← OLD DIARY LEAVES 1

CHAPTER X—CHƯƠNG X

CHAPTER X—CHƯƠNG X

BARON DE PALM—BARON DE PALM

THE evolution of the Society up to its perfected organisation having been traced, we may now give attention to special incidents which occupied the attention of its founders and more or less affected its interests. If the details of early T.S. history were known to the majority of its members this historical retrospect might be left to some less busy person than myself to compile. In point of fact, however, no other living person knows them all so well as I; no one save H. P. B. and I assumed all the responsibilities, took all the hard knocks, organised all the successes: so, perforce, I must play the historian. If I do not, the truth will never be made known. The special incident to be dealt with in the present chapter is the story of Baron de Palm’s connection with our Society, his antecedents, death, will, and funeral; his cremation will require a separate chapter. This is not Theosophy, but I am not writing Theosophy; it is history, one of several affairs which were mixed up in our Society’s concerns, and which greatly occupied the time and thoughts of my colleague and myself. These affairs threw upon me, as President, in, particular, very grave responsibilities. When I say that I carried through the De Palm funeral obsequies with the conviction that it would cost me a professional connection worth some £2,000 a year, my meaning will appear. The thing apprehended did happen, because I mortally offended the gentleman—a bigoted Christian—who controlled the matter in question, and who influenced its transfer to another friend of his. Of course, I should do it over again, and I only mention the circumstance to show that it cost something to be a worker with the Master in those early days.

Tiến trình phát triển của Hội cho đến khi hoàn chỉnh tổ chức đã được lần theo, giờ chúng ta có thể chú ý đến các sự việc đặc thù vốn thu hút sự quan tâm của những người sáng lập và ít nhiều ảnh hưởng đến lợi ích của Hội. Nếu đa số hội viên biết các chi tiết lịch sử T.S. buổi đầu, thì việc biên soạn hồi cố lịch sử này có thể để cho người nào ít bận rộn hơn tôi. Nhưng thực tế là không ai khác đang sống biết tất cả mọi chuyện tường tận như tôi; ngoài H. P. B. và tôi ra, chẳng ai gánh vác mọi trách nhiệm, nhận hết các đòn, tổ chức mọi thành công: vậy nên, bắt buộc tôi phải làm sử gia. Nếu tôi không làm, sự thật sẽ chẳng bao giờ được công bố. Sự việc đặc thù cần đề cập trong chương này là câu chuyện về mối liên hệ của Baron de Palm với Hội chúng ta, quá trình trước đó của Ông, cái chết, chúc thư, và đám tang; việc hỏa táng Ông sẽ cần một chương riêng. Đây không phải là Thông Thiên Học, nhưng tôi không viết Thông Thiên Học; đây là lịch sử, một trong số những vụ việc được trộn lẫn với các mối quan tâm của Hội chúng ta, và đã chiếm khá nhiều thời gian và tâm trí của đồng sự tôi và tôi. Những việc này, đặt lên tôi, với tư cách Chủ tịch, những trách nhiệm rất nặng nề. Khi tôi nói rằng tôi đã tiến hành tang lễ De Palm với xác tín rằng điều đó sẽ khiến tôi mất một mối quan hệ nghề nghiệp trị giá chừng 2.000 bảng một năm, ý tôi sẽ rõ. Điều lo sợ đã xảy ra thật, vì tôi làm phật lòng sinh tử một gentleman—một tín đồ Cơ Đốc cuồng tín—người kiểm soát vụ việc nói trên, và người đã tác động khiến nó được chuyển giao cho một người bạn khác của Ông. Tất nhiên, nếu làm lại tôi vẫn sẽ làm y như thế, và tôi chỉ nêu sự việc để cho thấy rằng trong những ngày đầu ấy, phụng sự cùng với Bậc Thầy cũng phải trả giá.

Joseph Henry Louis Charles, Baron de Palm, Grand Cross Commander of the Order of the Holy Sepulchre and Knight of various other orders, was born at Augsburg, May 10, 1809, in an ancient baronial family of Bavaria. Late in life he emigrated to America, lived a number of years in the Western States, and about December, 1875, came to me in New York with an introductory letter from the late Col. Bundy, editor of the Religio Philosophical Journal, commending him to my courtesy. Finding him a man of engaging manners evidently familiar with the best society, and professing much interest in Spiritualism and a wish to learn something about our Oriental theories, I made him welcome, and at his request introduced him to H. P. B. The acquaintance was kept up, the Baron joined our Society,and, a vacancy occurring soon after by the resignation of the Rev. J. H. Wiggin, he was elected a Member of Council on the 29th March, 1876. As he complained of feeble health, and of having no one in New York who cared whether he lived or died in the wretched boarding-house where he was put up, I invited him to come and occupy a room in my “apartment,” looked after his comfort, and called in a physician to prescribe for him. Symptoms of pneumonia and nephritis showing themselves and the medical attendant pronouncing him in danger, he got me to send him Mr. Judge, the Society’s Standing Counsel, and executed a will devising certain parcels of real estate at Chicago to two lady friends, making me residuary legatee, and appointing Mr. Newton, Treasurer of the T. S., and myself his executors, with full powers. Under medical advice and at his own earnest request, he was removed to the Roosevelt Hospital on Friday evening, May 19th, (1876) and died the next morning. The result of an autopsy was to show that he had for years been suffering from a complication of diseases of the lungs, kidneys, and other organs; a medical certificate that he had died of nephritis was given and filed, as prescribed by law, in the Health Bureau, and the body was conveyed to the receiving-vault of the Lutheran Cemetery pending the completion of arrangements for interment.

Joseph Henry Louis Charles, Baron de Palm, Đại Thập Tự của Dòng Mộ Thánh và Hiệp sĩ của nhiều dòng khác, sinh tại Augsburg ngày 10 tháng 5 năm 1809, trong một gia đình bá tước cổ xưa của Bavaria. Về cuối đời, Ông di cư sang Mỹ, sống nhiều năm tại các bang miền Tây, và khoảng tháng 12 năm 1875, Ông đến gặp tôi ở New York với một bức thư giới thiệu của cố Đại tá Bundy, chủ bút tờ Religio-Philosophical Journal, giới thiệu Ông cho tôi. Thấy Ông là người có phong thái dễ mến, hiển nhiên quen thuộc với xã hội thượng lưu, và bày tỏ nhiều quan tâm đến Thần linh học cùng mong muốn học hỏi đôi điều về các thuyết phương Đông của chúng tôi, tôi đã tiếp Ông niềm nở, và theo lời thỉnh cầu, giới thiệu Ông với H. P. B. Mối quen biết được duy trì, Baron gia nhập Hội chúng ta, và, xảy ra một chỗ trống sau đó vì Mục sư J. H. Wiggin từ chức, Ông được bầu làm Ủy viên Hội đồng vào ngày 29 tháng 3 năm 1876. Vì Ông than yếu sức, và chẳng có ai ở New York bận tâm Ông sống hay chết trong ngôi nhà trọ tồi tàn nơi Ông trú, tôi mời Ông đến ở một phòng trong “căn hộ” của tôi, chăm lo tiện nghi cho Ông, và mời một bác sĩ đến khám. Khi xuất hiện triệu chứng viêm phổi và viêm thận, và bác sĩ chẩn đoán Ông nguy kịch, Ông nhờ tôi gọi Ông Judge, Cố vấn thường trực của Hội, và lập chúc thư để lại vài mảnh bất động sản ở Chicago cho hai vị nữ hữu, chỉ định tôi là người thừa kế còn lại, và bổ nhiệm Ông Newton, Thủ quỹ T. S., và tôi làm người thi hành di chúc, với đầy đủ quyền hạn. Theo lời khuyên y khoa và theo chính lời khẩn cầu của Ông, Ông được chuyển đến Bệnh viện Roosevelt vào tối Thứ Sáu, ngày 19 tháng 5 (1876) và mất vào sáng hôm sau. Kết quả giải phẫu tử thi cho thấy Ông đã nhiều năm mắc một chuỗi bệnh phối hợp ở phổi, thận, và các cơ quan khác; một giấy chứng tử y khoa rằng Ông chết vì viêm thận đã được cấp và lưu tại Cục Y Tế theo quy định pháp luật, và thi hài được đưa đến hầm nhận của Nghĩa trang Lutheran chờ hoàn tất các sắp đặt an táng.

In religion Baron de Palm was a Voltairean with a gloss of Spiritualism. He particularly asked that no clergyman or priest should officiate at his funeral, but that I should perform the last offices in a fashion that would illustrate the Eastern notions of death and immortality. The recent agitation of the subject of cremation in Great Britain and America, caused by the incineration of the body of the first Lady Dilke, the scientific experiments of Sir Henry Thompson (vide his published essay The Treatment of the Body of the Death, London, 1874), and the sensational article and pamphlets of Rev. H. R. Haweis upon the unspeakable horrors of the burial-grounds of London, led me to ask him how he would wish me to dispose of his remains. He asked for my opinion upon the relative superiority of the two modes of sepulture, concurred in my preference for cremation, expressed a horror of burial, some lady he had once known having been buried alive, and bade me do as I found most advisable. A dilettante sort of body calling itself the New York Cremation Society, had been formed in April, 1874, and I had enrolled myself as a member, and been elected a member of the Legal Advice Committee; but beyond passing resolutions and issuing pamphlets the members had done nothing to prove the faith that was in them. Here, at last, was the chance of having a body to burn, and thus inaugurating the very needed reform. I offered it to the Society in question and it was accepted. The weather being warm for the season, urgent haste was called for, and up to the evening before the day appointed for the public funeral of the Baron, it was understood that after the ceremonies I was to deliver over the body to the Society’s agents for cremation. Meanwhile H.P.B. and the rest of us bestirred ourselves to organise an impressive “Pagan funeral”—as the press chose to call it—compose a litany, devise a ceremonial, write a couple of Orphic hymns for the occasion, and get them set to appropriate music. On the Saturday evening mentioned above we were rehearsing our programme for the last time when a note was brought me from the Secretary of the N.Y. Cremation Society, to say that they would have to give up the cremation because of the great noise that the papers had made about the funeral and their attacks upon the Theosophical Society. In other words, these respectable moral cowards dared not face the ridicule and animosity which had been excited against us innovators. The quandary we were in did not last longer than a half hour, for I finally offered to take the whole responsibility upon myself, and pledged my word that the body should be burnt if I had even to do it myself. The promise was fulfilled in due time, as the sequel will show.

Về tôn giáo, Baron de Palm là người theo khuynh hướng Voltaire pha chút Thần linh học. Ông đặc biệt yêu cầu không có giáo sĩ hay linh mục nào chủ lễ tang, mà tôi sẽ cử hành nghi thức cuối cùng theo một cách thể hiện quan niệm phương Đông về cái chết và bất tử. Cuộc tranh luận gần đây về vấn đề hỏa táng tại Anh và Mỹ, do lễ thiêu xác phu nhân Dilke thứ nhất, các thí nghiệm khoa học của Ngài Henry Thompson (xem bài khảo luận xuất bản của Ông “Sự xử trí thân thể người chết”, Luân Đôn, 1874), và bài báo gây chấn động cùng các tập sách nhỏ của Mục sư H. R. Haweis về nỗi kinh hoàng không thể nói nên lời tại các nghĩa trang London, khiến tôi hỏi Ông muốn tôi xử lý di thể của Ông như thế nào. Ông hỏi ý kiến tôi về tính ưu việt tương đối của hai phương thức an táng, tán đồng sở thích của tôi dành cho hỏa táng, bày tỏ sự kinh hãi đối với chôn cất—vì một nữ nhân quen biết của Ông từng bị chôn sống—và bảo tôi làm theo điều tôi thấy là thích đáng nhất. Một hội thân sĩ nhàn tản tự xưng là Hội Hỏa Táng New York đã thành lập vào tháng 4 năm 1874, và tôi đã ghi danh là hội viên, được bầu vào Ủy ban Tư vấn Pháp lý; nhưng ngoài việc thông qua nghị quyết và phát hành tập sách thì các hội viên chẳng làm gì để chứng minh niềm tin của họ. Cuối cùng, đây là cơ hội có một thi thể để thiêu, nhằm khởi xướng cải cách rất cần thiết. Tôi đề nghị chuyển giao thi hài cho Hội nói trên và được chấp thuận. Thời tiết nóng so với mùa, sự khẩn cấp vô cùng cấp bách, và cho đến tối hôm trước ngày định cử hành lễ tang công khai của Baron, người ta hiểu rằng sau nghi thức, tôi sẽ giao thi thể cho các đại lý của Hội để hỏa táng. Trong khi đó H.P.B. và chúng tôi khẩn trương tổ chức một “đám tang ngoại giáo” ấn tượng—như báo chí gọi vậy—soạn một bài nguyện luân phiên, nghĩ ra một nghi lễ, viết hai bài thánh thi Orphic cho dịp này, và nhờ đặt nhạc phù hợp. Vào tối Thứ Bảy nói trên, khi chúng tôi đang diễn tập chương trình lần cuối, một tờ giấy nhắn được đưa đến cho tôi từ Thư ký Hội Hỏa Táng New York, báo rằng họ sẽ phải bỏ hỏa táng vì báo chí đã làm ầm ĩ về lễ tang và công kích Hội Thông Thiên Học. Nói cách khác, những kẻ nhút nhát đạo đức đáng kính trọng ấy không dám đối mặt với sự nhạo báng và thù nghịch đã kích động chống lại chúng tôi, những người tiên phong đổi mới. Thế khó xử của chúng tôi không kéo dài quá nửa giờ, vì cuối cùng tôi đề nghị nhận lấy toàn bộ trách nhiệm về mình, và cam kết bằng lời trịnh trọng rằng thi thể phải được thiêu, dẫu có phải chính tay tôi làm. Lời hứa đã được thực hiện đúng lúc, như phần sau sẽ cho thấy.

Through the obliging courtesy of the Rev. O. B. Forthingham, whose congregation were worshipping in the great hall of the Masonic Temple, at the corner of Twenty-third Street and Sixth Avenue, New York City, we were enabled to hold the Baron’s obsequies in that vast apartment. An hour before the appointed time the street was crowded by an eager, even somewhat obstreperous multitude, and a strong body of police had to be sent for to prevent the doors being forced. We had issued two kinds of admission tickets, both of triangular shape, one a black card printed in silver, for reserved seats, the other a drab one printed in black, for general admission; and the police were instructed to admit nobody without one or the other kind. But an American or British mob is hard to restrain, and there was such a rush when the doors were opened that the 1500 holders of tickets had to find seats as best they could. The great hall, which holds 2000 people, was crowded in every corner, the very passages and lobbies were blocked, and from the buzz of conversation and uneasiness prevailing it was easy to see that the multitude had come to gratify its curiosity, certainly not to evince either respect for the dead or sympathy with the Theosophical Society. It was just in that uncertain mood when the least unexpected and sensational incident might transform it into the wild beast that an excited crowd becomes at times. Through the whole of the previous week the leading papers had been lashing public curiosity into a frenzy, and one of the wittiest burlesques I ever read, that appeared in the World upon our anticipated ceremonial and public procession, set all New York laughing. For the benefit of our Theosophical grand-children I will quote the following fragment:

Nhờ sự lịch thiệp của Mục sư O. B. Frothingham, có giáo đoàn đang nhóm tại đại sảnh của Đền Tam Điểm, góc Phố 23 và Đại lộ Sáu, New York, chúng tôi có thể cử hành lễ tang của Baron trong phòng hội mênh mông ấy. Một giờ trước giờ ấn định, con phố đã chật kín đám đông háo hức, thậm chí hơi hung hăng, và phải điều một đội cảnh sát hùng hậu đến để ngăn cửa bị xô đổ. Chúng tôi đã phát hành hai loại phiếu vào cửa, đều hình tam giác, một loại là thẻ đen in bạc, dành cho chỗ ngồi dự trữ; loại kia là thẻ màu xám in đen, dành cho vào cửa chung; và cảnh sát được chỉ thị không cho ai vào nếu không có một trong hai loại. Nhưng một đám đông Mỹ hay Anh rất khó kiềm chế, và đã có một đợt xô ào khi cửa mở khiến cho 1.500 người có vé phải tự tìm chỗ ngồi. Đại sảnh, vốn chứa được 2.000 người, đã đầy chật mọi ngóc ngách, đến cả các lối đi và tiền sảnh cũng bị chắn kín, và qua làn xì xào và cảm giác bồn chồn đang ngự trị có thể dễ thấy rằng đám đông đến để thỏa trí tò mò, chứ chắc chắn không phải để tỏ lòng tôn trọng người quá cố hay cảm tình với Hội Thông Thiên Học. Đám đông đang ở trạng thái bất định mà chỉ cần một sự cố bất ngờ, giật gân nhỏ cũng có thể biến nó thành con thú hoang mà một đám đông bị kích động đôi khi hóa thành. Suốt tuần trước đó, các tờ báo lớn đã quất roi vào trí tò mò công chúng đến mức cuồng loạn, và một bài nhại hóm hỉnh bậc nhất mà tôi từng đọc, đăng trên tờ World về nghi lễ và đoàn rước dự kiến của chúng tôi, khiến cả New York cười vang. Vì lợi ích của các cháu chắt Thông Thiên Học của chúng ta, tôi xin trích đoạn sau:

“‘All right,’ said the Colonel; ‘go ahead and make out your programme, but leave everybody out but the members of the society, for the Masons wont have anything to do with it.’”Two hours were then spent in making out an order of march and a programme of exercises after the procession reaches the Temple, and the following is the result. The procession will move in the following order:

“‘...’ nói ông Đại tá; ‘cứ tiến hành soạn chương trình của các anh, nhưng loại tất cả mọi người ra trừ các hội viên của Hội, vì Tam Điểm sẽ chẳng dính dáng gì vào việc này.’” Hai giờ sau đó được dành để soạn thứ tự đoàn rước và chương trình nghi lễ khi đoàn rước đến Đền, và kết quả như sau. Đoàn rước sẽ di chuyển theo thứ tự:

“Colonel Olcott as high priest, wearing a leopard skin and carrying a roll of papyrus (brown card-board).

“Đại tá Olcott như đại tế, khoác da báo và cầm một cuộn papyrus (bìa màu nâu).

“Mr. Cobb as sacred scribe, with style and tablet.

“Ông Cobb như thư lại thánh, với bút sắt và bảng sáp.

“Egyptian mummy-case, borne upon a sledge drawn by four oxen. (Also a slave bearing a pot of lubricating oil.)

“Áo quan hình xác ướp Ai Cập, đặt trên xe trượt kéo bởi bốn con bò. (Cũng có một nô lệ mang một chum dầu bôi trơn.)

“Mme. Blavatsky as chief mourner and also bearer of the sistrum. (She will wear a long linen garment extending to the feet, and a girdle about the waist.)

“Bà Blavatsky như người khóc mướn trưởng, đồng thời là người cầm chuông lắc Ai Cập. (Bà sẽ mặc một áo vải lanh dài chấm chân, và thắt lưng.)

“Colored boy carrying three Abyssinian geese (Philadelphia chickens) to place upon the bier.

“Cậu bé da màu mang ba con ngỗng Abyssinia (gà Philadelphia) để đặt lên linh sàng.

“Vice-President Felt, with the eye of Osiris painted on his left breast, and carrying an asp (bought at a toy store on Eighth avenue).

“Phó Chủ tịch Felt, với con mắt của Osiris vẽ trên ngực trái, và cầm một con rắn độc (mua ở một cửa hàng đồ chơi trên Đại lộ số Tám).

“Dr. Pancoast, singing an ancient Theban dirge:

“Bác sĩ Pancoast, hát một điếu ca Thebes cổ:

“‘Isis and Nepthys, beginning and end;

“‘Isis và Nepthys, khởi nguyên và chung cuộc;

One more victim to Amenti we send.

Chúng ta gửi thêm một nạn nhân đến Amenti.

Pay we the fare, and let us not tarry,

Hãy trả tiền đò, và chớ chần chừ,

Cross the Styx by the Roosevelt Street ferry.’”

Qua sông Styx bằng phà Phố Roosevelt.’”

“Slaves in mourning gowns, carrying the offerings and libations, to consist of early potatoes, asparagus, roast beef, French pancakes, bock-beer, and New Jersey cider.

“Nô lệ mặc áo tang, khiêng phẩm vật và lễ rượu, gồm khoai tây đầu mùa, măng tây, thịt bò quay, bánh kếp Pháp, bia bock, và rượu táo New Jersey.”

“Treasurer Newton, as chief of the musicians, playing the double pipe.Other musicians performing on eight-stringed harps, tom-toms, etc.

“Thủ quỹ Newton, với vai trò trưởng ban nhạc công, thổi ống sáo kép. Những nhạc công khác trình diễn đàn hạc tám dây, trống nhỏ, v.v.

“Boys carrying a large lotus (sun-flower).

“Các cậu bé khiêng một bông sen lớn (hoa hướng dương).

“Librarian Fassit, who will alternate with music by repeating the lines beginning:

“Thủ thư Fassit, sẽ xen kẽ với âm nhạc bằng cách lặp lại những câu mở đầu:

“‘Here Horus comes, I see the boat,

“‘Kìa Horus đến, ta thấy con thuyền,

Friends, stay your flowing tears;

Bạn hữu ơi, xin ngăn dòng lệ tuôn;

The soul of man goes through a goat

Linh hồn người đi qua thân dê

In just 3,000 years.

Chỉ trong 3,000 năm là xong.

“At the Temple the ceremony will be short and simple. The oxen will be left standing on the sidewalk, with a boy near by to prevent them goring the passersby. Besides the Theurgic hymn, printed above in full, the Coptic national anthem will be sung, translated and adapted to the occasion as follows:

“Tại Đền, nghi thức sẽ ngắn gọn và đơn sơ. Bò mộng sẽ được để đứng trên lối đi, có một cậu bé đứng gần để ngăn chúng húc người qua lại. Ngoài Bài thánh ca Thần thuật đã in đầy đủ ở trên, sẽ hát quốc ca Coptic, được dịch và phỏng theo dịp này như sau:

“Sitting Cynocephalus, up in a tree,

“Khỉ đầu chó ngồi, trên ngọn cây,

I see you, and you see me.

Ta thấy ngươi, ngươi cũng thấy ta.

River full of crocodile, see his long snout!

Sông đầy cá sấu, xem mõm nó dài!

Hoist up the shadoof and pull him right out.”

Kéo cái gàu sòng lên và lôi hắn ra ngay.”

With this sort of thing going on for days together in advance, it may be imagined in what sort of dangerous mood was the crowded audience, only a handful of whom were members of the T. S. and most of whom were positively prejudiced against it. All went peacefully enough, however, until an excited Methodist, a relative of an F.T.S. who was assisting me in the ceremony, rising and wildly gesticulating, shouted “That’s a lie!” just when I had pronounced the words “There is but one first cause, uncreated—.” Instantly the audience sprang to their feet and some turned towards the door,as people will in such crises, not knowing whether the confused shout may not mean an alarm of fire: some of the rougher sort mounted the chairs, and, looking towards the stage, seemed ready to take part in fighting or skirmishing in case such should break out. It was one of those moments when the turn of events depends upon the speaker. As it happened, I had once seen the great Abolitionist orator, Wendell Philips, by imperturbable coolness quell a mob who were hooting and catcalling him, and as the memory flashed within me I adopted his tactics. Stepping quietly forward, I laid my left hand upon the Baron’s coffin, faced the audience, stood motionless and said nothing. In an instant there was a dead silence of expectancy; whereupon, slowly raising my right hand, I said very slowly and solemnly: “We are in the presence of death!” and then waited. The psychological effect was very interesting and amusing to me, who have for so many years been a student of crowds. The excitement was quelled like magic, and then in the same voice as before, and without the appearance of even having been interrupted, I finished the sentence of the litany—”eternal, infinite, unknown.”

Với những chuyện như thế tiếp diễn cả nhiều ngày trước đó, có thể hình dung đám khán giả chen chúc đã ở trong một tâm trạng dễ bùng nổ thế nào, chỉ một nhúm ít ỏi trong số họ là hội viên của T.S. còn đa số thì rõ ràng có thành kiến chống lại. Tuy nhiên, mọi sự diễn ra yên ổn cho đến lúc một tín đồ Methodist kích động—một thân nhân của một F.T.S. đang phụ giúp tôi trong nghi thức—đứng bật dậy, vung tay dữ dội và hét to: “Đó là dối trá!” đúng vào lúc tôi vừa đọc những lời “Chỉ có một Nguyên Nhân đầu tiên, không do tạo tác—.” Lập tức đám khán giả bật đứng dậy, một số quay đầu về phía cửa, như người ta vẫn làm trong những cơn khủng hoảng như vậy, không biết tiếng la lộn xộn kia có phải báo động cháy hay không; vài kẻ thô lỗ hơn thì trèo lên ghế, nhìn về sân khấu, có vẻ sẵn sàng tham gia ẩu đả hay xô xát nếu bùng phát. Đó là một khoảnh khắc mà bước chuyển của sự việc tùy thuộc nơi người diễn thuyết. Tình cờ là tôi từng thấy nhà hùng biện bậc thầy phái Abolitionist, Wendell Phillips, dùng sự điềm tĩnh bất động để dẹp yên một đám đông đang huýt sáo và la ó ông, và khi ký ức ấy vụt hiện, tôi áp dụng chiến thuật của ông. Bước lên lặng lẽ, tôi đặt tay trái lên quan tài của Nam tước, quay mặt đối diện khán giả, đứng bất động và không nói gì. Chỉ trong khoảnh khắc, căn phòng chìm vào im lặng chết lặng vì chờ đợi; bấy giờ, từ từ nâng tay phải, tôi nói thật chậm rãi và trang nghiêm: “Chúng ta đang ở trong sự hiện diện của cái chết!” rồi im lặng. Hiệu ứng tâm lý rất thú vị và khiến tôi thấy thích thú, là người bao năm đã nghiên cứu về đám đông. Sự kích động lịm đi như phép mầu, và rồi, bằng cùng giọng như trước, như chưa hề bị gián đoạn, tôi hoàn tất câu của bài đọc kinh cầu—“vĩnh cửu, vô biên, bất khả tri.”

The two Orphic hymns that we compiled for the occasion were sung by a volunteer choir of the New Yorker Sængerbund and the organ accompaniment was the music of an Italian Mass, 300 years old; “and,”—says the Sun’s report—”as it swelled and then died softly away in the half gloom of the crowded but hushed room, with the symbolic fire flickering (on the triangular altar) and the ancient knightly decorations flashing on the coffin, the effect was very impressive.”

Hai bài thánh ca Orphê mà chúng tôi biên soạn cho dịp này được hợp xướng tự nguyện của New Yorker Sængerbund trình bày, và phần đệm đàn đại phong cầm là âm nhạc của một Thánh lễ Ý, 300 năm tuổi; “và,”—bản tường thuật của tờ Sun viết—“khi âm thanh dâng lên rồi tắt dần êm ái trong bóng nửa tối của căn phòng đông nghịt nhưng lặng phắc, với ngọn lửa biểu trưng bập bùng (trên bàn thờ hình tam giác) và những trang sức hiệp sĩ cổ xưa lóe trên quan tài, hiệu quả thật gây ấn tượng sâu đậm.”

After the singing of the first Orphic hymn, an invocation, or mantram, was made to “the Soul of the World, whose breath gives and withdraws the form of everything.” “The universe,” it went on to say, “is thy utterance and revelation. Thou, before whom the light of being is a shadow which changes and a vapor that passes away; thou breathest forth, and the endless spaces are peopled; thou drawest breath and all that went forth from thee returns again.” Good Vedântism this and good Theosophy! The same thought ran throughout all the parts of the service—the hymns, invocation, litany, and my discourse. In the latter I gave such particulars about Baron de Palm as I had got from himself (and very misleading they were afterwards proved to be when I heard from the family solicitor). I explained the character and objects of the T. S. [16] and my view of the complete inefficacy of death-bed repentance for the forgiveness of sins. I am glad to see upon reading the newspaper reports after the lapse of many years that I preached the doctrine of Karma, pure and simple. There was an outburst of applause and hisses when I said that the Society “considered the ruffian who stood under the gallows a ruffian still though twenty prayers might have been uttered over him.” I immediately commanded silence and continued my remarks,—reported thus:

Sau khi hát bài thánh ca Orphê thứ nhất, có lời khẩn cầu, hay mantram, dâng lên “Linh Hồn của Thế Giới, hơi thở của Ngài ban cho và thu hồi hình tướng của muôn vật.” “Vũ trụ,” lời ấy tiếp, “là lời phát biểu và sự mặc khải của Ngài. Ngài, trước Đấng mà ánh sáng của hiện hữu chỉ là chiếc bóng đổi thay và là làn hơi tan biến; Ngài thở ra, vô cùng không gian đầy sự sống; Ngài hít vào và mọi cái đã từ Ngài tuôn ra lại trở về.” Đây là Vedânta chân chính và cũng là Thông Thiên Học chân chính! Cùng một tư tưởng ấy chạy xuyên suốt mọi phần của nghi lễ—các thánh ca, lời khẩn cầu, bài đọc kinh cầu, và bài diễn thuyết của tôi. Trong phần sau cùng, tôi đã nêu những chi tiết về Nam tước de Palm mà tôi nhận được từ chính ông (và về sau chứng minh là rất sai lạc khi tôi nghe từ luật sư gia đình). Tôi diễn giải về tính cách và mục đích của T.S. cùng quan điểm của tôi về sự hoàn toàn bất lực của “ăn năn trước giờ lâm chung” trong việc được tha thứ tội lỗi. Tôi mừng khi thấy, đọc lại các bản tin sau bao năm, rằng tôi đã giảng thuyết giáo lý về nghiệp quả, thuần khiết và giản dị. Có một tràng vỗ tay lẫn tiếng huýt sáo phản đối bùng lên khi tôi nói rằng Hội “xem kẻ côn đồ đứng dưới giá treo cổ vẫn là kẻ côn đồ, dẫu có đến hai mươi lời cầu nguyện được đọc trên đầu hắn.” Tôi lập tức ra lệnh im lặng và tiếp tục, được ghi lại như sau:

“He then went on to say that Theosophy could not conceive of bad going unpunished or good remaining unrewarded. It believed a man to be a responsible being, and it was a religion not of professions but of practices. It was utterly opposed to sensuousness and taught the subordination of the body to the spirit. There, in that coffin, lay (the body of) a Theosophist. Should his future be pronounced one of unalloyed happines without respect to the course of his past life? No, but as he had acted so should he suffer or rejoice. If he had been a sensualist, a usurer, or a corrupter, then the divine first (and only) cause could not forgive him the least of his offences, for that would be to plunge the universe into chaos. There must be compensation, equilibrium, justice.”

“Ông tiếp tục nói rằng Thông Thiên Học không thể quan niệm điều ác lại không bị trừng phạt, hay điều thiện lại không được tưởng thưởng. Nó tin con người là một hữu thể có trách nhiệm, và đó là một tôn giáo của hành trì chứ không phải của lời tuyên xưng. Nó hoàn toàn chống lại khoái lạc cảm quan và dạy sự đặt thể xác phục tùng tinh thần. Kia, trong quan tài ấy, là (thân xác của) một hội viên Thông Thiên Học. Lẽ nào tương lai của ông được tuyên là hạnh phúc thuần khiết, không xét đến đường đời đã sống? Không, mà ông đã hành sao thì sẽ chịu khổ hay hưởng vui vậy. Nếu ông từng là kẻ khoái lạc, cho vay nặng lãi, hay kẻ bại hoại, thì Nguyên Nhân đầu tiên (và duy nhất) thiêng liêng không thể tha thứ cho ông dù một lỗi nhỏ nhất, vì như thế là đẩy vũ trụ vào hỗn mang. Phải có sự bù trừ, quân bình, công chính.”

After the singing of the second Orphic hymn, Mrs. E. Hardinge Britten, the Spiritualist orator, addressed the audience for about ten minutes, in the capacity of a speaking medium, concluding with a strongly emotional apostrophe to the deceased Baron, bidding him farewell, declaring that he had “passed the golden gates wherein (sic) sorrow entereth not,” and strewing his bier with. flowers, “as symbols of full-blown life!” This closed the proceedings and the huge audience quietly dispersed.The body of the deceased was given in charge of Mr. Buckhorst, the Society’s undertaker, to be lodged in a receiving vault until I could arrange for its cremation. I was obliged to devise a better method of preserving it than the weak process of embalming that had been employed at the Hospital, which proved its inefficacy even within the fortnight. It gave me much anxiety, and no end of enquiry and research was involved, but I solved the difficulty at last by packing the cadaver in desiccated clay impregnated with the carbolic and other vapors of distilled coal tar. Decomposition had actually begun when the antiseptic was applied in the first week of June, but when we examined the corpse in the following December before removal for cremation, it was found completely mummified, all liquids absorbed and all decay arrested. It could have been kept thus, I am convinced for many years, perhaps for a century, and I recommend the process as superior to any other cheap method of embalming that has ever come under my notice.

Sau khi hát bài thánh ca Orphê thứ hai, Bà E. Hardinge Britten, nhà hùng biện theo Thần linh học, diễn thuyết trước khán giả chừng mười phút, với tư cách một đồng tử nói, kết lại bằng một lời kêu gọi thống thiết gửi Nam tước quá cố, tiễn biệt ông, tuyên rằng ông đã “đi qua những cổng vàng nơi (nguyên văn) sầu đau không bước vào,” và rải hoa lên linh sàng, “như những biểu trưng của sự sống nở tròn!” Buổi lễ kết thúc tại đó và đám đông lớn lặng lẽ giải tán. Thi hài người quá cố được giao cho Ông Buckhorst, nhà mai táng của Hội, đặt trong hầm lưu để tạm, cho đến khi tôi thu xếp việc hoả táng. Tôi buộc phải nghĩ ra một phương pháp bảo quản tốt hơn cái cách ướp yếu ớt đã dùng tại Bệnh viện, mà chỉ trong nửa tháng đã chứng tỏ sự bất lực. Nó gây cho tôi nhiều lo lắng, và kéo theo vô số hỏi han và nghiên cứu, nhưng rốt cuộc tôi giải quyết được bằng cách đóng gói thi thể trong đất sét sấy khô được thấm no hơi phenic và các hơi khác từ nhựa than đá chưng cất. Quá trình phân hủy thực ra đã bắt đầu khi chất sát trùng được áp dụng vào tuần đầu tháng Sáu, nhưng khi chúng tôi khám lại thi thể vào tháng Mười Hai sau đó trước khi chuyển đi hỏa táng, thấy rằng nó đã được ướp khô hoàn toàn, mọi dịch đều được hút hết và mọi hư hoại đều dừng lại. Tôi tin rằng nó có thể được giữ như thế trong nhiều năm, có lẽ cả thế kỷ, và tôi khuyến nghị phương pháp này như vượt trội bất kỳ phương pháp ướp xác rẻ tiền nào khác mà tôi từng biết.

H.P.B. had no official part in the public celebration of the De Palm obsequies, but made herself heard all the same. She sat with the non-officiating members of the Society among the audience, and when the excited Methodist interrupted our litany and a policeman was getting him in hand to escort him out of doors, she stood up and called out, “He’s a bigot, that’s what he is!” and set everybody around her laughing, in which she soon heartily joined. The members who took part in the ceremony were Messrs. Judge, Cobb, Thomas,Monachesi, Oliver, and three or four more whose names I cannot recall.

Bà H.P.B. không có vai trò chính thức trong buổi cử hành công khai lễ an táng De Palm, nhưng Bà vẫn lên tiếng. Bà ngồi với các hội viên không tham gia chủ lễ giữa khán giả, và khi người tín đồ Methodist kích động cắt ngang bài đọc kinh cầu của chúng tôi và một viên cảnh sát đang khống chế anh ta để áp giải ra ngoài, Bà đứng bật dậy và kêu to, “Hắn là kẻ cuồng tín, đúng là thế!” làm mọi người quanh Bà bật cười, và chẳng mấy chốc chính Bà cũng cười rất thoải mái. Các hội viên tham gia nghi lễ gồm các ông Judge, Cobb, Thomas, Monachesi, Oliver, và ba bốn người nữa mà tôi không nhớ tên.

The Council of the T.S., at its meeting of June 14th, and the Society, in its session of 21st June (1876), passed Resolutions ratifying and confirming all that the officers had done in connection with the De Palm autopsy, obsequies, and embalming. A Resolution was also adopted to the effect that,

Hội đồng T.S., tại phiên họp ngày 14 tháng Sáu, và toàn Hội, tại phiên ngày 21 tháng Sáu (1876), đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn và xác nhận mọi việc mà các viên chức đã làm liên quan đến việc khám nghiệm tử thi, lễ tang và ướp xác De Palm. Một Nghị quyết cũng được thông qua với nội dung rằng,

“The President and Treasurer of this Society, who are the executors under the last will and testament of our late fellow be, and hereby are, authorised and empowered to do in the name of this Society any and all further acts, which they may deem necessary to complete the disposal of the remains of our late fellow, according to his expressed wishes and direction. “

“Chủ tịch và Thủ quỹ của Hội này, là những người thi hành theo di chúc sau cùng của đồng sự quá cố của chúng ta, được, và theo đây, uỷ quyền và trao quyền để, nhân danh Hội này, thực hiện mọi hành vi tiếp theo mà họ cho là cần thiết để hoàn tất việc xử lý phần di hài của đồng sự quá cố của chúng ta, theo như nguyện ước và chỉ dẫn mà ông đã bày tỏ.”

The Baron’s funeral being over, the next thing was to see what his estate was likely to realise for the Society (for although all was left to me individually there was an understanding between us that I should be free to hand over everything to the T.S.). Mr. Newton and I obtained probate of the will, and Mr. Judge was instructed to make the necessary inquiries. Our first shock came when we opened his trunk at the hospital: it contained two of my own shirts, from which the stitched name-mark had been picked out. This looked very cloudy indeed, a bad beginning towards the supposed great bequest. There were also in the trunk a small bronze bust of a crying baby, some photographs and letters of actresses and prima donnas, some unreceipted bills, some gilt and enamelled duplicates of his orders of nobility, a flat, velvet-lined case containing the certificates of his birth, his passports and the several diplomatic and court appointments he had held, the draft of a former will, now cancelled, and a meagre lot of clothing. Beyond this, nothing; no money or jewelry, no documents, no manuscripts, no books, no evidences of a. literary taste or habits. I give these details—in which Mr. Newton and Mr. Judge and others will corroborate me—for an excellent reason, to be presently stated.

Lễ tang của Nam tước xong xuôi, việc kế tiếp là xem di sản của ông có thể mang lại cho Hội được bao nhiêu (vì tuy mọi thứ để lại cho riêng tôi nhưng giữa chúng tôi có sự hiểu ý rằng tôi có thể tự do chuyển giao tất cả cho T.S.). Ông Newton và tôi làm thủ tục chứng thực di chúc, và Ông Judge được giao nhiệm vụ tiến hành những cuộc dò hỏi cần thiết. Cú sốc đầu tiên đến khi chúng tôi mở chiếc rương của ông trong bệnh viện: trong đó có hai chiếc sơ mi của chính tôi, trên đó nhãn tên khâu đã bị gỡ đi. Quả là điềm rất đáng ngờ, một khởi đầu tệ hại cho kỳ vọng về khoản di tặng lớn. Cũng trong rương có một tượng bán thân bằng đồng của một em bé đang khóc, vài ảnh và thư của đào kép và ca sĩ chính, vài hoá đơn chưa biên nhận, vài bản sao mạ vàng và tráng men các huân chương quý tộc của ông, một hộp dẹt lót nhung đựng giấy chứng sinh, hộ chiếu và những bổ nhiệm ngoại giao, triều đình mà ông từng nắm giữ, bản thảo của một di chúc trước đó, nay đã huỷ, và một mớ áo quần ít ỏi. Ngoài ra, không có gì; không tiền hay trang sức, không tài liệu, không bản thảo, không sách, không dấu vết của một sở thích hay thói quen văn chương. Tôi nêu những chi tiết này—mà Ông Newton, Ông Judge và những người khác sẽ xác nhận—vì một lý do rất xác đáng, sẽ trình bày ngay sau.

The old will described him as Seignior of the castles of Old and New Wartensee, on Lake Constance, and his papers showed him to be the presumed owner of 20,000 acres of land in Wisconsin, forty town lots in Chicago, and some seven or eight mining properties in Western. States. Upon the low estimate that the farming land was worth $5 per acre, the rumour spread that I had inherited at least £20,000, to say nothing of the two Swiss castles, the town lots, and the gold and silver mining claims. It ran through the whole American press, editorials were written upon it, and I received a shoal of letters, congratulatory and begging, from known and unknown persons in various countries. Mr. Judge communicated with the lady legatees, with public officials at home and abroad, and with a representative of the Baron’s family. This took several months, but the final result was this: the ladies would not take the Chicago lots for a gift, the Wisconsin land had been sold for taxes years before, the mining shares were good only for papering walls, and the Swiss castles proved castles in the air; the whole estate would not yield even enough to reimburse Mr. Newton and myself for the moderate costs of the probate and funeral! The Baron was a broken-down noble, without means, credit, or expectations; a type of a large class who fly to republican America as a last resource when Europe will no longer support them. Their good breeding and their titles of nobility gain them an entrance into American society, sometimes chances of lucrative posts, oftener rich wives. I never knew exactly what our friend had been doing in the West, but through importunate creditors who turned up, I found out that he had at any rate been concerned in unprofitable attempts to form industrial companies of sorts.

Bản di chúc cũ mô tả ông là Lãnh chúa của các lâu đài Wartensee Cũ và Mới, trên Hồ Constance, và giấy tờ của ông cho thấy ông được xem là chủ sở hữu 20,000 mẫu đất ở Wisconsin, bốn mươi lô đất thị trấn ở Chicago, và chừng bảy hay tám mỏ ở các Tiểu bang miền Tây. Với ước tính thấp rằng đất nông nghiệp giá 5 đô một mẫu, lời đồn lan ra rằng tôi đã thừa hưởng ít nhất £20,000, chưa nói đến hai lâu đài Thuỵ Sĩ, các lô đất thị trấn, và các quyền khai thác mỏ vàng bạc. Tin đó chạy khắp báo chí Mỹ, xã luận được viết về việc này, và tôi nhận được một đống thư, chúc mừng và xin xỏ, từ người quen lẫn người lạ ở nhiều quốc gia. Ông Judge liên lạc với các nữ thụ hưởng di chúc, với các viên chức công tại quốc nội và hải ngoại, và với một đại diện của gia đình Nam tước. Việc này mất vài tháng, nhưng kết quả sau cùng là: các bà không thèm nhận các lô ở Chicago dù tặng không, đất Wisconsin đã bị bán để trả thuế từ nhiều năm trước, cổ phần mỏ chỉ còn giá trị để dán tường, và các lâu đài Thuỵ Sĩ thì hoá ra chỉ là “lâu đài trên mây”; cả gia sản không đủ để hoàn lại cho Ông Newton và tôi chi phí chừng mực của việc khai chứng và tang lễ! Nam tước là một quý tộc sa sút, không có phương tiện, tín dụng, hay kỳ vọng; một mẫu hình của một lớp người đông đảo rời sang nước Mỹ cộng hoà như chốn nương náu cuối cùng khi châu Âu không còn nuôi nổi họ. Phép lịch sự của họ và tước hiệu quý tộc của họ giúp họ vào được xã hội Mỹ, đôi khi có cơ hội có chức vụ bổng lộc, thường hơn là cưới vợ giàu. Tôi không bao giờ biết rõ bạn tôi đã làm gì ở miền Tây, nhưng qua các chủ nợ dai dẳng tìm đến, tôi biết được tối thiểu ông từng dính líu vào những nỗ lực không sinh lợi nhằm lập ra những công ty công nghiệp các loại.

Neither then nor since have I discovered one grain of proof that Baron de Palm had either literary talent, erudition, or scholastic tastes. His conversation with H. P. B. and myself was mainly upon superficial matters, the topics which interest society people. Even in Spiritualism he did not seem to have been a deep thinker, rather an interested observer of mediums and phenomena. He told us much about his experiences in diplomatic circles, and ascribed his present straitened circumstances (as regards the possession of ready cash) to his futile attempts, when an attaché, to vie with rich English diplomats in showy living and fashionable indulgences. He read little and wrote nothing: as I had ample opportunity of observing, since he was living with me as my guest.

Chưa từng và đến giờ tôi vẫn chưa tìm ra một hạt bằng chứng nào cho thấy Nam tước de Palm có tài văn chương, uyên bác, hay thị hiếu học thuật. Những câu chuyện ông trò chuyện với Bà H.P.B. và tôi chủ yếu là chuyện hời hợt, những đề tài mà giới giao tế ưa thích. Ngay trong Thần linh học, ông cũng không có vẻ là người suy tư sâu xa, hơn là một người quan sát quan tâm đến đồng tử và hiện tượng. Ông kể nhiều cho chúng tôi nghe về trải nghiệm trong giới ngoại giao, và quy hoàn cảnh túng thiếu hiện tại (về phần sẵn tiền mặt) của mình cho những cố gắng vô ích, khi là tuỳ viên, tìm cách đua đòi với các nhà ngoại giao Anh giàu có trong lối sống phô trương và những hưởng thụ thời thượng. Ông đọc ít và không viết gì: điều này tôi có dư cơ hội quan sát, vì ông sống cùng tôi với tư cách khách của tôi.

It would be painful for me to dwell upon these personalities but for the necessity of my showing the man’s character, and leaving my readers to judge for themselves whether he was fit to be a teacher or mentor to a person like the author of Isis Unveiled and The Secret Doctrine. For that is the disputed point. With an inconceivable malignity certain unprincipled foes of hers have spread the calumny that her Isis Unveiled is “nothing but a compilation from the manuscripts of Baron de Palm, and without acknowledgment.” This will be found in a mendacious letter of Dr. Elliott Coues in the New York Sun of July 20, 1890, which the Editor of that influential paper more recently, in the most honorable spirit of justice, expressed regret for having published and declared unsupported by evidence. The falsehood has been circulated, as I am informed, by Mrs. Emma Hardinge Britten, by a learned calumniator in The Carrier Dove, and by other hostile newspaper writers: it has, moreover, been given a certain permanency of publication by an expelled French F.T.S., one Dr. G. Encausse (known by the pseudonym of Papus) in his work Traité Methodique de Science Occulte, which was reviewed in the Theosophist for August, 1892.

Sẽ là đau lòng cho tôi nếu phải sa đà vào những chuyện riêng tư này, nếu không vì sự cần thiết phải phác hoạ tính cách của người đàn ông ấy, và để độc giả tự phán đoán xem ông có xứng làm thầy hay chỉ nam cho một người như tác giả của Isis Unveiled và Giáo Lý Bí Nhiệm hay không. Vì đó mới là điểm đang tranh cãi. Với sự độc địa không thể tưởng tượng nổi, vài kẻ thù vô lương của Bà đã gieo rắc lời vu khống rằng Isis Unveiled của Bà “chỉ là một sự biên hợp từ bản thảo của Nam tước de Palm, mà không hề ghi nhận nguồn.” Điều này thấy trong một bức thư gian dối của Bác sĩ Elliott Coues đăng trên tờ New York Sun ngày 20 tháng Bảy, 1890, mà về sau Chính Chủ bút của tờ báo có ảnh hưởng ấy, với tinh thần công chính đáng tôn trọng, đã bày tỏ hối tiếc vì đã đăng và tuyên bố rằng điều đó không có bằng chứng hỗ trợ. Lời dối trá ấy đã được truyền đi, theo tôi được biết, bởi Bà Emma Hardinge Britten, bởi một kẻ vu cáo học thức trên The Carrier Dove, và bởi những cây bút báo chí thù địch khác: hơn nữa, nó còn được cho một vẻ bền vững công bố nào đó bởi một F.T.S. người Pháp bị khai trừ, một bác sĩ G. Encausse (được biết dưới bút hiệu Papus) trong tác phẩm Traité Methodique de Science Occulte, đã được điểm trong Theosophist số tháng Tám, 1892.

To those who knew H.P.B.’s mode of life while writing her book, who were acquainted with Baron de Palm at the West and in New York, and who were associated with him during his brief connection with the T.S., the above candid and easily proven details about his personality, habits, and acquirements will suffice. For others, I reluctantly append the scathing letter which Herr Consul Obermayer, of Augsburg, Bavaria, sent Mr. Judge in response to his official and professional enquiry as to M. de Palm’s supposed European properties, and which has been translated for this publication from the original in my possession. From its date, the reader will see that we did not receive it, and consequently did not know the truth about the Baron’s European antecedents, until a full year after his death, and five months after the world famous cremation of his remains:

Đối với những ai biết nếp sống của Bà H.P.B. trong khi viết sách, quen biết Nam tước de Palm ở miền Tây và tại New York, và những ai gắn bó với ông trong quãng thời gian ngắn ngủi ông tham gia T.S., thì những chi tiết thẳng thắn và dễ dàng chứng minh ở trên về tính cách, thói quen và sở học của ông là quá đủ. Với những người khác, tôi miễn cưỡng đính kèm bức thư đanh thép mà Ngài Lãnh sự Obermayer, ở Augsburg, Bavaria, gửi Ông Judge để đáp lại thư hỏi chính thức và nghề nghiệp về các tài sản Âu châu được cho là của Ngài de Palm, và đã được dịch cho ấn phẩm này từ bản gốc hiện thuộc sở hữu của tôi. Căn cứ theo ngày tháng, độc giả sẽ thấy rằng chúng tôi đã không nhận được nó, và do đó không biết sự thật về lai lịch Âu châu của Nam tước, cho đến trọn một năm sau khi ông mất, và năm tháng sau lễ hoả táng lừng danh thế giới phần di cốt của ông:

“CONSULATE OF THE ARGENTINE REPUBLIC

“LÃNH SỰ QUÁN CỘNG HOÀ ARGENTINA

AUGSBURG, May 16, 1877.

AUGSBURG, 16 tháng Năm, 1877.

No. 1130.

Số 1130.

TO WILLIAM Q. JUDGE,

GỬI WILLIAM Q. JUDGE,

Attorney and Counsellor at Law,

Luật sư và Cố vấn pháp luật,

71 Broadway, New York.

71 Broadway, New York.

“From your letter of the 7th ult., I gather that Baron Josef Heinrich Ludwig von Palm died in New York in the month of May, 1876.

“Từ thư của Ông đề ngày mồng 7 tháng vừa rồi, tôi hiểu rằng Nam tước Josef Heinrich Ludwig von Palm đã mất tại New York vào tháng Năm, 1876.

“The undersigned, Consul Max Obermayer (late United States Consul at Augsburg from 1866 to 1873), happens by chance to be in a position to give you the information desired regarding the deceased in a thoroughly exhaustive manner, and is very willing to do so.

“Người ký tên dưới đây, Lãnh sự Max Obermayer (nguyên Lãnh sự Hoa Kỳ tại Augsburg từ 1866 đến 1873), tình cờ ở vào vị thế có thể cung cấp cho Ông thông tin được yêu cầu về người quá cố một cách hoàn toàn cặn kẽ, và rất sẵn lòng làm điều đó.

“Baron von Palm was in his youth an officer in the Bavarian army, but was forced on account of his many shady transactions and debts to leave the service. He then betook himself to other parts of Germany, but could not remain long anywhere, because his great frivolity, his love of good living and his debaucheries constantly led him to incur fresh debts and involve himself in shady transactions; so that he was even condemned by the courts and sent to jail.

“Nam tước von Palm thuở thanh niên là một sĩ quan trong quân đội Bavaria, nhưng vì nhiều giao dịch mờ ám và nợ nần mà buộc phải rời ngũ. Sau đó ông đến những vùng khác của Đức, nhưng không thể ở lâu nơi nào, vì tính vô lo quá độ, thói ham ăn ngon mặc đẹp và những trác táng liên tục đẩy ông vào nợ nần mới và dính vào các vụ mờ ám; đến mức ông còn bị toà kết án và tống giam.

“After it became impossible for him to remain longer in Germany, he went to Switzerland to enter on a new course of swindling, and he actually succeeded, by false promises and misrepresentations, in persuading the owner of Schloss (Castle) ‘Wartensee’ to sell him that property, which he forthwith occupied. His stay there, however, was short; not only was he unable to raise the purchase money, but he could not even pay the taxes, and in consequence the property was sold for the account of the creditors and Palm fled to America.

“Sau khi không thể ở lại Đức nữa, ông sang Thuỵ Sĩ để khởi sự một chuỗi lừa đảo mới, và thực tế ông đã thành công, bằng những hứa hẹn dối trá và xuyên tạc, trong việc thuyết phục chủ của Schloss (Lâu đài) ‘Wartensee’ bán tài sản đó cho mình, mà ông lập tức dọn đến ở. Tuy nhiên, ông ở đó không lâu; không những ông không thể xoay tiền mua, mà đến thuế cũng không trả nổi, hậu quả là tài sản bị bán để hoàn cho chủ nợ và Palm trốn sang Mỹ.

“Whether or not he supported himself in America by frauds is not known here.

“Việc ông có tự nuôi thân ở Mỹ bằng những thủ đoạn gian lận hay không thì nơi đây không biết.

“Of property in Europe he possesses not one cent’s worth; all that may be found among his effects to that purport is a pure swindle.

“Ở châu Âu ông không có tài sản dù chỉ đáng một xu; tất cả những gì có thể tìm thấy trong di vật của ông nói về điều đó chỉ là trò lừa thuần tuý.

“The only property on which he had any claim whatever, before he went to America, was a share in the Knebelisher inheritance in Trieste. When he left he had already taken much trouble to obtain immediate payment of this amount, but in vain.

“Tài sản duy nhất mà ông có bất kỳ quyền đòi hỏi nào, trước khi sang Mỹ, là một phần trong di sản Knebelisher ở Trieste. Trước khi rời đi ông đã rất cố gắng để nhận ngay số tiền này, nhưng vô ích.

“Towards the end of the year 1869, Palm addressed himself to the undersigned in his then capacity of United States Consul, with the request to arrange for the payment to him of his share in the Knebelisher estate mentioned above.

“Vào cuối năm 1869, Palm đã liên hệ với người ký tên dưới đây trong tư cách khi đó là Lãnh sự Hoa Kỳ, đề nghị thu xếp việc thanh toán cho ông phần của mình trong di sản Knebelisher nói trên.

“This request was at once complied with, and, as appears from the enclosed copy of his receipt, the sum of 1,068 Thalers 4/6 = $ 3247.53 was placed at Palm’s disposal by a consular letter of Jan. 21,1870, and he availed himself thereof through the banking house of Greenbaum Bros. & Co., as appears from his letter to the consulate of Feb. 14, 1870.

“Đề nghị này lập tức được đáp ứng, và, như thể hiện trong bản sao biên nhận đính kèm, số tiền 1,068 đồng Thaler 4/6 = $ 3247.53 đã được đặt dưới sự tuỳ nghi sử dụng của Palm bằng một công thư lãnh sự đề ngày 21 tháng Giêng, 1870, và ông đã sử dụng thông qua nhà ngân hàng Greenbaum Bros. & Co., như thể hiện trong thư của ông gửi Lãnh sự quán đề ngày 14 tháng Hai, 1870.

“I can only repeat that Palm possessed in Europe neither a single dollar in money, nor a single foot of ground, and that everything which may be found among his papers to the contrary is based solely upon fraudulent representation.

“Tôi chỉ có thể nhắc lại rằng Palm không sở hữu ở châu Âu dù một đồng tiền hay một tấc đất, và rằng mọi thứ có thể được tìm thấy trong giấy tờ của ông trái với điều này đều chỉ dựa trên những trình bày gian dối.

“Palm’s only known relatives are the two Baroneses Von T—— domiciled in Augsburg, both families in every way most respectable, and to whom Palm in the last year of his residence in Europe caused much scandal and annoyance.

“Những thân nhân duy nhất được biết của Palm là hai gia đình Nữ Nam tước Von T—— cư trú tại Augsburg, cả hai đều là những gia đình hoàn toàn đáng kính về mọi phương diện, và trong năm cuối cùng ông còn ở châu Âu, Palm đã gây cho họ nhiều tai tiếng và phiền não.

“The above gives all that is to be known about the deceased Palm in the most exhaustive manner, and probably more even than you may have expected.

“Những điều trên cho biết tất cả những gì cần biết về người quá cố Palm một cách đầy đủ nhất, và có lẽ còn hơn cả những gì Ông trông đợi.

.......

.......

(Signed) MAX OBERMAYER.

(Ký) MAX OBERMAYER.

Consul Argentine Republic.”

Lãnh sự Cộng hoà Argentina.”

____

____

My compliments to M. Papus, Mrs. Britten and her “party.” Palmam qui meruit, ferat!

Xin gửi lời chào đến Ngài Papus, Bà Britten và “phe” của Bà. Palmam qui meruit, ferat!

CHAPTER XI—CHƯƠNG XI

THE FIRST CREMATION IN AMERICA—LỄ HỎA TÁNG ĐẦU TIÊN Ở MỸ

BARON DE PALM’S cremation is the theme of the present chapter. I have related above the circumstances which led to my taking it upon myself and since it is historically important from having been the first public cremation in the United States and the first where a crematorium was employed, the details should be interesting.

Lễ hoả táng của NAM TƯỚC DE PALM là chủ đề của chương này. Tôi đã thuật lại ở trên những hoàn cảnh dẫn đến việc tôi tự đảm đương, và vì nó có ý nghĩa lịch sử do là lễ hoả táng công khai đầu tiên ở Hoa Kỳ và là lần đầu tiên sử dụng một nhà hỏa táng, nên các chi tiết hẳn sẽ thú vị.

The cremation took place December 6, 1876, at the small inland town of Washington, Washington County, Pennsylvania, more than six months after the body had been packed in carbolised dried clay at New York. It is very easy now to cremate a body, either in America or England, for efficient crematories are available and cremation societies exist, but then it was quite another thing. When I pledged myself to dispose of the Baron’s remains as he wished, there were no facilities, no precedents in my country to follow, unless I wished to adopt the Eastern method of open-air burning, which had been once employed, and which, in the then state of public prejudice and the probable refusal of the Sanitary Board to issue a permit, would have been very difficult, not to say dangerous. My only practicable policy was to wait until the chance offered itself. In the year 1816, a Mr. Henry Laurens, a wealthy gentleman of South Carolina, ordered his executors to burn his corpse and compelled his family to acquiesce by the testamentary proviso that they should not inherit his estate unless his wishes were strictly carried out. Accordingly, his body was burnt on his own plantation in the Eastern fashion, on a funeral pyre and in the open air; his family and near relations being present. One other case of the kind is recorded, that of a Mr. Berry, the pyre being used in this instance also, if my memory serves me. But there had been no case of the disposal of human remains in a retort or crematorium constructed for the purpose, and so, as above said, I had no choice but to wait patiently the turn of events. I was not kept long in suspense, for one morning in July or August it was announced in the papers that Dr. F. Julius Le Moyne, an eccentric but very philanthropic physician of Western Pennsylvania, had begun erecting a crematorium for the burning of his own body. I immediately opened correspondence with him, with the result that (Letter of August 16, 1876) he consented that if he should survive the completion of his building, the Baron’s corpse should be the first one disposed of. At the time of the funeral the possibility of there being a subsequent cremation was not publicly announced but only whispered about; now, however, it was openly declared, my purpose being to give the authorities fair warning, so that if any legal obstacle existed it might be brought to view. Mr. F.C. Bowman, Counsellor at Law (Barrister), and I were elected a legal Advisory Committee of the Original N.Y. Cremation Society, to carefully examine the statutes and report whether or not a person had the right of choosing the way in which to dispose of his body. We found nothing to indicate the contrary; and, in fact, common sense itself would show that if a man has absolute ownership of anything belonging to him it must be of his physical body, and that he is free to say how it shall be disposed of after his death, provided that he chooses no method imperilling the rights or welfare of others. Under my private agreement with the N.Y. Cremation Society, and hence long before Dr. Le Moyne’s crematorium was ready, we made formal application to the Brooklyn Board of Health for a permit of removal for cremation, and the Board took counsel’s opinion. [17] It agreed with Mr. Bowman’s and mine, and an application, couched in officially prescribed terms, being made later when the crematorium was finished, the permit was duly granted. Thus the first important point was made, and no legal impediment existing, the advocates of cremation had only to meet theological, economic, scientific, and sentimental objections. Dr. Le Moyne and I agreed upon the plan of arranging for a public meeting with addresses from representative men, to take place immediately after the cremation, and for an evening meeting to discuss the merits and demerits of this mode of sepulture. We agreed that each public speaker should confine himself to a special branch of the subject, to avoid repetitions while covering the entire ground.

Lễ hoả táng diễn ra ngày 6 tháng Mười Hai, 1876, tại thị trấn nội địa nhỏ Washington, Quận Washington, Pennsylvania, hơn sáu tháng sau khi thi thể được đóng gói trong đất sét khô tẩm carbol hoá ở New York. Giờ đây việc hoả táng một thi thể ở Mỹ hay Anh đều rất dễ, vì có các nhà hỏa táng hiệu quả và các hội hỏa táng tồn tại, nhưng khi đó lại là chuyện hoàn toàn khác. Khi tôi cam kết sẽ xử lý phần di hài của Nam tước theo ước nguyện của ông, thì không có phương tiện, không có tiền lệ nào ở nước tôi để noi theo, trừ phi tôi muốn áp dụng phương pháp hỏa táng ngoài trời kiểu Đông phương, từng được dùng một lần, mà trong tình trạng thành kiến công chúng thời ấy và khả năng Hội đồng Vệ sinh có thể từ chối cấp phép, thì sẽ rất khó, chưa nói là nguy hiểm. Chính sách khả dĩ duy nhất của tôi là chờ đợi cho đến khi cơ hội tự đến. Năm 1816, một ông Henry Laurens, một quý ông giàu có ở South Carolina, đã ra lệnh cho những người thi hành di chúc đốt xác mình và bắt buộc gia đình ông phải thuận theo bằng điều khoản trong di chúc rằng họ sẽ không được thừa kế gia sản nếu ước nguyện của ông không được thi hành nghiêm chỉnh. Do đó, thi thể ông được hoả thiêu trên chính điền trang của ông theo lối Đông phương, trên một giàn hoả và ngoài trời; gia quyến và những người thân cận có mặt. Còn một trường hợp khác thuộc loại này được ghi lại, của một ông Berry, cũng dùng giàn hoả, nếu trí nhớ tôi không lầm. Nhưng chưa hề có trường hợp xử lý hài cốt trong một buồng nung hay nhà hỏa táng được xây dựng cho mục đích ấy, nên như đã nói, tôi không còn chọn lựa nào khác ngoài việc kiên nhẫn chờ thời. Tôi không phải chờ lâu, vì một buổi sáng vào tháng Bảy hay Tám, báo chí loan tin Bác sĩ F. Julius Le Moyne, một thầy thuốc miền Tây Pennsylvania có tính lập dị nhưng rất nhân hậu, đã bắt tay xây dựng một nhà hỏa táng để đốt chính thân xác mình. Tôi lập tức mở thư từ với ông, kết quả là (Thư đề ngày 16 tháng Tám, 1876) ông đồng ý rằng nếu ông còn sống sau khi tòa nhà hoàn tất, thì xác của Nam tước sẽ là xác đầu tiên được xử lý. Vào thời điểm lễ tang, khả năng sẽ có hoả táng sau đó không được công bố mà chỉ rỉ tai; nhưng giờ thì được tuyên bố công khai, mục đích của tôi là báo trước cho nhà chức trách, để nếu có bất kỳ trở ngại pháp lý nào thì nó có thể được nêu ra. Ông F.C. Bowman, Cố vấn Pháp luật (Luật sư biện hộ), và tôi được bầu làm Uỷ ban Cố vấn Pháp lý của Hội Hỏa táng New York Nguyên thủy, để khảo cứu kỹ các đạo luật và báo cáo liệu một người có quyền chọn cách xử lý thân xác mình hay không. Chúng tôi không thấy điều gì cho thấy điều ngược lại; và, thực ra, lẽ thường cũng cho thấy rằng nếu con người có quyền sở hữu tuyệt đối bất cứ thứ gì thuộc về mình thì hẳn phải là thân xác vật lý, và rằng họ tự do nói nó sẽ được xử lý ra sao sau khi chết, miễn là không chọn cách thức gây nguy hại quyền lợi hay phúc lợi của người khác. Theo thoả thuận riêng giữa tôi với Hội Hỏa táng New York, và do đó từ lâu trước khi nhà hỏa táng của Bác sĩ Le Moyne sẵn sàng, chúng tôi đã làm đơn chính thức lên Hội đồng Y tế Brooklyn xin giấy phép di dời để hoả táng, và Hội đồng đã xin ý kiến pháp lý. Ý kiến đó trùng với của Ông Bowman và tôi, và khi nhà hỏa táng hoàn tất, đơn theo mẫu chính thức được nộp, giấy phép đã được cấp đầy đủ. Như vậy điểm quan trọng đầu tiên đã được lập, và khi không có chướng ngại pháp lý, những người ủng hộ hoả táng chỉ còn phải đối mặt với các phản đối về thần học, kinh tế, khoa học, và tình cảm. Bác sĩ Le Moyne và tôi thống nhất kế hoạch tổ chức một cuộc họp công khai với các bài diễn thuyết của những nhân vật tiêu biểu, diễn ra ngay sau lễ hoả táng, và một cuộc họp buổi tối để bàn về ưu và nhược của phương thức an táng này. Chúng tôi thoả thuận rằng mỗi diễn giả công khai sẽ chỉ nói một nhánh chuyên biệt của đề tài, để tránh lặp lại và vẫn bao quát toàn bộ vấn đề.

Owing to the neutral character of the T.S. upon all questions involving different religious opinions, it had been decided that my co-executor and I should carry out this affair in our personal capacities. It was also decided that there should be no further religious ceremonies. Both Dr. Le Moyne and I being strong advocates for cremation, we were fully convinced that the public interest demanded the giving of wide publicity to this event and the invitation of men of science and officers of Boards of Health, to be present and carefully scrutinise the process of reduction of the body by fire. “I agree with you,” writes the good old Doctor, “that the addresses are to be confined to the subject of cremation without branching out on other topics, however proper and right they might be in themselves and in their own place. I have never intended or expected that our programme should include any kind of religious service, but should be a strictly scientific and sanitary experiment, looking to a reform in the disposition of a body.” The American press, which had made fun of the T.S. for having too much religious ceremony at the Baron’s funeral, now abused us for having none at all at his cremation. However, we cared nothing for that, the praise and the blame of the ignorant being equally valueless. Dr. Le Moyne and I wished to settle the following points: (a) Whether cremation was a really scientific method of sepulture; (b) Whether it was cheaper than burial; (c) Whether it offered any repugnant features; (d) How long it would take to incinerate a human body. In pursuance of the policy of bold publicity, Mr. Newton and I, as executors, and Dr. Le Moyne, as owner of the crematory, addressed the following invitation to Boards of Health, individual scientists, selected principals and professors of colleges, clergymen and editors:

Vì tính trung lập của T.S. đối với mọi vấn đề dính đến khác biệt tín ngưỡng, đã quyết định rằng đồng chấp hành và tôi sẽ tiến hành việc này với tư cách cá nhân. Cũng đã quyết định không có thêm nghi thức tôn giáo nào nữa. Cả Bác sĩ Le Moyne lẫn tôi đều là những người mạnh mẽ ủng hộ hoả táng, chúng tôi hoàn toàn tin rằng lợi ích công chúng đòi hỏi phải công bố rộng rãi sự kiện này và mời các nhà khoa học cùng các viên chức Hội đồng Y tế đến dự và giám sát cẩn thận quá trình thiêu huỷ bằng lửa. “Tôi đồng ý với ông,” vị bác sĩ tốt lành viết cho tôi, “rằng các bài phát biểu phải giới hạn trong chủ đề hoả táng, không lan man sang những đề tài khác, dẫu chúng tự thân có thể đúng và thích hợp. Tôi chưa từng dự định hay kỳ vọng rằng chương trình của chúng ta sẽ có bất kỳ hình thức lễ nghi tôn giáo nào, mà phải là một thí nghiệm thuần tuý về khoa học và vệ sinh, hướng đến cải cách trong việc xử lý thi thể.” Báo chí Mỹ, vốn đã từng chế giễu T.S. vì có quá nhiều nghi thức tôn giáo trong lễ tang của Nam tước, nay mắng nhiếc chúng tôi vì chẳng có chút nghi lễ nào trong lễ hoả táng. Tuy vậy, chúng tôi chẳng bận tâm, vì lời khen cũng như lời chê của kẻ vô minh đều không giá trị. Bác sĩ Le Moyne và tôi muốn xác quyết các điểm sau: (a) Hoả táng có thật sự là phương pháp an táng khoa học hay không; (b) Nó có rẻ hơn chôn cất hay không; (c) Nó có điểm nào gây phản cảm hay không; (d) Mất bao lâu để thiêu huỷ một thi thể người. Thực hiện chính sách công bố mạnh dạn, Ông Newton và tôi, với tư cách đồng chấp hành, và Bác sĩ Le Moyne, với tư cách chủ nhà hỏa táng, đã gửi lời mời sau đây đến các Hội đồng Y tế, các nhà khoa học cá nhân, một số hiệu trưởng và giáo sư các trường, giáo sĩ và chủ bút:

NEW YORK, November, 1876.

NEW YORK, Tháng Mười Một, 1876.

DEAR SIR: Upon the 6th of December, proximo, at

KÍNH GỬI NGÀI: Vào ngày 6 tháng Mười Hai tới,

Washington, Pa., will be cremated the body of the late

tại Washington, Pa., sẽ được hoả táng thi thể của

JOSEPH HENRY LOUIS, BARON de PALM,

JOSEPH HENRY LOUIS, NAM TƯỚC de PALM,

Grand Cross Commander of the Sovereign Order of the

Đại Thập tự Chỉ huy của Dòng Hiệp sĩ

Holy Sepulchre at Jerusalem; Knight of St. John

Mộ Thánh tại Jerusalem; Hiệp sĩ Thánh

of Malta; Prince of the Roman Empire; late

Gioan Malta; Vương tử của Đế chế La Mã;

Chamberlain to His Majesty the King of

nguyên Thị thần của Đức Vua xứ

Bavaria; Fellow of the Theosophical

Bayern; Hội viên của Thông Thiên Học

Society, etc., etc.,in compliance with wishes expressed to his executors shortly before his decease. This ceremony you are respectfully invited, either in person or by proxy, to attend.

Hội, v.v., v.v., theo đúng ước nguyện đã bày tỏ với những người thi hành di chúc ngay trước khi ông qua đời. Trân trọng kính mời Ngài tham dự nghi lễ này, đích thân hoặc cử đại diện.

The cremation will be effected in a furnace specially designed for the purpose, and erected by E. Julius Le Moyne, M.D., as an earnest of his preference for this mode of sepulture.

Việc hoả táng sẽ được tiến hành trong một lò đặc biệt thiết kế cho mục đích này, do E. Julius Le Moyne, M.D., xây dựng, như một bảo chứng cho việc ông ưa chuộng phương thức an táng này.

The occasion being one of interest to Science, in its historical, sanitary, and other aspects, the Executors of Baron de Palm have consented that it shall have publicity. This invitation is accordingly sent you in the hope that you may find it convenient to be represented and, in case the general subject of cremation should be discussed, take part in the debate. The University of Pennsylvania, the Washington and Jefferson College, the New York College of Physicians and Surgeons, other institutions of learning, and the Health Boards of Boston Philadelphia, Washington (D.C.), and other cities, have already signified their intention to send representatives. It is believed that the occasion will draw together a very large number of highly competent and influential scientific observers. Addresses appropriate to the occasion will be delivered.

Sự kiện mang ý nghĩa đối với Khoa học, trong các phương diện lịch sử, vệ sinh và những khía cạnh khác, những người thi hành di chúc của Nam tước de Palm đã đồng ý để công bố rộng rãi. Thiệp mời này vì vậy được gửi đến Ngài với hy vọng Ngài có thể thu xếp để hiện diện, và, trong trường hợp chủ đề chung về hoả táng được thảo luận, xin tham gia nghị luận. Đại học Pennsylvania, Trường Washington và Jefferson, Trường Đại học Y và Phẫu thuật New York, các cơ sở giáo dục khác, cùng các Hội đồng Y tế của Boston, Philadelphia, Washington (D.C.), và các thành phố khác, đã tỏ ý sẽ cử đại diện. Tin rằng dịp này sẽ quy tụ một số lượng rất lớn những nhà quan sát khoa học có năng lực và ảnh hưởng. Sẽ có các bài diễn thuyết thích hợp với dịp này.

Washington is a town in Washington County, in the State of Pennsylvania, twenty-five miles West of Pittsburgh, on the Chartiers Valley R.R., and about midway between the cities of Pittsburgh and Wheeling. Trains leave Pittsburgh and Wheeling for Washington at 9 o’clock A.M., and at 5 o’clock P.M., every day except Sunday. The running time is about two hours.

Washington là một thị trấn thuộc Quận Washington, Tiểu bang Pennsylvania, cách Pittsburgh 25 dặm về phía Tây, trên tuyến Đường sắt Thung lũng Chartiers, và ở khoảng giữa hai thành phố Pittsburgh và Wheeling. Mỗi ngày trừ Chủ nhật đều có tàu rời Pittsburgh và Wheeling đi Washington vào lúc 9 giờ sáng và 5 giờ chiều. Thời gian chạy chừng hai giờ.

The audience room of the Crematory being quite small, it is necessary that the number intending to be present should be known in advance. You are therefore requested to signify your determination by mail or telegraph to either of the undersigned at your early convenience.

Vì phòng khán giả của Nhà hỏa táng khá nhỏ, cần biết trước số người dự định hiện diện. Do đó, kính yêu cầu Ngài vui lòng cho biết quyết định của mình qua thư hoặc điện báo cho một trong hai người ký tên dưới đây trong thời gian sớm nhất tiện cho Ngài.

The acceptances were numerous, the public interest being so thoroughly aroused that, as a gentleman (Mr. A. C. Simpson of Pittsburgh, Pa.), who had access to the exchanges of an influential journal, declares, “there is not a journal printed in the United States but has had more or less to say, not only about the Baron’s burning, but also about his theosophical religious views” (see Banner of Light, Jan. 6th, 1887). One of the most amusing things written about the case was the expression used by Mr. Bromley in a N. Y. Tribune editorial, that “Baron de Palm had been principally famous as a corpse.”

Số chấp thuận rất đông, vì mối quan tâm công chúng được khơi dậy sâu rộng đến mức, như một quý ông (Ông A.C. Simpson ở Pittsburgh, Pa.), người có quyền tiếp cận trao đổi của một tờ báo có ảnh hưởng, xác nhận, “không có tờ báo nào in ở Hoa Kỳ mà lại không có nói ít hay nhiều, không chỉ về việc hoả thiêu của Nam tước, mà còn về quan điểm tôn giáo theo Thông Thiên Học của ông” (xem Banner of Light, 6 tháng Giêng, 1887). Một trong những điều thú vị nhất được viết về vụ này là cách nói của Ông Bromley trong một xã luận của tờ N.Y. Tribune, rằng “Nam tước de Palm chủ yếu nổi tiếng với tư cách một xác chết.”

It was a great responsibility to take upon ourselves, for, if anything went wrong with Dr. Le Moyne’s furnace, there would have been a tremendous clamour againt us for exposing a human body to the chance of irreverential scientific maltreatment. [18] However, the object in view being so thoroughly humanitarian, we carried the affair through without flinching. To guard as far as possible against accident, the good Doctor first tested the furnace on a sheep’s carcase and, in a letter dated October 26, 1876, he reports to me that it had been “a complete success. A carcase weighting l641bs. had been cremated in six hours and it could have been done in less time.” He then had made a skeleton crate, or bier, composed of flat and round half-inch bars, the whole weighing about 40 lbs., in which to lay the corpse for putting it into the retort; and asked me to buy, if possible, a sheet of asbestos cloth to lay over it as a sort of fire-resisting shroud. This was not procurable at the time and I had to devise a substitute. Upon my arrival at the place, one peep into the heated retort showed me that any ordinary cerement about the corpse would be instantaneously consumed and the body be uncovered, so I soaked a bed-sheet with a saturated solution of alum and ventured that. It proved to be perfectly efficacious, and, I believe, has now come into general use.

Đó là một trách nhiệm to lớn mà chúng tôi tự gánh, bởi nếu có trục trặc gì với lò của Bác sĩ Le Moyne, hẳn sẽ có một làn sóng phẫn nộ ghê gớm nhằm vào chúng tôi vì đã để một thi thể người có nguy cơ bị đối xử khoa học thiếu tôn nghiêm. Tuy nhiên, mục tiêu vì nhân đạo đã xác định, chúng tôi kiên định đưa mọi việc đi đến cùng. Để phòng ngừa tối đa rủi ro, vị bác sĩ tốt lành trước hết thử lò bằng một xác cừu, và trong thư đề ngày 26 tháng Mười, 1876, ông báo cho tôi biết rằng đó là “một thành công hoàn toàn. Một xác nặng l641 pao đã được hoả táng trong sáu giờ và lẽ ra còn có thể làm xong trong thời gian ngắn hơn.” Ông còn cho làm một giàn khung xương, hay bệ, bằng các thanh dẹt và tròn nửa inch, tổng nặng khoảng 40 pao, để đặt thi thể đưa vào buồng nung; và nhờ tôi, nếu có thể, mua một tấm vải amiăng để phủ lên như một tấm khâm liệm chịu lửa. Khi ấy không thể mua được và tôi phải tự nghĩ ra vật thay thế. Khi tôi đến nơi, chỉ cần liếc qua buồng nung đang đỏ trắng là đủ thấy bất kỳ tấm khâm liệm thường nào phủ lên thi thể cũng sẽ bị tiêu hủy tức thì và thân thể sẽ trơ trọi, nên tôi thấm ướt một tấm ga giường bằng dung dịch phèn chua bão hoà và mạo hiểm dùng nó. Hoá ra hoàn toàn hiệu nghiệm, và, tôi tin rằng nay đã được dùng phổ biến.

I need not go into many details about the cremation, since they can all be found in the file of any American journal for the month of December, 1876: still, considering the historical interest which attaches to this first scientific cremation in the United States, a condensed narrative embodying the main facts had better be given by its responsible manager.

Tôi không cần đi vào nhiều chi tiết về lễ hoả táng, vì có thể thấy tất cả trong hồ sơ của bất cứ tờ báo Mỹ nào tháng Mười Hai, 1876: tuy nhiên, xét đến ý nghĩa lịch sử gắn với lễ hoả táng khoa học đầu tiên ở Hoa Kỳ, tốt hơn là nêu lại một tường thuật cô đọng, bao gồm các dữ kiện chính, bởi người quản lý có trách nhiệm của nó.

The Le Moyne crematorium is (for it still exists), in a small, one-storied brick structure divided into two rooms; the one to the left on entering, a reception-room, the other containing the furnace and retort. Exclusive of the value of the land, it cost Dr. Le Moyne about $1700, or say £340. Everything was very plain, repulsively so, one might say: there was no ornamentation within or without—just simply a practical corpse-incinerator, as unæsthetic as a bake-oven. Yet results have shown that it is thoroughly practical and can do its intended work as well as if its walls had been of sculptured marble, its partitions of ornately carved wood, and its doors and furnace poems in modelled bronze. Dr. Le Moyne wrote me that his aim was to give the poor a method of sepulture that would be far cheaper than burial, and offer more safe-guards against those violations of graves and those tragedies of premature burial which are unavoidable in the case of the prevaling fashion of sepulture. The theft of the corpses of the late Lord Crawford and Balcarres, of Scotland, and Mr. A. T. Stewart, of New York, not to mention the thousands of body-snatchings for dissectors, prove the reality of the former, while the alleged cutting up of poor Irving Bishop while entranced, and the instances where, upon re-opening a coffin, the body has been found turned and with the flesh of its arms gnawed by the hapless victim in his agony of starvation and suffocation, give a fearful weight to the last-named suggestion. The pecuniary and sanitary ends in view were attained with the Le Moyne furnace, for even this first cremation in America cost us only about ten dollars, and proved that a body could be disposed of without unpleasant concomitants.

Nhà hỏa táng Le Moyne (đến nay vẫn còn), là một công trình gạch một tầng nhỏ chia hai phòng; phòng bên trái khi vào là phòng tiếp khách, phòng còn lại chứa lò và buồng nung. Không tính trị giá đất, nó tốn của Bác sĩ Le Moyne khoảng 1700 đô, tức chừng £340. Mọi thứ rất giản dị, thậm chí có thể nói là gây phản cảm: không có trang trí trong hay ngoài—đơn giản chỉ là một “máy” thiêu xác thực dụng, thiếu thẩm mỹ như một lò bánh. Tuy vậy, kết quả đã cho thấy nó hoàn toàn thực dụng và có thể làm đúng chức năng không kém gì nếu tường của nó bằng đá cẩm thạch chạm khắc, vách ngăn bằng gỗ trạm trổ, và cửa cùng lò bằng đồng điêu khắc thành thơ. Bác sĩ Le Moyne viết cho tôi rằng mục tiêu của ông là cho người nghèo một phương thức an táng rẻ hơn chôn cất, và đưa ra nhiều đảm bảo an toàn hơn trước nạn xâm phạm mồ mả và những bi kịch chôn sống vốn không thể tránh với tập quán an táng đang thịnh hành. Việc đánh cắp thi thể của ngài Lord Crawford và Balcarres, ở Scotland, và của Ông A.T. Stewart, ở New York, chưa kể hàng ngàn vụ đào mộ trộm xác cho các nhà giải phẫu, chứng minh thực tế của nguy cơ đầu; trong khi chuyện được cho là đã xẻ thịt người đáng thương Irving Bishop lúc đang xuất thần, và các trường hợp, khi mở lại quan tài, thấy thi thể bị xoay trở và thịt cánh tay bị nạn nhân đáng thương cắn rách trong cơn hấp hối vì đói và ngạt, đem đến sức nặng đáng sợ cho ý kiến sau. Mục tiêu về kinh tế và vệ sinh đã đạt được với lò Le Moyne, vì ngay lễ hoả táng đầu tiên này ở Mỹ cũng chỉ tốn chừng mười đô, và chứng tỏ rằng một thi thể có thể được xử lý mà không có những hệ luỵ khó chịu.

Mr. Newton and I reached Washington, Pa., on the 5th December, 1876, with the Baron’s remains enclosed in two envelopes—the coffin and an outer case of wood. Dr. Le Moyne and others met us at the station, and the corpse was taken in a hearse to the crematorium, where it lay until the next morning in charge of an attendant, the fireman who stoked the furnace. The fire of coke had been lighted at 2 A.M. that day and the retort was already at a dazzling white heat “hot enough” the stoker said “to melt iron”. The mechanical construction of the apparatus was simplicity itself. An arched retort of fire-clay, 8 ft. long by 3 ft. broad and the same in height, for receiving the corpse, was surrounded by a fire-flue communicating with a furnace beneath the retort; which had a tall chimney for making a draft and carrying off the smoke. An opening from the retort into the surrounding hot-air flue allowed the escape into it of the gases and other volatile products of cremation, where they were effectually consumed. A large iron door luted with fire-clay around the frame, was fitted into the front of the retort, and the swinging flap, above described, not only permitted of the introduction of cold air and the making of a slight draught through the retort at will, but also served as a peep-hole through which glimpses could be had of the progress of the cremation from time to time. As the corpse lay upon an open iron crate, swathed in its alum-saturated sheet, in a fire-clay box which effectually separated it from the funace-fire beneath, it will be seen that there could be none of that horror of roasting human flesh and bursting entrails which makes one shudder at an open-air pyre-burning, while, as all the lighter products of cremation, the gaseous and watery components of a body, were burnt up in the heat-flue that encircled the white-hot retort, there was none of that unpleasant odour that sometimes sickens one who drives past an Indian burning-ghât. The corpse simply dries into nothing save the ashes of its skeleton. When the retort was opened, the morning after De Palm’s cremation, there was nothing left of the once tall, stout body save a trail of white powder, and some fragments of osseous articulations; the whole weighing but some 6 lbs. [19]

Ông Newton và tôi đến Washington, Pa., ngày 5 tháng Mười Hai, 1876, đem theo di hài Nam tước đặt trong hai lớp vỏ—quan tài và một hòm gỗ bên ngoài. Bác sĩ Le Moyne và những người khác đón chúng tôi ở ga, và thi thể được đưa bằng xe tang đến nhà hỏa táng, nơi nó nằm qua đêm trong sự trông coi của người phụ trách—thợ đốt lò. Ngọn lửa than cốc đã được đốt lúc 2 giờ sáng ngày hôm đó và buồng nung đã đạt đến độ trắng chói mắt—“đủ nóng,” người thợ nói, “để làm chảy sắt.” Kết cấu cơ khí của thiết bị thì hết sức đơn giản. Một buồng nung vòm bằng đất chịu lửa, dài 8 bộ, rộng 3 bộ và cao tương tự, để nhận thi thể, được bao quanh bởi một đường dẫn nhiệt thông với lò đốt nằm bên dưới buồng nung; phía trên có ống khói cao để tạo lực hút và thoát khói. Một lỗ thông từ buồng nung vào đường dẫn khí nóng bao quanh cho phép các khí và sản phẩm bay hơi khác của quá trình hoả táng thoát vào đó, tại đó chúng bị đốt cháy hoàn toàn. Một cửa sắt lớn, trét kín bằng đất chịu lửa quanh khung, gắn ở mặt trước buồng nung, và nắp lật xoay, như đã tả, không chỉ cho phép đưa không khí lạnh vào và tạo một chút lưu thông gió qua buồng nung theo ý muốn, mà còn làm thành lỗ quan sát để có thể thỉnh thoảng nhìn thoáng qua tiến trình hoả táng. Vì thi thể nằm trên một giàn sắt thoáng, được quấn trong tấm ga tẩm phèn chua, trong một hộp đất chịu lửa cách ly hiệu quả khỏi lửa lò bên dưới, nên có thể thấy rằng sẽ không có cái kinh hoàng của mùi thịt người nướng và ruột gan vỡ tung khiến người ta rùng mình khi nghĩ đến giàn hoả ngoài trời; đồng thời, vì mọi sản phẩm nhẹ của hoả táng, các thành phần khí và thuỷ phần của một cơ thể, đều bị đốt cháy trong đường dẫn nhiệt bao quanh buồng nung trắng nóng, nên không có thứ mùi khó chịu đôi khi khiến người ta buồn nôn khi đi ngang một đài hoả thiêu Ấn Độ. Thi thể đơn giản khô kiệt thành không gì khác ngoài tro xương. Khi buồng nung được mở ra vào sáng hôm sau sau lễ hoả táng De Palm, chẳng còn lại gì của thân hình vốn cao lớn, chắc nịch ấy ngoài một vệt bột trắng và vài mảnh khớp xương; tất cả chỉ nặng chừng 6 pao.

Our invitation to scientists and sanitary boards was accepted in many cases, and the following gentlemen attended the cremation: Dr. Otterson, of the Brooklyn Board of Health; Dr. Seinke, President of the Queen’s County Board of Health; Dr. Richardson, Editor of the (Boston) Medical Journal; Dr. Folsom, Secretary of the Boston B. of H.; Prof. Parker, of the University of Pennsylvania; three physicians deputed by the Philadelphia B. of H.; one who represented Lehigh University; Dr. Johnson, of the Wheeling, W. Va. B. of H.; Dr. Asdale, Secretary of the Pittsburgh B. of H.; a number of other medical men attending unofficially; and a swarm of reporters and special correspondents representing all the leading American and some foreign journals. I know it as a fact that the intention of the editors was to have the fullest details telegraphed to their papers, the N. Y. Herald, for instance, having ordered its reporter to wire at least three columns; but a tragedy occurred which changed their plans; the Brooklyn Theatre caught fire the same evening and some two hundred people were burnt alive. Thus, the greater cremation weakened the public interest in the lesser one.

Lời mời gửi các nhà khoa học và các hội đồng y tế đã được chấp nhận trong nhiều trường hợp, và những ông sau đây có mặt trong lễ hoả táng: Bác sĩ Otterson, thuộc Hội đồng Y tế Brooklyn; Bác sĩ Seinke, Chủ tịch Hội đồng Y tế Quận Queen’s; Bác sĩ Richardson, Chủ bút (Boston) Medical Journal; Bác sĩ Folsom, Thư ký Hội đồng Y tế Boston; Giáo sư Parker, Đại học Pennsylvania; ba thầy thuốc do Hội đồng Y tế Philadelphia cử đến; một vị đại diện Đại học Lehigh; Bác sĩ Johnson, Hội đồng Y tế Wheeling, W. Va.; Bác sĩ Asdale, Thư ký Hội đồng Y tế Pittsburgh; một số đông thầy thuốc khác dự không chính thức; và một rừng phóng viên cùng đặc phái viên đại diện cho tất cả các nhật báo hàng đầu của Mỹ và một số báo ngoại quốc. Tôi biết chắc rằng chủ trương của các toà soạn là sẽ điện báo đầy đủ chi tiết về cho báo nhà, chẳng hạn tờ N.Y. Herald đã lệnh cho phóng viên của họ điện về ít nhất ba cột; nhưng một bi kịch đã xảy ra làm thay đổi kế hoạch: Nhà hát Brooklyn bốc cháy ngay tối hôm đó và chừng hai trăm người bị thiêu sống. Vì thế, “lễ hoả táng lớn hơn” đã làm suy giảm mối quan tâm dành cho “lễ hoả táng nhỏ hơn.”

The mummified corpse of the Baron being removed from the coffin and laid in the iron crate, enwrapped in my alum-soaked sheet, I sprinkled it with aromatic gums and showered it with choice roses, primroses, smilax, and dwarf palm leaves, and laid sprays of evergreens on the breast and about the head. [20] From the N. Y. Times report I quote the following:

Thi thể đã ướp khô của Nam tước được đưa ra khỏi quan tài và đặt lên giàn sắt, bọc trong tấm ga thấm phèn chua của tôi, tôi rảy lên hương liệu thơm và rải lên những đoá hồng chọn, hoa anh thảo, dây smilax, lá cọ lùn, và đặt những nhành tùng bách lên ngực và quanh đầu. Tôi trích đoạn sau từ bản tường thuật của N.Y. Times:

“When all was ready the body was quietly and reverently slid into the retort. There were no religious services, no addresses, no music, no climax, such as would have thrown great solemnity over the occasion. There was not one iota of ceremony. Everything was as business-like as possible. At 8.20 o’clock Dr. Le Moyne, Col. Olcott, Mr. Newton, and Dr. Asdale quietly took their stations on either side of the body, and raising the cradle from the catafalque bore it at once to the crematory retort, and slid it in with its unearthy burden head foremost.

“Khi mọi thứ đã sẵn, thi thể được đẩy vào buồng nung một cách lặng lẽ và cung kính. Không có nghi thức tôn giáo, không có diễn văn, không có âm nhạc, không có cao trào, thứ vốn sẽ phủ lên dịp này vẻ trang trọng lớn lao. Không có một mảy may nghi thức nào. Mọi việc diễn ra thực dụng hết mức có thể. Lúc 8 giờ 20, Bác sĩ Le Moyne, Đại tá Olcott, Ông Newton, và Bác sĩ Asdale lặng lẽ đứng vào hai bên thi thể, nâng bệ từ catafalque, khiêng ngay đến cửa buồng nung, và đẩy vào với gánh nặng khác thường ở đầu.

“As the end of the cradle reached the further and hottest end of the furnace, the evergreens round the head burst into a blaze and were quickly consumed, but the flowers and evergreens on the other part of the body remained untouched. The flames formed, as it were, a crown of glory for the dead man.”

“Khi đầu của bệ chạm vào đầu kia nóng nhất của lò, những cành tùng quanh đầu bốc cháy và bị thiêu nhanh chóng, nhưng hoa và tùng trên phần còn lại của thi thể vẫn không bị động tới. Ngọn lửa như thể tạo thành một vòng miện vinh quang cho người đã khuất.”

The description is not quite complete, for as, the head of the corpse passed into the superheated retort, the evergreens that surrounded it took fire and a plume of smoke drew out of the door, as it if were a bunch of ostrich feathers, such as a lady wears in her hair at a drawing-room, or a knight of old bore in the crest of his helmet. The iron door of the retort was closed at once after the crate had been thrust in, then bolted and screwed up tight. At first all was dark inside, owing to the steamy vapour from the soaked sheet and the disengagement of smoke from the incinerating gums and plants, but this passed off in a few minutes, and then we could see what is well described by the Times correspondent in these words;

Mô tả ấy chưa hoàn toàn đầy đủ, vì khi đầu của thi thể đi vào buồng nung siêu nhiệt, những cành tùng bao quanh nó bốc lửa và một dải khói kéo ra khỏi cửa, như thể một chùm lông đà điểu, loại một quý bà cài trên tóc khi dự dạ tiệc, hay một hiệp sĩ xưa mang trên chóp mũ trụ. Cửa sắt của buồng nung được đóng ngay sau khi đẩy bệ vào trong, rồi then chốt và vặn chặt. Lúc đầu, bên trong tối om, do hơi nước bốc ra từ tấm ga thấm ướt và khói từ hương liệu và cây lá bị thiêu, nhưng chỉ vài phút sau thì tiêu tán, và rồi chúng tôi có thể thấy điều mà phóng viên tờ Times tả rất hay như sau:

“By this time the retort presented the appearance of a radiant solar disk of a very warm rather than brilliant color, and though every flower and evergreen was reduced to a red-hot ash condition, they retained their individual forms, the pointed branches of the evergreens arching over the body. At the same time I could see that the winding-sheet still enfolded the corpse, showing that the solution of alum had fully answered its purpose. This answers one of the avowed objections to cremation--the possibility of indecent exposure of the body. Half an hour later it was plainly evident that the sheet was charred. Around the head the material was blackened and ragged. This was easily accounted for. It appears that in saturating the sheet with the solution of alum, Col. Olcott began at the feet, and that by the time he reached the head the supply was exhausted. All were, however, rejoiced to see that the heat was increasing rapidly.”

“Đến lúc này buồng nung trông như một đĩa thái dương toả sáng, màu ấm nhiều hơn là chói lọi, và tuy mọi bông hoa và cành tùng đều đã thành tro đỏ rực, chúng vẫn giữ nguyên hình dạng riêng, những cành tùng nhọn chụm vòm lên thân. Đồng thời tôi có thể thấy rằng tấm khâm liệm vẫn còn bao bọc thi thể, cho thấy rằng dung dịch phèn chua đã hoàn toàn đạt mục đích. Điều này trả lời một trong những phản đối công khai đối với hoả táng—khả năng phơi bày bất kính thi thể. Nửa giờ sau rõ ràng tấm khâm liệm đã cháy xém. Quanh đầu, chất liệu bị đen và tưa. Điều này dễ giải thích. Hoá ra trong khi thấm tấm ga bằng dung dịch phèn chua, Đại tá Olcott bắt đầu từ chân, và đến khi lên đến đầu thì dung dịch đã cạn. Tuy vậy, ai nấy đều mừng thấy rằng nhiệt đang tăng nhanh chóng.”

A REMARKABLE SCENE

MỘT CẢNH TƯỢNG ĐÁNG KINH NGẠC

“Just at this time a remarkable muscular action on the corpse, almost amounting to a phenomenon, occurred. The left hand, which had been lying by the side of the body, was gradually raised, and three of the fingers pointed upward. Although a little startling at the moment, this action was of course the mere result of intense burning heat producing muscular contraction. At 9.25 o’clock Dr. Otterson tested the draught in the retort by placing a piece of tissue paper over the peep-hole, some one having suggested that there was not a sufficient amount of oxygen in the retort to produce the necessary combustion. It was found that the draught was ample. At this time the left hand began to fall back slowly into its normal position, while a luminous rose-colored light surrounded the remains, and a slight aromatic odor found its way through the vent-hole or the furnace. An hour later the body presented the appearance of absolute incandescence. It looked red hot. This was the result of the extra firing, the heat of the furnace now being far more unpleasant than it was before, with the mouth of the retort wide open.”

“Đúng vào lúc ấy đã xảy ra một vận động cơ bắp đáng chú ý nơi thi thể, gần như có thể gọi là một hiện tượng. Bàn tay trái, vốn đặt dọc theo thân thể, từ từ nhấc lên, và ba ngón tay chỉ thẳng lên trời. Dù hơi giật mình trong khoảnh khắc, vận động này dĩ nhiên chỉ là kết quả của sức nóng dữ dội gây co rút cơ bắp. Lúc 9 giờ 25, Bác sĩ Otterson kiểm tra độ hút gió trong buồng nung bằng cách đặt một mẩu giấy mỏng lên lỗ quan sát, vì có người gợi ý rằng không có đủ dưỡng khí trong buồng nung để tạo điều kiện cháy cần thiết. Người ta thấy độ hút gió là đủ. Lúc này bàn tay trái bắt đầu rơi chậm rãi trở về vị trí bình thường, trong khi một quầng sáng hồng bao quanh phần còn lại, và một mùi thơm nhẹ len qua lỗ thoát hay từ lò. Một giờ sau, thân thể trông ở trạng thái đỏ rực hoàn toàn. Trông như nung đỏ. Đây là kết quả của việc gia tăng tiếp nhiên liệu, nhiệt của lò giờ khó chịu hơn trước rất nhiều, dẫu miệng buồng nung vẫn mở to.”

CURIOUS EFFECTS NOTICED

NHỮNG HIỆU ỨNG KỲ LẠ GHI NHẬN

“As the retort became hotter the rosy mist I have spoken of assumed a golden tinge, and a very curious effect was noticed in the feet. The soles of the feet were, of course, fully exposed to anyone looking through the peep-hole. They gradually assumed a certain transparency, similar in character to the appearance of the hand when the fingers are held between the eye and a brilliant light, but very much more luminous. At 10.40 o’clock Dr. Le Moyne, Col. Olcott, William Harding, and the health officers present entered the furnace-room and held a consultation with closed doors. On re-appearing they announced that the cremation of the body was practically complete. Anyone looking into the retort at this moment would think it ought to have been.

“Khi lò nung trở nên nóng hơn, làn sương hồng mà tôi đã nói đến chuyển sang ánh vàng, và một hiệu ứng rất lạ được ghi nhận ở bàn chân. Lòng bàn chân, dĩ nhiên, hoàn toàn lộ ra cho bất kỳ ai nhìn qua lỗ nhòm. Chúng dần dần trở nên có một độ trong suốt nhất định, giống như khi đưa các ngón tay ra trước mắt và một nguồn sáng rực rỡ, nhưng sáng hơn rất nhiều. Lúc 10 giờ 40, Bác sĩ Le Moyne, Đại tá Olcott, William Harding, và các viên chức y tế có mặt đã vào phòng lò và hội ý sau cánh cửa đóng kín. Khi xuất hiện trở lại, họ thông báo rằng việc hoả thiêu thi thể về cơ bản đã hoàn tất. Ai nhìn vào buồng lò lúc ấy hẳn sẽ cho rằng phải như thế.

“The fiery ordeal through which Shadrach, Meshach, and Abed-nego passed on account of Nebuchadnezzar’s golden image must have been a trifling experience compared with what the body of the Baron de Palm had gone through. Some experiments with sheep were made by Dr. Le Moyne when the furnace was completed, but Mr. Dye, the builder of the furnace, says the body was more thoroughly cremated at the end of two hours and forty minutes than the sheep were in five or six hours. About this time I noticed that the body was beginning to subside, that, though incandescent to a degree, it was nevertheless a mere structure of powdery ashes, which the lungs of a child might blow away. The red-hot filmy shroud still covered the remains, and the twigs of evergreens still remained standing, though they had sunk with the subsidence of the body. The feet too had fallen, and all was rapidly becoming one glowing mass of a white light and an intense heat.... At 11.12 o’clock Dr. Folsom, Secretary of the Massachusetts Board of Health, made a careful examination, so far as possible, of the retort and its contents. His announcement that ‘Incineration is complete beyond all question’ was received with universal gratification. The last vestige of the form of a body had disappeared in the general mass.”

“Cuộc thử lửa mà Shadrach, Meshach và Abed-nego đã trải qua vì pho tượng vàng của Nebuchadnezzar hẳn chỉ là chuyện nhỏ so với điều thân thể của Nam tước de Palm đã trải qua. Một vài thí nghiệm với cừu đã được Bác sĩ Le Moyne thực hiện khi lò vừa hoàn tất, nhưng ông Dye, người xây lò, nói rằng thi thể đã được hoả thiêu kỹ lưỡng hơn nhiều sau hai giờ bốn mươi phút so với cừu sau năm hoặc sáu giờ. Vào khoảng thời gian này, tôi nhận thấy thân thể bắt đầu sụt lún, rằng tuy vẫn đỏ rực đến một mức độ nào đó, nhưng xét cho cùng chỉ còn là một cấu trúc tro mịn, mà phổi của một đứa trẻ cũng có thể thổi bay. Tấm khâm liệm mỏng đỏ rực vẫn phủ lên phần còn lại, và những cành cây thường xanh vẫn còn đứng, dù đã hạ thấp theo sự sụt lún của thân thể. Bàn chân cũng đã rơi xuống, và mọi thứ đang nhanh chóng trở thành một khối rực sáng của thứ ánh trắng chói lòa và sức nóng dữ dội.... Lúc 11 giờ 12, Bác sĩ Folsom, Thư ký của Ban Y tế Massachusetts, đã tiến hành một cuộc khảo sát cẩn thận, trong mức có thể, đối với buồng lò và những gì bên trong. Lời tuyên bố của ông rằng ‘Việc hoả thiêu đã hoàn tất vượt khỏi mọi nghi vấn’ đã được đón nhận với sự mãn nguyện chung. Dấu vết cuối cùng của hình thể con người đã biến mất trong khối chung ấy.”

I have given so much out of the scores of descriptions of the event that might have been quoted, because of the excellence of the narrative and its historical value. Another reason is that it shows how cleanly and esthetical this mode of sepulture is in contrast with that of burial. One feature of cremation must recommend it to the friends of those who die in far-distant 1ands,viz., that the bodies can be converted into dust, and thus easily, unostentatiously, an unobjectionably be taken home and laid in the family vault or in the cemetery, alongside the remains of relatives—

Tôi trích ra nhiều như thế từ hàng chục bản tường thuật về sự kiện đáng lẽ có thể dẫn ra, là vì tính xuất sắc của câu chuyện và giá trị lịch sử của nó. Một lý do nữa là vì nó cho thấy phương thức mai táng này sạch sẽ và có mỹ cảm thế nào so với địa táng. Một đặc điểm của hoả táng hẳn sẽ được những người thân của người qua đời ở những miền đất rất xa xôi tán đồng, tức là thi thể có thể được chuyển hoá thành tro bụi, nhờ đó dễ dàng, kín đáo và không gây phản đối, có thể mang về nhà và đặt trong hầm mộ gia đình hoặc nghĩa trang, bên cạnh phần còn lại của thân nhân—

“Those that he loved so long and sees no more,

“Những người mà chàng đã yêu thật lâu và nay không còn thấy nữa,

.... not dead, but gone before.”

.... không chết, mà chỉ đi trước.”

On the afternoon of the same day, at the public meeting at the Town Hall, Dr. King, of Pittsburgh discoursed upon the deleterious and poisonous effects of crowded graveyards; Dr. Le Moyne upon the scriptural and practical issues of cremation; President Hays showed its unobjectionable character from the Biblical aspect; Mr. Crumrine expounded its legality; and I contributed a historical retrospect of the subject in ancient and modern times.

Chiều cùng ngày, tại buổi họp công khai ở Toà Thị chính, Bác sĩ King, ở Pittsburgh, thuyết trình về tác hại và độc tính của những nghĩa trang chen chúc; Bác sĩ Le Moyne về các khía cạnh thuộc Kinh Thánh và thực tiễn của hoả táng; Chủ tịch Hays nêu sự không có gì đáng phản đối của nó từ quan điểm Kinh Thánh; ông Crumrine trình bày tính hợp pháp của nó; và tôi đóng góp một cái nhìn hồi cố lịch sử về chủ đề này trong thời cổ và cận đại.

The furnace fire was, of course, drawn as soon as the body was thoroughly incinerated, and the draught-hole in the door stopped up, so as to give the retort time to cool down gradually as, if exposed to the cold air, it would inevitably have cracked. Dr. Asdale and I removed the ashes on the following morning and placed them in a Hindu urn that had been given me in New York for the purpose. I took them to town with me and kept them until shortly before our departure for India, when I scattered them over the waters of New York Harbour with an appropriate, yet simple, ceremonial.

Lửa trong lò, dĩ nhiên, được rút đi ngay khi thi thể đã hoàn toàn hoá tro, và lỗ thông gió trên cửa được bịt lại, để cho buồng lò có thời gian nguội dần, vì nếu phơi ra không khí lạnh thì chắc chắn nó sẽ nứt. Sáng hôm sau, Bác sĩ Asdale và tôi thu tro và đặt vào một bình theo kiểu Ấn Độ giáo mà tôi được tặng ở New York cho mục đích này. Tôi mang chúng về phố và giữ cho đến ngay trước khi chúng tôi khởi hành đi Ấn Độ, khi tôi rải chúng xuống mặt nước Cảng New York với một nghi lễ thích đáng mà giản dị.

And thus it came about that the Theosophical Society not only introduced Hindu philosophical ideas into the United States, but also the Hindu mode of sepulture. Since that first scientific cremation in America, many others, of men, women, and children, have occurred, other crematoriums have been built, and cremation societies have been originated in my country. British prejudice has been so far overcome that Parliament has legalised cremation, a society has been chartered, and it was in its crematorium at working, near London, that the body of H. P. B. was burnt, agreeably to her verbal and written request.In the abstract it matters not to me whether my “desire-body” be dropped through the saltsea to its amoeba-strewn floor, or left in the snow-locked Himalayan passes, or on the hot sand of the desert; but, if I am to die at home and within reach of friends, I hope that, like those of the Baron de Palm and H. P. B., it may be reduced by fire to harmless dust, and not become a plague or a peril to the living after it has served the purpose of my present prârabdha karma!

Và thế là Hội Thông Thiên Học chẳng những đã đưa những tư tưởng triết học Ấn Độ giáo vào Hợp chúng quốc, mà còn cả phương thức mai táng theo Ấn Độ giáo. Kể từ lễ hoả táng khoa học đầu tiên ấy ở Mỹ, đã có thêm nhiều lễ khác, của nam, nữ và trẻ nhỏ, được cử hành; những lò hoả táng khác đã được xây; và các hội hoả táng đã ra đời ở nước tôi. Thành kiến của người Anh đã được khắc phục đến mức Nghị viện hợp pháp hoá hoả táng, một hội được cấp đặc quyền, và chính tại lò hoả táng của hội ấy ở working, gần London, thi thể của H. P. B. đã được thiêu, phù hợp với lời yêu cầu miệng và văn bản của Bà. Xét về mặt trừu tượng thì với tôi không quan trọng “thể dục vọng” của mình được thả chìm qua làn nước mặn xuống nền đáy rải đầy trùng amip, hay nằm lại nơi những đèo tuyết phủ kín ở Hi Mã Lạp Sơn, hoặc trên cát nóng của sa mạc; nhưng nếu tôi phải mất ở nhà và trong tầm tay bạn hữu, tôi mong rằng, như của Nam tước de Palm và H. P. B., nó cũng sẽ được lửa biến thành thứ bụi tro vô tổn hại, chứ không trở thành tai ương hay mối nguy cho người sống sau khi nó đã hoàn thành mục đích của prârabdha karma hiện tại của tôi!

CHAPTER XII—CHƯƠNG XII

PUTATIVE AUTHOR OF “ART MAGIC”—TÁC GIẢ ĐƯỢC CHO LÀ CỦA “ART MAGIC”

I SHALL now redeem my promise (See Chap. VIII) to say something about Mrs. Hardinge Britten’s Art Magic, and its production. It has been mentioned above that the book was launched almost coincidently with the formation of the Theosophical Society, and the circumstances are a little curious. Mrs. Britten was particularly struck by them, and testifies to her surprise in the following passages in a letter to the Banner of Light:

NAY tôi sẽ giữ lời hứa (Xem Chương VIII) nói đôi điều về Art Magic của Bà Hardinge Britten và việc nó ra đời. Đã được nhắc ở trên rằng cuốn sách được phát hành gần như trùng khớp với việc thành lập Hội Thông Thiên Học, và hoàn cảnh quanh đó có phần lạ lùng. Bà Britten đặc biệt ấn tượng với điều này, và bày tỏ sự ngạc nhiên trong những đoạn sau đây trong một bức thư gửi tờ Banner of Light:

“So amazed and struck was I with the coincidence of purposes (not ideas), expressed in the inauguration of the Theosophic Society, at which I was present, with some of the purposes, though not the ideas put forth in my friend’s work, that I felt it to be my duty to write to the President of that Society, enclose a copy of the still un-published advertisement, and explain to him that the publication of the book in question anticipated, without concert of action or even personal acquaintance, with the parties concerned, whatever of Cabalistic lore the said Theosophic Society might hereafter evolve.”The coincidence consisted in the fact that the book and our Society simultaneously affirmed the dignity of ancient Occult Science, the existence of Adepts, the reality of, and contrast between, White and Black Magic, the existence of the Astral Light, the swarming of Elemental races in the regions of air, earth, etc., the existence of relations between them and ourselves, and the practicability of bringing them under subjection by certain methods long known and tested. It was, so to say, an attack from two sides simultaneously upon the entrenched camp of Western ignorance and prejudice.

“Tôi kinh ngạc và ấn tượng đến mức nào trước sự trùng hợp về mục đích (không phải ý tưởng) được bày tỏ trong lễ khai sáng Hội Thông Thiên Học, mà tôi có mặt, với một số mục đích, dù không phải những ý tưởng, được nêu trong tác phẩm của bạn tôi, đến nỗi tôi cảm thấy bổn phận phải viết cho Chủ tịch Hội ấy, gửi kèm một bản quảng cáo vẫn chưa xuất bản, và giải thích với ông rằng việc xuất bản cuốn sách nói trên đã đi trước, mà không có sự phối hợp hành động hay thậm chí mối quen biết cá nhân, với những người có liên quan, bất kỳ điều gì thuộc về tri thức Huyền thuật mà Hội Thông Thiên Học nói trên có thể khai triển về sau.” Sự trùng hợp nằm ở chỗ cuốn sách và Hội của chúng ta đồng thời khẳng định phẩm giá của Cổ Khoa Học Huyền bí, sự hiện hữu của các Chân sư, tính hiện thực của, và sự tương phản giữa, Chánh Thuật và Hắc thuật, sự tồn tại của Ánh sáng cảm dục, sự nườm nượp của các chủng tộc hành khí trong các cõi khí, đất, v.v., sự tồn tại của những mối liên hệ giữa họ và chúng ta, và tính khả thi của việc khuất phục họ bằng những phương pháp đã được biết và thử nghiệm từ lâu. Có thể nói, đó là một cuộc công kích đồng thời từ hai phía vào trại quân cố thủ của sự ngu dốt và thành kiến Tây phương.

Mrs. Britten affirmed that Art Magic had been written by an Adept of her acquaintance, “a life-long and highly honoured friend,” [21] whom she had first met in Europe, and for whom she was but acting as “Translator” and “Secretary.” His name, she said, was Louis, and he was a Chevalier. A piquant Prospectus, calculated to switch the most jaded curiosity to the buying-point, was issued, and the bibliophile’s cupidity excited by the announcement that the Author would only permit five hundred copies to be printed, and even then should reserve the right of refusing to sell to those whom he might find undeserving! [22] This right he seems to have exercised, since, in another published letter to “The Slanderers of Art Magic,”—whom she calls “little pugs”—she tells us that “some twenty names have been struck off by the Author.” The fact that some persons, more cavilling than well-informed, had hinted that her book had been hatched in the Theosophical Society, provoked her wrath to such a degree that, with a goodly show of capitals and italics, she warns all these “whisperers who dare not openly confront us,” that she and her husband “had laid the case before an eminent New York legal gentleman,” who had instructed them “to say publicly that, free as this country may be to do what each one pleases (sic), it is not free enough to allow the circulation of injurious libels”—and that they “had instructed him to proceed immediately against any one who hereafter shall assert, publicly or privately, that the work I have undertaken—namely, to become Secretary of the publication of Art Magic, or Mundane, Sub-Mundane and Super-Mundane Spiritualism—has anything to do with Col. Olcott, Madame Blavatsky, the New York Theosophic Society, or any thing or person belonging to either those persons or that Society” (vide her letter in Banner of Light, of about December, 1875; the cutting in our Scrap-Book being undated, I cannot be more exact).

Bà Britten khẳng định rằng Art Magic do một vị Chân sư quen biết với bà viết, “một người bạn suốt đời và được hết mực kính trọng,” người mà bà gặp lần đầu ở châu Âu, và bà chỉ đóng vai “Người dịch” và “Thư ký.” Bà nói tên ông là Louis, và ông là một Chevalier (Hiệp sĩ). Một Bản cáo bạch đầy lôi cuốn, tính toán để đánh thức cả sự tò mò mỏi mệt nhất tới mức chịu móc hầu bao, đã được phát hành, và lòng thèm muốn của giới sưu tầm sách được kích động bởi thông báo rằng Tác giả chỉ cho phép in năm trăm bản, và ngay cả khi ấy vẫn giữ quyền từ chối bán cho những ai mà ông có thể cho là không xứng đáng! Có vẻ như ông đã thực thi quyền này, vì trong một bức thư khác công bố gửi “Những kẻ vu khống Art Magic,”—mà bà gọi là “mấy tay lắt nhắt”—bà cho biết “đã có khoảng hai mươi cái tên bị Tác giả gạch bỏ.” Sự kiện một số người, bắt bẻ hơn là am hiểu, đã ám chỉ rằng sách của bà được “ấp” trong Hội Thông Thiên Học, đã chọc giận bà đến mức, với một loạt chữ in hoa và nghiêng hoành tráng, bà cảnh cáo tất cả những “kẻ thì thầm không dám đối đầu công khai với chúng tôi,” rằng bà và chồng bà “đã đệ trình vụ việc lên một vị luật gia danh tiếng ở New York,” người đã chỉ dẫn họ “phải công khai nói rằng, cho dù đất nước này có tự do đến đâu để ai nấy muốn làm gì thì làm (nguyên văn), cũng không tự do đến mức cho phép lưu hành những lời phỉ báng gây hại”—và rằng họ “đã uỷ quyền cho ông tiến hành ngay lập tức đối với bất kỳ ai sau này dám khẳng định, công khai hay riêng tư, rằng công việc tôi đảm trách—tức là làm Thư ký cho việc xuất bản Art Magic, hay Mundane, Sub-Mundane and Super-Mundane Spiritualism—có liên quan gì đến Đại tá Olcott, Bà Blavatsky, Hội Thông Thiên Học New York, hoặc bất kỳ sự việc hay người nào thuộc về những người ấy hay Hội ấy” (xem thư của bà trên Banner of Light, khoảng tháng Mười Hai, 1875; do mẩu cắt lưu trong Sổ Lưu Mảnh của chúng tôi không ghi ngày, tôi không thể chính xác hơn).

This clattering of pans was kept up so persistently—she and her husband actually being all the while executive members of the Theosophical Society—that, despite the fancy price put upon the book—$5 for a volume of 467 pages, in pica type heavily leaded, or scarcely as much matter as is contained in a 7s. 6d. volume of the London publishers—her list was soon fined up. I, myself, paid her $10 for two copies, but the one now before me is inscribed, in Mrs. Britten’s handwriting, “To Madame Blavatsky, in token of esteem from the Editor [herself] and the Author [?].” The Prospectus stated that, after the edition of 500 copies was run off, the “plates” were to be destroyed. The imprint shows the book to have been “Published by the Author, at New York, America,” but it was copyrighted by William Britten, Mrs. Britten’s husband, in the year 1876, in due form. The printers were Messrs. Wheat and Cornett, 8 Spruce St., N. Y.

Tiếng leng keng chõng chảng này được giữ nhịp bền bỉ đến thế—trong khi bà và chồng bà lại suốt thời gian ấy là thành viên điều hành của Hội Thông Thiên Học—đến nỗi, bất chấp mức giá “ảo mộng” áp lên cuốn sách—5 đô-la cho một tập 467 trang, chữ pica dãn dòng đậm, tức ít nội dung hơn hẳn một tập 7s. 6d. của các nhà xuất bản London—danh sách đặt mua của bà sớm được lấp đầy. Chính tôi đã trả bà 10 đô-la cho hai bản, nhưng cuốn hiện trước mặt tôi được đề tặng, bằng nét chữ tay của Bà Britten, “Gửi Bà Blavatsky, như một dấu hiệu trân trọng từ phía Biên tập viên [bà ấy] và Tác giả [?].” Bản cáo bạch ghi rằng, sau khi in xong 500 bản, các “bản kẽm” sẽ bị huỷ. Dòng in đầu sách cho thấy cuốn sách “Do Tác giả xuất bản, tại New York, America,” nhưng lại do William Britten, chồng Bà Britten, đăng ký bản quyền vào năm 1876, theo đúng thể thức. Nhà in là các ông Wheat và Cornett, số 8 phố Spruce, N.Y.

I have given the above details for the following reasons: 1. The book marks a literary epoch in American literature and thought; 2. I suspect that good faith was not kept with the subscribers, myself included; since the work—for which we paid an extravagant price—was printed from type forms, not plates, and Mr. Wheat himself told me that his firm had printed, by Mr. or Mrs. Britten’s orders, 1500 instead of 500 copies—the truth of which assertion his account-books should show. I only repeat what her printer told me, and give it for what it may be worth; 3. Because these and other circumstances, among others the internal evidence of the matter and execution of the work, make me doubt the story of the alleged adept authorship. Unquestionably there are fine, even brilliant, passages in it, and a deal that is both instructive and valuable. As a neophyte in this branch of literature, I was, at the time, deeply impressed with it, and so wrote to Mrs. Britten, but the effect of these upon me was afterwards marred by my discovery of the unacknowledged use of text and illustrations from Barret, Pietro de Abano, Jennings, Layard, and even (see plates facing pp. 193 and 219) from Frank Leslie’s Illustrated Newspaper [23]; also by the unspiritual personification of God, “the eternal, uncreated, self-existent, and infinite realm of spirit” (p. 31), as a globe, that is to say, a limited sphere or central sun related to the universe as our sun is to our solar system; by much bad spelling and grammar; by such mistakes as the making of “Chrishna and Buddha Sakia” heroes of an episode identical with that told of Jesus, viz., a

Tôi nêu những chi tiết trên vì các lý do sau: 1. Cuốn sách đánh dấu một thời điểm văn học trong văn chương và tư tưởng Mỹ; 2. Tôi ngờ rằng cam kết đã không được giữ với độc giả đặt mua, kể cả tôi; vì tác phẩm—mà chúng tôi đã trả một giá cắt cổ—được in từ bộ khuôn chữ rời, chứ không phải bản kẽm, và chính ông Wheat nói với tôi rằng hãng ông, theo lệnh của Ông hoặc Bà Britten, đã in 1500 thay vì 500 bản—tính xác thực của lời khẳng định này sổ sách kế toán của ông có thể cho thấy. Tôi chỉ nhắc lại điều người thợ in của bà nói với tôi, và đưa ra để tuỳ ai muốn đánh giá ra sao; 3. Bởi vì những điều ấy và các hoàn cảnh khác, trong đó có bằng chứng nội tại về nội dung và cách thực hiện tác phẩm, khiến tôi hoài nghi câu chuyện về tác quyền chân sư được gán. Không nghi ngờ gì là trong đó có những đoạn hay, thậm chí rực rỡ, và nhiều điều vừa bổ ích vừa có giá trị. Là một người sơ cơ trong nhánh văn học này, lúc bấy giờ tôi đã rất ấn tượng với nó, và có viết như thế cho Bà Britten, nhưng tác động ấy về sau bị lu mờ khi tôi phát hiện việc sử dụng không ghi nguồn văn bản và minh hoạ từ Barret, Pietro de Abano, Jennings, Layard, và thậm chí (xem các tranh đối diện trang 193 và 219) từ Frank Leslie’s Illustrated Newspaper; thêm nữa là việc nhân cách hoá Thượng đế một cách phi tinh thần, “cõi tinh thần vĩnh cửu, vô sinh, tự hữu và vô biên” (tr. 31), như một quả cầu, tức một hình cầu hữu hạn, hay một mặt trời trung tâm liên hệ với vũ trụ như mặt trời của chúng ta đối với hệ mặt trời; bởi vô số lỗi chính tả và ngữ pháp; bởi những nhầm lẫn kiểu như biến “Chrishna và Buddha Sakia” thành các nhân vật chính của một tình tiết giống hệt chuyện kể về Jesus, tức là

“flight and concealment in Egypt and their return to work miracles,” etc. [24] also by the declaration, which contradicts every canon of Occult Science ever taught in any school, that for becoming a Magician, or Adept, the “first great pre-requisite is a prophetic or naturally mediumistic organisation” (p. 160); and that the sitting in “circles,” mutual mesmerism, the cultivation of intercourse with spirits of the dead, and the acceptance of spirit guides and controls, are substantial and lawful aids to the development of Adept powers. Whatever Adept may have written this book, most assuredly it became in the process of “editing” and “translating” a panegyric upon mediumship, and upon those phases of it which Mrs. Britten’s mediumistic history seems to illustrate. One has but to compare it with Isis Unveiled, to see the vast difference in favour of the latter as a trustworthy elucidation of the nature, history, and scientific conditions of magic and magicians, of both the Right and Left Hand paths. To affirm that mediumship and adeptship are compatible, and that any Adept would permit himself to be guided or commanded by departed spirits, is an absurdity only equal to that of saying that the North and South Poles are in contact. I remember very well pointing this out to Mrs. Britten upon first reading her book, and that her explanation was not at all convincing. She makes one statement, however, which Spiritualists often deny, but which is doubtless true, nevertheless:

“chạy trốn và ẩn náu ở Ai Cập rồi quay về làm phép lạ,” v.v.; thêm nữa là lời tuyên bố, trái ngược với mọi chuẩn tắc của Khoa học Huyền bí từng được giảng dạy ở bất kỳ trường phái nào, rằng để trở thành một nhà Huyền thuật, hay Chân sư, thì “điều kiện tiên quyết vĩ đại thứ nhất là một cơ tạng có tính tiên tri hay bẩm sinh đồng tử” (tr. 160); và rằng việc ngồi “đồng,” thôi miên lẫn nhau, nuôi dưỡng giao tiếp với vong linh của người chết, và chấp nhận “vị hướng dẫn” và “vị khống chế” thuộc linh, là những hỗ trợ căn bản và hợp lệ cho sự phát triển các năng lực của Chân sư. Dù vị Chân sư nào có thể đã viết cuốn này đi nữa, thì chắc chắn trong quá trình “biên tập” và “dịch thuật”, nó đã trở thành một bài tán dương “đồng cốt,” và những phương diện của nó mà lịch sử làm đồng tử của Bà Britten dường như minh hoạ. Chỉ cần so sánh nó với Isis Unveiled là đủ thấy sự khác biệt mênh mông nghiêng về phía tác phẩm kia, như một sự giảng giải đáng tin cậy về bản chất, lịch sử, và các điều kiện khoa học của huyền thuật và các nhà huyền thuật, cả bên Hữu thủ lẫn Tả thủ. Quả quyết rằng đồng cốt và địa vị Chân sư có thể dung hoà, và rằng bất kỳ Chân sư nào lại tự cho phép mình được các vong linh hướng dẫn hay ra lệnh, là một điều phi lý ngang với việc nói rằng Cực Bắc và Cực Nam tiếp xúc nhau. Tôi nhớ rất rõ đã chỉ ra điều này với Bà Britten ngay khi đọc cuốn sách của bà, và lời giải thích của bà hoàn toàn không thuyết phục. Tuy nhiên, bà đưa ra một khẳng định mà các nhà Thần linh học thường phủ nhận, nhưng dẫu sao vẫn rất có khả năng đúng:

“It is also a significant fact, and one which should commend itself to the attention alike of the physiologist and psychologist, that persons afflicted with scrofula and glandular enlargements, often seem to supply the pabulum which enables spirits to produce manifestations of psychical power. Frail, delicate women—persons, too, whose natures are refined, innocent, and pure, but whose glandular system has been attacked by the demon of scrofula, have frequently been found susceptible of be-coming the most remarkable instruments for psychical demonstrations by spirits.”

“Cũng có một thực tế đáng chú ý, và là điều mà cả nhà sinh lý học lẫn tâm lý học đều nên lưu ý, rằng những người mắc bệnh lao hạch và sự phì đại các tuyến, thường dường như cung cấp chất dinh dưỡng giúp các vong linh tạo ra những hiện tượng năng lực thông linh. Những phụ nữ mảnh mai, yếu đuối—cả những người mà bản chất tinh tế, trong trắng và thuần khiết, nhưng hệ tuyến lại bị con quỷ lao hạch tấn công—thường được thấy là những người nhạy cảm có thể trở thành những khí cụ kỳ lạ nhất cho các cuộc thị hiện thông linh do vong linh tạo ra.”

The author had seen astounding phenomena exhibited by “rugged country girls and stout men of Ireland and North Germany,” but careful scrutiny would often reveal in the mediums a tendency to epilepsy, chorea, and functual derangements of the pelvic viscera.

Tác giả đã chứng kiến những hiện tượng kinh ngạc do “các cô gái nông thôn rắn rỏi và những người đàn ông vạm vỡ của Ireland và Bắc Đức” thể hiện, nhưng xem xét cẩn thận thường hé lộ ở nơi các đồng tử một khuynh hướng động kinh, múa giật, và rối loạn chức năng các tạng ở vùng chậu.

“It is a fact, which we may try to mask, or the acknowledgment of which we [Adepts?] may indignantly protest against, that the existence of remarkable medium powers augurs a want of balance in the system, etc.”

“Đó là một thực tế, mà chúng ta có thể tìm cách che đậy, hoặc việc thừa nhận nó chúng ta [các Chân sư?] có thể phẫn nộ phản đối, rằng sự hiện hữu của những năng lực đồng tử đáng chú ý báo hiệu một sự thiếu cân bằng trong toàn hệ thống, v.v.”

Yet (p. 161), we are told that, “To be an ‘Adept’ was to be able to practise magic, and to do this was either to be a natural prophet [or medium, as above declared], cultured to the strength of a magician, or an individual who had acquired this prophetic [mediumistic?] power and magical strength through discipline.” And this soi-disant Adept, says (p. 228) that if “the magic of the Orient combine with the magnetic spontaneity of Western Spiritism, we may have a religion, whose foundations laid in science and stretching away to the heavens in inspiration, will revolutionise the opinions of ages and establish on earth the region of the true Spiritual Kingdom.”

Thế nhưng (tr. 161), chúng ta lại được bảo rằng, “Trở thành một ‘Chân sư’ là trở nên có khả năng hành huyền thuật, và để làm được điều ấy hoặc là phải là một nhà tiên tri tự nhiên [hay đồng tử, như đã nói ở trên], được rèn luyện đến sức mạnh của một nhà huyền thuật, hoặc là một cá nhân đã đạt được quyền năng tiên tri [đồng tử?] và sức mạnh huyền thuật này thông qua kỷ luật.” Và vị Chân sư tự xưng này, nói (tr. 228) rằng nếu “huyền thuật của phương Đông kết hợp với tính tự phát từ điện của Thần linh học phương Tây, chúng ta có thể sẽ có một tôn giáo, đặt nền tảng trên khoa học và vươn tới trời cao bằng cảm hứng, sẽ làm cách mạng những quan kiến của bao thế kỷ và kiến lập trên Trái Đất cõi của Chân Giới Tinh thần.”

But this will suffice to show what manner of Adept is the reported Author of Art Magic, and what weight should be given to Mrs. Britten’s current sarcasms and pifflings against H. P. B., her teachings, and the pretensions of the Theosophical Society which she helped us found. In the early days, she declared her acquaintanceship with us “a great privilege,” her membership something to be proud of, and her office in the T. S.”a mark of distinction” [Letter on “The Slanderers of Art Magic” in Spiritual Scientist]; and, as late as the year 1881 or 1882, she calls herself, in a letter introducing Professor J. Smyth, of Sydney, to H. P. B., her unchanged friend, for whom she ever feels “the old time affection”; yet she has been anything but that of later years; and it is her attitude towards Theosophy which has created the necessity for my recording these several reminiscences, both in the interest of history, and for the profit of her friends and herself.

Nhưng bấy nhiêu cũng đủ để cho thấy vị “Chân sư” kiểu gì là Tác giả được báo cáo của Art Magic, và mức độ xem trọng nào nên dành cho những mũi mỉa mai và lời lẽ vớ vẩn mà Bà Britten đang gieo rắc chống lại H. P. B., các giáo huấn của Bà, và những tuyên xưng của Hội Thông Thiên Học mà chính Bà đã giúp chúng tôi sáng lập. Thuở đầu, bà tuyên bố quen biết chúng tôi là “một đặc ân lớn,” tư cách hội viên là điều đáng tự hào, và chức vụ của bà trong “Hội T. S.” là “một dấu hiệu phân biệt” [Thư về “Những kẻ vu khống Art Magic” trên Spiritual Scientist]; và, muộn nhất là vào năm 1881 hay 1882, bà tự xưng, trong một bức thư giới thiệu Giáo sư J. Smyth, ở Sydney, với H. P. B., là người bạn không đổi thay của Bà, người mà bà luôn lưu giữ “tình thân thuở xưa”; vậy mà những năm gần đây thì bà lại không hề như thế; và chính thái độ của bà đối với Thông Thiên Học đã tạo ra sự cần thiết cho tôi ghi chép những hồi ức này, vừa vì lợi ích của lịch sử, vừa để bạn hữu của bà và bản thân bà lấy làm bài học.

The author, we are told, had had “more than forty years” of occult experience (p. 166), after having “learned the truth” of magical science; so that he might reasonably be taken as at least fifty or sixty years of age when Art Magic was published; yet, from an alleged portrait of him, obligingly sent me by Mrs. Britten from Boston to New York, in 1876, for examination, [25] he seems a young man of about twenty-five. Moreover, all those years of profound study ought to have made his face embody the acquired masculine majesty one finds in the countenance of a true Yogi or Mahatma; whereas in this portrait, of a pretty man with mutton-chop whiskers, the face has the vapid weakness of a “sick sensitive,” of a fashionable lady-killer, or, as many say who have seen it, that of a wax figure such as the Parisian barber sets in his shop window to display his wigs and whiskers upon. One who has ever been face to face with a real Adept, would be forced by this effeminate dawdler’s countenance to suspect that either Mrs. Britten had, faute de mieux, shown a bogus portrait of the real author, or that the book was written by no “Chevalier Louis” at all.

Người ta cho biết, tác giả đã có “hơn bốn mươi năm” trải nghiệm huyền bí (tr. 166), sau khi đã “học được chân lý” của khoa học huyền thuật; vậy thì có thể suy ra ông ít nhất cũng năm mươi hay sáu mươi tuổi khi Art Magic được xuất bản; thế nhưng, từ một bức chân dung được cho là của ông, Bà Britten tử tế gửi cho tôi từ Boston về New York, năm 1876, để tôi xem xét, thì ông có vẻ là một thanh niên chừng hai mươi lăm. Hơn nữa, tất cả những năm tháng học hỏi thâm sâu ấy lẽ ra phải làm cho gương mặt ông toát ra vẻ uy nghi nam tính mà ta thấy nơi diện mạo của một vị Yogi hay một vị Mahatma đích thực; trong khi đó, trong bức chân dung này, của một người đàn ông đẹp trai để ria mép và tóc mai, gương mặt phảng phất vẻ uể oải vô vị của một “kẻ nhạy cảm ốm yếu,” của một tay đào hoa nơi giới thượng lưu, hoặc, như nhiều người nói khi đã xem qua, giống như một pho sáp mà người thợ cắt tóc Paris trưng trong tủ kính để phô những bộ tóc giả và ria mép. Ai đã từng một lần giáp mặt với một Chân sư thật, hẳn chỉ cần nhìn vào gương mặt ẻo lả của kẻ này đã phải nghi rằng hoặc là Bà Britten, bất đắc dĩ, đã đưa ra một bức chân dung giả mạo của tác giả thật, hoặc cuốn sách không hề do bất kỳ “Chevalier Louis” nào viết cả.

The portrait is far less interesting in itself than in its relation to a remarkable phenomenon, which H. P. B. did upon the provocation of a French lady, a Spiritualist, then a guest at our New York Headquarters. Her name was Mlle. Pauline Leibert, and her place of residence at Leavenworth, in Kansas, a distant Western State. H. P. B. had known her in former years at Paris, where she took the deepest interest in “spirit photography.” She believed herself to be under the spiritual guardianship of Napoleon Bonaparte, and that she possessed the power of conferring upon a photographer the mediumistic faculty of taking the portraits of the spirit-friends of living sitters! When she read in the papers H. P. B.’s first letters about Dr. Beard and the phenomena, of the Eddy family, she wrote to her and told about the wonderful success she had had in Kansas, St. Louis, and elsewhere among the photographers, in getting spirit portraits. Mr. H. J. Newton, the Treasurer of the T. S. was a distinguished and scientific amateur photographer, and had fitted up a very excellent experimental gallery in his own house. Upon hearing from me about Mlle. Liebert’s pretensions, he asked us to invite her to pay us a visit and give him sittings, with a view to testing her claims in the interest of science. H. P. B. complied,and the eccentric lady came to New York at our expense, and was our guest during several months.

Bức chân dung tự thân nó ít thú vị hơn nhiều so với mối liên hệ của nó với một hiện tượng kỳ lạ mà H. P. B. đã thực hiện khi bị khích động bởi một phụ nữ Pháp, một nhà thần linh học, lúc đó là khách tại Trụ sở New York của chúng tôi. Tên bà là Mlle. Pauline Leibert, nơi cư trú của bà ở Leavenworth, bang Kansas, một tiểu bang xa xôi miền Tây. H. P. B. đã quen bà từ nhiều năm trước tại Paris, nơi bà này đặc biệt quan tâm đến “nhiếp ảnh linh hồn.” Bà tin rằng mình được Napoleon Bonaparte che chở về mặt tinh thần, và rằng bà có năng lực ban cho một nhiếp ảnh gia khả năng đồng cốt để chụp được chân dung của những bạn hữu linh hồn của các thân chủ đang sống! Khi đọc những bức thư đầu tiên của H. P. B. trên báo chí về Bác sĩ Beard và các hiện tượng của gia đình Eddy, bà đã viết cho H. P. B. kể về những thành công tuyệt vời mà bà đã có ở Kansas, St. Louis và các nơi khác với các nhiếp ảnh gia, trong việc chụp được ảnh linh hồn. Ông H. J. Newton, Thủ quỹ của Hội T.S., là một nhiếp ảnh gia nghiệp dư uyên bác và khoa học, đã trang bị một phòng thí nghiệm ảnh thử nghiệm rất tuyệt trong ngôi nhà của mình. Khi nghe tôi kể về những tuyên bố của Mlle. Liebert, ông đã đề nghị chúng tôi mời bà đến thăm và ngồi làm mẫu để ông thử nghiệm, nhằm kiểm chứng những tuyên bố ấy cho lợi ích khoa học. H. P. B. đồng ý, và bà khách lập dị này đến New York bằng chi phí của chúng tôi, sống cùng chúng tôi trong vài tháng.

The erudite calumniator of the Carrier Dove, whom I have above mentioned in another connection, published (C. D., vol. viii, 298) an alleged assertion of Mlle. Liebert to himself, that H. P. B.’s phenomena were tricks to delude me along with others, that her pictures were bought or prepared in advance and foisted on us as instantaneous productions, etc., etc.; in short, a tissue of falsehoods. He parades her as an intelligent person, but the fact is that she was credulity personified, so far as her spiritualistic photographs were concerned. Upon her arrival at New York, she began a course of photographic sittings at Mr. Newton’s house, confidently prognosticating that she should enable him to get genuine spirit portraits. Mr. Newton patiently went on with the trial, until, with the fiftieth sitting, and no result, his patience gave way and he stopped. Mlle. Liebert tried to account for her failure by saying that the “magnetism” of Mr. Newton’s private gallery was not congenial to the spirits; notwithstanding the fact that he was the foremost Spiritualist of New York City, the president of the largest society of the kind. With Mr. Newton’s obliging help, I then arranged for a fresh series of trials in the photographic gallery of Bellevue Hospital, the manager of which, Mr. Mason, was a man of scientific training, a member of the Photographic Section of the American Institute, and anxious to test Mlle. Liebert’s pretensions in a sympathetic spirit. His success was no better than Mr. Newton’s, despite seventy-five careful trials under the French lady’s prescribed precautions against failure. All these weeks and months that the two series of experiments were going on, Mlle. Liebert lived with us, and almost every evening she used to bring out and lovingly con over a handful of so-called spirit photographs that she had collected in divers places. The ignominious collapse of her hope3 as to the test trials in progress seemed to make her dote upon what the poor deluded creature regarded as past successes, and it was an amusing study to watch her face while handling her thumb-worn piéces de conviction. H. P. B. had naturally but small pity for intellectual weaklings, especially little for the stubborn dupes of mediumistic trickery, and she often poured out the vials of her wrath upon the—as she called her—purblind old maid.

Kẻ phỉ báng uyên bác của tờ Carrier Dove, người mà tôi đã nhắc đến ở chỗ khác, đã công bố (C.D., tập viii, tr. 298) một lời cáo buộc rằng Mlle. Liebert từng nói với ông ta rằng các hiện tượng của H. P. B. chỉ là trò bịp để lừa dối tôi và những người khác, rằng những bức hình của bà ta được mua hoặc chuẩn bị từ trước rồi giả vờ là sản phẩm tức thì, v.v.; nói ngắn gọn, đó chỉ là một mớ bịa đặt. Ông ta khoe khoang bà như một người thông minh, nhưng sự thật là bà chính là hiện thân của lòng cả tin, ít nhất là trong chuyện chụp ảnh linh hồn. Khi đến New York, bà bắt đầu một loạt các buổi chụp ở nhà ông Newton, tự tin tiên đoán rằng mình sẽ giúp ông chụp được ảnh linh hồn thật sự. Ông Newton kiên nhẫn tiến hành thí nghiệm, cho đến buổi chụp thứ năm mươi mà không có kết quả, sự kiên nhẫn của ông đã cạn kiệt và ông dừng lại. Mlle. Liebert tìm cách biện hộ cho thất bại của mình bằng cách nói rằng “từ điện” của phòng thí nghiệm riêng của ông Newton không thích hợp với các linh hồn; mặc dù thực tế là ông là nhà thần linh học hàng đầu ở New York, chủ tịch của hội lớn nhất thuộc loại này. Với sự giúp đỡ tử tế của ông Newton, tôi đã thu xếp một loạt thí nghiệm mới tại phòng chụp của Bệnh viện Bellevue, nơi ông Mason – một người có đào tạo khoa học, thành viên Phân hội Nhiếp ảnh của Viện Hoa Kỳ – quản lý, và cũng mong muốn kiểm chứng những tuyên bố của Mlle. Liebert trong một tinh thần thiện cảm. Kết quả của ông cũng chẳng hơn gì Newton, dù đã có bảy mươi lăm lần thử nghiệm cẩn thận dưới những điều kiện mà bà người Pháp kia đưa ra để tránh thất bại. Trong suốt những tuần và tháng các cuộc thí nghiệm diễn ra, Mlle. Liebert sống cùng chúng tôi, và hầu như tối nào bà cũng mang ra và nâng niu ngắm nghía một nắm những bức ảnh gọi là ảnh linh hồn mà bà đã thu thập ở nhiều nơi khác nhau. Sự sụp đổ nhục nhã của hy vọng về các cuộc thử nghiệm đang tiến hành dường như càng khiến bà say mê với những gì mà kẻ khốn khổ bị lừa này coi là thành công trước kia, và thật thú vị khi quan sát nét mặt bà khi bà cầm trên tay những “bằng chứng” đã sờn rách. H. P. B. tự nhiên vốn chẳng có chút thương hại nào cho những kẻ yếu kém trí tuệ, đặc biệt càng ít hơn với những kẻ cố chấp bị trò gian lận đồng cốt mê hoặc, và bà thường trút cơn thịnh nộ của mình lên người mà bà gọi là “cô gái già mù quáng.”

One cold evening (Dec. 1,1875), after a fresh day of failures at Mr. Mason’s laboratory, Mlle. Liebert was, as usual, shuffling over her grimy photographs, sighing and arching her eyebrows into a despairing expression, when H. P. B. burst out: “Why will you persist in this folly? Can’t you see that all those photographs in your hand were swindles on you by photographers who did them to rob you of your money? You have had every possible chance now to prove your pretended power,—more than one hundred chances have been given you, and you have not been able to do the least thing. Where is your pretended guide, Napoleon, and the other sweet angels of Summer land; why don’t they come and help you? Pshaw! it makes me sick to see such credulity. Now see here: I can make a ‘spirit picture’ whenever I like and—of anybody I like. You don’t believe it, eh? ‘Well, I shall prove it on the spot!”

Một buổi tối lạnh (ngày 1 tháng 12, 1875), sau một ngày thất bại mới ở phòng thí nghiệm của ông Mason, Mlle. Liebert lại, như thường lệ, xáo đi xáo lại đống ảnh lem nhem của mình, thở dài và nhướng mày tỏ vẻ tuyệt vọng, thì H. P. B. bùng nổ: “Sao bà cứ khăng khăng trong sự điên rồ này? Chẳng lẽ bà không thấy rằng tất cả những tấm ảnh trong tay bà đều là trò bịp bợm để lừa tiền bà hay sao? Bà đã có mọi cơ hội có thể để chứng minh quyền năng giả vờ của mình — hơn một trăm cơ hội đã được trao cho bà, và bà chẳng làm được điều gì. Vị ‘hướng dẫn’ giả vờ của bà, Napoleon, và những thiên thần ngọt ngào khác của Cõi Hạ Giới đâu rồi; sao họ không đến giúp bà? Xì! Tôi phát ốm khi thấy lòng cả tin như vậy. Nào, nhìn đây: tôi có thể làm một ‘tấm ảnh linh hồn’ bất cứ lúc nào tôi muốn và—của bất cứ ai tôi muốn. Bà không tin à? Được thôi, tôi sẽ chứng minh ngay tại chỗ này!”

She hunted up a piece of card-board, cut it to the size of a cabinet photograph, and then asked Mlle. Liebert whose portrait she wished. “Do you want me to make your Napoleon?” she asked. “No,” said Mlle. L., “ please make for me the picture of that beautiful M. Louis.” H.P.B. burst into a scornful laugh, because, by Mrs. Britten’s request, I had returned to her through the post the Louis portrait three days previously, and it being by that time in Boston, 250 miles away, the trap set by the French lady was but too evident. “Ah!” said H.P.B., “you thought you could catch me, but now see! “ She laid the prepared card on the table before Mlle. Liebert and myself, rubbed the palm of her hand over it three or four times, turned it over, and lo! on the under side we saw (as we then thought) a fac-simile of the Louis portrait. In a cloudy background, at both sides of the face were grinning elemental sprites, and above the head a shadowy hand with the index-finger pointing downward. I never saw amazement more strongly depicted on a human face than it was upon Mlle. Liebert’s at that moment. She gazed in positive terror at the mysterious card, and presently burst into tears and hurried out of the room with it in her hand, while H.P.B. and I went into fits of laughter. After a half hour she returned, gave me the picture, and on retiring for the night I placed it as a book-mark in a volume I was reading in my own apartment. On the back I noted the date and the names of the three witnesses.

Bà liền tìm một tấm bìa, cắt nó thành kích thước ảnh thẻ, rồi hỏi Mlle. Liebert muốn chân dung của ai. “Bà có muốn tôi làm cho bà một bức Napoleon không?” bà hỏi. “Không,” Mlle. L. trả lời, “xin hãy làm cho tôi bức hình của chàng Louis đẹp trai ấy.” H. P. B. bật cười khinh miệt, vì theo yêu cầu của Bà Britten, tôi đã gửi trả lại cho bà qua đường bưu điện bức chân dung Louis ba ngày trước đó, và nó lúc ấy đang ở Boston, cách xa 250 dặm; cái bẫy mà bà người Pháp giăng ra thật quá rõ. “À!” H. P. B. nói, “bà tưởng bà có thể gài bẫy tôi, nhưng bây giờ hãy xem đây!” Bà đặt tấm bìa chuẩn bị sẵn trên bàn trước mặt Mlle. Liebert và tôi, xoa lòng bàn tay lên đó ba bốn lần, lật nó lại, và kìa! Ở mặt dưới chúng tôi thấy (như lúc đó chúng tôi nghĩ) một bản sao của chân dung Louis. Trên nền mây mù, ở hai bên khuôn mặt là những linh thể hành khí đang cười nhăn nhở, và phía trên đầu là một bàn tay mờ ảo với ngón trỏ chỉ xuống. Tôi chưa bao giờ thấy sự kinh ngạc hiện rõ rệt trên gương mặt con người như trên mặt Mlle. Liebert vào khoảnh khắc ấy. Bà nhìn tấm thẻ với nỗi sợ hãi rõ ràng, rồi òa khóc và vội vã rời khỏi phòng với tấm ảnh trong tay, trong khi H. P. B. và tôi cười nghiêng ngả. Nửa giờ sau bà quay lại, đưa cho tôi bức ảnh, và khi về phòng ngủ tối hôm đó tôi đặt nó làm dấu trang trong một cuốn sách đang đọc. Ở mặt sau tôi ghi lại ngày tháng và tên của ba nhân chứng.

The next morning I found that the picture had quite faded out, all save the name” Louis,” written at the bottom in imitation of the original: the writing, a precipitation made simultaneously with the portrait and the elves in the background. That was a curious fact—that one part of a precipitated picture should remain visible, while all the rest had disappeared, and I cannot explain it. I locked it up in my drawer, and Mr. Judge, dropping in a day or two later, or, perhaps, the same evening, I told him the story and showed him the defaced card; whereupon he asked H.P.B. to cause the portrait to re-appear and to “fix” it. It needed but a moment for her to lay the card again face down upon the table, cover it with her hand, and reproduce the picture as it had been. He took it by her permission, and kept it until we met him at Paris in 1884, when—as he had fortunately brought it with him-I begged it of him for the Adyar Library.

Sáng hôm sau tôi phát hiện bức ảnh đã phai gần hết, chỉ còn lại chữ “Louis” viết ở phía dưới, bắt chước theo chữ ký của bức gốc: dòng chữ đó là một sự ngưng tụ được tạo ra đồng thời với bức chân dung và các linh thể ở nền. Đó là một sự thật kỳ lạ — một phần của bức ảnh ngưng tụ lại còn hiển thị, trong khi tất cả phần còn lại đã biến mất, và tôi không thể giải thích được. Tôi cất nó vào ngăn kéo, và vài ngày sau, hoặc có lẽ ngay buổi tối cùng ngày, Ông Judge ghé qua, tôi kể cho ông nghe câu chuyện và cho ông xem tấm thẻ đã bị phai mờ; ông liền yêu cầu H. P. B. làm cho bức chân dung xuất hiện lại và “cố định” nó. Chỉ cần một khoảnh khắc, bà đặt lại tấm thẻ úp xuống bàn, che nó bằng tay, và tái tạo bức hình như cũ. Ông được bà cho phép giữ nó, và giữ đến khi chúng tôi gặp ông ở Paris năm 1884, khi — may thay ông có mang nó theo — tôi đã xin lại để đưa vào Thư viện Adyar.

From Paris I crossed over to London, and, going one evening to dine with my friend Stainton Moses, he showed me his collection of mediumistic curios, among others, the very original of the Louis picture, which I had returned to Mrs. Britten by post from New York to Boston in 1876/ On the back was written” M. A: axon, March 1, 1877, from the Author of Art Magic, and Ghostland.” The next day I brought and showed Stainton Moses the H. P. B. copy, and he kindly gave me the original. Thus, after the lapse of eight years, both came back to my hand. Upon comparing them, we found so many differences as to show conclusively that the one was not a duplicate of the other. To begin with the faces look in opposite directions, as though the one were the enlarged and somewhat deranged reflection of the other in a mirror. When I asked H.P.B. the reason for this, she said that all things on the objective plane have their images reversed in the astral light, and that she simply transferred to paper the astral reflection of the Louis picture as she saw it: the minuteness of its accuracy would depend upon the exactness of her clairvoyant perception. Applying this test to these two pictures, we find that there are material differences in horizontal and vertical measurements throughout, as well as in the curl of the hair and beard and the outlines of the dress: the “Louis” signatures also vary in all details while preserving a general resemblance. When the copy was precipitated, the tint was infused into the surface of the whole card as a sort of pigmentous blur, just as the background still remains, and H. P. B. touched up some of the main lines with a lead-pencil; to the artistic improvement of the picture, but to its detriment as an exhibit of occult photography.

Từ Paris, tôi sang London, và trong một buổi tối đến dùng bữa cùng bạn tôi, Stainton Moses, ông đã cho tôi xem bộ sưu tập các hiện vật đồng cốt của mình, trong đó có bức chân dung Louis nguyên bản, mà tôi đã gửi trả lại cho Bà Britten từ New York đến Boston năm 1876. Ở mặt sau có ghi: “M. A. Axon, ngày 1 tháng 3, 1877, từ tác giả của Art Magic và Ghostland.” Ngày hôm sau tôi mang và cho Stainton Moses xem bản sao của H. P. B., và ông đã tử tế tặng tôi bức gốc. Thế là, sau tám năm, cả hai bức đều trở lại tay tôi. Khi so sánh chúng, chúng tôi nhận thấy nhiều điểm khác biệt rõ ràng cho thấy cái này không phải bản sao của cái kia. Trước hết, các khuôn mặt nhìn về hai hướng đối diện, như thể một bức là hình phản chiếu phóng to và méo mó của bức kia trong gương. Khi tôi hỏi H. P. B. lý do, bà nói rằng mọi sự trên cõi khách quan đều có hình ảnh đảo ngược trong quang ảnh cảm dục, và bà chỉ đơn giản chuyển hình phản chiếu cảm dục của bức Louis mà bà thấy lên giấy; mức độ chính xác chi tiết phụ thuộc vào mức độ minh mẫn trong thông nhãn của bà. Khi áp dụng tiêu chuẩn này cho hai bức tranh, chúng tôi thấy có nhiều khác biệt trong các kích thước ngang dọc, cũng như trong kiểu tóc và râu cùng đường nét trang phục: các chữ ký “Louis” cũng khác nhau về mọi chi tiết dù vẫn giữ sự giống nhau tổng thể. Khi bức sao được ngưng tụ, màu sắc thấm vào toàn bộ bề mặt tấm thẻ như một vết mờ chất sắc tố, y như phần nền vẫn còn, và H. P. B. đã chỉnh sửa vài nét chính bằng bút chì, làm cho bức tranh nghệ thuật hơn, nhưng lại làm giảm giá trị của nó như một bằng chứng cho nhiếp ảnh huyền bí.

-—

I am fortunately able to cite an account, hitherto unpublished, by Mrs. Britten herself, of the incidents connected with the taking of the portrait. It is given in a letter to Lady Caithness, Duchesse de Pomar, who copied it out at my request: “I now enclose you a faint shadow of our ‘archmagus.’ I deeply regret my inability to send you anything better, for, indeed, his face is wonderfully beautiful. He has raven hair, superb eyes, a very fine complexion, and the sweetest smile imaginable-you may judge therefore what a poor representation this picture forms of him. It only resembles him as he lay fainting in the carriage [26] when we left the photographer’s. There was a very curious incident about this picture. When the negative was finished, I insisted on the photographer making me a proof, then and there, in order that I might judge of its resemblance; that proof I took away with us, requesting my friend, who is a fine artist, to make me an enlarged crayon sketch for myself, —this he agreed to do. I wondered why the photographer did not send me any more pictures, and waited for many days for them. I knew it only represented my poor sufferer as he then was, not as he generally appears, still he entreated me to send it as it was for his Madonna—as he calls you-because he had made such a great exertion to have it taken, and only for you. Still he did not come. The photographer might have been prevented from executing the pictures, I thought, by bad weather. At last I called on him when, with a strange and singular air of reluctance, he acknowledged that almost immediately after we had left, the picture on the negative FADED ENTIRELY OUT, leaving only some very faint indications or marks, which looked like Cabalistic characters. He was very angry about it, complained that these spiritualists were always playing tricks when they came for pictures, and he could not bear to have anything to do with them. I demanded to see the negative which he reluctantly showed me. He then, at my request, developed the plate [Note above that it had already been developed and printed from H.S.O.], but the figures or signs are so faint that they are scarcely perceptible. He added, in a frightened way, that he ‘did not want the gentleman to come again, for he didn’t think he was a mortal man anyway.’

May mắn là tôi có thể dẫn ra một tường thuật, trước nay chưa công bố, do chính Bà Britten viết, về những sự kiện liên quan tới việc chụp bức chân dung. Nó nằm trong một bức thư gửi Nữ Bá tước Caithness, Nữ Công tước de Pomar, người đã chép lại theo lời thỉnh cầu của tôi: “Tôi nay xin gửi bà một bóng mờ nhạt của ‘đại thuật sư’ của chúng ta. Tôi vô cùng tiếc là không thể gửi bà thứ gì tốt hơn, vì thực ra gương mặt của ông ta đẹp lạ lùng. Ông có mái tóc đen tuyền, đôi mắt tuyệt mỹ, nước da rất đẹp, và nụ cười dịu dàng nhất có thể tưởng tượng—bởi thế bà có thể đoán tấm hình này diễn tả ông tồi đến nhường nào. Nó chỉ giống ông khi ông ngất lịm trong xe ngựa lúc chúng tôi rời nhà nhiếp ảnh. Có một sự cố rất lạ liên quan đến bức ảnh này. Khi tấm âm bản hoàn tất, tôi khăng khăng yêu cầu nhà nhiếp ảnh làm ngay một tấm in thử, ngay tại đó, để tôi có thể xét xem nó giống đến đâu; tấm in thử ấy tôi mang đi, và nhờ người bạn tôi, một nghệ sĩ tài hoa, làm cho tôi một bức phóng lớn bằng phấn than,—anh đã đồng ý. Tôi băn khoăn vì sao nhà nhiếp ảnh không gửi tôi thêm ảnh nào nữa, và đợi nhiều ngày. Tôi biết nó chỉ diễn tả người bệnh đáng thương của tôi như anh ấy lúc đó, không như thường ngày, tuy nhiên anh năn nỉ tôi gửi nó cho người Madonna của anh ấy—như anh gọi bà—bởi anh đã cố gắng rất lớn để có thể chụp được, và chỉ vì bà. Thế nhưng anh vẫn không đến. Tôi nghĩ nhà nhiếp ảnh có thể bị thời tiết xấu cản trở việc tráng ảnh. Rốt cuộc tôi đến gặp ông ta thì, với một vẻ cực kỳ lưỡng lự kỳ quặc, ông ta thú nhận rằng gần như ngay sau khi chúng tôi rời đi, hình ảnh trên âm bản HOÀN TOÀN PHAI MẤT, chỉ để lại vài dấu vết rất mờ, trông như những ký tự Cabala. Ông ta rất bực mình vì chuyện đó, phàn nàn rằng bọn người theo Thần linh học lúc nào cũng giở trò khi đến chụp ảnh, và ông không muốn dính dáng gì đến họ. Tôi yêu cầu được xem âm bản và ông miễn cưỡng cho xem. Rồi, theo đề nghị của tôi, ông tráng tấm kính [Xin lưu ý ở trên rằng nó trước đó đã được tráng và in ra rồi. H. S. O.], nhưng các hình hoặc dấu hiệu mờ đến nỗi hầu như không thể nhận ra. Ông thêm, với vẻ sợ hãi, rằng ông ‘không muốn quý ông kia đến lần nữa, vì ông không nghĩ đó là người phàm trần đâu.’

I was terribly disappointed, but had no resource but submission. I had half resolved to have my miniature copied, when I received from Cuba, where Louis went first, the chalk-drawing he has made from the proof. He added to it a statement that the proof he took with him has most strangely faded out, leaving nothing but a faint indication of some Cabalistic signs too faint to make out.

Tôi vô cùng thất vọng, nhưng chẳng còn cách nào khác ngoài chấp nhận. Tôi đã nửa phần định cho chép lại bức tiểu hoạ của tôi, thì tôi nhận được từ Cuba, nơi Louis đến trước, bản vẽ phấn than mà anh làm từ bản in thử ấy. Anh kèm theo đó một lời tường trình rằng tấm in thử anh mang theo đã phai mờ một cách hết sức lạ lùng, không còn gì ngoài vài dấu chỉ yếu ớt của mấy ký hiệu Cabala quá mờ để nhận ra.

“Is not that very strange? Determined not to be balked, I have had the chalk-drawing photographed, and though it is somewhat inferior in softness to the proof, it is an equally good resemblance of our invalid. What momentous times we are living in!”

“Điều đó chẳng phải lạ lùng sao? Quyết không chịu thất bại, tôi đã cho chụp lại bức phấn than, và tuy nó kém mềm mại hơn bản in thử đôi chút, nó vẫn là một bản giống tốt như nhau về người bệnh của chúng ta. Chúng ta đang sống những thời khắc quan trọng biết bao!”

Momentous, indeed, when Adepts of forty years’ experience are made to look like a school-girl’s hero, and photographic negatives are twice developed, each time giving a different print!

Quan trọng, thật vậy, khi các Chân sư có bốn mươi năm kinh nghiệm lại hiện ra như một thần tượng tuổi học trò, và các âm bản nhiếp ảnh được tráng đến hai lần, mỗi lần lại cho một bản in khác nhau!

CHAPTER XIII—CHƯƠNG XIII

ISIS UNVEILED—ISIS UNVEILED

OF the writing of Isis Unveiled, let us see what reminiscences memory can bring out of the darkroom where her imperishable negatives are kept.

Về việc soạn tác phẩm Isis Unveiled, chúng ta hãy xem trí nhớ có thể mang từ buồng tối—nơi cất giữ những âm bản bất diệt của nó—ra những hồi ức gì.

If any book could ever have been said to make an epoch, this one could. Its effects have been as important in one way as those of Darwin’s first great work have been in another: both were tidal waves in modern thought, and each tended to sweep away theological crudities and replace the belief in miracle with the belief in natural law. And yet nothing could have been more commonplace and unostentatious than the beginning of Isis. One day in the Summer of 1875, H. P. B. showed me some sheets of manuscript which she had written, and said: “I wrote this last night ‘by order,’ but what the deuce it is to be I don’t know. Perhaps it is for a newspaper article, perhaps for a book, perhaps for nothing: anyhow, I did as I was ordered.” And she put it away in a drawer, and nothing more was said about it for some time. But in the month of September—if my memory serves—she went to Syracuse (N.Y.), on a visit to her new friends, Professor and Mrs. Corson, of Cornell University, and the work went on. She wrote me that it was to be a book on the history and philosophy of the Eastern Schools and their relations with those of our own times. She said she was writing about things she had never studied and making quotations from books she had never read in all her life: that, to test her accuracy, Prof. Corson had compared her quotations with classical works in the University Library, and had found her to be right. Upon her return to town, she was not very industrious in this affair, but wrote only spasmodically, and the same may be said as to the epoch of her Philadelphia residence, but a month or two after the formation of the Theosophical Society, she and I took two suites of rooms at 433 West 34th St., she on the first and I on the second floor, and thenceforward the writing of Isis went on without break or interruption until its completion in the year 1877. In her whole life she had not done a tithe of such literary labour, yet I never knew even a managing daily journalist who could be compared with her for dogged endurance or tireless working capacity. From morning till night she would be at her desk, and it was seldom that either of us got to bed before 2 o’clock A.M. During the daytime I had my professional duties to attend to, but always, after an early dinner we would settle down together to our big writing-table and work, as if for dear life, until bodily fatigue would compel us to stop. What an experience! The education of an ordinary life-time of reading and thinking was, for me, crowded and compressed into this period of less than two years. I did not merely serve her as an amanuensis or a proof-reader, but she made me a collaborator; she caused me to utilise—it almost seemed—everything I had ever read or thought, and stimulated my brain to think out new problems that she put me in respect to occultism and metaphysics, which my education had not led me up to, and which I only came to grasp as my intuition developed under this forcing process. She worked on no fixed plan, but ideas came streaming through her mind like a perennial spring which is ever overflowing its brim. Now she would be writing upon Brahma, anon upon Babinet’s electrical “meteor-cat”; one moment she would be reverentially quoting from Porphyrios, the next from a daily newspaper or some modern pamphlet that I had just brought home; she would be adoring the perfections of the ideal Adept, but diverge for an instant to thwack Professor Tyndall or some other pet aversion of hers, with her critical cudgel. Higgledy-piggledy it came, in a ceaseless rivulet, each paragraph complete in itself and capable of being excised without harm to its predecessor or successor. Even as it stands now, and after all its numerous re-castings, an examination of the wondrous book will show this to be the case.

Nếu từng có một cuốn sách có thể nói là làm nên một thời điểm, thì chính là cuốn này. Ảnh hưởng của nó quan trọng theo cách riêng như ảnh hưởng của trước tác đầu tiên vĩ đại của Darwin theo cách khác: cả hai đều là những đợt triều trong tư tưởng hiện đại, và mỗi đợt đều có xu hướng quét sạch những điều thô thiển giáo điều và thay thế niềm tin vào phép lạ bằng niềm tin vào định luật tự nhiên. Tuy vậy, không gì có thể tầm thường và kín đáo hơn khởi đầu của Isis. Một ngày mùa Hè 1875, H. P. B. cho tôi xem vài tờ bản thảo Bà đã viết, và nói: “Đêm qua tôi viết cái này ‘theo lệnh’, nhưng quỷ quái gì nó sẽ thành thì tôi không biết. Có thể sẽ thành một bài báo, có thể là một cuốn sách, có thể chẳng là gì cả: dẫu sao, tôi đã làm như được lệnh.” Rồi Bà cất nó vào ngăn kéo, và một thời gian chẳng ai nhắc tới nữa. Nhưng vào tháng Chín—nếu tôi nhớ không lầm—Bà đi Syracuse (N.Y.), thăm những người bạn mới, Giáo sư và Phu nhân Corson, ở Đại học Cornell, và công việc tiếp tục. Bà viết cho tôi rằng đó sẽ là một cuốn sách bàn về lịch sử và triết lý của các Trường phái phương Đông và mối liên hệ của chúng với những trường phái thời nay. Bà nói Bà đang viết về những điều Bà chưa từng học và trích dẫn từ những sách Bà chưa từng đọc trong cả đời: rằng, để kiểm tra độ chính xác, Giáo sư Corson đã đối chiếu các trích dẫn của Bà với các tác phẩm kinh điển trong Thư viện Đại học, và thấy Bà đúng. Khi trở lại thành phố, Bà không mấy chăm chỉ với việc này, chỉ viết từng đợt, và thời kỳ ở Philadelphia cũng vậy, nhưng một hai tháng sau khi Hội Thông Thiên Học được thành lập, Bà và tôi thuê hai bộ phòng ở số 433 West 34th St., Bà ở tầng một và tôi ở tầng hai, và từ đó việc viết Isis tiến hành liên tục không gián đoạn cho đến khi hoàn tất vào năm 1877. Trong cả đời, Bà chưa từng làm một phần mười khối lượng lao động văn chương như thế, vậy mà tôi chưa từng biết một nhà báo quản lý nhật báo nào có thể đem so với Bà về sức chịu đựng bền bỉ hay năng lực làm việc không biết mỏi. Từ sáng đến tối Bà ngồi bàn, và ít khi nào cả hai chúng tôi lên giường trước 2 giờ sáng. Ban ngày tôi phải lo công việc nghề nghiệp, nhưng luôn luôn, sau bữa tối sớm, chúng tôi lại ngồi xuống bên chiếc bàn viết lớn và làm việc, như thể vì mạng sống mình, cho đến khi mệt mỏi thể xác buộc phải dừng. Thật là một trải nghiệm! Sự giáo dục của cả một đời đọc và suy tưởng, với tôi, được dồn nén và nén chặt vào giai đoạn chưa tới hai năm này. Tôi không chỉ làm thư ký chép tay hay đọc sửa bản in cho Bà, mà Bà biến tôi thành người cộng tác; Bà khiến tôi tận dụng—dường như là—mọi điều tôi từng đọc hay nghĩ, và kích thích bộ óc tôi suy nghĩ những vấn đề mới Bà đặt ra cho tôi về huyền học và siêu hình học, những điều mà nền học của tôi chưa đưa tôi chạm tới, và mà tôi chỉ dần nắm bắt khi trực giác lớn lên dưới quá trình “ép chín” này. Bà không làm theo một đề cương cố định nào, mà ý tưởng tuôn vào tâm trí Bà như một dòng suối thường lưu luôn đầy tràn bờ. Lúc thì Bà viết về Brahma, ngay sau lại về “con mèo thiên thạch” điện của Babinet; một lúc Bà cung kính trích Porphyrios, thoắt cái lại trích một tờ nhật báo hoặc cuốn sách nhỏ hiện đại nào đó tôi vừa mang về; Bà tôn vinh các phẩm hảo của vị Chân sư lý tưởng, nhưng chỉ thoáng cái là quay sang “nện” Giáo sư Tyndall hoặc một đối tượng ưa ghét nào khác của Bà bằng chiếc gậy phê bình. Mọi thứ đến bừa bộn lộn xộn, thành một dòng suối không ngừng, mỗi đoạn đều hoàn chỉnh trong bản thân nó và có thể tách ra mà không gây hại cho đoạn trước hay đoạn sau. Ngay cả như nó hiện ra bây giờ, và sau tất cả những lần tái cấu trúc, xem xét cuốn sách kỳ diệu ấy sẽ cho thấy điều này.

If she had no plan, despite all her knowledge, does not that go to prove that the work was not of her own conception; that she was but the channel through which this tide of fresh, vital essence was being poured into the stagnant pool of modern spiritual thought? As a part of my educational training she would ask me to write something about some special subject, perhaps suggesting the salient points that should be brought in, perhaps just leaving me to do the best I could with my own intuitions. When I had finished, if it did not suit her, she would usually resort to strong language, and call me some of the pet names that are apt to provoke the homicidal impulse; but if I prepared to tear up my unlucky composition, she would snatch it from me and lay it by for subsequent use elsewhere, after a bit of trimming, and I would try again. Her own manuscript was often a sight to behold; cut and patched, re-cut and re-pasted, until if one held a page of it to the light, it would be seen to consist of, perhaps, six, or eight, or ten slips cut from other pages, pasted together, and the text joined by interlined words or sentences. She became so dexterous in this work that she used often to humorously vaunt her skill to friends who might be present. Our books of reference sometimes suffered in the process, for her pasting was frequently done on their open pages, and volumes are not wanting in the Adyar Headquarters and London libraries which bear the marks to this day.

Nếu Bà không có đề cương, bất chấp tất cả tri thức của mình, chẳng phải điều đó chứng tỏ rằng tác phẩm không do chính Bà thai nghén; rằng Bà chỉ là kênh dẫn qua đó dòng tinh tuý tươi mới, sống động này được đổ vào vũng nước tù của tư tưởng tinh thần hiện đại sao? Như một phần trong việc rèn luyện tôi, Bà sẽ yêu cầu tôi viết điều gì đó về một chủ đề cụ thể, có khi gợi ý những điểm then chốt cần đưa vào, có khi để tôi tự do làm hết sức với trực giác của mình. Khi tôi viết xong, nếu không vừa ý, Bà thường buông lời nặng nề, gọi tôi bằng vài cái tên “cưng” dễ khơi gợi xung lực sát nhân; nhưng nếu tôi toan xé bản thảo xấu số của mình, Bà giật lấy và để dành dùng vào chỗ khác sau khi “gọt giũa” đôi chút, và tôi lại thử lại. Bản thảo của chính Bà thường là một cảnh tượng đáng xem; cắt dán, lại cắt lại dán lại, đến mức nếu đưa một trang lên trước nguồn sáng, có khi thấy nó gồm chừng sáu, tám, hay mười mẩu cắt từ các trang khác, dán lại với nhau, và văn bản nối bằng những chữ hoặc câu xen dòng. Bà trở nên khéo trong công việc này đến nỗi Bà thường bông đùa khoe khéo với những bạn bè có mặt. Sách tra cứu của chúng tôi đôi khi khổ sở vì quá trình ấy, vì việc dán của Bà thường được làm trên ngay những trang mở của chúng, và vẫn có những tập ở Trụ sở Adyar và thư viện London còn mang dấu vết tới hôm nay.

From the date of her first appearance in the Daily Graphic, in 1874, throughout her American career, she was besieged by visitors, and if among them there chanced to be any who had some special knowledge of any particular thing cognate to her field of work, she invariably drew him out, and, if possible, got him to write down his views or reminiscences for insertion in her book. Among examples of this sort are Mr. O’ Sullivan’s account of a magical séance in Paris, Mr. Rawson’s interesting sketch of the secret initiations of the Lebanon Druses, Dr. Alexander Wilder’s numerous notes and text paragraphs in the Introduction and throughout both volumes, and others which add so much to the value and interest of the work. I have known a Jewish Rabbi pass hours and whole evenings in her company, discussing the Kabballa, and have heard him say to her that, although he had studied the secret science of his religion for thirty years, she had taught him things he had not even dreamed of, and thrown a clear light upon passages which not even his best teachers had understood. Whence did she get this knowledge? That she had it, was unmistakable; whence did she get it? Not from her governesses in Russia; not from any source known to her family or most intimate friends; not on the steamships or railways she had been haunting in her world-rambles since her fifteenth year; not in any college or university, for she never matriculated at either; not in the huge libraries of the world. To judge from her conversation and habits before she took up this monster literary task, she had not learnt it at all, whether from one source or another; but when she needed it she had it, and in her better moments of inspiration—if the term be admissible—she astonished the most erudite by her learning quite as much as she dazzled all present by her eloquence and delighted them by her wit and humorous raillery.

Từ lần đầu Bà xuất hiện trên Daily Graphic, năm 1874, suốt thời Bà ở Mỹ, rất đông khách khứa tìm đến, và nếu trong số họ tình cờ có ai đó có tri thức đặc biệt về điều gì liên quan tới lĩnh vực Bà đang làm, Bà luôn khéo gợi chuyện, và, nếu có thể, khiến người ấy viết ra quan điểm hoặc hồi ức để đưa vào sách. Thí dụ như ghi chép của ông O’Sullivan về một buổi huyền thuật ở Paris, bài phác thảo thú vị của ông Rawson về các lễ nhập nội bí truyền của người Druse ở Liban, các ghi chú phong phú và những đoạn văn bản của Bác sĩ Alexander Wilder trong phần Dẫn nhập và rải suốt hai tập, cùng những đóng góp khác làm tăng nhiều giá trị và sức hấp dẫn cho tác phẩm. Tôi từng thấy một Giáo sĩ Do Thái dành hàng giờ, cả buổi tối bên Bà, bàn về Kabballa, và nghe ông nói với Bà rằng, dù đã học khoa học bí truyền của tôn giáo mình suốt ba mươi năm, Bà vẫn dạy ông những điều ông chưa từng mơ thấy, và soi sáng những đoạn mà ngay cả các vị thầy giỏi nhất cũng chưa hiểu. Bà lấy tri thức đó ở đâu? Rằng Bà có nó là điều không thể phủ nhận; vậy Bà lấy ở đâu? Không phải từ các cô giáo ở Nga; không từ bất kỳ nguồn nào mà gia đình hay bạn hữu thân thiết nhất của Bà biết; không phải trên các chuyến tàu biển hay đường sắt mà Bà đã lang bạt trong những cuộc rong ruổi khắp thế giới từ năm mười lăm tuổi; không phải ở bất kỳ trường cao đẳng hay đại học nào, vì Bà chưa bao giờ ghi danh; không phải trong những thư viện khổng lồ của thế giới. Xét theo lời đàm đạo và thói quen của Bà trước khi đảm đương công trình văn học khổng lồ này, Bà chưa hề học nó, dù từ nguồn này hay nguồn kia; nhưng khi cần, Bà có nó, và trong những lúc cảm hứng thăng hoa—nếu được phép dùng từ này—Bà làm cho những người bác học uyên thâm nhất phải kinh ngạc bởi kiến văn của mình, cũng nhiều như Bà làm mọi người có mặt phải choáng ngợp bởi hùng biện và hoan hỉ bởi dí dỏm và lối bông đùa hóm hỉnh.

One might fancy, upon seeing the numerous quotations in Isis Unveiled that she had written it in an alcove of the British Museum or of the Astor Library in New York. The fact is, however, that our whole working library scarcely comprised one hundred books of reference. Now and again single volumes would be brought her by Mr. Sotheran, Mr. Marble or other friends, and, latterly, she borrowed a few of Mr. Bouton. Of some books she made great use—for example, King’s Gnostics; Jennings’ Rosicrucians; Dunlop’s Sod and Spirit History of Man; Moor’s Hindu Pantheon; Des Mousseaux’s furious attacks on Magic, Mesmerism, Spiritualism, etc., all of which he denounced as the Devil; Eliphas Lévi’s various works; Jacolliot’s twenty-seven volumes; Max Müller’s, Huxley’s, Tyndall’s, Herbert Spencer’s works, and those of many other authors of greater or less repute: yet not to exceed the hundred, I should say. Then what books did she consult, and what library had she access to? Mr. W. H. Burr asked Dr. Wilder in an open letter to the Truth-seeker whether the rumour was true that he had written Isis for H. P. B.; to which our beloved old friend would truthfully reply that it was a false rumour, and that he had done as much for H.P.B. as I have above stated, had given her much excellent advice, and had, for a consideration, prepared the very copious Index of some fifty pages, from advanced plate-proofs sent him for the purpose. That is all. And equally baseless is the oft-repeated tale that I wrote the book and she touched it up; it was quite the other way about. I corrected every page of her manuscript several times, and every page of the proofs; wrote many paragraphs for her, often merely embodying her ideas that she could not then (some fifteen years before her death and anterior to almost her whole career as a writer of English literature) frame to her liking in English; helped her to find out quotations, and did other purely auxiliary work: the book is hers alone, so far as personalities on this plane of manifestation are concerned, and she must take all the praise and the blame that it deserves. She made the epoch with her book, and, in making it, made me—her pupil and auxiliary—as fit as I may have been found to do Theosophical work during these past twenty years. Then, whence did H. P. B. draw the materials which compose Isis, and which cannot be traced to accessible literary sources of quotation? From the Astral Light, and by her soul-senses, from her Teachers--the “Brothers,” “Adepts,” “Sages,” “Masters,” as they have been variously called. How do I know it? By working two years with her on Isis and many more years on other literary work.

Người ta có thể tưởng, khi thấy vô số trích dẫn trong Isis Unveiled, rằng Bà đã viết nó trong một hốc nào đó của Bảo tàng Anh hay Thư viện Astor ở New York. Nhưng sự thật là thư viện làm việc của chúng tôi chỉ gồm chừng một trăm cuốn tra cứu. Thỉnh thoảng các ông Sotheran, Marble hay bạn khác mang đến cho Bà từng quyển rời, và, về sau, Bà có mượn vài cuốn của ông Bouton. Có những sách Bà dùng rất nhiều—chẳng hạn, Gnostics của King; Rosicrucians của Jennings; Sod and Spirit History of Man của Dunlop; Hindu Pantheon của Moor; các tập công kích dữ dội của Des Mousseaux nhắm vào Huyền thuật, Thôi miên, Thần linh học, v.v., mà ông kết án là của Quỷ; các tác phẩm của Eliphas Lévi; hai mươi bảy tập của Jacolliot; các tác phẩm của Max Müller, Huxley, Tyndall, Herbert Spencer, và của nhiều tác giả khác có danh tiếng ở mức độ khác nhau: nói chung không vượt quá con số một trăm, theo tôi nghĩ. Vậy Bà đã tra cứu những sách nào, và có tiếp cận thư viện nào? Ông W. H. Burr hỏi Bác sĩ Wilder trong một bức thư công khai gửi tờ Truth-seeker liệu tin đồn ông đã viết Isis giúp H. P. B. có đúng không; người bạn già khả kính của chúng tôi đã trả lời đúng sự thật rằng đó là tin đồn sai, và ông đã giúp H. P. B. như tôi đã kể ở trên, cho Bà nhiều lời khuyên tuyệt hảo, và với một khoản thù lao, đã soạn Mục lục tra cứu rất dày chừng năm mươi trang, từ những bản in thử cao bản gửi cho ông để làm việc. Hết thảy chỉ có thế. Và cũng vô căn cứ như vậy là câu chuyện lặp đi lặp lại rằng tôi viết sách và Bà “trang điểm”; sự thật hoàn toàn ngược lại. Tôi sửa từng trang bản thảo của Bà nhiều lần, và từng trang bản in thử; viết nhiều đoạn văn cho Bà, thường chỉ là thể hiện ý của Bà mà khi ấy (chừng mười lăm năm trước khi Bà mất và trước gần như toàn bộ sự nghiệp viết văn tiếng Anh của Bà) Bà chưa thể phrasé theo ý mình bằng tiếng Anh; giúp Bà tra trích dẫn, và làm những việc thuần tuý phụ trợ khác: cuốn sách là của riêng Bà, xét trên phương diện các nhân cách trên cõi biểu hiện này, và Bà phải nhận hết mọi lời khen chê mà nó đáng có. Bà tạo nên thời điểm với cuốn sách, và, khi tạo nên nó, Bà cũng làm cho tôi—người môn sinh và phụ tá của Bà—trở nên thích hợp, phần nào có thể, để làm công tác Thông Thiên Học suốt hai mươi năm qua. Vậy, H. P. B. rút các tài liệu cấu thành Isis từ đâu, những thứ không thể lần ra nguồn văn liệu có thể trích dẫn? Từ Ánh sáng cảm dục, và bằng các giác quan linh hồn của Bà, từ các Vị Thầy của Bà—những “Huynh Trưởng,” “Chân sư,” “Bậc Hiền Triết,” “Bậc Thầy,” như người ta gọi bằng nhiều danh hiệu. Tôi biết bằng cách nào? Bằng việc làm việc hai năm với Bà trên Isis và nhiều năm nữa trên các công trình văn học khác.

To watch her at work was a rare and never-to-be-forgotten experience. We sat at opposite sides of one big table usually, and I could see her every movement. Her pen would be flying over the page, when she would suddenly stop, look out into space with the vacant eye of the clairvoyant seer, shorten her vision as though to look at something held invisible in the air before her, and begin copying on her paper what she saw. The quotation finished, her eyes would resume their natural expression, and she would go on writing until again stopped by a similar interruption. I remember well two instances when I, also, was able to see and even handle books from whose astral duplicates she had copied quotations into her manuscript, and which she was obliged to “materialise” for me, to refer to when reading the proofs, as I refused to pass the pages for the “strike-off” unless my doubts as to the accuracy of her copy were satisfactory. One of these was a French work on physiology and psychology; the other, also by a French author, upon some branch of neurology. The first was in two volumes, bound in half calf, the other in pamphlet wrapper. It was when we were living at 302 West 47th street—the once-famous “Lamasery,” and the executive headquarters of the Theosophical Society. I said: “I cannot pass this quotation, for I am sure it cannot read as you have it.” She said: “Oh don’t bother; it’s right; let it pass.” I refused, until finally she said: “Well, keep still a minute and I’ll try to get it.” The far-away look came into her eyes, and presently she pointed to a far corner of the room, to an étagère on which were kept some curios, and in a hollow voice said: “There!” and then came to herself again. “There, there; go look for it over there!” I went,and found the two volumes wanted, which, to my knowledge, had not been in the house until that very moment. I compared the text with H. P. B.’s quotation, showed her that I was right in my suspicions as to the error, made the proof correction and then, at her request, returned the two volumes to the place on the étagère from which I had taken them. I resumed my seat and work, and when, after awhile, I looked again in that direction, the books had disappeared! After my telling this (absolutely true) story, ignorant sceptics are free to doubt my sanity; I hope it may do them good. The same thing happened in the case of the apport of the other book, but this one remained, and is in our possession at the present time.

Được quan sát Bà khi làm việc là một trải nghiệm hiếm có và không bao giờ phai nhòa. Chúng tôi thường ngồi ở hai phía đối diện của một chiếc bàn lớn, và tôi có thể thấy mọi động tác của Bà. Cây bút của Bà sẽ lướt vụt trên trang giấy, rồi đột ngột Bà dừng lại, đưa mắt nhìn vào khoảng không với ánh nhìn trống rỗng của nhà thông nhãn, thu gần tầm nhìn như thể đang nhìn vào một thứ vô hình treo lơ lửng trước mặt, rồi bắt đầu chép lên giấy những gì Bà thấy. Khi trích dẫn xong, đôi mắt Bà trở lại vẻ tự nhiên, và Bà tiếp tục viết cho đến khi lại dừng bởi một gián đoạn tương tự. Tôi còn nhớ rõ hai lần mà tôi cũng có thể nhìn thấy, thậm chí cầm trên tay những cuốn sách từ các bản sao cảm dục của chúng, mà từ đó Bà đã chép các trích đoạn vào bản thảo của mình; và để tôi có thể đối chiếu khi đọc bản in thử, Bà buộc phải “hiện hình” chúng cho tôi, vì tôi từ chối duyệt trang để “in lấy bản” nếu những nghi ngờ của tôi về độ chính xác của bản chép không được thỏa đáng. Một trong số đó là một tác phẩm tiếng Pháp về sinh lý học và tâm lý học; cuốn kia, cũng của một tác giả Pháp, về một ngành của thần kinh học. Cuốn thứ nhất gồm hai tập, bọc nửa da bê, cuốn kia bìa mỏng. Lúc ấy chúng tôi đang sống ở số 302 phố West 47—nơi từng nổi tiếng là “Lamasery,” và là trụ sở điều hành của Hội Thông Thiên Học. Tôi nói: “Tôi không thể duyệt trích dẫn này, vì tôi chắc chắn nó không thể đúng như Bà ghi.” Bà đáp: “Ôi đừng bận tâm; nó đúng đấy; cứ để qua.” Tôi vẫn không chịu, cuối cùng Bà nói: “Vâng, im lặng một chút, ta sẽ thử lấy nó.” Ánh nhìn xa xăm hiện trong mắt Bà, và chẳng mấy chốc Bà chỉ vào một góc xa của căn phòng, nơi có một giá kệ bày vài đồ cổ lạ, và với giọng trầm đục Bà nói: “Kìa!” rồi lại tỉnh lại. “Đấy, đấy; qua đó mà tìm!” Tôi đi, và thấy hai tập sách cần tìm, mà theo hiểu biết của tôi, chưa hề có trong nhà cho đến đúng khoảnh khắc ấy. Tôi đối chiếu văn bản với trích dẫn của H.P.B., cho Bà thấy rằng tôi đã đúng khi nghi ngờ có sai sót, sửa bản in thử rồi, theo yêu cầu của Bà, trả hai tập ấy về lại chỗ trên giá kệ nơi tôi lấy chúng. Tôi trở về chỗ ngồi và làm việc, và khi một lúc sau nhìn lại hướng đó, những cuốn sách đã biến mất! Kể câu chuyện này (hoàn toàn đúng sự thật), những kẻ hoài nghi vô minh cứ việc nghi ngờ sự minh mẫn của tôi; tôi hy vọng điều đó sẽ có lợi cho họ. Điều tương tự đã xảy ra trong trường hợp chuyển dịch hiện hình cuốn kia, nhưng cuốn ấy vẫn còn, và vẫn thuộc sở hữu của chúng tôi cho đến hiện tại.

The “copy” turned off by H. P. B. presented the most marked dissemblances at different times. While the handwriting bore one peculiar character throughout, so that one familiar with her writing would always be able to detect any given page as H. P. B.’s, yet, when examined carefully, one discovered at least three or four variations of the one style, and each of these persistent for pages together, when it would give place to some other of the caligraphic variants. That is to say, there would not often—never, as I now remember—be more than two of the styles on the same page, and even two only when the style which had been running through the work of, perhaps, a whole evening or half an evening, would suddenly give place to one of the other styles which would, in its turn, run through the rest of an evening, or the next whole evening, or the morning’s “copy”. One of these H. P. B. handwritings was very small, but plain; one bold and free; another plain, of medium size, and very legible; and one scratchy and hard to read, with its queer, foreign-shaped a’s and x’s and e’s. There was also the greatest possible difference in the English of these various styles. Sometimes I would have to make several corrections in each line, while at others I could pass many pages with scarcely a fault of idiom or spelling to correct. Most perfect of all were the manuscripts which were written for her while she was sleeping. The beginning of the chapter on the civilisation of Ancient Egypt (vol. i, chap. xiv) is an illustration. We had stopped work the evening before at about 2 A.M. as usual, both too tired to stop for our usual smoke and chat before parting; she almost fell asleep in her chair while I was bidding her good-night, so I hurried off to my bedroom. The next morning, when I came down after my breakfast, she showed me a pile of at least thirty or forty pages of beautifully written H. P. B. manuscript, which, she said, she had had written for her by——well, a Master, whose name has never yet been degraded like some others. It was perfect in every respect, and went to the printers without revision.

“Bản thảo” mà H.P.B. cho ra thể hiện những khác biệt rất nổi bật vào các thời điểm khác nhau. Trong khi chữ viết tay mang một đặc sắc riêng xuyên suốt, đến mức ai quen với chữ Bà cũng luôn có thể nhận ra bất kỳ trang nào là của H.P.B., thì khi khảo sát kỹ, người ta nhận ra ít nhất ba hay bốn biến thể của cùng một kiểu, và mỗi kiểu trong số này bền bỉ kéo dài suốt nhiều trang, rồi nhường chỗ cho một biến thể khác của chữ viết. Nghĩa là, hiếm khi—tôi nhớ là chưa bao giờ—có hơn hai kiểu trên cùng một trang, và ngay cả hai kiểu cũng chỉ khi kiểu chữ đang chạy xuyên suốt công việc của, có lẽ, cả một buổi tối hay nửa buổi, đột ngột nhường chỗ cho một kiểu khác, và kiểu này lại nối tiếp suốt phần còn lại của buổi tối ấy, hoặc cả buổi tối kế tiếp, hoặc buổi sáng hôm sau. Một trong các kiểu chữ tay của H.P.B. rất nhỏ nhưng rõ; một kiểu thì mạnh và phóng khoáng; một kiểu khác rõ ràng, cỡ trung bình, rất dễ đọc; và một kiểu ram ráp, khó đọc, với những chữ a, x, e lạ lùng, mang dáng vẻ ngoại quốc. Cũng có sự khác biệt rất lớn trong tiếng Anh của các kiểu này. Có lúc tôi phải sửa đến vài lỗi mỗi dòng, trong khi lúc khác tôi có thể duyệt nhiều trang mà hầu như không phải sửa lỗi ngữ pháp hay chính tả. Hoàn hảo nhất là những bản thảo được viết hộ cho Bà khi Bà đang ngủ. Phần mở đầu chương viết về nền văn minh Ai Cập Cổ (Tập i, Chương xiv) là một minh họa. Tối hôm trước, chúng tôi dừng công việc vào khoảng 2 giờ sáng như thường lệ, cả hai đều quá mệt để dừng lại với điếu thuốc và câu chuyện trước khi chia tay; Bà gần như thiếp đi trên ghế khi tôi chào Bà chúc ngủ ngon, nên tôi vội vã về phòng ngủ. Sáng hôm sau, khi tôi xuống sau bữa sáng, Bà cho tôi xem một xấp chừng ba mươi hay bốn mươi trang bản thảo chữ tay của H.P.B. viết rất đẹp; theo lời Bà, Bà đã được viết hộ bởi—ừ thì, một Chân sư, tên Ngài ấy chưa bao giờ bị bôi nhọ như vài vị khác. Nó hoàn hảo về mọi phương diện, và được gửi tới nhà in không cần biên tập lại.

Now it was a curious fact that each change in the H. P. B. manuscript would be preceded, either by her leaving the room for a moment or two, or by her going off into the trance or abstracted state, when her lifeless eyes would be looking beyond me into space, as it were, and returning to the normal waking state almost immediately. And there would also be a distinct change of personality, or rather personal peculiarities, in gait, vocal expression, vivacity of manner, and, above all, in temper. The reader of her Caves and Jungles of Hindustan remembers how the whirling pythoness would rush out from time to time and return under the control, as alleged, of a different goddess? It was just like that—bar the sorcery and the vertiginous dancing—with H. P. B.: she would leave the room one person and anon return to it another. Not another as to visible change of physical body, but another as to tricks of motion, speech, and manners; with different mental brightness, different views of things, different command of English orthography, idiom, and grammar, and different—very, very different command over her temper; which, as its sunniest, was almost angelic, at its worst, the opposite. Sometimes my most stupid incapacity to frame in writing the ideas she wished me to put would be passed over with benevolent patience; at others, for perhaps the slightest of errors, she would seem ready to explode with rage and annihilate me on the spot! These accesses of violence were, no doubt, at times, explicable by her state of health, and hence quite normal; but this theory would not, in the least, suffice to account for some of her tantrums. Sinnett admirably describes her in a private letter as a mystic combination of a goddess and a Tartar, and in noticing her behaviour in these different moods, says: [27] “She certainly had none of the superficial attributes one might have expected in a spiritual teacher; and how she could, at the same time, be philospher enough to have given up the world for the sake of spiritual advancement, and yet be capable of going into frenzies of passion about trivial annoyances, was a profound mystery to us for a long while, etc.” Yet, upon the theory that when her body was occupied by a sage it would be forced to act with a sage’s tranquillity, and when not, not, the puzzle is solved. Her ever-beloved aunt, Mme. N. A. F., who loved her, and whom she loved passionately to her dying day, wrote Mr. Sinnett that her strange excitability of temperament, still one of her most marked characteristics, was already manifest in her earliest youth. Even then she was liable to ungovernable fits of passion, and showed a deep-rooted disposition to rebel against every kind of authority or control.”...The slightest contradiction brought on an outburst of passion, often a fit of convulsions.” She has herself described in a family letter (Op. cit., p. 205) her psychical experience while writing her book:

Giờ đây có một sự thật lạ lùng là mỗi lần thay đổi trong bản thảo của H.P.B. đều được báo trước, hoặc bằng việc Bà rời phòng chốc lát, hoặc bằng việc Bà rơi vào trạng thái xuất thần hay đắm chìm, khi đôi mắt vô hồn của Bà sẽ như nhìn xuyên qua tôi vào khoảng không, và gần như ngay lập tức trở về trạng thái tỉnh thức bình thường. Và cũng có một sự đổi khác rõ rệt về phàm ngã, hay đúng hơn là về những đặc thù cá nhân, trong dáng đi, giọng nói, sự hoạt bát của cử chỉ, và trên hết là về tính khí. Bạn đọc “Những hang động và rừng rậm xứ Hindustan” của Bà hẳn nhớ người nữ tư tế xoay cuồng thỉnh thoảng lao ra rồi trở về trong sự khống chế, như được cho là của một nữ thần khác? Với H.P.B. thì cũng y như thế—ngoại trừ phù thuật và những điệu nhảy quay cuồng gây chóng mặt: Bà rời phòng là một người và ít lâu sau trở lại là một người khác. Không phải một người khác về hình thể hồng trần nhìn thấy được, mà là một người khác về lối cử động, giọng nói và cung cách; với độ minh mẫn khác, quan điểm khác về sự vật, khả năng khác trong chính tả, thành ngữ và ngữ pháp tiếng Anh, và một mức—rất, rất khác—khả năng chế ngự tính khí; lúc rạng rỡ nhất, gần như thiên thần, lúc tệ nhất, thì trái ngược. Đôi khi sự vụng về ngu ngốc nhất của tôi trong việc ghi lại bằng chữ những ý tưởng Bà muốn tôi diễn đạt được Bà bỏ qua với lòng nhẫn nại nhân hậu; lúc khác, có khi chỉ vì một lỗi nhỏ nhất, Bà dường như sắp bùng nổ giận dữ và nghiền nát tôi tại chỗ! Những cơn bạo liệt như thế, chắc chắn đôi khi có thể giải thích do tình trạng sức khỏe của Bà, và như vậy hoàn toàn bình thường; nhưng thuyết đó chẳng mảy may đủ để lý giải một số trận thịnh nộ của Bà. Ông Sinnett đã miêu tả Bà rất hay trong một bức thư riêng, như một phối hợp thần bí giữa một nữ thần và một người Tạng, và khi lưu ý đến hành vi của Bà trong những tâm trạng khác nhau ấy, ông nói: “Chắc chắn Bà không có những phẩm chất bề ngoài mà người ta có thể mong ở một vị huấn sư tinh thần; và việc làm sao Bà đồng thời có thể đủ triết nhân để từ bỏ thế gian vì sự tiến bộ tinh thần, mà lại vẫn có thể nổi cơn thịnh nộ vì những phiền toái vụn vặt, là một bí ẩn sâu xa với chúng tôi trong một thời gian dài, v.v.” Tuy nhiên, dựa trên giả thuyết rằng khi thân thể Bà được một hiền giả chiếm dụng thì nó buộc phải hành xử với sự tĩnh tại của một hiền giả, còn khi không thì không, câu đố được giải. Người cô ruột hằng yêu quý của Bà, Bà N.A.F., người yêu Bà, và được Bà yêu say đắm cho đến ngày Bà qua đời, đã viết cho Ông Sinnett rằng sự dễ kích động kỳ lạ về tính khí của Bà, vốn vẫn là một trong những đặc trưng nổi bật nhất, đã bộc lộ ngay từ tuổi ấu thơ. Ngay khi ấy Bà đã dễ rơi vào những cơn nóng giận không thể kiềm chế, và bộc lộ một khuynh hướng ăn sâu chống lại mọi dạng quyền uy hoặc ràng buộc.”... “Chỉ một sự trái ý nhỏ nhất là đã làm bùng phát cơn giận, nhiều khi là một cơn co giật.” Chính Bà đã mô tả trong một bức thư gia đình (Sách đã dẫn, tr. 205) trải nghiệm tâm linh của mình khi viết cuốn sách:

“When I wrote Isis I wrote it so easily, that it was certainly no labour, but a real pleasure. Why should I be praised for it? Whenever I am told to write, I sit down and obey, and then I can write easily upon almost anything—metaphysics, psychology, philosophy, ancient religions, zoology, natural sciences, or what not. I never put myself the question: ‘Can I write on this subject?’... or, ‘am I equal to the task?’ but I simply sit down and write. Why? Because somebody who knows all dictates to me. My Master, and occasionally others whom I knew on my travels years ago. Please do not imagine I have lost my senses. I have hinted to you before now about them... and I tell you candidly, that whenever I write upon a subject I know little or nothing of, I address myself to them, and one of them inspires me, i.e., he allows me to simply copy what I write from manuscripts, and even printed matter that pass before my eyes, in the air, during which process I have never been unconscious one single instant.”

“Khi tôi viết Isis, tôi viết dễ dàng đến mức chắc chắn đó không phải lao nhọc, mà là một thú vui thật sự. Tại sao tôi phải được khen vì điều đó? Hễ khi nào tôi được bảo viết, tôi ngồi xuống và vâng theo, và rồi tôi có thể dễ dàng viết về hầu như bất cứ điều gì—siêu hình học, tâm lý học, triết học, tôn giáo cổ, động vật học, khoa học tự nhiên, hay bất cứ gì. Tôi chưa bao giờ tự hỏi: ‘Tôi có thể viết về đề tài này không?’... hay, ‘tôi có xứng với nhiệm vụ không?’ mà tôi đơn giản ngồi xuống và viết. Tại sao? Vì có ai đó, người biết hết thảy, đọc cho tôi viết. Chân sư của tôi, và đôi khi những vị khác mà tôi đã quen trong các chuyến du hành nhiều năm trước. Xin đừng nghĩ rằng tôi đã mất trí. Tôi đã ám chỉ với ông trước đây về các Ngài... và tôi nói thẳng với ông rằng mỗi khi tôi viết về một đề tài mà tôi biết rất ít hoặc chẳng biết gì, tôi hướng về các Ngài, và một trong các Ngài truyền cảm hứng cho tôi, nghĩa là, Ngài cho phép tôi đơn giản chép lại những gì tôi viết từ các bản thảo, thậm chí tài liệu in ấn đi qua trước mắt tôi, trong không trung, trong suốt quá trình đó tôi chưa bao giờ bất tỉnh dù chỉ một sát-na.”

She once wrote her sister Vera about the same subject—the manner of her writing:

Một lần khác Bà viết cho em gái Vera về cùng chủ đề—cách thức Bà viết:

“You may disbelieve me, but I tell you that in saying this I speak but the truth; I am solely occupied, not with writing Isis, but with Isis herself. I live in a kind of permanent enchantment, a life of visions and sights, with open eyes, and no chance whatever to deceive my senses! I sit and watch the fair goddess constantly. And as she displays before me the secret meaning of her longlost secrets, and the veil becoming with every hour thinner and more transparent, gradually falls off before my eyes, I hold, my breath and can hardly trust to my senses!... For several years, in order not to forget what I have learned elsewhere, I have been made to have permanently before my eyes all that I need to see. Thus, night and day, the images of the past are ever marshalled before my inner eye. Slowly, and gliding silently like images in an enchanted panorama, centuries after centuries appear before me... and I am made to connect these epochs with certain historical events, and I know there can be no mistake. Races and nations, countries and cities, emerge during some former century, then fade out and disappear during some other one, the precise date of which I am then told by... Hoary antiquity gives room to historical periods; myths are explained by real events and personages who have really existed; and every important, and often unimportant event, every revolution, a new leaf turned in the book of life of nations—with its incipient course and subsequent natural results—remains photographed in my mind as though impressed in indelible colours.... When I think and watch my thoughts, they appear to me as though they were like those little bits of wood of various shapes and colours, in the game known as the casse-tête: I pick them up one by one, and try to make them fit each other, first taking one, then putting it aside until I find its match, and finally there always comes out in the end something geometrically correct... I certainly refuse point-blank to attribute it to my own knowledge or memory, for I could never arrive alone at either such premises or conclusions.... I tell you seriously I am helped. And he who helps me is my GURU.” (Op. cit., 207).

“Có thể em không tin chị, nhưng chị nói với em rằng khi nói điều này chị chỉ nói sự thật; chị chỉ bận tâm không phải viết về Isis, mà là với chính Isis. Chị sống trong một dạng mê huyễn thường trực, một đời sống của thị kiến và cảnh tượng, với đôi mắt mở, và chẳng có cơ may nào lừa dối các giác quan của chị! Chị ngồi và không ngừng ngắm vị nữ thần xinh đẹp. Và khi Nàng phơi bày trước chị ý nghĩa bí mật của những bí ẩn thất truyền từ lâu, và tấm màn, mỗi giờ một mỏng hơn và trong hơn, dần dần rơi khỏi trước mắt chị, chị nín thở và hầu như không dám tin vào các giác quan!... Trong nhiều năm, để không quên những gì chị đã học ở nơi khác, người ta đã bắt chị phải luôn luôn có trước mắt tất cả những gì chị cần thấy. Thế là, đêm ngày, những hình ảnh của quá khứ luôn luôn xếp hàng trước mắt trong của chị. Từ tốn, và lướt đi lặng lẽ như những hình ảnh trong một bức toàn cảnh phù phép, thế kỷ này nối tiếp thế kỷ kia hiện ra trước chị... và chị được cho nối kết các thời kỳ ấy với những biến cố lịch sử nhất định, và chị biết rằng không thể có sai sót. Các giống dân và các quốc gia, các xứ sở và thành thị, nổi lên trong một thế kỷ nào đó, rồi phai mờ và biến mất trong một thế kỷ khác, mà ngày tháng chính xác của nó rồi người ta nói cho chị biết... Minh cổ nhường chỗ cho các thời kỳ lịch sử; thần thoại được giải thích bằng các sự kiện và nhân vật có thực; và mọi biến cố quan trọng, và thường cả những biến cố không quan trọng, mỗi cuộc cách mạng, mỗi trang mới lật trong cuốn sách đời sống của các dân tộc—với khởi nguyên manh nha và những kết quả tự nhiên tiếp theo—đều được in hằn trong trí chị như thể khắc bằng màu sắc bất phai.... Khi chị suy nghĩ và quan sát các ý nghĩ của mình, chúng hiện ra trước chị như thể chúng giống những mảnh gỗ nhỏ đủ hình dáng và màu sắc trong trò chơi gọi là casse-tête: chị nhặt chúng lên từng mảnh, và cố gắng làm cho chúng ăn khớp nhau, lúc thì lấy một mảnh, rồi để qua một bên cho đến khi tìm được mảnh ghép, và sau cùng, bao giờ rồi cũng hiện ra một cấu trúc đúng đắn về hình học... Chị dứt khoát từ chối thẳng thừng việc quy điều đó cho tri thức hay ký ức riêng của chị, vì một mình chị không bao giờ có thể đi tới những tiền đề hay kết luận như thế.... Chị nói với em một cách nghiêm túc rằng chị được giúp. Và người giúp chị là vị GURU của chị.” (Sách đã dẫn, tr. 207).

She tells her aunt that during her Master’s absence on some other occupation,—

Bà nói với người cô rằng trong thời gian Chân sư của Bà bận một công việc nào khác,—

“He awakens in me, his substitute in knowledge... At such times it is no more I who write, but my inner Ego, my ‘luminous-self,’ who thinks and writes for me. Only see... you who know me. When was I ever so learned as to write such things? Whence was all this knowledge?”

“Ngài đánh thức nơi tôi, người thay thế Ngài về tri thức... Trong những lúc ấy, không còn là tôi viết, mà là nội ngã của tôi, ‘tự-ngã quang minh’ của tôi, nghĩ và viết thay tôi. Cứ xem đi... người hiểu rõ tôi. Khi nào tôi từng học rộng đến mức có thể viết những điều như vậy? Tất cả tri thức ấy đến từ đâu?”

Readers, whose taste leads them to probe such unique psychical problems as this to the bottom, should not fail to compare the above explanations that she gives of her states of consciousness, with a series of letters to her family that was begun in the Path magazine (N.Y. 144 Madison Ave) for December, 1894. In those she plainly admits that her body was occupied at such times, and the literary work done by foreign entities who taught me through her lips and gave out knowledge of which she herself did not possess even a glimmering in her normal state.

Những độc giả có khuynh hướng muốn đào sâu đến tận cùng các vấn đề tâm linh độc nhất vô nhị như thế này, chớ bỏ qua việc đối chiếu những giải thích trên đây mà Bà đưa ra về các trạng thái tâm thức của mình, với loạt thư gửi gia đình được khởi đăng trên tạp chí Path (New York, 144 Đại lộ Madison) số tháng Mười Hai, 1894. Trong các thư ấy, Bà nói thẳng rằng thân thể của Bà đã được chiếm ngự vào những lúc như vậy, và công việc văn chương được thực hiện bởi các thực thể ngoại lai, những vị dạy tôi qua đôi môi của Bà và đưa ra những tri thức mà bản thân Bà, trong trạng thái bình thường, thậm chí không có một tia le lói.

Taken literally, as it reads, this explanation is hardly satisfactory; for, if the disjointed thought-bits of her psychical casse-tête always fitted together so as to make her puzzle-map strictly geometrical,then her literary work should be free from errors, and her materials run together into an orderly scheme of logical and literary sequence. Needless to say, the opposite is the case; and that, even as Isis Unveiled came off the press of Trow, after Bouton had spent above $600 for the corrections and alterations that she had made in galley, page, and electroplate proofs, [28] it was, and to this day is, without a definite literary plan. Volume I professes to be confined to questions of Science, Volume II to those of Religion, yet there are many portions in each volume that belong in the other; and Miss Kislingbury, who sketched out the Table of Contents of Vol. II on the evening when I was sketching out that of Vol. I, can testify to the difficulty we had in tracing the features of a plan for each of our respective volumes.

Hiểu theo mặt chữ, như nó được viết, lời giải thích này hầu như không thỏa đáng; bởi nếu những mảnh ý nghĩ rời rạc của trò xếp hình tâm linh của Bà luôn khớp với nhau để tạo nên bức đồ hình đúng đắn về hình học, thì tác phẩm văn chương của Bà lẽ ra phải không có lỗi, và tư liệu của Bà lẽ ra phải kết nối thành một đề cương mạch lạc về logic và văn chương. Khỏi cần nói, thực tế thì ngược lại; và rằng, ngay cả khi “Isis Unveiled” vừa ra khỏi nhà in Trow, sau khi Bouton đã chi hơn $600 cho các sửa chữa và thay đổi mà Bà đã làm trên bản in thử dạng cột, dạng trang và bản kẽm, thì nó đã, và cho đến hôm nay vẫn, không có một đề cương văn chương định hình. Tập I tự nhận chỉ giới hạn trong các vấn đề Khoa học, Tập II trong các vấn đề Tôn giáo, vậy mà có nhiều phần trong mỗi tập thuộc về tập kia; và Cô Kislingbury, người đã phác bảng Mục lục của Tập II vào cùng buổi tối tôi phác Mục lục của Tập I, có thể chứng thực sự khó khăn mà chúng tôi gặp phải trong việc dò tìm các nét của một đề cương cho mỗi tập tương ứng của chúng tôi.

Then, again, when the publisher peremptorily refused to put any more capital into the venture, we had prepared almost enough additional MS. to make a third volume, and this was ruthlessly destroyed before we left America; H. P. B. not dreaming that she should ever want to utilise it in India, and the Theosophist, Secret Doctrine, and her other subsequent literary productions, not even being thought of. How often she and I mingled our regrets that all that valuable material had been so thoughtlessly wasted!

Rồi nữa, khi nhà xuất bản nhất quyết từ chối rót thêm vốn vào công việc, chúng tôi đã chuẩn bị gần đủ bản thảo để làm một tập thứ ba, và nó đã bị hủy không thương tiếc trước khi chúng tôi rời Hoa Kỳ; H.P.B. khi ấy không hề nghĩ rằng Bà sẽ muốn dùng lại ở Ấn Độ, và tạp chí The Theosophist, “Giáo Lý Bí Nhiệm,” và các trước tác văn chương về sau khác của Bà, thậm chí chưa hề được nghĩ đến. Biết bao lần Bà và tôi đã lẫn lộn những nuối tiếc rằng tất cả tư liệu quý giá ấy đã bị phung phí một cách thiếu suy nghĩ!

We had laboured at the book for several months and had turned out 870-odd pages of manuscript when, one evening, she put me the question whether, to oblige–—(our “Paramaguru “), I would consent to begin all over again! I well remember the shock it gave me to think that all those weeks of hard labour, of psychical thunder-storms and head-splitting archæological conundrums, were to count—as I, in my blind-puppy ignorance, imagined—for nothing. However, as my love and reverence and gratitude to this Master, and all the Masters, for giving me the privilege of sharing in their work was without limits, I consented, and at it we went again. Well for me, was it, that I did; for, having proved my steadfastness of purpose and my loyalty to H. P. B., I got ample spiritual reward. Principles were explained to me, multifarious illustrations given in the way of psychical phenomena, I was helped to make experiments for myself, was made to know and to profit by acquaintance with various Adepts, and, generally, to fit myself—so far as my ingrained stubbornness and practical worldly self-sufficiency would permit—for the then unsuspected future of public work that has since become a matter of history. People have often thought it very strange, in fact incomprehensible, that, of all those who have helped in this Theosophical movement, often at the heaviest self-sacrifice, I should have been the only one so favoured with personal experiences of and with the Mahatmas that the fact of their existence is a matter of as actual knowledge as the existence of my own relatives or intimate friends. I cannot account for it myself. I know what I know, but not why many of my colleagues do not know as much. As it stands, many people have told me that they pin their faith in the Mahatmas upon my unchanging and unimpeached personal testimony, which supplements the statements of H.P.B. Probably I was so blessed because I had to launch the ship “Theosophy” with H.P.B. for H.P.B.’s Masters, and to steer it through many mælstroms and cyclones, when nothing short of actual knowledge of the sound basis of our movement would have influenced me to stick to my post.

Chúng tôi đã lao lực cho cuốn sách suốt vài tháng và đã tạo ra hơn 870 trang bản thảo thì, một tối nọ, Bà hỏi tôi rằng liệu, để chiều ý—(vị “Paramaguru” của chúng ta), tôi có bằng lòng bắt đầu lại từ đầu không! Tôi còn nhớ rõ cú choáng váng khi nghĩ rằng tất cả những tuần lễ lao lực khổ ải, những cơn bão điện tâm linh và những câu đố khảo cổ nhức óc ấy, sẽ bị tính—như tôi, trong sự u muội của một chú chó con mù lòa, đã tưởng—là vô ích. Tuy nhiên, vì tình yêu, lòng tôn kính và lòng biết ơn của tôi với vị Chân sư này, và với tất cả các Chân sư, vì đã cho tôi đặc ân được chung phần vào công cuộc của các Ngài là vô bờ bến, tôi ưng thuận, và chúng tôi lại bắt tay vào. Tốt cho tôi là tôi đã làm thế; bởi sau khi chứng tỏ sự kiên định mục đích và lòng trung thành của tôi với H.P.B., tôi đã nhận được phần thưởng tinh thần dồi dào. Những nguyên lý được giảng giải cho tôi, vô vàn minh họa được đưa ra bằng hiện tượng tâm linh, tôi được giúp để tự mình thử nghiệm, được cho biết và được lợi lạc nhờ sự quen biết với nhiều Chân sư, và nói chung, để tự rèn—trong chừng mực mà tính bướng bỉnh ăn sâu và sự tự đủ thực dụng thế gian của tôi cho phép—cho một tương lai làm việc công khai khi ấy chưa hề ngờ tới, tương lai đã trở thành một phần của lịch sử. Người ta thường thấy rất lạ, thậm chí không thể hiểu nổi, rằng trong tất cả những người đã góp sức cho phong trào Thông Thiên Học này, nhiều khi với sự tự hy sinh nặng nề nhất, tôi lại là người duy nhất được ưu đãi bấy nhiêu kinh nghiệm cá nhân về và với các Mahatma đến vậy, nên sự hiện hữu của các Ngài đối với tôi là một sự biết chắc chắn như sự hiện hữu của người thân hay bạn bè thân thiết của chính tôi. Bản thân tôi cũng không giải thích được. Tôi biết điều tôi biết, nhưng không hiểu vì sao nhiều đồng sự của tôi lại không biết bằng. Như thực tế, nhiều người đã nói với tôi rằng họ đặt lòng tin nơi các Mahatma dựa trên chứng từ cá nhân bất biến và không thể chê trách của tôi, bổ khuyết cho những phát biểu của H.P.B. Có lẽ tôi được ban phúc như thế vì tôi phải cùng với H.P.B. hạ thủy “con thuyền” Thông Thiên Học cho các vị Chân sư của H.P.B., và lèo lái nó vượt qua nhiều xoáy nước và bão lốc, khi mà chẳng thứ gì dưới mức tri thức thực chứng về nền tảng vững chắc của phong trào chúng ta có thể khiến tôi bám trụ vị trí của mình.

Let us next attempt to analyse the mental state of H. P. B. while writing her book, and see if any known hypothesis will give us the clue to those marked differences in personality, handwriting, and mentality above mentioned. The task is one of so delicate and complicated a nature that I doubt if such a psychical problem, save Shakespeare’s, has ever been presented before; and I think that, after reading what I have to say, my fellow-students in Theosophy and Occult Science will concur in this opinion.

Giờ chúng ta hãy thử phân tích trạng thái thể trí của H.P.B. khi viết cuốn sách, và xem liệu có giả thuyết nào đã biết có thể cho chúng ta manh mối về những dị biệt rõ rệt trong phàm ngã, chữ viết và thể trí đã nói ở trên. Nhiệm vụ này tinh tế và phức tạp đến mức tôi nghi ngờ liệu một vấn đề tâm linh nào, trừ trường hợp của Shakespeare, đã từng được đặt ra trước đây; và tôi nghĩ rằng, sau khi đọc những gì tôi sắp nói, các đồng môn của tôi trong Thông Thiên Học và Khoa học Huyền bí sẽ đồng thuận với nhận định này.