Trích nội dung chương
Thầy MDR đưa ra một bình luận riêng đáng chú ý: thành công khoa học của nhân loại lớn đến mức ashram cung năm đã phải đình chỉ một số khám phá, vì chúng sẽ quá nguy hiểm trong tay một nhân loại chưa phát triển đủ về đạo đức. Thầy cho rằng thiếu nền đạo đức tương ứng, các thành tựu khoa học có thể dẫn đến tự hủy diệt. Đây là một cách Thầy nối lời Chân sư DK với bối cảnh văn minh hiện đại. Chân sư DK nói phương pháp khoa học đối với trí óc nhân loại cũng giống như phương pháp tham thiền huyền bí, đặc biệt hai giai đoạn đầu là tập trung và tập trung kéo dài, đối với cá nhân. Thầy MDR đặc biệt thích điểm này, nhấn mạnh “tập trung kéo dài” chính…
Thầy MDR đưa ra một bình luận riêng đáng chú ý: thành công khoa học của nhân loại lớn đến mức ashram cung năm đã phải đình chỉ một số khám phá, vì chúng sẽ quá nguy hiểm trong tay một nhân loại chưa phát triển đủ về đạo đức. Thầy cho rằng thiếu nền đạo đức tương ứng, các thành tựu khoa học có thể dẫn đến tự hủy diệt. Đây là một cách Thầy nối lời Chân sư DK với bối cảnh văn minh hiện đại.
Tương ứng giữa phương pháp khoa học và tham thiền huyền bí
Chân sư DK nói phương pháp khoa học đối với trí óc nhân loại cũng giống như phương pháp tham thiền huyền bí, đặc biệt hai giai đoạn đầu là tập trung và tập trung kéo dài, đối với cá nhân. Thầy MDR đặc biệt thích điểm này, nhấn mạnh “tập trung kéo dài” chính là tham thiền. Thầy nhận xét sự chú tâm bền bỉ vào tư tưởng hạt giống, vấn đề khoa học, triết học hay tình hình thế giới sẽ dần dần đưa đến hiểu biết, ý tưởng đúng và kết luận đúng.
Những nhà tư tưởng lớn như những người hành thiền huyền bí
Thầy MDR diễn giải các nhà tư tưởng hàng đầu trong mọi trường phái thật ra là những người biểu lộ tham thiền huyền bí. Các khám phá khoa học, những diễn giải đúng về các Định luật của bản chất, hay các kết luận đúng trong khoa học, kinh tế, triết học, tâm lý học đều là sự ghi nhận trong trí và bộ não các chân lý vĩnh cửu. Thầy nhấn mạnh đây là dấu hiệu nhân loại đang bắt đầu bắt cầu giữa khách thể và chủ thể, giữa thế giới hình tướng và thế giới ý tưởng.
Cây cầu từ trí cụ thể đến các thế giới cao hơn
Từ đoạn này, Thầy MDR mở rộng rằng chiếc cầu đầu tiên được xây giữa bốn cõi phụ thấp của cõi hạ trí và Thượng trí; sau đó là những cây cầu cao hơn nối với Tam Nguyên Tinh Thần, cõi Bồ đề, cõi atma và xa hơn nữa. Thầy lưu ý “thế giới ý tưởng” theo kỹ thuật bắt đầu ở cõi Bồ đề, dù trên cõi thượng trí con người đã tiếp xúc với nhiều hình thức trừu tượng gần với ý tưởng. Nhận xét này cho thấy cách Thầy MDR liên kết bài học tri thức với tiến trình xây antahkarana.
Tri thức trực giác và bản chất nhân quả của nó
Loại tri thức thứ ba là trực giác. Chân sư DK định nghĩa trực giác là sự đánh giá của trí đối với một yếu tố trong sáng tạo, một Định luật biểu hiện hay một phương diện chân lý đã được linh hồn biết tới từ thế giới ý tưởng. Thầy MDR nhấn mạnh trực giác có liên hệ với trí chứ không chỉ với cảm giác, và nó nhận biết những gì không phải do con người chế tạo mà là các thực tại nhân quả, tương tự các cõi dĩ thái của hệ thống là nguyên nhân của những gì biểu lộ ở các cõi đậm đặc.
Điều kiện để trực giác hoạt động
Theo Chân sư DK, các chân lý và Định luật ấy luôn hiện diện và hoạt động, nhưng chỉ khi trí được huấn luyện, phát triển, tập trung và cởi mở thì chúng mới được nhận ra, hiểu và thích nghi với nhu cầu thời đại. Thầy MDR nhấn mạnh “cởi mở” nghĩa là không thành kiến. Thầy xem sự tập trung chú ý và tính tiếp nhận chân lý là sự chuẩn bị tất yếu cho việc nhận biết và sử dụng trực giác.
Sự gia tăng của những trí óc sáng ngời trong thời hiện đại
Thầy MDR ghi nhận lời Chân sư DK rằng xưa kia những trí tuệ biết suy nghĩ rõ ràng và tiếp nhận chân lý rất hiếm, còn nay đang ngày càng nhiều. Thầy gọi đây là sự phát triển của “trí óc tiếp nhận ánh sáng” và chiếc cầu của nó tới tri thức trực tiếp. Theo Thầy, nhiều người hiện nay đang lơ lửng ở biên giới của một tri thức mới được trực giác nắm bắt.
Từ trực giác đến toàn tri của linh hồn
Chân sư DK nói trực giác chỉ là tiền thân của sự toàn tri vốn đặc trưng cho linh hồn. Thầy MDR lưu ý cần hiểu linh hồn không bị giới hạn trong thể nguyên nhân trên cõi thượng trí; ngay cả khi thể ấy bị phá hủy, linh hồn vẫn tiếp tục hiện hữu. Thầy còn phân biệt nhiều loại “toàn tri” theo từng phạm vi: có toàn tri trên cõi hồng trần vũ trụ, trên cõi cảm dục vũ trụ, trên cõi trí vũ trụ, chứ không nên ngây thơ nói tới toàn tri tuyệt đối một cách mơ hồ.
Sự khiêm tốn trước tri thức cao hơn
Thầy MDR đưa ra một bình luận rất cá nhân rằng thật “khôi hài” khi con người nói quá xa về những hội đồng thiên hà hay tri thức thiên hà trong khi còn chưa kiểm soát nổi thể cảm dục của chính mình. Thầy kêu gọi phải có khiêm tốn trước tầm vóc thật của các cấp độ tri thức. Dù đã được trao nhiều sách sâu sắc, con người mới chỉ có “abc của huyền bí học”.
Từ mặc khải đến Định luật
Chân sư DK mô tả tiến trình: lúc đầu người thấy được một viễn kiến bị xem là mơ tưởng và không đáng tin; khi nhiều người cùng thấy, khả thể của nó được chấp nhận; khi toàn nhân loại có con mắt mở ra, viễn kiến không còn là điều được nhấn mạnh mà trở thành một sự kiện và một Định luật được tuyên bố. Thầy MDR tóm gọn tiến trình này thành “từ viễn kiến đến sự kiện đến Định luật”. Thầy xem toàn bộ phần bàn về tri thức là nói về sự xác minh tri thức, từ tin cậy, khảo nghiệm đến sở hữu thực sự chân lý.
Text webinar 4
[1] 3. Psychic. There are two types of the above force in manifestation as far as the human kingdom is concerned, and these must be clearly grasped. There is the force which animates the subhuman kingdoms in nature, —the ensouling energy [2] which, brought into conjunction with the energy of matter and self, produces all forms. [3] The effect of this junction is to add to the embryo intelligence of substance itself [4] a latent sentiency and responsiveness that produces that subjective something we call the animal soul. [5] This exists in four degrees or states of sentient awareness:
[1] 3. Thông linh. Có hai loại mãnh lực này biểu hiện liên quan đến giới nhân loại, và chúng phải được nắm bắt rõ ràng. Có lực hoạt hóa các giới dưới nhân loại trong tự nhiên, —năng lượng phú linh đó [2] khi được kết hợp với năng lượng của vật chất và của bản ngã tạo ra mọi hình tướng. [3] Hiệu quả của sự kết hợp này là thêm vào trí tuệ phôi thai của bản thân vật chất [4] một sự cảm nhận và phản ứng tiềm ẩn tạo ra cái gì đó bên trong mà chúng ta gọi là linh hồn động vật. [5] Điều này tồn tại ở bốn mức độ hoặc trạng thái của sự nhận thức cảm nhận:
[6] a. The consciousness of the mineral kingdom.
[6] a. Tâm thức của giới khoáng vật.
[7] b. The consciousness of the vegetable kingdom.
[7] b. Tâm thức của giới thực vật.
[8] c. The consciousness of the animal kingdom.
[8] c. Tâm thức của giới động vật.
[9] d. The consciousness of the animal form through which the spiritual man functions, which after all is but a department of the former group in its highest presentation.
[9] d. Tâm thức của hình tướng động vật thông qua đó con người tinh thần hoạt động, điều mà sau hết chỉ là một bộ phận của nhóm trước đó trong sự thể hiện cao nhất của nó.
[10] Secondly, there is that psychic force which is the result of the union of the spirit with sentient matter in the human kingdom and which produces a psychic centre which we call the soul of man. [11] This psychic centre is a force centre, and the force of which it is the custodian or which it demonstrates, brings into play a responsiveness and an awareness which is that of the soul of the planetary life, [12] a group consciousness which brings with it faculties and knowledge of a different order than that in the animal soul. [13] These supersede eventually the powers of the animal soul which limit, distort, and imprison, and give man a range of contacts and a knowledge which is infallible, free from error, and which admits him to “the freedom of the heavens”.
[10] Thứ hai, có một mãnh lực thông linh là kết quả của sự kết hợp giữa tinh thần và vật chất hữu tình trong giới nhân loại, và tạo ra một trung tâm thông linh mà chúng ta gọi là linh hồn của con người. [11] Trung tâm thông linh này là một trung tâm lực, và mãnh lực mà nó nắm giữ hoặc biểu hiện mang lại sự phản ứng và nhận thức thuộc về linh hồn của sự sống hành tinh, [12] một tâm thức nhóm mang lại những khả năng và tri thức khác biệt so với linh hồn động vật. [13] Những khả năng này cuối cùng thay thế các quyền năng của linh hồn động vật, vốn giới hạn, bóp méo và giam cầm, và cho con người một phạm vi tiếp xúc và tri thức không thể sai lầm, không có lỗi lầm, và cho phép con người đạt đến "sự tự do của các cõi trời".
[14] The effect of the free [Page 13] play of the soul of man serves to demonstrate the fallibility and relative uselessness of the powers of the animal soul. [15] All I desire to do here is to show the two senses in which the word “psychic” is used. [16] Later we will deal with the growth and development of the lower psychic nature or the soul of the vehicles in which man functions in the three worlds, and then will seek to elucidate the true nature of the soul of man and of the powers which can be brought into play once a man can contact his own spiritual centre, the soul, and live in that soul consciousness.
[14] Tác động của sự vận hành tự do [Page 13] của linh hồn con người chứng tỏ sự sai lầm và tương đối vô dụng của các quyền năng của linh hồn động vật. [15] Tất cả những gì tôi muốn làm ở đây là chỉ ra hai nghĩa trong đó từ "thông linh" được sử dụng. [16] Sau này chúng ta sẽ xem xét sự phát triển và trưởng thành của bản chất thông linh thấp hoặc linh hồn của các phương tiện trong đó con người hoạt động trong ba giới, và sau đó sẽ cố gắng làm sáng tỏ bản chất thật sự của linh hồn con người và những quyền năng có thể được mang vào hoạt động khi con người có thể tiếp xúc với trung tâm tinh thần của chính mình, là linh hồn, và sống trong tâm thức linh hồn đó.
[17] 4. Unfoldment. The life at the heart of the solar system is producing an evolutionary unfoldment of the energies of that universe which it is not possible for finite man as yet to vision. [18] Similarly the centre of energy which we call the spiritual aspect in man is (through the utilisation of matter or substance) [19] producing an evolutionary development of that which we call the soul, [20] and which is the highest of the form manifestations—the human kingdom. Man is the highest product of existence in the three worlds. [21] By man, I mean the spiritual man, a son of God in incarnation. [22] The forms of all the kingdoms of nature—human, animal, vegetable and mineral—contribute to that manifestation. The energy of the third aspect of divinity tends to the revelation of the soul or the second aspect which in turn reveals the highest aspect. [23] It must ever be remembered that The Secret Doctrine of H. P. Blavatsky expresses this with accuracy in the words
[17] 4. Sự Khai mở. Sự sống tại trung tâm của Thái dương hệ đang tạo ra một quá trình tiến hóa của các năng lượng trong vũ trụ mà con người hữu hạn hiện tại chưa thể hình dung được. [18] Tương tự, trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là khía cạnh tinh thần trong con người (thông qua việc sử dụng chất liệu hoặc vật chất) [19] đang tạo ra một sự phát triển tiến hóa của cái mà chúng ta gọi là linh hồn, [20] và đó là sự biểu hiện cao nhất của hình tướng—giới nhân loại. Con người là sản phẩm cao nhất của sự tồn tại trong ba giới. [21] Khi nói đến con người, tôi muốn nói đến con người tinh thần, một người con của Thượng đế đang hiện thân. [22] Hình tướng của tất cả các giới trong tự nhiên—nhân loại, động vật, thảo mộc và khoáng chất—đều đóng góp vào sự biểu hiện đó. Năng lượng của khía cạnh thứ ba của thiên tính có xu hướng tiết lộ linh hồn hoặc khía cạnh thứ hai, mà khía cạnh này lại tiết lộ khía cạnh cao nhất. [23] Chúng ta phải luôn nhớ rằng Giáo Lý Bí Nhiệm của H.P. Blavatsky diễn tả điều này một cách chính xác với những lời:
[24] “Life we look upon as the one form of existence, [25] manifesting in what is called Matter; or what, incorrectly separating them, we name spirit, soul and matter in man. Matter is the vehicle for the manifestation of soul on this plane of existence, and soul is the vehicle on a higher plane for the manifestation of spirit, and these three are a trinity synthesized by life, [26] [Page 14] which pervades them all.” (The Secret Doctrine. Vol: I. p. 79. 80.)
[24] “Chúng ta nhìn nhận Sự sống như là một dạng tồn tại duy nhất, [25] biểu hiện trong cái gọi là vật chất; hoặc cái mà, khi phân chia chúng không chính xác, chúng ta gọi là tinh thần, linh hồn và vật chất trong con người. Vật chất là phương tiện cho sự biểu hiện của linh hồn trên cõi giới này, và linh hồn là phương tiện trên một cõi giới cao hơn cho sự biểu hiện của tinh thần, và ba điều này là một tam vị nhất thể được hợp nhất bởi sự sống, [26] [Page 14] thấm nhuần tất cả chúng.” (Giáo Lý Bí Nhiệm. Tập I. tr. 79. 80.)
Through the use of matter the soul unfolds and finds its climax in the soul of man, and this treatise will concern itself with the unfoldment of that soul and its discovery by man.
Thông qua việc sử dụng vật chất, linh hồn phát triển và đạt đến đỉnh cao của nó trong linh hồn của con người, và cuốn luận này sẽ quan tâm đến sự phát triển của linh hồn đó và sự khám phá của con người.
[27] 5. Knowledge might be divided into three categories: —
[27] 5. Tri thức có thể được chia thành ba loại:
[28] First, there is theoretical knowledge. This includes all knowledge of which man is aware but which is accepted by him on the statements of other people, [29] and by the specialists in the various branches of knowledge. It is founded on [30] authoritative statements and has in it the element of trust in the writers and speakers, and in the trained intelligences of the workers in any of the many and varied fields of thought. The truths accepted as such [31] have not been formulated or verified by the one who accepts them, lacking as he does the necessary training and equipment. The dicta of science, [32] the theologies of religion, and the findings of the philosophers and thinkers everywhere [33] colour the point of view and meet with a ready acquiescence from the untrained mind, and that is the average mind.
[28] Thứ nhất, tri thức lý thuyết. Điều này bao gồm tất cả các tri thức mà con người nhận biết nhưng chấp nhận dựa trên tuyên bố của người khác [29] và các chuyên gia trong các ngành tri thức khác nhau. Nó được xây dựng trên [30] các tuyên bố có tính thẩm quyền và có yếu tố tin tưởng vào các nhà văn và người diễn thuyết, và vào trí tuệ được đào tạo của những người làm việc trong các lĩnh vực tư duy đa dạng. Những sự thật được chấp nhận như vậy [31] chưa được người chấp nhận chúng hình thành hoặc xác minh, do thiếu sự đào tạo và trang bị cần thiết. Những lời tuyên bố của khoa học, [32] thần học của tôn giáo và những phát hiện của các nhà triết học và tư tưởng ở khắp nơi đều ảnh hưởng [33] đến quan điểm và được sự đồng ý dễ dàng từ tâm trí chưa được đào tạo, và đó là tâm trí trung bình.
Then, secondly, we have discriminative knowledge, which has in it a selective quality [34] and which posits the intelligent appreciation and practical application of the more specifically scientific method, and the utilisation of test, the elimination of that which cannot be proved, [35] and the isolation of those factors which will bear investigation and are in conformity with what is understood as law. [36] The rational, argumentative, scholastic, and concretising mind is brought into play with the result that much that is childish, impossible and unverifiable is rejected and a consequent clarifying of the fields of thought results. [37] This discriminating and scientific process has enabled man to arrive at much truth in relation to the three worlds. [38] The scientific method is, in relation to the [Page 15] mind of humanity, playing the same function as the occult method of meditation (in its first two stages of concentration and prolonged concentration or meditation) plays in relation to the individual. [39] Through it right processes of thought are engendered, non-essentials and incorrect formulations of truth are ultimately eliminated or corrected, and the steady focussing of the attention either upon a seed thought, a scientific problem, a philosophy or a world situation results in an ultimate clarifying and the steady seeping in of right ideas and sound conclusions. [40] The foremost thinkers in any of the great schools of thought are simply exponents of occult meditation and the brilliant discoveries of science, the correct interpretations of nature’s laws, and the formulations of correct conclusions whether in the fields of science, of economics, of philosophy, psychology or elsewhere is but the registering by the mind (and subsequently by the brain) of the eternal verities, and the indication that the race is beginning also to bridge the gap between the objective and the subjective, between the world of form and the world of ideas.
Thứ hai, chúng ta có tri thức phân biện, có tính chất chọn lọc [34] và đòi hỏi sự đánh giá thông minh và ứng dụng thực tiễn của phương pháp khoa học cụ thể hơn, sử dụng kiểm tra, loại bỏ những gì không thể chứng minh được [35] và cô lập những yếu tố có thể chịu đựng được sự điều tra và phù hợp với những gì được hiểu là định luật. [36] Thể trí lý trí, tranh luận, học thuật và cụ thể hóa được đưa vào hoạt động với kết quả là nhiều thứ trẻ con, không khả dĩ và không thể xác minh được bị loại bỏ và dẫn đến sự làm rõ các lĩnh vực tư duy. [37] Quá trình phân biện và khoa học này đã giúp con người đạt được nhiều sự thật liên quan đến ba giới. [38] Phương pháp khoa học, liên quan đến thể trí nhân loại, đóng vai trò giống như phương pháp tham thiền huyền môn (trong hai giai đoạn đầu tiên của sự tập trung và tham thiền kéo dài) đối với cá nhân. [39] Qua đó, các quá trình tư duy đúng đắn được tạo ra, những điều không cần thiết và những hình thành sai lầm của chân lý cuối cùng bị loại bỏ hoặc chỉnh sửa, và sự tập trung chú ý liên tục vào một ý tưởng gốc, một vấn đề khoa học, một triết lý hoặc một tình huống thế giới dẫn đến sự làm rõ cuối cùng và sự thấm dần của các ý tưởng đúng và các kết luận hợp lý. [40] Các nhà tư tưởng hàng đầu trong bất kỳ trường phái tư tưởng lớn nào chỉ đơn giản là những người tiêu biểu của tham thiền huyền môn và những khám phá sáng suốt của khoa học, những diễn giải đúng đắn về các định luật của tự nhiên và các kết luận đúng đắn dù trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, triết học, tâm lý học hay các lĩnh vực khác, chỉ là sự ghi nhận bởi tâm trí (và sau đó là não bộ) của các chân lý vĩnh cửu, và là chỉ dấu rằng nhân loại cũng đang bắt đầu nối liền khoảng cách giữa khách quan và chủ quan, giữa thế giới hình tướng và thế giới ý tưởng.
[41] This leads inevitably to the emergence of the third branch of knowledge, the intuitive. [42] The intuition is in reality only the appreciation by the mind of some factor in creation, some law of manifestation and some aspect of truth, known by the soul, emanating from the world of ideas, and being of the nature of those energies which produce all that is known and seen. [43] These truths are always present, and these laws are ever active, but only as the mind is trained and developed, focussed, [44] and open-minded can they be recognized, later understood, and finally adjusted to the needs and demands of the cycle and time. [45] Those who have thus trained the mind in the art of clear thinking, the focussing of the attention, and consequent receptivity to truth have always been with us, but hitherto have been few and far between. [46] They [Page 16] are the outstanding minds of the ages. But now they are many and increasingly found. [47] The minds of the race are in process of training and many are hovering on the borders of a new knowledge. [48] The intuition which guides all advanced thinkers into the newer fields of learning is but the forerunner of that omniscience which characterises the soul. [49] The truth about all things exists, and we call it omniscience, [50] infallibility, the “correct knowledge” of the Hindu philosophy. [51] When man grasps a fragment of it and absorbs it into the racial consciousness we call it the formulation of a law, a discovery of one or other of nature’s processes. [52] Hitherto this has been a slow and piecemeal undertaking. Later, and before so very long, light will pour in, [53] truth will be revealed and the race will enter upon its heritage—the heritage of the soul.
[41] Điều này dẫn đến sự xuất hiện tất yếu của nhánh tri thức thứ ba, đó là trực giác. [42] Trực giác thực chất chỉ là sự nhận thức của thể trí về một yếu tố nào đó trong sự sáng tạo, một định luật nào đó của sự biểu hiện và một khía cạnh nào đó của sự thật, được linh hồn biết đến, xuất phát từ thế giới ý tưởng và có bản chất là những năng lượng tạo ra tất cả những gì được biết và nhìn thấy. [43] Những sự thật này luôn hiện hữu, và những định luật này luôn hoạt động, nhưng chỉ khi thể trí được rèn luyện và phát triển, tập trung và rộng mở ra [44] thì chúng mới có thể được nhận biết, sau đó hiểu rõ và cuối cùng điều chỉnh theo nhu cầu và đòi hỏi của chu kỳ và thời gian. [45] Những người đã rèn luyện thể trí theo nghệ thuật tư duy rõ ràng, tập trung sự chú ý và kết quả là sự tiếp nhận chân lý đã luôn tồn tại, nhưng trước đây họ rất ít và hiếm hoi. Họ là những trí tuệ xuất sắc của các thời đại [Page 16]. [46] Nhưng bây giờ họ đã nhiều hơn và ngày càng được tìm thấy. [47] Thể trí của nhân loại đang trong quá trình được rèn luyện và nhiều người đang chạm đến ngưỡng của một tri thức mới. [48] Trực giác hướng dẫn tất cả các nhà tư tưởng tiên tiến vào những lĩnh vực học tập mới hơn chỉ là tiền thân của sự toàn tri mà linh hồn đặc trưng. [49] Sự thật về tất cả mọi thứ tồn tại, và chúng ta gọi đó là toàn tri, [50] không thể sai lầm, "chân tri thức" của triết lý Hindu. [51] Khi con người nắm bắt được một mảnh nhỏ của nó và hấp thụ nó vào nhận thức con người, chúng ta gọi đó là sự hình thành của một định luật, một khám phá về một trong những quy trình của tự nhiên. [52] Trước đây, đây là một công việc chậm chạp và từng mảnh nhỏ. Sau này, và không lâu nữa, ánh sáng sẽ tràn vào, [53] chân lý sẽ được tiết lộ và nhân loại sẽ bước vào di sản của mình—di sản của linh hồn.
[54] In some of our considerations, speculation must perforce enter in. [55] Those who see a vision that is withheld from those lacking the necessary equipment for its apprehension are regarded as fanciful, and unreliable. [56] When many see the vision, its possibility is admitted, but when humanity itself has the awakened and open eye, the vision is no longer emphasised but a fact is stated and a law enunciated. [57] Such has been the history of the past and such will be the process in the future.
[54] Trong một số suy xét của chúng ta, sự suy đoán bắt buộc phải tham gia. [55] Những người nhìn thấy một tầm nhìn mà những người khác không thấy do thiếu trang bị cần thiết để nắm bắt nó được coi là tưởng tượng và không đáng tin cậy. [56] Khi nhiều người nhìn thấy tầm nhìn đó, khả năng của nó được thừa nhận, nhưng khi toàn thể nhân loại đã có con mắt mở ra và thức tỉnh, tầm nhìn không còn được nhấn mạnh nữa mà một sự thật được tuyên bố và một định luật được ban hành. [57] Đó đã là lịch sử của quá khứ và sẽ là quá trình trong tương lai.
Commentary 4
Hi everybody. This is the beginning of A Treatise on White Magic webinar commentaries number 4 and we’re on page 12.
Chào mọi người. Đây là phần đầu của loạt hội thảo trực tuyến bình luận về Luận Về Chánh Thuật số 4 và chúng ta đang ở trang 12.
We’ve just been dealing with the definition of terms. The terms have been defined so far are occult, which are the hidden energies that are causative and which lie behind the effects, the archetypes behind the arrangements in the mosaic world, the causative energies which produce effects, the world of being in relation to the world of becoming. I think that’s one way to look at it.
Chúng ta vừa tìm hiểu về định nghĩa các thuật ngữ. Các thuật ngữ đã được định nghĩa cho đến nay là huyền bí (occult), là các năng lượng ẩn giấu mang tính nguyên nhân và nằm sau các hiệu ứng, các nguyên mẫu đằng sau những sắp xếp trong thế giới khảm, các năng lượng nguyên nhân tạo ra các hiệu ứng, thế giới của sự tồn tại trong mối quan hệ với thế giới của sự hình thành. Tôi nghĩ đó là một cách để nhìn nhận vấn đề.
Then the question of the word law which has to do with the carrying forth of the will of a superior being and it cannot be countermanded. It is absolute within the system, it cannot be violated. It’s absolute within the system that it control. It's not like a rule which you can follow or not. It has rather to do with a type of order, a type of boundaries which must be respected. They cannot be somehow circumvented within the system to which the law applies.
Sau đó, câu hỏi về từ Định Luật (Law) liên quan đến việc thực thi ý chí của một đấng tối cao và không thể bị phản đối. Nó là tuyệt đối trong hệ thống, nó không thể bị vi phạm. Nó là tuyệt đối trong hệ thống mà nó kiểm soát. Nó không giống như một quy luật mà bạn có thể tuân theo hay không. Nó liên quan đến một loại trật tự, một loại ranh giới phải được tôn trọng. Chúng không thể bị phá vỡ trong hệ thống mà định luật áp dụng.
Then we come down to this word psychic, and this word psychic has to do with the animal soul and with the human soul. The true psyche is the soul but there are lesser degrees of this type of sentiency, as He says here:
Sau đó, chúng ta đi đến từ thông linh (psychic), và từ này liên quan đến linh hồn động vật và linh hồn con người. Chân linh (psyche) đích thực là linh hồn nhưng có những mức độ thấp hơn của loại tình cảm này, như Ngài nói ở đây:
[1] There are two types of the above force in manifestation as far as the human kingdom is concerned, and these must be clearly grasped. There is the force which animates the subhuman kingdoms in nature. – the ensouling energy which, brought into conjunction with the energy of matter
[1] 3. Thông linh. Có hai loại mãnh lực này biểu hiện liên quan đến giới nhân loại, và chúng phải được nắm bắt rõ ràng. Có lực hoạt hóa các giới dưới nhân loại trong tự nhiên, —năng lượng phú linh đó
– that is, Inherited from the previous solar system –
nghĩa là, được kế thừa từ hệ mặt trời trước đó—
[2] which, brought into conjunction with the energy of matter and self, produces all forms.
[2] khi được kết hợp với năng lượng của vật chất và của bản ngã tạo ra mọi hình tướng.
So, we have self, psyche and matter in the production of form, and psyche is the sensitive nature.
Vì vậy, chúng ta có bản ngã, linh hồn và vật chất trong việc tạo ra hình tướng, và linh hồn là yếu tố nhạy cảm.
[3] The effect of this junction is to add to the embryo intelligence of substance itself –
[3] Hiệu quả của sự kết hợp này là thêm vào trí tuệ phôi thai của bản thân vật chất
Inherited from the past
được thừa hưởng từ quá khứ
[4] a latent sentiency and responsiveness that produces that subjective something we call the animal soul.
[4] một sự cảm nhận và phản ứng tiềm ẩn tạo ra cái gì đó bên trong mà chúng ta gọi là linh hồn động vật.
And this seems to be applied to the animating soul in its non-self-conscious state of development.
Và điều này dường như được áp dụng cho linh hồn sinh động trong trạng thái phát triển chưa tự ý thức của nó.
[5] This exists in four degrees or states of sentient awareness:
[5] Điều này tồn tại ở bốn mức độ hoặc trạng thái của sự nhận thức cảm nhận:
So, there is the various kingdoms of nature and the degree of their sentiency. Note that sentiency or consciousness is even found in the mineral kingdom:
Vì vậy, có các giới trong thiên nhiên và mức độ của cảm giác khác nhau của chúng. Lưu ý rằng cảm giác hoặc tâm thức thậm chí được tìm thấy trong giới khoáng vật:
We are pretty much as human beings an animal plus a god. The indwelling higher soul or really the indwelling Monad or unit of spirit or presentation or externalization of spirit, emanation of spirit. So this is the animal soul and it has to do with sentiency, but a kind of sentiency which is not yet self-conscious.
Chúng ta, một con người, hầu như vừa là động vật vừa là một vị thần. Linh hồn cao cấp nội tại hoặc thực sự là Chân Thần nội tại, hoặc đơn vị tinh thần, hoặc sự thể hiện hoặc sự ngoại hiện của tinh thần, sự xuất lộ (emanation) của tinh thần. Vì vậy, đây là linh hồn động vật và nó liên quan đến cảm giác, nhưng là một loại cảm giác chưa tự ý thức.
[6] a. The consciousness of the mineral kingdom.
[6] a. Tâm thức của giới khoáng vật.
[7] b. The consciousness of the vegetable kingdom.
[7] b. Tâm thức của giới thực vật.
[8] c. The consciousness of the animal kingdom.
[8] c. Tâm thức của giới động vật.
Through this type of soul, we have risen, we the immersed monad, passing through the stages of involution and anchoring ourselves in the mineral kingdom, or at least anchoring the extension of ourselves in the mineral kingdom, have risen through the vegetable, the animal kingdom. Even now we have that type of sentiency in our vehicles which is the same type of sentiency found in the animal kingdom altogether. We do have, after all, an animal nature.
Thông qua loại linh hồn này, chúng ta đã vươn lên. Chúng ta là chân thần chìm đắm, trải qua các giai đoạn của sự đi xuống và neo mình vào giới khoáng chất, hoặc ít nhất là neo phần mở rộng của mình vào giới khoáng chất, đã vươn lên qua giới thảo mộc, giới động vật. Ngay cả bây giờ, chúng ta có loại cảm giác này trong các thể của mình, đó là loại cảm giác được tìm thấy trong toàn bộ giới động vật. Rốt cuộc, chúng ta có một bản chất động vật.
[9] d. The consciousness of the animal form through which the spiritual man functions, which after all is but a department of the former group in its highest presentation.
[9] d. Tâm thức của hình tướng động vật thông qua đó con người tinh thần hoạt động, điều mà sau hết chỉ là một bộ phận của nhóm trước đó trong sự thể hiện cao nhất của nó.
So we human beings, let’s just say in our form nature, we have a high presentation of animal soul that is not yet self-conscious. Alright, so that’s the animal soul that exists in four degrees or states of sentient awareness.
Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng, chúng ta như những con người, trong bản chất hình tướng của chúng ta, chúng ta có một sự hiện diện cao cấp của linh hồn động vật chưa tự ý thức. Vâng, đó là linh hồn động vật tồn tại ở bốn cấp độ hoặc trạng thái của sự nhận thức cảm giác.
[10] Secondly, there is that psychic force which is the result of the union of the spirit with sentient matter in the human kingdom and which produces a psychic centre which we call the soul of man
[10] Thứ hai, có một mãnh lực thông linh là kết quả của sự kết hợp giữa tinh thần và vật chất hữu tình trong giới nhân loại, và tạo ra một trung tâm thông linh mà chúng ta gọi là linh hồn của con người.
Now this is a self-consciousness center, this type of soul is higher than the animal soul, which is sentient but not self-consciousness.
Đây là một trung tâm tự ý thức, loại linh hồn này cao hơn linh hồn động vật vốn nhạy cảm nhưng không tự ý thức.
[11] This psychic centre is a force centre,
[11] Trung tâm thông linh này là một trung tâm lực, và mãnh lực mà nó nắm giữ hoặc biểu hiện mang lại sự phản ứng và nhận thức thuộc về linh hồn của sự sống hành tinh,
In a way, it’s considered to be the heart center of the monad. Heart always has about it that quality of feeling or sentiency.
Theo một cách nào đó, nó được coi là trung tâm trái tim của Chân Thần. Trái tim luôn mang trong mình phẩm chất của cảm xúc hay sự nhạy cảm.
This psychic centre is a force centre, and the force of which it is the custodian or which it demonstrates, brings into play a responsiveness and an awareness which is that of the soul of the planetary life,
Trung tâm thông linh này là một trung tâm mãnh lực, và mãnh lực mà nó lưu giữ hoặc thể hiện mang đến khả năng đáp ứng và nhận thức thuộc về linh hồn của sự sống hành tinh.
Eventually, we’re told, soul is group conscious and the more we send towards the state of soul and bring a state of soul into our mind, the more group conscious we become. continuing
Cuối cùng, như chúng ta được biết, linh hồn có tâm thức nhóm và chúng ta càng tiến đến trạng thái linh hồn và đưa trạng thái linh hồn vào tâm trí mình, chúng ta càng trở nên có tâm thức nhóm.
[12] a group consciousness which brings with it faculties and knowledge of a different order than that in the animal soul.
[12] một tâm thức nhóm mang lại những khả năng và tri thức khác biệt so với linh hồn động vật.
So, let us call it the human soul or later, the soul on its own plane.
Vì vậy, chúng ta hãy gọi nó là linh hồn con người, hoặc sau này là linh hồn trên cõi giới của chính nó.
[13] These supersede eventually the powers of the animal soul which limit, distort, and imprison and give man a range of contacts and a knowledge which is infallible, free from error and which admits him to “the freedom of the heavens”.
[13] Những khả năng này cuối cùng thay thế các quyền năng của linh hồn động vật, vốn giới hạn, bóp méo và giam cầm, và cho con người một phạm vi tiếp xúc và tri thức không thể sai lầm, không có lỗi lầm, và cho phép con người đạt đến "sự tự do của các cõi trời".
The heavens are really beginning on the third subplane of the mental plane so, basically here we have a picture of this:
Các tầng trời thực sự bắt đầu ở cõi phụ thứ ba của cõi trí... vì vậy, về cơ bản ở đây chúng ta có một bức tranh về điều này:
Increasing freedom begins here above the dotted line and which we are trying to polarize our consciousness within these higher areas. And when we can do that we can truly meditate, the Tibetan tells us.
Sự tự do gia tăng bắt đầu từ đây, trên đường chấm chấm, và đó là nơi chúng ta đang cố gắng phân cực tâm thức của mình trong những lĩnh vực cao hơn này. Và khi chúng ta có thể làm được điều đó, chúng ta mới có thể thực sự tham thiền, Chân Sư DK đã nói với chúng ta như thế.
“the freedom of the heavens”.
"sự tự do trên các tầng trời."
These supersede eventually the powers of the animal soul.
Những điều này cuối cùng sẽ thay thế các năng lực của linh hồn động vật.
These psychic powers are there and they are collected and they are discussed here in this composite diagram:
Những năng lực thông linh này ở đây, chúng đã được thu thập và được thảo luận ở đây trong sơ đồ tổng hợp này:
See, all of these: clairaudience, psychometry, clairvoyance, these are attributes or qualities of the animal soul. Even this higher type of clairaudience and clairvoyance and psychometry still pertain to the animal soul. But of course after the third degree, we’re told to become as possible to use these lower psychic capacities in the right way. Otherwise, we can be swept by them, swept away by them and they can delude us, unfortunately.
Bạn thấy đấy, tất cả những quyền năng này: thông nhĩ, thông nhãn, thuật trắc tâm, đây là những thuộc tính hoặc phẩm chất của linh hồn động vật. Ngay cả loại thông nhĩ, thông nhãn và thuật trắc tâm cao hơn này [thuộc cõi hạ trí] vẫn thuộc về linh hồn động vật. Nhưng tất nhiên là sau khi đạt cấp điểm đạo thứ ba, chúng ta được dạy để có thể sử dụng các năng lực thông linh thấp hơn này một cách đúng đắn, bằng không, chúng ta có thể bị cuốn theo chúng, bị chúng đánh lừa, và điều đó thật không may.
So, what we do have here? The idea that if our consciousness remains subject only to the animal soul that would be: limitation, distortion, imprisonment, a generally deluded state characterized by glamour and delusion and we would not have the freedom of the heavens, which I think really begins for us to be aspired to it before the third degree but it begins at the third degree.
Vậy, chúng ta có gì ở đây? Đó là ý tưởng rằng nếu tâm thức của chúng ta chỉ chịu sự chi phối của linh hồn động vật thì đó sẽ là sự giới hạn, méo mó, giam cầm, trạng thái mê mờ nói chung được đặc trưng bởi ảo cảm và ảo tưởng. Chúng ta sẽ không có “sự tự do của các tầng trời”, mà tôi nghĩ thực sự bắt đầu để chúng ta khao khát nó trước lần điểm đạo thứ ba, nhưng nó bắt đầu ở cấp điểm đạo thứ ba.
[14] The effect of the free [Page 13] play of the soul of man serves to demonstrate the fallibility and relative uselessness of the powers of the animal soul.
[14] Tác động của sự vận hành tự do [Page 13] của linh hồn con người chứng tỏ sự sai lầm và tương đối vô dụng của các quyền năng của linh hồn động vật.
Now many psychics are deluded by the powers of the animal soul and they somehow are convinced of its value. But relatively speaking, it is not of value. However, what we do discover in this process is that there’s a certain type of psychism in the animal kingdom, and because it has not been the focus of man for many, many thousands and even millions of years, when we rediscover it, we think it’s something new but it isn’t. It is something very, very old that only seems new because we are no longer accustomed to it. We don’t want to be trapped in it; our proper place of development is the mind in this Aryan Age and then at the third degree, the recovery, if necessary, of the lower psychic powers and the building in of the conscious use of the higher psychic powers. So
Ngày nay, nhiều nhà ngoại cảm bị mê hoặc bởi sức mạnh của linh hồn động vật và bằng cách nào đó họ tin vào giá trị của nó. Nói một cách tương đối, nó không có giá trị. Tuy nhiên, điều chúng ta khám phá ra trong quá trình này là có một loại thông linh nhất định trong giới động vật, và bởi vì nó không phải là trọng tâm của con người trong rất nhiều nghìn năm, và thậm chí hàng triệu năm, khi chúng ta khám phá lại nó, chúng ta nghĩ nó là một cái gì đó mới nhưng thực tế không phải vậy. Nó là một thứ gì đó rất cũ mà chỉ có vẻ mới vì chúng ta không còn quen với nó nữa. Chúng ta không muốn bị mắc kẹt trong đó. Vị trí phát triển thích hợp của chúng ta là trí tuệ trong Thời Đại Aryan này, và sau đó ở cấp điểm đạo thứ ba, nếu cần thiết, là khôi phục các năng lực thông linh thấp hơn và xây dựng việc sử dụng có ý thức các năng lực thông linh cao hơn. Do đó,
the fallibility –
sự sai lầm –
That’s interesting –
Thật thú vị—
the fallibility and relative uselessness of the powers of the animal soul.
sự sai lầm và tính tương đối vô dụng của các năng lực của linh hồn động vật.
So many psychic seem to think that, because their impressions are, what shall we say – impressive? – that they are definitely true. But we are swept into a delusion thereby and we can cover up the true influence of the soul, unfortunately.
Nhiều nhà thông linh dường như nghĩ rằng, bởi vì những ấn tượng của họ—tôi phải nói là gì nhỉ, ấn tượng? —chắc chắn là đúng. Nhưng chúng ta bị cuốn vào ảo tưởng, và không may là chúng ta có thể che khuất đi ảnh hưởng thực sự của linh hồn.
[15] All I desire to do here is to show the two senses in which the word “psychic” is used.
[15] Tất cả những gì tôi muốn làm ở đây là chỉ ra hai nghĩa trong đó từ "thông linh" được sử dụng.
Animal soul and human soul, or animal soul and the soul that will eventually have omniscience, it’s the true knower. The true soul is the true Knower or Thinker on a higher plane than the lower mind, and certainly than the astral body.
Hai nghĩa đó là linh hồn động vật và linh hồn con người, hoặc linh hồn động vật và linh hồn cuối cùng sẽ có toàn tri, đó là Đấng Chân Tri Giả. Linh hồn đích thực là Chân Tri Giả hay Người Suy Tưởng trên một cõi cao hơn cõi hạ trí, và chắc chắn là cao hơn thể cảm dục.
[16] Later we will deal with the growth and development of the lower psychic nature or the soul of the vehicles
[16] Sau này chúng ta sẽ xem xét sự phát triển và trưởng thành của bản chất thông linh thấp hoặc linh hồn của các phương tiện trong đó con người hoạt động trong ba giới, và sau đó sẽ cố gắng làm sáng tỏ bản chất thật sự của linh hồn con người và những quyền năng có thể được mang vào hoạt động khi con người có thể tiếp xúc với trung tâm tinh thần của chính mình, là linh hồn, và sống trong tâm thức linh hồn đó.
(the lower psychic nature is)
Bản chất thông linh thấp là
the soul of the vehicles
linh hồn của các thể
This has to be emphasized. It’s the sentiency of the vehicles and it can be useful, but only when we are working from a higher vantage point.
Điều này cần được nhấn mạnh. Đó là sự nhạy cảm của các thể, và nó có thể hữu ích, nhưng chỉ khi chúng ta làm việc từ một điểm thuận lợi cao hơn.
Later we will deal with the growth and development of the lower psychic nature or the soul of the vehicles in which man functions in the three worlds, and then will seek to elucidate the true nature of the soul of man and of the powers which can be brought into play once a man can contact his own spiritual centre, the soul, and live in that soul consciousness.
Sau này chúng ta sẽ bàn về sự tăng trưởng và phát triển của bản chất thông linh thấp hơn hoặc linh hồn của các thể mà con người vận hành trong ba cõi giới, và sau đó sẽ tìm cách làm sáng tỏ bản chất thực sự của linh hồn con người và các năng lực có thể được đưa vào hoạt động một khi con người có thể tiếp xúc với trung tâm tinh thần của chính mình, linh hồn, và sống trong tâm thức linh hồn đó.
So, higher soul powers will then be understood and utilized and we begin with the spiritual discernment in response to group vibration and spiritual telepathy and then we go on to the buddhic powers, the lower five of them and the atmic powers, the lower five of them and so forth. Eventually, the powers of the monad will come into focus and we shall be very well equipped indeed to understand and contribute usefully with the development of all interactions on the cosmic physical plane.
Khi đó, các năng lực cao hơn của linh hồn sẽ được hiểu và sử dụng, và chúng ta bắt đầu với sự phân biện tinh thần để đáp ứng với rung động nhóm và viễn cảm tinh thần, sau đó chúng ta tiếp tục với các năm năng lực thấp của năng lực bồ đề, và năm năng lực thấp của năng lực Atma v.v. Cuối cùng, các năng lực của Chân Thần sẽ được tập trung vào, và chúng ta sẽ được trang bị rất tốt để hiểu và đóng góp hữu ích cho sự phát triển của tất cả các tương tác trên cõi vật lý vũ trụ.
Here's another term that he wants us to understand and determine, it’s unfoldment. He said it’s a very good term like as a flower may unfold so does consciousness and you can envision the unfolding of the petals. They are rather closed-in upon themselves, but they open to the light of the sun or to the sun of buddhi, we might say to the higher wisdom, and all of the egoic lotus becomes eventually irradiated by buddhi, which turns out to be a kind of a destructive force and demands of liberation from the temple of the causal body.
Đây là một thuật ngữ khác mà Ngài muốn chúng ta hiểu và xác định, đó là sự khai mở (unfoldment). Ngài nói đó là một thuật ngữ rất hay... Nó giống như một bông hoa có thể nở ra, tâm thức cũng vậy, và bạn có thể hình dung sự khai mở của những cánh hoa. Chúng khá khép kín vào chính mình, nhưng chúng mở ra đón ánh sáng mặt trời hoặc đón ánh sáng của bồ đề. Chúng ta có thể nói đó là sự đón nhận thượng trí, và toàn bộ Hoa Sen Chân Ngã cuối cùng được bồ đề soi sáng, và bồ đề hóa ra lại là một loại mãnh lực hủy diệt và đòi hỏi sự giải thoát khỏi ngôi đền của nhân thể.
[17] 4. Unfoldment. The life at the heart of the solar system is producing an evolutionary unfoldment of the energies of that universe which it is not possible for finite man as yet to vision.
[17] 4. Sự Khai mở. Sự sống tại trung tâm của Thái dương hệ đang tạo ra một quá trình tiến hóa của các năng lượng trong vũ trụ mà con người hữu hạn hiện tại chưa thể hình dung được.
maybe the entire universe is unfolding, it’s difficult to understand sometimes what DK means by the word ‘universe’. Sometimes He means even a limited solar system, but maybe were talking about an island universe that is a galaxy, which is also unfolding or some lesser structure which is much greater than our solar system but is still less than the galaxy. Anyway, let's try to be aware. The entire universe is in a way unfolding according to a great universal purpose, but we’ll try to understand that the term has a certain fluidity and we have to see the context in which it is used.
Có thể toàn bộ vũ trụ đang khai mở. Đôi khi chúng ta khó hiểu ý của Chân Sư DK khi Ngài dùng từ 'vũ trụ'. Đôi khi Ngài muốn nói đến một hệ mặt trời giới hạn, nhưng có thể Ngài đang nói về một đảo vũ trụ, tức là một thiên hà, cũng đang khai mở, hoặc một cấu trúc nhỏ hơn thiên hà nhưng lớn hơn nhiều so với hệ mặt trời của chúng ta. Dù sao đi nữa, chúng ta hãy cố gắng nhận thức. Toàn bộ vũ trụ đang khai mở theo một mục đích phổ quát vĩ đại, và chúng ta sẽ hiểu rằng thuật ngữ này có một độ linh hoạt nhất định và chúng ta phải xem xét ngữ cảnh mà nó được sử dụng.
I guess it’s not possible for us to understand the grand entirety of the complete universe of all galaxies and starry systems, not at all possible. We can't even really understand the unfoldment of our particular galaxy which we, by the law of analogy at least, know isn't ensouled by a stupendous life that is just a tiny life compared to that which ensoules the entirety of the universe.
Tôi đoán là chúng ta không thể hiểu được toàn bộ sự vĩ đại của toàn bộ vũ trụ với tất cả các thiên hà và hệ thống các chòm sao, hoàn toàn không thể. Chúng ta thậm chí không thể thực sự hiểu được sự khai mở của thiên hà cụ thể của chúng ta, mà theo luật tương đồng, chúng ta biết rằng nó không được phú linh bởi một sự sống kỳ vĩ, mà chỉ là một sự sống nhỏ bé so với sự sống phú linh hóa toàn bộ vũ trụ.
To get a true scale of the way things relate to each other and what is big and what is small, it takes a great sensitivity or consciousness which we’re trying to cultivate and are slowly on our way. We’re told the solar system is producing an evolutionary unfoldment of itself as a tiny universe and that's contributing to the unfoldment of a Cosmic Logos, a greater universe and contributing to the unfoldment of a super-Cosmic Logos which we sometimes call The One About Whom Not May Be Said, which is contributing to the unfoldment of a sub-parabrahmic Logos. If I were to try to find a diagram of that I would say, this is ourThis is the sub-parabrahmic Logos:
Để có được một tỷ lệ thực sự về cách mọi thứ liên quan với nhau, cái gì lớn cái gì nhỏ, cần có một sự nhạy cảm hoặc tâm thức vĩ đại mà chúng ta đang cố gắng trau dồi và đang dần dần đạt được. Chúng ta được biết hệ mặt trời đang tạo ra một sự khai mở tiến hóa của chính nó như một vũ trụ nhỏ bé và điều đó góp phần vào sự khai mở của một Thượng Đế Vũ Trụ, một vũ trụ vĩ đại hơn và góp phần vào sự khai mở của một Thượng Đế Siêu Vũ Trụ mà đôi khi chúng ta gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị, góp phần vào sự khai mở của một Thượng Đế Dưới Tối Cao (sub-parabrahmic Logos). Nếu tôi cố gắng tìm một sơ đồ về điều đó, tôi sẽ nói rằng, đây là... Đây là Thượng Đế Dưới Tối Cao: