OLD DIARY LEAVES
First Series
(1874-78)
by Henry Steel Olcott
MỤC LỤC
MỤC LỤC3
CHAPTER I—CHƯƠNG I11
FIRST MEETING OF THE FOUNDERS—LẦN GẶP ĐẦU TIÊN CỦA HAI VỊ SÁNG LẬP11
CHAPTER II—CHƯƠNG II30
MADAME BLAVATSKY IN AMERICA—BÀ BLAVATSKY Ở MỸ30
CHAPTER III—CHƯƠNG III41
PHILADELPHIA PHENOMENA—HIỆN TƯỢNG TẠI PHILADELPHIA41
CHAPTER IV—CHƯƠNG IV50
MADAME BLAVATSKY’S SECOND MARRIAGE—CUỘC HÔN NHÂN THỨ HAI CỦA BÀ BLAVATSKY50
CHAPTER V—CHƯƠNG V61
SPIRITUALISM—THẦN LINH HỌC61
CHAPTER VI—CHƯƠNG VI73
ORIENTAL DISAPPROBATION—SỰ CHÊ TRÁCH CỦA PHƯƠNG ĐÔNG73
CHAPTER VII—CHƯƠNG VII88
DR. SLADE—BÁC SĨ SLADE88
CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII97
THEOSOPHICAL SOCIETY PROPOSED—ĐỀ XƯỚNG HỘI THÔNG THIÊN HỌC97
CHAPTER IX—CHƯƠNG IX108
FORMATION OF THE THEOSOPHICAL SOCIETY—THÀNH LẬP HỘI THÔNG THIÊN HỌC108
CHAPTER X—CHƯƠNG X128
BARON DE PALM—BARON DE PALM128
CHAPTER XI—CHƯƠNG XI144
THE FIRST CREMATION IN AMERICA—LỄ HỎA TÁNG ĐẦU TIÊN Ở MỸ144
CHAPTER XII—CHƯƠNG XII158
PUTATIVE AUTHOR OF “ART MAGIC”—TÁC GIẢ ĐƯỢC CHO LÀ CỦA “ART MAGIC”158
CHAPTER XIII—CHƯƠNG XIII172
ISIS UNVEILED—ISIS UNVEILED172
CHAPTER XIV—CHAPTER XIV186
DIFFERENT HYPOTHESES—CÁC GIẢ THUYẾT KHÁC NHAU186
CHAPTER XV—CHAPTER XV199
APPARENT POSSESSION BY FOREIGN ENTITIES—HIỆN TƯỢNG BỊ CHIẾM NGỰ BỞI CÁC THỰC THỂ NGOẠI LAI199
CHAPTER XVI—CHAPTER XVI215
DEFINITION OF TERMS—DEFINITION OF TERMS215
CHAPTER XVII—CHAPTER XVII231
REINCARNATION—TÁI SINH231
CHAPTER XVIII247
EARLY DAYS OF THE SOCIETY—THUỞ BAN ĐẦU CỦA HỘI247
CHAPTER XIX252
CHƯƠNG XIX252
CONFLICTING VIEWS252
NHỮNG QUAN ĐIỂM TRÁI NGƯỢC252
CHAPTER XX265
CHƯƠNG XX265
CONFLICTING VIEWS (Continued)265
NHỮNG QUAN ĐIỂM MÂU THUẪN (Tiếp)265
CHAPTER XXI273
CHƯƠNG XXI273
NEW YORK HEADQUARTERS273
TRỤ SỞ NEW YORK273
CHAPTER XXII284
CHƯƠNG XXII284
VARIOUS PHENOMENA DESCRIBED284
CÁC HIỆN TƯỢNG ĐƯỢC MÔ TẢ284
CHAPTER XXIII298
CHƯƠNG XXIII298
PRECIPITATION OF PICTURES298
NGƯNG TỤ TRANH ẢNH298
CHAPTER XXIV313
CHƯƠNG XXIV313
PROJECTION OF THE DOUBLE313
PHÓNG CHIẾU SONG TRÙNG313
CHAPTER XXV329
CHƯƠNG XXV329
SWAMI DAYÂNAND329
SWAMI DAYÂNAND329
CHAPTER XXVI340
CHƯƠNG XXVI340
MME. BLAVATSKY AT HOME340
BÀ BLAVATSKY Ở NHÀ340
CHAPTER XXVII357
CHƯƠNG XXVII357
ILLUSIONS357
ẢO TƯỞNG357
CHAPTER XXVIII375
CHƯƠNG XXVIII375
CHARACTER SKETCH OF MME. BLAVATSKY375
PHÁC HỌA TÍNH CÁCH BÀ BLAVATSKY375
CHAPTER XXIX389
CHƯƠNG XXIX389
MADAM BLAVATSKY BECOMES AN AMERICAN CITIZEN.389
BÀ BLAVATSKY TRỞ THÀNH CÔNG DÂN MỸ.389
THÀNH LẬP HỘI THÔNG THIÊN HỌC ANH QUỐC.389
LAST DAYS IN NEW YORK389
NHỮNG NGÀY CUỐI Ở NEW YORK389
FOREWORD
IN the history of public bodies, the chapter which relates the origin and vicissitudes of the Theosophical Society should be unique. Whether viewed from the friendly or the unfriendly standpoint, it is equally strange that such a body should have come into existence when it did, and that it has not only been able to withstand the shocks it has had, but actually to have grown stronger proportionately with the bitter unfairness of its adversaries. One class of critics say that this fact strikingly proves a recrudescence of human credulity, and a religious unrest which is preliminary to a final subsidence upon Western conservative lines. The other see in the progress of the movement the sign of a world-wide acceptance of Eastern philosophical ideas, which must work for the reinvigoration and incalculable broadening of the spiritual sympathies of mankind. The patent, the undeniable fact is, that up to the close of the year 1894, as the result of but nineteen years of activity, charters had been granted for 394 branches of the Society, in almost all parts of the habitable globe; and that those issued in that latest year out-numbered the yearly average since the foundation, in 1875, by 29.9 per cent. Statistically viewed, the relentless and unfair attack which the Society for Psychical Research and the Scottish Missionaries delivered against it in 1884, and which it was hoped would destroy it, merely resulted in very largely augmenting its prosperity and usefulness. The latest assault—that through the Westminster Gazette—must inevitably have the same ending. The simple reason is that, however thoroughly the private faults and shortcomings of its individual leaders may be exposed, the excellence of the Society’s ideas is not impugned in the least. To kill the Theosophical Society, it is first necessary to prove its declared objects hostile to the public welfare, the teachings of its spokesmen pernicious and demoralising. It being impossible to do either the one or the other, the world takes the Society as a great fact, a distinct individuality, which is neither to be condemned nor applauded because of the merit or demerit of its representative personalities. This truth begins to force itself upon outsiders. One of the ablest among contemporary journalists, Mr. W. T. Stead, said in Borderland, in the course of a digest of these “Old Diary Leaves” as they originally appeared in the heosophist, that nobody now cares whether the Coulomb and S.P.R. charges of trickery against Madame Blavatsky were true or false; her worst enemies being unable to deny her the credit of having affected modern philosophical thought to an extraordinary degree by popularising certain noble Eastern ideas. The same holds with respect to her many colleagues, who, like herself, have spread these ancient teachings through the medium of the Theosophical Society. This wonderful organisation, which grew out of a commonplace parlour gathering in a New York house, in the year 1875, has already made for itself such a record that it must be included in any veracious history of our times Its development having gone on by virtue of an inherent force; rather than as the result of astute foresight and management; and having been so closely—for some years almost exclusively, connected with the personal efforts of its two founders, Madame Blavatsky and myself, it will perhaps help the future historian if the survivor sets down truthfully and succinctly the necessary facts. The series of chapters which now compose this book was begun nearly three years ago in the Theosophist magazine, and a second series, devoted to the history of the Society after the transfer to India, is now in progress. The controlling impulse to prepare these papers was a desire to combat a growing tendency within the Society to deify Mme. Blavatsky, and to give her commonest literary productions a quasi-inspirational character. Her transparent faults were being blindly ignored, and the pinchbeck screen of pretended authority drawn between her actions and legitimate criticism. Those who had least of her actual confidence, and hence knew least of her private character, were the greatest offenders in this direction.
Trong lịch sử các đoàn thể công cộng, chương sách thuật về nguồn gốc và những thăng trầm của Hội Thông Thiên Học hẳn phải là một trường hợp độc nhất. Dù nhìn từ thiện ý hay ác ý, điều lạ lùng ngang nhau là một đoàn thể như thế lại đã ra đời vào đúng thời điểm ấy, và không những đã có thể chống chọi được những chấn động mà Hội phải gánh chịu, mà còn thực sự lớn mạnh tỷ lệ thuận với mức cay nghiệt bất công của các đối thủ. Một hạng phê bình gia bảo rằng thực trạng này là bằng chứng nổi bật cho sự tái phát của tính cả tin ở con người và của nỗi bất an tôn giáo, vốn chỉ là bước dạo đầu trước khi cuối cùng sẽ lắng xuống theo những đường lối bảo thủ của phương Tây. Hạng kia lại thấy trong đà tiến của phong trào một dấu chỉ về sự chấp nhận mang tầm thế giới các ý niệm triết học phương Đông, những ý niệm ắt sẽ phục hồi sinh khí và mở rộng vô lượng vô biên mối cảm thông tinh thần của nhân loại. Sự kiện hiển nhiên, không thể chối cãi là: cho đến cuối năm 1894, như kết quả của vỏn vẹn mười chín năm hoạt động, đã có sắc lệnh chuẩn y cho 394 chi hội của Hội, hầu như khắp mọi miền cư trú trên địa cầu; và số sắc lệnh ban hành trong năm gần nhất ấy vượt mức trung bình hằng năm kể từ buổi thành lập (năm 1875) đến 29.9 phần trăm. Nhìn từ phương diện thống kê, cuộc công kích không nương tay và bất công mà Society for Psychical Research và các Giáo sĩ Truyền giáo Scotland đã giáng xuống Hội vào năm 1884—một cuộc công kích mà người ta trông đợi sẽ tiêu diệt Hội—rốt cuộc chỉ dẫn đến việc gia tăng rất lớn phồn thịnh và mức hữu ích của Hội. Cuộc công kích mới đây nhất—qua tờ Westminster Gazette—ắt hẳn rồi cũng có cùng kết cục. Lý do đơn giản là, cho dù các lỗi riêng tư và những khiếm khuyết của các cá nhân lãnh đạo có bị phơi bày triệt để đến đâu, thì phẩm tính ưu việt của các ý niệm của Hội cũng không vì thế mà bị phủ bác dù chỉ một chút. Muốn triệt hạ Hội Thông Thiên Học, trước hết phải chứng minh rằng những tôn chỉ đã công bố của Hội thù nghịch với phúc lợi công cộng, rằng giáo huấn của người phát ngôn của Hội là độc hại và làm bại hoại. Vì cả hai điều ấy đều không thể làm được, thế giới đành tiếp nhận Hội như một thực tại lớn lao, một cá thể tính riêng biệt, không thể bị kết án hay tán dương dựa trên công hay tội của những nhân vật đại diện. Chân lý này khởi sự tự mình ép buộc vào đầu óc của người ngoài. Một trong những ký giả lỗi lạc nhất đương thời, Ông W. T. Stead, đã nói trong Borderland, khi lược thuật những “Trang nhật ký Xưa” này như chúng vốn xuất hiện nguyên thủy trong The Theosophist, rằng giờ đây chẳng ai còn bận tâm liệu những cáo buộc của Coulomb và S.P.R. về trò bịp bợm chống lại Bà Blavatsky là đúng hay sai; ngay đến kẻ thù tệ hại nhất của Bà cũng không thể phủ nhận công trạng của Bà là đã tác động đến tư tưởng triết học hiện đại ở mức độ phi thường nhờ phổ biến một số ý niệm cao quý của phương Đông. Điều tương tự cũng đúng với nhiều cộng sự viên của Bà, những người, như chính Bà, đã truyền bá các giáo lý cổ xưa này qua kênh Hội Thông Thiên Học. Tổ chức kỳ diệu này, vốn nảy sinh từ một cuộc tụ họp tầm thường nơi phòng khách một căn nhà ở New York vào năm 1875, nay đã tự tạo cho mình một thành tích khiến bất cứ bộ sử xác thực nào về thời đại chúng ta cũng phải ghi vào. Sự phát triển của nó diễn ra nhờ một lực nội tại hơn là kết quả của viễn kiến và quản trị khéo léo; và vì đã gắn bó mật thiết—trong vài năm gần như độc nhất—với nỗ lực cá nhân của hai người sáng lập là Bà Blavatsky và tôi, có lẽ sẽ hữu ích cho sử gia tương lai nếu người sống sót ghi lại một cách chân thực và cô đọng những sự kiện cần thiết. Loạt thiên ký sự nay hợp thành quyển sách này đã bắt đầu gần ba năm trước trên tạp chí The Theosophist, và một loạt thứ hai, dành cho giai đoạn lịch sử của Hội sau khi chuyển sang Ấn Độ, hiện đang tiếp diễn. Xung lực chủ đạo thúc giục soạn những bài này là ước muốn chống lại khuynh hướng ngày một lớn mạnh trong nội bộ Hội là thần thánh hoá Bà Blavatsky, và gán cho những tác phẩm văn chương thường nhật của Bà một tính cách bán khải linh. Những lỗi lầm hiển nhiên của Bà đã bị nhắm mắt làm ngơ, và tấm màn giả mạo của uy quyền được kéo ra giữa hành động của Bà với phê bình chính đáng. Những ai ít được Bà thực sự tin cậy nhất—vì thế biết ít nhất về tính nết riêng tư của Bà—lại là những kẻ phạm lỗi nặng nhất theo chiều hướng này.
It was but too evident that unless I spoke out what I alone knew, the true history of our movement could never be written, nor the actual merit of my wonderful colleague become known. In these pages I have, therefore, told the truth about her and about the beginnings of the Society—truth which nobody can gainsay. Placing as little value upon the praise as upon the blame of third parties, and having all my life been accustomed to act according to what I have regarded as duty, I have not shrunk from facing the witless pleasantries of those who regard me as a dupe, a liar or a traitor. The absolute un-importance of others’ opinions as a factor in promoting individual development is so plain to my mind, that I have pursued my present task to its completion, despite the fact that some of my most influential colleagues have, from what I consider mistaken loyalty to “H. P. B.”, secretly tried to destroy my influence, ruin my reputation, reduce the circulation of my magazine, and prevent the publication of my book. Confidential warnings have been circulated against me, and the current numbers of The Theosophist have been removed from Branch reading-room tables. This is child’s play: the truth never yet harmed a good cause, nor has moral cowardice ever helped a bad one.
Quả đã quá hiển nhiên rằng nếu tôi không nói ra những điều chỉ riêng tôi biết, thì lịch sử chân thực của phong trào chúng ta sẽ không bao giờ được viết nên, cũng như công trạng thực sự của cộng sự viên kỳ diệu của tôi sẽ không bao giờ được biết đến. Vậy nên trong những trang này tôi đã nói sự thật về Bà và về buổi khởi nguyên của Hội—sự thật mà không ai có thể bác bỏ. Xem nhẹ khen cũng như chê của người đời, và suốt đời đã quen hành động theo điều tôi xem là bổn phận, tôi không chùn bước trước những lời bông lơn vô trí của những người coi tôi là kẻ bị lừa, kẻ nói dối hay kẻ phản bội. Trong trí tôi, tính tuyệt đối vô nghĩa của ý kiến kẻ khác như một nhân tố thúc đẩy sự phát triển cá nhân rõ ràng đến mức, tôi đã theo đuổi công việc hiện tại đến chỗ hoàn tất, mặc cho sự thật là một vài cộng sự viên có thế lực nhất của tôi đã, vì lòng trung thành mà tôi cho là lầm lạc đối với “H. P. B.”, âm thầm tìm cách triệt hạ ảnh hưởng của tôi, hủy hoại thanh danh của tôi, giảm lưu hành tạp chí của tôi, và ngăn cản việc xuất bản quyển sách của tôi. Những lời cảnh báo kín đáo đã được chuyền tay chống lại tôi, và các số báo hiện hành của The Theosophist đã bị dẹp khỏi bàn đọc ở các Chi hội. Đó chỉ là trò trẻ con: sự thật chưa bao giờ làm hại một chính nghĩa tốt, cũng như sự hèn nhát đạo đức chưa bao giờ trợ lực cho một nghĩa xấu.
Mrs. Oliphant in her Literary History of England, (iii, 263), says of Bentham just what may be said of H. P. B.: “It is evident that he had an instinct like that of the Ancient Mariner, for the men who were born to hear and understand him and great readiness in adopting into his affections ever new notability whom he approved of,... he received an amount of service and devotion, which few of the greatest of mankind have gained from their fellow-creatures.”
Bà Oliphant trong bộ Literary History of England (tập iii, tr. 263) nói về Bentham đúng như điều có thể nói về H. P. B.: “Hiển nhiên Ông có một bản năng như của Thuỷ Thủ Lão Niên, để nhận ra những người sinh ra là để nghe và thấu hiểu Ông, và có khả năng lớn để thu nhận vào tình cảm của mình bất cứ nhân vật nổi bật mới nào mà Ông tán đồng,... Ông nhận được một mức phục vụ và tận hiến mà ít ai thuộc hàng vĩ nhân trong nhân loại có được từ bạn đồng loại.”
Where was there a human being of such a. mixture as this mysterious, this fascinating, this light-bringing H. P. B.? Where can we find personality so remarkable and so dramatic; one which so clearly presented at its opposite sides the divine and the human? Karma forbid that I should do her a feather-weight of injustice, but if there ever existed a person in history who was a greater conglomeration of good and bad, light and shadow, wisdom and indiscretion, spiritual insight and lack of common sense, I cannot recall the name, the circumstances or the epoch. To have known her was a liberal education, to have worked with her and enjoyed her intimacy, an experience of the most precious kind. She was too great an occultist for us to measure her moral stature. She compelled us to love her, however much we might know her faults; to forgive her, however much she might have broken her promises and destroyed our first belief in her infallibility. And the secret of this potent spell was her undeniable spiritual powers, her evident devotion to the Masters whom she depicted as almost supernatural personages, and her zeal for the spiritual uplifting of humanity by the power of the Eastern Wisdom. Shall we ever see her like again? Shall we see herself again within our time under some other guise? Time will show.
Ở đâu từng có một con người hòa trộn lạ lùng như H. P. B. bí ẩn ấy, quyến rũ ấy, mang ánh sáng ấy? Ở đâu ta có thể tìm thấy một phàm ngã vừa đáng kể vừa kịch tính đến thế; một phàm ngã hiển lộ ở hai mặt đối ngược của mình vừa cái thiêng liêng vừa cái nhân loại rõ rệt đến thế? Cầu cho Nghiệp quả đừng để tôi làm oan cho Bà dù nhẹ tựa lông hồng, nhưng nếu từng có một người trong lịch sử là khối kết đặc hơn của thiện và ác, sáng và tối, minh triết và khinh suất, thấu thị tinh thần và thiếu lẽ thường, thì tôi không sao nhớ nổi tên, hoàn cảnh hoặc thời đại. Được biết Bà là một nền giáo dục khai phóng; được cộng tác với Bà và hưởng sự thâm tình của Bà là một trải nghiệm thuộc phẩm loại quý báu nhất. Bà là một nhà huyền thuật quá lớn để chúng tôi có thể cân đo tầm vóc đạo đức của Bà. Bà buộc chúng tôi phải thương mến Bà, cho dù chúng tôi có biết đến các lỗi của Bà; buộc phải tha thứ cho Bà, cho dù Bà có thất hứa và làm tan vỡ niềm tin ban đầu của chúng tôi vào tính không thể sai lầm của Bà. Và bí quyết của phép quyến nhiếp đầy uy lực này là các quyền năng tinh thần không ai chối cãi của Bà, là lòng sùng kính hiển nhiên của Bà đối với các Chân sư mà Bà phác hoạ như những nhân vật gần như siêu phàm, và là nhiệt tâm của Bà cho công cuộc nâng dậy tinh thần của nhân loại bằng quyền năng của Minh triết phương Đông. Liệu chúng ta có bao giờ gặp lại một người như Bà nữa chăng? Liệu chính Bà có trở lại trong thời của chúng ta, dưới một dung mạo khác chăng? Thời gian sẽ cho biết.
H. S. OLCOTT’
H. S. OLCOTT’
“Gulistan”
“Gulistan”
Ootacamund, 1895.
Ootacamund, 1895.
CHAPTER I—CHƯƠNG I
FIRST MEETING OF THE FOUNDERS—LẦN GẶP ĐẦU TIÊN CỦA HAI VỊ SÁNG LẬP
SINCE I am to tell the story of the birth and progress of the Theosophical Society, I must begin at the beginning, and tell how its two founders first met. It was a very prosaic incident: I said “Permettez moi, Madame,” and gave her a light for her cigarette; our acquaintance began in smoke, but it stirred up a great and permanent fire. The circumstances which brought us together were peculiar, as I shall presently explain. The facts have been partly published before.
Vì tôi sẽ kể câu chuyện về sự ra đời và tiến triển của Hội Thông Thiên Học, tôi phải bắt đầu từ đầu, và kể cách hai vị sáng lập đã gặp nhau lần đầu. Đó là một tình cờ rất tầm thường: tôi nói “Permettez moi, Madame,” và châm lửa cho điếu thuốc lá của Bà; mối quen biết của chúng tôi khởi đi trong khói, nhưng lại khơi dậy một ngọn lửa lớn và bền lâu. Hoàn cảnh đưa chúng tôi đến với nhau thì đặc biệt, như tôi sẽ giải thích ngay sau đây. Một phần sự kiện đã được công bố trước đó.
One day, in the month of July, 1874, I was sitting in my law-office thinking over a heavy case in which I had been retained by the Corporation of the City of New York, when it occurred to me that for years I had paid no attention to the Spiritualist movement. I do not know what association of ideas made my mind pass from the mechanical construction of water-metres to Modern Spiritualism, but, at all events, I went around the corner to a dealer’s and bought a copy of the Banner of Light. In it I read an account of certain incredible phenomena, viz., the solidification of phantom forms, which were said to be occurring at a farm-house in the township of Chittenden, in the State of Vermont, several hundred miles distant from New York. I saw at once that, if it were true that visitors could see, even touch and converse with, deceased relatives who had found means to reconstruct their bodies and clothing so as to be temporarily solid, visible, and tangible, this was the most important fact in modern physical science. I determined to go and see for myself. I did so, found the story true, stopped three or four days, and then returned to New York. I wrote an account of my observations to the New York Sun, which was copied pretty much throughout the whole world, so grave and interesting were the facts. A proposal was then made to me by the Editor of the New York Daily Graphic to return to Chittenden in its interest, accompanied by an artist to sketch under my orders, and to make a thorough investigation of the affair. The matter so deeply interested me that I made the necessary disposition of office engagements, and on September 17th was back at the “Eddy Homestead,” as it was called from the name of the family who owned and occupied it. I stopped in that house of mystery, surrounded by phantoms and having daily experiences of a most extraordinary character, for about twelve weeks—if my memory serves me. Meanwhile, twice a week there appeared in the Daily Graphic my letters about the “Eddy ghosts,” each one illustrated with sketches of spectres actually seen by the artist, Mr. Kappes, and myself, as well as by everyone of the persons—sometimes as many as forty—present in the “séance-room.” [1] It was the publication of these letters which drew Madame Blavatsky to Chittenden, and so brought us together.
Một ngày vào tháng Bảy năm 1874, tôi đang ngồi ở văn phòng luật suy nghĩ về một vụ nặng ký mà tôi đã được Thành Phố New York mời đại diện, thì sực nhớ rằng đã nhiều năm tôi không để tâm đến phong trào Thần linh học. Tôi không biết sự liên tưởng nào đã khiến trí tôi chuyển từ chuyện cấu tạo cơ khí của đồng hồ đo nước sang Thần linh học hiện đại, nhưng dầu sao thì tôi cũng rẽ vào góc phố đến một tiệm sách và mua một số Banner of Light. Trong đó tôi đọc được một tường thuật về một số hiện tượng khó tin, tức là sự làm đặc chất của những hình bóng vong linh, được nói là đang xảy ra tại một ngôi nhà nông trại ở địa hạt Chittenden, tiểu bang Vermont, cách New York vài trăm dặm. Tôi nhận ra ngay rằng, nếu là thật, rằng khách viếng có thể nhìn thấy, thậm chí chạm và đàm thoại với thân nhân đã khuất, những người đã tìm ra phương cách để tái cấu trúc thân xác và y phục của họ hầu tạm thời trở nên đặc chắc, hữu hình và hữu xúc, thì đó là sự kiện quan trọng nhất trong khoa học vật lý hiện đại. Tôi quyết định phải tự thân đến xem. Tôi đã đi, thấy câu chuyện là đúng, ở lại ba bốn ngày, rồi quay về New York. Tôi viết một bản tường thuật quan sát của mình gửi tờ New York Sun, và bài ấy hầu như được sao chép khắp thế giới, vì các sự kiện nghiêm túc và thú vị đến như vậy. Sau đó, Tổng biên tập tờ New York Daily Graphic đề nghị tôi trở lại Chittenden nhân danh tờ báo, kèm theo một họa sĩ vẽ theo chỉ dẫn của tôi, và tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng. Vấn đề khiến tôi say mê đến độ tôi đã thu xếp các công việc ở văn phòng, và ngày 17 tháng Chín tôi đã trở lại “Eddy Homestead”, tên gọi theo gia đình sở hữu và cư trú ở đó. Tôi ở lại ngôi nhà huyền bí ấy, bị bao quanh bởi các vong hình và hằng ngày có những trải nghiệm phi thường bậc nhất, trong chừng mươi hai tuần—nếu trí nhớ tôi còn đúng. Trong khi đó, mỗi tuần hai lần, trên Daily Graphic xuất hiện các thư của tôi về “những bóng ma nhà Eddy”, mỗi thư đều kèm theo những bức ký họa các vong hình do chính họa sĩ Kappes và tôi tận mắt trông thấy, cũng như tất cả mọi người—đôi khi đến bốn mươi—có mặt trong “phòng gọi hồn”. Chính việc công bố các thư này đã thu hút Bà Blavatsky đến Chittenden, và như thế đã đưa chúng tôi đến với nhau.
I remember our first day’s acquaintance as if it were yesterday; besides which, I have recorded the main facts in my book (People from the Other World, pp. 293 et seq). It was a sunny day and even the gloomy old farm-house looked cheerful. It stands amid a lovely landscape, in a valley bounded by grassy slopes that rise into mountains covered to their very crests with leafy groves. This was the time of the “Indian Summer,” when the whole country is covered with a faint bluish haze, like that which has given the “Nilgiri” mountains their name, and the foliage of the beeches, elms, and maples, touched by early frosts, has been turned from green into a mottling of gold and crimson that gives the landscape the appearance of being hung all over with royal tapestries. One must go to America to see this autumnal splendour in its full perfection.
Tôi nhớ cuộc quen biết trong ngày đầu như mới hôm qua; hơn nữa, tôi đã ghi lại các sự kiện chính trong sách của tôi (People from the Other World, tr. 293 và tiếp theo). Hôm ấy nắng đẹp và ngay cả ngôi nhà nông trại ảm đạm kia cũng trông tươi tắn. Nó đứng giữa một phong cảnh hữu tình, trong thung lũng viền bởi những sườn cỏ xanh dốc lên thành núi, phủ rừng lá đến tận đỉnh. Đó là độ cuối thu ấm áp, khi cả xứ sở phủ một lớp sương lam mỏng như màu sắc đã đặt tên cho dãy Nilgiri, và tán lá của dẻ gai, du và phong, chớm sương sớm, đã chuyển từ xanh sang một bức khảm vàng và đỏ thắm khiến phong cảnh như được treo kín bằng thảm gấm hoàng gia. Muốn thấy vẻ rực rỡ mùa thu này ở độ toàn bích, người ta phải đến Mỹ.
The dinner hour at Eddy’s was noon, and it was from the entrance door of the bare and comfortless dining-room that Kappes and I first saw H. P. B. She had arrived shortly before noon with a French Canadian lady, and they were at table as we entered. My eye was first attracted by a scarlet Garibaldian shirt the former wore, as in vivid contrast with the dull colours around. Her hair was then a thick blond mop, worn shorter than the shoulders, and it stood out from her head, silken-soft and crinkled to the roots, like the fleece of a Cotswold ewe. This and the red shirt were what struck my attention before I took in the picture of her features. It was a massive Calmuck face, contrasting in its suggestion of power, culture, and imperiousness, as strangely with the commonplace visages about the room as her red garment did with the grey and white tones of the walls and woodwork and the dull costumes of the rest of the guests. All sorts of cranky people were continually coming and going at Eddy’s to see the mediumistic phenomena, and it only struck me on seeing this eccentric lady that this was but one more of the sort. Pausing on the door-sill, I whispered to Kappes, “Good gracious! look at that specimen, will you.” I went straight across and took a seat opposite her to indulge my favourite habit of character-study [2].The two ladiesconversed in French, making remarks of no consequence, but I saw at once from her accent and fluency of speech that, if not a Parisian, she must at least be a finished French scholar. Dinner over, the two went outside the house and Madame Blavatsky rolled herself a cigarette, for which I gave her a light as a pretext to enter into conversation. My remark having been made in French, we fell at once into talk in that language. She asked me how long I had been there and what I thought of the phenomena; saying that she herself was greatly interested in such things, and had been drawn to Chittenden by reading the letters in the Daily Graphic: the public were growing so interested in these that it was sometimes impossible to find a copy of the paper on the book-stalls an hour after publication, and she had paid a dollar for a copy of the last issue. “I hesitated before coming here,” she said, “because I was afraid of meeting that Colonel Olcott.” “Why should you be afraid of him, Madame?” I rejoined. “Oh! because I fear he might write about me in his paper.” I told her that she might make herself perfectly easy on that score, for I felt quite sure Col. Olcott would not mention her in his letters unless she wished it. And I introduced myself. We became friends at once. Each of us felt as if we were of the same social world, cosmopolitans, free-thinkers, and in closer touch than with the rest of the company, intelligent and very worthy as some of them were. It was the voice of common sympathy with the higher occult side of man and nature; the attraction of soul to soul, not that of sex to sex. Neither then, at the commencement, nor ever afterwards had either of us the sense of the other being of the opposite sex. We were simply chums; so regarded each other, so called each other. Some base people from time to time, dared to suggest that a closer tie bound us together, as they had that that poor, malformed, persecuted H. P. B. had been the mistress of various other men, but no pure person could hold to such an opinion after passing any time in her company, and seeing how her every look, word, and action proclaimed her sexlessness. [3]
Giờ ăn trưa ở nhà Eddy là đúng ngọ, và chính từ ngưỡng cửa phòng ăn trống trải và thiếu tiện nghi ấy mà Kappes và tôi lần đầu trông thấy H. P. B. Bà vừa đến trước đó không lâu cùng một bà người Canada gốc Pháp, và hai người đã ngồi vào bàn khi chúng tôi đi vào. Trước hết mắt tôi bị hút bởi chiếc áo Garibaldi đỏ tươi mà Bà mặc, nổi bật chói chang giữa các màu u buồn chung quanh. Mái tóc Bà khi ấy là một mớ vàng dày, để ngắn hơn vai, xòe ra quanh đầu, mềm như tơ và lượn sóng đến tận chân tóc, như lông cừu cái giống Cotswold. Đó, cùng với chiếc áo đỏ, là hai điều đập vào mắt tôi trước khi tôi kịp thu nhận diện mạo của Bà. Đó là một gương mặt kiểu Calmuck, bề thế, gợi lên quyền năng, học vấn và tính uy nghi, tương phản một cách lạ lùng với những khuôn mặt tầm thường quanh phòng, như chiếc áo đỏ tương phản với sắc xám trắng của tường, gỗ và những y phục tẻ nhạt của các thực khách còn lại. Mọi hạng người lập dị vẫn thường xuyên ra vào nhà Eddy để xem hiện tượng đồng tử, và khi trông thấy bà khách dị dạng này, tôi chỉ nghĩ rằng đây cũng chỉ là thêm một trường hợp như thế. Dừng trên ngưỡng cửa, tôi thì thầm với Kappes: “Trời ơi! xem mẫu người kia kìa.” Tôi băng ngang và ngồi đối diện Bà để thỏa thói quen ưa thích là quan sát tính cách. Hai bà nói chuyện bằng tiếng Pháp, những câu không mấy quan trọng, nhưng tôi thấy ngay qua giọng và độ lưu loát rằng, nếu không phải người Paris, thì chí ít Bà cũng là một học giả Pháp hoàn chỉnh. Ăn xong, hai bà ra bên ngoài và Bà Blavatsky tự vấn một điếu thuốc lá, tôi bèn châm lửa cho Bà lấy cớ mở lời chuyện trò. Vì nhận xét của tôi được thốt bằng tiếng Pháp, chúng tôi lập tức đàm đạo bằng ngôn ngữ ấy. Bà hỏi tôi đã ở đây bao lâu và nghĩ gì về các hiện tượng; nói rằng bản thân Bà hết sức quan tâm đến những chuyện như thế, và đã bị lôi cuốn đến Chittenden do đọc các thư trên Daily Graphic: công chúng đang ngày càng quan tâm đến mức đôi khi không sao tìm được một số báo trên các quầy sách chỉ một giờ sau khi phát hành, và Bà đã phải trả một đô la cho số báo mới nhất. “Tôi đã phân vân trước khi đến đây,” Bà nói, “vì tôi e sẽ gặp ông Đại tá Olcott.” “Sao Bà lại sợ Ông ấy chứ?” tôi đáp. “Ồ! vì tôi lo Ông ấy sẽ viết về tôi trên báo.” Tôi nói với Bà rằng về khoản ấy Bà cứ yên tâm, vì tôi khá chắc chắn Đại tá Olcott sẽ không nhắc đến Bà trong các thư nếu Bà không muốn. Và tôi tự giới thiệu. Chúng tôi lập tức thành bạn. Mỗi người trong chúng tôi cảm thấy như thuộc cùng một thế giới xã hội, những người quốc tế, phóng khoáng, và gần gũi nhau hơn so với phần còn lại của nhóm, cho dù một số trong họ thông tuệ và rất đáng kính. Đó là tiếng gọi của đồng cảm chung đối với phương diện huyền bí cao hơn của con người và thiên nhiên; sự hấp dẫn của hồn đối với hồn, chứ không phải của phái này với phái kia. Ngay khi khởi đầu, cũng như về sau này, không ai trong hai chúng tôi có cảm giác người kia thuộc phái đối nghịch. Chúng tôi chỉ đơn giản là bạn chí cốt; nhìn nhau như thế, gọi nhau như thế. Đôi kẻ thấp hèn nào đó đôi khi dám ám chỉ rằng có một mối liên hệ gần gũi hơn ràng buộc chúng tôi, như họ đã bịa đặt rằng Bà H. P. B. tội nghiệp, dị hình và bị bức hại kia đã từng là tình nhân của nhiều người đàn ông khác, nhưng chẳng ai còn giữ được ý nghĩ ấy nếu có lòng thuần khiết mà đã từng ở cạnh Bà, và trông thấy mọi ánh mắt, lời nói, cử chỉ của Bà đều biểu đạt tính vô giới.
Strolling along with my new acquaintance, we talked together about the Eddy phenomena and those of other lands. I found she had been a great traveller and seen many occult things and adepts in occult science, but at first she did not give me any hint as to the existence of the Himalayan Sages or of her own powers. She spoke of the materialistic tendency of American Spiritualism, which was a sort of debauch of phenomena accompanied by comparative indifference to philosophy. Her manner was gracious and captivating, her criticisms upon men and things original and witty. She was particularly interested in drawing me out as to my own ideas about spiritual things and expressed pleasure in finding that I had instinctively thought along the occult lines which she herself had pursued. It was not as an Eastern mystic, but rather as a refined Spiritualist that she talked. For my part I knew nothing then, or next to nothing, about Eastern philosophy, and at first she kept silent on that subject.
Dạo bước cùng người bạn quen mới, chúng tôi chuyện trò về các hiện tượng ở nhà Eddy và ở những xứ khác. Tôi thấy Bà từng là một lữ khách dày dạn, đã trông thấy nhiều điều huyền bí và các bậc tinh thông huyền bí học, nhưng lúc đầu Bà không gợi cho tôi một mảy may nào về sự hiện hữu của các Bậc Hiền nhân xứ Hi-mã-lạp Sơn hay về những quyền năng riêng của Bà. Bà nói về khuynh hướng duy vật của Thần linh học Mỹ, vốn là một cuộc “chè chén” hiện tượng, đi kèm sự thờ ơ tương đối đối với triết học. Cách ứng xử của Bà ôn hòa và quyến rũ, các lời bình phẩm của Bà về người và việc thì độc đáo và dí dỏm. Bà đặc biệt hứng thú khơi gợi tôi bộc lộ những ý nghĩ riêng về các vấn đề tinh thần và tỏ vẻ vui mừng khi nhận ra rằng một cách bản năng tôi đã suy tư theo các đường lối huyền bí mà chính Bà đã theo đuổi. Lối trò chuyện của Bà không phải như một nhà huyền nhiệm phương Đông, mà đúng hơn như một người theo Thần linh học tinh luyện. Phần tôi, khi ấy tôi chưa biết gì, hoặc gần như chẳng biết gì, về triết học phương Đông, và lúc đầu Bà giữ im lặng về đề tài này.
The séances of William Eddy, the chief medium of the family, were held every evening in a large upstairs hall, in a wing of the house, over the dining-room and kitchen. He and a brother, Horatio, were hard-working farmers; Horatio attending to the outdoor duties, and William, since visitors came pouring in upon them from all parts of the United States, doing the cooking for the household. They were poor, ill-educated, and prejudiced—sometimes surly to their unbidden guests. At the farther end of the séance-hall the deep chimney from the kitchen below passed through to the roof. Between it and the north wall was a narrow closet of the same width as the depth of the chimney, 2 feet 7 inches, in which William Eddy would seat himself to wait for the phenomena. He had no seeming control over them, but merely sat and waited for them to sporadically occur. A blanket being hung across the doorway, the closet would be in perfect darkness. Shortly after William had entered the cabinet, the blanket would be pulled aside and forth would step some figure of a dead man, woman or child--an animate statue so to say—temporarily solid and substantial, but the next minute resolved back into nothingness or invisibility. They would occasionally dissolve away while in full view of the spectators.
Các buổi gọi hồn của William Eddy, đồng tử chính trong gia đình, được tổ chức mỗi tối tại một đại sảnh tầng trên, ở cánh nhà phía trên phòng ăn và nhà bếp. Ông và người anh, Horatio, là những nông phu chăm chỉ; Horatio lo việc đồng áng, còn William, vì khách thập phương đổ về khắp nước Mỹ, thì lo nấu ăn cho cả nhà. Họ nghèo, ít học và thành kiến—đôi khi gắt gỏng với những người khách không mời. Ở đầu xa của sảnh gọi hồn, ống khói lớn từ nhà bếp phía dưới đâm thẳng lên mái. Giữa ống khói và bức tường phía bắc là một tủ hẹp có bề rộng đúng bằng độ sâu của ống khói, 2 bộ 7 tấc, nơi William Eddy ngồi chờ hiện tượng. Ông xem như không hề điều khiển được chúng, mà chỉ ngồi chờ cho chúng tự phát. Khi một tấm mền được che ngang khung cửa, buồng nhỏ sẽ hoàn toàn tối. Ngay sau khi William vào “cabinet”, tấm mền sẽ bị kéo sang một bên và một dáng hình nam, nữ hoặc trẻ con đã chết sẽ bước ra—có thể nói là tượng sống—tạm thời đặc chắc và vững chắc, nhưng ngay phút sau lại tan thành hư vô hoặc vô hình. Thỉnh thoảng họ tan biến ngay trước mắt người xem.
Up to the time of H. P. B.’s appearance on the scene, the figures which had shown themselves were either Red Indians, or Americans or Europeans akin to visitors. But on the first evening of her stay spooks of other nationalities came before us. There was a Georgian servant boy from the Caucasus; a Mussulman merchant from Tiflis; a Russian peasant girl, and others. Another evening there appeared a Kourdish cavalier armed with scimitar, pistols, and lance; a hideously ugly and devilish-looking negro sorcerer from Africa, wearing a coronet composed of four horns of the oryx with bells at their tips, attached to an embroidered, highly coloured fillet which was tied around his head; and a European gentleman wearing the cross and collar of St. Anne, who was recognised by Madame Blavatsky as her uncle. The advent of such figures in the séance-room of those poor, almost illiterate Vermont farmers, who had neither the money to buy theatrical properties, the experience to employ such if they had had them, nor the room where they could have availed of them, was to every eye-witness a convincing proof that the apparitions were genuine. At the same time they show that a strange attraction to call out these images from what Asiatics call the Kama-loka attended Madame Blavatsky. It was long afterwards that I was informed that she had evoked them by her own developed and masterful power. She even affirms the fact in a written note, in our T. S. Scrap-book, Vol. I, appended to a cutting from the (London) Spiritualist of January, 1875.
Cho đến lúc H. P. B. xuất hiện, các dáng hình đã hiện ra hoặc là người Da Đỏ, hoặc là người Mỹ hay Âu có liên hệ với khách viếng. Nhưng ngay buổi tối đầu tiên trong thời gian Bà ở lại, những vong hình thuộc các quốc tịch khác đã đến trước chúng tôi. Có một cậu bé gia nhân người Georgia vùng Caucasus; một thương nhân Hồi giáo ở Tiflis; một cô thôn nữ Nga, và những người khác. Một tối khác có một kỵ sĩ người Kurd vũ trang gươm cong, súng lục và lao; một pháp sư da đen người Phi châu, diện mạo xấu xí dữ tợn, đội một mũ miện kết từ bốn chiếc sừng linh dương oryx có gắn lục lạc ở chóp, buộc vào một dải băng thêu nhiều màu quấn quanh đầu; và một quý ông châu Âu đeo Thập tự và đai của Thánh Anne, được Bà Blavatsky nhận ra là cậu của Bà. Sự xuất hiện của những nhân dáng như thế trong phòng gọi hồn ở nhà những người nông gia Vermont nghèo kiết, gần như dốt nát, không tiền để mua đồ diễn kịch, cũng chẳng có kinh nghiệm để dùng nếu có, lại càng không có chỗ để dựng đồ diễn, là một bằng chứng thuyết phục đối với mọi nhân chứng rằng các vong hình là chân thực. Đồng thời, chúng cho thấy rằng có một sức thu hút lạ lùng khiến những hình ảnh ấy hiện ra từ cái mà người Á Đông gọi là Kama-loka đi kèm với sự có mặt của Bà Blavatsky. Mãi về sau tôi mới được biết rằng Bà đã gọi hiện chúng bằng quyền năng đã khai triển và làm chủ của riêng mình. Bà thậm chí xác nhận điều này trong một bút chú viết tay, trong Sổ Lưu của Hội, Quyển I, đính kèm một bản cắt trên tờ Spiritualist (London), tháng Giêng năm 1875.
While she was at Chittenden she told me many incidents of her past life, among others, her having been present as a volunteer, with a number of other European ladies, with Garibaldi at the bloody battle of Mentana. In proof of her story she showed me where her left arm had been broken in two places by a sabre-stroke, and made me feel in her right shoulder a musket-bullet, still imbedded in the muscle, and another in her leg. She also showed me a scar just below the heart where she had been stabbed with a stiletto. This wound reopened a little while she was at Chittenden, and it was to consult me about it that she was led to show it to me. She told me many curious tales of peril and adventure, among them the story of the phantom African sorcerer with the oryx-horn coronet, whom she had seen in life doing phenomena in Upper Egypt, many years before.
Trong thời gian ở Chittenden, Bà kể cho tôi nhiều chuyện về đời mình, trong đó có việc Bà đã từng có mặt với tư cách thiện nguyện, cùng nhiều phụ nữ Âu châu khác, bên cạnh Garibaldi trong trận Mentana đẫm máu. Để chứng minh câu chuyện, Bà chỉ cho tôi chỗ cánh tay trái đã bị chém gãy hai nơi bởi một nhát gươm, và cho tôi sờ thấy ở vai phải một viên đạn súng trường vẫn còn nằm trong cơ bắp, và một viên nữa ở chân. Bà cũng cho tôi xem một vết sẹo ngay dưới tim, nơi Bà đã bị đâm bằng dao găm mảnh. Vết thương này hé miệng trở lại một chút trong khi Bà ở Chittenden, và chính để hỏi tôi về nó mà Bà đã cho tôi xem. Bà kể cho tôi nhiều chuyện ly kỳ về hiểm nguy và phiêu lưu, trong đó có chuyện vị pháp sư châu Phi đội mũ sừng oryx—vị vong linh mà Bà đã từng gặp khi còn sống và làm hiện tượng ở Thượng Ai Cập nhiều năm về trước.
H. P. B. tried her best to make me suspect the value of William Eddy’s phenomena as proofs of the intelligent control of a medium by spirits; telling me that, if genuine, they must be the double of the medium escaping from his body and clothing itself with other appearances; but I did not believe her. I contended that the forms were of too great diversities of height, bulk, and appearance to be a masquerade of William Eddy; they must be what they seemed, viz., the spirits of the dead. Our disputes were quite warm on occasions, for at that time I had not gone deep enough into the question of the plastic nature of the human Double to see the force of her hints, while of the Eastern theory of Maya I did not know its least iota. The result, however, was, as she told me, to convince her of my disposition to accept nothing on trust and to cling pertinaciously to such facts as I had, or thought I had acquired. We became greater friends day by day, and by the time she was ready to leave Chittenden she had accepted from me the nick-name “Jack,” and so signed herself in her letters to me from New York. When we parted it was as good friends likely to continue the acquaintance thus pleasantly begun.
H. P. B. đã cố hết sức làm tôi nghi ngờ giá trị của các hiện tượng của William Eddy như những bằng chứng về sự điều khiển có trí của một đồng tử bởi các vong linh; Bà nói rằng, nếu là chân thực, thì chúng hẳn là phần “song trùng” của đồng tử ly thân khỏi cơ thể mình và khoác lấy những hình tướng khác; nhưng tôi không tin. Tôi biện rằng các hình tướng ấy đa dạng quá mức về chiều cao, đậm nhạt và diện mạo nên không thể là trò hóa trang của William Eddy; chúng phải là những gì chúng tỏ ra, tức là các linh hồn người chết. Những tranh luận giữa chúng tôi đôi khi khá gay gắt, vì lúc đó tôi chưa đào sâu đủ vào vấn đề về bản chất dẻo của “Song trùng” con người để thấy sức nặng trong gợi ý của Bà, còn về lý thuyết phương Đông về maya thì tôi chưa biết dù một tí ti. Tuy vậy, như Bà nói với tôi, kết quả cũng là làm Bà xác quyết về thiên hướng của tôi là không chấp nhận điều gì theo lòng tin suông và bám chặt lấy những sự kiện mà tôi có, hoặc tưởng mình có. Ngày qua ngày chúng tôi càng thân hơn, và đến khi Bà sẵn sàng rời Chittenden, Bà đã chấp nhận từ tôi biệt hiệu “Jack”, và ký như thế trong các thư gửi tôi từ New York. Khi chia tay, chúng tôi là những người bạn tốt nhiều khả năng sẽ tiếp tục tình quen biết khởi đầu êm ái này.
In November, 1874, when my researches were finished, I returned to New York and called upon her at her lodgings at 16 Irving Place, where she gave me some séances of table-tipping and rapping, spelling out messages of sorts, principally from an invisible intelligence calling itself “John King.” This pseudonym is one that has been familiar to frequenters of mediumistic séances these forty years past, all over the world. It was first heard of in 1850, in the “spirit room” of Jonathan Koons, of Ohio, where it pretended to be a ruler of a tribe or tribes of spirits. Later on, it said it was the earth-haunting soul of Sir Henry Morgan, the famous buccaneer, and as such it introduced itself to me. It showed its face and turban-wrapped head to me at Philadelphia, during the course of my investigations of the Holmes mediums, in association with the late respected Robert Dale Owen, General F. J. Lippitt and Madame Blavatsky (vide People from the Other World, Part II), and both spoke and wrote to me, the latter frequently. It had a quaint handwriting, and used queer old English expressions. I thought it a veritable John King then, for its personality had been as convincingly proved to me, I fancied, as anybody could have asked. But now, after seeing what H. P. B. could do in the way of producing mayavic (i.e., hypnotic) illusions and in the control of elementals, I am persuaded that “John King” was a humbugging elemental, worked by her like a marionette and used as a help towards my education. Understand me, the phenomena were real, but they were done by no disincarnate human spirit. Since writing the above, in fact, I have found the proof, in her own handwriting, pasted in our Scrapbook, Vol. I.
Tháng Mười Một năm 1874, khi tôi hoàn tất cuộc khảo cứu, tôi trở về New York và đến thăm Bà tại chỗ trọ ở số 16 Irving Place, nơi Bà cho tôi xem vài buổi gọi hồn kiểu bàn nghiêng và gõ, đánh vần các thông điệp đủ loại, chủ yếu từ một trí thông minh vô hình tự xưng là “John King”. Bút hiệu này đã quen thuộc với người thường lui tới các buổi gọi hồn suốt bốn mươi năm qua, trên khắp thế giới. Nó lần đầu được nghe đến năm 1850, trong “phòng vong linh” của Jonathan Koons, ở Ohio, nơi nó tự xưng là thủ lĩnh của một bộ tộc hay nhiều bộ tộc vong linh. Về sau, nó nói mình là linh hồn còn vương vấn trần gian của Sir Henry Morgan, tay cướp biển lừng danh, và với tư cách ấy nó đã tự giới thiệu với tôi. Nó đã hiện gương mặt và đầu quấn khăn của nó cho tôi ở Philadelphia, trong khi tôi điều tra cặp đồng tử nhà Holmes, cùng với cố Robert Dale Owen, Tướng F. J. Lippitt và Bà Blavatsky (xem People from the Other World, Phần II), và nó vừa nói vừa viết với tôi, điều sau này thì thường xuyên. Nét chữ của nó lạ lùng, và nó dùng những lối nói tiếng Anh cổ kỳ quặc. Khi ấy tôi tin đó là một John King đích thực, vì tôi tưởng rằng nhân cách của nó đã được chứng minh xác đáng đối với tôi theo cách mà bất kỳ ai cũng có thể đòi hỏi. Nhưng nay, sau khi thấy H. P. B. có thể làm những ảo ảnh mayavic (tức thôi miên) và điều khiển các hành khí như thế nào, tôi tin rằng “John King” chỉ là một hành khí lừa bịp, được Bà điều khiển như rối dây và dùng làm phương tiện trợ giúp cho việc giáo dục tôi. Xin hiểu cho, các hiện tượng là có thật, nhưng tuyệt không do một linh hồn người chết nào làm. Thực tế là, sau khi viết đoạn trên, tôi đã tìm được bằng chứng, chính nét chữ của Bà, dán trong Sổ Lưu của chúng tôi, Quyển I.
She kept up the illusion for months—just how many I cannot recollect at this distance of time—and I saw numbers of phenomena done as alleged by John King—as, for example, the whole remarkable series at the Philadelphia residence of the Holmeses and that of H. P. B. herself, above referred to. He was first, John King, an independent personality, then John King, messenger and servant—never the equal—of living adepts, and finally an elemental pure and simple, employed by H. P. B. and a certain other expert in the doing of wonders.
Bà đã duy trì ảo tưởng ấy suốt nhiều tháng—bao nhiêu thì ở khoảng cách thời gian này tôi không còn nhớ rõ—và tôi đã thấy vô số hiện tượng được làm ra như là do John King—chẳng hạn như cả chuỗi hiện tượng đáng kinh ngạc tại tư gia ở Philadelphia của nhà Holmes và tại chính chỗ ở của H. P. B. mà tôi vừa nói. Ban đầu, John King là một nhân cách độc lập; rồi John King là kẻ đưa tin và gia nhân—chưa từng là ngang hàng—của các đạo sỹ đang sống; và cuối cùng là một hành khí thuần túy, được H. P. B. và một nhà chuyên môn nọ sử dụng để làm các điều kỳ diệu.
It is useless to deny that, throughout the early part of her American residence, she called herself a spiritualist and warmly defended Spiritualism and its mediums from their sciolistic and other bitter traducers. Her letters and articles in various American and English journals contain many evidences of her occupying that position. Among other examples, I will simply quote the following:
Không thể chối rằng trong suốt phần đầu thời kỳ cư trú ở Mỹ, Bà tự gọi mình là một người theo Thần linh học và nhiệt thành bảo vệ Thần linh học cùng các đồng tử của nó khỏi những kẻ bôi nhọ cay độc thuộc phe thiển học và các phe khác. Các thư và bài viết của Bà trên nhiều báo chí Mỹ và Anh chứa đầy những bằng chứng cho thấy lập trường mà Bà chiếm giữ. Trong số nhiều ví dụ, tôi chỉ xin trích đoạn sau:
“As it is, I have only done my duty; first, towards Spiritualism, that I have defended as well as I could from the attacks of imposture under the too transparent mask of science; then towards two helpless, slandered mediums.... But I am obliged to confess that I really do not believe in having done any good—to Spiritualism itself.... It is with a profound sadness in my heart that I acknowledge this fact, for I begin to think there is no help for it. For over fifteen years have I fought my battle for the blessed truth; have travelled and preached it—though I never was born for a lecturer—from the snow-covered tops of the Caucasian Mountains, as well as from the sandy valleys of the Nile. I have proved the truth of it practically and by persuasion. For the sake of Spiritualism I have left my home, an easy life amongst a civilised society, and have become a wanderer upon the face of the earth. I had already seen my hopes realised, beyond my most sanguine expectations, when my unlucky star brought me to America. Knowing this country to be the cradle of Modern Spiritualism, I came over here from France with feelings not unlike those of a Mohammedan approaching the birthplace of his Prophet,” etc. etc. (Letter of H. P. B. to the Spiritualist of December 13, 1874.)
“Như thế là tôi chỉ làm tròn bổn phận của mình; trước hết đối với Thần linh học, mà tôi đã bênh vực hết sức có thể khỏi những cuộc công kích của trò bịp bợm dưới chiếc mặt nạ quá trong suốt của khoa học; rồi đối với hai đồng tử bất lực, bị vu khống.... Nhưng tôi buộc phải thú nhận rằng tôi thật không tin là mình đã làm được điều gì hữu ích—đối với chính Thần linh học.... Trong lòng tôi, với nỗi buồn sâu xa, tôi nhìn nhận điều này, vì tôi bắt đầu nghĩ rằng không có cách cứu. Hơn mười lăm năm tôi đã giao chiến cho chân lý thiêng liêng; đã đi khắp và giảng thuyết—dẫu tôi vốn không sinh ra để làm một diễn giả—từ những đỉnh núi phủ tuyết của Caucasus cũng như từ các thung lũng cát của sông Nile. Tôi đã chứng minh chân lý ấy bằng thực chứng và bằng thuyết phục. Vì Thần linh học tôi đã rời bỏ nhà cửa, cuộc sống an nhàn giữa một xã hội văn minh, và trở thành kẻ lưu lạc trên mặt đất. Tôi đã từng trông thấy hy vọng của mình thành tựu, vượt quá mong đợi lạc quan nhất, thì ngôi sao xấu của tôi đưa tôi đến Mỹ. Biết xứ này là chiếc nôi của Thần linh học Hiện đại, tôi từ Pháp sang đây với tâm trạng không khác gì một tín đồ Mohammed tiến về nơi chào đời của Đức Tiên tri của mình,” v.v... (Thư của H. P. B. gửi báo Spiritualist, ngày 13 tháng Mười Hai, 1874.)
The two “helpless mediums” alluded to were the Holmeses, of whose moral quality I have always had the poorest opinion. Yet, in H. P. B.’s presence I witnessed, under my own test conditions, along with the late Robert Dale Owen and General Lippitt, a series of most convincing and satisfactory mediumistic phenomena. I half suspected then that the power that produced them came from H. P. B., and that if the Holmeses alone had been concerned, I should either have seen tricks or nothing. Now, in hunting over the old scrap-books, I find in H. P. B.’s MSS. the following memorandum, which she evidently meant to be published after her death:
Hai “đồng tử bất lực” được nhắc đến là vợ chồng nhà Holmes, về phẩm chất đạo đức của họ thì xưa nay tôi vốn có ý kiến tệ hại nhất. Tuy vậy, trước mặt H. P. B., tôi đã chứng kiến—theo các điều kiện thử nghiệm của riêng mình—cùng với cố Robert Dale Owen và Tướng Lippitt, một chuỗi hiện tượng đồng tử cực kỳ thuyết phục và mỹ mãn. Khi đó tôi đã bán tín bán nghi rằng quyền năng tạo hiện tượng phát xuất từ H. P. B., và rằng nếu chỉ có nhà Holmes nhúng tay, hẳn tôi chỉ thấy trò lừa hoặc chẳng thấy gì cả. Nay, khi lục tìm các sổ cắt báo cũ, tôi bắt gặp trong bản thảo của H. P. B. một bút lục, hiển nhiên Bà muốn được công bố sau khi qua đời:
“IMPORTANT NOTE”
“GHI CHÚ QUAN TRỌNG”
“Yes, I am sorry to say that I had to identify myself, during that shameful exposure of the Holmes mediums, with the Spiritualists. I had to save the situation, for I was sent from Paris to America on purpose to prove the phenomena and their reality, and show the fallacy of the spiritualistic theory of spirits. But how could I do it best? I did not want people at large to know that I could produce the same things AT WILL. I had received orders to the contrary, and yet I had to keep alive the reality, the genuineness and possibility of such phenomena, in the hearts of those who from Materialists had turned Spiritualists, but now, owing to the exposure of several mediums, fell back again, returned to their scepticism. This is why, selecting a few of the faithful, I went to the Holmeses, and, helped by M. and his power, brought out the faces of John King and Katie King from the Astral Light, produced the phenomena of materialisation, and allowed the spiritualists at large to believe it was done through the medium of Mrs. Holmes. She was terribly frightened herself, for she knew that this once the appartion was real. Did I do wrong? The world is not prepared yet to understand the philosophy of Occult Science; let them first assure themselves that there are beings in an invisible world, whether ‘Spirits’ of the dead or elementals; and that there are hidden powers in man which are capable of making a god of him on earth.
“Vâng, tôi rất tiếc phải nói rằng trong suốt vụ bại lộ đáng xấu hổ của cặp đồng tử nhà Holmes, tôi buộc phải đồng nhất mình với phe Thần linh học. Tôi phải cứu vãn tình thế, vì tôi được phái từ Paris sang Mỹ với mục đích chứng minh các hiện tượng và tính hiện thực của chúng, và phơi bày sự ngộ nhận trong thuyết Thần linh học về ‘các vong linh’. Nhưng tôi có thể làm điều đó tốt nhất bằng cách nào? Tôi không muốn để đại chúng biết rằng tôi có thể làm những việc ấy TUỲ Ý. Tôi đã nhận chỉ dụ ngược lại, thế nhưng tôi lại phải giữ cho sống động trong tim những người đã từ kẻ Duy vật trở thành người theo Thần linh học—nhưng giờ đây, do nhiều đồng tử bị lộ, lại sắp quay trở về hoài nghi—rằng các hiện tượng như vậy là có thật, là chân chính và khả hữu. Bởi vậy, tôi đã chọn một ít người còn kiên tín, đến nhà Holmes, và, được Chân sư M. và quyền năng của Ngài trợ giúp, gọi từ Quang cảm dục ra khuôn mặt của John King và Katie King, tạo ra các hiện tượng hiện hình, và để cho toàn thể giới Thần linh học tin rằng chuyện ấy được thực hiện qua đồng tử là Bà Holmes. Bà ta đã sợ hãi khủng khiếp, vì Bà biết lần này sự xuất hiện là có thật. Tôi làm thế có sai chăng? Thế giới chưa sẵn sàng để hiểu minh triết của Huyền bí học; hãy để cho họ trước hết tự bảo đảm với chính họ rằng có những hữu thể thuộc một thế giới vô hình—dù là ‘vong linh’ của người chết hay các hành khí—và rằng có những quyền năng ẩn tàng trong con người có thể làm cho con người thành một vị thần ngay trên trần thế.
“When I am dead and gone people will, perhaps, appreciate my disinterested motives. I have pledged my word to help people on to Truth while living, and I will keep my word. Let them abuse and revile me; let some call me a medium and a Spiritualist, others an impostor. The day will come when posterity will learn to know me better. Oh, poor, foolish, credulous, wicked world!”
“Khi tôi chết đi, có lẽ người đời sẽ hiểu những động cơ vô tư của tôi. Tôi đã hứa sẽ giúp nhân quần hướng đến Chân lý khi còn sống, và tôi sẽ giữ lời. Hãy cứ để họ mắng chửi và vu khống tôi; để người này gọi tôi là một đồng tử và một người theo Thần linh học, người khác thì bảo tôi là kẻ bịp bợm. Một ngày kia, hậu thế sẽ biết tôi rõ hơn. Ôi, thế gian tội nghiệp, khờ dại, cả tin, độc ác!”
The whole thing is here made plain: the Spiritualism she was sent to America to profess and ultimately bring to replace the cruder Western mediumism, was Eastern Spiritualism, or Brahma Vidya. The West not being prepared to accept it, her first assigned work was to defend the real phenomena of the “circle” from that prejudiced and militant enemy of spiritual belief—materialistic, sciolistic, physical science, with its votaries and leaders. The one necessary thing for the age was to check materialistic scepticism and strengthen the spiritual basis of the religious yearning. Therefore, the battle being joined, she took her stand beside the American Spiritualists, and for the moment made common cause with them. Yes, posterity will do her justice.
Mọi chuyện ở đây đã trở nên sáng tỏ: Thần linh học mà Bà được gửi sang Mỹ để tuyên xưng và rốt cuộc đem đến để thay thế cho đồng tử luận thô thiển của phương Tây chính là Thần linh học phương Đông, hay Brahma Vidya. Vì phương Tây chưa sẵn sàng chấp nhận nó, công việc được giao trước hết của Bà là bảo vệ các hiện tượng chân thực của “buổi gọi hồn” khỏi kẻ thù đầy thiên kiến và hiếu chiến của niềm tin tinh thần—khoa học vật chất, thiển học, vật lý, cùng các tín đồ và thủ lĩnh của nó. Điều cần yếu duy nhất cho thời đại là chặn đứng chủ nghĩa hoài nghi duy vật và củng cố nền tảng tinh thần cho khát vọng tôn giáo. Cho nên, khi trận tuyến đã hình thành, Bà đứng về phía những người theo Thần linh học Mỹ, và trong khoảnh khắc đã đồng hành cùng họ. Vâng, hậu thế sẽ làm công bằng cho Bà.
I wish I could recall to memory the first phenomenon done by her confessedly as by an exercise of her own will power, but I cannot. It must have been just after she began writing Isis Unveiled and possibly it was the following: After leaving 16 Irving Place and making a visit to friends in the country, she occupied rooms for a time in another house in Irving Place, a few doors from the Lotos Club and on the same side of the street. It was there that, later, the informal gathering of friends was held at which I proposed the formation of what afterwards became the Theosophical Society. Among her callers was an Italian artist, a Signor B., formerly a Carbonaro. I was sitting alone with her in her drawing room when he made his first visit. They talked of Italian affairs, and he suddenly pronounced the name of one of the greatest of the Adepts. She started as if she had received an electric shock; looked him straight in the eyes, and said (in Italian) “What is it? I am ready.” He passed it off carelessly, but thenceforward the talk was all about Magic, Magicians, and Adepts. Signor B. went and opened one of the French windows, made some beckoning passes towards the outer air, and presently a pure white butterfly came into the room and went flying about near the ceiling. H. P. B. laughed in a cheerful way and said: “That is pretty, but I can also do it!” She, too, opened the window, made similar beckoning passes, and presently a second white butterfly came fluttering in. It mounted to the ceiling, chased the other around the room, played with it now and then, with it flew to a corner, and, presto! both disappeared at once while we were looking at them. “What does that mean?” I asked. “Only this, that Signor B. can make an elemental turn itself into a butterfly, and so can I.” The insects were not real but illusionary ones.
Tôi ước gì có thể nhớ lại hiện tượng đầu tiên do chính Bà thi triển một cách tuyên xưng, nhưng tôi không thể. Hẳn là ngay sau khi Bà khởi viết Isis Unveiled và có lẽ là chuyện sau đây: Sau khi rời số 16 Irving Place và thăm vài người bạn ở thôn quê, Bà một thời gian cư ngụ tại một căn nhà khác trên đường Irving Place, cách Lotos Club vài căn và cùng phía đường. Chính ở đó, về sau, đã diễn ra buổi hội tụ không nghi thức của bằng hữu nơi tôi đề xướng việc thành lập cái về sau trở thành Hội Thông Thiên Học. Trong các khách đến thăm có một họa sĩ người Ý, Ngài B., trước kia là một Carbonaro. Tôi đang ngồi một mình với Bà trong phòng khách khi ông này lần đầu ghé thăm. Họ nói chuyện tình hình nước Ý, và đột nhiên ông xướng tên một trong những vị Chân sư vĩ đại nhất. Bà giật mình như bị điện giật; nhìn thẳng vào mắt ông ta và nói (bằng tiếng Ý) “Chuyện gì? Tôi sẵn sàng.” Ông ta bỏ qua như chuyện nhỏ, nhưng từ đó câu chuyện xoay quanh toàn chuyện Ma thuật, Nhà ma thuật và các Chân sư. Ngài B. đến mở một cửa sổ kiểu Pháp, làm vài động tác vẫy vẫy ra ngoài không khí, và chẳng bao lâu một con bướm trắng tinh bay vào phòng, chao lượn gần trần nhà. H. P. B. cười vui vẻ và nói: “Đẹp đấy, nhưng tôi cũng làm được!” Bà cũng mở cửa sổ, làm các động tác vẫy tương tự, và chẳng bao lâu một con bướm trắng thứ hai bay lượn vào. Nó bay lên trần, đuổi con kia vòng khắp phòng, thỉnh thoảng “chơi” với nó, rồi cả hai cùng bay đến một góc, và, presto! cả hai biến mất ngay trước mắt chúng tôi. “Nghĩa là sao?” tôi hỏi. “Chỉ thế này: Ngài B. có thể khiến một hành khí hoá thành bướm, và tôi cũng vậy.” Những côn trùng ấy không phải là thật, mà là ảo ảnh.
I recall other instances of her control of elementals or, as Hindus would term it, Yakshini Vidya. An early one is the following: On a cold winter’s night, when several inches of snow lay upon the ground, she and I were working upon her book until a late hour at her rooms in Thirty-fourth Street. I had eaten some saltish food for dinner, and at about 1 A.M., feeling very thirsty, said to her: “Would it not be nice to have some hothouse grapes?” “So it would,” she replied, “let us have some.” “But the shops have been closed for hours, and we can buy none,” I said. “No matter, we shall have them, all the same,” was her reply. “But how?” “I will show you, if you will just turn down that gas-light on the table in front of us.” I turned the cock unintentionally so far around as to extinguish the light. “You need not have done that,” she said. “I only wanted you to make the light dim. However, light it again quickly.” A box of matches lay just at hand, and in a moment I had relit the lamp. “See!” she exclaimed, pointing to a hanging book-shelf on the wall before us. To my amazement there hung from the knobs at the two ends of one of the shelves two large bunches of ripe black Hamburg grapes, which we proceeded to eat. To my question as to the agency employed, she said it was done by certain elementals under her control, and twice later on, when we were living in the so-called “Lamasery,” she repeated the phenomenon of bringing fruits for our refreshment while at work on Isis.
Tôi còn nhớ những trường hợp khác về sự điều khiển các hành khí của Bà, hay, như người Ấn sẽ gọi, Yakshini Vidya. Một chuyện sớm là thế này: Vào một đêm đông lạnh, khi tuyết phủ dày mấy tấc trên mặt đất, Bà và tôi đang làm việc trên bản thảo của Bà đến tận khuya tại phòng ở của Bà trên đường Ba Mươi Tư. Do ăn món mặn tối đó, khoảng 1 giờ sáng tôi thấy rất khát, bèn nói với Bà: “Có ít nho nhà kính thì tuyệt nhỉ?” “Tuyệt chứ,” Bà đáp, “chúng ta hãy có nho.” “Nhưng các tiệm đã đóng cửa từ lâu, đâu mua được,” tôi nói. “Không sao, ta vẫn sẽ có,” Bà đáp. “Nhưng bằng cách nào?” “Tôi sẽ cho ông xem, nếu ông chịu vặn nhỏ ngọn đèn gas trên bàn trước mặt ta.” Tôi vô ý vặn khóa xa quá khiến đèn tắt phụt. “Ông không cần làm thế,” Bà nói. “Tôi chỉ muốn ông làm dịu ánh sáng. Tuy nhiên, nhanh lên, thắp lại đi.” Ngay bên tay là hộp diêm, và chỉ một thoáng tôi đã thắp lại đèn. “Nhìn kìa!” Bà kêu, chỉ về chiếc kệ sách treo trên bức tường trước mặt. Với sự kinh ngạc, tôi thấy treo ở chốt hai đầu của một trong những tầng kệ là hai chùm nho đen Hamburg chín mọng, và chúng tôi bèn ăn. Trước câu hỏi của tôi về phương tiện được dùng, Bà nói rằng việc đó do các hành khí dưới quyền Bà làm, và hai lần sau đó, khi chúng tôi ở trong nơi gọi là “Lamasery”, Bà lặp lại hiện tượng đưa trái cây đến cho chúng tôi dùng khi đang làm việc trên Isis.
Little by little, H. P. B. let me know of the existence of Eastern adepts and their powers, and gave me by a multitude of phenomena the proofs of her own control over the occult forces of nature. At first, as I have remarked, she ascribed them to “John King,” and it was through his alleged friendliness that I first came into personal correspondence with the Masters. Many of their letters I have preserved, with my own endorsement of the dates of their reception. For years, and until shortly before I left New York for India, I was connected in pupilage with the African section of the Occult Brotherhood; but, later, when a certain wonderful psycho-physiological change happened to H. P. B. that I am not at liberty to speak about, and that nobody has up to the present suspected, although enjoying her intimacy and full confidence, as they fancy, I was transferred to the Indian section and a different group of Masters. For, it may be stated, there is and ever was but one altruistic alliance, or fraternity, of these Elder Brothers of humanity, the world over; but it is divided into sections according to the needs of the human race in its successive stages of evolution. In one age the focal centre of this world-helping force will be in one place, in another elsewhere. Unseen, unsuspected as the vivifying spiritual currents of the Akash, yet as indispensable for the spiritual welfare of mankind, their combined divine energy is maintained from age to age and forever refreshes the pilgrim of Earth, who struggles on towards the Divine Reality. The sceptic denies the existence of these adepts because he has not seen or talked with them, nor read in history of their visible intermeddling in national events. But their being has been known to thousands of self-illuminate mystics and philanthropists in succeeding generations, whose purified souls have lifted them up out of the muck of physical into the brightness of spiritual consciousness; and at many epochs they have come into personal relations with the persons who are devoting or inclined to devote themselves to altruistic labour for bringing about the brotherhood of mankind. Some of this class, very humble and apparently very unworthy—like us leaders of the Theosophical Society movement—have been blessed with their sympathy and partaken of their instruction. Some, like Damodar and H. P. B., have first seen them in visions while young; some have encountered them under strange guises in most unlikely places; I was introduced to them by H. P. B. through the agency that my previous experiences would make most comprehensible, a pretended medium-overshadowing “spirit.” John King brought four of the Masters to my attention, of whom one was a Copt, one a representative of the Neo Platonist Alexandrian school, one—a very high one, a Master of the Masters, so to say—a Venetian, and one an English philosopher, gone from men’s sight, yet not dead. The first of these became my first Guru, and a stern disciplinarian he was, indeed, a man of splendid masculinity of character.
Dần dần, H. P. B. cho tôi biết về sự tồn tại của các Chân sư phương Đông và các quyền năng của Các Ngài, và cho tôi thấy bằng một bội số hiện tượng những bằng chứng về quyền năng của Bà trong việc chế ngự các mãnh lực huyền bí của thiên nhiên. Thoạt đầu, như tôi đã nói, Bà quy chúng cho “John King”, và chính nhờ cái tình hữu hảo được cho là của hắn mà tôi lần đầu được đặt vào quan hệ thư tín riêng với các Chân sư. Nhiều thư của Các Ngài tôi còn giữ, kèm theo lạc khoản của chính tôi về ngày tháng nhận được. Trong nhiều năm, và cho đến ngay trước khi tôi rời New York sang Ấn Độ, tôi ở vào địa vị môn sinh đối với phân bộ châu Phi của Huynh Đoàn Huyền bí; nhưng về sau, khi nơi H. P. B. xảy ra một biến đổi tâm-sinh lý kỳ diệu mà tôi không có quyền nói đến, và cho đến nay không ai nghi ngờ, cho dù họ tưởng rằng mình thân cận và được tin cậy trọn vẹn, tôi được chuyển sang phân bộ Ấn Độ và một nhóm Chân sư khác. Bởi, có thể nói rằng, xưa nay chỉ có một liên minh vị tha, hay huynh đoàn, của các Huynh Trưởng của nhân loại trên toàn thế giới; nhưng liên minh ấy chia thành các phân bộ tùy theo nhu cầu của nhân loại trong các giai đoạn tiến hoá kế tiếp nhau. Ở một thời đại, tiêu điểm của lực trợ giúp thế gian này sẽ ở một nơi; ở thời đại khác, lại ở nơi khác. Tuy vô hình, không ai ngờ tới như các lưu lưu tinh thần sinh động của Akasha, song năng lượng thần thánh tổng hợp của Các Ngài lại tối ư cần thiết cho phúc lợi tinh thần của nhân loại; năng lượng ấy được duy trì qua các thời đại và mãi mãi làm tươi mát người lữ khách trần gian, kẻ vẫn đang vật lộn hướng về Thực Tại Thiêng Liêng. Kẻ hoài nghi phủ nhận sự hiện hữu của các Chân sư vì hắn chưa thấy hay trò chuyện với Các Ngài, cũng chưa đọc trong sử về việc Các Ngài can thiệp hữu hình vào các biến cố quốc gia. Nhưng sự hiện hữu của Các Ngài đã được biết đến bởi hàng ngàn nhà thần bí tự minh và nhà nhân ái qua nhiều thế hệ, những người có linh hồn được thanh lọc đã đưa họ ra khỏi bùn lầy của cõi vật chất vào quang minh của tâm thức tinh thần; và ở nhiều thời kỳ, Các Ngài đã bước vào quan hệ cá nhân với những người đang hiến mình hoặc khuynh hướng hiến mình cho lao tác vị tha hầu kiến tạo tình huynh đệ của nhân loại. Một số thuộc hạng này, rất khiêm hạ và bề ngoài xem ra rất không xứng—như bọn chúng tôi, những người lãnh đạo phong trào Hội Thông Thiên Học—đã được chúc phúc bởi sự cảm thông của Các Ngài và được chia sẻ giáo huấn của Các Ngài. Có người, như Damodar và H. P. B., lần đầu thấy Các Ngài trong thị kiến khi còn trẻ; có người gặp Các Ngài dưới những lốt lạ tại những nơi tưởng chừng không thể; tôi thì được Bà H. P. B. giới thiệu với Các Ngài qua phương tiện mà những trải nghiệm trước đó của tôi khiến tôi dễ hiểu nhất—một “vong linh” che phủ một đồng tử giả dạng. John King đã đưa bốn vị Chân sư đến sự chú ý của tôi, trong đó có một vị là người Copt, một vị đại diện cho trường phái Tân Platon ở Alexandria, một vị—rất cao, một bậc Thầy của các Thầy, có thể nói—là người Venice, và một vị là triết gia người Anh, khuất khỏi tầm nhìn của đời người, song chưa chết. Vị thứ nhất trong số đó trở thành vị Đạo sư đầu tiên của tôi, và thực là một nhà giáo kỷ luật nghiêm khắc, người có nam tính huy hoàng trong tính cách.
In time I came to know from themselves that H. P. B. was a faithful servant of theirs, though her peculiar temperament and idiosyncracies made her too antipathetic to some of them to permit of their working with her. This will not seem strange if one remembers that each individual man, whether adept or laic, has evolved along a particular ray of the Logos, and is in spiritual sympathy with his associate souls of that ray, and may be in antagonism, on this physical plane, with entities of another ray when clothed in flesh. This is probably the ultima ratio of what is called magnetic, auric, or psychical sympathy and antipathy. Whatever the reason may be some of the Masters could not and did not work with H. P. B. Several did, among them some whose names, have never as yet been given out, but whom I had much intercourse with in those early years of the Theosophical Society movement.
Về sau, chính từ Các Ngài tôi được biết rằng H. P. B. là một người tôi tớ trung tín của Các Ngài, dù khí chất đặc thù và các tánh riêng của Bà khiến Bà quá tương phản với một vài vị trong Các Ngài đến nỗi không cho phép Các Ngài làm việc với Bà. Điều này không có gì lạ nếu người ta nhớ rằng mỗi cá nhân, dù là Chân sư hay người đời, đều tiến hóa theo một cung của Logos, và tương thông tinh thần với các linh hồn phối ngẫu thuộc cung ấy, và có thể trên cõi vật chất này sẽ tương nghịch với những hữu thể thuộc cung khác khi khoác xác phàm. Đây rất có thể là căn nguyên sau cùng của cái gọi là cảm ứng từ, cảm ứng hào quang, hay cảm ứng tâm linh—thiện cảm và ác cảm. Vì bất luận lý do nào, một vài vị Chân sư đã không thể và đã không làm việc với H. P. B. Một số vị khác thì có, trong đó có những vị mà danh tính đến nay chưa từng được tiết lộ, nhưng với các vị ấy tôi đã có nhiều giao tiếp trong những năm đầu của phong trào Hội Thông Thiên Học.
Among other things about herself H. P. B. told me, when I had got along far enough to know of the Brotherhood and her relation with it, that she had come to Paris the previous year (1873) intending to settle down for some time under the protection of a relative of hers, residing in the Rue de l’Université, but one day received from the “Brothers” a peremptory order to go to New York to await further orders.
Trong những điều Bà kể về chính mình, khi tôi đã tiến đủ xa để biết về Huynh Đoàn và mối liên hệ của Bà với Huynh Đoàn, H. P. B. cho biết rằng năm trước (1873) Bà đến Paris với dự định định cư một thời gian dưới sự che chở của một người bà con, trú tại Rue de l’Université, nhưng một ngày nọ Bà nhận từ các “Huynh Trưởng” lệnh khẩn phải đi New York để chờ chỉ thị tiếp.
The next day she had sailed with little more than money enough to pay her passage. She wrote to her father for funds to be sent her in care of the Russian Consul in New York, but this could not arrive for some time, and as the Consul refused her a loan, she had to set to work to earn her daily bread. She told me she had taken lodgings in one of the poorest quarters in New York—Madison Street—and supported herself by making cravats or artificial flowers—I forget which now—for a kind-hearted Hebrew shop-keeper. She always spoke to me with gratitude about this little man. As yet she had received no intimation as to the future, it was a sealed book. But the following year, in October, 1874, she was ordered to go to Chittenden and find the man who, as it turned out, was to be her future colleague in a great work—myself.Her intimate friends will recollect her telling this story about her sudden departure under orders from Paris to New York. Mr. Sinnett mentions it in his Incidents in the Life of Madame Blavatsky (page 175), and it has been elsewhere published. But these acquaintances had it from her later on, and her enemies may say it was an after-thought of hers, a falsehood concocted to fit in with a little farce she subsequently invented. Accident, however,—if it be an accident—has just now, while I am writing these pages, brought me a valuable bit of corroborative proof. We have had staying at Adyar an American lady, Miss Anna Ballard, a veteran journalist, a life member of the New York Press Club, who, in the course of professional duty, met H. P. B. in the first week after her arrival at New York. In the course of conversation, amid a variety of less important facts, Miss Ballard casually mentioned to me two, that I at once begged her to put in writing, viz.: that H. P. B., whom she found living in a squalid lodging-house, said that she had suddenly and unexpectedly left Paris at one day’s notice, and, secondly, that she had visited Tibet. Here is Miss Ballard’s own version of the affair:
Hôm sau Bà xuống tàu, hành trang không nhiều hơn số tiền vừa đủ để trả vé. Bà viết cho thân phụ xin gửi tiền đến cho Bà theo địa chỉ của Lãnh sự Nga ở New York, nhưng vì tiền chưa thể đến ngay, còn vị Lãnh sự thì khước từ cho vay, Bà buộc phải tự mưu sinh. Bà kể rằng Bà đã thuê phòng tại một xó nghèo nhất ở New York—đường Madison—và tự nuôi bằng việc may cà vạt hoặc kết hoa giả—giờ tôi quên là cái nào—cho một ông chủ tiệm người Do Thái tốt bụng. Bà luôn nói với tôi về người đàn ông nhỏ bé này với lòng biết ơn. Khi ấy Bà chưa nhận được một ám chỉ nào về tương lai, nó là một cuốn sách còn niêm phong. Nhưng năm sau, vào Tháng Mười năm 1874, Bà được lệnh đi Chittenden để tìm người mà, hoá ra, sẽ là cộng sự viên tương lai của Bà trong một công cuộc vĩ đại—là chính tôi. Bạn hữu thân mật của Bà ắt còn nhớ câu chuyện Bà kể về cuộc ra đi đột ngột theo lệnh từ Paris sang New York. Ông Sinnett có nhắc chuyện ấy trong Incidents in the Life of Madame Blavatsky (trang 175), và câu chuyện này cũng đã xuất hiện ở nơi khác. Nhưng những người quen ấy chỉ nghe Bà thuật về sau, và kẻ thù của Bà có thể nói đó là điều Bà nghĩ ra sau này, một điều bịa nhằm khớp vào một tiểu kịch do Bà dựng nên về sau. Tuy nhiên, tình cờ—nếu quả là tình cờ—ngay lúc tôi đang viết những dòng này, đã đưa đến tay tôi một mẩu bằng chứng bổ trợ quý giá. Chúng tôi có một nữ ký giả Mỹ ở lại Adyar, Cô Anna Ballard, một cây bút lão thành, hội viên trọn đời của New York Press Club, người mà trong công vụ đã gặp H. P. B. ngay tuần lễ đầu tiên sau khi Bà cập bến New York. Trong câu chuyện, giữa muôn điều vặt vãnh, Cô Ballard tình cờ kể cho tôi hai điều mà tôi liền nài Cô cho vào văn bản, tức: H. P. B., người mà Cô gặp lúc đang ở trong một nhà trọ tồi tàn, nói rằng Bà đã rời Paris một cách đột ngột và bất ngờ chỉ với thông báo trước một ngày, và điều thứ hai là Bà đã ghé Tây Tạng. Sau đây là thuật lại của chính Cô Ballard:
“ADYAR, 17th January, 1892.
“ADYAR, ngày 17 tháng Giêng, 1892.
“DEAR COL. OLCOTT:—My acquaintanceship with Mme. Blavatsky dates even further back than you suppose. I met her in July, 1873, at New York, not more than a week after she landed. I was then a reporter on the staff of the New York Sun, and had been detailed to write an article upon a Russian subject. In the course of my search after facts the arrival of this Russian lady was reported to me by a friend, and I called upon her; thus beginning an acquaintance that lasted several years. At our first interview she told me she had had no idea of leaving Paris for America until the very evening before she sailed, but why she came or who hurried her off she did not say. I remember perfectly well her saying with an air of exultation, ‘I have been in Tibet.’ Why she should think that a great matter, more remarkable than any other of the travels in Egypt, India, and other countries she told me about, I could not make out, but she said it with special emphasis and animation. I now know, of course, what it means. ANNA BALLARD.”
“Kính gửi Đại tá Olcott:—Mối quen biết của tôi với Bà Blavatsky còn xa hơn ông nghĩ. Tôi gặp Bà vào tháng Bảy năm 1873, tại New York, không quá một tuần sau khi Bà đặt chân lên bờ. Khi đó tôi là phóng viên trong ban biên chế của tờ New York Sun, và được phân đi viết một bài về một đề tài người Nga. Trong quá trình tìm kiếm tư liệu, tôi được một người bạn báo cho biết về cuộc cập bến của nữ đồng bào Nga này, và tôi đến thăm Bà; từ đó mở đầu cho một mối quen biết kéo dài nhiều năm. Trong cuộc chuyện trò đầu tiên, Bà nói với tôi rằng Bà không hề có ý rời Paris sang Mỹ cho đến tối hôm trước ngày xuống tàu, nhưng vì sao Bà sang và ai đã hối thúc Bà đi thì Bà không nói. Tôi còn nhớ rất rõ Bà đã nói với vẻ hả hê: ‘Tôi đã từng ở Tây Tạng.’ Vì sao Bà lại xem đó là một điều to tát, đáng kể hơn bất cứ chuyến đi nào khác ở Ai Cập, Ấn Độ, và những xứ sở khác mà Bà kể cho tôi, thì tôi không thể hiểu nổi, nhưng Bà đã nói điều đó với sự nhấn mạnh và phấn khích đặc biệt. Giờ đây, dĩ nhiên, tôi đã hiểu điều ấy có nghĩa gì. ANNA BALLARD.”
Unless prepared to concede to H. P. B. the power of foreseeing that I should be getting this written statement from Miss Ballard in India, nineteen years later, the fairminded reader will admit that the statements she made to her first friend in New York, in 1873, strongly corroborate the assertions she has ever since made to a large number of people about the two most important incidents in the history of her connection with the Theosophical movement, (a) her preparation in Tibet, and (b) her journey to America in search of the person whose Karma linked him to her as the co-agent to set this social wave in motion.
Trừ phi người đọc có thiện chí sẵn sàng thừa nhận rằng H. P. B. đã có quyền năng thấy trước rằng mười chín năm sau tôi sẽ nhận được bản ghi chép viết tay này của Cô Ballard tại Ấn Độ, thì công bằng mà nói, người ấy phải thừa nhận rằng những lời Bà nói với người bạn đầu tiên của Bà tại New York vào năm 1873 là sự củng cố mạnh mẽ cho các quả quyết mà từ đó đến nay Bà vẫn luôn nêu ra với nhiều người về hai biến cố quan trọng nhất trong lịch sử mối liên hệ của Bà với phong trào Hội Thông Thiên Học: (a) sự chuẩn bị của Bà tại Tây Tạng, và (b) hành trình của Bà sang Mỹ để tìm người mà Nghiệp quả đã phối kết với Bà như là đồng tác động viên để khởi phát làn sóng xã hội này.
She made an abortive attempt to found a sort of Spiritual Society at Cairo, in 1871 [vide Peeb1es’ Around the World, p. 215, and Sinnett’s Incidents in the Life of Mme. Blavatsky, p. 158], upon a basis of phenomena. Not having the right persons to organise and direct it, it was a lamentable fiasco and brought upon her much ridicule. Yet the magical phenomena she wrought with the help of the self-same Copt and another adept whom I subsequently came into relations with, were most startling. [4] It was apparently a reckless waste of psychic energy, and indicated anything but either personal infallibility or divine guidance. I could never understand it. And as regards the Theosophical Society every circum-stance tends to show that it has been a gradual evolution, controlled by circumstances and the resultant of opposite forces, now running into smooth, now into rough grooves, and prosperous or checked proportionately with the wisdom or unwisdom of its management. The general direction has always been kept, its guiding motive ever identical, but its programme has been variously modified, enlarged, and improved as our knowledge increased and experience from time to time suggested. All things show me that the movement as such was planned out beforehand by the watching Sages, but all details were left for us to conquer as best we might. If we had failed, others would have had the chance that fell to our Karma, as I fell heir to the wasted chances of her Cairo group of 1871. Speaking of growth of knowledge, I can look back and trace a constant enlargement of my ownideas, deeper perception of truth, and capacity to assimilate and impart ideas. My published articles and letters between 1875 and 1878 prove this distinctly. When I was a child (in Occultism) I spoke as a child; often dogmatically, after the fashion of comparative tyros.
Bà đã thực hiện một nỗ lực bất thành nhằm lập ra một thứ Hội tinh thần tại Cairo, vào năm 1871 [xem Peeb1es’ Around the World, tr. 215, và Sinnett’s Incidents in the Life of Mme. Blavatsky, tr. 158], đặt nền trên các hiện tượng. Vì không có những người thích hợp để tổ chức và điều khiển, nên đó là một sự thất bại đáng tiếc và đem đến cho bà nhiều lời chế nhạo. Tuy vậy, các hiện tượng huyền thuật bà tạo ra với sự trợ giúp của chính người Copt ấy và một chân sư khác mà về sau tôi có mối giao tiếp, thì lại gây kinh ngạc tột bậc. Bề ngoài, đó dường như là một sự phung phí liều lĩnh năng lượng thông linh, và chẳng cho thấy chút gì giống như sự vô ngộ cá nhân hay sự hướng dẫn thiêng liêng. Tôi không bao giờ hiểu nổi điều ấy. Còn về Hội Thông Thiên Học thì mọi hoàn cảnh đều cho thấy rằng nó là một tiến trình tiến hóa dần dần, được chi phối bởi hoàn cảnh và là kết quả của các lực đối nghịch, lúc trôi êm trên rãnh láng, lúc lao vào rãnh gồ ghề, và thịnh suy tương xứng với sự khôn ngoan hay bất khôn ngoan trong điều hành. Hướng đi chung luôn được giữ vững, động cơ dẫn dắt vẫn hằng như một, nhưng cương lĩnh đã được sửa đổi, mở rộng, và cải thiện theo đà tri thức của chúng ta tăng trưởng và theo những gợi ý của kinh nghiệm từng thời điểm. Mọi điều đều cho tôi thấy rằng phong trào như thế đã được các Bậc Minh Triết theo dõi định hoạch trước, nhưng mọi tiểu tiết được để cho chúng ta tự chinh phục theo khả năng tốt nhất có thể. Nếu chúng ta thất bại, những kẻ khác ắt sẽ có cơ hội vốn thuộc về Nghiệp quả của chúng ta, như tôi đã thừa hưởng những cơ hội bị hoang phí của nhóm Cairo năm 1871 của bà. Nói về sự lớn lên của tri thức, tôi có thể nhìn lại và nhận ra một sự mở rộng liên tục trong quan niệm của chính mình, sự cảm thấu chân lý sâu hơn, và năng lực dung nạp rồi truyền đạt tư tưởng. Những bài báo và thư từ tôi công bố giữa 1875 và 1878 chứng tỏ điều này một cách rõ rệt. Khi còn là một đứa trẻ (trong Huyền bí học) tôi nói năng như một đứa trẻ; thường khẳng định chắc nịch, theo kiểu những kẻ mới tập tễnh.
I never heard anything from H. P. B. in the early days to make me think that she had the least intimation, until sent to Chittenden to me, about any future relationship between us in work, nor even then that the Theosophical Society was to be. We have it on her own authority, as quoted above, that she was sent from Paris to New York in the interest of Spiritualism, in the best sense of that word, and before we met she had attended séances and consorted with mediums, but never came under public notice. In May, 1875, I was engaged in trying to organise at New York with her concurrence a private investigating committee under the title of the “Miracle Club.” In the Scrap-book (Vol. I) she writes about it:
Tôi chưa từng nghe từ H. P. B. trong những ngày đầu điều gì khiến tôi nghĩ rằng Bà có chút báo trước nào—cho đến khi được sai phái đến Chittenden gặp tôi—về mối tương quan nào trong tương lai giữa chúng tôi trong công việc, thậm chí lúc ấy cũng chưa hề rằng Hội Thông Thiên Học sẽ ra đời. Theo chính lời Bà, như đã trích dẫn ở trên, thì Bà được sai từ Paris đến New York vì lợi ích của Thần linh học, theo nghĩa tốt đẹp nhất của từ ấy, và trước khi chúng tôi gặp nhau Bà đã dự các Buổi gọi hồn và giao du với các đồng tử, nhưng chẳng bao giờ xuất hiện trước công chúng. Vào tháng Năm, 1875, tôi đang cố gắng tổ chức tại New York, với sự đồng thuận của Bà, một ủy ban điều tra tư dưới danh xưng “Câu lạc bộ Phép Lạ.” Trong Sổ Lưu Bút (Tập I) Bà viết về việc đó:
“An attempt in consequence of orders received from T* B* (a Master) through P. (an Elemental) personating John King. Ordered to begin telling the public the truth about the phenomena and their mediums. And now my martyrdom will begin! I shall have all the Spiritualists against me, in addition to the Christians and the Sceptics. Thy will, oh M., be done. H. P. B.”
“Một nỗ lực do hậu quả của lệnh nhận được từ T* B* (một Chân sư) qua P. (một Hành khí) giả dạng John King. Được lệnh bắt đầu nói cho công chúng biết sự thật về các hiện tượng và các đồng tử của họ. Và giờ cuộc tử đạo của tôi sẽ bắt đầu! Tôi sẽ có toàn bộ giới Thần linh học chống lại tôi, thêm vào đó là những người theo Kitô giáo và những kẻ hoài nghi. Ý của Ngài, ôi Chân sư M., nguyện được thành tựu. H. P. B.”
The plan was to keep closed doors to all save the members of the Club, who were forbidden to divulge even the place of meeting. “All the manifestations,including materialisations, to occur in the light, and without a cabinet.” [Spiritual Scientist, May 19, 1876.] Taking H. P. B.’s remark above, as written, it looks as though there would have been no Theosophical Society—it looks so, I say—if her intended medium for the Miracle Club had not utterly failed us and so precluded my completing the organisation.
Kế hoạch là đóng cửa với mọi người trừ thành viên của Câu lạc bộ, những người bị cấm tiết lộ ngay cả địa điểm họp. “Mọi hiện tượng, kể cả hiện hình, đều xảy ra trong ánh sáng và không có buồng tối.” [Spiritual Scientist, May 19, 1876.] Lấy lời nhận xét trên của H. P. B. như đã viết, thì có vẻ như đã chẳng có Hội Thông Thiên Học—tôi nói là có vẻ như thế—nếu người đồng tử dự định cho Câu lạc bộ Phép Lạ không hoàn toàn làm chúng tôi thất vọng, và do đó khiến tôi không thể hoàn tất việc tổ chức.
I notice in Mr. Sinnett’s book the coincidence that she arrived at New York on the 7th of July, 1873—that is to say on the seventh day of the seventh month of her forty-second year (6 X 7), and that our meeting was postponed until I should have attained my forty-second year. And, to anticipate, it must also be remarked that she died in the seventh month of the seventeenth year of our Theosophical relationship. Add to this the further fact, recently published by me in the Theosophist, that Mrs. Annie Besant came to H. P. B. as an applicant for membership in the seventh month of the seventeenth year after her final withdrawal from the Christian communion, and we have here a pretty set of coincidences to bear in mind.
Tôi nhận thấy trong sách của Ông Sinnett một sự trùng hợp là bà đến New York vào ngày 7 tháng Bảy, 1873—nghĩa là vào ngày thứ bảy của tháng thứ bảy trong năm thứ bốn mươi hai của đời bà (6 X 7), và cuộc gặp của chúng tôi bị hoãn cho đến khi tôi bước vào năm thứ bốn mươi hai của mình. Và, nói trước, cũng phải ghi nhận rằng bà mất vào tháng thứ bảy của năm thứ mười bảy trong mối tương quan Thông Thiên Học giữa chúng tôi. Cộng thêm sự kiện nữa, do tôi vừa công bố trên The Theosophist, rằng Bà Annie Besant đến với H. P. B. xin gia nhập vào tháng thứ bảy của năm thứ mười bảy kể từ khi bà dứt khoát rời khỏi cộng đồng Kitô giáo, thì chúng ta có một loạt trùng hợp khá thú vị đáng ghi nhớ.
CHAPTER II—CHƯƠNG II
MADAME BLAVATSKY IN AMERICA—BÀ BLAVATSKY Ở MỸ
I HAVE found a letter to myself from an older acquaintance of Madame Blavatsky’s than even Miss Ballard, the existence of which I had forgotten. The last-named lady met her at New York within the first week after her arrival from France, but Dr. Marquette knew her in Paris, before she started on that long and brilliant career which led, per aspera ad astra, to end at the Woking crematory for the moment, in 1891, and then keep on and ever onward. The innuendoes about her having led a wild life at the French capital in 1873, are answered by this frank statement of an educated lady physician, whom I personally knew at New York, but who, I understand, is now deceased. She says:
Tôi vừa tìm thấy một bức thư gửi riêng cho tôi từ một người quen biết Bà Blavatsky lâu năm hơn cả Cô Ballard—tôi đã quên mất sự tồn tại của nó. Vị nữ sĩ vừa nêu gặp bà ở New York trong tuần lễ đầu tiên sau khi bà đặt chân đến từ Pháp, nhưng Bác sĩ Marquette thì biết bà ở Paris, trước khi bà khởi hành trên con đường sự nghiệp dài và rực rỡ dẫn, qua chông gai mà tới các vì sao, để kết thúc tạm thời ở lò hỏa táng Woking vào năm 1891, rồi tiếp tục và còn tiếp tục mãi. Những lời bóng gió về việc bà đã sống một cuộc đời phóng túng ở kinh đô Pháp năm 1873 được trả lời bằng lời tuyên bố thẳng thắn này của một nữ y sĩ có học thức, người mà tôi quen biết tại New York, nhưng theo tôi được biết thì nay đã qua đời. Bà viết:
“NEW YORK, December 26, 1875.
“NEW YORK, ngày 26 tháng 12, 1875.
“DEAR SIR:
“THƯA ÔNG:
“In reply to your inquiries, I have to say that I made Madame Blavatsky’s acquaintance in Paris in the year 1873. She was living in the Rue du Palais in an apartment [5] with her brother, M. Hahn, and his intimate friend M. Lequeux. I was with her almost daily, and, in fact, spent a good part of my time with her when I was not in the hospitals or attending the lectures. I am, therefore able to state from positive knowledge, what her behaviour was. It gives me great pleasure to say that that behaviour was unexceptionable, and such as to entitle her to every respect. She passed her time in painting and writing, seldom going out of her room. She had few acquaintances, but among the number were M. and Mme. Leymarie. Mme. Blavatsky I esteem as one of the most estimable and interesting ladies I ever met, and since my return from France, our acquaintance and friendship have been renewed.
“Đáp lại các câu hỏi của ông, tôi xin nói rằng tôi quen biết Bà Blavatsky ở Paris vào năm 1873. Bà sống tại đường Rue du Palais trong một căn hộ cùng anh trai, Ông Hahn, và người bạn thân của ông là Ông Lequeux. Tôi gần như ngày nào cũng ở với bà, thực tế là dành phần lớn thời gian của mình với bà khi tôi không ở bệnh viện hay dự các buổi giảng. Vì vậy tôi có thể xác nhận dựa trên hiểu biết trực tiếp, về tư cách hạnh kiểm của bà. Tôi rất vui được nói rằng hạnh kiểm ấy hoàn toàn không có gì chê trách, và xứng đáng với mọi sự kính trọng. Bà dành thời gian vẽ và viết, hiếm khi ra khỏi phòng. Bà có ít quen biết, nhưng trong số đó có Ông và Bà Leymarie. Bà Blavatsky, theo tôi, là một trong những phụ nữ đáng kính và thú vị nhất mà tôi từng gặp, và kể từ khi tôi trở về từ Pháp, sự quen biết và tình thân giữa chúng tôi đã được nối lại.
“Yours respectfully,
“Kính trọng,
(Sd.) “L. M. MARQUETTE, M.D.”
(Đã ký) “L. M. MARQUETTE, Bác sĩ.”
In the preceding chapter it was mentioned that she had left Paris for New York, by order of the Masters, on a day’s notice, and with barely enough money to pay her way out. I recall a circumstance of the journey which, as she told it, brings into high relief one trait of her many-angled character—her impulsive generosity. She had bought a first-class ticket from Havre to New York, and had gone to the quay to either see or embark on the steamer, when her attention was attracted by a peasant woman, sitting on the ground with a child or two beside her, and weeping bitterly. Drawing near, H. P. B. found she was from Germany on her way to America to rejoin her husband, but a swindling emigrant runner at Hamburg had sold her bogus steamer tickets, and there she was, penniless and helpless: the steamship company could do nothing, of course, and she had neither relative nor acquaintance in Havre. The heart of our kind H. P. B. was so touched that she said: “No matter, good woman, I will see if something cannot be done.” She first vainly tried her powers of persuasion (and objurgation) upon the blameless agent of the company, and then, as a last expedient—her own funds being insufficient for the purpose—had her saloon ticket changed for a steerage berth for herself, and for the difference got steerage tickets for the poor woman and her children! Many “proper” and “respectable” people have often expressed horror at H. P. B.’s coarse eccentricities, including profanity, yet I think that a generous deed like this would cause whole pages of recorded solecisms in society manners to be washed away from the Book of Human Accounts! If any doubt it, let them try the steerage of an emigrant ship.
Trong chương trước có nhắc rằng bà rời Paris sang New York, theo lệnh của các Chân sư, trong vòng một ngày báo trước, và chỉ vừa đủ tiền để đi đường. Tôi còn nhớ một tình tiết của chuyến đi mà, như bà kể, làm nổi bật một nét trong con người đa diện của bà—lòng hào phóng bộc phát. Bà đã mua vé hạng nhất từ Havre đến New York, và ra bến tàu để xem hay để xuống tàu, thì sự chú ý của bà bị lôi cuốn bởi một người đàn bà nông dân, ngồi bệt dưới đất với một đứa hay hai đứa trẻ bên cạnh, đang khóc nức nở. Tiến lại gần, H. P. B. biết bà ta từ Đức, trên đường sang Mỹ để đoàn tụ với chồng, nhưng một tay cò di dân lừa đảo ở Hamburg đã bán vé tàu giả cho bà, và giờ bà ta lâm cảnh khánh kiệt, bất lực: tất nhiên công ty tàu biển không thể làm gì, và bà ta chẳng có họ hàng hay quen biết nào ở Havre. Trái tim nhân hậu của H. P. B. động cảm đến nỗi bà nói: “Không sao đâu, chị tốt ạ, tôi sẽ xem có thể làm gì chăng.” Trước hết bà dùng tài thuyết phục (và cả quở trách) nhưng vô ích với người đại lý vô can của hãng, rồi, như biện pháp cuối cùng—vì tiền của chính bà không đủ—bà đổi vé khoang hạng nhất của mình lấy một chỗ hạng hầm, và dùng phần tiền chênh lệch mua vé hạng hầm cho người đàn bà tội nghiệp cùng các con! Nhiều người “đúng mực” và “đáng kính” thường bày tỏ kinh hoàng trước những lập dị thô lỗ của H. P. B., kể cả thói văng tục, vậy mà tôi nghĩ một việc làm rộng lượng như thế đủ rửa sạch cả những trang dài những lầm lỗi về phép xã giao đã ghi trong Sổ Cái Nhân Loại! Nếu ai hoài nghi, xin họ thử một lần xuống hạng hầm của tàu chở di dân.
We have seen how Miss Ballard found H. P. B. living in a wretched tenement-house in an East-end New York street, pending the arrival of money from home, and honestly supporting herself by sewing cravats. This was in July, 1873. In the following October her ever-indulgent, forbearing, and beloved father, died, and, on the 29th of the month, she received a cable dispatch from Stavropol, from her sister “Elise,” conveying the news and informing her as to the amount of her heritage: adding that a draft for 1000 roubles had been sent her. [I have the original dispatch before me as I write.] In due course of post she received all the money, and then shifted her quarters to better neighbourhoods in New York city—Union Square, East Sixteenth St., Irving Place, etc., and it was in the last-named I found her domiciled upon returning from the Eddy Homestead. Her money did not stay with her long, however, for, as it is recorded in Mr. Sinnett’s book, while she could endure with perfect patience the miseries of poverty if compelled, no sooner did money fall into her lap than she seemed to be unhappy unless she was throwing it away with both hands in the most imprudent fashion. A document in my possession illustrates this so well that I must quote from it. It is an agreement entitled “Articles of co-partnership entered into this twenty-second day of June, in the year One thousand eight hundred and seventy-four, by and between C...... G.......,party of the first part and Helen Blavatsky, party of the second part, to wit: “Clause 1 recites that the co-partnership is “for the purpose of working the land and farm at N—, in the County of—, Long Island,” the property of C. G.; Clause 2 says, “the said co-partnership shall commence on the first day of July, 1874, and shall continue for the period of three years.” Clause 3 states that C. G. puts the use of the farm into the co-partnership as an off-set against the sum of one thousand dollars paid in by H. P. B. By Clause 4 “all proceeds for crops, poultry, produce, and other products raised on the said farm shall be divided equally, and all expenses” equally shared. Clause 5, and last, reserves the title of the land to C. G. The document is duly signed and sealed by the parties, witnessed and recorded.
Chúng ta đã thấy Cô Ballard gặp H. P. B. sống trong một căn nhà tồi tàn ở khu Đông New York, chờ tiền từ nhà gửi đến, và lương thiện tự nuôi thân bằng việc khâu cà vạt. Đó là vào tháng Bảy, 1873. Tháng Mười sau đó, người cha luôn khoan dung, nhẫn nại và yêu quý của bà qua đời, và vào ngày 29 trong tháng, bà nhận một bức điện từ Stavropol, của người chị “Elise,” báo tin và cho biết số tiền thừa kế; thêm rằng đã gửi cho bà một hối phiếu 1000 rúp. [Khi viết những dòng này tôi có bức điện gốc trước mặt.] Rồi thư từ chuyển tới đầy đủ, bà dời sang khu khá hơn ở New York—Union Square, East Sixteenth St., Irving Place, v.v…, và chính tại địa chỉ cuối cùng tôi thấy bà cư ngụ khi trở về từ Eddy Homestead. Tuy nhiên, tiền không ở lâu với bà, vì, như ông Sinnett đã ghi, trong khi bà có thể chịu đựng một cách bình thản cảnh khốn khó nếu buộc phải thế, thì hễ tiền rơi vào tay là dường như bà không yên nếu không hai tay ném nó đi một cách liều lĩnh nhất. Một văn bản tôi đang giữ minh họa điều này đến mức tôi phải trích dẫn. Đó là một khế ước tựa đề “Điều khoản hùn hạp ký vào ngày hai mươi hai tháng Sáu, năm Một nghìn tám trăm bảy mươi tư, giữa C...... G......., bên thứ nhất và Helen Blavatsky, bên thứ hai, như sau: “Điều 1” nêu rằng sự hùn hạp là “nhằm canh tác mảnh đất và nông trại tại N—, Quận—, Long Island,” tài sản của C. G.; “Điều 2” nói, “sự hùn hạp bắt đầu từ ngày mồng một tháng Bảy, 1874, và kéo dài trong ba năm.” “Điều 3” quy định C. G. góp quyền sử dụng nông trại vào phần hùn hạp để bù trừ với khoản một nghìn đô-la do H. P. B. góp. Theo “Điều 4” “mọi thu nhập từ mùa màng, gia cầm, sản vật và các sản phẩm khác làm ra trên nông trại sẽ chia đều, và mọi chi phí” cũng chia đều. “Điều 5,” cuối cùng, giữ quyền sở hữu đất cho C. G. Văn bản được các bên ký và đóng dấu, có người làm chứng và lưu ký đầy đủ.
—
What anybody might have expected happened: H. P. B. went to live on the farm; got no profits, had a row, acquired debts and a neat little lawsuit which friends helped her to settle long afterward. That was the last of her bucolic dream of profits from sales of garden-truck, poultry, eggs, etc.: three months later she met me in the Vermont ghostland, and the wheels of our war chariot began rumbling prophetically through the lowest levels of the Akash!
Điều ai cũng có thể đoán trước đã xảy ra: H. P. B. dọn ra sống ở nông trại; chẳng thu lãi, lại cãi vã, gánh nợ và một vụ kiện nho nhỏ mà bạn bè lâu sau mới giúp bà dàn xếp. Thế là chấm dứt giấc mộng nông dã về lãi lộc từ bán rau vườn, gia cầm, trứng, v.v.: ba tháng sau bà gặp tôi ở xứ ma Vermont, và bánh chiến xa của chúng tôi bắt đầu rền vang tiên tri trong những tầng thấp nhất của Akash!
In November, 1874, signing her letter “Jack the Pappoose,” she wrote to ask me to get her an engagement to write weird stories for a certain journal, as she would soon be “hard up,” and gave me a rollicking account of her family pedigree and connexions on both sides; talking like a democrat, yet showing but too plainly that she felt that she, if anyone, had reason to be proud of her lineage. She writes me how the Daily Graphic people had interviewed her about her travels and asked for her portrait. Considering how many thousand copies of her likeness have since been circulated, the world over, it will amuse if I quote a sentence or two about this first experience of the sort:
Tháng Mười Một, 1874, ký thư là “Jack the Pappoose,” bà viết nhờ tôi kiếm cho bà một hợp đồng viết truyện kỳ quái cho một tờ báo nọ, vì chẳng bao lâu nữa bà sẽ “thiếu tiền,” và kể cho tôi nghe một cách tưng bừng về gia phả và các mối liên hệ gia đình hai bên; nói năng như một người dân chủ, nhưng lại quá rõ rằng bà—nếu ai có—thì có lý do để tự hào về huyết thống của mình. Bà kể tôi nghe chuyện người của tờ Daily Graphic đã phỏng vấn bà về các chuyến du hành và xin chân dung. Nghĩ đến hàng ngàn bản ảnh của bà sau này được phát tán khắp thế giới, sẽ thú vị nếu tôi trích vài câu về trải nghiệm đầu tiên thuộc loại này:
“Don’t you know, the fellows of the Graphic bored my life out of me to give them my portrait? Mr. F. was sent to get me into conversation after I came out [for the Eddys, she means], and wanted them to insert my article against... Beard. I suppose they wanted to create a sensation and so got hold of my beautiful nostrils and splendid mouth... I told them that nature has endowed and gifted me with a potato nose, but I did not mean to allow them to make fun of it, vegetable though it is. They very seriously denied the fact, and so made me laugh, and you know ‘celui qui rit est désarmé.’”
“Ông có biết không, bọn Graphic làm tôi phát chán vì nài nỉ tôi cho họ chân dung? Ông F. được phái đến để kéo tôi vào câu chuyện sau khi tôi ra mặt [ý bà là cho nhà Eddy], và muốn họ đăng bài tôi viết phản đối... Beard. Tôi đoán họ muốn gây chấn động nên mới nắm lấy cái lỗ mũi xinh đẹp và cái miệng lộng lẫy của tôi... Tôi nói với họ rằng tự nhiên ban cho tôi cái mũi củ khoai, nhưng tôi không định để họ làm trò cười với nó, dù nó là rau củ đi nữa. Họ nghiêm túc phủ nhận điều ấy, khiến tôi bật cười, và ông biết đấy, ‘ai cười là bị tước vũ khí’.”
A well-known physician of New York, a Dr. Beard, attracted to Chittenden by my Graphic letters, had come out with a bombastic and foolish explanation of the Eddy ghosts as mere trickery, and she had flayed him alive in a reply, dated October 27th and published in the Graphic of October 30th. Her letter was so brave and sparkling a defence of the Eddy mediums, and her testimony as to the seven “spirit-forms” she herself had recognised so convincing, that she at once came into the blaze of a publicity which never afterwards left her. This was the first time her name had been heard of in America in connection with psychological mysteries, my own mention in the Graphic, of her arrival at Chittenden appearing, if I am not mistaken, a little later. However, be that as it may, her tilt with Dr. Beard was the primary cause of her notoriety.
Một bác sĩ nổi tiếng ở New York, Ông Beard, bị cuốn hút đến Chittenden bởi các bài viết trên Graphic của tôi, đã đưa ra một lời giải thích khoác lác và ngớ ngẩn rằng các bóng ma nhà Eddy chỉ là trò bịp, và bà đã phản bác ông đanh thép trong một bài trả lời đề ngày 27 tháng Mười, đăng trên Graphic ngày 30 tháng Mười. Bức thư của bà là một lời bênh vực dũng cảm và lấp lánh cho các đồng tử nhà Eddy, và lời chứng của bà về bảy “hình linh” mà chính bà đã nhận ra thật thuyết phục, đến nỗi lập tức bà bước vào vòng sáng của công chúng và từ đó không bao giờ ra khỏi. Đây là lần đầu tiên tên bà được nghe đến ở Mỹ trong mối liên hệ với các bí ẩn tâm linh, còn lần tôi nhắc đến bà trên Graphic khi bà đến Chittenden, nếu tôi không lầm, thì xuất hiện muộn hơn một chút. Dầu sao đi nữa, cuộc đấu khẩu với Bác sĩ Beard là nguyên nhân ban đầu của sự lừng danh của bà.
She carried a tone of breeziness, defiant brusqueness, and camaraderie throughout all her talk and writing in those days, fascinating everybody by her bright wit, her contempt for social hypocrisies, and all “caddishness,” and astounding them with her psychical powers. The erudition of Isis Unveiled had not yet overshadowed her, but she constantly drew upon a memory stored with a wealth of recollections of personal perils and adventures, and of knowledge of occult science, not merely unparalleled but not even approached by any other person who had ever appeared in America, so far as I have heard. She was a totally different personage then from what she was later on, when people saw her settled down to the serious life-work for which her whole past had been a preparatory school. Yes, the H. P. B. I am now writing about, in whose intimate comradeship I lived, with whom I was on terms of perfect personal equality, who overflowed with exuberant spirits and enjoyed nothing more than a comic song or story, was not the H. P. B. of India or London, nor recognisable in the mental colossus of the latter days. She changed in many things, yet in one thing she never improved, viz., the choice of friends and confidants. It almost seems as though she were always dealing with inner selves of men and women, and had been blind to the weakness or corruption of their visible, bodily shells. Just as she flung her money to every specious wretch who came and lied to her, so she made close friends of the passing hour with people the most unworthy. She trusted one after another, and, for the time being, there seemed nobody like them in her eyes; but usually the morrow brought disillusion and disgust,without the prudence to avoid doing it all over again. I mentioned above the attempt to form a Miracle Club, for the study of practical psychology. The intended medium belonged to a most respectable family, and talked so honestly that we thought we had secured a prize. He proved to be penniless, and as H. P. B. in his hour of greatest need had no money to spare, she pawned her long gold chain and gave him the proceeds. That wretch not only failed utterly as a medium, but was also reported to us as having spread calumnies against the one who had done him kindness. And such was her experience to the end of her life; the ingratitude and cruel malice of the Coulombs being but one of a long series of sorrows.
Bà mang theo một giọng điệu phóng khoáng, cộc mà thách thức, và thân tình trong mọi câu chuyện và bài viết thời ấy, làm mê hoặc mọi người bởi trí tuệ lanh lợi, sự khinh miệt của bà với các giả hình xã hội và mọi lối “cáu bẩn,” đồng thời làm họ sửng sốt bởi các năng lực thông linh. Khối học vấn trong “Isis Unveiled” vẫn chưa phủ bóng bà, nhưng bà luôn rút từ ký ức chứa đầy bao kỷ niệm về hiểm nguy, phiêu lưu cá nhân, và tri thức về khoa học huyền bí—không chỉ vô song mà chưa ai từng xuất hiện ở Mỹ, theo như tôi biết, có thể sánh tới. Khi ấy bà là một con người hoàn toàn khác so với về sau, khi người ta thấy bà an định vào công việc nghiêm túc của đời mình, cho đó toàn bộ quá khứ là ngôi trường chuẩn bị. Vâng, H. P. B. mà tôi đang viết đến đây, người tôi sống trong tình bạn thân mật, đối đãi bình đẳng tuyệt đối, người luôn tràn trề sinh khí và chẳng thích gì hơn một bài hát hay câu chuyện khôi hài, không phải là H. P. B. của Ấn Độ hay London, cũng chẳng nhận ra được trong pho tượng tinh thần khổng lồ của những ngày cuối. Bà thay đổi nhiều điều, nhưng có một điều bà chẳng bao giờ khá hơn, ấy là chọn bạn bè và người tâm phúc. Hầu như dường như bà luôn giao tiếp với các tự ngã bên trong của đàn ông và phụ nữ, và mù lòa trước sự yếu đuối hay đồi bại của các vỏ xác phàm hữu hình. Cũng như bà ném tiền cho mọi kẻ làm ra vẻ đáng thương đến nói dối bà, thì bà cũng kết thân thân thiết tức thời với những kẻ hết sức bất xứng. Bà tin người này đến người khác, và trong lúc ấy, dường như chẳng ai sánh được trong mắt bà; nhưng thường là ngày mai đem đến vỡ mộng và ghê tởm, mà không thêm chút khôn ngoan để khỏi lặp lại. Tôi đã nhắc trên về nỗ lực lập Câu lạc bộ Phép Lạ, để học về tâm lý thực nghiệm. Người đồng tử dự định thuộc một gia đình rất đáng kính, nói năng chân thành đến nỗi chúng tôi tưởng đã vớ được báu vật. Anh ta hóa ra khánh kiệt, và vì lúc anh ta khó khăn nhất H. P. B. không có tiền để cho, bà đã cầm sợi dây chuyền vàng dài của mình và đưa anh ta số tiền nhận được. Tên khốn ấy chẳng những hoàn toàn thất bại trong vai trò đồng tử, mà còn bị báo lại là đã gieo chuyện vu khống về người đã làm ơn cho mình. Và như thế suốt đời bà; lòng vô ơn và độc ác của vợ chồng Coulomb chỉ là một mắt xích trong chuỗi sầu não dài.
The subsequent history of that gold chain is interesting. It was, of course, redeemed from pawn, and, later, she wore it in Bombay and Madras. When, in the Ninth Annual Convention of the Society, held at Adyar, a subscription was started to create the Permanent Fund, H. P. B. put her chain up at private auction, and it was bought by Mr. E. D. Ezekiel, and the money handed over to the Treasurer of the T.S. for the Fund in question.
Lịch sử về sau của sợi dây chuyền vàng ấy cũng thú vị. Dĩ nhiên nó được chuộc lại, và về sau bà đeo nó ở Bombay và Madras. Khi, trong Đại Hội Thường Niên lần thứ Chín của Hội, tại Adyar, một cuộc lạc quyên được khởi xướng để lập Quỹ Thường Trực, H. P. B. đem sợi dây chuyền của mình đấu giá kín, và ông E. D. Ezekiel đã mua, rồi khoản tiền được nộp cho Thủ quỹ của Hội để nhập vào Quỹ nói trên.
Before my series of Chittenden letters to the Daily Graphic was finished, I had arranged for their publication in book form at Hartford, Conn., and about the same time H. P. B. removed to Philadelphia. A blight fell upon Spiritualism in those days, in consequence of Mr. Dale Owen’s public denunciation of the Holmes mediums as cheats. The journals of that movement lost heavily in subscribers, the most popular books lay unsold on the publishers’ shelves. My own publishers were so alarmed that I arranged, through Mr. Owen, with Mrs. Holmes for a course of test-séances under my own conditions and went there and carried out my plan, with the colleagues before mentioned. Thence I proceeded to Havana, N. Y., and saw the truly marvellous mediumistic phenomena of Mrs. Compton. Both sets of experiences were embodied in my book, and it was published.
Trước khi loạt thư Chittenden của tôi gửi tờ Daily Graphic kết thúc, tôi đã thu xếp để in thành sách tại Hartford, bang Connecticut, và vào khoảng đó H. P. B. dời sang Philadelphia. Một tai ương giáng xuống phong trào Thần linh học thời ấy, do Ông Dale Owen công khai tố cáo vợ chồng đồng tử Holmes là kẻ lừa đảo. Các tờ báo của phong trào mất nặng độc giả, những cuốn sách ăn khách nhất nằm bụi trên kệ nhà in. Nhà in của tôi hoảng sợ đến nỗi tôi phải thu xếp, qua Ông Owen, với Bà Holmes một loạt Buổi gọi hồn thử nghiệm theo điều kiện của chính tôi, và tôi đã đến đó thực hiện kế hoạch, cùng những cộng tác đã nhắc. Từ đó tôi đi đến Havana, New York, và chứng kiến những hiện tượng đồng tử thực sự kỳ diệu của Bà Compton. Cả hai nhóm trải nghiệm được đưa vào sách của tôi, và nó đã xuất bản.
H. P. B. was still at Philadelphia, so I accepted her urgent invitation to come and take a few days’ holiday after my long term of work. Expecting to be absent from New York only two or three days, I left no instructions at my office or club about forwarding my letters, but, finding upon arrival that she was not likely to let me go so soon, I went on the second day to the General Post-Office, gave the address of my lodgings, and asked that any letters coming for me might be delivered there by carrier. I expected none, but fancied that the people in my office, not hearing from me, might address me at the Philadelphia Post-Office on the chance of my getting their letter. Then happened something that astonished me—knowing so little as I did of the psychical resources of H. P. B. and her Masters—and which even now, despite so long an experience of phenomena, remains a world-wonder. To understand what follows, let the reader examine any letter he has received by post, and he will find two office stamps upon it; the one on the face, that of the office at which it was posted, the one on the back, that of the office to which it was addressed; if it has been sent on after him from the latter office, it will at least bear those two stamps, and, in addition, those of any series of post-offices to which it was re-addressed until it finally reached his hand. Now, on the evening of the very day on which I had left my address at the Philadelphia General Post-Office, the local postman brought me letters coming from widely distant places—one, I think, from South America, or at any rate, some foreign country—addressed to me at New York, bearing the stamps of the respective offices of posting, but not that of the New York Post-Office. Despite all post-office rules and customs, they had come straight to me to Philadelphia without passing through the New-York Post Office at all. And nobody in New York knew my Philadelphia address, for I did not myself know what it would be when I left home. I took these letters myself from the postman’s hand, being just on the point of going out for a walk when he arrived. So the letters were not tampered with by H. P. B. Upon opening them, I found inside each, something written in the same handwriting as that in letters I had received in New York from the Masters, the writing having been made either in the margins or any other blank space left by the writers. The things written were, either some comments upon the character or motives of the writers, or matter of general purport as regards my occult studies. Thesewere the precursors of a whole series of those phenomenal surprises during the fortnight or so that I spent in Philadelphia. I had many, and no letter of the lot bore the New York stamp, although all were addressed to me at my office in that city.
H. P. B. vẫn ở Philadelphia, nên tôi nhận lời mời khẩn khoản của bà đến nghỉ vài ngày sau chuỗi ngày làm việc dài. Nghĩ chỉ vắng New York hai ba ngày, tôi không để lại chỉ thị nào ở văn phòng hay câu lạc bộ về việc chuyển thư, nhưng khi đến nơi thấy bà có vẻ sẽ không để tôi đi sớm, ngày hôm sau tôi đến Bưu điện Tổng ở Philadelphia, để lại địa chỉ chỗ trọ, và yêu cầu nếu có thư gửi cho tôi thì phát về đó. Tôi chẳng trông thư nào, nhưng nghĩ rằng người ở văn phòng, không nghe tin tôi, có thể đánh liều gửi thư theo địa chỉ Bưu điện Philadelphia. Rồi có chuyện làm tôi kinh ngạc—vì tôi biết quá ít về các nguồn lực thông linh của H. P. B. và các Chân sư của bà—và đến giờ, bất chấp trải nghiệm hiện tượng đã lâu, vẫn còn là một kỳ quan. Để hiểu điều kế tiếp, xin độc giả xem bất kỳ bức thư nào mình nhận qua bưu điện, sẽ thấy hai con dấu bưu cục trên đó; một ở mặt trước, là của bưu cục nơi thư được gửi, một ở mặt sau, là của bưu cục nơi thư được gửi tới; nếu thư được chuyển tiếp cho người nhận từ bưu cục sau, tối thiểu nó sẽ mang hai con dấu ấy, và thêm vào đó là các dấu của bất kỳ chuỗi bưu cục nào mà thư được tái gửi cho đến khi đến tay người nhận. Thế mà, ngay tối ngày tôi để địa chỉ ở Bưu điện Tổng Philadelphia, người đưa thư địa phương mang đến cho tôi những bức thư đến từ những nơi xa xôi—một bức, tôi nghĩ, từ Nam Mỹ, hay ít ra là từ một nước ngoài—địa chỉ gửi tôi tại New York, mang dấu các bưu cục nơi gửi, nhưng không có dấu của Bưu điện New York. Trái với mọi quy định và thông lệ bưu chính, chúng đến thẳng tay tôi ở Philadelphia mà không hề qua Bưu điện New York. Và chẳng ai ở New York biết địa chỉ của tôi ở Philadelphia, vì chính tôi lúc rời nhà cũng chưa biết sẽ ở đâu. Tôi tự tay lấy các thư ấy từ người đưa thư, khi tôi đang chuẩn bị đi dạo thì anh ta đến. Vậy nên các thư không hề bị H. P. B. đụng tới. Khi mở ra, tôi thấy bên trong mỗi thư có vài dòng viết cùng một kiểu chữ như trong các thư tôi nhận ở New York từ các Chân sư, những dòng ấy được viết ở lề hoặc bất kỳ khoảng trống nào còn lại. Những điều viết là vài nhận xét về tính cách hay động cơ của người viết thư, hoặc những điều có ý nghĩa chung liên quan đến việc học huyền bí của tôi. Đây là khúc dạo đầu của cả một loạt ngạc nhiên hiện tượng trong chừng nửa tháng tôi ở Philadelphia. Tôi có nhiều thư như vậy, và không bức nào mang dấu New York, dù tất cả đều đề gửi tôi ở văn phòng tại thành phố ấy.
The accompanying facsimile of one of the covers—a letter from Prof. J. R. Buchanan—will show that although addressed to me at New York, it was delivered by the Philadelphia carrier without having been re-addressed to that city. The house number—H. P. B.’s residence—was written in the city Delivery Department of the Philadelphia Post-Office. The New York stamp is not on the back.
Bản sao kèm theo của một trong những phong bì—một thư của Giáo sư J. R. Buchanan—sẽ cho thấy rằng tuy đề gửi tôi ở New York, nó lại được người phát thư Philadelphia phát mà không hề được tái đề gửi sang thành phố này. Con số nhà—nơi cư trú của H. P. B.—được viết tại Phòng Phát Thư Nội Đô của Bưu điện Philadelphia. Dấu New York không có ở mặt sau.
When we come to analyse the psychical phenomena of or connected with Mme. Blavatsky, we find that they may be classified as follows:
Khi phân tích các hiện tượng của hoặc liên quan tới Bà Blavatsky, ta thấy có thể phân loại như sau:
1. Those whose production requires a knowledge of the ultimate properties of matter, of the cohesive force which agglomerates the atoms; especially a knowledge of Akash, its composition, contents, and potentialities.
1. Những hiện tượng đòi hỏi sự hiểu biết về các thuộc tính tận cùng của chất liệu, về lực kết dính kết cụm các nguyên tử; đặc biệt là hiểu biết về Akash, thành phần, dung chứa và tiềm năng của nó.
2. Those which relate to the powers of the elementals when made subservient to human will.
2. Những hiện tượng liên hệ đến quyền năng của các hành khí khi được khuất phục trước ý chí con người.
3. Those where hypnotic suggestion through the medium of thought-transference creates illusive sensations of sight, sound, and touch.
3. Những trường hợp ám thị thôi miên qua trung gian truyền tư tưởng tạo ra các cảm giác hư ảo của thị giác, thính giác và xúc giác.
4. Those which involve the art of making objective images, pictorial, or scriptory—which are first purposely created in the adept-operator’s mind; for instance, the precipitation of a picture or writing upon paper or other material surface, or of a letter, image, or other mark upon the human skin.
4. Những trường hợp bao hàm nghệ thuật làm cho các ảnh tượng khách quan, hình họa hay văn tự—trước tiên được chủ ý tạo trong tâm của người điều khiển—chẳng hạn, sự ngưng tụ một bức tranh hay bài viết lên giấy hoặc bề mặt vật chất khác, hay một chữ cái, hình ảnh, hay dấu hiệu khác lên da người.
5. Those pertaining to thought-reading and retrospective and prospective clairvoyance.
5. Những trường hợp thuộc đọc ý nghĩ và thông nhãn hồi cố cũng như tiên tri.
6. Those of the intercourse at will between her mind and the minds of other living persons equally or more perfectly gifted, psychically, than herself. Or, sometimes, the subordination of her will and whole personality to the will of another entity.
6. Những trường hợp về sự giao lưu theo ý muốn giữa tâm trí bà với tâm trí của những người sống khác cũng hoặc còn thiện xảo hơn bà về phương diện thông linh. Hoặc đôi khi, sự quy phục ý chí và toàn thể phàm ngã của bà dưới ý chí của một thực thể khác.
7. Those, of the highest class, were by spiritual insight, or intuition, or inspiration—as indifferently called; there being no real difference in the condition, but only in names—she reached the amassed stores of human knowledge laid up in the registry of the Astral Light.
7. Những trường hợp thuộc hạng cao nhất, là nhờ tuệ giác tinh thần, hay trực giác, hay cảm hứng—gọi cách nào cũng vậy; điều kiện không khác, chỉ khác tên—bà tiếp cận kho tích lũy tri thức nhân loại lưu trữ trong kho ký lục của Ánh Sáng Cảm dục.
Recalling my observations for the past twenty years as well as I can, I think that all the tales I have ever told or shall henceforth tell, will drop into one or other of these classes.
Nhớ lại những quan sát trong hai mươi năm qua, theo như tôi có thể, tôi nghĩ rằng mọi câu chuyện tôi từng kể hay sẽ kể sau này, đều rơi vào một trong các hạng mục ấy.
The sceptic will certainly say that my groups are arbitrary and my hypotheses fanciful. He will ask me to prove that there are elemental spirits; that there is such a thing as clairvoyance; that material objects called for can be brought from a distance; that anybody really knows the nature of the attraction of cohesion, etc. I shall, for my sole answer, tell what I and others have seen, and then challenge the doubter to find in nature any thinkable laws, outside those above enumerated, which explain the facts--the hard undeniable facts. If the theory of miracle, or diabolism, be propounded, then I shall be dumb, for that cuts off argument. I do not pretend to be able to explain the rationale of all of H. P. B’s phenomena, for to do that one would need to be as well informed as herself; which I never pretended to be.
Kẻ hoài nghi hẳn sẽ nói rằng các nhóm phân loại của tôi là tùy tiện và giả thuyết của tôi là viển vông. Hắn sẽ đòi tôi chứng minh rằng có các linh thể hành khí; rằng có cái gọi là thông nhãn; rằng có thể mang đến các vật chất được gọi tới từ xa; rằng có ai thật sự biết bản tính của hấp lực kết dính, v.v. Câu trả lời duy nhất của tôi sẽ là kể lại những gì tôi và người khác đã thấy, rồi thách thức kẻ hoài nghi tìm trong tự nhiên bất kỳ định luật khả niệm nào, ngoài các điều vừa liệt kê, có thể giải thích các sự kiện—những sự kiện cứng rắn, không thể chối cãi. Nếu người ta nêu thuyết phép lạ, hay ma quỷ, thì tôi sẽ im—vì như thế là chặt đứt đường tranh luận. Tôi chẳng hề tự nhận có thể giải thích nguyên lý của mọi hiện tượng của H. P. B., vì để làm thế phải thông tỏ như chính bà; điều mà tôi chưa từng nhận là mình có.
CHAPTER III—CHƯƠNG III
PHILADELPHIA PHENOMENA—HIỆN TƯỢNG TẠI PHILADELPHIA
AN experiment, made by H. P. B., with myself as a passive agent, shortly after my coming to her house in Philadelphia, narrows the phenomena of letter-transport, with precipitation of writing inside sealed covers, to very close limits. The facts were these: she was tipping tables for me, with and without the contact between her hands and the table; making loud and tiny raps—sometimes while holding her hand six inches above the wood, and sometimes while resting her hand upon mine as it lay flat upon the table; and spelling out messages to me from the pretended John King which, as rapped out by the alphabet, I recorded on scraps of paper that were subsequently torn up and thrown away. At last some of these messages relating to third parties seemed worth keeping so one day, on my way home, I bought a reporter’s note-book, and, on getting to the house, showed it to her and explained its intended use. She was seated at the time and Istanding. Without touching the book or making any mystical pass or sign, she told me to put it in my bosom. I did so, and after a moment’s pause she bade me take it out and look within. This is what I found: inside the first cover, written and drawn on,the white lining paper in lead pencil:—
Một thí nghiệm do H. P. B. thực hiện, với tôi là tác nhân thụ động, chẳng bao lâu sau khi tôi đến nhà bà ở Philadelphia, đã thu hẹp các hiện tượng vận chuyển thư, cùng ngưng tụ chữ viết bên trong phong bì niêm kín, vào những giới hạn rất rõ. Sự việc như sau: bà làm cho bàn nghiêng cho tôi xem, có khi không chạm tay vào bàn, có khi đặt tay lên bàn; tạo ra những tiếng gõ lớn và nhỏ—lúc thì giữ tay cách mặt gỗ khoảng 15 cm, lúc thì đặt tay lên tay tôi khi nó nằm phẳng trên bàn; và đánh vần các thông điệp gửi cho tôi từ người tự xưng John King mà, khi được gõ ra theo bảng chữ cái, tôi ghi lại trên các mảnh giấy vụn rồi xé bỏ. Sau cùng, một số thông điệp liên quan đến người thứ ba xem ra nên giữ lại, nên một hôm trên đường về nhà, tôi mua một cuốn sổ tay phóng viên, và khi tới nhà, tôi cho bà xem và giải thích mục đích dùng. Khi ấy bà đang ngồi, còn tôi đứng. Không chạm vào sổ cũng chẳng làm bất kỳ phù phép hay dấu hiệu nào, bà bảo tôi cho sổ vào ngực áo. Tôi làm theo, và sau một lát bà bảo tôi rút ra xem bên trong. Đây là điều tôi thấy: bên trong bìa thứ nhất, viết và vẽ trên lớp giấy lót trắng, bằng bút chì, là:
“JOHN KING,
“JOHN KING,
HENRY DE MORGAN,
HENRY DE MORGAN,
his book.
sách của ông.
4th of the Fourth month in A. D. 1875.”
Ngày 4 của tháng thứ Tư, năm 1875 sau Công nguyên.”
Underneath this, the drawing of a Rosicrucian jewel; over the arch of the jewelled crown, the word FATE; beneath which is her name, “Helen,” followed by what looks, after the rubbing of these seventeen years, like 99, something smudged out, and then a simple+. At the narrowest point, where the head of the compasses enters the crown, are the initials I.S.F.; beneath that a monogram, blending the Capital letters A, T, D, and R, the T much larger than the others. At one foot of the compasses is my name, at the other the name of another man, a resident of Philadelphia; and along the segment of the arch connecting the two points of the pair of compasses run the words “Ways of Providence.” I, have the book on my table as I write, and my description is taken from the drawing itself. One striking feature of this example of psycho-dynamics is the fact that no one but myself had touched the book after it was purchased; I had had it in my pocket until it was shown to H. P. B., from the distance of two or three feet, had myself held it in my bosom, removed it a moment later when bidden, and the precipitation of the lead-pencil writing and drawing had been done while the book was inside my waistcoat. Now the writing inside the cover of my notebook is very peculiar; the e’s being all like the Greek epsilon, and the n’s something like the Greek pi: it is a quaint and quite individual handwriting, not like H. P. B.’s, but identical with that in all the written messages I had from first to last from “John King”. H. P. B. having then, the power of precipitation, must have transferred from her mind to the paper the images of words traced in this special style of script; or, if not she, but, some other expert in this art did it, then that other person must have done it in that same way—i. e., have first pictured to him-self mentally the images of those words and that drawing, and then precipitated; that is, made them visible on the paper, as though written with a lead pencil. After seven-teen years this psychograph remains legible, and some—not all—of the characters have the shine of plumbago: those that have not seem as though the lines had been sunken into the fabric of the paper. I have records of precipitations made in crayon, water colors, blue, red, and green pencils, ink and gold paint, as well as the formation of solid substances, but on scientific principle underlies them all, viz., the objectivation of images, previously “visualised,” or formed in the mind of the expert, by the employment of cosmic force and the diffused matter of space. The imagination is the creative hidden deity; force and matter its working tools.
Bên dưới đó, là hình vẽ một phù hiệu Rosicrucian; trên vòm của chiếc vương miện nạm ngọc là chữ SỐ MỆNH; bên dưới là tên bà, “Helen,” theo sau là cái trông, sau mười bảy năm bị cọ xát, giống như số 99, một chỗ bị nhòe xóa, rồi một dấu thập giản đơn. Ở chỗ hẹp nhất, nơi đầu compa chạm vào vương miện, có các chữ cái đầu I.S.F.; bên dưới là một liên tự, hòa các chữ hoa A, T, D, và R, chữ T lớn hơn hẳn các chữ còn lại. Ở một chân compa là tên tôi, ở chân kia là tên một người đàn ông khác, cư dân Philadelphia; và dọc theo cung vòm nối hai đầu mũi compa là dòng chữ “Những nẻo của Quan Phòng.” Tôi có cuốn sổ trên bàn khi đang viết, và mô tả này dựa trên chính hình vẽ ấy. Một nét nổi bật của thí dụ này về tâm năng động lực là không ai ngoài tôi đã chạm vào cuốn sổ sau khi mua; tôi bỏ nó trong túi cho đến khi đưa cho H. P. B. xem cách chừng hai ba thước, rồi tự tay cho vào ngực áo, rút ra sau một lát theo lời bảo, và sự ngưng tụ nét bút chì và hình vẽ đã được thực hiện khi cuốn sổ còn ở trong áo gi-lê của tôi. Lối chữ bên trong bìa sổ của tôi rất lạ; các chữ e đều như chữ epsilon Hy Lạp, và các chữ n thì giống giống chữ pi Hy Lạp: đó là một lối chữ cổ quái và rất riêng, không giống chữ của H. P. B., nhưng lại đồng nhất với lối chữ trong mọi thông điệp viết mà tôi nhận được từ đầu đến cuối từ “John King”. Như vậy, có được năng lực ngưng tụ, hẳn H. P. B. đã chuyển từ tâm bà lên giấy các ảnh tượng của những chữ viết theo lối chữ đặc biệt này; hoặc nếu không phải bà mà một người khác tinh thông thuật này làm, thì người ấy cũng phải làm theo cách tương tự—tức là trước hết phải hình dung trong tâm các ảnh tượng của những chữ và bức vẽ đó, rồi ngưng tụ; nghĩa là làm cho chúng hiện ra trên giấy, như thể được viết bằng bút chì. Sau mười bảy năm, bút tích thông linh này vẫn còn đọc được, và một số—không phải tất cả—các nét có ánh bắt sáng của chì than: những nét không có ánh ấy trông như các đường đã lún vào cấu trúc của giấy. Tôi có ghi chép những lần ngưng tụ bằng phấn màu, màu nước, bút chì xanh, đỏ, lục, mực và sơn vàng, cũng như sự hình thành các chất rắn, nhưng chỉ có một nguyên lý khoa học nền tảng cho tất cả, đó là: khách quan hóa các ảnh tượng, vốn đã được “hình dung” hay tạo trong tâm của vị thiện nghệ, bằng việc sử dụng mãnh lực vũ trụ và chất liệu phân tán của không gian. Sự tưởng tượng là vị thần sáng tạo ẩn vi; mãnh lực và chất liệu là khí cụ vận hành của nó.
The days and evenings of my Philadelphia visit were symposia of occult reading, teaching, and phenomena. Among H. P. B.’s most pleasant and sympathetic friends were Mr. and Mrs. Amer, and Messrs. M. D. Evans and J. Pusey, in whose presence a variety of phenomena were wrought. I remember among others, that one afternoon she caused a photograph on the wall to suddenly disappear from its frame and give place to a sketch portrait of John King while a person present was actually looking at it. By degrees my mind was taking in the Eastern theories of spirit and spirits, of matter and materialism. Without being asked by H. P. B. to give up the spiritualistic hypothesis, I was made to see and to feel that, as a true science, Spiritualism could only be said to exist in the East, and its only proficients were pupils and teachers of the Oriental schools of occultism. With the sincerest desire to be fair to the Spiritualists, I must say that up to the present moment no scientific theory of mediumistic phenomena that covers the ground and is generally accepted among them, has been put forward, nor have I seen convincing proof that among Western adherents to the movement there has been discovered a system by which spirits may be evoked or physical phenomena compelled at will. Not a medium that I have ever met or heard of possesses a mantram or Vidya (scientific method) for those purposes, such as are common and have been known for ages in all Eastern countries. See, for example, the article “An Evocation by Sorcery,” in The Theosophist for May, 1892. Thus for instance, while I and H. P. B.’s other friends were made to believe the John King (almost daily) phenomena were done by a disembodied man, once the famed buccaneer, Sir H. Morgan, and that she was serving him as medium, or, at least, contented helper, H. P. B. did things which implied a knowledge of magic. Let me give a homely example while at the same time remarking that great scientific inductions have been reached by the chance observation of equally commonplace facts—e.g., the falling of an apple, the jumping of the lid of a boiling kettle. One day, bethinking me that a sufficiency of towels was but too evidently lacking in her house, I bought some and brought them home with me in a parcel. We cuts them apart, and she was for putting them into immediate use without hemming, but, as I protested against such bad housekeeping, she good-naturally set to plying her needle. She had hardly commenced when she gave angry kick beneath the work-table at which she sat, and said, “Get out, you fool!” “What is the matter?” I asked.”Oh,” she replied, “it is only a little beast of an elemental that pulled my dress and wants something to do.” “Capital!” I said; “here is just the thing; make it hem these towels. Why should you bother about them, and you such an atrocious needlewoman as that very hem proves you to be?” She laughed, and abused me for my uncomplimentary speech, but at first would not gratify the poor little bond-slave under the table that was ready to play the kindly leprechaun if given the chance. I, however, persuaded her at last: she told me to lock up the towels, the needles and thread, in a bookcase with glass doors lined with thick green silk, that stood at the farther side of the room. I did so and resumed my seat near her, and we fell to talking on the inexhaustible and unique theme that occupied our thoughts—occult science. After perhaps a quarter of an hour or twenty minutes, I heard a little squeaky sound, like a mouse’s pipe, beneath the table, whereupon H. P. B. told me that “that nuisance” had finished the towels. So I unlocked the bookcase door, and found the dozen towels were actually hemmed, though after a clumsy fashion that would disgrace the youngest child in an infant-school sewing-class. Hemmed they were, beyond the possibility of doubt, and inside a locked bookcase which H. P. B. never approached while the thing was going on. The time was about 4 P.M., and, of course, it was broad daylight. We were the only persons in the room, and no third person entered it until all was finished.Her house in Philadelphia was built on the usual local plan, with a front building and a wing at the back which contained the dining-room below and sitting or bedrooms above. H. P. B.’s bedroom was the front one on the first floor (the second, it is called in America) of the main building; at the turn of the staircase was the sitting-room where the towels were hemmed, and from its open door one could look straight along the passage into H. P. B.’s room if her door also stood open. She had been sitting in the former apartment conversing with me, but left to get something from her bedroom. I saw her mount the few steps to her floor, enter her room and leave the door open. Time passed, but she did not return. I waited and waited until, fearing she might have fainted, I called her name. There was no reply, so now, being a little anxious and knowing she could not be engaged privately, since the door had not been closed, I went there, called again, and looked in; she was not visible, though I even opened the closet and looked under the bed. She had vanished, without the chance of having walked out in the normal way, for, save the door giving upon the landing, there was no other means of exit; the room was a cul de sac. I was a cool one about phenomena after my long course of experiences, but this puzzled and worried me. I went back to the sitting-room, lit a pipe, and tried to puzzle out the mystery. This was in 1875, it must be remembered, many years before the Salpétrière school’s experiments in hypnotism had been vulgarised, so it never occurred to me that I was the subject of a neat experiment in mental suggestion, and that H. P. B. had simply inhibited my organs of sight from perceiving her presence, perhaps within two paces of me in the room. After a while she calmly came out of her room into the passage and returned to the sitting-room to me. When I asked where she had been, she laughed and said she had had some occult business to attend to, and had made herself invisible. But how, she would not explain. She played me and others the same trick at other times, before and after our going to India, but even the latest instance happened long before the easy hypnotic solution of the problem would have occurred to me. As explained in the first chapter of this series, the superior neatness of Oriental over Western hypnotic suggestion is that in such cases as this, the inhibitory effect upon the subject’s perceptive organs results from mental, not spoken, command or suggestion. The subject is not put on his guard to resist the illusion, and it is done before he has the least suspicion that any experiment is being made at his expense.
Những ngày và buổi tối của chuyến thăm Philadelphia của tôi là những cuộc đối ẩm tri thức về đọc, giảng và hiện tượng huyền bí. Trong số những bằng hữu dễ mến và đồng cảm nhất của H. P. B. có Ông và Bà Amer, và các ông M. D. Evans và J. Pusey, trước mặt họ đã diễn ra nhiều hiện tượng. Tôi nhớ có lần buổi chiều, bà làm cho một tấm ảnh trên tường bỗng biến mất khỏi khung và nhường chỗ cho một bức ký họa chân dung John King ngay khi một người có mặt đang nhìn vào nó. Dần dần, tâm tôi tiếp thu các học thuyết phương Đông về linh hồn và các linh, về chất liệu và chủ nghĩa duy vật. Không hề bị H. P. B. yêu cầu từ bỏ giả thuyết Thần linh học, tôi được làm cho thấy và cảm nhận rằng, xét như một khoa học chân chính, Thần linh học chỉ có thể nói là tồn tại ở phương Đông, và những người tinh thông duy nhất là học trò và thầy của các trường phái huyền bí phương Đông. Với thành ý muốn công bằng với giới Thần linh học, tôi phải nói rằng cho đến nay chưa có một thuyết khoa học nào về hiện tượng đồng tử bao quát toàn bộ và được họ chấp nhận rộng rãi, cũng như tôi chưa thấy bằng chứng thuyết phục nào cho thấy trong phe ủng hộ phương Tây đã khám phá ra một hệ thống nhờ đó có thể triệu thỉnh các vong linh hoặc bắt buộc hiện tượng vật lý xảy ra theo ý muốn. Chưa có đồng tử nào mà tôi từng gặp hay nghe nói đến sở hữu một mantram hay một Vidya (phương pháp khoa học) cho các mục đích ấy, như vốn phổ biến và đã được biết từ bao đời ở mọi xứ phương Đông. Xem, chẳng hạn, bài “Một cuộc triệu thỉnh bằng phù thuật,” trên The Theosophist số tháng Năm, 1892. Chẳng hạn, trong khi tôi và các bạn của H. P. B. được làm cho tin rằng các hiện tượng (hầu như hằng ngày) của John King do một người vô xác, từng là tên cướp biển lừng danh Sir H. Morgan, thực hiện, và rằng bà đóng vai trò đồng tử cho y, hoặc ít nhất là người trợ lực hài lòng, thì H. P. B. lại làm những việc hàm chỉ sự am tường huyền thuật. Xin đưa một ví dụ bình dị, đồng thời ghi chú rằng những suy luận khoa học vĩ đại đã từng được rút ra từ việc tình cờ quan sát các sự kiện tầm thường không kém—ví dụ, một trái táo rơi, cái nắp ấm sôi bật nhảy. Một hôm, nghĩ rằng nhà bà quá thiếu khăn tắm là điều hiển nhiên, tôi mua một ít và mang về trong một gói. Chúng tôi cắt rời chúng ra, và bà định đem dùng ngay mà không viền mép, nhưng vì tôi phản đối thói “nội trợ tệ” ấy, bà vui vẻ cầm kim may. Vừa mới bắt đầu, bà đạp mạnh dưới gầm bàn làm việc và nói, “Cút đi, đồ ngốc!” “Có chuyện gì thế?” tôi hỏi. “Ồ,” bà đáp, “chỉ là một con hành khí bé xíu kéo váy tôi và muốn có việc để làm.” “Tuyệt!” tôi nói; “đây là việc lý tưởng; bảo nó viền mép mấy cái khăn này. Sao bà phải bận tâm, mà lại may vá tệ hại như cái đường viền vừa rồi chứng tỏ thế kia?” Bà cười, mắng tôi vì lời lẽ thiếu khen ngợi, nhưng lúc đầu bà không chịu làm vui lòng “con nô lệ con con” dưới gầm bàn đang sẵn sàng đóng vai chú tiểu yêu siêng việc nếu được trao cơ hội. Tuy nhiên, cuối cùng tôi cũng thuyết phục được bà: bà bảo tôi khóa kỹ khăn, kim và chỉ trong một tủ sách có cửa kính lót lụa xanh đậm, đặt ở phía xa căn phòng. Tôi làm theo, trở lại ngồi gần bà, và chúng tôi lại trò chuyện về đề tài độc nhất vô nhị và bất tận ám ảnh tâm trí mình—khoa học huyền bí. Sau chừng mười lăm, hai mươi phút, tôi nghe một tiếng chít chít nhỏ như chuột kêu dưới gầm bàn, lập tức H. P. B. bảo tôi rằng “đồ phiền phức ấy” đã viền xong khăn. Vậy là tôi mở khóa cửa tủ sách, và thấy cả tá khăn quả thật đã được viền, tuy vụng về đến mức làm xấu mặt đứa nhỏ nhất trong lớp tập may của trường vỡ lòng. Nhưng chúng đã được viền, không thể nghi ngờ, và ở trong một tủ sách khóa kín mà H. P. B. không hề đến gần khi việc đang diễn ra. Lúc đó khoảng 4 giờ chiều, dĩ nhiên trời đang sáng rõ. Chỉ có hai chúng tôi trong phòng, và không ai thứ ba bước vào cho đến khi mọi sự hoàn tất. Nhà bà ở Philadelphia được xây theo kiểu thông thường địa phương, với một khối nhà phía trước và một cánh nhà phía sau có phòng ăn ở dưới và phòng khách hay phòng ngủ ở trên. Phòng ngủ của H. P. B. là căn phía trước trên tầng thứ nhất (ở Mỹ gọi là tầng hai) của nhà chính; chỗ ngoặt cầu thang là phòng khách nơi những cái khăn được viền, và từ cửa mở của nó có thể nhìn thẳng dọc hành lang vào phòng của H. P. B. nếu cửa phòng bà cũng mở. Bà ngồi ở phòng trước đó chuyện trò với tôi, rồi rời đi để lấy thứ gì trong phòng ngủ. Tôi thấy bà bước vài bậc lên tầng, vào phòng và để cửa mở. Thời gian trôi, nhưng bà không trở lại. Tôi chờ, chờ mãi cho đến khi, sợ rằng bà có thể bị ngất, tôi gọi tên bà. Không có trả lời, vậy là, nay đã hơi lo và biết rằng bà không bận chuyện riêng tư, vì cửa không đóng, tôi đến đó, gọi lại, và nhìn vào; không thấy bà đâu, dù tôi còn mở cả tủ áo và nhìn dưới gầm giường. Bà đã biến mất, mà không có khả năng là đã bước ra bằng lối thường, vì trừ cánh cửa ra chiếu nghỉ, không có lối thoát nào khác; căn phòng là một ngõ cụt. Sau một chuỗi trải nghiệm hiện tượng dài, tôi vốn khá điềm tĩnh, nhưng việc này làm tôi bối rối và lo lắng. Tôi quay lại phòng khách, châm tẩu, và cố nghĩ cho ra lẽ. Cần nhớ đây là năm 1875, nhiều năm trước khi các thí nghiệm thôi miên của trường phái Salpétrière được phổ biến rộng rãi, nên tôi chẳng hề nghĩ mình đang là đối tượng của một thí nghiệm ám thị tinh tế lên tâm trí, và rằng H. P. B. đơn giản là đã ức chế các cơ quan thị giác của tôi không cho nhận ra sự hiện diện của bà, có lẽ chỉ cách tôi hai bước ngay trong phòng. Một lúc sau bà ung dung bước ra từ phòng vào hành lang và quay lại phòng khách với tôi. Khi tôi hỏi bà vừa ở đâu, bà cười và nói có chút việc huyền bí phải làm, và bà đã tự làm mình vô hình. Nhưng bằng cách nào, bà không giải thích. Bà từng chơi tôi và người khác cùng một ngón như thế vào những lần khác, trước và sau khi chúng tôi sang Ấn Độ, nhưng ngay trường hợp muộn nhất cũng xảy ra rất lâu trước khi lời giải dễ dãi bằng thôi miên nảy đến trong đầu tôi. Như đã giải thích trong chương đầu loạt này, sự tinh gọn ưu việt của ám thị thôi miên Đông phương so với Tây phương là ở chỗ, trong những trường hợp như thế, hiệu ứng ức chế lên các cơ quan tri giác của chủ thể phát sinh từ mệnh lệnh bằng tư tưởng, không phải bằng lời nói hay gợi ý. Chủ thể không bị đặt vào tình thế đề phòng để chống lại ảo giác, và mọi việc được thực hiện trước khi kịp có mảy may nghi ngờ rằng một thí nghiệm đang diễn ra với mình.
Since I took no measurement at the time, I must concede that the following also may have been a case of suggested illusion. H. P. B. was wearing her hair at that time in a bushy mop, without comb or pins or twists, and in length it might have been about to the lobes of her ears. I came home to tiffin one day, and, her bedroom door standing open as usual, stopped for a minute’s chat, before mounting to my own room on the floor above. She was standing near one of the windows, and her head being in high light, I noticed particularly the mass of her hair and its tousled appearance. I also observed the shine of the daylight, upon the glossy, pale grey paper with which the ceiling was covered. After a few words together I ran upstairs, but had not been there a minute before I heard her calling me to come down. I did so at once, saw her standing in the same place, but her hair was now so much longer that it almost touched her shoulders. She said nothing about that, but pointed to the ceiling over her head and said: “Here is something that John has drawn for you.” My recollection is now very dim as to what it was, but, as I remember it, it was a huge sketch of a man’s head, with some writing or symbols near it; all done in lead-pencil, at the spot where I had noticed the blank surface to be when I passed upstairs. I then took hold of her lengthened hair, and asked her, laughing, where she bought her pomade, as it was certainly very efficacious if it could cause hair to grow two inches within three minutes. She made some merry rejoinder, and said I should not meddle with things that were of no consequence; such freaks of nature sometimes happened to her; it was not to see that she had called me, but only to show me what John King had done on the ceiling. Considering the time that had elapsed from my leaving to my re-entering the room, and the fact that the ceiling was too high for her to reach, even by standing on a chair or table, my present inference is that the drawing was done in one of two ways, viz., either by herself at her leisure, while I was out, by mounting upon a step-ladder, and inhibiting me from seeing the work until she chose; or by the process of instantaneous precipitation while I was ascending and descending one short flight of stairs. That it was not visible to me when I was first in the room, I can positively aver, and if the reader chooses to speculate as to the rationale of the matter, he must take my statement as made for what it is worth. What makes me suspect that the apparent lengthening of H. P. B.’s hair was illusory, is the fact that, try as I may, I cannot remember whether it continued to seem long or apparently resumed its previous length that day or the next. People in India, and others subsequently, in Europe, saw her hair twisted up into a knot and confined by a comb, but it was years after we met before she would let it grow long enough for that purpose; I am not sure that it was not when we went to visit the Sinnetts at Simla; so I am probably right in suspecting that the apparent sudden lengthening was a Maya done by way of a joke. But very, very strange things happened with her hair on several occasions, to be hereafter narrated. And strangest of all, was that which happened to my beard one night, as we shall see in good time. Speaking of her jokes, it may be said that, throughout all our years of intimacy, she wasted enough psychic force on useless phenomena to have sufficed to convince the whole Royal Society if it had been judiciously employed. I have heard her ring astral bells that were drowned in the noise of conversation, make raps that nobody heard save myself, and do other phenomena that passed unnoticed, but which would have greatly strengthened her credit as a thaumaturgist if she had but chosen the favourable moment and given the right chances for observation. However, all that is past and gone, and my task is to record, as remembered, the psychical experiments which satisfied my critical reason as to the reality of the science of Eastern Magic. In doing which, shall I not be acting as a true friend to H. P. B., whose character has been vilified and whose occult powers denied because she fed rogues at her table and warmed traitors in her bosom? These days and events of which I write, were in the pre-Coulombian era, when real adepts taught eager pupils and genuine phenomena happened. And they were days when I knew my colleague as a human being, before she had been half-deified by friends who had known nothing of her human failings, hence of her humanity. As I shall present her, the now fading ideal image of the writer of Isis and the S. D., will become clothed in flesh and blood; a real (masculinised) woman; living like other people when awake, but going into another world and dealing with nobler people, when asleep or in waking clairvoyance; a personality inhabiting an enfeebled female body, “in which... a vital cyclone is raging much of the time”—to quote the words of a Master. So fitful, so capricious, so unreliable, so exacting, so tempestuous as to call for heroic forbearance and self-control if one would live and work with her in an unselfish spirit. These phenomena of hers that I saw, the manifold proofs she gave of the existence behind her of teachers whose feet she felt she was scarce worthy to dust, and the later epistasis, when the turbulent and exasperating woman became a writing and teaching sage and a benefactress to the soul-seeker;—all these, and the books she left behind her, combine to prove her exceptional greatness and make her eccentricities forgotten, even by those to whom they caused most mental suffering. In showing us the Path, she laid us all under such a weight of obligation that it is impossible to harbour any feeling save gratitude for her.
Vì lúc đó tôi không đo đạc gì, tôi phải thừa nhận rằng điều sau đây cũng có thể là một trường hợp ảo tưởng do gợi ý. Lúc ấy H. P. B. để tóc bông xù, không lược, không kẹp, không cuộn, và độ dài chắc ngang dái tai. Một hôm tôi về nhà ăn bữa trưa, và, cửa phòng ngủ của Bà như thường lệ mở, tôi ghé lại chuyện trò một phút trước khi lên phòng mình ở tầng trên. Bà đứng gần một cửa sổ, và đầu Bà ở vùng sáng gắt; tôi đặc biệt để ý khối tóc dày và vẻ bờm xờm của nó. Tôi cũng nhận ra ánh sáng ban ngày phản chiếu trên lớp giấy xám nhạt bóng bẩy phủ trần nhà. Nói với nhau mấy lời xong, tôi chạy lên gác, nhưng chưa đầy một phút thì nghe Bà gọi tôi xuống. Tôi lập tức xuống ngay, thấy Bà vẫn đứng ở chỗ cũ, nhưng tóc Bà lúc này dài hơn hẳn, hầu như chạm vai. Bà không nói gì về chuyện đó, mà chỉ tay lên trần ngay trên đầu và bảo: “Đây là thứ John vẽ cho ông.” Bây giờ ký ức của tôi về nó mờ nhạt lắm, nhưng như tôi nhớ thì đó là một bức phác thảo khổng lồ cái đầu của một người đàn ông, cạnh đó có vài chữ viết hay ký hiệu; tất cả đều bằng bút chì, đúng ở chỗ mà khi tôi đi qua lên lầu, tôi đã thấy mặt trần còn trống. Tôi bèn nắm lấy mái tóc vừa dài thêm của Bà, cười hỏi Bà mua dầu bôi tóc ở đâu, vì hẳn là công hiệu lạ lùng nếu có thể làm tóc dài thêm khoảng năm phân trong vòng ba phút. Bà bông đùa đáp lại, nói tôi chớ dính vào những chuyện không hệ trọng; những trò lạ lùng của tự nhiên đôi khi xảy ra với Bà; Bà gọi tôi xuống không phải để xem chuyện đó, mà chỉ để cho xem John King đã làm gì trên trần. Xét thời gian từ lúc tôi rời rồi quay lại phòng, và thực tế là trần nhà quá cao, Bà không thể với tới dù đứng trên ghế hay bàn, suy luận hiện nay của tôi là bức vẽ được thực hiện theo một trong hai cách, tức là, hoặc do chính Bà lúc rảnh rỗi, khi tôi đi vắng, bằng cách trèo lên thang bậc, rồi ngăn không cho tôi thấy cho tới lúc Bà muốn; hoặc bằng quá trình ngưng tụ tức thời trong lúc tôi lên rồi xuống một cầu thang ngắn. Rằng khi tôi ở trong phòng lần đầu, tôi không nhìn thấy nó, điều này tôi có thể quả quyết; còn nếu độc giả muốn suy đoán về nguyên lý của sự việc, thì hãy nhận lời tôi theo đúng giá trị của nó. Điều làm tôi nghi ngờ rằng sự dài ra bề ngoài của tóc H. P. B. là ảo giác, là vì dù cố hết sức, tôi không thể nhớ nổi là nó tiếp tục có vẻ dài hay dường như trở lại độ dài trước đó trong hôm ấy hay hôm sau. Ở Ấn Độ, và sau đó, ở châu Âu, người ta thấy Bà cuộn tóc thành búi và ghim bằng lược, nhưng phải nhiều năm sau khi chúng tôi gặp nhau Bà mới để tóc dài đủ để làm vậy; tôi không chắc phải chăng là lúc chúng tôi đi thăm vợ chồng Sinnett ở Simla; nên rất có thể tôi đúng khi nghi rằng sự dài ra đột ngột trông thấy ấy là một ảo lực dùng để đùa. Nhưng đã có những chuyện hết sức, hết sức kỳ lạ xảy ra với mái tóc của Bà vào vài dịp, sẽ được thuật lại sau. Và kỳ lạ nhất là chuyện xảy ra với bộ râu của tôi một đêm nọ, như chúng ta sẽ thấy đúng lúc. Nói về những trò đùa của Bà, có thể nói rằng suốt bao năm thân tình, Bà đã lãng phí đủ lực thông linh vào những hiện tượng vô ích—mà nếu được dùng khôn ngoan—thì cũng đủ để thuyết phục cả Royal Society. Tôi đã nghe Bà rung những chiếc chuông cõi cảm dục bị át đi trong tiếng trò chuyện, tạo những tiếng gõ mà không ai nghe ngoài tôi, và làm những hiện tượng khác chẳng ai để ý, nhưng những điều ấy hẳn đã làm tăng uy tín của Bà như một nhà huyền thuật nếu Bà chỉ chịu chọn đúng thời điểm thuận lợi và tạo điều kiện quan sát thích hợp. Dẫu sao, tất cả đã qua, và công việc của tôi là ghi lại, theo trí nhớ, những thí nghiệm thông linh đã khiến lý trí phê phán của tôi thỏa mãn về thực tại của khoa học Huyền thuật phương Đông. Khi làm vậy, lẽ nào tôi không hành động như một người bạn chân thành với H. P. B., người có nhân cách bị vu khống, quyền năng huyền bí bị phủ nhận vì Bà đãi những kẻ lưu manh trên bàn ăn và ủ ấm kẻ phản trắc trong lòng? Những ngày tháng và biến cố mà tôi viết đây thuộc thời kỳ tiền-Coulomb, khi các chân sư thực sự dạy những môn sinh khao khát và các hiện tượng chân thực xảy ra. Và đó là những ngày tôi biết đồng sự của mình như một con người, trước khi Bà bị một nửa thần thánh hóa bởi những người bạn chẳng biết gì về khiếm khuyết con người của Bà, do đó chẳng biết về tính người của Bà. Như tôi sẽ trình bày, hình ảnh lý tưởng đang phai mờ của tác giả Isis và Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ được khoác thịt và máu; một người phụ nữ thực sự (được “nam hóa”); sống như những người khác khi thức, nhưng đi vào một thế giới khác và giao tiếp với những bậc cao quý hơn khi ngủ hay trong thông nhãn lúc tỉnh; một phàm ngã cư ngụ trong một thân nữ suy nhược, “trong đó... một cơn cuồng phong sinh lực thường xuyên gào thét”—trích lời một Chân sư. Bấp bênh đến thế, thất thường đến thế, khó tin cậy đến thế, đòi hỏi đến thế, giông bão đến thế, đến mức nếu ai muốn sống và làm việc với Bà trong tinh thần vô kỷ thì phải có sự nhẫn nhục và tự chủ mang tính anh hùng. Những hiện tượng của Bà mà tôi thấy, muôn vàn bằng chứng Bà đưa ra về sự hiện hữu đằng sau Bà của những bậc Thầy—dưới chân Các Ngài, Bà cảm thấy mình hầu như không xứng đáng quét bụi—và sự “phủ bóng” về sau, khi người đàn bà nhiều sóng gió và làm người ta bực mình ấy trở thành một hiền giả viết và dạy, một ân nhân cho người tìm kiếm linh hồn;—tất cả những điều ấy, và những cuốn sách Bà để lại, hợp lại để chứng minh tầm vóc phi thường của Bà và khiến người ta quên đi những lập dị của Bà, ngay cả trong những người vì chúng mà phải chịu đau khổ tinh thần nhiều nhất. Khi chỉ cho chúng ta Thánh Đạo, Bà đã đặt tất cả chúng ta dưới một gánh nợ ân tình đến mức không thể nuôi dưỡng cảm xúc nào khác ngoài lòng biết ơn đối với Bà.
CHAPTER IV—CHƯƠNG IV
MADAME BLAVATSKY’S SECOND MARRIAGE—CUỘC HÔN NHÂN THỨ HAI CỦA BÀ BLAVATSKY
IN giving anything like a consecutive account of early Theosophic days—by which term I mean to include all days of intercourse between H. P. B. and myself, so far as I can recall them—I must briefly allude to the cases of precipitation of manuscript by her which are mentioned in my People from the Other World (pp. 455-6-7 and 8). Ostensibly, as above stated, they were given me by John King, of Kamaloca, whilom buccaneer, knighted by His Britannic Majesty Charles II, but now apparently a mere pseudonym of H. P. B.’s elementals. At a séance at her hotel in Philadelphia, on the evening of January 6, 1875, the alleged J. K. doing phenomena, I said: “If you are in reality a spirit, as you pretend, give me some exhibition of your power. Make me, for example, a copy of the last note from E. W. to Mr. Owen that I have in the portfolio in my pocket.” No notice was taken of the request that evening, but on the next but one after it, while H. P. B. was writing and I reading at the same table, loud raps sounded, and, upon my calling the English alphabet, spelt out, “Hand me your dictionary under the table, will you?” The only dictionary there, was a Russian-English one of H. P. B.’s, which was handed (not dropped, but handed, as if to something or invisible somebody down there, that could take the bulky volume) beneath as requested. The raps then called for a mucilage bottle, and then for a penknife. These also having been passed under the table, there was momentary silence, after which was rapped the word “Look!” We took up the book, knife, and bottle, and upon a fly-leaf of the dictionary I found a precipitated copy of the note in question. The call for the knife was explained to me thus: a certain infinitesimal quantity of the metal composing the blades was disintegrated from the mass and used in precipitation of the black writing from the state of metallic vapour. The gum-arabic lent some of its particles—also vaporised for the purpose—as a cohesive aid in the experiment. The portfolio containing the duplicated note had been in my pocket continuously since my coming to Philadelphia, until half an hour prior to the experiment, when I had laid it on the mantel-shelf, and had had it in full view whenever I raised my eyes from my book. H. P. B. was all the time within two feet of me, at her table writing, and no person save ourselves was or had been in the room since I laid it upon the shelf. Upon comparing the original writing and the duplicate, by superposition it was evident that they were not facsimiles, which made, it the more interesting.The next evening, H. P. B. and I being again alone, the raps called for a piece of Bristol-board drawing paper to be handed beneath the table. Showing me first that both sides were blank, my colleague passed it down to “John King,” whereupon the raps bade me look at my watch and note how long the experiment would require. With my watch in hand, I glanced under the table-cloth and satisfied myself that there was but the one sheet of paper there which I had handled the moment before. At the end of the just thirty seconds the raps spelt out “Done”. I looked at the paper and felt disappointed upon seeing that the exposed surface was as blank as before, but upon the under face, the one next the carpet, was found a second even better copy of the original E.W. letter. This time the portfolio containing the letter was in the inside breast-pocket of my coat, where it had been continuously since the previous evening’s experiment in precipitation. A Mr. B—, who entered the room at this moment, assisted me in making a very careful scrutiny of the documents, placing one over the other as I had already done, and becoming, like myself, entirely convinced of the genuineness of the phenomenon. I may say, in parenthesis, that this gentleman received in his carpet-bag while travelling by railway train, a letter from “John King” conveying instructions as to something of a personal nature. He told me the story himself, showed me the letter, and stated upon honour, that it had come into his bag while in a train and miles distant from Philadelphia and H. P. B.
KHI kể lại theo lối liên tục những ngày đầu của Thông Thiên Học—mà bằng thuật ngữ này, tôi muốn bao gồm tất cả những ngày giao du giữa H. P. B. và tôi, trong chừng mực tôi có thể hồi tưởng—tôi phải sơ lược nhắc tới những trường hợp ngưng tụ bản thảo do Bà thực hiện, vốn được nêu trong cuốn People from the Other World của tôi (tr. 455-6-7 và 8). Bề ngoài, như đã nói ở trên, chúng được John King ở Kamaloka—người xưa kia là hải tặc, được Đức Vua Anh Charles II phong tước hiệp sĩ, nhưng nay xem ra chỉ là một bút danh của các hành khí của B. H. P.—trao cho tôi. Tại một Buổi gọi hồn ở khách sạn của Bà tại Philadelphia, tối 6 tháng 1 năm 1875, khi “J. K.” bị cho là đang làm hiện tượng, tôi nói: “Nếu thực sự ông là một linh hồn như ông vờ, hãy cho tôi thấy một biểu hiện quyền năng của ông. Chẳng hạn, hãy tạo cho tôi một bản sao bức thư cuối cùng từ E. W. gửi ông Owen mà tôi để trong cặp hồ sơ trong túi áo.” Tối hôm đó lời thỉnh cầu không được đoái hoài, nhưng đúng tối kế tiếp sau đó, trong khi H. P. B. đang viết và tôi đang đọc trên cùng một bàn, những tiếng gõ vang lên, và, khi tôi gọi bảng chữ cái tiếng Anh, đánh vần: “Đưa cho ta cuốn tự điển của ông xuống dưới gầm bàn, được chứ?” Tự điển duy nhất ở đó là cuốn Nga–Anh của H. P. B., và nó được đưa (không phải thả rơi, mà là đưa, như thể cho một cái gì hoặc một ai vô hình ở dưới kia, có thể đón lấy quyển sách cồng kềnh) xuống gầm bàn như yêu cầu. Tiếng gõ sau đó lại gọi xin một lọ hồ dán, rồi đến một con dao nhỏ. Khi những thứ ấy cũng đã được đưa xuống gầm bàn, có một thoáng im lặng, sau đó tiếng gõ đánh vần chữ “Xem!” Chúng tôi nhặt cuốn sách, con dao và cái lọ lên, và trên tờ lót của cuốn tự điển, tôi thấy một bản sao được ngưng tụ của bức thư nói trên. Lý do gọi xin con dao được giải thích với tôi như sau: một lượng vi ti bất khả phân của kim loại cấu thành lưỡi dao đã được giải trừ khỏi khối và dùng để ngưng tụ dòng chữ đen từ trạng thái hơi kim loại. Gôm Ả Rập cho mượn một số hạt của mình—cũng bị hóa hơi nhằm mục đích đó—để làm tác chất kết dính hỗ trợ cho thí nghiệm. Cặp hồ sơ đựng bức thư gốc đã ở trong túi áo tôi liên tục kể từ khi tôi tới Philadelphia, cho đến nửa giờ trước thí nghiệm, lúc tôi đặt nó lên gờ lò sưởi, và tôi vẫn nhìn thấy nó hoàn toàn mỗi khi ngước mắt khỏi cuốn sách. Suốt thời gian đó H. P. B. chỉ cách tôi chừng hai bộ, ở bàn của Bà đang viết, và không có ai ngoài hai chúng tôi ở trong phòng từ khi tôi đặt cặp hồ sơ lên gờ lò sưởi. Khi so sánh chữ viết gốc và bản sao, bằng cách đặt chồng lên nhau, hiển nhiên chúng không phải là bản chụp sao y, điều này càng làm cho hiện tượng thêm lý thú. Tối hôm sau, khi H. P. B. và tôi lại ở riêng với nhau, tiếng gõ gọi xin một tờ giấy vẽ Bristol được đưa xuống gầm bàn. Sau khi cho tôi xem cả hai mặt đều còn trắng, đồng sự của tôi chuyền nó xuống cho “John King”, và tiếng gõ bảo tôi xem đồng hồ và ghi nhận thời gian thí nghiệm sẽ cần bao lâu. Tay cầm đồng hồ, tôi liếc dưới khăn bàn và tự thỏa mãn rằng ở đó chỉ có duy nhất tờ giấy mà lúc trước tôi vừa cầm. Hết đúng ba mươi giây, tiếng gõ đánh vần chữ “Xong”. Tôi nhìn vào tờ giấy và thấy thất vọng vì mặt đang lộ ra trông vẫn trắng như trước, nhưng ở mặt kia, tức mặt quay xuống thảm, thì thấy một bản sao thứ hai, còn đẹp hơn bản trước, của bức thư của E. W. Lần này cặp hồ sơ đựng bức thư ở trong túi áo ngực bên trong của tôi, nơi nó đã nằm liên tục kể từ thí nghiệm ngưng tụ tối hôm trước. Một ông B—, đúng lúc ấy bước vào phòng, đã giúp tôi soát xét rất kỹ các văn bản, đặt cái này lên cái kia như tôi vừa làm, và giống như tôi, hoàn toàn bị thuyết phục về tính xác thực của hiện tượng. Tôi có thể nói thêm, ngoặc đơn, rằng ông này từng nhận được trong túi xách vải nỉ, khi đi tàu hỏa, một bức thư từ “John King” chuyển những chỉ dẫn liên quan đến việc riêng tư nào đó. Chính ông kể cho tôi câu chuyện, cho tôi xem bức thư, và trịnh trọng nói rằng nó đã vào túi của ông khi đang ở trên tàu, cách Philadelphia hàng dặm và cách H. P. B. hàng dặm.
This incident recalls similar experiences of my own while travelling by train, in France, with Babu Mohini M. Chatterji, and in Germany with Dr. Huebbe Schleiden, both in the year 1884.
Sự việc này gợi lại những trải nghiệm tương tự của chính tôi khi đi tàu hỏa ở Pháp cùng Babu Mohini M. Chatterji, và ở Đức cùng Tiến sĩ Huebbe Schleiden, đều vào năm 1884.
The mention of this gentleman (Mr. B.) reminds me of the duty I owe to the memory of H. P. B. to state her exact relations with him. It has been insinuated that they were not altogether creditable, and that there was a mystery concealed which would not bear probing. This is of a piece with the multitudinous cruel reports that were spread about her. She is dead and gone now from the world’s sight and beyond the reach of the slanderer, but, judging from my own feelings, I am sure that all who love her memory will be glad to know the facts from one of the half dozen who are able to give them. They are these: One of my Chittenden letters in the Daily Graphic aroused the interest of this Mr. B.—a Russian subject—and led him to write me from Philadelphia expressing his strong desire to meet my colleague and talk over Spiritualism. No objections being made by her, he came over to New York towards the end of 1875, and they met. It turned out that he fell at once into a state of profound admiration, which he expressed verbally, and later, by letter, to her and to me. She presistently rebuffed him when she saw that he was matrimonially inclined, and grew very angry at his persistence. The only effect was to deepen his devotion, and he finally threatened to take his life unless she would accept his hand. Meanwhile, before this crisis arrived, she had gone to Philadelphia, put up at the same hotel, and received his daily visits. He declared that he would ask nothing but the privilege of watching over her, that his feeling was one of unselfish adoration for her intellectual grandeur, and that he would make no claim to any of the privileges of wedded life. He so besieged her that—in what seemed to me a freak of madness—she finally consented to take him at his word and be nominally his wife: but with the stipulation that she should retain her own name, and be as free and independent of all disciplinary restraint as she then was. So they were lawfully married by a most respectable Unitarian clergyman of Philadelphia, and set up their lares and penates in a small house in Samson Street, where they entertained me as guest on my second visit to that city—after my book was finished and brought out. The ceremony took place, in fact, while I was stopping in the house, although I was not present as a witness. But I saw them when they returned from the clergyman’s residence after the celebration of the rite.
Nhắc tới vị quý ông này (ông B.) khiến tôi nhớ bổn phận phải nói rõ mối quan hệ chính xác của H. P. B. với ông ta. Đã có ám chỉ rằng chúng không hoàn toàn đáng khen, và rằng có một bí ẩn được giấu kín không chịu nổi sự tra xét. Điều này là một mẩu trong vô số lời đồn độc ác từng lan về Bà. Bà giờ đã khuất khỏi tầm mắt thế gian và ngoài tầm tay kẻ phỉ báng, nhưng, suy từ cảm xúc của chính tôi, tôi chắc rằng tất cả những ai yêu kính kỷ niệm về Bà sẽ vui mừng biết sự thật từ một trong độ nửa tá người có thể cho biết. Sự thật là: Một trong các thư Chittenden của tôi đăng trên tờ Daily Graphic đã khiến ông B. này—một thần dân Nga—quan tâm, và dẫn đến việc ông viết cho tôi từ Philadelphia, bày tỏ mong muốn mãnh liệt được gặp đồng sự của tôi và chuyện trò về Thần linh học. Bà không phản đối, ông ta sang New York vào khoảng cuối năm 1875, và họ gặp nhau. Hóa ra ông ta lập tức rơi vào trạng thái ái mộ sâu sắc, bộc lộ bằng lời nói, và sau đó, bằng thư, gửi cho Bà và cho tôi. Khi thấy ông có ý hướng hôn nhân, Bà kiên quyết khước từ và rất tức giận trước sự bền bỉ của ông. Kết quả duy nhất là làm cho sự tận tụy của ông thêm sâu đậm, và sau cùng ông dọa sẽ tự vẫn trừ phi Bà nhận lời cầu hôn. Trong khi đó, trước khi khủng hoảng này tới, Bà đã đi Philadelphia, trọ cùng khách sạn, và nhận những chuyến viếng thăm hằng ngày của ông. Ông tuyên bố rằng ông sẽ không yêu cầu gì ngoài đặc quyền được trông nom Bà, rằng cảm xúc của ông là sự tôn thờ vô tư đối với tầm vóc trí tuệ của Bà, và ông sẽ không đòi bất kỳ đặc ân nào của đời sống vợ chồng. Ông công kích dai dẳng đến mức—trong một cơn bốc đồng có vẻ điên rồ đối với tôi—sau cùng Bà nhận lời theo đúng lời ông nói và chỉ trên danh nghĩa làm vợ ông: nhưng với điều kiện Bà giữ nguyên tên mình, và vẫn tự do, độc lập khỏi mọi ràng buộc kỷ luật như bấy giờ. Thế là họ làm lễ cưới hợp pháp bởi một mục sư Nhất Nguyên rất đáng kính ở Philadelphia, và dựng mái ấm trong một căn nhà nhỏ ở phố Samson, nơi họ tiếp đãi tôi làm khách trong chuyến tôi đến thăm thành phố ấy lần thứ hai—sau khi sách của tôi đã hoàn tất và xuất bản. Thực vậy, lễ cưới diễn ra trong khi tôi đang tạm trú tại nhà, tuy tôi không có mặt làm chứng. Nhưng tôi đã gặp họ khi họ từ nhà vị mục sư trở về sau khi làm lễ.
When I privately expressed to her my amazement at what I conceived to be her act of folly in marrying a man younger than herself, and inexpressibly her inferior in mental capacity; one, moreover, who could never be even an agreeable companion to her, and with very little means—his mercantile business not being as yet established—she said it was a misfortune that she could not escape. Her fate and his were temporarily linked together by an inexorable Karma, and the union was to her in the nature of a punishment for her awful pride and combativeness, which impeded her spiritual evolution, while no lasting harm would result to the young man. The inevitable result was that this ill-starred couple dwelt together but a few months. The husband forgot his vows of unselfishness, and, to her ineffable disgust, became an importunate lover. She fell dangerously ill in June from a bruise on one knee caused by a fall the previous winter in New York upon the stone flagging of a sidewalk, which ended in violent inflammation of the periosteum and partial mortification of the leg; and as soon as she got better (which she did in one night, by one of her quasi-miraculous cures, after an eminent surgeon had declared that she would die unless the leg was instantly amputated), she left him and would not go back. When, after many months of separation, he saw her determination unchangeable, and that his business, through his mismanagement, was going to the dogs, he engaged counsel and sued for a divorce on the ground of desertion. The summonses were served upon her in New York, Mr. Judge acted as her counsel, and on the 25th May, 1878, the divorce was granted. The original documents have ever since been in my custody. That is the whole story, and it will be seen that it shows no criminality nor illegality on her part, nor any evidence that she derived the slightest worldly advantage from the marriage beyond a very modest maintenance, without a single luxury, for a few months.Before dismissing Mr. B. from the scene, I might mention a variant of her precipitation phenomena which I personally witnessed. He talked continually of a deceased grandmother, whom he professed to have loved very dearly, and begged H. P. B. to get him, if possible, her portrait, the family having none. Wearied by his importunities, she, one day when we three were together, took a sheet of writing-paper, went to the window, held it against the glass with the palms of her two hands, and in a couple of minutes handed him the paper, upon which I saw the portrait, in black and white, of a queer little old woman, with a dark complexion, black hair, many wrinkles, and a large wart on her nose! Mr. B. enthusiastically declared the likeness to be perfect.
Khi riêng tư bày tỏ với Bà sự kinh ngạc của tôi trước điều tôi cho là hành động dại dột: lấy một người đàn ông trẻ hơn Bà, kém Bà khôn tả về năng lực trí tuệ; hơn nữa, người ấy không bao giờ có thể là một bạn đồng hành dễ chịu với Bà, lại có rất ít phương tiện—công việc thương mại của ông ta khi ấy chưa gây dựng xong—Bà nói đó là một bất hạnh Bà không thể tránh. Số phận của Bà và của ông tạm thời bị trói buộc với nhau bởi Nghiệp quả không thể kháng cự, và cuộc kết hợp ấy đối với Bà như một sự trừng phạt vì tính kiêu căng khủng khiếp và tinh thần hiếu chiến, vốn cản trở sự tiến hóa tinh thần của Bà, trong khi không gây hại lâu dài cho người thanh niên ấy. Kết quả tất yếu là cặp đôi bạc phước này chỉ ở với nhau được vài tháng. Người chồng quên lời thề vô tư, và, khiến Bà ghê tởm khôn tả, trở thành một kẻ nài nỉ đòi ái ân. Tháng Sáu Bà ngã bệnh nặng vì một chấn thương đầu gối do ngã trên vỉa lát đá ở New York mùa đông trước đó, dẫn tới viêm màng xương dữ dội và hoại tử một phần chân; và ngay khi Bà đỡ hơn (điều này xảy ra trong một đêm, bởi một trong những phép chữa trị như-kỳ-diệu của Bà, sau khi một phẫu thuật gia lỗi lạc tuyên bố rằng Bà sẽ chết trừ phi lập tức cắt bỏ chân), Bà bỏ ông và không trở lại nữa. Khi, sau nhiều tháng ly thân, ông thấy quyết định của Bà không đổi, và rằng công việc của ông, vì quản lý kém, đang tuột dốc không phanh, ông nhờ luật sư và kiện xin ly hôn với lý do bị bỏ rơi. Trát tòa tống đạt cho Bà ở New York, ông Judge làm luật sư cho Bà, và ngày 25 tháng Năm, 1878, tòa chấp thuận ly hôn. Các văn kiện gốc từ đó tới nay vẫn do tôi lưu giữ. Đó là toàn bộ câu chuyện, và có thể thấy rằng nó không cho thấy hành vi phạm pháp hay phi đạo đức nào của Bà, cũng không bằng chứng rằng Bà được chút lợi lộc thế tục nào từ cuộc hôn nhân ngoài một sự chu cấp khiêm tốn, không lấy một xa xỉ phẩm, trong dăm ba tháng. Trước khi tiễn ông B. khỏi sân khấu, tôi xin nhắc thêm một biến thể của hiện tượng ngưng tụ do Bà làm, mà chính mắt tôi chứng kiến. Ông này nói mãi về người bà đã khuất, mà ông nói rằng mình rất thương, và nài nỉ H. P. B. nếu có thể, xin cho ông bức chân dung của bà, vì gia đình không có. Mệt vì những lời khẩn khoản, một ngày nọ khi ba chúng tôi ở bên nhau, Bà lấy một tờ giấy viết, đi tới cửa sổ, ép nó vào kính bằng lòng bàn tay của cả hai tay, và sau đôi ba phút đưa cho ông tờ giấy, trên đó tôi thấy chân dung, đen trắng, của một bà lão nhỏ nhắn kỳ dị, da sẫm, tóc đen, nhiều nếp nhăn, và một mụn cóc lớn trên mũi! Ông B. nhiệt liệt tuyên bố là giống hệt.
Her time during this period was fully engrossed with writing for the public press, upon Western Spiritualism at first, and later upon that of the East. Her “first occult shot,” as she terms it in a note to the cutting pasted into our scrap-book, will be found in the (Boston), Spiritual Scientist, vol. i. July 15, 1875, comment upon which will be made in the next chapter.
Thời gian của Bà trong giai đoạn này hầu như dành trọn cho việc viết cho báo chí đại chúng, lúc đầu về Thần linh học phương Tây, sau đó về Thần linh học phương Đông. “Cú bắn huyền bí đầu tiên” của Bà, như Bà gọi trong một ghi chú dán vào sổ cắt báo của chúng tôi, có thể thấy trong tờ Spiritual Scientist (Boston), tập I, ngày 15 tháng 7, 1875, sẽ được bình luận ở chương kế.
The publication of my book led to important results; among others, to interminable discussions in the American and English organs of Spiritualism and in the secular press, in which both H. P. B. and I engaged, and to the formation of lasting friendships with several most excellent correspondents, with whom we threshed out the whole subject of Eastern and Western occultism.
Việc xuất bản cuốn sách của tôi dẫn đến những kết quả quan trọng; trong số đó, là những cuộc tranh luận bất tận trên các cơ quan Thần linh học của Mỹ và Anh cũng như trên báo chí thế tục, mà cả H. P. B. lẫn tôi đều tham gia, và dẫn đến những tình bạn bền vững với vài cộng tác viên rất tuyệt hảo, với họ chúng tôi đã nghiền ngẫm toàn bộ chủ đề huyền bí học phương Đông và phương Tây.
Almost immediately we found ourselves addressed by enquirers in both hemispheres and attacked or defended by opponents and sympathisers. The well-known Hon. Alexandre Aksakof, Russian Imperial Privy Councillor and a fervid Spiritualist, engaged H. P. B. to translate my book into Russian, offering to bring it out at his own expense. She complied, and shortly there appeared in St. Petersburgh a very kind and appreciative pamphlet by Professor N. A. Wagner, of the Imperial University, in which he (himself a scientific authority of the first rank) was good enough to say that in conducting my researches I “had complied with all the requirements of cautious scientific enquiry;” a testimonial of which I naturally felt very proud. Mr. Crookes, F.R.S., and Mr. Alfred R. Wallace, F.R.S., of England, and M. Camille Flammarion of France, the world-famous astronomer, were also very kind and sympathetic in their expressions. Some months later, Mr. C. C. Massey, of London, came over to America expressly to verify, by personal observation on the spot, the accuracy of my account of the Eddy phenomena. We saw much of each other, and. were so mutually satisfied that a close, almost brotherly friendship sprang up between us; one that has lasted to this day unbroken and unclouded even by a single misunderstanding. I had already been brought into the most sympathetic relations with the late Hon. R. D. Owen and Mr. Epes Sargent, of Boston. The latter gentleman and scholar had been the channel for my gaining both a precious correspondent and the dearest of friends, in the late Mr. W. Stainton Moses, [6] M.A. (Oxon), teacher of Classics and English, in University College, London, and the mot honoured and brilliant writer among British Spiritualists. A copy of my book was sent to him and reviewed in the Psychological Magazine or Human Nature—I forget which—and little by little we drifted into an almost weekly interchange of letters for several years. His first one, now before me, is dated April 27, 1875, and is devoted to discussion of the conditions and results of “circle” mediumistic phenomena. He draws my attention to a fact, sneered at by Professor Tyndall in his well-known letter to the old London Dialectical Society, yet only too palpable to all experienced enquirers into this class of natural phenomena, viz., that “as a matter of fact certain people by their mere presence do seriously interfere with, and by their mere contiguity paralyse the phenomena: and that from no fault of their own, nor from any mental attitude (as want of faith, etc.), but from the atmosphere which surrounds them. The more sensitive the medium the more perceptible this is.” Mr. Stainton Moses continues: “There are many personal friends of mine in whose presence phenomena with me cease, to my great chagrin, nor have I the least power to alter the result.” Alluding to the phenomenon of the apparent de-materialisation of the medium (e.g., the case of Mrs. Compton, as described in my book), he declares it to be most astounding of all, and says he cannot account for it, though he believes “it is not unknown to the Oriental Magicians.” What I have said in a previous chapter as regards the power of deluding the sight by the now scientific process of hypnotic inhibition of the nerves, solves this mystery and does away with a lot of superstitious beliefs and alleged diabolism. It was worth all the trouble of writing that book to have made two such life-long friends as Stainton Moses and Massey: but it did much more, it changed my life and made an epoch. While Mr. Massey was in America we together visited several mediums, and he was one of those who joined H. P. B. and myself in forming the Theosophical Society toward the close of that year (1875). I introduced him to H. P. B. and he frequently visited her rooms, became her close friend and constant correspondent until the intimacy was broken, several years later, by a circumstance known as the “Kiddle incident.” When he returned to London I gave him an introductory letter to Mr. Stainton Moses, and thus began that intimacy between us three which has only been interrupted by the death of “M. A. Oxon.”
Hầu như ngay lập tức, chúng tôi thấy mình được người hỏi han ở cả hai bán cầu gửi thư đến, và bị công kích hay được bênh vực bởi đối thủ và người cảm thông. Ông Alexandre Aksakof, một vị Thượng thư Mật viện Đế quốc Nga, một người say mê Thần linh học, đã mời H. P. B. dịch sách của tôi sang tiếng Nga, đề nghị tự bỏ kinh phí xuất bản. Bà nhận lời, và chẳng bao lâu ở St. Petersburgh xuất hiện một tập sách nhỏ rất tử tế và trân trọng của Giáo sư N. A. Wagner, Đại học Đế quốc, trong đó ông (vốn là một nhà khoa học thẩm quyền hạng nhất) đã hạ bút rằng trong khi tiến hành nghiên cứu, tôi “đã tuân thủ mọi yêu cầu của một cuộc khảo cứu khoa học thận trọng”; một chứng nhận mà dĩ nhiên tôi thấy rất tự hào. Ông Crookes, F.R.S., và ông Alfred R. Wallace, F.R.S., ở Anh, và ông Camille Flammarion ở Pháp, nhà thiên văn nổi danh thế giới, cũng rất tử tế và bày tỏ cảm tình. Vài tháng sau, ông C. C. Massey, ở London, sang tận Mỹ chỉ để xác minh, bằng quan sát trực tiếp tại chỗ, sự chính xác trong tường thuật của tôi về các hiện tượng tại nhà Eddy. Chúng tôi gặp gỡ nhau nhiều, và cảm thấy hài lòng đến mức một tình bạn thân mật, gần như tình huynh đệ nảy nở giữa chúng tôi; một tình bạn kéo dài cho đến ngày nay, không bị cắt quãng và không hề vướng một hiểu lầm nào. Tôi đã có sẵn mối quan hệ rất cảm thông với cố Thượng nghị sĩ R. D. Owen và ông Epes Sargent, ở Boston. Vị học giả tao nhã sau cùng là kênh qua đó tôi có được một cộng tác viên quý báu và người bạn thân yêu nhất, là cố ông W. Stainton Moses, M.A. (Oxon), giáo sư Văn học Cổ điển và Anh văn, Đại học University College, London, và là cây bút được tôn trọng và rực rỡ nhất trong giới Thần linh học Anh quốc. Một bản sách của tôi được gửi cho ông và được điểm trên tạp chí Psychological Magazine hoặc Human Nature—tôi quên là tờ nào—và dần dần chúng tôi đi đến chỗ trao đổi thư gần như hàng tuần trong nhiều năm. Bức đầu tiên của ông, nay trước mặt tôi, đề ngày 27 tháng 4, 1875, bàn về điều kiện và kết quả của các hiện tượng “đàn” đồng tử. Ông lưu ý tôi tới một thực tế bị Giáo sư Tyndall chế giễu trong bức thư nổi tiếng gửi Hội Biện chứng London ngày trước, nhưng lại quá hiển nhiên với mọi nhà điều tra có kinh nghiệm về lớp hiện tượng tự nhiên này, tức là, “trên thực tế, có những người chỉ bởi sự hiện diện của mình đã can thiệp nghiêm trọng, và chỉ bởi ở gần đã làm tê liệt hiện tượng: điều đó không do lỗi của họ, cũng không do lập trường tâm lý (như thiếu niềm tin, v.v.), mà do bầu khí bao quanh họ. Đồng tử càng nhạy, điều này càng dễ nhận ra.” Ông Stainton Moses nói tiếp: “Có nhiều bạn thân của tôi mà trong sự hiện diện của họ, hiện tượng với tôi chấm dứt, thật là điều làm tôi rất buồn, và tôi hoàn toàn không có chút quyền năng nào để thay đổi kết quả.” Khi nói đến hiện tượng dường như “giải thể vật chất” của đồng tử (ví dụ, trường hợp bà Compton như mô tả trong sách của tôi), ông cho đó là điều gây kinh ngạc nhất, và nói ông không lý giải được, dù ông tin rằng “nó không xa lạ với các nhà huyền thuật phương Đông.” Điều tôi đã nói ở một chương trước về năng lực đánh lừa thị giác nhờ quy trình khoa học ngày nay là ức chế thôi miên đối với thần kinh, giải được bí ẩn này và loại bỏ một mớ tín điều mê tín cùng những lời gán quỷ mị. Việc viết cuốn sách đó đáng giá mọi nỗ lực nếu chỉ để có được hai người bạn tri kỷ suốt đời như Stainton Moses và Massey: nhưng nó còn làm hơn thế, nó đã đổi thay đời tôi và mở ra một thời khắc ngoặt. Khi ông Massey ở Mỹ, chúng tôi cùng nhau thăm viếng một số đồng tử, và ông là một trong những người đã cùng H. P. B. và tôi lập Hội Thông Thiên Học vào cuối năm đó (1875). Tôi giới thiệu ông với H. P. B. và ông thường xuyên đến thăm phòng của Bà, trở thành bạn thân của Bà và thư từ không dứt cho đến khi mối thân tình bị gián đoạn vài năm sau bởi một việc được biết dưới tên “sự cố Kiddle”. Khi trở lại London, tôi đưa ông thư giới thiệu ông với ông Stainton Moses, và thế là bắt đầu mối thân giao giữa ba chúng tôi, chỉ bị gián đoạn bởi cái chết của “M. A. Oxon.”
Mention has been made of one Signor B—, an Italian artist possessed of occult powers, who visited: H. P. B. in New York, I witnessed, one autumn evening, in 1875, just after the T. S. was formed, the extraordinary phenomenon of rain-making effected by him by—as he said—the control of spirits of the air. The moon was at the full and not a cloud floated in the clear blue sky. He called H. P. B. and myself out upon the balcony of her back drawing-room, and, bidding me keep perfectly silent and cool, whatever might happen, he drew from the breast of his coat and held up towards the moon a pasteboard card, perhaps 6X10 inches in size, upon one face of which were painted in water-colors a number of squares, each containing a strange mathematical figure, but which he would not let me handle or examine. I stood close behind him, and could feel his body stiffen as though it were responding to an intense concentration of will. Presently he pointed at the moon and we saw, dense black vapours, like thunder-clouds, or, I should rather say, like the tumbling mass of black smoke that streams away to leeward from the funnel of a moving steamer, pouring out of the shining eastern rim of the brilliant satellite, and floating away towards the horizon. Involuntarily I uttered an exclamation, but the sorcerer gripped my arm with a clutch of steel and motioned me to be silent. More and more rapidly the black pall of cloud rushed out, and longer and longer it stretched away towards the distance, like a monstrous jetty plume. It spread into a fan-shape and soon other dark rain-clouds appeared in the sky, now here, now there, and formed into masses rolling, drifting, and scudding exactly like a natural watery meteor. Rapidly the heavens became overcast, the moon disappeared from view, and a shower of rain-drops drove us into the house. There was no thunder or lightning, no wind, just simply a smart shower, produced within the space of a quarter-hour by this man of mystery. When we came into the light of the chandelier, I saw that his face had that look of iron firmness and that clenching of the teeth that one sees on the faces of comrades in battle. And truly for good reason, for he had just been battling against and conquering the unseen hosts of the elements, a thing that brings out every spark of virile force in man. Signor B. did not linger with us but hastily took his leave, and, as the hour was late, I followed his example within the next few minutes. The pavement was wet with rain, the air damp and cool. My rooms were but a few steps off, and I had barely reached them and settled myself for a smoke when the bell rang, and, upon opening the front door, upon the threshold I found Signor B., pale and partly exhausted. He excused himself for troubling me but asked for a glass of water. I made him enter, and after he had drunk the water and rested awhile we went to conversing about occult subjects and kept it up for a long time. I found him ready to talk about art, literature or science, but extremely reticent about occult science and his personal experience in psychical development. He explained, however, that all the races of elemental spirits are controllable by man when his innate, divine potencies are developed: his will then becoming an irresistible force before which all inferior, that is every elemental force, whether organised as entities or brute, blind cosmic agents, are compelled to yield. I had seen no black smoke actually pouring out of the moon, that was a simple illusion produced by the concentration of his thought upon her surface, but I had certainly seen clouds form out of the moonlit sky and rain fall, and he commended the fact to me for reflection. But now he gave me a bit of advice which fairly astonished me. I had seen him on the best of terms with H. P. B., talking in the most friendly and unreserved Sway about Italy. Garibaldi, Mazzini, the Carbonari, the Eastern and Western adepts, etc., and matching phenomena, like the trick of the white butterflies, and I certainly had reason to be amazed when, putting on an air of mystery, he warned me to break off my intimacy with her. He said she was a very wicked and dangerous woman, and would bring some terrible calamity upon me if I allowed myself to fall under her malign spell. This—he said—he was ordered by the great Master, whose name I had heard him pronounce to H. P. B., to tell me. I looked at the man to see if I could detect the concealed meaning of this preposterous speech, and finally said: “Well, Signor, I know that the Personage you mention exists; I have every reason, after seeing your phenomena, to suspect that you have relations with him or with the Brotherhood; I am ready, even to the sacrifice of my life, to obey his behests; and now I demand that you give me a certain sign, by which I shall know, positively and without room for the least doubt, that Madame Blavatsky is the devil you depict, and that the Master’s will is that my acquaintance with her shall cease.” The Italian hesitated, stammered out something incoherent, and turned the conversation. Though he could draw inky clouds out of the moon, he could not throw black doubt into my heart about my friend and guide through the mazy intricacies of occult science. The next time I saw H. P. B. I told her about B.’s warning, whereupon she smiled, said I had nicely passed through that little test, and wrote a note to Signor B. to “forget the way to her door.” which he did
Tôi đã nhắc tới một ông ký tên Signor B—, một họa sĩ người Ý sở hữu năng lực huyền bí, đã đến thăm H. P. B. ở New York. Một buổi tối mùa thu năm 1875, ngay sau khi Hội Thông Thiên Học được thành lập, tôi đã chứng kiến hiện tượng khác thường: làm mưa, do ông thực hiện—như ông nói—bằng cách điều khiển các tinh linh của nguyên tố khí. Trăng rằm và không một gợn mây trên bầu trời xanh trong. Ông gọi H. P. B. và tôi ra ban công của phòng khách sau nhà, và, dặn tôi giữ tuyệt đối im lặng và bình tĩnh, dù có chuyện gì xảy ra, ông rút từ túi áo ngực ra một tấm bìa cứng, giơ về phía mặt trăng; có lẽ cỡ 15 x 25 cm, với một mặt vẽ bằng màu nước nhiều ô vuông, mỗi ô chứa một hình học kỳ lạ, nhưng ông không cho tôi cầm hay xem kỹ. Tôi đứng sát sau lưng ông và cảm nhận thân người ông bất động như thể đang đáp ứng một sự tập trung ý chí mãnh liệt. Chẳng mấy chốc ông chỉ tay về phía mặt trăng, và chúng tôi thấy những luồng hơi đen đặc, như mây giông, hay đúng hơn, như khối khói đen cuồn cuộn trôi theo chiều gió từ ống khói một con tàu đang chạy, tuôn ra từ vành sáng lấp lánh phía đông của vệ tinh rực rỡ, rồi trôi đi về phía đường chân trời. Tôi buột miệng kêu lên, nhưng “pháp sư” bóp chặt cánh tay tôi như gọng thép và ra hiệu im lặng. Làn mây đen cuồn cuộn tuôn ra ngày càng nhanh, và kéo dài ra ở phía xa, như một chiếc lông chim đen khổng lồ. Nó xòe ra thành hình quạt và chẳng bao lâu những đám mây mưa tối khác xuất hiện trên trời, lúc thì ở đây, lúc ở kia, tụ thành từng mảng lăn, trôi, lao đi y như một thế trận thủy khí tự nhiên. Nhanh chóng bầu trời bị mây phủ kín, mặt trăng khuất, và một trận mưa rào xua chúng tôi vào nhà. Không sấm, không chớp, không gió, chỉ là một cơn mưa rào nhẹ, được tạo ra trong vòng một phần tư giờ bởi con người bí ẩn này. Khi chúng tôi vào dưới ánh đèn chùm, tôi thấy khuôn mặt ông mang vẻ cứng rắn như sắt và hàm răng nghiến chặt, cái vẻ người ta thấy trên mặt đồng đội trong chiến trận. Và quả thực có lý do, vì ông vừa chiến đấu và khuất phục những đạo quân vô hình của các nguyên tố, điều kéo dậy mọi tia lực hùng tráng trong con người. Signor B. không nán lại với chúng tôi mà vội vã cáo lui, và vì giờ đã muộn, tôi cũng theo gương ông trong dăm phút kế. Mặt đường ướt mưa, không khí ẩm và mát. Phòng của tôi chỉ cách vài bước, và tôi vừa kịp về tới, yên vị rít điếu thuốc thì chuông reo, và khi mở cửa, tôi thấy Signor B. đứng ở ngưỡng cửa, xanh xao và phần nào kiệt sức. Ông xin lỗi vì làm phiền tôi nhưng xin một cốc nước. Tôi mời ông vào, và sau khi uống nước và nghỉ một lát, chúng tôi chuyển sang chuyện trò về các chủ đề huyền bí và nói chuyện thật lâu. Tôi thấy ông sẵn lòng nói về nghệ thuật, văn chương hay khoa học, nhưng cực kỳ kín tiếng về huyền bí học và kinh nghiệm riêng trong tu dưỡng thông linh. Tuy vậy, ông giải thích rằng mọi chủng loại tinh linh hành khí đều có thể do con người điều khiển khi những tiềm năng thiêng liêng bẩm sinh được phát triển: ý chí của người ấy khi đó trở thành một mãnh lực bất khả kháng, trước nó mọi lực lượng dưới cấp—tức mọi lực lượng hành khí, dù được tổ chức như thực thể hay chỉ là những tác nhân vũ trụ đui mù—đều buộc phải khuất phục. Tôi đã không thực sự thấy khói đen tuôn ra từ mặt trăng, đó chỉ là một ảo giác đơn giản được tạo bởi sự tập trung tư tưởng của ông lên bề mặt của nàng; nhưng tôi đã thực sự thấy mây hình thành từ bầu trời trăng sáng và mưa rơi, và ông khen tôi biết ghi nhận sự kiện ấy để suy ngẫm. Nhưng rồi ông đưa cho tôi một lời khuyên khiến tôi sững sờ. Tôi đã thấy ông thân thiết với H. P. B., nói chuyện rất cởi mở và chân tình về nước Ý, Garibaldi, Mazzini, Carbonari, các chân sư phương Đông và phương Tây, v.v., và sánh các hiện tượng với nhau, như trò bướm trắng, và dĩ nhiên tôi rất kinh ngạc khi ông ta, làm ra vẻ bí ẩn, lại cảnh báo tôi cắt đứt mối thân tình với Bà. Ông nói Bà là một người đàn bà rất độc ác và nguy hiểm, và sẽ mang một tai ương khủng khiếp đến cho tôi nếu tôi để mình rơi vào bùa mê độc hại của Bà. Điều này—ông nói—ông được một Vị Đại Sư, mà tên ông đã đọc ra trước H. P. B., truyền bảo phải bảo tôi. Tôi nhìn người đàn ông ấy xem có thể phát hiện ý tứ ẩn giấu nào trong lời lẽ lố bịch này không, và sau cùng nói: “Thưa Ngài, tôi biết Nhân Vật mà Ngài nói là có thật; sau khi thấy các hiện tượng của Ngài, tôi có mọi lý do để ngờ rằng Ngài có quan hệ với Ngài ấy hoặc với Huynh đệ Đoàn; tôi sẵn sàng, thậm chí hy sinh mạng sống, để tuân mệnh Ngài; và giờ đây tôi yêu cầu Ngài cho tôi một dấu hiệu chắc chắn, để tôi biết, một cách xác quyết và không còn chút nghi ngờ nào, rằng Madame Blavatsky là con quỷ như Ngài mô tả, và rằng ý của Vị Đại Sư là tôi phải đoạn tuyệt giao du với Bà.” Người Ý do dự, ấp úng mấy lời vô nghĩa, và lái câu chuyện sang chỗ khác. Dù ông có thể “rút” mây đen ra khỏi mặt trăng, ông vẫn không thể gieo bóng hoài nghi đen tối vào tim tôi về người bạn và người dẫn đạo của tôi qua những mê cung huyền bí học. Lần sau gặp H. P. B. tôi kể Bà nghe lời cảnh báo của B., thế là Bà mỉm cười, nói tôi đã vượt qua khéo léo bài trắc nghiệm nhỏ đó, và viết một mảnh giấy cho Signor B. dặn “quên đường đến cửa nhà Bà”, và ông đã làm theo.
CHAPTER V—CHƯƠNG V
SPIRITUALISM—THẦN LINH HỌC
OUT of the sea of controversy into which H. P. B. and I were plunged by my Graphic letters and my book; Mr. Owen’s article on Katie King and his interleaved disclaimer in the January (1875) Atlantic Monthly; General Lippit’s contributions to the Galaxy (December, 1874) and the Banner of Light; the attacks upon and defences of the Holmes mediums; and the universal discussion of Spiritualism in the American and European press,—were churned certain precious things: among them, the forcing of Eastern occult ideas upon Western attention, and the birth of the Theosophical Society.
TỪ biển cả tranh cãi mà H. P. B. và tôi bị quăng vào bởi các thư gửi Graphic và cuốn sách của tôi; bài của ông Owen về Katie King và lời tuyên bố không dính líu kèm theo trong số tháng Giêng (1875) của Atlantic Monthly; những bài viết của Tướng Lippit trên Galaxy (tháng 12, 1874) và Banner of Light; các đợt công kích và phòng vệ nhằm vào đôi đồng tử nhà Holmes; và cuộc thảo luận phổ quát về Thần linh học trên báo chí Mỹ và châu Âu,—đã khuấy lên một số điều quý báu: trong đó có việc buộc tư tưởng huyền bí phương Đông phải lọt vào tầm chú ý phương Tây, và sự chào đời của Hội Thông Thiên Học.
To refute the mendacious stories of Mahatma meddlings and attendant phenomena, and show the natural stages by which the Society came into being, we must glance at the earlier letters written to the press by its two actual pioneers and parents (of which I have an incomplete set of copies). The details may be dry, but they are important as historical data.
Để bác bỏ những chuyện bịa đặt về sự can dự của các Mahatma và những hiện tượng kèm theo, và chỉ ra các bước tự nhiên nhờ đó Hội ra đời, chúng ta phải liếc qua những bức thư sớm nhất gửi báo chí của chính hai người tiên phong và là “cha mẹ” của Hội (mà tôi còn giữ một bộ bản sao chưa đầy đủ). Chi tiết có thể khô khan, nhưng chúng quan trọng như dữ liệu lịch sử.
As already explained, the self-advertising attack of the late Dr. George M. Beard—an electropathic physician of New York city—upon the Eddys, and his wild and false assertion that he could imitate the form-apparitions with “three dollars’ worth of drapery,” lashed H. P. B. into a Berserker writing-rage and made her send the Graphic that caustic reply, covering a bet of $5000 that he could not make good his boast, which first acquainted the American public with her existence and name. Naturally, people took sides; the friends of Spiritualism and the mediums siding with H. P. B., while the opponents, especially the materialistically inclined scientists, ranged themselves in the cohort of Dr. Beard’s supporters. The one who profited by the dispute was Beard, whose ruse—worthy of Pears, Beecham, or Siegel—advertised him and his electricity beyond his expectations. Profiting by the chance, he gave a thoroughly well advertised lecture on this subject, and another, if I remember aright, upon Mesmerism and Thought-reading, at the New York Academy of Music. The Banner of Light, the R. P. Journal and other papers, commenting upon H. P. B.’s anti-Beard letter, she replied, and so, very speedily found herself with her hands full of controversy. As I said before, she took up the position of an out-and-out Spiritualist, who not only believed but knew that the powers behind the mediums, which wrote, produced physical phenomena, talked in air-formed voices,and even showed their entire forms and disconnected faces, hands, feet or other members, were the earth-haunting spirits of the dead; neither more nor less. In a previous chapter I quoted passages from her published letters and articles going to prove this, and in her very first letter to me, written from New York within a week after she left me at Chittenden (October, 1874) addressing me as “Dear Friend” and signing herself “Jack,” and in her second one, dated six days later and signed “Jack Blavatsky,” she entreats me not to praise the mediumistic musical performance of one Jesse Sheppard, whose pretence to having sung before the Czar, and other boasts she had discovered to be absolutely false; as such a course on my part would “injure Spiritualism more than anything else in the world.” [7] “I speak to you,” she tells me, “as a true friend to yourself and (as a) Spiritualist anxious to save Spiritualism from a danger.” In the same letter, referring to a promise given her by “Mayflower” and “George Dix,” two of the alleged spirit-controls of Horatio Eddy, that they would help her by influencing the judge before whom was pending her lawsuit to recover the money put into the Long Islandmarket-garden co-partnership—she says: “Mayflower was right, Judge——came in with another decision in my favour.” Did she believe, then, that medium-controlling spirits could and would influence justices? If not, what does her language imply? Either she was a Spiritualist, or so represented herself for the time being, with the ulterior design of gradually shifting Spiritualists from the Western to the Eastern platform of belief in regard to the mediumistic phenomena. In her anti-Beard letter (N. Y. Daily Graphic, Nov. 13, 1874), she says—speaking of the incident of the bringing to her by the “spirits” of Horatio Eddy, of a decoration-buckle that had been buried with her father’s body, at Stavropol—”I deem it my duty as a Spiritualist to,” etc., etc. Later on, she told me that outburst of mediumistic phenomenon had been caused by the Brotherhood of Adepts as an evolutionary agency, and I embodied this idea in a phrase in my book (P. O. W. p., 454, top), suggesting the thinkable hypothesis that such might be the fact. But then, in the case, the spiritualistic outbreak could not be regarded as absolutely maleficent, as some Theosophical extremists have depicted it; for it is inconceivable—at least to me, who knew them—that those Elder Brothers of Humanity would ever employ, even for the good of the race, an agency in itself absolutely bad. The Jesuit motto, Finis coronat opus, is not written on the temple walls of the Fraternity.
Như đã giải thích, cuộc tấn công tự phô trương của cố bác sĩ George M. Beard—một bác sĩ điện liệu pháp ở New York—nhằm vào nhà Eddy, và lời bừa bãi sai sự thật rằng ông ta có thể bắt chước những hình hiện bằng “ba đô-la tiền vải vóc”, đã quất H. P. B. vào cơn thịnh nộ viết lách kiểu Berserker và khiến Bà gửi cho tờ Graphic bức đáp thư cay nghiệt, kèm theo một vụ cá cược 5.000 đô rằng ông ta không thể thực hiện được lời khoác lác, và điều đó lần đầu làm công chúng Mỹ biết tới sự hiện hữu và tên tuổi của Bà. Dĩ nhiên, thiên hạ chia phe; những người bạn của Thần linh học và các đồng tử đứng về phía H. P. B., trong khi đối thủ, đặc biệt là các nhà khoa học thiên về duy vật, xếp vào đội ngũ ủng hộ bác sĩ Beard. Người được lợi từ cuộc bút chiến chính là Beard, mánh khóe của ông ta—xứng đáng với Pears, Beecham hay Siegel—đã quảng cáo cho ông ta và thứ điện học của ông vượt xa mong đợi. Tận dụng cơ hội, ông ta tổ chức một bài thuyết trình được quảng bá rầm rộ về đề tài này, và một bài khác, nếu tôi nhớ đúng, về Thôi miên kiểu Mesmer và đọc ý nghĩ, tại Học viện Âm nhạc New York. Banner of Light, R. P. Journal và các báo khác bình luận về bức thư chống Beard của H. P. B., Bà đáp lại, và rất nhanh tay đầy mực tranh cãi. Như tôi đã nói, Bà chiếm lĩnh lập trường của một người theo Thần linh học đúng nghĩa, người không chỉ tin mà còn biết rằng các quyền lực đứng sau các đồng tử—những quyền lực viết, tạo hiện tượng vật lý, nói bằng những giọng được tạo trong không khí, và thậm chí hiện toàn thân hoặc những bộ phận rời rạc như mặt, tay, chân hay các phần khác—là các linh hồn vất vưởng của người chết; không hơn không kém. Ở một chương trước tôi đã trích dẫn những đoạn từ các thư và bài của Bà cho thấy điều đó, và trong chính bức thư đầu tiên Bà gửi tôi, viết từ New York trong vòng một tuần sau khi rời tôi ở Chittenden (tháng 10, 1874), mở đầu bằng “Bạn thân mến” và ký “Jack”, và trong bức thứ hai, đề ngày sáu ngày sau đó và ký “Jack Blavatsky”, Bà năn nỉ tôi đừng khen màn trình diễn âm nhạc kiểu đồng tử của một Jesse Sheppard, vì lời khoe khoang rằng đã hát trước mặt Sa hoàng, và những khoe khoang khác, Bà đã phát hiện là hoàn toàn bịa đặt; vì làm như vậy “sẽ gây hại cho Thần linh học hơn bất cứ điều gì khác trên đời.” “Tôi nói với ông,” Bà bảo tôi, “như một người bạn chân thành với chính ông và (như) một người theo Thần linh học, nóng lòng cứu Thần linh học khỏi một nguy cơ.” Trong cùng bức thư, nhắc đến lời hứa Bà nhận được từ “Mayflower” và “George Dix”, hai “vị kiểm soát” linh hồn được cho là của Horatio Eddy, rằng họ sẽ giúp Bà bằng cách tác động đến vị thẩm phán đang thụ lý vụ kiện của Bà nhằm thu hồi khoản tiền góp vào hợp danh vườn trồng rau Long Island—Bà viết: “Mayflower đã đúng, Thẩm phán —— lại đưa ra một phán quyết khác có lợi cho tôi.” Vậy Bà có tin rằng các linh hồn kiểm soát đồng tử có thể và sẽ tác động đến các vị thẩm phán chăng? Nếu không, lời lẽ của Bà hàm ý gì? Hoặc Bà là một người theo Thần linh học, hoặc Bà tự tỏ ra như vậy trong một thời gian, với ý đồ kín là dần chuyển những người theo Thần linh học từ nền tảng phương Tây sang nền tảng phương Đông về niềm tin đối với các hiện tượng đồng tử. Trong bức thư chống Beard (N. Y. Daily Graphic, 13 tháng 11, 1874), Bà nói—khi kể về sự kiện các “linh hồn” của Horatio Eddy mang đến cho Bà một chiếc khóa trang trí chôn theo thi hài thân phụ Bà tại Stavropol—“Với tư cách một người theo Thần linh học, tôi cho rằng bổn phận của mình là...”, v.v. Về sau, Bà bảo tôi đợt bộc phát hiện tượng đồng tử đó do Huynh đệ Đoàn các Chân sư gây nên như một tác nhân tiến hóa, và tôi đã đưa ý tưởng này vào một câu trong sách tôi (P. O. W. tr. 454, đầu trang), gợi ra giả thuyết đáng suy xét rằng có thể là như vậy. Nhưng nếu vậy, thì làn sóng Thần linh học ấy không thể bị coi là hoàn toàn xấu xa, như một số người cực đoan trong Thông Thiên Học đã mô tả; vì không thể hình dung nổi—ít nhất đối với tôi, người đã biết Các Ngài—rằng các Huynh Trưởng của Nhân loại sẽ sử dụng, dù vì thiện ích của chủng tộc, một tác nhân tự thân tuyệt đối xấu. Phương châm Dòng Tên, Finis coronat opus, không được viết trên tường đền của Huynh đệ Đoàn.
In the same number of the Daily Graphic to which she contributed her anti-Beard letter, was published her biography,from notes furnished by herself. She says, “In 1858, I returned to Paris and made the acquaintance of Daniel Home, the Spiritualist... Home converted me to Spiritualism... After this I went to Russia. I converted my father to Spiritualism.” In an article defending the Holmes mediums from the treacherous attack of their ex-partner and show-manager, Dr. Child, she speaks of Spiritualism as “our belief” and “our cause”; and again, “the whole belief of us Spiritualists”; still further, “if we Spiritualists are to be laughed at, and scoffed, and ridiculed, and sneered at, we ought to know at least the reason why.” Certainly; and some of her surviving colleagues might profitably keep it in mind. In the Spiritual Scientist of March 8, 1875, she says that a certain thing would “go towards showing that, notwithstanding the divine truth of our faith (Spiritualism) and the teachings of our invisible guardians (the spirits of the circles), some Spiritualists have not profited by them, to learn impartiality and justice.”
Trong cùng số Daily Graphic mà Bà viết bức thư chống Beard, có đăng tiểu sử của Bà, từ những ghi chú do chính Bà cung cấp. Bà nói, “Năm 1858, tôi trở lại Paris và quen Daniel Home, nhà Thần linh học... Home đã cảm hóa tôi theo Thần linh học... Sau đó tôi về Nga. Tôi cảm hóa cha tôi theo Thần linh học.” Trong một bài bênh vực đôi đồng tử nhà Holmes trước cuộc tấn công phản trắc của đối tác cũ và quản lý buổi diễn của họ, bác sĩ Child, Bà nói về Thần linh học như “niềm tin của chúng ta” và “sự nghiệp của chúng ta”; và nữa, “toàn bộ niềm tin của chúng ta, những người theo Thần linh học”; lại nữa, “nếu chúng ta, những người theo Thần linh học, bị cười nhạo, chế giễu, mỉa mai, khinh khi, thì ít nhất chúng ta cũng cần biết tại sao.” Chắc chắn; và vài người đồng sự còn sống của Bà có lẽ nên ghi nhớ điều đó. Trong Spiritual Scientist ngày 8 tháng 3, 1875, Bà nói rằng một điều nào đó sẽ “giúp cho thấy rằng, bất chấp chân lý thiêng liêng của đức tin chúng ta (Thần linh học) và những giáo huấn của các vị hộ trì vô hình của chúng ta (các linh hồn của đàn), một số người theo Thần linh học đã không thụ ích từ chúng để học lấy đức công tâm và công chính.”
This was both courageous and magnanimous on her part; thoroughly characteristic of the way in which she flung herself in the fore-front of battle for any cause that she took up. Her sympathies for liberty and freethought led her to follow, with several other ladies, the victory-bringing flag of Garibaldi, the Liberator, and to plunge into the thick of the carnage at Mentana; and so now, when she saw the Spiritual Idea battling against Materialistic Science, no fear of contamination by contact with fraudulent mediums, evil spirits, or cliques ofSpiritualists who preached and practised free-love and the breaking of healthy social bonds, made her hesitate for one moment about taking her stand on the side of Spiritualism. Her policy may be condemned by some, her language—as seen in the few specimens, out of many, above quoted—be regarded as a full endorsement of the very Spiritualism she afterwards so mercilessly criticised; but to judge her fairly, one must try and put himself beside her under the then existing conditions; he must try to realise how much she knew, both in theory and practise, about physical phenomena that the world needs to know before casting itself into the lethal stream of Materialism. Many of us would have used much more guarded language, and thus avoided leaving behind us such a tangle of contradictions and confusion; but then she was exceptional in every respect—in mental and psychical powers, in temperament and in method of controversy. One object of this narrative is to show that, with all human frailties and eccentricities that may be ascribed to her, she was a great, high-towering personage, who did a great altruistic work for the world, and was rewarded with savage ingratitude and blinded depreciation.
Đây vừa can trường vừa độ lượng nơi Bà; rất đặc trưng cho cách Bà tự ném mình vào tiền tuyến cho bất cứ sự nghiệp nào Bà nhận lấy. Cảm tình của Bà với tự do và tư tưởng phóng khoáng khiến Bà, cùng vài vị phu nhân khác, đi theo lá cờ đem lại chiến thắng của Garibaldi, nhà Giải phóng, và đâm mình vào giữa cảnh binh đao ở Mentana; và cũng vậy lúc này, khi Bà thấy Ý niệm Thần linh học đang giao chiến với Khoa học Duy vật, thì chẳng có nỗi sợ nào về ô nhiễm do tiếp xúc với đồng tử gian trá, tà linh, hay các phe phái Thần linh học rao giảng và thực hành ái tình tự do và phá vỡ những mối dây xã hội lành mạnh, có thể khiến Bà do dự một phút nào trong việc đứng về phía Thần linh học. Có thể có người chê trách sách lược của Bà, và cho rằng ngôn từ của Bà—như thấy trong vài mẫu trong vô số mẫu trích ở trên—là sự ủng hộ trọn vẹn cho chính Thần linh học mà sau này Bà đã phê phán không chút nể nang; nhưng để phán xét Bà cho công bằng, người ta phải cố đặt mình bên Bà trong hoàn cảnh khi đó; phải cố nhận ra Bà biết bao nhiêu, cả về lý thuyết lẫn thực hành, liên quan tới những hiện tượng vật lý mà thế giới cần biết trước khi lao mình vào dòng chảy tử thần của Chủ nghĩa Duy vật. Nhiều người trong chúng ta có lẽ sẽ dùng lời lẽ dè dặt hơn nhiều, và như thế tránh để lại phía sau một mớ mâu thuẫn và rối ren; nhưng Bà là người phi thường ở mọi phương diện—cả trong năng lực trí tuệ và thông linh, trong khí chất và trong phương thức tranh luận. Một mục đích của thiên hồi ký này là để cho thấy rằng, bất chấp mọi yếu đuối và lập dị của con người có thể quy cho Bà, Bà là một nhân vật lớn, cao ngất, đã làm một công trình vị tha vĩ đại cho thế giới, và được đáp lại bằng lòng vô ơn độc ác và sự đánh giá mù lòa.
Her instructions to me about the existence of the elemental spirit world went on—as before noted—apace with our private intercourse with (alleged) rapping spirits, and so, long before I had adopted the Eastern theory of Pisachas and Bhûtas, called by us elementaries, [8] I had come to distinguish the two unlike classes of phenomena-working agents, the sub-human nature-spirits, and the earth-bound, ex-human elementaries. Towards the close of the winter season of 1874-5, while at Hartford seeing my book through the press, but too late to re-write it, I had the rare chance of consulting the superb collection of books on the occult sciences in the Watkinson Library of Reference, made for it by Dr. H. C. Trumbull, the erudite Librarian. I was thus pretty well prepared to understand H. P. B.’s verbal explanations, and her many surprising psychical phenomena in illustration of them. This course of preparatory reading, lectures, and phenomena also stood me in good stead when she addressed herself to the laborious task of writing Isis Unveiled, and enlisted me as her helper.
Những chỉ giáo của Bà cho tôi về sự tồn tại của thế giới các tinh linh hành khí diễn tiến đồng bộ—như đã nói—với sự giao tiếp riêng của chúng tôi với những “linh hồn” gõ bàn (bị cho là thế), và như vậy, lâu trước khi tôi tiếp nhận học thuyết phương Đông về Pisachas và Bhûtas, mà chúng tôi gọi là các “elementaries”, tôi đã đi đến chỗ phân biệt hai loại tác nhân làm hiện tượng khác nhau: các tinh linh thiên nhiên bán-nhân, và các “elementaries” hậu-nhân bị trói buộc cõi trần. Vào cuối mùa đông 1874-5, khi ở Hartford để coi in cuốn sách của mình, nhưng quá trễ để viết lại, tôi có dịp hiếm hoi được tra cứu bộ sưu tập tuyệt hảo các sách về huyền bí học ở Thư viện Tham khảo Watkinson, do ông Thủ thư uyên bác H. C. Trumbull sưu tập cho thư viện. Nhờ vậy tôi đã chuẩn bị khá tốt để hiểu những giải thích bằng lời của H. P. B., và những hiện tượng thông linh gây kinh ngạc mà Bà đưa ra để minh họa. Khoá đọc chuẩn bị, các bài thuyết giảng, và những hiện tượng này cũng giúp ích lớn cho tôi khi Bà bắt tay vào công việc lao lực là viết Isis Unveiled, và rủ tôi làm trợ thủ.
It was in the first quarter of the year 1875, that we became interested in the Spiritual Scientist, a small but bright and independent journal, published and edited in Boston, by Mr. E. Gerry Brown. The crying need of the hour was a paper which, while recognised as an organ of Spiritualism, could be induced to help in bringing Spiritualists to scrutinise more closely the behaviour and pretended psychical gifts of their mediums, and to patiently listen to the theories of spirit being and intercourse with the living. The older journals of that class were, what might be termed too orthodox, while Mr.Brown’s speciality seemed to be to win his way by fearless criticism of abuses. Our relations with him were brought about by a letter to him (Spi. Sci., March 8,1875), and within the next month he had been taken under the favour of the powers behind H. P. B. In the number of the journal in question for April 17th, appeared a very notable circular headed “Important to Spiritualists.” The importance of it to Mr. Gerry Brown was in the promise (fairly redeemed) [9] it embodied of literary and pecuniary help to be given him, while to the public which concerned itself in the question of Spiritualism, it held out the profitable idea that the paper would be used as the organ of the new movement for placing American Spiritualism on a more philosophical and intellectual basis. The circular stated that the leading Spiritualist papers were “compelled to devote most of their space to communications of a trivial and purely person-al character, interesting only to the friends of the spirits sending them...” and to beginners. The London Spiritualist and Paris Revue Spirite were cited as “examples of the kind of paper that should have been established in this country (U. S. A.) long ago—papers which devote more space to the discussion of principles, the teaching of philosophy, and the display of conservative critical ability, than to the mere publication of the thousand-and-one minor occurrences of... circles.” The third paragraph read as follows:
Vào quý I năm 1875, chúng tôi quan tâm đến tờ Spiritual Scientist, một tờ báo nhỏ nhưng sáng sủa và độc lập, do ông E. Gerry Brown xuất bản và biên tập ở Boston. Nhu cầu bức thiết của thời đó là một tờ báo, trong khi vẫn được thừa nhận là cơ quan của Thần linh học, có thể được thuyết phục để giúp đưa những người theo Thần linh học tới chỗ soi xét kỹ hơn hành vi và những tài năng thông linh tự xưng của các đồng tử, và kiên nhẫn lắng nghe những thuyết về đời sống linh thể và sự giao tiếp với người đang sống. Những tờ báo lớp trước thuộc loại này có thể gọi là quá chính thống, trong khi chuyên môn của ông Brown dường như là mở đường bằng cách phê bình không kiêng nể những điều lạm dụng. Quan hệ giữa chúng tôi với ông nảy sinh từ một bức thư gửi ông (Spi. Sci., 8 tháng 3, 1875), và trong vòng tháng kế tiếp, ông đã được các quyền lực đứng sau H. P. B. ban ơn. Trong số báo đề ngày 17 tháng 4 nói trên, xuất hiện một tờ thông tri rất đáng chú ý, đề “Quan trọng đối với những người theo Thần linh học.” Tầm quan trọng của nó đối với ông Gerry Brown nằm ở lời hứa (được giữ khá trọn) bao gồm sự giúp đỡ về văn bút và tài chính dành cho ông, trong khi đối với công chúng quan tâm tới vấn đề Thần linh học, nó hứa hẹn một ý tưởng hữu ích là tờ báo sẽ được dùng như cơ quan của phong trào mới nhằm đặt Thần linh học Mỹ trên một nền tảng triết học và trí thức hơn. Thông tri nói rằng các tờ báo Thần linh học hàng đầu “buộc phải dành phần lớn số trang cho những thông điệp vụn vặt và hoàn toàn mang tính cá nhân, chỉ thú vị với bạn bè của các linh hồn gửi tới...” và cho người mới nhập môn. Tờ London Spiritualist và Revue Spirite ở Paris được dẫn làm “những ví dụ về kiểu tờ báo đáng lẽ ra phải được lập ở nước này (Hoa Kỳ) từ lâu—những tờ báo dành nhiều chỗ hơn cho việc thảo luận các nguyên tắc, truyền dạy triết lý, và cho thấy năng lực phê bình thận trọng, hơn là chỉ đăng tải muôn vàn chuyện vụn vặt của... các đàn.” Đoạn thứ ba như sau:
“It is the standing reproach of American Spiritualism that it teaches so few things worthy of a thoughtful man’s attention: that so few of its phenomena occur under conditions satisfactory to men of scientific training; that the propagation of its doctrines is in the hands of so many ignorant, if not positively vicious, persons; and that it offers, in exchange for the orderly arrangements of prevailing religious creeds, nothing but an undigested system of present and future moral and social relations and accountability.” [10]
“Thần linh học Mỹ bị chê trách thường trực là dạy quá ít điều đáng cho một người biết suy tư chú ý; rằng quá ít hiện tượng của nó xuất hiện trong những điều kiện thỏa mãn đối với những người được huấn luyện khoa học; rằng việc truyền bá giáo thuyết của nó lại nằm trong tay quá nhiều người vô học, nếu không nói là đích thị đồi bại; và rằng nó chỉ đưa ra, để đổi lấy trật tự của những tín điều tôn giáo đang thịnh hành, một hệ thống rối ren về các tương quan và trách nhiệm luân lý xã hội hiện tại và tương lai.”
I wrote every word of this circular myself, alone corrected the printer’s proofs, and paid for the printing. That is to say, nobody dictated a word that I should say, nor interpolated any words or sentences, nor controlled my action in any visible way, I wrote it to carry out the expressed wishes of the Masters that we—H. P. B. and I—should help the Editor of the Scientist at what was to him, a difficult crisis, and used my best judgment as to the language most suitable for the purpose. When the circular was in type at the printer’s and I had corrected the proofs, and changed the arrangement of the matter into its final paragraphs, I enquired of H. P. B. (by letter) if she thought I had better issue it anonymously or append my name. She replied that it was the wish of the Masters that it should be signed thus: “For the Committee of Seven, BROTHERHOOD OF LUXOR.” And so it was signed and published. She subsequently explained that our work, and much more of the same kind, was being supervised by a Committee of seven Adepts belonging to the Egyptian group of the Universal Mystic Brotherhood. [11] Up to this time she had not even seen the circular, but now I took one to her myself and she began to read it attentively. Presently she laughed, and told me to read the acrostic made by the initials of the six paragraphs. To my amazement, I found that they spelt the name under which I knew the (Egyptian) adept under whose orders I was then studying and working. Later, I received a certificate, written in gold ink, on a thick green paper, to the effect that I was attached to this “Observatory,” and that three (named) Masters had me under scrutiny. This title, Brotherhood of Luxor, was pilfered by the schemers who started, several years later, the gudgeontrap called “The H. B. of L.” The existence of the real Lodge is mentioned in Kenneth Mackenzie’s.Royal Masonic Cyclopaedia (p. 461).
Tôi tự tay viết từng chữ của thông tri này, một mình đọc sửa bản in, và trả tiền in. Nghĩa là chẳng ai đọc cho tôi phải viết chữ nào, cũng chẳng chen thêm chữ hay câu nào, cũng không kiểm soát hành động của tôi theo bất kỳ cách hữu hình nào. Tôi viết nó để thực hiện ý chỉ của các Chân sư rằng chúng ta—H. P. B. và tôi—nên giúp vị Chủ bút của Scientist trong một thời khắc khó khăn của ông, và tôi dùng sự phán đoán tốt nhất của mình về ngôn ngữ phù hợp nhất cho mục đích ấy. Khi thông tri đã sắp chữ xong ở nhà in và tôi đã đọc sửa bản in, và thay đổi bố cục thành các đoạn cuối cùng, tôi hỏi H. P. B. (bằng thư) xem Bà nghĩ tôi nên phát hành ẩn danh hay ký tên. Bà đáp rằng ý của các Chân sư là nó phải được ký như sau: “Thay mặt Ủy ban Bảy, BROTHERHOOD OF LUXOR.” Và nó đã được ký và đăng như thế. Sau đó Bà giải thích rằng công việc của chúng tôi, và nhiều việc cùng loại, đang được một Ủy ban gồm bảy vị Chân sư thuộc nhóm Ai Cập của Huynh đệ Đoàn Huyền bí Phổ quát giám sát. Cho đến lúc ấy, Bà thậm chí chưa thấy thông tri, nhưng giờ tôi mang đến cho Bà một bản và Bà bắt đầu đọc chăm chú. Chẳng mấy chốc Bà bật cười và bảo tôi đọc chữ cái đầu của sáu đoạn. Tôi sửng sốt nhận ra rằng chúng ghép lại thành cái tên mà tôi biết là tên (Ai Cập) của vị Chân sư dưới sự chỉ huy của Ngài, tôi đang học tập và làm việc. Về sau, tôi nhận được một giấy chứng nhận, viết bằng mực vàng, trên giấy xanh lục dày, cho biết tôi được trực thuộc “Đài Quan Sát” này, và có ba vị Chân sư (được nêu tên) theo dõi giám sát tôi. Danh hiệu Brotherhood of Luxor này về sau bị những kẻ mưu đồ ăn cắp, những kẻ vài năm sau đã lập ra cái bẫy cho kẻ nhẹ dạ gọi là “H. B. of L.” Sự tồn tại của Hội thực sự được nhắc đến trong Royal Masonic Cyclopaedia của Kenneth Mackenzie (tr. 461).
Nothing in my early occult experience during this H. P. B. epoch, made a deeper impression on my mind than the above acrostic. It proved to me that space was no bar to the transmission of thought-suggestions from the teacher’s to the pupil’s brain; and it supported the theory that, in the doing of world-work, the agent may often be actually led by overseeing directors to do things which they choose to have done, without his being at all conscious that his mind is not functioning under the sole impulse of its controlling Ego. Applying this not unreasonable or unscientific theory to the whole history of the Theosophical Society, who can say in what proportion of cases any of us has been unconsciously doing what had to be done, but might not have been done if no external influence had given us the push? And how many of the wretched mistakes, missteps, and injurious eccentricities that have occurred, or been shown, by either of us, were due to our just being left to follow our own wrong impulses, the result of our temperaments, ignorance, moral weakness or bigoted prejudices? People often wonder why the various scandals, such as the Coulomb and lesser ones which we have had to suffer from, were not foreseen and prevented by the Masters; why H. P. B. was not forewarned of what traitors would do; and why, in the seemingly most serious crisis, no help came, no spiritual guide appeared. Of course, such questions imply the absurdity that Mahatmas, who implicitly believe in and govern their own actions by the strict rules of Karma, would take us, like so many puppets on wires, or so many poodles being taught tricks, and put us through set motions, to the meddling with our Karma, and the consequent interference with our rights. What the evolution of society needs at a particular juncture is, perhaps, that a certain. person should do, write, or say a certain thing which, once done, brings after it a whole train of consequences. If that necessary thing involves no Karmic wrong to the individual, the mental impulse to do it may be given him, and so the sequence of cause and effect be begotten. The destinies of Europe, for example, are under the control of three or four men, who might meet together in a boating party and in the same boat. If some certain trifle should occur, then such a kingdom would ultimately be destroyed, such a dynasty develop into a scourge of the race, or such an era of peace and progress be entered upon. If either the one or the other be demanded at that juncture by the interests of all mankind, and no other means are available for precipitating the crisis, then I could conceive it as lawful for the mental suggestion to be made from without: or, take a simpler case, which is also historical. A point had been reached in the progress of Egyptology where the world needed a better clue than it had for reading the hieroglyphics: in the literature of that ancient civilisation lay great and precious truths—truths, the time to republish which had arrived. All other means failing, an Arab labourer is simply moved to dig at a certain spot, or break open a certain sarcophagus; he finds an engraved stone or an inscribed papyrus; which he sells to Mr. Grey, at Thebes, in 1820, or to Signor Casati, at Karnak or Luxor; who, in turn, transmit it to Champollion, or Young, or Ebers; who find the missing clue, and with it decipher very important old writings. It is the helping, not the fratricidal, hand that these hidden benefactors of ours hold out to humanity. Or, to cite a case much nearer home: I am moved to buy a paper on a certain day; I read a certain thing in it; which prompts me to take a natural step;which, later, brings H. P. B. and myself together; which, after a while, evolves the Theosophical Society and its consequences. For taking the initial step, I reap no merit; but if the effect is a good one, and I merge myself into it, and work for it with unselfish fervour, then I do share in the whole benefit that that effect imparts to humanity. I saw some poor people at Galle, once, reaching up their hands to touch the baskets of food which richer neighbours had procured for and were bearing on their heads to a company of Buddhist monks. Upon inquiry I was told that, by feeling a true sympathy for the deed of charity, they partook of the merit it involved. It meant more than a long sermon to me, and I embodied the idea in my Buddhist Catechism.
Không có điều gì trong kinh nghiệm huyền bí học buổi đầu của tôi trong thời kỳ H. P. B. lại in sâu vào thể trí tôi hơn bài thơ chữ cái đầu nói trên. Nó chứng minh cho tôi thấy rằng không gian không phải là rào cản đối với việc truyền đạt những gợi ý tư tưởng từ bộ não của huấn sư sang bộ não của môn sinh; và nó củng cố cho thuyết cho rằng, trong khi làm công cuộc vì thế giới, người đại diện thường thực sự được các vị chỉ đạo giám sát dẫn dắt làm những việc mà các vị ấy chọn để cho được làm, mà y hoàn toàn không hề hay biết rằng thể trí của mình không vận hành chỉ dưới xung lực độc nhất của chân ngã chủ đạo. Áp dụng học thuyết không phải là vô lý hay phi khoa học này cho toàn bộ lịch sử của Hội Thông Thiên Học, ai có thể nói được trong bao nhiêu trường hợp mỗi người trong chúng ta đã vô thức làm điều phải được làm, nhưng có lẽ đã không được làm nếu không có ảnh hưởng bên ngoài thúc đẩy chúng ta? Và bao nhiêu sai lầm đáng tệ, bước sẩy và những lối lập dị gây hại đã xảy ra, hay được phô bày, bởi bất kỳ ai trong chúng ta, là do chúng ta bị để mặc cho làm theo những xung lực lệch lạc của riêng mình, hậu quả của khí chất, vô minh, yếu đuối đạo đức hoặc thiên kiến cố chấp? Người ta thường thắc mắc vì sao những vụ tai tiếng khác nhau, như vụ Coulomb và những vụ nhỏ hơn mà chúng ta phải chịu đựng, lại không được các Chân sư thấy trước và ngăn chặn; vì sao Bà H. P. B. không được báo trước về những gì bọn phản trắc sẽ làm; và vì sao, trong các cơn khủng hoảng tưởng như nghiêm trọng nhất, lại không có sự trợ giúp nào đến, không có vị chỉ dẫn tinh thần nào xuất hiện. Tất nhiên, những câu hỏi ấy hàm ý điều vô lý rằng các Đại sĩ, vốn tin tuyệt đối vào Nghiệp quả và cai quản hành động của chính Các Ngài theo những quy luật nghiêm ngặt của Nghiệp, lại sẽ nắm chúng ta như búp bê buộc dây, hay như những chú chó nhỏ đang được dạy trò, rồi điều khiển chúng ta qua những động tác định sẵn, tức là xen vào Nghiệp quả của chúng ta, và do đó xâm phạm các quyền của chúng ta. Có thể điều mà sự tiến hoá của xã hội cần tại một khúc quanh nhất định là: một người nào đó phải làm, viết, hay nói một điều nào đó, điều mà, một khi được thực hiện, sẽ kéo theo cả một chuỗi hệ quả. Nếu điều cần thiết ấy không hàm chứa sự sai trái về Nghiệp đối với cá nhân, thì xung lực tinh thần để làm nó có thể được trao cho y, và như thế chuỗi nhân quả được khởi sinh. Vận mệnh châu Âu, chẳng hạn, nằm trong tay ba hay bốn người, những người có thể gặp nhau trong một buổi dạo thuyền, ngồi chung một chiếc thuyền. Nếu một việc vặt vãnh nào đó xảy ra, thì một vương quốc nào đó rốt cùng sẽ bị diệt vong, một triều đại nào đó biến thành tai họa cho giống nòi, hoặc một thời kỳ hoà bình và tiến bộ nào đó sẽ được mở ra. Nếu tại thời khắc ấy, lợi ích của toàn thể nhân loại đòi hỏi điều này hay điều kia, và không có phương tiện nào khác để làm cho khủng hoảng ngưng tụ lại, thì tôi có thể hình dung việc đưa ra gợi ý tinh thần từ bên ngoài là chính đáng: hoặc, lấy một ví dụ đơn giản hơn, đồng thời cũng là chuyện có thật. Ai Cập học đã đến một ngưỡng mà thế giới cần một manh mối tốt hơn để đọc chữ tượng hình: trong văn hiến của nền văn minh cổ ấy có những chân lý lớn lao và quý báu—những chân lý mà thời điểm tái công bố đã tới. Khi mọi phương tiện khác đều thất bại, một người lao động Ả Rập chỉ đơn giản được thôi thúc đào ở một chỗ nào đó, hoặc cạy mở một cỗ quách nào đó; y tìm được một phiến đá khắc hay một tờ cói có chép văn; y bán nó cho Ông Grey, ở Thebes, năm 1820, hoặc cho Ngài Casati, ở Karnak hay Luxor; những người này, đến lượt mình, gửi nó cho Champollion, hay Young, hay Ebers; những vị này tìm được manh mối còn thiếu, và nhờ đó giải đọc những văn bản cổ xưa hệ trọng. Đó là bàn tay cứu trợ, chứ không phải sát hại huynh đệ, mà những ân nhân ẩn danh của chúng ta đưa ra cho nhân loại. Hoặc, nêu một sự việc gần gũi hơn nhiều: tôi được thôi thúc mua một tờ báo vào một ngày nào đó; tôi đọc được một điều nào đó trong đó; điều ấy thúc đẩy tôi bước một bước tự nhiên; rồi sau đó đưa Bà H. P. B. và tôi đến với nhau; rồi, sau một thời gian, Hội Thông Thiên Học và các hệ quả của nó hình thành. Vì việc bước bước ban đầu, tôi không hưởng công đức; nhưng nếu kết quả là tốt, và tôi hoà mình vào đó, và làm việc cho nó bằng lòng nhiệt thành vô tư, thì tôi có phần trong toàn bộ lợi ích mà kết quả ấy truyền cho nhân loại. Có lần tôi thấy ở Galle vài người nghèo đưa tay chạm vào những giỏ thực phẩm mà những người láng giềng khá giả hơn đã chuẩn bị và đội trên đầu mang đến cho một nhóm các vị tỳ kheo Phật giáo. Hỏi ra tôi được biết rằng, bằng cách cảm thông chân thật với hành động bố thí, họ cùng được chia phần công đức trong đó. Điều ấy đối với tôi còn có ý nghĩa hơn cả một bài giảng dài, và tôi đã đưa ý tưởng ấy vào cuốn Giáo Lý Phật giáo của tôi.
I found among my papers last week an old letter from the Hon. Alexander Aksakoff, of St. Petersburgh, which though probably not one of those which were so phenomenally abstracted from the mailbags en route to New York and delivered to me in Philadelphia, since it is dated in St. Petersburgh the 4-16th April, 1875, and must have reached me after my visit to H. P. B. was finished, contains a lead-pencil postscript on the fourth page in the quaint handwriting of “John King.” He tells me that my correspondent “is a truly good man and a learned one, too”—facts which are now acknowledged universally. Having lost or given away the envelope, I cannot fix the exact date of the letter’s arrival. In it, M. Aksakoff informs me that, after reading my Graphic letters and noting their effect in the two hemispheres, he is convinced of the absolute necessity for an exhaustive inquiry into the phenomena, by the best men of science. He asks me if I cannot organise such a committee, and tells me what has been done in Russia. There are four professors of eminence, in as many different Universities, who have, in committee, gone thoroughly into the matter and satisfied themselves ofthe reality of the phenomena; if I choose, these scientific gentlemen will send me a joint appeal to their American colleagues, to do as they have done, and thus settle, once and for all, the most important problem that man has to solve for his own sake and for the welfare of the race. Of course, this was exactly the motive which had prompted my undertaking the Eddy researches, but I found the obstacles presented, in the ignorant and brutish obstinacy of the mediums and their whole corps of “guides,” insurmountable, and recorded the fact in my book. I was a little amused to read, in a Postscript written two days later than his letter, that M. Aksakoff, who had meanwhile finished reading H. P. B.’s Russian translation of my book, said it was plain that an orderly scientific search with such people as mediums was impossible, and begged me to consider his plan as cancelled. The matter did not drop there, however, for our correspondence was kept up, and resulted in H. P. B. and I being asked to serve as a committee to select a trustworthy medium to be sent over to St. Petersburgh, for trial and testing by a Special Committee of Professors of the St. Petersburgh Imperial University. We accepted the commission, and our joint card announcing the fact to the public appeared in the Spiritual Scientist of July 8, l875—as far as I can make out from the confused way in which the newspaper-cuttings are pasted in our Scrap-Book, Vol. I. At all events, in the journal of that day was published a translation of Mr. Aksakoff’s letter to H. P. B. broaching the subject, thus:
Tuần trước tôi tìm thấy giữa đống giấy tờ của mình một bức thư cũ của Ngài Alexander Aksakoff, ở St. Petersburgh, dù có lẽ không phải là một trong những bức đã được rút ra một cách kỳ dị khỏi các túi thư khi đang chuyển đến New York và được giao cho tôi ở Philadelphia, vì thư đề ở St. Petersburgh ngày 4-16 tháng Tư, 1875, và hẳn đã đến tay tôi sau khi chuyến thăm Bà H. P. B. của tôi đã kết thúc, nhưng lại có một đoạn tái bút viết bút chì ở trang thứ tư bằng chữ viết cổ lạ của “John King.” Ngài cho tôi hay rằng người viết thư cho tôi “là một người thật sự tốt và cũng học vấn”—những điều nay đã được nhìn nhận phổ quát. Vì đã mất hoặc tặng phong bì, tôi không thể xác định ngày thư tới chính xác. Trong thư, Ông Aksakoff cho tôi biết rằng, sau khi đọc các thư của tôi trên tờ Graphic và ghi nhận ảnh hưởng của chúng tại hai bán cầu, Ông tin chắc sự cần thiết tuyệt đối của một cuộc điều tra thấu suốt về các hiện tượng, do những nhà khoa học ưu tú nhất tiến hành. Ông hỏi tôi liệu tôi có thể tổ chức một ủy ban như thế không, và cho tôi biết những gì đã làm ở Nga. Có bốn giáo sư xuất chúng, ở bấy nhiêu trường Đại học khác nhau, đã, trong tư cách một ủy ban, đi sâu vào vấn đề và tự thỏa mãn rằng các hiện tượng là có thật; nếu tôi muốn, các vị khoa học gia này sẽ gửi cho tôi một lời kêu gọi chung gửi tới các đồng nghiệp người Mỹ của họ, mời làm như họ đã làm, và nhờ vậy giải quyết dứt điểm vấn đề hệ trọng nhất mà con người phải tự mình giải cho lợi ích của bản thân và của giống nòi. Tất nhiên, đó chính là động cơ thúc đẩy tôi đảm nhận cuộc khảo sát ở nhà Eddy, nhưng tôi thấy những chướng ngại do sự ngoan cố ngu muội và thô bạo của các đồng tử và cả đoàn “vị hướng dẫn” của họ là bất khả vượt qua, và tôi đã ghi nhận sự thật ấy trong sách của mình. Tôi hơi bật cười khi đọc, trong một Tái bút viết sau thư hai ngày, rằng Ông Aksakoff, trong thời gian đó đã đọc xong bản dịch tiếng Nga cuốn sách của tôi do Bà H. P. B. dịch, nói rằng rõ ràng là một cuộc tìm kiếm khoa học có trật tự với hạng người như các đồng tử là bất khả, và khẩn khoản xin tôi xem như hủy bỏ kế hoạch của Ông. Tuy nhiên, sự việc không dừng ở đó, vì thư từ qua lại của chúng tôi vẫn tiếp diễn, và kết quả là Bà H. P. B. và tôi được mời làm một ủy ban để chọn một đồng tử đáng tin cậy gửi sang St. Petersburgh, để thử nghiệm và khảo sát bởi một Ủy Ban Đặc Biệt gồm các Giáo sư của Đại học Hoàng gia St. Petersburgh. Chúng tôi nhận ủy nhiệm, và thiệp chung của chúng tôi thông báo sự việc với công chúng đã xuất hiện trên tờ Spiritual Scientist ngày 8 tháng Bảy, l875—chừng như vậy, xét từ cách dán lộn xộn các mẩu báo trong Tập Sổ Lưu Cắt Báo của chúng tôi, Quyển I. Dù sao đi nữa, trong tờ báo ngày ấy có đăng bản dịch thư của Ông Aksakoff gửi Bà H. P. B. nêu vấn đề, như sau:
“My prayer to you and Col. Olcott is as follows: Will you be so kind as to translate into English the enclosed ‘Appeal to Mediums’... consult together and report to us [the Imperial Society of Experimentalists in Physics] whom, of American mediums we had better invite to St. Petersburgh in the best interests of the Cause? For our first experiments we should prefer having mediums for simple but strong physical manifestations in the light. Use all your influence to get us good mediums, begin the work at once and advise me without loss of time. Bear in mind that money is no object with us,” etc.
“Lời thỉnh cầu của tôi gửi bà và Đại tá Olcott như sau: Xin bà vui lòng dịch sang tiếng Anh bản ‘Kêu gọi các Đồng tử’ đính kèm... bàn bạc cùng nhau và báo cho chúng tôi biết [Hội Đế chế các Nhà Thực nghiệm Vật lý] nên mời những đồng tử người Mỹ nào sang St. Petersburgh vì lợi ích cao nhất của Sự Nghiệp? Cho các thí nghiệm đầu tiên chúng tôi muốn ưu tiên mời các đồng tử có thể cho thấy những hiện tượng vật lý đơn giản nhưng mạnh mẽ trong ánh sáng. Hãy dùng mọi ảnh hưởng của các vị để tìm cho chúng tôi những đồng tử tốt, bắt đầu công việc ngay và cho tôi hay không chậm trễ. Xin nhớ rằng vấn đề tiền bạc không thành vấn đề với chúng tôi,” v.v.
Naturally enough this letter drew out a good many applications, and we personally tested the mediumship of several of the parties, seeing some extremely surprising phenomena, and some really beautiful. Its appearance was seized upon by certain impudent impostors to give a public show of pretended mediumship at the Boston Theatre, on a Sunday evening in the same July, advertising themselves as engaged to go to Russia. We exposed and repudiated them in a card sent, July 19, 1875, to all the Boston papers.
Dĩ nhiên bức thư này đã kéo theo khá nhiều đơn xin, và chúng tôi đích thân thử nghiệm khả năng đồng tử của vài người, chứng kiến những hiện tượng vô cùng gây sửng sốt, và có những điều thật sự đẹp đẽ. Sự xuất hiện của lá thư bị một số kẻ lừa đảo trâng tráo lợi dụng để mở một buổi biểu diễn công khai giả danh đồng tử tại Nhà hát Boston, vào một tối Chủ nhật cùng tháng Bảy đó, tự quảng cáo là được thuê đi Nga. Chúng tôi đã vạch mặt và bác bỏ họ bằng một tờ thiệp gửi ngày 19 tháng Bảy, 1875, đến tất cả các tờ báo Boston.