CHAPTER XIV—CHAPTER XIV
DIFFERENT HYPOTHESES—CÁC GIẢ THUYẾT KHÁC NHAU
WHILE I may well despair of proving the exact degree in which the complex personality, H. P. B., may be said to have written Isis Unveiled, yet I think it clear and beyond dispute that she digested and assimilated all the material, making it her own and fitting it into her book like bits of stone into a mosaic. As Prof. Wilder recently wrote me: “Few books are absolutely original. That these volumes were in her peculiar style is as plain as can well be. People only demand that Mr. Henry Ward Beecher’s principle be applied: ‘When I eat chicken, I do not become chicken; the chicken becomes me!’”
DÙ tôi có thể nản lòng trước việc chứng minh mức độ chính xác mà phàm ngã phức hợp, H.P.B., có thể được nói là đã viết “Isis Unveiled”, tôi vẫn cho rằng rõ ràng và vượt khỏi tranh cãi rằng Bà đã tiêu hóa và đồng hóa tất cả tư liệu, biến nó thành của riêng mình và lắp ghép nó vào cuốn sách như những mảnh đá ghép thành tranh khảm. Như Giáo sư Wilder mới đây đã viết cho tôi: “Ít có cuốn sách nào tuyệt đối nguyên tác. Rằng những tập này mang phong cách riêng của Bà là điều hiển nhiên nhất có thể. Người ta chỉ đòi áp dụng nguyên tắc của Ông Henry Ward Beecher: ‘Khi tôi ăn thịt gà, tôi không biến thành gà; con gà trở thành tôi!’”
Nothing would be easier than to shirk the whole inquiry, and chime in with those who simply declare H. P. B. to have been, so to say, divinely inspired, and guiltless of errors, contradictions, exaggerations, or limitations; but I cannot do this, having so well known her, and the truth only will serve me. As for shrinking from the closest inquiry into her occult and mental gifts, it is not to be thought of. I, certainly, am not going to shut my eyes to facts, and thus abandon her and her work to those who would rejoice in destroying the pedestal upon which we ought to place her, and degrading her into the dangerous impostor which the leaders of the S. P. R. tried to show her to be. The very question of the alleged resemblances between her own handwriting and that of a Master—one of the counts in their indictment—properly comes within the lines of our present discussion of the MS. of Isis Unveiled.
Không có gì dễ dàng hơn là trốn tránh cả cuộc khảo sát, và hòa giọng với những ai đơn giản tuyên bố rằng H.P.B., nói vậy, được linh hứng một cách thiêng liêng, và vô can với lỗi lầm, mâu thuẫn, cường điệu hay giới hạn; nhưng tôi không thể làm thế, vì tôi quá hiểu Bà, và chỉ sự thật mới giúp được tôi. Còn như việc chùn bước trước cuộc khảo sát kỹ lưỡng nhất vào các ân tứ huyền bí và thể trí của Bà, thì không được phép nghĩ đến. Chắc chắn tôi chẳng đời nào nhắm mắt trước các sự kiện, và như vậy là bỏ mặc Bà và công trình của Bà cho những kẻ sẽ hả hê khi phá hủy bệ tôn mà chúng ta đáng lẽ phải đặt Bà lên, và hạ nhục Bà thành một kẻ bịp bợm nguy hiểm như mà các lãnh đạo của S.P.R. đã cố chứng tỏ. Ngay chính vấn đề về sự tương tự được cho là có giữa chữ viết tay của Bà và của một vị Chân sư—một trong những cáo điểm trong bản luận tội của họ—rất thích đáng để đưa vào phần thảo luận hiện tại của chúng ta về bản thảo “Isis Unveiled.”
One cannot fail to see, after reflection, that as regards the case in point, at least these several hypotheses must be considered:
Sau suy nghĩ, người ta không thể không thấy rằng, xét riêng trường hợp này, tối thiểu phải cân nhắc các giả thuyết sau:
1. Was the book written by H.P.B. entirely as an independent, conscientious amanuensis, from the dictation of a Master?
1. Cuốn sách có phải được viết bởi H.P.B. hoàn toàn như một người chép việc độc lập và lương tâm, theo lời đọc của một vị Chân sư?
2. Or wholly or in part by her Higher Self while controlling her physical organism?
2. Hoặc hoàn toàn hay một phần bởi Chân ngã của Bà trong khi chi phối cơ thể hồng trần?
3. Or as a medium obsessed by other living persons?
3. Hoặc như một đồng tử bị chiếm ngự bởi những người còn sống khác?
4. Or partly under any two or more of these three conditions?
4. Hoặc một phần dưới hai hay hơn trong ba điều kiện ấy?
5. Or as an ordinary spiritual medium, controlled by intelligences disincarnate?
5. Hoặc như một đồng tử thông linh thông thường, được điều khiển bởi các trí linh đã rời xác?
6. Or was it written by several alternately latent and active personalities of herself?
6. Hoặc nó được viết bởi nhiều phàm ngã khác nhau của chính Bà, lúc tiềm ẩn, lúc hoạt động, thay nhau?
7. Or simply by her as the uninspired, uncontrolled and not obsessed Russian lady, H.P.B., in the usual state of waking consciousness, and differing in no way from any author doing a work of this class?Let us begin with the last alternative. We shall discover very readily and unmistakably that H. P. B’s education and training were quite incongruous with the idea that she was erudite, philosophical, or in the least degree, a book-worm. The memoirs of her life, as communicated by her family to Mr. Sinnett, her biographer, and to myself,1 show that she was a rebellious pupil with no love of serious literature, no attraction for learned people, no tendency to haunting libraries: the terror of her governesses, the despair of her relatives, a passionate rebel against all restraint of custom or conventionality. Her early years were passed in the company of “hunchback goblins” and sprites, with whom she spent days and weeks together, and in playing disagreeable tricks upon, and clairvoyantly telling disagreeable secrets to, people. The only literature she loved was the folk-lore of Russia, and at no period of her life before she began to write Isis, not even during the year she lived in New York before being sent to hunt me up, did the family or any of her friends or acquaintances hear of her displaying bookish habits or tastes. Miss Ballard and other ladies who knew her in her several New York lodging-houses, and were familiar with her habits and mode of life, never knew her to have visited the Astor, the Society, the Mechanics’, the Historical, the American Institute, the Brooklyn, or the Mercantile library: no one has ever come forward to recognise her as a frequenter of those alcoves of printed [29] thought. She belonged to no scientific or otherwise learned society in any part of the world; she had published no book. She hunted up thaumaturgists in savage and semi-civilised countries, not to read their (non-existent) books, but to learn practical psychology. In short, she was not a literary person up to the time of writing Isis. This fact was equally clear to each of her New York intimates as it was to myself; and the opinion is confirmed by herself in the last Lucifer article, “My Books,” that she wrote before her death. [30] In it she says that the following facts are “undeniable and not to be gainsaid:
7. Hoặc đơn giản là do chính Bà—người đàn bà Nga không được linh hứng, không bị chi phối và không bị nhập—là H.P.B., trong trạng thái tỉnh thức bình thường, và không khác gì bất kỳ tác giả nào làm một công việc thuộc loại này? Hãy bắt đầu với khả năng cuối cùng. Chúng ta sẽ rất nhanh chóng và không thể lẫn lộn nhận ra rằng nền giáo dục và sự rèn luyện của H.P.B. hoàn toàn bất tương xứng với ý nghĩ rằng Bà uyên bác, triết lý, hay ở một mức độ nhỏ nhất, là một mọt sách. Hồi ký về đời Bà, do gia đình Bà cung cấp cho Ông Sinnett, người viết tiểu sử, và cho chính tôi, cho thấy rằng Bà là một học trò bất kham, chẳng yêu thích văn chương nghiêm túc, không hấp dẫn bởi người học giả, không có khuynh hướng la cà thư viện: nỗi kinh hoàng của các cô gia sư, nỗi tuyệt vọng của họ hàng, một kẻ nổi loạn say sưa chống mọi khuôn phép hay lề thói. Những năm đầu đời của Bà trôi qua trong bầu bạn với “những yêu tinh lưng gù” và các linh tiểu, cùng chúng Bà trải qua ngày tuần liền, và bày những trò nghịch ngợm khó chịu với người ta, rồi thông nhãn kể ra những bí mật khó nghe với họ. Văn chương duy nhất Bà yêu là truyện dân gian Nga, và ở không kỳ đoạn nào của đời Bà trước khi bắt đầu viết “Isis,” ngay cả trong năm Bà sống ở New York trước khi được sai đi tìm tôi, gia đình hay bạn bè hay người quen nào của Bà cũng từng nghe nói Bà tỏ ra có thói quen hay sở thích sách vở. Cô Ballard và các bà khác quen Bà tại vài nhà trọ ở New York, và quen thuộc với thói quen cũng như lối sống của Bà, chưa từng biết Bà ghé thăm thư viện Astor, hay thư viện Society, Mechanics’, Historical, American Institute, Brooklyn, hay Mercantile: không một ai từng lên tiếng nhận ra Bà là người thường lui tới những dãy kệ sách in chữ ấy. Bà không thuộc về bất kỳ hội đoàn khoa học hay học thuật nào ở bất cứ nơi đâu trên thế giới; Bà chưa xuất bản cuốn sách nào. Bà lặn lội tìm các nhà thần dị ở những xứ man di hay bán khai, không phải để đọc (những) sách (không tồn tại) của họ, mà để học tâm lý học thực hành. Tóm lại, Bà không phải là người văn chương cho đến lúc viết “Isis.” Sự kiện này hiển nhiên như nhau với mỗi người thân cận ở New York của Bà cũng như với chính tôi; và quan điểm này được chính Bà xác nhận trong bài viết cuối cùng trên tạp chí Lucifer, “Những cuốn sách của tôi,” mà Bà viết trước khi mất. Trong đó Bà nói rằng các sự kiện dưới đây là “không thể chối cãi và không thể bác bỏ:
“(1). When I came to America in 1873, I had not spoken English—which I had learned in my childhood colloquially—for over thirty years. I could understand when I read it, but could hardly speak the language.
“(1). Khi tôi đến Mỹ vào năm 1873, tôi đã không nói tiếng Anh—thứ tiếng tôi học hồi thơ ấu theo lối giao tiếp—trong hơn ba mươi năm. Tôi có thể hiểu khi đọc nó, nhưng hầu như không thể nói được.
“(2). I had never been at any College, and what I knew I had taught myself; I have never pretended to any scholarship in the sense of modern research; I had then hardly read any scientific European works, knew little of Western philosophy and sciences. The little which I had studied and learned of these disgusted me with its materialism, its limitations, narrow cut-and-dried spirit of dogmatism and air of superiority over the philosophies and sciences of antiquity.
“(2). Tôi chưa từng học ở bất cứ Đại học nào, và những gì tôi biết là do tự tôi dạy tôi; tôi chưa bao giờ vờ có học thuật theo nghĩa nghiên cứu hiện đại; hồi đó tôi hầu như chưa đọc các tác phẩm khoa học Âu châu, biết rất ít về triết học và khoa học phương Tây. Phần nhỏ mà tôi đã học và biết về các thứ ấy làm tôi chán ghét vì tính duy vật, những giới hạn, tinh thần giáo điều giáo điều cứng nhắc và vẻ bề trên trước triết học và khoa học cổ đại.
“(3). Until 1874, I had never written one word in English, nor had I published any work in any language. Therefore:—
“(3). Cho đến năm 1874, tôi chưa viết một chữ nào bằng tiếng Anh, cũng chưa xuất bản một tác phẩm nào bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Do đó:—
“(4). I had not the least idea of literary rules. The art of writing books, of preparing them for print and publication, reading and correcting proofs, were so many close secrets to me.
“(4). Tôi hoàn toàn không biết gì về những quy tắc văn chương. Nghệ thuật viết sách, chuẩn bị bản thảo để in và xuất bản, đọc và sửa bản in thử, đối với tôi đều là những bí mật kín bưng.
“(5). When I started to write that which developed later into Isis Unveiled, I had no more idea than the man in the moon what would come of it. I had no plan; did not know whether it would be an essay, a pamphlet, a book or an article. I knew that I had to write it, that was all. I began the work before I knew Colonel Olcott well, and some months before the formation of the Theosophical Society.”
“(5). Khi tôi bắt đầu viết thứ mà về sau phát triển thành “Isis Unveiled,” tôi không biết gì hơn một người trên Mặt trăng rằng nó sẽ ra sao. Tôi không có đề cương; không biết liệu nó sẽ là một tiểu luận, một tập sách mỏng, một cuốn sách hay một bài báo. Tôi biết rằng tôi phải viết nó, thế thôi. Tôi bắt đầu công việc trước khi tôi biết Đại tá Olcott rõ, và vài tháng trước khi thành lập Hội Thông Thiên Học.”
The last sentence is misleading, for she did not begin it until we were well acquainted and in fact, were close friends. In fact, the whole article ought to have been entirely re-written if it was to have been her last.
Câu cuối gây hiểu lầm, vì Bà chưa bắt đầu cho đến khi chúng tôi đã quen biết kỹ và thực tế, là bạn thân mật. Thật ra, cả bài viết đáng lẽ phải được viết lại hoàn toàn nếu nó được coi là bài cuối cùng của Bà.
The endless substitutions of new for old “copy” and transportations from one Chapter or one Volume to another, in Isis Unveiled, were confined to such portions of the work as, I should say, were done in her normal condition—if any such there was—and suggested the painful struggles of a “green hand” over a gigantic literary task. Unfamiliar with grammatical English and literary methods, and with her mind absolutely untrained for such sustained desk-work, yet endowed with a courage without bounds and a power of continuous mental concentration that has scarcely been equalled, she floundered on through weeks and months towards her goal, the fulfilment of her Master’s orders. This literary feat of hers surpasses all her phenomena.
Những lần thay thế vô tận bản thảo mới cho bản cũ và chuyển dời từ Chương này sang Chương khác hoặc từ Tập này sang Tập khác, trong “Isis Unveiled,” bị giới hạn trong những phần của công trình mà, tôi muốn nói, đã được làm trong trạng thái bình thường của Bà—nếu có một trạng thái như vậy—và gợi ý những vật lộn đau đớn của một “tay mơ” trước một công trình văn chương khổng lồ. Không thạo tiếng Anh văn phạm và phương pháp văn chương, và với tâm trí hoàn toàn chưa được huấn luyện cho công việc bàn giấy bền bỉ như vậy, nhưng được phú cho một lòng can đảm vô biên và một năng lực tập trung tinh thần liên tục hiếm ai sánh kịp, Bà loạng choạng tiến qua tuần này sang tháng nọ hướng tới mục tiêu của mình, là thi hành mệnh lệnh của Chân sư. Kỳ tích văn chương này của Bà vượt trội mọi hiện tượng của Bà.
The glaring contrasts between the jumbled and the almost perfect portions of her MS. quite clearly prove that the same intelligence was not at work throughout: and the variations in handwriting, in mental method, in literary facility, and in personal idiosyncracies, bear out this idea. At this distance of time and with her MS. destroyed, it is impossible for me to say which of her shifting personalities is mainly responsible for her alleged unacknowledged use of quotations. Whatever came into my hands that seemed as if taken from another author I, of course, would put between inverted commas, and it is quite possible that their blending with some of her own original ideas is chargeable to me; the passages in question reading as if somebody’s else. When she wrote other people’s words into her current argument without break of the continuity, then, naturally enough—unless the passages were from books I had read, and that were familiar to me—I would go on correcting it as H. P. B.’s own “copy”. I have said above that I got my occult education in the compilation of Isis and in H. P. B.’s teaching and experiments; I must now add that my previous literary life had taken me into other and much more practical fields of study than the literature which is synthesised in Isis, viz., Agricultural Chemistry and Scientific Agriculture generally. So that she might have given me “copy” entirely made up of passages borrowed from Orientalists, Philologists, and Eastern Sages, without my being able to detect the fact. Personally I have never had plagiarisms in Isis pointed out to me, whether verbally or otherwise, nor do I know there are such; but if there are, two things are possible, (a) that the borrowing was done by the untrained, inexperienced literary beginner, H.P.B., who was ignorant of the literary sin she committed, or (b) that the passages had been so worked into the copy as not to draw my editorial attention to their incongruity with what preceded and succeeded them. Or—a third alternative—might it be that, while writing she was always half on this plane of consciousness, half on the other; and that she read her quotations clairvoyantly in the Astral Light and used them as they came à propos, without really knowing who were the authors or what the titles of their books? Surely her Eastern acquaintances will be prepared to think that a plausible theory, for if ever anyone lived in two worlds habitually, it was she. Often—as above stated—I have seen her in the very act of copying extracts out of phantom books, invisible to my senses, yet most undeniably visible to her.
Những tương phản chói gắt giữa những phần lộn xộn và những phần gần như hoàn chỉnh của bản thảo Bà, chứng minh khá rõ ràng rằng không phải cùng một trí tuệ làm việc xuyên suốt: và những biến đổi trong chữ viết tay, trong phương thức thể trí, trong sự nhuần nhuyễn văn chương, và trong những nét lập dị cá nhân, củng cố ý tưởng này. Ở khoảng cách thời gian này và với bản thảo của Bà đã bị hủy, tôi không thể nói phàm ngã biến chuyển nào của Bà chủ yếu chịu trách nhiệm về việc Bà bị cáo buộc đã dùng không ghi nguồn các trích dẫn. Bất kỳ thứ gì vào tay tôi có vẻ như lấy từ một tác giả khác, dĩ nhiên tôi sẽ đặt trong dấu ngoặc kép, và hoàn toàn có thể việc hòa trộn chúng với một số ý tưởng nguyên bản của Bà là lỗi ở tôi; những đoạn ấy đọc lên như của ai đó khác. Khi Bà viết lời của người khác vào mạch biện luận đang triển khai mà không làm gián đoạn sự liên tục, thì, dĩ nhiên—trừ phi các đoạn ấy đến từ những cuốn sách tôi đã đọc và quen thuộc—tôi sẽ tiếp tục sửa như “bản thảo” của chính H.P.B. Tôi đã nói ở trên rằng tôi học huyền linh trong quá trình biên soạn “Isis” và trong việc học với H.P.B. cùng các thực nghiệm của Bà; giờ tôi phải thêm rằng đời văn chương trước đó của tôi đã dẫn tôi vào những lĩnh vực nghiên cứu khác và thực tiễn hơn nhiều so với loại văn chương được tổng hợp trong “Isis,” tức Hóa học Nông nghiệp và Nông học Khoa học nói chung. Vì vậy Bà có thể đã đưa cho tôi “bản thảo” hoàn toàn gồm các đoạn mượn từ các nhà Đông phương học, Ngữ học, và các Hiền triết Đông phương, mà tôi không thể phát hiện ra. Bản thân tôi chưa bao giờ được ai chỉ ra những chỗ đạo văn trong “Isis,” dù bằng lời nói hay cách khác, cũng không biết rằng có những chỗ như vậy; nhưng nếu có, thì có hai khả năng, (a) rằng sự vay mượn đã do người mới tập tành văn chương, thiếu kinh nghiệm, là H.P.B. thực hiện, người không biết tội văn chương mình phạm, hoặc (b) rằng các đoạn ấy đã được hòa trộn vào bản thảo theo cách không làm tôi, người biên tập, chú ý đến sự không ăn nhập của chúng với cái trước và cái sau. Hoặc—một khả năng thứ ba—phải chăng là, trong khi viết, Bà luôn ở nửa mức trên cõi tâm thức này, nửa ở cõi kia; và rằng Bà đọc các trích dẫn của mình bằng thông nhãn trong Ánh Sáng Cảm dục và dùng chúng khi chúng đến đúng chỗ, mà thật sự không hề biết tác giả là ai hay tựa sách là gì? Hẳn là những người bạn Đông phương của Bà sẽ sẵn sàng thấy đây là một thuyết có lý, vì nếu có ai từng sống thường xuyên trong hai thế giới, thì chính là Bà. Nhiều lần—như đã nói ở trên—tôi đã nhìn thấy Bà đang chép các đoạn trích từ những cuốn sách bóng ảnh, vô hình với các giác quan của tôi, nhưng lại hiển nhiên không thể phủ nhận là hiện rõ trước mắt Bà.
Now let us consider the next hypothesis, the 6th, viz., that the book was written by several different H.P.B. personalities, or several personal strata of her consciousness capable of coming seriatim into activity out of latency. Upon this point the researches of our contemporaries are not yet so far advanced as to enable us to dogmatise. In his Incidents in the Life of Mme. Blavatsky (p. 147), Mr. Sinnett quotes a written description of hers of a “double life” she led throughout a certain “mild fever,” which was yet a wasting illness, that she had when a young lady in Mingrelia:
Giờ hãy xét giả thuyết tiếp theo, giả thuyết thứ 6, tức cuốn sách được viết bởi nhiều phàm ngã H.P.B. khác nhau, hay nhiều tầng bậc cá nhân trong tâm thức của Bà có thể tuần tự từ tiềm ẩn chuyển sang hoạt động. Về điểm này, các nghiên cứu của người đương thời của chúng ta chưa tiến xa đến mức cho phép khẳng định chắc chắn. Trong “Những biến cố trong đời Bà Blavatsky” (tr. 147), Ông Sinnett trích một mô tả bằng văn bản của Bà về một “đời sống kép” mà Bà trải qua suốt một “cơn sốt nhẹ,” tuy vậy lại là một bệnh suy kiệt, mà Bà mắc khi còn là thiếu nữ ở Mingrelia:
“Whenever I was called by name, I opened my eyes upon hearing it, and was myself, my own personality in every particular. As soon as I was left alone, however, I relapsed into my usual, half-dreamy condition, and became somebody else (who, namely, Mme. B. will not tell)..... In cases when I was interrupted, when in my other self, by the sound of my present name being pronounced, and while I was conversing in my dream-life,—say at half a sentence either spoken by me or those who were with my second me at the time,—and opened my eyes to answer the call, I used to answer very rationally, and understood all, for I was never delirious, But no sooner had I closed my eyes again than the sentence which had been interrupted was completed by my other self, continued from the word, or even the half word it had stopped at. When awake, and myself, I remembered well who I was in my second capacity, and what I had been and was doing. When somebody else i.e., the personage I had become, I know I had no idea of who was H. P. Blavatsky! I was in another far-off country, a totally different individuality from myself, and had no connection with my actual life.”
“Hễ khi nào tôi được gọi tên, tôi mở mắt khi nghe, và là chính tôi, phàm ngã của tôi trong mọi phương diện. Tuy nhiên, ngay khi tôi được để một mình, tôi lại rơi vào trạng thái nửa-mơ vốn có của mình, và trở thành một người khác (cụ thể là ai, thưa Bà B., sẽ không nói)..... Trong những trường hợp tôi bị gián đoạn, khi đang là con người khác của tôi, bởi tiếng gọi tên hiện tại của tôi vang lên, và trong khi tôi đang trò chuyện trong đời sống mộng—giả sử đang ở giữa một câu, hoặc do tôi nói, hoặc do những người đang ở với “cái tôi thứ hai” của tôi lúc ấy nói,—và tôi mở mắt để trả lời lời gọi, tôi thường đáp rất có lý, và hiểu hết, vì tôi chưa bao giờ mê sảng. Nhưng ngay khi tôi nhắm mắt lại, câu nói bị gián đoạn liền được hoàn tất bởi con người kia của tôi, tiếp tục ngay từ chữ, hay thậm chí nửa chữ mà nó bị dừng. Khi tỉnh, và là chính mình, tôi nhớ rất rõ tôi là ai trong thân phận thứ hai, và tôi đã làm gì và đang làm gì. Khi là người khác, tức là nhân vật mà tôi đã trở thành, tôi biết tôi không hề có ý niệm nào về H.P. Blavatsky là ai! Tôi đang ở một xứ sở xa xăm khác, là một cá thể hoàn toàn khác biệt với chính tôi, và không có liên hệ gì với đời sống hiện tại của tôi.”
In view of what has since been seen, some might say that the only H. P. B. was the conscious entity which inhabited her physical body, and that the “somebody else” was not H. P. B., but another incarnate entity, having an inexplicable connection with H.P.B.’s body and H.P.B. True, there are cases known where certain tastes and talents have been shown by the second self which were foreign to the normal self. Prof. Barrett, for instance, tells of a vicar’s son in the North of London who, after a serious illness, became two distinct personalities. The abnormal self “did not know his parents, he had no memory of the past, he called himself by another name, and what is still more remarkable, he developed musical talent, of which he had never shown a trace.” So there are many cases where the second self, replacing the normal self, calls itself by a different name and has a special memory of its own experiences. In the well-known case of Lurancy Vennum, her body was completely obsessed by the disincarnate soul of another girl named Mary Roff, who had died twelve years before. Under this obsession her personality changed entirely; she remembered all that had ever happened to Mary Roff prior to her decease, but her own parents, connexions, and friends became total strangers. The obsession lasted nearly four months. [31] The body occupied seemed to Mary Roff “so natural that she could hardly feel it was not her original body born nearly thirty years ago.” The Editor of the Watseka Wonder pamphlet copies from Harper’s Magazine for May, 1860 the Rev. Dr. W.S. Plummer’s account of a certain Mary Reynolds’ double personality which lasted, with intervals of relapse to the normal state, from her eighteenth to her sixty-first year. During the last quarter century of her life, she remained wholly in her second abnormal condition: the normal self, that was the conscious owner of that body, had been wiped out, as it were. But, observe the strange fact that all she knew in the second self had been taught her in that state. She began that second life at eighteen (of the body’s life) oblivious of Mary Reynolds, of all she had known or suffered; her second state was precisely that of a new-born infant. “All the past that remained to her, was the faculty of pronouncing a few words: until she was taught their significance, they were unmeaning sounds to her.—(Watseka Wonder, p. 42.)
Xét những gì về sau đã được thấy, có người có thể nói rằng cái duy nhất là H.P.B. chính là hữu ngã ý thức cư trú trong thân thể hồng trần của Bà, còn “một ai đó khác” thì không phải H.P.B., mà là một hữu ngã khác đang lâm phàm, có một liên hệ không thể giải thích với thân thể của H.P.B. và với H.P.B. Đúng là có những trường hợp được biết trong đó những sở thích và tài năng nhất định được bộc lộ bởi “cái tôi thứ hai” vốn xa lạ với “cái tôi” bình thường. Chẳng hạn, Giáo sư Barrett kể về con trai một mục sư ở phía Bắc London, sau một trận ốm nặng, trở thành hai phàm ngã khác biệt. Cái tôi bất thường “không biết cha mẹ mình, không có ký ức về quá khứ, tự gọi mình bằng tên khác, và điều còn đáng chú ý hơn nữa là, nó phát triển năng khiếu âm nhạc, điều mà trước kia nó chưa từng biểu lộ.” Cũng có nhiều trường hợp nơi “cái tôi thứ hai,” thay thế “cái tôi bình thường,” tự xưng bằng tên khác và có một ký ức riêng về những trải nghiệm của nó. Trong trường hợp nổi tiếng của Lurancy Vennum, thân xác cô hoàn toàn bị chiếm ngự bởi linh hồn thoát xác của một cô gái khác tên Mary Roff, người đã mất mười hai năm trước đó. Dưới sự nhập xác này, phàm ngã cô đổi khác hoàn toàn; cô nhớ tất cả những gì từng xảy ra với Mary Roff trước khi cô này qua đời, nhưng cha mẹ, người thân, bạn bè của chính cô lại trở thành những người xa lạ hoàn toàn. Sự nhập xác kéo dài gần bốn tháng. Thân thể bị chiếm dụng đối với Mary Roff xem ra “tự nhiên đến mức cô khó lòng cảm thấy đó không phải thân thể ban đầu của mình vốn được sinh ra gần ba mươi năm trước.” Biên tập tập sách mỏng “Kỳ tích Watseka” chép lại từ tạp chí Harper số tháng Năm, 1860 tường thuật của Mục sư W.S. Plummer về một trường hợp của Mary Reynolds với phàm ngã kép kéo dài, có những quãng hồi quy về trạng thái bình thường, từ năm cô mười tám cho tới năm sáu mươi mốt tuổi. Trong hai mươi lăm năm cuối đời, cô hoàn toàn ở trong trạng thái bất thường thứ hai: cái tôi bình thường, vốn là chủ nhân ý thức của thân thể ấy, như bị xóa sạch. Nhưng xin lưu ý sự kiện lạ là tất cả những gì cô biết trong “cái tôi thứ hai” đều đã được cô học trong trạng thái ấy. Cô bắt đầu đời sống thứ hai ấy vào năm mười tám (của thân thể), quên sạch Mary Reynolds, tất cả những gì cô từng biết hay chịu đựng; trạng thái thứ hai của cô đúng là tình trạng của một trẻ sơ sinh. “Tất cả quá khứ còn lại với cô, chỉ là năng lực phát âm vài từ: cho đến khi được dạy ý nghĩa của chúng, chúng chỉ là những âm thanh vô nghĩa.” (Kỳ tích Watseka, tr. 42.)
In the Incidents, etc. (p. 146), is an explanation of the way in which H. P. B. would give the Gooriel and Mingrelian nobility, who came to consult her, answers to their questions about their private affairs. She would simply, while in full conscious-ness, clairvoyantly see their thoughts “as they evolved out of their heads in spiral luminous smoke, sometimes in jets of what might be taken for some radiant material, and settled in distinct pictures and images around them.” The following is especially suggestive:
Trong “Những biến cố...” (tr. 146), có một giải thích về cách mà H.P.B. sẽ đưa cho giới quý tộc ở Gooriel và Mingrelia, những người đến tham vấn Bà, các câu trả lời cho những câu hỏi của họ về việc riêng tư. Đơn giản là trong khi hoàn toàn tỉnh thức, Bà thông nhãn thấy tư tưởng của họ “như tuôn ra khỏi đầu họ thành những làn khói xoắn ốc ánh sáng, đôi khi thành những tia như thể một vật chất rạng rỡ nào đó, rồi lắng đọng thành các bức tranh và hình ảnh rõ rệt xung quanh họ.” Đoạn sau đây gợi mở đặc biệt:
“Often such thoughts and answers to them would find themselves impressed in her own brain, couched in words and sentences in the same way as original thoughts do. But, so far as we are all able to understand, the former visions were always more trustworthy, as they are independent and distinct from the seer’s own impressions, belonging to pure clairvoyance, not ‘thought transference,’ which is a process always liable to get mixed up with one’s own more vivid mental impressions.”
“Nhiều khi những tư tưởng như thế và câu trả lời cho chúng sẽ được in sâu vào chính não tôi, diễn đạt bằng lời và câu đúng như cách ý nghĩ nguyên thủy được diễn đạt. Nhưng, trong chừng mực chúng ta đều có thể hiểu, những thị kiến dạng sau luôn đáng tin cậy hơn, vì chúng độc lập và tách biệt với ấn tượng riêng của người thấy, thuộc về thông nhãn thuần túy, không phải ‘truyền tư tưởng,’ một tiến trình luôn có nguy cơ bị trộn lẫn với những ấn tượng tinh thần sống động hơn của chính mình.”
This seems to throw light upon the present problem, and to suggest that it is thinkable that H. P. B., while quite normal as to waking consciousness, saw clairvoyantly, or by thought-absorption—a better word than thought-transference in this connection—the stored-up wisdom of the branch of literature she was examining, and so took it into her own brain as to lose the idea that it was not original with herself. Practical Eastern psychologists will not regard this hypothesis so unreasonable as others may. True, after all, it is but a hypothesis, and her enemies will simply call her a cribber, a plagiarist. With the ignorant, insult is the line of least resistance.
Điều này dường như soi sáng vấn đề hiện tại, và gợi rằng có thể nghĩ rằng H.P.B., trong khi hoàn toàn bình thường về tâm thức tỉnh thức, đã thông nhãn, hoặc bằng hấp thụ tư tưởng—một từ tốt hơn “truyền tư tưởng” trong ngữ cảnh này—nhập thâu kho tàng minh triết của ngành văn chương mà Bà đang khảo cứu, và như vậy tiếp nhận nó vào chính não mình đến mức đánh mất ý niệm rằng đó không phải là nguyên tác của Bà. Các nhà tâm lý học thực hành Đông phương sẽ không coi giả thuyết này là quá phi lý như những người khác có thể. Dĩ nhiên, rốt lại nó chỉ là một giả thuyết, và kẻ thù của Bà sẽ đơn giản gọi Bà là người chép trộm, kẻ đạo văn. Với kẻ vô minh, nhục mạ là con đường ít trở ngại nhất.
The supporters of this theory should, however, recollect that H. P. B.’s most ardent and passionate wish was to gather together as many corroborations as possible, from all ancient and modern sources of the theosophical teachings she was giving out; and her interest all lay on the side of quoting respectable authorities, not in plagiarising from their works for her own greater glory.
Những người ủng hộ thuyết này, tuy vậy, nên nhớ rằng khát vọng nồng cháy nhất của H.P.B. là tập hợp càng nhiều càng tốt những sự đối chiếu từ mọi nguồn cổ kim cho các giáo lý Thông Thiên Học mà Bà công bố; và mối quan tâm của Bà hoàn toàn nằm ở việc trích dẫn các thẩm quyền khả kính, chứ không ở việc đạo văn từ tác phẩm của họ để tôn mình.
I have read a good deal and known something about this question of multiple personality in man, but I do not remember a case where the awakened latent personalities, or second personality, was able to quote from books or talk languages with which the normal waking self had never had any connection. I know a scientific man in England who had quite forgotten his mother-tongue from having lived abroad from his eleventh year without speaking or even hearing it spoken, until his twenty-ninth year, when he began to re-learn it with the help of grammar and dictionary, yet while he was thus struggling through the rudiments of the language, spoke it correctly in his sleep. But the knowledge had in his case simply sunk into the realm of “sub-liminal” consciousness, i.e., latent memory. And there is the familiar case of the illiterate house or kitchen-maid, who was overheard reciting in her somnambulic state Hebrew phrases and verses which—as afterwards proven—she heard declaimed by a former master, years before. But who brings forward proof that H.P.B. had ever in her life studied the authors quoted in Isis Unveiled? If she did not consciously plagiarise them, and had never read them, how could they have come to her on the theory that the book was written by an H. P. B. II or H. P. B. III? My readers in Western lands will have seen the unique case of Madame B., a French hysteriac and patient of Professor Janet, reported and commented upon by Prof. Richet, the eminent hypnotist. The case is quoted by Mr. Stead in his “Real Ghost Stories” number of the Review of Reviews, for Christmas, 1891. In her case the two personalities—we are told—”not only exist side by side, but in the case of the subconscious self, knowingly co-exist, while over or beneath both there is a third personality which is aware of both the other two, and apparently superior to both.... Mme. B. can be put to sleep at almost any distance, and when hypnotised completely changes her character. There are two well-defined personalities in her, and a third of a more mysterious nature than either of the two first. The normal waking state of the woman is called Léonie I, the hypnotic state Léonie II. The third occult unconscious personality of the lowest depth is called Léonie III. Léonie I is a ‘serious and somewhat melancholy woman, calm and slow, very gentle and extremely timid.’ Léonie II is the opposite—’gay, noisy, and restless to an insupportable degree: she continues good-natured, but she has acquired a singular tendency to irony and bitter jests. In this state, she does not recognise her identity with her working self. “That good woman is not I,” she says: “She is too stupid.”‘ Léonie II gets control of Léonie I’s hand when she is in an abstracted mood; her face calm, her eyes looking into space with a certain fixity,’ but not ‘cataleptic, for she was humming a rustic tune; her right hand wrote quickly, and, as it were, surreptitiously.’ When recalled to herself and the writing shown her, ‘of the letter which she was writing she knew nothing whatever.’ When Léonie I (the waking self) was effaced and Léonie II, the second self, was aroused in the hypnotic condition, and rattling on with her usual volubility and obstreperousness, she suddenly showed signs of terror; hearing a voice as if from another part of the room,which scolded her and said: ‘Enough, enough, be quiet, you are a nuisance.’ This was a third personality, which awakened and took full possession of the patient’s organism when she had been plunged into a deeper stage of lethargy. She unhesitatingly confessed that it was she who had spoken the words heard by Léonie II, and that she did it because she saw that the Professor was being annoyed by her babble. The imaginary voice which so terrified Léonie II because it seemed super-natural, proceeded”—says Mr. Stead—”from a profound stratum of consciousness in the same individual.”
Tôi đã đọc khá nhiều và biết đôi điều về vấn đề phàm ngã đa bội ở con người, nhưng tôi không nhớ trường hợp nào mà những phàm ngã tiềm ẩn được đánh thức, hay phàm ngã thứ hai, có thể trích dẫn sách hay nói các ngôn ngữ mà cái tôi tỉnh thức bình thường chưa từng có liên hệ. Tôi biết một nhà khoa học ở Anh đã quên hẳn tiếng mẹ đẻ vì sống ở nước ngoài từ năm mười một tuổi mà không nói hay thậm chí nghe nó, cho đến năm hai mươi chín tuổi, khi anh bắt đầu học lại với sự trợ giúp của ngữ pháp và từ điển, vậy mà trong khi anh đang vật lộn với những điều sơ đẳng của ngôn ngữ, anh lại nói chuẩn nó trong giấc ngủ. Nhưng tri thức trong trường hợp anh chỉ chìm xuống cõi “hạ thức” (sub-liminal), tức ký ức tiềm ẩn. Và còn trường hợp quen thuộc của một cô hầu nhà hay hầu bếp thất học, người bị nghe thấy đọc trong trạng thái mộng du các câu và đoạn tiếng Do Thái mà—về sau chứng minh—cô đã từng nghe một ông chủ trước đọc to nhiều năm về trước. Nhưng ai đưa ra bằng chứng rằng H.P.B. từng, trong đời mình, nghiên cứu các tác giả được trích dẫn trong “Isis Unveiled”? Nếu Bà không cố ý đạo văn họ, và chưa từng đọc họ, thì làm sao họ có thể đến với Bà theo thuyết cho rằng cuốn sách được viết bởi một H.P.B. II hay H.P.B. III? Những độc giả ở phương Tây hẳn đã biết trường hợp độc đáo của Bà B., một phụ nữ Pháp mắc chứng cuồng loạn và là bệnh nhân của Giáo sư Janet, được Giáo sư Richet, nhà thôi miên lỗi lạc, tường thuật và bình luận. Trường hợp này được Ông Stead trích trong số “Những câu chuyện ma thật sự” của Review of Reviews, số Giáng Sinh, 1891. Trong trường hợp Bà ấy, hai phàm ngã—như chúng ta được biết—“không chỉ tồn tại song hành, mà trong trường hợp hữu ngã tiềm thức, còn đồng tồn tại có ý thức, trong khi trên hay dưới cả hai có một phàm ngã thứ ba biết cả hai phàm ngã kia, và dường như siêu việt hơn cả hai.... Bà B. có thể bị thôi miên gần như ở bất cứ khoảng cách nào, và khi bị thôi miên, tính cách thay đổi hoàn toàn. Có hai phàm ngã được xác định rõ trong Bà, và một phàm ngã thứ ba, có bản chất bí nhiệm hơn cả hai phàm ngã đầu. Trạng thái tỉnh thức bình thường của người phụ nữ được gọi là Léonie I, trạng thái thôi miên là Léonie II. Phàm ngã thứ ba, huyền vi và vô thức ở tầng sâu nhất, được gọi là Léonie III. Léonie I là một ‘người đàn bà nghiêm nghị và có phần u sầu, bình tĩnh và chậm rãi, rất dịu dàng và cực kỳ nhút nhát.’ Léonie II thì ngược lại—‘vui vẻ, ồn ào, và bồn chồn đến mức không chịu nổi: Bà ấy vẫn tốt bụng, nhưng đã có một khuynh hướng kỳ lạ về mỉa mai và lời đùa cay nghiệt. Ở trạng thái này, Bà không nhận căn tính của mình với con người làm việc thường ngày. “Người đàn bà tốt bụng ấy không phải tôi,” Bà nói: “Bà ấy quá đần.”‘ Léonie II chiếm quyền điều khiển bàn tay của Léonie I khi Bà ở trạng thái trầm mặc; mặt Bà bình thản, mắt nhìn vào khoảng không với một sự cố định nhất định,’ nhưng không ‘co cứng, vì Bà đang khe khẽ ngân một điệu dân ca; tay phải Bà viết nhanh, và như thể, một cách lén lút.’ Khi được gọi trở lại với chính mình và được cho xem dòng chữ, ‘Bà hoàn toàn không biết gì về bức thư mà Bà đang viết.’ Khi Léonie I (cái tôi tỉnh thức) bị xóa nhòa và Léonie II, cái tôi thứ hai, được đánh thức trong trạng thái thôi miên, và đang líu lo với thói mau miệng và náo nhiệt thường thấy, Bà bỗng biểu lộ dấu hiệu sợ hãi; nghe một giọng như từ nơi khác trong phòng, mắng Bà và nói: ‘Đủ rồi, đủ rồi, im đi, chị đang làm phiền người ta.’ Đây là phàm ngã thứ ba, đánh thức và chiếm toàn quyền thân thể của bệnh nhân khi Bà bị dìm vào một tầng mê trễ sâu hơn. Bà thú nhận không do dự rằng chính Bà đã nói những lời mà Léonie II nghe thấy, và rằng Bà làm thế vì thấy Giáo sư đang bị quấy rầy bởi lời ba hoa của Bà. Giọng nói tưởng tượng khiến Léonie II kinh hãi vì dường như siêu nhiên, ấy là phát ra”—Ông Stead nói—“từ một tầng rất sâu của tâm thức trong cùng một cá nhân.”
Our present purpose being only to superficially examine the subject of multiple personality in connection with the hypothesis that H. P. B. might have had no other aid in writing Isis than her own several personalities, we need not go deeper into a problem to sound which one must turn to the Hindu philosophical and mystical authorities. The ancient theory is that the “KNOWER” is capable of seeing and knowing all when he has been disburthened of the last veil of the physical consciousness. And this knowledge comes to one progressively as the fleshly veils are raised. In common, I suppose, with most extemporaneous public speakers, I have by long practice acquired, in some degree, the habit of triplex mental action. When lecturing in India extemporaneously, in English, and being interpreted, sentence by sentence into some other tongue I find one part of my mind following the translator and trying to guess from the behaviour of the audience, often aided by the hearing of familiar words, whether my thoughts are being correctly rendered; at the same time, another part of my mind will be observing individuals and making mental comments upon their peculiarities or capabilities—sometimes I may even address side remarks to some acquaintance sitting near me on the platform; the two mental activities are distinct and independent. The instant my interpreter has uttered his last word, I catch up the thread of my argument and proceed through another sentence. Simultaneously with the progress of these two functions, I have a third consciousness, as of an observant third, and higher self, which notes the other two trains of thought, yet without becoming entangled with them. This represents, of course, a rudimentary stage of psychical development, the higher degrees of which are indicated in some of the aspects of H. P. B.’s spiritual endowments; yet even so much experience as this helps one to comprehend the problem of her mental phenomena: it is a feeble, yet sure, sign that the Knower can observe and know.
Mục đích hiện tại của chúng ta chỉ là khảo sát bề mặt chủ đề phàm ngã đa bội trong liên hệ với giả thuyết rằng H.P.B. có thể đã không có gì khác trợ giúp khi viết “Isis” ngoài chính các phàm ngã khác nhau của Bà, nên không cần đi sâu hơn vào một vấn đề mà để dò đến tận đáy, người ta phải tìm đến các thẩm quyền triết học và huyền nghiệm Ấn giáo. Học thuyết cổ xưa là “THỨC GIẢ” có khả năng thấy và biết mọi sự khi Người đã trút bỏ được tấm màn cuối cùng của tâm thức hồng trần. Và tri thức này đến với ai đó một cách tuần tự khi các tấm màn xác thân được vén lên. Tương tự như đa số những nhà diễn thuyết ứng khẩu trước công chúng, tôi nhờ luyện tập lâu ngày đã có phần nào thói quen hành động tâm trí tam phân. Khi diễn thuyết ở Ấn Độ theo lối ứng khẩu bằng tiếng Anh, và được dịch từng câu sang một ngôn ngữ khác, tôi thấy một phần tâm trí theo dõi người phiên dịch và cố đoán qua phản ứng của thính giả, nhiều khi nhờ nghe được những từ quen, xem tư tưởng của tôi được chuyển tải đúng chăng; cùng lúc, một phần khác của tâm trí quan sát từng người và đưa ra những bình luận thầm về những nét đặc thù hay năng lực của họ—đôi khi tôi thậm chí còn xen lời riêng với một người quen ngồi gần trên bục; hai hoạt động tâm trí là phân biệt và độc lập. Ngay khi người phiên dịch thốt xong chữ cuối, tôi chộp lại mạch luận và tiếp tục qua một câu khác. Đồng thời với tiến trình của hai chức năng này, tôi còn có một tâm thức thứ ba, như của một cái tôi quan sát cao hơn, ghi nhận hai dòng tư tưởng kia, nhưng không bị vướng vào chúng. Điều này dĩ nhiên là một bậc sơ khai của phát triển tâm linh, các bậc cao hơn được chỉ dấu trong một số phương diện ân tứ tinh thần của H.P.B.; nhưng dù chỉ trải nghiệm đến vậy cũng giúp người ta hiểu vấn đề các hiện tượng tâm trí của Bà: đó là một dấu hiệu yếu ớt, nhưng chắc chắn, rằng Thức Giả có thể quan sát và biết.
If I were a Mussulman, I should probably affirm with Mahomed himself, that the writing of the Koran in such classical Arabic by so uneducated a man as himself was the greatest of psychical miracles, a proof that his spiritual Ego had burst through trammels of flesh and drawn knowledge directly from its heavenly source. If H. P. B. had been an ascetic, mistress of her physical self and her waking brain, able to write pure English without having acquired it, and to have formed and fashioned her book after a consistent plan, instead of messing up her materials as she did, I might believe the same thing of her, and ascribe that wonder-book of entrancing interest to her own developed individuality. As it is, I cannot; and I must pass on to discuss our other theories.
Nếu tôi là người Hồi giáo, có lẽ tôi sẽ quả quyết, với chính Muhammad, rằng việc Kinh Qur’an được viết bằng tiếng Ả Rập cổ điển như vậy bởi một người ít học như ông, là phép lạ tâm linh vĩ đại nhất, một bằng chứng rằng Chân ngã tinh thần của ông đã phá tan xiềng xích của xác thân và rút tri thức trực tiếp từ nguồn trời. Nếu H.P.B. là một ẩn sĩ khổ hạnh, làm chủ được thân xác và bộ não tỉnh thức, có thể viết tiếng Anh thuần khiết mà không cần học, và có thể định hình và định dạng cuốn sách của mình theo một đề cương nhất quán, thay vì trộn lẫn tư liệu như Bà đã làm, tôi có thể sẽ tin điều tương tự về Bà, và quy cuốn sách kỳ diệu đầy mê hoặc ấy cho chính cá tính đã phát triển của Bà. Nhưng sự thể không phải vậy, tôi không thể; và tôi phải chuyển sang thảo luận những giả thuyết khác.
CHAPTER XV—CHAPTER XV
APPARENT POSSESSION BY FOREIGN ENTITIES—HIỆN TƯỢNG BỊ CHIẾM NGỰ BỞI CÁC THỰC THỂ NGOẠI LAI
OUR next question is, did she write Isis in the capacity of an ordinary spiritual medium, i.e., under the control of spirits of the dead? I answer, Assuredly not. If she did, then the power controlling her organism worked differently from any that is recorded in books or that I, personally, ever saw operating during the many years in which I was interested in that movement. I have known mediums of all sorts—speaking, trance, writing, phenomena-making, medical, clairvoyant, and materialising; have seen them at work, attended their séances and observed the signs of their obsession and possession. H. P. B.’s case resembled none of them. Nearly all they did she could do; but at her own will and pleasure, by day or by night, without forming “circles,” choosing the witnesses, or imposing the usual conditions. Then, again, I had ocular proof that at least some of those who worked with us were living men, from having seen them in the flesh in India after having seen them in the astral body in America and Europe; from having touched and talked with them. Instead of telling me that they were spirits, they told me they were as much alive as myself, and that each of them had his own peculiarities and capabilities; in short, his complete individuality. They told me that what they had attained to, I should, one day, myself acquire; how soon, would depend entirely upon myself; and that I might anticipate nothing whatever from favour; but, like them, must gain every step, every inch of progress by my own exertions.
Câu hỏi kế tiếp của chúng ta là: liệu Bà có viết Isis trong tư cách một đồng tử bình thường, tức là dưới sự điều khiển của các vong linh người chết? Tôi đáp: Chắc chắn là không. Nếu có, thì quyền lực kiểm soát cơ thể Bà đã vận hành theo một cách khác hẳn mọi ghi chép trong sách vở và khác hẳn mọi điều mà chính tôi từng thấy hoạt động trong suốt bao năm tôi quan tâm đến phong trào ấy. Tôi đã biết đủ hạng đồng tử—đồng tử nói, xuất thần, viết, tạo hiện tượng, y thuật, thông nhãn và hiện hình; đã thấy họ làm việc, dự các Buổi gọi hồn của họ và quan sát các dấu hiệu của sự ám ảnh và nhập xác nơi họ. Trường hợp của Bà H. P. B. không giống bất kỳ ai trong số họ. Gần như mọi điều họ làm được thì Bà cũng làm được; nhưng theo ý chí và sở thích của riêng Bà, ban ngày hay ban đêm, không cần lập “vòng,” chọn nhân chứng hay áp đặt những điều kiện thông thường. Rồi nữa, tôi đã có bằng chứng tận mắt rằng ít nhất một số vị làm việc với chúng tôi là những người đang sống, vì tôi đã gặp họ bằng xương bằng thịt ở Ấn Độ sau khi đã thấy họ trong thể cảm dục ở Mỹ và châu Âu; vì tôi đã chạm vào họ và chuyện trò với họ. Thay vì bảo tôi rằng họ là vong linh, họ bảo tôi rằng họ sống động chẳng kém gì tôi, và mỗi người đều có những nét riêng và năng lực riêng; nói gọn, là có cá tính trọn vẹn. Họ bảo tôi rằng những gì họ đã đạt, một ngày nào đó, chính tôi cũng sẽ đạt; sớm hay muộn hoàn toàn tùy thuộc nơi tôi; và rằng tôi chẳng nên mong chờ bất cứ điều gì nhờ ân huệ; mà, như họ, tôi phải tự mình giành lấy từng bước, từng tấc tiến bộ bằng chính nỗ lực của mình.
One of the greatest of them, the Master of the two Masters about whom the public has heard a few facts and circulated much foul abuse, wrote me on June 22, 1875: “The time is come to let you know who I am. I am not a disembodied spirit, Brother, I am a living man; gifted with such powers by our Lodge as are in store for yourself some day. I cannot be with you otherwise than in spirit, for thousands of miles separate us at present. Be patient and of good cheer, untiring labourer of the sacred Brotherhood! Work on and toil too for yourself, for self-reliance is the most powerful factor of success. Help your needy brother and you shall be helped yourself in virtue of the never-failing and ever active Law of Compensation”: the law of Karma, in short, which, as the reader perceives, was taught me from almost the beginning of my intercourse with H. P. B. and the Masters.
Trong số các vị ấy, có một Vị vĩ đại nhất—bậc Chân sư của hai Vị Chân sư mà công chúng đã nghe được vài sự kiện và truyền lưu rất nhiều lời phỉ báng hạ cấp—đã viết cho tôi vào ngày 22 tháng Sáu, 1875: “Đã đến lúc để cho huynh biết Ta là ai. Ta không phải là một vong linh không xác, Huynh đệ, Ta là một người sống; được Thánh Đoàn của chúng ta phú cho những quyền năng như thế và một ngày kia huynh cũng sẽ có. Ta không thể ở với huynh theo cách nào khác ngoài tinh thần, vì lúc này có hàng ngàn dặm chia cách chúng ta. Hãy kiên nhẫn và vững lòng, hỡi người lao công không biết mệt của Huynh đệ Đoàn thiêng liêng! Hãy tiếp tục làm việc và cũng hãy gắng sức cho chính mình, vì tự lực là yếu tố mạnh mẽ nhất của thành công. Hãy giúp người huynh đệ khốn khó của huynh và huynh sẽ được giúp lại nhờ vào Định luật Bù Trừ luôn linh nghiệm và luôn vận hành”: nói gọn là định luật nghiệp quả, như độc giả thấy, được dạy cho tôi gần như ngay từ đầu mối giao tiếp của tôi với Bà H. P. B. và các Chân sư.
And yet, despite the above, I was made to believe that we worked in collaboration with at least one disincarnate entity—the pure soul of one of the wisest philosophers of modern times, one who was an ornament to our race, a glory to his country. He was a great Platonist, and I was told that, so absorbed was he in his life-study, he had become earth-bound, i.e., he could not snap the ties which held him to the Earth, but sat in an astral library of his own mental creation, plunged in his philosophical reflections, oblivious to the lapse of time, and anxious to promote the turning of men’s minds towards the solid philosophical basis of true religion. His desire did not draw him to taking a new birth among us, but made him seek out those who, like our Masters and their agents, wished to work for the spread of truth and the overthrow of superstition. I was told that he was so pure and so unselfish that all the Masters held him in profound respect, and, being forbidden to meddle with his Karma, they could only leave him to work his way out of his (Kâmalokaic) illusions, and pass on to the goal of formless being and absolute spirituality according to the natural order of Evolution. His mind had been so in-tensely employed in purely intellectual speculation that his spirituality had been temporarily stifled. Meanwhile there he was, willing and eager to work with H. P. B. on this epoch-making book, towards the philosophical portion of which he contributed much. He did not materialise and sit with us, nor obsess H. P. B., medium-fashion; he would simply talk with her psychically, by the hour together, dictating copy, telling her what references to hunt up, answering my questions about details, instructing me as to principles, and, in fact, playing the part of a third person in our literary symposium. He gave me his portrait once—a rough sketch in colored crayons of flimsy paper—and sometimes would drop me a brief note about some personal matter, but from first to last his relation to us both was that of a mild, kind, extremely learned teacher and elder friend. He never dropped a word to indicate that he thought himself aught but a living man, and, in fact, I was told that he did not realise that he had died out of the body. Of the lapse of time, he seemed to have so little perception that, I remember, H. P. B. and I laughed, one morning at 2:30 A.M., when, after an unusually hard night’s work, while we were taking a parting smoke he quietly asked H. P. B. “Are you ready to begin?”; under the impression that we were at the beginning instead of the end of the evening! And I also recollect how she said: “For Heaven’s sake don’t laugh deep in your thought, else the ‘old gentleman’ will surely hear you and feel hurt!” That gave me an idea: to laugh superficially is ordinary laughter, but to laugh deeply is to shift your merriment to the plane of psychic perception! So emotions may, like beauty, be sometimes but skin-deep, Sins, also: think of that!
Thế nhưng, bất chấp những điều trên, tôi vẫn được cho biết rằng chúng tôi đã cộng tác với ít nhất một thực thể không còn nhập thể—linh hồn thanh khiết của một trong những triết gia minh triết nhất thời cận đại, một người làm rạng danh cho giống dân của chúng ta, là vinh quang của đất nước Ông. Ông là một nhà Tân-Plato vĩ đại, và tôi được nói rằng, vì quá đắm chìm trong công phu học thuật suốt một đời, Ông đã trở nên “gắn đất,” tức là không thể cắt đứt các mối dây ràng buộc Ông với Địa cầu, mà ngồi trong một thư viện cảm dục do tâm Ông tạo tác, chìm đắm trong các suy tưởng triết học, không hề để ý đến dòng thời gian đang trôi và khao khát thúc đẩy con người hướng tâm trí về nền tảng triết học vững chắc của tôn giáo chân thật. Ước muốn ấy không lôi kéo Ông nhận một lần tái sinh mới giữa chúng ta, mà khiến Ông đi tìm những ai, như các Chân sư và các vị đại diện của Các Ngài, mong muốn làm việc cho sự lan rộng của chân lý và sự lật đổ mê tín. Tôi được nói rằng Ông thanh khiết và vô ngã đến mức mọi Chân sư đều dành cho Ông sự kính trọng sâu xa, và vì bị cấm xen vào nghiệp quả của Ông, Các Ngài chỉ có thể để mặc Ông tự giải thoát khỏi những ảo tưởng (thuộc Kâmaloka) của mình, rồi bước tiếp đến cứu cánh của hữu thể vô tướng và tính tinh thần tuyệt đối theo trật tự tự nhiên của Tiến hoá. Tâm trí Ông đã bị vận dụng mãnh liệt trong các suy tư thuần trí đến nỗi tính tinh thần của Ông tạm thời bị nghẹt lịm. Trong khi chờ đợi, Ông hiện diện đó, sẵn lòng và háo hức cộng tác với Bà H. P. B. trong cuốn sách mở thời này, đối với phần triết học Ông đóng góp rất nhiều. Ông không hiện hình mà ngồi với chúng tôi, cũng không ám nhập Bà H. P. B. theo lối đồng tử; Ông chỉ đơn giản trò chuyện với Bà bằng phương thức thông linh, hàng giờ liền, đọc cho chép bản thảo, chỉ Bà những tài liệu cần tra cứu, trả lời các câu hỏi chi tiết của tôi, chỉ dạy tôi về các nguyên lý, và, thực vậy, đóng vai người thứ ba trong cuộc toạ đàm văn chương của chúng tôi. Có lần Ông đưa cho tôi bức chân dung của mình—một bức phác thảo thô bằng phấn màu trên giấy mỏng—và đôi khi gửi cho tôi một mảnh giấy nhắn vắn tắt về vài chuyện riêng; nhưng từ đầu đến cuối, mối liên hệ của Ông với cả hai chúng tôi là của một bậc thầy hiền hòa, tốt lành, cực kỳ uyên bác và như một người bạn lớn tuổi. Ông chưa từng buông một lời cho thấy Ông tự cho mình là gì khác ngoài một người sống, và thực vậy, tôi được nói rằng Ông không nhận ra là mình đã rời bỏ thể xác. Về sự trôi qua của thời gian, Ông dường như có rất ít cảm nhận, đến độ tôi còn nhớ, một buổi sáng lúc 2:30, sau một đêm làm việc căng hiếm thấy, khi chúng tôi đang hút điếu thuốc tiễn nhau, Ông bình thản hỏi Bà H. P. B.: “Bà sẵn sàng bắt đầu chưa?”; tưởng rằng chúng tôi đang ở khởi đầu thay vì ở đoạn kết của buổi tối! Và tôi cũng còn nhớ Bà nói: “Vì Trời, đừng cười sâu trong tư tưởng của anh, kẻo ‘cụ già’ chắc chắn sẽ nghe thấy và bị chạnh lòng!” Điều đó gợi cho tôi một ý: cười hời hợt là kiểu cười thông thường, còn cười sâu là chuyển niềm vui thích của bạn sang bình diện tri giác thông linh! Vậy cảm xúc, cũng như cái đẹp, đôi khi chỉ sâu đến lớp da mà thôi. Tội lỗi cũng thế: hãy nghĩ về điều đó!
Except in the case of this old Platonist, I never had, with or without H. P. B.’s help, consciously to do with another disincarnate entity during the progress of our work; unless Paracelsus may be called one, about which,in common with the Alsatians, I have grave doubts. I remember that one evening, at about twilight, while we lived in West Thirty-fourth Street, we had been talking about the greatness of Paracelsus and the ignominious treatment he had had to endure during his life and after his apparent death. H. P. B. and I were standing in the passage between the front and back rooms, when her manner and voice suddenly changed, she took my hand as if to express friendship, and asked, “Will you have Theophrastus for a friend, Henry?” I murmured a reply, when the strange mood passed away, H. P. B. was herself again, and we applied ourselves to our work. That evening I wrote the paragraphs about him that now stand on p. 500 of Vol. II of Isis. As for his being dead, the odds are always against any given Adept’s having actually died when to ordinary men he seemed to. With his knowledge of the science of mâyâvic illusion, even his seeming corpse screwed into a coffin and laid away in a tomb, would not be sufficient proof that he was really dead. Barring accidents, which may happen to him as well as to a common man if he be off his guard, an Adept chooses his own place to die in, and his body is so disposed of as to leave no trace behind. For example, what became of the gifted, the noble-souled Count St. Germain, the “adventurer” and “spy” of the encyclopædias, who dazzled the courts of Europe a century ago, moved in the highest and the most erudite circles, was admitted to the intimacy of Louis XV, built hospitals and otherwise lavished vast sums in charities, took nothing for even the greatest personal services, retired to Holstein, and--disappeared as mysteriously as he had appeared?1 Après nous le Deluge, said the King’s mistress; after St. Germain came the French Revolution and the upheaval of mankind.
Ngoại trừ trường hợp vị Tân-Plato già này, trong suốt tiến trình công việc của chúng tôi, tôi chưa từng—có hay không có sự trợ giúp của Bà H. P. B.—hữu thức liên hệ với một thực thể không nhập thể nào khác; trừ phi Paracelsus cũng được gọi là một vị như thế, về điều này, cũng như người Alsace, tôi có hoài nghi nghiêm trọng. Tôi nhớ có một buổi tối, khoảng hoàng hôn, khi chúng tôi còn ở Phố Tây 34, chúng tôi đã nói về sự vĩ đại của Paracelsus và sự đối xử nhục nhã mà Ông phải chịu trong đời mình và cả sau cái chết bề ngoài của Ông. Bà H. P. B. và tôi đang đứng ở hành lang giữa phòng trước và phòng sau thì dáng điệu và giọng của Bà bỗng thay đổi, Bà nắm tay tôi như để biểu lộ tình bằng hữu, và hỏi: “Anh có muốn Theophrastus làm bạn, Henry?” Tôi ậm ừ đáp lại, thì cơn tâm trạng lạ lùng ấy tan đi, Bà H. P. B. lại là chính mình, và chúng tôi bắt tay vào công việc. Tối hôm đó tôi đã viết các đoạn về Ông mà nay nằm ở trang 500 của Quyển II Isis. Còn về chuyện Ông có chết hay không, xác suất gần như luôn chống lại giả định rằng một Chân sư bất kỳ thực sự đã chết khi đối với người thường dường như là vậy. Với tri thức về khoa học ảo lực mâyâvic, thì ngay cả cái xác dường như của Ông, dù bị vặn ốc vào quan tài và đặt trong mộ, cũng chưa đủ làm bằng chứng rằng Ông thực sự đã chết. Trừ những tai nạn—có thể xảy đến với Ông như với người thường nếu Ông sơ ý—một Chân sư sẽ tự chọn nơi viên tịch, và thân xác của Ngài được xử trí sao cho không để lại dấu vết. Chẳng hạn, chuyện gì đã xảy ra với vị bá tước St. Germain tài hoa, tâm hồn cao quý, “tay phiêu lưu” và “gián điệp” của các bách khoa; người đã làm lóa mắt các triều đình châu Âu một thế kỷ trước, ra vào những vòng tròn cao nhất và uyên bác nhất, được thân cận Louis XV, xây bệnh viện và tiêu xài những khoản tiền khổng lồ cho từ thiện, chẳng nhận gì ngay cả khi làm những việc phục vụ riêng lớn lao nhất, về hưu ở Holstein, rồi—biến mất bí ẩn như khi xuất hiện?1 “Après nous le Déluge,” tình nhân của Nhà Vua nói; sau St. Germain là Cách mạng Pháp và cơn biến động của nhân loại.
Rejecting the idea that H.P.B. wrote Isis as an ordinary spirit medium “under control,” we have seen, however, that some portions of it were actually written to a
Bác bỏ ý tưởng rằng Bà H. P. B. viết Isis như một đồng tử bình thường “dưới sự kiểm soát,” chúng ta thấy, tuy vậy, rằng một số đoạn của sách thực sự được viết theo sự đọc cho chép của một
1No one ever knew his origin or his real name. The Maréchale de Belle Isle, who met him in Germany, induced him to come to Paris. He had a noble personal appearance and polished address, “considerable erudition and a wonderful memory, spoke English; German, Spanish, and Portuguese to perfection, and French with a slight Piedmontese accent.... He occupied for many years a remarkable social position at the French Court.... He was in the habit of telling the credulous that he had lived 350 years, and some old men, who pretended to have known him in their youth, declared that in 60 or 70 years his appearance had in no wise changed. Frederic the Great, having asked Voltaire for some particulars respecting this mysterious person, was told that he was ‘a man who never dies and who knows everything.’” No one knowing his motives or the sources of his wealth, they settled it to their own satisfaction in the same way as that which Hodgson, the spy of the S.P.R., resorted to in the case of H. P. B. to explain her presence in India; he was alleged “to have been employed during the greater part of his life as a spy at the courts at which he resided” (Am. Cyc., Ed. 1868, vol. xiv, pp. 266-7). But, all the same, no evidence whatever to support this calumny has ever been forthcoming. The Encyclopaedia Britannica takes the same view of St.Germain, and the Dictionnaire Universel d’ Histoire et de Geographie echoing the falsehood, says that “this will account for his riches and the mystery with which he enwrapped himself!” If Mme. de Fadeef—H. P. B.’s aunt—could only be induced to translate and publish certain documents in her famous library, the world would have a nearer approach to a true history of the pre-Revolutionary European mission of this Eastern Adept than has until now been available spirit’s dictation: a most extraordinary and exceptional entity, yet still a man out of the physical body. The method of work with him as above described tallies closely with that she described in a family letter, when explaining how she wrote her book without any previous training for such work.
1Không ai từng biết xuất thân hay tên thật của Ông. Bà Maréchale de Belle Isle, người gặp Ông ở Đức, đã khiến Ông đến Paris. Ông có diện mạo đường bệ và phong thái lịch thiệp, “học vấn đáng kể và trí nhớ tuyệt vời, nói tiếng Anh; tiếng Đức, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha một cách hoàn hảo, và tiếng Pháp với chút giọng Piedmontese.... Ông chiếm một địa vị xã hội đáng chú ý tại Triều đình Pháp trong nhiều năm.... Ông có thói quen kể cho những người cả tin rằng Ông đã sống 350 năm, và một số ông già, tự nhận đã biết Ông khi còn trẻ, khẳng định rằng trong 60 hay 70 năm dung mạo của Ông chẳng hề thay đổi. Frederic Đại Đế, khi hỏi Voltaire vài chi tiết về nhân vật bí ẩn này, được bảo rằng Ông là ‘một người không bao giờ chết và biết mọi thứ.’” Vì không biết động cơ của Ông hay nguồn gốc tài sản của Ông, người ta tự giải thích cho thỏa đáng theo cùng cách mà Hodgson, tay gián điệp của S.P.R., đã dùng trong trường hợp Bà H. P. B. để giải thích sự hiện diện của Bà ở Ấn Độ; rằng Ông bị cho là “đã làm gián điệp trong phần lớn cuộc đời tại các triều đình nơi Ông cư trú” (Am. Cyc., Ấn bản 1868, quyển xiv, tr. 266-7). Thế nhưng, chẳng có bằng chứng nào được đưa ra để hậu thuẫn cho lời vu khống này. Bách khoa thư Britannica cũng có quan điểm tương tự về St. Germain, và Dictionnaire Universel d’Histoire et de Géographie, lặp lại điều sai quấy này, nói rằng “điều này sẽ giải thích cho sự giàu có của Ông và cho sự bí ẩn mà Ông tự quấn quanh mình!” Nếu bà de Fadeef—cô của Bà H. P. B.—có thể được thuyết phục dịch và công bố một số tài liệu trong thư viện nổi tiếng của bà, thế giới sẽ có một bản tường thuật gần đúng hơn về lịch sử thực của sứ mệnh tiền Cách mạng Pháp của vị Chân sư Đông phương này so với những gì cho đến nay đã có được vong linh: một thực thể hết sức phi thường và ngoại lệ, nhưng vẫn là một con người ở ngoài thể xác. Phương pháp làm việc với Ông, như mô tả ở trên, rất đồng điệu với điều Bà mô tả trong một bức thư gia đình khi giải thích Bà đã viết sách như thế nào mà không qua huấn luyện trước cho công việc ấy.
“Whenever I am told to write, I sit down and obey, and then I can write easily upon almost any thing—metaphysics, psychology, philosophy, ancient religions, zoology, natural sciences, or what not.... Why? Because somebody who knows all dictates to me. My Master, and occasionally others whom I knew on my travels years ago.” (Incidents, page 205.)
“Mỗi khi tôi được bảo phải viết, tôi ngồi xuống và tuân phục, và khi ấy tôi có thể viết dễ dàng về hầu như bất cứ thứ gì—siêu hình học, tâm lý học, triết học, tôn giáo cổ, động vật học, khoa học tự nhiên, hay bất cứ gì.... Vì sao? Vì có ai đó biết hết thảy đọc cho tôi chép. Vị Thầy của tôi, và đôi khi những người khác mà tôi đã biết trong những chuyến du hành nhiều năm trước đây.” (Incidents, trang 205.)
This is exactly what happened between her and the old Platonist, but he was not her “Master,” nor could she have met him on her travels on this physical plane, since he died before she was born—this time. Then arises the question whether the Platonist was really a spirit disincarnate, or an Adept who had lived in that philosopher’s body and seemed to, but really did not, die out of it on September 1, 1687. It is certainly a difficult problem to solve. Considering that the ordinary concomitants of spirit-possession and spirit-intercourse were wanting, and that H.P.B. served the Platonist in the most matter-of-fact way as amanuensis, their relation differing in nothing from that of any Private Secretary with his employer, save that the latter was invisible to me but visible to her, it does look more as if we were dealing with a living than with a disincarnate person.He seemed not quite a “Brother”—as we used to call the Adepts then—yet more that than anything else; and as far as the literary work itself was concerned, it went on exactly as the other parts of it did when the dictator, or writer, as the case might be, was professedly a Master (Cf. Theory 1). The dictator or writer, I say, and this requires some explanation.
Đó chính xác là điều đã diễn ra giữa Bà và vị Tân-Plato già, nhưng Ông không phải là “Vị Thầy” của Bà, và Bà cũng không thể đã gặp Ông trong các chuyến du hành trên cõi hồng trần, vì Ông đã qua đời trước khi Bà sinh ra—trong lần này. Thế thì nảy sinh câu hỏi liệu vị Tân-Plato ấy thực sự là một vong linh không nhập thể, hay là một Chân sư từng sống trong thể xác của vị triết gia ấy và dường như đã chết khỏi nó vào ngày 1 tháng Chín, 1687, nhưng thực ra không. Chắc chắn đây là một bài toán khó giải. Xét rằng những yếu tố đi kèm thông thường của sự ám nhập và giao tiếp vong linh đều vắng bóng, và rằng Bà H. P. B. phục vụ vị Tân-Plato ấy theo một cách rất thực tế như một thư ký chép tay, mối quan hệ của họ không khác gì mối quan hệ giữa bất kỳ thư ký riêng nào với người thuê mình, chỉ trừ việc người sau vô hình đối với tôi nhưng hữu hình đối với Bà, thì quả thật trông giống như chúng tôi đang xử sự với một người sống hơn là với một thực thể không nhập thể. Ông dường như không hẳn là một “Huynh đệ”—tức danh xưng chúng tôi dùng gọi các Chân sư khi ấy—nhưng cũng thiên về phía ấy hơn bất kỳ điều gì khác; và xét riêng về công việc văn chương, nó diễn tiến y hệt như những phần khác khi người đọc cho chép, hay người viết, như trường hợp ấy, được tuyên xưng là một Vị Chân sư (x. Thuyết 1). Tôi nói “người đọc cho chép hay người viết,” và điều này cần được giải thích đôi chút.
It is stated above that the H.P.B. manuscript varied at times, and that there were several variants of the one prevailing script; also that each change in the writing was accompanied by a marked alteration in the manner, motions, expression, and literary capacity of H.P.B. When she was left to her own devices, it was often not difficult to know it, for then the untrained literary apprentice became manifest and the cutting and pasting began; then the copy that was turned over to me for revision was terribly faulty, and having been converted into a great smudge of interlineations, erasures, orthographic corrections and substitutions, would end in being dictated by me to her to re-write (Cf. Theory 7). Now often things were, after a while, said to me that would be more than hints that other intelligences than H.P.B.’s were at times using her body as a writing machine: it was never expressly said, for example, “I am so and so,” or “Now this is A or B.” It did not need that after we “twins” had been working together long enough for me to become familiar with her every peculiarity of speech, moods, and impulses. The change was as plain as day, and by and by after she had been out of the room and returned, a brief study of her features and actions enabled me to say to myself, “This is——,or——,or,——” and presently my suspicion would be confirmed by what happened. One of these Alter Egos of hers, one whom I have since personally met, wears a full beard and long moustache that are twisted, Rajput fashion, into his side whiskers. He has the habit of constantly pulling at his moustache when deeply pondering: he does it mechanically and unconsciously. Well, there were times when H.P.B.’s personality had melted away and she was “Somebody else,” when I would sit and watch her hand as if pulling at and twisting a moustache that certainly was not growing visibly on H.P.B.’s upper lip, and the far-away look would be in the eyes, until presently resuming attention of passing things, the moustached Somebody would look up, catch me watching him, hastily remove the hand from the face, and go on with the work of writing. Then there was another Somebody, who disliked English so much that he never willingly talked with me in anything but French: he had a fine artistic talent and a passionate fondness for mechanical invention. Another one would now and then sit there, scrawling something with a pencil and reeling off for me dozens of poetical stanzas which embodied, now sublime, now humorous ideas. So each of the several Somebodies had his peculiarities distinctly marked, as recognisable as those of any of our ordinary acquaintances or friends. One was jovial, fond of good stories and witty to a degree; another, all dignity, reserve, and erudition. One would be calm, patient, and benevolently helpful, another testy and sometimes exasperating. One Somebody would always be willing to emphasise his philosophical or scientific explanations of the subjects I was to write upon, by doing phenomena for my edification, while to another Somebody I dared not even mention them. I got an awful rebuke one evening. I had brought home a while before two nice, soft pencils, just the thing for our desk work, and had given one to H.P.B. and kept one myself. She had the very bad habit of borrowing pen-knives, pencils, rubber, and other articles of stationery and forgetting to return them: once put into her drawer or writing-desk, there they would stay, no matter how much of a protest you might make over it. On this particular evening, the artistic Somebody was sketching a navy’s face on a sheet of common paper and chatting with me about something, when he asked me to lend him another pencil. The thought flashed into my mind, “If I once lend this nice pencil it will go into her drawer and I shall have none for my own use.” I did not say this, I only thought it, but the Somebody gave me a mildly sarcastic look, reached out to the pen-tray between us laid his pencil in it, handled it with his fingers of that hand for a moment, and lo! a dozen pencils of the identical make and quality! He said not a word, did not even give me a look, but the blood rushed to my temples and I felt more humble than I ever did in my life. All the same, I scarcely think I deserved the rebuke, considering what a stationery-annexer H.P.B. was!
Đã nói ở trên rằng bản thảo của Bà H. P. B. đôi khi thay đổi, và rằng có nhiều biến thể của một lối chữ viết chủ đạo; cũng như mỗi lần thay đổi chữ viết đều đi kèm một biến đổi rõ rệt trong phong thái, cử chỉ, sắc diện và năng lực văn chương của Bà H. P. B. Khi Bà được để mặc theo ý mình, thường không khó để nhận ra, vì khi ấy tay tập sự văn chương chưa hề được đào tạo sẽ lộ diện và việc cắt dán bắt đầu; rồi bản thảo giao cho tôi duyệt sửa thì tệ hại khủng khiếp, và sau khi bị biến thành một mớ lem nhem những chèn dòng, xoá bỏ, sửa chính tả và thay thế, rốt cuộc tôi sẽ phải đọc cho Bà chép lại (x. Thuyết 7). Thế rồi, thường sau một lúc, có những điều được nói với tôi mà hơn cả gợi ý, rằng đôi khi có những trí tuệ khác ngoài của Bà H. P. B. đang sử dụng thân thể Bà như một máy viết: chẳng hạn, chưa bao giờ có lời tuyên bố thẳng, “Tôi là người này người nọ,” hoặc “Giờ đây đây là A hay B.” Không cần thế đâu, sau khi chúng tôi—hai “cặp song sinh”—đã làm việc chung đủ lâu để tôi quen thuộc từng nét đặc thù trong lời nói, tâm trạng và xung động của Bà. Sự đổi khác hiển nhiên như ban ngày, và rồi sau khi Bà ra khỏi phòng rồi quay lại, chỉ cần quan sát thoáng qua các nét mặt và động tác của Bà cũng đủ để tôi tự nhủ, “Đây là ——, hoặc ——, hoặc ——,” và chẳng mấy chốc nghi ngờ của tôi sẽ được xác nhận bởi những gì diễn ra. Một trong những Bản ngã khác của Bà, một vị mà sau này tôi đã đích thân gặp, có bộ râu rậm và ria mép dài vặn xoắn theo kiểu Rajput nhập vào tóc mai. Ngài có thói quen liên tục kéo ria mép khi suy tư sâu: đó là động tác vô thức. Và, có những lúc khi phàm ngã H. P. B. đã tan biến và Bà là “Ai đó Khác,” tôi sẽ ngồi nhìn tay Bà như thể đang kéo và xoắn một bộ ria mép mà rõ ràng chẳng mọc trên môi trên của Bà H. P. B.; và ánh mắt đăm chiêu xa xăm sẽ hiện ra, cho đến khi, chợt hồi tỉnh chú ý đến những điều đang diễn ra, “Vị có ria mép” ấy sẽ ngẩng lên, bắt gặp tôi đang nhìn mình, vội vã rời tay khỏi mặt, và tiếp tục viết. Lại có một “Ai đó Khác” ghét tiếng Anh đến mức chẳng bao giờ chịu nói chuyện với tôi bằng gì khác ngoài tiếng Pháp: Ngài có tài năng nghệ thuật tuyệt vời và niềm say mê thiết kế cơ khí. Một vị khác thỉnh thoảng ngồi đó, nguệch ngoạc gì đó bằng bút chì và xuất khẩu thao thao cho tôi hàng chục khổ thơ chứa đựng những ý tưởng khi thì siêu thoát, khi thì hài hước. Vậy là mỗi “Ai đó” đều có những nét riêng rất rõ, dễ nhận không khác gì ở bất cứ ai trong số những người quen hay bạn bè thường nhật của chúng ta. Có vị thì vui tính, ưa chuyện hay và dí dỏm đến mức; vị khác thì đầy phong thái trang nghiêm, dè dặt và uyên bác. Có vị điềm tĩnh, nhẫn nại và nhân hậu trợ giúp, vị khác thì gắt gỏng và đôi khi khiến người ta bực mình. Có “Vị” luôn sẵn lòng nhấn mạnh các giải thích triết học hay khoa học về những đề tài tôi cần viết bằng cách làm hiện tượng để tường giáo cho tôi, trong khi với một “Vị” khác thì tôi không dám thậm chí nhắc đến những chuyện ấy. Một tối, tôi bị quở trách thậm tệ. Một dạo trước đó tôi có mang về hai cây bút chì mềm rất tốt, rất hợp cho công việc bàn giấy của chúng tôi, và đã đưa một cây cho Bà H. P. B., giữ lại một cây. Bà có thói quen rất xấu là mượn dao gọt bút, bút chì, gôm và các đồ văn phòng khác rồi quên trả: một khi đã bỏ vào ngăn kéo hay bàn viết của Bà thì nó sẽ nằm đấy, bất chấp anh có phản đối đến mức nào. Tối đặc biệt ấy, “Vị nghệ sĩ” đang phác chân dung một người thủy thủ trên một tờ giấy thường và trò chuyện với tôi, thì Ngài xin tôi cho mượn một cây bút chì khác. Ý nghĩ vụt hiện trong tôi: “Nếu mình cho mượn cây bút chì tốt này, nó sẽ đi vào ngăn kéo của Bà và mình sẽ chẳng còn cái nào để dùng.” Tôi không nói ra, chỉ nghĩ thế thôi, nhưng “Vị” ấy liếc tôi một cái dịu dàng mỉa nhẹ, với tay tới khay bút giữa hai chúng tôi, đặt cây bút chì của Ngài vào đó, mân mê nó bằng các ngón tay trong giây lát, và kìa! cả tá bút chì cùng kiểu cùng chất lượng! Ngài không nói lời nào, thậm chí không nhìn tôi, nhưng máu dồn lên thái dương tôi và tôi thấy mình khiêm tốn hơn bao giờ hết. Dù vậy, tôi cũng không nghĩ mình đáng bị quở đến thế, xét thói quen “tịch thu” đồ văn phòng của Bà H. P. B.!
Now when either of these Somebodies was “on guard,” as I used to term it, the H.P.B. manuscript would present the identical peculiarities that it had on the last occasion when he had taken his turn at the literary work. He would, by preference, write about the class of subjects that were to his taste, and instead of H.P.B. playing the part of an amanuensis, she would then have become for the time being that other person (Cf. Theory 3). If you had given me in those days any page of Isis manuscript, I could almost certainly have told you by which Somebody it had been written. Where, then, was H.P.B.’s self at those times of replacement? Ah, that is the question; and that is one of the mysteries which are not given to the first comer. [32] As I under stood it, she herself had loaned her body as one might one’s type-writer, and had gone off on other occult business that she could transact in her astral body; a certain group of Adepts occupying and manœuvring the body by turns. When they knew that I could distinguish between them, so as to even have invented a name for each by which H.P.B. and I might designate them in our conversation in their absence, they would frequently give me a grave bow or a friendly farewell nod when about to leave the room and give place to the next reliefguard. And they would sometimes talk to me of each other as friends do about absent third parties, by which means I came to know bits of their several personal histories; and would also speak about the absent H.P.B., distinguishing her from the physical body they had borrowed from her. One Mahâtma, writing me about some occult business, speaks of it—the H.P.B. body—as “the old appearance”; again, in 1876, he writes about “it and the Brother inside it”; another Master asks me—à propos of a terrific fit of anger to which I had (unintentionally) provoked H.P.B.—”Do you want to kill the body?”; and the same one, in a note of 1875, speaks of “those who represent us in the shell”—the underscoring of the word being his. Can any one understand my feelings upon discovering on a certain evening that I had unsuspiciously greeted the staid philosopher described in the next few sentences of the main text, with an hilarious levity that quite upset his usual calm? Fancying that I was addressing only my “chum” H.P.B., I said: “Well, Old Horse, let us get to work!” The next minute I was blushing for shame, for the blended expression of surprise and startled dignity that came into the face, showed me with whom I had to deal. It was as bad a gaucherie as that committed by good old Peter Cooper at the New York Academy Ball to the Heir Apparent, when he slapped him on the shoulder and said: “Well, Wales, what do you think of this?” This was the one of them for whom I had the most filial reverence. It was not alone for his profound,learning, lofty character and dignified demeanour, but also for his really paternal kindness and patience. It seemed as if he alone had read to the bottom of my heart, and wished to bring out every little spiritual germ that lay there as a latent potentiality. He was—I was told—a South Indian personage of long spiritual experience, a Teacher of Teachers; still living among men ostensibly as a landed proprietor, yet known for what he was by nobody around him. Oh, the evenings of high thinking I passed with him; how shall I ever compare with them any other experiences of my life! Most vividly of all I remember one evening when, by half hints more than anything else, he awakened my intuition so that it grasped the theory of the relationship of cosmic cycles with fixed points in steller constellations, the attractive centre shifting from point to point in an orderly sequence. Recall your sensations the first time you ever looked through a large telescope at the starry heaven—the awe, the wonder, the instant mental expansion experienced in looking from the familiar and, by comparison, commonplace Earth to the measureless depths of space and the countless starry worlds that bestrew the azure infinity. That was a faint approach to my feeling at the moment, when that majestic concept of cosmic order rushed into my consciousness; so overpowering was it, I actually gasped for breath. If there had previously been the least lingering hereditary leaning towards the geocentric theory, upon which men have built their paltry theologies; it was then swept away like a dried leaf before the hurricane. I was borne into a higher plane of thought, I was a free man.
Giờ thì, khi bất kỳ “Vị” nào trong số ấy đang “trực phiên,” như cách tôi thường gọi, bản thảo H. P. B. sẽ bộc lộ y hệt những đặc điểm mà nó từng có trong lần trước khi “Vị” ấy đảm trách lượt công việc văn chương của mình. Theo khuynh hướng, Ngài sẽ viết về hạng đề tài hợp sở thích, và thay vì Bà H. P. B. đóng vai thư ký chép tay, thì lúc đó, trong một thời gian, Bà đã trở thành chính vị kia (x. Thuyết 3). Nếu vào những ngày ấy bạn đưa cho tôi bất kỳ trang bản thảo nào của Isis, tôi gần như chắc chắn có thể nói ai trong số “các Vị” đã viết nó. Vậy, “cái tôi” của Bà H. P. B. ở đâu vào những lúc bị thay thế đó? Ồ, đó là câu hỏi; và đó là một trong những huyền nhiệm không dành cho người đầu tiên gõ cửa. Theo như tôi hiểu, Bà đã cho mượn thân thể mình như người ta cho mượn máy đánh chữ, và đã rời đi làm các công việc huyền bí khác mà Bà có thể xử trí trong thể cảm dục của mình; một nhóm Chân sư nhất định luân phiên chiếm dụng và điều động thân thể ấy. Khi Các Ngài biết tôi có thể phân biệt giữa họ, đến mức còn đặt tên cho từng vị để Bà H. P. B. và tôi dùng mà gọi trong lúc Các Ngài vắng mặt, thì Các Ngài thường cúi chào trịnh trọng hoặc gật đầu từ biệt thân tình với tôi khi sắp rời phòng để nhường chỗ cho kíp trực kế tiếp. Và đôi khi Các Ngài nói chuyện với tôi về nhau như bạn bè nói về người thứ ba vắng mặt, nhờ đó tôi biết được vài mẩu chuyện riêng của từng vị; Các Ngài cũng nói về Bà H. P. B. đang vắng mặt, phân biệt Bà với thân xác mà Các Ngài mượn từ Bà. Một vị Mahâtma, khi viết cho tôi về một chuyện huyền bí nào đó, đã gọi nó—tức thân thể H. P. B.—là “bộ dạng cũ”; rồi, năm 1876, Ngài lại viết về “nó và Vị Huynh ở bên trong nó”; một Vị Chân sư khác hỏi tôi—liên quan đến một cơn thịnh nộ khủng khiếp mà tôi (vô tình) đã khơi dậy nơi Bà H. P. B.—“Anh có muốn giết cái thân xác ấy không?”; và cũng chính vị này, trong một mảnh giấy năm 1875, nói về “những người đại diện cho chúng ta trong cái ‘vỏ’”—tự tay Ngài gạch dưới chữ đó. Có ai hiểu được cảm giác của tôi khi phát hiện ra một tối nọ rằng tôi đã vô tâm chào vị triết gia đĩnh đạc được mô tả mấy câu kế tiếp trong phần văn bản chính, bằng một lối bông lơn khiến bình thản thường nhật của Ngài bị xáo trộn? Tưởng là mình chỉ đang nói với “bạn cật ruột” H. P. B., tôi bảo: “Này, Lão Ngựa Già, bắt tay vào việc thôi!” Khoảnh khắc sau tôi đỏ mặt vì xấu hổ, vì vẻ ngạc nhiên pha đường nét trang nghiêm sững sờ hiện ra trên gương mặt ấy cho tôi thấy tôi đang đối diện với ai. Đó là một lỗi xã giao thô chẳng kém gì lỗi của cụ Peter Cooper ở Dạ hội Học viện New York đối với Thái tử, khi ông vỗ vai và nói: “Này, Wales, anh thấy thế nào?” Đây là vị mà tôi dành sự kính ái như con thảo nhiều nhất. Không chỉ vì học vấn thâm hậu, phẩm cách cao cả và phong thái trang nghiêm, mà còn vì lòng nhân hậu thực sự phụ tử và đức nhẫn nại của Ngài. Cứ như thể chỉ riêng Ngài đã đọc đến tận đáy lòng tôi, và muốn khơi dậy mọi mầm sống tinh thần nhỏ nhoi nằm đó như tiềm năng tiềm tàng. Tôi được nói rằng Ngài là một nhân vật Nam Ấn có kinh nghiệm tinh thần lâu năm, một Bậc Thầy của các Thầy; vẫn sống giữa người đời bề ngoài như một điền chủ, nhưng chẳng ai xung quanh biết Ngài thực sự là ai. Ôi, những buổi tối tư duy cao diệu tôi đã trải qua với Ngài; làm sao tôi có thể so sánh những trải nghiệm khác trong đời mình với chúng! Rõ rệt nhất mà tôi còn nhớ là một tối, khi, bằng những gợi mở nửa kín nửa hở, Ngài đánh thức trực giác của tôi để nó nắm bắt được học thuyết về mối liên hệ giữa các chu kỳ vũ trụ với những điểm cố định trong các chòm sao, với tâm hấp dẫn di chuyển từ điểm này sang điểm khác theo một trình tự có trật tự. Hãy nhớ về cảm giác của bạn lần đầu tiên nhìn trời sao qua một kính thiên văn lớn—niềm kính sợ, sự kỳ diệu, sự mở rộng tâm trí tức khắc khi từ Trái Đất quen thuộc và, so sánh mà nói, tầm thường, hướng nhìn vào những chiều sâu vô biên của không gian và vô số thế giới sao rải khắp thiên thanh vô tận. Đó chỉ là một phảng phất mờ nhạt so với cảm giác của tôi lúc ấy, khi khái niệm uy nghiêm về trật tự vũ trụ tràn vào tâm thức tôi; nó áp đảo đến nỗi tôi thực sự thở hổn hển. Nếu trước đó còn le lói chút khuynh hướng di truyền nghiêng về thuyết địa tâm, trên đó người ta đã xây những thần học bé mọn của mình; thì khoảnh khắc ấy, nó bị cuốn phăng như chiếc lá khô trước cuồng phong. Tôi được nâng lên một bình diện tư duy cao hơn, tôi là một con người tự do.
It was this Master who dictated to H.P.B. the Replies to an English F.T.S. on questions suggested by a reading of “Esoteric Buddhism,” which was published in the Theosophist for September, October, and November, 1883. It was at Ootacamund, at the house of Maj.-Gen. Morgan, when, shivering with the cold, and, her lower limbs swadled in rugs, she sat writing them. One morning I was in her room reading a book, when she turned her head and said: “I’ll be hanged if I ever heard of the laphygians. Did you ever read of such a tribe, Olcott?” I said I had not, why did she ask? “Well,” she replied, “the old gentleman tells me to write it down, but I’m afraid there is some mistake; what do you say?” I answered that if the Master in question gave her the name, she should write it without fear as he was always right. And she did. This is an example of multitudinous cases where she wrote from dictation things quite outside her personal knowledge. She never studied Hind, nor, normally, could she speak or write it; yet I have a Hindî note in Devanâgari characters that I saw her write and hand to Swami Dayânand Saraswati at the Vizianagram garden-house at Benares, where we were guest in 1880. The Swami read it, wrote and signed his answer on the same sheet, and H.P.B. left it on the table, from which I took it.
Chính Vị Chân sư này đã đọc cho Bà H. P. B. chép “Các Lời Đáp cho một hội viên người Anh của Hội Thông Thiên Học” về những câu hỏi nảy sinh khi đọc “Esoteric Buddhism,” được đăng trên tạp chí Theosophist các số tháng Chín, Mười và Mười Một, 1883. Khi ấy ở Ootacamund, tại nhà của Thiếu tướng Morgan, giữa lúc co ro vì lạnh và đôi chân quấn mền, Bà ngồi viết. Một buổi sáng tôi ở trong phòng Bà đọc sách, thì Bà quay đầu bảo: “Tôi thề là chưa bao giờ nghe nói đến bọn laphygians. Ông có từng đọc về một bộ tộc như thế, Olcott?” Tôi đáp là chưa, sao Bà hỏi vậy? “Thì,” Bà nói, “cụ già bảo tôi viết cái tên đó xuống, nhưng tôi e là có lầm lẫn; ông nghĩ sao?” Tôi trả lời rằng nếu Vị Chân sư ấy cho Bà cái tên ấy, Bà cứ viết không sợ gì vì Ngài luôn đúng. Và Bà đã viết. Đây là một ví dụ trong vô số trường hợp Bà viết theo lời đọc cho chép những điều hoàn toàn ngoài tri thức cá nhân của Bà. Bà chưa từng học Hind, và bình thường Bà cũng không thể nói hay viết nó; vậy mà tôi có một mảnh giấy Hindî bằng chữ Devanâgari mà tôi tận mắt thấy Bà viết và trao cho Swami Dayânand Saraswati tại biệt thự vườn Vizianagram ở Benares, nơi chúng tôi làm khách năm 1880. Ngài Swami đọc, viết và ký câu trả lời trên cùng tờ giấy, và Bà H. P. B. để nó trên bàn, rồi tôi cầm lấy.
But I wish to say again, as distinctly as possible, that, not even from the wisest and noblest of these H.P.B.Somebodies did I ever get the least encouragement to either regard them as infallible, omniscient, or omnipotent. There was never the least show of a wish on their part that I should worship them, mention them with bated breath, or regard as inspired what they either wrote with H.P.B.’s body, or dictated to her as their amanuensis. I was made simply to look upon them as men, my fellow-mortals; wiser, truly, infinitely more advanced than I, but only because of their having preceded me in the normal path of human evolution. Slavishness and indiscriminate adulation they loathed, telling me that they were usually but the cloaks to selfishness, conceit, and moral limpness. Their candid opinions were frequently vouchsafed to me after the departure of some of these flattering visitors, and it would have sent any of my readers into a fit of laughter if they had been there one evening after a gushing lady had bade us good-night. Before leaving she petted H.P.B., sat on the arm of her chair, patted her hand and kissed her on the cheek; I standing near by and seeing the blank despair depicted in the (male) Somebody’s face. I conducted the lady to the door, returned to the room, and almost exploded with merriment when the ascetic Somebody—a sexless sadhoo if there ever was one—turned his mournful eyes at me and in an accent of indescribable melancholy said, “She KISSED me!” It was too much; I had to sit down.
Nhưng tôi muốn nói lại, rõ ràng hết sức có thể, rằng, ngay cả từ vị khôn ngoan và cao quý nhất trong số các “Ai đó” của Bà H. P. B., tôi cũng chưa từng nhận được dù chỉ chút khích lệ nào để xem Các Ngài là vô ngộ, toàn tri hay toàn năng. Chưa từng có chút biểu hiện mong muốn nào từ phía Các Ngài rằng tôi phải thờ phượng Các Ngài, nhắc đến Các Ngài với giọng thầm thì kính sợ, hay xem là linh cảm những gì Các Ngài viết bằng thân thể của Bà H. P. B., hoặc đọc cho Bà chép với tư cách thư ký chép tay. Tôi chỉ được làm cho nhìn nhận Các Ngài như những con người, những phàm nhân đồng loại; khôn ngoan hơn, đúng thế, vô cùng thăng thượng so với tôi, nhưng chỉ bởi vì Các Ngài đã đi trước tôi trên con đường tiến hoá bình thường của nhân loại. Tính nô lệ và sự sùng bái bừa bãi là điều Các Ngài ghê sợ, Các Ngài bảo tôi rằng chúng thường chỉ là tấm áo choàng che giấu vị kỷ, ngã mạn và bạc nhược đạo đức. Những nhận định thẳng thắn của Các Ngài thường được dành cho tôi sau khi vài vị khách tâng bốc rời đi, và chắc hẳn nó sẽ khiến bất kỳ độc giả nào của tôi cười lăn nếu họ có mặt tối nọ, sau khi một bà quý bà “dạt dào tình cảm” chúc chúng tôi ngủ ngon. Trước khi đi bà âu yếm Bà H. P. B., ngồi lên tay ghế của Bà, vỗ về tay Bà và hôn lên má Bà; tôi đứng gần đó và thấy sự tuyệt vọng trống rỗng hiện ra trên gương mặt của “Vị” (nam). Tôi tiễn bà ra cửa, quay lại phòng, và suýt nổ tung vì cười khi “Vị khổ hạnh”—một sadhoo vô dục nếu từng có một người như vậy—quay đôi mắt u sầu nhìn tôi và, với giọng bi thương không thể tả, nói: “Bà ấy HÔN ta!” Quá sức chịu đựng; tôi phải ngồi bệt xuống.
I have remarked above that the dictation and literary collaboration between the old Platonist and H.P.B.was identical with that between her and the actual Adepts; and that, as he delighted in one branch of work, so each of the others had their individual preferences. But there was the difference that while they at times would dictate to her and at others occupy her body and write through it as if it were their own (just as the spirit of Mary Roff utilised the body of Lurancy Vennum and felt it as natural as if she had been born in it), the Platonist never obsessed her: he only used her as his amanuensis. Then, again, I have spoken of the part of the Isis writing that was done by H.P.B. in propriâ personâ, which was inferior to that done for her by the Somebodies. This is perfectly comprehensible, for how could H.P.B., who had had no previous knowledge of this sort, write correctly about the multifarious subjects treated in her book? In her (seemingly) normal state, she would read a book, mark the portions that struck her, write about them, make mistakes, correct them, discuss them with me, set me to writing, help my intuitions, get friends to supply materials, and go on thus as best she might, so long as there were none of the teachers within call of her psychic appeals. And they were not with us always, by any means. She did a vast deal of splendid writing, for she was endowed with marvellous natural literary capacity; she was never dull or uninteresting, and, as I have elsewhere noted, she was equally brilliant in three languages when the full power was upon her. She writes her Aunt that when her Master was busy elsewhere he left his substitute with her, and then it was her “Luminous Self,” her Augoeides, which thought and wrote for her (Cf. Theory 2). About this, I cannot venture an opinion, for I never observed her in this state: I only knew her in three capacities, viz., her proper H. P. B. self; with her body possessed or overshadowed by the Masters; and as an amanuensis taking down from dictation. It may be that her Augoeides, taking possession of her physical brain, gave me the impression that it was one of the Masters that was at work: I cannot say. But what she omits telling her Aunt is that there were many, many times, when she was neither possessed, controlled nor dictated to by any superior intelligence, but was simply and palpably H. P. B., our familiar and beloved friend, latterly our teacher; who was trying as well as she could to carry out the object of her literary mission. Yet, despite the mixed agencies at work in producing Isis, there is an expression of individuality running throughout it and her other works— something peculiar to herself. Epes Sargent and other American literati expressed to me their wonder at the grasp she showed of our language, and one gentleman went to the length of publishing the opinion that we had no living author who could excel her in writing English. This, of course, is vague exaggeration, but happily her style has been made the subject of a close comparison with those of others by a philologist of scientific training.
Tôi đã nhận xét ở trên rằng việc đọc cho chép và cộng tác văn chương giữa vị Tân-Plato già và Bà H. P. B. hoàn toàn giống với giữa Bà và các Chân sư thực sự; và rằng, cũng như Ông say thích một ngành công việc, thì mỗi vị khác cũng có sở thích riêng. Nhưng có điểm khác là trong khi đôi khi Các Ngài đọc cho Bà chép và đôi khi khác thì chiếm dụng thân thể Bà và viết qua nó như thể đó là thân của chính Các Ngài (giống như vong linh Mary Roff sử dụng thân của Lurancy Vennum và cảm thấy nó tự nhiên như thể bà sinh ra trong đó), thì vị Tân-Plato chưa bao giờ ám nhập Bà: Ông chỉ dùng Bà như thư ký chép tay. Lại nữa, tôi đã nói về phần bản thảo Isis do chính Bà H. P. B. đích thân viết, phần này kém hơn so với phần do các “Vị” làm giúp Bà. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, vì làm sao Bà H. P. B., người không có tri thức trước về những điều thuộc loại này, có thể viết đúng về vô vàn đề tài được khảo cứu trong sách? Trong trạng thái (dường như) bình thường, Bà sẽ đọc một cuốn sách, đánh dấu những phần gây ấn tượng, viết về chúng, mắc lỗi, sửa lỗi, tranh luận với tôi, bảo tôi viết, trợ giúp trực giác của tôi, nhờ bạn bè cung cấp tư liệu, và cứ thế tiếp tục trong khả năng tốt nhất miễn là không có vị thầy nào ở gần để đáp ứng lời kêu gọi thông linh của Bà. Và Các Ngài cũng không phải lúc nào cũng ở với chúng tôi. Bà đã viết một khối lượng lớn văn chương tuyệt hảo, vì Bà được phú cho năng lực văn bút tự nhiên kỳ diệu; Bà chưa từng nhạt nhẽo hay vô vị, và như tôi đã ghi nhận chỗ khác, khi trọn năng lực giáng lâm, Bà rực rỡ ngang nhau trong ba ngôn ngữ. Bà viết cho Cô của mình rằng khi Vị Thầy của Bà bận nơi khác, Ngài để vị thay thế bên Bà, và khi ấy đó là “Tự Ngã Quang Minh” của Bà, Augoeides của Bà, nghĩ và viết thay cho Bà (x. Thuyết 2). Về điều này, tôi không dám đưa ra ý kiến, vì tôi chưa từng quan sát Bà trong trạng thái ấy: tôi chỉ biết Bà trong ba tư cách, tức là, chính bản ngã H. P. B.; khi thân thể Bà bị Các Chân sư nhập hoặc phủ bóng; và như một thư ký chép tay ghi theo lời đọc. Cũng có thể Augoeides của Bà, khi chiếm lĩnh não bộ thể xác của Bà, đã cho tôi cảm tưởng rằng đó là một trong các Chân sư đang làm việc: tôi không thể nói. Nhưng điều Bà không kể với Cô của Bà là có rất nhiều, rất nhiều lần, khi Bà không bị nhập, không bị điều khiển, cũng không bị bất kỳ trí tuệ siêu việt nào đọc cho chép, mà chỉ đơn giản và hiển nhiên là Bà H. P. B., người bạn thân quen và đáng mến của chúng tôi, sau rốt là vị thầy của chúng tôi; người đang cố gắng hết sức để thực hiện mục đích của sứ mệnh văn chương của mình. Thế nhưng, bất kể các tác nhân hỗn hợp cùng tham gia trong việc tạo tác Isis, vẫn có một biểu hiện cá tính xuyên suốt nó và các tác phẩm khác của Bà—một cái gì đó đặc trưng của riêng Bà. Epes Sargent và các văn sĩ Mỹ khác đã bày tỏ với tôi sự kinh ngạc trước cách Bà nắm bắt ngôn ngữ của chúng ta, và có một quý ông đã công bố ý kiến rằng chúng ta không có tác giả nào còn sống có thể vượt Bà trong việc viết tiếng Anh. Tất nhiên, đó là sự phóng đại mơ hồ, nhưng may thay, văn phong của Bà đã được một nhà ngôn ngữ học được đào luyện khoa học đem so sánh kỹ lưỡng với các tác giả khác.
In his work on the Origin, Progress, and Destiny of the English Language and Literature, the learned author, Dr. John A. Weisse, publishes a number of analytical tables which show the sources of the words used by English writers of renown. In the following excerpts will be seen the derivations of the English of Isis Unveiled in comparison with those of the words employed by some other authors. Dr. Weisse says the book is “a thesaurus of new phases and facts, so sprightfully related that even the uninitiated may read them with interest.” Following is the analysis:
Trong công trình về Nguồn gốc, Tiến triển và Số phận của Ngôn ngữ và Văn học Anh, tác giả uyên bác, Tiến sĩ John A. Weisse, công bố một số bảng phân tích cho thấy nguồn gốc các từ do các văn sĩ danh tiếng Anh ngữ sử dụng. Trong các trích đoạn sau đây sẽ thấy nguồn gốc từ vựng của Isis Unveiled so với của những tác giả khác. Tiến sĩ Weisse nói cuốn sách là “kho tàng những cách diễn đạt và sự kiện mới, được thuật lại một cách sinh động đến nỗi ngay cả người sơ cơ cũng có thể đọc với hứng thú.” Sau đây là phân tích:
Which Author and Work Greco- Gotho- Celtic Semitic
Tác giả và Tác phẩm Từ gốc Từ gốc Từ gốc Từ gốc được phân tích. Hy-La Germanic Celt Semitic
Analysed. Latin German- Words. Words.
Robert Burton, 1621, Anatomy of Melancholy…… 54 46 0 0
Words. ic words.
John Bunyan, 1682, Pilgrim’s Progress.............................. 31 68 1 0
Robert Burton, A.D. 1621,
Sir Thomas Browne, 1682, Hydriotaphia........................ 51 47 2 0
Anatomy of Melancholy…… 54 46 0 0
Sam. Johnson, 1784, (1780?) Lives of the English Poets. 47 51 2 0
John Bunyan, 1682, Pilgrim’s
R. C. Trench, On the Study of Words........................... 30 68 2 0
Progress.............................. 31 68 1 0
George P. Marsh, Lectures on the English Language, tr. 133............................. 58 41 1 0
Sir Thomas Browne, 1682,
S. A. Allibone, 1872, Crit. Dict. Eng. Literature, etc. 53 46 1 0
Hydriotaphia........................ 51 47 2 0
Darwin, Origin of Species. 53 46 1 0
Sam, Johnson, 1784, (1780?)
H. P. Blavatsky, Isis Unveiled......................... 46 51 1 2
Lives of the English Poets. 47 51 2 0
Nữ hoàng Bệ hạ, Leaves of our Jour. High-lands 36 63 0 1
R. C. Trench, On the Study
1Dường như, do đó, tiếng Anh của Bà Blavatsky thực tế đồng nhất với của Bác sĩ Samuel Johnson, mà có thể nói gần như chuẩn mực cổ điển đến mức người ta có thể mong muốn. Áp dụng phép thử tương tự cho các bài viết tiếng Pháp của Bà, hẳn sẽ chứng minh Bà thuần thục trong việc sử dụng ngôn ngữ tươi đẹp ấy chẳng kém những tác giả Pháp hiện đại vĩ đại nhất.
of Words........................... 30 68 2 0
George P. Marsh, Lectures
on the English Language,
p. 133............................... 58 41 1 0
S. A. Allibone, 1872, Grit.
Dict. Eng. Literature, etc. 53 46 1 0
Darwin, Origin of Species. 53 46 1 0
H. P. Blavatsky, Isis
Unveiled......................... 46 51 1 2
Her Majesty the Queen,
Leaves of our Jour. High-lands 36 63 0 1It seems, therefore, that the English of Madame Blavatsky is practically identical with that of Dr. Samuel Johnson, which one might say is as nearly classically perfect as one could ask. The same test applied to her French writings would, doubtless, prove her to be as facile in the use of that beautiful language as the greatest of modern French authors.
CHAPTER XVI—CHAPTER XVI
DEFINITION OF TERMS—DEFINITION OF TERMS
THEN how are we to regard the authorship of Isis Unveiled, and how H. P. B.? As to the former, it is unquestionably a collaborated work, the production of several distinct writers and not that of H. P. B. alone. My personal observations upon this point are fully borne out by what she herself admits in her explanatory letters to her family, as quoted by Mr. Sinnett, for she says that all the portions which deal with subjects previously unfamiliar to her were either dictated to her by some master or written by her higher self through the brain and hand of her physical body. The question is highly complex, and the exact truth will never be known as to the share which each of the participants had in it. The personality of H. P. B. was the mould in which all the matter was cast, and which, therefore, controlled its form, colouring, and expression, so to say, by its own idiosyncracies, mental as well as physical. For, just as the successive occupiers of the H. P. B. body only modified its habitual handwriting, but did not write their own, [33] so in using the H. P. B. brain, they were forced to allow it to colour their thoughts and arrange their words after a fixed personal fashion peculiar to it. Like as the daylight passing through cathedral windows becomes coloured to the tints of the stained glass, so the thoughts transmitted by them through H. P. B.’s peculiar brain would have to be modified into the literary style and habits of expression to which it had been by her developed. And even common sense teaches us that the closer the natural identity between the possessing intelligence and the intellectual and moral personality controlled, the easier should be the control, the more fluent the composition, the less involved the style. In point of fact what I noticed was this, that at times when the physical H.P.B. was in a state of supreme irascibility, the body was rarely occupied save by the Master whose own pupil and spiritual ward she was, and whose iron will was even stronger than her own; the gentler philosophers keeping aloof. Naturally, I asked why a permanent control was not put upon her fiery temper, and why she should not always be modified into the quiet, self-centred sage that she became under certain obsessions. The answer was that such a course would inevitably lead to her death from apoplexy; the body was vitalised by a fiery and imperious spirit, one which had from childhood brooked no restraint, and if vent were not allowed for the excessive corporeal energy, the result must be fatal. I was told to look into the history of her kinsfolk, the Russian Dolgoroukis, and I would understand what was meant. I did so and found that this princely and warlike family, tracing back to Rurik (ninth century A.D.), had been always distinguished by extreme courage, a daring equal to every emergency, a passionate love of personal independence, and a fearlessness of consequences in the carrying out of its wishes. Prince Yakob, a Senator of Peter the Great, was a type of the family character. Disliking an imperial ukase, he tore it to pieces in full council of the Senate, and when the Tsar threatened to kill him, he replied: “You have but to imitate Alexander, and you will find a Clitus in me.” (Am. Encyc., VI, 551.) This was H. P. B.’s own character to the life, and she more than once told me that she would not be controlled by any power on earth or out of it. The only persons she actually reverenced were the Masters, yet even towards them, she was occasionally so combative that, as above said, in certain of her moods the gentler ones could not, or did not approach her. To get herself into the frame of mind when she could have open intercourse with them had—as she had pathetically assured me—cost her years of the most desperate self-restraint. I doubt if any person had ever entered the Path against greater obstacles or with more self-suppression.
Vậy chúng ta phải nhìn nhận tác quyền của Isis Unveiled và nhìn nhận Bà H. P. B. như thế nào? Về phương diện thứ nhất, không nghi ngờ gì, đó là một tác phẩm cộng soạn, thành phẩm của nhiều người viết riêng biệt chứ không phải của riêng Bà H. P. B. Những quan sát cá nhân của tôi về điểm này hoàn toàn phù hợp với điều chính Bà thừa nhận trong các bức thư giải thích gửi gia đình, do Ông Sinnett trích, vì Bà nói rằng tất cả những phần đề cập đến các chủ đề trước đó Bà chưa quen đều hoặc do một vị thầy nào đó đọc cho Bà chép hoặc do “bản ngã cao” của Bà viết qua bộ não và bàn tay của thể xác Bà. Vấn đề này cực kỳ phức tạp, và sự thật chính xác về phần đóng góp của từng vị tham dự sẽ chẳng bao giờ được biết. Phàm ngã của Bà H. P. B. là cái khuôn trong đó toàn bộ chất liệu được đổ vào, và vì vậy, có thể nói, nó kiểm soát hình thức, sắc thái và biểu đạt của tác phẩm theo tính khí riêng của nó, cả tinh thần lẫn thể chất. Bởi, cũng như những “người cư trú” kế tiếp nhau trong thân thể H. P. B. chỉ sửa đổi lối chữ viết quen thuộc của nó, chứ không viết ra kiểu chữ riêng của họ, thì khi sử dụng bộ não H. P. B., Các Ngài buộc phải để cho nó nhuộm màu tư tưởng của Các Ngài và sắp đặt ngôn từ theo một lối thức cố định cá nhân đặc thù của nó. Cũng như ánh sáng ban ngày đi qua các cửa sổ kính màu của nhà thờ thì bị nhuộm thành những sắc độ của kính màu, tư tưởng do Các Ngài truyền qua bộ não riêng biệt của Bà H. P. B. ắt phải được điều biến thành văn phong và thói quen biểu đạt mà nó đã được Bà bồi đắp. Và ngay thường thức cũng dạy chúng ta rằng sự đồng nhất tự nhiên càng gần giữa trí tuệ chiếm dụng và phàm ngã trí-tuệ-đạo đức bị kiểm soát thì việc kiểm soát càng dễ dàng, lời văn càng lưu loát, văn phong càng ít vòng vo. Thực tế tôi nhận thấy rằng, đôi khi khi thân xác H. P. B. ở trong trạng thái nóng nảy cực độ, thân ấy hiếm khi được chiếm dụng, trừ bởi Vị Chân sư mà Bà là đệ tử và người được Ngài che chở về tinh thần, và ý chí sắt đá của Ngài còn mạnh hơn của Bà; còn các nhà hiền triết dịu dàng hơn thì tránh xa. Tự nhiên, tôi hỏi vì sao không đặt một sự kiểm soát thường trực lên tính khí bốc lửa của Bà, và vì sao Bà không luôn được điều chế thành bậc hiền giả tĩnh tại, tự tại như khi Bà trở nên dưới những lần ám nhập nhất định. Câu trả lời là một lối như vậy ắt đưa đến cái chết do xuất huyết não; thân thể ấy được tiếp sinh lực bởi một tinh thần hùng hực và uy quyền, từ thuở ấu thơ đã không chịu bất kỳ kiềm tỏa nào, và nếu không cho phép xả thoát năng lượng thể chất quá mức, kết quả phải là chí tử. Tôi được bảo hãy xem lịch sử thân tộc của Bà, nhà Dolgorouki của Nga, và tôi sẽ hiểu điều muốn nói. Tôi đã làm và thấy rằng dòng họ hoàng tộc và hiếu chiến này, truy nguyên đến Rurik (thế kỷ IX), luôn nổi bật bởi lòng dũng cảm tột bực, sự táo bạo ứng phó mọi tình thế, tình yêu sôi nổi đối với tự do cá nhân, và sự không sợ hậu quả trong việc thực hiện chí nguyện của mình. Thân vương Yakob, một Thượng nghị sĩ đời Peter Đại Đế, là hình mẫu của khí chất gia tộc. Không ưa một sắc lệnh hoàng đế, ông đã xé nó thành mảnh ngay trước toàn thể Hội đồng Thượng viện, và khi Nga hoàng đe dọa giết ông, ông đáp: “Ngài chỉ cần bắt chước Alexander, và Ngài sẽ thấy một Clitus nơi tôi.” (Am. Encyc., VI, 551.) Đó chính là tính cách của Bà H. P. B. sống động như thật, và hơn một lần Bà bảo tôi rằng Bà sẽ không để bất cứ quyền lực nào trên đất hay ngoài đất kiểm soát mình. Những người duy nhất Bà thực sự tôn kính là các Chân sư, thế mà ngay cả với Các Ngài, đôi khi Bà cũng đấu lực đến mức, như đã nói trên, trong những tâm trạng nhất định của Bà, các vị hiền hòa hơn không thể, hoặc không đến gần Bà. Để đưa mình vào trạng thái tâm mà Bà có thể giao tiếp trực tiếp với Các Ngài—như Bà đã thổ lộ đầy cảm khái với tôi—đã tốn của Bà nhiều năm tự chế quyết liệt nhất. Tôi hoài nghi liệu có ai từng bước vào Thánh Đạo với những chướng ngại lớn hơn hay với sự tự kềm chế nhiều hơn.
Of course, a brain so liable to disturbance was not the best adapted to the supremely delicate business of the mission she had taken upon herself; but the Masters told me it was far and away the best now available, and they must get all they could out of it. She was to them loyalty and devotion personified, and ready to dare and suffer all for the sake of the Cause. Gifted beyond all other persons of her generation with innate psychical powers, and fired with an enthusiasm that ran into fanaticism, she supplied the element of fixity of purpose, which, conjoined with a phenomenal degree of bodily endurance, made her a most powerful, if not a very docile and equable agent. With less turbulence of spirit she would, probably, have turned out less faulty literary work, but instead of lasting seventeen years under the strain, she would, doubtless, have faded out of the body ten years earlier and her later writings have been lost to the world.
Dĩ nhiên, một bộ não dễ bị xáo động như vậy không phải là thích hợp nhất cho công việc hết sức tinh vi của sứ mệnh mà Bà đã đảm đương; nhưng các Chân sư bảo tôi đó vẫn là cái tốt hơn hẳn tất cả những gì hiện có, và Các Ngài phải tận dụng tối đa nó. Đối với Các Ngài, Bà là hiện thân của lòng trung thành và tận hiến, sẵn sàng đương đầu và chịu đựng tất cả vì Sự Nghiệp. Được phú bẩm các năng lực thông linh thiên bẩm vượt xa mọi người đương thời, và được nung cháy bởi một nhiệt thành có khi đến cuồng tín, Bà cung cấp yếu tố “bất di” về chí hướng, thứ mà, kết hợp với sức bền thân xác phi phàm, đã làm Bà thành một tác nhân cực kỳ mạnh mẽ, dù không phải lúc nào cũng nhu thuận và quân bình. Với ít bão tố tinh thần hơn, có lẽ Bà đã cho ra đời những trang văn ít sai sót hơn, nhưng thay vì trụ vững mười bảy năm dưới áp lực, rất có thể Bà đã tàn hơi trong thân xác sớm hơn mười năm, và các trước tác hậu kỳ của Bà đã mất khỏi thế gian.
The fact that the psychic’s personality distinctly modifies the extraneous writing that is done through her agency or intermediation, gives us, it seems to me, a test by which to judge of the genuineness of any communications alleged to have come from Mahâtmâs “M.” or “K. H.” since H. P. B.’s death. While she was alive, their communications always, wherever received or by whomsoever apparently written, resembled her own handwriting to some extent. This is as true of the letters which I phenomenally received on a steamer on the high seas and in railway carriages, as of those which dropped out of space, or otherwise phenomenally reached the hands of Mr. Sinnett, Mr. Hume, and other favoured correspondents of our Eastern teachers. For, wherever she might be, she was the vortex-ring through which they had to work with us in the evolution of our galaxy out of the nebula of modern thought. It did not matter at all whether she were with them in Tibet, or with me in New York, or with Mr. Sinnett at Simla: their co-operative affinity was psychical, hence as unaffected as thought itself, by questions of time and space. We have seen in the phenomenon of letters which were arrested in postal transit, written in, and made to reach me at Philadelphia instead of New York, a striking illustration of this principle in psycho-dynamics (Cf. Chapter II). Bearing this in mind, the important de-duction follows that the probabilities are as an hundred to one that any written communication alleged to be from either of the Masters and received since H.P.B.’s death is open to suspicion if the handwriting is the same as it used to be before that event. [34] Grant the premise, and the conclusion is inevitable. If all Mahâtmâ MSS. In her time had to, and did, resemble in some degree her own handwriting because they were transmitted through her psychical agency, then, of course, none coming to us since May, 1891, should resemble it or would be at all likely to, her agency having ceased and her modifying action upon it having been destroyed. Such writings should now resemble the manuscript of the new agent or agents. Of course, I pre-suppose that the evidence for the genuineness of the writing is satisfactory, as it was in the case of H. P. B., whose transmitted communications were often done by precipitation in one’s presence, or made to come inside sealed covers, which she had not handled, or dropped out of space before one’s eyes, or were otherwise phenomenally produced. The precipitated writings of Slade, Watkins, and various other mediums come under the same category. Neither a resemblance of a Master’s handwriting, nor the fact that there was more or less likeness to that of the supposed intermediary, would be the least evidence, primâ facie, of genuineness; quite the contrary. Unless every reasonable suspicion of bad faith had been eliminated, the mystical message would not be worth the paper it was written upon, nor the time required to read it. Even when the genuineness is beyond doubt, psychical messages are often commonplace and absolutely valueless, save as psychical facts. I, for one, can say that since 1853, when I first knew of these phenomena, I never attached the least importance to any psychical teaching on account of its reputed authorship, its only value being its subject-matter. I strongly advise all my readers to follow the same rule if they would be on the safe side: better far an enlightened scepticism than the most lauded credulity. For remember that probably no one has ever received a line in English from a Master in his own normal handwriting and written by him in the usual way, unless possibly we except the note which K. H. formed in my own hand when he visited me in his physical body, one night in my tent at Lahore, in 1883. I should not care to dogmatise even about that, as I did not see him write it, and he may have created the letter then and there through the H. P. B. aura that went everywhere with me. Besides K. H. and the old Platonist above mentioned, none of the Masters had learnt to write English, and when they did write it, they had to resort to the same abnormal method as that used by H. P. B. at Benares to write the Hindî note, in Devanâgari characters, to Swami Dayânand Saraswati, above alluded to. In this connection the two completely dissimilar handwritings of Mahâtmâ M. in the Isis MSS. of 1875-7 and the Indian letters to sundry persons after 1879, must be kept in mind. When H. P. B. wrote to the Masters, or they to her, on business that was not to be communicated to third parties, it was in an archaic language, said to be “Senzar,” which resembles Tibetan, and which she wrote as fluently as she did Russian, French, or English. In fact, I have preserved a note I received from one of the Masters while in New York, along the top of which is written, in pure Tibetan characters in a sort of gold ink, the word “Sems dpah.” I had shown it to no one all these years, until quite recently at Calcutta, when Pandit Sarat Chandra Das, C.I.E., the Tibetan explorer and scholar, translated it for me as meaning “Of powerful heart”—an honorific title given in Tibet to a Bodhisattva.
Sự kiện phàm ngã của nhà thông linh rõ ràng làm biến đổi các bản văn ngoại lai được thực hiện qua cơ chế hoặc vai trò trung gian của Bà, theo tôi, cho chúng ta một phép thử để phán đoán tính xác thực của mọi thông điệp được cho là đến từ các Mahâtmâ “M.” hay “K. H.” kể từ sau khi H. P. B. qua đời. Khi Bà còn sống, các thông điệp của Các Ngài, bất kể nhận ở đâu hay dường như do ai viết, luôn giống bút tích của chính Bà ở một mức độ nào đó. Điều này đúng với các lá thư mà tôi nhận được theo cách hiện tượng trên một con tàu giữa biển khơi và trong các toa xe lửa, cũng như với các thư rơi xuống từ không trung, hoặc theo những cách hiện tượng khác mà đến tay Ông Sinnett, Ông Hume, và các thông tín viên được ưu ái khác của các Huấn sư Đông phương của chúng ta. Bởi vì, bất kể Bà ở đâu, Bà là vòng xoáy mà qua đó Các Ngài buộc phải tác động với chúng ta trong quá trình tiến hoá của “ngân hà” chúng ta ra khỏi “tinh vân” của tư tưởng hiện đại. Không hề quan trọng việc Bà ở với Các Ngài tại Tây Tạng, hay ở với tôi tại New York, hay với Ông Sinnett ở Simla: sự tương liên phối hợp của Các Ngài là thuộc thông linh, vì thế, cũng như tư tưởng, không chịu ảnh hưởng bởi vấn đề thời gian và không gian. Chúng ta đã thấy, nơi hiện tượng những lá thư bị chặn giữa đường bưu tín, được viết vào và làm cho đến tay tôi ở Philadelphia thay vì New York, một minh hoạ nổi bật cho nguyên lý này trong tâm-động học (Xem Chương II). Ghi nhớ điều này, suy luận quan trọng tiếp theo là khả năng cao gấp một trăm lần rằng bất kỳ thông điệp viết nào được cho là từ một trong các Chân sư và nhận kể từ sau khi H.P.B. qua đời đều đáng ngờ nếu bút tích vẫn giống như trước biến cố ấy. Chấp nhận tiền đề, kết luận là tất yếu. Nếu mọi bản thảo của Mahâtmâ trong thời Bà đều buộc phải, và thực sự, giống ở một mức độ nào đó với bút tích của chính Bà vì chúng được truyền qua cơ chế thông linh của Bà, thì dĩ nhiên, không bản nào đến với chúng ta kể từ tháng Năm, 1891, nên giống như vậy hay có khả năng giống như vậy, do cơ chế của Bà đã chấm dứt và tác động biến đổi của Bà lên đó đã bị triệt tiêu. Những bản viết như thế bây giờ phải giống với bút tích của tân trung gian hay các trung gian mới. Dĩ nhiên, tôi giả định rằng bằng chứng về tính xác thực của bản viết là thoả đáng, như đã từng vậy trong trường hợp của H. P. B., người có các thông điệp được chuyển tải thường được ngưng tụ ngay trước mặt người ta, hoặc được làm cho xuất hiện bên trong các phong bì niêm kín mà Bà không chạm vào, hoặc rơi xuống từ không trung ngay trước mắt người ta, hoặc được sản sinh theo những cách hiện tượng khác. Những bản viết ngưng tụ của Slade, Watkins, và nhiều đồng tử/trung gian khác thuộc cùng một loại. Cả việc giống bút tích của một Chân sư, lẫn việc ít nhiều giống với bút tích của trung gian được cho là đã tham dự, đều tuyệt nhiên không phải là bằng chứng bề ngoài nhỏ nhất của tính xác thực; trái lại mới đúng. Trừ khi mọi nghi ngờ hợp lý về gian ý đã được loại trừ, thông điệp huyền linh ấy sẽ không đáng giá tờ giấy viết nên nó, cũng không đáng thời gian để đọc nó. Ngay cả khi tính xác thực không còn nghi ngờ, các thông điệp thông linh thường tầm thường và hoàn toàn vô giá trị, ngoài giá trị như những sự kiện thông linh. Về phần tôi, kể từ năm 1853, khi tôi lần đầu biết đến những hiện tượng này, tôi chưa từng coi trọng chút nào bất kỳ giáo huấn thông linh nào chỉ vì danh xưng tác giả của nó; giá trị duy nhất của nó là nội dung. Tôi khuyên tất cả độc giả của tôi hãy theo cùng một quy luật nếu muốn ở phía an toàn: thà hoài nghi sáng suốt còn hơn là lòng cả tin được tán dương nhất. Hãy nhớ rằng có lẽ chưa ai từng nhận được một dòng bằng tiếng Anh từ một Chân sư viết bằng bút tích bình thường của Ngài và do chính Ngài viết theo lối thông thường, trừ phi có thể ngoại lệ là tờ giấy nhắn mà Chân sư KH đã tạo bằng chính nét chữ của tôi khi Ngài, trong thể xác của Ngài, đến thăm tôi một đêm trong lều của tôi ở Lahore, năm 1883. Ngay cả về việc đó tôi cũng không muốn giáo điều, vì tôi đã không thấy Ngài viết nó, và có thể Ngài đã tạo lá thư ngay tại chỗ thông qua hào quang của H. P. B. vốn đi theo tôi khắp nơi. Ngoài Chân sư KH và ông lão Platonist đã nói bên trên, không Chân sư nào học viết tiếng Anh, và khi Các Ngài viết, Các Ngài phải dùng cùng phương pháp bất thường mà H. P. B. đã dùng ở Benares để viết bức ghi chú bằng tiếng Hindî, bằng chữ Devanâgari, cho Swami Dayânand Saraswati, như đã nhắc ở trên. Trong mối liên hệ này cần ghi nhớ hai bút tích hoàn toàn không giống nhau của Mahâtmâ M. trong các bản thảo của Isis giai đoạn 1875-7 và trong các thư Ấn Độ gửi cho nhiều người sau năm 1879. Khi H. P. B. viết cho các Chân sư, hoặc Các Ngài viết cho Bà, về những việc không được truyền đạt cho người thứ ba, thì đó là bằng một ngôn ngữ cổ, được nói là “Senzar,” vốn giống Tạng ngữ, và Bà viết lưu loát như tiếng Nga, tiếng Pháp hay tiếng Anh. Thực vậy, tôi còn giữ một tờ giấy nhắn tôi nhận được từ một trong các Chân sư khi ở New York, dọc mép trên có viết, bằng những ký tự Tạng thuần, bằng một thứ mực như vàng, chữ “Sems dpah.” Suốt bao năm tôi không cho ai xem, mãi gần đây ở Calcutta, khi Pandit Sarat Chandra Das, C.I.E., nhà thám hiểm và học giả Tạng ngữ, dịch cho tôi là “Người có tâm dũng mãnh”—một tước hiệu tôn xưng ở Tây Tạng dành cho một vị Bồ-tát.
There,was another and supreme reason why the Masters dare not control and compel H.P.B.’s innate character to be softened and refined into the higher ideal of a benevolent and gentle Sage independently of her own volition. To do so would have been an unlawful interference with her personal Karma—as I may now express it. Like every other human being, she represented, as she then was, a certain personal equation, the fruit of a certain evolutionary progress of her entity. It was its Karma to have been born this time in just such a tumultuous female body and to have the chances thus offered to gain spiritual progress by a life-long combat against its hereditary passions. To have interfered with that by benumbing the violent temper and suppressing the other personal defects of character, would have been a grievous wrong to her without hastening her evolution one whit: it would have been something like the keeping of a hypnotic sensitive perpetually under the hypnotiser’s will, or an invalid permanently stupefied by a narcotic. There were intervals when her body was not occupied by the writing Mahâtmâs, nor her mind absorbed in taking down what was dictated to her: at least I assume it to be so, although I have sometimes been even tempted to suspect that none of us, her colleagues, ever knew the normal H. P. B. at all, but that we just dealt with an artificial animated body, a sort of perpetual psychical mystery, from which the proper jiva was killed out at the battle of Mentana, when she received those five wounds and was picked out of a ditch for dead. There is nothing intrinsically impossible in this theory; since we have the historical fact that the normal personality of the girl Mary Reynolds was thrust aside or obliterated for the space of forty-two years, while her body was occupied, energised and controlled by another personality, which had no knowledge of the eighteen years’ experiences and reminiscences of the normal self prior to this replacement. As regards H. P. B., I do not assert but only theorise, for I dare not say positively who this marvel of a woman, or, as M.deBuffon would have classified her, this homo duplex, was. She was such a bundle of contradictions, so utterly incapable of being classified like any of us common folk, that as a conscientious man I shrink from anything like dogmatic assertion. Whatever she may have said to myself or anybody else, counts with me for very, very little, for having lived and travelled with her so long, and been present at so very many of her interviews with third parties, I have heard her tell the most conflicting stories about herself. To have been open and communicative would have been to betray the residences and personalities of her Teachers to that multitude of self-seekers whose egotistic importunities have ever driven the would-be Yogi to the seclusion of the cave or forest. She chose as the easiest way out of the difficulty to contradict herself and throw the minds of her friends into confusion. How easy it would have been for her, for example, to have told Mr. Sinnett that, when trying to enter Tibet in 1854, via Bhutan or Nepâl, she was turned back by Capt. (now Maj-Genl.) Murray, the military commandant of that part of the frontier, and kept in his house in his wife’s company a whole month. Yet she never did, nor did any of her friends ever hear of the circumstance until Mr. Edge and I got the story from Major-General Murray himself, on the 3rd March last, in the train between Nalhati and Calcutta, and I had printed it. So as to her age, she told all sorts of stories, making herself twenty, forty, even sixty and seventy years older than she really was. We have in our scrap-books certain of these tales, reported by successive interviewers and correspondents to their journals, after personal interviews with her, and on sundry occasions when I was present myself. [35] She said to me in excuse that the Somebodies inside her body at these various times were of these various ages, and hence no real falsehood was told, although the auditor saw only the H.P.B. shell and thought what was said referred only to that!
There,was another and supreme reason tại sao các Chân sư không dám điều khiển và cưỡng bức Tính cách bẩm sinh của H.P.B. phải được làm mềm và tinh luyện thành lý tưởng cao hơn của một bậc Hiền triết nhân từ và nhu hòa, độc lập với ý chí của chính Bà. Làm như thế sẽ là một can thiệp phi pháp vào Nghiệp quả cá nhân của Bà—như giờ đây tôi có thể diễn đạt. Giống như mọi con người khác, Bà, với tình trạng khi ấy, biểu hiện một hằng số cá nhân nhất định, là hoa trái của một mức tiến hoá nhất định của thực thể Bà. Nghiệp của thực thể ấy là được sinh ra lần này trong đúng một thân nữ sôi sục như thế và có những cơ hội như vậy để đạt tiến bộ tinh thần bằng một trận chiến suốt đời chống lại những đam mê di truyền của nó. Can thiệp vào đó bằng cách làm tê liệt tính khí dữ dội và đè nén các khuyết điểm khác của Tính cách sẽ là một sự bất công trầm trọng đối với Bà mà chẳng làm nhanh tiến hoá của Bà dù chỉ một mảy may: nó sẽ giống như việc giữ một người nhạy cảm với thôi miên thường trực dưới ý chí của nhà thôi miên, hoặc một bệnh nhân bị làm đờ đẫn vĩnh viễn bởi một loại thuốc mê. Có những quãng mà thân xác Bà không bị các Mahâtmâ đang viết chiếm dụng, cũng như thể trí Bà không bị cuốn vào việc chép lại những gì được đọc cho Bà: ít ra tôi giả định là như vậy, mặc dù đôi khi tôi còn bị cám dỗ nghi ngờ rằng chẳng ai trong chúng tôi, các đồng sự của Bà, từng biết H. P. B. “bình thường” chút nào, mà chúng tôi chỉ đối diện với một thân thể nhân tạo được linh hoạt, một thứ bí ẩn thông linh thường trực, trong đó jiva đích thực đã bị giết trong trận Mentana, khi Bà lãnh năm vết thương và được kéo lên từ một con mương trong tình trạng chết lâm sàng. Không có gì là bất khả về mặt nội tại trong giả thuyết này; vì chúng ta có sự kiện lịch sử rằng nhân cách bình thường của cô gái Mary Reynolds đã bị gạt sang một bên hay bị loại bỏ suốt bốn mươi hai năm, trong khi thân thể cô bị một nhân cách khác chiếm dụng, tiếp sinh lực và kiểm soát, nhân cách này không biết gì về mười tám năm kinh nghiệm và ký ức của cái ngã bình thường trước khi bị thay thế. Đối với H. P. B., tôi không khẳng định mà chỉ giả thuyết, vì tôi không dám nói dứt khoát rằng người phụ nữ kỳ diệu này là ai, hay, như Ông de Buffon có lẽ đã phân loại, là một homo duplex. Bà là một bó mâu thuẫn, hoàn toàn không thể được xếp loại như bất kỳ ai trong đám thường dân như chúng ta, đến mức với lương tâm, tôi ngại ngần trước mọi lời quả quyết giáo điều. Dù Bà có thể nói với riêng tôi hay bất kỳ ai khác điều gì, đối với tôi cũng chẳng đáng mấy, vì đã sống và du hành lâu năm với Bà, và hiện diện trong rất nhiều cuộc gặp của Bà với người thứ ba, tôi đã nghe Bà kể những câu chuyện mâu thuẫn nhất về chính mình. Mở lòng và cởi mở sẽ là phản bội nơi cư trú và nhân thân của các Huấn sư của Bà trước đám đông những kẻ mưu cầu bản thân, mà sự nài ép vị kỷ của họ xưa nay luôn đẩy những ai muốn làm Yogi vào cảnh ẩn cư nơi hang động hay rừng vắng. Bà chọn con đường dễ nhất để tháo gỡ khó khăn là tự mâu thuẫn mình và làm tâm trí bạn bè lúng túng. Thí dụ, sẽ dễ biết bao cho Bà nếu đã nói với Ông Sinnett rằng, khi cố vào Tây Tạng năm 1854, qua Bhutan hay Nepâl, Bà bị Đại úy (nay là Thiếu tướng) Murray, chỉ huy quân sự khu vực biên giới ấy, chặn lại và giữ trong nhà ông ta, trong sự bầu bạn của phu nhân ông, suốt một tháng. Thế nhưng Bà không hề nói, cũng không ai trong bạn bè Bà từng nghe về việc này cho đến khi Ông Edge và tôi đích thân nghe câu chuyện từ chính Thiếu tướng Murray, ngày 3 tháng Ba vừa qua, trên chuyến tàu giữa Nalhati và Calcutta, và tôi đã cho đăng in. Về tuổi tác của Bà cũng vậy, Bà kể đủ loại chuyện, làm cho mình già hơn hai mươi, bốn mươi, thậm chí sáu mươi và bảy mươi tuổi so với tuổi thật. Chúng tôi có trong các tập cắt dán những câu chuyện ấy, do những người phỏng vấn kế tiếp nhau và các cộng tác viên thuật lại cho các báo của họ sau những cuộc gặp trực tiếp với Bà, và trong nhiều dịp khác khi chính tôi cũng có mặt. Bà giải thích với tôi rằng những “Ai đó” ở bên trong thân thể Bà vào những thời điểm khác nhau thì thuộc các lứa tuổi khác nhau, do đó chẳng có điều gì là nói sai sự thật, dù người nghe chỉ thấy cái vỏ H.P.B. và nghĩ rằng điều được nói chỉ liên quan đến cái đó!
I have used the word “obsession” above, but am well aware of its wretched insufficiency in this case. Both “obsession” and “possession” have been made to signify the troubling of a living person by evil spirits or demons: an obsessed person is one vexed or besieged, a possessed person one who is possessed, controlled, over-shadowed, or occupied by them. Yet what other term is available in English? Why did not the early Fathers invent a more decent word to signify the possession, control, occupancy, or overshadowing of a person by good spirits than that of “filling,” or even let obession and possession stand for that also? “And they were all filled with the Holy Ghost, and began to speak with our tongues, as the spirit gave them utterance.” But this will not help us unless we ignore the circumstance that H. P. B.’s body became, at times, occupied by other entities—how far let the following anecdote suggest. She and I were in our literary workroom in New York one summer day after dinner. It was early twilight, and the gas had not been lighted. She sat over by the South front window, I stood on the rung before the mantle-piece, thinking. I heard her say “Look and learn”; and glancing that way, saw a mist rising from her head and shoulders. Presently it defined itself into the likeness of one of the Mahâtmâs, the one who, latter, gave me the historical turban, but the astral double of which he now wore on his mist-born head. Absorbed in watching the phenomenon, I stood silent and motionless. The shadowy shape only formed for itself the upper half of the torso, and then faded away and was gone; whether re-absorbed into H. P. B.’s body or not, I do not know. She sat statue-like for two or three minutes, after which she sighed, came to herself, and asked me if I had seen anything. When I asked her to explain the phenomenon she refused, saying that it was for me to develop my intuition so as to understand the phenomena of the world I lived in. All she could do was to help in showing me things and let me make what I could of them.
Tôi đã dùng từ “ám ảnh” ở trên, nhưng rất ý thức được sự bất cập khốn khổ của nó trong trường hợp này. Cả “ám ảnh” lẫn “nhập xác/chiếm hữu” đều đã bị dùng để chỉ việc một người sống bị các ác linh hay ma quỷ quấy nhiễu: người bị ám ảnh là kẻ bị quấy nhiễu hay bị vây hãm, còn người bị chiếm hữu là người bị chúng chiếm hữu, kiểm soát, phủ bóng hay chiếm dụng. Tuy nhiên, trong tiếng Anh còn từ nào khác dùng được? Tại sao các Giáo phụ sơ kỳ không sáng tạo một từ đoan chính hơn để chỉ việc một người được các linh thể thiện lành chiếm hữu, kiểm soát, chiếm dụng hay phủ bóng, hơn là dùng chữ “đầy dẫy,” hay chí ít là để cho “ám ảnh” và “chiếm hữu” cũng mang nghĩa đó? “Và họ đều đầy dẫy Chúa Thánh Thần, và bắt đầu nói bằng các tiếng của chúng ta, theo như Thần linh ban cho họ nói ra.” Nhưng điều này sẽ chẳng giúp chúng ta trừ phi ta bỏ qua sự kiện rằng thân xác H. P. B. đôi lúc bị các thực thể khác chiếm dụng—mức độ đến đâu, hãy để giai thoại sau gợi ý. Một ngày hè sau bữa tối, hai chúng tôi đang ở trong phòng làm việc văn chương tại New York. Chập choạng tối, đèn ga chưa bật. Bà ngồi gần cửa sổ phía Nam nhìn ra trước, tôi đứng trên thanh ngang trước lò sưởi, trầm ngâm. Tôi nghe Bà nói “Hãy nhìn và học”; liếc về phía ấy, tôi thấy một làn sương bốc lên từ đầu và vai Bà. Chẳng mấy chốc nó định hình thành chân dung một trong các Mahâtmâ, vị mà sau này tặng cho tôi chiếc khăn xếp lịch sử, còn bây giờ đội trên đầu sương khói là song bản cảm dục của chính chiếc khăn ấy. Mải quan sát hiện tượng, tôi đứng im lặng bất động. Hình bóng mờ nhạt chỉ tự tạo ra nửa thân trên, rồi phai dần và biến mất; có bị tái hấp thu vào thân thể H. P. B. hay không, tôi không biết. Bà ngồi như tượng chừng hai ba phút, sau đó thở dài, tỉnh lại, và hỏi tôi có thấy gì không. Khi tôi yêu cầu Bà giải thích hiện tượng, Bà từ chối, nói rằng phần của tôi là tự phát triển trực giác để thấu hiệu các hiện tượng của thế giới tôi đang sống. Tất cả những gì Bà có thể làm là giúp cho tôi thấy những điều đó và để tôi tự rút ra điều có thể.
Numerous witnesses can testify to another phenomenon which may or may not go towards proving that other entities were sometimes occupying the H. P. B. body. On five different occasions—once to please Miss Emily Kislingbury, and once my sister, Mrs. Mitchell, I remember—she gathered up a lock of her fine, wavy auburn hair, and either pulled it out by the roots or cut it off with scissors, and gave it to one of us. But the lock would be coarse, jet black, straight and without the least curliness or waviness in it; in other words, Hindu or other Asiatic human hair, and not in the least like her own flossy, baby-like, light-brown locks. My Diary for 1878 shows that other two occasions were on July 9th, when she did the thing for Hon. J.L. O’Sullivan, ex-U.S. Minister to Portugal, and on November 19th, when she did it for Miss Rosa Bates in the presence of six other witnesses besides Miss Bates and H.P.B. and myself. The enemy may suggest that this was but a trick of simple “palming,” but that is met by the statement that in the case of the lock given to Miss Kislingbury or my sister—I forget which—the recipient was allowed to take the scissors and cut out the lock herself. I have two locks taken from her head, both black as jet and far coarser than hers, but one distinctly coarser than the other. The former is Egyptian, and the latter Hindu hair.What better explanation of this phenomenon is there than that of supposing that the men to whom these black locks had belonged were actually occupying the mâyâvic H. P. B. body when they were removed from the head? But to return to our philological difficulty.
Rất nhiều nhân chứng có thể làm chứng cho một hiện tượng khác, mà có thể hoặc không thể góp phần chứng minh rằng đôi khi có các thực thể khác chiếm dụng thân thể H. P. B. Trong năm dịp khác nhau—một lần để chiều lòng Cô Emily Kislingbury, và một lần cho chị tôi, Bà Mitchell, tôi nhớ vậy—Bà gom một lọn tóc mịn, gợn sóng, màu hung nâu của Bà, rồi hoặc nhổ cả chân tóc hoặc cắt bằng kéo, và tặng cho một trong chúng tôi. Nhưng lọn tóc ấy lại thô, đen tuyền, duỗi thẳng, không gợn sóng hay uốn lọn chút nào; nói cách khác, là tóc người Ấn hay các chủng Á châu khác, hoàn toàn không giống chút nào với các lọn tóc tơ mềm, như tóc trẻ thơ, màu nâu nhạt của chính Bà. Nhật ký năm 1878 của tôi cho thấy hai dịp khác là ngày 9 tháng Bảy, khi Bà làm việc này cho Ngài J. L. O’Sullivan, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Bồ Đào Nha, và ngày 19 tháng Mười Một, khi Bà làm việc này cho Cô Rosa Bates trước sự hiện diện của sáu nhân chứng khác ngoài Cô Bates, H.P.B. và tôi. Kẻ đối nghịch có thể nói rằng đó chỉ là một trò “giấu trong lòng bàn tay” đơn giản, nhưng điều đó bị hoá giải bởi lời xác quyết rằng trong trường hợp lọn tóc cho Cô Kislingbury hay chị tôi—tôi quên rồi—người nhận được phép tự cầm kéo và tự cắt lọn tóc. Tôi có hai lọn lấy từ đầu Bà, cả hai đều đen tuyền và thô hơn tóc Bà nhiều, nhưng một lọn thô thấy rõ hơn lọn kia. Lọn trước là tóc Ai Cập, còn lọn sau là tóc Ấn Độ. Còn lời giải thích nào hay hơn cho hiện tượng này ngoài giả thuyết rằng những người đàn ông mà các lọn tóc đen ấy thuộc về thực sự đang chiếm dụng thân mâyâvic của H. P. B. vào lúc chúng được lấy khỏi đầu? Nhưng xin trở lại khó khăn về ngữ văn của chúng ta.
—
The word epistasis will not do for us; for that means “inspection, superintendence, command, management,” which does not cover the case. Epiphany is not much better, epiphaneia being a shining upon, manifestation, etc., etc. We have no word; yet one is greatly needed at this stage of our psychical research, and for it we must go to the East.
Từ epistasis không dùng được cho chúng ta; vì nó có nghĩa “giám sát, trông nom, mệnh lệnh, quản trị,” những nghĩa ấy không bao trùm trường hợp này. Epiphany cũng chẳng khá hơn là bao, epiphaneia là sự chiếu rọi, biểu lộ, v.v. Chúng ta không có từ; vậy mà ở giai đoạn nghiên cứu thông linh này, ta lại rất cần, và để có nó ta phải tìm đến phương Đông.
This occupancy by living persons of another living person’s body, though so outside our Western experience that we have no word for it is, like all else in psychological science, known and defined in India. Âvesa (pronounced Ahveysha) is the act of possessing, i.e., entering and controlling, a human body belonging to a living being (jîva). It is of two kinds: when the Adept’s own amsa (sûkshma sarîra), or astral body, is withdrawn from his own physical body and introduced into the other person’s body, it is then called svarûpâvesa; but when by his mere sankalpa (will-power) he influences, broods over, or controls that other person’s (jîva) body to do that which would otherwise be beyond its power, e.g., to speak an unlearnt foreign tongue, to understand unfamiliar branches of knowledge, to instantly disappear from the sight of bystanders, to transform itself into a terrifying shape, as of a serpent or a ferocious animal, etc., then the thing is called saktyâvesa. This gives us all we need, and so, as we took “Epiphany” from the Greek, why should we not all agree to adopt the easy word Âvesa from the Sanskrit, since it is ready to our hand and means the very thing that we, toddling babes in the nursery of adeptship, must have to get on with in our studies? It applies only to the psychical commerce between two living persons or to the overshadowing and inspiration of a living person by a superior spiritual entity, and must not be degraded to signify the occupancy of a medium’s body or its control for the production of phenomena, by a dead man’s soul. That is called grâhana, and the elementary (dead man’s soul) grâham (pronounced grah-hum). The same word is used to express the occupancy of a living body by an elemental, or Nature-spirit. Such occupancy may be (a) spontaneous, i.e., effected by the attraction of the elemental towards a psychic; or (b) compulsory, i.e., compelled by the will of a sorcerer or magician who has learnt the formulas for subjecting an elemental or elementary to his control. I got in Japan a photograph of a bronze group representing Ko-bo-dai-shi, the alleged Adept founder of the Shingon sect, with two little elementals crouched at his feet and awaiting his pleasure. A monk of the Yama-busi sect—that of the wonder-workers of Japan—gave me a scroll wall-painting of the Founder of his sect with attendant elemental servants. This picture now hangs in H.P.B.’s old room in London. She, herself, had also such servants obedient to her.There is an old and amusing Indian story of how King Vikramâdity conquered the obstinacy of the Princess Pçsâmadandç who had made a vow to keep silent and marry noboby who could not compel her to answer his questions. The mighty king magician got astride his favourite elementary—not elemental—the Brahmarâkshâs Bhetâla, and made him transport him into the very chamber of the lady. Finding that she would not answer him in the natural way, he made Bhetla obsess all her ladies-in-waiting and set them to praising him, telling him a story, and reproaching their mistress for her silence. Thereupon she sent them out of the room. The Princess then drew a curtain between herself and the king, but the spirit was made to enter the curtain and set it talking. The Princess pushed the curtain aside; whereupon her petticoat took up the conversation, and she cast that aside. Then the robe was made to speak, then the undergarment, then the for-legs of her charpai or lounge; but the stubborn damsel held her tongue. Finally Bhetâla was made to show (materialise) himself as a parrot, was caught by the Princess’s order and given to her, and it straightway went on to tell a story about the Princess being obsessed by Sani, the god of ill Luck. This was too much for her; she flung herself at Vikram’s feet, confessed herself vanquished, and as he did not want her for wife, was given by him in marriage to a suitable Prince. The story is given in Pçsâmadandç Kathai, a Tamil story book.The weighty subject of Âvesa is treated of in the Laghu Sabdârtha Sarvasva of Mahâmahopâdhyâya Paravastu Vencatarungâchârya, Vol. I, p. 316, art. Avatâra. All intelligent Western readers of theosophical literature have heard of the Hindu theory of Avatârs—the Avatârs of Vishnu, the visible manifestations of the protecting care of God over erring mankind, the proofs of his desire to keep them walking in the path of religious aspiration. Avatâras are of two kinds: Prâdurbhâva and Âvesa. The act of assuming a body which is not presided over, or rather animated by, a jîva, is called Prâdurbhâva, of which Râma and Krishna are cited as examples. What Âvesa is, has been shown above. We find in Pâncharâtra Pâdmasamhitâ Charyâpada, Chapter XXIV, verses 131-140, full instructions for performing the Âvesa:
Việc người sống chiếm dụng thân của một người sống khác, tuy vượt ngoài kinh nghiệm Tây phương đến nỗi ta không có từ gọi, nhưng, như mọi điều khác trong khoa học tâm lý, lại được biết và được định nghĩa ở Ấn Độ. Âvesa (phát âm Ah-vây-sha) là hành vi chiếm hữu, tức là đi vào và kiểm soát một thân người thuộc về một sinh linh (jîva) còn sống. Nó có hai dạng: khi amsa (sûkshma śarîra), hay thể cảm dục, của chính vị Chân sư được rút khỏi thân xác của chính Ngài và đưa vào thân của người kia, thì gọi là svarûpâvesa; còn khi chỉ bằng sankalpa (ý chí) của mình, Ngài ảnh hưởng, phủ trùm, hay kiểm soát thân (jîva) của người kia để làm những điều vốn vượt ngoài khả năng của nó, thí dụ nói một ngoại ngữ chưa học, hiểu các ngành tri thức không quen thuộc, tức khắc biến khỏi tầm mắt người đứng gần, biến hình thành một dạng đáng sợ, như rắn hay một thú dữ, v.v., thì việc ấy được gọi là saktyâvesa. Như vậy là đủ cho chúng ta, nên cũng như ta đã mượn “Epiphany” từ tiếng Hy Lạp, tại sao chúng ta không cùng đồng ý mượn từ Âvesa dễ dùng từ tiếng Sanskrit, bởi nó sẵn có và diễn đúng điều mà chúng ta—những đứa trẻ chập chững trong vườn ươm của con đường thành chân sư—buộc phải có để tiếp tục học tập? Thuật ngữ này chỉ áp dụng cho giao lưu thông linh giữa hai người sống hoặc cho việc phủ bóng và cảm hứng của một người sống bởi một thực thể tinh thần cao vượt, và không được hạ thấp để chỉ việc một đồng tử/trung gian bị hồn người chết chiếm dụng hoặc bị kiểm soát để làm hiện tượng. Việc đó gọi là grâhana, và linh thể sơ đẳng (hồn người chết) là grâham (phát âm grah-hum). Cùng từ này cũng dùng để chỉ việc một thân sống bị một hành khí, hay Tinh linh Tự nhiên, chiếm dụng. Sự chiếm dụng như vậy có thể (a) tự phát, tức do sự hấp dẫn của hành khí đối với một người thông linh; hoặc (b) cưỡng bức, tức bị buộc bởi ý chí của một pháp sư hay nhà huyền thuật đã học các công thức khuất phục một hành khí hay một linh thể sơ đẳng dưới quyền kiểm soát của mình. Tôi có được ở Nhật một bức ảnh chụp nhóm tượng đồng khắc hoạ Ko-bo-dai-shi, vị được cho là Chân sư sáng lập tông Shingon, với hai tiểu hành khí phủ phục dưới chân, chờ lệnh Ngài. Một vị tăng của phái Yama-busi—phái những người làm phép lạ ở Nhật—tặng tôi một bức hoạ cuộn treo tường vẽ vị Sáng Tổ của tông phái ông với những hành khí hầu cận. Bức này hiện treo trong phòng cũ của H.P.B. ở London. Chính Bà cũng có những “đầy tớ” như vậy vâng lệnh Bà. Có một chuyện Ấn Độ xưa rất thú vị kể vua Vikramâdity đã chế phục sự bướng bỉnh của Công chúa Pçsâmadandç như thế nào—người đã thề giữ im lặng và sẽ không cưới ai không thể buộc nàng phải trả lời câu hỏi của hắn. Vị vua pháp sư uy mãnh cưỡi lên linh thể yêu thích của mình—không phải hành khí—là Brahmarâkshâs Bhetâla, và sai nó đưa ông đến ngay trong phòng riêng của nàng. Thấy nàng không chịu trả lời theo lối tự nhiên, ông bắt Bhetâla ám nhập hết các thị nữ và sai họ tán tụng ông, kể cho ông nghe một câu chuyện, và trách mắng chủ nhân vì giữ im lặng. Lập tức nàng đuổi họ ra khỏi phòng. Công chúa rồi kéo rèm ngăn giữa mình và nhà vua, nhưng linh thể liền bị buộc nhập vào bức rèm và làm nó cất tiếng nói. Công chúa hất rèm sang một bên; lập tức chiếc váy của nàng tiếp lời, và nàng cởi phăng nó. Rồi áo choàng được làm cho nói, rồi đến nội y, rồi bốn chân chiếc charpai hay giường nằm; nhưng cô gái cứng đầu vẫn câm lặng. Cuối cùng Bhetâla được làm cho hiện hình như một con vẹt, bị bắt theo lệnh Công chúa và đưa cho nàng, và nó lập tức kể một câu chuyện về việc Công chúa bị thần Sani, thần Xui xẻo, ám nhập. Điều này quá sức chịu đựng của nàng; nàng gieo mình dưới chân Vikram, nhận thua, và vì ông không muốn nàng làm vợ, nàng được ông gả cho một vị Hoàng tử xứng đáng. Câu chuyện chép trong Pçsâmadandç Kathai, một sách truyện bằng tiếng Tamil. Chủ đề trọng yếu về Âvesa được luận trong Laghu Sabdârtha Sarvasva của Mahâmahopâdhyâya Paravastu Vencatarungâchârya, Tập I, tr. 316, mục Avatâra. Tất cả độc giả Tây phương thông hiểu văn hệ Thông Thiên Học đều đã nghe về thuyết Hoá thân của Ấn Độ—những Hoá thân của Vishnu, sự biểu hiện hữu hình của sự che chở của Thượng đế đối với nhân loại lầm lỗi, những bằng chứng về ước muốn của Ngài nhằm giữ họ bước đi trên con đường ngưỡng vọng tôn giáo. Avatâra có hai loại: Prâdurbhâva và Âvesa. Hành vi khoác lấy một thân không có jîva chủ trì, hay đúng hơn là không có jîva sinh hứng, được gọi là Prâdurbhâva, mà Râma và Krishna được dẫn như các thí dụ. Âvesa là gì, đã được trình bày ở trên. Chúng ta tìm thấy trong Pâncharâtra Pâdmasamhitâ Charyâpada, Chương XXIV, câu 131-140, chỉ dẫn đầy đủ về cách thực hiện Âvesa:
“I now tell thee, O Lotus-born, the method by which to enter another’s body (Pindam).... The corpse to be occupied should be fresh, pure, of middle age, endued with all good qualities and free from the awful diseases resulting from sin (viz., syphilis, leprosy, etc.) The body should be that of a Brahmin or even of a Kshatriya. It should be laid out in some secluded place (where there is no risk of interruption during the ceremonial process), with its face turned towards the sky and its legs straightened out. Beside its legs, shouldst thou seat thyself in Yogâsana (a posture of yoga), but previously, O four-faced one, shouldst thou with fixed and mental concentration, have long exercised this yogapower. The jîva is located in the nâbhichakra (solar plexus), is of itself radiant as the sun and of the form of hamsa (a bird) [36] and it moves along the Idâ and Pingala nâdis (two alleged channels of psychic circulation). Having been concentrated as hamsa (by yoga), it will pass out through the nostrils, and, like a bird, dart through space. Thou shouldst accustom thyself to this exercise, sending out the Prâna to the height of a palm-tree, and causing it to travel a mile, or five miles or more, and then re-attracting it into thy body, which it must re-enter as it left it, through the nostrils, and restore it to its natural centre in the nâbhichakra. This must be practised daily until perfection be reached.”
“Giờ Ta nói với Ngươi, hỡi Đấng Sinh từ Hoa Sen, phương pháp để nhập vào thân (Pindam) của kẻ khác.... Thi thể sẽ bị chiếm dụng phải còn tươi, thanh tịnh, lứa tuổi trung niên, có đủ mọi phẩm chất tốt và không mắc những bệnh khủng khiếp do tội lỗi (như giang mai, phong, v.v.) Thân đó nên là của một Bà-la-môn hay thậm chí của một Sát-đế-lỵ. Thi thể phải được đặt ở nơi hẻo lánh (nơi không có nguy cơ bị gián đoạn trong quá trình nghi lễ), mặt hướng lên trời và chân duỗi thẳng. Bên cạnh chân, Ngươi nên ngồi trong Yogâsana (một tư thế yoga), nhưng trước đó, hỡi Đấng Bốn Mặt, Ngươi phải với sự nhất tâm cố định và an trú trong trí, lâu ngày luyện công lực yoga này. Jîva cư trú ở nâbhichakra (tùng thái dương), tự nó sáng chói như mặt trời và có hình hamsa (một loài chim) và nó vận hành dọc theo các nadi Idâ và Pingala (hai kinh mạch được cho là của lưu thông thông linh). Sau khi được định như hamsa (bằng yoga), nó sẽ thoát ra qua các lỗ mũi, và, như chim, lao qua không trung. Ngươi phải tập quen với pháp luyện này, đưa Prâna ra xa lên cao bằng thân cây cọ, và khiến nó di chuyển một dặm, hay năm dặm hoặc hơn, rồi lại kéo nó trở vào thân mình, phải trở vào đúng như lúc nó đi ra, qua các lỗ mũi, và đưa nó về trung tâm tự nhiên của nó ở nâbhichakra. Phải luyện tập mỗi ngày cho đến khi đạt viên mãn.”
Then, having acquired the requisite skill, the Yogi may attempt the experiment of psychical transfer and, seated as above described, he will be able to withdraw his Prâna-jiva from his own body, and introduce it into the chosen corpse, by the path of the nostrils, until it reaches the empty solar-plexus, there establishes its residence, reanimates the deceased person, and causes him to be seen as though “risen from the dead.”
Sau đó, khi đã đạt kỹ xảo cần thiết, vị Yogi có thể thử nghiệm việc chuyển dịch thông linh, và, ngồi như đã mô tả, Ngài sẽ có thể rút Prâna-jîva của mình khỏi thân riêng, và đưa nó vào thi thể đã chọn, theo lối qua các lỗ mũi, cho đến khi nó đến tùng thái dương trống rỗng, ở đó an trụ, làm cho người chết sống lại, và làm cho ông ta hiện ra như thể “đã từ cõi chết sống dậy.”
The story of the resuscitation of the body of the deceased Rajah Amaraka of Amritapura by the Sage Sankarâchârya, given by Mâdhava, one of his biographers, has been very widely read. A résumé of it will be found in the article “Life of Sankarâchârya, etc.,” contributed by Mr. (later Justice) K. T. Telang, on page 89 of the number of the Theosophist for January, 1880. The Sage had pledged himself, if granted one month’s respite, to answer questions propounded to him by the wife of Sage Mandana Misra upon the science of Love, with which he, a celibate from childhood, was totally unacquainted. Journeying with his disciples, he reached the vicinity of Amritapura ard saw the Rajah’s corpse lying at the foot of a tree, surrounded by mourners. This was his chance to acquire the desired knowledge practically, so leaving his body to the care of his disciples, he withdrew from it his prâna-jîva, entered the body of the King, and amid the tumultuous joy of his sub-jects over the supposed resuscitation, went to the capital and for some time lived the usual Zenana life of a sovereign ruler, and finally answered the questions about love. [37] The details need not be given here, my object being merely to use the incident in connection with the problem of H. P. B., as an illustration of the recognised power of Âvesa possessed by a Yogi. Mâdhavâchârya’s Sankaravijaya thus describes it:
Câu chuyện làm sống lại thân thể của Vua Amaraka của Amritapura đã qua đời bởi bậc Hiền triết Sankarâchârya, do Mâdhava, một trong các vị viết tiểu sử của Ngài, đã được đọc rất rộng rãi. Có thể xem tóm lược trong bài “Đời sống của Sankarâchârya, v.v.,” do Ông (sau này Thẩm phán) K. T. Telang đóng góp, ở trang 89 số báo Theosophist tháng Giêng, 1880. Vị Hiền triết đã hứa nếu được hoãn một tháng sẽ trả lời các câu hỏi do phu nhân của Hiền triết Mandana Misra nêu ra về khoa Học Yêu, điều mà Ngài, một người khép mình sống độc thân từ thơ ấu, hoàn toàn không tường. Cùng các đệ tử đi đường, Ngài đến gần Amritapura và thấy thi thể nhà Vua nằm dưới gốc cây, vây quanh bởi thân quyến than khóc. Đây là cơ hội để trực nghiệm tri thức mình mong đợi, nên Ngài giao thân xác mình cho các đệ tử gìn giữ, rút prâna-jîva ra khỏi đó, nhập vào thân Vua, và giữa niềm hoan hỉ náo động của thần dân trước sự hồi sinh được ngộ nhận, Ngài đến kinh đô và trong một thời gian sống đời nội cung thường lệ của một bậc quân vương, và rốt cuộc đã trả lời các câu hỏi về tình yêu. Chi tiết không cần trình bày ở đây, mục đích của tôi chỉ là dùng tình tiết này, liên hệ với vấn đề về H. P. B., làm một minh họa cho năng lực Âvesa được thừa nhận của một vị Yogi. Sankaravijaya của Mâdhavâchârya mô tả như sau:
“Withdrawing the (Prâna) Vâyu from the extremities of the toes and emerging through the brahmarândhra, the knower of Yoga (Sankara) entered, and, by slow degrees, occupied the whole body of the dead (King) down to its very feet.”
“Rút (Prâna) Vâyu từ các đầu ngón chân và thoát ra qua brahmarândhra, bậc am tường Yoga (Sankara) tiến nhập, và, từng bước một, chiếm lĩnh toàn thân thể của (Vua) quá vãng tới tận các ngón chân.”
By an interesting coincidence, I had just read this passage when a certain circumstance flashed into my memory, and I turned over my old New York files of letters and memoranda until I had found the following. It occurs in some notes I made at the time, of a conversation between myself and one of the Mahâtmâs, a Hungarian by birth, who, on that evening, occupied H. P. B’s body:
Trùng hợp thú vị là, tôi vừa đọc đoạn này thì một tình tiết nào đó vụt hiện trong ký ức, và tôi lục lại các hồ sơ cũ ở New York gồm thư từ và bút ký cho đến khi tìm được điều sau đây. Nó nằm trong vài ghi chép tôi đã làm vào lúc đó, một cuộc đối thoại giữa tôi và một vị Mahâtmâ, người gốc Hung, tối hôm ấy đang chiếm dụng thân của H. P. B.:
“He shades his eyes and turns down the gas in the standing burner on the table. Ask him why. Says that light is a physical force, and entering the eye of an unoccupied body, encounters—i.e., strikes against, the astral soul of the temporary occupant, gives it a shock and such a push that the occupant might be pushed out. Paralysis of the occupied body is even possible. Extreme caution must be used in entering a body, and one cannot thoroughly fit oneself to it throughout until the automatic movements of the circulation, breathing, etc., adjust themselves to the automatism of the occupier’s own body—with which, however far distant, his projected astral body is most intimately related. I then lit a burner of the chandelier overhead, but the occupier at once held a newspaper so as to shade the crown of the head from the light. Surprised, I asked for an explanation, and was told that it was even more dangerous to have a strong top light strike upon the crown of the head than to have light shine into the eyes.”I knew nothing then about the six vital centres (shat chakrams) of the body; nor was I aware that the most important of them, the brahmarândhra, was under the parietal bones; nor that it is the custom in India to, break the skull of the burning corpse at that place to facilitate the withdrawal of the astral body of the deceased: moreover, I had not then read the story of Sankarâchârya’s leaving his own body and entering that of the deceased Rajah by that path of the soul. I simply saw what the Mahâtmâ did, and wondered over his explanation; but now, in the fulness of time, the mystery is cleared up and the cases of New York and Amritapura are mutually related. By the light of the latter and the teachings of Aryan occult science, one can more readily comprehend the mystery of the former. Whereas before all was dark, and we had not even a name at our disposal to explain the fact, we can now see that it is possible for anyone versed in Yoga to occupy the body of another living person, when the astral body of its owner has been withdrawn and the empty house is placed at the disposal of visiting friends. The bearing which this matter has upon the problem of H. P. B. is most evident; as I shall try to show in the next chapter.
“Ngài che mắt và vặn nhỏ ngọn đèn ở cây đèn đứng trên bàn. Hỏi Ngài vì sao. Ngài nói ánh sáng là một mãnh lực hồng trần, và khi đi vào mắt của một thân thể rỗng, nó gặp—tức đụng vào—linh hồn cảm dục của vị khách tạm thời, khiến linh hồn ấy bị chấn động và bị đẩy mạnh đến mức có thể bị hất văng ra. Thậm chí có thể gây tê liệt cho thân bị chiếm dụng. Cực kỳ cẩn trọng là điều bắt buộc khi nhập vào một thân, và người ta không thể hoàn toàn thích ứng mình với thân ấy cho đến khi các chuyển động tự động của tuần hoàn, hô hấp, v.v., tự điều chỉnh với tự động tính của chính thân của người chiếm dụng—mà với thân ấy, dù ở cách xa, thể cảm dục được phóng chiếu của người chiếm dụng vẫn liên hệ mật thiết nhất. Khi ấy tôi thắp một ngọn ở chùm đèn phía trên, nhưng người chiếm dụng lập tức giơ tờ báo che đỉnh đầu khỏi ánh sáng. Tôi ngạc nhiên, hỏi giải thích, và được cho biết còn nguy hiểm hơn khi để một luồng sáng mạnh chiếu trực tiếp lên đỉnh đầu so với việc để ánh sáng chiếu vào mắt.” Lúc đó tôi chưa biết gì về sáu trung tâm sinh lực (shat chakrams) của thân; cũng không hay rằng quan trọng nhất trong số đó, brahmarândhra, nằm dưới các xương đỉnh; cũng chưa biết phong tục ở Ấn là đập vỡ hộp sọ của thi thể đang hoả táng tại vị trí ấy để tạo thuận lợi cho sự rút lui của thể cảm dục của người quá cố: hơn nữa, tôi khi ấy cũng chưa đọc câu chuyện về việc Sankarâchârya rời thân mình và nhập vào thân vị Vua đã mất theo con đường của linh hồn ấy. Tôi chỉ thấy những gì vị Mahâtmâ làm, và ngạc nhiên trước giải thích của Ngài; nhưng giờ đây, khi thời cơ đã chín muồi, điều bí ẩn đã được sáng tỏ và hai trường hợp New York và Amritapura có liên hệ hỗ tương. Nhờ ánh sáng của trường hợp sau và giáo lý của khoa học huyền bí Arya, người ta có thể dễ thấu hiểu hơn điều bí ẩn của trường hợp trước. Trong khi trước đây mọi thứ đều mù mịt, và ta thậm chí không có nổi một tên gọi để giải thích sự kiện, thì nay ta có thể thấy rằng bất cứ ai tinh thông Yoga đều có thể chiếm dụng thân của một người sống khác, khi thể cảm dục của chủ thân đã được rút lui và căn nhà trống được đặt dưới quyền sử dụng của những người bạn đến thăm. Tác động của vấn đề này đối với bài toán H. P. B. là điều quá hiển nhiên; như tôi sẽ cố gắng trình bày trong chương kế tiếp.
CHAPTER XVII—CHAPTER XVII
REINCARNATION—TÁI SINH
THE first effect of proving the collaborate nature of Isis Unveiled, is to confirm our critical view of its registered author: she remains a mental prodigy, yet drops out of the literary class which includes such giants of acquired knowledge as Aristotle, Longinus, Buddaghosha, Hiouen Thsang, Alberuni, Mâdhavâchârya, Nasireddin—the Persian philosopher and cyclopædist—and in modern times, Leibnitz, Voltaire, Spencer, etc. The justness of her self-estimate is shown, and without ranking as erudite, she becomes an almost unique problem among Western people. If the theory of Bacon’s authorship of Shakespeare’s plays be disproved, then Shakespeare’s production of them, when his vagabond disposition and commonplace character are taken into account, rather supports than contradicts the theory that, like H. P. B., he was but an agent of greater, unseen, living intellects, who controlled his body and used it to write things far beyond his normal capacity. The comparison is to his advantage, because we find in his works a far deeper aquaintance with human nature and wider grasp of intuitive knowledge than in hers. His natural mind (or that which was drawn from) seems to have contained from the beginning all that he would ever be obliged to utilise; whereas she appears to have been the subject of a distinct mental evolution. Take, for instance, her teachings on Re-incarnation, the strong foundation-stone of the ancient occult philosophy, which was affirmed in the Secret Doctrine and her other later writings. When we worked on Isis it was neither taught us by the Mahâtmâs nor supported by her in literary controversies or private discussions of those earlier days. She held to, and defended, the theory that human souls, after death, passed on by a course of purificatory evolution to other and more spiritualised planets. I have notes of a conversation between a Mahâtmâ and myself in which this same theory is affirmed. And this puzzles me most of all; for, while it is quite conceivable that, either through imperfect cerebro-psychic training, or otherwise, she, the pupil and psychic agent, might not have known the solid philosophical basis of the Re-incarnation theory, I can scarcely see how the like ignorance could extend to the Adept and Teacher. Is it possible that Re-incarnation was not taught this Adept by his Master, and that he, as well as H. P. B., had to learn it subsequently? There are said to be sixty-three stages of Adeptship, and it is not impossible. There are, among them, I was told, men who are great natural psychics yet almost illiterate; and at least one who, like Buddha’s favourite, Ananda, possesses no Siddhis, yet is so intuitional as to be able to understand all esoteric writings at sight. My notes report the Teacher as telling me that “Souls go hence after death to other planets. Souls that are to be born on this Earth are waiting in other invisible planets.” These two statements agree with the latest teachings of H. P. B., the planets in question at either end of the soul’s earthly habitation being members of our “chain of globes.” But there is left a vast hiatus between the two extremes, that we now understand to be filled with the multitudinous evolutionary re-births of the travelling entity. Let the note stand as it is, but H. P. B., in Isis (Vol. I, p. 351) says most unequivocally:
Tác động đầu tiên của việc chứng minh tính đồng tác của Isis Unveiled là xác nhận cái nhìn phê bình của chúng ta về tác giả đã đăng ký: Bà vẫn là một kỳ tài trí tuệ, nhưng không còn thuộc về hạng văn gia bao gồm những người khổng lồ của tri thức tích lũy như Aristotle, Longinus, Buddaghosha, Hiouen Thsang, Alberuni, Mâdhavâchârya, Nasireddin—và thời cận đại, Leibnitz, Voltaire, Spencer, v.v. Sự công bằng trong tự ước định của Bà được bộc lộ, và dù không xếp vào hạng uyên bác, Bà trở thành một bài toán gần như độc nhất giữa người Tây phương. Nếu thuyết cho rằng Bacon là tác giả các vở kịch của Shakespeare bị bác bỏ, thì việc Shakespeare đã sáng tác các vở ấy—khi xét đến tính phóng đãng và Tính cách bình thường của Ông—lại càng hậu thuẫn hơn là phản bác thuyết cho rằng, giống như H. P. B., Ông chỉ là một khí cụ trong tay những trí tuệ sống, vô hình, vĩ đại hơn, những vị kiểm soát thân Ông và dùng nó để viết ra những điều vượt xa năng lực bình thường của Ông. Sự so sánh lại nghiêng về phần Ông, bởi chúng ta thấy trong tác phẩm của Ông một sự am hiểu sâu xa hơn nhiều về bản tính con người và một tầm nắm trực giác rộng lớn hơn so với nơi Bà. Thể trí bẩm sinh của Ông (hay cái kho từ đó được rút ra) dường như ngay từ đầu đã chứa đựng tất cả những gì Ông sẽ phải dùng đến; trong khi Bà lại tỏ ra là đối tượng của một tiến hoá tâm trí rõ rệt. Lấy, thí dụ, các giáo huấn của Bà về Tái sinh, hòn đá tảng vững chắc của triết học huyền bí cổ, vốn được xác quyết trong Secret Doctrine và các trước tác sau này của Bà. Khi chúng tôi làm việc với Isis, thuyết này không được các Mahâtmâ dạy cho chúng tôi, cũng không được Bà hậu thuẫn trong các tranh biện văn chương hay các cuộc bàn thảo riêng tư của những ngày đầu ấy. Bà giữ và bênh vực thuyết rằng linh hồn con người, sau khi chết, tiếp tục một hành trình tiến hoá thanh lọc hướng tới các hành tinh khác đã được tinh thần hoá hơn. Tôi có ghi chép một cuộc đàm thoại giữa một vị Mahâtmâ và tôi, trong đó thuyết này cũng được xác nhận. Và điều này làm tôi bối rối hơn hết; vì, dù có thể quan niệm rằng, hoặc do luyện tập não-thông linh chưa hoàn mãn, hoặc vì nguyên do khác, Bà—người môn sinh và là cơ quan thông linh—có thể chưa nắm vững nền tảng triết học vững chắc của thuyết Tái sinh, thì tôi khó hình dung làm sao một sự không biết như vậy lại có thể áp vào vị Chân sư và Huấn sư. Có thể nào Tái sinh đã không được vị Chân sư này học từ Thầy của Ngài, và rằng chính Ngài, cũng như H. P. B., phải học nó về sau? Người ta nói có sáu mươi ba bậc địa vị chân sư, và điều ấy không phải bất khả. Trong số Các Ngài, như tôi được biết, có những người là bẩm sinh thông linh vĩ đại nhưng gần như thất học; và ít nhất có một vị, như đệ tử cưng của Phật, Ananda, không sở hữu thần thông, nhưng trực giác tinh tế đến mức có thể hiểu mọi trước tác huyền linh chỉ cần nhìn qua. Ghi chép của tôi tường thuật vị Huấn sư nói với tôi rằng “Linh hồn từ đây sau khi chết đi đến các hành tinh khác. Những linh hồn sẽ được sinh ra trên Trái Đất đang đợi ở những hành tinh vô hình khác.” Hai mệnh đề này hài hoà với giáo huấn sau cùng của H. P. B., các hành tinh nói đến ở hai đầu nơi cư trú của linh hồn trên địa cầu đều là thành viên của “dãy các bầu hành tinh” của chúng ta. Nhưng giữa hai cực ấy còn một khoảng trống mênh mông, mà nay chúng ta hiểu là được lấp đầy bởi vô số lần tái sinh tiến hoá của thực thể lữ hành. Hãy để nguyên ghi chú như vậy, nhưng H. P. B., trong Isis (Quyển I, tr. 351) nói rất minh bạch:
“We will now present a few fragments of this mysterious doctrine of Re-incarnation—as distinct from transmigration—which we have from an authority. Re-incarnation, i.e., the appearance of the same individual, or rather of his astral monad, twice on the same planet, is not a rule in nature; it is an exception, like the terato-logical phenomena of a two-headed infant.”
“Giờ chúng tôi sẽ nêu một vài mảnh của giáo lý huyền bí về Tái sinh—khác với luân chuyển—mà chúng tôi nhận từ một thẩm quyền. Tái sinh, tức là sự xuất hiện của cùng một cá nhân, hay đúng hơn là đơn tử cảm dục của y, hai lần trên cùng một hành tinh, không phải là quy luật trong thiên nhiên; đó là một ngoại lệ, như những hiện tượng quái thai kiểu một đứa bé hai đầu.”
The cause of it, when it does occur is, she says, that the design of nature to produce a perfect human being has been interfered with, and therefore she must make another attempt. Such exceptional interferences, H. P. B. explains, are the cases of abortion, of infants dying before a certain age, and of congenital and incurable idiocy. In such cases, the higher principles have not been able to unite themselves with the lower, and hence a perfect being has not been born. But—”If reason has been so far developed as to become active and discriminative, there is no Re-incarnation on this Earth, for the three parts of the triune man have been united together, and he is capable of running the race. But when the new being has not passed beyond the condition of monad, or when, as in the idiot, the trinity has not been completed, the immortal spark which illuminates it has to re-enter on the earthly plane, as it was frustrated in its first attempt. Otherwise, the mortal or astral, and the immortal, or divine, souls could not progress in unison and pass onward to the sphere above.”
Nguyên nhân của nó, khi nó xảy ra, như Bà nói, là do kế hoạch của thiên nhiên nhằm sản sinh một con người hoàn chỉnh đã bị can thiệp, vì vậy thiên nhiên phải thử lại lần nữa. Những can thiệp mang tính ngoại lệ như vậy, H. P. B. giải thích, là các trường hợp sẩy thai, trẻ chết trước một độ tuổi nào đó, và chứng ngu độn bẩm sinh nan trị. Trong những trường hợp như vậy, các nguyên khí cao đã không thể kết hợp với các phần thấp, vì thế một hữu thể hoàn chỉnh đã không được sinh ra. Nhưng—“Nếu lý trí đã phát triển đủ để trở nên hoạt động và có phân biện, thì không có Tái sinh trên Địa cầu này, vì ba phần của con người tam phân đã hợp nhất với nhau, và y có khả năng chạy hết đường đua. Nhưng khi hữu thể mới chưa vượt khỏi tình trạng đơn tử, hoặc khi, như nơi kẻ ngu độn, bộ ba chưa hoàn tất, thì tia lửa bất tử soi rọi nó phải tái nhập bình diện trần thế, vì lần đầu nó đã bị cản trở. Nếu không, linh hồn phàm trần hay cảm dục, và linh hồn bất tử hay thiêng liêng, không thể tiến bộ hoà điệu và cùng vượt sang cảnh giới bên trên.”
The italics are mine, and thus I was taught. My present belief is that of the Hindus and Buddhists. She told Mr. Walter R. Old—who is my informant—that she was not taught the doctrine of Re-incarnation until 1879—when we were in India. I willingly accept that statement, both because it tallies with our beliefs and writings in New York, and, because, if she knew it when we were writing Isis, there was no earthly reason why she should have misled me or others, even if she had so desired, which I do not believe.
Chữ in nghiêng là của tôi, và chính như vậy tôi đã được dạy. Niềm tin hiện tại của tôi là của người Ấn và Phật tử. Bà nói với Ông Walter R. Old—người kể lại cho tôi—rằng Bà chỉ được dạy giáo lý Tái sinh vào năm 1879—khi chúng tôi ở Ấn Độ. Tôi vui lòng chấp nhận lời này, vừa vì nó ăn khớp với niềm tin và những gì chúng tôi viết ở New York, vừa vì, nếu Bà biết nó khi chúng tôi đang viết Isis, thì chẳng có lý do nào trên đời khiến Bà phải đánh lạc hướng tôi hay người khác, ngay cả nếu Bà có muốn thế, điều mà tôi không tin.
She and I believed, and taught orally as well as wrote, that man is a trinity of physical body, astral body (soul—the Greek psyché), and divine spirit. This will be found set forth in the first official communication made by us to the European reading public. It was an article entitled “The Views of the Theosophists,” and appeared in the Spiritualist for December, 7, 1877. In it, speaking for our whole party, I say:”We believe that the man of flesh dies, decays, and goes to the crucible of evolution, to be worked over and over again; that the astral man (or double, or soul), freed from physical imprisonment, is followed by the consequences of his earthly deeds, thoughts and desires. He either becomes purged of the last traces of earthly grossness, and, finally, after an incalculable lapse of time, is joined to his divine spirit, and lives forever as an entity, or, having been completely debased on earth, he sinks deeper into matter and is annihilated.”
Bà và tôi tin, và dạy bằng miệng cũng như viết, rằng con người là một bộ ba gồm thể xác, thể cảm dục (linh hồn—tiếng Hy Lạp psyché), và tinh thần thiêng liêng. Điều này sẽ được thấy trình bày trong thông cáo chính thức đầu tiên của chúng tôi gửi tới độc giả châu Âu. Đó là một bài viết nhan đề “Quan điểm của các nhà Thông Thiên Học,” đăng trên tờ Spiritualist ngày 7 tháng Mười Hai, 1877. Trong đó, thay mặt cả nhóm, tôi nói: “Chúng ta tin rằng con người bằng thịt sẽ chết, mục rữa, và đi vào lò luyện của tiến hoá, để được luyện đi luyện lại; rằng người cảm dục (hay song bản, hay linh hồn), được giải phóng khỏi ngục tù xác thân, sẽ bị các hậu quả của việc làm, tư tưởng và dục vọng trên trần đeo đuổi. Y hoặc được thanh lọc khỏi tàn tích cuối cùng của tính thô trần, và, rốt cuộc, sau một khoảng thời gian không thể tính nổi, được kết hợp với tinh thần thiêng liêng của mình, và sống muôn đời như một thực thể; hoặc, đã bị hạ cấp hoàn toàn khi còn sống, y đánh mất tinh thần mình, trong giờ chết bị giảm xuống thành nhị phân thay vì tam phân, và, khi rời khỏi xác thân, sẽ bị tan rã; phần thô hơn đi vào đất và phần tinh hơn biến thành một bhût, hay ‘linh thể sơ đẳng,’ ‘lang thang vào ra nơi cư trú của loài người, ám các người nhạy cảm để thoả mãn thay cho mình những dục vọng đồi bại, cho đến khi đời sống của nó bị thiêu đốt cạn kiệt bởi chính cường độ của chúng và tan hoại đến để kết thúc sự nghiệp khủng khiếp.’”
I go on to say that “the man of pure life and spirituality of aspiration would be drawn towards a more spiritual realm than this earth of ours and repelled by its influence”; while, on the other hand, the vicious and thoroughly depraved person would have lost his spirit, during life, be reduced to a duality instead of a trinity at the hour of death, and, upon passing out of the physical body, become disintegrated; its grosser matter going into the ground and its finer turning into a bhût, or “elementary,” “wandering in and about the habitations of men, obsessing sensitives to glut vicariously its depraved appetites, until its life is burnt out by their very intensity and dissolution comes to crown the dreadful career.”
Tôi tiếp tục nói rằng “người sống trong sạch và có ngưỡng vọng tinh thần sẽ bị cuốn hút về một cảnh giới tinh thần hơn Trái Đất của chúng ta và bị ảnh hưởng của nó đẩy xa”; trong khi, trái lại, “kẻ đồi bại và trụy lạc hoàn toàn sẽ đánh mất tinh thần của mình trong lúc sinh tiền, bị giảm xuống thành nhị phân thay vì tam phân vào giờ lâm chung, và khi thoát xác sẽ trở nên phân rã; phần thô hơn trở về đất và phần tinh hơn biến thành một bhût, hay ‘linh thể sơ đẳng,’ ‘lang thang nơi cư ngụ của nhân gian, ám các người cảm ứng để thoả mãn gián tiếp những dục vọng đồi bại, cho đến khi đời sống của nó bị thiêu cháy hết bởi chính cường độ ấy và sự tan rã đến để chấm dứt hành trình kinh khiếp.’”
This was the sum and substance of our teaching at that time about the nature and destiny of man, and shows how infinitely far away from believing in Re-incarnation H. P. B. and I were then. If anyone should be disposed to say that this letter of mine in the Spiritualist represents only my personal views, and that neither the Masters nor H. P. B. are responsible for my crudities, I shall just refer them to the issue of the Spiritualist for February 8, 1878, [38] where appears a letter from H. P. B., hereself upon the general subject of my letter; which had aroused a most animated discussion between the chief exponents of British Spiritualism on the one side, and C. C. Massey, John Storer Cobb, Prof. Alex. Wilder, Miss Kislingbury, Dr. C. Carter Blake, Gerald Massey and myself, on the other, and been called by M.A. (Oxon.) “a Theosophical rock hurled by the vigorous arm of the P. T. S. and creating a huge splash” in the unhealthy pool of trans-Atlantic Spiritualism. H. P. B.’s clarion, as usual, waked the echoes. She calls herself “the unattractive old party superficially known as H. P. Blavatsky”—a most significant phrase, says that “the Colonel corresponds directly with Hindu scholars, and has from them a good deal more than he can get from, so clumsy a preceptor as myself;” and that she thinks I have “thrown out some hints worthy of the thoughtful consideration of the unprejudiced.” A second letter from me in answer to M.A. (Oxon.) appeared in February, and a very long, very powerful, and very explicit one from H. P. B., of date N. Y., January 14, 1878, did appear in the Spiritualist of February 8, of the same year. This whole letter is well worth reading. In it she says, á propos of the necessity that an Ego which has failed to unite itself with the physico-psychical duality of a child who prematurely dies, should re-incarnate—”Man’s cycle is not complete until he becomes individually immortal. No one stage of probation and experience can be skipped over. He must be a man before he can become a spirit. A dead child is a failure of nature—he must live again; and the same psyché re-enters the physical plane through another birth. Such cases, together with those of congenital idiots are, as stated in “Isis Unveiled,” the only instances of human re-incarnation.” Can anything be plainer?
Đó là cốt tuỷ giáo huấn của chúng tôi lúc ấy về bản tính và định mệnh của con người, và cho thấy H. P. B. và tôi khi đó cách xa vô tận với niềm tin vào Tái sinh như thế nào. Nếu ai đó định nói rằng lá thư này của tôi trên tờ Spiritualist chỉ đại diện cho quan điểm cá nhân của tôi, và rằng cả các Chân sư lẫn H. P. B. không chịu trách nhiệm về các non nớt của tôi, tôi sẽ chỉ họ đến số báo Spiritualist ngày 8 tháng Hai, 1878, nơi có đăng một bức thư của chính H. P. B., về chủ đề chung trong thư tôi; bức thư của tôi đã dấy lên một cuộc tranh luận rất sôi nổi giữa các người phát ngôn chủ yếu của phong trào Thần linh học Anh một bên, và C. C. Massey, John Storer Cobb, Giáo sư Alex. Wilder, Cô Kislingbury, Bác sĩ C. Carter Blake, Gerald Massey và tôi bên kia; bức thư bị M.A. (Oxon.) gọi là “một tảng đá Thông Thiên Học bị cánh tay mạnh mẽ của P. T. S. ném ra và tạo nên một vệt sóng lớn” trong vũng nước tù đọng của phong trào Thần linh học xuyên Đại Tây Dương. Như lệ thường, tiếng kèn hiệu của H. P. B. vang vọng dội xa. Bà tự gọi mình là “một bà già kém hấp dẫn được biết bề ngoài là H. P. Blavatsky”—một cụm từ đầy ý nghĩa—nói rằng “Ông Đại tá liên lạc trực tiếp với các học giả Ấn Độ, và nhận được từ họ nhiều điều hơn ông có thể nhận từ một vị giảng sư vụng về như tôi”; và rằng Bà nghĩ tôi đã “ném ra vài gợi ý đáng để những người không thành kiến suy gẫm.” Lá thư thứ hai của tôi trả lời M.A. (Oxon.) xuất hiện trong tháng Hai, và một bức thư rất dài, rất mạnh mẽ, và rất minh bạch của H. P. B., đề ngày New York, 14 tháng Giêng, 1878, đã đăng trong số Spiritualist ngày 8 tháng Hai cùng năm. Toàn văn bức thư rất đáng đọc. Trong đó, Bà nói, nhân bàn về sự tất yếu là một Ngã thất bại trong việc kết hợp với bộ đôi hồng trần-cảm linh của đứa trẻ chết yểu phải tái sinh—“Chu kỳ của con người chưa hoàn tất cho đến khi y trở thành bất tử với tính cách cá thể. Không một giai đoạn tập sự và kinh nghiệm nào có thể bỏ qua. Y phải là con người trước khi có thể thành linh thể. Một đứa trẻ chết là thất bại của thiên nhiên—nó phải sống lại; và cùng psyché ấy tái nhập bình diện hồng trần qua một sinh lần nữa. Những trường hợp như thế, cùng với những trường hợp ngu độn bẩm sinh, như đã nói trong ‘Isis Unveiled,’ là những ngoại lệ duy nhất của Tái sinh trong loài người.” Có điều gì rõ ràng hơn không?
Our party left New York for India on Dec. 17, 1878, and a few days previously H. P. B. wrote to the Revue Spirite, of Paris, an article which appeared in that magazine, Jan. 1, 1879; it was in answer to sundry critics. She now describes man as four-principled, a “tetraktis” or quaternary. I translate:
Nhóm chúng tôi rời New York đi Ấn Độ ngày 17 tháng Mười Hai, 1878, và vài ngày trước đó H. P. B. viết cho Revue Spirite ở Paris một bài, đăng trên tạp chí này ngày 1 tháng Giêng, 1879; đó là bài đáp lại một số nhà phê bình. Lúc này Bà mô tả con người là có bốn nguyên tắc, một “tetraktis” hay bộ tứ. Tôi dịch:
“Yes, ‘for the Theosophists of New York, man is a trinity, and not a duality.’ He is, however, more than that: for, by adding the physical body, man is a Tetraktis, or quaternary. But, however supported in this particular doctrine we may be by the greatest philosophers of ancient Greece, it is neither to Pythagoras, to Plato, nor furthermore, to the celebrated Theodidaktoi of the school of Alexandria, that we owe it. We shall speak further on of our Masters.”
“Vâng, ‘đối với các nhà Thông Thiên Học của New York, con người là một bộ ba, chứ không phải bộ đôi.’ Tuy vậy, y còn hơn thế: vì, khi cộng thêm thể xác, con người là một Tetraktis, hay bộ tứ. Nhưng, cho dù trong giáo lý đặc thù này chúng tôi có được các nhà hiền triết vĩ đại của Hy Lạp cổ hậu thuẫn, thì chúng tôi cũng không mắc nợ Pythagoras, Plato, hay hơn nữa, các bậc Theodidaktoi lừng danh của trường phái Alexandria. Chúng tôi sẽ nói thêm về các Huấn sư của chúng tôi.”
After citing passages from various ancient authorities in support of the views presented, she says: “our Masters [meaning those from whom we learnt the doctrine] are Patanjali, Kapila, Kanada, all the systems and schools of Âryavarta which served as inexhaustible mines for the Greek philosophers, from Pythagoras to Plato.” Not all the Indian schools, certainly, for among them the old sects of Charvakas and Brihaspatis denied the survival of man after death, and were almost exact prototypes of our modern Materialists. It is also to be noted that Patanjali, Kapila, and the other Masters she names, taught that Re-incarnation is the rule in Nature, while she and I declared it to be the exception.
Sau khi trích dẫn đoạn văn từ nhiều thẩm quyền cổ để hậu thuẫn các quan điểm trình bày, Bà nói: “các Huấn sư của chúng tôi [ý nói các vị từ đó chúng tôi học giáo lý] là Patanjali, Kapila, Kanada, mọi hệ thống và trường phái của Âryavarta vốn là mỏ vô tận cho các triết gia Hy Lạp, từ Pythagoras đến Plato.” Không phải tất cả trường phái Ấn, dĩ nhiên, bởi giữa họ có các phái cựu Charvaka và Brihaspati bác bỏ sự tồn tại của con người sau khi chết, gần như là bản sao của những nhà Duy vật hiện đại. Cũng cần lưu ý rằng Patanjali, Kapila, và các bậc Huấn sư khác mà Bà nêu tên dạy rằng Tái sinh là quy luật trong Thiên nhiên, trong khi Bà và tôi lại nói đó là ngoại lệ.
Ultimately, the doctrine of Re-incarnation was fully accepted and expounded, both in its exoteric sense and esoterically. Not publicly taught so early as 1879, however, for it is not to be found in the first two volumes of the Theosophist, but only appears in the third, and then in connection with the Fragments of Occult Truth, a series of essays, chiefly by Mr. A. P. Sinnett, and based upon instructions given him by the Masters and by H. P. B. In its plain exoteric, or orthodox form, I had got it in Ceylon and embodied it in the Buddhist Catechism, of which the first edition, after passing through the ordeal of critical examination by the High Priest Sumângala Thero, appeared in July, 1881. The Catechism, of course, was only a synopsis of the doctrines of Southern Buddhism, not a proclamation of personal beliefs. The exposition of the Re-incarnation theory was rather meagre in the first edition; but it was given at much greater length in the revised edition of 1882, where I defined the relation of the re-incarnated being of this birth to that of the preceding ones, and answered the question why we have no memory of experiences in prior incarnations. A conversation with Sumângala Thero upon the morality of the theory of Karma, led me to frame the note defining the difference between Personality and Individuality, between physical memory, or the recollection of things which pertain to the ordinary waking consciousness, and spiritual memory, which has to do with the experience of the Higher Self and its Individuality. The distinction had not previously been made, but it was at once accepted and has been propagated by all our chief Theosophical writers since that time. H.P.B. adopted it, and has introduced it in her Key to Theosophy (pp. 134 and 130), with enlargements and illustrations. These are historical facts, and their bearing upon the present discussion is evident.
Rốt cuộc, giáo lý Tái sinh đã được chấp nhận và giảng giải đầy đủ, cả theo nghĩa hiển giáo và huyền giáo. Tuy chưa được công khai dạy sớm như năm 1879, vì không thấy trong hai tập đầu của Theosophist, mà chỉ xuất hiện ở tập thứ ba, và khi ấy trong mối liên hệ với “Những mảnh vỡ của Chân lý Huyền bí,” một loạt tiểu luận, chủ yếu của Ông A. P. Sinnett, dựa trên chỉ giáo ông nhận được từ các Chân sư và từ H. P. B. Ở dạng hiển giáo thuần tuý, hay chính tông, tôi đã lĩnh hội tại Tích Lan và đưa vào “Phật giáo Vấn đáp,” mà ấn bản đầu tiên, sau khi trải qua cuộc khảo nghiệm phê bình bởi Trưởng lão Thượng thủ Sumângala Thero, đã xuất bản tháng Bảy, 1881. Vấn đáp dĩ nhiên chỉ là đề cương các giáo lý của Phật giáo Nam truyền, không phải tuyên ngôn niềm tin cá nhân. Sự trình bày thuyết Tái sinh khá sơ lược trong ấn bản đầu; nhưng được nói kỹ hơn nhiều trong bản tu chỉnh năm 1882, nơi tôi định nghĩa mối liên hệ giữa hữu thể tái sinh của kiếp này với các kiếp trước, và trả lời câu hỏi vì sao chúng ta không có ký ức về kinh nghiệm trong các kiếp trước. Một cuộc trò chuyện với Trưởng lão Sumângala về tính luân lý của thuyết Nghiệp quả khiến tôi soạn thảo chú giải định nghĩa sự khác biệt giữa Phàm ngã và Cá thể tính, giữa ký ức hồng trần, tức là hồi ức về những gì thuộc thức tỉnh thường nhật, và ký ức tinh thần, vốn liên hệ với kinh nghiệm của Chân Ngã và Cá thể tính của nó. Sự phân biệt này trước đó chưa hề được nêu, nhưng lập tức được chấp nhận và từ đó được tất cả các tác gia Thông Thiên Học chủ chốt của chúng ta truyền bá. H.P.B. đã tiếp thu, và đưa nó vào “Chìa Khóa Thông Thiên Học” (tr. 134 và 130), với phần khai triển và minh hoạ. Đây là các sự kiện lịch sử, và tác động của chúng đối với cuộc thảo luận hiện nay là hiển nhiên.
H.P.B.’s first published declaration that Re-incarnation was an element in Theosophical belief occurs in the leading article of the first number ever issued of the Theosophist (What is Theosophy? Vol. I, p. 3, October, 1879). It was but a bare allusion to the subject and nothing more.
Tuyên bố được công bố lần đầu của H.P.B. rằng Tái sinh là một yếu tố trong niềm tin Thông Thiên Học xuất hiện trong bài xã luận của số đầu tiên Theosophist từng phát hành (“Thông Thiên Học là gì?” Quyển I, tr. 3, tháng Mười, 1879). Đó chỉ là một ám chỉ sơ lược đến chủ đề và không hơn.
“Theosophy,” she says, “believes also in Anastasis, or continued existence, and in transmigration (evolution), or a series of changes in the soul, which can be defended and explained on strict philosophical principles; and only by making a distinction between Paramâtmâ (transcendental, supreme soul) and Jîvâtmâ (animal, or conscious soul), of the Vedântins.” [39] This is extremely vague, and does little towards solving the difficulty. In a foot-note to this passage, however, she promises a series of articles on The World’s Great Theosophists, in which, says she, “we intend showing that from Pythagoras, who got his wisdom in India, down to our best known modern philosophers and Theosophists—David Hume and Shelley, the English poet, and the spiritists of France, included—many believed and yet believe in metempsychosis, or Re-incarnation of the soul, etc.” But she does not clearly say what is her own belief. The promised series of articles most unfortunately never appeared, though it may have been the germ of her idea to devote one of the new volumes of The Secret Doctrine to an account of the Great Adepts.
“Thông Thiên Học,” Bà nói, “cũng tin vào Anastasis, hay sự tồn tại tiếp diễn, và vào sự chuyển sinh (tiến hoá), tức một chuỗi biến đổi của linh hồn, điều có thể biện hộ và giải thích trên những nguyên lý triết học nghiêm cẩn; và chỉ bằng cách phân biệt giữa Paramâtmâ (linh hồn siêu việt, tối thượng) và Jîvâtmâ (linh hồn sinh vật, hay linh hồn có tâm thức) của phái Vedânta.” Điều này hết sức mơ hồ và chẳng giúp bao nhiêu vào việc giải quyết khó khăn. Tuy nhiên, trong chú thích kèm đoạn này, Bà hứa một loạt bài về Những Nhà Thông Thiên Học Vĩ Đại của Thế Giới, trong đó, theo lời Bà, “chúng tôi dự định cho thấy rằng từ Pythagoras, người nhận minh triết của mình tại Ấn Độ, cho tới những triết gia và các nhà Thông Thiên Học hiện đại nổi tiếng nhất của chúng ta—David Hume và Shelley, thi sĩ người Anh, và cả những nhà linh học của Pháp—nhiều người đã tin và vẫn còn tin vào metempsychosis, hay sự Tái sinh của linh hồn, v.v.” Nhưng Bà không nói rõ niềm tin riêng của Bà là gì. Thật bất hạnh, loạt bài hứa hẹn ấy không bao giờ xuất hiện, dù nó có lẽ đã là mầm mống của ý tưởng dành một trong các tập mới của Giáo Lý Bí Nhiệm cho việc trình thuật về các Chân sư Vĩ đại.
Mr. Sinnett’s famous series of essays entitled Fragments of Occult Truth was begun by H. P. B. in No.1, of Vol. III, of the Theosophist, as an answer to Mr. Terry, of Melbourne, who had taken exception to the anti-spiritualistic views of Theosophists. In the first Fragment, she reiterates the teaching of New York, that the soul at death passes into another world, “the so-called world of effects (in reality, a state and not a place), and there, purified of much of its material taints, evolves out of itself a new Ego, to be re-born (after a brief period of freedom and enjoyment) in the next higher world of causes, an objective world similar to this present globe of ours, but higher in the spiritual scale, where matter and material tendencies playa far less important part than here.” Re-incarnation is herein postulated, but not on this globe nor by the same Ego, but by another one which generates out of our present one in an interplanetary state. In Fragment No.3 (Theosophist for Sept., 1882), the new Ego is said after passing its normal time—according to its merit, which agrees with the doctrine taught by Srî Krishna, in the Bhagavadgita—in a state of felicity (Devachan) either to pass on to the “next superior planet,” or return for re-birth on this globe “if it has not completed its appointed tale of earth-lives.” Previously to this there had been nothing published about an appointed number of Re-incarnations, either on this globe or others, but only the outlines sketched of a psychic pilgrimage, or evolutionary progress from star to star, of a Divine Self which clothed itself with a new soul-body in each palingenesis.
Loạt tiểu luận nổi tiếng của Ông Sinnett nhan đề Những Mảnh Vụn của Chân Lý Huyền Bí được H. P. B. khởi thảo trong Số 1, Tập III, của tạp chí The Theosophist, như một lời đáp cho Ông Terry ở Melbourne, người đã phản đối quan điểm phản-linh học của các nhà Thông Thiên Học. Trong Mảnh Vụn thứ nhất, Bà nhắc lại giáo huấn ở New York rằng linh hồn khi chết đi vào một thế giới khác, “cái gọi là thế giới của hiệu quả (thực chất là một trạng thái chứ không phải một nơi chốn), và tại đó, sau khi được gột rửa khỏi phần lớn những ô uế vật chất, tự mình khai mở ra một Chân ngã mới, để được tái sinh (sau một thời kỳ ngắn tự do và hoan lạc) trong thế giới nguyên nhân cao hơn kế tiếp, một thế giới khách quan tương tự như quả cầu hiện tại của chúng ta, nhưng cao hơn trên thang bậc tinh thần, nơi vật chất và các xu hướng vật chất đóng vai trò kém quan trọng hơn nhiều so với ở đây.” Ở đây, Tái sinh được khẳng định, nhưng không phải trên địa cầu này, cũng không phải bởi cùng một Chân ngã, mà bởi một Chân ngã khác được phát sinh từ Chân ngã hiện tại của chúng ta trong một trạng thái gian hành tinh. Trong Mảnh Vụn số 3 (Theosophist, tháng 9, 1882), nói rằng Chân ngã mới, sau khi trải qua thời gian bình thường của mình—tùy theo công đức của nó, điều này tương hợp với giáo lý do Srî Krishna dạy trong Bhagavadgita—trong một trạng thái hạnh phúc (Devachan), hoặc tiến lên “hành tinh cao hơn kế tiếp”, hoặc trở lại tái sinh trên địa cầu này “nếu nó chưa đi trọn số đời-trên-trần được ấn định.” Trước đó chưa hề có điều gì được công bố về một số lần Tái sinh ấn định, dù trên địa cầu này hay những nơi khác, mà chỉ mới phác thảo đại cương một cuộc hành hương tâm linh, hay một cuộc tiến hoá từ sao này sang sao khác, của một Tự ngã Thiêng liêng tự khoác lấy một thân linh hồn mới trong mỗi lần tái sinh.
In 1880, we two visited Simla, and Mr. A. O. Hume enjoyed the good fortune, which had previously fallen to Mr. Sinnett’s lot, of getting into correspondence with our Mahâtmâs. H. P. B. revisited Simla without me in 1881, and the two friends above-named received in due time from the Masters the Re-incarnation theory. Mr. Sinnett expounded it in Fragment No.4 (Theosophist, Vol. IV, No.1, October, 1882), where he laid the basis of the doctrine of terrestrial Re-incarnations in a series of major and minor, or root and sub-races, and the extension of the process to the other planets of a chain to which the Earth belongs. Mr. Hume did the same in his Hints on Esoteric Theosophy (Calcutta, August, 1882), where he synthetically says that “man has many complete rounds to make of the entire cycle (chain, he means) of the planets. And in each planet, in each round, he has many lives to live. At a certain stage of his evolution, when certain portions of his less material elements are fully developed, he becomes morally responsible.” (Op. cit., p. 52.)
Năm 1880, hai chúng tôi đến thăm Simla, và Ông A. O. Hume được may mắn, như trước đó Ông Sinnett đã được, là được thư từ với các Mahâtmâ của chúng tôi. H. P. B. trở lại Simla mà không có tôi vào năm 1881, và hai người bạn nêu trên đã nhận được đúng lúc từ các Bậc Thầy học thuyết về Tái sinh. Ông Sinnett trình bày nó trong Mảnh Vụn số 4 (Theosophist, Tập IV, Số 1, tháng 10, 1882), nơi ông đặt nền tảng cho giáo lý về các lần Tái sinh trên địa cầu theo một loạt những giống dân gốc và phụ, và sự mở rộng tiến trình ấy tới các hành tinh khác của một chuỗi mà Trái Đất thuộc về. Ông Hume cũng làm điều tương tự trong Những Gợi Ý về Thông Thiên Học Nội Môn (Calcutta, tháng 8, 1882), nơi ông tóm lược rằng “con người có nhiều vòng chu chuyển trọn vẹn để đi hết toàn bộ chu kỳ (ý ông là hệ hành tinh) của các hành tinh. Và trên mỗi hành tinh, trong mỗi vòng, y có nhiều đời để sống. Tới một giai đoạn nhất định của tiến hoá, khi những bộ phận ít vật chất hơn của y được phát triển đầy đủ, y trở nên có trách nhiệm về đạo đức.” (Sách đã dẫn, tr. 52.)
Thus, six years after the date of my New York conversation with the Mahâtmâ, the fundamental and necessary idea of Re-incarnation was launched on the sea of modern Western thought from the congenial land of its primeval birth.
Như vậy, sáu năm sau ngày cuộc đối thoại của tôi ở New York với vị Mahâtmâ, ý niệm nền tảng và tất yếu của Tái sinh đã được tung ra trên biển tư tưởng Tây phương hiện đại từ miền đất tương hợp nơi nó khai sinh thuở ban sơ.
I have been obliged to trace its evolution within our lines at the risk of a small digression, as it was necessary for the future welfare of the Society to show the apparent baselessness of the theory that our present grand block of teaching had been in H. P. B.’s possession from the beginning. That theory I consider pernicious and without foundation. If I am wrong, I shall be most happy to be corrected. To admit it would involve the necessity of conceding that she had knowingly and wilfully lent herself to deception and the teaching of untruth in Isis, and later. I believe that she wrote then as she did later, exactly according to her lights, and that she was just as sincere in denying Re-incarnation in 1876-’78 as she was in affirming it after 1882. Why she and I were permitted to put the mis-statement into Isis, and, especially, why it was made to me by the Mahâtmâ, I cannot explain, unless I was the victim of glamour in believing that I talked with a Master on the evening in question. So let it pass. The Masters could give H. P. B. whatever they chose by dictation, they could write it themselves with her hand by occupying her physical body, and they could enable me to write by giving me hints and outlines and then helping my intuitions. Yet, notwithstanding all this, they certainly did not teach us what we now accept as the truth about Re-incarnation; nor bid us keep silent about it; nor resort to any vague generalities capable of being now twisted into an apparent agreement with our present views; nor interpose to prevent us from writing and teaching the heretical and unscientific idea that, save in certain few cases, the human entity was not, and could not, be re-incarnated on one and the same planet. [40]
Tôi buộc phải lần theo sự phát triển của nó trong nội bộ chúng ta, liều một chút rẽ ngang, vì cần thiết cho sự hưng thịnh tương lai của Hội mà chỉ ra tính chất tưởng như vô căn cứ của thuyết cho rằng khối giáo huấn vĩ đại hiện tại của chúng ta đã có trong tay H. P. B. ngay từ đầu. Tôi cho rằng thuyết đó là tai hại và vô nền tảng. Nếu tôi sai, tôi sẽ rất hân hoan được sửa. Thừa nhận thuyết ấy sẽ kéo theo việc phải nhượng bộ rằng Bà đã cố ý và hữu ý để mình sa vào dối trá và dạy điều bất thực trong Isis, và về sau. Tôi tin rằng Bà đã viết khi ấy cũng như về sau, chính xác theo ánh sáng mình có, và rằng Bà chân thành không kém khi phủ nhận Tái sinh trong các năm 1876–’78 so với khi khẳng định nó sau năm 1882. Tại sao Bà và tôi được phép đưa điều tuyên bố sai lạc vào Isis, và đặc biệt là tại sao nó lại được vị Mahâtmâ nói ra với tôi, tôi không thể giải thích, trừ phi tôi đã là nạn nhân của ảo cảm khi tin rằng mình đã trò chuyện với một Bậc Thầy vào buổi tối nói trên. Thôi hãy để qua. Các Bậc Thầy có thể ban cho H. P. B. bất cứ điều gì Các Ngài chọn bằng cách đọc cho chép, Các Ngài có thể tự viết bằng tay Bà bằng cách chiếm dụng thân xác của Bà, và Các Ngài có thể giúp tôi viết bằng cách cho gợi ý và dàn ý rồi hỗ trợ trực giác của tôi. Tuy vậy, bất chấp tất cả điều đó, Các Ngài đã chắc chắn không dạy chúng tôi điều mà giờ đây chúng tôi chấp nhận là chân lý về Tái sinh; cũng không bảo chúng tôi giữ im lặng về nó; cũng không viện đến những lời lẽ mơ hồ có thể nay bị xoay chuyển thành một sự tương hợp bề ngoài với quan điểm hiện nay của chúng tôi; cũng không can thiệp để ngăn chúng tôi viết và dạy cái ý tưởng dị giáo và phi khoa học rằng, trừ một vài trường hợp, thực thể con người đã không và không thể tái sinh trên cùng một hành tinh.
To return to the matter of the occupancy (âvesa) of H. P. B.’s body. There was one collateral proof continually thrusting itself upon one’s notice, if one but paid attention to it. Let us say that the Master A or B had been “on guard” an hour or more, had been working on Isis, alone or jointly with me, and was at a given moment saying something to me or, if third parties were present, to one of them. Suddenly she (he?) stops speaking, rises and leaves the room, excusing herself for a moment on some pretext to strangers. She presently returns, looks around as any new arrival would upon entering a room where there was company, makes herself a fresh cigarette, and says something which has not the least reference to what had been talked about when she left the room. Some one present, wishing to keep her to the point, asks her kindly to explain. She shows embarrassment and inability to pick up the thread; perhaps expresses an opinion flatly contradicting what she had just affirmed, and when taken to task, becomes vexed and says strong things; or, when told that she had said so-and-so, appears to take an introspective glance and says, “Oh yes: excuse me,” and goes on with her subject. She was sometimes as quick as lightning in these changes, and I myself, forgetting her multiplex personality, have often been very irritated for her seeming inability to keep to the same opinion, and her bold denial that she had not said what she had certainly said plainly enough, the moment before. In due time, it was explained to me that it takes time, after entering another’s living body, to link on one’s own consciousness with the brain memory of the preceding occupier, and that if one tries to continue a.conversation before this adjustment is complete, just such mistakes as the above may occur. This accords with what the Mahâtmâ told me in New York about occupancy, and with the description of the way in which, we were told in Shankaravijaya, [41] Shankara entered the defunct Rajah Amarakâ’s body: “entered and by slow degrees occupied the whole body of the dead down to its very feet.” The explanation of the gradual blending of the two jîvas in one steady heart and other bodily automatism (Cf. XVI) extends to the matter of the two consciousnesses, and until this is perfected, there must be just such a confusion of ideas, assertions, and recollections as I have above described, and as the majority of H. P. B’s visitors must have been puzzled by. Sometimes, when we were alone, has either the departing Somebody said: “I must put this into the brain so that my successor may find it there,” or the incoming Somebody after greeting me with a friendly word, asked me what was the subject of discussion before the “change.”
Trở lại vấn đề việc chiếm dụng (âvesa) thân xác của H. P. B. Có một chứng cớ phụ liên tục tự phô bày trước mắt bất cứ ai chịu để ý. Giả sử rằng vị Thầy A hay B đã “đứng gác” một giờ hay hơn, đã làm việc trên Isis, một mình hay cùng với tôi, và vào một thời điểm nhất định đang nói điều gì đó với tôi hoặc, nếu có người thứ ba hiện diện, với một trong số họ. Đột nhiên Bà (hay Người?) ngừng nói, đứng dậy và rời phòng, viện cớ với khách lạ rằng đi vắng chốc lát. Chẳng mấy chốc Bà trở lại, đảo mắt nhìn quanh như bất kỳ người mới tới nào khi bước vào căn phòng có khách, tự quấn một điếu thuốc mới, và nói một điều chẳng chút liên can gì đến điều vừa được bàn khi Bà rời phòng. Có người hiện diện, muốn giữ Bà ở đúng mạch, tử tế yêu cầu Bà giải thích. Bà tỏ ra bối rối và bất lực trong việc nối lại mạch câu chuyện; có khi lại bày tỏ một ý kiến thẳng thừng mâu thuẫn với điều Bà vừa khẳng định, và khi bị bắt bẻ thì bực bội và nói những lời mạnh; hoặc, khi được nhắc rằng Bà đã nói như thế này thế kia, Bà có vẻ hướng cái nhìn vào nội tâm và nói, “Ồ vâng: xin lỗi,” rồi tiếp tục chủ đề. Đôi khi Bà nhanh như chớp trong những chuyển đổi ấy, và chính tôi, quên mất phàm ngã đa phân của Bà, đã nhiều lần rất khó chịu vì cái có vẻ bất lực của Bà trong việc giữ một ý kiến nhất quán, và vì sự phủ nhận táo bạo rằng Bà chưa hề nói điều Bà chắc chắn đã nói rất rõ ràng ngay khoảnh khắc trước đó. Rồi đến lúc, người ta giải thích với tôi rằng sau khi bước vào thân thể sống của người khác, cần thời gian để nối tâm thức của mình với ký ức não bộ của người sở hữu trước, và rằng nếu cố gắng tiếp tục câu chuyện trước khi sự điều chỉnh này hoàn tất, thì chính những sai lầm như trên có thể xảy ra. Điều này phù hợp với điều vị Mahâtmâ nói với tôi ở New York về sự chiếm dụng, và với mô tả trong Shankaravijaya về cách Shankara bước vào thân của Rajah Amarakâ đã tắt thở: “đi vào và từng bước một chiếm trọn thân thể của người chết cho tới tận các đầu ngón chân.” Lời giải thích về sự hoà trộn dần dần của hai jîva vào một nhịp tim ổn định và các tự động tính thân thể khác (Xem XVI) cũng mở rộng tới vấn đề hai tâm thức, và cho đến khi việc này được hoàn tất, hẳn sẽ có chính xác sự rối loạn ý tưởng, khẳng định và ký ức như tôi vừa mô tả, và như đa số khách thăm H. P. B. hẳn đã bị làm hoang mang. Đôi khi, khi chỉ có hai chúng tôi, hoặc là Vị ai đó sắp rời đi nói: “Ta phải đưa điều này vào bộ não để người kế tục ta có thể tìm thấy ở đó,” hoặc là Vị ai đó vừa vào, sau khi chào tôi thân mật, hỏi tôi rằng chủ đề đang bàn là gì trước khi “chuyển đổi.”
I have noted above how various Mahâtmâs, in writing to me about H. P. B. and her body, spoke of the latter as a shell occupied by one of themselves. In my Diary of 1878, I find entered under date of October 12, and in the H. P. B. manuscript of Mahâtmâ “M,” the following: “H. P. B. talked with W. alone until 2 after midnight. He confessed he saw three DISTINCT individualities in her. He knows it. Does not wish to say so to Olcott for fear H. S. O. will make fun of him!!!” The underscorings and points of exclamation are copied literally. The “W.” mentioned was Mr. Wimbridge, who was then our guest. To account for an entry made by another person in my private Diary, I must explain that when I left New York on professional business, which I had to do several times in that year, the daily record was written up by “H. P. B.,” the noun of multitude. In the entry of the following day (Oct. 13) the same hand, after specifying the seven visitors who called that evening, writes of one of them: “Dr. Pike, looking at H. P. B. several times, started and said that no one in the world impressed him so much. Once he sees in H. P. B. a girl of 16, at another an old woman of 100, and again a man with a beard!!” On Oct. 22, the same hand writes: “H. P. B. left them [our visitors of that evening] in the dining-room and retired with H. S. O. to the library to write letters. N——[a certain Mahâtmâ] left watch and in came S——[another adept]; the latter with orders from.’. to complete all by the first day of December” [for our departure for India]. On November 9, in another modified H. P. B. script, is written: “Body sick and no hot-water to bathe it. Nice caboose.” November 12, in the “M” script: “H. P. B. played a trick on me by suddenly fainting, to the great dismay of Bates and Wim. Used the greatest will-power to put up the body on its legs.” November 14, in same handwriting: “N——decamped and M. walked in [from and into the H. P. B. body is meant]. Came with definite orders from.’. Have to go at the latest from 15 to 20 Dec. [to India].” November 29, another Mahâtmâ writes that he had “answered the Russian Aunt “—i.e., the beloved aunt of H. P. B.
Tôi đã ghi nhận bên trên cách các vị Mahâtmâ khác nhau, khi viết cho tôi về H. P. B. và thân xác của Bà, đã nói về thân xác ấy như một cái vỏ được một trong số Các Ngài chiếm dụng. Trong Nhật ký năm 1878 của tôi, tôi thấy ghi dưới ngày 12 tháng Mười, và trong thủ bút H. P. B. của vị Mahâtmâ “M,” như sau: “H. P. B. nói chuyện với W. một mình cho đến 2 giờ sau nửa đêm. Anh ấy thú nhận thấy ba CÁ TÍNH PHÂN BIỆT nơi Bà. Anh ấy biết điều đó. Không muốn nói với Olcott vì sợ H. S. O. sẽ chế giễu anh!!!” Những gạch dưới và dấu chấm than được chép y nguyên. “W.” nói đến là Ông Wimbridge, bấy giờ là khách của chúng tôi. Để giải thích một mục do người khác ghi trong Nhật ký riêng của tôi, tôi phải nói rằng khi tôi rời New York vì công vụ, điều tôi phải làm vài lần trong năm đó, nhật ký hằng ngày được viết bởi “H. P. B.”, danh từ tập hợp. Trong mục của ngày hôm sau (13 tháng Mười) cùng một nét chữ, sau khi liệt kê bảy vị khách đến thăm tối hôm ấy, viết về một người trong số họ: “Bác sĩ Pike, nhìn H. P. B. mấy lần, giật mình và nói rằng không ai trên đời khiến ông ấn tượng mạnh đến thế. Có lúc ông thấy nơi H. P. B. một cô gái 16, lúc khác một bà lão 100 tuổi, và lại có lúc một người đàn ông có râu!!” Ngày 22 tháng Mười, cùng nét chữ ấy viết: “H. P. B. để họ [khách của chúng ta tối ấy] ở phòng ăn và lui với H. S. O. vào thư viện để viết thư. N——[một vị Mahâtmâ nào đó] rời phiên gác và S——[một vị chân sư khác] bước vào; vị sau mang lệnh từ.’. phải hoàn tất mọi việc vào ngày mồng một tháng Mười Hai” [cho cuộc khởi hành của chúng tôi đi Ấn Độ]. Ngày 9 tháng Mười Một, bằng một biến thể khác của thủ bút H. P. B., có viết: “Thân thể đau ốm và không có nước nóng để tắm nó. Cái buồng bếp tuyệt thật.” Ngày 12 tháng Mười Một, bằng thủ bút “M”: “H. P. B. chơi khăm tôi bằng cách bất thần ngất đi, làm Bates và Wim hốt hoảng. Dùng ý chí cực mạnh để dựng thân thể đứng lên.” Ngày 14 tháng Mười Một, cùng nét chữ đó: “N——biến mất và M. bước vào [ý là từ và vào trong thân H. P. B.]. Đến với lệnh rõ ràng từ.’. Phải đi chậm nhất từ 15 đến 20 tháng Chạp [đi Ấn Độ].” Ngày 29 tháng Mười Một, một vị Mahâtmâ khác viết rằng Ngài đã “trả lời Cô Dì người Nga”—tức là người dì yêu quý của H. P. B.
Finally, not to dwell upon one subject too long, on Nov. 30, a third Mahâtmâ writes: “Belle Mitchell came at 12 and took away the S——[Mahâtmâ M.] for a walk and drive. Went to Macy’s. Had to materialise rupees. H. P. B. came home at 4, etc.” I have also various letters from the Mahâtmâs alluding to H. P. B. in her own individual capacity, sometimes speaking very frankly about her peculiarities, good and bad, and was once sent, by the Masters, with writter instructions, on a confidential mission to another city to bring about certain events necessary for her spiritual evolution. I have the document still. One quite long letter that I received in 1879, while in Rajputana, most strangely alters her sex, speaks of her in the male gender, and confounds her with Mahâtmâ M.—known as our Guru. It says—about a first draft of the letter itself which had been written but not sent me: “Owing to certain expressions therein, the letter was stopped on its way by order of our Brother H. P. B. As you are not under my direct guidance but his (hers), we have naught to say, either of us; etc. And again: “Our Brother H. P. B. rightly remarked at Jeypore that, etc.” It is a noble communication throughout, and if it were pertinent to our present theme, I should feel tempted to publish it, so as to show the high quality of the correspondence that for years went on between my blessed Teachers and myself. It was in this particular letter that I was told, in answer to my expressed desire to retire from the world and go and live with them, that, “The only means available and at hand for you to reach us, is through the Theosophical Society,” which I was abjured to consolidate, push forward and build up; I must learn to be unselfish. My correspondent adds: “None of us live for ourselves, we all live for humanity.” This was the spirit of all my instructions, this is the idea inculcated throughout Isis Unveiled. Let the literary faults of that book be what they may; let its author be charged with plagiarism or not; the sum and substance of its argument is that man is of a complex nature, animal at one extreme, divine at the other; and that the only real and perfect existence, the only one that is free from illusions, pain and sorrow, because in it, their cause—Ignorance—does not exist, is that of the spirit, the Highest Self. The book incites to pure and high living, to expansion of mind and universality of tenderness and sympathy; it shows there is a Path upwards, and that it is accessible to the wise who are brave; it traces all modern knowledge and speculation to archaic sources; and, affirming the past and present existence of Adepts and of occult science, affords us a stimulus to work and an ideal to work up to.
Sau hết, để khỏi kéo dài một chủ đề quá lâu, vào ngày 30 tháng Mười Một, một vị Mahâtmâ thứ ba viết: “Belle Mitchell tới lúc 12 giờ và đưa S——[Mahâtmâ M.] đi dạo và đi xe. Đến Macy’s. Phải hiện hình tiền rupee. H. P. B. về nhà lúc 4 giờ, v.v.” Tôi cũng có nhiều thư khác từ các vị Mahâtmâ ám chỉ đến H. P. B. trong tư cách cá nhân của chính Bà, đôi khi nói rất thẳng thắn về những nét riêng tốt xấu của Bà, và đã có lần tôi được Các Bậc Thầy sai, kèm theo chỉ thị bằng văn bản, đi sứ cơ mật tới một thành phố khác để tạo ra những sự kiện cần thiết cho sự tiến hoá tinh thần của Bà. Tôi vẫn còn giữ tài liệu đó. Một bức thư khá dài mà tôi nhận được năm 1879, khi ở Rajputana, thật lạ lùng thay, lại đổi cả giới tính của Bà, nói về Bà bằng giống đực, và lẫn Bà với Mahâtmâ M.—vị được biết là Đạo sư của chúng tôi. Thư viết—về một bản thảo đầu tiên của chính bức thư vốn đã được viết nhưng chưa gửi cho tôi: “Vì những cách diễn đạt nhất định trong đó, bức thư đã bị chặn lại trên đường theo lệnh của Huynh đệ H. P. B. Vì ông không ở dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của tôi mà là của ông ấy (của Bà ấy), cả hai chúng tôi đều chẳng có gì để nói; v.v.” Và nữa: “Huynh đệ H. P. B. đã nhận xét đúng ở Jeypore rằng, v.v.” Đây là một thông điệp cao quý từ đầu đến cuối, và nếu nó thích đáng với chủ đề hiện tại của chúng ta, hẳn tôi đã bị cám dỗ công bố nó, để cho thấy phẩm chất cao của mối thư tín đã kéo dài nhiều năm giữa các Bậc Thầy khả kính của tôi và chính tôi. Chính trong bức thư đặc biệt này, tôi đã được cho biết, để trả lời ước muốn tôi bày tỏ là rời bỏ thế gian và tới sống cùng Các Ngài, rằng, “Phương tiện duy nhất sẵn có và trong tầm tay để ông đến với chúng tôi, là thông qua Hội Thông Thiên Học,” mà tôi bị khẩn khoản buộc phải củng cố, thúc đẩy và gây dựng; tôi phải học cách vô ngã. Vị thư tín của tôi nói thêm: “Không ai trong chúng tôi sống cho riêng mình, tất cả chúng tôi sống vì nhân loại.” Đó là tinh thần của mọi chỉ dẫn dành cho tôi, đó là ý niệm thấm suốt Isis Unveiled. Hãy để cho các lỗi lầm văn chương của cuốn sách ấy là gì đi nữa; hãy để tác giả của nó bị buộc tội đạo văn hay không; tổng hoà và cốt tuỷ lập luận của nó là con người có một bản tính phức hợp, ở một cực là thú tính, ở cực kia là thiêng tính; và rằng tồn tại thực sự và hoàn hảo duy nhất, cái duy nhất thoát khỏi ảo tưởng, đau đớn và sầu muộn, vì trong đó nguyên nhân của chúng—Vô minh—không tồn tại, chính là tồn tại của tinh thần, Tự Ngã Tối Cao. Cuốn sách khơi gợi một đời sống thanh cao, sự mở rộng thể trí và lòng từ ái phổ quát; nó cho thấy có một Con Đường đi lên, và rằng con đường ấy khả dĩ tiếp cận đối với bậc trí biết can trường; nó lần theo mọi tri thức và suy lý hiện đại về nguồn cội cổ xưa; và, khẳng định sự tồn tại trong quá khứ và hiện tại của các Chân sư và của khoa học huyền bí, nó ban cho chúng ta một kích thích để làm việc và một lý tưởng để vươn tới.
Upon its appearance the book made such a sensation that the first edition was exhausted within ten days [42].
Khi ra mắt, cuốn sách đã tạo nên chấn động đến mức ấn bản đầu tiên được tiêu thụ hết trong vòng mười ngày.
The critics, on the whole, dealt kindly with it. Dr. Shelton Mackenzie, one of the most capable ones of the day, writes that “it is one of the most remarkable works for originality of thought, thoroughness of research, depth of philosophic exposition, and variety and extent of learning that has appeared for very many years” (Phila. Press, October 9, 1887). The literary critic of the N. Y. Herald (Sep. 30, 1877), says that independent minds “will welcome the new publication as a most valuable contribution to philosophical literature,” and that it “will supplement the Anacalypsis of Godfrey Higgins. There is a great resemblance between the works.... With its striking peculiarities, its audacity, its versatility and the prodigious variety of subjects which it notices and handles, it is one of the remarkable productions of the century.” Dr. G. Bloede, an erudite German scholar, says that, “under all considerations, it will range among the most important contributions to the literature of the modern science of the spirit, and be worth the attention of every thinking student of this.”
Nhìn chung các nhà phê bình đối xử tử tế với nó. Bác sĩ Shelton Mackenzie, một trong những người có thẩm quyền nhất thời bấy giờ, viết rằng “đây là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất về tính độc đáo của tư tưởng, sự khảo cứu tận căn, chiều sâu trình bày triết học, và bề rộng cũng như mức độ học vấn, đã xuất hiện trong rất nhiều năm” (Phila. Press, 9 tháng 10, 1887). Nhà phê bình văn học của N. Y. Herald (30 tháng 9, 1877) nói rằng những tâm hồn độc lập “sẽ đón chào ấn phẩm mới này như một đóng góp vô cùng quý giá cho văn học triết học,” và rằng nó “sẽ bổ sung cho Anacalypsis của Godfrey Higgins. Có một sự tương đồng lớn giữa các tác phẩm…. Với những nét độc đáo nổi bật, sự táo bạo, tính đa dạng và sự phong phú phi thường về các chủ đề mà nó nhắc tới và xử lý, đây là một trong những sản phẩm đáng chú ý của thế kỷ.” Tiến sĩ G. Bloede, một học giả Đức uyên bác, nói rằng, “xét về mọi phương diện, nó sẽ nằm trong số những đóng góp quan trọng bậc nhất cho văn học của khoa học tinh thần hiện đại, và xứng đáng với sự chú ý của mọi đạo sinh biết suy nghĩ.”
Some of the notices were flippant and prejudiced enough to make it clear that the critics had not read the book. For instance, the Springfield Republican said it was “a large dish of hash”; The N. Y. Sun classifies it with the similar works of past times as “discarded rubbish”; the Editor of the N. Y. Times wrote to Mr. Bouton that he was sorry they could not touch Isis Unveiled, as they “have a holy horror of Mme. Blavatsky and her letters”; the N. Y. Tribune says her learning is “crude and undigested” and “her incoherent account of Brahmanism and Buddhism, suggests a hint of the presumption rather than the information of the writer.” And so on and so forth. The weighty fact, however, is that the book has become a classic—as Mr. Quaritch prophesied to Mr. Bouton that it would; [43] has gone through a number of editions; and now, after the lapse of seventeen years, is in demand all over the world. When it was ready for publication I, of course, did what I could to bring it to the notice of my personal acquaintances; and I remember shortly afterwards meeting one of them—a leading legal functionary—in the street, and having him shake his fist at me in a friendly way, and say, “I have a crow to pick with you.” “And why?” I asked. “Why? Because you made me buy Isis Unveiled, and I found it so fascinating that my law cases are getting into arrears, and I have been sitting up nearly the whole of the past two nights to read it. Not only that, but she makes me feel what a lot of commonplace men we are in comparison with those Eastern mystics and philosophers she writes so charmingly about.” The first money received for a copy of Isis was sent me by a lady of Styria with her order; we kept it “for luck,” and it now hangs, framed, on the walls of the Theosophist office at Adyar.
Một số nhận xét thì khinh bạc và thiên kiến đến mức cho thấy rõ các nhà phê bình đã không đọc cuốn sách. Chẳng hạn, tờ Springfield Republican nói đó là “một đĩa thịt băm lớn”; N. Y. Sun xếp nó cùng với những tác phẩm tương tự của quá khứ như “đống rác bị loại bỏ”; Biên tập của N. Y. Times viết cho Ông Bouton rằng ông lấy làm tiếc họ không thể đụng đến Isis Unveiled, vì họ “kinh hãi thánh khiết trước Bà Blavatsky và thư từ của Bà”; N. Y. Tribune nói kiến văn của Bà “thô và chưa tiêu hoá” và “lời thuật lộn xộn của Bà về Bà-la-môn giáo và Phật giáo gợi ý nhiều hơn về thói tự phụ hơn là sự thông tin của người viết.” Và còn tiếp như thế. Tuy nhiên, sự kiện nặng ký là cuốn sách đã trở thành kinh điển—như Ông Quaritch từng tiên tri với Ông Bouton rằng nó sẽ thế; đã qua nhiều lần tái bản; và nay, sau mười bảy năm, vẫn được đòi hỏi khắp thế giới. Khi sách sẵn sàng xuất bản tôi, dĩ nhiên, đã làm hết sức để giới thiệu nó với những người quen biết; và tôi còn nhớ chẳng bao lâu sau gặp một người trong số họ—một chức sắc pháp lý hàng đầu—trên đường, và ông ta giơ nắm đấm về phía tôi một cách thân mật, nói, “Tôi phải ‘tính sổ’ với ông.” “Vì sao?” tôi hỏi. “Vì sao ư? Vì ông bắt tôi mua Isis Unveiled, và tôi thấy nó lôi cuốn đến mức các vụ án của tôi đang bị chậm trễ, và tôi đã thức gần như suốt hai đêm vừa qua để đọc nó. Không chỉ vậy, Bà khiến tôi thấy chúng ta là một lũ tầm thường biết bao so với những nhà thần bí và triết gia phương Đông mà Bà viết về một cách say đắm đến thế.” Đồng tiền đầu tiên nhận được cho một cuốn Isis đã được một quý bà ở Styria gửi kèm đơn đặt hàng; chúng tôi giữ nó “lấy hên,” và giờ nó được lồng khung treo trên tường toà soạn Theosophist tại Adyar.
The truest thing ever said about Isis was the expression of an American author that it is “a book with a revolution in it.”
Điều chân thực nhất từng được nói về Isis là lời của một tác giả Mỹ rằng đó là “một cuốn sách chứa đựng một cuộc cách mạng.”