dần dần mặc khải ta là gì trong toàn thể, chứ không chỉ trong trạng thái phát xạ hạn cuộc hiện nay. Thầy nhấn mạnh một ý nghịch lý: trên bình diện cao hơn của hiện hữu, chúng ta đã biết các chân lý này rồi, vì ta được trải rộng khắp vũ trụ và không có hình tướng nào mà bản chất ta không dự phần. Thầy MDR phản tỉnh rằng con người tưởng mình chỉ là một phàm ngã bị “bọc trong làn da”, nhưng thực ra đang tham gia thiết yếu vào mọi hình thức sống.

Ánh sáng, vật chất và vai trò của tâm thức

Từ câu Chân sư DK nêu rằng khoa học hiện đại xem ánh sáng và vật chất là đồng nghĩa, Thầy MDR nối với huyền bí học: mọi hình tướng được đặc định từ “đại dương ánh sáng”, còn vật chất là sự cô đọng của ánh sáng. Thầy lưu ý qua sự tương tác của hai cực và ma sát giữa các cặp đối đãi, ánh sáng lóe lên; tuy vậy Thầy còn đi xa hơn văn bản khi đề xuất rằng để vật chất được tạo thành thì tâm thức là điều kiện cần, vì vật chất là cái được sự ngã thức của Deity tối hậu mặc khải. Thầy MDR suy luận rất siêu hình rằng vũ trụ bị giới hạn bởi hành vi tự-tri giác của Thượng đế Vũ Trụ; ngoài phạm vi tự quan sát ấy thì, xét đối với vũ trụ, “không có gì”.

Sự tăng trưởng tâm thức qua tương tác chủ thể và đối thể

Thầy MDR phân biệt giữa sự hiện hữu ban đầu của tâm thức và sự mở rộng sâu hơn của tâm thức. Theo Thầy, ngay khi có vật chất thì chủ thể và đối thể đã hiện diện, nhưng chính tương tác tiếp diễn giữa cha và mẹ, giữa chủ thể và đối thể, mới làm tâm thức tăng trưởng. Thầy gọi đây là “chuyện gia đình” ở các cõi cao nhất của vũ trụ, đồng thời lưu ý chúng ta không có bản đồ rõ ràng về các cõi tối cao ấy.

Tiến hóa như chuỗi biểu lộ ánh sáng

Từ câu “mục tiêu của tiến hóa là một chuỗi biểu lộ ánh sáng dần dần”, Thầy MDR nói toàn bộ tiến trình điểm đạo thực chất là chuỗi biểu lộ ánh sáng từng bước. Thầy nhấn mạnh mọi hình tướng đều che giấu ánh sáng, và nếu hình tướng bị giải kết cấu đến tận cùng, ta sẽ gặp ánh sáng, thậm chí cả nhiệt; Thầy liên hệ công thức E = mc² như một cách nhìn về sự chuyển đổi vật chất thành năng lượng. Theo Thầy, mọi hình tướng là ánh sáng bị cô đặc, và các phòng thí nghiệm tiên tiến của người cung năm có thể đang tiến gần việc chứng minh hay thực nghiệm sự chuyển từ trạng thái không đậm đặc sang đậm đặc, rồi ngược lại, trong lãnh vực ánh sáng.

“Ta là Ánh sáng của thế gian” và sự giải đồng hóa khỏi hình tướng

Khi Chân sư DK nói vật chất ngày càng trở thành chất dẫn truyền ánh sáng tốt hơn, Thầy MDR giải thích rằng vật chất sẽ dần trở nên trong mờ rồi trong suốt hơn. Thầy dùng lời Đức Christ “Ta là Ánh sáng của thế gian” để minh họa rằng bậc giác ngộ phải giải đồng hóa khỏi ánh sáng bị làm đậm đặc thành vật chất, không còn bị giam giữ trong hình tướng như phần lớn nhân loại. Thầy nhận xét con người cần hoàn nguyên “ánh sáng đậm đặc” trở lại thành ánh sáng không đậm đặc, bao trùm và hiện diện khắp nơi.

Giới hạn vũ trụ và cấp độ ngoài-vũ-trụ

Thầy MDR đưa vào nhiều suy luận riêng vượt khỏi văn bản: sự khai mở tâm thức và mặc khải linh hồn là cần thiết trong vũ trụ như một trạng thái tự-khách thể-hóa hữu hạn, nhưng không cần thiết trên cấp độ tuyệt đối siêu vũ trụ. Thầy phân biệt “toàn thể được phân tiết tối hậu” là tuyệt đối-vô-hạn, còn “toàn thể không phân tiết tối hậu” là Tuyệt Đối. Thầy tự lưu ý rằng ông lặp đi lặp lại những ý này để ép sự thấu hiểu của chính mình đi sâu hơn, vì nói ra một chân lý khác với thật sự chứng nghiệm điều mình nói.

Định đề thứ tư: chu kỳ, tái sinh và định luật tuần hoàn

Định đề thứ tư khẳng định mọi sự sống biểu lộ theo chu kỳ, và Thầy MDR liên hệ ngay với định đề nền tảng thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm: định luật tuần hoàn hay xuất hiện-biến mất theo chu kỳ. Thầy nhấn mạnh điều này không chỉ áp dụng cho con người mà cho mọi sự sống, kể cả vũ trụ như một Sự Sống Vĩ Đại. Thầy nhận xét ý niệm các vũ trụ lặp đi lặp lại không hề có khởi đầu dễ làm “choáng váng trí óc”, vì tâm trí cụ thể quen nghĩ theo hữu hạn và sự vật kết tinh.

Nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời và sự phát triển tâm thức trong giới hạn

Thầy MDR giải thích rằng bốn định đề của Chân sư DK phần nào lặp lại ba định đề nền tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm: nguyên lý vô biên bất biến vượt ngoài nhận thức, định luật tuần hoàn, và mọi linh hồn là phần của đại hồn duy nhất. Từ đó, Thầy kết luận nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời là sự hiện hữu của Sự sống và sự phát triển của tâm thức thông qua việc khoác lấy hình tướng theo chu kỳ. Thầy lưu ý chỉ trong trạng thái “giới hạn do tự tri giác” của vũ trụ mới cần sự phát triển tâm thức; ngoài ra, trên cấp độ tuyệt đối, mọi điều khả thể đã luôn được tự-khách thể-hóa rồi.

Trọng tâm của sách chuyển từ đại vũ trụ sang con người

Sau khi mở ra viễn tượng rất rộng gần với Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư DK chuyển trọng tâm sang “tiểu sự sống”, tức con người “được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế”. Thầy MDR gọi đây là một cách nhìn mang tính toàn sinh luận và “fractal”, tức hình ảnh của cái lớn được giáng xuống qua sự phân dạng vào cái nhỏ. Thầy lưu ý đây là mục tiêu thực tế của sách: không chỉ luận về các nguyên lý vũ trụ mà dẫn người học trở lại công việc chuyển hóa chính con người.

Con người qua tái sinh tiến tới linh hồn hoàn thiện

Thầy MDR tóm ý Chân sư DK rằng con người qua phương pháp tái sinh khai mở tâm thức cho đến khi nở hoa thành linh hồn hoàn thiện, có bản chất là ánh sáng và tự nhận biết mình như một đồng nhất thể hữu thức. Thầy nhận xét “linh hồn hoàn thiện” có thể được hiểu như tâm thức bớt giới hạn hơn. Thầy nhấn mạnh điều quan trọng là linh hồn thấy chính mình như thế nào: nó là ánh sáng và là bản sắc tự-tri, chứ không chỉ là một tín điều mơ hồ.

Thực hành nhận diện bản thân như hữu thể phi vật chất

Thầy MDR đề xuất người học phải “đi ra phía sau” hình ảnh thường ngày về bản thân, thôi đồng hóa với các dạng thức ta gắn với căn tính của mình, để trở thành người quan sát phi vật chất, kẻ ở bên trong, bên dưới và phía sau mọi hình tướng. Thầy liên hệ điều này với việc xử lý ảo cảm: ta phải hiểu chính mình ngày càng nhiều hơn như hiện hữu-tâm thức phi vật chất. Đồng thời Thầy cũng lưu ý nghịch lý: ta không phải là vật mình nhìn thấy vì cái bị thấy là đối tượng, nhưng ở một nghĩa nền tảng hơn, ta cũng chính là mọi cái ấy.

Ánh sáng của linh hồn như năng lực làm hiển lộ điều chưa được nhận biết

Theo Thầy MDR, bản chất của linh hồn là ánh sáng, và ánh sáng ấy đem vào tâm thức những gì vốn hiện diện nhưng chưa bị phát hiện. Khi ánh sáng linh hồn chiếu vào vùng chưa được nhận biết, những yếu tố đó bắt đầu xuất hiện trong tâm thức. Thầy diễn giải súc tích rằng ánh sáng mặc khải cho tâm thức cái trước đó chưa thể phân biệt được.

Từ đơn vị phát triển đến hòa nhập vào tâm thức lớn hơn

Chân sư DK nói đơn vị phát triển này cuối cùng phải được hòa nhập, với sự tham dự thông minh đầy đủ, vào tâm thức lớn hơn mà nó vốn là một phần; Thầy MDR giải thích đây là tiến trình phần hòa vào toàn thể, rồi nhận ra chính mình là toàn thể đó. Thầy lưu ý khi bàn về linh hồn, ta vẫn đang nói về một thực thể rất vi mô trong vũ trụ chứ chưa phải cấp đại vũ trụ. Tuy vậy, ông vẫn thêm bình luận riêng về các mức toàn thể lớn hơn, từ toàn thể của Thượng đế Vũ Trụ đến tuyệt đối-vô-hạn.

Nhu cầu định nghĩa thuật ngữ và tinh thần của sự chính xác

Bước sang phần định nghĩa, Thầy MDR trích câu Voltaire: nếu ai muốn đối thoại với tôi thì trước hết hãy định nghĩa các thuật ngữ. Thầy nhận xét Voltaire hẳn có nhiều cung năm lẫn cung ba vì chú trọng tính chính xác trí tuệ. Theo Thầy, việc định nghĩa từ ngữ là vô cùng cần thiết trước khi bước vào nghiên cứu nội môn, vì nếu không xác lập đúng nghĩa, người học dễ trượt sang cảm tính hoặc hiểu lầm.

Thuật ngữ “huyền bí”: các mãnh lực ẩn kín và suối nguồn của hạnh kiểm

Với chữ “huyền bí”, Chân sư DK nói đến các mãnh lực ẩn kín của hiện hữu và những “suối nguồn của hạnh kiểm” tạo ra sự biểu hiện khách quan. Thầy MDR nhấn mạnh từ “conduct” ở đây rất được chọn lọc: toàn bộ biểu hiện của mọi giới trong bản chất là hạnh kiểm, tức cách hành xử bên ngoài của một sự sống nội tại. Thầy phân tích thêm rằng các năng lượng và mãnh lực được “dẫn truyền” từ bên trong ra ngoài, và chính sự dẫn truyền ấy làm phát sinh các kiểu hạnh kiểm mà ta gọi là biểu hiện.

Mọi biểu hiện là hạnh kiểm của một sự sống

Thầy MDR triển khai rằng mọi biểu hiện trong mọi giới đều là biểu thức của sự sống, mục đích và loại hoạt động của một hữu thể hay một sự tồn tại. Do đó, biểu hiện không chỉ là hình tướng, mà theo nghĩa đen là “hạnh kiểm” hay bản chất bên ngoài của một sự sống. Thầy lưu ý suối nguồn hành động luôn ẩn trong mục đích của một sự sống, dù đó là một sự sống thái dương, một Thực Thể Hành Tinh, một con người, hay Hữu thể là tổng thể các trạng thái tâm thức và các hình tướng của một giới trong thiên nhiên.

Các cấp thực thể trong Luận về Lửa Vũ Trụ

Thầy MDR dẫn người nghe đến bảng phân loại trong Luận về Lửa Vũ Trụ, khoảng trang 844, nơi nêu các cấp thực thể như các Hành Tinh Thượng đế, bốn Hành Tinh Thượng đế phụ, sự sống phú linh của một bầu hành tinh, sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên, thái dương tổ phụ, tiến hóa nhân loại và thái âm tổ phụ. Thầy nhận xét đây là một biểu đồ tuyệt vời giúp cảm nhận quan hệ phân cấp giữa các trung tâm sự sống khác nhau, kéo dài tới cả các vị tiểu kiến tạo. Thầy còn lưu ý con số mười hai của các phân bộ này có lẽ không phải ngẫu nhiên, vì Chân sư DK thường gợi ý bằng các con số.

“Định luật” như ý chí của một hữu thể cao hơn đang triển khai Thiên Cơ

Khi định nghĩa “định luật”, Chân sư DK giả định có một Hữu thể cao hơn, được phú cho mục đích và được trợ giúp bởi trí tuệ, đang phối hợp các mãnh lực của mình để một Thiên Cơ được chín muồi dần dần. Thầy MDR nhận xét từ “được phú cho” cũng gợi ý rằng mục đích ấy đến từ một Hữu thể còn cao hơn nữa, cuối cùng từ Deity tuyệt đối ngoài-vũ-trụ. Thầy giải thích rõ sự khác nhau giữa định luật và quy luật: định luật thì không thể tránh, còn quy luật có thể bị làm ngơ, chỉ là nếu không theo thì không đạt được kết quả mong muốn.

Phân biệt mục đích và Thiên Cơ

Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh phân biệt giữa mục đích và Thiên Cơ. Mục đích theo Thầy là một “sóng đứng” bền vững, giống nhau ở đầu và cuối, còn Thiên Cơ là mục đích ấy được triển khai thành các bước và giai đoạn trong thời gian không gian. Nhờ vậy, cái vốn ở cấp nội tại mới có thể biểu hiện xuống các cõi thấp như một chuỗi tiến trình có thứ tự.

Trải nghiệm thông thường của con người đối với định luật

Theo cách hiểu thông thường, định luật khiến con người cảm thấy mình bị lệ thuộc vào một hoạt động không thể cưỡng và không thể lệch, dù bản thân không hiểu nó. Thầy MDR kể lại lời một huấn sư cũ mang nhiều cung một: “Không ai phá vỡ định luật, định luật phá vỡ họ”, và “Thượng đế không bị nhạo báng”. Thầy dùng cái chết làm ví dụ điển hình cho Định luật tuần hoàn: dù không muốn, con người hiện chưa thể trốn việc phải bỏ hình tướng, và ngay cả nếu kéo dài đời sống hình tướng rất lâu thì các giới hạn của chính hình tướng cũng sẽ làm ta không muốn bám giữ mãi.

Sự mở rộng tâm thức biến đổi thái độ với định luật

Thầy MDR nói thái độ xem mình là nạn nhân của định luật là không tránh khỏi cho đến khi tâm thức được mở rộng đủ để nhận biết các vấn đề lớn hơn. Khi nhờ tiếp xúc với chân ngã, hay thậm chí Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần, con người tham dự được vào tri thức về mục tiêu và leo lên “ngọn núi của tầm nhìn”, phối cảnh của họ thay đổi. Khi đó, định luật không còn là áp lực mù quáng mà được hiểu là xung lực tinh thần, là động cơ và sự biểu hiện sự sống của Hữu thể mà trong đó ta sống, vận động và hiện hữu.

Định luật dựa trên mục đích thông minh và bác ái

Chân sư DK dạy rằng xung lực của định luật biểu lộ một mục đích thông minh, được điều hướng khôn ngoan và đặt nền trên tình thương; Thầy MDR nhấn mạnh đây là bước chuyển từ cảm giác bị ép buộc sang lòng biết ơn. Khi cá nhân đang vươn lên hiểu được đích đến mà định luật đang đẩy mình tới, cảm giác bất lực dần biến thành sự tin cậy. Thầy nhận xét Chân sư DK rõ ràng được truyền hứng bởi viễn kiến bao quát mà Ngài thấy, và người học có thể được nâng lên rất nhiều khi đọc đoạn này.

Từ chống đối đến hợp tác với định luật

Khi con người hiểu luật hơn, họ bắt đầu vận dụng định luật hoặc ít nhất cho xung lực tinh thần đi qua mình một cách khôn ngoan, bác ái và thông minh trong chừng mực cơ chế của mình có thể đáp ứng, truyền đạt và sử dụng. Thầy MDR diễn đạt đây là trở thành kẻ hợp tác với Thiên Cơ. Thầy đặc biệt dừng ở cụm “ngừng cản trở và bắt đầu chuyển giao”: ta thường đứng chắn trước ý chí cao hơn, nhưng khi tâm thức nâng lên, ta thấy tính thiện lành đằng sau sự thôi thúc không cưỡng lại được đó và trở nên sẵn lòng hơn.

Chấm dứt đời sống khép kín tập trung vào bản thân

Chân sư DK nói con người đưa tới kết thúc chu kỳ của đời sống khép kín, tập trung vào bản thân, và mở rộng cửa đón năng lượng tinh thần; Thầy MDR nhận xét đây chính là điều những người đang theo học huyền bí học đều cố gắng thực hiện. Khi không còn sống trong vòng tự quy chiếu, cá nhân trở thành kênh truyền thay vì vật cản. Thầy liên hệ điều này với sự gia tăng ý chí: khi con người trở nên sẵn lòng trước ý chí cao hơn, ý chí của chính họ cũng mạnh hơn.

Định luật như tác nhân tiếp sinh lực và thanh luyện

Ở giai đoạn cuối, định luật từng bị ghét bỏ và nghi ngờ hóa ra lại là tác nhân tiếp sinh lực và thanh luyện, đang cuốn cá nhân cùng mọi tạo vật của Thượng đế tiến tới một kết cuộc huy hoàng. Thầy MDR xem đây là một tư tưởng rất đẹp, đem lại cảm giác chúng ta đang ở trong những bàn tay an toàn của các Hữu thể lớn hơn, từ Thượng đế Vũ Trụ tới các phát xạ lớn khác mà trong đó ta sống và hiện hữu. Thầy cũng nhắc rằng tương tự như vậy, chính chúng ta cũng là “định luật” đối với những sự sống nhỏ bé cấu thành nên cấu trúc năng lượng của mình.

Text Introduction 3

[1] III. The third basic postulate [2] is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being is the unfoldment of consciousness, or the revelation of the soul. [3] This might be called the Theory of the Evolution of Light.

[1] III. Định đề cơ bản thứ ba [2] là mục tiêu mà sự sống khoác lấy hình tướng và mục đích của thực thể biểu hiện là sự phát triển của tâm thức, hoặc sự tiết lộ linh hồn. [3] Điều này có thể được gọi là Thuyết Tiến hóa của Ánh sáng.

[4] When it is realised that even the modern scientist is saying that light and matter are synonymous terms, [5] thus echoing the teaching of the East, it becomes apparent that through the interplay of the poles, and through the friction of the pairs of opposites light flashes forth. [6] The goal of evolution is found to be a gradual series of light demonstrations. [7] Veiled and hidden by every form lies light. [8] As evolution proceeds, matter becomes increasingly a better conductor of the light, [9] thus demonstrating the accuracy of the statement of the Christ “I am the Light of the World”.

[4] Khi người ta nhận ra rằng ngay cả nhà khoa học hiện đại cũng đang nói rằng ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa, [5] do đó phản ánh lại giáo lý của phương Đông, rõ ràng rằng qua sự tương tác của các cực, qua sự ma sát của các cặp đối lập, ánh sáng lóe lên. [6] Mục tiêu của sự tiến hóa được nhận thấy là một loạt các biểu hiện dần của ánh sáng. [7] Ánh sáng bị che khuất và ẩn giấu bởi mọi hình tướng. [8] Khi sự tiến hóa tiếp diễn, vật chất ngày càng trở thành vật dẫn ánh sáng tốt hơn, [9] do đó chứng minh tính chính xác của câu nói của Đức Christ "Ta là Ánh sáng của Thế giới".

[10] IV. The fourth postulate consists of the statement that all lives manifest cyclically. [11] This is the Theory of Rebirth or of re-incarnation, [12] the demonstration of the law of periodicity.

[10] IV. Định đề thứ tư bao gồm tuyên bố rằng tất cả các sự sống biểu hiện theo chu kỳ. [11] Đây là Thuyết Tái Sinh hoặc Thuyết Luân Hồi, [12] biểu hiện của định luật tuần hoàn.

[13] Such are the great underlying truths which form the foundation of the Ageless Wisdom —[14] the existence of life, and the development of consciousness through the cyclic taking of form.

[13] Đây là những chân lý lớn cơ bản hình thành nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời — [14] sự tồn tại của sự sống, và sự phát triển của tâm thức thông qua việc khoác lấy hình tướng theo chu kỳ.

[15] In this book, however, the emphasis will be laid upon the little life; [16] upon man “made in the image of God”, [17] who through the method of re-incarnation unfolds his consciousness until it flowers forth as the perfected soul, [18] whose nature is light and whose realisation is that of a self-conscious identity. This developed unit [19] has eventually to be merged, with full intelligent participation, in the greater consciousness of which it is a part.

[15] Tuy nhiên, trong quyển sách này, trọng tâm sẽ đặt vào sự sống nhỏ bé; [16] vào con người "được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế", [17] người mà thông qua phương pháp tái sinh phát triển tâm thức của mình cho đến khi nở hoa như một linh hồn hoàn thiện, [18] bản chất của nó là ánh sáng và sự nhận thức của nó là một bản sắc hữu ngã thức. Đơn vị phát triển này [19] cuối cùng phải được hợp nhất, với sự tham gia đầy đủ và thông minh, vào tâm thức lớn hơn mà nó là một phần.

[20] Before we take up our subject it might be of value if we defined certain words which will be in constant use, so that we will know what we are talking about, and the significance of the terms we use.

[20] Trước khi chúng ta bắt đầu với chủ đề của chúng ta, có thể hữu ích nếu chúng ta định nghĩa một số từ sẽ được sử dụng liên tục, để chúng ta hiểu rõ ý nghĩa của chúng và ý nghĩa của các thuật ngữ mà chúng ta sử dụng.

[21] 1. Occult. This term concerns the hidden forces of being and those springs of conduct which produce the objective manifestation. [22] The word “conduct” is used here deliberately, for all manifestation, in all the kingdoms of nature, is the expression of the life, purpose and type of activity of some being or existence, [23] and thus is literally the conduct (or outer nature or quality) of a life. [24] These springs of action lie hid in the purpose of any life, [25] whether it be a solar life, [26] a planetary entity, a man, or that Being who is the sum total of the states of consciousness and of the forms of any kingdom in nature.

[21] 1. Huyền bí. Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn giấu của sự hiện hữu và những nguồn gốc của hành vi tạo ra sự biểu hiện khách quan. [22] Từ "hành vi" được sử dụng ở đây một cách cố ý, vì tất cả các biểu hiện, trong tất cả giới của tự nhiên, là sự biểu hiện của sự sống, mục đích và loại hình hoạt động của một thực thể hoặc sự hiện tồn nào đó, [23] và do đó là hành vi (hoặc bản chất bên ngoài hoặc tính chất) của một sự sống. [24] Những nguồn gốc của hành động này nằm ẩn trong mục đích của bất kỳ sự sống nào, [25] cho dù đó là sự sống thái dương, [26] sự sống hành tinh, con người, hoặc Đấng là tổng hợp của các trạng thái tâm thức và của các hình tướng của bất kỳ giới nào trong tự nhiên.

[27] 2. Laws. A law presupposes a superior being who, gifted with purpose, and aided by intelligence, [28] is so coordinating his forces that a plan is being sequentially and steadily matured. [29] Through a clear knowledge of the goal, [30] that entity sets in activity those steps and stages [31] which when carried forward in order will bring the plan to perfection.

[27] 2. Định luật. Một định luật giả định sự tồn tại của một thực thể siêu việt, được ban cho mục đích và được hỗ trợ bởi trí tuệ, [28] đang phối hợp các mãnh lực của mình sao cho một kế hoạch được thực hiện một cách tuần tự và đều đặn. [29] Thông qua sự hiểu biết rõ ràng về mục tiêu, [30] thực thể đó kích hoạt những bước và giai đoạn [31] mà khi được thực hiện theo thứ tự sẽ đưa kế hoạch đến sự hoàn hảo.

[32] The word “law”, as usually understood, conveys the idea of subjection to an activity which is recognised as inexorable and undeviating, but which is not understood by the one who is subjected to it; [33] it involves, from one standpoint, the attitude of the submersed unit in the group impulse and the inability of that unit to change the impulse or evade the issue; [34] it inevitably brings about in the consciousness of the man who is considering these laws, [35] a feeling of being a victim—of being driven forward like a leaf before the breeze towards an end about which speculation only is possible, and of being governed by a force which acts apparently with an unavoidable pressure and thus produces group results, at the expense of the unit.

[32] Từ "định luật", như thường được hiểu, mang ý tưởng về việc chịu sự chi phối của một hoạt động được nhận thức là không thể thay đổi và không thể chệch hướng, nhưng người chịu sự chi phối của nó không hiểu được; [33] từ một góc nhìn nó liên quan đến thái độ của đơn vị bị nhấn chìm trong xung lực nhóm và sự bất lực của đơn vị đó để thay đổi động lực hoặc tránh né vấn đề; [34] nó tất yếu mang lại trong tâm thức của người đang xem xét các định luật này [35] một cảm giác là nạn nhân—bị đẩy đi như một chiếc lá trước cơn gió về phía một mục tiêu mà chỉ có thể suy đoán, và bị chi phối bởi một lực tác động dường như với một áp lực không thể tránh được và do đó tạo ra kết quả nhóm, làm cho đơn vị phải trả giá.

[36] This attitude of mind [37] is inevitable until the consciousness of man can be so expanded that he becomes aware of the greater issues. [38] When, through contact with his own higher self, [39] he participates in the knowledge of the objective, [40] and when through climbing the mountain of vision his perspective changes and his horizon enlarges, he comes to the realisation that a law is but the spiritual impulse, incentive and life manifestation of that Being in which he lives and moves. [41] He learns that that impulse demonstrates an intelligent purpose, wisely directed, and based on love. [42] He then himself begins to wield the law or to pass wisely, lovingly and intelligently through himself as much of that spiritual life impulse which his particular organism can respond to, transmit and utilise. [43] He ceases to obstruct and begins to transfer. [44] He brings to an end the cycle of the closed self-centered life, and opens the doors wide to spiritual energy. [45] In so doing he finds that the law which he has hated and mistrusted [46] is the vitalising, purifying agency which is sweeping him and all God’s creatures on to a glorious consummation.

[36] Thái độ tâm trí này [37] là không thể tránh khỏi cho đến khi tâm thức của con người có thể được mở rộng đến mức y nhận ra những vấn đề lớn hơn. [38] Khi thông qua sự tiếp xúc với chính linh hồn của mình, [39] y tham gia vào việc biết mục tiêu, [40] và khi thông qua việc leo lên ngọn núi của tầm nhìn, quan điểm của y thay đổi và tầm nhìn của y mở rộng, y nhận ra rằng một định luật chỉ là động lực tinh thần, động lực và biểu hiện sự sống của Đấng trong đó y sống và chuyển động. [41] Y học được rằng động lực đó biểu hiện một mục đích thông minh, được hướng dẫn một cách khôn ngoan và dựa trên tình thương. [42] Sau đó, y tự thân bắt đầu điều khiển định luật, hoặc truyền chuyển qua y một cách khôn ngoan, yêu thương và thông minh nhiều xung lực sự sống tinh thần mà cơ thể cụ thể của y có thể đáp ứng, truyền tải và sử dụng. [43] Y ngừng cản trở và bắt đầu chuyển tiếp. [44] Y chấm dứt chu kỳ của cuộc sống tập trung vào bản thân và mở rộng cửa cho năng lượng tinh thần. [45] Bằng cách làm như vậy, y phát hiện rằng định luật [Trang 12] mà y đã ghét và nghi ngờ [46] là tác nhân thanh lọc và làm sống động, cuốn y và tất cả các sinh vật của Thượng Đế tiến tới một sự hoàn thiện vinh quang.

Commentary 3:

Hi and hello everybody. This is Michael Robbins. We are working on A Treatise on White Magic and we’ve been working on the introduction to this great book, which I think should be in the hands of all Master DK’s disciples, because basically it's a book about the control of the astral body which is, I think for so many of us the most out-of-control vehicle due to the state of evolution of our particular Planetary Logos, and even the state of evolution of our Solar Logos who is still in a very strong sense astrally polarized.

Xin chào mọi người. Đây là Michael Robbins, chúng ta đang làm việc với quyển sách A Treatise on White Magic, và chúng ta đã làm việc về phần giới thiệu của quyển sách vĩ đại này, mà tôi nghĩ nên có trong tay của tất cả các đệ tử của Chân sư DK, bởi vì về cơ bản đây là một quyển sách nói về việc kiểm soát thể cảm xúc, điều mà đối với nhiều người trong chúng ta là phương tiện khó kiểm soát nhất do trạng thái tiến hóa của Hành Tinh Thượng Đế cụ thể của chúng ta, và thậm chí trạng thái tiến hóa của Thái Dương Thượng Đế của chúng ta vẫn còn rất mạnh mẽ theo hướng cảm dục.

These four postulates, DK says, we must admit as a hypothesis. We’re just reviewing them now, and we might say:

Bốn định đề này, như Chân sư DK nói, chúng ta phải thừa nhận như là một giả thuyết, và bây giờ chúng ta sẽ ôn lại chúng:

I. First that there exists in our manifested universe the expression of an Energy or Life which is the responsible cause of the diverse forms –

I. Đầu tiên, tồn tại trong vũ trụ biểu hiện của chúng ta là sự biểu lộ của một Năng lượng hoặc Sự Sống, nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hình tướng đa dạng

Notice the word responsible, interesting –

Hãy chú ý đến từ chịu trách nhiệm, thật thú vị

and the vast hierarchy of sentient beings who compose the sum total of all that is.

và hệ thống phân cấp rộng lớn của các thực thể hữu tình tạo thành tổng số của tất cả những gì đang tồn tại.

And all beings are sentient even the mineral is sentient in its own way. Never overlook these qualifiers, such as the word responsible, the idea of the sentient beings.

Tất cả các sinh mệnh đều có tri giác, thậm chí khoáng chất cũng có tri giác theo cách riêng của nó. Chúng ta đừng bao giờ bỏ qua những từ ngữ định tính này, như từ chịu trách nhiệm, ý tưởng về các sinh mệnh hữu tình.

This is the very first of the four postulates, something we admit to ourselves. And now the next one, just reviewing:

Đây là định đề đầu tiên trong bốn định đề, điều mà chúng ta thừa nhận với chính mình. Và bây giờ đến định đề tiếp theo:

II. The second postulate grows out of the first and states that the one Life, manifesting through matter, produces a third factor which is consciousness.

II. Định đề thứ hai phát triển từ định đề thứ nhất và tuyên bố rằng Sự Sống duy nhất, biểu hiện qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ ba là tâm thức.

We dealt with all of this. Whether the appearance of matter depends upon consciousness or whether consciousness derives from the interaction between the subject and the object. Then, of course, there is good defense for the position I just stated, although it's very interesting that perhaps matter does not arise without self-consciousness. Or maybe they all arise simultaneously. These are the basis of ontology, the basis of the science of being, the coming forth into being. Beingness, the existence of all that he is, that particular science which we sometimes call Cosmogony – the arising into birth of all things, and we dealt with that, and we discussed the different perspectives here.

Chúng ta đã đề cập đến tất cả điều này, và câu hỏi liệu sự xuất hiện của vật chất phụ thuộc vào tâm thức, hay liệu tâm thức phát sinh từ sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng. Tất nhiên, có một lí luận tốt bảo vệ cho vị trí mà tôi vừa nêu, mặc dù điều thú vị rằng có lẽ vật chất không phát sinh mà không có tự ý thức, hoặc có lẽ chúng xuất hiện đồng thời. Đây là cơ sở của bản thể học (ontology), cơ sở của khoa học về tồn tại, sự xuất hiện vào tồn tại, “Be-ness”, sự hiện diện của tất cả những gì hiện hữu, ngành khoa học cụ thể mà chúng ta đôi khi gọi là Vũ Trụ Sinh Hóa Luận (Cosmogony) – sự sinh ra của mọi thứ, và chúng ta đã đề cập điều đó, chúng ta đã thảo luận các quan điểm khác nhau ở đây.

Now the third postulate, which takes us into A Treatise on White Magic, on Page 9, this is our third program and today is the 19th of January 2018.

Bây giờ đến định đề thứ ba, điều này đưa chúng ta vào trang 9 “Luận về Chành Thuật”, đây là chương trình thứ ba của chúng ta và hôm nay là ngày 19 tháng 1 năm 2018.

[1] III. The third basic postulate

[1] III. Định đề cơ bản thứ ba

All of this reminds one a little bit of the postulates in the Secret Doctrine. We always have to begin with these proposed initial points which are perhaps at first derived from the intuition and have been seen by those with the straight knowledge of the causes of things. We cannot include ourselves in that because our consciousness has not yet ascended to sufficiently high plains to make that possible.

Tất cả điều này khiến chúng ta nhớ lại về các định đề trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng ta luôn phải bắt đầu với những điểm khởi đầu được đề xuất này, có lẽ ban đầu được rút ra từ trực giác, đã được nhìn thấy bởi những người có kiến thức trực tiếp về nguyên nhân của mọi sự vật. Chúng ta không bao gồm chính mình trong đó vì tâm thức của chúng ta chưa lên đến những cõi đủ cao để làm điều đó.

[2] is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being.

[2] là mục tiêu mà sự sống khoác lấy hình tướng và mục đích của thực thể biểu hiện là sự phát triển của tâm thức, hoặc sự tiết lộ linh hồn.

We always assume that every universe has its purpose and in a very large sense, the appearance of all universes is a self-objectification, incrementally of the one infinite Being. This is a process which always has been and always will be.

Chúng ta luôn giả định rằng mọi vũ trụ đều có mục đích của nó và trong một ý nghĩa rất rộng, sự xuất hiện của tất cả các vũ trụ là một sự tự khách quan hóa dần của một Bản Thể Vô Hạn Duy Nhất. Đây là một quá trình luôn tồn tại và sẽ luôn tồn tại.

The third basic postulate is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being is the unfoldment of consciousness, or the revelation of the soul.

Định đề cơ bản thứ ba là mục tiêu mà sự sống khoác lấy hình tướng và mục đích của thực thể biểu hiện là sự phát triển của tâm thức, hoặc sự tiết lộ linh hồn.

I want to say in self objectivity. Shall we do it this way? In either SELF-OBJECTIVITY or Self-Objectivity. Why is it that the entirely subjective must emerge into the self-seen state that we call objectivity? This seems to be the thought behind it all, although who are we, as tiny little units, to say anything about these ultimate issues, at least in our present state, even though finally we are the very factor which does know these things once we return on what is destined to be our emanative ascent, there’s already been a descent, emanative descent. We will learn more and more what we already know even now. This can seem paradoxical, but remember we are extended throughout cosmos and beyond.

Tôi muốn nói sự tiết lộ linh hồn trong tự khách quan hóa (self objectivity). Chúng ta sẽ làm điều này như thế nào? Trong TỰ-KHÁCH QUAN HÓA. Tại sao cái hoàn toàn chủ thể phải xuất hiện vào trạng thái tự-nhìn thấy mà chúng ta gọi là khách quan hóa? Đây dường như là tư tưởng đằng sau tất cả, mặc dù chúng ta như những đơn vị nhỏ bé không thể nói bất cứ điều gì về những vấn đề tối hậu này, ít nhất là trong trạng thái hiện tại của chúng ta, mặc dù cuối cùng chúng ta chính là yếu tố thực sự biết những điều này khi chúng ta quay trở lại điều được định là sự xuất lộ tiến lên chúng ta, sau khi đã xuất lộ giáng xuống. Chúng ta sẽ học nhiều hơn và nhiều hơn những gì chúng ta đã biết ngay cả bây giờ. Điều này có vẻ nghịch lý, nhưng hãy nhớ rằng chúng ta trải rộng khắp vũ trụ và hơn thế nữa.

This revelation, the unfoldment of consciousness and the revelation of the soul in this state of privation, this state of limitation

Sự phát triển của tâm thức và sự tiết lộ của linh hồn trong trạng thái khuyết thiếu sót này (privation), trạng thái giới hạn này...

[3] This might be called the Theory of the Evolution of Light.

[3] Điều này có thể được gọi là Thuyết Tiến hóa của Ánh sáng.

In this state of the finite privation, light reveals all we are in toto, not just in our state of limited emanative being.

Trong trạng thái khuyết thiếu hữu hạn này, ánh sáng tiết lộ tất cả những gì chúng ta trong tổng thể, không chỉ trong trạng thái tồn tại xuất lộ giới hạn của chúng ta.

These are mysteries and the amazing thing is, when you think about it, that we already know these things on some much higher level of our present beingness. But, we are extended throughout cosmos and there’s not a form of life, no form whatsoever in which we are not already essentially participatingwe are participating in all forms even though it simply seems that we are this kind of, as they say, skin-encapsulated lower ego.

Đây là những bí ẩn, và điều kỳ diệu là khi bạn suy nghĩ về nó, chúng ta đã biết những điều này trên một cấp độ cao hơn nhiều của sự tồn tại hiện tại của chúng ta. Nhưng, chúng ta trải rộng khắp vũ trụ, và không có hình tướng sự sống nào, không hình tướng nào mà chúng ta không tham gia một cách cơ bảnchúng ta tham gia vào tất cả các hình tướng ngay cả khi có vẻ như chúng ta chỉ là, như được nói, chân ngã được bao bọc trong da (skin-encapsulated ego), tức là phàm ngã.

[4] When it is realised that even the modern scientist is saying that light and matter are synonymous terms –

[4] Khi người ta nhận ra rằng ngay cả nhà khoa học hiện đại cũng đang nói rằng ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa,

And that is what we say in occultism, out of the great sea of light, all forms are specified and take their particular configuration. So,

Và đó là những gì chúng ta nói trong huyền bí học—từ đại dương ánh sáng vĩ đại, mọi hình tướng được xác định và có cấu hình cụ thể của chúng.

[5] thus echoing the teaching of the East, it becomes apparent that through the interplay of the poles, and through the friction of the pairs of opposites light flashes forth.

[5] do đó phản ánh lại giáo lý của phương Đông, rõ ràng rằng qua sự tương tác của các cực, qua sự ma sát của các cặp đối lập, ánh sáng lóe lên.

Now I believe that is correct. I also believe that in order to create matter, consciousness is a requirement and this is a very debatable point and I think needs to be gone into because, for me matter is that which the self-consciousness of the ultimate deity reveals, the absolute deity. That is an extra-universal being, and all it is quite metaphysical and abstract and beyond the pale, but one has to think about these things.

Bây giờ tôi tin rằng điều này là đúng, tôi tin rằng để tạo ra vật chất, tâm thức là một yêu cầu, và đây là một điểm gây tranh cãi, và tôi nghĩ cần phải đi vào vì đối với tôi vật chất là những gì mà tự ý thức của Thượng Đế Tối Thượng tiết lộ, Thượng Đế Tuyệt Đối. Đó là một thực thể ngoại vũ trụ, và tất cả điều này khá siêu hình và trừu tượng và vượt ra ngoài giới hạn, nhưng người ta phải suy nghĩ về những điều này.

When you think about the pale, what is the pale? The pale is the boundary of the universe, which is any universe that is caused by the extent of self-observation, beyond the scope of self-observation there is nothing, at least with regard to the universe. The universe is bounded by an act of self-perception of the Universal Logos. Those are the most abstract philosophical matters, and I can’t seem to help myself. Thoughts of this nature lie back of all of our more concrete thoughts about the specifics within the universe including the universal Logos itself, which is a limited specific, though its root is in the non-limited.

Khi bạn nghĩ về giới hạn, giới hạn là gì? Giới hạn là ranh giới của vũ trụ. Bất kỳ vũ trụ nào cũng được gây ra bởi phạm vi tự-quan sát, và vượt ra ngoài phạm vi tự-quan sát không có gì, ít nhất là với vũ trụ. Vũ trụ bị giới hạn bởi một hành động tự-nhận thức của Thượng đế Vũ Trụ. Đó là những vấn đề triết học trừu tượng nhất và tôi dường như không thể ngừng được. Những suy nghĩ thuộc loại này nằm sau tất cả các suy nghĩ cụ thể hơn của chúng ta về các chi tiết trong vũ trụ bao gồm cả Thượng đế Vũ Trụ, vốn là một điều cụ thể giới hạn, mặc dù gốc rễ của nó nằm trong cái không giới hạn.

Continuing,

the modern scientist is saying that light and matter are synonymous terms –

các nhà khoa học hiện đại nói rằng ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa –

The condensation of light can be considered to be matter –

Sự ngưng tụ của ánh sáng có thể được coi là vật chất –

thus echoing the teaching of the East,

phản ánh giáo lý của phương Đông,

When it is realised

Khi nó được nhận ra

it becomes apparent that through the interplay of the poles, and through the friction of the pairs of opposites light flashes forth.

rõ ràng rằng qua sự tương tác của các cực, qua sự ma sát của các cặp đối lập, ánh sáng lóe lên.

I mean once matter exists, then the interplay of that which brought it forth, the father aspect and the object, the mother aspect creates or at least causes the growth of consciousness. It's all a family matter on the highest planes of our cosmos and we’re never given any maps about the highest planes of our cosmos.

Ý tôi là một khi vật chất tồn tại, thì sự tương tác của những gì đã đưa nó ra—phương diện Cha—và đối tượng—phương diện Mẹ—tạo ra hoặc ít nhất là gây ra sự phát triển của tâm thức. Tất cả đều là vấn đề [quan hệ] gia đình ở các cõi cao nhất của vũ trụ của chúng ta, nhưng chúng ta không bao giờ được cung cấp bất kỳ bản đồ nào về các cõi cao nhất của vũ trụ của chúng ta.

See the object has already been created in my view by self-observations, so consciousness already exists, but the ongoing expansion of consciousness, the deepening of consciousness is caused by the interplay between the subject and the object.

Theo quan điểm của tôi, đối tượng đã được tạo ra bởi sự tự-quan sát, vì vậy tâm thức đã tồn tại, nhưng sự mở rộng liên tục của tâm thức, sự sâu sắc của tâm thức được gây ra bởi sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng.

[6] The goal of evolution is found to be a gradual series of light demonstrations

[6] Mục tiêu của sự tiến hóa được nhận thấy là một loạt các biểu hiện dần của ánh sáng.

Revealing what we essentially are, and all of initiation is

Tiết lộ bản chất thực sự của chúng ta. Và tất cả các lần điểm đạo là

a gradual series of light demonstrations.

một loạt các biểu hiện dần của ánh sáng.

[7] Veiled and hidden by every form lies light

[7] Ánh sáng bị che khuất và ẩn giấu bởi mọi hình tướng.

And if we are to bring the form into a de-aggregated state, eventually we will find light. Maybe heat too. The Einstein in formula you know, E = mc2 basically it is a formula about the conversion of matter into light and heat, into energy basically. Matter is energy and this is a concept with which we are familiar but it is a concept about which we may not have thought with a necessary thoroughness.

Nếu chúng ta đưa hình tướng vào trạng thái phân rã, cuối cùng chúng ta sẽ tìm thấy ánh sáng, và có thể là nhiệt nữa. Công thức của Einstein mà bạn biết, E = mc², cơ bản là một công thức về sự chuyển đổi vật chất thành ánh sáng và nhiệt, thành năng lượng. Vật chất là năng lượng và đây là một khái niệm mà chúng ta quen thuộc nhưng có lẽ chúng ta chưa suy nghĩ một cách cần thiết đầy đủ.

[8] As evolution proceeds, matter becomes increasingly a better conductor of the light

[8] Khi sự tiến hóa tiếp diễn, vật chất ngày càng trở thành vật dẫn ánh sáng tốt hơn,

And that’s a common idea, would become more translucent eventually more transparent. The we that is the material part of ourselves

Và đó là một ý tưởng phổ biến. Cuối cùng chúng ta, phần vật chất của chúng ta, sẽ trở nên trong suốt hơn.

[9] thus demonstrating the accuracy of the statement of the Christ "I am the Light of the World".

[9] do đó chứng minh tính chính xác của câu nói của Đức Christ "Ta là Ánh sáng của Thế giới".

And he certainly had to dis-identify from the densification of light that we call matter; he had to free his consciousness from what captivates the consciousness of so many, i.e. the form, and reduce this densified light into non-densified light which is all pervading, present everywhere.

Và Ngài chắc chắn đã phải từ bỏ việc đồng nhất hóa với sự cô đặc của ánh sáng mà chúng ta gọi là vật chất; Ngài đã phải giải phóng tâm thức của mình khỏi những gì cuốn hút tâm thức của rất nhiều người, tức là hình tướng, và giảm bớt ánh sáng cô đặc này thành ánh sáng không cô đặc, vốn hiện diện khắp nơi.

15:33 So, in a way, it's interesting: from Light come all things, and all emanations, all particulars, all limitations in CosmosSo we, in a certain sense, are densified light or that which we think of when we think of ourselves. All the densifications that we see around us are really densified light. So forms are densifications of LightThese are in a way deeply fifth ray subjects, and they are far beyond our ability to witness in any universal manner, but perhaps in the advanced laboratories of the fifth ray types, this idea of going from the non-dense to the dense, and from the dense to the non-dense in the realm of light is being enacted and certainly is close to being enacted and observed.

Vì vậy, theo một cách nào đó, từ Ánh Sáng xuất hiện vạn vật, và tất cả các sự xuất lộ (emanations), mọi chi tiết, mọi giới hạn trong Vũ Trụ... Chúng ta, hoặc những gì chúng ta chúng ta là, theo một nghĩa nào đó là ánh sáng cô đặc. Tất cả những sự cô đặc mà chúng ta thấy xung quanh chúng ta thực sự là ánh sáng cô đặc. Vậy hình tướng là sự cô đặc của Ánh Sáng... Về một phương diện nào đó, đây là những chủ đề sâu sắc của cung năm và chúng vượt xa khả năng chứng kiến của chúng ta theo bất kỳ cách nào trong vũ trụ, nhưng có lẽ trong các phòng thí nghiệm tiên tiến của những người thuộc cung năm, ý tưởng về việc đi từ không cô đặc đến cô đặc, và từ cô đặc đến không cô đặc trong lĩnh vực ánh sáng đang được thực hiện và chắc chắn là tiến gần đến việc được thực hiện và quan sát.

The third basic postulate is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being –

Định đề cơ bản thứ ba là mục tiêu mà sự sống khoác lấy hình tướng và mục đích của thực thể được biểu hiện –

Notice it’s being that is manifested, interesting –

Chú ý, thực thể được biểu hiện,

is the unfoldment of consciousness, or the revelation of the soul.

là sự phát triển của tâm thức, hay sự tiết lộ của linh hồn.

That is necessary in the realm of the universe which is limited self-objectivity, but it’s not necessary when you think about our absolute identity as the absolute, and a little less absolute: our identity is absolute-infinitude and then we don't need (on that super-cosmic level beyond cosmos) the unfoldment of consciousness; we don't need the revelation of the soul. Everything that ever could be is already (I want to say) supra-numinally self-objectified. It's in the super-numinal realm. Numina are the causes of phenomena. But if we go to the realm beyond the universe, we have the super-numinal realm and when you self-objectify in that realm, you get absolute infinitude which has a reason out of the homogeneous absoluteness.

Điều đó là cần thiết trong lĩnh vực của vũ trụ, vốn là tự-khách quan hóa giới hạn, nhưng nó không cần thiết khi bạn nghĩ về Bản Sắc tuyệt đối của chúng ta như là Tuyệt Đối, vâng, một kém hơn tuyệt đối một chút: Bản Sắc của chúng ta là Vô Hạn Tuyệt Đối và sau đó chúng ta không cần (trên cấp độ siêu vũ trụ vượt ra ngoài vũ trụ) sự phát triển của tâm thức; chúng ta không cần sự tiết lộ của linh hồn[Thầy MDR đang bàn luận những vấn đề siêu hình, nếu các bạn cần đọc hãy đọc bản tiếng Anh]

I continue to say these things, and as I say that might try to impress upon to my own understanding deeper and deeper realization of their truth. Because it’s one thing to say things and it's quite another to realize what you are saying. That is the key.

[10] IV. The fourth postulate consists of the statement that all lives manifest cyclically.

[10] IV. Định đề thứ tư bao gồm tuyên bố rằng tất cả các sự sống biểu hiện theo chu kỳ.

You may recognize this postulate as basically the second fundamental of The Secret Doctrineand maybe not just the book The Secret Doctrine, but the actual doctrine which cannot be fully written down and of which the book is simply the abc’s, such a book as The Secret Doctrine considering it as the abc’s, it’s an extraordinary consideration.

Bạn có thể nhận ra định đề này là về cơ bản là nguyên lý cơ bản thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm... và có lẽ không chỉ là của quyển sách Giáo Lý Bí Nhiệm, mà còn là của giáo lý thực sự không thể viết ra đầy đủ, và như quyển Giáo Lý Bí Nhiệm đã nói, đây chỉ là “abc” của nó.

[11] This is the Theory of Rebirth or of re-incarnation,

[11] Đây là Thuyết Tái Sinh hoặc Thuyết Luân Hồi,

I guess it applies to everything, not just man and

Tôi đoán nó áp dụng cho mọi thứ, không chỉ cho con người

[12] the demonstration of the law of periodicity.

[12] biểu hiện của định luật tuần hoàn.

So as I say, this has to do with the second fundamental of The Secret Doctrine. These postulates include some of these fundamentals: that there’s a one, boundless immutable principle beyond any possibility of cognition. As we are trying to cognize it, we're pretty much eliminating the thoughts about what it might be. Then, that there is this law of periodicity, of cyclic appearance and disappearance, which applies to all things including a universe. And the third fundamental that all souls are really a part of the one oversoul. So, the postulates here are in a way a repetition or partial repetition of the fundamentals of The Secret Doctrine.

Như tôi đã nói, điều này liên quan đến nguyên lý cơ bản thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm. Các định đề này bao gồm một số nguyên lý cơ bản: Có một nguyên lý vô biên và bất biến vượt ra ngoài khả năng nhận thức. Khi chúng ta cố gắng nhận thức nó, chúng ta gần như loại bỏ những suy nghĩ về những gì nó có thể là. Sau đó, có định luật chu kỳ, sự xuất hiện và biến mất theo chu kỳ, áp dụng cho tất cả vạn vật, bao gồm cả vũ trụ. Và nguyên lý cơ bản thứ ba rằng tất cả các linh hồn thực sự là một phần của Đại hồn duy nhất. Vì vậy, các định đề ở đây theo một cách nào đó là sự lặp lại hoặc lặp lại một phần của các nguyên lý cơ bản của Giáo Lý Bí Nhiệm.

When you think about ever-repeating universes, the process of appearance, in a way never having begun, it does addle the mind, because we're used to thinking in terms of finitudes and concretions and here we have gone beyond that. There was no beginning, there was only and always was with regard to this process of appearing and disappearing universes. And who do they appear to except the very being who has become them? Great mysteries underlie ontology; the study of the science of being. But what is necessary is that we carry this sense of being with us at all times and realize ourselves to be essentially the source of the appearance of all things.

Khi bạn nghĩ về các vũ trụ luôn lặp lại, quá trình xuất hiện, theo một cách nào đó, chưa bao giờ bắt đầu, nó làm cho tâm trí bối rối, bởi vì chúng ta quen nghĩ về các giới hạn và sự cụ thể, và ở đây chúng ta đã vượt ra ngoài điều đó. Không có sự khởi đầu, chỉ có và luôn luôn có quá trình xuất hiện và biến mất của các vũ trụ. Và chúng xuất hiện cho ai ngoại trừ chính thực thể đã trở thành chúng? Những bí ẩn vĩ đại nằm sau bản thể học; nghiên cứu về khoa học về sự tồn tại. Nhưng điều cần thiết là chúng ta mang theo cảm giác về sự tồn tại này với chúng ta mọi lúc và nhận ra bản thân mình về cơ bản là nguồn gốc của sự xuất hiện của tất cả mọi thứ.

The fourth postulate consists of the statement that all lives manifest cyclically.

Định đề thứ tư bao gồm tuyên bố rằng tất cả các sự sống biểu hiện theo chu kỳ.

Including the life of the universe, okay. And you know if I can just put that in

Bao gồm cả sự sống của vũ trụ, và tôi có thể thêm vào đây

Including any Universe as a Great Life, and…

{Bao gồm bất kỳ vũ trụ nào như một Sự Sống Vĩ Đại, và

This is the Theory of Rebirth or of re-incarnation

... Đây là Lý thuyết về Tái Sinh hoặc Luân Hồi...

You might say its emergence of being into form which is emergence into light.

Bạn có thể nói đó là sự xuất hiện của Bản thể vào hình tướng, là sự xuất hiện vào ánh sáng.

[13] Such are the great underlying truths which form the foundation of the Ageless Wisdom—

[13] Đây là những chân lý lớn cơ bản hình thành nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời —

So He is giving us a little bit of The Secret Doctrine here

Vì vậy, Ngài đang đưa cho chúng ta một chút về Giáo Lý Bí Nhiệm ở đây...

[14] the existence of life, and the development of consciousness through the cyclic taking of form.

[14] sự tồn tại của sự sống, và sự phát triển của tâm thức thông qua việc khoác lấy hình tướng theo chu kỳ.

And as I say, there's no need to develop consciousness except in a state of limitation which every universe is. There is no real need to develop a consciousness except in a state of, well let’s call it Self-Perceptual Limitation, which only occurs in universe. It’s hard for us to imagine forever, not only have we known everything, but we have been everything. And also all the things that have self-objectified we've been them too, and they are infinitely less than absolute infinity.

Và như tôi đã nói, không cần sự phát triển tâm thức ngoại trừ trong trạng thái giới hạn mà mọi vũ trụ vốn là. Không cần phát triển tâm thức ngoại trừ trong trạng thái mà chúng ta có thể gọi là Giới Hạn Tự-Nhận Thức, vốn chỉ xảy ra trong vũ trụ. Thật khó cho chúng ta khi tưởng tượng mãi mãi, không chỉ chúng ta đã biết mọi thứ, mà chúng ta đã là mọi thứ. Và cũng tất cả những gì đã tự khách quan hóa, chúng ta cũng đã là chúng, và chúng ít hơn vô cùng so với vô hạn tuyệt đối.

these thoughts boggle the mind, but a good boggling might help shape us into the abstract minds and develop our triadal awareness. I think we have to boggle the concrete mind, basically as Einstein looked at the usual expression of the concrete mind, he said it’s just a collection of prejudices that we've been growing since we were born and they are incompletely examined assumptions that are based mostly on appearances. But the true philosopher, I think Einstein considered himself a philosopher, goes deeper and deeper into the subject so as to understand the self-becomingness of all objects and all specificities and all forms you know those are somewhat equivalent terms.

Vâng, những suy nghĩ này làm rối trí, nhưng một sự rối trí tốt có thể giúp hình thành chúng ta thành những tâm trí trừu tượng và phát triển nhận thức tam nguyên của chúng ta. Tôi nghĩ chúng ta phải làm rối thể trí cụ thể, cơ bản như Einstein đã nhìn biểu hiện thông thường của trí tuệ cụ thể, ông nói đó chỉ là một tập hợp các định kiến mà chúng ta đã phát triển kể từ khi chúng ta sinh ra, và chúng là những giả định chưa được kiểm tra đầy đủ dựa chủ yếu vào những gì xuất hiện. Nhưng nhà triết học thực sự, mà tôi nghĩ Einstein tự coi mình là một triết gia, đi sâu hơn và sâu hơn vào chủ đề để hiểu về sự tự-trở thành của tất cả các đối tượng và tất cả các chi tiết và tất cả các hình tướng, mà bạn biết đó là những thuật ngữ tương đương.

[15] In this book, however, the emphasis will be laid upon the little life

[15] Tuy nhiên, trong quyển sách này, trọng tâm sẽ đặt vào sự sống nhỏ bé;

Now you see, He began very big; DK began with the really big picture – A Treatise on Cosmic Fire big picture. So, from what we’ve just been saying, you would think that we were in that book, A Treatise on Cosmic Fire, but now He tells us what His real objective is when He’s going to lay the emphasis

Ngài bắt đầu với những gì rất lớn, với bức tranh vĩ đại của Luận về Lửa Vũ Trụ. Và từ những gì chúng ta vừa đọc, Ngài cho chúng ta biết mục tiêu thực sự của Ngài mà Ngài sẽ đặt trọng tâm vào

[16] upon man "made in the image of God".

[16] vào con người "được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế",

This is sort of the hylozoistic theory, fractal theory. That’s another way of looking at it. So let’s see

Đây là lý thuyết Hoạt Vật Luận, Lý thuyết phân dạng (fractalization).

And we’ll call this the descent of image through fractalization. So

Và chúng ta sẽ gọi điều này là sự hạ xuống của hình ảnh thông qua sự phân dạng (fractalization).

[17] who through the method of re-incarnation unfolds his consciousness until it flowers forth as the perfected soul

[17] người mà thông qua phương pháp tái sinh phát triển tâm thức của mình cho đến khi nở hoa như một linh hồn hoàn thiện,

Perfected soul. Or, let’s just say, less-limited consciousness

Linh hồn hoàn thiện, hoặc chúng ta có thể nói đơn giản là tâm thức ít bị giới hạn hơn...

[18] whose nature is light and whose realisation is that of a self-conscious identity.

[18] bản chất của nó là ánh sáng và sự nhận thức của nó là một bản sắc hữu ngã thức. Đơn vị phát triển này

This is really important because this tells us what it is the soul sees, and how the soul perceives its own identity.

Điều này thực sự quan trọng vì nó cho chúng ta biết linh hồn thấy gì và cách linh hồn nhận thức bản thân nó.

I often think it’s really necessary to get behind the image of what we usually think we are. We have certain forms that we associate with our identity, but it's necessary to step behind them to be the immaterial observer and to really get the feeling of being that. In other words, being the one behind, the one within, the one underneath. This would give understanding, as we have been discussing in the opening of the glamour book, and we need to understand ourselves more and more as immaterial consciousness being, or being consciousness, and whatever object we see in the way we cannot be it. And in another way, we are exactly that. So paradox reigns. Be what you see, because that is true in fundamental sense, but also realize that what you see is a limitation upon what you essentially are.

Tôi thường nghĩ rằng chúng ta thực sự cần nhìn phía sau những hình ảnh mà chúng ta nghĩ mình là. Có những hình tướng nhất định mà chúng ta liên kết với bản sắc của mình, nhưng cần phải bước ra phía sau chúng để trở thành người quan sát phi vật chất và thực sự có cảm giác của bản thể. Nói cách khác, là người đứng sau, đứng bên trong, đứng bên dưới. Điều này sẽ mang lại sự thấu hiểu, như chúng ta đã thảo luận trong phần mở đầu của quyển sách về ảo cảm, và chúng ta cần thấu hiểu bản thân mình ngày càng nhiều hơn như là bản thể, tâm thức phi vật chất, hoặc là sự tồn tại tâm thức, và bất kỳ đối tượng nào chúng ta nhìn thấy trên con đường, chúng ta không thể là nó. Và theo một cách khác, chúng ta chính là điều đó. Vì vậy, sự nghịch lý thống trị. Hãy là những gì bạn thấy, vì điều đó là đúng theo nghĩa cơ bản, nhưng cũng nhận ra rằng những gì bạn thấy là một sự giới hạn đối với những gì bạn thực sự là.

32:00 The nature of the soul is light, it makes things appear. We might say light brings to consciousness that which is present but undetected, so when the light of the soul shines upon that which we have not detected, those things appear and then become part of our consciousness. Light reveals to consciousness the previously indivisible.

Bản chất của linh hồn là ánh sáng, nó làm cho mọi thứ xuất hiện. Chúng ta có thể nói ánh sáng mang đến tâm thức những gì luôn hiện diện nhưng chưa được phát hiện. Vì vậy khi ánh sáng của linh hồn chiếu lên những gì chúng ta chưa phát hiện, những điều đó xuất hiện và sau đó trở thành một phần của tâm thức chúng ta. Ánh sáng tiết lộ cho tâm thức những gì trước đây không phát hiện.

[19] This developed unit – has eventually to be merged, with full intelligent participation, in the greater consciousness of which it is a part.

[19] cuối cùng phải được hợp nhất, với sự tham gia đầy đủ và thông minh, vào tâm thức lớn hơn mà nó là một phần.

Which We become, as we become the soul, which as we consider soul, it is a very microcosmic being, not macro-cosmic at all.

Là chúng ta khi trở thành linh hồn, khi chúng ta coi linh hồn là một thực thể rất vi mô, không vĩ mô chút nào.

The part merges into the whole, and eventually realizes itself to be that whole itself, and now we are talking strictly in universe at the moment. The wholeness of the universal logos is quite sufficient.

Bộ phận hòa nhập vào tổng thể, và cuối cùng nhận ra chính mình là tổng thể đó, và bây giờ chúng ta đang nói hoàn toàn trong vũ trụ vào lúc này. Sự toàn diện của Thượng đế Vũ Trụ là hoàn toàn đủ.

For us, there's a great wholeness of course which is absolute infinity: the ULTIMATE ARTICULATED WHOLENESS IS ABSOLUTE INFINITUDE. I mean divided into parts apparently. Then I’ll say this, the ULTIMATE UNARTICULATED WHOLENESS is the ABSOLUTE. A duality seems to reign in this post-universal world, but not really. So, those are some definitions.

Đối với chúng ta, tất nhiên có một sự toàn diện vĩ đại đó là vô hạn tuyệt đối: SỰ TOÀN DIỆN TỐI THƯỢNG ĐƯỢC TRÌNH BÀY LÀ SỰ VÔ HẠN TUYỆT ĐỐI. Ý tôi là được chia thành các phần rõ ràng. Sau đó, tôi sẽ nói điều này, SỰ TOÀN DIỆN TỐI THƯỢNG CHƯA ĐƯỢC TRÌNH BÀY là TUYỆT ĐỐI. Tính nhị nguyên dường như thống trị trong vũ trụ nhưng không thực sự như vậy. Đó là một số định nghĩa.

Remember, I'm trying to keep this program to approximately one hour, so as not to make it too daunting for those who transcribe, undertaking a huge job for which we are very grateful. When I do a three- or four-hour program, the individuals involved say, who can even begin to transcribe such a long program?

Tôi đang cố gắng giữ chương trình này khoảng một giờ, để không làm cho nó quá khó khăn đối với những người chuyển lời (transcript), đảm nhận một công việc khổng lồ mà chúng tôi rất biết ơn. Khi tôi làm một chương trình ba hoặc bốn giờ, những người tham gia nói, ai có thể bắt đầu chuyển lời một chương trình dài như vậy?

[20] Before we take up our subject it might be of value if we defined certain words which will be in constant use, so that we will know what we are talking about, and the significance of the terms we use.

[20] Trước khi chúng ta bắt đầu với chủ đề của chúng ta, có thể hữu ích nếu chúng ta định nghĩa một số từ sẽ được sử dụng liên tục, để chúng ta hiểu rõ ý nghĩa của chúng và ý nghĩa của các thuật ngữ mà chúng ta sử dụng.

35:33 We remember that Voltaire wisely said, “If any man would converse first with me, let him define his terms.” It makes one think that Voltaire had a lot of the fifth ray as well as the third ray. so the term ‘occult’:

Chúng ta nhớ Voltaire đã nói một cách khôn ngoan rằng, "Nếu bất kỳ ai muốn đối thoại với tôi, trước hết hãy để họ định nghĩa các thuật ngữ của họ." Điều này khiến chúng ta nghĩ rằng Voltaire có rất nhiều ảnh hưởng của cung năm cũng như cung ba. Trước tiên là từ 'huyền bí':

[21] 1. Occult. This term concerns the hidden forces of being and those springs of conduct which produce the objective manifestation.

[21] 1. Huyền bí. Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn giấu của sự hiện hữu và những nguồn gốc của hành vi tạo ra sự biểu hiện khách quan.

One way of looking at this is causative energies and forces although DK did confine Himself to the word force here.

Một cách nhìn những điều này như là các năng lượng và mãnh lực nguyên nhân, mặc dù Chân sư DK đã giới hạn vào từ mãnh lực ở đây.

and those springs of conduct –

và những nguồn gốc của hành vi –

It’s interesting, conduct is action in a way, but,

Thật thú vị, hành vi (conduct) là hành động (action) theo một cách nào đó, nhưng,

[22] The word "conduct" is used here deliberately, for all manifestation, in all the kingdoms of nature, is the expression of the life, purpose and type of activity of some being or existence –

[22] Từ "hành vi" được sử dụng ở đây một cách cố ý, vì tất cả các biểu hiện, trong tất cả giới của tự nhiên, là sự biểu hiện của sự sống, mục đích và loại hình hoạt động của một thực thể hoặc sự hiện tồn nào đó,

The Universal Logos or Being within the Universal Logos –

Thượng Đế Vũ Trụ hoặc các thực thể bên trong Thượng Đế Vũ Trụ –

[23] and thus is literally the conduct (or outer nature or quality) of a life.

[23] và do đó là hành vi (hoặc bản chất bên ngoài hoặc tính chất) của một sự sống.

So, all manifestation is expression of a being. All manifestation is literally the conduct of a life, the outer expression. We might say, how do you conduct yourself? Do you have good conduct? It is a mode of manifested activity. So, conduct, the energies have been conducted. We can do a lot with this particular word “conduct”. The energies and forces have been conducted from within and are responsible for the kinds of conduct which appear. You see, when we stress different syllable we say the emphasis under the syllabification of the word changes: we have two different words. When it’s /kən dəkt’/ it’s a verb, when it’s /kän’dəkt/ it’s a noun. And conduction is the flow of causative energy into the worlds of relative objectivity. So, that a type of relationship we call manifestation eventuates. It can be observed.

Vì vậy, tất cả các biểu hiện là sự biểu hiện của một thực thể. Tất cả các biểu hiện thực sự là hành vi của một sự sống, là biểu hiện bên ngoài. Chúng ta có thể nói, bạn hành xử (conduct yourself) như thế nào? Bạn có hạnh kiểm (good conduct) tốt không? Đó là một cách thức hoạt động được biểu hiện. Vì vậy, có động từ to conduct, các năng lượng đã được truyền dẫn. Chúng ta có thể làm nhiều thứ với từ conduct này. Các năng lượng và mãnh lực đã được truyền dẫn từ bên trong và chịu trách nhiệm cho các loại hành vi xuất hiện. Khi được dùng như một danh từ/kän’dəkt/, nó được nhấn mạnh vần đầu “con”, khi nó là động từ, nó được nhấn mạnh vần sau /kən dəkt’/. Ngoài ra còn có conduction là dòng chảy của năng lượng nguyên nhân vào các thế giới tương đối khách quan. Vì vậy, một loại quan hệ mà chúng ta gọi là biểu hiện xảy ra. Nó có thể được quan sát.

[24] These springs of action lie hid in the purpose of any life

[24] Những nguồn gốc của hành động này nằm ẩn trong mục đích của bất kỳ sự sống nào,

So according to the purpose, so various energies and forces are released, or conducted into the lower worlds and contribute to the conduct of the E/entity, whatever it is in those lower worlds

Vì vậy, tùy theo mục đích, các năng lượng và mãnh lực khác nhau được giải phóng hoặc dẫn vào (conducted) các thế giới thấp hơn và góp phần vào hành vi của thực thể đó—dù cho đó là gì—trong những thế giới thấp hơn đó.

[25] whether it be a solar life

[25] cho dù đó là sự sống thái dương,

Now we’re back in Cosmic Fire a bit where He deals with different types of entities

Bây giờ, chúng ta trở lại một chút với Cosmic Fire, nơi Ngài đề cập đến các thực thể khác nhau

[26] a planetary entity, a man, or that Being who is the sum total of the states of consciousness and of the forms of any kingdom in nature.

[26] sự sống hành tinh, con người, hoặc Đấng là tổng hợp của các trạng thái tâm thức và của các hình tướng của bất kỳ giới nào trong tự nhiên.

So, this is the Lord of a Kingdom of Nature.

Vì vậy, đây là Chúa Tể của một Giới Tự nhiên.

There are, if you go to approximately page 844 in A Treatise on Cosmic Fire, I think there are all these different entities, some very, very high, but in the great scheme of things, relatively low. And depending on how you read the chart, an ascending or descending series of complexity. If I were to go here, A Treatise on Cosmic Fire, I hope I can give you the right page here. [Tabulation VI, in part:]

Nếu các bạn đến trang 844 trong A Treatise on Cosmic Fire, các bạn sẽ thấy các thực thể khác nhau đó, một số rất cao, nhưng một số rất thấp trong thang tiến hóa vĩ đại. Tabulation VI:

1. Planetary Logoi,

1. Hành Tinh Thượng Đế,

2. The minor four planetary Logoi,

2. bốn Hành Tinh Thượng Đế nhỏ,

3. The informing Lives of a planetary globe,

3. những Sinh Mệnh phú linh một bầu hành tinh,

4. The informing life of a kingdom in nature.

4. Sinh Mệnh phú linh một giới trong tự nhiên,

That’s what we’re talking about and it shows their developmental trajectory, as well where they go, so to speak, after completing their work within a special division of nature or highly esoteric nature.

Đó là những gì chúng ta đang nói về và nó cho thấy quỹ đạo phát triển của họ, nơi họ sẽ đi sau khi hoàn thành công việc của họ trong lãnh vực đặc biệt của tự nhiên.

5. The solar Pitris,

5. Thái dương Tổ phụ,

6. The human evolution,

6. dòng tiến hóa của con người,

7. The lunar Pitris.

7. Thái âm Tổ phụ.

42:49 This is a marvelous chart and gives you a real sense of the hierarchical relationship between the different beings, the different life centers. It goes all the way down to the lesser builders and probably it’s not a coincidence that there are twelve of these divisions. When it comes to numbers, Master DK often gives hints with regards to numbers. The numbers offer a hint, that’s what I’m trying to say.

Đây là một biểu đồ tuyệt vời và mang lại cho bạn một cảm giác thực sự về mối quan hệ thứ bậc giữa các thực thể khác nhau, các trung tâm sự sống khác nhau. Nó đi xuống tận những vị kiến tạo thứ yếu, và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà có mười hai phân chia này. Khi nói đến các con số, Chân Sư DK thường đưa ra những gợi ý liên quan đến các con số. Các con số cung cấp một gợi ý, đó là những gì tôi đang cố gắng nói.

Now what's the law? We have the word occult, it has to do with energies and forces which are causative and are propelled by the purpose of a being who sends them forth and these energies and forces cause the conduct of that being in the outer world which we call the manifestation of that being in the outer world. There are many interior types, if you want to call it manifestation, interior types of manifestation. But usually, when we use the word manifestation, we do mean association with the lower material worlds and even with the dense physical world particularly. Although you can really see how on the etheric plane, there are manifestations, astral-plane manifestations, lower-mental plane manifestations. In the way the twenty-one lower subplanes of our solar system are the subplanes of manifestation because together they constitute the dense physical body of our Solar Logos and, if manifestation has to do with appearance and density, well then anything appearing within those lower twenty-one subplanes is appearance within a kind of cosmic density.

Bây giờ, Định luật là gì? Chúng ta có từ huyền bí, nó liên quan đến các năng lượng và mãnh lực nguyên nhân và được thúc đẩy bởi mục đích của một Thực Thể gửi chúng đi, và những năng lượng và mãnh lực này gây ra hành vi của thực thể đó trong thế giới bên ngoài mà chúng ta gọi là sự biểu hiện của thực thể đó trong thế giới bên ngoài. Có nhiều loại biểu hiện bên trong, nếu bạn muốn gọi nó là biểu hiện, các loại biểu hiện bên trong. Nhưng thường thì khi chúng ta sử dụng từ biểu hiện, chúng ta muốn nói đến quan hệ với các thế giới vật chất thấp hơn, và đặc biệt là với thế giới vật lý đậm đặc. Mặc dù bạn có thể thấy trên lãnh vực dĩ thái có những biểu hiện, có biểu hiện cõi cảm dục, biểu hiện cõi hạ trí. Theo cách mà hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn của hệ mặt trời của chúng ta là các cõi phụ của biểu hiện bởi vì cùng nhau chúng tạo thành thể xác của Thái Dương Thượng Đế chúng ta, và nếu biểu hiện liên quan đến sự xuất hiện và mật độ, thì bất cứ điều gì xuất hiện trong các cõi phụ thấp hơn này là sự xuất hiện trong một loại mật độ vũ trụ.

[27] 2. Laws. A law presupposes a superior being who, gifted with purpose, and aided by intelligence

[27] 2. Định luật. Một định luật giả định sự tồn tại của một thực thể siêu việt, được ban cho mục đích và được hỗ trợ bởi trí tuệ,

Now this word gifted. Well so many hints with His words because it’s bestowed by a still superior being and ultimately by the absolute deity itself which is, let’s say, extra-universal.

Từ "được ban cho" rất đáng chú ý. Có rất nhiều gợi ý với các từ mà Ngài dùng. Ở đây, nó được trao cho bởi một thực thể vẫn còn siêu việt hơn, và cuối cùng bởi Thượng đế Tuyệt Đối, vượt ra ngoài vũ trụ.

[28] is so coordinating his forces that a plan is being sequentially and steadily matured.

[28] đang phối hợp các mãnh lực của mình sao cho một kế hoạch được thực hiện một cách tuần tự và đều đặn.

And DK sometimes tells us Laws are un-evadable and rules can be followed or not according to choice, but when that will expressing the purpose of a greater being or lesser will expressing purpose which itself is an aspect of a greater will, is operative, when those things are operative. Then we have un-evadable, now un-invadable. Or, maybe, let’s allow the use of the word inevitable, we have inevitable laws which cannot be evaded. Rules can be evaded and then we just don’t arrive at a desirable conclusions to which the following of the correct rules would lead us.

Đôi khi Ngài nói với chúng ta rằng các Định luật là không thể tránh khỏi, còn các quy luật có thể được tuân theo hoặc không tùy theo sự lựa chọn, nhưng khi ý chí đó thể hiện Mục Đích của một thực thể lớn hơn, hoặc ý chí nhỏ hơn thể hiện mục đích mà chính nó là một khía cạnh của một ý chí lớn hơn, khi những điều đó đang hoạt động chúng ta có các định luật không thể né tránh (un-evadable), hoặc có lẽ chúng ta hãy sử dụng từ "không thể tránh khỏi" (inevitable). Chúng ta có các định luật không thể tránh khỏi, không thể né tránh. Chúng ta có thể né tránh không thực hiện các quy luật và chúng ta chỉ không đạt được những các kết luận mong muốn.

[29] Through a clear knowledge of the goal

[29] Thông qua sự hiểu biết rõ ràng về mục tiêu,

Which the purpose-conceiving being fashions interiorly

Mục tiêu mà Thực Thể nắm bắt được mục đích này hình thành bên trong...

[30] that entity sets in activity those steps and stages

[30] thực thể đó kích hoạt những bước và giai đoạn

Which are the Plan

Đó là Thiên Cơ

[31] which when carried forward in order will bring the plan to perfection.

[31] mà khi được thực hiện theo thứ tự sẽ đưa kế hoạch đến sự hoàn hảo.

So, a plan requires steps and stages in time and space. Purpose is the same at the beginning as at the end and is like a sustained standing wave, and then when we break that standing wave out into time and space so that its nature and structure is somehow manifested in the lower worlds, then we have a plan.

Vì vậy, một Thiên Cơ yêu cầu các bước và giai đoạn trong thời gian và không gian. Thiên Ý (Purpose) là giống nhau từ đầu đến cuối, và giống như một sóng đứng được duy trì, và khi chúng ta phá vỡ làn sóng đứng đó vào thời gian và không gian để bản chất và cấu trúc của nó được thể hiện theo cách nào đó trong các thế giới thấp hơn thì chúng ta có một Kế Hoạch hay Thiên Cơ.

[32] The word "law", as usually understood, conveys the idea of subjection to an activity which is recognised as inexorable and undeviating, but which is not understood by the one who is subjected to it.

[32] Từ "định luật", như thường được hiểu, mang ý tưởng về việc chịu sự chi phối của một hoạt động được nhận thức là không thể thay đổi và không thể chệch hướng, nhưng người chịu sự chi phối của nó không hiểu được;

Well let's just say, increasingly we will understand the reason for the law in relation to a greater purpose. Right now we're on the planet, we’re understanding a little bit of the divine plan that light, love and power should manifest in the lower twenty-one subplanes, just to make it simple. But we don't know and neither do the masters, the full purpose of our Planetary Logos in relation to a still greater grand design having to do with the solar system. Its development will be seen eventually in relation to a still greater entity and its purpose and on and on we go. So far, we don’t see very well or very thoroughly into purpose.

Chúng ta có thể nói rằng, chúng ta sẽ ngày càng hiểu nhiều hơn lý do cho định luật liên quan đến một mục đích lớn hơn. Hiện tại chúng ta đang trên hành tinh, chúng ta đang hiểu một chút về Thiên Cơ, rằng Ánh Sáng, Tình Thương và Quyền Năng nên biểu hiện trong hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn. Nhưng chúng ta không biết, và cả các Chân Sư cũng không biết, Mục Đích đầy đủ của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta liên quan đến một thiết kế vĩ đại hơn vẫn còn liên quan đến hệ mặt trời. Sự phát triển của nó sẽ được nhìn thấy cuối cùng liên quan đến một thực thể vĩ đại hơn nữa, và sẽ tiếp tục như thế mãi. Cho đến nay, chúng ta không thấy rõ ràng hoặc đầy đủ về Mục Đích.

The word "law", as usually understood inexorable and undeviating

Từ "định luật", như thường được hiểu không thể thay đổi và không thể tránh khỏi…

You cannot break them. As I said, I had an old teacher and I'm very grateful for him and certainly he had a lot of first ray and he said to me, “No one breaks the law, the law breaks them.” He also said, “God is not mocked”. There is no evasion from the purpose and the laws arising from that purpose. No evasion of God's purpose, laws and will

Bạn không thể phá vỡ chúng. Như tôi đã kể, tôi có một vị Thầy cũ và tôi rất biết ơn ông. Chắc chắn ông có rất nhiều ảnh hưởng của cung một. Ông nói với tôi như sau "Không ai có thể vi phạm định luật, định luật phá vỡ họ." Ông cũng nói, "Thượng đế không thể bị chế giễu". Không có sự né tránh khỏi mục đích và các định luật phát sinh từ mục đích đó. Không thể né tránh mục đích, định luật và ý chí của Thượng đế.

[33] it involves, from one standpoint, the attitude of the submersed unit in the group impulse and the inability of that unit to change the impulse or evade the issue

[33] từ một góc nhìn nó liên quan đến thái độ của đơn vị bị nhấn chìm trong xung lực nhóm và sự bất lực của đơn vị đó để thay đổi động lực hoặc tránh né vấn đề;

We are swept along by laws that we as tiny emanations of a greater life cannot change

Chúng ta bị cuốn theo các định luật, mà chúng ta, như những xuất lộ nhỏ bé của một Sự Sống lớn hơn, không thể thay đổi.

[34] it inevitably brings about in the consciousness of the man who is considering these laws.

[34] nó tất yếu mang lại trong tâm thức của người đang xem xét các định luật này

This is the usual way of looking at it

Đây là cách nhìn thông thường về nó

[35] a feeling of being a victim—of being driven forward like a leaf before the breeze towards an end about which speculation only is possible, and of being governed by a force which acts apparently with an unavoidable pressure and thus produces group results, at the expense of the unit.

[35] một cảm giác là nạn nhân—bị đẩy đi như một chiếc lá trước cơn gió về phía một mục tiêu mà chỉ có thể suy đoán, và bị chi phối bởi một lực tác động dường như với một áp lực không thể tránh được và do đó tạo ra kết quả nhóm, làm cho đơn vị phải trả giá.

Let’s just say we all die. There are many who do not want to die, but they cannot control or change the Law of Periodicity which demands the cyclic death of the form. That’s an example. You say, “I don't want to die,” at least at our present stage of scientific understanding, we have no choice in the matter and even if something should be discovered that sustains the consciousness within a form for a long period of time, we would discover that the form itself has the kind of limitations which we would not want to sustain. So we would look for the opportunity to receive a new form in some way or other and this would involve what we normally call death.

Ví dụ, tất cả chúng ta đều chết. Có nhiều người không muốn chết, nhưng họ không thể kiểm soát hoặc thay đổi Định luật Chu Kỳ yêu cầu cái chết chu kỳ của hình tướng. Đó là một ví dụ. Bạn nói, "Tôi không muốn chết," ít nhất ở giai đoạn hiểu biết khoa học hiện tại của chúng ta, chúng ta không có sự lựa chọn trong vấn đề này và ngay cả khi có điều gì đó được phát hiện mà duy trì tâm thức trong một hình tướng trong một thời gian dài, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng bản thân hình tướng có những giới hạn mà chúng ta không muốn duy trì. Vì vậy, chúng ta sẽ tìm kiếm cơ hội để nhận một hình tướng mới bằng cách nào đó, và điều này sẽ liên quan đến những gì chúng ta thường gọi là cái chết.

[36] This attitude of mind

[36] Thái độ tâm trí này

It’s an initial attitude

Đó là một thái độ ban đầu...

[37] is inevitable until the consciousness of man can be so expanded that he becomes aware of the greater issues.

[37] là không thể tránh khỏi cho đến khi tâm thức của con người có thể được mở rộng đến mức y nhận ra những vấn đề lớn hơn.

And it feels like those greater issues are his issues because after all, he is the greater life; man is the greater life and the greater issues are eventually seen as his issues.

Và dường như những vấn đề lớn hơn đó cũng là vấn đề của y, vì dù sao, y là sự sống vĩ đại hơn; con người là sự sống vĩ đại hơn và những vấn đề lớn hơn cuối cùng được nhìn nhận là vấn đề của chính con người.

[38] When, through contact with his own higher self,

[38] Khi thông qua sự tiếp xúc với chính linh hồn của mình,

Either soul or triad or monad,

Bất kể là linh hồn, Tam nguyên tinh thần hay chân thần,

[39] he participates in the knowledge of the objective

[39] y tham gia vào việc biết mục tiêu,

Wither it’s all going –

Đi đến đâu...

[40] and when through climbing the mountain of vision his perspective changes and his horizon enlarges, he comes to the realisation that a law is but the spiritual impulse, incentive and life manifestation of that Being in which he lives and moves.

[40] và khi thông qua việc leo lên ngọn núi của tầm nhìn, quan điểm của y thay đổi và tầm nhìn của y mở rộng, y nhận ra rằng một định luật chỉ là động lực tinh thần, động lực và biểu hiện sự sống của Đấng trong đó y sống và chuyển động.

And has his very being, as we say.

Và như chúng ta nói, có sự tồn tại của mình trong đó.

So expanding consciousness will bring greater appreciation for the beneficent propulsion behind a law which is really a spiritual impulse of the greater being in which he lives and moves and has his being. That greater being also lives and moves and has his being and is still greater being and on and on until we reach the universal Logos which the universal Logos realizes that within the post universal identity that he/it, whatever, lives and moves and has his being in that absolute infinitude.

Vì vậy, mở rộng tâm thức sẽ mang lại sự đánh giá cao hơn về động lực nhân từ đằng sau một định luật, thực sự là xung lực tinh thần của thực thể vĩ đại hơn mà y sống và chuyển động và có sự tồn tại của mình trong đó. Thực thể vĩ đại hơn đó cũng sống và chuyển động và có sự tồn tại của Ngài trong một thực thể vĩ đại hơn nữa, và cứ thế tiếp tục cho đến khi chúng ta đạt đến Thượng Đế Vũ Trụ, mà Thượng đế Vũ Trụ nhận ra rằng trong Bản Sắc hậu vũ trụ mà Ngài/Cái Đó, hay bất cứ là gì, sống và chuyển động và có sự tồn tại của mình trong Vô Hạn Tuyệt Đối đó.

[41] He learns that that impulse demonstrates an intelligent purpose, wisely directed, and based on love.

[41] Y học được rằng động lực đó biểu hiện một mục đích thông minh, được hướng dẫn một cách khôn ngoan và dựa trên tình thương.

Or the first terrible inevitability of being driven like a leaf, but the sense of helplessness changes to gratitude when the rising individual realizes towards what end or objective the Law is driving him or her.

Hoặc là sự không thể tránh khỏi đầu tiên đáng sợ của việc bị đẩy đi như một chiếc lá, nhưng cảm giác bất lực thay đổi thành lòng biết ơn khi cá nhân đang trỗi dậy nhận ra mục đích hoặc mục tiêu mà Định luật đang đẩy anh ta hoặc cô ta đến.

[42] He then himself begins to wield the law or to pass wisely, lovingly and intelligently through himself as much of that spiritual life impulse which his particular organism can respond to, transmit and utilise.

[42] Sau đó, y tự thân bắt đầu điều khiển định luật, hoặc truyền chuyển qua y một cách khôn ngoan, yêu thương và thông minh nhiều xung lực sự sống tinh thần mà cơ thể cụ thể của y có thể đáp ứng, truyền tải và sử dụng.

So we say he becomes a cooperator with the Divine Plan

Chúng ta có thể nói y trở thành một người hợp tác với Thiên Cơ...

[43] He ceases to obstruct and begins to transfer

[43] Y ngừng cản trở và bắt đầu chuyển tiếp.

That’s a good one, because we oftentimes stand in the way of that which we feel is compelling us towards an end we don’t want to follow or toward which we don’t want to be directed but as our consciousness rises, we will see the beneficence behind this irresistible compulsion or propulsion.

Đó là một điều tốt, bởi vì chúng ta thường gây cản trở điều mà chúng ta cảm thấy đang ép buộc chúng ta đi theo hướng chúng ta không muốn theo, hoặc theo hướng mà chúng ta không muốn bị chỉ đạo, nhưng khi tâm thức của chúng ta được nâng cao, chúng ta sẽ thấy sự nhân từ đằng sau sự ép buộc hoặc động lực không thể cưỡng lại này.

He ceases to obstruct

Y ngừng cản trở...

He ceases to stand in the way of the higher will, it becomes willing and his will increase because of his willingness.

Y ngừng đứng cản đường ý chí cao hơn, trở nên sẵn lòng, và ý chí của y tăng lên vì sự sẵn lòng của mình.

[44] He brings to an end the cycle of the closed self-centered life, and opens the doors wide to spiritual energy.

[44] Y chấm dứt chu kỳ của cuộc sống tập trung vào bản thân và mở rộng cửa cho năng lượng tinh thần.

This is what we’re all trying to do right now, people like ourselves.

Đây là điều mà tất cả chúng ta đang cố gắng làm ngay bây giờ, những người như chúng ta.

[45] In so doing he finds that the law which he has hated and mistrusted –

[45] Bằng cách làm như vậy, y phát hiện rằng định luật [Trang 12] mà y đã ghét và nghi ngờ

You know people, let’s say hate the idea that they are made to give up the body with which they are then identified and compelled to lose all apparently, they hate that.

Mọi người ghét ý tưởng rằng họ bị ép buộc phải từ bỏ thể xác mà họ đã đồng hóa với, và bị ép buộc dường như phải mất tất cả mọi thứ. Họ ghét điều đó...

[46] he finds that the law which he has hated and mistrusted is the vitalising, purifying agency which is sweeping him and all God's creatures on to a glorious consummation.

[46] là tác nhân thanh lọc và làm sống động, cuốn y và tất cả các sinh vật của Thượng Đế tiến tới một sự hoàn thiện vinh quang.

It’s a beautiful thought isn’t it?

Đó là một suy nghĩ rất đẹp, phải không?

The Tibetan is obviously inspired by the vision He sees, which is far beyond that which many vision. We can be uplifted by reading this and understanding that we are in good hands when it comes to the direction and the arrangements forcibly compelled by the universal Logos and all the greater emanations with which we live and move and have our being, even as we are the law for the tiny lives which compose our energy structure.

Chân Sư DK rõ ràng được cảm hứng bởi tầm nhìn mà Ngài thấy, vượt xa tầm nhìn của nhiều người. Chúng ta có thể được nâng cao bằng cách đọc điều này và thấu hiểu rằng chúng ta đang ở trong những bàn tay tốt khi nói đến sự chỉ đạo và các sắp đặt được ép buộc mạnh mẽ bởi Vũ Trụ Thượng đế và tất cả các phát xạ vĩ đại hơn mà trong đó chúng ta sống và chuyển động và có sự tồn tại của chúng ta, ngay cả khi chúng ta là định luật cho các sự sống nhỏ bé cấu thành cấu trúc năng lượng của chúng ta.

58:14 Alright, I have no idea what time it is. This is the end of A Treatise on White Magic program number 3, and we’re at page 12 and the date is the 19th of January 2018, and then we’ll be beginning on the Treatise on White Magic number 4. We’re still on the introduction, Page 12 and we don’t know when, maybe sooner than we think.

Vâng, tôi không biết bây giờ là mấy giờĐây là phần cuối của chương trình A Treatise on White Magic số 3, và chúng ta đang ở trang 12 và ngày là 19 tháng 1 năm 2018, và sau đó chúng ta sẽ bắt đầu chương trình A Treatise on White Magic số 4. Chúng ta vẫn đang ở phần giới thiệu, Trang 12 và chúng ta không biết khi nào chúng ta có thể bắt đầu, có thể sớm hơn chúng ta nghĩ.

Well thank you very much for being here and participating in this think-through and speak-through of what DK has said. Obviously, if you were doing this, you would probably say and think other things, but I’m hoping that some of the thoughts which I offer will stimulate the vision of the reader or the student or those who are using this text for study groups which is perhaps the main reason why I'm doing these video commentaries – to facilitate the study of these wonderful books and the assimilation of the information given and the application of the information in preparation for still greater releases coming as the Tibetan offers his third installment from the year 2025 and onward.

Cảm ơn các bạn rất nhiều vì đã ở đây và tham gia vào suy nghĩ và nói ra những gì Chân sư DK đã nói. Rõ ràng, nếu bạn đang làm điều này, bạn có thể sẽ nói và nghĩ những điều khác, nhưng tôi hy vọng rằng một số suy nghĩ mà tôi đưa ra sẽ kích thích tầm nhìn của người đọc, hoặc sinh viên hoặc những người đang sử dụng văn bản này cho các nhóm nghiên cứu, có lẽ là lý do chính tại sao tôi đang thực hiện những bình luận video này—để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu những quyển sách tuyệt vời này và sự tiếp thu thông tin được đưa ra và việc áp dụng thông tin trong việc chuẩn bị cho những đợt giáo lý lớn hơn sắp tới khi Chân Sư Tây Tạng cung cấp phần thứ ba từ năm 2025 trở đi.

Friends that’s it, and I’ll be back. Lots of love, take care, bye bye.

Các bạn thân mến, đó là tất cả, và tôi sẽ quay lại. Với rất nhiều tình thương, hãy bảo hộ, tạm biệt.