← Old Diary Leaves 2

OLD DIARY LEAVES, Vol. II

OLD DIARY LEAVES, Vol. II

by Henry Steel Olcott

MỤC LỤC

MỤC LỤC3

CHAPTER I9

THE VOYAGE OUT—CUỘC HẢI TRÌNH9

CHAPTER II21

SETTLING DOWN AT BOMBAY—ỔN ĐỊNH Ở BOMBAY21

CHAPTER III32

LAYING FOUNDATIONS—ĐẶT NỀN MÓNG32

CHAPTER IV44

MANY WONDERS—NHIỀU ĐIỀU KỲ DIỆU44

CHAPTER V60

A JOURNEY TO NORTHERN INDIA—MỘT CHUYẾN ĐI ĐẾN BẮC ẤN ĐỘ60

CHAPTER VI72

NORTHERN WANDERINGS, DAYÂNAND—NHỮNG CUỘC DU HÀNH PHƯƠNG BẮC, DAYÂNAND72

CHAPTER VII88

THE FUTURE WORKERS BEGIN TO ARRIVE.—NHỮNG NGƯỜI CÔNG TÁC TƯƠNG LAI BẮT ĐẦU ĐẾN.88

CHAPTER VIII100

VISITS TO ALLAHABAD AND BENARES—NHỮNG CHUYẾN THĂM ALLAHABAD VÀ BENARES100

CHAPTER IX115

PHENOMENA AND PANDITS—HIỆN TƯỢNG VÀ CÁC VỊ PANDIT115

CHAPTER X132

FIRST TOUR IN CEYLON—CHUYẾN THĂM CEYLON ĐẦU TIÊN132

CHAPTER XI147

THE POPULAR ENTHUSIAM—LÒNG NHIỆT THÀNH CỦA QUẦN CHÚNG147

CHAPTER XII166

THE TOUR CONCLUDED—CHUYẾN DU HÀNH KẾT THÚC166

CHAPTER XIII181

A LITTLE DOMESTIC EXPLOSIN—MỘT VỤ NỔ NHỎ TRONG GIA ĐÌNH181

CHAPTER XIV188

SWAMI DAYÂNAND SARASWTI ON YOGA—SWÂMI DAYÂNAND SARASWATI BÀN VỀ YOGA188

CHAPTER XV198

SIMLA AND THE CŒRULIAN—SIMLA VÀ NHÓM CŒRULIANS198

CHAPTER XVI208

WHAT HAPPENED AT SIMLA—NHỮNG GÌ ĐÃ XẢY RA Ở SIMLA208

CHAPTER XVII219

GORGEOUS SCENES—CẢNH TƯỢNG HUY HOÀNG219

CHAPTER XVIII BENARES THE HOLY—BENARES THIÊNG LIÊNG230

CHAPTER XIX240

MASTER OF DJINNS—MỘT BẬC THẦY CỦA CÁC DJINN240

CHAPTER XX251

CEYLON BUDDHISM EXPLANED—GIẢI MINH PHẬT GIÁO TÍCH LAN251

CHAPTER XXI265

CREATING A SINHALESE BUDDHIST FUND—LẬP MỘT QUỸ PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI SINHALA265

CHAPTER XXII286

FROM BOMBAY NORTHWARD AND BACK—TỪ BOMBAY ĐI VỀ PHÍA BẮC RỒI TRỞ LẠI286

CHAPTER XXIII302

A HOUSE-BOAT JOURNEY WITH H. P. B.—MỘT CHUYẾN ĐI BẰNG NHÀ THUYỀN VỚI H. P. B.302

CHAPTER XXIV316

BARODA TO CEYLON, AND THE HEALINGS OF SICK FOLK THERE -TỪ BARODA ĐẾN CEYLON, VÀ NHỮNG CA CHỮA LÀNH CHO NGƯỜI BỆNH Ở ĐÓ316

CHAPTER XXV332

POSSIBLE DISCOVERY OF THE SECRET OF PSYCHOPATHIC HEALING —CÓ THỂ KHÁM PHÁ BÍ QUYẾT CỦA TRỊ LIỆU TÂM PHÁP332

CHAPTER XXVI342

INCIDENTS OF HEALINGS—NHỮNG SỰ KIỆN TRONG CÁC CA CHỮA LÀNH342

CHAPTER XXVII352

TOURING AND HEALING IN BENGA—DU HÀNH VÀ CHỮA BỆNH Ở BENGAL352

CHAPTER XXVIII369

VIIIFLORID COMPLIMENTS—NHỮNG LỜI TÁN TỤNG HOA MỸ369

HAPTER XXIX379

HEALING OF THE DUMB MAN IN THE NELLIAPP A TMPLE379

CHỮA LÀNH NGƯỜI CÂM TRONG ĐỀN NELLIAPPA379

CHAPTER XXX392

SOUTH INDIAN WONDERS—KỲ TÍCH Ở NAM ẤN392

ENDNOTE406

INTRODUCTION—LỜI GIỚI THIỆU

THE Diary from which the present series of chapters has been compiled was opened in January, 1878, three years after the formation of the Theosophical Society at New York, by the late Madame Blavatsky, myself, and a few others, and has been systematically kept up ever since. Under the title, “Old Diary Leaves: The True History of the Theosophical Society,” a volume, with illustrations, was published in the year 1895, by Messrs. G. P. Putnam & Sons (London and New York), which has had a wide circulation. It covered the period from the first meeting of my great colleague and myself in the year 1874, down to the sailing of our party from New York for Bombay in December, 1878. The thread of our narrative, now taken up, leads us from that point onward to the autumn of 1883, embracing the novel and exciting incidents of the establishment of our movement in India and Ceylon, from which such momentous results have followed. No important event has been omitted, no falsification of the record resorted to. Other volumes will be issued from time to time should there be a demand. I am proud of the fact that, although these memoirs have been appearing monthly in the Theosophist since March, 1892, and have been read by hundreds of living witnesses to the events cited, my veracity has not once been challenged, and but one slight inaccuracy pointed out. The growth of the Society has been as steady within the past four years as it had been up to the time of the publication of the first volume of these memoirs, the number of new branch charters issued having been 148, and the total, from the beginning up to the close of last year (1898), 592, as against 394 up to the close of the year 1894. These Branches are now grouped within eight administrative sections, whose head-offices are respectively at Benares, London, Paris, Amsterdam, Stockholm, New York, Sydney, and Auckland (N.Z.). The General Headquarters of the whole Society and the President Founder’s official residence are at Adyar, Madras. The work, therefore, already covers the greater part of the civilized world while its literature finds its, way over an even wider area, being read in the camps of miners and explorers, the huts of pioneers, and the cabins of ships sailing in all seas.

Cuốn Nhật ký mà từ đó loạt chương hiện tại được biên soạn đã được mở vào tháng Giêng năm 1878, ba năm sau khi Hội Thông Thiên Học thành lập tại New York, do Cố Bà Blavatsky, tôi và một vài người khác, và từ đó luôn được ghi chép đều đặn. Dưới nhan đề “Những Trang Nhật Ký Cũ: Lịch Sử Chân Thực của Hội Thông Thiên Học,” một tập sách kèm minh họa đã được xuất bản năm 1895 bởi nhà G. P. Putnam & Sons (London và New York), và lưu hành rộng rãi. Tập ấy bao quát giai đoạn từ cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa vị cộng sự vĩ đại của tôi và tôi vào năm 1874, cho đến khi đoàn chúng tôi rời New York xuống tàu đi Bombay vào tháng Mười Hai năm 1878. Nay sợi chỉ của câu chuyện được nối tiếp, dẫn ta từ điểm ấy đi tới mùa thu năm 1883, ghi lại những biến cố mới lạ và gay cấn của việc thiết lập phong trào của chúng tôi tại Ấn Độ và Tích Lan, từ đó những hệ quả trọng đại đã phát sinh. Không biến cố quan trọng nào bị bỏ sót, không có chỗ xuyên tạc hồ sơ. Những tập khác sẽ được xuất bản tùy theo nhu cầu. Tôi hãnh diện vì sự kiện rằng, mặc dù các hồi ký này đã được đăng hàng tháng trên The Theosophist từ tháng Ba năm 1892, và được hàng trăm nhân chứng còn sống đối chiếu với những sự kiện được dẫn, tính xác thực của tôi chưa một lần bị thách thức, và chỉ có một sai sót nhỏ được chỉ ra. Sự tăng trưởng của Hội trong bốn năm qua vẫn đều đặn như trước thời điểm xuất bản tập đầu của hồi ký này; số điều lệ chi nhánh mới đã cấp là 148, và tổng số, từ khởi thủy đến cuối năm ngoái (1898), là 592, so với con số 394 tính đến cuối năm 1894. Hiện các Chi bộ này được nhóm trong tám khu vực hành chính, với trụ sở lần lượt ở Benares, London, Paris, Amsterdam, Stockholm, New York, Sydney, và Auckland (N.Z.). Tổng Hành Dinh của toàn Hội và tư dinh chính thức của Chủ tịch Sáng lập đặt tại Adyar, Madras. Công việc, do đó, đã bao trùm phần lớn thế giới văn minh, trong khi văn phẩm của Hội còn đi xa hơn nữa, được đọc trong các trại thợ mỏ và nhà thám hiểm, túp lều của những người khai phá, và trên các khoang tàu vượt khơi bốn bể.

So world-covering a movement and so strongly based a Society is entitled to be taken seriously by men who think, and, since the Diary of one of its two chief founders gives the data for a truthful history of its rise and progress, and he, the survivor, alone knows all the facts, it seems to be his clear duty to write it while his memory is still strong and his strength unimpaired.

Một phong trào lan khắp thế giới và một Hội được xây nền vững chắc như vậy xứng đáng được những người biết suy tư coi trọng; và vì Nhật ký của một trong hai vị đồng sáng lập chủ chốt cung cấp dữ liệu cho một lịch sử trung thực về sự khởi sinh và tiến triển của Hội, và vì người còn sống—chính tôi—là người duy nhất biết trọn vẹn các sự kiện, nên dường như bổn phận hiển nhiên của tôi là phải viết khi ký ức còn sắc bén và sức lực chưa suy.

One motive which prompted me to begin was that I might leave behind me, for the use of the future historian, as accurate a sketch as possible of that great personality-puzzle, Helena Petrovna Blavatsky, cofounder of the Theosophical Society. I declare upon honor that I have not written one word about her or her doings, save in the spirit of loyalty to her memory and to truth. I have not written a line in malice. I knew her as companion, friend, co-worker, equal—on the plane of personality; all her other colleagues stood with her in the relation of pupil to teacher, or as casual friends, or passing acquaintances, or mere correspondents. None knew her so intimately as I, for none save me saw her in all her many changings of mood, mind, and personal characteristics. The human Helena Petrovna, with her unchanged Russian nature; the Madame Blavatsky, fresh from the Bohemian circles of Paris; and the “Madame Laura,”—the bays and bouquets of whose concert tours of 1872-3 as a pianist, in Italy, Russia, and elsewhere, were not long wilted when she came to New York through Paris—were as well known to me as, later on, became the “H. P. B.” of Theosophy. Knowing her, therefore, so well, she was not to me what she was to many others—all goddess, immaculate, infallible, co-equal with the Masters of Wisdom; but a wondrous woman, made the channel for great teachings, the agent for the doing of a mighty work. Just because I did know her so much better than most others, she was a greater mystery to me than to them. It was easy for those who only saw her speaking oracles, writing profound aphorisms, or giving clue after clue to the hidden wisdom in the ancient Scriptures, to regard her as an Earth-visiting angels and to worship at her feet; she was no mystery to them. But to me, her most intimate colleague, who had to deal with the vulgar details of her common daily life, and see her in all her aspects, she was from the first and continued to the end an insoluble riddle. How much of her waking life was that of a responsible personality, how much that of a body worked by an overshadowing entity? I do not know. On the hypothesis that she was a medium for the Great Teachers, only that and nothing more, then the riddle is easy to read; for then one can account for the alterations in mind, character, tastes, and predilections which have been touched upon in previous chapters; then the H. P. B. of the latter days fits on to the Helena Petrovna of New York, Paris, Italy, and all other countries and epochs. And what does the following passage (written in my Diary by her hand on the page for 6th December 1878) mean, if not that? It says: “We got cold again, I think. Oh, unfortunate, empty, rotten old body!” Was this “empty” body empty of its proper tenant? If not, why should the phrase have been written with her hand in a variant of her proper handwriting? We shall never get at the truth. If I recur again and again to the problem, it is because the deeper I go into these incidents of the past, the more exciting and baffling grows-the mystery. So let us pass on once more and rejoin the pilgrims at New York, in the cabin of the good steamer “Canada,” of the National Line, bound for London in the bitter month of December.

Một động lực thúc đẩy tôi khởi sự là mong để lại cho nhà sử học tương lai một phác thảo xác tín nhất có thể về câu đố vĩ đại của nhân cách, Helena Petrovna Blavatsky, đồng sáng lập Hội Thông Thiên Học. Tôi long trọng tuyên bố rằng tôi không viết một chữ nào về Bà hay hành trạng của Bà ngoài tinh thần trung tín với kỷ niệm của Bà và với sự thật. Tôi không viết một dòng nào vì ác ý. Tôi biết Bà như bạn đường, bằng hữu, đồng công, người ngang hàng—trên bình diện phàm ngã; tất cả cộng sự khác của Bà đều đứng với Bà trong mối liên hệ trò với thầy, hoặc là bạn quen sơ giao, hoặc chỉ là bầu bạn đi qua, hoặc chỉ là liên lạc thư từ. Không ai biết Bà thâm sâu như tôi, vì ngoài tôi ra không ai thấy Bà trong tất cả những đổi thay về tâm trạng, thể trí, và những đặc tính cá nhân đa tạp. Con người Helena Petrovna, với bản tính Nga không đổi; Madame Blavatsky, vừa bước ra từ những vòng tròn Bohemia của Paris; và “Madame Laura”—người mà những vòng nguyệt quế và bó hoa từ các chuyến trình diễn dương cầm năm 1872-3 ở Ý, Nga, và nơi khác, vẫn chưa phai khi Bà đến New York qua Paris—tôi đều quen biết không kém gì, như về sau tôi biết đến “H. P. B.” của Thông Thiên Học. Do biết Bà như vậy, đối với tôi Bà không phải như với nhiều người khác—một nữ thần toàn vẹn, vô nhiễm, vô ngộ, ngang hàng với các Chân sư Minh triết; mà là một người phụ nữ kỳ diệu, được làm kênh cho những giáo huấn lớn lao, là khí cụ để hoàn thành một công trình vĩ đại. Chính vì biết Bà còn sâu hơn phần nhiều người khác, Bà đối với tôi lại là một điều huyền bí lớn hơn đối với họ. Với những người chỉ thấy Bà phán những lời như sấm, viết các ngạn ngữ thâm áo, hoặc cho đầu mối này đến đầu mối khác để mở ra minh triết ẩn tàng trong các Thánh Thư cổ, thì dễ lắm để xem Bà như thiên sứ xuống trần và phụng thờ dưới chân Bà; Bà không là huyền bí với họ. Nhưng với tôi, cộng sự thân cận nhất của Bà, người phải lo toan những chi tiết tầm thường của đời sống thường nhật của Bà và thấy Bà trong mọi phương diện, thì từ đầu cho đến cuối—Bà là một câu đố bất khả giải. Bao nhiêu trong đời sống thức của Bà là của một phàm ngã có trách nhiệm, bao nhiêu là của một thể xác được một thực thể phủ bóng điều khiển? Tôi không biết. Nếu giả định rằng Bà là một đồng tử cho các Huấn Sư Vĩ Đại, chỉ thế và không gì hơn, thì câu đố hóa ra dễ đọc; vì khi ấy ta có thể giải thích những biến đổi trong tâm trí, tính cách, sở thích và thiên hướng mà tôi đã chạm đến trong các chương trước; khi ấy H. P. B. của những ngày về sau liền mạch với Helena Petrovna của New York, Paris, Ý, và bao xứ sở, thời kỳ. Và đoạn sau đây (do chính tay Bà chép trong Nhật ký của tôi ở trang ngày 6 tháng Mười Hai 1878) có nghĩa gì nếu không phải thế? Bà viết: “Chúng ta lại bị lạnh, tôi nghĩ vậy. Ôi, cái thân già xơ xác, trống rỗng, mục nát này!” Cái thân “trống rỗng” này trống rỗng người cư ngụ đích thực của nó chăng? Nếu không, vì sao cụm từ ấy lại được viết bằng tay Bà theo một biến dạng của nét chữ thường của Bà? Chúng ta sẽ chẳng bao giờ chạm đến sự thật. Nếu tôi trở đi trở lại vấn đề này, ấy là vì càng đi sâu vào những biến cố quá khứ, huyền nhiệm càng thêm kích thích và rối bời. Vậy chúng ta hãy lại tiếp bước và gặp những người hành hương ở New York, trong khoang của chiếc tàu tốt “Canada” của hãng National Line, nhắm London giữa tháng Mười Hai giá buốt.

ADYAR, 1899.

ADYAR, 1899.

CHAPTER I

THE VOYAGE OUT—CUỘC HẢI TRÌNH

THOUGH we left American soil on the 17th of December (1878), we did not get away from American waters until 12.30 p.m. on the 19th, as we lost the tide of the 18th and had to anchor in the Lower Bay. Imagine the state of mind of H. P. B. if you can! She raged against the captain, pilot, engineers, owners, and even the tides. My Diary must have been in her portmanteau, for in it she wrote:

Tuy chúng tôi rời đất Mỹ ngày 17 tháng Mười Hai (1878), nhưng mãi đến 12 giờ 30 trưa ngày 19 mới ra khỏi hải phận Mỹ, vì lỡ con nước ngày 18 nên phải neo tại Vịnh Dưới. Hãy thử hình dung tâm trạng của Bà H. P. B.! Bà trút giận lên thuyền trưởng, hoa tiêu, thợ máy, chủ tàu, và cả những con nước. Có lẽ Nhật ký của tôi ở trong va-li của Bà, vì trong đó Bà đã viết:

“Magnificent day. Clear, blue, cloudless [sky], out devilish cold. Fits of fear lasted till 11. The body is difficult to manage... At last the pilot took the steamer across the Sandy Hook bar. Fortunately we did not get stuck in the sand!... All day eating—at 8, 12, 4, and 7. H. P. B. eats like three hogs.”

“Ngày tuyệt vời. Trong, xanh, không mây [bầu trời], mà lạnh quỷ khiếp. Cơn sợ kéo dài đến 11 giờ. Cái thân thể khó điều khiển... Cuối cùng hoa tiêu đưa tàu vượt qua bãi cát Sandy Hook. May mà chúng ta không mắc cạn... Cả ngày ăn—lúc 8, 12, 4 và 7. H. P. B. ăn như ba con heo.”

I never knew, the meaning of the phrase written by H.P.B.’s hand in my Diary on 17th December, 1878: “All dark—but tranquil,” until at London, when her niece translated for me an extract from the letter written by her aunt to her mother (Mme. Jelihovsky) from London on 14th January, 1879, and which she has kindly copied out for the present use. H. P. B. writes her sister:

Tôi không hiểu ý của cụm từ chính tay H. P. B. viết trong Nhật ký của tôi vào ngày 17 tháng Mười Hai, 1878: “Tối đen—mà yên tĩnh,” mãi đến London, khi cháu gái Bà dịch cho tôi một đoạn trong lá thư Bà viết cho mẹ (Bà Jelihovsky) từ London ngày 14 tháng Giêng, 1879, và nay cô đã vui lòng chép lại để dùng ở đây. H. P. B. viết cho chị:

“I start for India. Providence alone knows what the future has in store for us. Possibly these portraits shall be the last. Do not forget your orphan-sister, now so in the full meaning of the word.

“Tôi khởi hành đi Ấn Độ. Chỉ có Đấng Quan Phòng mới biết tương lai dành cho chúng tôi điều gì. Có thể những bức chân dung này sẽ là cuối cùng. Xin đừng quên người chị mồ côi của chị, giờ đây theo đúng nghĩa của từ ấy.

“Good-bye. We start from Liverpool on the 18th. May the invisible powers protect you all!

“Từ biệt. Chúng tôi khởi hành từ Liverpool ngày 18. Nguyện các quyền năng vô hình che chở tất cả các người!

“I shall write from Bombay if I ever reach it.

“Tôi sẽ viết từ Bombay nếu tôi có bao giờ tới được nơi.

ELENA.”

ELENA.”

“LONDON, 14th January, 1879.”

“LONDON, 14 tháng Giêng, 1879.”

If she ever reached it? Then she was not certain that she would; that New York prediction might come true. Very well; but how, then, about all this romance we have been having circulated, about her having had complete foreknowledge as to our Indian career? The two clash.

Nếu tôi có bao giờ tới nơi? Vậy là Bà không chắc là sẽ đến; lời dự báo ở New York có thể thành sự thật. Được thôi; nhưng thế thì những chuyện lãng mạn đã được lưu truyền về việc Bà có sự biết trước trọn vẹn về hành trình Ấn Độ của chúng tôi là thế nào? Hai điều ấy mâu thuẫn nhau.

There were but ten of us passengers aboard; our three—H. P. B., Wimbridge, and myself; a Church of England clergyman and wife; a jolly, red-faced young: Yorkshire squire; an Anglo-Indian army captain and wife; and another lady and gentleman. Can anyone fancy what that wretched clergyman passed through, what with sea-sickness, the biting, damp cold, and daily wrangles with H. P. B.! And yet, although she: gave him unreservedly her opinion of his profession, enforced at times with expressions fit to curdle his blood, he had the breadth of mind to see her nobler qualities, and at parting almost wept for losing her. He actually sent her his photograph and begged hers in exchange.

Trên tàu chỉ có mười hành khách; ba người chúng tôi—H. P. B., Wimbridge, và tôi; một mục sư Anh giáo và vợ; một điền chủ trẻ xứ Yorkshire, mặt đỏ au, vui tính; một đại úy quân đội người Anh-Ấn và vợ; cùng một quý bà và một quý ông khác. Ai có thể tưởng tượng cảnh ngộ của ông mục sư tội nghiệp ấy, vừa say sóng, vừa rét ẩm cắn da, lại vừa phải khẩu chiến hằng ngày với H. P. B.! Vậy mà tuy Bà đã nói thẳng tuột ý kiến của Bà về chức nghiệp của ông, đôi khi nhấn mạnh bằng những biểu đạt có thể làm ông lạnh buốt máu, ông vẫn có tầm nhìn đủ rộng để nhận ra các phẩm chất cao quý của Bà, và lúc chia tay gần như sụt sùi vì phải xa Bà. Ông thậm chí còn gửi tặng Bà ảnh của mình và xin ảnh của Bà để trao đổi.

We had fine weather for only three full days. On the 22nd it changed, and—as H. P. B. records it— “Wind and gale. Rain and fog came pouring into the saloon skylarks (sic). Everybody sea-sick except Mrs. Wise and H. P.B.; Moloney (myself) sang songs.” The next morning was fine again, but a terrific gale burst on us in the afternoon, and the Captain was “telling fearful stories of shipwreck and drowning the whole evening. Mrs....and Mr.... frightened out of their wits.” After that the storm-fiends pursued us as if they were in the service of the opponents of our T.S. It seemed as though all the winds that Æolus tied up in paper bags for Ulysses had broken loose and gone on the rampage. One entry of mine runs through the pages for 20th, 21st, 22nd, 23rd, 24th, 25th, 26th, 27th, 28th, 29th, 30th and 31st December, viz., “Here follow a train of days and nights of ennui, turmoil, and distress. By night, tossed about like a shuttlecock between battledores. By day, the hours hanging so heavily as to seem whole days each. A small company of incongruous passengers, tiring of the sight of each others’ faces.” H. P. B. writes on one day’s page: “Night of tossing and rolling; H. S. O. sick abed; monotonous, stupid, wearisome. Oh for the Land! Oh for India and HOME! “We sat out the Old Year and welcomed the New. The ship’s bells rang Eight-bells twice, and down in the engine-room, agreeably to custom, there was a charivari of bells, pans, steel bars, and other sonorous objects. On New Year Day, 1879, we entered the British Channel in a sea of fog, typical of our as yet unmanifested future. Steaming very carefully and shaving by a number of vessels, we took the pilot, a very old, moss-grown sort of man, at 2.30 p.m., and at 5.30 had to anchor off Deal. As the Captain discovered later, his vision had become so impaired that he could not properly distinguish a red from a green light, and we would certainly have come to grief but for the unflagging vigilance of Captain Summer—a splendid fellow, an ornament to the British Merchant service. If the pilot had not become blear-eyed with age, he would have taken our ship straight through to Thames Haven, and so saved us a full day’s misery in the Channel.

Chúng tôi chỉ được ba ngày thời tiết đẹp. Đến ngày 22 thì đổi gió, và—như H. P. B. ghi lại—“Gió và bão. Mưa và sương mù tràn vào cửa sổ trần của phòng ăn (nguyên văn). Ai cũng say sóng trừ bà Wise và H. P. B.; Moloney (tức tôi) hát hò.” Sáng hôm sau lại đẹp trời, nhưng đến chiều một cơn cuồng phong dữ dội ập vào, và Thuyền trưởng “kể những chuyện ghê rợn về đắm tàu và chết đuối suốt buổi tối. Bà... và Ông... sợ đến mất vía.” Sau đó bầy quỷ bão như đeo đuổi chúng tôi, dường như phục vụ cho những kẻ đối nghịch với Hội T. S. của chúng tôi. Cứ như thể tất cả những ngọn gió mà Aeolus đã buộc trong túi giấy cho Ulysses đều sổ tung và đi phá phách. Một mục của tôi kéo dài qua các trang ngày 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 và 31 tháng Mười Hai, như sau: “Tiếp theo đây là một chuỗi ngày đêm buồn nản, đảo điên, khổ sở. Ban đêm, bị quăng quật như trái cầu lông giữa hai mặt vợt. Ban ngày, giờ trôi nặng nề đến mức mỗi giờ như cả ngày. Một nhóm nhỏ hành khách bất đồng hẳn nhau, nhìn nhau cũng chán.” H. P. B. viết trên trang một ngày: “Đêm quăng quật; H. S. O. nằm liệt giường vì say; đơn điệu, ngu ngốc, mệt mỏi. Ôi Đất Liền ơi! Ôi Ấn Độ và NHÀ ơi!” Chúng tôi tiễn năm cũ và đón năm mới. Chuông tàu điểm Tám tiếng hai lần, và dưới phòng máy, theo tục lệ, có một màn ầm ĩ của chuông, chảo, thanh thép, và mọi vật phát âm khác. Ngày đầu năm 1879, chúng tôi vào Eo biển Manche trong một biển sương, như một biểu trưng cho tương lai còn chưa hiển lộ của chúng tôi. Tàu chạy hết sức cẩn thận, lướt sát qua nhiều tàu, chúng tôi đón hoa tiêu—a một ông già rêu phong—lúc 2 giờ 30 chiều, và 5 giờ 30 thì phải neo ngoài Deal. Về sau Thuyền trưởng phát hiện thị lực ông đã kém đến mức không phân biệt rõ đèn đỏ với đèn xanh, và chắc chắn chúng tôi đã gặp nạn nếu không có sự cảnh giác không mệt mỏi của Thuyền trưởng Summer—một người tuyệt vời, là niềm hãnh diện của thương thuyền Anh. Nếu hoa tiêu không lòa mắt vì tuổi tác, hẳn ông đã đưa tàu thẳng tới Thames Haven, và thế là khỏi mất một ngày trời khổ sở trên Eo biển.

As it was, a dense fog closed in upon us, and we felt our way along so cautiously that we had to anchor again the second night, and only reached Gravesend the following morning, where we took train to London, and so finished the first stage of our long voyage. We were received with charming hospitality by Dr. and Mrs. Billing at their suburban house at Norwood Park, which became the rallying centre of all our London friends and correspondents; among them Stainton Moses, Massey, Dr. Wyld, Rev. and Mrs. Aytoun, Henry Hood, Palmer Thomas, the Ellises, A. R. Wallace, several Hindu law and medical students, Mrs. Knowles, and other ladies and gentlemen. On 5th January I presided at a meeting of the British T. S. at which there was an election of officers.

Sự thể là sương mù dày đặc phủ trùm, nên chúng tôi phải dò dẫm đến mức lại phải neo đêm thứ hai, và chỉ tới Gravesend sáng hôm sau, tại đó chúng tôi lên tàu hỏa đi London, kết thúc chặng đầu của cuộc hải trình dài. Chúng tôi được Bác sĩ và Bà Billing tiếp đãi nồng hậu tại ngôi nhà ngoại ô của họ ở Norwood Park, nơi trở thành tụ điểm của toàn bộ thân hữu và bằng hữu thư từ của chúng tôi ở London; trong số đó có Stainton Moses, Massey, Dr. Wyld, Mục sư và Bà Aytoun, Henry Hood, Palmer Thomas, gia đình Ellis, A. R. Wallace, vài sinh viên luật và y người Ấn, Bà Knowles, và các quý bà quý ông khác. Ngày 5 tháng Giêng tôi chủ tọa một phiên họp của Hội T. S. Anh Quốc, có bầu cử nhân viên.

Our time in London was completely filled with odds and ends of Society business, receipts of callers and the paying of visits to the British Museum and elsewhere; the whole spiced with phenomena by H. P. B. and séances with Mrs. Hollis-Billing’s spirit guide, “Ski,” whose name is known throughout the whole world of spiritualists.

Thời gian ở London của chúng tôi kín đặc những việc lặt vặt của Hội, đón tiếp khách khứa và đi thăm Bảo tàng Anh và nơi khác; tất cả được thêm hương vị bởi những hiện tượng do H. P. B. làm và các Buổi gọi hồn với vị linh hướng “Ski” của Bà Hollis-Billing, danh tính được biết khắp thế giới những người theo Thần linh học.

The most stricking incident of our stay in London was the meeting of a Master by three of us as we were walking down Cannon Street. There was a fog that morning so dense that one could hardly see across the street, and London appeared at its worst. The two who were with me saw him first, as I was next to the kerb, and just then my eyes were otherwise occupied. But when they uttered an exclamation, I turned my head quickly and met the glance of the Master as he looked back at me over his shoulder. I did not recognise him for an acquaintance, but I recognised the face as that of an Exalted One; for the type once seen can never be mistaken. As there is one glory of the sun and another glory of the moon, so there is one brightness of the average good man or woman’s face, and another, a transcendent one, of the face of an Adept; through the clay lamp of the body, as the learned Maimonides calls it, the inner light of the awakened spirit shines effulgently. We three friends kept together in the City and went together back to Dr. Billing’s house, yet on entering we were told by both Mrs. Billing and H. P. B. that the Brother had been there and mentioned that he had met us three—naming us—in the City. Mrs. Billing’s story was interesting. She said that the front door was locked and bolted as usual, so that nobody could enter without ringing. Yet as she left her sitting-room to go to H. P. B.’s room through the hall, she almost ran up against a tall stranger who was standing between the hall-door and H. P. B.’s room. She described him as a very tall and handsome Hindu, with a peculiarly piercing eye which seemed to look her through. For the moment she was so staggered that she could not say a word, but the stranger said: “I wish to see Madame Blavatsky,” and moved towards the door of the room where she sat. Mrs. Billing opened it for him and bade him enter. He did so, and walked straight towards H. P. B., made her an Oriental salutation, and began speaking to her in a tongue the sounds of which were totally unfamiliar to Mrs. Billing; although her long practice as a public medium had brought her into momentary contact with people of many different nations. Mrs. B. naturally rose to leave the room, but H. P. B. bade her stay and not to mind their speaking in a strange language together, as they had some occult business to transact.

Biến cố ấn tượng nhất trong thời gian ở London là ba chúng tôi gặp một Vị Chân sư khi đang đi dọc phố Cannon. Sáng ấy sương mù dày đến mức khó nhìn qua bên kia đường, và London hiện ra ở diện mạo tệ nhất. Hai người đi cùng tôi thấy Ngài trước, vì tôi đi sát lề đường và lúc đó mắt còn bận hướng khác. Nhưng khi họ bật kêu, tôi quay đầu nhanh và bắt gặp ánh nhìn của Vị Chân sư khi Ngài ngoái lại nhìn tôi qua vai. Tôi không nhận ra Ngài như một người quen, nhưng tôi nhận ra gương mặt ấy là của một Đấng Tôn Quý; vì kiểu hình ấy một lần đã thấy thì không thể lầm. Như có một vinh quang của mặt trời và một vinh quang khác của mặt trăng, cũng thế, có một vẻ sáng của gương mặt người thiện lương bình thường, và một vẻ khác, siêu phàm, của gương mặt một vị Chân sư; qua chiếc đèn đất là thân xác, như học giả Maimonides gọi, ánh nội quang của tinh thần thức tỉnh chiếu rạng ngời. Ba người bạn chúng tôi cứ đi cùng nhau trong Khu Thành và cùng nhau trở về nhà Bác sĩ Billing; vậy mà khi bước vào, cả Bà Billing và H. P. B. đều bảo rằng Vị Huynh Đệ đã ghé qua và nói rằng Ngài đã gặp ba chúng tôi—nêu rõ tên—trong Thành. Câu chuyện của Bà Billing rất lý thú. Bà nói cửa trước khóa và chốt như thường, nên chẳng ai vào được nếu không bấm chuông. Thế mà khi bà rời phòng khách để đi qua hành lang đến phòng của H. P. B., bà suýt đâm sầm vào một người lạ cao lớn đang đứng giữa cửa ra vào và phòng của H. P. B. Bà tả Ngài là một người Ấn rất cao và khôi ngô, có đôi mắt xuyên thấu dường như nhìn thấu bà. Trong khoảnh khắc bà sững sờ đến không nói được lời nào, nhưng vị khách nói: “Tôi muốn gặp Bà Blavatsky,” và bước về phía cửa phòng nơi Bà đang ngồi. Bà Billing mở cửa và mời Ngài vào. Ngài vào, đi thẳng đến trước H. P. B., chào theo lối Đông phương, và bắt đầu nói với Bà bằng một ngôn ngữ có âm sắc hoàn toàn lạ lẫm với Bà Billing; dù rằng do hành nghề đồng tử công khai lâu năm, bà đã từng tiếp xúc thoáng chốc với người của nhiều quốc gia khác nhau. Tự nhiên Bà B. đứng dậy định lui ra, nhưng H. P. B. bảo ở lại và đừng bận tâm việc họ nói bằng một tiếng lạ, vì họ có chút việc huyền bí cần bàn.

Whether or not this dark and mysterious Hindu caller brought H. P. B. a reinforcement of her psychical power I cannot say, but at the dinner-table that evening she gladdened her hostess’s heart by bringing up for her, from under the edge of the table, a Japanese teapot of exceeding lightness; I think at her request, though I will not be sure about that. She also caused Massey to find, in a pocket of his overcoat in the hall, an Indian inlaid card-case; but I pass that over with a bare mention, as the thing might be explained away on the hypothesis of trickery, if one were disposed to challenge her good faith. I shall treat in the same way an occurrence which struck us all—in our then uncritical frame of mind—as very wonderful. On the evening of 6th January, Ski told me to go to Madame Tussaud’s Exhibition, and under the left foot of Figure 158 I should find a note to myself from a certain Personage. The next morning Rev. Aytoun, Dr. Billing, Mr. Wimbridge, and I, accordingly went to the wax-works show and actually found the note described in the place designated. But it is recorded in my Diary that on the morning of 6th January, H. P. B. and Mrs. Billing went together to the British Museum, and, since they were out of doors, nothing prevented their going to Madame Tussaud’s if they had been so minded. So, evidentially—as the.S. P. G. falterers would say—the case is valueless, although I then thought and still think it was a genuine phenomenon. The next evening we sat again in a séance with Ski, and were well pleased to hear him acknowledge that he was a messenger of the Masters, and pronounce the names of several. He also threw at me in the darkness a huge silk handkerchief, on which were written the names of several of them. It was a yard and a quarter square in size.

Không rõ người khách Ấn bí ẩn kia có đem đến cho H. P. B. sự gia tăng năng lực tâm linh hay không, nhưng tối hôm ấy Bà khiến bà chủ nhà hân hoan bằng việc đưa lên cho bà, từ dưới mép bàn, một ấm trà Nhật nhẹ khác thường; tôi nghĩ là theo yêu cầu của bà, dù không dám chắc. Bà cũng khiến Massey tìm thấy, trong túi áo khoác ngoài ở hành lang, một hộp đựng danh thiếp kiểu Ấn cẩn; nhưng tôi chỉ lướt qua, vì chuyện ấy có thể bị giải thích là trò xảo thuật, nếu ai muốn hoài nghi thiện chí của Bà. Tôi cũng sẽ xử lý tương tự một việc đã làm chúng tôi—trong tâm thế chưa mấy phê phán—lấy làm kỳ diệu. Tối ngày 6 tháng Giêng, Ski bảo tôi đi tới Nhà sáp Madame Tussaud, và dưới chân trái của Tượng số 158 tôi sẽ thấy một bức thư gửi riêng tôi từ một Vị nào đó. Sáng hôm sau Mục sư Aytoun, Bác sĩ Billing, ông Wimbridge và tôi liền đi xem nhà sáp và quả thực tìm được bức thư tả như vậy ở đúng chỗ chỉ định. Nhưng Nhật ký của tôi ghi rằng sáng ngày 6 tháng Giêng, H. P. B. và Bà Billing cùng đi Bảo tàng Anh, và vì họ đã ra ngoài, không gì cản ngăn họ đi Madame Tussaud nếu họ muốn. Vậy nên, theo lối nói của bọn do dự S. P. G., trường hợp này không có giá trị bằng chứng; dẫu khi ấy tôi nghĩ và nay vẫn nghĩ đó là một hiện tượng chân thực. Tối hôm sau chúng tôi lại có Buổi gọi hồn với Ski, và rất vui khi nghe ông xác nhận mình là sứ giả của các Chân sư, rồi xướng tên của vài vị. Ông còn ném cho tôi trong bóng tối một chiếc khăn lụa khổng lồ, trên đó có viết tên của một số vị. Khăn vuông, cạnh khoảng một thước tư (Anh).

The next evening, after dinner, H. P. B. explained to ourselves and two visitors the duality of her personality and the law which it illustrated. She admitted without qualification that it was a fact that she was one person at one moment and another the next. She gave us an astounding bit of proof in support of her assertion. As we sat chatting in the gloaming, she silent near the window with her two hands resting on her knees, she presently called us and looked down at her hands. One of them was as white, as sculpturesque as usual; but the other was the longer hand of a man, covered with the brown skin of the Hindu; and, on looking wonderingly into her face, we saw that her hair and eyebrows had also changed color, and from fair brown had become jetty black! Say it was a hypnotic M€y€, yet what a fine one it was: produced without the utterance of a word by way of suggestion! It may have been a M€y€, for I recollect that the next morning her hair was still much darker than naturally, and her eyebrows quite black. She noticed this herself on looking into the mirror in the drawing-room, and remarking to me that she had forgotten to remove all traces of the change, she turned away, passed her hands over her face and hair two or three times, and, facing me again, she was her natural self once more.

Tối kế đó, sau bữa tối, H. P. B. giải thích cho chúng tôi và hai vị khách về tính nhị nguyên của phàm ngã Bà và định luật mà nó minh họa. Bà xác nhận không chút dè dặt rằng quả thật có việc lúc này Bà là một người, lúc khác lại là người khác. Bà cho chúng tôi một bằng chứng kinh ngạc hỗ trợ cho lời khẳng định. Lúc chúng tôi đang trò chuyện trong ánh chạng vạng, Bà ngồi yên gần cửa sổ, đặt hai bàn tay lên đầu gối; rồi Bà gọi chúng tôi lại và nhìn xuống đôi tay. Một bàn tay trắng muốt, có vẻ điêu khắc như thường; nhưng bàn tay kia là tay đàn ông dài hơn, phủ làn da nâu của người Ấn; và khi ngước nhìn kinh ngạc lên mặt Bà, chúng tôi thấy tóc và mày của Bà cũng đổi màu, từ nâu nhạt hóa thành đen nhánh! Cho là một ảo lực thôi miên đi nữa, thì cũng là một ảo lực tuyệt hảo: được tạo ra mà chẳng thốt lời ám thị nào! Có thể là ảo lực, vì tôi nhớ sáng hôm sau tóc Bà vẫn sẫm hơn tự nhiên khá nhiều, và lông mày thì đen hẳn. Bà tự nhận ra điều này khi soi gương trong phòng khách, và nói với tôi rằng Bà đã quên xóa hết dấu vết của sự biến đổi; Bà quay đi, đưa tay vuốt qua mặt và tóc hai ba lần, rồi quay lại đối diện tôi—Bà đã trở lại với dáng dấp tự nhiên.

On 15th January we sent on our heavy baggage to Liverpool; on the 17th I issued an Executive Notice appointing, ad interim, Major-General A. Doubleday, U. S. A., F. T. S., Acting President of the T. S.; Mr. David A. Curtis, Acting Corresponding Secretary; and Mr. G. V. Maynard, Treasurer; W. Q. Judge was already elected Recording Secretary. This arrangement was for the purpose of carrying on the work at the New York Headquarters until the future disposal of the Society should have been decided upon, according to what should happen after we had settled at Bombay. The same evening, at 9.40, we left from Euston for Liverpool, after a delightful stay of a fortnight with and among our kind friends and colleagues. Many were there to see us off, and I remember, as if it had happened but yesterday, walking to and fro the vast waiting-room with Dr. George Wyld, and exchanging views upon religious matters. The next day we passed at the Great Western Hotel, Liverpool, and at 5 p.m. embarked on the” Speke Hall” in a downpour of rain. The vessel was dirty and disagreeable to see; and what with that, and the falling of the rain, the smell of damp tapestries and carpets in the saloon and cabins, and the forlorn faces of our forty fellow-passengers, all equally disgusted as ourselves, it was a wretched omen for our long voyage out to India. Filth and noise when embarking at New York; filth, noise and bad smells when embarking at Liverpool; it needed all the bright dream of sunny India, and the phantom mind-pictures of our anticipated Hindu friends, to keep up our courage.

Ngày 15 tháng Giêng, chúng tôi gửi hành lý nặng đi Liverpool; ngày 17 tôi ban hành một Thông tri Hành chính, bổ nhiệm tạm thời Thiếu tướng A. Doubleday, U. S. A., F. T. S., làm Quyền Chủ tịch Hội; Ông David A. Curtis làm Quyền Thư ký Thư tín; và Ông G. V. Maynard làm Thủ quỹ; W. Q. Judge đã được bầu làm Thư ký Ghi chép. Sắp xếp này là nhằm duy trì công việc tại Tổng hành dinh New York cho đến khi có quyết định về việc bố trí tương lai của Hội, tùy theo những gì sẽ xảy ra sau khi chúng tôi định cư ở Bombay. Tối cùng ngày, lúc 9 giờ 40, chúng tôi rời ga Euston đi Liverpool, sau hai tuần lễ thú vị ở với và giữa các thân hữu và đồng sự tốt bụng. Đông người đến tiễn đưa, và tôi còn nhớ như mới hôm qua, bước qua bước lại trong phòng đợi mênh mông với Bác sĩ George Wyld, cùng trao đổi quan điểm về các vấn đề tôn giáo. Hôm sau chúng tôi ở tại Khách sạn Great Western, Liverpool, và lúc 5 giờ chiều xuống tàu “Speke Hall” giữa cơn mưa như trút. Con tàu bẩn thỉu và khó coi; cộng thêm cơn mưa, mùi thảm và thảm treo ẩm ướt trong phòng ăn và khoang, cùng những gương mặt rầu rĩ của bốn mươi bạn đồng hành cũng chán ngán như chúng tôi—tất cả là một điềm gở cho cuộc hải hành dài ra Ấn Độ. Bẩn thỉu và ồn ào khi xuống tàu ở New York; bẩn thỉu, ồn ào và hôi hám khi xuống tàu ở Liverpool; phải cần đến giấc mộng rực sáng về Ấn Độ nắng ấm và những bức tranh tâm tưởng về các bằng hữu Ấn giáo đang mong chờ để nâng đỡ can đảm của chúng tôi.

We lay at anchor in the Mersey all the night of the18th, but got away by the next dawn. My Diary shows how it looked to us: “On board everything is in a pitiable plight. The vessel is loaded almost to the water’s edge—it would seem—with railway iron. There is a rough sea and nearly every wave comes aboard of us. Wimbridge and I are quartered in a, cabin forward on the main deck, and are cut off from communication with the saloon aft. It is as much as a landsman’s life is worth to attempt the transit. How bad it is for seafaring stewards is shown in the fact that we got nothing to eat until 3 p.m.” The same misery went on the next day, and but for a basket of bread and butter that had been given us in London, and that by good luck had been put into our cabin, we should have gone hungry enough. Meanwhile, H. P. B. was making it lively for the servants and her fellow-passengers who, with one or two exceptions, were shocked by her ironclad language, outraged by her religious heterodoxy, and unanimously voted her a nuisance. The ship being struck by a tremendous sea, H. P. B. was pitched against a leg or the dining-table and got her knee badly bruised.

Chúng tôi neo đêm 18 trên sông Mersey, nhưng rạng sáng hôm sau thì nhổ neo. Nhật ký của tôi cho thấy mọi thứ trông ra sao: “Trên tàu, mọi thứ thật đáng thương. Con tàu dường như chở nặng tới sát mép nước—đầy những thanh sắt đường sắt. Biển động và gần như mỗi đợt sóng đều tràn lên boong. Wimbridge và tôi ở một khoang phía mũi trên boong chính, bị cắt khỏi khu phòng ăn ở phía lái. Với dân đất liền mà liều mình vượt qua thì cũng như đem mạng ra đánh cược. Tình cảnh tệ cho đám phục vụ đường biển đến mức phải đến 3 giờ chiều chúng tôi mới có cái gì bỏ bụng.” Ngày hôm sau tình cảnh vẫn vậy, và nếu không nhờ cái giỏ bánh mì bơ cho sẵn ở London, lại may được đặt vào khoang của chúng tôi, thì chắc chúng tôi đói meo. Trong lúc ấy, H. P. B. làm cho bọn gia nhân và khách đồng hành khốn khổ; trừ một hai người, tất cả đều bị sốc vì lời lẽ rắn như thép của Bà, bất bình vì quan điểm dị giáo của Bà, và đồng loạt cho rằng Bà là mối phiền toái. Tàu bị một con sóng khủng khiếp đánh mạnh, H. P. B. bị hất vào chân bàn ăn và đầu gối bầm nặng.

The third day we two got her peremptory command to come aft and show ourselves; so we rolled our trousers up to our knees, took our shoes and stockings in our hands, and made rushes through the slip-sloppy water on deck, between the rolls of the ship. We found the saloon in confusion, the carpets up, water and wet things everywhere, and smells that one might expect after a ship’s cabin had been shut up for two or three days. H. P. B. laid up in her cabin with her lame knee, and through the confined space of the small cabins her strong voice would ring -out the name of the stewardess, “Meeses Yetz” (Mrs. Yates), in stentorian tone. O Bay of Biscay, under what an unalluring aspect wert thou presented to us, poor, sea-sick wretches!

Ngày thứ ba, chúng tôi nhận lệnh khẩn của Bà phải ra phía lái trình diện; thế là xắn quần lên đến gối, cầm giày tất trong tay, canh giữa những đợt tàu lắc lư mà lao qua làn nước lấp xấp trên boong. Chúng tôi thấy phòng ăn rối tung, thảm cuộn lên, nước và đồ ướt bày khắp, và các thứ mùi như người ta có thể tưởng tượng sau khi khoang tàu bị đóng kín hai ba ngày. H. P. B. nằm phòng vì đầu gối đau, và qua không gian chật hẹp của những khoang nhỏ, giọng sang sảng của Bà vang dội, gọi tên bà quản gia “Meeses Yetz” (Bà Yates) oang oang như kèn đồng. Ôi Vịnh Biscay, ngươi hiện ra với những kẻ khốn khổ say sóng chúng ta dưới một diện mạo khó ưa biết bao!

Cape Finisterre was passed on the night of 23rd January, and so were we delivered from the raging Bay. But we got no observation of the sun that day, and the passing from our cabin to the saloon was like wading through a wet ditch or a mill flume. The next day the weather broke and we had an azure sky and a sapphire sea. The air was balmy and spring-like, and our bedraggled passengers crawled out to bask in the brightness of the day. The rose-and-opal tinted shores of Africa, seen through a pearly haze, rose like fairy cliffs out of the sea. At the rate of 250 to 300 miles a day, we sailed up the Mediterranean, past Gibraltar, past Algiers, on to Malta, where we anchored for the night on 28th January, and -filled the coal-bunkers. We went ashore and viewed the picturesque fortress and town, so famed in history for the deeds of heroism done by its besiegers and defenders. Off again the next morning, with the ship “besmeared with coal-dust in its every nook and cranny; and, as if in keeping, we encountered bad weather almost as soon as we left port. The wretched ship rolled and pitched like man, shipping seas that would not have been even noticed on a vessel less deeply laden. All brightness fled, of course, from the faces of the passengers, and we were miserably sea-sick; our only compensation being that H. P. B. herself, who had been ridiculing us for our weakness of will and holding herself up for a pattern, was overtaken by Karma and was sick also. It was our turn to jibe and jeer, and we paid her back in kind.

Mũi Finisterre được vượt qua đêm 23 tháng Giêng, và chúng tôi được giải thoát khỏi Vịnh dữ. Nhưng hôm đó không quan trắc được mặt trời, và từ khoang của chúng tôi ra phòng ăn chẳng khác nào lội qua mương nước hay cữ nước cối xay. Hôm sau thời tiết quang đãng, trời biếc, biển lam. Không khí ấm áp như xuân, và đám hành khách tơi tả lết ra sưởi nắng. Bờ bến Phi Châu hồng pha ngọc qua màn hơi sương ngọc trai nổi dậy như những vách tiên trên mặt biển. Mỗi ngày chúng tôi đi được 250 đến 300 dặm, lướt lên Địa Trung Hải, qua Gibraltar, qua Algiers, tới Malta, nơi chúng tôi neo đêm 28 tháng Giêng và tiếp than. Chúng tôi lên bờ ngắm thành lũy và đô thị tuyệt mỹ, nức tiếng trong sử sách vì những chiến công của quân vây lẫn quân thủ thành. Sáng sau lại nhổ neo, con tàu “dính đầy bụi than ở mọi ngóc ngách; và tựa như để tương xứng, chúng tôi gặp ngay thời tiết xấu vừa rời cảng. Con tàu khốn khổ lắc ngang lắc dọc như say, hứng những con sóng mà với một con tàu nhẹ tải hơn có lẽ chẳng đáng kể. Dĩ nhiên mọi nét tươi sáng biến khỏi gương mặt hành khách, chúng tôi lại say sóng khốn khổ; điều bù trừ duy nhất là bản thân H. P. B., người đã chế giễu chúng tôi vì yếu chí và lấy mình làm gương sáng, nay bị Nghiệp theo kịp và cũng say. Đến lượt chúng tôi trêu ghẹo, và chúng tôi đáp trả tương xứng.

Port Said was reached on 2nd February, visited by us all, and then came the blessed rest for the storm-tossed ones, of two days and nights in the Suez Canal. This, it is to be remembered, was in the days before the use of the electric search-light made night passages possible through the Canal. The “Speke Hall” entered it at 10.30 p.m. on the 2nd; tied up that night opposite the Arab village of Khandara— where, at an Arab coffee-house, we had genuine black coffee and some smokes of narghiles; the next night, we tied up at a station five miles from Suez, where I passed a merry evening at the station-master’s house, in company with two Corsican pilots who talked French fluently; and at last, in the early dawn, emerged into the Red Sea and began the third and final stage of our sea-pilgrimage to the Land of Desire. Letters met us at Suez from some of our Hindu friends, which quickened our feverish anxiety to get to our destination as soon as possible. That night the moon paved with silver the waters of the: Gulf of Suez, and we felt as if we were sailing on a dream-sea. Nothing of moment happened until the 12th, when a flue burst in the boiler, and we had to stop for repairs. Patched up, it burst again the next day, and there were two long waits, and many precious hours lost and much irritation felt by us, to be checked thus when we ought to be close to the Bombay lights. On the 15th, at noon, we were but 160 miles away from them, and the next morning entered Bombay Harbor. I had sat up on deck until 1 o’clock in the morning, looking at the majesty of the Indian sky, and straining my gaze for the first glimpse of the Bombay light.

Port Said tới ngày 2 tháng Hai, tất cả chúng tôi đều lên bờ, rồi đến phước lành nghỉ ngơi cho kẻ bị sóng gió dập vùi—hai ngày hai đêm trong Kênh đào Suez. Cần nhớ rằng ấy là thời trước khi đèn pha điện cho phép tàu qua kênh ban đêm. “Speke Hall” vào kênh lúc 10 giờ 30 tối ngày mồng 2; đêm ấy buộc tàu đối diện làng Ả Rập Khandara—nơi trong một quán cà phê Ả Rập, chúng tôi được thưởng thức cà phê đen chính hiệu và vài điếu narghile; đêm sau, buộc tại một trạm cách Suez năm dặm, nơi tôi trải một buổi tối vui vẻ ở nhà ông trạm trưởng, cùng hai hoa tiêu người Corse nói tiếng Pháp lưu loát; và rốt cuộc, hừng đông, tàu rời vào Hồng Hải, bắt đầu chặng thứ ba và cuối của cuộc hải hành đến Xứ Sở Khát Vọng. Thư đón chúng tôi tại Suez từ một số bạn Ấn càng làm chúng tôi nóng lòng muốn đến đích càng sớm càng tốt. Đêm ấy mặt trăng dát bạc mặt nước Vịnh Suez, khiến chúng tôi có cảm giác như đang lướt trên một biển mơ. Không có gì đáng kể cho đến ngày 12, khi ống khói của nồi hơi bị vỡ, và chúng tôi phải dừng để sửa chữa. Vá víu xong, hôm sau lại vỡ, thế là hai lần dừng lâu, nhiều giờ quý bị mất và bao bực bội dâng lên, khi chúng tôi đáng lẽ đã gần kề ánh đèn Bombay. Trưa 15, chúng tôi chỉ còn cách đích 160 dặm, và sáng hôm sau tàu vào Vịnh Bombay. Tôi thức trên boong tới 1 giờ sáng, ngắm bầu trời Ấn Độ hùng vĩ, và căng mắt chờ lóe sáng đầu tiên của ngọn đèn Bombay.

It came at last, as it were, a lamp rising out of the sea, and I went to bed to rest my weary body for the next day’s work. Before sunrise I was on deck again, and as we steamed rapidly towards our anchorage, revelled in the panorama of the Harbor that was spread before me. Elephanta, ahead of us, was the first locality we asked to be shown us, for it was the type and visible representative of that Ancient India, that sacred Bharatavarsha, which our hearts had yearned to see revived in the India of to-day. Alas! as one turned towards promontory of the Malabar Hill the dream was dispelled. The India we saw there was one of sumptuous bungalows, framed in the luxury of English flower-gardens, and surrounded with all the signs of wealth gained in foreign commerce. The Aryavarta of the Elephanta era was blotted out by the garish splendor of a new order of things, in which religion and philosophy have no part, and the sincerest worship is paid to the Queen’s idol on the current rupee. We have become used to it now, but at first sight it gave us the painful sensation of our first disillusionment.

Ánh đèn đến cuối cùng, như một ngọn đèn trồi lên khỏi mặt biển, và tôi xuống nghỉ để dưỡng thân cho công việc ngày mai. Trước bình minh tôi lại lên boong, và khi tàu lao nhanh tới điểm neo, tôi mãn nguyện ngắm toàn cảnh Vịnh bày ra trước mắt. Elephanta trước mũi tàu là địa danh đầu tiên chúng tôi xin chỉ cho xem, vì đó là hình tượng và đại diện hữu hình của Ấn Độ Cổ, của Bharatavarsha thiêng liêng, mà lòng chúng tôi khát khao thấy hồi sinh nơi Ấn Độ hôm nay. Than ôi! Vừa quay về phía mỏm đồi Malabar, giấc mộng tan. Ấn Độ chúng tôi thấy là một Ấn Độ của những bungalow tráng lệ, lồng trong xa hoa của vườn hoa kiểu Anh, bao quanh bởi mọi dấu hiệu của phú cường tích cóp từ thương mại hải ngoại. Aryavarta thời Elephanta đã bị xóa nhòa bởi sự phô trương lòe loẹt của một trật tự mới, nơi tôn giáo và triết học không còn chỗ đứng, và sự phụng thờ chân thành nhất dâng cho thần tượng Nữ hoàng trên đồng ru-pi đang lưu hành. Giờ chúng tôi đã quen, nhưng ấn tượng đầu khiến chúng tôi đau như một vỡ mộng đầu đời.

The ship’s anchor was hardly dropped before we were boarded by three Hindu gentlemen in search of us. All seemed strangers to us, but when they pronounced their names I opened my arms and pressed them to my breast. They were Mooljee Thackersey, Pandit Shyamji Krishnavarma, and Mr. Ballajee Sitaram—all holders of our Society’s diplomas. No wonder I did not recognise Mooljee, clad as he was in the artistic dress of his Bhattia caste, the dhoti and top coat of white muslin and the red turban with its quaint helmet-like shape and horn pointing forward above the brow. When he and I crossed the Atlantic together in 1870, he wore European dress throughout, and did not in the least resemble his present self. Shyamji’s name has since become famous throughout Europe as a learned Pandit coaching Professor Monier Williams; and H. P. B. and I felt for him from first to last a sort of parental affection. Our three friends had passed the night on board a “bunder-boat,” waiting for us, and were as joyful for our arrival as we were to come. It was a great disappointment not to be met by Hurrychund Chintamon, our chief correspondent, and, until then, our most respected one; we had not yet found him out. As he did not make his appearance, we went ashore with the others in their bunder-boat and landed on the Apollo Bunder. The first thing I did on touching land was to stoop down and kiss the granite step; my instinctive act of pooja! For here we were at last on sacred soil; our past forgotten, our perilous and disagreeable sea-voyage gone out of mind, the agony of long deferred hopes replaced by the thrilling joy of presence in the land of the Rishis, the cradle country of religions, the dwelling-place of the Masters, the home of our dusky brothers and sisters, with whom to live and die was all we could desire. All the cruel things that our fellow-passengers had told us on board ship about their moral weakness, their sycophancy, their inability to keep faith and command the respect of Europeans, were forgotten already; for we loved them for their ancestry and for their very present imperfections, nay, we were prepared to love them for themselves. And, in my case at least, this feeling has continued down to the present day. In a very real sense to me, they are my people, their country my country; may the blessings of the Sages be and abide with them and with it always!

Mỏ neo tàu vừa thả, ba vị quý ông Ấn đã lên tàu tìm chúng tôi. Tất cả có vẻ lạ với chúng tôi, nhưng khi họ xưng danh, tôi mở rộng vòng tay và ôm họ vào ngực. Họ là Mooljee Thackersey, Pandit Shyamji Krishnavarma, và Ông Ballajee Sitaram—đều là người mang văn bằng của Hội chúng tôi. Không lạ khi tôi không nhận ra Mooljee, vì ông vận lễ phục duy mỹ của đẳng cấp Bhattia của ông: dhoti và áo khoác mỏng bằng muslin trắng, và khăn xếp đỏ có dáng mũ kỳ lạ với cái “sừng” nhô ra phía trước trên trán. Khi ông cùng tôi vượt Đại Tây Dương năm 1870, ông mặc Âu phục suốt, chẳng giống ông bây giờ chút nào. Cái tên Shyamji về sau vang khắp Âu Châu như một Pandit uyên thâm, trợ huấn cho Giáo sư Monier Williams; còn H. P. B. và tôi từ đầu đến cuối đều dành cho ông một tình thương như cha mẹ. Ba người bạn chúng tôi đã qua đêm trên một “bunder-boat” để đợi, vui mừng vì chúng tôi đến chẳng kém chúng tôi vui vì được đến. Sự thất vọng lớn là không được Hurrychund Chintamon—người thư từ chính, và cho đến khi ấy là người chúng tôi kính trọng nhất—ra đón; lúc đó chúng tôi chưa vỡ lẽ về ông. Vì ông không xuất hiện, chúng tôi cùng các vị kia xuống bờ bằng thuyền bunder-boat của họ và cập bến Apollo Bunder. Việc đầu tiên tôi làm khi chạm bờ là cúi xuống hôn bậc đá granit; một hành vi pûjâ bộc phát của tôi! Bởi vì chúng tôi rốt cuộc cũng đặt chân lên thổ địa thiêng liêng; quá khứ quên rồi, hành trình biển hiểm nguy và khó chịu cũng ra khỏi tâm trí, nỗi đau của hy vọng khắc khoải lâu ngày nhường chỗ cho niềm hân hoan rạo rực khi hiện diện trên đất nước của các Rishi, quê nôi của các tôn giáo, nơi ngụ của các Chân sư, quê nhà của những anh chị em da sẫm của chúng tôi, với họ mà được sống và chết chung là tất cả điều chúng tôi ước. Mọi điều tàn nhẫn mà bạn đồng hành đã kể với chúng tôi trên tàu về sự yếu đuối đạo đức của họ, về thói a dua, về sự bất tín và không thể giành được sự kính trọng của người Âu, đã bị quên rồi; vì chúng tôi yêu họ bởi dòng tiền nhân của họ và ngay cả bởi những bất toàn hiện tại của họ, thậm chí chúng tôi sẵn lòng yêu họ vì chính họ. Và ít nhất là về phần tôi, cảm thức này bền mãi đến hôm nay. Theo một nghĩa rất thực, với tôi, họ là dân tôi, đất nước họ là nước tôi; nguyện hồng ân của các Bậc Hiền Thánh ở cùng họ và quê hương ấy luôn mãi!

CHAPTER II

SETTLING DOWN AT BOMBAY—ỔN ĐỊNH Ở BOMBAY

IT was a burning hand that the Indian Sûrya Deva laid upon our heads as we stood on the platform of Apollo Bunder. The noonday Bombay sun of mid-February is a surprise to a Western visitor, and we had time to feel its full power before Mr. Hurrychund came to our rescue. He had gone off to the steamer just after we had disembarked, and so caused us to wait for him on the fiery quay, with the air all in a hot quiver about us.

Ấy là bàn tay nóng bỏng mà Sûrya Deva của Ấn đặt lên đầu chúng tôi khi chúng tôi đứng trên sân bến Apollo Bunder. Nắng trưa Bombay giữa tháng Hai là một điều bất ngờ đối với khách phương Tây, và chúng tôi có đủ thời giờ cảm hết uy lực của nó trước khi Ông Hurrychund đến giải vây. Ông đã đi ra tàu ngay sau khi chúng tôi rời tàu, khiến chúng tôi phải đợi ông trên bến đỏ lửa, với không khí rung rinh nóng hầm hập quanh mình.

Besides Hurrychund and the three gentlemen above mentioned, I do not recollect any others having come to greet us on landing—a fact which was bitterly resented by the members of the Arya Samaj, who charged their then President, Hurrychund, with selfish design in keeping his colleagues uninformed of our movements so that he might enjoy the first of our company by himself.

Ngoài Hurrychund và ba vị vừa kể, tôi không nhớ có ai khác đến đón chúng tôi lúc cập bến—một sự kiện đã bị các hội viên Arya Samaj uất ức chỉ trích, họ cáo buộc vị Hội trưởng khi ấy, Hurrychund, có dụng ý ích kỷ khi không thông báo cho các đồng sự về lịch trình của chúng tôi để ông được độc hưởng thời khắc đầu với chúng tôi.

The streets of Bombay charmed us with their strikingly Oriental character. The tall apartment-houses in stucco, the novel dresses of the motley Asiatic population, the quaint vehicles, the overpowering influence of the whole picture on our artistic perceptions, and the delightful sense of being at last at the goal of our long-nourished expectations, amid our dear “Heathen,” to meet and live with whom we had crossed so many seas and buffeted so many storms—all these vivid impressions filled us with delight.

Những con phố ở Bombay làm chúng tôi say mê bởi phong vị Đông phương đậm nét. Các nhà chung cư cao bằng vữa, y phục lạ mắt của đám đông Á Châu hỗn hợp, những cỗ xe kỳ lạ, cả ảnh hưởng áp đảo của toàn bức tranh lên cảm quan mỹ thuật của chúng tôi, và cảm thức khoái lạc được ở đích đến của những kỳ vọng nuôi dưỡng bấy lâu, giữa những người “Ngoại Giáo” thân yêu, là vì gặp gỡ và cùng sống với họ mà chúng tôi đã vượt bao biển khơi, đội bao phong ba—tất cả những ấn tượng rực rỡ ấy làm chúng tôi hoan hỉ vô cùng.

Before leaving New York, I had written Hurrychund to engage for us a small, clean house in the Hindu quarter, with only such servants as were indispensable, as we did not wish to waste a penny on luxuries. We were taken to a house of his own on -the Girgaum Back Road, standing in a comparatively forlorn compound, and adjoining his glass-roofed photographic studio. It was certainly small enough, but being predisposed to find everything charming, we felt perfectly contented. Cocoa-palms nodded their fronds over our roof, and Indian sweet-scented flowers rejoiced our sense of smell; after the dismal sea-voyage it seemed like Paradise. The ladies of our friends families called on H. P. B. and Miss Bates, and a number of Hindu and Parsi gentlemen on our whole party; but the rush of visitors began the next morning, news of our arrival having by this time been spread. Wimbridge—an artist—and I sat by the hour together watching the throngs that passed along the street, fairly intoxicated with the innumerable subjects for pencil and color which we saw—every hackery, bullock, dray, and human figure an art study.

Trước khi rời New York, tôi đã viết cho Hurrychund nhờ thuê cho chúng tôi một căn nhà nhỏ, sạch sẽ ở khu người Ấn, chỉ với những gia nhân tối thiểu, vì chúng tôi không muốn phí một xu cho xa xỉ. Chúng tôi được đưa đến một căn nhà riêng của ông trên Girgaum Back Road, nằm trong một khuôn viên khá hiu hắt, kề bên xưởng ảnh mái kính của ông. Chắc chắn nó đủ nhỏ, nhưng sẵn lòng tìm cái gì cũng đáng yêu, chúng tôi thấy hoàn toàn mãn ý. Dừa vẫy tàu lá bên trên mái nhà, và hoa thơm Ấn Độ làm ngây ngất khứu giác; sau chuyến biển ảm đạm, nơi ấy như Cõi Phúc. Phu nhân các bằng hữu tới thăm H. P. B. và Cô Bates, và nhiều quý ông người Ấn và Parsi tới thăm cả đoàn; nhưng dòng khách thực sự đổ tới vào sáng hôm sau, sau khi tin chúng tôi đến đã lan ra. Wimbridge—một họa sĩ—và tôi ngồi hàng giờ bên nhau ngắm dòng người qua lại trên phố, ngây ngợp trước vô vàn đề tài cho bút chì và màu sắc mà chúng tôi thấy—mỗi chiếc hackery, xe bò, xe thồ và mỗi dáng người đều là một bài học mỹ thuật.

We had formed one acquaintanceship on the “Speke Hall” that turned into a lasting friendship, that of Mr. Ross Scott, B.C.S., a noble fellow and an Irishman of the better sort. His long conversations with us about Eastern Philosophy had resulted in his joining our Society. He called on the evening of our first day ashore, and provoked H. P. B. to doing a phenomenon that was quite new to me. They were sitting together on a sofa and I was standing with Hurrychund at the centre table, when Scott reproached H. P. B. for her evident intention of letting him go North to his official post, without giving him the least proof of the existence of the psychical powers in men, of which she had so much spoken. She liked him very much, and so consented to comply with his request. “What shall I do for you?” she asked. He snatched the handkerchief she was holding in her hand, and, pointing to her name “Heliona” embroidered across one corner, said: “Well, make that name disappear and another to take its place.” “What name do you want?” she rejoined. Looking towards us, where we stood at a distance of a few paces, he pointed to our host and said: “Let it be Hurrychund’s.” We came over to them on hearing this, and saw what was-done. She gave Scott to hold tight in his hand the embroidered corner of her handkerchief, retaining the opposite corner herself. After a minute or so she told him to look. He did so, found the substitution of names had been made, Hurrychund’s being there in the same kind of embroidery, and in the first impulse of excitement, cried out: “Where is your physical science now? This beats all the professors in the world! Madame, if you will give me that handkerchief, I’ll pay £5 into the Arya Samaj treasury!” “Take it, and welcome,” she said, and he thereupon counted out into Hurrychund’s hand five golden sovereigns. I do not recollect this fact having been communicated to the Press, but the story was at once spread by the dozen or more eye-witnesses, and helped to intensify the interest which the arrival of our party had created among educated Indian gentlemen.

Trên tàu “Speke Hall” chúng tôi đã kết một quen biết trở thành bằng hữu bền lâu: Ông Ross Scott, B.C.S., một người trượng phu và là người Ireland thuộc hạng tốt. Những cuộc chuyện trò dài của ông với chúng tôi về Triết lý Đông phương đã dẫn đến việc ông gia nhập Hội. Ông ghé thăm tối ngày đầu chúng tôi lên bờ, và đã khuấy gợi H. P. B. làm một hiện tượng mới đối với tôi. Họ ngồi cùng trên ghế xô-pha, còn tôi đứng với Hurrychund ở bàn giữa, khi Scott trách H. P. B. có ý định để ông đi Bắc về nhiệm sở mà không cho ông chút bằng chứng nào về sự hiện hữu của các năng lực tâm linh nơi con người, những điều Bà đã nói đến nhiều. Bà mến ông lắm, nên thuận lòng đáp ứng. “Ông muốn tôi làm gì cho ông?” Bà hỏi. Ông chộp chiếc khăn tay Bà đang cầm, và, chỉ vào tên “Heliona” thêu trên một góc, nói: “Vậy hãy làm cái tên ấy biến mất và thay bằng tên khác.” “Ông muốn tên gì?” Bà hỏi lại. Nhìn về phía chúng tôi, nơi chúng tôi đứng cách vài bước, ông chỉ chủ nhà và nói: “Để là tên của Hurrychund.” Nghe vậy chúng tôi lại gần, và chứng kiến điều đã xảy. Bà đưa cho Scott nắm chặt trong tay góc có thêu tên trên khăn của Bà, còn Bà giữ góc đối diện. Độ một phút sau, Bà bảo ông nhìn. Ông nhìn, thấy tên đã thay, tên Hurrychund hiện ra bằng kiểu thêu giống hệt, và trong cơn phấn khích, ông kêu lên: “Khoa học thực nghiệm ở đâu rồi? Mấy ông giáo sư trên đời chịu thua hết! Thưa Bà, nếu Bà cho tôi chiếc khăn này, tôi sẽ nộp 5 bảng vào quỹ Arya Samaj!” “Cứ lấy, rất hân hoan,” Bà nói, và ngay đó ông đếm vào tay Hurrychund năm đồng bảng vàng. Tôi không nhớ việc này đã được báo chí biết hay chưa, nhưng câu chuyện lập tức lan đi bởi cả chục nhân chứng mắt thấy, và góp phần làm tăng thêm sự quan tâm mà việc chúng tôi đến đã gây ra nơi giới trí thức Ấn.

On the evening of 17th February, a reception was held at the photographic studio, at which over 300 invited guests were present. The usual welcome address, with garlands, limes and rose-water as accompaniments, was given us, and H. P. B., Scott, Wimbridge, and I replied, as well as we could, in view of the deep emotion which stirred in us. My Diary says: “The occasion fairly brought the water to my eyes. The long-expected moment comes at last, and I am face to face with my spiritual kinsmen.” It was unalloyed happiness, springing from the feeling of the heart, under the control of the intellect; not an evanescent gush of emotion, destined to die out soon and react into a sense of disenchantment and disgust.

Tối 17 tháng Hai, một buổi tiếp tân được tổ chức tại xưởng ảnh, hơn 300 khách mời hiện diện. Bài diễn từ chào mừng như lệ thường, kèm vòng hoa, trái chanh và nước hoa hồng, được gửi đến chúng tôi, và H. P. B., Scott, Wimbridge và tôi lần lượt đáp lời trong cảm xúc dạt dào. Nhật ký của tôi chép: “Cơ hội ấy làm tôi rưng rưng. Khoảnh khắc trông đợi bấy lâu rốt cuộc đến, và tôi mặt đối mặt với những người cùng huyết thống tinh thần.” Đó là hạnh phúc thuần khiết, phát sinh từ tình cảm trái tim dưới sự điều khiển của trí tuệ; không phải cơn bốc đồng thoáng chốc để rồi tàn phai và dội lại thành vỡ mộng và chán ghét.

The second day following, a party was made up to witness the Shivar€tri anniversary celebration at Elephanta Caves. We enjoyed the picinic like so many school children, the day giving us a series of surprises and novel sensations. The bunder-boat: “Sultan,” to begin with, with its strange rig and model, its Muslim crew, its quaint cabin, its primitive fire-place, where rice and curry were cooked most skillfully. Then the ancient caves, with giant sculptures seen in chiaroscuro; huge lingams, paint-smeared, ever dripping with oblations and decked with flowers; the ablutions of the pilgrims in the adjacent pond and their circumambulations of the Shivalingam; the pûjâris touching the worshippers’ temples with water that has bathed the stone symbol; the crowds, with their—to us—novel Eastern costumes; the painted and ash-besmeared sanyâsis cramped into painful postures and successfully appealing to pious charity; the scores of Indian children; the sweetmeats vendors; a troop of jugglers doing the mango trick and other tours de force so badly as to deceive no sharp eye; and our lunch in the verandah of the keeper’s cottage, whence we saw in one picture the moving, chattering throngs in the foreground, and the wide expanse of the harbor, under a cloudless azure sky, with the towers and roofs of distant Bombay on the horizon line. Then came the sail home before a free wind, our bunder-boat skimming along like a bird and beating a European yacht that ran on the same course. After more than twenty years the whole comes vividly back to my mind’s eye like a freshly painted panorama.

Hai ngày sau, một đoàn được lập để dự lễ kỷ niệm Shivaratri tại động Elephanta. Chúng tôi hưởng chuyến dã ngoại như trẻ thơ đi chơi, ngày ấy đem đến cho chúng tôi một chuỗi bất ngờ và cảm giác mới lạ. Chiếc bunder-boat “Sultan,” trước hết, với kiểu buồm và dáng tàu kỳ dị, thủy thủ đoàn Hồi giáo, khoang tàu lạ mắt, bếp lò mộc nơi cơm và cà-ri được nấu thật khéo. Rồi những hang động cổ, với tượng khổng lồ hiện trong ánh tối sáng; những lingam to lớn, bôi sơn, luôn rỉ ròng ròng các lễ vật và kết hoa; cảnh tín đồ tắm gội trong ao kế cận và đi nhiễu quanh Shivalingam; các pûjâri chấm nước tắm tượng chạm vào thái dương tín hữu; đám đông với y phục Đông phương lạ mắt với chúng tôi; các sanyâsi mình bôi tro hay vẽ màu, ngồi những tư thế khổ hạnh gây ấn tượng và khéo gợi lòng từ thiện; hàng hàng trẻ con Ấn; những người bán bánh kẹo; một tốp ảo thuật diễn trò cây xoài và các màn ngoạn mục khác vụng đến nỗi con mắt tinh nào cũng chẳng bị lừa; và bữa trưa của chúng tôi ở hàng hiên căn nhà của người giữ đền, nơi chúng tôi nhìn thấy trong một khuôn hình: tiền cảnh là đám đông rộn ràng huyên náo, hậu cảnh là biển cả mênh mông dưới trời lam không gợn, với tháp mái của Bombay xa xa trên đường chân trời. Rồi là cánh buồm lộng gió đưa tàu về, thuyền bunder-boat lướt như chim và vượt một du thuyền châu Âu chạy cùng hướng. Hơn hai mươi năm đã qua mà toàn cảnh còn trở lại rõ mồn một trong mắt tâm tôi như một bức họa vừa mới vẽ.

Visitors thronged daily to us in increasing numbers, a packed roomful of Parsi gentlemen with their wives and children being followed, immediately afterward, by a like number of Hindu families. A black Jain monk, with shaven crown and his body naked to the waist, came and, through, an interpreter, cross-questioned me, at great length, upon religion. Presents of ripe fruits were sent with messages of greeting. A special performance of the Hindu drama “Sitaram” was given in our honor at the Elphinstone Theatre.

Khách thăm viếng đến chật nhà mỗi ngày mỗi đông, một phòng đầy các quý ông Parsi cùng vợ con, rồi liền sau đó là một phòng đông tương tự các gia đình người Ấn. Một nhà sư Kỳ Na da đen, đầu cạo trọc, mình trần đến thắt lưng, đến và thông qua thông dịch viên, hỏi vặn tôi rất lâu về tôn giáo. Quà trái cây chín được gửi tới kèm sứ điệp vấn an. Một suất diễn đặc biệt vở kịch Ấn “Sitaram” được trình tại Nhà hát Elphinstone để tôn vinh chúng tôi.

We found ourselves quartered in the most conspicuous box, bedecked with garlands of jassmine and roses, given huge bouquets, supplied with refreshments, and, on our rising to leave, having to receive an address, read to us from the stage! The play was not over by any means, but our powers of endurance had reached their limit; we went at 9 p.m. and left the theatre at 2.45 a.m.

Chúng tôi thấy mình được xếp chỗ trong lô nổi bật nhất, trang hoàng vòng hoa nhài và hồng, tặng những bó hoa lớn, dọn đồ giải khát, và đến khi đứng lên ra về thì lại phải nhận một bài diễn văn đọc cho chúng tôi từ trên sân khấu! Vở kịch còn lâu mới kết thúc, nhưng sức chịu đựng của chúng tôi đã đến hạn; chúng tôi đến lúc 9 giờ tối và rời nhà hát lúc 2 giờ 45 sáng.

The sweetness of this evening was followed by our first taste of bitterness the next morning. Mr. Hurrychund, after strenuous pressure, rendered his accounts. The bloom was off the plum: our supposed hospitable entertainer put in an enormous bill for rent, food, attendance, repairs to the house, even the hire of the three hundred chairs used at our reception, and the cost of a cablegram he had sent us, bidding us hasten our coming! The “demnition total” made my eyes stare; for, at that rate, we should soon find ourselves with empty pockets. And it had been given out and generally understood that we were this person’s guests! Protests came, one thing led to another and we finally discovered that the considerable sum of over six hundred rupees (not then a vanishing silver disc but a substantially valuable token) which we had sent through him to the Arya Samaj, had got no further than his hand, and a precious clamor arose among his Samajist colleagues. I shall never forget the scene when H. P. B., at a meeting of the Arya Samaj, let loose at him the bolts of her scorn, and forced him to promise restitution. The money was returned, but our dealings with the man came to, a sudden stop. We set to work to find a house for ourselves, and got one for less than half the rent he was charging us for his own—for he had constituted himself our landlord. We changed quarters, bought furniture and other necessaries, and on 7th March settled ourselves down in the little house, 108, Girgaum Back Road, for the next two years. Thus was shattered our first ideal of the progressive, patriotic, fervently religious Hindu, and, to say truth, the lesson went to our hearts. To be thus deceived and played with at the outset of our Indian career was a sore sorrow; but, for the dear sake of India, we threw off the feeling of depression and kept on our way. Meanwhile our friend Mooljee Thackersey had, on 2nd March, found us a servant, the Guzerati boy, Babula, whose fidelity to H. P. B., up to her leaving India, all know, and who is still my pensioner. He has a rare talent for languages, and, with Magliabecchi’s environment, might have become as great a linguist. When he entered our service he spoke English and French, Goanese, Guzerati, and Hindustani, although but about fifteen years old, and has later acquired a perfect knowledge of Tamil, after our removal to Madras.

Vị ngọt của buổi tối hôm đó liền được tiếp nối bằng vị đắng đầu tiên vào sáng hôm sau. Ông Hurrychund, sau những hối thúc dữ dội, đã trình sổ sách. Lớp phấn mịn của trái mận đã bay đi: người mà chúng tôi tưởng là chủ nhà hiếu khách lại kê một hóa đơn khổng lồ cho tiền thuê nhà, tiền ăn, tiền phục vụ, tiền sửa chữa nhà cửa, thậm chí cả tiền thuê ba trăm chiếc ghế dùng trong buổi tiếp tân của chúng tôi, và cả chi phí bức điện tín ông ta đã gửi cho chúng tôi, giục chúng tôi mau đến! Cái “tổng cộng chết tiệt” khiến tôi trợn tròn mắt; bởi, với đà đó, chẳng mấy chốc chúng tôi sẽ thấy túi rỗng không. Và người ta đã công bố và đều hiểu rằng chúng tôi là khách của người này! Lời phản đối nổi lên, chuyện này kéo chuyện kia và cuối cùng chúng tôi phát hiện ra rằng món tiền đáng kể hơn sáu trăm rupee (vào thời đó chưa phải là một đồng đĩa bạc sắp biến mất mà là một tín vật có giá trị thực) mà chúng tôi đã gửi qua tay ông ta cho Arya Samaj, vẫn không đi xa hơn bàn tay ông ta, và một cuộc la ó quý báu đã nổi lên giữa các đồng sự Samajist của ông. Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh tượng khi Bà H. P. B., tại một cuộc họp của Arya Samaj, trút xuống ông ta những tia sét của sự khinh miệt của Bà, và buộc ông ta hứa hoàn nguyên. Tiền đã được trả lại, nhưng việc giao thiệp của chúng tôi với người đàn ông ấy lập tức chấm dứt. Chúng tôi bắt tay vào việc tìm một căn nhà cho riêng mình, và tìm được một nơi với tiền thuê chưa đến một nửa số mà ông ta đã tính cho chúng tôi đối với chính ngôi nhà của ông ta—vì ông ta đã tự đặt mình làm chủ nhà của chúng tôi. Chúng tôi dọn sang nơi khác, mua đồ đạc và các vật dụng cần thiết khác, và vào ngày 7 tháng Ba, chúng tôi yên ổn trong căn nhà nhỏ ở số 108, Girgaum Back Road, suốt hai năm kế tiếp. Thế là lý tưởng đầu tiên của chúng tôi về người Ấn Độ tiến bộ, ái quốc, nhiệt thành tôn giáo đã tan vỡ, và nói thật, bài học ấy đã chạm đến trái tim chúng tôi. Bị lừa dối và đùa giỡn như thế ngay buổi đầu của sự nghiệp ở Ấn là một nỗi buồn đau; nhưng, vì Ấn Độ thân yêu, chúng tôi gạt bỏ nỗi u uất và tiếp tục con đường của mình. Trong khi đó, người bạn Mooljee Thackersey của chúng tôi, vào ngày 2 tháng Ba, đã tìm cho chúng tôi một người hầu, cậu bé Guzerati tên Babula, người mà lòng trung tín với Bà H. P. B., cho đến khi Bà rời Ấn Độ, ai cũng biết, và hiện nay vẫn đang lĩnh trợ cấp của tôi. Cậu có một năng khiếu hiếm có về ngôn ngữ, và, nếu ở trong môi trường của Magliabecchi, có lẽ đã trở thành một nhà ngôn ngữ học lớn. Khi vào phục vụ cho chúng tôi, cậu nói được tiếng Anh và tiếng Pháp, tiếng Goanese, Guzerati và Hindustani, tuy mới khoảng mười lăm tuổi, và sau này đã nắm vững hoàn hảo tiếng Tamil, sau khi chúng tôi chuyển đến Madras.

Every evening we held an impromptu durbar, when the knottiest problems of philosophy, metaphysics, and science were discussed. We lived and breathed in an atmosphere of mind, amid the highest spiritual ideals. I see entries in my Diary of the first appearance on our scene of friends who have since been closely identified with the progress of the Theosophical movement. For example, on 8th March, our acquaintance and friendship began with Janardhah Sakkharam Gadgil, one of the most brilliant of the Bombay University graduates; then, and until his recent retirement from worldly occupation to assume the religious life, a Baroda Judge. My notes on him testify to the immediate and deep impression made upon me by his learning, dignity of ideals, and thirst for spiritual knowledge. Yet I seem to have had some foresight as to the unlikelihood of his becoming a practical co-worker with us, for I have written in the Diary: “A far wiser and cleverer man than myself. May be made an extraordinary ally—if he has the Pluck.” He never quite had that from being hampered by his official surroundings and the unpopularity which our cause had from the first with the ruling class. Mentally, he was not ripe for official martyrdom, though his heart pushed him that way. Yet he was ever an openly declared member of our Society; taking usually in good-natured indifference the taunts he had to bear from friends, chief among them his official superior, the Dewan of Baroda, the late Sir T. Madhava Row, K.C.S.I.— a great statesman, but a confirmed sceptic and a moral prisoner of the Sirkar.

Mỗi buổi tối, chúng tôi mở một buổi triều kiến ứng hứng, nơi những vấn đề rắc rối nhất của triết học, siêu hình học và khoa học được thảo luận. Chúng tôi sống và thở trong bầu không khí của thể trí, giữa những lý tưởng tinh thần cao nhất. Tôi thấy trong Nhật ký những dòng ghi về sự xuất hiện lần đầu trên vũ đài của chúng tôi những người bạn mà từ đó về sau đã gắn bó mật thiết với đà tiến của phong trào Thông Thiên Học. Chẳng hạn, ngày 8 tháng Ba, mối quen biết và tình giao hảo của chúng tôi với Janardhah Sakkharam Gadgil bắt đầu, ông là một trong những người tốt nghiệp xuất sắc nhất của Đại học Bombay; khi ấy, và cho đến lúc gần đây ông từ bỏ việc đời để sống cuộc đời tôn giáo, ông là một Thẩm phán ở Baroda. Những ghi chú của tôi về ông chứng thực ấn tượng tức thì và sâu đậm mà học vấn, phẩm giá lý tưởng và khát vọng tri thức tinh thần của ông đã gây cho tôi. Thế nhưng dường như tôi đã linh cảm phần nào về sự ít có khả năng ông trở thành một cộng tác viên thực tiễn với chúng tôi, vì tôi đã viết trong Nhật ký: “Một người khôn ngoan và tài trí hơn tôi nhiều. Có thể trở thành một đồng minh phi thường—nếu ông ấy có ‘dũng khí’.” Ông chưa bao giờ thật sự có điều đó, vì bị vướng víu bởi hoàn cảnh công vụ và sự mất lòng mà sự nghiệp của chúng tôi phải gánh chịu ngay từ đầu nơi tầng lớp cầm quyền. Về mặt trí tuệ, ông chưa chín muồi cho sự ‘tử đạo’ công chức, dù trái tim ông lại xô đẩy theo hướng ấy. Tuy vậy, ông luôn là một hội viên công khai tuyên bố của Hội chúng tôi; thường đón nhận với sự điềm nhiên vui vẻ những lời chế nhạo mà ông phải chịu từ bạn bè, trong đó người đứng đầu là cấp trên chính thức của ông, vị Dewan của Baroda, ngài quá cố T. Madhava Row, K.C.S.I.—một chính khách lớn, nhưng là một người hoài nghi cố chấp và một tù nhân đạo đức của Sirkar.

There came to us, about that time, M. B. Namjoshi, of Poona, and Sorabji J. Padshah; the former since known as an active politician of the Sarvajanik Sabha, of Poona, the latter a brilliant young Farsi, whose devotion to the Society and ourselves personally has never weakened nor wavered for a single day. On l8th March, our young Shyamji Krishnavarma sailed for England to join Professor Monier Williams at Oxford, and help him, and himself, to fame. For Shyamji attended one of the Oriental Congresses, and—although by caste a non-Brahmin—astonished the savants with his recitations of mantras; he came home a Pandit, and later on was Dewan of a Native State. Other two notable acquaintances were the brothers M. M. and A. M. Kunte, of whom the first was a famed Sanskrit Pandit and Professor, the other an M.D. and Demonstrator of Anatomy in Grant Medical College, Bombay. Of all our new-found friends, these were the most effusive and complimentary; of all we have ever known in India, the Doctor showed the most distressful lack of moral courage and most excited my contempt. He was a member of our Council, on terms of closest intimacy with us, most lavish in offers of assistance; his house ours, his fortune, his horses and carriage: we were his brethren indeed. One evening, at a Council meeting, he took the chair at my request, while I presented certain grave formal charges made by Swami Dayânand against Hurrychund, and at the adjournment we parted excellent friends. Two days later, the Doctor’s servant brought me a letter resigning his connection with the Society, without a word of explanation. I could not believe my eyes and thought it some stupid joke; but, hastening to his house, was bewildered by his telling me that it was sober earnest. After repeated demands for an explanation, the truth came out. The Principal of the Medical College had advised him not to have his name connected with ours, as the Government suspected our Society of having political designs! And so, instead of manfully defending us and declaring our perfect indifference to politics, which he, as one of our intimate friends and councillors, could so easily have done, this Doctor of wealth and large practice, who was not in the least dependent on his paltry college appointment, went straight home and put his cowardice into writing! Every decent American and Englishman will understand the feeling of contempt with which I turned my back on him forever. The next day, smarting under this sense of injustice, I wrote the Professor that as his brother foresaw possible inconvenience from sticking to our Society, I hoped that no feeling of delicacy would prevent his own withdrawal if he shared the uneasiness. His answer was his written resignation! I said to another Hindu friend, whom I knew to be really dependent on his paltry Government appointment of Rs. 40 per month: “Martandrao Bhai” suppose, on going to office to-morrow morning, you should find on your desk a note to the effect that you had to choose between your membership in the, Theosophical Society and your place, as we were under suspicion of political designs, what would you do?” The man’s face grew serious, he seemed as if casting up the chances, and then, in a stumbling sort of utterance peculiar to him, and with a shake of the head and compression of the lips, he answered: “I— I could—d not go against my principles!” I threw my arms about him and shouted to H. P. B. in the, next room: “Come! come and see a true Hindu and a brave man!” That man’s name is Martandrao ‘Babaji Nagnath; he is a Maratha Brahmin.

Vào thời gian đó, có M. B. Namjoshi, ở Poona, và Sorabji J. Padshah đến với chúng tôi; người trước từ đó được biết đến như một chính khách năng động của Sarvajanik Sabha ở Poona, người sau là một thanh niên Farsi xuất sắc, người mà lòng tận tụy đối với Hội và đối với chính chúng tôi chưa bao giờ suy giảm hay lay chuyển dù chỉ một ngày. Ngày 18 tháng Ba, chàng Shyamji Krishnavarma trẻ của chúng tôi lên tàu sang Anh để gia nhập Giáo sư Monier Williams tại Oxford, và giúp ông, cũng như tự giúp mình, đạt danh tiếng. Vì Shyamji đã tham dự một trong các Đại hội Đông phương, và—dù theo đẳng cấp là không phải Brahmin—đã làm các học giả kinh ngạc bằng những bài ngâm mantram; anh trở về nhà như một Pandit, và sau đó là Dewan của một bang bản xứ. Hai mối quen biết đáng kể khác là hai anh em M. M. và A. M. Kunte, trong đó người anh là một Pandit Sanskrit lừng danh kiêm Giáo sư, người em là một bác sĩ y khoa và Giảng viên thực hành môn Giải phẫu tại Trường Y Grant, Bombay. Trong tất cả những người bạn mới, họ là những người bộc lộ và tán dương nồng nhiệt nhất; và trong tất cả những người chúng tôi từng biết ở Ấn Độ, vị Bác sĩ cho thấy sự thiếu can đảm đạo đức đáng buồn bậc nhất và khiến tôi khinh bỉ nhất. Ông là hội viên Hội đồng của chúng tôi, thân mật với chúng tôi nhất, vô cùng hào phóng trong các đề nghị trợ giúp; nhà ông là nhà chúng tôi, tài sản của ông, ngựa và xe ngựa của ông: chúng tôi quả là huynh đệ của ông. Một buổi tối, trong một cuộc họp Hội đồng, theo yêu cầu của tôi, ông ngồi ghế chủ tọa, trong lúc tôi trình bày một số cáo buộc nghiêm trọng và chính thức do Swami Dayânand đưa ra chống lại Hurrychund, và khi phiên họp kết thúc, chúng tôi chia tay như những người bạn tuyệt vời. Hai ngày sau, người hầu của vị Bác sĩ mang đến cho tôi một lá thư xin từ nhiệm mối liên hệ với Hội, không một lời giải thích. Tôi không thể tin vào mắt mình và tưởng đó là một trò đùa ngớ ngẩn; nhưng, vội vã đến nhà ông, tôi đã bối rối khi nghe ông nói rằng đó là chuyện nghiêm túc. Sau nhiều lần yêu cầu giải thích, sự thật lộ ra. Hiệu trưởng Trường Y đã khuyên ông đừng để tên mình dính với chúng tôi, vì Chính phủ nghi ngờ Hội của chúng tôi có dụng ý chính trị! Thế là, thay vì can đảm bênh vực chúng tôi và tuyên bố sự vô can tuyệt đối của chúng tôi đối với chính trị, điều mà ông, với tư cách là một trong những người bạn thân và cố vấn của chúng tôi, có thể dễ dàng làm được, thì vị bác sĩ nhiều của cải và hành nghề rộng ấy, người hoàn toàn không phụ thuộc chút nào vào cái chức vụ vớ vẩn ở trường, đã đi thẳng về nhà và viết nên sự hèn nhát của mình! Mọi người Mỹ và người Anh đàng hoàng đều sẽ hiểu cảm giác khinh bỉ khiến tôi quay lưng vĩnh viễn với ông ta. Ngày hôm sau, còn nhức nhối vì nỗi bất công này, tôi viết cho vị Giáo sư rằng vì em ông dự liệu khả năng thấy bất tiện nếu tiếp tục gắn bó với Hội chúng tôi, tôi hy vọng không có sự tế nhị nào ngăn trở việc chính ông rút lui nếu ông chia sẻ sự bất an ấy. Câu trả lời của ông là đơn từ chức viết tay! Tôi nói với một người bạn Ấn Độ khác, người mà tôi biết thực sự phụ thuộc vào cái chức vụ Chính phủ còm cõi 40 Rs. một tháng của mình: “Martandrao Bhai, giả thử, sáng mai khi anh đến công sở, anh thấy trên bàn mình một tờ giấy với nội dung anh phải chọn giữa việc làm hội viên Hội Thông Thiên Học và chỗ làm, vì chúng tôi bị nghi ngờ có dụng ý chính trị, thì anh sẽ làm gì?” Mặt người ấy trở nên nghiêm nghị, dường như đang tính toán cơ hội, rồi, với kiểu nói lắp bắp đặc trưng của anh, và với một cái lắc đầu và đôi môi mím chặt, anh đáp: “Tôi— tôi— không thể— đi ngược lại nguyên tắc của mình!” Tôi ôm chầm lấy anh và gọi Bà H. P. B. ở phòng bên: “Mau! mau đến xem một người Ấn chân chính và một người can đảm!” Tên người ấy là Martandrao Babaji Nagnath; anh là một Brahmin Maratha.

Visitors kept on crowding our bungalow, and stopping until late every evening to discuss religious questions. Old and young, it was all the same; and thus did we come, so early in our connection with the Hindus, to know the difference between Western and Eastern ideals of life, and the greater dignity of the latter. Questions of wealth, color, business, or politics scarcely ever crossed our threshold; the Soul was the burning topic of debate, and, then, for the first time, H. P. B. and I became absorbed in the problems of its cyclic progressions and reincarnations. We were completely happy in our retired cottage under the cocoa-palms. The arrivals and departures of wealth-laden steamers, the hurly-burly of the Bombay mart, the agonising strife of the share and cotton markets, the petty rivalries of officialdom, the receptions, at Government House, did not even enter our thoughts: we were satisfied to be—The world forgetting, by the world forgot.

Khách khứa vẫn tiếp tục chen chúc vào bungalow của chúng tôi, và nán lại đến khuya mỗi tối để bàn các vấn đề tôn giáo. Già trẻ như nhau, chẳng phân biệt; và như thế, ngay rất sớm trong mối liên hệ của chúng tôi với người Hindu, chúng tôi đã biết sự khác nhau giữa lý tưởng sống của phương Tây và phương Đông, và phẩm giá cao hơn của lý tưởng sau. Những vấn đề về tiền tài, màu da, làm ăn hay chính trị hầu như chẳng bao giờ bước qua ngưỡng cửa; Linh hồn là chủ đề nóng bỏng của tranh luận, và rồi, lần đầu tiên, Bà H. P. B. và tôi chìm đắm trong những vấn đề về những chu kỳ tiến triển và các lần tái sinh của nó. Chúng tôi hoàn toàn hạnh phúc trong căn nhà nhỏ ẩn mình dưới hàng dừa. Những chuyến tàu chở đầy của cải đến rồi đi, cái ồn ã hỗn độn của chợ búa Bombay, cuộc tranh đua quay quắt của thị trường cổ phần và bông vải, những ganh đua vụn vặt trong giới công chức, những buổi tiếp tân tại Dinh Thống đốc, thậm chí không đi vào ý nghĩ của chúng tôi: chúng tôi hài lòng mà sống—quên đời, và cũng bị đời quên.

Fanatics, if you please; crazy enthusiasts; dreamers of unpractical dreams; devotees of a hobby! dupes of our imaginations. Yet our dreams were of human perfectibility, our yearnings after divine wisdom, our sole hope to help mankind to higher thinking and nobler living. And, under those umbrageous palms, we were visited in person by Mahâtmâs; and their inspiring presence made us strong to proceed in the path we were treading, and rewarded us an hundred- fold for all the treacheries, and jibes, and Police surveillance, and slanders, and persecutions we had to undergo. So long as they were with us, what mattered it who might be against us? The world had not conquered us, but we were destined by our Karma to vanquish its indifference and ultimately deserve its respect.

Cứ gọi chúng tôi là những kẻ cuồng tín; những người say mê điên rồ; những kẻ mộng mơ bất khả thi; những kẻ sùng tín một thú đam mê! những nạn nhân của sự tưởng tượng của chính mình. Thế nhưng giấc mơ của chúng tôi là về khả tính hoàn thiện của con người, khát vọng của chúng tôi hướng tới minh triết thiêng liêng, và hi vọng duy nhất của chúng tôi là giúp nhân loại tư duy cao hơn và sống cao quý hơn. Và, dưới những tán dừa rợp mát ấy, các Mahatma đã thân lâm viếng thăm chúng tôi; và sự hiện diện truyền hứng của Các Ngài đã làm chúng tôi mạnh mẽ để tiếp tục con đường mình đang dấn bước, và bù đắp cho chúng tôi gấp trăm lần mọi sự phản trắc, lời nhạo báng, sự giám sát của Cảnh sát, lời vu khống và ngược đãi mà chúng tôi phải chịu. Bao lâu Các Ngài còn ở với chúng tôi, thì cần chi ai có thể chống đối chúng tôi? Thế gian chưa khuất phục được chúng tôi, mà chúng tôi lại được Nghiệp quả định phận để chiến thắng sự dửng dưng của nó và sau cùng xứng đáng với sự kính trọng của nó.

We knew not, but those Adepts knew, that we two were to serve as the necessary nuclei for the concentration and diffusion of that âkâshic stream of old Aryan thought which the revolution of cycles had brought again into the focus of human needs. An agent is always indispensable as the vortex-ring of these intellectual and spiritual recrudescences, and, imperfect as we were, we yet were good enough to serve the present purpose, since we had at least the enthusiasm of sympathy and the quality of obedience. Our personal defects counted as nothing in the balance of the public need. Alexandre Dumas, sr., in Les Hommes de Fer, poetically puts this idea. “There are moments,” says he, “when vague ideas, seeking a body to make themselves man, float above societies like a mist on the surface of the earth: whilst the wind pushes it over the mirror of the lakes and the carpet of the plains, it is but a formless vapor, without consistence or color; but if it encounters a great hill, it attaches itself to its crest, the vapor becomes a cloud, the cloud a shower, and while the brow of the mountain girds on its aureole of lightnings, the water which filters away mysteriously, gathers itself together in the deep cavities, and emerges at its foot, -the spring of some great river which, ever swelling, crosses the land or society, and which calls itself the “Nile or the Iliad, the Po or the Divina Commedia.”

Chúng tôi không biết, nhưng các Chân sư thì biết, rằng hai chúng tôi sẽ đóng vai trò những hạt nhân cần thiết cho sự tập trung và tỏa lan của dòng a-kashic của tư tưởng Arya cổ, dòng tư tưởng mà vòng quay của các chu kỳ đã đưa trở lại tiêu điểm của những nhu cầu nhân loại. Luôn luôn cần một tác nhân làm vòng xoáy cho những cuộc tái bừng dậy trí tuệ và tinh thần này, và, tuy không hoàn hảo, chúng tôi vẫn đủ tốt để phục vụ cho mục đích hiện thời, vì tối thiểu chúng tôi có nhiệt tâm đồng cảm và phẩm tính vâng phục. Những khiếm khuyết cá nhân của chúng tôi chẳng là gì khi đặt lên cán cân của nhu cầu công chúng. Alexandre Dumas (cha), trong Les Hommes de Fer, đã diễn đạt thi vị ý tưởng này. “Có những lúc,” ông nói, “những ý niệm mơ hồ, đi tìm một thân xác để hóa thành con người, lơ lửng trên các xã hội như màn sương trên mặt đất: trong lúc gió đẩy nó qua tấm gương của các hồ và tấm thảm của các đồng bằng, nó chỉ là một làn hơi vô dạng, không cốt chất, không sắc màu; nhưng nếu nó gặp một ngọn đồi lớn, nó bám lấy đỉnh đồi, làn hơi hóa thành mây, mây hóa thành mưa rào, và trong khi vầng trán của ngọn núi thắt lên vòng hào quang chớp lửa, dòng nước thấm chảy cách kỳ bí lại tụ về trong những khoang sâu, rồi trào ra ở chân núi—thành nguồn của một con sông lớn, cứ thế mà dâng đầy, băng qua xứ sở hay xã hội, và mang tên ‘Nile hay Iliad, Po hay Thần Khúc.’”

In these very latest days, a man of science has exhibited large and beautiful pearls, which he compelled some captive shell-fish to make, by placing pellets of wax inside their shells, and leaving the creatures to cover them with a coating of lovely pink nacre in obedience to their natural instinct. The pinch of wax, in this case, was intrinsically valueless, but it made the nucleus without which the pearls would not have been formed by the animal. So, in a sense, we pioneers of this Theosophical movement served as nuclei around which was formed the sparkling sphere of Aryan wisdom, which is now exciting the wonder of contemporary scholarship by its beauty and its precious worth. Personally, we may have been as intrinsically valueless as the scientist’s balls of beeswax, yet what has gathered around this movement of ours is what the world most needed. And each of our earnest fellow-workers is serving as a separate nucleus for the crystallization of this spiritual nacre.

Ngay trong những ngày mới đây, một nhà khoa học đã trưng bày những viên ngọc trai lớn và tuyệt đẹp, thứ ông bắt một số loài nhuyễn thể trong vỏ làm ra, bằng cách đặt những viên sáp vào trong vỏ của chúng, rồi để cho các sinh vật ấy phủ lên một lớp xà cừ hồng xinh xắn theo bản năng tự nhiên. Cục sáp trong trường hợp này tự thân vô giá trị, nhưng nó tạo ra hạt nhân mà nếu thiếu nó thì con vật không thể kết ngọc. Vậy nên, theo một nghĩa nào đó, những người tiên phong của phong trào Thông Thiên Học này đã làm hạt nhân để quanh đó hình thành nên quả cầu lấp lánh của minh triết Arya, thứ mà nay đang làm các học giả đương đại kinh ngạc bởi vẻ đẹp và giá trị quý báu của nó. Riêng chúng tôi, có thể tự thân vô giá trị như những viên bi sáp ong của nhà khoa học kia, nhưng cái đã kết tụ quanh phong trào của chúng tôi lại chính là điều mà thế giới cần nhất. Và mỗi một cộng tác viên sốt sắng của chúng tôi đang làm một hạt nhân riêng rẽ cho sự kết tinh của lớp xà cừ tinh thần này.

CHAPTER III

LAYING FOUNDATIONS—ĐẶT NỀN MÓNG

INTIMATE as Mr. A. P. Sinnett has long been with the: Founders of the Theosophical Society, and closely as his name has for years been identified with its name, fame and literature, our acquaintanceship, like all other things, had a beginning. It began with a letter, of date 25th February, 1879—nine days after our landing at Bombay—in which, as Editor of the Pioneer, he expresses to me the desire of becoming acquainted with H. P. B. and myself, in case we should be coming up country, and his willingness to publish any interesting facts about our mission to India. In common with the whole Indian Press, the Pioneer had noted our arrival. Mr. Sinnett writes that, from having had a number of chances in London to investigate certain remarkable mediumistic phenomena, he felt more interest than the average journalist in occult questions. The laws of the phenomena being as yet unfathomed the manifestations given mainly under unsatisfactory conditions, and the intelligence behind them a confusing jumble of assertions and theories, his curiosity had not been properly satisfied nor his reason convinced. I replied on the 27th and even if that number was in no other instance fateful of good luck, it certainly did in this one mark the beginning of a most valuable connection and gratifying friendship. Mr. Sinnett’s kind offices came at a time when most needed, and I have never forgotten nor ever can forget that we, personally, and the Society lie under a deep debt of obligation to him. Just landed; known to be identified with Asiatic thought and unsympathetic with the ideals of the Anglo-Indian community; having settled in a retired bungalow, in the heart of the native quarter of Bombay; having been enthusiastically welcomed and accepted by the Hindus, as champions of their ancient philosophies and exponents.of their religions; making no call at Government House nor social advances to the European class, and that class being as densely ignorant of Hinduism and Hindus as they were of us and our plans—we really had not the least right to expect favor from our racial kinsfolk, nor to be surprised that Government should suspect us of ulterior motives. Not another Anglo-Indian Editor was disposed to be kind to us, or to be just in his discussion of our views and ideals. Mr. Sinnett alone was our true friend and conscientious critic; but he was a powerful ally, since he controlled the most influential newspaper in India, and more than any other journalist possessed the confidence and respect of the chief officers of Government. Much is to be said later on about the progress of our acquaintance, so for the present it need only be mentioned that a brisk correspondence was kept up between Mr. and Mrs. Sinnett and our two selves, and that, in the beginning of the following December, we paid them a visit at Allahabad, when a number of interesting Circumstances occurred, to be noted in their proper sequence.

Dù ông A. P. Sinnett đã từ lâu thân thiết với các Vị Sáng lập của Hội Thông Thiên Học, và tên tuổi của ông đã nhiều năm gắn bó chặt chẽ với tên tuổi, thanh danh và văn hệ của Hội, mối quen biết của chúng tôi, như mọi sự khác, đều có khởi đầu. Nó bắt đầu bằng một bức thư, đề ngày 25 tháng Hai, 1879—chín ngày sau khi chúng tôi cập bến Bombay—trong đó, với tư cách Chủ bút tờ Pioneer, ông bày tỏ với tôi mong muốn được làm quen với Bà H. P. B. và tôi, phòng khi chúng tôi đi vào nội địa, và bày tỏ thiện chí đăng tải bất kỳ sự việc thú vị nào về sứ mệnh của chúng tôi đến Ấn Độ. Cùng với toàn bộ Báo chí Ấn, tờ Pioneer đã ghi nhận việc chúng tôi đến. Ông Sinnett viết rằng, do từng có nhiều cơ hội ở London để khảo sát một số hiện tượng đồng tử kỳ lạ, ông thấy hứng thú với các vấn đề huyền bí học hơn mức trung bình của giới ký giả. Vì các định luật của những hiện tượng ấy hãy còn chưa được thấu triệt, các sự hiển lộ thì chủ yếu xảy ra trong những điều kiện thiếu thỏa đáng, và trí tuệ đằng sau chúng là một mớ lộn xộn của những khẳng định và học thuyết, nên trí tò mò của ông chưa được thỏa đáng và lý trí của ông chưa bị thuyết phục. Tôi hồi âm ngày 27, và dẫu con số ấy không mang điềm may mắn trong trường hợp nào khác, thì trong trường hợp này, nó hẳn đã đánh dấu sự khởi đầu của một mối liên hệ vô cùng giá trị và một tình bằng hữu đáng mừng. Sự giúp đỡ ân cần của ông Sinnett đến đúng vào lúc cần nhất, và tôi chưa bao giờ quên, cũng chẳng bao giờ có thể quên, rằng cá nhân chúng tôi và Hội đều mắc món nợ tri ân sâu nặng với ông. Vừa đặt chân lên bờ; ai nấy đều biết chúng tôi gắn bó với tư tưởng Á Đông và không đồng cảm với các lý tưởng của cộng đồng Anglo-Indian; chúng tôi trú trong một bungalow vắng vẻ, ở trung tâm khu người bản xứ của Bombay; được người Hindu nồng nhiệt chào đón và thừa nhận như những người bảo vệ các triết học cổ của họ và là những người giảng giải các tôn giáo của họ; không ghé thăm Dinh Thống đốc cũng không chủ động giao du với giới Âu kiều, và tầng lớp ấy lại ngu dốt dày đặc về Ấn giáo và người Ấn cũng như về chúng tôi và kế hoạch của chúng tôi—trong hoàn cảnh như thế, chúng tôi thật sự không có chút quyền nào để mong đợi sự ưu ái từ đồng bào chủng tộc của mình, cũng không nên ngạc nhiên nếu Chính phủ nghi ngờ chúng tôi có động cơ thầm kín. Không một Chủ bút Anglo-Indian nào khác sẵn lòng tử tế với chúng tôi, hay công bằng khi bàn về quan điểm và lý tưởng của chúng tôi. Riêng ông Sinnett là người bạn chân thành và nhà phê bình lương thiện của chúng tôi; mà ông lại là một đồng minh hùng mạnh, vì ông kiểm soát tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Ấn Độ, và hơn bất kỳ ký giả nào khác, ông được các viên chức chóp bu của Chính phủ tín nhiệm và kính trọng. Nhiều điều sẽ còn phải nói sau này về tiến trình mối quen biết của chúng tôi, nên hiện tại chỉ cần nhắc rằng một mạch thư tín rộn ràng được duy trì giữa ông bà Sinnett với hai chúng tôi, và rằng, vào đầu tháng Mười Hai năm sau, chúng tôi đến thăm họ tại Allahabad, khi một số tình huống thú vị xảy ra, sẽ được ghi chép theo đúng trình tự.

It has been remarked already that the Bombay Parsis were friendly from the beginning, calling upon us with their families in numbers, asking us to their homes, dining with us, and pressing me to preside and distribute prizes at an anniversary of a Parsi girls’ school. While still in America, I had made friendly overtures to Mr. K. M. Shroff, who had just completed a lecturing tour in my country and returned home. He accepted membership, and on all occasions after our arrival at Bombay rendered us loyal help. He was a young man at that time, and not by a long way as influential in his community as he has since become, but he had innate that capacity for hard work which is the prime factor of success in life. Far more influential Parsi gentlemen than he called on us, among them Mr. K. R. Cama, the Orientalist, and his famous father-in-law, the late Mr. Maneckgee Cursetjee, the reforming pioneer, whose charming daughters were, with him, received at several European Courts and universally admired. I see in my Diary that at our first meeting—on 6th March, 1879— I pressed upon Mr. Cama’s attention the necessity of organizing Parsi religious work along Theosophical lines. And I have never ceased doing the like whenever I could get the attention of an influential Parsi. It is a burning shame and disgrace to their community, that their Shetts are so hypnotized by the narcotics of money-getting and worldly success, that they let year after year pass by without using some small portion at least of their great wealth in searching out the fragments of their sacred books in the four corners of their motherland, and doing for their faith, by archaeological research and exploration, what the Christians have done for theirs in Egypt and Palestine. It is a loss to the whole world that the splendor of this magnificent religion is not widely known. Parsi charity is princely, but with all the treasure that has been given by them to objects of public utility, it is sad to think that no millionaire among them, however pious and orthodox, has put aside one little lakh to endow a Parsi Research Society of the kind above hinted at, although it would have helped Zoroastrianism more than all their libraries, hospitals, schools of arts, gymkhanas, drinking fountains or Prince of Wales’ statues.

Đã nói rằng cộng đồng Parsi ở Bombay thân thiện ngay từ đầu, họ đến thăm chúng tôi cùng gia đình rất đông, mời chúng tôi đến nhà họ, dùng bữa cùng chúng tôi, và nài nỉ tôi chủ tọa và phát thưởng tại một lễ kỷ niệm của một trường nữ Parsi. Khi còn ở Mỹ, tôi đã có những bước tiếp cận thân hữu với ông K. M. Shroff, người vừa hoàn tất một chuyến diễn thuyết ở nước tôi và trở về nhà. Ông nhận lời làm hội viên, và trong mọi dịp sau khi chúng tôi cập bến Bombay, ông đã giúp chúng tôi một cách trung thành. Lúc đó ông còn trẻ, và còn lâu mới có tầm ảnh hưởng trong cộng đồng như sau này ông đạt được, nhưng ông bẩm sinh có năng lực lao động cật lực, vốn là yếu tố chủ chốt của thành công trong đời. Những quý ông Parsi có ảnh hưởng hơn ông cũng đến thăm chúng tôi, trong số đó có ông K. R. Cama, nhà Đông phương học, và người cha vợ trứ danh của ông, ông Maneckgee Cursetjee quá cố, người tiên phong cải cách, có những ái nữ duyên dáng cùng ông được tiếp tại nhiều triều đình châu Âu và được ngưỡng mộ khắp nơi. Tôi thấy trong Nhật ký rằng ngay lần đầu gặp mặt—vào ngày 6 tháng Ba, 1879—tôi đã nhấn mạnh với ông Cama sự cần thiết phải tổ chức công việc tôn giáo của Parsi theo các đường lối Thông Thiên Học. Và tôi chưa bao giờ ngừng làm điều tương tự mỗi khi tôi có thể thu hút sự chú ý của một Parsi có ảnh hưởng. Thật là một nỗi hổ thẹn và ô nhục nóng bỏng cho cộng đồng của họ khi các Shett của họ bị thôi miên bởi thứ thuốc tê của việc kiếm tiền và thành công thế tục đến mức họ để năm này qua năm khác trôi đi mà không dùng ít nhất một phần nhỏ trong đại phú của mình để lần tìm những mảnh rời rạc của Thánh thư nơi bốn phương của tổ quốc họ, và làm cho đức tin của họ, qua nghiên khảo và thám hiểm khảo cổ, điều mà người Cơ Đốc đã làm cho đức tin của họ tại Ai Cập và Palestine. Đó là một sự mất mát cho toàn thế giới khi vẻ huy hoàng của tôn giáo trác việt này chưa được biết đến rộng rãi. Lòng từ thiện Parsi là bậc vương giả, nhưng với tất cả của báu họ đã cúng hiến cho các mục đích công ích, thật buồn khi nghĩ rằng không một triệu phú nào trong họ, dù mộ đạo và chính thống đến đâu, chịu dành ra chỉ một lakh nhỏ để cấp dưỡng một Hội Nghiên cứu Parsi theo kiểu gợi ý trên, mặc dầu việc ấy sẽ giúp ích cho Bái Hỏa giáo hơn tất cả thư viện, bệnh viện, trường mỹ thuật, câu lạc bộ thể thao, vòi nước uống hay tượng Thái tử xứ Wales của họ.

It has always struck me with wonder, when talking with Anglo-Indians, to see in what distinctly different worlds they and we live in the East: theirs but an extension of their home life, and filled up with threadbare amusements and distractions to make their resting hours pass by with a minimum of ennui; ours a living of Eastern ideals and a thinking of Eastern thoughts, with no spare time for amusements, nor felt necessity for the distractions of games, parties, and violent exercise. Without the personal experience, one could not imagine there was such a contrast. As I write, the memories of those earliest weeks at Bombay come back to me, and without an effort I seem to be able to recall the pettiest incidents of our life in palm-shaded Girgaum. I remember the compulsory awakening at dawn by the vociferous cawing of countless crows. I remember how my artistic instinct was constantly excited, on glancing about our reception-room or verandah, and noting, the pictures of costume, character, and racial types that I saw. I remember the sustained conversations in English, the common medium of communication between the races of the Indian Empire, and the talks and consultations aside in Guzerati, Marathi, and Hindustani, between fellow tribesmen and castemen. I can in fancy see the lanterns glinting amid the shrubbery, and the columnar trunks of the palm grove brought out into luminous relief by their light. I see ourselves clad in thin clothing and fanned with painted punkahs by Indian servants, the while often wondering how it could be so balmy and warm here and the air so fragrant with odors, while at home icy March winds were sweeping through the streets, and the frozen pavements were ringing like steel under the horses’ shoes, and the starving poor huddled together in their misery. It was almost the daily repetition of a pleasant dream. The only link between us and our homes in the West, were the letters that came by each mail, and the tie of sympathy in a common work between us and our then few colleagues at New York, London, and Corfu.

Luôn làm tôi kinh ngạc, khi trò chuyện với người Anglo-Indian, là thấy họ và chúng tôi sống ở phương Đông trong hai thế giới khác hẳn: thế giới của họ chỉ là phần kéo dài của đời sống quê nhà, đầy ắp những trò giải trí và tiêu khiển cũ rích để làm cho những giờ nghỉ ngơi trôi qua với mức nhàm chán tối thiểu; còn chúng tôi thì sống theo lý tưởng phương Đông và tư duy theo tư tưởng phương Đông, không dư giờ cho trò tiêu khiển, cũng không thấy nhu cầu cho những phân tán của trò chơi, tiệc tùng và vận động dữ dội. Nếu không có trải nghiệm cá nhân, người ta khó lòng tưởng tượng có một tương phản đến vậy. Trong khi tôi viết, ký ức về những tuần lễ đầu tiên ở Bombay quay về, và không cần nỗ lực tôi cũng có thể gợi lại những vụn việc nhỏ nhất trong đời sống của chúng tôi ở Girgaum rợp bóng dừa. Tôi nhớ những lần buộc phải thức dậy lúc rạng đông bởi tiếng quạ vô số kêu inh ỏi. Tôi nhớ bản năng nghệ sĩ của mình luôn bị khơi gợi, mỗi khi đảo mắt quanh phòng khách hay hàng hiên, và nhận ra những bức tranh về y phục, cốt cách, và các kiểu hình chủng tộc mà tôi thấy. Tôi nhớ những cuộc chuyện trò liên tục bằng tiếng Anh, phương tiện chung để giao tiếp giữa các sắc dân của Đế quốc Ấn, và những cuộc chuyện trò, tham vấn riêng bằng Guzerati, Marathi và Hindustani giữa những người đồng tộc và đồng đẳng cấp. Trong tưởng tượng, tôi thấy những chiếc đèn lồng lấp ló giữa bụi cây, và thân cột của lùm dừa nổi bật sáng bừng nhờ ánh đèn. Tôi thấy mình mặc y phục mỏng và được các đầy tớ Ấn cầm những chiếc punkah vẽ quạt mát, và thường tự hỏi sao nơi đây lại êm ấm như thế và không khí lại ngát hương như thế, trong khi ở quê nhà những ngọn gió tháng Ba buốt giá đang quét qua phố phường, mặt đường băng giá kêu vang như thép dưới móng ngựa, và người nghèo đói khổ cụm lại với nhau trong khốn quẫn. Hầu như đó là một giấc mơ thú vị lặp lại hàng ngày. Mối dây duy nhất nối chúng tôi với quê nhà phương Tây là những lá thư đến theo mỗi chuyến bưu, và sợi dây đồng cảm trong một công việc chung giữa chúng tôi và số ít đồng sự lúc ấy ở New York, London và Corfu.

The talk, one evening, had embraced the problem of the universal diffusion of intelligence throughout the Universe, and an amusing proof of its existence in one of the stupidest of birds was about that time given us. There was a fowl-house behind our kitchen, tenanted by a flock of chickens and one family of duck—a clumsy Muscovy drake and his three wives. Miss Bates, of our quartette, had the management of the poultry in her hands, and, as usual, they would run towards her whenever she came that way. On a certain evening, after finishing our dinner, we lingered chatting at table, when a loud quack from “beneath Miss B.’s chair caused us to start up in surprise. It was the waddling, clumsy, old drake, which, as soon as he saw Miss B. noticing him, quaked again and again, shook his tail, and flapped his wings as though something troubled him. He moved, still quacking, towards the door, looking “back at her as though asking her to follow him. We saw that his strange behavior meant something, so we all followed him out of doors. He led us towards the coop, where a great row seemed to be going on—hens screaming, ducks quacking for dear life. Evidently they had been, or were still being, disturbed by rats. Presently, by the light of our lantern, we saw that one of the old drake’s wives had thrust her head and neck through the bamboo slats of the coop, and got caught there by slipping down to a point where a projecting knot of one of the bamboos had narrowed the slit so as to pin her neck fast when she sank: she must have been attacked by some vermin, and, flying in her fright against the palings, passed her neck through, but struck her breast heavily against them and fallen. She would have been strangled if her two sister-wives had not thrust their backs under her, and there they were supporting her weight, while the drake, escaping through a badly fastened door, came and called for Miss Bates’s help! The attention of Messrs. Romanes and Herbert Spencer is invited to this proof of animal intelligence.

Một buổi tối, câu chuyện xoay quanh vấn đề sự lan tỏa phổ quát của trí tuệ khắp Vũ trụ, và vào thời điểm đó chúng tôi được chứng kiến một bằng chứng thú vị về sự tồn tại của nó nơi một trong những loài chim ngu ngốc nhất. Có một chuồng gia cầm phía sau bếp, có một đàn gà và một gia đình vịt—một vịt đực Muscovy vụng về và ba bà vợ. Cô Bates, người trong bộ tứ của chúng tôi, phụ trách quản lý gia cầm, và như thường lệ, bọn chúng sẽ chạy về phía cô mỗi khi cô đi qua. Một buổi tối nọ, sau khi dùng bữa xong, chúng tôi còn chuyện trò bên bàn, thì một tiếng quạc to từ “dưới ghế của cô B.” khiến chúng tôi giật mình. Đó là anh chàng vịt đực già lạch bạch, vụng về, vừa thấy cô B. để ý đến mình là quạc đi quạc lại, lắc đuôi và đập cánh như thể có điều gì khiến nó bứt rứt. Nó vừa quạc vừa đi về phía cửa, ngoái lại nhìn cô như thể mời cô đi theo. Chúng tôi thấy hành vi lạ lùng của nó hẳn có ý gì đó, nên tất cả cùng theo nó ra ngoài. Nó dẫn chúng tôi về phía chuồng, nơi một cuộc ồn ào lớn đang diễn ra—gà mái kêu thét, vịt kêu quạc quạc hết sức. Rõ ràng chúng đã bị, hoặc đang bị, chuột quấy rối. Chẳng bao lâu, dưới ánh đèn lồng, chúng tôi thấy một trong các bà vợ của vịt đực đã thò đầu và cổ qua những thanh tre của chuồng, và bị kẹt ở đó do tuột xuống một điểm mà một mắt u trên thân thanh tre đã thu hẹp khe hở khiến cổ nó bị kẹp chặt khi nó sụp xuống: hẳn nó đã bị một con vật hại nào đó tấn công, và trong cơn hoảng loạn bay thẳng vào hàng rào, luồn cổ qua nhưng đập mạnh ngực vào thanh và ngã nhào. Nó hẳn sẽ chết ngạt nếu hai bà vợ chị em không thọc lưng mình kê dưới nó, và thế là họ đang nâng đỡ trọng lượng của nó, trong khi chú vịt đực, trốn ra bằng một cánh cửa đóng hờ, chạy đi gọi cô Bates đến cứu! Xin mời các ông Romanes và Herbert Spencer chú ý đến bằng chứng này về trí thông minh của loài vật.

Shortly after our settlement in Girgaum occurred an incident which H. P. B. has embalmed as a permanent record, in her delightful Caves and Jungles of Hindustan. When I give the simple, sober facts, the reader can see how the glow of her splendid imagination has transformed them beyond recognition, and out of a commonplace incident created a picturesque and awesome romance. As we were sitting in the early evening, a sound as of the monotonous drubbing on a drum caught my attention. It went on and on in the same key, playing no air, but just making a wearisome succession of muffled throbs in the evening air. One of the servants being sent to trace it out, returned after a while and reported that it was a tom-tom being beaten at a neighboring house, to announce that a “wise woman” was going to be obsessed by a “goddess,” and answer questions about matters of personal interest. The temptation to “assist” at so weird a performance prompted us to go to the spot and see what was up. So H. P. B. took my arm and we went to the house. In a mud-plastered room of fifteer or twenty feet square, we saw thirty or forty low-caste Hindus standing along “the walls, some cocoa-nut oil lamps attached to the sides, and, squatting in the centre of the floor, a wild-looking woman, with her hair unbound, swaying her body from side to side, and jerking her head with a circular motion so as to make her long ebon tresses swirl about her, sometimes horizontally, like whip-lashes. Presently a youth entered from the back door, carrying a broad, low-rimmed circular platter, on which burnt some lumps of camphor, near some pinches of red powder, and some shiny green leaves. He held it near the sybil’s face, which she plunged into the camphor-smoke, and sniffed the fumes with murmurs of pleasure. Anon, she sprang to her feet, clutched the brass platter, waved it to right and left, renewed the whirling of her head, and then, with lissom step keeping time to the throbs of the tom-tom, sailed about the room peering into the awe-stricken faces of the Hindu spectators. Having thus made the circuit several times, she suddenly darted towards a woman in the crowd, thrust the platter towards her, and told her something in Marathi, which, of course, we could not understand, but which, it appears, related to her private concerns. Whatever it was, the effect was evident, for the woman started back as if in terror, raised her clasped hands towards the dancing prophetess, and seemed deeply moved. The same thing was repeated with various other spectators, after which the seeress whirled into the middle of the room, spun hither and thither for a while, chanted what seemed to be a mantram, and then rushed from the room through the back door. After a few minutes she returned; with her hair dripping with water, flung herself again to the ground, whirled her head as before, again received the tray of burning camphor, and repeated the performance of darting at people and telling them what they wished to know. But her voice was somewhat different this time and her motions less convulsive, which, we were told, was due to the fact that she had passed under the control of another goddess when she plunged her head into the vessel of water, kept ready outside the door. The novelty of the thing soon wore off for us, and we returned to the house. Only this, and nothing more. There are the simple facts, and nothing more happened. But now, if the reader will turn to From the Caves and Jungles of Hindustan (“A Witch’s Den”), he will see what H. P. B. made out of them. Instead of a wretched hovel in the densest quarter of Bombay, with an audience of coolies, we are led on elephants, by torchlight, through a dense forest, “two thousand feet above the Vindhya ridge”; the dead silence is broken by the regular hammering tread of the elephants; “uncanny voices and murmurs” are heard; we dismount from our elephants and scramble through thickets of cacti; we make a party of thirty, including the torch-bearers; the Colonel (viz., myself) orders all the rifles and revolvers to be loaded; after leaving most of our clothing on the thorns of the prickly-pears, climbing a hill and descending into another ravine, we reach the” den” of the Kangarin—”the ‘Pythia of Hindustan,’ who ‘leads a holy life,’ and is a prophetess.” Her cave of Trophonius is in a ruined Hindu temple of “red granite,” her habitation in a subterranean passage, where the people believed, she had lived three hundred years. The square before the temple is lit up by an enormous bonfire, and crowded by ‘naked savages like so many black gnomes,” who jump through some devil-dance to the sound of drums and tambourines. A white-bearded old man springs out and whirls himself around, with arms spread like wings and showing his wolf-like teeth, until he falls senseless. A mammoth, four-horned skull of the “Sivatherium,” heaped about with flowers, lies on the ground. Suddenly, the witch appears—whence or how none could say. She must have been a beauty from the description of the first view of her: “a skeleton seven feet high, covered with brown leather, with a dead child’s tiny head stuck on its bony shoulders; the eyes set so deep, and at the same time flashing such fiendish flames all through your body, that you begin to feel your brain stop working, your thoughts become entangled, and your blood freeze in your veins.” A very uncomfortable type of the worst genus of the astral tramp! She stands motionless for a while, holding a dish of burning camphor in one hand, a quantity of rice in the other. She looks like a carved idol, with her shrivelled neck encircled with “three rows of golden medallions,” her head “adorned with a golden snake,” her “grotesque, hardly human body covered by a piece of saffron-yellow muslin”. Then follows a description of the obsession of the witch’s body by a goddess; her convulsive movements; her vertiginous dancing, in which she moved faster than a dry leaf before the hurricane; the maddening glare of her eyes at you; her convulsions, leapings, and wild, hellish movements; the changes of one obsessing goddess for another, to the number of seven; her revelations and adjurations; an eerie dance with her own shadow; the beating of her head against the granite steps, and so on through twenty pages of as picturesque writing as can be found in our language: The mind that could do this wonderful thing is that of a true genius. What she did in this instance, she did throughout the book—a minimun of fact was in each case, made to cover a great area of fancy; a the small lamp in the engine head-light is by parabolic reflectors made to shine over the line like a sort of sun on wheels.

Chẳng bao lâu sau khi chúng tôi yên chỗ ở Girgaum, xảy ra một sự cố mà Bà H. P. B. đã ướp hương làm ký ức thường tồn trong cuốn sách duyên dáng của Bà, Hang động và Rừng rậm xứ Ấn Độ. Khi tôi kể những sự kiện giản dị, điềm đạm, độc giả có thể thấy ngọn lửa của trí tưởng tượng tuyệt diệu của Bà đã chuyển hóa chúng đến mức không còn nhận ra, và từ một biến cố tầm thường đã tạo nên một thiên truyện nhiều màu sắc và rùng rợn. Khi chúng tôi đang ngồi vào đầu buổi tối, một âm thanh giống như tiếng trống đập đều đều đơn điệu gây chú ý cho tôi. Nó cứ thế tiếp tục một điệu, không chơi một giai nào, chỉ tạo nên một chuỗi dồn dập mệt nhoài của những tiếng đập nghẹt giữa không khí chiều. Sai một người hầu đi dò tìm, một lúc sau anh ta trở về báo rằng đó là một chiếc tom-tom đang được gõ ở một căn nhà gần đó, để thông báo rằng một “bà khôn ngoan” sắp bị một “nữ thần” nhập xác, và sẽ trả lời những câu hỏi về những chuyện riêng tư. Sự cám dỗ muốn “dự phần” vào màn trình diễn quái dị ấy xui chúng tôi tìm đến nơi xem chuyện gì đang xảy ra. Thế là Bà H. P. B. khoác tay tôi và chúng tôi đi đến ngôi nhà. Trong một căn phòng trát bùn rộng chừng mười lăm hay hai mươi bộ vuông, chúng tôi thấy ba mươi hay bốn mươi người Hindu đẳng cấp thấp đứng dọc theo bức tường, vài chiếc đèn dầu dừa gắn hai bên, và, ngồi chồm hỗm giữa sàn, một người đàn bà trông hoang dại, tóc xõa, đong đưa thân mình qua lại, và giật đầu theo vòng tròn khiến mái tóc mun dài của bà quất vù vù, lúc thì nằm ngang như roi quất. Chẳng mấy chốc, một thanh niên đi vào từ cửa sau, bưng một mâm tròn và dẹt miệng rộng, trên đó đốt vài cục long não, cạnh mấy nhúm bột đỏ và vài chiếc lá xanh bóng. Anh cầm mâm lại gần mặt người đàn bà hiền triết, và bà vùi mặt vào làn khói long não, hít hà mùi hương mà lẩm bẩm khoái trá. Rồi, bà bật đứng dậy, chộp lấy mâm đồng, vung sang trái sang phải, làm choáng váng đầu như trước, rồi, với những bước dẻo dai bắt nhịp theo tiếng tom-tom, bà lướt quanh phòng, nhìn chòng chọc vào những gương mặt ngỡ ngàng của đám khán giả Hindu. Sau khi làm vài vòng như thế, bà bất chợt lao về phía một người đàn bà trong đám đông, chìa mâm ra và nói với bà ta điều gì đó bằng tiếng Marathi, tất nhiên chúng tôi không hiểu, nhưng có vẻ là chuyện riêng tư của người ấy. Dù là gì, hiệu quả thật rõ ràng, vì người phụ nữ ấy giật lùi lại như thể khiếp sợ, chắp tay hướng về nữ tiên nhảy múa, và có vẻ xúc động sâu sắc. Điều tương tự lặp lại với nhiều khán giả khác, sau đó nữ đồng cốt xoay vào giữa phòng, quay cuồng một lúc, ngâm nga một câu nghe như mantram, rồi lao ra khỏi phòng qua cửa sau. Vài phút sau bà trở lại, tóc ướt đẫm nước, lại phóng mình xuống đất, quay cuồng đầu như trước, lại nhận mâm long não cháy, và lặp lại màn lao vào người ta và nói cho họ những điều họ muốn biết. Nhưng giọng bà lần này có khác đôi chút và động tác bớt co giật, mà, theo lời kể, là vì khi bà dìm đầu vào chiếc thùng nước để ngoài cửa, bà đã rơi vào quyền kiểm soát của một nữ thần khác. Cái lạ chóng qua chỉ thế thôi, và chúng tôi trở về nhà. Chỉ có vậy, không gì hơn. Đó là những sự kiện giản dị, và không có gì khác xảy ra. Nhưng giờ đây, nếu độc giả giở sang Hang động và Rừng rậm xứ Ấn Độ (“Sào huyệt của mụ phù thủy”), sẽ thấy Bà H. P. B. đã dựng nên từ đó những gì. Thay vì một túp lều tồi tàn trong khu dân cư chật chội nhất của Bombay, với khán giả là bọn phu khuân vác, thì chúng tôi được dẫn đi bằng voi, dưới ánh đuốc, xuyên qua khu rừng rậm, “hai nghìn bộ trên sống núi Vindhya”; cõi im lặng chết chóc bị phá vỡ bởi nhịp bước đều đặn như búa nện của đàn voi; “những tiếng nói và thì thầm rờn rợn” vang lên; chúng tôi xuống voi và lách qua bụi gai xương rồng; đoàn chúng tôi lên đến ba mươi người, kể cả những người cầm đuốc; ông Đại tá (tức tôi) lệnh nạp đạn tất cả súng trường và súng lục; sau khi để lại phần lớn quần áo trên gai nhọn của xương rồng lê, leo lên một ngọn đồi và xuống một thung lũng khác, chúng tôi đến “sào huyệt” của Kangarin—“‘Pythia của xứ Ấn,’ người ‘sống đời thánh thiện’, và là một nữ tiên tri.” Hang Trophonius của bà ở trong một ngôi đền Hindu đổ nát bằng “đá hoa cương đỏ,” nơi cư trú của bà trong một đường hầm, nơi người ta tin rằng bà đã sống ba trăm năm. Khoảng sân trước ngôi đền sáng rực bởi một đống lửa khổng lồ, và đông nghẹt “những người man di trần truồng như lũ quỷ đen,” nhảy vào một điệu vũ ma quái theo tiếng trống và trống lục lạc. Một ông già râu bạc phơ nhảy bổ ra và quay tít mình, tay dang như cánh, phô ra hàm răng sói, cho đến khi ngã lăn bất tỉnh. Một chiếc sọ khổng lồ bốn sừng của “Sivatherium,” phủ đầy hoa, nằm trên đất. Bất thình lình, mụ phù thủy xuất hiện—không ai biết từ đâu hay bằng cách nào. Theo miêu tả khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy bà, thì hẳn bà “đẹp” lắm: “một bộ xương cao bảy bộ, bọc da nâu, đội trên đôi vai khẳng khiu là chiếc đầu bé tí của đứa trẻ chết; đôi mắt trũng sâu mà đồng thời lại phóng những tia lửa quỷ quái xuyên suốt thân mình ngươi, khiến ngươi bắt đầu thấy bộ não ngưng hoạt động, tư tưởng rối bời, và máu đông lạnh trong huyết quản.” Thật là một kiểu hết sức khó chịu của giống “lang thang cõi cảm dục” tệ hại nhất! Bà đứng bất động một lúc, tay cầm đĩa long não cháy, tay nắm nắm gạo. Bà trông như một pho tượng chạm, với chiếc cổ nhăn nheo đeo “ba vòng huy chương vàng,” đầu “trang sức bằng một con rắn vàng,” “thân thể quái lạ, khó gọi là người phủ bởi mảnh lụa muslin vàng nghệ”. Rồi là màn miêu tả việc nữ thần nhập xác thân mụ; những cơn co giật; điệu vũ quay cuồng, trong đó bà di chuyển nhanh hơn chiếc lá khô trước cơn cuồng phong; ánh mắt làm choáng ngạt, dán chặt vào ngươi; những cơn co giật, những cú nhảy, và những động tác hoang dại, địa ngục; sự thay đổi của các nữ thần nhập xác từ vị này sang vị khác, tổng cộng bảy vị; những lời mặc khải và khẩn nài; một điệu vũ rờn rợn với chính chiếc bóng của mình; cảnh đập đầu vào bậc đá hoa cương, v.v., suốt hai chục trang văn sinh động bậc nhất mà ngôn ngữ chúng ta có thể có: Khối óc có thể làm nên điều kỳ diệu đó là của một thiên tài đích thực. Điều Bà làm trong trường hợp này, Bà làm xuyên suốt cuốn sách—một lượng tối thiểu sự kiện được trong mỗi trường hợp khuếch đại phủ một vùng mênh mông trí tưởng; như ngọn đèn nhỏ trong đầu máy được gương phản xạ parabol khuếch sáng dọc tuyến như một mặt trời trên bánh xe.

Whatever hopes we may have had of enjoying a retired life were soon dissipated. We not only found ourselves besieged by visitors, some most earnest and entitled to our help, but also drawn into a rapidly widening correspondence, with Hindus principally, about Theosophical matters. Our aims were described so distortedly by the hostile Anglo-Indian Press, and that portion of the Vernacular Press which, to the undoing of Indian ideals, feeds at the trough of belied “Progress,” that we were compelled perforce to threaten legal proceedings against the Editor of the Dnyanodaya, the organ of the Presbyterian Marathi Mission, for a gross libel. An ample apology was at once given; yet all Missionaries were not slanderers ab initio, for the Bombay Guardian, a Missionary organ, said, apropos of the discourse mentioned below: “They who anticipated that the lecture would consist of a tirade against Christianity were mistaken. The report given is brief, but we are told by one who heard it, that the lecture was far more an attack upon Hinduism as it is, than upon Christianity.” We had also to make a public statement. Accordingly, on 23rd March, I gave my first public lecture in India at Framji Cowasji Hall, Dhobitallao (the Washermen’s Quarter). For novelty and picturesqueness, the scene was the culmination of delight: the contrast between this sea of multi-colored turbans, snowy muslin,dresses, and keen, onyx eyes looking out of handsome brown faces, and the black-costumed, pale-faced, bare-headed audiences of the West, with no touch of bright color save in the women’s bonnets, was most striking. The crowd was so dense as to pack the hall, balconies, and stairways, until not one more man could have been crowded in, yet as quiet, orderly, and attentive as though each person had had ample room. Our quartette sat on the platform, which was thronged by the leading personages of the different native communities of Bombay, and my discourse was listened to with breathless attention, interrupted from time to time by applause. It was really an historical event that, for the first time in the recollection of the oldest inhabitant, a Western man should uphold the majesty and sufficiency of Eastern Scriptures, and appeal to the sentiment of patriotic loyalty to the memory of their forefathers, to stand by their old religions; giving up nothing until after its worthlessness had been proven by impartial study. The spirit of the occasion possessed alike speakers and hearers, and there was a moment—I recollect—when I could not restrain my emotion, but had to stop because stifled sobs choked my utterance. I felt like a fool in thus losing my self-command, but I could not help it; the pent-up voice of my heart made my lips dumb, despite all I could do. My theme was: “The Theosophical Society and Its Aims,” [1] and contained as full explanations as I could give. It should be noted that the view taken then was that the redemption of any nation must come through its own self-evolved leaders, not from without, and that if the downfall of India was to be arrested, the inspired agent must be sought within her boundaries, not in foreign lands, nor among aliens. For ourselves, we utterly disclaimed all pretence of leadership or qualifications for the same. I believe, after twenty years’ Indian experience, that this is the sound view, and the only tenable one. I also believe, as I then stated, that this necessary spiritual Teacher exists, and in the fullness of time will appear. For, truly, the signs of his coming multiply daily, and who shall say that our Society, Mrs. Besant, Vivekânanda, Dharmapâla, and others are not the avant couriers of the blessed day when spiritual yearnings shall again fill the Eastern heart, and materialistic grovellings be things of the black past?

Mọi hi vọng hưởng một đời sống ẩn dật của chúng tôi sớm tan biến. Chúng tôi không chỉ bị khách khứa vây chật, có người rất nghiêm túc và đáng được giúp đỡ, mà còn bị cuốn vào một dòng thư tín lan rộng nhanh chóng, chủ yếu với người Hindu, về các vấn đề Thông Thiên Học. Mục đích của chúng tôi bị Báo chí Anglo-Indian thù nghịch xuyên tạc khủng khiếp, và cả bộ phận Báo chí bản ngữ vốn, để hủy hoại lý tưởng Ấn Độ, vẫn ăn cỗ của cái gọi là “Tiến bộ,” đến nỗi chúng tôi buộc phải dọa kiện trước pháp luật Chủ bút tờ Dnyanodaya, cơ quan của Hội Truyền giáo Presbyterian Marathi, vì một lời phỉ báng nghiêm trọng. Lời xin lỗi đầy đủ được đưa ra ngay; tuy vậy không phải tất cả các nhà Truyền giáo đều là kẻ vu cáo ngay từ đầu, vì tờ Bombay Guardian, một cơ quan Truyền giáo, đã nói, nhân bài diễn thuyết nêu dưới đây: “Những ai trông đợi rằng bài diễn thuyết sẽ là một tràng đả kích Cơ Đốc giáo đã lầm. Bản tường thuật được đưa ra ngắn gọn, nhưng theo lời một người nghe, bài diễn thuyết công kích Ấn giáo như nó đang là nhiều hơn là công kích Cơ Đốc giáo.” Chúng tôi cũng phải đưa ra một tuyên bố công khai. Theo đó, vào ngày 23 tháng Ba, tôi đọc bài diễn thuyết công cộng đầu tiên ở Ấn Độ tại Hội trường Framji Cowasji, Dhobitallao (Khu Giặt của thợ giặt). Về sự mới lạ và bức tranh đầy hình sắc, khung cảnh ấy đạt đến tột đỉnh thích thú: tương phản giữa biển khăn xếp sặc sỡ, những tấm y muslin tuyết trắng, và những đôi mắt đen như mã não nhìn ra từ gương mặt nâu đẹp đẽ, với những khán phòng phương Tây toàn y phục đen, mặt mày tái nhợt, đầu trần, không điểm màu sáng nào ngoài chiếc mũ của phụ nữ, quả là lạ lùng. Đám đông dày đặc đến nỗi chật kín hội trường, tầng lửng và cả cầu thang, đến mức không thể nhồi thêm một người nào nữa, vậy mà vẫn yên lặng, trật tự và chăm chú như thể mỗi người đều có khoảng không rộng rãi. Bộ tứ của chúng tôi ngồi trên bục, nơi đông đảo các vị tai mắt của các cộng đồng bản xứ khác nhau của Bombay cùng hiện diện, và bài thuyết của tôi được lắng nghe trong nín thở, thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay. Đó thật sự là một biến cố lịch sử: lần đầu tiên trong ký ức của người xưa nhất, một người phương Tây lại tôn vinh uy nghi và sự đầy đủ của Thánh kinh phương Đông, và khơi dậy tình cảm trung trinh với ký ức của tổ phụ, để đứng về phía tôn giáo cổ của họ; không từ bỏ điều gì cho đến sau khi giá trị của nó bị chứng minh là vô ích qua nghiên cứu vô tư. Thần khí của dịp ấy thấm nhập cả người nói lẫn kẻ nghe, và có một khoảnh khắc—tôi còn nhớ—khi tôi không thể kìm nén xúc động, phải dừng lại vì tiếng nức nghẹn bóp chặt cổ họng. Tôi thấy mình như một gã ngốc vì đánh mất tự chủ như vậy, nhưng tôi không thể làm khác; tiếng lòng bị dồn nén khiến môi tôi câm lặng, mặc mọi nỗ lực. Đề tài của tôi là: “Hội Thông Thiên Học và Những Mục đích của Hội,” và chứa đựng những giải thích đầy đủ nhất tôi có thể đưa ra. Cần lưu ý rằng quan điểm lúc ấy là sự cứu chuộc của bất kỳ dân tộc nào phải đến qua những nhà lãnh đạo tự khai mở của chính dân tộc ấy, chứ không từ bên ngoài, và nếu đà suy sụp của Ấn Độ cần bị chặn lại, thì sứ giả được cảm hứng phải được tìm trong biên giới của đất nước, chứ không ở ngoại bang, càng không nơi người dị chủng. Về phần mình, chúng tôi hoàn toàn phủ nhận mọi giả bộ làm lãnh đạo hoặc có đủ tư cách làm vậy. Sau hai mươi năm kinh nghiệm Ấn Độ, tôi tin rằng đó là quan điểm đúng đắn, và là quan điểm duy nhất có thể đứng vững. Tôi cũng tin, như tôi đã nói lúc đó, rằng Vị Huấn Sư tinh thần cần thiết ấy hiện hữu, và khi thời điểm viên mãn, Ngài sẽ xuất hiện. Thật vậy, những dấu hiệu về sự Ngài đang đến nhân lên hàng ngày, và ai dám nói rằng Hội của chúng tôi, Bà Besant, Vivekânanda, Dharmapâla, và những người khác không phải là những tiền trạm của ngày phúc lành khi khát vọng tinh thần lại tràn ngập trái tim phương Đông, và sự bò lê vật chất chỉ còn là chuyện của quá khứ đen tối?

Naturally, under the circumstances, the above event made a pretty strong impression. The Indian. Spectator said: “A greater mission never was conceived. Let the Aryans make common cause; let the Hindus, Parsis, Mohammedans, Christians forget their differences, and the day of India’s regeneration is not far off.” It was noted as a coincidence that the Address happened to be delivered on the day on which a new year and new era commenced, according to the Sak Salivan, the Calendar used at Bombay. The Amrita Bazaar Patrika (8th May, 1879), said our object was “the grandest ever undertaken by man,” and prayed us to come and dwell at Calcutta. In the year of the India of 1899, after the changes that have since been wrought in native opinion, the following utterance of the Editor of the Patrika will sound like rankest pessimism. He welcomed us, but said we came too late:

Tự nhiên, trong hoàn cảnh đó, sự kiện kể trên đã gây ấn tượng khá mạnh. Tờ Indian Spectator nói: “Chưa từng có một sứ mệnh nào lớn lao hơn. Hãy để cho người Arya đồng tâm hiệp lực; hãy để cho người Hindu, Parsi, Mohammedan, Cơ Đốc quên đi khác biệt, thì ngày tái sinh của Ấn Độ chẳng còn xa.” Người ta ghi nhận như một sự trùng hợp là Bài Diễn văn lại được đọc vào ngày mà theo lịch Sak Salivan, cuốn Lịch dùng ở Bombay, một năm mới và một kỷ nguyên mới bắt đầu. Tờ Amrita Bazaar Patrika (ngày 8 tháng Năm, 1879) nói mục đích của chúng tôi là “vĩ đại nhất mà con người từng đảm đương,” và khẩn khoản mời chúng tôi đến cư trú ở Calcutta. Vào năm 1899 của Ấn Độ, sau những đổi thay từ đó đã diễn ra trong dư luận bản xứ, tuyên ngôn sau đây của Chủ bút tờ Patrika hẳn sẽ nghe như sự yếm thế trắng trợn nhất. Ông hoan nghênh chúng tôi, nhưng nói rằng chúng tôi đến quá muộn:

“What can the doctor do,” he asks, “when patient is already stiff and cold? India is dead to all sense of honor and glory. India is an inert mass which no power of late has yet been able to move.... India has no heart, and those of her children who have yet any portion of it left, have been deadened by blank despair. Talk of regenerating India to the Indians? You might as well talk to the sands of the sea.”

“Bác sĩ có thể làm gì,” ông hỏi, “khi bệnh nhân đã cứng đờ và lạnh ngắt? Ấn Độ đã chết đối với mọi cảm quan về danh dự và vinh quang. Ấn Độ là một khối bất động mà từ dạo gần đây không một lực nào có thể khiến nó chuyển mình.... Ấn Độ không có trái tim, và những đứa con của Nàng—những người nếu còn sót lại phần nào trái tim—cũng đã bị tê liệt bởi sự tuyệt vọng trơ trọi. Nói với người Ấn Độ về chuyện tái sinh Ấn Độ ư? Cứ như các ông đang nói với cát của biển vậy.”

This is emotional faint-heartedness, not the perspicacity and foresight of statesmanship. Shishir Babu forgot what even the elementary knowledge of agriculture as practised in his native village ought to have taught him, viz., that the seed must be planted before the shade of the tree can be enjoyed, or the cereal harvest be available as daily food. Events have belied his lugubrious prognosis, and the Indian peoples are already searching backwards together for the sources of Aryan ideals. It is but a little way they have gone, it is true, yet the “inert corpse” of India, which the Calcutta Jeremiah of 1879 depicted, has proved itself a very living entity, and is calling upon its children to look up the ancient Scriptures once more for the profit of mankind.

Đó là nỗi ngã lòng cảm tính, không phải sự minh triết và viễn kiến của chính trị thực hành. Shishir Babu đã quên điều mà ngay cả tri thức sơ đẳng về nông nghiệp như vẫn làm ở quê ông cũng phải dạy ông, tức là hạt giống phải được gieo trước khi bóng mát của cây có thể được hưởng, hay mùa gặt ngũ cốc có thể dùng làm lương thực hằng ngày. Biến cố đã bác bỏ lời tiên đoán ủ ê của ông, và các dân tộc Ấn Độ đã cùng nhau lần ngược dòng tìm nguồn của lý tưởng Arya. Hẳn họ mới chỉ đi một quãng ngắn, điều ấy đúng, nhưng “thi thể bất động” của Ấn Độ, mà vị “Giêrêmia” Calcutta năm 1879 vẽ ra, đã tự chứng tỏ mình là một hữu thể rất sống động, và đang kêu gọi những đứa con của mình tìm về Thánh kinh cổ thêm lần nữa vì lợi ích của nhân loại.

CHAPTER IV

MANY WONDERS—NHIỀU ĐIỀU KỲ DIỆU

BEGINNING with 29th March (1879), there were a series of strange occurrences in which Mooljee Thackersey was an essential, sometimes the chief witness—excluding H. P. B. On the day in question she told Mooljee to fetch a buggy, and, when it came, mounted into it with him. She refused to answer his questions as to whither she was going, simply telling him to order the driver to turn to right or left or go straight ahead, as she might direct. What happened Mooljee told us on their return in the evening. She had directed the course by numerous windings of streets and country roads, until they found themselves at a suburb of Bombay, eight or ten miles distant, in a grove of coniferæ. The name is not written in my Diary, but I think it was Parel, though I may be mistaken. At any rate, Mooljee knew the place, because he had cremated his mother’s body in that neighborhood. Roads and paths crossed each other confusedly in the wood, but H. P. B. never faltered as to her course, and bade the driver turn and turn until they came to the seashore. Finally, to Mooljee’s amazement, they were brought up by the gate of a private estate, with a magnificent rose-garden in front and a fine bungalow with spacious Eastern verandahs in the back ground. H. P. B. climbed down and told Mooljee to await her there, and not for his life to dare come to the house. So there he waited in a complete puzzle; for such a property he, a lifelong resident of Bombay, had never heard of before. He called one of several gardeners who were hoeing the flowers, but the man would tell him nothing as to his master’s name, how long he had lived there, or when the bungalow was built: a most unusual thing among Hindus. H. P. B. had walked straight up to the house, had been received cordially at the door by a tall Hindu of striking and distinguished appearance, clad entirely in white, and had gone inside. After some time the two reappeared, the mysterious stranger bade her farewell, and handed her a great bunch of roses which one of the gardeners brought to his master for the purpose, and H. P. B. rejoined her escort, re-entered the buggy, and ordered the driver to return home. All that Mooljee could draw out of H.P.B. was that the stranger was an Occultist with whom she was in relation and had business to transact that day. The roses, she said, he had sent by her to myself. The strangest part of this story to us was that, so far as we knew, there was no possibility of H.P.B.’s having learnt anything about his suburb and the way to it, at any rate since out arrival at Bombay, for she had never left the house alone, yet that she had shown the completest familiarity with both. Whether any such bungalow existed or not, we had no means of knowing save on Mooljee’s testimony. He was so amazed with his experience as to go on telling it to his friends in the town, which led one, who professed to know the suburb in question perfectly, to lay a wager of Rs. 100 that there was no such bungalow by the seashore and that he could not guide anyone to it. When H. P. B. heard this, she offered to bet Mooljee that he would lose the other wager; whereupon he, declaring that he could retrace every foot of the way by which they had gone, closed with the offer, and I had a carriage called at once, and we three entered it. By another Hindu interpreter, I ordered the coachman, to strictly follow Mr. M.’s directions as to our route, and off we went. After a long drive by devious ways, we reached the wood, in whose shady depths the, mysterious bungalow was supposed to stand. The, soil was almost pure sea-sand, bestrewn with a brown mulch of pine-needles, or those of some other conifer, possibly the casuarina. We could see a number of roads running in different directions, and I told Mooljee that he must keep a sharp look-out, or he, would assuredly get lost. He, however, was as confident as possible, despite the gibes thrown at him by H. P. B. about his state of mystification and the certain loss of his Rs. 100. For an hour we drove on, now to this side, now to the other, now stopping for’ him to dismount from the box and look about him.

BẮT ĐẦU từ ngày 29 tháng Ba (1879), đã xảy ra một loạt sự việc lạ lùng trong đó Mooljee Thackersey là nhân chứng thiết yếu, đôi khi là nhân chứng chính—tất nhiên ngoại trừ H. P. B. Vào ngày được nói tới, Bà bảo Mooljee đi gọi một cỗ xe mui, và khi xe đến, Bà cùng y bước lên. Bà từ chối trả lời câu hỏi của y rằng Bà định đi đâu, chỉ bảo y nói người đánh xe rẽ phải hay rẽ trái hoặc cứ đi thẳng, tùy theo Bà chỉ dẫn. Những gì xảy ra, Mooljee kể lại cho chúng tôi khi họ về vào buổi tối. Bà đã dẫn đường qua vô số khúc ngoặt của phố xá và đường làng, cho đến khi họ thấy mình ở một vùng ngoại ô Bombay, cách tám hay mười dặm, trong một lùm cây lá kim. Tên nơi ấy không được ghi trong Nhật ký của tôi, nhưng tôi nghĩ đó là Parel, tuy tôi có thể lầm. Dù sao thì Mooljee biết chỗ đó, vì y đã hỏa táng thi hài mẹ y ở khu vực ấy. Đường sá và lối mòn chằng chịt rối rắm trong khu rừng, nhưng H. P. B. không hề do dự về hướng đi, và bảo người đánh xe quẹo tới quẹo lui cho đến khi họ đến bờ biển. Cuối cùng, khiến Mooljee sững sờ, họ dừng trước cổng một tư dinh, phía trước là vườn hồng lộng lẫy và phía sau là một ngôi nhà lớn một tầng với hàng hiên kiểu Đông phương rộng rãi. H. P. B. bước xuống và bảo Mooljee chờ ở đó, và dù có mất mạng cũng đừng dám lại gần ngôi nhà. Thế là y ở đó, bối rối hoàn toàn; vì một tài sản như thế, một người cư trú trọn đời ở Bombay như y chưa từng nghe nói đến. Y gọi một trong vài người làm vườn đang cuốc xới luống hoa, nhưng người này không chịu nói gì về tên chủ, ông ta ở đó bao lâu, hay ngôi nhà xây từ khi nào: một điều hết sức bất thường trong giới Hindu. H. P. B. đi thẳng lên nhà, được một người Hindu cao lớn, dung mạo nổi bật và phong nhã, mặc toàn đồ trắng, đón tiếp niềm nở ngay nơi cửa, và Bà đi vào trong. Một lúc sau, hai người lại xuất hiện, vị khách bí ẩn từ biệt Bà, và trao cho Bà một bó hồng lớn—một người làm vườn mang hoa đến cho chủ mình theo mục đích ấy—và H. P. B. quay lại với người hộ tống, lên xe, và bảo người đánh xe trở về nhà. Tất cả những gì Mooljee moi được ở H.P.B. là vị khách lạ là một nhà huyền bí học mà với người đó Bà có mối liên hệ và cần giải quyết công việc trong ngày. Bà nói, bó hồng ấy ông ta gửi qua Bà cho chính tôi. Điều lạ lùng nhất trong câu chuyện này đối với chúng tôi là, theo như chúng tôi biết, không thể có chuyện H.P.B. đã biết chút gì về vùng ngoại ô đó và đường đi đến đó, ít nhất là từ khi chúng tôi đặt chân đến Bombay, vì Bà chưa bao giờ rời nhà một mình, vậy mà Bà lại tỏ ra thông thuộc hoàn toàn cả nơi chốn lẫn đường đi. Một ngôi nhà như thế có tồn tại hay không, chúng tôi không có cách nào biết ngoài lời chứng của Mooljee. Y sửng sốt đến nỗi cứ kể đi kể lại chuyện này với bạn bè trong thành phố, và điều đó khiến một người, tự nhận là biết rất rành vùng ngoại ô nói trên, đánh cược 100 ru-pi rằng chẳng có ngôi nhà nào như thế bên bờ biển và y không thể dẫn ai đến đó được. Khi H. P. B. nghe thế, Bà đề nghị cá cược với Mooljee rằng y sẽ thua ván kia; bèn y, tuyên bố rằng y có thể lần theo từng bước đường mà họ đã đi, chấp nhận lời thách, và tôi cho gọi xe ngay lập tức, ba chúng tôi cùng lên. Qua một thông ngôn Hindu khác, tôi bảo xà ích phải tuyệt đối theo đúng chỉ dẫn của ông M. về lộ trình, và chúng tôi lên đường. Sau một chặng dài qua những ngả đường vòng vèo, chúng tôi tới khu rừng, trong chiều sâu rợp bóng cây, nơi được cho là có ngôi nhà bí ẩn. Đất gần như cát biển nguyên chất, rải rác lớp phủ nâu của lá thông rụng, hoặc lá của một loài lá kim khác, có thể là phi lao. Chúng tôi thấy khá nhiều con đường chạy theo các hướng khác nhau, và tôi bảo Mooljee rằng y phải chú ý nhìn kỹ, nếu không nhất định sẽ lạc. Thế nhưng y lại tự tin hết sức, mặc cho những lời trêu chọc Bà H. P. B. ném vào y về tình trạng bối rối của y và việc y chắc chắn sẽ mất 100 ru-pi. Suốt một giờ chúng tôi lăn bánh, khi sang bên này, khi sang bên kia, khi thì dừng lại để y bước xuống khỏi ghế xà ích và nhìn quanh.

At last—and just a minute or so after his declaring: himself perfectly sure that we were driving straight for the seaside bungalow—a train rattled by on a near embankment, and thus showed poor Mooljee that he had guided us in the very opposite direction from the one desired! We offered to give him as much time as he liked to pursue his search, but he felt completely baffled and gave in as beaten. So we drove home. H. P. B. told all of us that Mooljee would have found the mystical bungalow if a glamor had not been brought to bear on his sight, and, moreover, that the bungalow, like all other spots inhabited by Adepts, was always protected from the intrusion of strangers by a circle of illusion formed about it and guarded and kept potent by elemental servitors. This particular bungalow was in the constant keeping of an agent who could be relied upon, and used as an occasional resting and meeting place by Gurus and Chçlâs when travelling. All the buried ancient libraries, and those vast hoards of treasure which must be kept hidden until its Karma requires its restoration to human use, are, she said, protected from discovery by the profane, by illusory pictures of solid rocks, unbroken solid ground, a yawning chasm, or some such obstacle, which turns aside the feet of the wrong men, but which Mâyâ dissolves away when the predestined finder comes to the spot in the fulness of time. This story coincides with all folk-lore tradition, and anyone who has seen even one of an hundred recorded proofs of hypnotic inhibition in modern hospitals and clinics, can readily accept the reasonableness of such a tale of mâyâvic engirdlement: the Devil is no longer accepted (outside the Vatican) as sole hypnotiser of mankind, and Charcot, Liébault, de Rochas, and others have shown us the scientific reasonableness of the old tales of Sorcery and Magic. At any rate, I give this story for what it may be worth, as I do in all cases where I myself was not an eye-witness, when I say my say in all candor, and leave the public to believe or disbelieve as they see fit: it is nothing to me. If my own opinion be asked, I should say that to my mind the story of the bungalow seems probably true, for, as mentioned in a former chapter, we were visited in our Girgaum cottage by more than one Adept in the flesh, and one moonlight night, Damodar and I were with H. P. B. on the road leading towards the hidden house, when one came up to and saluted us at not more than arm’s-length distance. But the details need not be mentioned here as I have other things to first tell.

Cuối cùng—và chỉ một hai phút sau khi y vừa quả quyết rằng chúng tôi đang chạy thẳng tới ngôi nhà bên bờ biển—một chuyến tàu rầm rập lao qua trên bờ đường đắp gần đấy, và như thế cho thấy tội nghiệp thay Mooljee đã dẫn chúng tôi đi theo hướng hoàn toàn ngược lại với điều mong muốn! Chúng tôi đề nghị cho y bao lâu tùy ý để tiếp tục tìm kiếm, nhưng y thấy hoàn toàn bế tắc và chịu thua. Thế là chúng tôi quay về. H. P. B. nói với tất cả chúng tôi rằng Mooljee hẳn đã tìm thấy ngôi nhà huyền bí nếu như một ảo cảm đã không tác động lên thị giác của y, hơn nữa, rằng ngôi nhà ấy, như tất cả những nơi chốn khác do các Chân sư cư ngụ, luôn được bảo vệ khỏi sự xâm nhập của người lạ bằng một vòng tròn ảo ảnh bao quanh và được các đầy tớ hành khí canh giữ và duy trì hiệu lực. Ngôi nhà này cụ thể thì do một đại diện thường trực trông coi, người có thể tin cậy được, và được các Guru và các đệ tử dùng làm nơi nghỉ chân và hội ngộ khi đi đường. Tất cả những thư viện cổ bị chôn giấu, và những kho tàng đồ sộ phải được cất kín cho đến khi Nghiệp của nó đòi hỏi được hoàn trả cho nhân loại sử dụng, Bà nói, đều được bảo vệ khỏi sự khám phá của phàm phu bằng những hình ảnh ảo của khối đá đặc, mặt đất nguyên vẹn không nứt nẻ, một vực thẳm há miệng, hoặc chướng ngại nào đó tương tự, khiến bàn chân kẻ không thích hợp phải rẽ sang nơi khác, nhưng khi người được tiền định đến đúng thời khắc viên mãn thì Ảo lực sẽ tan biến. Câu chuyện này trùng khớp với mọi truyền thuyết dân gian, và ai đã từng thấy dù chỉ một trong trăm chứng nghiệm đã được ghi chép về ức chế thôi miên tại các nhà thương và phòng khám hiện đại, đều có thể dễ dàng chấp nhận tính hợp lý của một chuyện kể về vòng vây mang tính ảo lực như vậy: Quỷ dữ không còn được chấp nhận (bên ngoài Vatican) như kẻ thôi miên duy nhất của nhân loại nữa, và Charcot, Liébault, de Rochas, cùng những người khác đã cho chúng ta thấy tính hợp lý theo khoa học của những truyện xưa về Yểm Pháp và Huyền thuật. Dù sao đi nữa, tôi kể câu chuyện này để quý vị định liệu giá trị của nó, như tôi vẫn làm trong mọi trường hợp mà bản thân tôi không là nhân chứng mục kích, khi tôi bày tỏ ý mình một cách chân thành, và để công chúng tin hay không tin theo ý họ: điều đó không can hệ gì đến tôi. Nếu hỏi ý kiến riêng của tôi, tôi sẽ nói rằng, đối với tôi, câu chuyện về ngôi nhà có vẻ như có thật, vì, như đã nhắc ở một chương trước, ở căn nhà nhỏ của chúng tôi tại Girgaum, chúng tôi đã được hơn một vị Chân sư bằng xương bằng thịt ghé thăm, và một đêm trăng, Damodar và tôi đi với H. P. B. trên con đường dẫn về phía ngôi nhà ẩn, thì có một vị đến gần và chào chúng tôi ở khoảng cách không quá tầm tay với. Nhưng các chi tiết không cần nhắc ở đây vì tôi còn những điều khác phải nói trước.

We now come in chronological order to a momentous country trip whose incidents have been expanded and glorified through some sixty pages in the Caves and Jungles of Hindustan. Until comparatively a short time ago, it lingered in my memory as a chapter of the most trustworthy as well as exciting episodes in my relations with H. P. B. As perfect candor is my aim, I shall narrate my facts, which such comments as the present state of my mind permits me to offer.

Giờ đây, theo trình tự thời gian, chúng ta đến một chuyến đi thôn dã trọng yếu mà các sự kiện đã được phóng đại và tô điểm qua chừng sáu mươi trang trong Hang Động và Rừng Rậm xứ Ấn Độ. Cho đến thời gian tương đối ngắn gần đây, nó còn đọng lại trong ký ức tôi như một chương của những biến cố vừa đáng tin cậy nhất vừa hồi hộp nhất trong mối quan hệ của tôi với H. P. B. Vì sự thành thật hoàn toàn là mục đích của tôi, tôi sẽ thuật lại các sự kiện của mình, kèm theo vài lời bình mà tình trạng tâm trí hiện tại của tôi cho phép.

H. P. B., Mooljee, and I left Bombay by train on. 4th April, 1879, for a trip to Karli Caves. Our servant Babula accompanied us. This was our entire party. We had with us no “Brahman from Poona, Moodelliar from Madras, Sinhalese from Kegalla, Bengali Zemindar, or gigantic Rajput “—visible to me, at any rate. At Narel station we left the train, and took palanquins up the hill to Matheran, the chief sanatorium of’ Bombay. I was given to understand that we had been invited to Karli by a certain Adept with whom I had had close relations in America during the writing of Isis; and that the sundry provisions for our comfort en route had been ordered by him. I was not in the least surprised, then, to find at Narel station a Hindu servant of the better class, i.e., not a. house menial, who came forward, and, after saluting, gave a message in Marathi, which Mooljee interpreted to be the compliments of his master, and a request that we should graciously choose whether we would have palanquins or ponies for the ascent, as both were ready. H. P. B. and I chose palanquins, and Mooljee and Babula ponies. Then away we went in the day-bright moonshine, twelve bearers to each “palkee”—fair-sized, strong, muscular, dark brown fellows, of the Thakoor clan, who trotted along in broken step (so as not to jar the person in the palkee), keeping time by a sweet-voiced, measured cadence that, in its novelty, was extremely pleasant to hear, but which grew monotonously tiresome after a while. I had never before made such a poetical journey as this through that tropic night, with the sky ablaze with vividly bright stars before the moon had risen, myriad insects chirping to each other, the night birds crying to their mates, the great bats silently sailing in tortuous gyrations in quest of food, the palm fronds crackling and jungle leaves rustling, the smell of the earth, mingling now and again with that of spicy buds in a warmer air-current through which we passed, and with all the chant of the panting palkee-wallahs as they nimbly swung along. As for the escort of numberless chattering monkeys, the “thundering roars of tigers,” and the “Portuguese inn, woven like an eagle’s nest out of bamboos,” the less said the better in a sober historical narrative. We certainly reached the Alexandra Hotel in due course, supped at 11, went to bed quietly, rose early the next morning and enjoyed the splendid view from the verandah. Mooljee was out when I awoke, but returned an hour later with the story that he had been aroused before daybreak by the man who had met us at Narel, and shown a completely furnished bungalow which, he said, was at our disposal free of rent, for such time as we chose to occupy it. But by breakfast time, H. P. B. had become nauseated with what she called “the aura of Anglo-Indian civilization,” and refused to stop over a single day. So, despite the landlord’s warning against the fierce heat of the sun, away we started and rode to Narel again, in a temperature like that of the stoke-room on a steamer. By good luck neither of us were sunstruck, and in due course got the train and went on to Khandalla, a delightful place in the hills. Our same universal provider met us here also, with a spacious bullock-carriage in which he took us to the Government rest-house (dâk bungalow), where we spent the next day and night. The evening of our arrival, Mooljee strolled down to the railway station for a chat with the station-master, an old acquaintance, and got a surprise. A train came in from Bombay and stopped at the platform, when he heard his name loudly called. Looking from carriage to carriage he saw a Hindu beckoning and went to his window. The unknown proved to be the personage whom H. P. B. had visited! He handed him a fresh bouquet of what seemed to be the same kinds of roses as he had seen in the mysterious garden of the taciturn gardeners, and which were the most beautiful he had ever seen. “These,” said the gentleman, as the train moved on, “are for Colonel Olcott; give him them, please.” So Mooljee brought them to me and told his story. An hour later I told H. P. B. that I should like to thank the Adept for his courtesies to our party, and if she could get it delivered, should write him. She assented, so the, note was written and given her. She handed it to Mooljee and requested him to go down the public road before us and deliver it. “But,” he asked, “to whom, and where; it bears no name nor address on the cover?” “No matter; take it and you will see to whom you must give it. “He accordingly moved off down the road, but after ten minutes came running back, breathless and exhibiting every sign of surprise. “It’s gone!” he faltered. “What?” “The letter, he took it.” “Who took it?” I inquired. “I don’t know, Colonel, unless it was a pisâcha: he came up out of the ground, or so it seemed to me. I was walking slowly along, looking to right and left, and not knowing what I must do to carry out H. P. B.’s orders. There were no trees or bushes for a person to hide in, but just the white, dusty road. Yet suddenly, as if he had come out of the ground, there was a man a few yards off, coming towards me. It was the man of the rose-bungalow, the man who gave me the flowers for you at Khandalla station, and whom I had seen carried away in the train towards Poona!” “Nonsense, man,” I replied, “you’ve been dreaming.” “No, I was as wide awake as I ever was in my life. The gentleman said: ‘You have letter for me—that one in your hand; have you not?’ I could hardly speak, but I said: I don’t know, Maharaj, it has no address.’ ‘It is for me, give it.” He took it from me and said: ‘Now, go back.’ I turned my back for an instant and looked to see if he was there, but he had disappeared; the road was vacant! Frightened, I turned and ran, but had not got away fifty yards when a voice at my very ear said: ‘Don’t be foolish, man; keep cool; all is right.’ This frightened me still more, for no man was insight. I fled, and here I am.” Such was Mooljee’s story, which I repeat exactly as he told it to me. II appearances go for anything, he must have spoken truth, for his fright and excitement were too evident to have been simulated by so clumsy an actor as he. At all events, a certain request contained in that letter was answered in a letter from this same Adept, which I got later, at the dâk bungalow in Bhurtpore, Rajputana, more than a thousand miles distant from this place of Mooljee’s adventure. And that goes for something.

H. P. B., Mooljee và tôi rời Bombay bằng tàu hỏa ngày 4 tháng Tư, 1879, cho một chuyến đi tới Hang Động Karli. Người gia nhân của chúng tôi là Babula đi cùng. Đó là toàn bộ đoàn của chúng tôi. Tuyệt nhiên không có “một vị Bà-la-môn từ Poona, một Moodelliar từ Madras, một người Tích Lan từ Kegalla, một điền chủ Bengali, hay một Rajput khổng lồ”—ít nhất là với mắt tôi thì không thấy. Tại ga Narel, chúng tôi rời tàu và dùng võng kiệu lên đồi Matheran, nơi nghỉ dưỡng chính của Bombay. Tôi được cho biết rằng chúng tôi đã được mời đến Karli bởi một vị Chân sư mà tôi từng có mối liên hệ gần gũi ở Mỹ trong thời gian viết Isis; và rằng các sự chuẩn bị khác nhau cho tiện nghi của chúng tôi dọc đường đã được Ngài sắp đặt. Tôi vì thế chẳng hề ngạc nhiên khi ở ga Narel có một gia nhân Hindu hạng khá—tức không phải kẻ tôi tớ hầu hạ trong nhà—tiến đến, và sau khi chào, chuyển một thông điệp bằng tiếng Marathi, mà Mooljee dịch là lời kính chúc của chủ ông ta, và lời thỉnh cầu rằng chúng tôi vui lòng chọn muốn đi võng kiệu hay cưỡi ngựa con để lên dốc, vì cả hai đều đã sẵn sàng. H. P. B. và tôi chọn võng kiệu, còn Mooljee và Babula chọn ngựa con. Thế là chúng tôi lên đường trong ánh trăng sáng như ban ngày, mười hai người khiêng cho mỗi chiếc “palkee”—những anh chàng bản xứ cường tráng, da nâu sậm, thuộc tộc Thakoor, chạy nước kiệu theo nhịp bước lệch nhau (để không làm xóc người nằm trong võng kiệu), giữ nhịp bằng một điệu hò êm tai, đều đều, lúc mới nghe thì rất thú vị vì lạ tai, nhưng sau đó thì trở nên đơn điệu đến phát chán. Tôi chưa từng có một hành trình thi vị như thế trong đêm nhiệt đới ấy, bầu trời rực cháy bởi những vì sao sáng rỡ trước khi trăng mọc, muôn vàn côn trùng rúc rích gọi nhau, chim đêm kêu gọi bạn tình, những con dơi lớn lặng lẽ chao lượn ngoằn ngoèo kiếm mồi, lá cọ lách tách và lá rừng xào xạc, mùi đất thoang thoảng lúc lại hòa cùng hương nụ gia vị trong luồng khí ấm áp hơn mà chúng tôi đi qua, và trên tất cả là tiếng hò của những người khiêng võng kiệu hổn hển mà dẻo chân đu đưa. Còn về đoàn “tùy tùng” gồm vô số khỉ chí chóe, “những tiếng gầm sấm dậy của hổ”, và “quán trọ Bồ Đào Nha, đan như tổ đại bàng bằng tre” thì nói ít lại càng tốt trong một tường thuật lịch sử nghiêm túc. Chúng tôi quả đã đến Khách sạn Alexandra đúng trình tự, ăn tối lúc 11 giờ, yên ổn đi ngủ, sáng sớm hôm sau dậy sớm và thưởng ngoạn cảnh trí tuyệt mỹ từ hàng hiên. Mooljee không có mặt khi tôi thức dậy, nhưng quay lại một giờ sau với câu chuyện rằng y đã bị người đàn ông gặp chúng tôi ở Narel đánh thức trước bình minh, và được cho xem một ngôi nhà biệt lập đã trang bị đầy đủ, anh ta nói là sẵn sàng cho chúng tôi sử dụng miễn phí, tùy muốn ở bao lâu. Nhưng đến giờ điểm tâm, H. P. B. đã chán ngấy điều Bà gọi là “hào quang của nền văn minh Anh–Ấn”, và không chịu lưu lại dù chỉ một ngày. Vậy là, bất chấp cảnh báo của chủ khách sạn về cái nóng dữ dội của mặt trời, chúng tôi lại lên đường và cưỡi trở xuống Narel, trong nền nhiệt chẳng khác nào buồng lò của một con tàu hơi nước. May mắn thay, cả hai chúng tôi đều không bị say nắng, và đúng thời chúng tôi bắt kịp chuyến tàu và đi tiếp tới Khandalla, một nơi đồi núi thú vị. Cũng chính “nhà cung ứng vạn năng” đó gặp chúng tôi ở đây, với một cỗ xe bò rộng rãi đưa chúng tôi đến nhà nghỉ công vụ của Chính phủ, nơi chúng tôi ở lại ngày và đêm tiếp theo. Tối hôm đến nơi, Mooljee đi dạo xuống ga đường sắt chuyện trò với viên trưởng ga, một người quen cũ, và được một phen ngạc nhiên. Một chuyến tàu từ Bombay vào bến và dừng tại sân ga, thì y nghe có người gọi to tên mình. Nhìn từ toa này sang toa khác, y thấy một người Hindu vẫy tay và đi đến cửa sổ của ông ta. Người lạ ấy hóa ra chính là nhân vật mà H. P. B. đã đến thăm! Ông trao cho y một bó hoa tươi có vẻ là cùng loại hồng như y đã thấy trong khu vườn bí ẩn của những người làm vườn câm lặng, và đó là những bông hoa đẹp nhất y từng thấy. “Những bông này,” vị ấy nói, khi tàu chuyển bánh, “là cho Đại tá Olcott; xin đem trao giúp.” Thế là Mooljee mang hoa đến cho tôi và kể lại câu chuyện. Một giờ sau, tôi nói với H. P. B. rằng tôi muốn cảm ơn vị Chân sư vì những ân cần Ngài dành cho đoàn chúng tôi, và nếu Bà có thể chuyển được, tôi sẽ viết cho Ngài. Bà đồng ý, vậy là tờ giấy nhắn được viết và trao cho Bà. Bà đưa nó cho Mooljee và yêu cầu y đi trên con đường công cộng phía trước và trao cho người nhận. “Nhưng,” y hỏi, “cho ai, ở đâu; trên bì không ghi tên hay địa chỉ?” “Không sao; cứ mang đi và anh sẽ thấy phải đưa cho ai.” Y bèn đi xuống đường, nhưng sau mười phút đã chạy trở lại, thở hổn hển và bộc lộ mọi dấu hiệu của kinh ngạc. “Mất rồi!” y lắp bắp. “Cái gì?” “Bức thư, ông ấy lấy mất.” “Ai lấy?” tôi hỏi. “Tôi không biết, thưa Đại tá, trừ khi đó là một con pisâcha: ông ta từ dưới đất chui lên, ít nhất là tôi thấy thế. Tôi đang đi chậm rãi, nhìn bên phải bên trái, chẳng biết phải làm sao để thi hành lệnh của H. P. B. Không có cây cối hay bụi rậm để ai đó trốn, chỉ là con đường trắng bụi. Vậy mà thình lình, như thể từ dưới đất đi lên, có một người cách vài thước, đang tiến về phía tôi. Đó là người của ngôi nhà hồng, người đã trao hoa cho tôi để đưa ngài ở ga Khandalla, và người mà tôi thấy đã được đưa đi trên chuyến tàu về phía Poona!” “Vớ vẩn, anh bạn,” tôi đáp, “anh mơ mộng rồi.” “Không, tôi tỉnh như sáo như chưa bao giờ. Vị ấy nói: ‘Anh có bức thư cho tôi—cái anh đang cầm trong tay; phải không?’ Tôi hầu như không nói nên lời, nhưng tôi thưa: ‘Tôi không biết, thưa Maharaj, trên đó không ghi địa chỉ.’ ‘Là cho tôi, đưa đây.’ Ông ấy cầm lấy và nói: ‘Giờ thì quay lại đi.’ Tôi quay lưng đi một chốc rồi nhìn xem ông ấy còn ở đó không, nhưng ông đã biến mất; con đường trống trơn! Hoảng sợ, tôi quay đầu chạy, nhưng chưa kịp đi xa đến năm chục thước thì có tiếng nói ngay bên tai tôi: ‘Đừng ngốc, anh bạn; bình tĩnh; mọi sự đều ổn.’ Điều này càng làm tôi sợ hơn, vì chẳng có ai trong tầm mắt. Tôi bỏ chạy, và giờ tôi đây.” Đó là câu chuyện của Mooljee, tôi chép lại y như y đã kể. Nếu xét theo diện mạo, y hẳn đã nói thật, vì nỗi sợ và sự kích động của y quá hiển nhiên để có thể giả tạo bởi một diễn viên vụng về như y. Dù sao đi nữa, một thỉnh cầu nhất định chứa trong bức thư đó đã được trả lời trong một bức thư của chính vị Chân sư ấy, mà tôi nhận sau đó, tại nhà nghỉ công vụ ở Bhurtpore, Rajputana, cách nơi xảy ra cuộc phiêu lưu của Mooljee hơn một nghìn dặm. Vậy cũng là có cơ sở.

It was a moonlight night, glorious beyond anything we see in the colder Western lands, and the air sweet, bland and pure, making physical existence a charm. We three sat out on the lawn enjoying it until late, planning our visit to Karli Caves for the next day.

Đêm ấy có trăng, lộng lẫy vượt xa bất cứ thứ gì ta thấy ở những xứ lạnh phương Tây, và không khí ngọt ngào, dịu nhẹ và tinh khiết, khiến sự sống thân xác hóa thành một diễm phúc. Ba chúng tôi ngồi ngoài bãi cỏ tận hưởng cho đến khuya, lập kế hoạch thăm Hang Động Karli vào ngày hôm sau.

Towards the end of the evening, H. P. B. came out of a state of mental abstraction in which she had been sitting for some minutes, and told me that at 5 p.m., the next day, a Sanyâsi or Sanyâsis would visit us at the Caves. I recorded the forewarning before retiring; the sequel will be seen presently.

Về cuối buổi tối, H. P. B. thoát ra khỏi một trạng thái trầm tư trong đó Bà ngồi mấy phút, và nói với tôi rằng lúc 5 giờ chiều ngày hôm sau, một vị Sanyâsi hay các vị Sanyâsi sẽ viếng chúng tôi tại Hang Động. Tôi ghi lại lời báo trước trước khi đi ngủ; đoạn tiếp theo sẽ thấy ngay.

At 4 o’clock in the morning Baburao, the Adept’s supposed agent, silently entered the room where Mooljee and I slept, wakened me with a touch, thrust into my hand a small, round lacquered box containing a pân supâri, or betel-leaf with spice accompaniments, such as is given to guests, and whispered in my ear the name of the Adept under whose protection we were alleged to be on this trip. The significance of the gift was that in the mystical school with which we have had to do, this is the sign of adoption of the new pupil. We rose, bathed, had coffee, and at 5 left in the bullock-coach (shigram) for Karli, which we reached at 10. By this time there was a blazing, sunshine, and we had a hard climb of it up the footpath from the foot of the hill to the Caves. H. P. B. became so distressed for breath that finally some coolies brought a chair and carried her the last half of the ascent. It is foreign to my purpose to enter into a description of the awe-inspiring, grandiose rock-temple and its adjacent smaller cave-dormitories, which are given in every guide-book, with all their details of measurements. My narrative is concerned only with the personal adventures of our little party.

Lúc 4 giờ sáng, Baburao, người được cho là đại diện của vị Chân sư, lặng lẽ bước vào phòng nơi Mooljee và tôi ngủ, đánh thức tôi bằng một cái chạm, đặt vào tay tôi một hộp sơn mài nhỏ, tròn, chứa một miếng pân supâri, tức lá trầu có kèm gia vị, như vẫn tặng khách, và thì thầm vào tai tôi tên của vị Chân sư mà theo lời đồn chúng tôi được đặt dưới sự bảo hộ của Ngài trong chuyến đi này. Ý nghĩa của món quà là trong trường phái huyền môn mà chúng tôi có liên hệ, đây là dấu hiệu thu nhận môn sinh mới. Chúng tôi dậy, tắm rửa, dùng cà phê, và lúc 5 giờ lên xe bò (shigram) đi Karli, đến nơi lúc 10 giờ. Đến lúc này, nắng đã chói chang, và chúng tôi vất vả leo theo lối mòn từ chân đồi lên Hang Động. H. P. B. khó thở đến nỗi cuối cùng mấy phu khuân vác phải mang một chiếc ghế đến và khiêng Bà nửa quãng đường lên dốc còn lại. Không nằm trong mục đích của tôi việc mô tả ngôi đền đá hùng vĩ gây cảm giác kính úy và các hang ký thất nhỏ liền kề, vốn đều có trong mọi sách hướng dẫn, cùng tất cả các chi tiết kích thước của chúng. Tường thuật của tôi chỉ liên quan đến những cuộc phiêu lưu cá nhân của nhóm nhỏ chúng tôi.

We found a festival of Rama in progress in the neighbouring village, with a great crowd, and I found it very amusing to observe its novel features. Tired with our hot climb, we went inside the great Cave, and spreading our blankets camped on the rocky floor. By and by we had our lunch, although feeling half-ashamed to be satisfying the vulgar cravings of the stomach in the aisle of a fane where, centuries before our era, thousands of ascetic recluses had worshipped, and with chants of sacred slokas and gathas, united in helping each other to dominate the animal self and develop their spiritual power. Our talk, of course, ran upon the noble theme of the rise, progress, and decadence of the Brahma Vidya in India, and our hopes of its recrudescence. On these worthy subjects discoursing, we passed the time away until, looking at my watch, I found that it lacked but six minutes to 5 o’clock; so Mooljee and I left H. P. B. and went to the gate-house which guards the entrance to the Cave, and waited. No ascetic was then in sight, but in about ten minutes, there came one who drove before him a cow, which was deformed by a short fifth leg that grew from its hump. A servant accompanied him. The ascetic’s face was gentle and attractive. He had flowing black hair, and a full beard, parted down the chin in the Rajput fashion, with the ends turned over the ears and worked in with the hair of the head. He was robed in the saffron-hued cloths (bhâgwa) of his order. Across his intellectual forehead was the smear of grey ashes (Vibhuti) which indicates the follower of Shiva. We watched for some sign or look of recognition, but getting none, at last joined and drew him into conversation. He explained his presence there when by rights he should have been faring on towards Hardwar, by saying that the previous day, while on his road to that noted shrine, his Guru had ordered him to be here at 5 o’clock this day, as there were persons for him to meet. No orders beyond that had been given him. If we were expecting him, then we must have been the persons his Guru had in mind, but he had no message for us, as yet at all events. No, his Guru had not told him in person, but—this we drew from him after much cross-questioning and after an interval of silence, in which he seemed to be listening to some invisible person—by a voice, as if spoken into his ear. That was the way he always received his orders while travelling. Finding that we could get no more out of him, we took temporary leave and returned to H. P. B. Our determination to pass the night on the hill being made known to Baburao, he and Mooljee went in search of a suitable shelter, and on their return we and our luggage were removed to a small cave-dormitory cut into the hill, some distance to the right of the great cave-temple. The ancient sculptors had fashioned a two-pillared small porch at the entrance, and inside ten cubicles, with open door-ways, giving on to a central square hall or chamber of assembly. To the left of the porch a basin, cut in the rock, received the waters of a spring of deliciously cool and clear water. H. P. B. told us that from one of the cubicles in one of these small caves, a secret door communicated with other caves in the heart of the mountain, where a school of Adepts still lived, but whose existence was not even suspected by the general public: and that if I could find the right portion of rock, and handle it in a particular fashion, no hindrance would be made to my entrance—a liberal offer considering the circumstances! However, I tried, and in another little cave some way off I did actually put my hand on a place and was about to try to move it when H. P. B. began calling me back in haste. The Adept writer of the Bhurtpore letter told me that I had actually hit upon the right place and would have prematurely penetrated to his retreat if I had not been called away. However, this is unprovable for the present, so let me proceed. Mooljee and Babula had gone to the village bazaar with Baburao, to buy provisions, and H. P. B. and I were left alone. We sat in the porch smoking and chatting, until she bade me stop where I was for a few minutes and not look around until she told me. She then passed inside the cave, as I thought to go into one of the cubicles for a nap on the rock-hewn block that served as the old monk’s bed. I kept on smoking and looking over the wide landscape that lay before me like a great map, when suddenly, from within the cave, I heard a sound like the slamming of a heavy door and a burst of satirical laughter. Naturally I turned my head, but H. P. B. had disappeared. She was in neither of the cells, which I examined in detail, nor could I, with the minutest search over every inch of the rocky surfaces of their walls find the least crack or other sign of a door; there was nothing palpable to eye or touch but living rock. I had had so long and varied an experience of H. P. B.’s psychological eccentricities, that I soon ceased to bother myself about the mystery and returned to the porch and my pipe, in placid inclination to wait for what might happen. A half-hour had passed since her disappearance, when I heard a footstep just behind me and was addressed by H. P. B. in person, in a natural tone, as if nothing had happened out of the common. In reply to my question as to where she had been, she simply said she had “had business” with... (mentioning the Adept) and gone to see him in his secret chambers. Curiously enough, she held in her hand a rusty old Knife of a strange pattern, which she said she had picked up in one of the masked passages, and purposelessly had brought along. She would not let me keep it, but flung it out into the air with all her force, and I saw it fall into a thicket far down the hillside. I do not explain the above occurrence, leaving each reader to make what he may out of the facts. Yet, to forestall what will unquestionably occur to many minds of a certain bias, I may say that, barring the rusty knife, all is explicable on the theory of hypnotic suggestion. The sound of the slammed rock-door and the shout of laughter, H. P. B.’s seeming disappearance and subsequent sudden reappearance, can all be accounted for as hypnotic Mâyâ cast on me by her. She may have passed out by the porch at my very side, gone elsewhere, and returned before my very eyes without my seeing her. This is one explanation, and a very rickety one it will be to anyone who had had to do, in the state of pupilage, with a real adept of Eastern Magic.

Chúng tôi thấy một lễ hội Rama đang diễn ra tại ngôi làng gần đó, với một đám đông lớn, và tôi thấy rất thú vị khi quan sát những điểm mới lạ của nó. Mệt sau chặng leo nóng bức, chúng tôi vào bên trong Hang Lớn, trải chăn và cắm trại trên nền đá. Một lát sau, chúng tôi dùng bữa trưa, dù cảm thấy nửa xấu hổ vì thỏa mãn các đòi hỏi tầm thường của dạ dày trong gian đường của một tòa thánh nơi, từ nhiều thế kỷ trước thời đại chúng ta, hàng nghìn ẩn sĩ khổ hạnh đã phụng tự, và với tiếng tụng những bài sloka và gatha thiêng liêng, hợp cùng nhau giúp nhau chế ngự cái thú tính và phát triển quyền năng tinh thần. Dĩ nhiên, câu chuyện của chúng tôi xoay quanh chủ đề cao quý về sự trỗi dậy, phát triển và suy tàn của Brahma Vidya ở Ấn Độ, và hy vọng của chúng tôi về sự phục hưng của nó. Vừa đàm đạo về những chủ đề xứng đáng đó, chúng tôi vừa giết thời gian cho đến khi, nhìn đồng hồ, tôi thấy chỉ còn sáu phút nữa là 5 giờ; vậy là Mooljee và tôi rời H. P. B. và ra nhà cổng canh lối vào Hang, đợi. Chưa thấy vị khổ hạnh nào, nhưng chừng mười phút sau, có một vị tới, dắt theo một con bò, bị dị dạng với một cái chân thứ năm ngắn mọc từ bướu của nó. Một gia nhân đi theo ông. Khuôn mặt vị khổ hạnh hiền hòa và thu hút. Ông có mái tóc đen dài, và râu rậm, chẻ đôi ở cằm theo kiểu Rajput, với hai chòm râu vắt qua tai đan với tóc trên đầu. Ông mặc áo vải màu nghệ (bhâgwa) của dòng mình. Trên vầng trán trí tuệ của ông vệt tro xám (Vibhuti) gạch ngang, biểu thị người theo Shiva. Chúng tôi dõi theo để nắm một dấu hiệu hay ánh mắt nhận biết, nhưng không được, rốt cuộc chúng tôi nhập bọn và kéo ông vào chuyện trò. Ông giải thích sự có mặt của mình ở đây, trong khi theo lẽ ra ông phải đang lên đường hướng Hardwar, rằng ngày hôm trước, khi đang trên đường tới thánh địa nổi tiếng ấy, vị Guru của ông đã truyền lệnh phải có mặt ở đây lúc 5 giờ hôm nay, vì có người cần gặp. Ông không nhận lệnh nào khác. Nếu chúng tôi trông đợi ông, vậy thì chúng tôi hẳn là những người mà vị Guru của ông nghĩ đến, nhưng hiện chưa có thông điệp nào cho chúng tôi, ít nhất vào lúc này. Không, vị Guru không trực tiếp nói với ông, mà—chúng tôi moi được điều này sau nhiều câu vặn hỏi và sau một khoảng lặng, trong đó ông dường như lắng nghe ai đó vô hình—bằng một giọng nói, như thể thốt ngay vào tai. Đó là cách ông luôn nhận lệnh khi đi đường. Thấy rằng không thể gặng hỏi thêm, chúng tôi tạm chào và quay về với H. P. B. Khi quyết định của chúng tôi là qua đêm trên đồi được thông báo cho Baburao, ông và Mooljee đi tìm một chỗ trú thích hợp, và khi họ trở lại, chúng tôi cùng hành lý được chuyển đến một hang ký thất nhỏ đục vào sườn núi, cách Hang Đền lớn một đoạn về phía bên phải. Các nhà điêu khắc cổ đã tạo một hiên nhỏ hai cột ở cửa vào, và bên trong là mười phòng nhỏ, cửa mở thông vào một đại sảnh hay phòng hội hình vuông ở trung tâm. Bên trái hiên có một bể đục trong đá hứng nước từ một mạch suối mát lạnh trong veo. H. P. B. nói với chúng tôi rằng từ một trong các phòng nhỏ của một trong các hang nhỏ này, một cánh cửa bí mật thông với các hang khác trong lòng núi, nơi vẫn có một trường các Chân sư cư trú, nhưng sự tồn tại của họ thậm chí không hề bị công chúng biết đến: và rằng nếu tôi có thể tìm được đúng mảng đá và xử lý nó theo một cách đặc biệt, sẽ không có cản trở nào đối với việc tôi bước vào—một đề nghị hào phóng nếu xét hoàn cảnh! Dẫu vậy, tôi đã thử, và trong một cái hang nhỏ khác cách đó một quãng, quả thực tôi đã đặt tay lên một chỗ và định thử di chuyển thì H. P. B. bắt đầu gọi tôi về gấp. Vị Chân sư viết bức thư ở Bhurtpore cho tôi biết rằng tôi đã chạm đúng nơi và lẽ ra sẽ sớm xâm nhập vào chỗ ẩn của Ngài nếu không bị gọi đi. Tuy nhiên, điều này hiện không thể chứng minh, vậy hãy tiếp tục. Mooljee và Babula đã ra chợ làng với Baburao để mua lương thực, và H. P. B. cùng tôi ở lại một mình. Chúng tôi ngồi trên hiên hút thuốc và chuyện trò, cho đến khi Bà bảo tôi ngồi yên tại chỗ vài phút và đừng quay lại cho đến khi Bà bảo. Bà rồi bước vào trong hang, tôi nghĩ là đi vào một phòng nhỏ để chợp mắt trên khối đá đục sẵn làm giường của nhà tu sĩ xưa. Tôi cứ thế tiếp tục hút thuốc, nhìn ra cảnh đồng rộng mở phía trước trải ra như một tấm bản đồ lớn, thì đột ngột, từ bên trong hang, tôi nghe một tiếng như có cánh cửa nặng bằng đá sập xuống và một tràng cười giễu cợt. Tự nhiên tôi quay đầu lại, nhưng H. P. B. đã biến mất. Bà không còn trong bất kỳ ô phòng nào, tôi xem xét tỉ mỉ từng nơi, cũng không thể, dù tìm kỹ từng tấc trên bề mặt đá của tường, phát hiện dù chỉ một vết nứt hay dấu hiệu nào của cửa; chẳng có gì đập vào mắt hay chạm vào tay ngoài đá sống. Tôi đã có quá lâu và quá nhiều trải nghiệm về những lối lập dị tâm lý của H. P. B., đến mức tôi sớm ngừng bận tâm về điều bí ẩn và quay ra hiên, tiếp tục hút tẩu, yên ổn ngồi đợi xem chuyện gì sẽ xảy tới. Nửa giờ trôi qua từ lúc Bà biến mất, thì tôi nghe tiếng chân ngay sau lưng và nghe chính giọng H. P. B. gọi, rất tự nhiên, như thể chẳng có gì bất thường vừa xảy ra. Đáp lại thắc mắc của tôi rằng Bà vừa đi đâu, Bà chỉ nói Bà có “việc phải làm” với... (nêu tên vị Chân sư) và đã tới gặp Ngài trong những gian phòng bí mật. Lạ thay, tay Bà cầm một con dao gỉ cổ lạ kiểu, Bà nói Bà nhặt được ở một trong các hành lang che giấu, và vì ngẫu hứng nên mang theo. Bà không cho tôi giữ, mà vung tay ném mạnh ra khoảng không, và tôi thấy nó rơi vào một bụi rậm xa dưới sườn đồi. Tôi không giải thích sự việc trên, để mỗi độc giả tự rút ra điều mình muốn từ các sự kiện. Tuy vậy, để ngăn trước điều chắc chắn sẽ xuất hiện trong đầu nhiều người có thiên kiến nhất định, tôi có thể nói rằng, ngoại trừ con dao gỉ, mọi thứ đều có thể giải thích theo thuyết ám thị thôi miên. Tiếng cánh cửa đá sập và tiếng cười, việc H. P. B. dường như biến mất và rồi đột ngột xuất hiện lại, tất cả đều có thể cắt nghĩa như Ảo lực thôi miên do Bà gieo lên tôi. Bà có thể đã đi ra qua hiên ngay cạnh tôi, đi nơi khác, rồi quay lại ngay trước mắt tôi mà tôi không hề thấy. Đó là một cách giải thích, và sẽ rất chông chênh đối với bất cứ ai từng có giao tiếp trong vị thế môn sinh với một chân sư Huyền thuật phương Đông đích thực.

Our people in time returned; we had a warm supper served to us in the cave-porch and then after admiring the moonlight panorama, and having a last smoke, all rolled ourselves in our blankets and lay down on the rock-floor and slept quietly until morning. Baburao sat at the porch-door and tended a wood-fire that we kept burning as a protection against wild beasts. But—save one wretched little jackal that slunk by in the night—none came to break our rest. The Caves and Jungles story about my falling down a precipice and being rescued by the Sanyâsi and his five-legged cow is all fiction; so are the “far-away roars of the tigers rising from the valley,” the night attack on us by a huge tiger, the casting of it into the abyss by adept will-power, and the weeping of “Miss X.” –a totally unknown quantity. These were the plums and spices that H. P. B. put into her charming Indian wonder-book, to make it interesting to the Russian public, in whose language it was originally written. Equally misleading is her account of a snake-charming performance as occurring at Karli Caves, the truth being that the thing happened in our own house at Girgaum; as will be seen later on, when I come to the case in its due order.

Cuối cùng người của chúng tôi cũng trở về; chúng tôi dùng bữa tối nóng sốt phục vụ ngay trên hiên hang và rồi, sau khi thưởng ngoạn bức toàn cảnh dưới trăng, và “ rít thêm một điếu cuối”, tất cả cuộn mình trong chăn và nằm xuống nền đá ngủ yên cho đến sáng. Baburao ngồi ở cửa hiên, canh giữ đống lửa gỗ mà chúng tôi duy trì như một hàng rào chống thú dữ. Nhưng—trừ một con chó rừng khốn khổ lẻn đi ngang đêm đó—không có gì đến quấy giấc. Câu chuyện trong Hang Động và Rừng Rậm về việc tôi rơi xuống một vách đá và được vị Sanyâsi cùng con bò năm chân cứu là bịa đặt cả; như là những “tiếng gầm de dọa của hổ vọng lại từ thung lũng”, vụ tấn công lúc đêm khuya của một con hổ khổng lồ, việc dùng ý chí của chân sư quật nó xuống vực, và cảnh khóc lóc của “Cô X.”—một ẩn số hoàn toàn xa lạ. Đó là những thứ gia vị và điểm xuyết mà H. P. B. đưa vào cuốn kỳ thư Ấn Độ duyên dáng của Bà, để hấp dẫn công chúng Nga, ngôn ngữ mà tác phẩm ấy ban đầu được viết. Cũng sai lệch như vậy là tường thuật của Bà về một màn thôi miên rắn như xảy ra ở Hang Động Karli, trong khi sự thật là chuyện đó xảy ra tại chính nhà chúng tôi ở Girgaum; như sẽ thấy sau, khi tôi đến vụ việc theo đúng thứ tự.

Mooljee and I were up before H. P. B. the next morning, and after a wash at the spring, he went down to the village while I stood on the path enjoying the early morning view over the plains. After a while, to my gratification, I saw the cow-owning Sanyâsi coming towards me with the evident intention of speaking. I was at a loss what to do, as neither H. P. B. nor I knew a word of either of the vernaculars. But my doubt as to the issue was soon solved by his coming close up to me, taking my hand, giving our T. S. private tokens of brotherhood, and pronouncing in my ear the Adept’s name! Then saluting me most gracefully, he bowed and went his way. We saw him no more.

Sáng hôm sau, Mooljee và tôi dậy trước H. P. B., và sau khi rửa ráy ở mạch suối, y xuống làng còn tôi đứng trên lối đi mà thưởng thức quang cảnh buổi sớm trên đồng bằng. Một lúc sau, thật mừng cho tôi, tôi thấy vị Sanyâsi chủ con bò đang tiến về phía tôi với ý định rõ ràng là sẽ nói chuyện. Tôi lúng túng vì không biết làm sao, vì cả H. P. B. lẫn tôi đều không biết một chữ của các tiếng địa phương. Nhưng nỗi băn khoăn của tôi nhanh chóng được giải quyết khi ông đến gần, cầm tay tôi, trao những dấu hiệu huynh đệ riêng của Hội T. S., và thì thầm vào tai tôi tên vị Chân sư! Rồi kính cẩn chào, ông cúi mình và đi tiếp đường ông. Chúng tôi không gặp ông nữa.

We passed that day in exploring the caves, and at 4.30 p.m. wended back to the Khandalla rest-house. But while still in the Great Cave, H. P. B. passed on to me an order, telepathically received, she said, from the Adept, that we should go to Rajputana, in the Punjab. After supper we sat out again on the moon-glorified lawn of the travellers’ bungalow, this time in company with two other travellers—Anglo-Indians—who retired early, leaving us three alone. My two companions strolled about conversing together and disappeared behind the house, but Mooljee speedily returned and, as it seemed, in a daze of confusion, saying that she had disappeared before his very eyes while he stood talking to her in the moonlight. He, seemed really about to have a fit of hysterics, so much did he tremble. I bade him sit down and keep quiet, and not make such a fool of himself, as he had merely been made the subject of a glamor, which was a very harmless affair, such as any good mesmeriser could accomplish on his sensitive subject. [2] She soon reappeared and resumed her seat and our chat went on. Presently two white-robed Hindu men were seen crossing the lawn obliquely past us, some fifty yards off. They stopped when opposite.our position and Mooljee was sent by H. P. B. to talk with them. As he stood with them doing this, she repeated to me what she said was their conversation and which Mooljee corroborated a moment later on rejoining us. It was a message to me to the effect that my letter to the Adept had been received and accepted, and that I should get the answer when I reached Rajputana. Before Mooljee could finish this brief report, I saw the two pupil-messengers walk away a short distance, pass behind a small bush not thick or large enough to screen a white-robed man, especially in that vivid moonlight, and disappear: there was open lawn about the bush, but the two had vanished from sight most effectually. Naturally I obeyed my first impulse to run across the lawn and search behind the bush for some signs of a subterranean place of refuge; but I found nothing, the sod was unbroken, the bush had not a twig bent out of its natural place. I had simply been hypnotised.

Ngày hôm ấy, chúng tôi lang thang thăm thú các hang, và lúc 4 giờ 30 chiều thì quay về nhà nghỉ Khandalla. Nhưng khi còn ở trong Hang Lớn, H. P. B. chuyển cho tôi một mệnh lệnh, Bà nói là nhận bằng viễn cảm từ vị Chân sư, rằng chúng tôi phải đi Rajputana, thuộc Punjab. Sau bữa tối chúng tôi lại ra ngồi trên bãi cỏ tắm ánh trăng của nhà nghỉ lữ khách, lần này có thêm hai khách lữ hành khác—người Anh–Ấn—họ rút vào sớm, để lại ba chúng tôi. Hai bạn đồng hành của tôi tản bộ vừa đi vừa chuyện trò và mất hút sau lưng nhà, nhưng Mooljee lập tức quay lại, như đang trong một cơn ngơ ngẩn rối trí, nói rằng Bà đã biến mất ngay trước mắt y trong khi y đứng nói chuyện với Bà dưới ánh trăng. Y như sắp lên cơn hysteric, run bần bật. Tôi bảo y ngồi xuống và bình tâm, đừng làm trò ngốc, vì y chỉ vừa bị làm đối tượng của một ảo cảm, một việc hết sức vô hại mà bất cứ nhà thôi miên giỏi nào cũng làm được với người cảm thụ nhạy của mình. Bà chẳng bao lâu đã xuất hiện lại, ngồi vào chỗ và cuộc trò chuyện tiếp tục. Lát sau, thấy hai người Ấn Độ mặc áo trắng băng chéo bãi cỏ đi ngang qua chúng tôi, cách chừng năm chục thước. Họ dừng khi đối diện với vị trí của chúng tôi và H. P. B. sai Mooljee đến nói chuyện với họ. Khi y đứng đó nói chuyện với họ, Bà nói lại cho tôi những gì Bà bảo là nội dung của cuộc đối thoại, và điều mà Mooljee xác nhận chỉ một lát sau khi quay lại. Đó là một thông điệp gửi cho tôi, nội dung rằng bức thư của tôi gửi vị Chân sư đã được nhận và chấp thuận, và tôi sẽ nhận được hồi đáp khi đến Rajputana. Trước khi Mooljee kịp chấm dứt báo cáo ngắn gọn này, tôi thấy hai môn sinh-sứ giả bước đi một đoạn ngắn, đi khuất sau một bụi cây nhỏ không đủ rậm hay lớn để che một người mặc áo trắng, nhất là dưới ánh trăng rực rỡ ấy, và biến mất: xung quanh bụi cây là bãi cỏ trống, nhưng hai người đã biến khỏi tầm mắt một cách hiệu nghiệm. Tự nhiên, theo phản xạ đầu tiên, tôi chạy băng qua bãi cỏ tìm sau bụi cây xem có dấu hiệu nào của một chỗ trú ngầm dưới đất không; nhưng tôi chẳng tìm thấy gì, thảm cỏ còn nguyên, bụi cây không có một cành nào bị bẻ lệch khỏi vị trí tự nhiên. Rõ ràng tôi đã bị thôi miên.

We left for Bombay the next morning by mail train, but our adventures were not yet finished. Baburao bade us farewell at Khandalla station after refusing to accept the douceur I pressed upon him—a rare stretch of self-denial, as anyone familiar with Hindu serving-men will declare. We three friends had a second-class carriage to ourselves; Babula found room in the third-class. After a while, Mooljee stretched himself out on one of the benches and fell asleep, while H. P. B. and I sitting side by side on the cross-bench—she next the left-hand window—talked about our occult affairs in general. She finally said: “I do wish that... (the Adept) had not made me pass on verbally to you his message a bout Rajputana!” “Why?” “Because Wimbridge and Miss Bates will think it all humbug, a trick to make you take me on a pleasant journey and leave them moping at home.” “Bosh!” I said; “I don’t need anything more than your word for it.” “But I tell you,” she replied “they will think hardly of me for it.” “Then,” I said, “it would have been far better if he had given you a note, which he could have done easily. Well, it’s too late to worry about it now. Khandalla is fifteen or twenty miles behind us, and so let it go.” She brooded over the idea a few minutes, and then said: “Well, I shall try, anyhow; it is not too late.” She then wrote something on a page of her pocket-book in two kinds of character, the upper half Senzar—the language of all her personal writings from the Mahatmas—the lower half English, which she allowed me to read. It ran thus:

Sáng hôm sau chúng tôi rời Bombay bằng chuyến thư tín, nhưng các cuộc phiêu lưu của chúng tôi vẫn chưa kết thúc. Baburao từ giã chúng tôi ở ga Khandalla sau khi từ chối nhận món tiền thưởng tôi nài ép—một sự tự kiềm chế hiếm có, như bất cứ ai quen với gia nhân Hindu sẽ khẳng định. Ba chúng tôi có một toa hạng nhì riêng; Babula tìm được chỗ ở hạng ba. Một lúc sau, Mooljee duỗi mình trên một băng ghế và ngủ thiếp, còn H. P. B. và tôi ngồi cạnh nhau trên băng ghế ngang—Bà cạnh cửa sổ bên trái—nói chuyện tổng quát về các việc huyền môn. Cuối cùng Bà nói: “Tôi ước... (vị Chân sư) đừng bắt tôi truyền miệng cho ông thông điệp của Ngài về Rajputana!” “Vì sao?” “Vì Wimbridge và Cô Bates sẽ nghĩ đó chỉ là trò bịp, một mưu mẹo để ông đưa tôi đi một chuyến vui mà bỏ họ ở nhà rầu rĩ.” “Vô lý!” tôi nói; “Tôi chẳng cần gì hơn ngoài lời của Bà.” “Nhưng tôi nói với ông,” Bà đáp, “họ sẽ nghĩ không hay về tôi vì chuyện đó.” “Thế thì,” tôi nói, “đã hay hơn nhiều nếu Ngài đưa Bà một tờ giấy, điều mà Ngài có thể làm dễ dàng. Thôi, giờ quá muộn để bận lòng về chuyện đó rồi. Khandalla đã lùi lại phía sau mười lăm hay hai mươi dặm, vậy cứ để nó qua đi.” Bà trầm ngâm ý tưởng ấy vài phút, rồi nói: “Thôi thì dù sao tôi cũng sẽ thử; vẫn chưa muộn.” Rồi Bà viết gì đó trên một trang sổ tay bằng hai loại ký tự, nửa trên là Senzar—ngôn ngữ của mọi bản thảo cá nhân Bà nhận từ các Chân sư—nửa dưới là tiếng Anh, mà Bà cho phép tôi đọc. Nội dung như sau:

“Ask Goolab Singh to telegraph to Olcott the orders given him through me at the cave yesterday; let it be a test to others as well as to himself.”

“Hãy bảo Goolab Singh điện báo cho Olcott những chỉ thị đã gửi cho ông ấy qua tôi tại hang hôm qua; để đó là một phép thử với những người khác cũng như với chính ông ấy.”

Tearing the leaf out, folding it into a triangular shape, and inscribing on it some peculiar symbolical signs (which, she said, dominated the Elementals), she took it between her thumb and forefinger of the left hand, as if about to throw it out of the window. I, however, caught and held her hand, saying: “You want this so be a test to me? Then let me re-open the billet, and see what you do with it.” She consenting

Xé tờ giấy, gấp thành hình tam giác, và ghi lên đó vài dấu hiệu tượng trưng đặc biệt (mà Bà nói là chi phối các hành khí), Bà kẹp nó giữa ngón cái và ngón trỏ tay trái, như sắp ném ra khỏi cửa sổ. Tuy nhiên, tôi chụp và giữ tay Bà lại, nói: “Bà muốn điều này cũng là một bài thử đối với tôi ư? Vậy để tôi mở lại mảnh giấy, và xem Bà làm gì với nó.” Bà ưng thuận.

I looked inside the note, returned it to her, and, at her express bidding, watched it when she flung it from the train. It was touched by the outer edge of the air-rush made by the train, and whirled outwards towards a solitary tree near the track. We were then 3,000 feet high, up among the peaks of the Western Ghâts, with no human habitation in sight at the moment, and but very few trees beside the railway track. Just before I let her fling out the billet, I awoke Mooljee, told him what she was about doing, “with him took the time by my watch, and he joined me in signing a certificate in my own note-book, which now lies before me, and from which I have refreshed my memory as to these details. The certificate is dated at “Kurjeet Station, G. I. P. R. 8th April, 1879, at 12.45 p.m.,” and signed by Mooljee Thackersey as witness.

Tôi nhìn lại nội dung tờ giấy, trả cho Bà, và theo lời dặn rõ ràng của Bà, dõi theo nó khi Bà ném khỏi tàu. Mảnh giấy bị mép ngoài của luồng gió do tàu tạo ra hất văng, và bị cuốn ra phía một cây cô độc gần đường ray. Lúc đó chúng tôi ở độ cao 3.000 bộ, giữa các đỉnh núi dãy Ghâts Tây, vào khoảnh khắc ấy không có một bóng nhà nào trong tầm mắt, và dọc đường sắt chỉ lác đác vài cây. Ngay trước khi để Bà ném mảnh giấy, tôi đánh thức Mooljee, kể cho y biết Bà sắp làm gì, lấy y cùng tôi ghi giờ theo đồng hồ của tôi, và y cùng tôi ký vào một giấy chứng nhận trong chính sổ tay của tôi, hiện đang nằm trước mặt tôi, và từ đó tôi đã làm tươi lại ký ức về những chi tiết này. Giấy chứng nhận đề ngày tại “Ga Kurjeet, G. I. P. R. ngày 8 tháng Tư, 1879, lúc 12 giờ 45 trưa,” và do Mooljee Thackersey ký làm chứng.

At Kurjeet, Mooljee and I wanted to descend and stretch our legs a bit on the platform, but H. P. B. said that neither of us should leave the train until we reached Bombay: she had her orders, and we would understand them in due time. So we remained with her in the carriage. In schedule time we reached home, and I at once went on an errand to the Kalbadevi Road and was gone an hour. On returning I was met by Miss Bates, who handed me a sealed Government telegraph cover, saying that she had received it from the messenger (peon) and receipted, for it in my name. It read as follows:

Tại Kurjeet, Mooljee và tôi muốn xuống sân ga duỗi chân một chút, nhưng H. P. B. nói rằng cả hai chúng tôi không được rời tàu cho đến khi về đến Bombay: Bà đã có lệnh, và chúng tôi sẽ hiểu chúng vào lúc thích hợp. Vậy là chúng tôi ở lại cùng Bà trong toa. Đến giờ quy định, chúng tôi về đến nhà, và tôi lập tức đi một việc vặt trên đường Kalbadevi và vắng mặt một giờ. Khi trở về, tôi gặp Cô Bates, cô trao tôi một phong bì điện tín của Chính phủ có niêm phong, nói rằng cô đã nhận từ người đưa (peon) và ký nhận thay tôi. Nội dung như sau:

“Time 2 p.m. Date 8-4-1879.

“Giờ 2 giờ chiều. Ngày 8-4-1879.

From Kurjeet To Byculla.

Từ Kurjeet Đến Byculla.

From Goolab Singh To H. S. Olcott.

Từ Goolab Singh Gửi H. S. Olcott.

Letter received. Answer Rajputana. Start immediately.”

Thư đã nhận. Trả lời Rajputana. Lên đường ngay.”

As I said above, until a few months ago, I regarded this as one of the most unmistakably genuine proofs of H. P. B.’s occult relations I had ever received. It so impressed all my friends, among them one in London and one in New York, to whom I forwarded it for examination. The friend at New York, moreover, reported a strange fact, which I am glad to say I recorded in my Diary for the following 1st July, after receipt of the Overland Mail of that day: Mr. John Judge, brother of W. Q. Judge—the friend in question—wrote that the name of the sender of the telegram (Goolab Singh) had entirely faded out, and he had no clue, therefore, to the sender. He enclosed -the original despatch in his letter and I found the name had again become perfectly visible, as it is to this day. The one weak point in the whole series of phenomena is that—as I learned quite recently—Baburao had been engaged by Mooljee to look after our party at Matheran, Khandalla, and Karli Cave! It is for this reason that I have so minutely described the incidents of our pleasant trip, leaving each reader to judge for himself.

Như tôi đã nói ở trên, cho đến vài tháng trước, tôi xem đây là một trong những bằng chứng không thể lầm lẫn nhất về các mối liên hệ huyền môn của H. P. B. mà tôi từng nhận. Nó đã gây ấn tượng mạnh cho tất cả bạn hữu của tôi, trong số đó có một người ở London và một người ở New York, mà tôi đã gửi nó để xem xét. Người bạn ở New York, hơn nữa, còn báo một điều lạ, mà tôi mừng là đã ghi trong Nhật ký của mình vào ngày 1 tháng Bảy kế tiếp, sau khi nhận được Thư đường bộ của ngày hôm đó: Ông John Judge, em trai của W. Q. Judge—người bạn vừa nói—viết rằng tên người gửi điện (Goolab Singh) đã mờ biến mất hoàn toàn, và vì thế ông không có manh mối nào về người gửi. Ông kèm theo bức điện gốc trong thư của mình và tôi thấy cái tên ấy lại hiện rõ hoàn toàn, như đến hôm nay vẫn vậy. Điểm yếu duy nhất trong cả chuỗi hiện tượng là—như tôi mới biết gần đây—Baburao đã được Mooljee thuê để trông nom đoàn chúng tôi tại Matheran, Khandalla và Hang Karli! Chính vì lý do này mà tôi đã mô tả tỉ mỉ như vậy các tình tiết trong chuyến đi thú vị của chúng tôi, để mỗi độc giả tự mình đánh giá.