← OLD DIARY LEAVES 1

CHAPTER VI—CHƯƠNG VI

CHAPTER VI—CHƯƠNG VI

ORIENTAL DISAPPROBATION—SỰ CHÊ TRÁCH CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

By common consent the Western public have assumed that professional mediums, whose food and lodging depend upon their constant ability to produce psychical phenomena when patrons come to see the same, are greatly tempted in emergencies to supplement real ones with fraudulent imitations. Poor, almost without an exception; often invalids, yet obliged to support children and perhaps lazy or disabled husbands; their incomes extremely precarious, at best, became the mediumistic state depends upon psycho-physiological as well as atmospheric conditions beyond their control, it is not strange that, under the pressure of quarter-day or some other dire necessity, their moral sense should become blunted. Naturally they yield to the temptation flung at them by credulous visitors, who, apparently, ask nothing better than to pay to be duped. At any rate, that is how professional mediums have explained it to me. They have told me their miserable life-histories, how the fatal gift of mediumship embittered their childhood, made them shunned and persecuted by their schoolmates, sought after and run down by the curious, caused them to be used as a drawing sensation by travelling showmen, to the profit of their own parents (vide the tragical story of the Eddy children as told by them to me, in P. O. W., chapter II.), and developed the seeds of hysteria, phthisis, or scrofula, to the ruin of their health. Mrs. Hardinge Britten, than whom nobody has known more of mediums and mediumship, told me in New York, in 1875, that she had seldom or ever known, a medium who was not of a scrofulous or phthisical temperament, and medical observation shows, I believe, that derangements of the reproductive organs are quite common among them. Genuine mediumship, promiscuously practised, is, I fear, a serious physical danger, to say nothing as regards its effect morally. Every physician tells us that to sleep in an ill-ventilated room in company with a mixed company of persons, some perhaps diseased, is most dangerous and may prove fatal. But this risk is nothing as compared with that run by the poor public medium, who has to tolerate the presence and be soaked in the magnetic aura of all comers, be they morally or physically diseased or healthy: gross, sensual, irreligious, unspiritual, brutish in habitual thought, word or deed, or the opposite. Alas! poor things, theirs is a psychical prostitution. Thrice happy such as can develop and practise their psychical gifts in the pure surroundings of a select and superior company: so were Temple seeresses guarded in the ancient times.The above remarks are pertinent to the line of inquiry that H. P. B. and I had undertaken, at M. Aksakoff’s request, on behalf of the St. Petersburgh scientific committee. While we realised that we should have to choose among professionals, it not being likely that any private medium would consent to the publicity and annoyance of such an ordeal, we determined that we should be thoroughly satisfied of the real and reasonably available psychical powers of the male or female medium we should ultimately recommend. M. Aksakoff’s desire that preference should be given to those whose phenomena could be shown “in the light,” was most reasonable, for thus the chance of successful trickery is minimised; yet there were then—and are now, for that matter—few mediums who could count upon anything of a very striking character happening at their séances by daylight. Our choice would have been narrowed down to two or three like C. H. Foster, or Dr. Slade, who were equally indifferent whether they sat by day or night since their successes in giving “tests of spirit identity” were tolerably certain. We decided, therefore, to find a good medium at any rate, whether he or she came quite up to M. Aksakoff’s ideal or not. Our inquiries extended over several months, to the May of 1876, if I am not mistaken, and as I may as well finish with this episode, now that it is taken up, even though it breaks in upon the chronological sequence of events in T.S. history, I shall recall the successive stages of the St. Petersburgh mediumistic inquiry as best I can.In the summer of 1875, a woman named Youngs was practising mediumship for a livelihood at New York. She was, as I dimly recall her, a largely built person, of obstreperous manners and strong physical as well as psychical powers. Her tone of bullying towards her “guides in Spirit Land” was in amusing contrast with the honeyed accents commonly used by most mediums towards the invisibles. “Now, then, spirits,” she would say, “don’t be lazy; hurry up; what are you about? Move the piano, or do this or that. Come, we are all waiting!” And do it they did, as though obedient to her will. Her chief phenomenon was the causing of the spirits to raise a full-sized, heavy piano and making it tilt forward and backward in time to her playing of airs upon it. I heard of her and thought I would get H. P. B. to go with me and see what she could do. She consented, so I put into my pocket three things, to be used as new tests of her mediumship, a raw egg and two English walnuts, the experimental value of which will be presently seen. Fortunately I am not obliged to rely wholly upon memory, since I find a cutting from the New York Sun of September 4, 1875, giving an accurate account of the séance and of my tests. Fifteen persons were present. The Sun reporter says:

Theo sự đồng thuận chung, công chúng phương Tây đã mặc nhiên cho rằng các đồng tử chuyên nghiệp—những người mà cơm áo phụ thuộc vào khả năng liên tục tạo ra các hiện tượng thông linh khi thực khách đến xem—bị cám dỗ dữ dội trong những tình huống khẩn cấp mà bổ sung những điều thật bằng những mô phỏng gian dối. Nghèo khó, hầu như không ngoại lệ; thường là ốm đau, vậy mà buộc phải nuôi nấng con cái và có lẽ cả những người chồng lười biếng hoặc tàn tật; thu nhập bấp bênh cùng cực, vì trạng thái đồng tử phụ thuộc vào những điều kiện tâm–sinh lý cũng như khí tượng vượt ngoài kiểm soát; chẳng có gì lạ khi, dưới sức ép của ngày đáo hạn tiền thuê hoặc một túng quẫn khốc liệt nào khác, ý thức đạo đức của họ bị cùn đi. Tự nhiên họ chiều theo cám dỗ mà khách cả tin ném vào họ, những người dường như không mong gì hơn là trả tiền để bị lừa. Dù sao đi nữa, đó là cách các đồng tử chuyên nghiệp đã giải thích với tôi. Họ đã kể cho tôi nghe những câu chuyện đời khốn khổ của họ, cách mà cái “ân tứ” đồng tử oan nghiệt làm đắng đót thời thơ ấu, khiến họ bị bạn học lánh xa và bức hại, bị kẻ tò mò săn đuổi, bắt họ làm trò lôi kéo khán giả cho những gánh diễn lưu động, mang lại lợi lộc cho chính cha mẹ mình (xem thiên truyện bi thảm về các con nhà Eddy như họ kể với tôi, trong P. O. W., chương II.), và làm những hạt giống của chứng cuồng loạn, lao phổi hay lao hạch nảy nở, tàn phá sức khoẻ của họ. Bà Hardinge Britten—người mà không ai biết nhiều hơn bà về các đồng tử và đồng tử thuật—đã nói với tôi ở New York, năm 1875, rằng bà hiếm khi, nếu không nói là chưa từng, biết một đồng tử nào không có cơ địa lao hạch hoặc lao phổi, và quan sát y khoa cho thấy, tôi tin vậy, rằng rối loạn cơ quan sinh sản khá phổ biến nơi họ. Năng lực đồng tử, nếu luyện tập bừa bãi, tôi e rằng là một nguy hiểm thể chất nghiêm trọng, chưa nói đến tác động về mặt đạo đức. Mọi bác sĩ đều nói với chúng ta rằng ngủ trong một căn phòng kém thông khí cùng với một nhóm tạp nhạp, có người có thể mang bệnh, là cực kỳ nguy hiểm và có thể chí tử. Nhưng nguy cơ này chẳng đáng gì so với rủi ro mà người đồng tử công cộng tội nghiệp phải chịu, người phải dung chịu sự hiện diện và bị tắm trong hào quang từ điện của mọi hạng người đến, bất kể họ bệnh hoạn hay khoẻ mạnh về mặt đạo đức hoặc thể chất: thô thiển, dục lạc, vô tôn giáo, phi tinh thần, cục súc trong tư tưởng, lời nói hay việc làm, hay ngược lại. Than ôi! số phận của họ là một sự bán rẻ năng lực thông linh. Ba lần hạnh phúc cho những ai có thể phát triển và thực hành các năng lực thông linh của mình trong môi trường trong sạch của một nhóm tuyển chọn và ưu tú: những nữ đồng của Đền thờ thời cổ đã được che chở như thế. Những lời trên đây thích đáng với hướng điều tra mà Bà H. P. B. và tôi đã đảm nhận, theo yêu cầu của Ông Aksakoff, thay mặt ủy ban khoa học St. Petersburgh. Dù chúng tôi hiểu rằng mình sẽ phải chọn trong số các đồng tử chuyên nghiệp—vì khó có đồng tử riêng tư nào chịu chấp nhận sự phơi bày và phiền toái của một thử thách như vậy—chúng tôi quyết định rằng mình phải hoàn toàn thỏa mãn về các năng lực thông linh thực sự và có thể huy động một cách hợp lý của đồng tử nam hay nữ mà rốt cuộc chúng tôi sẽ giới thiệu. Nguyện vọng của Ông Aksakoff rằng nên ưu tiên những người có thể cho thấy hiện tượng “trong ánh sáng,” là cực kỳ hợp lý, vì thế cơ may bịp bợm thành công được giảm thiểu; tuy vậy, khi ấy—và cũng như bây giờ—có rất ít đồng tử có thể trông mong điều gì thực sự ngoạn mục xảy ra tại các buổi gọi hồn giữa ban ngày. Sự lựa chọn của chúng tôi lẽ ra phải thu hẹp lại còn hai hay ba người như C. H. Foster, hay Bác sĩ Slade, những người không câu nệ ngồi ban ngày hay ban đêm vì họ khá chắc chắn sẽ thành công trong việc đưa ra “các thử nghiệm xác tín danh tính vong linh.” Vì vậy chúng tôi quyết định tìm một đồng tử giỏi, dù người đó có đạt đúng lý tưởng của Ông Aksakoff hay không. Cuộc tìm kiếm kéo dài nhiều tháng, tới tháng Năm năm 1876, nếu tôi không lầm; và vì đã chạm tới chủ đề này, tôi tiện thể nói nốt, dẫu có phá vỡ chuỗi trình tự thời gian của lịch sử T.S., tôi sẽ nhớ lại các giai đoạn nối tiếp của cuộc khảo sát đồng tử ở St. Petersburgh theo khả năng tốt nhất của mình. Vào mùa hè năm 1875, một phụ nữ tên Youngs hành nghề đồng tử để mưu sinh ở New York. Như tôi nhớ mang máng, bà ta là người to lớn, thô ồn, có sức mạnh thể chất cũng như thông linh. Giọng ra lệnh quát nạt của bà đối với “các vị hướng dẫn ở Cõi Linh” đối lập thú vị với giọng ngọt nhạt thường thấy nơi đa số đồng tử khi nói với các vô hình. “Nào, hỡi các vong linh,” bà ta nói, “đừng lười; nhanh lên; các người làm gì đó? Nhấc cây đàn lên, hay làm cái này cái nọ. Mau đi, chúng ta đang chờ cả đấy!” Và họ làm thật, như thể vâng theo ý chí bà. Hiện tượng chính của bà là khiến các vong linh nâng một cây đàn piano cỡ lớn, nặng, và làm nó nghiêng về trước về sau theo nhịp các khúc bà chơi trên đó. Tôi nghe nói về bà và nghĩ sẽ rủ Bà H. P. B. đi cùng xem bà ta có thể làm gì. Bà đồng ý, nên tôi bỏ vào túi ba thứ để dùng làm các thử nghiệm mới cho đồng tử thuật của bà: một quả trứng sống và hai quả óc chó, giá trị thực nghiệm của chúng sẽ thấy ngay sau đây. May thay tôi không phải chỉ dựa vào trí nhớ, vì tôi tìm được một mẩu báo cắt từ tờ New York Sun ngày 4 tháng Chín, 1875, kể chính xác về buổi gọi hồn và các bài thử của tôi. Có mười lăm người có mặt. Phóng viên của Sun viết:

“The performance began with the lifting of the piano by invisible powers, three times for ‘yes’ and once for ‘no,’ in answer to questions put by Mrs. Youngs, she resting her hands lightly on top of the music-rack. She then sat down and played various airs, and the instrument rose and fell and beat the time. She then went to one end of the piano and called up Colonel Olcott, and as many more of the others as chose to make the experiment, and, causing each to place his left hand underneath the case, laid one of her hands lightly under it, whereupon, at her demand, the end of the heavy instrument [He says elsewhere that he, the reporter, ‘could not lift one end of it,’ so great was its weight] was lifted off the floor without the slightest effort on her part. The Colonel here asked to be permitted to make a single test which should not injure the medium at all. Mrs. Youngs consenting, he produced a hen’s egg from a box, and asked her to hold it in her hand against the under side of the piano, and then request the spirits to raise it. The medium said that, in the course of her mediumship, such a test had never been suggested, and she could not say it would be successful, but she would try. She took the egg and held it as desired, and then rapping upon the case with her other hand, asked the spirits to see what they could do. Instantly the piano rose as before, and was held for a moment suspended in the air. The novel and striking experiment was a complete success.

“Cuộc trình diễn bắt đầu bằng việc nhấc cây đàn piano bằng những năng lực vô hình, ba lần cho ‘có’ và một lần cho ‘không,’ đáp lại các câu hỏi do Bà Youngs nêu, bà đặt nhẹ tay lên đỉnh giá để nhạc. Rồi bà ngồi xuống chơi nhiều khúc nhạc, và nhạc cụ trồi sụt và đập nhịp. Bà đi về một đầu cây đàn và gọi Đại tá Olcott lên, và bao nhiêu người khác muốn làm thí nghiệm thì lên, rồi, khiến mỗi người đặt tay trái vào dưới vỏ đàn, bà đặt một tay mình nhẹ dưới đó, và theo yêu cầu của bà, đầu nhạc cụ nặng [Ông nói ở chỗ khác rằng ông, phóng viên, ‘không nhấc nổi một đầu của nó,’ nặng đến thế] được nhấc khỏi sàn mà bà không hề phải gắng gượng. Lúc này Đại tá xin phép được thực hiện một bài thử đơn giản sẽ không làm tổn hại đồng tử chút nào. Bà Youngs đồng ý, ông lấy từ hộp ra một quả trứng gà, và yêu cầu bà cầm nó trong tay áp vào mặt dưới của đàn, rồi nhờ các vong linh nâng cây đàn lên. Đồng tử nói rằng, trong suốt thời gian làm đồng tử, chưa bao giờ có ai đề xuất một thử nghiệm như vậy, nên bà không dám chắc sẽ thành công, nhưng sẽ thử. Bà cầm trứng và giữ như yêu cầu, rồi gõ trên vỏ đàn bằng tay kia, nhờ các vong linh xem có thể làm gì. Lập tức cây đàn trồi lên như trước, và được giữ lơ lửng trong không khí một lúc. Thí nghiệm mới lạ và nổi bật đã hoàn toàn thành công.

“Mrs. Youngs then asked as many of the heaviest persons in the room as could sit on the instrument to mount it, and the invitation being accepted by seven ladies and gentlemen, she played a march, and the instrument, persons and all, were lifted easily. Colonel Olcott now produced a couple of English walnuts, and asked the spirits to crack the shells under the piano legs without crushing the kernels, the idea being to show that some power beyond the one woman herself, and a power governed by intelligence, was exerting itself. The spirits were willing, but as the piano legs rested upon rolling casters the test was abandoned. He then asked to be permitted to hold an egg in his own hand against the under side of the piano, and have Mrs. Youngs lay her hand beneath and against his, so that he might have a perfect demonstration of the fact that no muscular force whatever was being exerted by her. This test was also agreed to and immediately tried. The piano rose the same as before. The manifestations of the evening were then brought to a close with the lifting of the instrument without the medium’s hands touching it at all.”

“Bà Youngs sau đó mời bao nhiêu người nặng ký nhất trong phòng có thể ngồi lên nhạc cụ thì ngồi, và lời mời được bảy vị nam nữ nhận lời; bà chơi một khúc hành khúc, và nhạc cụ, cả người ngồi trên, đều được nâng lên nhẹ nhàng. Đại tá Olcott lúc này lấy ra một cặp quả óc chó, và yêu cầu các vong linh nghiền vỏ chúng dưới chân đàn mà không làm nát nhân, ý tưởng là để cho thấy một quyền năng nào đó vượt ngoài một người đàn bà này, và một quyền năng do trí thông minh điều khiển, đang vận dụng. Các vong linh sẵn lòng, nhưng vì chân đàn đặt trên các bánh xe con lăn nên bài thử bị bỏ. Ông sau đó xin phép tự tay giữ một quả trứng trong tay mình áp vào mặt dưới cây đàn, và bảo Bà Youngs đặt tay bà dưới và áp vào tay ông, để ông có một bằng chứng hoàn hảo rằng hoàn toàn không có lực cơ bắp nào được bà vận dụng. Bài thử này cũng được đồng ý và thực hiện ngay. Cây đàn trồi lên như trước. Các hiện tượng tối đó được khép lại bằng việc nâng nhạc cụ lên mà tay đồng tử không hề chạm vào nó.”

This was certainly a very striking manifestation of psycho-dynamical power. Not only was a seven-and-a-half-octave piano, too heavy for one man to lift endwise, raised without the least expenditure of muscular force by the medium or any other living person present, and in a fully lighted room, but an intelligent comprehension of request and compliance with them was demonstrated. Let us admit that the medium’s intelligence was alone in play, still we have the problem of how she could transform her thought, first into will and then into active force. The final test of making her lay her hand beneath mine, which held the egg, and then cause the ponderous instrument to rise as lightly as a feather, contrary to the law of gravity, was to me, as well as to H. P. B., conclusive proof of her mediumistic gift, and we made her a conditional offer to recommend her to M. Aksakoff. The condition was that she should subject herself to a series of harmless yet convincing tests, the successful passing of which would warrant us in thoroughly endorsing her. She, however, declined the offer on account of the long voyage and her unwillingness to leave her country to go among foreigners. I do not know what became of her, but I heard that she adopted my egg test as her stock demonstration of her true mediumship. There was very little spirituality about it, but a good deal of revolutionising physics, that I thought might stagger Professor Mendeleyeff and his brother scientists.

Đây chắc chắn là một biểu hiện rất nổi bật của năng lực tâm–động lực. Không chỉ một cây đàn piano bảy rưỡi quãng tám, quá nặng để một người có thể nhấc một đầu, được nâng lên mà không cần chút sức cơ bắp nào từ đồng tử hay bất kỳ người sống nào có mặt, lại còn trong một căn phòng đủ sáng, mà còn cho thấy sự lĩnh hội trí tuệ đối với yêu cầu và sự tuân theo yêu cầu. Giả sử chỉ có trí tuệ của đồng tử tham gia, thì ta vẫn đối diện với bài toán: làm sao bà có thể chuyển hóa tư tưởng của mình, trước hết thành ý chí và rồi thành lực tác động. Bài thử cuối cùng—bắt bà đặt tay mình dưới tay tôi, tay tôi đang giữ quả trứng, rồi làm cho nhạc cụ nặng nề trồi lên nhẹ như lông hồng, ngược lại định luật hấp dẫn—đối với tôi cũng như đối với Bà H. P. B., là bằng chứng dứt khoát về năng lực đồng tử của bà, và chúng tôi đã đưa ra một đề nghị có điều kiện sẽ giới thiệu bà với Ông Aksakoff. Điều kiện là bà phải chịu một loạt thử nghiệm vô hại nhưng thuyết phục, vượt qua thành công sẽ bảo đảm để chúng tôi hoàn toàn bảo chứng cho bà. Tuy nhiên bà từ chối vì cuộc hành trình dài và bà không muốn rời xứ sở để sang ở với người ngoại quốc. Tôi không biết số phận bà sau này, nhưng tôi nghe nói bà đã lấy bài thử quả trứng của tôi làm tiết mục tủ để biểu diễn năng lực đồng tử chân thực của mình. Về mặt tinh thần thì nó ít ý nghĩa, nhưng về vật lý cách mạng thì khá nhiều, mà tôi nghĩ có thể khiến Giáo sư Mendeleyeff cùng các đồng nghiệp sửng sốt.

A very much prettier and more poetical phase of mediumship was that of Mrs. Mary Baker Thayer of Boston, Mass., to the examination of whose phenomena I devoted some five weeks of the same summer season. She is, or was, what is called a “flower medium,” viz., a psychic in whose presence rain showers of flowers, growing bushes, vines and grasses, and leaves and branches freshly torn from trees, perhaps of a kind that are exotics and to be found only in hot-houses in that cold country. When I knew her she was a middle-aged woman of winsome manners, very obliging as to tests, and always cheerful and friendly. Like many other public mediums, however, she drank to some extent; she said and I can quite believe it--to make up for the terrible drain of the phenomena upon the nervous power. That she was a real medium I am fully convinced, but that she also supplemented by trickery her genuine phenomena, I also know. I know, because I caught her at it one evening in the year 1878, shortly before our leaving for lndia, when she was trying to convince me of her ability to “pass matter through matter,” in imitation of Professor Zollner’s celebrated experiments at Leipzig with the help of the medium Slade. I was very sorry that she tried the game with me, for until then I had had nothing but good to say of her. It is sad, I repeat, to know that these poor mediumistic martyrs to human selfishness and inquisitiveness are so often, not to say invariably, driven by necessity to practising on credulity for the lack of reasonable maintenance and surveillance, by properly constituted spiritualistic societies and committees, in command of adequate funds for the purpose. I have always pitied rather than blamed the wretched mediums, while laying the responsibility upon the Spiritualists as a body, where it solely belongs. Let those who think differently try starvation and selfish neglect for a while, and see if they will then be so quick to condemn tricking psychics.

Một dạng đồng tử đẹp đẽ và thi vị hơn nhiều là của Bà Mary Baker Thayer ở Boston, Mass., mà tôi dành khoảng năm tuần của cùng mùa hè ấy để khảo sát hiện tượng. Bà là, hay đã từng là, cái gọi là “đồng tử hoa,” tức là một người có khả năng mà trong sự hiện diện của họ có những trận mưa hoa, cây bụi đang lớn, dây leo, cỏ và lá, cành vừa bị bứt khỏi cây, có khi là giống ngoại lai chỉ có trong nhà kính ở xứ lạnh đó. Khi tôi biết bà, bà đang độ trung niên, phong thái duyên dáng, rất sẵn lòng chấp nhận các bài thử, và luôn vui vẻ thân ái. Tuy vậy, như nhiều đồng tử công cộng khác, bà uống rượu ở mức nào đó; bà nói—và tôi tin được—là để bù đắp cho sự hao kiệt khủng khiếp của hiện tượng đối với năng lực thần kinh. Rằng bà là một đồng tử chân chính tôi hoàn toàn tin chắc, nhưng rằng bà cũng bổ sung bằng mánh khóe cho những hiện tượng đích thực của mình, tôi cũng biết. Tôi biết, vì một tối năm 1878, ngay trước khi chúng tôi rời sang Ấn Độ, tôi đã bắt gặp bà đang cố thuyết phục tôi về khả năng “cho vật đi xuyên qua vật,” bắt chước các thí nghiệm lừng danh của Giáo sư Zollner ở Leipzig nhờ đồng tử Slade. Tôi rất tiếc là bà thử trò ấy với tôi, vì trước đó tôi chỉ có điều tốt đẹp để nói về bà. Thật buồn, tôi nhắc lại, khi biết rằng những đồng tử tử đạo đáng thương này—vì tính ích kỷ và tò mò của con người—thường xuyên, nếu không nói là hầu như luôn luôn, bị đẩy bởi nhu cầu đến mức phải lợi dụng lòng cả tin để sống, vì thiếu sự bảo đảm sinh kế hợp lý và sự giám sát của những hội đoàn và ủy ban Thần linh học đúng nghĩa, có trong tay các quỹ đủ để làm việc ấy. Tôi luôn thương hơn là trách các đồng tử khốn khổ, đồng thời đặt trách nhiệm lên giới Thần linh học như một chỉnh thể, nơi duy nhất đáng chịu. Hãy để những ai nghĩ khác thử nếm trải đói khát và sự bỏ mặc ích kỷ một thời gian, rồi xem họ còn vội vàng lên án các nhà thông linh dùng mánh khóe hay không.

A long summarised report of my Thayer investigations—in part of which H. P. B. assisted—appeared in the New York Sun of August 18, 1875, and was extensively copied throughout America and Europe, and translated into various languages.

Một bản tường trình dài, tóm lược cuộc khảo sát về Bà Thayer của tôi—phần nào có Bà H. P. B. hỗ trợ—đã đăng trên tờ New York Sun ngày 18 tháng Tám, 1875, được sao chép rộng rãi khắp Mỹ và châu Âu, và dịch sang nhiều thứ tiếng.

The method of procedure at Mrs. Thayer’s séances was this: The company being assembled, some respectable visitor agreeable to all was asked to examine the room and furniture, to fasten and, if he liked, seal the windows, lock the doors and take charge of the keys. The medium would also, if asked (provided that she meditated no trickery), suffer her dress to be searched for hidden flowers or other objects. She permitted me to do this whenever I liked, and willingly suffered me to tie and seal her up in a bag, a test I first employed with Mrs. Holmes. All present would then seat themselves about a large dining-table, join hands (the medium as well as the rest), the lights would be put out, and in perfect darkness phenomena would be waited for. After some delay one could hear a pattering on the bare table-top, the air would be filled with fragrance, and Mrs. Thayer would call for a light. Upon the room being illuminated, the surface of the table would be seen, sometimes, quite covered with flowers and plants, and sometimes they would be found thrust into the dress of the sitters or into their hair. Occasionally butterflies would come, or a rush of flying birds would be heard overhead and there might be a dove, a canary, a linnet, or some other bird, fluttering to the four corners of the room; or a gold-fish would be flopping about on the table, wet, as if just taken from the water. Sometimes people present would cry out in pleased wonder on finding between their hands some flower or plant they had mentally asked might be brought them. One evening I saw in front or a Scottish gentleman a full-grown heather plant of his native country, roots and all, and with the soil clinging to them as it had just been uprooted. There were even three angle worms wriggling in the dirt. It was quite a common thing for smilax and other vines, seemingly just torn from their pots or beds, and with the soil amidst their roots, to be brought: I had them myself. But I had a better thing than that. One afternoon, I visited Forest Hills Cemetery, situated in a suburb of Boston, and, passing through the green-houses, my attention was struck by a curious plant with long, narrow leaves, striped with white and pale green, known in botany as the Dracæna Regina. With my blue pencil I drew underneath one of the leaves the six-pointed star and mentally asked the spirits to bring it to me in Mrs. Thayer’s next circle, on the following evening. On that occasion I sat beside her and held her hands to make sure of her good faith. In the dark, I felt some cool and moist object drop upon one of my hands which, when the room was again lit up, proved to be my marked Dracæna leaf! To make assurance doubly sure, I revisited the greenhouse and found that my leaf had actually been detached from the stalk and the one I had in my pocket fitted the fracture! A number of similar facts, which I lack space to even cursorily mention, convinced me that Mrs. Thayer was a real psychic; there was, moreover, a certain physiological phenomenon which not only strengthened my belief, but cast much light upon the whole problem of mediumship. Holding both her hands in mine, I noticed that just at the moment when the falling plants began to patter on the table, she would shudder as if chilly, sigh, and her hands instantly turned deathly cold, as though a flush of iced water had suddenly run through her veins. The next moment the hands would resume the normal temperature of health. I challenge all the doubting scientists in the world to imitate this phenomena, in themselves. It seems indicative of a total change of “vital polarity,” in the making of phenomena, to use a necessary expression. When H. P. B., evoked the full-length spirit-form out of Mrs. Holmes’s cabinet (P. O. W., 477) she clutched my hand convulsively and her hand grew icy cold; the hand of Signor B., the Italian sorcerer was like ice after his rain-compelling phenomenon; and the passage of the hysterical into the cataleptic trance and other deeper stages of physical unconsciousness, is attended with abnormal lowering of bodily temperature. Dr. A. Moll says (Hypnotism, 113) that the “particularly surprising” experiments of Kraft-Ebing prove that “we must assume an astonishing capacity for regulating the temperature of the body” by hypnotic suggestion. It is fair to infer, therefore, that such a very marked change in animal heat as we have seen occurring in Mrs. Thayer and others at the moment when psychical phenomena are happening, indicates bona fides—the pathological change could not be simulated. Not to dwell too long on this medium’s case, highly interesting though it is, I will merely mention that at one of her public séances I counted and identified eighty-four species of plants; at another, given under my own test-conditions, saw birds appear, caught and kept them; at another, at a private house and in broad daylight, saw flowers and a branch torn from a tree in the compound, brought; and at still another, in the same friend’s house—where H. P. B. and I were both guests, she having come there from Philadelphia and I from New York, to follow out these investigations for M. Aksakoff—saw big stones and a quaint old table-knife of an ancient pattern, dropped on the table. But one particular rose given me by Mrs. Thayer’s benevolent Pushpa Yakshini (See Art. “Fire Elementals,” Theosophist, vol. xii,. 259) was the vehicle for a phenomenon by H. P. B. that excelled all that I had ever seen a medium do.

Phương pháp tiến hành ở các buổi gọi hồn của Bà Thayer như sau: Khi mọi người đã tụ họp, một vị khách đáng kính, được tất cả đồng thuận, được mời kiểm tra căn phòng và đồ đạc, đóng và, nếu muốn, niêm phong cửa sổ, khóa cửa và giữ chìa khóa. Đồng tử cũng sẽ, nếu được yêu cầu (miễn là bà không tính giở trò), chấp nhận để kiểm tra trang phục xem có giấu hoa hay vật gì không. Bà cho phép tôi làm điều này bất kỳ khi nào tôi muốn, và sẵn lòng chịu để tôi buộc và niêm phong bà trong một cái bao, một bài thử tôi đã dùng lần đầu với Bà Holmes. Mọi người sẽ ngồi quanh một bàn ăn lớn, nắm tay nhau (đồng tử cũng như mọi người), tắt đèn, và trong bóng tối hoàn toàn chờ hiện tượng. Sau đôi chút, người ta nghe tiếng lộp bộp rơi trên mặt bàn trần, không khí đầy hương thơm, và Bà Thayer gọi bật đèn. Khi phòng được thắp sáng, mặt bàn đôi khi được thấy phủ đầy hoa và cây, và đôi khi chúng được cài vào áo hoặc tóc của người ngồi. Đôi khi có bươm bướm bay đến, hoặc nghe tiếng chim bay rào rào trên đầu và có thể có một con bồ câu, một con hoàng yến, một loài chim nhỏ nào đó, bay rối khắp bốn góc phòng; hoặc một con cá vàng dẫy đành đạch trên bàn, ướt như vừa vớt từ nước lên. Đôi khi người dự vỡ òa thích thú khi phát hiện giữa hai bàn tay mình một bông hoa hoặc cây mà họ đã âm thầm mong được mang đến. Một tối tôi thấy trước mặt một quý ông người Scotland một bụi thạch thảo trưởng thành của xứ ông, cả rễ, và đất còn bám đầy như vừa nhổ lên. Có cả ba con giun đất ngoe nguẩy trong đất. Cũng khá thường gặp là smilax và các dây leo khác, dường như vừa bị bứt khỏi chậu hay luống, đất còn bám nơi rễ, được mang tới: chính tôi cũng nhận được. Nhưng tôi còn một việc hay hơn thế. Một buổi chiều, tôi viếng Nghĩa trang Forest Hills ở ngoại ô Boston, và khi đi ngang qua các nhà kính, tôi chú ý tới một cây lạ có lá dài, hẹp, sọc trắng và xanh nhạt, trong ngành thực vật học gọi là Dracæna Regina. Bằng bút chì xanh tôi vẽ dưới một chiếc lá hình ngôi sao sáu cánh và âm thầm nhờ các vong linh mang nó tới cho tôi trong buổi của Bà Thayer kế tiếp, vào tối hôm sau. Hôm đó tôi ngồi cạnh bà và nắm tay bà để bảo đảm sự ngay thật của bà. Trong bóng tối, tôi cảm thấy một vật mát và ẩm nhẹ rơi lên mu bàn tay mình, và khi phòng sáng lại, hóa ra đó chính là chiếc lá Dracæna có dấu của tôi! Để càng thêm chắc chắn, tôi trở lại nhà kính và thấy rằng chiếc lá của tôi đã thật sự bị tách khỏi cuống và chiếc tôi có trong túi khít khớp với vết gãy! Một loạt sự kiện tương tự—mà tôi thiếu chỗ để kể, dù chỉ lướt qua—đã khiến tôi tin chắc Bà Thayer là một nhà thông linh thực thụ; hơn nữa, có một hiện tượng sinh lý nhất định không chỉ củng cố niềm tin của tôi mà còn soi sáng nhiều cho toàn bộ vấn đề đồng tử. Khi nắm cả hai tay bà trong tay tôi, tôi nhận thấy đúng vào lúc những cành lá bắt đầu lộp bộp rơi trên bàn, bà rùng mình như lạnh, thở dài, và tay bà ngay lập tức lạnh buốt như thể một dòng nước đá bỗng chảy qua mạch. Khoảnh khắc sau tay lại ấm bình thường. Tôi thách thức mọi nhà khoa học hoài nghi trên thế giới tự mình bắt chước hiện tượng này. Có vẻ như nó biểu thị một sự đổi “cực tính sinh lực” toàn phần trong lúc làm hiện tượng, để dùng một biểu thức cần thiết. Khi Bà H. P. B. gọi được hình vong linh toàn thân ra khỏi buồng của Bà Holmes (P. O. W., 477) bà đã bóp chặt tay tôi co giật và tay bà trở nên lạnh như băng; bàn tay của Ông B., vị pháp sư Ý, lạnh như băng sau khi làm hiện tượng gọi mưa; và việc người mắc chứng loạn thần kinh chuyển vào cơn xuất thần kiểu cứng đờ và các giai đoạn sâu hơn của tình trạng vô thức thể chất đều đi kèm sự hạ nhiệt độ cơ thể dị thường. Bác sĩ A. Moll nói (Hypnotism, tr. 113) rằng các thí nghiệm “đặc biệt gây ngạc nhiên” của Krafft-Ebing chứng minh rằng “chúng ta buộc phải giả định một năng lực đáng kinh ngạc trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể” bằng ám thị thôi miên. Do đó, có thể suy ra công bằng rằng một biến đổi rất rõ rệt về nhiệt động vật như chúng ta thấy xảy ra nơi Bà Thayer và những người khác tại thời điểm hiện tượng thông linh xảy ra, là chỉ dấu của sự thành thật—biến đổi bệnh lý ấy không thể giả tạo. Không dềnh dàng lâu với trường hợp của đồng tử này, dẫu cực kỳ thú vị, tôi chỉ xin kể rằng, ở một trong những buổi công cộng của bà, tôi đã đếm và nhận diện được tám mươi bốn loài thực vật; ở một buổi khác, theo điều kiện thử nghiệm do chính tôi đặt, tôi thấy chim xuất hiện, bắt được và giữ lại; ở một buổi khác nữa, tại một tư gia và giữa ban ngày, tôi thấy hoa và một cành cây bị bứt từ cây trong sân được mang đến; và thêm một lần nữa, cũng tại nhà người bạn ấy—nơi Bà H. P. B. và tôi đều là khách, bà từ Philadelphia còn tôi từ New York đến đó để tiếp tục các khảo sát này cho Ông Aksakoff—tôi thấy những hòn đá lớn và một con dao bàn cổ lạ, kiểu xưa, rơi xuống bàn. Nhưng một bông hồng đặc biệt được ban cho tôi bởi Pushpa Yakshini nhân ái của Bà Thayer (Xem bài “Hành khí Lửa,” Theosophist, tập xii, tr. 259) đã trở thành vận cụ cho một hiện tượng do Bà H. P. B. làm, vượt trội mọi điều tôi từng thấy một đồng tử thực hiện.

Our kind hostess, Mrs. Charles Houghton, wife of a well-known lawyer of Boston, living in the suburb of Roxbury, drove into town with me one evening to attend Mrs. Thayer’s public séance. H. P. B. declined to go, so we left her talking with Mr. Houghton in the drawing-room. The carriage had been ordered to come for us at a certain hour, but the séance had proved a short one and all the assistants had left save Mrs. Houghton, another lady, and myself. As we had nothing better to occupy ourselves with, I asked Mrs. Thayer to give us three a private séance, to which she obligingly agree. So we took places at the table. I held the medium’s two hands and placed a foot upon her two feet, one of the ladies fastened the doors and saw that the windows were secure, and the other took charge of the light. This being extinguished, we waited in darkness for some time, but there was no sound of plant-dropping. Presently we heard the carriage drive up to the door, and at the same moment I felt a cool, moist flower lightly dropped, as though it might have been a snow-flake, upon the back of my hand. I said nothing until the candle was lighted, and even then continued holding Mrs. Thayer’s hands, and called the ladies’ attention to the fact. The flower on my hand was a lovely, half-opened double moss-rose bud, glistening with drops of dew. The medium, starting as though some one had addressed her from behind, said: “The spirits say, Colonel, that that is a present for Madame Blavatsky.” I thereupon handed it to Mrs. Houghton, and she gave it over to H. P. B. on reaching home, where we found her smoking cigarettes and still talking with our host. Mrs. Houghton left the room to go and layoff her bonnet and wrap, and I seated myself with the others. H. P. B. was holding the rose in her hand, smelling its fragrance and with a peculiar far-away look in her face, that her intimates always associated with the doing of her phenomena. Her reverie was interrupted by Mr. Houghton’s saying, “What an exquisite flower, Madame; will you kindly let me see it?” She handed it to him with the same dreamy look and as if mechanically. He sniffed its odour, but suddenly exclaimed: “How heavy it is! I never saw a flower like this. See, its weight actually makes it bend towards the stalk!” “What are you talking about?” I remarked, “There is nothing unusual about it; certainly there was not a while ago when it fell on my hand. Let me see it.” I took it from him with my left hand, and lo! it weighed certainly very heavy. “Take care; don’t break it!” exclaimed H. P. B. Tenderly I lifted the bud with the thumb and finger of my right hand and looked at it. Nothing visible to the eye accounted for the phenomenal weight. But presently there sparkled a pin-point of yellow light in its very heart, and before I could take a second look, a heavy plain gold ring leaped out, as though impelled by an interior spring, and fell on the floor between my feet. The rose instantly resumed its natural erect position and its unusual weight had gone. Mr. Houghton and I, both lawyers, moved by the professional instinct of caution, then carefully examined the flower, but detected not the slightest sign of its petals having been tampered with; they were so closely packed and overlaid that there was no possibility of forcing the ring under cover without mutilating the bud. And, in fact, how could H. P. B. have played the trick, right before our two pairs of eyes, in the full glare, of three gas-jets, and while holding the rose in her right hand for not above a couple of minutes before she gave it to Mr. Houghton? Well, certainly, there is an explanation possible in Occult Science: the matter in the gold ring and that in the rose petals could have been raised from the third to the fourth dimension, and restored back to the third at the instant when the ring leaped out of the flower. And that, doubtless, is what did happen; and open-minded physicists should kindly note the fact that matter may have weight without physical bulk, as this charming experiment proves. The ring has been found to weigh a half ounce. I am wearing it at this moment. It was not a creation out of nothing, only an apport; it belonged to H. P. B., I think, and it is “hall-marked,” or otherwise stamped to indicate its quality. It was a great ring for phenomena, certainly, to judge from what happened to it a year and a half later. The Theosophical Society was a year old then, and H. P. B. and I were living in two apartment suites in the same house. One evening my married sister, Mrs. W. H. Mitchell, [12] came with her husband to visit H. P. B. and myself, and, in the course of conversation, asked me to see the ring and bade me tell its history. She looked at it and put it on her finger while I was talking, after which she held it towards H. P. B. in the palm of her left hand for her to take it. But H. P. B. leaving it lying as it was without touching it, closed my sister’s fingers on it, held the hand for a moment, then let go and told my sister to look at it. It was no longer a plain gold ring, for we found three small diamonds imbedded in the metal, “gipsy” fashion, and set so as to form a triangle. How was it done? The least miraculous theory is that H. P. B. had had a jeweller insert the diamonds previously, and concealed them from us by inhibiting our sense of perception until the spell was removed at the moment my sister’s hand opened. As a hypnotic experiment this is perfectly comprehensible; I have seen such things done and can do them myself. One can not only cover a little diamond with the mask of invisibility, but a man, a roomful of people, a house, a tree, rock, road, mountain—anything, in short: hypnotic suggestion includes seemingly limitless possibilities. Well, let this particular experiment be explained as it may, it was a very perfect success.

Bà chủ nhân hậu của chúng tôi, Bà Charles Houghton, phu nhân của một luật sư danh tiếng ở Boston, cư ngụ tại ngoại ô Roxbury, một tối đã đánh xe vào thành cùng tôi dự buổi của Bà Thayer. Bà H. P. B. từ chối đi, nên chúng tôi để bà ngồi chuyện với Ông Houghton ở phòng khách. Xe ngựa đã được dặn giờ đến đón, nhưng buổi gọi hồn diễn ra ngắn và mọi người đã về hết, trừ Bà Houghton, một phụ nữ khác và tôi. Vì không có việc gì hơn để làm, tôi xin Bà Thayer cho ba chúng tôi một buổi riêng, bà vui vẻ nhận lời. Chúng tôi ngồi vào bàn. Tôi nắm hai tay đồng tử và đặt một bàn chân lên hai bàn chân bà, một trong hai vị phụ nữ khóa cửa và kiểm tra cửa sổ đã chắc chắn chưa, người còn lại trông chừng ngọn đèn. Đèn tắt rồi, chúng tôi chờ trong bóng tối một lúc, nhưng không nghe tiếng lá rơi. Chợt chúng tôi nghe xe ngựa dừng trước cửa, và đúng lúc đó tôi cảm thấy một bông hoa mát, ẩm, nhẹ như bông tuyết, thả xuống mu bàn tay. Tôi không nói gì cho đến khi nến được thắp, và lúc ấy vẫn tiếp tục nắm tay Bà Thayer, rồi gọi hai bà chú ý điều ấy. Bông hoa trên tay tôi là một nụ hồng rêu kép xinh tuyệt, nửa hé, lấp lánh những giọt sương. Đồng tử giật mình như có ai nói sau lưng, bảo: “Các vong linh nói, thưa Đại tá, rằng đó là món quà cho Bà Blavatsky.” Tôi bèn đưa cho Bà Houghton, và bà mang về trao cho Bà H. P. B., khi về đến nhà, chúng tôi thấy bà đang hút thuốc lá và chuyện trò với chủ nhà. Bà Houghton ra khỏi phòng để cởi mũ choàng, còn tôi ngồi với hai người kia. Bà H. P. B. cầm bông hồng trong tay, ngửi hương và đăm chiêu xa xăm, vẻ mặt mà những ai thân thiết đều biết là thường đi cùng những hiện tượng của bà. Cơn miên man bị Ông Houghton ngắt: “Một bông hoa tuyệt mỹ, thưa Bà; bà vui lòng cho tôi xem được chăng?” Bà đưa cho ông trong cùng ánh mắt mơ màng và như máy móc. Ông đưa lên ngửi, nhưng chợt kêu: “Sao nặng thế! Tôi chưa thấy bông hoa nào như thế. Kìa xem, nó nặng đến nỗi nghiêng về phía cuống!” “Ông nói gì vậy?” tôi bảo, “Chẳng có gì lạ cả; chắc chắn lúc nãy khi nó rơi trên tay tôi thì không có gì như thế. Đưa tôi xem.” Tôi lấy bông hoa bằng tay trái, và kìa! nó quả thực nặng lạ thường. “Coi chừng; đừng làm gãy nó!” Bà H. P. B. kêu khẽ. Tôi nâng nhẹ nụ hoa bằng ngón cái và ngón trỏ tay phải và nhìn. Không có gì trông thấy được bằng mắt thường giải thích được sức nặng lạ lùng. Nhưng tức thì trong tim nụ hoa loé lên một điểm sáng vàng, và trước khi tôi kịp nhìn lần nữa, một chiếc nhẫn vàng trơn nặng nề bật vọt ra, như thể bị một chiếc lò xo bên trong đẩy, và rơi xuống sàn giữa hai chân tôi. Bông hồng ngay lập tức dựng thẳng lại và sức nặng bất thường biến mất. Ông Houghton và tôi, cả hai đều là luật sư, theo bản năng nghề nghiệp thận trọng, bèn cẩn thận khám xét bông hoa, nhưng không phát hiện chút dấu hiệu nào cho thấy cánh hoa bị tác động; chúng xếp khít và đè lên nhau đến mức không thể nhét chiếc nhẫn vào trong mà không làm hư nụ hoa. Và, thực sự, làm sao Bà H. P. B. có thể giở trò ngay trước mắt hai chúng tôi, dưới ánh sáng rực rỡ của ba ngọn đèn khí, và trong khi cầm bông hồng trong tay phải không quá dăm phút trước khi đưa cho Ông Houghton? Vâng, hẳn nhiên, có một lời giải thích nằm trong Khoa học Huyền bí: vật chất trong chiếc nhẫn vàng và vật chất trong các cánh hoa hồng có thể đã được nâng từ chiều thứ ba lên chiều thứ tư, và phục hoàn về chiều thứ ba đúng khoảnh khắc chiếc nhẫn bật ra khỏi bông hoa. Và rất có thể, đó là điều đã xảy ra; và các nhà vật lý cởi mở nên vui lòng ghi nhận sự thật rằng vật chất có thể có trọng lượng mà không có thể tích vật lý, như thí nghiệm duyên dáng này chứng minh. Chiếc nhẫn được cân thấy nặng nửa ao-xơ. Tôi đang đeo nó lúc này. Nó không phải tạo ra từ hư vô, chỉ là một món chuyển nhập; tôi nghĩ nó thuộc về Bà H. P. B., và nó có “dấu xác nhận” hay dấu dập nào đó chỉ phẩm chất vàng. Quả là một chiếc nhẫn lớn cho các hiện tượng, xét từ những gì xảy ra với nó một năm rưỡi sau. Khi ấy Hội Thông Thiên Học đã tròn một tuổi, và Bà H. P. B. và tôi ở hai căn hộ trong cùng một ngôi nhà. Một tối, chị gái đã có gia đình của tôi, Bà W. H. Mitchell, cùng chồng đến thăm chúng tôi, và trong lúc chuyện trò, xin xem chiếc nhẫn và bảo tôi kể câu chuyện của nó. Chị ngắm nghía, đeo vào tay trong lúc tôi đang kể, rồi đưa về phía Bà H. P. B. đặt trên lòng bàn tay trái để bà lấy. Nhưng Bà H. P. B., để nguyên như vậy không chạm vào, bèn khép các ngón tay chị tôi lại, giữ tay một lát, thả ra và bảo chị tôi nhìn. Nó không còn là chiếc nhẫn vàng trơn nữa, vì chúng tôi thấy ba viên kim cương nhỏ được chôn chìm trong kim loại, xếp thành một tam giác. Làm sao mà làm được? Cách giải thích ít kỳ tích nhất là: trước đó Bà H. P. B. đã nhờ thợ kim hoàn gắn các viên kim cương, và che mắt chúng tôi bằng cách ức chế năng lực tri giác cho đến khi thôi miên được giải ở khoảnh khắc bàn tay chị tôi mở ra. Như một thí nghiệm thôi miên, điều này hoàn toàn dễ hiểu; tôi đã thấy những việc như vậy và bản thân tôi cũng làm được. Người ta không những có thể che một viên kim cương bé bằng mặt nạ vô hình, mà còn có thể che một người, một phòng đầy người, một ngôi nhà, một cái cây, tảng đá, con đường, ngọn núi—nói chung là bất cứ vật gì: ám thị thôi miên bao gồm những khả năng tưởng như vô hạn. Thôi thì, để cho thí nghiệm cụ thể này được giải thích thế nào cũng được, nó là một thành công rất hoàn hảo.

To return to Mrs. Thayer: we were so pleased with her phase of mediumship that we offered her the chance to go to Russia, but, like Mrs. Youngs and for the same reasons, she declined. Similar offers were conditionally made to Mrs. Huntoon, a sister of the Eddys, and to Mrs. Andrews and Dr. Slade, but all declined. So the affairs dragged on until the Winter of 1875, by which time the Theosophical Society had come into existence; M. Aksakoff’s committee had broken the original compact framed to secure a thorough investigation of the phenomena, and, with Prof. Mendeleyeff, an iron-clad materialist, at their head, had published a condemnatory report, framed on baseless conjecture, not on evidence; whereupon M. Aksakoff, with noble unselfishness and from sheer love of the truth, had determined to carry out the original programme at his own cost and risk. He writes to the London Spiritualist about that time:

Trở lại với Bà Thayer: chúng tôi thích dạng đồng tử của bà đến mức đã mời bà cơ hội đi Nga, nhưng, như Bà Youngs và vì cùng lý do, bà từ chối. Những lời mời tương tự có điều kiện đã được gửi đến Bà Huntoon, chị em nhà Eddy, và đến Bà Andrews và Bác sĩ Slade, nhưng tất cả đều từ chối. Thế là công việc kéo dài đến mùa Đông năm 1875, khi ấy Hội Thông Thiên Học đã ra đời; ủy ban của Ông Aksakoff đã phá vỡ thỏa thuận ban đầu được lập ra để bảo đảm một cuộc điều tra thấu suốt về hiện tượng, và, với Giáo sư Mendeleyeff, một nhà duy vật rắn như thép, làm chủ tọa, đã công bố một bản báo cáo lên án, dựa trên suy đoán vô căn cứ, không dựa vào bằng chứng; vì vậy Ông Aksakoff, với đức vị tha cao quý và chỉ vì lòng yêu sự thật, đã quyết định tự mình thực hiện chương trình ban đầu bằng chi phí và rủi ro của chính mình. Ông viết cho tờ Spiritualist ở London vào khoảng thời gian đó:

“When I resolved to search after mediums to visit St. Petersburgh,... I decided upon a line of action which I communicated to Colonel Olcott, whom I deputed to select mediums in America. I told him that I wanted our committee to have the means of proving the abnormal movement of solid objects in the light without contact with any living person. I further wished to find mediums who could get the movement of solid objects in the dark behind curtains, while they were seated in front thereof in full view of the sitters,” etc.

“Khi tôi quyết định đi tìm các đồng tử để mời đến St. Petersburgh,... tôi đã quyết định một đường lối hành động và thông báo cho Đại tá Olcott, người được tôi ủy thác chọn các đồng tử ở Mỹ. Tôi nói với ông rằng tôi muốn ủy ban của chúng tôi có phương tiện chứng minh việc di chuyển bất thường của các vật thể rắn trong ánh sáng mà không có tiếp xúc với bất kỳ người sống nào. Tôi cũng muốn tìm các đồng tử có thể làm cho vật rắn di chuyển trong bóng tối phía sau rèm, trong khi chính họ ngồi trước màn rèm, trong tầm nhìn hoàn toàn của người tham dự,” v.v.

This will give my Indian readers an idea of the extraordinary physical phenomena which were going on at the time in the Western countries. In the East, similar displacements of solid things, such as household furniture, cooking utensils, articles of clothing, etc., are occasionally heard of, but always with horror, and the eye-witnesses have scarcely ever dreamt of making them the subjects of scientific research: on the contrary, they are looked upon as misfortunes, the work of evil spirits, often of earth-bound souls of near relatives and intimate friends, and their greatest desire is to abate them as unqualified nuisances. I only repeat what has often been explained before by all theosophical writers, in saying that intercourse between the living and their deceased friends and connections is, to the Asiatic, an abhorrent proof that the dead are not happily dissevered from earthly concerns, and thus are hampered in their normal evolution towards the condition of pure spirit. The West, as a whole, despite its religious creed, is grossly materialistic, imagining the future life as but an extension of this in time,—and in space too, if one comes to consider its physical conceptions of heaven and hell—and can only grasp the actuality of post-mortem conscious existence through such concrete physical phenomena as M. Aksakoff enumerates, and the many others which astonish the visitors to mediums. [13] The East, on the other hand, is spiritual and philosophical in its conceptions, and phenomena of the above kind are to Asiatics but evidences of the possession of a low order of psychical powers by those who show them. The incident of my flower-born ring, of Mrs. Thayer’s showers of plants, flowers, and birds, and of Mrs. Youngs’s lifting of pianos on eggs, strike the Western materialist’s imagination, not as horrors but simply as interesting lies, too scientifically revolutionary to be true, yet vastly important if so. I suppose I must have heard a hundred times if once, in India, that it was a great pity that H. P. B. showed phenomena, for it went to prove that she had not reached a high stage of Yoga. True, the Yogi is warned by Patanjali, as the contemporary bhikshus were by Gautama Buddha, to beware of vainly showing their wonders when they found the Siddhis had developed themselves in the course of their psychical evolution. Yet the Buddha himself sometimes displayed his transcendent powers of this kind, but improved the occasion to preach the noble doctrines of his Arya Dharma, and spur his hearers to the noblest efforts to spiritualise, after de-brutifying themselves. And so with most other religious teachers. Did not H. P. B. adopt the like policy? Did she not, even while doing her wonders, warn us all that they were a very subordinate and insignificant part of Theosophy—some, mere hypnotic suggestions, others physical marvels in the handling of matter and force, by knowledge of their secrets and an acquired control over the elemental races concerned with cosmic phenomena? Nobody can deny this; nobody can truthfully aver that she did not invariably teach that the psychical experiment has the same relation to spiritual philosophy that the chemical experiment has to the science of chemistry. She, no doubt, erred in wasting power to astonish unimportant observers, that could have been far more profitably employed in breaching the walls of incredulous and despotic Western science: yet she did thereby convince some who were thus influenced to do good work for this great movement of ours; and some of the most tireless of that class among us came into Eastern out of Western Spiritualism over the bridge of psychical phenomena. For my part, I can say, that the great range of marvels of educated will potency which she showed me, made it easy for me to understand the Oriental theories of spiritual science. My greatest sorrow is that others, especially those of my Eastern colleagues whose minds were thoroughly prepared, did not have the same chance.

Điều này sẽ cho độc giả Ấn Độ của tôi một hình dung về những hiện tượng vật lý phi thường đang diễn ra lúc ấy ở phương Tây. Ở phương Đông, đôi khi cũng nghe nói những sự di chuyển như vậy của các vật rắn như đồ gia dụng, nồi niêu xoong chảo, quần áo, v.v., nhưng luôn kèm theo sự kinh hãi, và các nhân chứng hầu như chưa bao giờ mơ đến việc biến chúng thành đề tài nghiên cứu khoa học: trái lại, chúng bị xem như tai ương, tác phẩm của tà ma, thường là của các vong linh bị trói buộc vào đất của thân nhân thân thiết, và ước mong lớn nhất của họ là làm dịu chúng như những phiền toái không thể chấp nhận. Tôi chỉ nhắc lại điều đã được giải thích nhiều lần bởi mọi cây bút Thông Thiên Học, rằng sự giao tiếp giữa người sống và những thân hữu quá cố, đối với người Á Đông, là bằng chứng ghê tởm rằng người chết chưa lìa hẳn những mối bận tâm trần thế, bởi vậy bị cản trở trên lộ trình tiến hoá bình thường hướng tới tình trạng tinh thần thuần khiết. Phương Tây, nhìn chung, bất chấp tín điều tôn giáo, rất duy vật, hình dung đời sau như sự kéo dài của đời này về thời gian—và cả không gian nữa, nếu xét các quan niệm vật chất của họ về thiên đường và địa ngục—và chỉ có thể nắm bắt sự thực của đời sống có tâm thức sau khi chết thông qua những hiện tượng vật chất cụ thể như Ông Aksakoff đã liệt kê, và nhiều hiện tượng khác làm khách đến các đồng tử phải kinh ngạc. Phương Đông, ngược lại, có quan niệm tinh thần và triết lý, và những hiện tượng như vừa nói đối với người Á Đông chỉ là bằng chứng về việc những người biểu hiện chúng sở hữu một cấp bậc năng lực thông linh thấp. Sự kiện chiếc nhẫn sinh ra từ hoa của tôi, mưa cây, hoa và chim của Bà Thayer, và việc Bà Youngs nhấc piano đặt trên trứng, kích thích trí tưởng tượng của kẻ duy vật phương Tây, không phải như những điều khủng khiếp mà như những lời dối trá thú vị, quá cách mạng về mặt khoa học nên khó tin, nhưng nếu đúng thì vô cùng trọng yếu. Tôi nghĩ mình đã nghe hằng trăm lần ở Ấn Độ rằng thật đáng tiếc là Bà H. P. B. biểu hiện hiện tượng, vì điều đó chứng tỏ bà chưa đạt tới cấp bậc Yoga cao. Đúng là vị Yogi được Patanjali cảnh tỉnh, cũng như các tỳ kheo đương thời được Đức Phật Gotama dạy, phải coi chừng việc phô trương các phép lạ của mình một cách phù phiếm khi các Siddhi tự phát triển trong tiến trình tiến hoá thông linh. Thế nhưng chính Đức Phật đôi khi cũng biểu thị các năng lực siêu việt loại này, nhưng Người đã lợi dụng cơ hội để thuyết giảng các giáo pháp cao quý của Ngài, Arya Dharma, và thúc đẩy người nghe cố gắng hết mình để tinh thần hoá, sau khi tự gột rửa tính thú. Các bậc thầy tôn giáo khác cũng vậy. Há chẳng phải Bà H. P. B. đã áp dụng chính sách tương tự sao? Há chẳng phải ngay khi làm những điều kỳ diệu, bà vẫn cảnh báo tất cả chúng ta rằng chúng chỉ là phần rất thứ yếu và không đáng kể của Thông Thiên Học—một số chỉ là các ám thị thôi miên, số khác là các kỳ công vật chất trong việc xử lý chất và lực, nhờ tri thức về bí mật của chúng và quyền năng đạt được đối với các giống loài hành khí liên quan đến các hiện tượng vũ trụ? Không ai có thể phủ nhận điều này; không ai có thể nói thật rằng bà không luôn dạy rằng thí nghiệm thông linh có quan hệ với triết học tinh thần như thí nghiệm hoá học có quan hệ với khoa học hoá học. Dĩ nhiên bà có sai lầm khi phung phí năng lực để làm kinh ngạc những người quan sát không mấy quan trọng, năng lực lẽ ra có thể được dùng hữu hiệu hơn để phá một lỗ trên bức tường của khoa học phương Tây hoài nghi và chuyên quyền: nhưng chính nhờ vậy, bà đã thuyết phục được một số người, là những người rồi đây được thúc đẩy làm việc thiện ích cho phong trào vĩ đại của chúng ta; và một số người bền bỉ nhất trong nhóm ấy đã đến với phương Đông từ Thần linh học phương Tây qua chiếc cầu của hiện tượng thông linh. Phần tôi, tôi có thể nói, dải rộng các kỳ công của uy lực ý chí được giáo dưỡng mà bà đã chỉ cho tôi, đã khiến tôi dễ dàng hiểu các học thuyết tinh thần phương Đông. Nỗi buồn lớn nhất của tôi là những người khác, nhất là các đồng sự phương Đông của tôi—những người có tâm trí đã được chuẩn bị kỹ càng—đã không có cơ hội như thế.

CHAPTER VII—CHƯƠNG VII

DR. SLADE—BÁC SĨ SLADE

OUR search for mediums resulted in our selection of Dr. Henry Slade for the St. Petersburgh test. Mr. Aksakoff sent me $1,000 in gold for his expenses, and in due course he departed on his mission. But, through greediness, or vanity, perhaps, certainly most unadvisably, he stopped in London, gave séances, created a great public excitement, and was arrested on the complaint of Professor Lankester and Dr. Donkin on the pretence of trickery. C. C. Massey was his counsel, and saved him on a technical point, on appeal. Slade subsequently gave at Leipzig the famous tests by which Professor Zöllner proved his theory of the Fourth Dimension, and visited The Hague and other places before going to St. Petersburgh. Before we sent him abroad he submitted his mediumistic powers to the scrutiny of a special committee of the Theosophical Society, which with one dissentient, who made a most unfair minority report, certified to Mr. Aksakoff its belief in his genuineness. A most instructive account, showing long and intimate familiarity with his powers, was supplied by his former business partner, Mr. James Simmons, to the issue of the Theosophist for November, 1893.

Cuộc tìm kiếm đồng tử của chúng tôi đưa đến việc chọn Bác sĩ Henry Slade cho cuộc thử nghiệm ở St. Petersburgh. Ông Aksakoff gửi cho tôi 1.000 đô-la vàng để chi phí cho ông ta, và đúng kỳ ông ta lên đường thi hành sứ mạng. Nhưng, vì tham lam hay có lẽ vì hão huyền, chắc chắn là rất không khôn ngoan, ông ta dừng ở London, mở các buổi gọi hồn, gây một chấn động lớn trong công chúng, và bị bắt theo đơn của Giáo sư Lankester và Bác sĩ Donkin với cớ là dùng mánh khoé. C. C. Massey là luật sư biện hộ cho ông ta, và cứu được ông nhờ một điểm thủ tục khi kháng án. Sau đó Slade đã thực hiện tại Leipzig những bài thử nổi tiếng nhờ đó Giáo sư Zöllner chứng minh thuyết Chiều Thứ Tư, và ông ta đã thăm The Hague và những nơi khác trước khi đến St. Petersburgh. Trước khi chúng tôi gửi ông ra nước ngoài, ông đã trình các năng lực đồng tử của mình cho một ủy ban đặc biệt của Hội Thông Thiên Học khảo sát, và—trừ một người bất đồng—ủy ban đã chứng nhận với Ông Aksakoff niềm tin của họ vào tính chân thực của ông; người bất đồng ấy thì viết một bản báo cáo thiểu số rất bất công. Một bản ghi chép rất bổ ích, cho thấy sự quen thuộc lâu dài và mật thiết với các năng lực của ông, được đối tác kinh doanh cũ của ông, Ông James Simmons, cung cấp cho số Theosophist tháng Mười Một, 1893.

I had quite forgotten until I came to write the present chapter, at what period in the year 1875 the Eastern theory of sub-human and earth-bound spirits was brought to public attention, but I now find in our Scrap Books that the term “Elementary Spirits” was first used by myself in a letter to the Spiritual Scientist of June 3, 1875, reference being made to the sub-human spirits of the elements, or what we now call, “the elementals.” It was but a bare reference, without the giving of any explanatory details, and intended as a caution to Spiritualists against swallowing as they had been doing previously, without proper sifting and analysis, the messages of real or pretended mediums as trustworthy communications from departed spirits. The publication of the “Luxor” circular (in the Spiritual Scientist, April 17, 1875), provoked some private correspondence and public comment, the most important example of the latter being a scholarly and interesting article by a young barrister named Failes, writing under the pseudonym of “Hiraf,” which appeared in the Spiritual Scientist for 1875, p. 202, and was continued in the next week’s issue. It is full of theosophical ideas interpreted in terms of Rosicrucianism and under that title. The writer presents the Eastern philosophy of Unity and Evolution; and shows how it anticipated by many centuries the modern theories of force-correlation and conservation of energy. Its major importance, however, was the fact that it drew from H. P. B. a reply, which, in our Scrap-book, she calls “My first occult shot,” and which, in fact, laid open the whole field of thought since ploughed up by the members, friends, and adversaries of the Theosophical Society.

Tôi đã quên khuấy, cho tới khi viết chương này, rằng vào thời điểm nào trong năm 1875 thì học thuyết phương Đông về các linh thể hạ nhân và bị trói buộc nơi trần thế được đưa ra trước công chúng, nhưng lúc này tôi thấy trong Sổ Lưu Cắt Báo của chúng tôi thuật ngữ “Các Linh thể Hạ đẳng” lần đầu tiên do chính tôi dùng trong một bức thư gửi tờ Spiritual Scientist ngày 3 tháng Sáu, 1875, có nhắc đến các linh thể bán-nhân của các nguyên tố, hay điều chúng ta nay gọi là “các hành khí.” Đó chỉ là một lời nhắc bóng gió, không đưa ra chi tiết giải thích, và nhằm để cảnh báo giới Thần linh học chớ nuốt trọn, như họ đã làm trước đó, các thông điệp của những đồng tử thật hoặc giả, như là những truyền tin đáng tin cậy từ các vong linh. Việc công bố “thông tri Luxor” (trên tờ Spiritual Scientist, ngày 17 tháng Tư, 1875), đã gợi nên một số thư từ riêng và bình luận công khai, trong đó đáng kể nhất là một bài viết uyên bác và thú vị của một luật sư trẻ tên Failes, viết dưới bút danh “Hiraf,” đăng trên Spiritual Scientist năm 1875, tr. 202, và tiếp tục trong số tuần kế tiếp. Bài viết đầy những ý niệm Thông Thiên Học được diễn giải theo thuật ngữ của Thập Tự Hoa Hồng và dưới danh xưng ấy. Tác giả trình bày triết lý phương Đông về Nhất thể và Tiến hóa; và cho thấy triết lý ấy đã đi trước hàng thế kỷ so với các học thuyết hiện đại về tương quan lực và bảo toàn năng lượng. Tuy nhiên, tầm quan trọng lớn nhất của nó là ở chỗ nó đã khơi ra một bài đáp của Bà H. P. B., mà trong Sổ Lưu Cắt Báo của chúng tôi, bà gọi là “Phát súng huyền bí đầu tiên của tôi,” và thực tế, bài ấy đã mở toang cả cánh đồng tư tưởng mà từ đó đến nay các hội viên, bằng hữu và đối nghịch của Hội Thông Thiên Học đã cày xới.

In tracing up H. P. B.’s literary history from that point until the close of her life, one important fact should be borne in mind by such as are willing to do her simple justice. She was not a “learned” woman, in the literary sense, when she came to America. When, long after Isis Unveiled was begun, I inquired of her ever-beloved aunt Mdlle. N. A. Fadeyef, where her niece had acquired all this varied knowledge of recondite philosophies, metaphysics, and sciences, this prodigiously intuitive comprehension of ethnical evolution, the migrations of ideas, the occult forces of nature, etc., she wrote me frankly that up to their last meeting, some four or five years previously, Helena had “not even thought of such things in her dreams,” that her education had been simply that of any young lady of good family. She had learnt, besides her native Russian, French, a little English, a smattering of Italian, and music: she was astounded at my accounts of her erudition, and could only attribute it to the same sort of inspiration as had been enjoyed by the Apostles, who, on the Day of Pentecost, spoke in strange tongues of which they had previously been ignorant. She added that from her childhood her niece had been a medium more extraordinary for psychical power and variety of phenomena than any of whom she had read in the whole course of a lifelong study of the subject. [14] I had a better chance than any of her friends to know what were her actual literary attainments, having helped her in her correspondence and labours of authorship and corrected almost every page of her MSS. for years: besides which I had her confidence in a greater degree, from 1874 to 1885, than any other person. I can affirm, then, that in those early days she was not, in her normal state, a learned woman, and was never an accurate writer. This is à propos of her reply to “Hiraf,” in which she went into particulars about Occultism and explained the nature of elementary spirits. A learned but blindly vindictive critic of hers, stigmatises this article as “simply a rehash of the writings upon Magic of Eliphas Levi, and Des Mousseaux, and Hargrave Jennings’ “Rosicrucians.” In it, he says, “the Madame (sic) disclaim any authority as a teacher, calling herself ‘poor, ignorant me,’ and states that she desired simply to tell a little of the little she picked up in her long travels in the East. The statement that she derived any of this article from ‘the East’ is untrue; the whole of it was taken from European books.”

Khi lần theo lịch sử trước tác của Bà H. P. B. từ mốc ấy cho đến cuối đời Bà, có một thực tế quan trọng cần được ghi nhớ bởi những ai sẵn lòng dành cho Bà một sự công bằng giản dị. Khi đến Mỹ, Bà không phải là một phụ nữ “học giả” theo nghĩa văn chương. Lâu sau khi Isis Unveiled đã khởi bút, tôi hỏi người cô yêu quý của Bà, Cô N. A. Fadeyef, rằng cháu gái của Bà đã thu thập từ đâu cái kho tri thức phong phú về các triết lý uyên áo, siêu hình học và các khoa học kia, sự thấu triệt trực giác phi thường về tiến hóa dân tộc học, những cuộc di trú của tư tưởng, các mãnh lực huyền bí của thiên nhiên, v.v., thì Bà viết cho tôi một cách thẳng thắn rằng cho đến lần gặp nhau cuối cùng của họ, vào khoảng bốn hay năm năm trước đó, Helena “thậm chí trong mơ cũng chưa từng nghĩ đến những điều như thế”, rằng nền học vấn của Bà chỉ đơn giản như bất kỳ một tiểu thư con nhà gia giáo nào. Ngoài tiếng Nga mẹ đẻ, Bà đã học tiếng Pháp, một ít tiếng Anh, lõm bõm tiếng Ý, và âm nhạc; Bà tỏ ra kinh ngạc trước những điều tôi kể về sự uyên bác của cháu gái, và chỉ có thể quy nó về cùng loại linh cảm như các Tông đồ đã được hưởng, những người, vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, nói bằng những ngôn ngữ lạ lùng mà trước đó họ chưa từng biết đến. Bà bổ sung rằng từ thuở nhỏ, cháu gái Bà đã là một đồng tử phi thường, vượt trội về năng lực thông linh và sự đa dạng của hiện tượng hơn bất kỳ ai mà Bà từng đọc được trong suốt cả đời nghiên cứu chủ đề này. Tôi có cơ hội tốt hơn bất kỳ ai trong các bạn hữu của Bà để biết thực chất trình độ văn học của Bà tới đâu, vì tôi đã giúp Bà trong thư từ và công việc trước tác, và trong nhiều năm hiệu đính hầu như từng trang bản thảo viết tay của Bà; ngoài ra, từ năm 1874 đến 1885, tôi còn được Bà tin cậy ở mức độ cao hơn bất kỳ ai khác. Vậy nên tôi có thể khẳng định rằng, trong những ngày đầu ấy, ở trạng thái bình thường, Bà không phải là một phụ nữ học vấn thâm hậu, và Bà chưa bao giờ là một người viết chính xác. Điều này liên quan đến bức thư Bà phúc đáp “Hiraf”, trong đó Bà đi vào chi tiết về Huyền bí học và giảng giải bản tính của các tinh linh sơ cấp. Một nhà phê bình uyên bác nhưng mù quáng thù hằn của Bà đã đóng mác cho bài này là “đơn thuần là món hâm lại các trước tác về Huyền thuật của Eliphas Levi, Des Mousseaux, và cuốn ‘Rosicrucians’ của Hargrave Jennings.” Trong đó, ông ta nói, “bà Madame (sic) từ chối mọi thẩm quyền như một người dạy, tự gọi mình là ‘tôi, kẻ nghèo nàn, ngu dốt,’ và nói rằng Bà chỉ muốn kể chút ít trong cái ít ỏi Bà nhặt lượm được trong những cuộc du hành lâu dài ở phương Đông. Lời tuyên bố rằng Bà rút những điều trong bài viết này từ ‘phương Đông’ là không đúng; toàn bộ nó được lấy từ các sách châu Âu.”

And whence did their authors get their knowledge, unless from other authors? And whence these authors? From the East, always from the East; not one of those mentioned was a practical occultist, an adept in practical psychology; not even Eliphas Levi, save to the minor extent of being able (taking himself as the authority) to evoke spirits by the formularies of Ceremonial Magic. He was too much addicted to the pleasures of the table to be anything higher in Magic. Des Mousseaux was simply a most industrious and successful compiler for the Jesuits and Theatins, whose complimentary certificates he publishes in his works; and as for the late Mr. Hargrave Jennings, we all knew him for an estimable little gentleman, a London littérateur, with a book knowledge of occult subjects and not conspicuously accurate in his deductions. Whether H. P. B. did or did not acquire her practical psychical knowledge or powers in the East, it is undeniable that she had them, could practise them whenever she liked, and that her explanations of them were identical with those which are given in the teachings of every Eastern school of Occult Science. I, personally, can further testify that she was in relations with Eastern adepts, and that not only she, but even I, was visited by them, conversed. with them and was taught by them, before leaving America and after reaching India. To her, the books of Levi, Des Mousseaux, and all other modern and ancient writers were simply the tool-boxes from which she could take the tools she needed in building the Western structure for the habitation of Eastern idea: from one she could take one fact, from another, another. She found them but imperfect tools, at best, for those who knew, concealed, and those who did not, twisted and mutilated or misrepresented their facts. The Rosicrucian, Hermetic and Theosophical Western writers, producing their books in epochs of religious ignorance and cruel bigotry, wrote, so to say, with the headman’s axe suspended over their necks, or the executioner’s fagots laid under their chairs, and hid their divine knowledge under quaint symbols and misleading metaphors. The world lacked an interpreter, and H. P. B. came to supply the need. Having the clues to the labyrinth in her own trained consciousness and full practical experience, she led the way, torch in hand, and bade the morally brave to follow her. [15] An American critic said of Isis that she quoted indiscriminately from the classical authors and from the current newspapers of the day; and he was right, for it mattered not what author or paragraphist she quoted from so long as his writing suggested an idea illustrative of her present theme. This answer to “Hiraf” was the first of her esoteric writings, as her answer to Dr. Beard was the first of her defences of mediumistic Spiritualism. The history of Literature furnishes no more surprising spectacle than that of this fashionably under-educated Russian noblewoman writing English at times like an Englishman; French so pure that French authors have told me her articles would serve as models of style in French schools; and Russian so enticingly brilliant as to make the conductor of the most important of their reviews actually beseech her to write constantly for it, on terms as high as they gave Tourguénief. She was not always at those high-water marks, however; sometimes she wrote such bad English that her MSS. had to be almost re-written. Nor, as said, was she an orderly or accurate writer; her mind seemed to rush ahead at such a pace, and streams of thought came pouring from both sides in such force that confusion and want of method were the result in her writing. She laughed once, but confessed the justness of the comparison, when I told her that her mind was like Dickens’s image of Mugby Junction, with its ceaseless trains screaming in and screaming out, backing and shunting, and from morning to night keeping up a bewildering confusion. But beginning with the “Hiraf” article, and coming down to the last line she wrote for type, one thing must honestly be said—her writing was always full of thought-suggestion, brilliant and virile in style, while her keen sense of humour often seasoned her most ponderous essays with mirth-provoking ideas. To the methodical scholar she was exasperating, yet never dull or uninteresting. Later on, I shall have occasion to speak of the phenomenal changes in her literary and conversational moods and styles. I have said, and shall always reiterate, that I learnt more from her than from any schoolmaster, professor, or author I ever had to do with. Her psychical greatness, however, so overmatched her early education and mental discipline that the critics who knew her only in literature have done her bitter and savage injustice. X. B. Saintine writes, in Picciola, that the penalty of greatness is isolation; her case proves the aphorism: she dwelt on spiritual heights whither only the eagles of mankind soar. Most of her adversaries have only seen the mud on her shoes; and, verily, sometimes she wiped them even on her friends who could not mount on wings as strong as her own.

Vậy chứ các tác giả kia lấy tri thức của họ từ đâu, nếu không phải từ các tác giả khác? Và các tác giả ấy thì từ đâu? Từ phương Đông, luôn luôn từ phương Đông; không một ai trong số được nêu tên là một nhà huyền bí thực hành, một chân sư trong tâm lý học thực hành; ngay cả Eliphas Levi cũng không, ngoại trừ ở mức độ nhỏ là có thể (lấy chính ông ta làm thẩm quyền) triệu thỉnh các linh thể theo các công thức của Huyền thuật Nghi lễ. Ông quá mê thú vui ẩm thực để có thể là điều gì cao hơn trong Huyền thuật. Des Mousseaux đơn giản là một người biên soạn cần mẫn và thành công cho các Dòng Tên và Dòng Theatin, những giấy chứng nhận tán dương của họ được ông công bố trong các tác phẩm của mình; còn về cố ông Hargrave Jennings, tất cả chúng tôi đều biết ông như một quý ông dáng vóc nhỏ nhắn, đáng mến, một văn sĩ London, có tri thức sách vở về các chủ đề huyền bí và không hẳn chính xác trong các suy luận. H. P. B. có hay không thu nhận tri thức hay năng lực thông linh thực hành ở phương Đông thì cũng không thể phủ nhận rằng Bà sở hữu chúng, có thể thực hành bất cứ khi nào Bà muốn, và những lời giải thích của Bà trùng khít với những điều được giảng trong mọi trường phái Đông phương của Khoa học Huyền bí. Riêng tôi, tôi còn có thể làm chứng thêm rằng Bà có liên hệ với các chân sư phương Đông, và không chỉ Bà, mà ngay cả tôi, đã được Các Ngài viếng thăm, đàm luận và truyền dạy, trước khi rời Mỹ và sau khi đến Ấn Độ. Với Bà, sách của Levi, Des Mousseaux, và mọi tác giả tân–cổ khác chỉ đơn giản là các hộp đồ nghề, từ đó Bà có thể lấy những dụng cụ cần thiết để dựng nên cấu trúc phương Tây làm nơi cư ngụ cho tư tưởng Đông phương: từ người này Bà có thể lấy một sự kiện, từ người khác, một sự kiện khác. Dẫu vậy, đối với những ai biết thì họ che giấu, còn những ai không biết thì họ bẻ cong, cắt xén hoặc xuyên tạc sự thật; bởi thế, những dụng cụ ấy, cùng lắm, chỉ là công cụ bất toàn. Những tác giả phương Tây thuộc phái Thập tự Hoa hồng, Hermes học và Thông Thiên Học, viết sách của mình trong những thời kỳ ngu dốt tôn giáo và cuồng tín tàn bạo, đã, như có thể nói, viết dưới lưỡi búa của đao phủ treo lơ lửng trên cổ, hoặc giữa đống củi hành hình chất dưới ghế ngồi, và giấu tri thức thiêng liêng của họ dưới các biểu tượng kỳ lạ và những ẩn dụ dễ gây lạc hướng. Thế giới thiếu một người phiên giải, và H. P. B. đến để đáp ứng nhu cầu ấy. Có trong tâm thức đã được rèn luyện của mình chiếc mối chỉ dẫn qua mê cung và đầy đủ kinh nghiệm thực hành, Bà cầm đuốc dẫn đường, và mời gọi những ai can đảm về đạo đức hãy theo Bà. Một nhà phê bình Mỹ nói về Isis rằng Bà trích dẫn không phân biệt từ các tác giả cổ điển và từ các tờ báo đương thời; và ông ấy nói đúng, vì Bà chẳng cần bận tâm tác giả hay người viết đoản văn nào được trích dẫn, miễn là câu chữ của họ gợi ra một ý tưởng minh họa cho chủ đề hiện tại của Bà. Bức thư phúc đáp “Hiraf” là bài viết nội môn đầu tiên của Bà, cũng như bài phúc đáp Bác sĩ Beard là bài đầu tiên Bà biện hộ cho Thần linh học kiểu đồng tử. Lịch sử Văn học không cung cấp một cảnh tượng nào khiến người ta kinh ngạc hơn cảnh một nữ quý tộc Nga được giáo dục theo lối thượng lưu thời thượng nhưng thiếu căn bản, đôi khi viết tiếng Anh như người Anh; tiếng Pháp thì tinh khiết đến mức các tác giả Pháp nói với tôi rằng các bài của Bà xứng làm mẫu mực văn phong trong các trường Pháp; còn tiếng Nga thì quyến rũ rực rỡ đến nỗi vị chủ nhiệm của tạp chí quan trọng bậc nhất của họ đã thực sự nài nỉ Bà viết thường xuyên cho tờ báo, với nhuận bút cao ngang họ trả cho Tourguénief. Dẫu vậy, Bà không phải lúc nào cũng ở những chuẩn mực đỉnh cao ấy; đôi khi Bà viết tiếng Anh dở đến mức bản thảo phải hầu như viết lại. Và, như đã nói, Bà cũng không phải là người viết có trật tự hay chính xác; tâm trí Bà dường như lao trước với một nhịp độ như thế, và những dòng tư tưởng tuôn trào từ hai phía với sức mạnh như thế, đến nỗi kết quả trong văn bản là rối loạn và thiếu phương pháp. Có lần Bà bật cười, nhưng thừa nhận sự ví von là chí lý, khi tôi nói với Bà rằng tâm trí Bà giống hình tượng Mugby Junction của Dickens, với những con tàu không ngừng gào còi lao vào rồi lao ra, lùi tới dồn toa, và từ sớm đến tối cứ duy trì một cảnh hỗn mang khiến người ta hoa mắt. Nhưng bắt đầu từ bài “Hiraf”, và kéo dài đến dòng chữ cuối cùng Bà viết để sắp chữ, có một điều phải thành thực mà nói—văn Bà luôn đầy những gợi ý tư tưởng, rực rỡ và mạnh mẽ về phong cách, trong khi óc khôi hài sắc bén của Bà thường nêm nếm cả những tiểu luận nặng nề nhất bằng các ý tưởng gây vui cười. Với nhà học giả ưa phương pháp, Bà thật là khiến người ta bực bội, nhưng không bao giờ nhàm chán hay vô vị. Về sau, tôi sẽ có dịp nói đến những biến đổi phi thường trong tâm trạng và phong cách văn chương lẫn đàm thoại của Bà. Tôi đã nói, và sẽ luôn nhắc lại, rằng tôi học được từ Bà nhiều hơn từ bất kỳ thầy học, giáo sư, hay tác giả nào tôi từng có dịp làm việc cùng. Tuy nhiên, tầm vóc thông linh của Bà vượt xa nền giáo dục ban đầu và kỷ luật trí óc đến mức các nhà phê bình chỉ biết Bà trên văn đàn đã xử oan cho Bà với sự cay nghiệt và độc địa. X. B. Saintine viết trong Picciola rằng cái giá của vĩ đại là cô độc; trường hợp của Bà chứng minh châm ngôn ấy: Bà trú trên những đỉnh cao tinh thần, nơi chỉ có những con đại bàng của nhân loại mới bay vút tới. Hầu hết những kẻ nghịch thù chỉ trông thấy bùn dính trên giày Bà; và, quả thực, đôi khi Bà còn chùi cả bùn lên bạn bè mình—những người không thể sải đôi cánh vững mạnh như của Bà—nữa.

The “Hiraf” letter has another historical value in that she therein proclaims unequivocally “from personal knowledge” the existence of regular schools of occult training “in India, Asia Minor, and other countries.” “As in the primitive days of Socrates and other sages of antiquity,” she says, “so now, those who are willing to learn the Great Truth will ever find the chance if they only ‘try’ to meet some one to lead them to the door of ‘one who knows when and how.’” She corrects “Hiraf’s” too sweeping generalisation of calling all occultists Rosicrucians; telling him that that fraternity was but one of many occult sects or groups. She now openly styles herself “a follower of Eastern Spiritualism,” and foresees the time when American Spiritualism will “become a science and a thing of mathematical certitude.” Again, reverting to the question of adepts, she says the real Kabbala, of which the Jewish version is but a fragment, is in possession of “but a few Oriental philosophers; where they are, who they are, is more than is given me to reveal. Perhaps I do not know it myself and have only dreamed it. Thousands will say it is all imagination: so be it. Time will show. The only thing I can say is that such a body exists, and that the location of their Brotherhoods will never be revealed to other countries until the day when Humanity shall awake,... Until then, the speculative theory of their existence will be supported by what people erroneously believed to be supernal facts.” Her article conveys the warning that it is waste of time to seek to become a practical Kabbalist (or Rosicrucian, if you will) by acquiring a book knowledge of occult literature; it is as foolish, she says, “as to try to thread the famous labyrinth without the clue, or to open the ingenious locks of the mediæval ages without having possession of the keys.” She defines the difference between White and Black Magic and warns against the latter. Finally, she says: “But say what you (the ‘very orthodox priests and clergymen of various creeds and denominations, you who are so intolerant towards Spiritualism,’” [mark what meaning her context gives the term now] “‘the purest of the Children of Ancient Magic,’) will, you cannot help that which was, is, and ever will be, namely, the direct communication between the two worlds. We term this intercourse modern Spiritualism with the same force and logic, as when we say the ‘New World,’ in speaking of America.”

Bức thư “Hiraf” còn có một giá trị lịch sử khác ở chỗ Bà ở đó tuyên bố thẳng thắn “từ tri thức trực nghiệm” về sự hiện hữu của các trường quy củ đào luyện huyền bí “ở Ấn Độ, Tiểu Á và các xứ khác.” “Cũng như vào những ngày sơ khai của Socrates và các bậc hiền triết cổ đại,” Bà nói, “thì nay, những ai sẵn lòng học Chân Lý Vĩ Đại sẽ luôn tìm được cơ hội nếu chỉ cần họ ‘cố gắng’ gặp được ai đó dẫn họ tới cửa của ‘một người biết khi nào và bằng cách nào.’” Bà chỉnh lại phép khái quát quá đà của “Hiraf” khi gọi mọi nhà huyền bí học là người Thập tự Hoa hồng; cho ông biết rằng huynh đoàn ấy chỉ là một trong nhiều tông phái hay nhóm huyền bí học. Giờ đây Bà công khai tự xưng là “một người theo Thần linh học Đông phương,” và dự đoán thời điểm khi Thần linh học Mỹ sẽ “trở thành một khoa học và một điều chắc chắn mang tính toán học.” Lại quay về câu chuyện các chân sư, Bà nói Kabbala chân chính, mà bản Do Thái chỉ là một mảnh vụn, hiện đang trong tay “chỉ một số ít triết gia Đông phương; họ ở đâu, là ai, vượt quá điều được phép cho tôi tiết lộ. Có lẽ chính tôi cũng không biết và chỉ mơ thấy. Hàng ngàn người sẽ nói đó đều là tưởng tượng: cứ để vậy. Thời gian sẽ cho thấy. Điều duy nhất tôi có thể nói là một cộng đồng như thế đang hiện hữu, và rằng nơi chốn của các Huynh đoàn của họ sẽ không bao giờ được tiết lộ cho các quốc gia khác biết cho đến ngày Nhân loại bừng tỉnh,... Cho đến lúc ấy, lý thuyết suy đoán về sự hiện hữu của họ sẽ được củng cố bởi những gì người ta lầm tưởng là những sự kiện siêu nhiên.” Bài viết của Bà đưa ra lời cảnh báo rằng thật phí thời gian nếu nghĩ có thể trở thành một Kabbalist thực hành (hay người Thập tự Hoa hồng, nếu quý vị muốn) bằng cách tích lũy tri thức sách vở về văn học huyền bí; Bà nói điều đó ngu xuẩn chẳng khác nào “toan lần lối trong mê cung nổi tiếng mà không có mối chỉ, hay mở các ổ khóa tinh xảo thời trung cổ mà không có trong tay chìa khóa.” Bà định nghĩa sự khác biệt giữa Chánh Thuật và Hắc thuật và cảnh báo chống lại cái sau. Sau cùng, Bà nói: “Nhưng mặc cho các vị (‘các giáo sĩ rất chính thống thuộc các tín điều và hệ phái khác nhau, các vị là những người quá bất khoan dung với Thần linh học,’” [hãy lưu ý ngữ cảnh hiện nay Bà gán cho thuật ngữ ấy ý nghĩa gì] “‘những người thuần khiết nhất trong số các Đứa Con của Ma thuật Cổ xưa,’) nói gì, các vị cũng không thể ngăn nổi điều đã, đang, và sẽ mãi là, tức sự giao tiếp trực tiếp giữa hai thế giới. Chúng tôi gọi sự giao lưu này là Thần linh học hiện đại với cùng sức mạnh và lô-gích như khi chúng ta nói ‘Tân Thế Giới’ để chỉ châu Mỹ.”

I am sure all earnest members of The Theosophical Society will be glad to know that as early as July, 1875, H. P. B. affirmed the existence of the Eastern Adepts, of the mystic Brotherhood, of the stores of divine knowledge in their keeping, and of her personal connection with them. She reaffirms this in a letter to the Spi. Sci (p. 64, but of what month of 1875 I cannot tell, as she has not dated the cutting in our Scrap-book; but she writes from Ithaca whither she went to visit Professor and Mrs. Corson, of Cornell University, in August or early September), and puts forth the important idea that “Spiritualism, in the hands of an adept, becomes Magic, for he is learned in the art of blending together the laws of the Universe, without breaking any of them and thereby violating Nature. In the hands of an inexperienced medium, Spiritualism becomes UNCONSCIOUS SORCERY; for... he opens, unknown to himself, a door of communication between the two worlds, through which emerge the blind forces of Nature lurking in the astral Light, as well as good and bad spirits.”

Tôi tin rằng mọi hội viên nghiêm túc của Hội Thông Thiên Học sẽ vui biết rằng ngay từ tháng Bảy, 1875, H. P. B. đã khẳng định sự hiện hữu của các Chân sư phương Đông, của Huynh đoàn huyền bí, của kho tàng tri thức thiêng liêng do Các Ngài gìn giữ, và về mối liên hệ cá nhân của Bà với Các Ngài. Bà tái khẳng định điều này trong một bức thư gửi tờ Spi. Sci (tr. 64, nhưng tôi không biết là tháng mấy của năm 1875, vì Bà không đề ngày mẩu cắt báo trong Sổ sưu tập của chúng tôi; tuy nhiên Bà viết từ Ithaca, nơi Bà đến thăm Giáo sư và Bà Corson của Đại học Cornell vào tháng Tám hay đầu tháng Chín), và đưa ra một ý tưởng quan trọng rằng “Thần linh học, trong tay một chân sư, trở thành Huyền thuật, vì y tinh thông nghệ thuật phối hòa các định luật của Vũ trụ với nhau mà không phá vỡ bất kỳ định luật nào trong số đó và do vậy không xúc phạm Tự nhiên. Trong tay một đồng tử thiếu kinh nghiệm, Thần linh học trở thành PHÉP THUẬT VÔ THỨC; vì... y vô tình mở ra một cánh cửa giao tiếp giữa hai thế giới, qua đó những mãnh lực mù lòa của Tự nhiên đang ẩn nấp trong Quang cảm dục, cũng như các linh thể tốt và xấu, tuôn ra.”

The occult Idea was now fairly launched, and our published writings and private correspondence henceforth teemed with such allusions. My first extended contribution on those lines was a letter entitled “The Immortal Life,” dated August 23, 1875, and published in the New York Tribune of the 30th of that month. I state in it that I had believed in the mediumistic phenomena for about a quarter of a century, but had discredited the assumed identification of the intelligences behind them. I affirm my belief in the reality of ancient occult science, and the fact that I had unexpectedly “been brought into contact with living persons who do, and had in my presence done the very marvels that Paracelsus, Albertus, and Appollonius are credited with.”

Ý niệm huyền bí giờ đã được khởi động vững vàng, và từ đây các bài viết đã công bố và thư từ riêng của chúng tôi đầy ắp những ám chỉ như thế. Bài đóng góp dài đầu tiên của tôi theo hướng này là một bức thư nhan đề “Sự sống Bất tử”, đề ngày 23 tháng Tám, 1875, và được đăng trên tờ New York Tribune số ra ngày 30 của tháng ấy. Trong đó tôi trình bày rằng tôi đã tin vào các hiện tượng đồng tử khoảng một phần tư thế kỷ, nhưng đã không chấp nhận sự đồng nhất được gán ghép cho các trí linh đứng sau chúng. Tôi xác quyết niềm tin của mình vào thực tại của khoa học huyền bí cổ đại, và thực tế rằng tôi đã bất ngờ “được đưa vào tiếp xúc với những người đang sống, những người quả thực làm, và đã làm ngay trước mắt tôi, chính những điều kỳ diệu mà Paracelsus, Albertus và Apollonius được cho là đã làm.”

In saying this, I had in mind not only H. P. B.’s multifarious phenomena, not only the beginnings of my intercourse with the Mahâtmas, but also the disclosure to my own eyes, in my own bedroom, in a house where H. P. B. did not live, and when she was not present, of the spirits of the elements, by a stranger whom I casually met in New York, one day shortly before penning the letter.

Khi viết điều này, tôi không chỉ nghĩ đến muôn vàn hiện tượng của H. P. B., không chỉ đến khởi đầu giao tiếp của tôi với các Mahatma, mà còn đến việc chính mắt tôi được chứng ngộ, ngay trong phòng ngủ của mình, trong một ngôi nhà nơi H. P. B. không ở, và khi Bà không có mặt, về các linh thể thuộc các nguyên tố, bởi một người lạ tôi tình cờ gặp ở New York, một ngày ngay trước khi phóng bút viết bức thư.

The stranger came by appointment to my chambers. We opened the folding doors which separated the sitting from the small bedroom, sat on chairs facing the wide doorway, and by a wonderful process of Mâya (I now suppose) I saw the bedroom converted, as it were, into a cube of empty space. The furniture had disappeared from my view, and there appeared alternately vivid scenes of water, cloudy atmosphere, subterranean caves, and an active volcano; each of the elements teeming with beings, and shapes, and faces, of which I caught more or less transient glimpses. Some of the forms were lovely, some malignant and fierce, some terrible. They would float into view as gently as bubbles on a smooth stream, or dart across the scene and disappear, or play and gambol together in flame or flood. Anon, a misshapen monster, as horrid to see as the pictures in Barrett’s Magus, would glare at me and plunge forward, as though it wished to seize me as the wounded tiger does its victim, yet fading out on reaching the boundary of the cube of visualised akâsh, where the two rooms joined. It was trying to one’s nerves, but after my experiences at Eddy’s I managed not to “weaken.” My stranger friend declared himself satisfied with the result of the psychical test, and, on leaving, said we might meet again. But until now we have not. He seemed a fair-skinned Asiatic, but I could not exactly detect his nationality, though I then fancied him a Hindu. He talked English as fluently as myself.

Người lạ hẹn đến phòng riêng của tôi. Chúng tôi mở cánh cửa xếp ngăn giữa phòng khách và phòng ngủ nhỏ, ngồi trên ghế đối diện khoảng cửa rộng, và bằng một tiến trình Maya kỳ diệu (nay tôi nghĩ vậy) tôi nhìn thấy phòng ngủ như được biến thành một khối lập phương của không gian trống. Đồ đạc biến mất khỏi tầm mắt tôi, và thay vào đó lần lượt hiện ra những cảnh tượng sống động của nước, khí quyển mây mù, các hang động dưới lòng đất, và một núi lửa đang hoạt động; mỗi nguyên tố đều đầy ắp những hữu thể, hình thù, gương mặt, mà tôi thoáng bắt gặp trong chốc lát ít nhiều. Có hình thể rất đáng yêu, có hình dữ tợn hung ác, có hình đáng sợ. Chúng lướt vào tầm nhìn nhẹ như bong bóng trôi trên dòng êm, hoặc lao vụt qua cảnh rồi biến mất, hoặc đùa giỡn tung tăng cùng nhau trong lửa hoặc nước. Thỉnh thoảng, một quái vật méo mó, kinh tởm như các bức vẽ trong Magus của Barrett, trừng mắt nhìn tôi rồi bổ nhào tới, như thể muốn vớ lấy tôi như con cọp bị thương chộp mồi, nhưng lại mờ dần khi chạm tới ranh giới của khối lập phương akasha được hình dung, nơi hai phòng tiếp giáp nhau. Điều đó làm căng thẳng thần kinh, nhưng sau các trải nghiệm ở nhà Eddy tôi vẫn cố không “yếu vía”. Người bạn xa lạ của tôi nói ông hài lòng với kết quả cuộc thử nghiệm thông linh, và khi ra về nói rằng chúng tôi có thể sẽ gặp lại. Nhưng đến giờ thì vẫn chưa. Ông có vẻ là một người Á châu da sáng, nhưng tôi không thể xác định quốc tịch, dù lúc ấy tôi ngờ ông là người Ấn. Ông nói tiếng Anh lưu loát như tôi.

CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII

THEOSOPHICAL SOCIETY PROPOSED—ĐỀ XƯỚNG HỘI THÔNG THIÊN HỌC

WE may now take up the story of the formation of the Theosophical Society and show what led up to it, who were the people who formed it, and how its aims and objects were defined. For this, let it be remembered, is a complete history of the Society’s beginnings, not a mere record of personal recollections of H. P. B.

Giờ đây chúng ta có thể tiếp tục câu chuyện về sự hình thành Hội Thông Thiên Học và cho thấy điều gì đã dẫn đến nó, ai là những người lập nên nó, và các mục tiêu, tôn chỉ của Hội đã được xác định như thế nào. Bởi lẽ, cần nhớ rằng đây là một lịch sử trọn vẹn về buổi đầu của Hội, chứ không phải chỉ là một ký sự các hồi ức cá nhân về Bà H. P. B.

The way had been prepared for the organisation of such a society by the active discussion, first, of Spiritualism and afterwards of some portions of Eastern spiritualistic ideas. This had been going on since my N. Y. Sun report on the Eddys appeared, in August of the previous year (1874), and had been tenfold intensified since H. P. B. and I met at Chittenden, and used the press for the exposition of our heterodox views. Her piquant published letters, the stories that were afloat about her magical powers, and our several affirmations of the existence of non-human races of spiritual beings),drew into our acquaintanceship numbers of bright, clever people of occult leanings. Among these were scientific men, philologists, authors, antiquarians, broadminded clergymen, lawyers, and doctors, some very well known Spiritualists, and one or two gentlemen journalists attached to metropolitan papers, only too eager to make good “copy” out of the business. It was an audacious thing, certainly, to stand, defiant of public prejudice, and assert the scientific legitimacy of ancient Magic in this age of scientific scepticism. Its very boldness compelled public attention, and the inevitable result was that, in time, those whom the discussion had drawn together in sympathy should group themselves together as a society for occult research. The attempt of May, 1875, to form such a nucleus in a “Miracle Club” having failed, for the reason stated in Chapter I, the next opportunity presented itself when Mr. Felt lectured privately to a few friends of ours, in H. P. B.’s rooms at 46 Irving Place, New York, on the 7th of September of the same year. This time there was no failure: the tiny seed of what was to be a world-covering banyan tree was planted in fertile soil and germinated. I regret to say that, to my knowledge, no official memorandum exists of the persons actually present on that particular evening, though one of them, the Reverend J. H. Wiggin, an Unitarian clergyman, published in The Liberal Christian of Sept. 4th, a notice of a similar gathering during the previous week, at which the fact of Mr. Felt’s promised lecture was, I think, announced for the evening of the 7th. He names H. P. B., myself, Signor Bruzzesi, a New Jersey judge and his wife, and Mr. Charles Sotheran (who had procured for him from H. P. B. an invitation to be present). He expresses his wonder at the range and depth of the conversation, remarking:

Con đường đã được chuẩn bị cho việc tổ chức một hội như thế bằng các cuộc bàn luận sôi nổi, trước hết, về Thần linh học và sau đó là về một số phần của các ý niệm mang màu sắc thần linh học Đông phương. Những điều này đã diễn ra từ khi bản tường thuật của tôi trên tờ N. Y. Sun về nhà Eddy xuất hiện, vào tháng Tám của năm trước (1874), và đã được khuếch đại lên gấp mười kể từ khi H. P. B. và tôi gặp nhau ở Chittenden, và sử dụng báo chí để trình bày các quan điểm dị giáo của chúng tôi. Những bức thư công bố dí dỏm của Bà, những câu chuyện lan truyền về quyền năng huyền thuật của Bà, và nhiều lần chúng tôi xác nhận sự hiện hữu của các giống loài phi nhân thuộc các hữu thể tinh thần, đã kéo nhiều người lanh lợi, thông minh, nghiêng về huyền bí học, vào vòng giao du với chúng tôi. Trong số đó có các nhà khoa học, nhà ngôn ngữ học, tác giả, nhà khảo cổ, giáo sĩ cởi mở, luật gia, y sĩ, một số nhà Thần linh học rất nổi tiếng, và một hai ký giả thuộc các tờ báo đại đô thị, chỉ chờ dịp để “đãi bút” kiếm những bài vở ăn khách từ sự kiện này. Quả là táo bạo, dĩ nhiên, khi đứng lên thách thức định kiến công chúng và xác quyết tính hợp lệ khoa học của Huyền thuật cổ đại trong thời đại hoài nghi khoa học này. Sự táo bạo ấy tự thân đã buộc công chúng phải chú ý, và hệ quả tất yếu là, theo thời gian, những ai vì cuộc thảo luận mà liên kết với nhau trong đồng cảm sẽ nhóm lại thành một hội chuyên nghiên cứu huyền bí. Nỗ lực vào tháng Năm 1875 nhằm lập một hạt nhân như thế dưới hình thức “Câu lạc bộ Phép Lạ” đã thất bại, vì lý do đã nêu ở Chương I, thì cơ hội tiếp theo đã đến khi Ông Felt thuyết giảng riêng cho một ít bạn hữu của chúng tôi, tại phòng của H. P. B. ở số 46 Irving Place, New York, vào ngày 7 tháng Chín cùng năm. Lần này không có thất bại: hạt mầm bé nhỏ của cây đa sẽ che phủ cả thế giới đã được gieo trên mảnh đất phì nhiêu và nảy mầm. Tôi rất tiếc phải nói rằng, theo hiểu biết của tôi, không có bất kỳ bản ghi chính thức nào về những người thực sự có mặt vào tối hôm đó, mặc dù một người trong số họ, Mục sư J. H. Wiggin, một giáo sĩ phái Nhất Nguyên, đã đăng trên tờ The Liberal Christian số ngày 4 tháng Chín một thông báo về một buổi họp tương tự trong tuần trước đó, tại đó, theo tôi nghĩ, việc Ông Felt hứa thuyết giảng đã được thông báo cho tối ngày mồng 7. Ông nêu tên H. P. B., tôi, Ngài Bruzzesi, một vị thẩm phán New Jersey và phu nhân, và Ông Charles Sotheran (người đã xin cho ông một lời mời từ H. P. B. để được hiện diện). Ông bày tỏ sự kinh ngạc về tầm rộng và chiều sâu của cuộc đàm đạo, và nhận xét:

“It would be discourteous to detail the minutiae of a friendly conversation where there was no desire for publicity nor any magic display, or offer notions about it. The phallic element in religions; recent wonders among the mediums; history; the souls of flowers; Italian character; the strangeness of travel; chemistry; poetry; Nature’s trinity; Romanism; gravitation; the Carbonari; jugglery; Crookes’s new discoveries about the force of light; the literature of Magic—were among the topics of animated discussion lasting until after midnight. If Madame Blavatsky can indeed bring order out of the chaos of modern spiritism she will do the world a service.”

“Sẽ là khiếm nhã nếu kể tỉ mỉ những tiểu tiết của một cuộc chuyện trò thân tình vốn không mong muốn công khai, cũng chẳng nhằm phô diễn huyền thuật, hay phô bày quan niệm về nó. Yếu tố phồn thực trong các tôn giáo; các kỳ tích gần đây nơi các đồng tử; lịch sử; linh hồn của hoa; tính cách người Ý; cái lạ lùng của du hành; hóa học; thi ca; Bộ ba của Tự nhiên; La Mã giáo; hấp dẫn; hội kín Carbonari; trò ảo thuật; những khám phá mới của Crookes về lực của ánh sáng; văn học về Huyền thuật—là những chủ đề được thảo luận sôi nổi kéo dài cho đến quá nửa đêm. Nếu Madame Blavatsky thật sự có thể mang trật tự đến từ mớ hỗn độn của Thần linh học hiện đại, Bà sẽ làm một việc ích lợi cho thế giới.”

On the evening of September 7th, Mr. Felt gave his lecture on “The Lost Canon of Proportion of the Egyptians.” He was a remarkably clever draughtsman, and had prepared a number of exquisite drawings to illustrate his theory that the canon of architectural proportion, employed by the Egyptians, as well as by the great architects of Greece, was actually preserved in the temple hieroglyphics of the Land of Khemi. His contention was that, by following certain definite clues one could inscribe what he called the “Star of Perfection” upon a certain temple wall, within which the whole secret of the geometrical problem of proportion would be read; and that the hieroglyphs outside the inscribed figure were but mere blinds to deceive the profane curiosity-seeker; for, read consecutively with those within the geometrical figure, they either made undecipherable nonsense or ran into some quite trivial narrative.

Vào tối ngày 7 tháng Chín, Ông Felt thuyết giảng về “Bộ Quy luật Tỉ lệ bị mất của người Ai Cập.” Ông là một họa công xuất chúng, và đã chuẩn bị nhiều bản vẽ tinh xảo để minh họa cho lý thuyết rằng bộ quy tắc tỉ lệ kiến trúc, được người Ai Cập cũng như các kiến trúc gia lớn của Hy Lạp sử dụng, thực ra được lưu giữ trong các bức tượng hình của các đền đài xứ Khemi. Luận điểm của ông là, bằng cách theo những mối chỉ định rõ, người ta có thể vẽ cái ông gọi là “Ngôi sao Toàn hảo” lên một bức tường đền nhất định, bên trong đó toàn bộ bí quyết của bài toán hình học về tỉ lệ sẽ được đọc ra; và rằng những chữ tượng hình ở ngoài hình vẽ hình học chỉ là những bức màn dùng để đánh lạc hướng kẻ tò mò tục tử; vì nếu đọc nối tiếp với những chữ ở trong hình hình học, chúng hoặc trở thành một mớ vô nghĩa không thể giải, hoặc chuyển sang một truyện kể khá tầm thường.

This diagram consists of a circle with a square within and without, containing a common triangle, two Egypttian triangles and a pentagon. He applies it to the pictures, statues, doors, hieroglyphs, pyramids, planes, tombs and buildings of Ancient Egypt, and shows that they agree so perfectly with its proportions that they must have been made by its rule. He applies the same canon of proportion to the masterpieces of Greek art and finds that they were, or might have been, carved without models by this rule. It is, in fact, the true canon of Nature’s architecture. The late Dr. Seth Pancoast, M.D., of Philadelphia, a most erudite Kabbalist, being present, categorically questioned Mr. Felt as to whether he could practically prove his perfect knowledge of the occult powers possessed by the true ancient magician; among others, the evocation of spirits from the spatial deep. Mr. Felt replied as categorically that he had done and could do that with his chemical circle. “He could call into sight hundreds of shadowy forms resembling the human, but he had seen no signs of intelligence in these apparitions.” I take these details from a contemporary cutting that I find in its proper place in our Scrap-book I, but to which the name of the paper is not attached. It looks as if it had been cut from Mr. Wiggin’s paper, The Liberal Christian.

Sơ đồ này gồm một đường tròn với một hình vuông nội tiếp và một hình vuông ngoại tiếp, chứa một tam giác thường, hai tam giác Ai Cập và một ngũ giác. Ông áp dụng nó vào tranh, tượng, cửa, chữ tượng hình, kim tự tháp, các mặt phẳng, mộ phần và công trình của Ai Cập Cổ, và cho thấy chúng phù hợp hoàn hảo đến mức ắt hẳn đã được làm theo quy tắc ấy. Ông áp dụng cùng bộ quy tắc tỉ lệ vào các kiệt tác nghệ thuật Hy Lạp và thấy rằng chúng đã, hoặc có thể được, tạc đẽo không cần mẫu theo quy tắc này. Thực vậy, đó là bộ quy luật chân chính của kiến trúc Tự nhiên. Cố Bác sĩ Seth Pancoast, M.D., ở Philadelphia, một Kabbalist cực kỳ uyên bác, có mặt tại đó, đã chất vấn dứt khoát Ông Felt rằng liệu ông có thể chứng minh thực hành tri thức hoàn hảo của mình về các quyền năng huyền bí mà nhà huyền thuật cổ chân chính nắm giữ hay không; trong số đó có việc triệu thỉnh các linh thể từ thâm không. Ông Felt đáp lại cũng dứt khoát rằng ông đã làm và có thể làm điều đó với vòng tròn hóa học của mình. “Ông có thể gọi hiện ra hàng trăm hình bóng mờ ảo giống người, nhưng ông không thấy dấu hiệu thông minh nào ở những linh ảnh ấy.” Tôi ghi lại những chi tiết này từ một mẩu cắt báo đương thời mà tôi thấy đặt đúng chỗ trong Sổ sưu tập I của chúng tôi, nhưng trên đó không ghi tên tờ báo. Trông như thể nó đã được cắt từ tờ The Liberal Christian của Ông Wiggin.

Felt’s theory and drawings were so captivating that J. W. Bouton, the publisher of symbological books, had contracted with him to bring out his work in 1000 pages folio, with numberless illustrations, and had advanced a large sum for copper plates, graving tools, presses, etc., etc. But having to deal with a genius burdened with a large family and exasperatingly unpunctual, the thing dragged along until he lost all patience, and the final result was, I believe, a rupture between them and the grand work was never published.

Lý thuyết và các bức họa của Felt cuốn hút đến nỗi J. W. Bouton, nhà xuất bản sách biểu tượng học, đã hợp đồng với ông để ấn hành tác phẩm của ông dày 1000 trang khổ lớn, kèm vô số minh họa, và đã tạm ứng một khoản lớn để làm bản đồng, đồ khắc, máy in, v.v. Nhưng vì phải làm việc với một thiên tài gánh nặng gia đình đông con và vô cùng trễ nải, mọi chuyện lề mề đến mức ông mất hết kiên nhẫn, và kết cục, theo tôi tin, là một cuộc đoạn tuyệt giữa họ, và đại tác phẩm đã không bao giờ xuất bản.

Mr. Felt told us in his lecture that, while making his Egyptological studies, he had discovered that the old Egyptian priests were adepts in magical science, had the power to evoke and employ the spirits of the elements, and had left the formularies on record; he had deciphered and put them to the test, and had succeeded in evoking the elementals. He was willing to aid some persons of the right sort to test the system for themselves, and would exhibit the nature-spirits to us all in the course of a series of lectures, for which we were to pay him. Of course we passed an informal vote of hearty thanks for his highly interesting lecture, and an animated discussion followed. In the course of this, the idea occurred to me that it would be a good thing to form a society to pursue and promote such occult research, and, after turning it over in my mind, I wrote on a scrap of paper the following:”Would it not be a good thing to form a Society for this kind of study?” –and gave it to Mr. Judge, at the moment standing between me and H. P. B., sitting opposite, to pass over to her. She read it and nodded assent. Thereupon I rose and, with some prefatory remarks, broached the subject. It pleased the company and when Mr. Felt, replying to a question to that effect, said he would be willing to teach us how to evoke and control the elementals, it was unanimously agreed that the society should be formed. Upon motion of Mr. Judge, I was elected Chairman, and upon my motion Mr. Judge was elected Secretary of the meeting. The hour being late, an adjournment was had to the following evening, when formal action should be taken. Those present were requested to bring sympathisers who would like to join the proposed society.

Ông Felt nói với chúng tôi trong bài giảng rằng, trong khi thực hiện các nghiên cứu Ai Cập học của mình, ông đã khám phá rằng các tư tế Ai Cập xưa là những nhà huyền thuật, có quyền năng triệu thỉnh và sử dụng các linh thể của các nguyên tố, và đã để lại các nghi thức được ghi chép lại; ông đã giải mã, đem ra thử nghiệm, và đã thành công trong việc triệu thỉnh các hành khí. Ông sẵn lòng giúp một số người hợp lẽ để tự mình kiểm chứng hệ thống, và sẽ trình hiện các linh thể thiên nhiên cho tất cả chúng tôi thấy qua một loạt bài giảng, mà chúng tôi sẽ trả thù lao cho ông. Dĩ nhiên chúng tôi đã bỏ phiếu không chính thức bày tỏ lời cảm tạ nồng nhiệt cho bài giảng cực kỳ thú vị, và một cuộc thảo luận sôi nổi nối tiếp. Trong quá trình ấy, ý nghĩ đến với tôi rằng sẽ thật hay nếu lập một hội nhằm theo đuổi và thúc đẩy nghiên cứu huyền bí như vậy, và sau khi cân nhắc trong đầu, tôi viết lên một mẩu giấy như sau: “Chẳng phải sẽ tốt lắm sao nếu lập một Hội cho loại nghiên cứu này?” –rồi đưa cho Ông Judge, lúc ấy đang đứng giữa tôi và H. P. B. ngồi đối diện, để chuyển sang cho Bà. Bà đọc và gật đầu ưng thuận. Thế là tôi đứng dậy và, sau một vài lời dẫn nhập, nêu vấn đề. Mọi người đều thích ý, và khi Ông Felt, đáp lại một câu hỏi theo hướng ấy, nói rằng ông sẵn lòng dạy chúng tôi cách triệu thỉnh và kiểm soát các hành khí, thì tất cả nhất trí rằng hội sẽ được thành lập. Theo đề nghị của Ông Judge, tôi được bầu làm Chủ tọa, và theo đề nghị của tôi, Ông Judge được bầu làm Thư ký cuộc họp. Vì đã muộn giờ, chúng tôi hoãn lại đến tối hôm sau, để tiến hành các thủ tục chính thức. Những người có mặt được đề nghị mời những người đồng cảm mong muốn gia nhập hội dự kiến.

As above stated, no official record by the Secretary of the attendance at this first meeting survives, but Mrs. Britten quotes, in her Nineteenth Century Miracles, (p. 296), a report which was published in a New York daily and copied into the Spiritual Scientist, and from her book I take the following extracts:

Như đã nói trên, không còn lưu lại biên bản chính thức của Thư ký về thành phần tham dự cuộc họp đầu tiên này, nhưng Bà Britten trích, trong cuốn Nineteenth Century Miracles (tr. 296), một bản tường thuật được đăng trên một tờ nhật báo New York và sao lại trên tờ Spiritual Scientist, và từ sách của Bà tôi dẫn ra những đoạn sau:

“One movement of great importance has just been inaugurated in New York, under the lead of Colonel Henry S. Olcott, in the organization of a society, to be known as the Theosophical Society. The suggestion was entirely unpremeditated, and was made on the evening of the 7th inst. in the parlors of Madame Blavatsky,where a company of seventeen ladies and gentlemen had assembled to meet Mr. George Henry Felt, whose discovery of the geometrical figures of the Egyptian Cabbala may be regarded as among the most surprising feats of the human intellect. The company included several persons of great learning and some of wide personal influence. The Managing Editors of two religious papers; the co-editors of two literary magazines; an Oxford LL.D.; a venerable Jewish scholar and traveller of repute; an editorial writer of one of the New York morning dailies; the President of the New York Society of Spiritualists; Mr. C. C. Massey, an English visitor [barrister-at-law]; Mrs. Emma Hardinge Britten and Dr. Britten; two New York lawyers besides Colonel Olcott; a partner in a Philadelphia publishing house; a well-known physician; and, most notable of all, Madame Blavatsky herself, comprised Mr. Felt’s audience.... During a convenient pause in the conversation, Colonel Olcott rose, and after briefly sketching the present condition of the spritualistic movement; the attitude of its antagonists, the Materialists; the irrepressible conflict between science and the religious sectaries; the philosophical character of the ancient theosophies and their sufficiency to reconcile all existing antagonism; and the apparently sublime achievement of Mr. Felt, in extracting the key to the architecture of Nature from the scanty fragments of ancient lore left us by the devastating hands of the Moslem and Christian fanatics of the early centuries, he proposed to form a nucleus around which might gather all the enlightened and brave souls who are willing to work together for the collection and diffusion of knowledge. His plan was to organise a society of Occultists and begin at once to collect a library; and to diffuse information concerning those secret laws of Nature which were so familiar to the Chaldeans and Egyptians, but are totally unknown by our modern world of science.”

“Một phong trào trọng yếu vừa được khởi xướng ở New York, do Đại tá Henry S. Olcott dẫn đầu, là tổ chức một hội, sẽ được biết đến dưới tên Hội Thông Thiên Học. Đề nghị hoàn toàn là bộc phát, và được đưa ra vào tối mồng 7 vừa rồi, tại phòng khách của Madame Blavatsky, nơi một nhóm mười bảy quý ông quý bà tụ hội để gặp Ông George Henry Felt, người mà khám phá ra các hình vẽ hình học của Kabbala Ai Cập có thể xem như một trong những kỳ công đáng kinh ngạc nhất của trí tuệ con người. Nhóm này gồm nhiều người có học vấn uyên thâm và vài vị có ảnh hưởng cá nhân rộng rãi. Tổng biên tập của hai tờ báo tôn giáo; đồng biên tập của hai tạp chí văn học; một Tiến sĩ Luật Oxford; một học giả Do Thái đáng kính và một lữ hành có danh; một cây bút xã luận của một tờ nhật báo buổi sáng ở New York; Chủ tịch Hội Thần linh học New York; Ông C. C. Massey, một vị khách người Anh [luật sư đẳng cấp barrister]; Bà Emma Hardinge Britten và Bác sĩ Britten; hai luật sư New York bên cạnh Đại tá Olcott; một đối tác của một nhà xuất bản ở Philadelphia; một y sĩ nổi tiếng; và đáng kể nhất là chính Madame Blavatsky—là thính giả của Ông Felt.... Trong một quãng nghỉ tiện lợi của câu chuyện, Đại tá Olcott đứng lên, và sau khi phác qua tình hình hiện tại của phong trào Thần linh học; thái độ của những kẻ đối nghịch, tức phe Duy vật; cuộc xung đột không thể dập tắt giữa khoa học và các giáo phái tôn giáo; tính triết học của các hệ thần trí cổ và khả năng của chúng trong việc hòa giải mọi đối lập đang tồn tại; và kỳ tích hiển nhiên của Ông Felt khi trích xuất chiếc chìa khóa của kiến trúc Tự nhiên từ những mảnh vụn thưa thớt của minh triết cổ còn sót lại sau bàn tay phá hủy của các phần tử Hồi giáo và Ki-tô cuồng tín trong những thế kỷ đầu, ông đề nghị hình thành một hạt nhân, xung quanh đó có thể tụ hội tất cả những tâm hồn khai sáng và can đảm, những người sẵn lòng cùng làm việc để tập hợp và phổ truyền tri thức. Kế hoạch của ông là tổ chức một hội các nhà Huyền bí và bắt đầu ngay việc xây dựng một thư viện; và phổ biến thông tin liên quan đến những định luật bí ẩn của Tự nhiên vốn rất quen thuộc với người Chaldea và Ai Cập, nhưng hoàn toàn xa lạ với thế giới khoa học hiện đại của chúng ta.”

This being from an outside source and published within a few days of the meeting, is even more welcome than if official, as it shows conclusively what I had in mind when proposing the formation of our Society. It was to be a body for the collection and diffusion of knowledge; for occult research, and the study and dissemination of ancient philosophical and theosophical ideas: one of the first steps was to collect a library. The idea of Universal Brotherhood was not there, because the proposal for the Society sprang spontaneously out of the present topic of discussion. It was a plain, business-like affair, unaccompanied by phenomena or any unusual incident. Lastly, it was free of the least sectarian character and unquestionably anti-materialistic. The little group of founders were all of European blood, with no strong natural antagonism as to religions, and caste distinctions were to them non-existent. The Brotherhood plank in the Society’s future platform was, therefore, not thought of: later on, however, when our sphere of influence extended so as to bring us into relations with Asiatics and their religions and social systems, it became a necessity, and, in fact, the,corner-stone of our edifice. The Theosophical Society was an evolution, not—on the visible plane,--a planned creation.

Là một nguồn bên ngoài và được đăng chỉ trong vòng vài ngày sau buổi họp, bản tường thuật này thậm chí còn đáng hoan nghênh hơn cả biên bản chính thức, vì nó cho thấy một cách kết luận điều tôi đã nghĩ trong đầu khi đề xuất thành lập Hội của chúng ta. Đó sẽ là một tập thể để thu thập và phổ truyền tri thức; để nghiên cứu huyền bí, và học hỏi cùng như truyền bá các ý niệm triết học–thần trí cổ: một trong những bước đầu tiên là xây dựng một thư viện. Ý niệm về Tình Huynh đệ Đại đồng chưa có ở đó, vì đề xuất về Hội nảy sinh một cách tự phát từ chủ đề đang thảo luận. Đó là một việc thẳng thắn, giản dị, mang tính công việc, không kèm theo hiện tượng hay biến cố bất thường nào. Sau cùng, nó hoàn toàn không mang sắc thái giáo phái và chắc chắn chống duy vật. Nhóm nhỏ các nhà lập hội đều là người huyết thống châu Âu, không có sự đối kháng tự nhiên mạnh mẽ về tôn giáo, và phân biệt đẳng cấp đối với họ là không hiện hữu. Tấm ván Huynh đệ trong cương lĩnh tương lai của Hội, do đó, chưa được nghĩ đến: tuy nhiên, về sau, khi phạm vi ảnh hưởng của chúng ta mở rộng đến mức đưa chúng ta vào các mối liên hệ với người Á Đông và các tôn giáo cùng hệ thống xã hội của họ, nó trở thành một nhu cầu, và thực tế là viên đá góc của tòa nhà chúng ta. Hội Thông Thiên Học là một tiến trình tiến hóa, chứ—trên cõi hữu hình—không phải một sáng tạo có kế hoạch.

I have an official report of the meeting of September 8th, signed by myself, as Chairman, and W. Q. Judge, as Secretary, which I will quote from our Minute Book:

Tôi có một bản báo cáo chính thức về cuộc họp ngày 8 tháng Chín, do chính tôi ký tên, với tư cách Chủ tọa, và W. Q. Judge ký tên, với tư cách Thư ký, mà tôi sẽ trích từ Sổ Biên bản của chúng ta:

“In consequence of a proposal of Col. Henry S. Olcott, that a Society be formed for the study and elucidation of Occultism, the Cabbala, etc., the ladies and gentlemen then and there present, resolved themselves into a meeting, and, upon motion of Mr. William Q. Judge, it was

“Do một đề nghị của Đại tá Henry S. Olcott, rằng lập một Hội để nghiên cứu và minh giải Huyền bí học, Kabbala, v.v., các quý bà và quý ông đang hiện diện khi ấy liền tự tổ chức thành một cuộc họp, và, theo đề nghị của Ông William Q. Judge, đã

“Resolved, That Col. H. S. Olcott take the chair. Upon motion it was also

‘Nghị quyết rằng Đại tá H. S. Olcott đảm nhiệm ghế Chủ tọa.’ Theo đề nghị, cũng

“Resolved, That Mr. W.Q.Judge act as Secretary. The chair then called for the names of the persons present, who would agree to found and belong to a Society such as had been mentioned. The following persons handed their names to the Secretary:

‘Nghị quyết rằng Ông W. Q. Judge làm Thư ký.’ Chủ tọa sau đó yêu cầu ghi tên những người có mặt, những người sẽ đồng ý lập và thuộc về một Hội như đã nêu. Những người sau đây đã gửi tên cho Thư ký:

“Col. Olcott, Mme. H. P. Blavatsky, Chas. Sotheran, Dr. Chas. E. Simmons, H. D. Monachesi, C. C. Massey of London, W. L. Alden, G. H. Felt, D. E. de Lara, Dr. W. Britten, Mrs. E. H. Britten, Henry J. Newton, John Storer Cobb, J. Hyslop, W. Q. Judge, H. M. Stevens (all present save one).

‘Đại tá Olcott, Bà H. P. Blavatsky, Chas. Sotheran, Bác sĩ Chas. E. Simmons, H. D. Monachesi, C. C. Massey của London, W. L. Alden, G. H. Felt, D. E. de Lara, Bác sĩ W. Britten, Bà E. H. Britten, Henry J. Newton, John Storer Cobb, J. Hyslop, W. Q. Judge, H. M. Stevens (tất cả đều có mặt trừ một người).

“Upon motion of Herbert D. Monachesi, it was “Resolved, That a committee of three be appointed by the chair to draft a constitution and by-laws, and to report the same at the next meeting. Upon motion, it was

‘Theo đề nghị của Herbert D. Monachesi, đã “Nghị quyết rằng một Ủy ban gồm ba người được Chủ tọa bổ nhiệm để thảo ra một bản tuyên ngôn và nội quy, và trình báo cáo tại cuộc họp kế tiếp.” Theo đề nghị, đã

“Resolved, That the chair be added to the Committee.

‘Nghị quyết rằng Chủ tọa được bổ sung vào Ủy ban.

“The chair then appointed Messrs. H. J. Newton, H. M. Stevens, and C. Sotheran to be such Committee.

‘Sau đó Chủ tọa bổ nhiệm các ông H. J. Newton, H. M. Stevens, và C. Sotheran làm Ủy ban ấy.

“Upon motion, it was

‘Theo đề nghị, đã

“Resolved, That we now adjourn until Monday, September 13th, at the same place, at 8 P.M.”

‘Nghị quyết rằng chúng ta nay hoãn lại đến thứ Hai, ngày 13 tháng Chín, tại cùng địa điểm, lúc 8 giờ tối.’”

The Society, then, had sixteen formers—to use the most apposite term--not founders; for the stable founding was a result of hard work and self-sacrifice, of years, and during a part of that time H.P.B. and I worked quite alone in the trenches, laying the strong foundation. Our colleagues either went out entirely, or became list-less, or were prevented by force of circumstances from devoting their time and efforts to the work. But I must not anticipate.

Như vậy, Hội có mười sáu người hình thành—nói dùng đúng từ hơn—chứ không phải những nhà sáng lập; vì sự kiến lập vững bền là kết quả của lao động cật lực và tự hy sinh, qua nhiều năm, và trong một phần thời gian ấy H. P. B. và tôi đã làm việc hầu như đơn độc trong chiến hào, đặt nền móng kiên cố. Các cộng sự của chúng tôi hoặc rời đi hẳn, hoặc trở nên uể oải, hoặc bị hoàn cảnh khắc nghiệt ngăn trở không thể dành thời gian và công sức cho công việc. Nhưng tôi không nên đi trước câu chuyện.

When this portion of my narrative appeared in the Theosophist (November, 1892), sketches were given of several of the officers of the Society, to which the interested reader is referred; the superabundance of material for the present volume compelling me to condense so far as practicable. I shall, however, preserve my note on Mr. Alden for the sake of the story of one of his occult experiences.Mr. W. L. Alden, now so well known in London literary circles, was then an editorial writer on the N. Y. Times, of great repute for his caustic and humoristic criticisms upon current topics. I met him in Paris recently, after many years of separation, and learnt that he had been holding an important consular appointment under the American Government. He had an amusing adventure in New York, I recollect, at about the beginning of our acquaintance. He was then an editorial contributor to the N. Y. Daily Graphic, and I was writing for the paper my Chittenden letters. A host of eccentric people were attracted to the editorial rooms to ask idle questions, and they bored the editor, Mr. Croly, so much that at last he published a cartoon, representing himself standing at bay, with a revolver and huge pair of shears, to defend himself against an irruption of, “long-haired men and crop-haired women” Spiritualists. But one morning there came an aged man in Eastern garb, who carried a strange-looking, evidently very old book under his arm. Saluting the editorial staff with grave courtesy, he began talking about my letters, and about Western and Eastern Spiritualism. All left their writing-tables and clustered about him. When he spoke of Magic he turned quietly towards Alden, whose occult tastes nobody had until then suspected, and said: “Do you believe there is truth in Magic, Sir?” Taken aback, Alden replied: “Well, I have read Zanoni and think there may be something in it.” By request, the stranger showed his queer book to the editors. It proved to be a treatise upon Magic, written in Arabic or some other Eastern tongue, with numerous illustrations interspersed with the text. All were very much interested, Alden especially, who, at parting, asked the old gentleman if he might have some further talk with him. The latter smilingly assented, and gave him an address at which to call. When Alden went there, however, it proved to be a Roman Catholic image and book-shop; my friend found himself tricked and ever after, for months, fruitlessly kept a sharp eye upon the people he met, in the hope that he might once more set the mysterious Asiatic. I was told by Mr. Croly that the man never revisited the Graphic office; it was as if the earth had swallowed him. This unexpected appearance and sudden disappearance of mysterious people who bring rare books to the right man, or who impart useful hints that put him on the right path through the swamp of difficulties through which he is bravely floundering towards the truth, is not an uncommon experience. Many a case of the kind has been recorded in religious history. Sometimes the visit is made during the waking hours, sometimes in visions of the night. The revelations sometimes come in “flashes”—flashes of the buddhi in upon the manas—begetting great discoveries in science; as the idea of the spectroscope flashed in upon the mind of Fraunhöfer, that of the nature of lightning upon Franklin’s, that of the telephone upon that of Edison, and that of ten thousand other great facts or laws upon other minds open to suggestion. It would be deemed exaggeration to say that every aspirant to arcane knowledge has his chance to get it, once in his lifetime, yet it is true, I believe, that the percentage of those who have is a hundredfold greater than people imagine. It is the individual’s misfortune if, through ignorant misconceptions as to how such a messenger should look, or with what phenomenal portents his message should be delivered, he “entertains an angel unawares” or elbows him in the street without feeling even a tremor to divert his attention from a passing cab. I speak of that which I know.

Khi phần này của tường thuật xuất hiện trên tờ The Theosophist (tháng Mười Một, 1892), các phác thảo về vài viên chức của Hội đã được giới thiệu, và độc giả quan tâm có thể tham khảo; sự quá dồi dào tư liệu cho tập sách hiện tại buộc tôi phải cô đọng trong chừng mực có thể. Tuy nhiên, tôi sẽ giữ lại ghi chú về Ông Alden vì câu chuyện về một trải nghiệm huyền bí của ông. Ông W. L. Alden, nay rất quen biết trong giới văn chương London, khi ấy là một cây bút xã luận trên tờ N. Y. Times, nổi danh vì những phê bình chua cay và hóm hỉnh về các đề tài thời sự. Tôi gặp ông ở Paris mới đây, sau nhiều năm xa cách, và được biết ông từng giữ một chức vụ lãnh sự quan trọng dưới Chính phủ Mỹ. Ông từng gặp một cuộc phiêu lưu khôi hài ở New York, tôi nhớ, vào khoảng lúc bắt đầu mối quen biết giữa chúng tôi. Khi ấy ông cộng tác viết xã luận cho tờ N. Y. Daily Graphic, và tôi thì đang viết cho tờ báo này các thư từ từ Chittenden. Một đám người kỳ dị kéo đến phòng biên tập để hỏi những câu hỏi vớ vẩn, khiến vị tổng biên tập, Ông Croly, bực mình đến mức rốt cuộc ông đăng một bức biếm họa mô tả chính mình đang cùng đường, tay cầm súng lục và một cây kéo khổng lồ, để tự vệ trước một cuộc tràn vào của những nhà Thần linh học “đàn ông tóc dài và phụ nữ tóc cắt ngắn.” Nhưng một buổi sáng nọ, có một cụ già trong y phục Đông phương đến, tay kẹp dưới nách một cuốn sách trông kỳ lạ, rõ ràng rất cổ. Chào ban biên tập bằng sự nhã nhặn nghiêm trang, ông bắt đầu nói về các bức thư của tôi, và về Thần linh học Tây phương lẫn Đông phương. Tất cả rời bàn viết và quây quanh ông. Khi nói đến Huyền thuật, ông lặng lẽ quay về phía Alden—người mà sở thích huyền bí không ai đoán biết trước đó—và nói: “Thưa ông, ông có tin Huyền thuật là có thật không?” Bị bất ngờ, Alden đáp: “À, tôi đã đọc Zanoni và nghĩ rằng có lẽ có gì đó trong ấy.” Theo lời đề nghị, người khách lạ đưa cuốn sách kỳ lạ cho các biên tập viên xem. Hóa ra đó là một chuyên luận về Huyền thuật, viết bằng tiếng Ả Rập hay một thứ tiếng Đông phương khác, với rất nhiều minh họa đan xen văn bản. Tất cả đều rất quan tâm, nhất là Alden, người, khi chia tay, đã hỏi cụ ông rằng liệu ông có thể trò chuyện thêm với ông cụ được chăng. Cụ mỉm cười ưng thuận, và cho ông một địa chỉ để đến thăm. Nhưng khi Alden đến nơi, đó hóa ra là một tiệm bán tượng thánh và sách Công giáo La Mã; bạn tôi nhận ra mình bị đánh lừa và từ đó, suốt nhiều tháng, để mắt rất tinh đến người qua kẻ lại với hy vọng có thể một lần nữa bắt gặp người Á châu huyền bí ấy. Ông Croly nói với tôi rằng người đàn ông ấy không bao giờ trở lại văn phòng của tờ Graphic; như thể đất đã nuốt chửng ông ta. Việc những người kỳ bí xuất hiện bất ngờ và biến mất đột ngột như vậy, mang đến những cuốn sách hiếm cho đúng người, hoặc truyền những gợi ý hữu ích giúp người ấy tìm được lối băng qua đầm lầy chướng ngại đang can đảm lội bùn tiến tới chân lý, không phải là kinh nghiệm hiếm hoi. Lịch sử tôn giáo đã ghi chép không ít trường hợp như thế. Đôi khi cuộc viếng thăm diễn ra lúc thức, đôi khi trong mộng tượng ban đêm. Những sự mặc khải đôi khi đến trong “những tia lóe”—những tia lóe của Bồ đề chiếu vào manas—sinh ra những khám phá lớn trong khoa học; như ý tưởng về quang phổ kế lóe vào tâm trí Fraunhöfer, về bản chất của sét lóe vào Franklin, về điện thoại lóe vào Edison, và về mười ngàn sự kiện hay định luật vĩ đại khác lóe vào những trí óc rộng mở trước gợi ý. Có thể sẽ bị xem là cường điệu nếu nói rằng mọi người chí nguyện tri thức huyền môn đều có cơ hội đón nhận nó, ít nhất một lần trong đời, tuy vậy tôi tin rằng tỷ lệ những người thực sự có cơ hội ấy cao gấp trăm lần so với sự tưởng tượng của người đời. Đó là bất hạnh của cá nhân nếu, do những ngộ nhận vô minh về ngoại hình của sứ giả hay về những điềm lạ phải đi kèm khi thông điệp được trao, người ấy “đãi thiên sứ mà chẳng hay” hoặc chạm khuỷu với vị ấy giữa đường mà chẳng hề có một cơn rúng động nào khiến mình ngoái lại khỏi một chiếc xe ngựa đang đi ngang. Tôi nói điều tôi biết.

CHAPTER IX—CHƯƠNG IX

FORMATION OF THE THEOSOPHICAL SOCIETY—THÀNH LẬP HỘI THÔNG THIÊN HỌC

AT the adjourned meeting, on the evening of September 18th, 1875, Mr. Felt continued from the previous meeting, September 8th, the interesting description of his discoveries, which he illustrated by a number of colored diagrams. Some persons present thought they saw light quivering over the geometrical figures, but I incline to the belief that this was due to auto-suggestion, in part, and partly to what Felt said about their magical properties.1 Certainly, I saw

Tại cuộc họp hoãn lại, vào tối 18 tháng Chín, 1875, Ông Felt tiếp tục từ cuộc họp trước, ngày 8 tháng Chín, bản mô tả thú vị về các khám phá của mình, mà ông minh họa bằng một số sơ đồ màu. Vài người có mặt nói họ thấy ánh sáng rung nhẹ trên các hình vẽ hình học, nhưng tôi thiên về tin rằng đó phần nào do ám thị tự thân, và phần nào do những gì Felt nói về các tính chất huyền thuật của chúng.1 Chắc chắn là tôi đã thấy

1The following important draft of a letter signed by Mr. Felt was found by me a short time after this chapter was written. I cannot remember whether the letter was sent for publication or not, but incline to the latter opinion. The importance of the document lies in the fact that in it, Mr. Felt unreservedly affirms the existence of elemental spirits, his acquired control over them, their effect upon animals and their relations with humanity. I think the statements as to the influence of the Egyptian geometrical drawings upon Mr. Felt’s hearers exaggerated. The would-be teachers who did not come to learn, as Mr. Felt describes them, were the Spiritualist members whose orthodoxy was unshakable.

1Bản thảo quan trọng sau đây của một bức thư do Ông Felt ký tên được tôi tìm thấy ít lâu sau khi chương này được viết xong. Tôi không nhớ bức thư có được gửi đăng báo hay không, nhưng thiên về ý kiến là không. Tầm quan trọng của tài liệu nằm ở chỗ trong đó, Ông Felt khẳng khái xác nhận sự hiện hữu của các tinh linh hành khí, sự kiểm soát mà ông đạt được đối với họ, ảnh hưởng của họ lên loài vật và mối liên hệ của họ với nhân loại. Tôi cho rằng các phát biểu về ảnh hưởng của các hình vẽ hình học Ai Cập lên thính giả của Ông Felt bị phóng đại. Những “kẻ muốn dạy mà không đến để học”, như Ông Felt mô tả, chính là các hội viên Thần linh học có chính thống bất lay chuyển.

NEW YORK, June 19, 1878.

NEW YORK, ngày 19 tháng Sáu, 1878.

TO THE EDITOR OF THE “LONDON SPIRITUALIST.”

GỬI CHỦ BÚT TỜ “LONDON SPIRITUALIST.”

My attention has but just now been called to certain articles, published in your city, and one of them in your paper, which reflect nothing of an occult nature nor did the others present, save a very inconsiderable minority. The lecture finished, the order of the day was taken up; I acting as upon statements made by friends of mine, respecting the “Theosophical Society” and myself. One or more of the writers question whether such a person as myself actually exists, or is but “the creation of the brains of Mme. Blavatsky and others.” Having very little in common with the public which supports your paper, I seldom see it, and would perhaps never have known of these statements, if they had not been pointed out to me. I am engaged in mathematical pursuits, and take little or no interest in anything that cannot be exactly demonstrated, for which reason Spiritualists and myself have very few bonds of sympathy. I have so little faith in their so-called manifestations that I have long since given up trying to keep track of them.

Sự chú ý của tôi chỉ vừa được thu hút bởi một số bài báo đăng tại thành phố của ông, và một bài trong số đó trên tờ báo của ông, những bài này phản ánh không điều gì mang tính huyền bí và những người khác cũng không hiện diện, ngoại trừ một thiểu số rất không đáng kể. Bài thuyết giảng kết thúc, chương trình nghị sự trong ngày được đưa ra; tôi đảm nhiệm vai trò căn cứ trên các phát biểu do bạn hữu của tôi nêu về “Hội Thông Thiên Học” và về cá nhân tôi. Một hay nhiều tác giả bài báo đặt câu hỏi rằng liệu có thực sự tồn tại một người như tôi, hay tôi chỉ là “sản phẩm của trí não Madame Blavatsky và những người khác.” Vì ít có điểm chung với công chúng độc giả của tờ báo ông, tôi hiếm khi xem nó, và có lẽ đã chẳng bao giờ biết các phát biểu này nếu không ai chỉ cho tôi. Tôi bận rộn với các nghiên cứu toán học, và ít hay không quan tâm đến bất kỳ điều gì không thể chứng minh chính xác, vì lý do đó giữa tôi và các nhà Thần linh học rất ít mối dây đồng cảm. Tôi có quá ít niềm tin vào những cái gọi là hiện tượng của họ đến mức tôi đã lâu thôi không cố gắng theo dõi chúng.

The Theosophical Society was started under the mistaken impression that a fraternity of that kind could be run on the modern mutual admiration plan for the benefit of the newspapers, but very soon everything was in confusion. There were no degrees of membership nor grades, but all were equal. Most members apparently came to teach, rather than to learn, and their views were thoroughly ventilated on the street corners. The propriety of making different degrees was at once apparent to the real Theosophists, and the absolute necessity of forming the Society into a secret body. This reorganization into a secret society, embracing different degrees, having been accomplished, all statements of what has transpired since the members were so bound in secrecy, are of course to be viewed with suspicion, as, even if such statements were true, things may have been done in the presence of the illuminati, of which many ex-members and novitiates had no knowledge. Of my own acts in and out of the society, before this bond of secrecy, I am at liberty to speak, but of my doings or the doings of others since that time, I have no right to give evidence. Mr. Olcott’s statement about my experiments with elemental or elementary spirits, in his inaugural address, was made without consultation with me or my consent, and was not known to me until too long after its appearance for me to protest. Although substantially true, I looked upon it as premature, and as something that should have been kept within the knowledge of the Society.

Hội Thông Thiên Học được khởi động dưới một ngộ nhận rằng một huynh đoàn như thế có thể vận hành theo kiểu hiện đại “cùng nhau tán dương” để làm lợi cho báo chí, nhưng chẳng bao lâu mọi thứ rối beng. Không có đẳng cấp hội viên hay bậc cấp, tất cả bình đẳng. Phần lớn hội viên dường như đến để dạy hơn là để học, và quan điểm của họ được phô bày thấu đáo ở các góc phố. Nhu cầu làm các đẳng cấp khác nhau lập tức hiển hiện trước các nhà Thông Thiên chân chính, và sự kiện tuyệt đối cần thiết là tổ chức Hội thành một hội kín. Cuộc tái tổ chức thành hội kín, bao gồm các đẳng cấp khác nhau, đã được thực hiện, mọi phát biểu về những gì diễn ra kể từ khi hội viên bị ràng buộc bởi lời thệ bí mật, dĩ nhiên phải bị xem với thái độ nghi ngờ, vì, cho dù các phát biểu ấy là thật, nhiều điều có thể đã được thực hiện trước mặt những người được khai minh, mà nhiều cựu hội viên và người mới nhập môn hoàn toàn không hay biết. Về những hành động của riêng tôi trong và ngoài Hội, trước lời thệ bí mật, tôi có quyền đề cập, nhưng về việc làm của tôi hay của người khác kể từ lúc ấy, tôi không có quyền đưa bằng chứng. Lời phát biểu của Ông Olcott về các thí nghiệm của tôi với các tinh linh hành khí hay sơ cấp, trong bài diễn văn khai mạc, đã được đưa ra mà không hỏi ý kiến hay được tôi đồng thuận, và tôi đã chẳng biết gì cho đến khi quá lâu sau khi nó xuất hiện nên tôi không thể kháng nghị. Dù về đại thể là đúng, tôi xem nó là quá sớm, và là điều nên giữ trong phạm vi tri thức của Hội.

That these so-called elementals or intermediates, or elementary Chairman, and Mr. C. Sotheran as Secretary, The Minute Books says:

Rằng những cái gọi là hành khí hay các trung gian, hoặc sơ đẳng, Chủ tịch, và Ông C. Sotheran là Thư ký, Sổ Biên Bản ghi:

“The Committee on Preamble and By-laws reported or original spirits were creatures that actually existed, I was convinced through my investigations in Egyptian archæology. While working at drawings of several Egyptian Zodiacs, in the endeavour to arrive at their mathematical correspondences, I had noticed that very curious and unaccountable effects were sometimes produced. My family observed that at certain times a pet terrier dog and a Maltese cat, which had been brought up together and were in the habit of frequenting my study and sleeping on the foot of my bed, were acting very strangely, and at last called my attention to it. I then noticed that when I commenced certain investigations the cat would first appear to be uneasy and the dog for a short time would try to quiet him, but shortly the dog would also seem to be in dread of something happening. It was as though the perceptions of the cat were more acute, and they would both then insist on being let out of the room, trying to get out themselves, by running against the glass windows. Being released they would stop outside and mew and bark as though calling to me to come out. This behaviour was repeated until I was forced to the conclusion at last that they were susceptible to influences not perceptible to me.

“Ủy ban về Lời Mở đầu và Điều lệ báo cáo rằng các linh hồn nguyên thủy vốn là những sinh thể thực sự tồn tại, tôi đã được thuyết phục qua những cuộc khảo cứu của mình về khảo cổ học Ai Cập. Khi đang làm việc với các bản vẽ của vài Hoàng đạo Ai Cập, trong nỗ lực tìm ra sự tương ứng toán học của chúng, tôi đã nhận thấy đôi khi có những hiệu ứng rất kỳ lạ và không thể giải thích được xuất hiện. Gia đình tôi nhận xét rằng vào những thời điểm nhất định, một con chó săn nhỏ cưng và một con mèo Malta, vốn đã được nuôi chung từ nhỏ và thường lui tới phòng làm việc của tôi cũng như ngủ dưới chân giường tôi, đã có những hành vi rất kỳ lạ, và cuối cùng đã gọi sự chú ý của tôi đến điều đó. Tôi liền nhận thấy rằng khi tôi bắt đầu một số khảo cứu nhất định, con mèo thoạt tiên tỏ ra bồn chồn và con chó trong một lúc thì cố gắng dỗ dành nó, nhưng chẳng bao lâu sau con chó cũng dường như sợ hãi điều gì đó sắp xảy ra. Như thể các cảm nhận của con mèo tinh nhạy hơn, và cả hai sau đó đều khăng khăng đòi được thả ra khỏi phòng, tự tìm cách thoát ra bằng cách chạy đâm vào các khung kính cửa sổ. Khi được thả ra, chúng sẽ dừng lại bên ngoài và kêu meo meo và sủa như thể gọi tôi đi ra. Hành vi này cứ lặp lại cho đến khi cuối cùng tôi buộc phải đi đến kết luận rằng chúng nhạy cảm với những ảnh hưởng mà tôi không thể cảm nhận được.”

I supposed at first that the hideous representations on the Zodiacs, etc., were “vain imaginations of a distempered brain,” but afterwards thought that they were conventional representations of natural objects. After studying these effects on the animals, I reflected that as the spectrum gives rays, which though to our unaided sight invisible, had been declared by eminent scientists to be capable of sup-porting another creation than the one to us objective, and that this creation would probably also be invisible (Zöllner’s theory), this phenomenon was one of its manifestations. As these invisible rays could be made apparent by chemical means, and as invisible chemical images could be reproduced, I commenced a series of experiments to see if this invisible creation or the influences exerted by it would be thereby affected. I then began to understand and appreciate many things in my Egyptian researches that had been incomprehensible before. As a result I have become satisfied that these zodiacal and other drawings are representations of types in this invisible creation progress, and Mr. De Lara read a paper which he had been requested to write for the Committee.

Ban đầu tôi cho rằng những hình vẽ ghê rợn trên các Hoàng đạo đồ, v.v., là “những ảo tưởng của một bộ não rối loạn”, nhưng về sau lại cho rằng đó là những hình tượng ước lệ của các đối tượng tự nhiên. Sau khi khảo sát những ảnh hưởng ấy trên loài vật, tôi suy tư rằng vì quang phổ cho những tia, tuy vô hình với mắt thường của chúng ta, nhưng đã được các nhà khoa học danh tiếng tuyên bố là có thể nâng đỡ một tạo hóa khác với tạo hóa khách quan đối với chúng ta, và rằng tạo hóa ấy rất có thể cũng vô hình (thuyết của Zöllner), thì hiện tượng này là một biểu lộ của nó. Vì các tia vô hình có thể được làm hiển hiện bằng phương tiện hóa học, và vì các ảnh tượng hóa học vô hình có thể được tái tạo, tôi bắt đầu một loạt thí nghiệm để xem liệu tạo hóa vô hình này hay các ảnh hưởng do nó phát ra có bị tác động bởi thế hay không. Khi ấy tôi bắt đầu hiểu và đánh giá được nhiều điều trong các khảo cứu Ai Cập học của tôi mà trước đó bất khả lĩnh hội. Hệ quả là tôi đã thỏa mãn rằng các hoàng đạo đồ và những bản vẽ khác này là sự mô tả các kiểu loại trong tạo hóa vô hình này ở giai đoạn tiến hóa và Ông De Lara đọc một bài viết, vốn được yêu cầu viết cho Ủy ban.

“At the suggestion of the Committee it was, upon motion, delineated in a more or less precise manner, and interspersed with images of natural objects more or less conventionally drawn. I discovered that these appearances were intelligences, and that while some seemed to be malevolent and dreaded by the animals, others on the contrary were not obnoxious to them, but on the contrary they seemed to like them and to be satisfied when they were about.

“Theo đề nghị của Ủy ban, theo kiến nghị, Chủ tọa và Ông C. Sotheran làm Thư ký, Sổ Biên bản ghi rằng: “Ủy ban về Lời nói đầu và Nội quy đã báo cáo hay sơ khởi các linh ảnh là những trí linh, và rằng trong khi một số dường như là ác ý và làm loài vật khiếp sợ, thì số khác, ngược lại, không gây khó chịu cho chúng, trái lại chúng có vẻ ưa thích và an tâm khi những trí linh ấy ở gần.

I was led to believe that they formed a series of creatures in a system of evolution running from inanimate nature through the animal kingdom to man, its highest development; that there were intelligences capable of being more or less perfectly controlled, as man was more or less thoroughly acquainted with them, as he was able to impress them as being higher or lower in the scale of creation, or as he was more or less in harmony with nature or nature’s works. Recent researches showing that plants possess senses in greater or less perfection, having convinced me that this system can be still further extended. Purity of mind and body, I found to be very powerful, and smoking and chewing tobacco and other filthy habits, I observed to be especially distasteful to them.

Tôi được dẫn tới niềm tin rằng chúng tạo thành một chuỗi các hữu thể trong một hệ tiến hóa, chạy từ tự nhiên vô sinh qua giới động vật đến con người là phát triển cao nhất; rằng có những trí linh có thể được kiểm soát ở mức độ nhiều hoặc ít, tùy theo con người biết về chúng nhiều hay ít, tùy theo con người có thể gây ấn tượng với chúng rằng mình ở cao hay thấp hơn trên nấc thang tạo hóa, hoặc tùy theo con người hòa điệu với Tự nhiên hay các công trình của Tự nhiên nhiều hay ít. Các nghiên cứu gần đây cho thấy thực vật có các giác quan, ở mức độ này hay khác, đã khiến tôi xác tín rằng hệ thống này còn có thể được mở rộng thêm. Sự thanh khiết của tâm và thân, tôi thấy, có sức mạnh rất lớn, và việc hút, nhai thuốc lá cùng các thói quen dơ bẩn khác, theo quan sát của tôi, đặc biệt khiến chúng ghê tởm.”

I satisfied myself that the Egyptians had used these appearances in their initiations; in fact, I think I have established this beyond question. My original idea was to introduce into the Masonic fraternity a form of initiations such as prevailed among the ancient Egyptians, and tried to do so, but finding that only men pure in mind and body could control these appearances, I decided that I would have to find others than my whisky-soaked and tobacco-sodden countrymen, living in an atmosphere of fraud and trickery, to act in that direction. I found that when these appearances, or elementals could not be kept in perfect control, they grew malicious, and despising men whom their cunning taught them must be debased, they became dangerous, and capable of inflicting damage and harm.

Tôi tự mình xác quyết rằng người Ai Cập xưa đã dùng những sự xuất hiện này trong các lễ điểm đạo của họ; thực vậy, tôi nghĩ mình đã chứng minh điều này vượt khỏi mọi ngờ vực. Ý tưởng ban đầu của tôi là đưa vào Huynh đệ Tam Điểm một hình thức điểm đạo như đã thịnh hành nơi người Ai Cập cổ, và tôi đã cố gắng làm thế; nhưng khi thấy rằng chỉ những người thanh sạch cả trí lẫn thân mới có thể chế ngự được những sự xuất hiện này, tôi quyết định rằng tôi sẽ phải tìm những người khác chứ không phải các đồng bào đắm say rượu whisky và vùi trong khói thuốc, sống trong bầu không khí lừa đảo và bịp bợm, để hành động theo hướng đó. Tôi nhận thấy rằng khi những sự xuất hiện này, hay các hành khí, không thể được giữ trong sự kiểm soát hoàn toàn, chúng trở nên hiểm độc, và khinh miệt những người mà mưu mẹo của chúng mách bảo rằng hẳn đã bị sa đọa, chúng trở thành nguy hiểm, có khả năng gây tổn thất và tai hại.

With one of the members of the Society, a legal gentleman of a mathematical turn of mind, I accomplished the following, after the manner of Cornelius Agrippa, who claimed for himself and Trithemus, that “at a great distance, it is possible without any doubt to “Resolved, That the name of the Society be ‘The Theosophical Society.’

Với một trong những hội viên của Hội, một vị luật sư có khuynh hướng toán học, tôi đã thực hiện được điều sau đây, theo cách của Cornelius Agrippa, người vốn tuyên bố cho chính mình và Trithemus rằng “ở một khoảng cách rất xa, hoàn toàn có thể mà không chút nghi ngờ nào…”. “Quyết nghị rằng tên của Hội sẽ là ‘Hội Thông Thiên Học.’”

“The chair appointed the Rev. Mr. Wiggin and Mr. Sotheran a Committee to select suitable meeting rooms; influence another person spiritually, even when their position and the distance is unknown.” De Occulta Phil.—lib. III., p. 3., Several times, just before meeting me, he observed a bright light; and at last came to connect this light with my coming and questioned me about it. I told him to notice the hour and minute at which these lights would be seen, and when I met him afterwards I would tell him the exact time. I did this 30 or 40 times before his naturally sceptical mind was thoroughly convinced. These lights appeared to him at different times of the day, wherever he happened to be, in New York or Brooklyn, and we arranged that, in each case, about two hours from that time I should meet at his office.

“Chủ tọa đã chỉ định Mục sư Wiggin và Ông Sotheran vào một Ủy ban để chọn những phòng họp thích hợp; ảnh hưởng đến một người khác về mặt tinh thần, ngay cả khi vị trí và khoảng cách của người ấy là không biết.” *De Occulta Phil.—lib. III., tr. 3.* Nhiều lần, ngay trước khi gặp tôi, ông nhận thấy một ánh sáng chói lòa; và cuối cùng đã liên hệ ánh sáng này với sự xuất hiện của tôi và hỏi tôi về điều đó. Tôi bảo ông hãy ghi nhớ giờ và phút mà những ánh sáng này xuất hiện, và khi tôi gặp ông sau đó tôi sẽ cho ông biết chính xác thời điểm ấy. Tôi đã làm như vậy 30 hay 40 lần trước khi tâm trí vốn hoài nghi tự nhiên của ông được hoàn toàn thuyết phục. Những ánh sáng này xuất hiện với ông vào những thời điểm khác nhau trong ngày, bất kể ông đang ở đâu, ở New York hay Brooklyn, và chúng tôi đã sắp xếp rằng, trong mỗi trường hợp, khoảng hai tiếng sau thời điểm đó tôi sẽ gặp ông tại văn phòng của ông.

These phenomena differ essentially from any mesmeric, magnetic, or so-called spiritual manifestations that I am acquainted with, and are not referable thereto; this gentleman has never been influenced by me in either of these ways.

Những hiện tượng này khác về bản chất so với bất kỳ dấu lộ mang tính thôi miên, từ tính, hoặc cái gọi là hiện tượng thần linh nào mà tôi từng biết, và không thể quy về các loại ấy; vị gentleman này chưa từng bị tôi ảnh hưởng theo bất cứ cách nào trong hai lối nói trên.

Once he came to my house, in the suburbs of this city, and examined some Kabbalistic drawings upon which I was working, with one of which he was much impressed. After leaving he saw, in bright day-light, in the cars, an appearance of a curious kind of animal, of which he then made a sketch from memory. He was so impressed with the circumstance and the vividness of the apparition, that he went at once to one of the illuminati of the Society, and showed his drawing. He was informed that though apparently an ideal figure, it was really a so-called elemental spirit which was represented by the Egyptians as next in the order of progression to a certain reptile, which was the figure he had seen at my house, and that it was employed by the Egyptians making their Zodiacs, at initiations, etc., etc. He then returned to me, and without comment I showed him a drawing of the very figure seen by him, whereupon he told me that he had seen it and under what circumstances and produced his sketch. He was then convinced that I foresaw that he would see this appearance after having been impressed by my Kabbalistic drawing.and then several new members were nominated and, upon motion, it was

Có lần ông đến nhà tôi, ở ngoại ô thành phố, và xem xét vài bức họa Kabbalah mà tôi đang làm việc; một bức đã gây ấn tượng mạnh nơi ông. Sau khi rời đi, ông thấy, giữa ban ngày sáng sủa, trên toa xe, một sự xuất hiện của một loài thú kỳ lạ, và từ ký ức ông bèn phác họa lại. Ông bị ấn tượng mạnh mẽ bởi tình huống và tính sống động của bóng hiện, đến mức lập tức đến gặp một vị trong hàng khai minh của Hội và cho xem bức phác. Ông được cho hay rằng dù bề ngoài là một hình tượng lý tưởng, thì thực ra đó là một tinh linh hành khí, vốn được người Ai Cập biểu trưng như tiếp liền theo thứ tự tiến hóa sau một loài bò sát nào đó, chính là hình tượng mà ông đã thấy tại nhà tôi; và rằng nó được người Ai Cập sử dụng khi làm các vòng Hoàng đạo, trong các lễ điểm đạo, v.v. Rồi ông trở lại gặp tôi, và không bình luận, tôi cho ông xem một bức vẽ đúng hình tượng mà ông đã thấy; khi ấy ông kể rằng mình đã thấy nó trong hoàn cảnh nào và đưa bức phác ra. Ông liền xác tín rằng tôi đã thấy trước việc ông sẽ thấy sự xuất hiện này sau khi bị bức họa Kabbalah của tôi gây ấn tượng.

“Resolved, That these persons be added to the list of founders.”

“Quyết nghị, rằng những người này được bổ sung vào danh sách sáng lập viên.””

These phenomena are clearly not referable to any familiar form of manifestations.

Những hiện tượng này rõ ràng không thể quy vào dạng quen thuộc nào của các biểu lộ.

At one of my lectures before the Theosophical Society, at which all degrees of members were present, lights were seen by the illuminati passing to and from one of my drawings, although they stood in the glare of several gas lights, a dark cloud was observed to settle upon it by others, and other phenomena, such as the apparent change of the Zodiacal figures into other forms or elemental representations, were observed.

Tại một buổi diễn thuyết của tôi trước Hội Thông Thiên Học, có đủ mọi cấp bậc hội viên hiện diện, các tia sáng được những bậc khai minh thấy là đi đến và đi khỏi một trong những bức vẽ của tôi, dù họ đang đứng dưới ánh đèn gas rực rỡ; một đám mây tối được người khác thấy phủ xuống bức vẽ; và các hiện tượng khác, như sự chuyển hóa bề ngoài của các hình tượng Hoàng đạo thành những hình tướng khác hoặc các biểu trưng hành khí, cũng được quan sát.

Certain members of lower degree were impressed with a feeling of dread, as though something awful were about to happen; most of the probationers were rendered uncomfortable or uneasy; some became hypercritical and abusive; several of the novitiates left the room; and Mme. Blavatsky, who had seen unpleasant effects follow somewhat similar phenomena in the East, requested me to turn the drawings and change the subject. If there had previously been any doubt, the absolute necessity of forming the society into degrees was then apparent, and I have never since met others than the illuminati of the society, with similar manifestations.

Một số hội viên cấp thấp cảm thấy một nỗi kinh sợ, như thể có điều kinh khủng sắp xảy đến; phần lớn những người dự bị trở nên khó ở hoặc bồn chồn; một số trở nên quá khích và thóa mạ; vài tân hội viên rời phòng; và Bà Blavatsky, người đã thấy các hệ quả khó chịu theo sau những hiện tượng ít nhiều tương tự ở phương Đông, yêu cầu tôi lật úp các bức vẽ và đổi đề tài. Nếu trước đó còn chút hoài nghi nào, thì sự cần thiết tuyệt đối phải tổ chức Hội theo cấp bậc lúc ấy đã quá rõ ràng, và từ đó tôi không còn gặp ai khác ngoài những bậc khai minh của Hội với những hiện lộ tương tự.

The unfriendly tone of the article above referred to was entirely uncalled for, and there was no boasting on the part of any of the members in their remarks. Being a secret society we could not in any manner retaliate until permission to do so was given. Having now received permission, I here publicly state that I have lately performed what I agreed to do, and, unless the Council forbids, I hereby give permission to such of the illuminati as have seen it, to come forward, if they choose and bear evidence of the fact.

Giọng điệu bất thân thiện của bài báo nói ở trên hoàn toàn vô cớ, và chẳng có sự khoe khoang nào từ phía bất cứ hội viên nào trong lời phát biểu của họ. Là một hội kín, chúng tôi không thể đáp trả bằng bất kỳ cách nào cho đến khi được phép. Nay đã nhận được phép, tôi xin công khai nói rằng gần đây tôi đã làm điều mình đã hứa, và, trừ khi Hội đồng cấm, tôi cho phép các bậc khai minh nào đã chứng kiến thì, nếu họ muốn, hãy bước ra và làm chứng cho sự kiện.

I do not know if you will think this worth the space it will occupy in your columns, but think that it is but just, after keeping an abso1ute silence for more than two years, I should now be heard in this matter. Modern Spiritualism need not weep with Alexander, for there is another world for it to discover and conquer.

Tôi không biết quý vị có cho rằng việc này đáng chiếm chỗ trên cột báo của quý vị hay không, nhưng tôi nghĩ công bằng là sau khi giữ im lặng tuyệt đối hơn hai năm, giờ đây tôi nên được lắng nghe trong việc này. Thần linh học hiện đại không cần khóc than cùng Alexander, vì vẫn còn một thế giới khác cho nó khám phá và chinh phục.

After which the meeting adjourned, subject to the call of the chair. The report is signed by me as Chairman and by Dr. John Storer Cobb, for C. Sotheran, Secretary.

Sau đó phiên họp bế mạc, tùy theo lời mời của chủ tọa. Báo cáo do tôi ký với tư cách Chủ tọa và do Bác sĩ John Storer Cobb ký thay cho C. Sotheran, Thư ký.

The choice of a name for the Society was, of course, a question for grave discussion in Committee. Several were suggested, among them, if I recollect aright, the Egyptological, the Hermetic, the Rosicrucian, etc., but none seemed just the thing. At last, in turning over the leaves of the Dictionary, one of us came across the word “Theosophy,” whereupon, after discussion, we unanimously agreed that that was the best of all; since it both expressed the esoteric truth we wished to reach and covered the ground of Felt’s methods of occult scientific research. Some stupid story has gone about that, while the Committee were sitting, a strange Hindu walked into the room, threw a sealed packet upon the table and walked out again, or vanished, or something of the sort; the packet, when opened, being found to contain a complete draft of a Constitution and By-laws for the Society, which we at once adopted. This is sheer nonsense; nothing whatever of the sort occurred. Several similarly absurd yarns have been set afloat about us from time to time; some of them very funny, some weird, some too childishly improbable to be worth even reading, but all misleading. An old journalist myself, I cared too little for such canards to take the least notice of them. While they create temporary confusion and misconceptions, in the long run they do no harm.As regards the drafting of the original By-laws, we took much pains and drew up as good a set as any society could desire. The Rules of various corporate bodies were examined, but those of the American Geographical and Statistical Society and the American Institute were thought by us to be as good models as any to follow. All preliminaries being settled, we obtained permission from Mrs. Britten that the next meeting should be held at her private residence (no hall having as yet been taken), and I issued (on post-cards) the following notice:

Việc chọn tên cho Hội, dĩ nhiên, là một vấn đề cần bàn luận nghiêm túc trong Ủy ban. Đã có vài đề nghị, trong đó, nếu tôi nhớ không lầm, có “Ai Cập học”, “Hermetic”, “Hoa Hồng Thập Tự”, v.v., nhưng chẳng cái nào thật vừa vặn. Sau cùng, khi giở các trang Từ điển, một trong chúng tôi bắt gặp chữ “Theosophy” (Thông Thiên Học), và sau thảo luận, chúng tôi nhất trí rằng đó là hay nhất; vì nó vừa diễn đạt chân lý nội môn chúng tôi muốn đạt tới, vừa bao quát phương pháp nghiên cứu khoa học huyền bí của Felt. Một câu chuyện ngớ ngẩn đã lan truyền rằng, khi Ủy ban đang họp, có một người Ấn Độ lạ bước vào phòng, ném một gói niêm phong lên bàn rồi bước ra, hoặc biến mất, hoặc kiểu gì đó; khi mở gói, thấy bên trong là một bản dự thảo trọn vẹn về Hiến chương và Điều lệ cho Hội, mà chúng tôi liền lập tức chấp thuận. Đây là điều nhảm nhí; hoàn toàn không hề có việc gì như thế xảy ra. Nhiều câu chuyện vô lý tương tự đã từng được tung ra về chúng tôi vào những lúc khác nhau; vài cái rất khôi hài, vài cái kỳ quái, vài cái quá trẻ con và bất khả tín đến mức không đáng đọc lấy một lần, nhưng tất cả đều gây lạc hướng. Bản thân tôi vốn là một nhà báo kỳ cựu, tôi chẳng bận tâm đến những tin vịt ấy đến mức không thèm để ý. Dù chúng tạo ra sự rối rắm và ngộ nhận nhất thời, rốt cuộc chúng chẳng gây hại gì. Về việc soạn thảo Điều lệ nguyên thủy, chúng tôi đã rất dụng công và soạn ra một bộ tốt như bất kỳ hội nào có thể mong muốn. Quy luật của nhiều cơ thể pháp nhân đã được đối chiếu, nhưng chúng tôi cho rằng Điều lệ của Hội Địa Lý và Thống Kê Mỹ và Viện Hàn Lâm Mỹ là những mô hình tốt nhất để noi theo. Các thủ tục sơ bộ đã được dàn xếp, chúng tôi xin phép Bà Britten để phiên họp kế tiếp được tổ chức tại tư gia của Bà (vì lúc ấy chưa thuê được hội trường), và tôi phát đi (trên bưu thiếp) thông báo sau:

THE THEOSOPHICAL SOCIETY

HỘI THÔNG THIÊN HỌC

NEW YORK, October 13, 1875.

NEW YORK, ngày 13 tháng 10, 1875.

The Committee on By-Laws having completed its work, (a meeting of the Theosophical Society will be held at the private residence, No. 206 West 38th St., on Saturday, October 16, 1875, at 8 p.m., to organize and elect officers. If Mr. Felt should be in town, he will continue his intensely interesting account of his Egyptological discoveries. Under the By-Laws proposed, new members cannot be elected until after thirty day’s consideration of their application. A full attendance at this preliminary meeting is, therefore, desirable.

Vì Ủy ban về Điều lệ đã hoàn tất công việc của mình, một phiên họp của Hội Thông Thiên Học sẽ được tổ chức tại tư gia, số 206 Phố Tây 38, vào Thứ Bảy, ngày 16 tháng 10 năm 1875, lúc 8 giờ tối, để tổ chức và bầu các chức viên. Nếu Ông Felt có mặt ở thành phố, Ông sẽ tiếp tục trình bày bản tường thuật cực kỳ hấp dẫn về các khám phá Ai Cập học của mình. Theo Điều lệ được đề xuất, hội viên mới không thể được bầu cho đến sau ba mươi ngày kể từ khi nộp đơn xin gia nhập. Vì vậy, rất mong có sự hiện diện đầy đủ tại phiên họp sơ bộ này.

The undersigned issues this call in compliance with the order adopted by the meeting of September 13th ultimo.

Người ký tên dưới đây phát hành giấy mời này theo quyết nghị được thông qua tại phiên họp ngày 13 tháng 9 vừa qua.

(Signed) HENRY S. OLCOTT, President, pro. tem.

(Ký) HENRY S. OLCOTT, Chủ tịch lâm thời.

The copy of the original post-card sent by post by Sotheran to H. P. B., I have, framed, at “Gulistan,” and my own copy is also in my possession.

Bản sao tấm bưu thiếp gốc được Sotheran gửi qua bưu điện cho H. P. B., tôi có treo khung tại “Gulistan”, và bản của riêng tôi cũng còn trong tay.

Our Minute Book records the following persons as present at this meeting in question:

Sổ Biên bản của chúng ta ghi các nhân vật sau có mặt tại phiên họp nói trên:

“Mme. Blavatsky, Mrs. E. H. Britten, Henry S. Olcott, Henry J. Newton, Chas. Sotheran, W.Q. Judge, J. Hyslop, Dr. Atkinson, Dr. H. Carlos, Dr. Simmons, Tudor Horton, Dr. Britten, C. C. Massey, John Storer Cobb, W. L. Alden, Edwin S. Ralphs, Herbert D. Monachesi, and Francisco Agromonte.

“Bà Blavatsky, Bà E. H. Britten, Henry S. Olcott, Henry J. Newton, Chas. Sotheran, W. Q. Judge, J. Hyslop, Bác sĩ Atkinson, Bác sĩ H. Carlos, Bác sĩ Simmons, Tudor Horton, Bác sĩ Britten, C. C. Massey, John Storer Cobb, W. L. Alden, Edwin S. Ralphs, Herbert D. Monachesi, và Francisco Agromonte.

“On behalf of the Committee on Preamble and By-Laws, the Preamble was read by the chair, and the By-Laws by Mr. Chas. Sotheran.”

“Thay mặt Ủy ban về Lời Mở Đầu và Điều lệ, Lời Mở Đầu được chủ tọa đọc, và Điều lệ do Ông Chas. Sotheran đọc.”

Mr. Massey was then introduced by the chair and made some remarks; after which he was obliged to hurry away to the steamer on which he was to sail for England.

Ông Massey sau đó được chủ tọa giới thiệu và phát biểu đôi lời; sau đó Ông phải vội vã ra bến tàu nơi Ông lên tàu về Anh.

Discussions ensued and various motions were made on the adoption of the By-Laws; the final result being that the draft submitted by the Committee was laid on the table and ordered printed. The meeting then adjourned. H. S. Olcott was Chairman and J. S. Cobb Secretary of the meeting.

Các cuộc thảo luận tiếp diễn và nhiều kiến nghị được đưa ra về việc chấp thuận Điều lệ; kết quả sau cùng là bản dự thảo do Ủy ban đệ trình được đặt lên bàn và lệnh in. Phiên họp bế mạc. H. S. Olcott là Chủ tọa và J. S. Cobb là Thư ký phiên họp.

The next preliminary meeting was held at the same place on the 30th October, The Committee on rooms having reported, Mott Memorial Hall, 64, Madison Avenue (a few doors only from our recently purchased New York Headquarters), was selected as the Society’s meeting-place. The By-Laws were read, discussed and finally adopted, but with the proviso that the Preamble should be revised by H. S. Olcott, C. Sotheran and J. S. Cobb, and then published as the Preamble of the Society.

Phiên họp sơ bộ kế tiếp tổ chức tại cùng địa điểm vào ngày 30 tháng 10. Ủy ban về phòng họp báo cáo, chọn Mott Memorial Hall, số 64 Đại lộ Madison (chỉ cách Trụ sở New York vừa mua của chúng ta vài cửa) làm nơi họp của Hội. Điều lệ được đọc, thảo luận và cuối cùng thông qua, nhưng với điều kiện Lời Mở Đầu phải được H. S. Olcott, C. Sotheran và J. S. Cobb chỉnh lý và sau đó công bố như Lời Mở Đầu của Hội.

Voting for officers was next proceeded with; and Tudor Horton and Dr. W. H. Atkinson being appointed tellers of the Election, the result was announced by Mr. Horton as follows:

Tiếp theo là bỏ phiếu bầu các chức viên; và Tudor Horton cùng Bác sĩ W. H. Atkinson được chỉ định làm giám sát cuộc bầu cử, kết quả được Ông Horton công bố như sau:

President, HENRY S. OLCOTT; Vice-Presidents, DR. S. PANCOAST and G. H. FELT; Corresponding Secretary, MME. H. P. BLAVATSKY; Recording Secretary, JOHN STORER COBB; Treasurer, HENRY J. NEWTON; Librarian, CHARLES SOTHERAN; Councillors, REV. J. H. WIGGIN, R. B. WESTBROOK, LL.D., MRS. EMMA HARDINGE BRITTEN, C. E. SIMMONS, M.D., and HERBERT D. MONACHESI; Counsel to the Society, WILLIAM Q. JUDGE.

Chủ tịch, HENRY S. OLCOTT; Phó Chủ tịch, BÁC SĨ S. PANCOAST và G. H. FELT; Thư ký Thông tín, BÀ H. P. BLAVATSKY; Thư ký Lưu trữ, JOHN STORER COBB; Thủ quỹ, HENRY J. NEWTON; Thủ thư, CHARLES SOTHERAN; Ủy viên Hội đồng, MỤC SƯ J. H. WIGGIN, R. B. WESTBROOK, LL.D., BÀ EMMA HARDINGE BRITTEN, C. E. SIMMONS, M.D., và HERBERT D. MONACHESI; Cố vấn pháp lý của Hội, WILLIAM Q. JUDGE.

The meeting then adjourned over to the 17th November, 1875, when the perfected Preamble would be reported, the President Elect deliver his Inaugural Address, and the Society be thus fully constituted.

Phiên họp sau đó hoãn đến ngày 17 tháng 11 năm 1875, khi Lời Mở Đầu đã hoàn chỉnh sẽ được báo cáo, Chủ tịch đắc cử đọc Diễn văn Nhậm chức, và Hội như vậy được hoàn toàn thiết lập.

On the evening designated, the Society met in its own hired room; the minutes of the previous meeting were read and approved; the President’s Inaugural Address was delivered and ordered printed; upon Mr. Newton’s motion, thanks were voted to the President; and the Society, now constitutionally organised, adjourned over to the 15th December.

Vào buổi tối đã định, Hội nhóm họp trong phòng thuê riêng; biên bản phiên họp trước được đọc và phê chuẩn; Diễn văn Nhậm chức của Chủ tịch được đọc và lệnh in; theo kiến nghị của Ông Newton, lời cảm ơn được biểu quyết gửi đến Chủ tịch; và Hội, nay đã được tổ chức hợp hiến, hoãn họp đến ngày 15 tháng 12.

Thus the Theosophical Society, first conceived of on the 8th September and constitutionally perfected on the 17th November, 1875, after a gestatory period of seventy days, came into being and started on its marvellous career of altruistic endeavour per angusta ad augusta. Inadvertently, in our first published document, the Preamble and By-Laws of The Theosophical Society, the 30th October was given as the date of organisation, whereas, as seen above, it should properly have been November 17, 1875.

Thế là Hội Thông Thiên Học, ý tưởng đầu tiên nảy sinh vào ngày 8 tháng 9 và được hoàn chỉnh về mặt hiến định vào ngày 17 tháng 11 năm 1875, sau thời kỳ thai nghén bảy mươi ngày, đã ra đời và khởi hành trên hành trình kỳ diệu của nỗ lực vị tha qua gian nan đến vinh quang. Do sơ ý, trong văn kiện công bố đầu tiên của chúng ta, Lời Mở Đầu và Điều lệ của Hội Thông Thiên Học, ngày 30 tháng 10 được nêu là ngày tổ chức, trong khi, như đã thấy ở trên, lẽ ra phải là ngày 17 tháng 11 năm 1875.

The foregoing narrative of the origin and birth of the Society is very prosaic and lacks all the sensational and imaginative features which have sometimes been ascribed to the event. It has, however, the merit of being historically exact; for, as I am writing history and not romance, I have stuck to the evidences of our certificated records and can prove every point. With an exaggeration of supposed loyalty which has bred injustice, as bigotry invariably does, many persons have been repeating to the echo the incorrect statement that H.P.B., and she alone, founded the Theosophical Society; what her colleagues did was less than nothing. The fact is that she herself vigorously repudiated the idea when put forward by Mr. J. L. O’Sullivan, in 1878, She says—answering a caustic critic:

Câu chuyện trên về cội nguồn và sự chào đời của Hội rất khô khan, thiếu tất cả các nét giật gân và giàu tưởng tượng đôi khi được gán cho sự kiện. Tuy nhiên, nó có ưu điểm là hoàn toàn xác thực về mặt lịch sử; bởi lẽ, tôi đang viết lịch sử chứ không phải tiểu thuyết, tôi bám chặt vào chứng cứ của các bản ghi chép có xác chứng của chúng ta và có thể chứng minh từng điểm. Với một sự phóng đại về lòng trung thành dự tưởng vốn sinh ra sự bất công, như óc cuồng tín vẫn luôn vậy, nhiều người đã lập lại như vẹt lời khẳng định sai lầm rằng H.P.B., và chỉ riêng Bà, đã sáng lập Hội Thông Thiên Học; những gì các cộng sự của Bà làm thì chẳng đáng kể. Sự thật là chính Bà đã mạnh mẽ bác bỏ ý kiến đó khi Ông J. L. O’Sullivan nêu ra vào năm 1878. Bà nói—trả lời một nhà phê bình cay nghiệt:

“With crushing irony he speaks of us as ‘our teachers.’ Now I remember having distinctly stated in a previous letter that we [she and I] have not offered ourselves as teachers, but, on the contrary, decline any such office—whatever may be the superlative panegyric of my esteemed friend, Mr. O’Sullivan, who not only sees in me a ‘Buddhist priestess’ (1) but, without a shadow of warrant of fact, credits me with the foundation of the Theosophical Society and its Branches. “ [Letter of H. P. Blavatsky, in the Spiritualist of March 22, 1878.]

“Với giọng mỉa mai nghiền nát, ông ta gọi chúng tôi là ‘các huấn sư của chúng ta.’ Nay tôi nhớ là đã nói rất rõ trong một lá thư trước rằng chúng tôi [Bà ấy và tôi] không tự xưng là huấn sư, trái lại, từ chối bất kỳ chức phận nào như thế—bất kể bài tụng ca tán dương siêu hạng của người bạn khả kính của tôi, Ông O’Sullivan, người không chỉ thấy ở tôi một ‘nữ tư tế Phật giáo’ (1) mà còn, không có một chút căn cứ sự kiện nào, gán cho tôi việc sáng lập Hội Thông Thiên Học và các Phân hội của nó.” [Thư của H. P. Blavatsky, đăng trên báo Spiritualist ngày 22 tháng 3, 1878.]

H.P.B. was quite wonderful enough as she actually was without the fulsome praise that has been lavished upon her; and the attempt to read into every word and action an occult value will only recoil upon its authors, by the inflexible general law of action and reaction observable in Nature. Her devotees ignore the fact, that the more previsionary power and infallible insight they ascribe to her, the more mercilessly will men hold her accountable for her every action, her mistakes in judgment, inaccuracies in statement, and other foibles which, in an ordinary—i.e., an uninspired person, are often only mildly blamed because recognised as proofs of human infirmity. It is a most unfriendly act to try to make her a being above humanity, without a weakness, spot, or blemish, for her written public record, let alone her private correspondences, proves the thing impossible.

H.P.B. đã quá đỗi kỳ diệu theo đúng thực tại của Bà, chẳng cần những lời tán tụng quá lố đã được dồn dập dâng lên; và nỗ lực đọc vào mỗi lời nói và hành vi một giá trị huyền linh rồi rốt cuộc cũng sẽ dội ngược lên những người gieo ra nó, theo định luật bất di bất dịch của hành động và phản hành động quan sát thấy trong Tự nhiên. Những người sùng mộ Bà phớt lờ thực tế rằng, càng gán cho Bà năng lực tiên tri và cái nhìn vô sai càng nhiều, thì người đời càng nắm thật chặt Bà chịu trách nhiệm cho mọi hành vi của mình, những sai lầm trong phán đoán, những thiếu chính xác trong phát biểu, và các tật nhỏ khác vốn nơi một người bình thường—tức một người không được linh hứng—thường chỉ bị trách nhẹ vì được nhìn nhận là những bằng chứng của khiếm khuyết nhân loại. Đó là hành động rất bất thân thiện khi cố biến Bà thành một hữu thể siêu nhân loại, không chút yếu đuối, tì vết hay khuyết điểm, vì văn bản công khai do chính tay Bà viết, chưa kể thư từ riêng tư, chứng minh điều đó là bất khả.

Though my Inaugural Address was applauded by my audience, and Mr. Newton, the orthodox Spiritualist, joined with Mr. Thomas Freethinker, and the Rev. Mr. Westbrook, to get a vote that it be printed and stereotyped—a good proof that they did not think its views and tone unreasonable—yet it reads a bit foolish after seventeen years of hard experience. A good deal of its forecast of results has been verified, much of it falsified. What we counted on as its sound experimental basis, viz., Felt’s demonstration of the existence of the Elemental races, proved a complete and mortifying disappointment. Whatever he may have done by himself in that direction, he showed us nothing, not even the tip end of the tail of the tiniest Nature-spirit. He left us to be mocked by the Spiritualist and every other class of sceptic. He was a man of extraordinary acquirements, and had made what seemed a remarkable discovery. So probable, indeed, did it appear that—as I have above stated—Mr. Bouton, an experienced merchant, risked a very heavy sum on the speculation of getting out his book. For my part, I believe he had done what he claimed, and that, if he had but systematically followed up his beginnings, his name would have been among the most renowned of our epoch. Having so often seen H. P. B. employ the Elementals to do phenomena, Signor B. do the same on several occasions, and my mysterious strangers show me them in my own rooms, what was easier than for me to believe that Felt could do likewise; especially when H.P.B. assured me that he could? So, with the temerity of a born pioneer and the zeal of a congenital optimist and enthusiast, I gave rein to my imagination and depicted, in my Address, what was likely to result if Felt’s promise was made good. Luckily for me, I put in the “if”; and it might have been better if it had been printed thus—IF. On the plea of his pecuniary necessities, he got out of Treasurer Newton $100 to defray the costs of the promised experiments, but brought us no Elementals. In the Council meeting of March 29, 1876, a letter from him was read, in which he stated that “he was prepared to fulfil his promise to lecture before the Society upon the Kabbalah, and giving an outline of the different departments into which he would divide his subject.”

Dù Diễn văn Nhậm chức của tôi được cử tọa hoan hô, và Ông Newton, nhà Thần linh học chính thống, đã cùng với Ông Thomas Freethinker và Mục sư Westbrook kiến nghị in và đúc bản kẽm—một bằng chứng tốt rằng họ không thấy quan điểm và giọng điệu của nó là bất hợp lý—thế nhưng đọc lại sau mười bảy năm trải nghiệm gian khổ thì quả là có phần ngây thơ. Rất nhiều dự báo về kết quả của nó đã được kiểm chứng, nhiều điều khác bị thực tế bác bỏ. Điều mà chúng tôi dựa làm nền tảng thực nghiệm vững chắc, tức là, sự chứng minh của Felt về sự tồn tại của các chủng loại hành khí, hóa ra là một nỗi thất vọng hoàn toàn và nhục nhã. Dù Ông có thể đã tự mình làm được điều gì đó theo hướng ấy, Ông không cho chúng tôi thấy gì cả, thậm chí không một khúc đuôi nhỏ nhất của một tinh linh Tự nhiên bé xíu. Ông bỏ mặc chúng tôi để bị nhà Thần linh học và mọi hạng hoài nghi khác chế giễu. Ông là người có tri thức phi thường, và đã có một khám phá xem ra đáng chú ý. Quả thực, nó có vẻ đáng tin đến mức—như tôi đã nói ở trên—Ông Bouton, một thương gia lão luyện, đã mạo hiểm một khoản tiền rất lớn vào việc xuất bản sách của Ông. Phần tôi, tôi tin rằng Ông đã làm được điều mình tuyên bố, và rằng, nếu Ông chịu theo đuổi một cách hệ thống những khởi đầu của mình, tên tuổi Ông hẳn đã nằm trong hàng lừng danh nhất thời đại chúng ta. Đã nhiều lần tôi thấy H. P. B. sai khiến các hành khí để làm hiện tượng, Ngài B. cũng làm như vậy vào vài dịp, và những người khách bí ẩn của tôi cho tôi thấy chúng ngay trong phòng của tôi, thì còn gì dễ hơn để tôi tin Felt cũng có thể làm tương tự; nhất là khi H.P.B. đoan chắc với tôi rằng Ông có thể? Vậy nên, với sự táo bạo của một người tiên phong bẩm sinh và nhiệt huyết của một người lạc quan và cuồng nhiệt bẩm sinh, tôi buông cương cho trí tưởng tượng và phác họa, trong Diễn văn, những gì có khả năng xảy đến nếu lời hứa của Felt được thực hiện. May cho tôi là tôi có thêm chữ “nếu”; và hẳn đã tốt hơn nếu nó được in thế này—NẾU. Lấy cớ nhu cầu tài chính, Ông đã lấy từ Thủ quỹ Newton 100 đô-la để chi trả chi phí cho những thí nghiệm đã hứa, nhưng chẳng mang đến cho chúng tôi hành khí nào cả. Tại phiên họp Hội đồng ngày 29 tháng 3 năm 1876, một bức thư của Ông được đọc, trong đó Ông nói rằng “Ông sẵn sàng thực hiện lời hứa diễn thuyết trước Hội về Kabbalah, và đưa ra một đề cương các bộ phận khác nhau mà Ông sẽ phân chia đề tài của mình.”

Whereupon, Mr. Monachesi moved a Resolution, which was passed, that

Ngay đó, Ông Monachesi đưa ra một Nghị quyết, được thông qua, rằng:

“The Secretary be instructed to have printed and circulated among the Fellows of the Society, either the, letter of V. P. Felt, or a syllabus which Fellow Felt and himself would prepare.” [Extract, “Minutes of the T. S.,” p. 15.]

“Thư ký được chỉ thị in và lưu hành trong các Đồng sự của Hội, hoặc bức thư của Phó Chủ tịch Felt, hoặc một đề cương mà Đồng sự Felt và chính Ông sẽ soạn.” [Trích, “Biên bản của T. S.”, tr. 15.]

The circular was issued and helped somewhat to lessen the feeling of resentment that prevailed against Mr. Felt for his breach of promise. He actually delivered his second lecture on the 21st June, but then he again failed us, and I find that, in the Council meeting on the 11th October, on Treasurer Newton’s motion, a Resolution was adopted, instructing Mr. Judge, the Society’s Counsel, to demand that he should fulfil his legal obligation at an early date. But he never did. Finally, he went out of the Society; and, it having thus been proved that nothing was to be expected of him a number of persons also vanished from the Society, and left us others, who were not mere sensation-seekers, to toil on as best we might.

Tờ thông tri đã phát hành và phần nào giúp giảm bớt cảm giác bất bình vốn lan tràn đối với Ông Felt vì việc thất hứa. Thực tế Ông đã đọc bài diễn thuyết thứ hai vào ngày 21 tháng 6, nhưng rồi lại làm chúng tôi thất vọng, và tôi thấy rằng, tại phiên họp Hội đồng ngày 11 tháng 10, theo kiến nghị của Thủ quỹ Newton, một Nghị quyết được thông qua, chỉ thị Ông Judge, Cố vấn pháp lý của Hội, đòi Ông phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình trong thời hạn sớm. Nhưng Ông không bao giờ làm. Sau cùng, Ông rời Hội; và, vì như thế đã chứng minh rằng không thể trông mong gì nơi Ông, một số người cũng biến mất khỏi Hội, bỏ lại chúng tôi, những người không phải kẻ chuộng cảm giác mạnh, tiếp tục nhọc nhằn trong khả năng tốt nhất có thể.

And it was toil, as all who were at all active in those days, very well recollect. Our object was to learn, experimentally, whatever was possible about the constitution of man, his intelligence, and his place in nature. Especially Mind, active as WILL, was a great problem for us. The Eastern magus uses it, the Western mesmerist and psychopath employ it; one man develops it, and becomes a hero, another paralyses it, and becomes a spirit medium. To its resistless sway the beings of all kingdoms and various planes of matter are obedient, and when imagination is simultaneously active, it creates, by giving objectivity to just-formed mind-images. So, though Felt had defaulted, and we could count on no sailing on smooth tides, yet we had still many fields left for research, and we explored them a little. The old records show that we tested mediums, tried experiments in psychometry, thought-reading and mesmerism, and wrote and listened to papers, But we made slow progress, for, though we all, by tacit consent, put the best face upon it, every one of us was secretly discouraged by Felt’s fiasco, and there seemed no chance of finding a substitute: the rain-maker, Signor B., had been driven away by H.P.B., after his futile attempt to create a breach between her and myself; my swarthy, elemental-summoning visitor did not show his face again; and H. P. B., upon whose help everybody had—as we thought—not unreasonably counted, refused to do the slightest phenomenon at our meetings. So the membership dwindled by degrees, until, at the end of a year or so, there survived the following: the form of a good organisation, sound and strong in its platform; a clangorous notoriety; a few, more or less indolent, members; and an indestructible focus of vitality in the quenchless enthusiasm of the two friends, the Russian woman and American man, who were in deadly earnest; who never for a moment harboured a doubt as to the existence of their Masters, the excellence of their delegated work, or the ultimate complete success that would crown it. Judge was a loyal friend and willing helper, but he was so very much our Junior that we could not regard him as an equal third party. He was more like the youngest son in a family. Many an evening after we had established our residential Headqarters, when our visitors had gone and H.P.B. and I stopped in the Library-room for a parting-smoke and chat, have we laughed to think how few we could count upon to stand by us through everything. The fair speeches and smiles of the evening’s guests would be recalled, and the selfishness they often meant to mask detected. The one thing we felt more and more as time went on was, that we two could absolutely depend upon each other for Theosophy, though the sky itself should crack; beyond that, all depended upon circumstances. We used to speak of ourselves as the Theosophical Twins, and sometimes as a trinity; the chandelier hanging overhead making the third of the party! Frequent allusions to both these pleasantries occur in our Theosphical correspondence; and on the day when she and I were leaving our dismantled apartments in New York, to go aboard the steamer that was to take us towards India, the last thing we did was to say, with mock seriousness, “Farewell, old Chandelier; silent, light-giving, unchanging friend and confidant!”

Và quả là nhọc nhằn, như tất cả những ai từng năng động đôi chút trong những ngày ấy đều nhớ rất rõ. Mục đích của chúng tôi là, bằng thực nghiệm, học bất cứ điều gì có thể về cấu tạo của con người, trí năng của y, và vị trí của y trong thiên nhiên. Đặc biệt, Thể trí, hoạt động như Ý Chí, là một vấn đề lớn đối với chúng tôi. Pháp sư phương Đông sử dụng nó, nhà thôi miên và nhà tác động tâm thần phương Tây cũng sử dụng nó; một người phát triển nó và trở thành anh hùng, người khác làm tê liệt nó và trở thành đồng tử. Trước sự chi phối không cưỡng nổi của nó, các hữu thể của mọi giới và các cõi chất liệu khác nhau đều tuân phục, và khi sự tưởng tượng đồng thời hoạt động, nó sáng tạo bằng cách trao đối tính cho các ảnh-tưởng mới hình thành. Cho nên, dù Felt đã bội hẹn, và chúng tôi không thể mong gì vào một con nước êm đềm, nhưng chúng tôi vẫn còn nhiều cánh đồng để nghiên cứu, và chúng tôi khảo sát chúng đôi chút. Hồ sơ cũ cho thấy rằng chúng tôi đã khảo nghiệm các đồng tử, thử nghiệm trong Thuật trắc tâm, đọc tư tưởng và thôi miên, và viết cũng như nghe các tham luận. Nhưng chúng tôi tiến triển chậm, vì, dẫu tất cả chúng tôi, theo sự đồng thuận mặc nhiên, đều cố tỏ ra lạc quan nhất, thì mỗi người chúng tôi đều âm thầm nản lòng bởi cú sập của Felt, và xem ra không còn cơ hội tìm người thay thế: người làm mưa, Ngài B., đã bị H.P.B. xua đi sau khi Ông toan vô ích tạo ra một sự rạn nứt giữa Bà và tôi; vị khách da ngăm, người triệu thỉnh hành khí, không còn ló mặt trở lại; và H. P. B., nơi sự giúp đỡ của Bà mà mọi người—như chúng tôi nghĩ—không phải là vô lý để trông đợi, lại từ chối làm bất kỳ hiện tượng nhỏ nào trong các cuộc họp của chúng tôi. Thế là hội viên dần dần vơi đi, cho đến, sau chừng một năm, còn tồn tại những điều sau: một hình thức tổ chức tốt, vững chắc trong cương lĩnh; một tiếng tăm ồn ã; vài hội viên, ít nhiều lười biếng; và một tiêu điểm sinh khí bất hoại nơi lòng nhiệt thành không thể dập tắt của hai người bạn, người đàn bà Nga và người đàn ông Mỹ, những người hết sức nghiêm túc; những người chẳng bao giờ trong khoảnh khắc nào hoài nghi sự hiện hữu của các Bậc Thầy của họ, sự tuyệt hảo của công việc được ủy thác, hay thành công trọn vẹn cuối cùng sẽ đội mũ triều thiên cho nó. Judge là một người bạn trung tín và trợ thủ sẵn lòng, nhưng Ông quá trẻ so với chúng tôi nên chúng tôi không thể xem Ông là một người thứ ba ngang hàng. Ông giống như cậu con út trong một gia đình. Nhiều tối, sau khi chúng tôi đã thiết lập Trụ sở cư trú, khi khách đã về và H.P.B. và tôi dừng lại trong phòng Thư viện để hút điếu thuốc và chuyện trò trước lúc chia tay, chúng tôi cười mà nghĩ xem mình có thể trông cậy được vào bao nhiêu người đứng cạnh bên chúng tôi qua mọi hoàn cảnh. Những lời lẽ dịu dàng và nụ cười của các vị khách buổi tối được nhắc lại, và bộc lộ sự ích kỷ mà chúng thường dùng để che giấu. Một điều chúng tôi càng ngày càng cảm thấy rõ là, chúng tôi hai người có thể tuyệt đối dựa vào nhau vì Thông Thiên Học, dẫu bầu trời có sụp; ngoài điều ấy, tất cả tùy hoàn cảnh. Chúng tôi thường tự gọi mình là “Cặp Song sinh Thông Thiên Học”, và đôi khi là “bộ ba”; chùm đèn treo trên đầu làm thành người thứ ba trong nhóm! Những ám chỉ thường xuyên về cả hai trò đùa này xuất hiện trong thư từ Thông Thiên Học của chúng tôi; và vào ngày Bà và tôi rời căn hộ đã dỡ bỏ đồ đạc ở New York để lên tàu hướng đến Ấn Độ, việc cuối cùng chúng tôi làm là nói, với giọng bông đùa nghiêm trang: “Vĩnh biệt, Chùm đèn xưa; người bạn câm lặng, tỏa sáng, bất biến và đáng tin cậy!”

The enemy have sometimes said that when we sailed away from America we left no Theosophical Society behind us; and to a certain extent that was true, for, owing to several causes, it did nothing to speak of during the next six years. The social nucleus—always the most powerful factor in movements of this kind—had been broken up; nobody was able to form a new one; another H. P. B. could not be created; and Mr. Judge, the then only potential future leader and organiser, was called away to Spanish countries by professional business, as above remarked.

Kẻ thù đôi khi nói rằng khi chúng tôi rời nước Mỹ ra khơi, chúng tôi chẳng để lại Hội Thông Thiên Học nào phía sau; và ở một mức độ nào đó điều ấy đúng, vì do nhiều nguyên do, trong sáu năm tiếp theo, nó không làm được gì đáng kể. Hạt nhân xã hội—luôn là yếu tố mạnh nhất trong các phong trào loại này—đã bị tan vỡ; chẳng ai có thể lập nên một hạt nhân mới; một H. P. B. khác không thể được tạo ra; và Ông Judge, người khi ấy là lãnh tụ và nhà tổ chức tiềm năng duy nhất cho tương lai, đã bị công việc nghề nghiệp kêu gọi đến các xứ nói tiếng Tây Ban Nha, như đã nói ở trên.

It must be said, in justice to Mr. Judge, General Doubleday, and their associates in the original Theosophical Society, whom we left in charge on leaving for India, that the suspended animation was for two or three years mainly due to my own fault. There had been some talk of converting the Society into a high Masonic degree, and the project had been favourably viewed by some influential Masons. I shall have to recur to this subject later on. For the present it suffices to say that I was asked to draft an appropriate form of ritual, and when we left America this was one of the first things I was to do after reaching India. But instead of the quiet and leisure anticipated, we were instantly plunged into a confusion of daily work and excitement; I was forced on the lecturing platform; we made long journeys through India; the Theosophist was founded, and it was simply impossible to give any attention to the ritual; though I have several letters from General Doubleday and Judge complaining that it was not sent them, and saying they could do nothing without it. Moreover, our wider experience convinced us of the impracticability of the plan: our activity had taken a much wider extension, and our work a more serious and independent character. So, finally, I decided not to follow up the scheme. But by this time Judge had gone abroad and the others did nothing.

Cũng phải nói, để công bằng với Ông Judge, Tướng Doubleday, và các cộng sự của họ trong Hội Thông Thiên Học nguyên thủy, những người chúng tôi giao phó việc trông coi khi rời sang Ấn Độ, rằng tình trạng đình trệ sinh hoạt trong hai, ba năm đầu phần lớn do lỗi của chính tôi. Đã có vài bàn tính về việc chuyển Hội thành một bậc cao của Tam Điểm, và dự án được một số vị Tam Điểm có ảnh hưởng nhìn nhận thuận lợi. Tôi sẽ phải quay lại chủ đề này sau. Lúc này chỉ cần nói rằng tôi được yêu cầu soạn một nghi thức thích hợp, và khi chúng tôi rời nước Mỹ, đó là một trong những việc đầu tiên tôi phải làm sau khi tới Ấn Độ. Nhưng thay vì sự tĩnh lặng và nhàn rỗi như dự liệu, chúng tôi lập tức bị đẩy vào một cảnh hỗn độn của công việc và kích động hàng ngày; tôi buộc phải lên diễn đàn thuyết giảng; chúng tôi đi những chuyến dài qua Ấn Độ; tờ Theosophist ra đời, và hoàn toàn bất khả để chú ý đến nghi thức; dù tôi nhận được nhiều thư của Tướng Doubleday và Judge phàn nàn rằng nó chưa được gửi, nói rằng họ chẳng thể làm gì nếu không có nó. Vả lại, trải nghiệm rộng mở của chúng tôi thuyết phục rằng kế hoạch ấy là bất khả thi: hoạt động của chúng tôi đã có tầm mở rộng lớn hơn nhiều, và công việc của chúng tôi mang tính nghiêm túc và độc lập hơn. Vì vậy, rốt cuộc, tôi quyết định không theo đuổi đề án. Nhưng đến lúc này Judge đã ra nước ngoài và những người khác thì chẳng làm gì.

In a letter dated New York, October 17, 1879,—a year after our departure—Mr. Judge writes: “We have taken in but few members and decided to wait for the ritual before taking in more, as that would make a serious change.” For us two, however, there had been twelve months of heavy work. General Doubleday writes to the same effect under date of September, 1,1879, saying: “With regard to the T.S., in the United States we have been in statu quo, waiting for the promised ritual?” On the 23rd of June, 1880, he asks: “Why do you not send us that ritual?” And Mr. Judge, on April 10, 1880, tells me, “Everything here lags. No ritual yet. Why?” November 7, 1881, Judge being absent in South America, his brother, whom he had left in charge of T. S. affairs, writes me that nothing is doing, and that “the Society will not start working until W. Q. J., General Doubleday, and I [he] can find time and means to start it”; both of which were lacking. Finally—as it is useless to follow up the matter further—on January 7, 1882, Judge writes: “The Society is dormant, doing absolutely nothing. Your explanation about the ritual is satisfactory.”

Trong một bức thư đề ngày New York, 17 tháng 10 năm 1879,—một năm sau khi chúng tôi khởi hành—Ông Judge viết: “Chúng tôi chỉ thu nạp ít hội viên và quyết định chờ nghi thức trước khi thu nạp thêm, vì điều đó sẽ tạo ra một thay đổi quan trọng.” Còn với chúng tôi, đã có mười hai tháng công việc nặng nề. Tướng Doubleday viết cùng ý như vậy trong thư đề ngày 1 tháng 9, 1879, nói: “Liên quan đến T.S. tại Hoa Kỳ, chúng tôi vẫn trong trạng thái y như cũ, chờ nghi thức đã hứa?” Ngày 23 tháng 6 năm 1880, Ông hỏi: “Sao các anh không gửi cho chúng tôi nghi thức ấy?” Và Ông Judge, ngày 10 tháng 4, 1880, nói với tôi, “Mọi việc nơi đây trì trệ. Chưa có nghi thức. Tại sao?” Ngày 7 tháng 11, 1881, Judge vắng mặt ở Nam Mỹ, anh trai Ông, người được giao trông coi công việc của T.S., viết cho tôi rằng chẳng có gì đang diễn ra, và rằng “Hội sẽ không bắt đầu hoạt động cho đến khi W. Q. J., Tướng Doubleday, và tôi có thể tìm được thời gian và phương tiện để khởi động nó”; cả hai đều thiếu. Cuối cùng—vì theo dõi thêm cũng vô ích—ngày 7 tháng 1 năm 1882, Judge viết: “Hội đang ngủ yên, không làm gì cả. Lời giải thích của anh về nghi thức là thỏa đáng.”

Yet throughout all these years, Mr. Judge’s letters to H. P. B., myself, and Damodar show that his zeal for Theosophy and all mysticism was unquenchable. His greatest desire was that a day might come when he should be free to devote all his time and energies to the work of the Society. But as the clover seed, imbedded in the soil twenty feet below the surface, germinates when the well-diggers bring it up above ground, so the seed we planted in the American mind, between the years 1874 and 1878, fructified in its due time; and Judge was the husbandman predestined to reap our harvest. Thus, always, Karma evolves its pioneers, sowers, and reapers. The viability of our Society was proximately in us two founders, but ultimately in its basic idea and the transmitters, the August Ones, who taught us and shed into our hearts and minds the light of their benevolent goodwill. As both of us realised this, and as we were both permitted to work for it and with them, there was a closer bond between us two than any that the common social relationships could have forged. It made us put up with each other’s weaknesses and bear all the grievous frictions incident to the collaboration of two such contrasting personalities. As for myself, it made me put behind me as things of no value all worldly ties, ambitions,and desires. Truly, from the bottom of my heart, I felt, and feel, that it is better to be a door-keeper, or even something more menial than that, in the house of the “Lord on High,” than to dwell in any silken pavilion the selfish world could give me for the asking. So felt H. P. B., whose tireless enthusiasm for our work was a never-failing wellspring of encouragement to every one coming in contact with her. Feeling thus, and ready, as we were, to make every sacrifice for our cause, the extinction of the Theosophical Society was simply impossible.

Thế nhưng suốt những năm ấy, thư của Ông Judge gửi H. P. B., tôi, và Damodar cho thấy lòng nhiệt thành của Ông đối với Thông Thiên Học và mọi điều huyền bí là không thể dập tắt. Khát vọng lớn nhất của Ông là một ngày nào đó Ông được tự do dâng hiến toàn bộ thời gian và năng lực cho công việc của Hội. Nhưng như hạt cỏ ba lá vùi trong đất hai mươi foot dưới mặt đất sẽ nảy mầm khi người đào giếng đưa nó lên mặt, hạt giống chúng tôi đã gieo vào tâm trí người Mỹ giữa những năm 1874 và 1878 đã kết trái vào thời điểm thích đáng của nó; và Judge là người nông phu được tiền định để gặt mùa của chúng tôi. Như thế, Karma luôn xoay chuyển mà sinh ra người mở đường, người gieo, và người gặt. Sức sống của Hội chúng ta, trên bình diện gần, nằm trong chúng tôi hai người sáng lập, nhưng rốt ráo nằm trong ý tưởng căn bản của nó và nơi các Đấng Truyền Thụ, các Đấng Cao Cả, những Vị đã giáo hóa chúng tôi và rót vào tâm và trí chúng tôi ánh sáng của thiện chí từ ái của Các Ngài. Vì cả hai chúng tôi đều nhận ra điều này, và vì chúng tôi đều được phép làm việc cho nó và cùng với Các Ngài, nên có một mối liên kết giữa hai chúng tôi khắng khít hơn bất cứ mối dây xã hội thông thường nào có thể rèn nên. Nó khiến chúng tôi chấp nhận những yếu điểm của nhau và chịu đựng mọi ma sát gay gắt gắn liền với sự cộng tác giữa hai phàm ngã tương phản sâu sắc. Về phần tôi, nó khiến tôi đặt ra phía sau, như những điều vô giá trị, tất cả ràng buộc thế gian, tham vọng, và dục vọng. Từ tận đáy lòng, tôi đã cảm thấy, và vẫn cảm thấy, rằng tốt hơn là làm kẻ gác cửa, hay thậm chí một vai tầm thường hơn thế nữa, trong nhà của “Đức Chúa trên Cao”, hơn là ở trong bất kỳ trướng lều bằng gấm nào mà thế gian vị kỷ có thể ban cho tôi khi tôi vừa ngỏ lời xin. H. P. B. cũng cảm nhận như thế, và lòng nhiệt thành không mệt mỏi của Bà dành cho công việc của chúng tôi là nguồn mạch khích lệ bất tận cho mọi người tiếp xúc với Bà. Cảm như vậy, và sẵn sàng, như chúng tôi đã sẵn sàng, hy sinh mọi thứ vì sự nghiệp, thì sự tiêu vong của Hội Thông Thiên Học là điều hoàn toàn bất khả.

Many things of interest to Theosophists are recorded in the early Society records. At the Council meeting of January 12, 1876, it was resolved, upon the motion of J. S. Cobb, “that William Q. Judge, Counsel to the Society, be invited to assist in the deliberations of the Council, at its meetings.” At the same meeting, the withdrawal of Mr. Sotheran from the Society was noted and Mr. H. J. Newton appointed to fill the vacancy; and the Council ordered the Recording Secretary to lay before the Society, at its next regular meeting, the following Resolution, as upon the recommendation of the Council, for adoption:

Nhiều điều thú vị đối với các nhà Thông Thiên Học được ghi trong các biên bản đầu thời của Hội. Tại phiên họp Hội đồng ngày 12 tháng 1 năm 1876, theo kiến nghị của J. S. Cobb, đã quyết nghị rằng “William Q. Judge, Cố vấn pháp lý của Hội, được mời tham dự các cuộc thảo luận của Hội đồng tại các phiên họp.” Cũng tại phiên họp ấy, việc Ông Sotheran rút khỏi Hội được ghi nhận, và Ông H. J. Newton được bổ nhiệm để lấp chỗ trống; và Hội đồng chỉ thị cho Thư ký Lưu trữ trình trước Hội, tại phiên họp thường lệ kế tiếp, Nghị quyết sau, theo đề nghị của Hội đồng, để chấp thuận:

“That in future this Society adopt the principle of secrecy in connection with its proceedings and transactions, and that a Committee be appointed to draw up and report upon the details necessary to give effect to such a change.”

“Rằng từ nay Hội này áp dụng nguyên tắc bí mật liên quan đến các thủ tục và giao dịch của mình, và rằng một Ủy ban được chỉ định để soạn thảo và báo cáo các chi tiết cần thiết nhằm thực thi thay đổi như vậy.”

So that, after an experience of barely three months—I had thought it was much longer—we were obliged in self-defence to become a secret body. At the Council meeting of March 8, 1876, on motion of H. P. Blavatsky, it was

Như vậy, sau một kinh nghiệm chỉ vỏn vẹn ba tháng—tôi từng tưởng là lâu hơn—chúng tôi buộc phải, để tự vệ, trở thành một tổ chức kín. Tại phiên họp Hội đồng ngày 8 tháng 3 năm 1876, theo kiến nghị của H. P. Blavatsky, đã

“Resolved, That the Society adopt one or more signs of recognition, to be used among the Fellows of the Society, or for admissions to the meetings.”

“Quyết nghị, rằng Hội chấp nhận một hoặc nhiều dấu hiệu nhận biết, dùng giữa các Đồng sự của Hội, hoặc để vào cửa các phiên họp.”

A Committee of three, of whom H. P. B. was one, was appointed by me to invent and recommend signs. The appropriate seal of the Society was partly designed after a very mystical one that a friend of H. P. B.’s had composed for her, to use on her letter-paper, and it was beautifully engraved for us by Mr. Tudor Harton. A little later Mr. Judge and I, with the concurrence of others, sketched a badge of membership, consisting of a serpent coiled about an Egyptian Tau. I had two made, for H. P. B. and myself, but we subsequently gave them away to friends. Quite recently, this very pretty and appropriate symbol has been revived in America.

Một Ủy ban ba người, trong đó có H. P. B., được tôi chỉ định để sáng chế và đề nghị dấu hiệu. Ấn triện thích hợp của Hội một phần được thiết kế dựa trên một ấn bí nhiệm mà một người bạn của H. P. B. đã soạn cho Bà dùng trên giấy thư, và nó được Ông Tudor Harton khắc rất đẹp cho chúng tôi. Không lâu sau, Ông Judge và tôi, với sự đồng thuận của những người khác, phác thảo một phù hiệu hội viên, gồm một con rắn quấn quanh chữ Tau Ai Cập. Tôi cho làm hai chiếc, cho H. P. B. và cho tôi, nhưng sau đó chúng tôi đã tặng lại bạn bè. Gần đây, biểu tượng rất đẹp và thích hợp này đã được khôi phục tại Mỹ.

But what little secrecy there ever was in the Society—as little, or even less “than that so carefully guarded by the Tyler of a Masonic Lodge—has virtually passed away, after its brief period of use in our early days. In 1889, it was made the chief feature in the Esoteric Society which I chartered for H. P. B., and, I regret to say, has caused us much harm with much good.

Nhưng chút bí mật ít ỏi từng có trong Hội—ít, hoặc thậm chí còn ít hơn “sự bí mật được người gác cửa của một Hội Tam Điểm cẩn trọng giữ gìn”—đã hầu như trôi qua, sau khoảng thời gian hữu dụng ngắn ngủi trong buổi đầu của chúng ta. Năm 1889, nó trở thành đặc điểm chủ chốt trong Hội Nội Môn mà tôi cấp phép cho H. P. B., và, tiếc thay, đã gây cho chúng tôi không ít tổn hại song hành với không ít lợi ích.