← Old Diary Leaves 2

CHAPTER XXVIII

On 9th March (1883) I dined at the house of the most learned Brahmin Pandit of Bengal, the late Taranath Tarka Vachaspati, author of the famed Sanskrit Dictionary. He cooked food for me and paid me the highest honor possible in India, by giving me the Brahminical sacred thread, adopted me into his gotra (the Sandilya) and gave me his mantra. This was a sort of brevet conferring of the caste of Brahmin, the first case, I fancy, in which the details of the ceremony had been gone through with a white man, although the thread itself was given to Warren Hastings in his time. The favor shown me was, I was given to understand, to mark the sense of gratitude felt for me by the Hindus for my services in the revival of Sanskrit literature and of religious interest among the Indian people. My deep appreciation of the honor has often been expressed by me since then, and, although an avowed and convinced Buddhist then and now, I have always worn the poita since the venerable Pandit placed the first one about my neck.

Ngày 9 tháng Ba (1883) tôi ăn tối tại nhà của vị Pandit Brahmin uyên bác nhất Bengal, cố Taranath Tarka Vachaspati, tác giả cuốn Từ điển Sanskrit danh tiếng. Ông tự tay nấu cho tôi ăn và dành cho tôi vinh dự cao nhất có thể có ở Ấn Độ, bằng cách trao cho tôi sợi dây thiêng của Brahmin, nhận tôi vào thị tộc (gotra) của ông (Sandilya) và truyền cho tôi mantram của ông. Đây là một kiểu ban cấp tạm quyền của đẳng cấp Brahmin, có lẽ là trường hợp đầu tiên mà các nghi tiết được tiến hành với một người da trắng, mặc dù sợi dây thiêng ấy từng được trao cho Warren Hastings thời ông. Tôi được cho hay rằng sự ưu ái dành cho tôi là để đánh dấu lòng tri ân của người Ấn đối với những đóng góp của tôi trong việc phục hưng văn học Sanskrit và khơi dậy mối quan tâm tôn giáo trong lòng dân tộc Ấn. Lòng cảm kích sâu xa của tôi về vinh dự ấy đã nhiều lần được tôi bày tỏ từ đó đến nay, và mặc dù khi ấy và giờ đây tôi là một Phật tử tuyên xưng và xác tín, tôi vẫn luôn mang poita kể từ khi vị Pandit khả kính đặt sợi dây đầu tiên lên cổ tôi.

Our conscientious enemies have been good enough to say, quite recently, that we Founders have done nothing in India for the children, perhaps not caring to call to mind the boys’ religious schools, libraries, and societies that we have formed throughout the land. I see by my Diary that the first religious school opened by us in Calcutta was started on the 11th of the same month as the above, with Babu Mohini Mohun Chatterji as chief teacher and other members of our Calcutta Branch as helpers. Since then, society after society for the moral, religious and intellectual benefit of the young, of both sexes, has sprung up in that metropolis, and at this day hundreds are being instructed in the principles of their hoary religion. Ladies’ T. S. was formed in 1883, with the lovely and gifted Mrs. Ghosal as its President, and the outcome of this movement was the founding of the Bharati, a magazine fit to be compared with the great London and New York periodicals.

Những “kẻ thù có lương tâm” của chúng ta đã hảo tâm tuyên bố, rất gần đây, rằng chúng ta là những người Sáng lập đã chẳng làm gì ở Ấn Độ cho thiếu nhi, có lẽ không muốn nhớ đến những trường tôn giáo, thư viện và hội đoàn thiếu niên mà chúng ta đã lập khắp đất nước. Tôi thấy trong Nhật ký rằng trường tôn giáo đầu tiên do chúng ta mở ở Calcutta được khởi sự vào ngày 11 cùng tháng nói trên, với Babu Mohini Mohun Chatterji làm giáo tập trưởng và các hội viên Chi bộ Calcutta của chúng ta làm trợ giáo. Từ đó, xã hội này đến xã hội khác nhằm lợi ích đạo đức, tôn giáo và trí tuệ cho thanh thiếu niên, cả nam lẫn nữ, đã mọc lên ở đô thị này, và đến hôm nay có hàng trăm em đang được giáo dưỡng trong các nguyên lý của tôn giáo cổ xưa của mình. Chi hội Nữ giới của Hội T. S. được thành lập năm 1883, với bà Ghosal xinh đẹp và tài hoa làm Chủ tịch, và kết quả của phong trào này là sự ra đời của tạp chí Bharati, xứng sánh với những tạp chí lớn ở London và New York.

My work in Calcutta having been finished, including several public lectures to overflowing audiences, I resumed travel on the 12th, and turned my face towards Krishnagar. I lectured there; healed the sick, and admitted seventeen new members into the local Branch. On the following day I gave mesmerised water to one hundred and seventy applicants. There lived in the town a common potter, who must have had the soul of some old sculptor reborn in his body, so skilful was he in the modelling of figures. A tiny statuette, the price of which was but one rupee, represented a Brahmin seated for his morning devotions, and I think I never saw more character put into clay: the face showed the most intense concentration of mind and introspection and was a chef d’œuvre. I did my best, later on, to persuade my good friend Maharajah Sir Jotendro Mohun Tagore, K.C.S.I., to erect in some crowded native quarter of Calcutta a life-size statue of an Aryan Rishi, after Ram Lal’s design, with suitable inscription on the pedestal to remind the modern Hindu of his glorious forefathers. With the Maidan and other open spaces studded with conspicuous statues of successful foreign soldiers and cunning politicians, it seems a vast pity that no rich Hindu gentleman or group of gentlemen comes forward to erect these mementoes for generations yet unborn, of the mighty sages and saints whose world-wide renown casts a brilliant radiance upon the Aryan race.

Công việc của tôi ở Calcutta đã hoàn tất, kể cả vài bài thuyết giảng công khai trước những thính phòng chật kín, tôi lại lên đường vào ngày 12 và quay mặt về Krishnagar. Tôi thuyết giảng ở đó; chữa lành người bệnh, và kết nạp mười bảy hội viên mới vào Chi bộ địa phương. Ngày hôm sau, tôi phát nước đã thôi miên cho một trăm bảy mươi người xin. Ở thị trấn có một người thợ gốm bình dân, chắc hẳn có linh hồn của một nhà điêu khắc xưa tái sinh trong thân xác ấy, vì y khéo tay phi thường trong việc nặn tượng. Một bức tượng tí hon, giá chỉ một rupee, diễn tả một vị Brahmin đang ngồi trì tụng buổi sớm, và tôi nghĩ chưa từng thấy bao giờ người ta đưa nhiều “tính cách” đến thế vào đất sét: gương mặt cho thấy sự tập trung thể trí mãnh liệt và sự tự quan chiếu, quả là một kiệt tác. Về sau, tôi đã cố hết sức thuyết phục người bạn quý của tôi là Maharajah Sir Jotendro Mohun Tagore, K.C.S.I., dựng lên ở một khu dân cư đông đúc nào đó của Calcutta một bức tượng kích thước thật của một vị Rishi Arya theo mẫu của Ram Lal, với dòng minh văn thích hợp trên bệ tượng để nhắc người Hindu hiện đại về các bậc tổ tiên hiển hách của mình. Với Maidan và các khoảng trống khác đầy những pho tượng nổi bật của các binh sĩ ngoại quốc thành công và những chính khách xảo quyệt, thật đáng tiếc vô cùng khi không có một quý ông Hindu nào giàu có, hay một nhóm quý ông, đứng ra dựng nên những kỷ niệm cho các thế hệ còn chưa chào đời về các bậc hiền thánh và thánh nhân, mà danh tiếng khắp thế giới của Các Ngài đang chiếu một vầng quang rực rỡ lên chủng tộc Arya.

To Dacca next, one of the historical centres of Indian history, and, for years past, of modern culture. My host here was Babu Parbati Charan Roy, a highly educated Government employee and a materialist. I met at his house very cultivated society, among them Babu P. C. Roy, Ph.D., of London University, subsequently Registrar of Calcutta University, and his educated wife, a representative of the highest culture among Brahmo ladies. The time not needed for my lectures and other public duties was most pleasantly occupied in private discussions with these friends on philosophical and Theosophical subjects. Parbati Babu was a man well worth winning over to our side, and I was glad to answer his questions and try to resolve his doubts on religious subjects. I remember his taking me into his library and showing me his fine collection of books, almost exclusively by Western authors, and when we came to the last book-case, I made as if searching for more. He asked what I was looking for. I told him I supposed he must have still another room where he kept his Sanskrit and other Indian works. “No,” he said, “this is all; is it not enough?” “Enough” I replied “why, certainly not, for a Brahmin who wants to know what his religion can answer to the criticisms of foreign sceptics: it might do very well for an European, who neither knows nor cares what the Aryan Shastras teach.” My host flushed a little, for I fancy this was the first time that a white man had reproached him for knowing only the opinions of white men. However that may have been, in the course of time this bright University graduate turned his attention most seriously to the studies of his Shastras, and but the other day published a book announcing his full acceptance of the views of his ancestral religion. [16]

Tiếp đó là đến Dacca, một trong những trung tâm lịch sử của Ấn Độ, và từ nhiều năm qua, là trung tâm của văn hóa hiện đại. Chủ nhà của tôi ở đây là Babu Parbati Charan Roy, một công chức Chính phủ học vấn cao và là người theo chủ nghĩa duy vật. Tôi gặp ở nhà ông một xã hội rất tao nhã, trong đó có Babu P. C. Roy, Tiến sĩ của Đại học London, về sau là Viên chức Đăng ký của Đại học Calcutta, và người vợ có học của ông, một đại diện của nền văn hóa cao nhất trong hàng phụ nữ Brahmo. Thời giờ không cần cho các bài giảng và các công việc công cộng khác được tôi dùng một cách thú vị nhất cho các cuộc thảo luận riêng với những người bạn này về các đề tài triết học và Thông Thiên Học. Parbati Babu là một người rất đáng để thuyết phục về phía chúng ta, và tôi vui mừng trả lời các câu hỏi của ông và cố gắng tháo gỡ những hoài nghi của ông về các vấn đề tôn giáo. Tôi nhớ ông đưa tôi vào thư viện và chỉ cho tôi bộ sưu tập sách quý, hầu như chỉ toàn của các tác giả phương Tây, và khi chúng tôi đến tủ sách cuối cùng, tôi làm như còn đang tìm thêm. Ông hỏi tôi đang tìm gì. Tôi nói rằng tôi cho rằng hẳn ông còn một phòng nữa để cất sách Sanskrit và các tác phẩm Ấn Độ khác. “Không,” ông nói, “chỉ có thế; chẳng phải đã đủ rồi sao?” “Đủ” tôi đáp “sao lại đủ cho một Brahmin muốn biết tôn giáo của mình có thể đáp lại những phê bình của các nhà hoài nghi ngoại quốc thế nào: nó có thể đủ cho một người Âu châu, kẻ chẳng biết cũng chẳng bận tâm xem các Shastras của Arya dạy gì.” Chủ nhà tôi hơi đỏ mặt, vì tôi đoán đây là lần đầu tiên một người da trắng trách ông vì chỉ biết các ý kiến của người da trắng. Dù thế nào, theo dòng thời gian, chàng cử nhân sáng láng này đã quay sự chú ý một cách nghiêm túc nhất về việc khảo cứu các Shastras của mình, và mới đây xuất bản một cuốn sách, tuyên bố ông hoàn toàn chấp nhận quan điểm của tôn giáo tổ truyền.

From Dacca to Darjeeling is a long stretch, even by rail. At Siliguri we were transferred from the ordinary train to the steam tram that rushes up the Himalayas by a most devious route, curving around the hills, doubling and twisting upon itself, once in a figure of eight; going through forests and wild jungle, past banks of wild flowers growing beside the track; meeting gangs of Bhooteah coolies and Bhootanese, faring along with loads carried on their backs in baskets like inverted cones, supported by straps passing across their foreheads; through sman villages of hillmen and Bengali shopkeepers, whose wares were exposed at the doors of the ill-smelling and squalid dens that serve them as bminess and living quarters combined; up, ever up into the cold and thin air of the heights, where the lowering of the temperature compels a change of dress and the use of topcoats and rugs; new vistas of the hot, steamy plains opening out at every turn of the road, until rivers seem like glistening threads down below, houses like dolls’ boxes, and moving animals and men like the figures of a toy Noah’s ark. Then, finally, towards the end of the climb one finds oneself amid a confusion of mountain peaks crowned by the glittering pinnacles of Kanchanjunga, or Dhavalagiri, twice as far up in the sky as the crest of Mt. Blanc. On the station platform at Darjeeling I was met by my brothers of the local Branch, who gave me a warm welcome and took me to the mountain palace of the Maharajah of Burdwan, who had sent orders to place it at my disposal and give me hospitality.

Từ Dacca đến Darjeeling là một quãng dài, ngay cả đi bằng đường sắt. Tại Siliguri, chúng tôi chuyển từ tàu thường sang xe tram hơi nước lao lên dãy Himalaya theo một lộ trình quanh co nhất, uốn quanh các đồi, tự gấp đôi và xoắn lấy chính mình, có đoạn thành hình số tám; băng qua rừng và rậm rạp hoang vu, ngang những bờ đất đầy hoa dại mọc bên đường ray; gặp những tốp phu khuân vác Bhooteah và người Bhootan, lặc lư đi với những gùi hàng như những chiếc nón cụt lộn ngược đặt sau lưng, được đỡ bằng dây quai vắt ngang trán; đi ngang những ngôi làng nhỏ của dân miền núi và các hàng phố người Bengali, hàng hóa bày ngay ở cửa những hang ổ hôi hám tồi tàn vừa là nơi buôn bán vừa là nơi cư trú; đi lên, luôn luôn lên cao vào không khí lạnh và loãng của độ cao, nơi nhiệt độ hạ buộc phải thay áo quần và dùng áo khoác dày cùng chăn đắp; những viễn cảnh mới của đồng bằng nóng ẩm bốc hơi mở ra ở mỗi khúc quanh, đến mức sông ngòi ở phía dưới nhìn như những sợi chỉ lấp lánh, nhà cửa như những chiếc hộp đồ chơi, còn động vật và con người chuyển động như những hình tượng trong chiếc tàu Nô-ê đồ chơi. Rồi, sau cùng, về cuối chặng leo, người ta thấy mình giữa một rối bời các đỉnh núi được vương miện bởi những đỉnh chóp lấp lánh của Kanchanjunga, hay Dhavalagiri, cao vút lên trời gấp đôi so với đỉnh Mt. Blanc. Trên sân ga Darjeeling, tôi được các huynh đệ của tôi ở Chi bộ địa phương đón, họ chào mừng nồng hậu và đưa tôi về cung điện trên núi của Maharajah xứ Burdwan, người đã cho lệnh đặt nơi này cho tôi sử dụng và khoản đãi tôi.

Only one who.has been living in the hot climate of the Indian plains can really know the inexpressible relief and charm it is to get up to this lofty hill-station where, at an elevation of about 8,000 feet, one finds the climate of England, and the blazing fire in the chimney-place recalls the delights of home. Outdoors, especially in the bazaar or market-place, there is little to remind one of that, for one finds oneself in a crowd of people with Mongolian features, yellow skins, quaint headgear and costumes, jabbering away in a dozen strange tongues. Here is a trader selling Tibetan prayer-wheels, turquoise necklaces, charm-boxes to wear on the neck and arm; there, another offering the thick red sleeping-rugs of Tibet, or the pretty white and blue figured bedspreads of Bhutan, or the artistic woven woollen girdles with fringed ends, which every hill man and woman appears to wear for confining their loose top-garments at the waist; and beyond him, a third who deals in the sweet-sounding cymbals and bells of Lhassa; dealers in ponies, cloths, grains, and every sort of merchandise which is in demand, throng the place, and the scene is full of movement and clamor. As I was working my way towards the eastern side of the bazaar ground, I was brought to a sudden stop by seeing a man approaching with his splendid eyes fixed upon mine and a smile on his face. For a moment I could scarcely believe my eyes—so far away were my thoughts from the possibility of seeing him. It was one of the senior pupils of a Mahatma, with whom I had been brought into relations in a place far distant from there. I stood still, waiting for any advances he might choose to make, but just when he was quite near, he turned aside, with his smiling eyes fixed on mine, and was gone. I could find him nowhere.

Chỉ người nào đã sống trong khí hậu nóng của đồng bằng Ấn Độ mới thực sự biết được sự nhẹ nhõm không thể diễn tả và vẻ quyến rũ khi được lên đến trạm đồi cao này, nơi ở độ cao khoảng 8.000 bộ, người ta tìm thấy khí hậu nước Anh, và ngọn lửa cháy bừng trong lò sưởi gợi nhớ niềm vui nơi quê nhà. Bên ngoài, nhất là ở chợ, người ta ít thấy điều gì gợi nhớ đến điều đó, vì ta thấy mình giữa đám đông người có nét Mông Cổ, da vàng, đội mũ và mặc y phục kỳ lạ, líu lo bằng cả chục tiếng lạ. Kia là một người buôn bán bánh xe cầu nguyện Tây Tạng, chuỗi hạt lam ngọc, hộp bùa đeo cổ và tay; chỗ nọ, người khác bày những tấm chăn ngủ dày màu đỏ của Tây Tạng, hoặc những tấm phủ giường hoa văn trắng và xanh đẹp mắt của Bhutan, hoặc những dây lưng len dệt nghệ thuật có tua, mà dường như nam phụ lão ấu miền núi nào cũng dùng để thắt chiếc áo ngoài rộng ở ngang eo; và xa hơn, một người thứ ba bán chũm chọe và chuông Lhassa âm điệu êm tai; những người bán ngựa nhỏ, vải vóc, ngũ cốc, và đủ mọi thứ hàng hóa có nhu cầu chen chúc nơi đây, tạo nên một cảnh tượng đầy chuyển động và ồn ào. Khi tôi đang len qua phía đông khu chợ, tôi bỗng khựng lại vì thấy một người tiến đến, đôi mắt rực rỡ của y chăm chăm nhìn vào mắt tôi và mỉm cười. Trong khoảnh khắc, tôi hầu như không tin vào mắt mình—tâm trí tôi ở quá xa khả năng được trông thấy y. Đó là một đệ tử cao niên của một vị Chân sư, với người ấy tôi đã được đưa vào sự liên hệ ở một nơi rất xa đây. Tôi đứng yên, đợi động thái y có thể muốn làm, nhưng ngay khi y đến rất gần, y rẽ sang một bên, đôi mắt mỉm cười vẫn dán vào mắt tôi, và biến mất. Tôi không thể tìm thấy y ở đâu cả.

During the next two days I was kept as busy as possible, receiving visitors, discussing high topics, and treating sick persons. On the 24th I lectured at the town hall on “Theosophy a True Science, not a Delusion.” That morning I had seen a sight that I shall never forget until my dying day. I saw Dhawalagiri in a clear sky, without a veil of mist between it and myself. It was like the uncovering of a world of gods and immortals, and language is almost too poor to do it justice. Before dawn I had gone out of the house and was waiting for the sunrise. There was no cloud in the steel-blue sky to dim the light of the stars. Facing the east I saw, of a sudden, a pinnacle of eternal snow come into view, as if born out of the breast of the night: a small, shining white mass, so far up in the heavens that I had to crane my neck to look at it. That was the only shining mass in the sky, all else was night and stars, while the mountains around and before me were shrouded in deep darkness. Anon, the glory burst out in another peak, and then it ran like a flash of molten silver from the one to the other: within the next few moments the whole rugged cap of the kingly mountain was a blaze of lighted snow. Towering 20,000 feet above Darjeeling and 7,000 more from the plains, seen afar like a dream more than a reality, what wonder that the Hindu popular belief should make it the home of Rishis, those ideal embodiments of all human perfections!

Trong hai ngày tiếp theo, tôi bị giữ bận tối đa, tiếp khách, đàm đạo các chủ đề cao sâu, và chữa trị cho người bệnh. Ngày 24, tôi thuyết giảng tại tòa thị chính về “Thông Thiên Học là một Khoa học Đích thực, không phải Ảo tưởng.” Sáng hôm ấy tôi đã được thấy một cảnh mà đến ngày cuối đời tôi quyết không quên. Tôi thấy Dhawalagiri giữa bầu trời quang đãng, không một màn sương che giữa nó và tôi. Đó như là mở ra một thế giới chư thần và bậc bất tử, và ngôn từ hầu như quá nghèo để diễn tả cho xứng. Trước rạng đông, tôi ra khỏi nhà và đứng đợi mặt trời mọc. Không một đám mây nào trong bầu trời xanh thép làm mờ ánh sao. Đang nhìn về phía đông, bỗng nhiên tôi thấy một đỉnh tuyết vĩnh hằng hiện ra như thể sinh ra từ lòng đêm: một khối trắng sáng nhỏ, cao vời đến mức tôi phải rướn cổ mới nhìn được. Đó là khối sáng duy nhất trên trời, mọi thứ khác là đêm và sao, còn các dãy núi quanh tôi và trước mặt đều chìm trong bóng tối sâu đặc. Chẳng bao lâu, vinh quang bừng lên ở một đỉnh khác, rồi như làn chớp bạc lỏng chạy từ đỉnh này qua đỉnh kia: chỉ trong vài khoảnh khắc tiếp theo, toàn bộ chiếc mũ gồ ghề của ngọn núi vương giả ấy rực sáng một vùng tuyết bừng cháy. Cao hơn Darjeeling 20.000 bộ và thêm 7.000 bộ nữa so với đồng bằng, nhìn từ xa như mộng ảo hơn là thực tại, hỏi sao người Hindu bình dân lại chẳng tin rằng đó là nơi cư ngụ của các Rishi, những hiện thân lý tưởng của mọi sự trọn lành của con người!

On the 26th I left Darjeeling, retraced my route down to Siliguri, where I was once more subjected to the heat of the plains, the more awful by reason of the contrast of forty-odd degrees Fahrenheit. My objective point, Jessore, was reached on the 28th. I lectured as usual, and on the 29th formed a local Branch. Thence, to Narail, where I was put up in a travellers’ bungalow composed of bamboo tattis and having a thatched roof—a flimsy construction that, one would think, could not withstand the strain of a high wind. The mercury stood at 106° Fah. So my state of comfort may be imagined. I lectured to a large crowd from the steps of a schoolhouse, for want of a room big enough for the purpose, and, as there was not a single European about, wore my muslin Hindu costume with much comfort. If Europeans in the Tropics had really good common sense, they would discard their clinging, cramping and stuffy dress for the roomy and thin garments and head-covering of the natives of those countries. But what can be expected from people who wear Piccadilly costumes, including the bell-topper, at garden-parties, and slavishly submit to the conventional custom of making calls in the very hottest part of the day, and the most inconvenient? At Narail a Branch T. S. was formed with fourteen members. By palanquin, country boat and dâk gharry (mail coach) I went via Jessore to Calcutta, travelling a night and a day with the thermometer at 101°. I had yearned for a little rest on reaching the Maharajah’s Guest Palace, but got none, as patients had gathered and were persistent and clamorous. So I worked through the day as well as I could, and, naturally enough, at evening had nervous fever, high temperature, and exhaustion of my forces. So I put my foot down the next morning and took my needed rest. In the evening, however, I paid a visit to my dear friends, the Gordons and later, held a meeting of the Bengal T. S. for the admission of new members. The next morning (April 4) I left for Berhampore, in the Murshidabad District.

Ngày 26 tôi rời Darjeeling, đi ngược lại đường xuống Siliguri, nơi tôi lại chịu cái nóng nơi đồng bằng, càng khủng khiếp hơn vì chênh lệch hơn bốn mươi độ F. Mục tiêu của tôi, Jessore, đạt đến ngày 28. Tôi thuyết giảng như thường lệ, và ngày 29 lập một Chi bộ địa phương. Từ đó, đến Narail, nơi tôi được xếp ở một nhà trạm lữ hành bằng vách phên tre và mái lá—một kiến trúc mỏng manh mà người ta tưởng không thể chịu được sức gió mạnh. Nhiệt kế đứng ở 106° F. Thế nên có thể hình dung trạng thái “thư thái” của tôi. Tôi thuyết giảng trước một đám đông lớn từ bậc thềm một trường học, vì không có phòng nào đủ lớn cho mục đích ấy, và vì chẳng có một người Âu nào quanh đó, tôi mặc y phục vải mỏng của người Hindu rất thoải mái. Nếu người Âu ở vùng Nhiệt đới thực sự có lương tri tốt, họ sẽ bỏ bộ y phục ôm sát, gò bó và ngột ngạt để thay bằng y phục rộng rãi, mỏng nhẹ và mũ đội đầu của dân bản xứ các xứ sở ấy. Nhưng còn mong gì ở những người mang y phục kiểu Piccadilly, kể cả chiếc mũ chóp cao, trong các buổi dạ yến ngoài vườn, và nô lệ phục tùng tập tục xã giao đi thăm viếng đúng vào lúc nóng bức nhất trong ngày, lại cũng là lúc bất tiện nhất? Ở Narail, một Chi bộ T. S. được thành lập với mười bốn hội viên. Bằng kiệu cáng, thuyền địa phương và dâk gharry (xe thư), tôi đi qua Jessore về Calcutta, đi suốt một đêm một ngày với nhiệt kế ở 101°. Tôi đã mong chút nghỉ ngơi khi đến Dinh Khách của Maharajah, nhưng chẳng được, vì bệnh nhân đã tụ lại và nài nỉ ồn ào. Thế là tôi làm việc suốt ngày trong mức có thể, và dĩ nhiên, đến tối thì sốt thần kinh, nhiệt độ cao, và kiệt lực. Sáng hôm sau, tôi “quyết” nghỉ theo nhu cầu. Tuy vậy, tối đến tôi vẫn đi thăm những người bạn thân, gia đình Gordon, và sau đó tổ chức một buổi họp của T. S. Bengal để kết nạp hội viên mới. Sáng hôm sau (ngày 4 tháng Tư) tôi đi Berhampore, thuộc Quận Murshidabad.

Our Jain members of Azimganj met me as last year, and after giving me the usual garlands, bouquets, perfumed sprinklings, and refreshments, conducted me in grand state to a flower-wreathed boat in which I was taken across the river to some showy carriages sent from Berhampore for my use, in charge of my tried and trusty friend Dinanath Ganguli, Government Pleader. The reception at Berhampore was as gaudy as that on my previous visit, and the enthusiasm and welcome, equally hearty. Then were healings of the sick, a lecture in the open air of a large courtyard that was prettily illuminated for the occasion, and a large meeting of the local Branch with seven new members admitted. The third day I left, in charge of the Dewan and Private Secretary of the Nawab Nazim of the Lower Provinces, who had been sent to invite me to pass a night at his Highness’ palace at Murshidabad. My host and I had a long talk together that evening, and I passed a good night despite the luxurious surroundings, which offered so great a contrast to my quarters in the bamboo screen and grass-thatched hut and the other strange houses in which I had so recently been entertained, It was amusing to see the Nawab’s gleeful astonishment when, the next morning, I relieved a huge Pathan, of his military establishment, of a severe attack of sciatica before resuming my journey towards Azimganj.

Các hội viên đạo Jain của chúng ta ở Azimganj đón tôi như năm trước, và sau khi trao vòng hoa, bó hoa, rảy nước thơm, và thết đãi, đã long trọng đưa tôi đến một chiếc thuyền quấn hoa, trên đó tôi được đưa qua sông đến những cỗ xe lộng lẫy do Berhampore gửi tới cho tôi dùng, do người bạn trung thành và đáng tin của tôi, Dinanath Ganguli, Luật sư biện hộ của Chính phủ, trông coi. Lễ tiếp đón ở Berhampore rực rỡ không kém lần trước, và lòng nhiệt thành cùng sự chào đón vẫn nồng hậu như thế. Rồi là chữa bệnh cho người ốm, một bài thuyết giảng ngoài trời tại một sân lớn được trang hoàng đèn đuốc đẹp mắt cho dịp này, và một buổi họp đông đảo của Chi bộ địa phương với bảy hội viên mới được kết nạp. Ngày thứ ba, tôi rời đi, có viên Dewan và Thư ký riêng của Nawab Nazim xứ Hạ tỉnh tháp tùng, những người được cử tới mời tôi nghỉ một đêm tại cung điện của Ngài ở Murshidabad. Tối đó, chủ nhà và tôi trò chuyện lâu, và tôi có một đêm ngon giấc bất chấp cảnh xa hoa, vốn tương phản rất mạnh với chỗ ở bằng phên tre, mái cỏ và những căn nhà lạ thường khác mà tôi vừa mới trú ngụ không lâu trước đó. Buổi sáng hôm sau, thật thú vị khi thấy Nawab vừa mừng vừa kinh ngạc khi tôi chữa khỏi cho một người Pathan lực lưỡng thuộc binh ngũ của ông cơn đau thần kinh tọa dữ dội, trước khi tiếp tục hành trình về Azimganj.

My next station was Bhagalpore, which I reached at 10 p.m., and received a very kind welcome. Of course, there were addresses to reply to and flowers to be crowned with in the usual fashion. Babu Tej Naraen, a most benevolent and public-spirited man, put me up in his sumptuous Guest Palace. I healed sick persons the next day, visited a school, or rather college, founded by the above-named gentleman under the auspices of the T. S., where above 300 Hindu boys were receiving instruction in the national religion, and Muslim pupils in the tenets of Islam. He had spent Rs. 20,000 on the buildings and made a monthly grant of Rs. 150 towards current expense account, as a supplement to the, Rs. 250 per mensem derived from school fees. The able manager was Dr. Ladli Mohan Ghose, one of our old and staunch T. S. members. My cures the next day are recorded as, two Hysteria, one Lumbago, one Hemiplegia, and three Rheumatism. At the Branch meeting eight new members were admitted, among them a Jain gentleman holding a judicial appointment under Government and a man of the greatest merit. The next morning my usual clinic was held, and I see that I made a deaf man, after a half hour’s treatment, hear words spoken in an. ordinary conversational tone at the distance of twenty feet. Four more candidates for membership were admitted, and I then took a goods train for Jamalpur, a great railway centre, where I was lodged in a most shabby little house near the railway station, the best that our poor members could afford, and so quite as good for me as a palace would have been. A Branch meeting followed and candidates were admitted.

Trạm kế tiếp của tôi là Bhagalpore, tôi đến lúc 10 giờ tối, và được đón tiếp rất tử tế. Dĩ nhiên, theo lệ, có những lời chào mừng để hồi đáp và những vòng hoa đội lên đầu. Babu Tej Naraen, một người cực kỳ nhân hậu và có tinh thần công ích, xếp chỗ cho tôi ở Dinh Khách xa hoa của ông. Ngày hôm sau tôi chữa cho người bệnh, thăm một trường—đúng ra là cao đẳng—do chính vị quý ông vừa nêu lập dưới sự bảo trợ của T. S., nơi có hơn 300 thiếu niên Hindu được học tôn giáo dân tộc, và các học sinh Hồi giáo học giáo lý Islam. Ông đã bỏ ra 20.000 Rs. cho các tòa nhà và cấp trợ cấp hàng tháng 150 Rs. vào chi phí thường xuyên, bổ sung cho 250 Rs. mỗi tháng thu từ học phí. Người quản lý giỏi giang là Bác sĩ Ladli Mohan Ghose, một hội viên T. S. lâu năm và kiên định của chúng ta. Những ca chữa của tôi hôm sau được ghi là: hai ca Hysteria, một đau thắt lưng, một liệt nửa người, và ba thấp khớp. Tại buổi họp Chi bộ, tám hội viên mới đã được kết nạp, trong đó có một quý ông Jain giữ chức thẩm phán dưới quyền Chính phủ và là người vô cùng xuất sắc. Sáng hôm sau, phòng khám thường lệ của tôi mở cửa, và tôi thấy mình đã làm cho một người điếc, sau nửa giờ điều trị, nghe được những lời nói ở giọng đàm thoại bình thường từ khoảng cách hai mươi bộ. Bốn ứng viên nữa được kết nạp làm hội viên, và tôi lên một chuyến tàu hàng đi Jamalpur, một trung tâm đường sắt lớn, nơi tôi ở trong một căn nhà nhỏ tồi tàn gần ga, là chỗ tốt nhất mà các hội viên nghèo của chúng tôi có thể thu xếp, và đối với tôi thì cũng tốt như một cung điện. Sau đó là buổi họp Chi bộ và kết nạp hội viên.

Twenty patients were cured by me the next day, but the heat was so excessive that I was more than glad when the hour arrived for clearing my rooms of the crowd. I lectured that evening in a large, airy hall that was crowded in every part. An European, a pig-headed fellow of some Dissenting sect, undertook to heckle me in rough language at the close, but he got what he deserved, perhaps more than he expected. Gaya, Buddha Gaya, and Dumraon came next in order; and at each the same incidents of healings, lectures, Branch Meetings, and admissions to membership occurred. The temperature ranged from 100° to 106° day by day.

Hôm sau tôi chữa khỏi cho hai mươi bệnh nhân, nhưng trời nóng đến mức khi đến giờ giải tán đám đông khỏi phòng tôi thì tôi còn hơn cả mừng. Chiều tối, tôi thuyết giảng ở một hội trường lớn, thoáng mát, chật kín mọi chỗ. Một người Âu, gã đầu óc bướng bỉnh thuộc một giáo phái ly khai nào đó, toan quấy rối tôi bằng lời lẽ thô lỗ lúc kết thúc, nhưng y nhận cái đáng phải nhận, có lẽ còn hơn cả điều y trông đợi. Gaya, Buddha Gaya, và Dumraon lần lượt kế tiếp; và ở mỗi nơi đều có những sự kiện giống nhau: chữa bệnh, thuyết giảng, họp Chi bộ, và kết nạp hội viên. Nhiệt độ giao động từ 100° đến 106° ngày này qua ngày khác.

A most unpleasant and, to me as an European, mortifying thing happened at the Dumraon lecture. A drunken, foul-mouthed indigo-planter came with a bottle of brandy and a basket of soda water bottles, and while I was lecturing kept drinking pegs. Fancy what was the impression made upon the audience of sober, intelligent, and self-respectful Hindus by this misconduct! Can anyone be surprised at the contempt in which they hold the dominant race whose social habits are so different from their own standard of propriety? I am glad to say, however, that no similar degrading exhibition of bad conduct has ever been made at my lectures throughout India, however much may have been seen by the Hindus among the soldiers and sailors of the British Army and Navy.

Một chuyện rất khó chịu và, với tôi là người Âu, thật đáng xấu hổ đã xảy ra ở buổi thuyết giảng tại Dumraon. Một chủ đồn điền chàm say xỉn, miệng lưỡi thô tục, đem theo một chai rượu mạnh và một giỏ chai soda, và trong khi tôi đang thuyết giảng, y cứ nốc từng ly rượu. Hãy thử tưởng tượng ấn tượng nào điều đó gây ra cho cử tọa gồm những người Hindu điềm đạm, thông minh và tự trọng! Có ai ngạc nhiên được chăng trước sự khinh miệt mà họ dành cho chủng tộc thống trị có sinh hoạt xã hội quá khác với chuẩn mực đoan chính của họ? Tôi mừng mà nói rằng, tuy vậy, không có cuộc phô bày hạ cấp tương tự nào từng xảy ra tại các buổi thuyết giảng của tôi khắp Ấn Độ, dẫu người Hindu có thể đã chứng kiến nhiều điều nơi binh lính và thủy thủ của Lục quân và Hải quân Anh.

My blind patient, Badrinath Babu, was travelling with me for daily treatment, and there was constant improvement of his vision. It was at Dumraon that the ophthalmoscope was applied to his eyes, and, as this is a question of fact and science, not of fancy and superstition, I may as well quote a passage or two from the letter of the medical man who made the observation, which he addressed to the Indian Mirror, of Calcutta, from Arrah, 18th April, 1883. The gentleman, Dr. Brojendra Nath Bannerji, L.M.S., is a graduate of the Calcutta Medical College, and was a favorite pupil of the ophthalmic surgeons on the College Staff. It is copied at length in the Supplement to the Theosophist for May, 1883. He says:

Bệnh nhân mù của tôi, Badrinath Babu, đang cùng đi để được điều trị mỗi ngày, và thị lực của ông liên tục cải thiện. Chính ở Dumraon, đèn soi đáy mắt được dùng để khám mắt ông, và vì đây là một vấn đề thực tế và khoa học, không phải chuyện tưởng tượng hay mê tín, tôi có thể trích một vài đoạn từ lá thư của vị bác sĩ đã quan sát, do ông gửi cho tờ Indian Mirror ở Calcutta, từ Arrah, ngày 18 tháng Tư, 1883. Vị này, Bác sĩ Brojendra Nath Bannerji, L.M.S., là cử nhân của Trường Y Calcutta, và từng là học trò ưa thích của các bác sĩ nhãn khoa trong Ban Giảng huấn của Trường. Bài ấy được chép đầy đủ trong Phụ san Theosophist tháng Năm, 1883. Ông viết:

“The word wonderful is scarcely strong enough to characterise the cures made by Colonel Olcott while on his present tour.... It is the simple fact that cases given up by learned European and native physicians as hopeless and incurable have been cured by him as by magic.... There is nothing secret about his methods. On the contrary, he especially invites medical men to watch his processes and learn them, if so disposed, as scientific facts. He neither takes money, desires fame, nor expects even thanks; but does all for the instruction of his Society members and the relief of suffering. The waste of vital energy he makes to cure incurable cases is something tremendous, and how a man of his advanced age can stand it seems marvellous. I have seen him treat, perhaps, thirty or forty patients, but a few examples will suffice to give you an idea of all.”

“Từ ‘kỳ diệu’ hầu như chưa đủ mạnh để mô tả các ca chữa lành do Đại tá Olcott thực hiện trong chuyến đi hiện tại của ông.... Đó là sự thật đơn giản rằng những ca đã bị các bác sĩ Âu và bản xứ uyên bác phán là vô vọng và bất trị đã được ông chữa khỏi như bằng phép màu.... Không có gì bí mật trong phương pháp của ông. Trái lại, ông còn đặc biệt mời các thầy thuốc đến xem các quy trình của ông và học chúng, nếu muốn, như các sự kiện khoa học. Ông không nhận tiền, không cầu danh, thậm chí không mong lời cảm ơn; mà làm tất cả để giáo huấn hội viên của Hội và xoa dịu đau khổ. Sự hao tổn sinh lực mà ông bỏ ra để chữa cho các ca tuyệt vọng là điều ghê gớm, và một người tuổi đã cao như ông mà chịu đựng được thì thật là lạ thường. Tôi đã thấy ông điều trị, có lẽ, ba mươi hay bốn mươi bệnh nhân, nhưng vài ví dụ cũng đủ cho bạn hình dung tất cả.”

The doctor then enumerates cures of a fixed pain in the chest, of four years’ standing, the result of a kick by a horse; two cases of deafness, one of twenty seven years’ standing; chronic dysentery; epilepsy; and then comes to the most instructive case of the blind Badrinath. I think I had better quote rather fully. “Boidya Nath (the Bengali provincial mispronunciation of Badrinath) Banerji, an educated gentleman, a Pleader, Judge’s Court, Bhaugulpore, had been suffering from glaucoma (chronic) and atrophy of both the optic discs for the last seven years.... The pupils did not respond to the stimulus of light. His case was pronounced incurable by two of the best oculists in India, viz., Drs. Cayley and R. G. Saunders. Boidya Nath Babu possesses certificates from Dr. Cayley to this effect. He has had fourteen treatments [from myself] only, and at intervals since 25th February last (about eight weeks). He has perfectly regained sight in his left eye, the right one is also getting better. This morning he could even discern with it the color of flowers growing at a distance of twenty yards. I and my friend, Babu Bepin Behary Gupta, Assistant surgeon, Dumraon, examined his eyes yesterday with an ophthalmoscope. We found that the atrophied discs were becoming healthy, the shrivelled blood-vessels admitting blood to circulate in and nourish the discs.... He can easily walk about without anybody’s help, and the glaucomic tension of the eye-ball is gone.... Our medical books report no such case, and every ophthalmic surgeon among your readers will admit this cure to be unprecedented. I put it to my professional brethren whether the cure of this one case should not induce them to look into this subject of mesmerism which, on purely scientific principles, effects such staggering marvels of healing.... I have mentioned the names of Drs. Cayley and Saunders in connection with this case, only because of my respect for the eminence of their authority and the importance which their unfavourable official certificate gives to the cure which Col. Olcott has made in this instance. I have written mainly for the eyes of my professional colleagues, and none know better than they how safe I am in challenging the medical world to produce the record of a duplicate to this case.”

Vị bác sĩ sau đó liệt kê các ca chữa một cơn đau cố định ở ngực suốt bốn năm do hậu quả bị ngựa đá; hai ca điếc, một ca kéo dài hai mươi bảy năm; lỵ mạn; động kinh; rồi đến ca giàu tính giáo khoa nhất là ông mù Badrinath. Tôi nghĩ tốt hơn nên trích khá đầy đủ. “Boidya Nath (cách phát âm địa phương Bengali của Badrinath) Banerji, một quý ông có học, một Luật sư biện hộ tại Tòa Thẩm phán, Bhaugulpore, bị glôcôm (mạn tính) và teo cả hai đĩa thị trong bảy năm qua.... Đồng tử không đáp ứng với kích thích ánh sáng. Ca bệnh của ông được hai trong số những chuyên gia mắt giỏi nhất Ấn Độ, tức các Bác sĩ Cayley và R. G. Saunders, phán là bất trị. Boidya Nath Babu có giấy xác nhận của Bác sĩ Cayley về việc này. Ông ấy mới chỉ được [chính tôi] điều trị mười bốn lần, lại cách quãng, kể từ ngày 25 tháng Hai vừa rồi (chừng tám tuần). Ông đã hoàn toàn hồi phục thị lực ở mắt trái, còn mắt phải cũng đang khá hơn. Sáng nay, với mắt ấy ông thậm chí có thể nhận ra màu hoa mọc ở khoảng cách hai mươi thước. Hôm qua, tôi và bạn tôi, Babu Bepin Behary Gupta, Trợ lý phẫu thuật, Dumraon, đã khám mắt ông bằng kính soi đáy mắt. Chúng tôi thấy các đĩa thị bị teo đang trở lại khỏe mạnh, các mạch máu tóp teo đã cho phép máu lưu thông và nuôi dưỡng các đĩa.... Ông có thể dễ dàng đi lại không cần ai giúp, và nhãn áp do glôcôm đã biến mất.... Sách y khoa của chúng ta không ghi nhận ca tương tự, và mọi bác sĩ nhãn khoa trong số độc giả của bạn sẽ thừa nhận ca chữa này là chưa từng có. Tôi xin hỏi các đồng nghiệp chuyên môn của tôi rằng liệu chỉ riêng việc chữa khỏi ca này chẳng đủ khiến họ phải xem xét chủ đề thôi miên, vốn trên những nguyên tắc thuần khoa học lại tạo nên những điều kỳ diệu gây kinh ngạc đến thế trong trị liệu.... Tôi nêu tên các Bác sĩ Cayley và Saunders liên quan đến ca này, chỉ vì kính trọng uy tín học thuật của họ và vì tầm quan trọng mà giấy chứng nhận chính thức bất lợi của họ đem lại cho ca chữa mà Đại tá Olcott đã thực hiện trong trường hợp này. Tôi viết chủ yếu cho con mắt của các đồng nghiệp chuyên môn, và không ai hiểu rõ hơn họ rằng tôi hoàn toàn vững tin khi thách thức giới y khoa đưa ra một hồ sơ ca bệnh trùng lặp với ca này.”

Generous enthusiast, to be so blinded by an unspoilt heart as to imagine that his colleagues should be moved to look through even one volume of Braithwaite to satisfy themselves that I could teach them something worth knowing, and something that would relieve human suffering: he should have taken warning from the experience of that young, assistant surgeon at Galle, who also ventured to tell the truth about the cures he had seen me make of “incurable” patients!

Một người nhiệt thành hào phóng, vì trái tim chưa bị hư hoại mà mù quáng tưởng rằng các đồng nghiệp của ông sẽ được thúc đẩy xem qua dù chỉ một tập Braithwaite để tự thỏa lòng rằng tôi có thể dạy họ điều gì đáng biết, và điều gì có thể làm vơi bớt khổ đau của con người: ông đáng lẽ phải rút bài học từ kinh nghiệm của chàng phụ tá phẫu thuật ở Galle, người cũng đã cả gan nói lên sự thật về những ca “bất trị” mà cậu ta thấy tôi chữa khỏi!

In the same supplement to the Theosophist (May 1883) the curious reader will see the medical certificate sent to the Editor of the East, a local journal, by Purna Chundra Sen, Practitioner of Homœopathic Medicine and Surgery, of Dacca, about my curing within twenty minutes two distressing cases of malarial fever, with enlargement of the spleen and functional derangement of the heart, resulting in acute hysteria. Then, in the June Theosophist Supplement, of 1883, one can see Dr. Ladli Mohun Ghose’s report on ten marked cases which I had cured, among them his own, which was a case of blindness in the left eye which Drs. Cayley and Macnamara, of Calcutta, had, after examination, pronounced incurable and probably congenital. “But to-day,” says Dr. Ladli Mohun, “after a few minutes of simple mesmeric treatment, by breathing through a small silver tube, Col. Olcott has restored my sight. He has made me close the right eye, and with my hitherto useless left one read ordinary print. My feelings may be better imagined than described.” Yes, but fancy the feelings of those two great oculists and eye-surgeons who had pronounced the eye incurable!

Trong cùng Phụ san Theosophist (tháng Năm 1883) độc giả hiếu kỳ sẽ thấy giấy chứng nhận y khoa gửi cho Chủ bút tờ East, một tờ báo địa phương, của Purna Chundra Sen, Thầy thuốc Thực hành Đồng căn y học và Phẫu thuật, ở Dacca, về việc tôi chữa trong vòng hai mươi phút hai ca sốt rét ngã nước rất khốn khổ, có kèm phì đại lá lách và rối loạn chức năng tim, dẫn đến trạng thái hysteria cấp. Rồi, trong Phụ san Theosophist tháng Sáu, 1883, có thể xem báo cáo của Bác sĩ Ladli Mohun Ghose về mười ca nổi bật mà tôi đã chữa, trong đó có chính ông, là một ca mù mắt trái mà các Bác sĩ Cayley và Macnamara ở Calcutta, sau khi khám, đã phán là bất trị và có lẽ bẩm sinh. “Nhưng hôm nay,” Bác sĩ Ladli Mohun nói, “sau vài phút trị liệu thôi miên đơn giản, bằng cách thổi hơi qua một ống bạc nhỏ, Đại tá Olcott đã phục hồi thị lực cho tôi. Ông bắt tôi nhắm mắt phải, và với con mắt trái trước nay vô dụng, tôi đã đọc được chữ in thông thường. Cảm xúc của tôi có lẽ tưởng tượng còn hay hơn diễn tả.” Vâng, nhưng hãy tưởng tượng cảm giác của hai vị danh y và phẫu thuật gia mắt lừng danh kia, những người đã phán con mắt ấy bất trị!

I went on to Bankipur from Arrah, where I had been through the usual routine, and was received and treated throughout my visit in the most affectionate manner. My audiences at the College Hall were very large and demonstrative; the second, when I gave a special address to the pupils, excessively so. After speaking a full hour I wanted to stop, but the room rang with shouts of “Go on; please do go on!” so on I went for another hour, and the boys would have kept me at it all night, I suspect, if I had not told them I was hungry and should go straight away home for my dinner. Dear young fellows; what a limitless field of work there is among the schoolboys and college undergraduates of India for those whom they know and love! And this is the field which is incomparably the most important of all, for the boys are not yet spoilt, nor the sweetness of their young natures destroyed by contact with public life. I ask no better epitaph when I am dead and gone than to be called the Friend of Children.

Từ Arrah, tôi đi Bankipur, nơi tôi đã làm đủ thủ tục thường lệ, và trong suốt chuyến thăm, được đón tiếp và đối đãi với lòng trìu mến nhất. Thính chúng của tôi tại Đại sảnh Trường Cao đẳng rất đông và bày tỏ nhiệt liệt; buổi thứ hai, khi tôi nói riêng với học sinh, thì nồng nhiệt quá mức. Nói trọn một giờ, tôi muốn dừng, nhưng căn phòng vang dội tiếng: “Nói nữa đi; xin nói nữa!” thế là tôi nói thêm một giờ nữa, và tôi ngờ rằng lũ học trò có lẽ sẽ giữ tôi nói suốt đêm, nếu tôi không bảo rằng tôi đói và sẽ đi thẳng về nhà ăn tối. Các chàng trai thân mến; biết bao cánh đồng vô tận của công việc ở giữa học sinh và sinh viên Ấn Độ cho những ai họ biết và yêu mến! Và đây là cánh đồng quan trọng nhất vượt xa tất cả, vì các em chưa bị hư hỏng, cũng chưa bị sự tiếp xúc với đời sống công cộng làm hủy hoại vị ngọt bản tính tuổi xanh. Khi tôi chết đi, tôi chẳng mong epitaph nào hơn là được gọi là Bạn của Trẻ em.

CHAPTER XXVIII

VIIIFLORID COMPLIMENTS—NHỮNG LỜI TÁN TỤNG HOA MỸ

IT is very distasteful to me to be obliged to give so much space to the story of my own journeyings and doings; but how can I help it? During all those early years I was, in my official capacity, the focus of all our executive activity: America was slumbering, with its work all in the future; England had one group of friends, who shrank from publicity, and another (the Ionian T. S.) had no means of making it if they had so wished; H. P. B. stopped at home to edit the Theosophist and write for pay to the Russian magazines; and I had to be constantly in the field and on the platform, to compel public attention and to form local Branches. My healing of the sick had been forced upon me without premeditation, under circumstances beyond my control, and as the results aroused such wide and intense interest as to form the chief sensational feature of the Society’s year’s history, the reader must kindly excuse the continued use of the personal pronoun and absolve me from the charge of egotism. I want them to figure to themselves that it was the P. T. S. at work, for the Society alone, and that it was to him, not to my poor personality, that all those kindnesses were shown and complimentary speeches made. As an example of the sort of thing I had to face, with unblushing cheek and an assumption of great interest, I have been counselled by an English friend, in whose good judgment I have confidence, to copy here, for amusement and instruction, a translation of the text of an address in Sanskrit which was read to me at Bhagalpore. Yet, really, even hiding myself behind the figure of my Presidential carapace, I cannot give certain of the most extravagant phrases, because these passages, which would be considered perfectly moderate here, will be read in many distant countries where the blood runs cooler and the imagination is less florid than in India. With these eliminations, indicated by the dots here is the text of the paper drafted and read to me by these learned Pandits of Bengal.

Tôi rất không vui khi buộc phải dành quá nhiều chỗ cho câu chuyện những chuyến đi và việc làm của riêng mình; nhưng tôi biết làm sao? Suốt những năm đầu đó, với tư cách chính thức, tôi là tiêu điểm của mọi hoạt động điều hành: nước Mỹ còn đang ngủ, với công việc nằm cả ở tương lai; nước Anh có một nhóm bạn bè ngại phô trương, còn nhóm kia (Hội T. S. Ionian) thì không có phương tiện để phô trương dù họ có muốn; Bà H. P. B. ở nhà biên tập tờ Theosophist và viết nhuận bút cho các tạp chí Nga; còn tôi thì phải luôn ở ngoài trận tuyến và trên diễn đàn, để buộc công chúng chú ý và lập các Chi bộ địa phương. Việc tôi chữa bệnh đã đến với tôi như bị cưỡng bách, không hề có định liệu trước, trong những hoàn cảnh vượt ngoài sự kiểm soát của tôi, và vì các kết quả khơi dậy mối quan tâm rộng khắp và mãnh liệt đến mức trở thành nét giật gân chủ yếu của lịch sử năm đó của Hội, độc giả vui lòng lượng thứ việc tôi cứ phải dùng đại từ ngôi thứ nhất và miễn cho tôi cáo buộc tự đề cao. Tôi muốn họ tự hình dung rằng đó là P. T. S. đang làm việc, vì một mình Hội mà thôi, và rằng mọi ân cần đó, mọi lời tán dương đó là dành cho ông ấy, chứ không phải cho phàm ngã đáng thương của tôi. Như một ví dụ về loại việc tôi phải đối mặt, với khuôn mặt trơ trẽn và giả bộ rất hứng thú, tôi đã được một người bạn Anh, người có phán đoán tốt mà tôi tin cậy, khuyên nên chép lại đây, cho vui và để rút bài học, một bản dịch bài tôn vinh bằng Sanskrit đã được đọc cho tôi ở Bhagalpore. Thực ra, ngay cả khi nấp sau vỏ giáp Chủ tịch của mình, tôi cũng không thể chép lại vài câu quá lố nhất, bởi lẽ những đoạn này, vốn được xem là hoàn toàn chừng mực ở đây, sẽ được đọc ở nhiều xứ sở xa xôi nơi huyết khí mát hơn và trí tưởng tượng kém phần hoa mỹ hơn so với Ấn Độ. Với những phần cắt bớt, được chỉ dấu bằng dấu ba chấm, dưới đây là nguyên văn văn bản do các Pandit uyên bác xứ Bengal thảo và đọc cho tôi.

“(1) O noble philanthropic Colonel Olcott: here are we, sons of old Aryavarta, come to bid you a hearty welcome—we who have long coveted the blessing of your presence. It is our good fortune you should be herein this city of Bhagalpore.

“(1) Ôi vị Đại tá cao quý yêu người, Olcott: chúng tôi đây, những người con của Aryavarta xưa, đến chào mừng Ngài nồng hậu—chúng tôi đã lâu mong mỏi phúc lành của sự hiện diện của Ngài. Thật là phúc phần của chúng tôi khi Ngài có mặt ở thành Bhagalpore này.

“(2) Blessing and long life to you, noble-minded Founder of the Theosophical Society. Our worst evils fly before your noble presence. Your championship revives the dry-bones of Aryan Philosophy.

“(2) Phúc lành và trường thọ cho Ngài, bậc tâm cao rộng mở, vị Sáng lập Hội Thông Thiên Học. Những tai ương tệ hại nhất của chúng tôi bay biến trước oai nghi của sự hiện diện cao quý của Ngài. Sự cổ xúy của Ngài làm sống lại những bộ xương khô của Triết học Arya.

“(3) O..., in the presence of your lotus-feet the people of this place find their tree of desire in blossom. Our good deeds of a former birth have resulted in the long-looked-for blessing of your presence among us.

“(3) Ôi..., dưới bóng bàn chân sen của Ngài, dân nơi này thấy cây như ý của họ đang trổ bông. Các thiện nghiệp từ tiền sinh của chúng tôi đã mang lại phúc lành từng hằng mong: sự hiện diện của Ngài giữa chúng tôi.

“(4) O..., the gloom that filled our hearts is dispelled by your coming. Passion envy, hate, and the whole lot of karmas have given place to a profound calm in our minds, so fickle by nature. A mysterious charm has to-day wrought a sudden change and plunged us deep into a state of supreme blessedness.

“(4) Ôi..., bóng u ám phủ đầy tâm khảm chúng tôi tan biến khi Ngài đến. Dục vọng, ghen ghét, hận thù, và cả chuỗi nghiệp quả đều đã nhường chỗ cho một tĩnh lặng thâm sâu trong tâm chúng tôi, vốn bềnh bồng tự tánh. Hôm nay một phép nhiệm mầu đã tác động, làm nên một đổi thay thình lình và dìm chúng tôi vào trạng thái cực lạc tối thượng.

“(5) The time-honored distinction of the Vipras vanishes in the air in your presence, which, in spite of your foreign birth, is felt as that of one of our own caste. This is the fruition of the Yoga you have practised...., you can make others having the benefit of your blessed company, like yourself.

“(5) Sự phân biệt cổ truyền giữa các Vipra tan vào không trung trước sự hiện diện của Ngài, vốn, mặc dù Ngài sinh trưởng nơi ngoại bang, vẫn khiến chúng tôi cảm như là người đồng giai cấp. Đây là kết quả của Yoga mà Ngài đã hành trì...., Ngài có thể làm cho những ai được hưởng lợi lạc từ sự bầu bạn của Ngài trở nên như Ngài.

“(6) Self-denial, purity, Vaidic learning, holy ritual, good manners, modesty, meditation, charity, piousness, reverence for the twice-born and the elders—these and like qualities which once formed the life of the Hindu character, were alike nearly gone from our country. They have once more come into being because of your holy contact.

“(6) Khắc kỷ, thanh khiết, học vấn Vệ-đà, nghi lễ thiêng, lễ độ, khiêm nhu, tham thiền, bố thí, mộ đạo, kính trọng bậc sinh hai lần và bậc trưởng thượng—những phẩm tính này, vốn xưa kia làm thành cốt cách người Hindu, gần như đã vắng bóng khỏi xứ sở chúng tôi. Chúng đã lại được hiện hữu nhờ sự tiếp xúc thiêng liêng của Ngài.

“(7) Those evil giants once destroyed by Rama and other heroes of hoary antiquity, that once more ran rampant under the ægis of Western civilisation, have again been committed to the burning flames of a noble philosophy.

“(7) Những ác quỷ khổng lồ từng bị Rama và các anh hùng cổ xưa tiêu diệt, vốn đã lại lộng hành dưới chiếc ô che của văn minh phương Tây, nay lại bị phó mặc cho ngọn lửa thiêu của một triết học cao quý.

“(8) Many who having ceased to believe in the mighty word of the Rishis, had gone out of their path to work themselves harm and all manner of mischief by giving themselves up to foreign vices, have now returned to the flock they had strayed from.

“(8) Nhiều người đã thôi tin vào Thánh ngôn của các Rishi, đã lạc đường và tự rước họa cùng đủ điều lầm lỡ khi buông mình cho các thói xấu ngoại lai, nay đã trở về với đoàn chiên mà họ từng rời bỏ.

“(9) How can we discharge the debt of gratitude we owe you for your exertions in every quarter of the world, to awake in the minds of men a holy reverence for the precious truths that lie stored up in the systems propounded by our Rishis of old, as the fruit of their long lives of profound meditation.

“(9) Làm sao chúng tôi trả nổi món nợ tri ân dành cho Ngài vì những nỗ lực ở khắp nơi trên thế giới nhằm đánh thức trong lòng người niềm tôn kính thiêng liêng đối với những chân lý quý báu chất chứa trong các hệ thống do các Rishi thời xưa đề xướng, như là kết tinh của những kiếp sống dài lâu trong đại tham thiền.

“(10) All honor to thee, O India, for no less a personage than the Colonel (karnala=all ear) himself has listened to the mighty Rishi-word. With his noble example staring us full in the face, we the twice-born of the great Arya race, feel ashamed of our present degeneracy.

“(10) Vinh danh Người, ôi Ấn Độ, vì không phải ai khác mà chính vị Đại tá (karnala = ‘toàn tai’) đã lắng nghe Thánh ngôn của Rishi. Với tấm gương cao quý của Ngài rọi thẳng vào mặt, chúng tôi—những bậc sinh hai lần của chủng tộc Arya vĩ đại—lấy làm hổ thẹn cho sự suy đồi hiện tại của mình.

“(11-12) O you, whose great soul regards the whole world as related, whose path is the path of the Brahmins of old, having taken leave of wealth, riches, and all earthly concerns, having broken asunder all those ties which bind oneself to one’s birthplace, so dear to mankind, you have taken in hand a most difficult task, to do good to us in a far country.

“(11-12) Ôi Ngài, người có đại hồn xem cả thế giới là thân tộc, đạo lộ của Ngài là đạo lộ của các Brahmin thuở xưa, Ngài đã từ bỏ của cải, tài sản, và mọi mối bận tâm trần thế, cắt đứt mọi sợi dây ràng buộc mình với nơi chôn nhau cắt rốn, vốn thân yêu với nhân quần, Ngài đã đảm nhận một công việc cực khó: làm điều thiện cho chúng tôi nơi xứ sở xa lạ.

“(13) Where is your own country in the far-off region of Patala, and where our own country of Aryavarta? Great and immeasurable is the distance between the two. Your coming to us proves the all-powerful attraction of love acting from a previous state of existence.

“(13) Nước của Ngài ở phương Pātāla xa xăm nào, và nước của chúng tôi ở Aryavarta đâu đây? Xa vời và không thể đo lường là khoảng cách giữa hai miền. Việc Ngài đến với chúng tôi chứng tỏ lực hấp dẫn toàn năng của Tình thương tác động từ một trạng thái hiện hữu trước đây.

“(14) From the noble Lady whose motherly care for human weal, and the word of the Mahatmas have made her ‘lay all selfish cares aside’ for the good of us, fallen ones, and from yourself, O Colonel, age stricken, decayed Theosophy, revived, receives its nourishment.

“(14) Từ nơi vị Nữ tôn quý, người mà lòng từ mẫu vì phúc lạc của nhân sinh, và Linh từ của các Chân sư đã khiến Bà ‘gác mọi mối lo ích kỷ sang một bên’ vì hạnh phúc của chúng tôi—những kẻ sa đọa—và từ chính Ngài, ôi Đại tá, Thông Thiên Học già cỗi, suy tàn, đã được phục sinh và tiếp dưỡng.

“(15) Countries once known as foreign have now become more than our own home; the future world supposed to be next after this being, has come to be felt as our own world; the men once regarded of different stock have, through mutual love, become more than brothers. Thus, before the charm of your loving nature, everything loses its alien character.

“(15) Những miền đất từng được xem là ngoại quốc nay đã trở nên thân hơn quê nhà; thế giới tương lai vốn được cho là đến sau cõi này nay đã được cảm như thế giới của chính chúng ta; những người từng bị xem là khác nòi, nhờ tình thương hỗ tương, nay đã trở nên hơn cả huynh đệ. Thế đó, trước sức quyến rũ của bản tính yêu thương nơi Ngài, mọi sự đều mất đi vẻ xa lạ.

“(16) What shall we ask of you, who have all our desires gratified by getting you into our midst?

“(16) Chúng tôi còn biết xin gì nơi Ngài, khi mọi ước muốn đã được thỏa, chỉ bằng việc đón Ngài vào giữa chúng tôi?

“It now remains for us to pray with our whole heart for you a long life of continuous health and uninterrupted success.

“Phần còn lại, là chúng tôi sẽ hết lòng cầu chúc Ngài trường thọ, sức khỏe liên tục, và thành công không gián đoạn.

“9th April, 1883.”

“Ngày 9 tháng Tư, 1883.”

The above is a specimen of a very large number that the Founders received after coming to India. The custom is ancient, and generations must pass before it will be abandoned.

Trên đây là một mẫu trong vô số những văn bản mà các Đấng Sáng lập nhận được sau khi đến Ấn Độ. Tập tục ấy đã có từ xưa, và sẽ còn phải qua nhiều thế hệ nữa mới bị bãi bỏ.

To return to our mesmeric healings: A fact important in its suggestiveness was to be noted in the case of our blind Badrinath. Supersensitive as I found him, he would nevertheless sit and let me treat him for a half-hour on end without ever losing his consciousness, but on one occasion, when the thought occurred to me that he should sleep, his head instantly fell back, his eyelids fluttered, his eyeballs rolled upward, and he was fast asleep; one moment he was wide awake, observant of his surroundings, and ready to talk with me or anyone else in the room, the next he was so oblivious to sounds that bystanders vainly tried to excite his attention by making loud noises, shouting in his ear, etc. This was as fine an example of thought-transference as was ever recorded. The change was so sudden as to startle me for a moment. It was as though his life were hanging on my pleasure, and as if, in case I so willed it hard, he would drop dead from heart-failure. I got a valuable lesson from it, viz., to keep ever alert as to the workings of one’s own mind while the brain of a subject was in close mesmeric subjection to one’s will. To anticipate a theory that may suggest itself to some readers skilled in Hypnotism, I might put the question whether Badrinath Babu was not equally obeying my unuttered thought when consciously undergoing my healing treatment, as when he dropped asleep in obedience to my unspoken command. This may be so, but in that case it only gives us a still more convincing proof of thought-transference, for, whereas my thought now willed him to keep awake to be treated, it then willed him to fall into the mesmeric slumber. And how wonderfully sensitive must the subject be to exhibit these different and opposite phenomena!

Trở lại các ca chữa thôi miên của chúng ta: Một sự kiện quan trọng về mặt gợi ý cần ghi nhận trong trường hợp ông mù Badrinath. Cực kỳ mẫn cảm như tôi đã nhận thấy ở ông, thế mà ông vẫn có thể ngồi cho tôi điều trị suốt nửa giờ liền mà không hề mất ý thức, nhưng có một lần, khi ý nghĩ “ông ấy nên ngủ” vừa lóe lên trong tôi, đầu ông lập tức ngửa ra sau, mí mắt rung rung, nhãn cầu đảo lên, và ông chìm vào giấc ngủ say; một khoảnh khắc trước ông còn hoàn toàn tỉnh táo, quan sát hoàn cảnh chung quanh, và sẵn sàng trò chuyện với tôi hay với bất cứ ai trong phòng, khoảnh khắc sau ông đã vô tri đến nỗi những người đứng quanh cố kích thích sự chú ý của ông bằng tiếng động lớn, la vào tai, v.v... mà cũng uổng công. Đây là một ví dụ tuyệt hảo về truyền tư tưởng chưa từng được ghi lại hay hơn. Sự đổi thay bất ngờ đến mức làm tôi giật mình trong giây lát. Như thể sinh mệnh ông treo trên ý muốn của tôi, và nếu tôi cương quyết muốn thế, ông sẽ ngã xuống chết vì trụy tim. Tôi rút ra từ đó một bài học quý: phải luôn tỉnh giác trước mọi chuyển động của chính tâm mình khi bộ não của một đối tượng đang chịu quy phục thôi miên gần như sát sườn trước ý chí của mình. Để đi trước một giả thuyết có thể nảy đến với vài độc giả am hiểu Thôi miên, tôi có thể nêu câu hỏi: phải chăng Badrinath Babu cũng đã vâng theo tư tưởng bất ngôn của tôi khi ông vẫn tỉnh táo trong khi chịu điều trị, như khi ông chìm vào giấc ngủ vì mệnh lệnh bất ngôn của tôi? Có thể đúng như thế, nhưng nếu vậy thì điều đó chỉ càng cho ta một bằng chứng thuyết phục hơn về truyền tư tưởng, bởi lẽ, trong khi tư tưởng của tôi khi ấy muốn ông tỉnh táo để được điều trị, thì lúc khác lại muốn ông rơi vào giấc ngủ thôi miên. Và đối tượng phải mẫn cảm phi thường đến mức nào để có thể biểu lộ những hiện tượng khác nhau và đối nghịch như vậy!

Yet an entry in my Diary for 21st April raises the question whether the theory of absolute mental union between my patient Badrinath and myself will hold. On the day in question, while under treatment for his eyes, upon which business my thoughts were closely concentrated, he suddenly began describing a shining man whom he saw looking benevolently on him. His clairvoyant sight, had, it seemed, become partially developed, and what he saw was through closed eyelids. From the minute description he then proceeded to give me, I could not fail to recognise the portrait of one of the most revered of our Masters, a fact that was the more delightful in its being so unexpected and so independent of any mental direction on my own part. Granting, even, that Badrinath may have, by association of ideas, connected my presence with that of some such personage, it is to the last degree unlikely that he should have described to me an individual with blue eyes, light flowing hair, light beard, and European features and complexion, for surely I have not found among the Brahmins any legend of such an adept. Yet the description, as above said, fitted accurately a real personage, the Teacher of our Teachers, a Paramaguru; as one such is called in India, and who had given me a small colored sketch of himself in New York, before we left for Bombay. If Badrinath was reading my mind, he must have gone down deep into my subjective memory, for, since coming to India, I had had no occasion to keep the face.of that Blessed One before my mind’s eye.

Thế nhưng một ghi chép trong Nhật ký của tôi ngày 21 tháng Tư lại nêu câu hỏi liệu giả thuyết về sự hợp nhất tâm linh tuyệt đối giữa bệnh nhân Badrinath và tôi có đứng vững không. Đúng ngày ấy, trong khi đang điều trị mắt cho ông—công việc mà tư tưởng tôi đang tập trung sát sao—ông bỗng bắt đầu mô tả một người sáng rỡ mà ông trông thấy đang nhìn ông một cách nhân ái. Thị giác thông nhãn của ông, xem ra, đã được khai mở phần nào, và điều ông thấy là qua mí mắt nhắm. Từ sự mô tả tỉ mỉ ông tiếp tục đưa ra cho tôi, tôi không thể không nhận ra chân dung của một trong những vị Chân sư được tôn kính nhất của chúng ta, một sự kiện lại càng đáng hoan hỉ vì nó đến quá bất ngờ và quá độc lập với bất kỳ sự dẫn hướng tâm thần nào từ phía tôi. Cho dù chấp thuận rằng Badrinath có thể, bởi liên tưởng ý niệm, đã nối sự hiện diện của tôi với sự hiện diện của một bậc như thế, thì cũng cực kỳ khó tin rằng ông lại có thể mô tả cho tôi một vị có đôi mắt xanh, tóc dài sáng màu, râu sáng màu, nét mặt và nước da Âu châu, bởi lẽ tôi chưa hề thấy giữa các Brahmin có truyền thuyết nào về một vị chân sư như thế. Thế mà sự mô tả, như đã nói, lại khớp chính xác với một vị có thật: Bậc Thầy của các Thầy chúng ta, một Paramaguru; như người ta gọi ở Ấn Độ, và Ngài đã cho tôi một bức ký họa màu nhỏ của chính Ngài ở New York, trước khi chúng tôi rời Bombay. Nếu Badrinath đang đọc tâm tôi, hẳn ông đã lặn sâu vào ký ức chủ quan của tôi, vì kể từ khi đến Ấn, tôi chưa từng có dịp giữ diện mạo của Đấng Chân Phúc ấy trong mắt tâm của mình.

The Theosophist Supplements for the year 1883 teem with signed certificates of the cures I was so happy as to make, in most parts of India, during my long journeys of the year. Out of these I shall copy one, not because of its being more striking than many others, but because I happen to have ready to hand the original paper which was drafted and signed at the time by the bystanders. The incident occurred at Bankipur, on 22nd April, 1883. The certificate reads thus:

Các Phụ san Theosophist năm 1883 tràn ngập những giấy chứng nhận có chữ ký về các ca chữa lành mà tôi đã may mắn thực hiện, tại hầu hết các miền của Ấn Độ, trong những chuyến hành trình dài năm ấy. Trong số đó tôi sẽ chép một trường hợp, không phải vì nó nổi bật hơn nhiều cái khác, mà vì tình cờ tôi có ngay trong tay bản gốc do những người có mặt khi ấy thảo và ký tên. Sự kiện xảy ra ở Bankipur, ngày 22 tháng Tư, 1883. Giấy chứng nhận như sau:

“BANKIPUR, 22-4-’83.

“BANKIPUR, 22-4-’83.

“The undersigned certifies that he has just been restored to speech by Col. Olcott, after a mesmeric treatment of not more than five minutes; and also had strength restored to his right arm, which, until then, was so powerless that he could not lift a pound’s weight. He lost the power of articulating words in the month of March 1882.

“Người ký tên dưới đây chứng nhận rằng ông vừa được Đại tá Olcott phục hồi tiếng nói, sau một lần trị liệu thôi miên không quá năm phút; đồng thời sức mạnh cũng được phục hồi ở cánh tay phải, vốn trước đó yếu đến nỗi không nhấc nổi một cân nặng. Ông đã mất khả năng phát âm từ tháng Ba 1882.

“(Sd.) RAM KISHEN LAL

“(Ký tên) RAM KISHEN LAL

“Witnessed by the cousin of the patient.

“Được chứng kiến bởi người anh em họ của bệnh nhân.

“(Sd.) RAMBILAS.

“(Ký tên) RAMBILAS.

“The above wonderful cure was wrought in our presence, as above described.

“Phép chữa kỳ diệu nói trên đã được thực hiện trước mặt chúng tôi, như đã mô tả.

“(Sd.) Soshi Bhooshan Moitra, Amjad Ali, Jogash Chandra Banerji, Govinda Cheran, M.A., B.L., Amir Haidar, Pleader, Mohas Narayan, Gaja Dhar Pershad, Pleader, Judge’s Court, Sajivan Lal, Lal Vihari Bose, Haran Chandra Mittra, M.A., Purna Chandra Mukerji, Bani Nath Banerji, Girija Sakhat Banerji, Hem Chandra Singh, Ananda Charan Mukerji, Ishwar Chandra Ghose, Baldeo Lal, B.A., and Purnendu Narayan Singh, M.A., B.L.”

“(Ký tên) Soshi Bhooshan Moitra, Amjad Ali, Jogash Chandra Banerji, Govinda Cheran, M.A., B.L., Amir Haidar, Luật sư biện hộ, Mohas Narayan, Gaja Dhar Pershad, Luật sư biện hộ, Tòa Thẩm phán, Sajivan Lal, Lal Vihari Bose, Haran Chandra Mittra, M.A., Purna Chandra Mukerji, Bani Nath Banerji, Girija Sakhat Banerji, Hem Chandra Singh, Ananda Charan Mukerji, Ishwar Chandra Ghose, Baldeo Lal, B.A., và Purnendu Narayan Singh, M.A., B.L.”

And it may be said, once and for all, that these healings were not done in private, without witnesses, and with some mystical paraphernalia or foolery, but openly, in the sight of all men; sometimes even in temples before crowds of people; so that my every narrative is capable of verification by living witnesses, to say nothing of the cured patients themselves, of whom many must have been radically benefited, like the Sinhalese jeweller, Don Abraham, about whom I have spoken above.

Và có thể nói, một lần cho xong, rằng những ca chữa này không được thực hiện kín đáo, không người chứng, cũng chẳng kèm theo đồ nghề huyền bí hay những trò hề, mà là công khai, trước mặt mọi người; đôi khi còn ngay trong đền chùa trước đám đông; đến mức mỗi tường thuật của tôi đều có thể được thẩm tra bởi các nhân chứng còn sống, chưa kể chính các bệnh nhân đã được chữa, trong số đó nhiều người hẳn đã được lợi ích tận gốc, như người thợ kim hoàn Tích Lan, Don Abraham, mà tôi đã nói đến ở trên.

I slept that night on a bench at the railway station, to be ready for a very early train and spare my friends the very disagreeable necessity of turning out before dawn to come and see me off. I reached my next point, Durbangha, at 1 p.m., and became the guest of the Maharajah, Lakshmiswar Singh Bahadur, a well-educated Prince, who paid me every possible attention and became a member of the Society. There was a lecture on the second evening, before a large audience, and on the 25th a Branch T.S. was formed with ten members. This Maharajah is enormously rich and has a new palace which contains a Durbar (audience) Hall that is splendid in its dimensions and architectural embellishments. In my innocence of what the future had in store for us, I wrote in my Diary the question: “Shall he be the Asoka of the T.S.?” Events have decidedly answered this in the negative, as will be shown at the proper time. On the present occasion, he could not have been more gracious or charming.

Đêm ấy tôi ngủ trên một chiếc băng ghế ở nhà ga, để kịp chuyến tàu thật sớm và tránh cho bạn bè khỏi cái việc rất khó chịu là phải dậy trước rạng đông để đến tiễn tôi. Tôi đến điểm kế, Durbangha, lúc 1 giờ chiều, và trở thành khách của Maharajah, Lakshmiswar Singh Bahadur, một vị vương học vấn tốt, người đã dành cho tôi mọi sự ân cần có thể và gia nhập Hội. Buổi tối thứ hai có một bài thuyết giảng trước một thính chúng đông đảo, và ngày 25 một Chi bộ T. S. được thành lập với mười hội viên. Vị Maharajah này cực kỳ giàu có và có một cung điện mới chứa một Đại sảnh Durbar (thiết triều) có kích thước và trang trí kiến trúc thật lộng lẫy. Ngây thơ trước những gì tương lai dành cho chúng tôi, tôi đã viết trong Nhật ký câu hỏi: “Liệu Ngài có sẽ là A Dục của T. S. chăng?” Diễn biến đã trả lời dứt khoát theo hướng phủ định, như sẽ cho thấy đúng lúc. Còn trong dịp này, Ngài không thể nào tỏ ra ân cần hay duyên dáng hơn nữa.

Ranegunge was my next stopping place. Here I was the guest of Kumar Dakshiniswar Malliah, owner of twenty-five coal mines, who put me up in his garden-villa, and was extremely kind. On the next day there were psychopathic treatments, and, in the evening, I organized the Searsole T. S. after which there was the usual conversuzione, at which I had to answer innumerable questions, and at 1 a.m. I moved on towards Bankura. I got a snatch of sleep from 7 to 11-30 a.m., and then business began again. That evening there was a lecture; the next day, healings and the mesmerisation of eight large pots of water for distribution among the sick; in the evening a meeting of the Branch T. S, with admission of six new members. The next morning, at 5.30 a.m., I went by horse carriage back to Searsole, slept at the station until 3 a.m., when I took train for Burdwan. I was met by the Dewan Sahib (now Raja) Bun Behari Karpur, Dr. Mohindranath Lal Gupta, and Professor Dutt, of the Maharajah’s College, and lodged at the beautiful residence of the Dewan. My audience at the College that evening was very large and enthusiastic, the Chair being taken by Mr. Beighton, the Sessions Judge. For three or four hours on 3rd May, I healed the sick at the Dewan’s house in presence of the Maharajah and his chief nobles, spent part of the day with him at the palace, and in the evening formed a local Branch, of which the Dewan became one of the members. The Maharajah wanted to join, but I refused him on account of his dissipated habits. Like too many of our best young princes, he was being completely ruined in health and morals by the debauched courtiers who surrounded him. It is a pretty good proof of his innate goodness of heart that my decision seemed to increase rather than abate his respect for me, and I had more than one evidence of his goodwill before his untimely death, which occurred some little time afterwards.

Ranegunge là điểm dừng kế tiếp. Ở đây tôi là khách của Kumar Dakshiniswar Malliah, chủ hai mươi lăm mỏ than, người xếp cho tôi ở biệt thự vườn của ông, và vô cùng tử tế. Ngày hôm sau có các trị liệu tâm-sinh lý, và buổi tối, tôi tổ chức Hội T. S. Searsole, sau đó là buổi đàm luận thường lệ, nơi tôi phải trả lời vô số câu hỏi, và lúc 1 giờ sáng, tôi tiếp tục đi về Bankura. Tôi chợp mắt được một chút từ 7 giờ đến 11 giờ 30, rồi công việc lại bắt đầu. Tối hôm đó có một bài thuyết giảng; hôm sau, chữa bệnh và thôi miên tám chum nước lớn để phân phát cho người ốm; tối đến là buổi họp của Chi bộ T. S., với sáu hội viên mới được kết nạp. Sáng hôm sau, lúc 5 giờ 30, tôi đi xe ngựa trở lại Searsole, ngủ ở ga đến 3 giờ sáng, khi tôi lên tàu đi Burdwan. Tôi được Dewan Sahib (nay là Raja) Bun Behari Karpur, Bác sĩ Mohindranath Lal Gupta, và Giáo sư Dutt của Trường Cao đẳng của Maharajah đón, và ở tại tư dinh đẹp đẽ của vị Dewan. Thính chúng tại Trường Cao đẳng tối hôm đó rất đông và nhiệt liệt, Chủ tọa là ông Beighton, Thẩm phán phiên tòa. Trong ba hay bốn giờ ngày 3 tháng Năm, tôi chữa bệnh tại nhà vị Dewan trước sự hiện diện của Maharajah và các quý tộc hàng đầu của ông, dành một phần ngày ở cung điện với Ngài, và tối đến lập một Chi bộ địa phương, trong đó Dewan trở thành một hội viên. Vị Maharajah muốn gia nhập, nhưng tôi từ chối vì thói ăn chơi phóng đãng của Ngài. Như quá nhiều vị vương trẻ ưu tú của chúng ta, Ngài đang bị đám cận thần truỵ lạc vây quanh làm bại hoại hoàn toàn về sức khỏe và đạo đức. Đó là một bằng chứng khá vững về thiện tâm bẩm sinh của Ngài khi quyết định của tôi dường như làm tăng chứ không giảm lòng kính trọng của Ngài đối với tôi, và tôi đã có hơn một dấu hiệu về thiện ý của Ngài trước cái chết yểu, xảy ra không lâu sau đó.

At Chakdighi, my next station, I was lodged in the most tastefully and comfortably furnished garden-house I had ever seen up to that time. The Zemin-dar’s name was Lalit Mohan Sinha Râya, and I thought him a very estimable young man. A Branch T.S. was organized that evening, and sundry mesmeric cures wrought the next morning. The next day saw me on the wing again, the station in view being Chinsurah, where a new Branch was also organized. My healings were made as usual, and a lecture given at the Barracks before a huge audience, whose welcome was expressed in the most demonstrative manner. Then on to Calcutta again, which I reached at 9.30 a.m., on 8th May, tired enough; as may be imagined when one reflects that this was in the hottest season of the year, when the wind blew like the breath of a furnace and swirls of dust choked one, if one ventured out of doors before the going down of the sun.

Tại Chakdighi, trạm kế tiếp của tôi, tôi được sắp xếp ở trong một ngôi nhà vườn bày trí trang nhã và tiện nghi nhất mà cho đến lúc đó tôi từng thấy. Tên của vị Zemin-dar là Lalit Mohan Sinha Râya, và tôi thấy ông là một người trẻ rất đáng kính. Một Chi bộ của T.S. được tổ chức tối hôm ấy, và sáng hôm sau có làm vài ca chữa trị bằng thôi miên. Ngày kế tiếp tôi lại lên đường, đích đến là Chinsurah, nơi một Chi bộ mới cũng được tổ chức. Tôi tiến hành chữa trị như thường lệ, và có một bài diễn thuyết tại Doanh trại trước một thính chúng rất đông, sự đón chào của họ được bày tỏ theo cách thức biểu lộ nhất. Rồi lại tới Calcutta, nơi tôi đến lúc 9 giờ 30 sáng, ngày 8 tháng Năm, mệt nhoài; điều này dễ hình dung nếu nhớ rằng đó là giữa mùa nóng nhất trong năm, khi gió thổi như hơi thở lò lửa và từng cuộn bụi làm nghẹt thở bất kỳ ai nếu dám bước ra ngoài trước khi mặt trời lặn.

HAPTER XXIX

HEALING OF THE DUMB MAN IN THE NELLIAPP A TMPLE

CHỮA LÀNH NGƯỜI CÂM TRONG ĐỀN NELLIAPPA

WHAT his Sunday is to the “slave of toil,” my rare half-days of rest were to me on this 7,000-mile circuit around India in the year 1883. I had one such, I see, on 9th May, and up to the 14th I was, at least, settled in Calcutta, but then the ceaseless round had to be taken up again, and I-left by steamboat for Midnapore, which transit by the breaking down of a second boat on the Ooloobaria-Midnapore Canal lengthened out to a two-days’ journey. There was a lecture on the evening of my arrival, healings of the sick on the 17th, and the formation of a local Branch with ten members, after which I returned to Calcutta. A lecture was given at Bhowanipore on the 20th, and the next day, at the Calcutta town hall, we celebrated, in presence of a huge audience, the first anniversary of the Bengal T. S. Babu Mohini Mohun Chatterji, Secretary of the Branch, read an interesting report, in which he said that the formation of the Branch was due to my first lecture in the same hall in the preceding year; the President, Babu Norendranath Sen, gave a lengthy and eloquent discourse; Babu Dijendranath Tagore the highly respected and cultured Acharya of the Adi Brahmo Samaj, spoke on the subject of Brotherhood; Dr. Leopold Salzar, on Protoplasm and Dr. Jaeger’s discoveries in odorant matter; and I wound up the proceedings with a historical retrospect of the doings of Dr. James Esdaile in Mesmeric Anæsthesia, as applied to surgical operations, at Calcutta, in the years 1846, ‘47, ‘48, ‘49, and ‘50. I see by the report (Theosophist, Supplement, July, 1883) that I read, among other things bearing upon the subject of Mesmerism, the striking passage from the Sariraka Sutra, where it is said: “By the aura (ushma) of the inner man (sukshma sarira) is the aura (ushma) of the outer man (sthula sarira, or body) perceived.” [17] The statement of Mr. Leadbeater (vide Theosophist, December, 1895, art. “The Aura”) that the aura extends, in the average man, to a distance of about eighteen inches or two feet from the body in all directions, is borne out by the warning in the ancient Atharva Veda, that if a healthy person comes within two cubits, i.e., about three feet, of the body of one diseased, the malady is likely to be communicated to him; the patient’s aura transmitting its germs midway between the two, at the point where the spheres blend and the microbes are transferred from the emittent to the recipient aura. According to Susruta, “leprosy, fever, dropsy, eye-diseases, and some other abnormal conditions,” are communicated from a patient, to a healthy person by conversation (intercourse), contact, breath, sitting together at meals or on the same couch, use of the same clothes, garlands of flowers, and scented paste (anulepan). Apropos of the now raging bubonic plague of Bombay, Atharva Veda says that “Even if a son born of one’s own loins be attacked by... carbuncle... he is never to be touched”: a mandate which is not very closely observed in our time of brave, self-forgetful nursing of the sick. But to return from this digression. The above-mentioned occasion was my last public appearance of that year in that portion of India, as on the following day I sailed for Madras. It having been brought to my notice that some of the facts given in this narrative with respect to mesmerism and mesmeric healing have been rather widely commented upon by the Press, it may perhaps interest the public to read a summary of the table of statistics which was published by my friend, Nivaran Chandra Mukerji, who accompanied me throughout the tour, and kindly acted as my private secretary: his report will be found in Theosophist, Supplement, June, 1883. He says the table represents in one column “the number of patients (they were of both sexes, all ages, conditions of social life, and sects) upon whom he (I) actually laid his hands, and in another, that of the gifts of vitalised or mesmerised water made by him (me). I have reduced vessels of all capacities—ghurras, lotahs, jars, bottles, etc., to an uniform standard of the pint bottle”. In the first column one enumerated the twenty stations where I healed the sick, an it is reported that I dealt with 557 patients; in the other column it is shown that I gave 2,255 pint bottles of mesmerised water, and Nivaran Babu, assuming that each bottle represented but a single patient—a too moderate estimate, I fancy—makes a grand total of 2,812 sick persons treated by me in the circuit of fifty-seven days. Additional facts, of interest to my colleagues at least, are that within the time I travelled “2,000 miles by rail, steamboat, budgerow (canal boat), horse-gharry, elephant, horseback, and palanquin, the travel being sometimes by night, sometimes by day”. I gave, it seems, “twenty-seven lectures, organized twelve new Branches, visited thirteen old ones, and held daily discussions on philosophy and science with hundreds of the ablest men in Bengal and Behar.” Nirvaran even describes my diet with liberal praise, and tells how many potatoes, ounces of green vegetables, macaroni, vermicelli, slices of bread and butter, and cups of tea and coffee I took, and how well I thrived on non-flesh diet. That the vegetarians may not claim me as an indiscriminating convert, I must say that if Nivaran had gone the tour of 1887 with me, he would have seen me so weakened by this diet that I was peremptorily ordered to resume my usual food, and apparently saved my life by not being so fanatical as poor Powell, who lost his life through asceticism. I think it will be found true that any special diet may be a man’s “meat” at one time, and his “poison” at another. I have no sympathy with undiscriminating fanatics. At this very time of preparing this volume for the press, I am practising vegetarianism again as a preventive of hereditary gout, and find it most efficacious. To compare pigmies with giants, it seems that my case was, in this, like that of the Buddha who fainted at the end of a long fast and saved his life by eating the rich food brought him by the sweet-souled Sujata, daughter of a nobleman. I recollect that when Mrs. C. Leigh-Hunt Wallace, the authoress of standard work on Mesmerism, saw the statistics of y year’s total score of treatments, she wrote me that there was not a mesmeriser in Europe who would dream of touching with mesmeric intent half that number of patients. She meant, of course, professional healers like herself, not prodigies like Schlatter, Newton the Curé d’Ars, Zouave Jacob, and others who have professed to have been working under an overshadowing spiritual control. So far as that is concerned) I frankly confess my belief that I could not have gone through such a great and sustained outpouring of my vitality, unless I had been helped by our Teachers, although I was never so told by them. What I am forced to realize is that I have not had so phenomenal a healing power since I got my order to stop the work, i.e., towards the close of 1883; and I am convinced that, though I should try ever so hard, I should fail to cure those desperate cases which I would then dispose of with the greatest ease within a half-hour or even less.

Cũng như ngày Chủ nhật đối với “người nô lệ của lao dịch”, những nửa ngày hiếm hoi được nghỉ ngơi đối với tôi trong chuyến hành trình vòng quanh Ấn Độ dài 7.000 dặm vào năm 1883 là như thế. Tôi thấy mình có được một ngày như thế, vào 9 tháng Năm, và cho đến ngày 14, ít nhất tôi cũng ổn định ở Calcutta, nhưng rồi vòng quay không ngừng lại phải tiếp tục, và tôi rời đi bằng tàu hơi nước đến Midnapore; chuyến đi này, do một chiếc tàu thứ hai hỏng trên kênh Ooloobaria-Midnapore, kéo dài thành hành trình hai ngày. Tối hôm tôi đến nơi có một bài diễn thuyết, ngày 17 chữa bệnh cho người đau ốm, và lập một Chi bộ địa phương gồm mười thành viên, sau đó tôi quay lại Calcutta. Ngày 20 tổ chức một bài thuyết giảng tại Bhowanipore, và hôm sau, ở tòa thị chính Calcutta, chúng tôi kỷ niệm, trước một thính chúng rất đông, lễ kỷ niệm năm đầu tiên của Hội T.S. Bengal. Babu Mohini Mohun Chatterji, Thư ký của Chi bộ, đọc một bản báo cáo thú vị, trong đó nói rằng sự thành lập Chi bộ là nhờ bài diễn thuyết đầu tiên của tôi tại cùng hội trường này vào năm trước; Chủ tịch, Babu Norendranath Sen, đọc một bài diễn từ dài và hùng biện; Babu Dijendranath Tagore, vị Acharya rất được kính trọng và có học của Adi Brahmo Samaj, nói về đề tài Tình huynh đệ; Bác sĩ Leopold Salzar nói về Chất nguyên sinh và các phát hiện của Bác sĩ Jaeger liên quan đến vật chất mùi hương; và tôi kết thúc buổi lễ bằng một hồi tưởng lịch sử về những việc làm của Bác sĩ James Esdaile trong lĩnh vực Gây tê Thôi miên, khi áp dụng vào các ca phẫu thuật, tại Calcutta, vào các năm 1846, ‘47, ‘48, ‘49, và ‘50. Theo bản báo cáo (Theosophist, Phụ bản, Tháng Bảy, 1883) tôi có đọc, cùng các điều khác liên quan đến đề tài Thôi miên, đoạn văn nổi bật trong Sariraka Sutra, trong đó nói: “Bằng hào quang (ushma) của con người nội tại (sukshma sarira) mà hào quang (ushma) của con người bên ngoài (sthula sarira, tức thân xác) được tri nhận.” Lời phát biểu của Ông Leadbeater (xem Theosophist, Tháng Mười Hai, 1895, bài “Hào quang”) rằng hào quang ở người trung bình lan rộng cách thân thể khoảng mười tám inch đến hai feet theo mọi hướng, được củng cố bởi lời cảnh báo trong Atharva Veda cổ xưa, rằng nếu người khỏe mạnh đến trong vòng hai cubit, tức chừng ba feet, tính từ thân thể người bệnh, thì chứng bệnh nhiều khả năng sẽ truyền sang anh ta; hào quang của bệnh nhân truyền các mầm bệnh ở điểm giữa hai người, tại nơi mà các vùng ảnh hưởng hòa trộn và vi trùng được chuyển từ hào quang phát ra sang hào quang tiếp nhận. Theo Susruta, “phong, nhiệt, thủy thũng, các bệnh về mắt, và một số tình trạng bất thường khác”, được truyền từ bệnh nhân sang người khỏe mạnh qua chuyện trò (giao tiếp), tiếp xúc, hơi thở, cùng ngồi ăn hoặc ngồi trên cùng một giường, dùng chung quần áo, vòng hoa, và bột thơm (anulepan). Nhân nói về dịch hạch hạch đang hoành hành ở Bombay, Atharva Veda dạy rằng “Ngay cả nếu một người con do chính dòng giống mình sinh ra mắc phải... mụn nhọt... cũng không bao giờ được chạm vào nó”: một mệnh lệnh không mấy được tuân giữ trong thời đại của chúng ta, khi việc chăm sóc người bệnh đầy dũng khí và quên mình. Nhưng xin quay lại sau lời rẽ ngang này. Dịp vừa nói trên là lần xuất hiện công khai cuối cùng của tôi trong năm ấy tại vùng ấy của Ấn Độ, vì hôm sau tôi xuống tàu đi Madras. Do dư luận báo chí đã nhắc đến khá rộng rãi một số sự kiện nêu trong bản tường thuật này liên quan đến thôi miên và trị liệu bằng thôi miên, công chúng có lẽ sẽ thấy hứng thú khi đọc bản tóm lược bảng thống kê do bạn tôi, Nivaran Chandra Mukerji, người đã tháp tùng tôi suốt chuyến đi và tốt bụng làm thư ký riêng cho tôi, công bố: báo cáo của ông sẽ thấy trong Theosophist, Phụ bản, Tháng Sáu, 1883. Ông nói bảng ấy biểu thị trên một cột “số bệnh nhân (họ gồm cả hai giới, mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh xã hội, và mọi giáo phái) mà ông ấy (tôi) đã thật sự đặt tay lên, và ở cột khác là số lần cho nước được tiếp sinh lực hoặc được thôi miên bởi ông ấy (tôi). Tôi đã quy đổi các bình chứa mọi dung tích—ghurras, lotahs, vò, chai, v.v.—về chuẩn chung là chai pinh”. Ở cột thứ nhất liệt kê hai mươi trạm nơi tôi chữa bệnh, và tường thuật rằng tôi đã xử lý 557 bệnh nhân; ở cột kia cho thấy tôi đã cho 2.255 chai pinh nước được thôi miên, và Nivaran Babu, giả định rằng mỗi chai chỉ đại diện cho một bệnh nhân—một ước tính quá dè dặt, theo tôi—đưa ra tổng số 2.812 người bệnh do tôi chữa trị trong vòng năm mươi bảy ngày. Những dữ kiện bổ sung, ít ra cũng đáng quan tâm với các đồng sự của tôi, là trong thời gian ấy tôi đã đi “2.000 dặm bằng tàu hỏa, tàu hơi nước, budgerow (thuyền kênh), xe ngựa, voi, cưỡi ngựa, và cáng, có khi đi đêm, có khi đi ngày”. Có vẻ như tôi đã “thuyết giảng hai mươi bảy buổi, tổ chức mười hai Chi bộ mới, thăm mười ba Chi bộ cũ, và mỗi ngày đều thảo luận triết học và khoa học với hàng trăm người xuất sắc nhất ở Bengal và Behar.” Nivaran thậm chí mô tả chế độ ăn của tôi với những lời khen rộng rãi, và ghi lại tôi dùng bao nhiêu củ khoai tây, bao nhiêu ounce rau xanh, mì ống, bún sợi, lát bánh mì và bơ, và bao nhiêu tách trà, cà phê, cũng như tôi khỏe ra sao với chế độ ăn không thịt. Để những người ăn chay khỏi xem tôi là người cải đạo thiếu phân biện, tôi phải nói rằng nếu Nivaran đồng hành cùng tôi trong chuyến đi năm 1887, ông đã thấy tôi suy kiệt vì chế độ này đến mức bị buộc phải trở lại thức ăn thường ngày, và có lẽ tôi đã giữ được mạng nhờ không cuồng tín như tội nghiệp Powell, người đã mất mạng vì khổ hạnh. Tôi nghĩ sẽ thấy đúng rằng một chế độ ăn đặc biệt có thể là “thức ăn” cho một người vào lúc này, và là “thuốc độc” vào lúc khác. Tôi không có mảy may cảm tình với những kẻ cuồng tín thiếu phân biện. Ngay khi đang chuẩn bị bản thảo này cho nhà in, tôi lại thực hành ăn chay như một biện pháp phòng bệnh gout di truyền, và thấy nó rất hiệu nghiệm. Sánh kẻ tí hon với người khổng lồ, có vẻ trong việc này trường hợp của tôi giống trường hợp của Đức Phật, Ngài đã ngất sau một thời gian nhịn ăn dài và cứu mạng mình bằng cách dùng món ăn bổ dưỡng do cô Sujata tâm hồn hiền hòa, con gái một vị quý tộc, mang đến. Tôi nhớ rằng khi Bà C. Leigh-Hunt Wallace, nữ tác giả của bộ sách chuẩn về Thôi miên, thấy thống kê tổng số ca chữa trị trong năm của tôi, Bà đã viết cho tôi rằng không có một nhà thôi miên nào ở châu Âu dám mơ chạm tay với chủ đích thôi miên lên đến một nửa con số bệnh nhân như thế. Dĩ nhiên, Bà hàm ý là các nhà trị liệu chuyên nghiệp như Bà, chứ không phải những người dị thường như Schlatter, Newton, cha xứ Ars, Zouave Jacob, và những người khác tuyên bố mình hoạt động dưới một sự kiểm soát tinh thần phủ bóng. Về phần mình, tôi thành thật thú nhận niềm tin rằng tôi đã không thể thực hiện được một lần tuôn đổ sức sống lớn lao và bền bỉ đến vậy, nếu không được các Chân sư của chúng ta trợ giúp, mặc dù Tôi chưa bao giờ được Các Ngài nói như thế. Điều tôi buộc phải nhận ra là từ khi tôi nhận lệnh dừng công việc, tức vào cuối năm 1883, tôi đã không còn có một năng lực chữa lành phi thường như thế; và tôi tin chắc rằng, dù có cố gắng hết sức, tôi cũng sẽ thất bại trong việc chữa khỏi những ca tuyệt vọng mà khi ấy tôi có thể xử lý với sự dễ dàng lớn nhất chỉ trong nửa giờ hoặc còn ít hơn.

I had a hearty welcome home from H. P. B. and the rest, and a series of phenomena were done, chiefly for my benefit, among which I shall only mention the one noted in my entry for 6th June. I say that “not being able to decide whether to accept the invitation to Colombo or that to Allahabad, I placed A. C. B.’s letter in the shrine, locked the door, instantly reopened it, and got the written order of.’. through... (a second Adept) in French. It was done while I stood there, and not a half-minute had elapsed”. So far as it goes, that pretty effectually disposes of the pretence that these communications were fabricated in advance and passed through a sliding panel at the back of the shrine. A whole month of homely desk work at Adyar was a delightful episode, varied with healings of patients, reception of visitors, and metaphysical discussions with H. P. B. I restored speech to one patient, cured paralytics, deafness, etc. One case is interesting as showing a progressive cure of loss of hearing. A young man who could not hear the ticking of a clock held against his ear, was at the first treatment made to hear it at the distance of 4 feet 6 inches; at the second, at 6 feet; at the third, at 15 feet; at the second he could hear conversation at the distance of 13 feet. On 24th June a boy who had long been paralysed in his legs was, in one treatment, made to walk about the room.

Tôi được Bà H. P. B. và mọi người niềm nở chào đón khi trở về, và một loạt hiện tượng được làm, chủ yếu để tôi chứng kiến, trong đó tôi chỉ nhắc đến điều ghi trong nhật ký ngày 6 tháng Sáu. Tôi viết rằng “vì không quyết định được có nên nhận lời mời đến Colombo hay đến Allahabad, tôi đã đặt thư của A. C. B. vào điện thờ, khóa cửa lại, liền lập tức mở ra, và nhận được lệnh viết tay của.’. qua... (một Chân sư thứ hai) bằng tiếng Pháp. Việc ấy được làm khi tôi đứng đó, và chưa đến nửa phút trôi qua”. Chừng ấy thôi cũng đủ bác bỏ khá hiệu quả lời ngụy biện rằng những thông điệp này được soạn sẵn từ trước và đút qua một tấm vách trượt phía sau điện thờ. Một tháng làm việc cần mẫn tại bàn giấy ở Adyar là một khoảng thư thái thú vị, đan xen với việc chữa bệnh cho bệnh nhân, tiếp khách, và thảo luận siêu hình với Bà H. P. B. Tôi phục hồi tiếng nói cho một bệnh nhân, chữa người bại liệt, người điếc, v.v. Có một ca thú vị vì cho thấy quá trình hồi phục thính lực từng bước. Một thanh niên không nghe được tiếng tích tắc của đồng hồ áp vào tai, ngay lần điều trị đầu đã nghe được ở khoảng cách 4 feet 6 inch; lần thứ hai ở 6 feet; lần thứ ba ở 15 feet; lần thứ hai anh có thể nghe nói chuyện ở khoảng cách 13 feet. Ngày 24 tháng Sáu, một cậu bé bị liệt chân trong thời gian dài, chỉ sau một lần chữa đã đi lại quanh phòng.

On 27th June I sailed for Colombo, arrived on the third day, and plunged into the business cut out for me, viz., the grievances of the Buddhists in the matter of a riotous attack made on them by the Catholics, without their getting redress from Government. The next fortnight or so was taken up with this affair, and with personal interviews with the Governor of Ceylon, the Colonial Secretary, Inspector General of Police, Government Agent for the Western Province, the leading Buddhists, the chief priests, and counsel. I drafted petitions, remonstrances, instructions to counsel, appeals to the Home Government and the House of Commons, had many consultations and discussions, presided at Branch meetings, and, generally, was kept busy. All having been got into trim, I crossed over to Tuticorin on 14-15th July, and began a long tour through Southern India, which was full of variety, excitement, and picturesque episodes.

Ngày 27 tháng Sáu tôi lên tàu đi Colombo, đến nơi vào ngày thứ ba, và lao vào công việc đã định, tức là giải quyết những bất bình của người Phật tử trong vụ bị người Công giáo tấn công bừa bãi mà không được Chính phủ xét xử thỏa đáng. Chừng nửa tháng sau đó tôi bận bịu với việc này, và có những cuộc gặp riêng với Thống đốc Tích Lan, Tổng thư ký Thuộc địa, Tổng Thanh tra Cảnh sát, Đại diện Chính phủ tỉnh miền Tây, các Phật tử lãnh đạo, các vị Tăng trưởng, và các luật sư. Tôi thảo đơn thỉnh nguyện, thư phản kháng, chỉ thị cho luật sư, kháng nghị lên Chính phủ Mẫu quốc và Hạ nghị viện, tham nhiều cuộc họp bàn và thảo luận, chủ tọa họp Chi bộ, và nhìn chung, luôn tay luôn chân. Khi mọi việc đã đâu vào đấy, tôi sang Tuticorin vào ngày 14–15 tháng Bảy, và bắt đầu một chuyến du hành dài qua miền Nam Ấn, đầy những biến cố đa dạng, sôi động, và nên thơ.

Let us begin with my arrival on 17th July, at Tininevelly, the station where our Colombo Buddhist committee and I planted the cocoanut amid the tumultuous rejoicings described in a former chapter. We reached the station at 6 p.m., and found a huge crowd waiting. Five thick ropes of flowers, rather than garlands, were put about my neck and mounted to the top of my head; my hands, arms, and pockets were filled with ripe limes—the fruit of welcome and respect; I was put into a canopied sedan-chair; the chief-local and governmental officials walked beside, in front and behind me along the dusty road; a young Brahmin threw loose flowers on and about me and tossed them into the air, strewing the road with an odorous carpet; the temple Brahmins came and handed me the flower-wreathed silver lotah and the tray on which lay a broken cocoanut, some red powder, limes, and camphor. The procession moved on with waving flags and banners; two bands of musicians—one from the temple—clanged their wild music, and so we proceeded until the flower-and-plant-festooned bungalow assigned to me was reached, and I was allowed to get in from the heat of the road and enjoy its coolness. A welcome was here spoken by an ex-judge of Travancore, a learned and estimable gentleman, to which I responded, of course. Does it not seem as if all this gave the lie to the inimical Missionary tale of 1881, that the orthodox Brahmins had felt so outraged with the pollution of the temple by our cocoanut-planting party that they had uprooted the nut and purified the premises to get rid of our unholy taint! But why waste time or “spoil one’s blood,” as the Russians say, in refuting the numberless calumnies that have ever been circulated against us, when they refute themselves all in good time?

Hãy bắt đầu với lúc tôi đến Tinnevelly ngày 17 tháng Bảy, trạm nơi ủy ban Phật giáo Colombo và tôi đã trồng cây dừa giữa những tiếng hoan hô náo nhiệt như đã tả ở một chương trước. Chúng tôi đến ga lúc 6 giờ chiều, và thấy một đám đông khổng lồ đang chờ. Năm dây hoa dày, đúng hơn là những dây xâu nặng nề, được vòng qua cổ tôi cao đến tận đỉnh đầu; tay, cánh tay, và túi áo tôi được lấp đầy những quả chanh chín—loại quả để tỏ lòng chào đón và kính trọng; tôi được đặt vào một kiệu có mái; các quan chức địa phương và chính quyền đi bộ bên cạnh, phía trước và phía sau tôi dọc con đường đầy bụi; một thanh niên Bà la môn rắc hoa lẻ lên người tôi và quanh tôi, tung hoa lên trời, trải trên đường một tấm thảm hương; các Bà la môn của đền tới trao cho tôi chiếc lotah bạc quấn hoa và cái khay trên đặt một quả dừa bổ, ít bột đỏ, chanh, và long não. Đoàn rước tiến bước với cờ phướn phất phơ; hai đội nhạc—một của đền—tấu khúc nhạc rộn ràng, và cứ thế chúng tôi đi cho đến khi đến ngôi nhà nghỉ trang trí bằng hoa và cây dành cho tôi, và tôi được phép vào tránh cái nóng ngoài đường để tận hưởng sự mát mẻ. Tại đây một vị cựu thẩm phán Travancore, một người học rộng và đáng kính, đọc lời chào mừng, và dĩ nhiên tôi đáp từ. Chẳng phải tất cả điều này đã phủ nhận câu chuyện thù nghịch của giới Truyền giáo năm 1881 rằng các Bà la môn chính thống cảm thấy bị ô uế bởi đoàn trồng dừa của chúng tôi làm vẩn đục đền thờ đến nỗi họ đã nhổ bỏ cây dừa và tẩy uế nơi chốn để trừ khử “vết nhơ” bất khiết của chúng tôi đó sao! Nhưng cớ gì phí thời gian hay “làm hỏng máu mình”, như người Nga nói, để bác từng lời vu khống vô số đã luôn được tung ra chống lại chúng tôi, khi mà chúng tự bác bỏ theo thời gian?

The next day I lectured on the lawn outside my bungalow to an audience which included all the leading men of the place. At the close I made an earnest appeal for the the supply of a good Theosophical library for Hindu boys, and got a very handsome sum subscribed on the spot. This, if my memory serves me, was the first of a long series of successes in the same direction, and down to the present moment I have continued to press the claims of Indian youth upon their elders for the means of proper religious culture. I hope that, when I leave the scene, somebody among my colleagues will thoroughly cultivate this best, most fertile of all mental and moral fields in India. There is no other to be compared with it.

Ngày hôm sau tôi diễn thuyết trên bãi cỏ trước nhà nghỉ, trước một thính chúng gồm tất cả những vị chức sắc của nơi này. Sau phần kết, tôi có một lời kêu gọi thiết tha về việc cung cấp một thư viện Thông Thiên Học tốt cho các cậu bé theo đạo Hindu, và đã quyên góp được ngay tại chỗ một khoản rất hậu. Đây, nếu trí nhớ tôi còn tốt, là lần đầu trong một chuỗi dài những thành công theo hướng ấy, và cho đến giờ phút này tôi vẫn tiếp tục kêu gọi các bậc trưởng thượng Ấn Độ chu cấp cho thanh thiếu niên phương tiện để được giáo dục tôn giáo thích đáng. Tôi mong rằng khi tôi rời sân khấu cuộc đời, ai đó trong các đồng sự của tôi sẽ hoàn toàn dốc sức cày xới thửa ruộng tinh thần tốt nhất, màu mỡ nhất ở Ấn Độ này. Không có thửa nào có thể so sánh được.

As the publicity given by the Ceylon Press to my early healings created an importunate demand for repetitions on the Bengal tour, so the exciting narratives of the North Indian papers caused me to be urged with equal pertinacity to exercise the power for the benefit of the sick in South India. They besieged me at Tinnevelly, as at all the other stations, and some marvellous cures were wrought. An entry of a few words in my Diary for 20th July recalls to memory one of the most dramatic experiences of my life. I had gone to the Pagoda to sprinkle the “Tree of Friendship” with some refined rosewater, and was followed by at least 1,000 idlers, who, for lack of better amusement, watched my every step and exchanged opinions on my personal appearance. A young man of twenty-five or thirty was brought me through the press, by his father, with a prayer that I would restore his speech, which he had lost three years before. Having neither elbow-room nor breathing-space, I climbed up on the continuous pedestal or basement that supports a long line of monolithic carved figures of Hindu deities, drew the patient up after me, called for silence, and made the father tell the people about the case. What then happened may as well be quoted from the printed contemporary record—a letter from the well-known late S. Ramaswamier, F.T.S., in Theosophist Supplement, August, 1883. “Amidst a great crowd,” says he, “right in front of the Nelliappa temple, the Colonel laid his hands on the unfortunate dumb man. Seven circular passes on the head and seven long passes, all occupying less than five minutes, and speech was restored to the no more silent man! The Colonel, amidst deafening shouts of applause and thundering clapping of hands, made him pronounce the names of Siva, Gopâla, Râma, Râmachandra and other deities as glibly as any other bystander [could]. The news of this restoration of speech spread at once throughout the town and created a great sensation.” And no wonder, for when I made the patient shout the sacred names at the top of his voice, half the crowd rushed out into the street in mad excitement, waving their arms over their heads, and crying, in Indian fashion: Wah! Wah! Wah! Recollecting the mean tricks the Missionaries had played on me at my first visit, in circulating a scurrilous pamphlet against H. P. B. and myself, to which, in contravention of law, no publisher’s or printer’s name was attached, and in putting afloat the falsehood about the cocoanut tree having been uprooted by indignant Brahmins, I planned a little deserved punishment on them. I told the patient’s father to take his son to the chief Missionaries at Palamcottah—a suburb of Tinnevelly—tell them about the cure, quote to them the 17th and 18th verses of St. Mark’s XVIth Chapter, and demand, on behalf of the Hindu community, that, in proof of their divine commission, they should restore speech to somebody as I had done in the Pagoda. Their reply to be communicated to the Hindu public. Several days later he came and reported to me the result. I had expected some amusement, but fancy my surprise when he told me that one of the chief padris had declared his story a lie, and not one would believe that his son had ever been speechless! The subterfuge was so ingenious that it excited my profound admiration, and I had a good laugh over their astuteness. More than they had, I imagine, since the man was known to the whole town, and the cure had been made with the greatest publicity. [18]

Cũng như việc báo chí Tích Lan đưa tin rộng rãi về các ca chữa đầu tiên của tôi đã tạo ra một nhu cầu khẩn khoản đòi lặp lại trong chuyến đi Bengal, thì những tường thuật giật gân của các tờ báo Bắc Ấn cũng khiến tôi bị thúc giục với mức độ dai dẳng tương tự để vận dụng năng lực vì lợi ích người bệnh ở Nam Ấn. Họ vây quanh tôi ở Tinnevelly, cũng như ở các trạm khác, và một số ca chữa kỳ diệu đã xảy ra. Một ghi chú vài dòng trong Nhật ký ngày 20 tháng Bảy gợi tôi nhớ lại một trong những trải nghiệm kịch tính nhất đời mình. Tôi đến ngôi đền để rảy “Cây Hữu nghị” bằng một ít nước hoa hồng tinh luyện, và có ít nhất 1.000 người nhàn rỗi bám theo, vì không có trò giải trí nào khá hơn, họ dõi theo từng bước chân tôi và thì thầm bình phẩm về dáng vẻ của tôi. Một người thanh niên chừng hai mươi lăm hoặc ba mươi được cha đưa qua đám đông đến chỗ tôi, cầu xin tôi phục hồi tiếng nói cho anh, vốn bị mất ba năm nay. Vì chẳng có chỗ nhích khuỷu tay cũng không có không khí để thở, tôi trèo lên bệ liên hoàn hay phần nền đỡ một hàng dài tượng độc thạch chạm khắc hình các vị thần Hindu, kéo bệnh nhân theo sau, yêu cầu mọi người im lặng, và để người cha kể cho dân chúng nghe về trường hợp này. Việc xảy đến sau đó có thể trích nguyên văn từ tư liệu đương thời đã in—một bức thư của cố S. Ramaswamier, F.T.S., đăng trong Theosophist Phụ bản, Tháng Tám, 1883. “Giữa một đám đông lớn,” ông viết, “ngay trước đền Nelliappa, Đại tá đặt tay lên người đàn ông bất hạnh bị câm. Bảy lượt thao tác vòng tròn trên đầu và bảy lượt vuốt dài, tất cả chưa đầy năm phút, và tiếng nói đã được phục hồi cho người chẳng còn im lặng nữa! Đại tá, giữa tiếng hoan hô như sấm và những tràng vỗ tay “long trời”, khiến anh phát âm các danh hiệu Siva, Gopâla, Râma, Râmachandra và các vị thần khác trôi chảy như bất kỳ người đứng xem nào [có thể]. Tin về việc phục hồi tiếng nói này lập tức lan khắp thị trấn và tạo nên một chấn động lớn.” Cũng chẳng lạ, vì khi tôi bảo bệnh nhân hô to các danh hiệu thiêng liêng hết cỡ, nửa đám đông vỡ òa chạy ra đường trong cơn phấn khích điên cuồng, vung tay qua đầu, và la hét theo kiểu Ấn Độ: Wah! Wah! Wah! Nhớ lại những trò bẩn của các nhà Truyền giáo đã chơi tôi trong chuyến thăm đầu, khi họ phát tán một tờ truyền đơn bôi nhọ nhằm vào Bà H. P. B. và tôi mà chẳng đề tên nhà in hay nhà xuất bản, trái luật, và tung tin dối trá rằng cây dừa bị nhổ bởi các Bà la môn phẫn nộ, tôi bày ra một chút trừng phạt xứng đáng cho họ. Tôi bảo cha của bệnh nhân đưa con đến gặp các vị Truyền giáo trưởng ở Palamcottah—một khu ngoại ô của Tinnevelly—kể cho họ nghe về ca chữa, trích cho họ nghe câu 17 và 18 của Chương XVI theo thánh Marc, và nhân danh cộng đồng Hindu, yêu cầu họ, để chứng minh sứ mệnh thần linh của mình, hãy phục hồi tiếng nói cho ai đó như tôi đã làm ở đền. Hồi đáp của họ sẽ được thông báo cho công chúng Hindu. Vài ngày sau ông quay lại báo cho tôi kết quả. Tôi nghĩ sẽ có chút mua vui, nhưng hãy tưởng tượng sự sửng sốt của tôi khi ông nói rằng một trong những cha xứ đứng đầu bảo câu chuyện của ông là dối trá, và chẳng ai chịu tin rằng con trai ông từng bị câm! Nước cờ đánh bài bây giờ ấy quá khéo léo đến mức khiến tôi vô cùng khâm phục, và tôi đã cười sảng khoái trước sự láu cá của họ. Hơn cả phần họ được, tôi nghĩ vậy, vì người thanh niên ấy thì cả thị trấn đều biết, và ca chữa được thực hiện trước công chúng đông đảo nhất.

I went on to Trivandrum, the capital of Travancore, by bullock cart, and was banged and bruised all over; the distance being about a hundred miles and the road a trying one. Trivandrum was reached on the second morning, and the principal nobles and officials came to present their compliments and welcomes. I made ceremonial calls on H. H. the Maharajah, a cultured man, well known for his magazine articles on the Vedânta and other serious subjects, and on the British Resident, the Eliyah Rajah (Heir Apparent), the Dewan (Prime Minister), and other important personages. His Highness, the Maharajah, had up his palace Pandits to meet me, and started a discussion between them and myself on the subject of Yoga, he himself serving as interpreter. At my lecture that afternoon most of the Royal Princes were present, and as one of them was notoriously intemperate, I took occasion to draw a picture of what was the ancient ideal of an Indian Prince, and compared it with the sad contrast presented in most of the Indian Courts at the present day, of course, not mentioning its special applicability in the present instance, since that—as the French say—sautait aux yeux. Many patients presented themselves for treatment, and I see that on the first day all but one were more or less benefited. On, the second morning the Royal Family were present at my rooms to watch operations, and among other cures recorded is that of an old woman to whom I restored speech in their presence. Before leaving town I admitted a number of respectable candidates into our membership. The ordeal by bullock-cart thumping had to be faced again and in due time I got back to Tinnevelly, with a rather realizing sense of my anatomy at the end of the journey. En route, I lectured at Nagercoil to a big audience. Further additions to our membership were made at Tinnevelly, and I then passed on to Srivilliputtur, where I formed a local Branch, thence to Sattur, and then onwards to’ Madura, one of the largest, most prosperous, and enlightened towns in Madras Presidency. The Meenakshi Temple is, I think, the finest Hindu religious structure in India— it is 847 X 744 feet in area, and full of giant monolithic statues; it was once the seat of Tamil learning, the statuettes of forty of its most renowned Pandits being kept in a closed room which, probably, few foreigners visit, and which is the sad memento of glorious days of ancient learning, now almost forgotten. There was, when I visited the town—and is now—a brilliant local bar, whose then leader, Mr. S. Subramanier, F.T.S., is now creating for himself a permanent renown as a Justice of the High Court of Madras. I was put up in his garden-house and soon became acquainted with every man in the town worth knowing. The next evening my lecture was given, in the noble palace of Tirumala Nayak (the Pandyan king of the seventeenth century), under difficulties. The palace is built and paved with stone, and the effect of the presence of a crowd within the building is to create a roar and confusion of sound quite unmanageable. I was first placed to speak on the place under the dome in the Rotunda, where the Prince of Wales had held his Durbar, but the mere rubbing of the unshod feet of 2,000 people on the pavement and the murmur of their friendly voices prevented my making myself heard, even by friends a few feet off. They craned their necks forward, curved their hands behind their ears, bored me to the centre with their anxious glances, as though their eyes had been drills, and half opened their mouths, as the deaf instinctively do, catch the air vibrations within the cavity of the mouth as well as those of the tympanum. But it was useless, I was only shouting myself dumb for nothing; so I stopped and made signs of despair and regret. A shouted confab then ensued between the Committee and myself, which ended in my going into the majestic sculptured hall where the District Court now sits. A strong guard was placed at the door of entrance, to admit only those who knew English, and from the bench on the raised dais, where British justice is dispensed, but where, formerly, the Indian Sovereign received in state, I spoke for more than an hour to a listening crowd of perhaps 800 to 1000, including all the highest in birth, position, and influence and the brightest in intellect. [19]

Tôi đi tiếp đến Trivandrum, kinh đô Travancore, bằng xe bò, và bị lắc dằn đến bầm dập; quãng đường chừng một trăm dặm và đường rất xóc. Trivandrum đến nơi vào buổi sáng thứ hai, và các vị quý tộc cùng quan chức đứng đầu đến chào mừng. Tôi làm lễ nghi thăm viếng Đức Maharajah, một người có học vấn, nổi tiếng với các bài viết trên tạp chí về Vedânta và những chủ đề nghiêm túc khác, và đến thăm viên Khâm sứ Anh quốc, Eliyah Rajah (Thái tử kế vị), Dewan (Thủ tướng), và các nhân vật quan trọng khác. Hoàng thượng, Đức Maharajah, cho triệu các vị Pandit cung đình đến gặp tôi, và khơi mào một cuộc thảo luận giữa họ và tôi về chủ đề Yoga, chính Ngài làm thông dịch viên. Tại buổi diễn thuyết chiều hôm đó hầu hết các Vương tử đều có mặt, và vì một trong số ấy nổi tiếng là kém tiết độ, tôi nhân dịp phác họa bức tranh về lý tưởng cổ xưa của một Vương tử Ấn Độ, và so sánh với cảnh tương phản buồn bã ở đa số triều đình Ấn Độ thời nay, dĩ nhiên không chỉ đích danh trường hợp hiện tại, vì điều ấy—như người Pháp nói—sautait aux yeux. Nhiều bệnh nhân đến xin chữa trị, và tôi thấy rằng trong ngày đầu tiên tất cả trừ một đều được cải thiện ít nhiều. Sáng hôm sau Hoàng gia có mặt tại phòng tôi để theo dõi việc chữa trị, và trong số các ca được ghi nhận có ca một bà lão, tôi đã phục hồi tiếng nói ngay trước sự chứng kiến của họ. Trước khi rời thành, tôi thu nhận nhiều ứng viên đáng kính vào hàng ngũ của chúng tôi. Lại phải chịu đựng lễ rửa tội bằng tiếng dằn của xe bò, và rồi tôi trở lại Tinnevelly, cảm nhận rất rõ bộ xương của mình khi kết thúc hành trình. Trên đường, tôi diễn thuyết tại Nagercoil trước một thính chúng đông đảo. Tại Tinnevelly, chúng tôi tiếp tục kết nạp thêm hội viên, rồi tôi đến Srivilliputtur, nơi tôi thành lập một Chi bộ địa phương, tiếp đó đến Sattur, và rồi đến Madura, một trong những thành phố lớn, phồn vinh, và khai sáng nhất của Phủ Madras. Đền Meenakshi, theo tôi, là công trình tôn giáo Hindu tuyệt mỹ nhất ở Ấn Độ—có diện tích 847 x 744 feet, đầy những tượng độc thạch khổng lồ; đã từng là trung tâm học thuật Tamil, các tượng nhỏ của bốn mươi vị Pandit trứ danh nhất được cất trong một phòng đóng kín mà có lẽ ít người ngoại quốc ghé thăm, và là một kỷ niệm buồn về những ngày huy hoàng của học thuật cổ xưa nay hầu như đã quên lãng. Khi tôi thăm thành phố—và đến nay vẫn vậy—có một giới luật sư địa phương rực rỡ, mà người thủ lĩnh khi ấy, Ông S. Subramanier, F.T.S., nay đang tạo cho mình danh tiếng bền vững với tư cách Thẩm phán Tối cao Pháp viện Madras. Tôi được đón ở nhà vườn của ông và sớm làm quen với mọi người đáng biết trong thành. Tối hôm sau bài diễn thuyết của tôi được tổ chức tại cung điện tráng lệ của Tirumala Nayak (vị vua Pandyan thế kỷ XVII), trong hoàn cảnh không dễ dàng. Cung điện xây bằng đá và lát đá, và sự hiện diện của một đám đông trong tòa nhà tạo ra một tiếng ầm ầm hỗn loạn khó mà kiểm soát. Ban đầu tôi được bố trí nói ở phần dưới mái vòm của Rotunda, nơi Thân vương xứ Wales từng thiết triều, nhưng chỉ riêng tiếng sột soạt của bàn chân trần của 2.000 người trên nền lát đá và tiếng rì rầm thân thiện của họ đã khiến tôi không thể làm cho mình được nghe thấy, ngay cả với những người bạn đứng cách vài feet. Họ rướn cổ về phía trước, chụm tay sau tai, chiếu ánh mắt lo lắng xoáy tận tâm can tôi như thể đôi mắt là mũi khoan, và hé miệng, như người điếc hay làm theo bản năng, để bắt lấy rung động không khí trong khoang miệng cũng như trên màng nhĩ. Nhưng vô ích, tôi chỉ đang gào đến khản giọng vô ích; thế là tôi dừng lại, ra hiệu tuyệt vọng và tiếc nuối. Một cuộc “hội ý bằng tiếng hét” diễn ra giữa Ủy ban và tôi, kết thúc bằng việc tôi chuyển vào đại sảnh chạm khắc uy nghi, nơi hiện là Tòa án Quận. Một đội canh gác mạnh được đặt tại cửa ra vào, chỉ cho những ai biết tiếng Anh vào, và từ ghế quan tòa trên bục cao, nơi giờ đây công lý Anh quốc được thực thi nhưng xưa kia là nơi Quốc vương Ấn ngự tiếp triều thần, tôi nói hơn một giờ với một đám đông chăm chú chừng 800 đến 1000 người, gồm tất cả những người cao nhất về dòng dõi, địa vị, ảnh hưởng và sáng láng nhất về trí tuệ.

The next day and the following my services as healer were in great demand, and each palpable cure added to the excitement. I had to put myself in the hands of the Committee and let them select the patients to be treated, out of the pushing mob about the door. Mr. V. Cooppooswamy Iyer’s report to the Theosophist says that I laid hands on twenty-seven persons, and that “the most remarkable cures were three cases of deafness, one obstinate case of chronic rheumatism of the spinal column, of nine years’ standing, that had long defied the skill of the medical faculty, and two cases of paralysis—one of the middle finger of the left hand, and the other of the whole of the left hand. In the last case the cure was effected within five minutes.” In short, a very respectable stock of “miracles,” enough, if they had been exploited by an enterprising priest of any religion, to go far towards proving to outsiders his holding of a special Divine Commission: such ignorant fools are the credulous public of every country. I hope the intelligent reader has come to see long before now, that if the two Founders of the Theosophical Society had been the speculative tricksters they have often been said to be, they could have rolled together immense sums of money and been worshipped as superhuman personages, instead of having had such meagre revenues as the Society’s yearly financial reports exhibit. It. isn’t as if we had never had the chance, for if ever any religious reformers in India had it, we have had. In this epoch of shrunken faith and debauched priests, whose animalized aspect is sometimes enough to turn one’s stomach, H. P. B.’s unchallengeable phenomena and my healings caught hold of the popular imagination in such fashion that magnates literally laid their treasure-bags at our feet, and fabulous sums were offered us to show our various powers. [20] That we rejected all their offers with evident sincerity is the secret of much of the loyal friendship shown us throughout India, from the beginning until now. If we had ever taken a present for ourselves, the whole Indian public would have abandoned us in the Coulomb crisis, and we should have been looked upon as religious humbugs; whereas, as it is, all the Missionaries combined, of all the societies of the world, cannot rob us of our place in the hearts of India’s children, degenerate, alas! as they are.

Ngày kế và ngày sau nữa, nhu cầu nhờ tôi chữa bệnh rất lớn, và mỗi ca chữa thấy được làm tăng thêm phấn khích. Tôi đành phó mặc mình cho Ủy ban và để họ chọn bệnh nhân từ đoàn người chen lấn trước cửa. Báo cáo của Ông V. Cooppooswamy Iyer gửi Theosophist cho biết tôi đã đặt tay lên hai mươi bảy người, và “những ca chữa đáng kể nhất là ba trường hợp điếc, một ca thấp khớp mãn tính ngoan cố ở cột sống kéo dài chín năm, đã lâu bất chấp tài nghệ của giới y khoa, và hai ca liệt—một ở ngón giữa của bàn tay trái, và một ở cả bàn tay trái. Trong ca cuối cùng, việc chữa lành hoàn tất trong vòng năm phút.” Tóm lại, một kho “phép lạ” đủ để, nếu được một thầy tu nào đó của bất kỳ tôn giáo nào khéo tận dụng, đi khá xa trong việc chứng minh với người ngoài rằng ông ta có một Ủy nhiệm Thiêng liêng đặc biệt: công chúng cả nước nào cũng dễ cả tin ngớ ngẩn như vậy. Tôi hy vọng độc giả có trí đã sớm nhận ra, rằng nếu hai Vị Sáng lập của Hội Thông Thiên Học là những kẻ đầu cơ mánh mung như người ta thường nói, thì chúng tôi đã có thể gom góp những khoản tiền khổng lồ và được tôn thờ như những nhân vật siêu phàm, thay vì có nguồn thu ít ỏi như các báo cáo tài chính thường niên của Hội đã cho thấy. Không phải là chúng tôi chưa từng có cơ hội, bởi nếu ở Ấn Độ có những nhà cải cách tôn giáo nào từng có cơ hội như thế, thì chúng tôi đã có. Trong thời đại niềm tin teo tóp và hàng giáo sĩ sa đọa, gương mặt thú tính của họ đôi khi đủ làm người ta buồn nôn, các hiện tượng không thể bị thách thức của Bà H. P. B. và những ca chữa trị của tôi đã chiếm lĩnh trí tưởng tượng đại chúng đến mức các vị hào phú thật sự đặt túi châu báu dưới chân chúng tôi, và những khoản tiền tưởng như trong chuyện cổ được đưa ra để đổi lấy việc chúng tôi biểu diễn các năng lực khác nhau. Việc chúng tôi từ chối tất cả lời đề nghị ấy với sự chân thành hiển nhiên là bí quyết của rất nhiều tình bằng hữu trung tín dành cho chúng tôi khắp Ấn Độ, từ buổi đầu cho đến nay. Nếu chúng tôi từng nhận một món quà nào cho riêng mình, thì công chúng Ấn Độ hẳn đã bỏ rơi chúng tôi trong khủng hoảng Coulomb, và chúng tôi đã bị xem như những kẻ lừa đảo tôn giáo; trong khi, thực tế là, tất cả các nhà Truyền giáo hợp lại, của mọi hội đoàn trên thế giới, cũng không thể cướp được vị trí của chúng tôi trong trái tim con dân Ấn Độ, dù đáng buồn thay, họ đã suy đồi.

The cure of the hand-paralysis had an amusing sequel. The patient was of a good Brahmin family, the brother of a B.A., and vakil (pleader), who was impulsive by nature and not morally strong. He was eating his dinner when the lad returned from my rooms, his paralytic hand glowing and burning like fire with the restored rush of vitality through it. The vakil, a religious sceptic, too lofty in self-conceit to admit that soul is a reality, no sooner took in the fact of his brother’s cure by the mere imposition of my hands, than his scepticism was swept away as by a flood; he left his meal unfinished, hurried over to me, thanked me extravagantly for the cure, hung about me all the day, became a member of the Society, and when I left for Negapatam and other stations, went with me, to serve or fight for me as I might choose. He took no change of clothes, if I remember aright, but just came as he was, like one who jumps into a boat as it is just shoving off from a foundering ship, without thinking of food, water, or luggage. Such dry-grass-burning zeal as this could not last long; despite his vows of loyalty shouted to the four quarters of the sky, my wild vakil has proved one of the shallowest friends I have met in India, broken fifty times his promises, and finally let me into paying out of my own pocket a quite large sum for building supplies which he asked me to get for Headquarters as his own gift, but never refunded the money. Quite a different sort of character was the other Brahmin vakil who accompanied me to Negapatam. He has been staunch all the way through, is a Trustee of the T. S., and has been chosen by me as one of the executors under my own Will. Tot homines, quat sententiœ.

Việc chữa khỏi chứng liệt tay có một đoạn hậu khôi hài. Bệnh nhân thuộc một gia đình Bà la môn khá giả, là em trai của một B.A., và là vakil (luật sư biện hộ), người bốc đồng theo tính, và không mạnh về đạo đức. Anh đang ăn trưa khi cậu em trở về từ phòng tôi, bàn tay từng bị liệt nóng ran như lửa vì sức sống trào dồn trở lại. Vị vakil, một kẻ hoài nghi tôn giáo, kiêu căng đến mức không chịu thừa nhận linh hồn là hiện thực, vừa nhận ra sự thật là em trai anh đã được chữa khỏi chỉ bằng việc tôi đặt tay, thì hoài nghi của anh bị cuốn phăng như lũ; anh bỏ bữa ăn dở dang, vội vã đến gặp tôi, cảm ơn tôi quá lời về việc chữa trị, cứ lẩn quẩn bên tôi suốt ngày, gia nhập Hội, và khi tôi rời đi Negapatam và các trạm khác, anh đi theo tôi, để phục vụ hay để chiến đấu cho tôi tùy cái tôi chọn. Nếu tôi nhớ không lầm, anh chẳng mang theo bộ đồ nào, cứ thế mà đi, như người nhảy lên thuyền vừa rời con tàu đắm, chẳng nghĩ gì đến đồ ăn, nước uống, hay hành lý. Ngọn lửa cuồng nhiệt bùng cháy như rơm khô này dĩ nhiên không thể cháy lâu; mặc cho những lời thề trung thành hét lên bốn phương trời, vị vakil hoang dã của tôi đã tỏ ra là một trong những người bạn nông cạn nhất tôi gặp ở Ấn Độ, đã năm mươi lần bội ước, và rốt cuộc khiến tôi phải bỏ tiền túi ra trả một khoản khá lớn mua vật liệu xây dựng mà anh nhờ tôi mua cho Trụ sở như quà tặng của chính anh, nhưng chưa bao giờ hoàn tiền. Hoàn toàn khác là vị vakil Bà la môn khác tháp tùng tôi đến Negapatam. Anh vẫn trước sau như một, là một Ủy viên Quản trị của T.S., và tôi đã chọn anh là một trong những người thi hành di chúc của chính tôi. Tot homines, quat sententiœ.

At Negapatam things were much the same as at Madura. A great crowd met me on arrival, covered me with flowers, formed in procession with a band of musicians, and led me to a decorated bungalow, where I replied to addresses, held conversations with roomfuls of questioners, formed a new Branch with twenty-seven members, lectured to one educated (i.e., English-knowing) and one popular audience: the first was at my bungalow, the second in the Pagoda, through interpreters, to 3,000 persons. On 5th August I slept at the railway station and took an early train the next morning for Trichinopoly, where more hero-worship awaited me, with the thermometer at over 100° Fah in the shade. A warm welcome, truly!

Ở Negapatam, mọi sự cũng giống như ở Madura. Một đám đông lớn đón tôi khi đến nơi, phủ hoa lên người tôi, lập thành đoàn rước với một đội nhạc, và đưa tôi đến một nhà nghỉ trang hoàng, nơi tôi đáp từ các bài diễn văn chào mừng, trò chuyện với cả phòng đầy người đặt câu hỏi, lập một Chi bộ mới với hai mươi bảy hội viên, diễn thuyết cho một thính chúng học vấn (tức là biết tiếng Anh) và một thính chúng đại chúng: buổi đầu ở nhà nghỉ, buổi sau trong Đền, qua thông dịch, trước 3.000 người. Ngày 5 tháng Tám tôi ngủ ở nhà ga và sáng sớm hôm sau đi tàu đến Trichinopoly, nơi lại đợi sẵn thêm những màn tôn sùng người hùng, với nhiệt kế chỉ hơn 100 độ F trong bóng râm. Một màn chào đón “ấm áp” thật sự!

CHAPTER XXX

SOUTH INDIAN WONDERS—KỲ TÍCH Ở NAM ẤN

POPULARITY, beyond a certain point, is very burdensome—as I found throughout the South Indian Tour of 1883. When, on the 7th of August, I got to the Trichinopoly town hall, where I was to speak, it was practically impossible for me to reach the door; a vast surging crowd occupied every foot of the approaches, and, instead of making room for me, hustled each other into a compact mass of perspiring flesh to get a look at the object of momentary curiosity. In vain my Committee pleaded, scolded, shouted, and pushed; I was brought to a standstill. So, then, I did the most natural thing, by climbing to the solid roof of a palanquin carriage where all could see me. If one wants to manage a crowd, one must never get excited nor precipitate; give the right initial impulse and let it gradually increase of itself. I knew perfectly well that not one man in perhaps a dozen there could understand English or really knew anything more about me than the fact that I was the friend and defender of their religion, and had a way of curing the sick that people called miraculous. So in standing quite still up there until they had had their fill of gazing, I was really preparing the close-wedged throng to segregate into units. At first they shouted to each other and countercried to make order, to a degree that no voice could have made itself heard, so I kept silence. At last, however, as there came a partial lull, and as the sun beat upon me so as to make me want to get indoors, I raised my arms above my head and in silence held them there. Now a crowd is often like a crying baby whose attention can be caught by showing it some bright or strange object that excites its curiosity. I knew that and so kept silent. If I had begun speaking fifty people would have instantly shouted to another hundred to keep quiet, and there would have been a sibilation of “hists” and “pstts” on every side; but seeing me stopping in the same attitude, and wondering what I was going to say, the result was that I soon was able to have my intended word or two through my interpreter, who had climbed up after me. This reminds me of a trick that was played by the late Prof. James J. Mapes on a sleepy audience at one of his public lectures. I studied Scientific Agriculture under him forty-three years ago, and he told me the story himself in his inimitably comic way. Finding that his audience of tired farmers were dropping asleep in the middle of his learned discourse he silently turned to the black-board behind him, wiped it with the cloth, stood looking at it as if meditating some problem, drew one thick vertical line through the middle, laid down the chalk, dusted his fingers, thought a minute, then turned back towards the audience—now thoroughly aroused and wondering what it was all about—and proceeded with his lecture to the end. He never made the slightest reference to that perpendicular chalk line on the board. The farmers kept awake in the belief that he would!

Sự nổi tiếng, vượt quá một mức nhất định, trở thành gánh nặng—như tôi đã trải nghiệm suốt Chuyến Du hành Nam Ấn năm 1883. Khi, vào ngày 7 tháng Tám, tôi đến tòa thị chính Trichinopoly, nơi tôi sẽ nói chuyện, thì gần như không thể tiến đến cửa; một biển người dập dào chiếm kín từng tấc đường dẫn vào, và thay vì nhường lối cho tôi, họ xô đẩy nhau thành một khối đặc người đầm đìa mồ hôi để nhìn cho được đối tượng của tò mò nhất thời. Vô ích cho Ủy ban của tôi khi năn nỉ, quở trách, la hét, và đẩy người; tôi bị chặn đứng. Thế là tôi làm điều tự nhiên nhất: trèo lên mái cứng của một cỗ xe kiệu, nơi tất cả có thể nhìn thấy tôi. Nếu muốn điều khiển một đám đông, đừng bao giờ mất bình tĩnh hay hấp tấp; hãy tạo xung lực ban đầu đúng đắn và để nó tự lớn dần. Tôi biết rõ rằng có lẽ một trong mười hai người ở đó hiểu tiếng Anh hoặc biết gì khác về tôi ngoài việc tôi là bạn và là người bênh vực tôn giáo của họ, và tôi có cách chữa bệnh mà người ta gọi là kỳ diệu. Vì thế, đứng yên trên cao cho đến khi họ ngắm đã con mắt, là tôi đang chuẩn bị để đám đông dày đặc kia tách thành từng cá nhân. Ban đầu họ hò hét qua lại và gào nhau giữ trật tự đến mức không giọng nói nào có thể vang lên, nên tôi cứ lặng im. Cuối cùng, khi có một khoảng lặng phần nào, và vì mặt trời chiếu xuống khiến tôi muốn vào trong nhà, tôi giơ hai tay lên khỏi đầu và im lặng giữ nguyên như thế. Một đám đông thường giống đứa trẻ đang khóc, có thể bị thu hút chú ý bởi một vật sáng hay lạ kích thích sự tò mò. Tôi biết điều ấy và cứ im lặng. Nếu tôi bắt đầu nói, năm mươi người sẽ lập tức la lên bảo một trăm người khác im đi, và khắp nơi sẽ sôi lên tiếng “suỵt suỵt”; nhưng khi thấy tôi đứng yên bất động trong tư thế ấy, và nôn nao chờ xem tôi sắp nói gì, kết quả là chẳng mấy chốc tôi nói được vài lời như dự định qua người thông dịch, người đã leo lên theo tôi. Điều này khiến tôi nhớ đến một trò mà cố Giáo sư James J. Mapes từng chơi với một thính chúng uể oải trong một buổi diễn thuyết công khai. Cách đây bốn mươi ba năm, tôi học Nông học Khoa học dưới sự chỉ dẫn của ông, và ông tự kể cho tôi câu chuyện ấy theo lối khôi hài vô song của ông. Thấy thính chúng nông dân mệt mỏi đang chập chờn ngủ giữa bài thuyết giảng uyên áo, ông lặng lẽ quay lại tấm bảng đen phía sau, lấy khăn lau sạch, đứng nhìn như đang ngẫm nghĩ một vấn đề, kẻ một đường thẳng đứng dày ở giữa, đặt viên phấn xuống, phủi bụi phấn trên tay, nghĩ một lát, rồi quay về phía thính chúng—lúc này đã hoàn toàn tỉnh táo và tự hỏi tất cả là chuyện gì—và tiếp tục bài giảng đến hết. Ông không hề nhắc đến đường phấn thẳng đứng ấy trên bảng. Đám nông dân thì thức tỉnh với niềm tin rằng ông sẽ nhắc đến nó!

When I had pacified the outside crowd at Trichinopoly, I slipped through the other sweltering crowd inside the building into a large back enclosure where, my audience following me, I gave my lecture without interruption; I standing with my back to the house wall so as to make it a sounding-board. Many a fiasco has befallen a speaker from neglect of this precaution: his voice being lost in the crowd.

Khi tôi đã xoa dịu đám đông bên ngoài ở Trichinopoly, tôi lách qua đám đông cũng đang đổ mồ hôi trong tòa nhà để vào một sân sau rộng, và thính chúng đi theo tôi; tại đó tôi thuyết giảng không bị gián đoạn; tôi đứng quay lưng vào tường nhà để biến nó thành một tấm “phản âm”. Không ít cú lỡ làng đã xảy đến với diễn giả vì quên lưu ý điều này: giọng nói của họ bị lạc mất trong đám đông.

The healings of the sick went on here daily, as at every other station, and on the 8th (August), it appears from the record, I treated seventy cases with more or less success. Of course, no. one can foretell whether either of these healings, however effectual it may seem at the moment when the patient leaves the healer’s hands, will prove radical cures or not: all depends upon the present state of his constitution. However, there were various cases of apparently perfect cure of the disease.

Việc chữa bệnh tiếp diễn ở đây mỗi ngày, như ở mọi trạm khác, và vào ngày 8 (tháng Tám), theo ghi chép, tôi chữa bảy mươi ca với mức độ thành công khác nhau. Dĩ nhiên, không ai có thể đoán trước liệu bất kỳ ca chữa nào, dù có vẻ hiệu quả tại thời điểm bệnh nhân rời tay người chữa, có trở thành chữa khỏi tận gốc hay không: tất cả phụ thuộc vào tình trạng hiện tại của thể chất người đó. Tuy vậy, có nhiều ca dường như lành hẳn bệnh.

On the same evening I figured in a scene hard to surpass for picturesqueness and impressiveness. A lecture was to be given in one of the large squares of the venerable Vaishnava Srirangam Temple, known to all travellers as the largest religious structure in India. It comprises a central shrine surrounded by five enclosurers, each including the next smaller, until the wall of the outer one is nearly a. half mile long on each side. This is the place where Râmânujâ, the founder of the Visishtâdvaita school of Brahmanic Philosophy, thought out his system in the eleventh century and began his preaching mission throughout Southern India. The lecturing place assigned me was in the inner square in front of the Hall of the Thousand Columns, a structure of 450 feet by 130 feet in size, and of one storey. Fancy the scene which opened out before me as I turned the angle of the enclosure and came in sight of the giant hall and the open square. Under the canopy of the starlit sky there was a multitude of dark-faced, white-turbaned and white-robed Hindus, numbering perhaps 5,000, standing and squatting on the ground and covering the front portion of the roof-terrace of the thousand-columned structure. Many young fellows had climbed up by the carvings on the pyramidal gopuram, or gateway on the right, and sat on the pedestal-cornice. A small platform of planks, bedecked with flowers and greenery, had been constructed for me over the porch at the foot of the staircase leading to the roof-terrace in question, and I had to use some agility to get up to it. When I did, however, the whole picture burst into view, and by its weirdness deeply impressed my imagination. The only light, save that of the twinkling stars, came from flickering torches held by many peons stationed against the walls, and from a half-dozen on my platform which were so disposed as to bring my figure out into high light against the sombre background of the pyramid beside me. The silent crowd, half hidden in shadow, was diversified here and there by some standing figure of a Brahmin, naked to the waist, whose sacred thread showed against his bronze skin like a trickle of milk; and there on the platform, ten feet above their heads, the speaker, also clad in white, standing with his interpreter and one or two of the committee-men, the centre of observation, while the air of night refreshed us and the throng listened in complete silence to the elaboration of the discourse upon Hinduism and the necessity for the religious education of the young. The cheers, long restrained, broke out at the close, the torch-bearers waved their flambeaux, the sitters sprang to their feet, the boys dropped down from their perches on the gopuram, and, laden with garlands and hemmed in by surging thousands, I slowly worked my way to the outer enclosure where the carriage waited for me. As elsewhere, a local Branch of the T.S. was formed, and the next day I passed on to Tanjore, the capital of one of the greatest of the ancient Hindu dynasties of Southern India, and in all ages one of the chief political, literary, and religious centres of the South (Hunter’s Gaz. Ind., xiii, 195). What a pity it is that the stream of visitors to India hardly flows at all through the South, but all start at Bombay, and, after loafing through the towns of the North, where the seal of Muslim conquest is set on everything, empties out at Calcutta or turns back on itself to Bombay. The traveller managed by Messrs. Cook sees hardly anything at all of the India of the most ancient Indian dynasties, nor gets sight of the incomparable Hindu temples that embellish Southern India; it is like visiting Scotland and Ireland to see Great. Britain, and omitting to visit London and other centres of English national development!

Tối hôm ấy tôi góp mặt trong một cảnh tượng khó có gì sánh được về vẻ nên thơ và hùng tráng. Một bài diễn thuyết sẽ được tổ chức trong một sân lớn của ngôi đền Vaishnava Srirangam cổ kính, nơi được khách lữ hành biết đến như công trình tôn giáo lớn nhất Ấn Độ. Đền gồm một điện thờ trung tâm bao quanh bởi năm vòng tường, mỗi vòng bao lấy vòng nhỏ hơn bên trong, cho đến khi bức tường vòng ngoài dài gần nửa dặm mỗi cạnh. Đây là nơi Râmânujâ, vị sáng lập phái triết học Visishtâdvaita của Bà la môn, đã thấu suốt hệ thống của mình vào thế kỷ XI và khởi sự sứ mệnh thuyết giáo khắp Nam Ấn. Nơi thuyết giảng dành cho tôi là ở sân trong trước Đại Sảnh Ngàn Cột, một công trình kích thước 450 x 130 feet, một tầng. Hãy tưởng tượng cảnh tượng hiện ra trước mắt tôi khi rẽ qua góc của vòng tường và nhìn thấy đại sảnh cùng sân trống. Dưới bầu trời lấp lánh sao là một biển người Hindu da sẫm, khăn xếp trắng và áo choàng trắng, chừng 5.000 người, đứng ngồi kín mặt sân và phủ kín phần trước của sân thượng trên mái của tòa nhà ngàn cột. Nhiều thanh niên leo lên bằng các chạm khắc trên gopuram hình tháp, tức cổng vào bên phải, và ngồi trên gờ bệ. Một bục nhỏ bằng ván, trang trí hoa lá, đã được dựng cho tôi trên hiên ở chân cầu thang dẫn lên mái sân thượng ấy, và tôi phải hơi nhanh nhẹn để leo lên. Nhưng một khi lên đến nơi, toàn bộ bức tranh vỡ òa trong tầm mắt, và bởi vẻ huyền hoặc của nó đã gây ấn tượng sâu sắc vào trí tưởng tượng tôi. Ánh sáng duy nhất, ngoài sao trời, là từ những bó đuốc chập chờn do nhiều lính lệ cầm áp vào tường, và từ độ nửa chục bó trên bục của tôi, được bố trí sao cho làm nổi bật hình dáng tôi trên nền tối sẫm của kim tự tháp bên cạnh. Đám đông im lặng, nửa ẩn trong bóng, đây đó điểm xuyết bởi một bóng người Bà la môn đứng thẳng, mình trần đến thắt lưng, sợi dây thánh của họ nổi bật trên làn da đồng như một vệt sữa; và kia, trên bục, cao mười feet so với đầu họ, là diễn giả, cũng mặc đồ trắng, đứng cùng thông dịch viên và một hai ủy viên ban tổ chức, trở thành tâm điểm của mọi ánh nhìn, trong lúc làn gió đêm mát rượi và đám đông lặng lẽ lắng nghe phần khai triển bài nói về Ấn giáo và sự cần thiết của giáo dục tôn giáo cho thanh thiếu niên. Tiếng hoan hô nén lại bấy lâu bật tung khi kết thúc, người cầm đuốc vung cây đuốc, những người ngồi bật dậy, các chàng trai từ chỗ ngồi trên gopuram tụt xuống, và tôi, quàng đầy vòng hoa và bị vây kín bởi hàng ngàn người chen chúc, chậm rãi mở đường ra vòng tường ngoài, nơi cỗ xe đang chờ. Cũng như ở nơi khác, một Chi bộ địa phương của T.S. được thành lập, và hôm sau tôi đi Tanjore, kinh đô của một trong những triều đại Hindu hùng mạnh nhất miền Nam Ấn xưa, và qua mọi thời là một trung tâm chính trị, văn học, và tôn giáo hàng đầu của miền Nam (Từ điển Hunter về Ấn Độ, quyển xiii, tr. 195). Thật đáng tiếc là dòng khách phương xa đến Ấn Độ hầu như không chảy qua miền Nam, mà đều khởi hành ở Bombay, và sau khi lê bước qua các thành thị miền Bắc, nơi dấu ấn chinh phục của Hồi giáo hằn khắp nơi, lại đổ ra Calcutta hoặc quay lại Bombay. Khách đi theo sự thu xếp của các ông Cook hầu như chẳng thấy gì bản đồ Ấn Độ của những triều đại xưa nhất, cũng chẳng thấy những ngôi đền Hindu vô song tô điểm miền Nam Ấn; như thể đi Scotland và Ireland để xem Đại Anh, mà lại bỏ qua London và các trung tâm phát triển quốc gia của người Anh!

On arrival at the Tanjore railway station at 5 a.m., I found a crowd awaiting me, and the train steamed up to the accompaniment of a band of musicians. The notables of the place welcomed me with floral wreaths, and at a table placed on the platform. I was served with coffee, and received and replied to the usual complimentary address. They put me up at the travellers’ bungalow, and kindly let me enjoy my privacy until evening, when I was driven about the town and taken to the magnificent temple which, as Fergusson says, is known throughout the world. It consists of two courts and the great courtyard in which stands the shrine, a structure having a base of two storeys in height, surmounted by a pyramid rising in thirteen storeys, to the summit which is 190 feet above the ground-level, and said to be composed of a single huge stone. Between it and the gateway lies, on a stone pedestal, the bull-colossus of Nandi, the Vâhan of Siva. The huge animal is carved, if I remember aright, out of one block of granite, and measures, though in the recumbent posture, some ten or twelve feet in height at the shoulder. The pedestal is covered by a stone canopy supported on carved square columns. My lecture was given from that pedestal, the multitude sitting on the flagged pavement of the courtyard. Directly in front of me was a huge stone lingam, the distinctive Sivaite emblem of the generative force in nature, and beyond that towered the grand pyramid, each of whose storeys is enriched with huge carved figures in high relief. I spoke through an interpreter, and in the pauses while he was speaking, as I looked about me, I was struck with the romantic experience that I, an American, representative of the youngest and most feverish civilization of the world, should be standing there, beside the huge bull, surrounded by the chiselled emblems of the oldest of the world faiths, and talking to its living votaries about the truths embodied in the hoary teachings of their half-forgotten sages and rishis.

Đến nhà ga Tanjore lúc 5 giờ sáng, tôi thấy một đám đông đang đợi, và đoàn tàu chạy vào giữa tiếng nhạc của một đội nhạc sĩ. Các vị nhân sĩ của nơi này chào mừng tôi bằng vòng hoa, và nơi chiếc bàn đặt trên sân ga, tôi được dọn cà phê, và nhận cũng như đáp từ bài diễn văn chào mừng như lệ thường. Họ thu xếp cho tôi ở nhà nghỉ khách và tốt bụng để tôi được yên tĩnh cho đến chiều, khi tôi đi dạo quanh thành và được đưa đến ngôi đền tráng lệ mà, như Fergusson nói, nổi tiếng khắp thế giới. Đền gồm hai sân trong và sân lớn nơi đặt điện thờ, một công trình có phần đế cao hai tầng, phía trên là một kim tự tháp vươn lên mười ba tầng, đỉnh cao 190 feet so với mặt sân, và được nói là hợp thành từ một khối đá khổng lồ. Giữa điện thờ và cổng là tượng bò Nandi khổng lồ, Vâhan của Siva, đặt trên bệ đá. Con vật to lớn, nếu tôi nhớ đúng, được tạc từ một khối đá granit, và dù ở tư thế nằm, phần vai vẫn cao chừng mười đến mười hai feet. Bệ tượng có mái che bằng đá, chống trên các trụ vuông chạm khắc. Tôi diễn thuyết từ bệ ấy, đám đông ngồi trên nền lát đá của sân. Ngay trước mặt tôi là một lingam đá khổng lồ, biểu tượng Sivaite đặc trưng của lực sinh hóa trong thiên nhiên, và phía xa là tòa kim tự tháp tráng lệ, mỗi tầng trang hoàng bằng các tượng chạm nổi lớn. Tôi nói qua thông dịch, và trong những quãng ông ấy đang chuyển ngữ, khi đưa mắt quan sát xung quanh, tôi không khỏi thấy lạ lùng khi nghĩ rằng mình, một người Mỹ, đại diện cho nền văn minh trẻ nhất và bồn chồn nhất thế giới, lại đang đứng đó, bên cạnh con bò khổng lồ, giữa những biểu tượng chạm khắc của tôn giáo cổ xưa nhất trần gian, và nói với những người tôn thờ sống động của nó về những chân lý được kết tinh trong giáo huấn xưa cũ của các hiền triết và rishi gần như đã bị lãng quên.

I was able to personally declare the falsity of a current superstitious story that the great pyramid casts no shadow. At 5 p.m., when I first saw it, there was a great black shadow stretching half across the courtyard. The Brahmin to whom I mentioned it said that the popular rumor is based upon the fact that it casts no shadow at noon! There was another lecture at the Reading Room in the town, and I greatly enjoyed a visit to the world-renowned Sanskrit Library in the Royal Palace, which was catalogued by Dr. Burnell, and found to contain some 35,000 palm-leaf and other MSS., and 7,000 bound volumes, among the former many very rare and valuable ones. Before leaving the town I treated many patients and made some interesting cures.

Tôi có thể tự mình bác bỏ câu chuyện mê tín đang lưu hành rằng kim tự tháp lớn không hề có bóng. Lúc 5 giờ chiều, khi tôi vừa thấy nó, có một chiếc bóng đen đậm kéo dài nửa sân. Vị Bà la môn mà tôi nói điều này bảo rằng lời đồn bắt nguồn từ việc nó không có bóng vào giữa trưa! Có một bài diễn thuyết khác tại Phòng Đọc sách trong thành, và tôi rất thích thú khi thăm Thư viện Sanskrit lừng danh trong Hoàng cung, do Bác sĩ Burnell lập mục lục, với khoảng 35.000 bản thảo trên lá buông và loại khác, và 7.000 tập sách đóng bìa, trong đó có nhiều bản rất hiếm và quý. Trước khi rời thành, tôi chữa cho nhiều bệnh nhân và đạt được một số ca chữa thú vị.

Kumbakonam, my next station—the “Oxford of Southern India”—is a famous educational centre, and the Indian professors at the College will compare favorably for learning and intellectual gifts with any in this country. At the same time their mental bias is towards Materialism, and at the time of my first visit they exercised a strong anti-religious influence upon the undergraduates, and, indirectly, on the boys in all the schools. I was warned of this in advance, so when I lectured in the Sarangapani (Vaishnava) Temple, to an audience of 2,000 to 3,000, which filled the Eastern Prakara (side), and which—says the contemporary newspaper report—embraced “Vakils, professors, schoolmasters, mirassidars, ryots, merchants, and schoolboys,” I discussed religion from the view-point of Science. The next day’s lecture, at the same place, was of a more popular character, and treated largely of the duty of Hindu parents to their children. The practical results of the visit and discourses were—despite the sceptical professors and teachers—the formation of the now well-known local Branch, the turning of public interest into Hindu religious channels, and the collection of a handsome fund for a local general library. This, let it be remembered, was the year when what is now called the Hindu Revival began to spread all over India, when forty-three new Branches of the Society sprang into Being, and when the backbone of the Indian movement towards Materialism was broken. And that was ten years before the Chicago Parliament of Religions assembled.

Kumbakonam, trạm dừng kế tiếp của tôi—“Oxford của Ấn Độ miền Nam”—là một trung tâm giáo dục nổi danh, và các giáo sư Ấn Độ tại Trường Cao đẳng ở đó có thể sánh vai về học vấn và thiên tư trí tuệ với bất kỳ ai ở xứ này. Đồng thời, khuynh hướng trí tuệ của họ lại nghiêng về Duy vật, và vào thời điểm chuyến thăm đầu tiên của tôi, họ đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ chống tôn giáo lên sinh viên và, gián tiếp, lên các cậu học trò ở tất cả các trường. Tôi được báo trước về điều này, nên khi diễn thuyết tại Đền Sarangapani (phái Vaishnava), trước một thính chúng từ 2.000 đến 3.000 người, lấp đầy Prakara phía Đông (bên hông), và—theo tường thuật báo chí đương thời—bao gồm “các luật sư biện hộ, giáo sư, thầy học, các địa chủ thừa kế, tá điền, thương nhân và học sinh,” tôi đã luận về tôn giáo từ quan điểm của Khoa học. Bài nói chuyện hôm sau, tại chính nơi ấy, mang tính đại chúng hơn, phần lớn bàn về bổn phận của cha mẹ Ấn giáo đối với con cái. Những kết quả thực tế của chuyến thăm và các bài diễn thuyết là—bất chấp các giáo sư và thầy giáo hoài nghi—sự hình thành Chi bộ địa phương vốn nay đã nổi tiếng, hướng mối quan tâm công chúng trở lại các dòng chảy tôn giáo Ấn giáo, và quyên được một quỹ đáng kể cho một thư viện tổng quát địa phương. Xin nhớ rằng ấy là năm mà điều nay được gọi là Phong trào Phục hưng Ấn giáo bắt đầu lan khắp Ấn Độ, khi bốn mươi ba Chi bộ mới của Hội bừng nở hiện hữu, và khi xương sống của phong trào Ấn Độ hướng về Duy vật bị bẻ gãy. Và đó là mười năm trước khi Nghị viện Tôn giáo Chicago nhóm họp.

I see recorded among the psychopathic cures wrought by me at Kumbakonam, another of those marvellous cases of deafness. The patient was a pleader of Negapatam, I think, who had come over on the chance of getting me to treat him. He could hear sounds with difficulty from a distance of a yard, but after a half-hour’s treatment—on the verandah of the traveller’s bungalow—I made him walk slowly away from me, listening to my voice, raised only to the ordinary pitch of conversation, and with orders to stop the moment he lost it. I made my servant walk beside him, holding one end of a tape-measure of which I held the other extremity. When the lawyer stopped, the tape showed that he could hear me to the distance of 70 feet 6 inches, and I tested him by carrying on some conversation with him at that distance, his back turned towards me so that he might not deceive himself and me by reading my lips. I do not know what was the sequel of the case.

Tôi thấy có ghi lại, giữa những ca chữa trị tâm bệnh tôi thực hiện tại Kumbakonam, một ca điếc lạ lùng nữa. Bệnh nhân, tôi nghĩ, là một luật sư biện hộ ở Negapatam, người đã sang đây với hy vọng có thể được tôi chữa trị. Ông chỉ có thể nghe âm thanh một cách khó nhọc ở khoảng cách một thước Anh, nhưng sau nửa giờ chữa trị—trên hiên của nhà trạm lữ khách—tôi bảo ông đi chậm rãi xa dần tôi, vừa nghe giọng tôi, chỉ nâng lên đến mức nói chuyện bình thường, và dặn dừng lại ngay khi không còn nghe thấy. Tôi cho người hầu của mình đi bên ông, cầm một đầu thước dây, còn tôi giữ đầu kia. Khi vị luật sư dừng lại, thước cho thấy ông nghe được tôi ở khoảng cách 70 bộ 6 inch, và tôi kiểm tra lại bằng cách tiếp tục cuộc trò chuyện với ông ở khoảng cách ấy, lưng ông quay về phía tôi để ông không tự đánh lừa mình và tôi bằng cách đọc khẩu hình. Tôi không biết diễn biến tiếp theo của ca này thế nào.

The reception given me at Mayavaram, my next station, was enthusiastic to a degree that could not be excelled, matching those of Tinnevelly, Trichy, and Guntur. I reached there at 7.30 a.m., was honorably received at the station, put up in the decorated rest-house, received visitors all day, and in the evening, after dark, was taken, in an open palanquin, in torchlight procession to the Mayuranathasami Temple to lecture. The newspaper report says that the procession was led by the temple elephant, bell-bearing camels, and a band of musicians. Seven thousand people were crowded into the building, and—as I was told—every man and woman in the town, not confined to bed, took part in the pageant. From a technical report of the cures, published by Mr. D. S. Amirthasamy Pillay, Civil Apothecary (a Government medical officer), it appears that some good ones were made. They included cases of paraplegia, deafness, neuralgia, and epilepsy. At this station Damodar arrived from Madras on Society’s business, and brought me a new volunteer to act as my Private Secretary, viz., Mr. T. Vijiaraghava Charlu, now for many years known as Manager of the Theosophist. He had resigned his appointment under the Post Office Department, to work with us, and most faithfully has he done it ever since. Lacking the suave manner by which more than one worthless fellow among our associates has won wide temporary popularity, he has stuck to his work with the stern perseverance of an old Covenanter, and is best appreciated by those who know him most intimately.

Cuộc tiếp đón dành cho tôi ở Mayavaram, trạm kế tiếp, nồng nhiệt đến mức không thể vượt hơn, sánh ngang với Tinnevelly, Trichy và Guntur. Tôi đến nơi lúc 7 giờ 30 sáng, được tiếp đón trọng thị tại ga, đưa về nhà nghỉ trang hoàng lộng lẫy, tiếp khách suốt ngày, và buổi tối, khi trời đã tối, được rước trên một kiệu palanquin trần, trong đoàn rước đuốc, đến Đền Mayuranathasami để diễn thuyết. Bản tin báo chí cho biết đoàn rước dẫn đầu bởi voi đền, lạc đà đeo chuông, và một ban nhạc. Bảy nghìn người chen chật ních trong tòa nhà, và—như tôi được bảo—mỗi người nam và nữ trong thị trấn, trừ những người phải nằm liệt, đều tham gia đoàn rước. Theo bản tường thuật kỹ thuật về các ca chữa trị do ông D. S. Amirthasamy Pillay, Dược sĩ Dân sự (một viên chức y tế của Chính phủ), công bố, dường như đã có vài ca rất tốt. Chúng bao gồm các trường hợp liệt hai chi dưới, điếc, đau dây thần kinh và động kinh. Tại trạm này, Damodar đến từ Madras để lo công việc của Hội, và mang theo cho tôi một thiện nguyện viên mới làm Thư ký riêng, tức ông T. Vijiaraghava Charlu, nay từ nhiều năm đã được biết đến là Quản lý tờ Theosophist. Ông đã từ chức tại Nha Bưu điện để làm việc với chúng tôi, và từ đó đến nay ông đã tận tụy hết mực. Không có lối ứng xử ngọt ngào nhờ đó hơn một tay vô tích sự trong đám cộng sự từng giành được sự nổi tiếng nhất thời rộng rãi, ông bền bỉ bám lấy công việc với sự kiên định cứng rắn như một người theo Phái Giao Ước thời xưa, và được những ai thân biết ông nhất trân trọng hơn cả.

A Branch being formed, I moved on to Cuddalore, where the same thing was repeated. My first lecture was in English, my second in the Pataleswaraswami Temple, to clustering thousands, when the services of an interpreter were availed of. Here an unusual compliment was paid me, as appeared from the published report of Mr. A. Rama Row. He says:

Một Chi bộ được thành lập, tôi chuyển sang Cuddalore, nơi điều tương tự tái diễn. Bài diễn thuyết đầu tiên của tôi bằng tiếng Anh, bài thứ hai tại Đền Pataleswaraswami, trước hàng ngàn người chen chúc, khi đó phải dùng đến thông ngôn. Tại đây, tôi được dành một sự kính trọng khác thường, như hiện rõ trong bản tường thuật do ông A. Rama Row công bố. Ông viết:

“As soon as he arrived there, he was carried in procession, followed by a large crowd, with Hindu music playing and flags flying. He was taken round the temple, inside the enclosure, which act, according to Hindu religious belief, forms the sacred pradakshana—a ceremony which hitherto only a Hindu has been allowed to perform. He was then taken to the gate of the temple, near the image of Nandi (the sacred bull of Siva). The Ârati ceremony was then performed by the High Priest and the blazing camphor offered to the Colonel, and a flower garland placed about his neck. Then he went on the platform. The whole temple was crowded to suffocation.”

“Ngay khi ông đến nơi, ông được rước trong đoàn, theo sau là một đám đông lớn, nhạc Ấn giáo vang lên và cờ phấp phới. Ông được đưa vòng quanh đền, bên trong khuôn viên, hành vi mà, theo tín niệm tôn giáo Ấn giáo, cấu thành lễ pradakshana thiêng liêng—một nghi lễ mà từ trước đến nay chỉ một tín đồ Ấn giáo mới được phép thực hiện. Ông được đưa đến cổng đền, gần tượng Nandi (con bò thiêng của Thần Siva). Nghi thức Ârati sau đó được cử hành bởi vị Thượng tế và long não cháy rực được dâng lên cho Ngài Đại tá, cùng với vòng hoa được đặt quanh cổ ông. Rồi ông bước lên diễn đàn. Cả ngôi đền chật kín đến nghẹt thở.”

What makes this act of respect and love the more significant is that I was not only a white mail but also a declared Buddhist, which impediments, however, did not prevent my being accepted as the chief officer of a Society which is committed to no particular religion but befriends all alike, and which was as loyally working with Indians to promote Hinduism as it had been with the Sinhalese Buddhist to revive Buddhism. They took me as the friend of their Mother India, hence as their soul-brother. As such I accepted it.

Điều khiến cử chỉ tôn kính và yêu mến này càng thêm ý nghĩa là tôi không chỉ là một người đàn ông da trắng mà còn là một Phật tử công khai; thế nhưng những “trở ngại” ấy đã không ngăn cản tôi được chấp nhận làm viên chức đứng đầu của một Hội không cam kết với bất kỳ tôn giáo cụ thể nào mà kết thân với tất cả như nhau, và Hội cũng trung thành cộng tác với người Ấn để thăng tiến Ấn giáo y như đã cộng tác với người Tích Lan theo Phật giáo để phục hưng Phật giáo. Họ xem tôi như người bạn của Mẹ Ấn Độ của họ, do đó như một huynh đệ tâm linh của họ. Với tư cách ấy, tôi đón nhận.

A visit to Chingelput finished up this part of the year’s tour, and I went thence to Ootacamund to rejoin my dear colleague H. P. B., at the hospitable home of Major-General and Mrs. Morgan. The railway ends at Mettupalayam, at the foot of the Nilgiri Hills, and the traveller proceeds up the well-metalled mountain road in a horse tonga, or two-wheeled mail cart drawn by a pair of galloping ponies. The ride up is simply charming, and passing through forests, by banks of flowers, and past swarms of lovely painted butterflies, the air grows cooler and cooler, until midway one is obliged to stop at the rest-house and change one’s light tropical costume for heavy woollens and even put on a topcoat. At almost every turn in the winding road splendid panoramas of scenery present themselves to view, while one finds Ootacamund a lovely village of picturesque houses, spreading over the foot-slopes of the grassy and forest-covered adjacent hills, the roads lined with roses, the enclosures joyous with lilies, verbenas, heliotropes, and other “floral smiles of God”. At the toll-gate on the Coonoor Road, H. P. B. met me in company with our dear Mrs. Morgan, Mrs. Batchelor and others of the family, the General being absent from home temporarily. My old “chum” seemed really overjoyed to see me and rattled on in her affectionate way like one who greets a long-absent relative. She was looking well; the champagne-like mountain air set her blood to leaping through her body, and she was in the highest spirits about the civilities that were being shown her by some of the high officials and their families. She worked off some of her excitement that same night by keeping me up until 2 a.m. to read proofs and correct her MS.! What an amusing creature she was when in the mood; how she would make a roomful of people hang on her lips as she would tell stories of her travels and adventures in search of the wonder-workers in Magic and Sorcery; and their eyes open in amazement when she would, now and again, ring some astral bell, or make some raps, or do some other minor phenomenon! And then, when they were gone and we two were at our desks working, how she used to laugh at their surprise and at their often stupid attempts to account for the remarkable facts which, up to that moment, had had no parallel in their experience! A self-satisfied ignoramus in society, giving out infantile explanations of psychical phenomena, and trying to show off his cleverness, at her expense, was her detestation, and she used to collar and crush him, metaphorically speaking, with fierce wrath. And how she hated the smug matron who, while absolutely unqualified to pronounce an opinion on these high subjects, and unblessed with Christian charitableness (!), would regard her as a horror not to be mentioned in respectable circles! It was better than a play to hear her go on about them. She used to say that the Russian, Austrian, and French women might be very bad in their conduct, but were far more honest than the British and American women of like social standing, since they did their wicked things in the eyes of the whole world, while the others did their equally bad things behind doors and in hiding-places of all sorts. Undoubtedly, her rough ways, her daring eccentricities, her profanity, and other peculiarities, were simply her passionate protest against the shams and hypocrisy of society, A pretty woman, with her brains, would never have dreamt of making herself so talked about; being the reverse of pretty, both in face and form, she instinctively let herself make a splash all around her, as one having no admirers to lose, hence no reason to put her feelings under restraint. I am now talking, of course, about the woman, not about the sage.

Một chuyến thăm Chingelput khép lại phần này của chuyến du hành trong năm, và từ đó tôi đi Ootacamund để hội ngộ cộng sự thân yêu H. P. B., tại tư gia hiếu khách của Thiếu tướng và Phu nhân Morgan. Tuyến đường sắt kết thúc ở Mettupalayam, dưới chân dãy Nilgiri, và lữ khách sẽ đi tiếp trên con đường núi trải nhựa tốt bằng một xe tonga ngựa kéo, hoặc xe thư hai bánh do một cặp ngựa nhỏ phi nước kiệu kéo. Chuyến đi lên quả là duyên dáng, băng qua rừng, dọc những bờ hoa, và qua vô vàn bướm xinh với đôi cánh rực rỡ, không khí mát dần, mát dần, cho đến giữa đường người ta buộc phải dừng ở nhà nghỉ và thay bộ y phục nhiệt đới mỏng bằng đồ len dày, thậm chí khoác thêm áo ngoài. Gần như mỗi khúc quanh trên con đường uốn lượn đều mở ra những bức toàn cảnh hùng vĩ của sơn thủy, và Ootacamund hiện ra như một ngôi làng xinh đẹp với những ngôi nhà nên thơ, trải trên các triền chân của những ngọn đồi cỏ và rừng bên cạnh, đường sá trồng hồng hai bên, hàng rào và vườn tược rộn ràng với loa kèn, cỏ roi ngựa, vân hương, và những “nụ cười hoa của Thượng đế” khác. Ở trạm thu phí trên đường Coonoor, H. P. B. đón tôi cùng với bà Morgan thân quý, bà Batchelor và những người khác trong gia đình, còn Ngài Tướng thì tạm vắng nhà. Cô bạn vong niên thân thiết của tôi có vẻ thực sự mừng rỡ khi gặp tôi và nói huyên thuyên bằng cái cách âu yếm như thể chào đón một người thân xa lâu ngày. Bà trông khỏe; không khí miền núi như sâm banh khiến huyết mạch Bà rộn ràng khắp thân thể, và Bà vô cùng phấn chấn về những lễ độ đang được một số quan chức cao cấp và gia đình họ dành cho. Cùng đêm ấy, Bà đã “xả” bớt phần nào sự phấn khích bằng cách bắt tôi thức đến 2 giờ sáng để đọc bản in thử và sửa bản thảo của Bà! Khi hứng khởi, Bà thật là một sinh vật đáng yêu biết bao; biết bao lần Bà làm cả căn phòng người say mê dán mắt lên môi Bà khi Bà kể chuyện những chuyến du hành và mạo hiểm đi tìm các bậc hành giả trong Huyền thuật và Phù thủy; và mắt họ mở to kinh ngạc khi Bà, thi thoảng, rung một cái chuông ở cõi cảm dục, hay gây những tiếng gõ, hay làm một hiện tượng nhỏ nào khác! Thế rồi, khi họ đã về và chỉ còn hai chúng tôi ngồi vào bàn làm việc, Bà lại cười ngặt nghẽo trước sự ngạc nhiên của họ và những nỗ lực thường là ngu ngốc nhằm giải thích các sự kiện kỳ lạ vốn cho đến lúc ấy chưa có tiền lệ trong kinh nghiệm của họ! Một kẻ ngu dốt tự mãn trong xã hội, tuôn ra những lời giải thích ấu trĩ về các hiện tượng tâm linh và cố phô trương sự “thông minh” của mình bằng cách làm tổn hại đến Bà, là điều Bà căm ghét, và Bà thường tóm cổ và bóp nát hắn, nói theo nghĩa bóng, với cơn thịnh nộ dữ dội. Và Bà ghét biết bao những mệnh phụ tự mãn, trong khi hoàn toàn bất xứng để phát biểu ý kiến về những chủ đề cao siêu này, lại không hề có đức bác ái Kitô giáo (!), xem Bà như một điều khủng khiếp không nên nhắc tới nơi vòng tròn “đàng hoàng”! Nghe Bà nói về họ còn thú vị hơn cả xem một vở diễn. Bà thường nói rằng phụ nữ Nga, Áo, và Pháp có thể rất tệ trong hạnh kiểm, nhưng chân thật hơn nhiều so với phụ nữ Anh và Mỹ cùng tầng lớp xã hội, vì họ phạm điều xấu xa trước mắt cả thế giới, còn những người kia làm những điều xấu chẳng kém sau cánh cửa đóng kín và mọi thứ chốn ẩn giấu. Không nghi ngờ gì, cung cách thô mộc của Bà, những lập dị táo bạo, những lời thô tục và các nét khác biệt khác, đơn giản là lời phản kháng đầy nhiệt huyết của Bà chống lại thói giả dối và đạo đức giả của xã hội. Một người đàn bà xinh đẹp, với trí tuệ như Bà, sẽ chẳng bao giờ mơ đến chuyện khiến mình bị đàm tiếu đến vậy; vì Bà ngược lại với cái đẹp, cả diện mạo lẫn vóc dáng, nên Bà theo bản năng để mặc cho mình tạo nên tiếng vang xung quanh, như một người không có ái mộ để mất, do đó chẳng có lý do gì để phải kiềm chế cảm xúc. Tất nhiên, lúc này tôi đang nói về người đàn bà, chứ không phải về bậc hiền triết.

To introduce our ideas to the notice of the European community of our Presidency of Madras, she and our friends were arranging for me to give two public lectures, and some of the chief officials were kindly interesting themselves in the affair. As a necessary preliminary I had to call upon them and their families, and the next two or three days were devoted to this. Out of hours our joint desk work went on and the hard labor was diversified with her bright talk and frequent grumblings at the cold. Certainly with cause, for the mercury marked forty degrees more of cold than we feel on the plains, the houses are heated with wood fires in open fire-places, the winds blow in gusts down the open throated chimneys, filling the rooms with smoke and dusting one’s paper and books with fine ashes. H. P. B. wrote in a fur coat, with a woollen shawl on her head and her feet wrapped in a travelling rug—a funny sight. Part of her work was the taking from dictation, from her invisible teacher, of the “Replies to an English F. T. S.” which contained among other things the now oft-quoted prophecy of the direful things and many cataclysms that would happen in the near future, when the cycle should close. That she was taking down from dictation was fully apparent to one who was familiar with her ways. My first lecture was given at the Breeks Memorial School, to a full audience, despite a pouring rain. The plan was tried which had been adopted at Bombay by the Rev. Joseph Cook, that of having at the door a basket, with slips of paper and a pencil for the audience, as they passed in, to write the subjects on which the lecture was to be given. The slips were subsequently read out by the Chairman, Major-General Morgan, and the subject of “Occult Science” being voted for almost unanimously, I proceeded to enlarge upon it. At the end of an hour I wanted to stop, but the demand being made for me to continue, I did so for another half-hour. The second lecture was equally a success. To “keep out the rabble,” as it was said, a charge had been made for admission, and on the proceeds being handed me, I sent them with a kind letter to he Treasurer on the local Hospital. He was a petty-minded, rejudiced military officer who actually refused at first to accept the gift on the score of its being “devil money”—H. P. B. and I being regarded by him as emissaries of the King of Hell! Of course, he made himself the laughing-stock of the sensible portion of the community, and his colleagues on the Hospital Board forced him to reconsider his stupid decision. The Hon. Mr. Carmichael, a Secretary to Government, did a plucky thing in having us to dinner to meet his chief colleagues, on top of a wicked paragraph in the leading Madras paper which insinuated that we were secret political agents: this was intended and declared as his personal protest against the injustice. We were very thankful to him, it may be believed, and this repetition of the stale and baseless calumny caused me to address an official protest to the Government of Madras, upon certain petty tyrannies that had been exercised upon some of our Hindu associates in the Districts by their official superiors, because of their being members of the Society. I sent in copies of the correspondence between myself and the Government of India and its ruling in our favor, and asked the Government of Madras for protection. The question was circulated to the Governor and Members of Council, and, at the Council meeting of 12th September, full protection was officially guaranteed us so long as we infringed no law and abstained from meddling with things outside our declared field of activity. This was all that was needed to relieve us from annoyance, and since that time we have not been molested in any way.

Để giới thiệu các tư tưởng của chúng tôi đến cộng đồng người Âu châu trong Phủ Thống đốc Madras, Bà và các thân hữu đang thu xếp để tôi có hai buổi diễn thuyết công khai, và một số quan chức cao cấp đã tử tế quan tâm đến việc này. Như một thủ tục cần thiết, tôi phải đến thăm xã giao họ và gia quyến, và hai ba ngày kế đó được dành cho việc ấy. Ngoài những giờ đó, công việc bàn giấy chung của chúng tôi vẫn tiếp diễn và lao lực nặng nhọc được điểm xuyết bằng lời trò chuyện rộn ràng của Bà và những lời càm ràm thường xuyên về cái lạnh. Đúng là có lý do, vì nhiệt kế chỉ lạnh hơn đồng bằng bốn mươi độ, nhà cửa sưởi bằng lò đốt củi lộ thiên, gió lùa theo các ống khói cổ rộng, làm phòng ốc đầy khói và phủ bụi tro mịn lên giấy tờ sách vở. H. P. B. viết trong một chiếc áo lông, đầu quấn khăn len và chân quấn chăn đi đường—trông thật khôi hài. Một phần công việc của Bà là chép theo khẩu lệnh từ Vị Huấn sư vô hình của Bà, “Những Hồi đáp gửi một Hội viên người Anh,” trong đó có, ngoài những điều khác, lời dự ngôn nay thường được dẫn lại về những điều kinh khủng và nhiều tai biến sẽ xảy đến trong tương lai gần, khi chu kỳ khép lại. Việc Bà chép theo khẩu lệnh hiện rõ mồn một với ai quen cung cách của Bà. Bài diễn thuyết đầu tiên của tôi được tổ chức tại Trường Breeks Memorial, trước một thính phòng đầy ắp, bất chấp mưa xối xả. Chúng tôi thử áp dụng kế hoạch từng dùng tại Bombay bởi Mục sư Joseph Cook, tức đặt ở cửa một cái giỏ, kèm những mảnh giấy và một cây bút chì cho thính giả, khi đi qua, viết chủ đề mà bài diễn thuyết sẽ trình bày. Những mảnh giấy sau đó được Chủ tọa, Thiếu tướng Morgan, đọc lên, và vì chủ đề “Khoa học Huyền bí” gần như được nhất trí chọn, tôi bắt đầu triển khai. Cuối một giờ, tôi muốn dừng lại, nhưng do yêu cầu tiếp tục, tôi nói thêm nửa giờ nữa. Buổi diễn thuyết thứ hai cũng thành công như thế. Để “ngăn đám tạp nhạp,” như người ta nói, có thu phí vào cửa, và khi khoản thu được trao cho tôi, tôi gửi nó kèm một lá thư thân ái cho Thủ quỹ của Bệnh viện địa phương. Ông ta là một sĩ quan quân đội hẹp hòi, đầy định kiến, ban đầu còn từ chối nhận quà với lý do đó là “tiền của ma quỷ”—vì H. P. B. và tôi bị ông xem như sứ giả của Vua Địa Ngục! Dĩ nhiên, ông khiến mình trở thành trò cười cho bộ phận tỉnh táo trong cộng đồng, và các đồng sự của ông trong Hội đồng Bệnh viện buộc ông phải xét lại quyết định ngu xuẩn ấy. Ngài Carmichael, một Thư ký của Chính phủ, đã làm một việc can đảm khi mời chúng tôi dự tiệc tối để gặp các đồng nghiệp chủ chốt, ngay sau một đoạn văn ác ý trên tờ báo lớn ở Madras ám chỉ rằng chúng tôi là mật thám chính trị: đây là hành động có chủ ý và được tuyên bố như lời phản kháng cá nhân của ông chống lại sự bất công. Có thể tin là chúng tôi rất biết ơn ông, và sự lặp lại lời vu khống cũ rích và vô căn cứ ấy đã khiến tôi gửi một kiến nghị chính thức lên Chính phủ Madras, về một số hành vi tiểu bạo mà cấp trên chính thức đã áp đặt lên vài cộng sự Ấn giáo của chúng tôi ở các Quận, chỉ vì họ là hội viên của Hội. Tôi gửi kèm bản sao thư từ qua lại giữa tôi và Chính phủ Ấn Độ cùng với phán quyết có lợi cho chúng tôi, và thỉnh cầu Chính phủ Madras bảo hộ. Vấn đề được chuyển đến Thống đốc và các Thành viên Hội đồng, và tại phiên họp Hội đồng ngày 12 tháng Chín, sự bảo hộ đầy đủ đã được chính thức bảo đảm cho chúng tôi miễn là chúng tôi không vi phạm pháp luật và kiêng can thiệp vào những việc ngoài phạm vi hoạt động đã công bố của mình. Ấy là tất cả những gì cần để giải trừ sự quấy nhiễu, và từ đó đến nay chúng tôi không bị phiền hà theo bất kỳ cách nào.

ENDNOTE

[1] Published by the T. S.

[1] Xuất bản bởi T. S.

[2] She herself specifies with full candor, on p. 588 of vol. II of Isis, this illusion-casting power as one of the acquired functions of a thaumaturgist, thus:

[2] Chính bà với sự thẳng thắn đầy đủ đã chỉ rõ, ở tr. 588 của tập II cuốn Isis, quyền năng tạo ảo ảnh này như một trong những chức năng thu đắc của một nhà huyền thuật, như sau:

“The thaumaturgist, thoroughly skilled in occult science, can cause himself (that is, his physical body) to seem to disappear, or to apparently take on any shape that he may choose. He may make his astral form visible, or he may give it a protean appearance. In both cases, these results will be achieved by a mesmeric hallucination of the senses of all witnesses, simultaneously brought on. This hallucination is so perfect that the subject of it would stake his life that he saw a reality, when it is but a picture in his own’ mind, impressed upon his consciousness by the irresistible will of the mesmeriser. “

“Nhà huyền thuật, người tinh thông trọn vẹn trong khoa học huyền bí, có thể khiến chính mình (tức là, thân xác của y) dường như biến mất, hoặc dường như mang lấy bất kỳ hình dạng nào y muốn. Y có thể làm cho thể cảm dục của mình hiển lộ, hoặc y có thể cho nó một diện mạo biến hóa. Trong cả hai trường hợp, những kết quả này sẽ đạt được bằng một ảo giác thôi miên đối với các giác quan của mọi nhân chứng, được gây ra đồng thời. Ảo giác này hoàn hảo đến mức người là đối tượng của nó sẽ đánh đổi cả mạng sống rằng y đã thấy hiện thực, trong khi đó chỉ là một bức tranh trong chính tâm trí y, được in lên tâm thức y bởi ý chí không thể cưỡng của người thôi miên.”

[3] For the concerned I repeat that fakir and sanyâsi are respectively the Mohammedan and Hindu names for the same personage, viz., a wandering religious ascetic and celibate.

[3] Đối với những ai quan tâm, tôi nhắc lại rằng fakir và sanyâsi lần lượt là các tên gọi theo Hồi giáo và Ấn giáo cho cùng một hạng người, tức là một nhà khổ hạnh tôn giáo lang thang và giữ giới độc thân.

[4] Since deceased.

[4] Nay đã qua đời.

[5] I should have mentioned that when the two roses dropped in Mr. Sinnett’s presence (see Chap. VIII), he and I at once hurried to the staircase leading to the roof-terrace, ran up, and searched about for any possibly concealed confederate. We found no one.

[5] Lẽ ra tôi phải nói rằng khi hai bông hồng rơi xuống trước mặt ông Sinnett (xem Chương VIII), ông ấy và tôi lập tức vội đến cầu thang dẫn lên sân thượng, chạy lên, và lục tìm xem có kẻ đồng lõa nào ẩn nấp không. Chúng tôi không thấy ai cả.

[6] I pray to be excused for so often speaking of myself throughout this narrative, but the fact was that, as P. T. S. and the official spokesman of the Delegation, I had to be always to the fore

[6] Tôi mong được thứ lỗi vì đã thường xuyên nói về bản thân mình trong suốt bản tường thuật này, nhưng sự thật là, với tư cách P. T. S. và là phát ngôn viên chính thức của Phái đoàn, tôi luôn phải ở tuyến đầu.

[7] That came later: they tried to murder me once.

[7] Điều đó đến sau: đã có lần họ mưu sát tôi.

[8] Vide Theosophy, Religion, and Occult Science.

[8] Xem Theosophy, Religion, and Occult Science.

[9] For a full account of the relic and its marvellous history, as well as of the Temple and contents, see Dr. Gerson Da.

[9] Để có tường thuật đầy đủ về thánh tích và lịch sử kỳ diệu của nó, cũng như về ngôi Đền và những gì chứa trong đó, xem Tiến sĩ Gerson Da.

[10] A reference to the absurd pretext put orward by the seceding members who followed the late Mr. Judge out of the Society, seven years ago, as an excuse for their illegal action.

[10] Ám chỉ lý do ngụy biện vô lý được đưa ra bởi các thành viên ly khai đã theo cố ông Judge rời khỏi Hội, bảy năm trước, như một cái cớ cho hành động phi pháp của họ.

[11] Described in the first volume of these Memoirs.

[11] Đã được mô tả trong tập thứ nhất của các Hồi ký này.

[12] For text see Theosophy, Religion and Occult Science, p. 216. Also published in pamphlet-form by T. P. H.

[12] Về văn bản, xem Theosophy, Religion and Occult Science, tr. 216. Cũng được T. P. H. xuất bản dưới dạng sách mỏng.

[13] Published in pamphlet form by T. P. H.

[13] Được T. P. H. xuất bản dưới dạng sách mỏng.

[14] The Magnetic and Botanic Family Physician, London 1887. (E. W. Allen, Pub.)

[14] The Magnetic and Botanic Family Physician, London 1887. (E. W. Allen, Nhà xuất bản.)

[15] The Arya Bala Bodhini.

[15] The Arya Bala Bodhini.

[16] From Hinduism to Hinduism.

[16] From Hinduism to Hinduism.

[17] The passage reads thus: Asyaiva chopapatte resha ushma. In the dictionaries ushma is, I know, explained as heat with the implication in some cases that prâna is meant. That it is not the animal heat of the body is clear enough from the fact that the ushma of the spiritual body is mentioned. Under the circumstances, then, I think that our word aura (Sans. tejas) more nearly explains the idea conveyed in the context than would any English synonym.

[17] Đoạn văn như sau: Asyaiva chopapatte resha ushma. Trong các từ điển, ushma, như tôi biết, được giải thích là nhiệt với hàm ý trong một số trường hợp là chỉ prâna. Rằng đó không phải là nhiệt động vật của thân thể thì đã quá rõ từ thực tế là ushma của thể tinh thần được nhắc đến. Vậy nên, theo hoàn cảnh, tôi nghĩ từ “hào quang” của chúng ta (Phạn ngữ: tejas) giải thích ý niệm được chuyển tải trong mạch văn xác đáng hơn bất kỳ từ đồng nghĩa tiếng Anh nào.

[18] First-hand proof of these strange cures being best of all, it will be as well to copy here the certificates which were printed in the Theosophist Supplement for August, 1883. They read thus: “We hereby certify that in our presence Col. Olcott has just restored speech to Oomayorubagam Pillay, son of Utheravasagam Pillay, of Palamcottah, after a treatment of less than ten minutes. For three years he has not been able to pronounce any word. except the first syllable of the name of Râmâ, and that but indistinctly. He can now articulate many words plainly and in bud voice. (Sd.) Utheravasagam Pillay (father of the patient); Soccalingam Pillay (his uncle); Sonachellum Pillay (his father-in-law); N. Padmanabha Aiyar, F.T.S.; Vallinayagam Pillay. The, above is strictly true. (Sd.) Oomayorubagam Pillay (the patient). Tinnevelly, 21st July, 1883.”

[18] Bằng chứng trực tiếp về những ca chữa trị lạ lùng này là tốt nhất trong mọi bằng chứng, vậy nên tốt hơn cả là chép lại ở đây các giấy chứng nhận đã in trong Phụ bản Theosophist tháng 8, 1883. Chúng như sau: “Chúng tôi xin xác nhận rằng trước sự chứng kiến của chúng tôi, Đại tá Olcott vừa phục hồi tiếng nói cho Oomayorubagam Pillay, con trai của Utheravasagam Pillay, ở Palamcottah, sau một liệu pháp chưa đầy mười phút. Trong ba năm qua, anh ta không thể phát âm bất kỳ từ nào ngoại trừ âm tiết đầu của tên Râmâ, và ngay cả thế cũng không rõ. Hiện nay anh ta có thể phát âm nhiều từ một cách rõ ràng và bằng giọng rõ và to. (Ký) Utheravasagam Pillay (cha của bệnh nhân); Soccalingam Pillay (chú của anh ta); Sonachellum Pillay (cha vợ của anh ta); N. Padmanabha Aiyar, F.T.S.; Vallinayagam Pillay. Những điều nói trên hoàn toàn đúng. (Ký) Oomayorubagam Pillay (bệnh nhân). Tinnevelly, ngày 21 tháng 7, 1883.”

[19] Hunter’s Gazetteer, describing the Palace, says it is “the most perfect relic of secular architecture in the Madras Presidency “. The main structure consists of two parts, an open court and a lofty hall. The style is a mixture of Hindu and Saracenic. The courtyard is about 100 yards square, with high walls of brick, forming long galleries surmounted by domes. One side is constituted a hall and its lofty domed roof is supported by circular pillars of granite.

[19] Hunter’s Gazetteer, khi mô tả Cung điện, nói rằng đó là “di tích hoàn hảo nhất của kiến trúc thế tục trong Phủ Tổng trấn Madras”. Cấu trúc chính gồm hai phần, một sân trống và một đại sảnh cao. Phong cách là sự pha trộn giữa Ấn Độ và Saracenic. Sân rộng khoảng 100 yard vuông, tường gạch cao, tạo thành những dãy hành lang dài có các mái vòm ở trên. Một phía được làm thành đại sảnh và mái vòm cao của nó được chống bởi các cột tròn bằng đá granite.

[20] A Muslim in Bengal once offered me Rs. 10,000 to turn aside for a few hours and cure his wife’s paralysis, which, of course, I did not do, as I might have done, if he had been a pauper, and no friend of his had pronounced the word money to me.

[20] Một người Hồi giáo ở Bengal từng đề nghị trả tôi 10.000 Rs. để tôi rẽ ngang vài giờ và chữa khỏi chứng bại liệt của vợ ông ta, điều mà, dĩ nhiên, tôi đã không làm, trong khi tôi có thể đã làm nếu ông ấy là một người bần cùng, và không có người quen nào của ông ấy đã thốt ra chữ “tiền” trước mặt tôi.