← Old Diary Leaves 2

CHAPTER XXIV

The next evening at 5 o’clock we reached a place called Muttukur, where we landed to go overland to Nellore, a distance of fifteen miles. Our round of bustle recommenced. A large delegation was waiting for us: we were conducted to a tent where refreshments were offered, and our hands and necks were soon full of fragrant flowers. An Address of Welcome was responded to, and in due time we found ourselves in a light phaeton with coolies for horses. Lithe, active fellows, they ran us along so as to cover the distance within three hours. A certain weird interest attaches to them, as they are a tribe of ancient origin called “Anadhis,” who are hereditary serpent-charmers and extirpators. People who wish to sleep safe in their beds without the thought of snakes getting into their rooms, call an Anadhi and he walks round and round the house, repeating charms and setting up some enchanted stick or other fetish, after which no serpent will venture to trouble the inmates. Our friends declared this to be a well-known fact, and on their authority alone I give it record. I was told a thing worth knowing by travellers and hunters who have to camp out in snaky localities. It was this, that a serpent will not pass over a rope of horse-hair, and that perfect immunity may be obtained from, their visits by laying such a horsehair rope around one’s house, tent, or whole camp. My informants did not know whether this is attributable to the roughness of the prickly rope hurting the snake’s tender skin, or to some magnetic (auric) or other occult property of the hair being antipathetic to the reptile. However, that doesn’t so much matter as the fact itself, if true.

Chiều hôm sau, 5 giờ, chúng tôi tới một nơi gọi là Muttukur, nơi chúng tôi lên bờ để đi đường bộ tới Nellore, quãng mười lăm dặm. Cảnh bận rộn lại bắt đầu. Một phái đoàn lớn chờ sẵn: chúng tôi được đưa tới một cái lều nơi có đồ ăn nhẹ, và chẳng mấy chốc tay và cổ chúng tôi đầy hoa thơm. Một Diễn văn Chào mừng được đáp từ, và rồi chúng tôi ở trên một chiếc xe phaeton nhẹ, phu chạy thay ngựa. Những chàng trai dẻo dai, lanh lẹ kéo chúng tôi đi, nên quãng đường được vượt trong ba giờ. Có một mối quan tâm kỳ lạ gắn với họ, vì họ là một bộ tộc cổ xưa gọi là “Anadhis”, vốn là những người bùa rắn và diệt rắn cha truyền con nối. Những ai muốn ngủ yên mà khỏi lo rắn bò vào phòng sẽ gọi một người Anadhi, anh ta sẽ đi vòng quanh nhà, niệm chú và dựng lên một cây gậy phù chú hay bùa linh nào đó, sau đó chẳng con rắn nào dám quấy rầy người trong nhà. Các bạn hữu của chúng tôi quả quyết đó là điều ai cũng biết, và chỉ dựa trên uy tín của họ, tôi mới ghi lại. Tôi được cho biết một điều đáng biết đối với khách du hành và thợ săn phải cắm trại ở nơi nhiều rắn: rằng rắn sẽ không bò qua một sợi dây lông ngựa, và có thể hoàn toàn miễn nhiễm với chúng bằng cách giăng một sợi dây lông ngựa quanh nhà, lều hay cả doanh trại. Người cho tôi biết không rõ điều này là do độ nhám của sợi dây tua tủa làm đau da rắn mẫn cảm, hay do một tính chất từ điện (hào quang) hay huyền bí nào khác của lông ngựa kỵ với loài bò sát. Tuy nhiên, điều đó không quan trọng bằng bản thân sự kiện, nếu nó đúng.

We got to Nellore at 11 p.m., and received an ovation. A splendid house had been fitted up for our party; there were many flowers, and decorative greenery, and, late as was the hour, I had to reply to two addresses—one in Sanskrit, the other in English, after which we were allowed to go to our beds; tired out. A lecture was given the next day; the following one was devoted to editorial work and admissions to membership; in the evening a delegation of the most learned Pandits of the district came and put us questions; and at 11 p.m. we formally organized the Nellore T. S. A second lecture on 9th May, more admissions of candidates, and more writing finished up our business at Nellore, and we then moved on to a canal station called Mypaud, whither the boat had been taken to save eighteen miles of canal travelling. Our writing and talks were now resumed and in due course we got to Padaganjam, the limit of canal navigation in the hot season, and the place whence, to proceed on to Guntur, our Ultima Thule, we had to take palanquins and jampans, or carried chairs. They did not turn up until the following day, and as the coolies had to rest, we did not start until just before sunset.

Chúng tôi đến Nellore lúc 11 giờ đêm, và được đón tiếp tưng bừng. Một ngôi nhà lộng lẫy đã được sửa soạn cho đoàn chúng tôi; có rất nhiều hoa và cây cảnh trang trí, và dẫu đã khuya, tôi vẫn phải đáp hai bài diễn văn—một bằng Sanskrit, một bằng tiếng Anh—sau đó mới được cho về giường; kiệt sức. Hôm sau có một bài giảng; hôm kế dành cho việc biên tập và kết nạp hội viên; buổi tối một phái đoàn các Pandit uyên bác nhất trong quận đến và đặt câu hỏi với chúng tôi; và lúc 11 giờ đêm, chúng tôi chính thức tổ chức Hội T. S. Nellore. Bài giảng thứ hai vào ngày 9 tháng Năm, kết nạp thêm ứng viên, và viết lách nhiều hơn khép lại công việc của chúng tôi tại Nellore, rồi chúng tôi di chuyển đến một ga kênh gọi là Mypaud, nơi con thuyền đã được đưa tới để tiết kiệm mười tám dặm đường kênh. Việc viết lách và trò chuyện được tiếp tục, và rồi đến Padaganjam, giới hạn của giao thông đường kênh trong mùa nóng, và từ đó, để đi tiếp đến Guntur, Ultima Thule của chúng tôi, chúng tôi phải dùng kiệu và jampan, tức ghế khiêng. Chúng không tới cho đến ngày hôm sau, và phu còn phải nghỉ ngơi, nên chúng tôi mãi gần hoàng hôn mới xuất phát.

Our caravan consisted of four palanquins and one jampan, which, added to the baggage-porters, made our coolies number fifty-three persons. We soon came to a ford where a river had to be crossed, and the performance made me laugh heartily and H. P. B. to swear. The water was so deep that, to keep our palanquin floors dry, the bearers had to balance the thick poles on their heads, to lift us high enough. Before entering the water they stripped naked, all but their langooti, or breech-clout. Picking their steps with greatest caution and sounding with their staves, they went in deeper and deeper until the water came up to their armpits. I politely led the way so that H. P. B. might know if I was drowned, and turn back. It was a ticklish experience to sit there motionless, so as not to destroy the balance of the round pole resting on my six coolies’ heads, and, fancy what a mess I and my papers would be in if one of the men made a mis-step; however, one travels to gain experience, so I lay on my back as still as possible. When in mid-stream I began to hear the sound of a familiar voice from the next palanquin, and presently H. P. B. began shouting at me that these men would surely upset her. I shouted back that it didn’t matter, as she was too fat to sink and I should fish her out. Then she began to use weighty objurgations at me, with occasional diversions at the coolies, who, not understanding a word, kept on their way as before. At last we reached the opposite shore and my colleague rested herself by getting out and walking about, and, after a few cigarettes, had forgotten her recent troubles.

Đoàn chúng tôi gồm bốn kiệu và một jampan, cộng thêm phu khuân vác hành lý, tổng số phu là năm mươi ba người. Chẳng bao lâu chúng tôi tới một chỗ cạn phải lội qua sông, và màn trình diễn khiến tôi cười khoái trá còn H. P. B. thì chửi thề. Nước sâu đến mức, để sàn kiệu khỏi ướt, những người khiêng phải cân bằng đòn khiêng dày trên đầu để nâng chúng tôi cao đủ mức. Trước khi lội nước, họ cởi trần, chỉ chừa chiếc langooti (khố). Họ dò dẫm cực kỳ cẩn thận và dùng gậy thăm dò, lội vào ngày càng sâu cho tới khi nước tới ngang nách. Tôi lịch sự đi đầu để H. P. B. biết nếu tôi có bị nước cuốn thì Bà còn quay lại. Ngồi bất động ở đó là một trải nghiệm khá chênh vênh, kẻo làm lệch đòn tròn đang đặt trên đầu sáu người phu của tôi, và thử tưởng xem tôi và giấy tờ của tôi sẽ ra sao nếu một người sẩy chân; tuy nhiên, đi là để trải nghiệm, thế nên tôi nằm ngửa im hết mức. Đến giữa dòng, tôi bắt đầu nghe tiếng quen quen từ chiếc kiệu bên cạnh, và chẳng mấy chốc H. P. B. đã quát tôi rằng đám người này sẽ làm đổ Bà mất. Tôi hét lại rằng chẳng sao, vì Bà mập quá không chìm đâu và tôi sẽ vớt Bà lên. Rồi Bà bắt đầu trút những lời mắng nhiếc nặng nề vào tôi, thỉnh thoảng quay sang đám phu, những người chẳng hiểu chữ nào, cứ thế đi như trước. Sau cùng chúng tôi lên bờ bên kia và Bà bạn tôi nghỉ ngơi bằng cách xuống đi bộ loanh quanh, và sau vài điếu thuốc lá, Bà đã quên hết phiền nhọc vừa rồi.

The journey was very tedious and hot, the thermometer standing at 98° F. in shade, and the coolies keeping up night and day, during the three days we were on the road, a monotonous refrain which at last became terribly trying to the nerves. Then at night they carried large torches made of a mop of cotton twist, saturated with cocoanut oil, which burnt with a cloud of smoke that almost choked us in the palanquins, and made a most villainous smell. They were carried at either side of each palanquin so that the coolies might see any snakes that might be coiled in the path, and as the wind blew across our path there was no escaping the smoke from the torch on the windward side, and when we had the chance to look at each other at the next halt we found that we and our clothes were smutted almost black. It was compensation enough, however, to see the jemadar, or head cooly, kill a big cobra on which the forward bearers would almost certainly have trodden but for the torch-light.

Chuyến đi rất mệt mỏi và nóng bức, nhiệt kế chỉ 98°F trong bóng râm, và đám phu suốt ba ngày đường chúng tôi lộ trình cứ giữ một điệp khúc đơn điệu ngày đêm, đến cuối cùng trở nên cực kỳ thử thách thần kinh. Rồi ban đêm họ cầm những bó đuốc lớn làm bằng bông xe tẩm dầu dừa, cháy phụt với một đám khói gần như làm chúng tôi trong kiệu nghẹt thở, và tỏa ra một mùi thật kinh khủng. Chúng được cầm hai bên mỗi kiệu để phu thấy bất kỳ con rắn nào cuộn trên lối đi, và khi gió thổi ngang đường, không cách gì tránh được làn khói từ ngọn đuốc phía đầu gió, và khi có dịp nhìn nhau ở điểm dừng kế tiếp, chúng tôi thấy mình và quần áo đã ám đen gần như đen nhẻm. Tuy vậy, được chứng kiến viên jemadar, tức phu trưởng, hạ sát một con hổ mang lớn—mà các phu khiêng phía trước hầu như chắc chắn đã giẫm phải nếu không nhờ ánh đuốc—cũng đáng để bù lại.

Guntur was reached at sunset on the third day, and we were plunged at once into a scene of tumultuous welcome. The whole population, they told us, saving those too old, young, or infirm to be about at night, had come outside the town to meet us. They numbered thousands, and every one of them seemed determined to come close enough to have a good look at us. The result may be imagined: our progress was like forcing one’s way through a compact wall of flesh. We were first taken to a tent where we had refreshments and introductions to the notables of the place; but the crowd became so importunate that this business was cut short, and H. P. B. and I had to mount on chairs to show ourselves. Then a short speech had to be made, and only then were we put into some sort of conveyance—jampans, I believe—and moved on in the procession. The streets were jammed with people, from house to house, and we could only move at a snail’s pace. Limelights and Bengal colored fires blazed about us at every step, and it was really curious to watch the lighting up of H. P. B.’s massive head and shoulders with the different glares. As she preceded me I had a capital chance to observe the artistic effects. A more truly popular ovation could not be imagined, for all the elements were there, including the continuous roar of cheering that ran along with us, a river of sound, all the way to our destination. Of torches there was no end, and Guntur was as light as by day. Two triumphal arches spanned the principal streets. Arrived at the house, we had to receive and reply to two addresses in English and two in Telugu, the tone of exaggerated compliment in all of them making us feel like a pair of fools, and putting me to a strain to find words to answer them with proper reserve. After this ordeal came more introductions, prolonged conversations, and the initiation of one candidate, who was obliged to leave town before morning.

Chúng tôi tới Guntur lúc hoàng hôn ngày thứ ba, và lập tức chìm vào một cảnh tượng đón chào náo nhiệt. Họ bảo toàn dân chúng, trừ những ai quá già, quá nhỏ, hoặc đau yếu không thể ra ngoài lúc tối trời, đã ra khỏi thị trấn để đón chúng tôi. Họ lên đến hàng nghìn, và dường như ai cũng quyết tâm chen vào đủ gần để nhìn cho rõ chúng tôi. Có thể hình dung kết quả: tiến lên chẳng khác nào cố xô qua một bức tường bằng thịt đặc cứng. Thoạt đầu chúng tôi được đưa vào một cái lều, nơi có đồ giải khát và giới thiệu với các vị danh tiếng của địa phương; nhưng đám đông trở nên quá nôn nóng nên công việc này phải cắt ngắn, và tôi cùng H. P. B. phải đứng lên ghế cho mọi người thấy mặt. Rồi phải nói vài lời ngắn, và chỉ lúc đó chúng tôi mới được đặt lên một dạng xe nào đó—tôi nhớ là jampan—và đi tiếp trong đoàn rước. Đường phố ken cứng người, từ nhà này sang nhà kia, và chúng tôi chỉ có thể nhích từng chút. Đèn limelight và pháo màu kiểu Bengal rực cháy xung quanh chúng tôi từng bước một, và thật là lạ khi nhìn đầu và vai đồ sộ của H. P. B. thay đổi sắc thái dưới những thứ ánh sáng khác nhau. Vì Bà đi trước tôi nên tôi có dịp tuyệt vời để quan sát hiệu quả nghệ thuật. Một cuộc đón mừng thực sự quần chúng hơn thế không thể tưởng, vì mọi yếu tố đều đủ, kể cả tiếng hoan hô rền rền chạy theo chúng tôi như một dòng sông âm thanh suốt dọc đường đến nơi đến chốn. Đuốc thì vô kể, và Guntur sáng như ban ngày. Hai chiếc khải hoàn môn bắc ngang những đường phố chính. Tới nhà rồi, chúng tôi phải nhận và đáp hai bài diễn văn bằng tiếng Anh và hai bằng tiếng Telugu, giọng tán dương quá lời trong tất cả khiến chúng tôi thấy mình như một đôi kẻ ngốc, còn tôi thì phải căng óc để tìm lời ứng đáp sao cho chừng mực. Sau “phép thử” ấy là thêm các màn giới thiệu, chuyện trò kéo dài, và làm lễ nhập hội cho một ứng viên buộc phải rời thị trấn trước sáng.

The next day’s lecture was on “The Soul: Arguments of Science in Favor of its Existence and Transmigrations”; the subject having been given me because of the prevailing tone of scepticism among the educated young men of the place. The chief of the local Lutheran Mission, Rev. L. L. Uhl, and a number of his friends were present and took notes. If I recollect aright I stated in my discourse that the hold of theological Christianity on the educated minds of the West was weakening and a decided reaction had set in: a wave of free-thought was sweeping over Europe and America. My reverend friend gave notice that he should answer me at his chapel on the next morning, and invited me and my friends to be present. We went, and, were much disappointed; his discourse being of a character which I noted as “weak and sloppy,” in my Diary. As his manner towards me was, friendly, I proposed that we should issue a joint pamphlet on the pro and con of Christianity, which he agreed to. I promised to send him my MS. “as soon as I could find the time to prepare it”; being careful to tell Mr. Uhl that my attention was so constantly demanded by current official business that I could not promise to be ready at any specified date. In point of fact Mr. Uhl, after waiting for me a long while—perhaps eighteen months or two years—brought out his side of the argument in a separate pamphlet, which was widely circulated by him as a campaign document, so to call it, and proof of my inability to make good my assertions. The fact is, however, that within six months from the time of the agreement I had gathered together and sent on to the President of the Guntur T. S., a large batch of cuttings and notes suitable for the purpose, and requested him to make up from them the pamphlet and send it to me for revision, as I was absolutely unable to give the needed time to the affair. I also wrote Mr. Uhl about my difficulties. But my friend waited upon other friends, and they individually and collectively did nothing, and at last, after Mr. Uhl’s blast had been blown, I got back my bundle of notes; and threw it into a waste-paper basket, and so dropped the matter; it being cheaper to leave my reverend critic to enjoy his triumph than to attempt the impossible of writing my pamphlet, when I had much more important and congenial matters to attend to. By the time that his treatise appeared, I had organized seventy new Branches of the Society, and travelled over all India and Ceylon.

Bài giảng hôm sau là về “Linh hồn: Các luận cứ của Khoa học ủng hộ sự tồn tại và những lần chuyển kiếp của nó”; đề tài được giao cho tôi vì khuynh hướng hoài nghi đang thịnh hành trong tầng lớp thanh niên có học của địa phương. Người đứng đầu Hội Truyền giáo Luther tại địa phương, Mục sư L. L. Uhl, và một số bạn hữu của ông có mặt và ghi chép. Nếu tôi nhớ không lầm, tôi đã nêu trong bài diễn văn rằng ảnh hưởng của thần học Cơ Đốc giáo lên tầng lớp trí thức ở phương Tây đang suy yếu và một cuộc phản ứng rõ rệt đã khởi phát: một làn sóng tư tưởng tự do đang quét khắp châu Âu và châu Mỹ. Vị mục sư thân hữu của tôi báo trước rằng ông sẽ trả lời tôi tại nhà nguyện của ông vào sáng hôm sau, và mời tôi cùng bạn bè tới dự. Chúng tôi đi, và thất vọng không ít; bài giảng của ông có tính chất mà tôi ghi trong Nhật ký là “yếu và loãng”. Vì đối đãi với tôi của ông thân thiện, tôi đề nghị chúng tôi sẽ xuất bản một tập sách mỏng chung về ủng hộ và phản bác Cơ Đốc giáo, và ông đồng ý. Tôi hứa sẽ gửi cho ông bản thảo “ngay khi có thời gian để soạn”; cẩn thận nói rõ với Ông Uhl rằng sự chú ý của tôi bị công việc thường nhật chi phối liên tục nên tôi không thể hứa sẽ sẵn sàng vào ngày cụ thể nào. Thực tế là, sau khi chờ tôi khá lâu—có lẽ mười tám tháng hay hai năm—Ông Uhl đã cho ra phần lập luận của ông trong một tập sách mỏng riêng, được ông phát hành rộng rãi như một tài liệu vận động, tạm gọi là thế, và làm bằng chứng cho sự bất lực của tôi trong chuyện minh chứng các luận điểm. Tuy nhiên, sự thật là trong vòng sáu tháng kể từ khi thỏa thuận, tôi đã gom góp và gửi cho Chủ tịch Hội T. S. Guntur một xấp lớn bài cắt báo và ghi chú thích hợp cho mục đích, và đề nghị ông ấy biên soạn từ đó tập sách mỏng rồi gửi tôi duyệt lại, vì tôi hoàn toàn không thể dành thời giờ cần thiết cho việc này. Tôi cũng đã viết cho Ông Uhl nói về những khó khăn của mình. Nhưng bạn tôi lại trông vào các bạn khác, và họ—cá nhân lẫn tập thể—đã chẳng làm gì, và cuối cùng, sau khi “cơn gió” của Ông Uhl đã thổi qua, tôi nhận lại bó ghi chép của mình; và quẳng vào sọt giấy vụn, thế là thôi, vì để vị mục sư khả kính của tôi hưởng chiến thắng thì rẻ hơn là cố làm điều không thể—viết cuốn sách mỏng của tôi—trong khi tôi còn những việc thiết yếu và hợp ý hơn nhiều phải lo. Đến khi luận thuyết của ông xuất hiện, tôi đã tổ chức thêm bảy mươi Chi bộ mới của Hội, và đi khắp Ấn Độ và Tích Lan.

On the day of our departure from Guntur, H. P. B. and I enjoyed our first experience with one of those marvels of mental training, a Brahmin Ashtavadhani. There exist in India many men who have, by a course of training during many years, cultivated the memory to a degree incredible to those who have not witnessed their feats personally. Some can keep up fifty, and even more, separate mental processes simultaneously; in comparison with which phenomena the most marvellous stories about our Western chess-players seem commonplace. The proceeding is as follows: As many persons as are to take part in the test, seat themselves nearby, and the Pandit begins with the first on the right. Let us say, with a game of chess.

Vào ngày chúng tôi rời Guntur, tôi và H. P. B. lần đầu được trải nghiệm một trong những điều kỳ diệu của luyện trí, một Pandit Bà-la-môn Ashtavadhani. Ở Ấn Độ có nhiều người nhờ quá trình rèn luyện suốt nhiều năm đã trau dồi trí nhớ đến mức khó tin đối với ai chưa tận mắt chứng kiến. Có người có thể duy trì năm mươi, thậm chí nhiều hơn, tiến trình tâm trí riêng biệt đồng thời; so với những hiện tượng ấy, các câu chuyện kỳ diệu nhất về những người chơi cờ phương Tây của chúng ta trở nên tầm thường. Trình tự như sau: Có bao nhiêu người dự cuộc thử thì ngồi cạnh nhau, và Pandit bắt đầu với người đầu tiên bên tay phải. Giả sử là một ván cờ.

He names the first move, looks a minute at the board, and moves on to the next man, with whom, perhaps, he plays some other game. Here, again, he names his play and passes to the third man, for whom he may be asked to compose an original poem in Sanskrit on a given subject, the initial or terminal letter of each line to be one selected by the other person. He ponders deeply and then dictates a line fulfilling the conditions. From the next man he is to take, word by word, and the words out of their order at the choice of the dictator, a verse in any language whatsoever, known or unknown to the Pandit, he receiving one word at a time, repeating it until the sound becomes familiar to his ear, and laying it away in his memory until, the sitting finished, he must repeat the whole verse with each word restored to its proper sequence. The next man, perhaps, taps on a bell as many times as he chooses, and the Pandit is to recollect the whole and name the total when he makes his last round of the circle. Then may come the making of a “magic square” of figures in so many columns, each column and each cross line to figure up the same. Then, with the next man, a dispute on anyone proposition in either of the six schools of Hindu Philosophy, the argument and demonstration to proceed by stages as he comes around to that person. Then the next neighbor may give him a gigantic sum in multiplication or division or some other part of arithmetic, say a sum in which multiplier and multiplicant shall each be of a dozen figures. And so on to a most bewildering extent, until one just sits amazed and wondering if the human brain is capable of such multiplex activity. On the occasion in question H. P. B. dictated to our Pandit the celebrated Russian poem on the Volga, and I, several sentences in Spanish which I learned when a boy, but he rendered them accurately at the close of the entertainment, every word in its place. At 10 that evening we started in our palanquins on our return journey.

Ông xướng nước đi đầu, nhìn bàn một lúc rồi chuyển sang người kế tiếp, với người này có lẽ ông chơi một trò khác. Ở đây, ông lại xướng nước đi và chuyển sang người thứ ba, người này có thể yêu cầu ông ứng tác một bài thơ Sanskrit về một chủ đề cho trước, chữ đầu hay chữ cuối mỗi câu do người kia chọn. Ông lặng nghĩ rồi đọc một câu thỏa điều kiện. Đến người kế nữa ông phải nhận, từng từ một, và các từ ở trật tự tùy người ra đề quyết định, một bài thơ ở bất cứ ngôn ngữ nào, dù Pandit có biết hay không biết ngôn ngữ đó, ông nhận một từ mỗi lần, lặp lại cho đến khi âm thanh quen tai, và cất nó vào trí nhớ cho đến khi kết thúc buổi ngồi, lúc ấy ông phải đọc lại cả bài với mỗi từ về đúng vị trí. Người tiếp theo có thể gõ chuông bao nhiêu tiếng tùy ý, và Pandit phải ghi nhớ cả thảy và nêu tổng số khi ông thực hiện vòng cuối. Rồi có thể đến việc làm một “hình vuông ma thuật” bằng các con số trong nhiều cột, sao cho mỗi cột và mỗi hàng chéo đều có tổng như nhau. Rồi, với người bên cạnh nữa, tranh luận một mệnh đề bất kỳ trong một trong sáu trường phái Triết học Ấn Độ, lý luận và chứng minh tiến hành theo từng chặng khi ông quay lại với người đó. Rồi người hàng xóm kế tiếp có thể cho ông một bài toán khổng lồ về nhân hay chia hoặc một phần nào khác của số học, giả dụ một phép nhân mà cả số nhân lẫn số bị nhân đều mỗi số có mười hai chữ số. Và cứ thế tới mức độ khiến đầu óc quay cuồng, cho đến khi người ta chỉ còn ngồi mà sửng sốt và tự hỏi bộ não người có khả năng hoạt động đa tạp đến vậy chăng. Trong dịp này, H. P. B. đọc cho Pandit của chúng tôi bài thơ Nga lừng danh về sông Volga, còn tôi thì đọc vài câu tiếng Tây Ban Nha mà tôi học hồi thiếu thời, và đến cuối buổi biểu diễn, ông đã đọc lại chính xác, từng chữ ở đúng chỗ. Lúc 10 giờ tối hôm ấy chúng tôi lên đường bằng kiệu quay trở lại.

By morning we had covered thirty-one miles, with three changes of bearers, coming to the small village of Baput, where our baggage-coolies should have met us, but as they did not turn up until 7 p.m., we had to pass the day as best we could, and did not move on until 8-30 p.m. That night we made a stretch of twenty-three miles, which brought us to Padaganjam and the Canal. A very esteemed friend, the late Mr. Ramaswamy Naidu, Assistant Salt Inspector, had sent his servants to get ready for us a comfortable house, in which we spent the day waiting for his own house-boat, which was placed at our disposal. It arrived at 2 p.m., with our friends Messrs. P. Iyaloo Naidu and L. V. V. Naidu (“Doraswamy,” to his intimates), and we embarked at sunset.

Đến sáng chúng tôi đã đi được ba mươi mốt dặm, với ba lần thay phu, tới một làng nhỏ Baput, nơi lẽ ra phu khuân đồ của chúng tôi phải gặp, nhưng vì họ mãi 7 giờ tối mới tới, nên chúng tôi phải xoay sở qua ngày như có thể, và đến 8 giờ 30 tối mới đi tiếp. Đêm ấy chúng tôi đi thêm được hai mươi ba dặm nữa, đưa chúng tôi về tới Padaganjam và Kênh. Một người bạn rất đáng quý, cố Ông Ramaswamy Naidu, Trợ lý Thanh tra Muối, đã sai gia nhân đi trước chuẩn bị cho chúng tôi một ngôi nhà tiện nghi, nơi chúng tôi nghỉ trong ngày chờ chiếc nhà thuyền riêng của ông, được đặt cho chúng tôi sử dụng. Nó đến lúc 2 giờ chiều, có các bạn hữu chúng tôi là các Ông P. Iyaloo Naidu và L. V. V. Naidu (“Doraswamy” với thân hữu), và chúng tôi xuống thuyền lúc hoàng hôn.

The monsoon wind being now contrary, our boat had to be dragged by the coolies. Poor devils! they had a hard time of it, for the mercury stood at 109° in the shade the next day, and neither of us felt the energy to do any work; we could only sit idle and swelter. Fortunately for the coolies, we were kept waiting nearly all the day at Râmâpatnam for some candidates for membership and did not go on until midnight. Another fearfully hot day followed. At night we were detained several hours by the obstinate boatmen, who refused to cross an inlet of the sea until the end of the ebb. At 3 a.m. I went outside to see how things were getting on, and found the boat noiselessly moving through the water, the coolies pulling the line on the tow-path, and the serang (captain) steering and singing to himself a droning chant. At 6 we reached Mypaud, where Nellore friends awaited us with carriages, but as we were to return by land to Madras, it took time to get our luggage packed, and we did not start until 8 o’clock, by which time the heat was suffocating. The poor Yanadhis seemed fairly done up, and yet we reached Nellore by 11, thankful for the shelter of the stately house, with its thick walls, brick terraced roof and wide verandahs, that keep the rooms darkened and comparatively cool.

Gió mùa giờ thổi ngược nên thuyền phải do phu kéo. Tội nghiệp! họ khổ sở vô cùng, vì thủy ngân hôm sau chỉ 109° trong bóng râm, và cả hai chúng tôi đều không còn sức làm việc; chỉ có thể ngồi không mà đổ mồ hôi. May cho đám phu, chúng tôi phải chờ gần trọn ngày ở Râmâpatnam để đợi các ứng viên xin gia nhập, và đến nửa đêm mới đi tiếp. Lại một ngày nóng khủng khiếp. Ban đêm chúng tôi bị giữ lại nhiều giờ do bọn chèo thuyền ương ngạnh, không chịu băng qua một cửa biển cho đến khi con nước ròng tận. Lúc 3 giờ sáng tôi ra ngoài xem tình hình thế nào, thì thấy thuyền đang lặng lẽ lướt nước, phu kéo dây trên đường kéo, còn viên serang (thuyền trưởng) thì lái và tự hát một khúc ngân nga đều đều. Lúc 6 giờ chúng tôi tới Mypaud, nơi có các bạn Nellore chờ sẵn với xe cộ, nhưng vì chúng tôi sẽ quay về Madras bằng đường bộ, việc đóng gói hành lý mất thời gian, và đến 8 giờ chúng tôi mới khởi hành, khi đó nóng đã ngột ngạt. Đám Yanadhis tội nghiệp có vẻ kiệt sức hẳn, vậy mà 11 giờ chúng tôi đã tới Nellore, mừng rỡ trước bóng râm của ngôi nhà bề thế, với tường dày, mái gạch và những hiên rộng, giữ cho các phòng tối và tương đối mát.

A great Brahmin Pandit of the Vedantin school came to see us that evening, evidently with the sole object of showing up our ignorance; but in us two old campaigners, especially in H. P. B., with her wit and sarcasm, he got more than he bargained for, and in a couple of hours we were able to expose to the company present his intense selfishness, vanity, and bigoted prejudices. Our victory cost us something, however, for I see a Postscriptum note in my Diary that he subsequently showed himself “our active enemy”. Good luck to him and to all the noble army of our “enemies”; their hatred never did them the least good nor the Society the least harm. Our ship does not sail on the wind of favor.

Một vị Pandit Bà-la-môn lớn của phái Vedantin đến gặp chúng tôi tối hôm ấy, hiển nhiên chỉ nhằm phơi bày sự dốt nát của chúng tôi; nhưng với hai tay lão luyện trận mạc như chúng tôi, nhất là H. P. B., với duyên dí dỏm và mỉa mai, ông ta đã được hơn những gì mong muốn, và chỉ trong vài giờ chúng tôi có thể phơi bày trước cử tọa lòng vị kỷ mãnh liệt, sự tự phụ và thành kiến cố chấp của ông. Dẫu vậy, chiến thắng này cũng khiến chúng tôi trả giá, vì tôi thấy có dòng tái bút trong Nhật ký rằng sau đó ông ta đã tỏ ra là “kẻ thù tích cực” của chúng tôi. Chúc may cho ông ta và cho cả đạo quân “kẻ thù” cao quý của chúng tôi; lòng thù ghét của họ chưa từng đem lại cho họ lợi ích nhỏ nhất, cũng chẳng gây hại gì nhỏ nhất cho Hội. Con thuyền của chúng tôi không đi nhờ ngọn gió ưu ái.

Seventeen letters, three articles for the Theosophist, and the reading of a pile of exchanges kept me fairly busy the next day until evening, when I lectured on “Aryan Wisdom”. The next day was like it, and the next, until we—at 5 p.m.—took bullock carriages for Tiruppati, seventy-eight miles away, and the nearest station on the Madras Railway. In that scorching weather it was a hot and tedious journey, but it ended at last, and so did our waiting time of twelve hours for a train, and the train journey to Madras, which we reached in due course and were met and escorted by friends to our former bungalow.

Mười bảy lá thư, ba bài cho The Theosophist, và việc đọc một chồng ấn phẩm trao đổi đã giữ tôi bận rộn suốt ngày kế tiếp cho đến chiều tối, khi tôi thuyết giảng về “Minh triết Arya”. Ngày hôm sau cũng như vậy, và ngày kế nữa cũng thế, cho đến khi—lúc 5 giờ chiều—chúng tôi lên xe bò đi Tiruppati, cách bảy mươi tám dặm, là ga gần nhất trên tuyến Đường sắt Madras. Trong tiết trời như thiêu ấy, chuyến đi nóng bức và lê thê, nhưng rồi cũng kết thúc, thời gian chờ tàu mười hai giờ của chúng tôi cũng kết thúc, và hành trình tàu hỏa về Madras cũng xong xuôi, chúng tôi đến nơi theo đúng lịch và được bạn bè đón rước về lại bungalow cũ.

In my travels over India and Ceylon I had been observing places, people, and climates, with a view to selecting the best place for a permanent Headquarters for the Society. Liberal offers of houses, free of rent, had been made us in Ceylon, and, certainly, the Island presented a most charming appearance to one seeking an Asian home; but several considerations, such as its isolation from India, the cost of postage, and the backward intellectual state of the people as a whole, overweighed its loveliness and led us to choose India in preference. Up to the present time, however, no good property had been offered us, and we had made no definite plans. On 31st May, however, we two were begged by Judge Muttuswamy’s sons to go and look at a property that was to be had cheap. We were driven to Adyar, and at the first glance knew that our future home was found. The palatial building, its two riverside smaller bungalows, its brick-and-mortar stables, coach-house, godowns (store-rooms), and swimming-bath; its avenue of ancient mango and banyan trees, and its large plantation of casuarinas (one of the cone-bearing trees) made up an enchanting country residence, while the price asked—Rs. 9,000 odd, or about £600—was so modest, in fact, merely nominal, as to make the project of its purchase seem feasible even for us. We accordingly decided to take it, and in due course this was effected by the noble help of P. Iyaloo Naidu and Judge Muttuswamy Chetty, the first of whom advanced part of the money and the other secured a loan of the rest, on very easy terms. An appeal was at once issued for subscriptions, and within the next year I had the satisfaction of being able to pay it all off, and receive the title-deeds. The cheapness of the price is accounted for by the fact that the opening of the railway to the foot of the Nilgiri Hills brought the lovely sanitarium of Ootacamund within a day’s ride of Madras, caused the high officials to spend half the year there, and threw their grand Madras bungalows on a market without bidders. What I paid for “Huddlestone’s Gardens.” was about the price of the old materials if the buildings should be torn down. In fact, that was what was to have happened if we had not turned up as buyers just when we did. We stopped a week longer at Madras, during which I lectured twice, and more new members were admitted, and on the 6th of June we took train for Bombay. More than fifty friends, with flower gifts, saw us off, and prayed us to hasten our return to take up our permanent residence among them. At 11 a.m., on the 8th, we reached Bombay, and found many friends assembled to meet us and see us home. People glibly speak of Madras as “The Benighted Presidency”; and as being insufferably hot. The fact is, however that as regards climate I prefer it above the others, and as to Sanskrit Literature and Aryan Philosophy, it is the most enlightened of the Indian Presidencies; there are more learned Pandits in the villages, and the educated class, as a whole, have been less spoilt by Western education. In Bengal and Bombay there are more littterateurs of the class of Telang and Bhandarkar, but I cannot recall one equal to T. Subba Row, of Madras, in bright genius for grasping the spirit of the Ancient Wisdom. And his being at Madras was one of the causes of our fixing upon that Presidency town for our official residence. Although he is dead and gone, yet we have never regretted our choice, for Adyar is a sort of Paradise.

Trong các chuyến đi khắp Ấn Độ và Tích Lan, tôi đã quan sát địa điểm, con người và khí hậu, với mục đích lựa chọn nơi tốt nhất để đặt Trụ sở thường trú cho Hội. Những đề nghị rộng rãi cấp nhà miễn tiền thuê đã được đưa ra ở Tích Lan, và hẳn nhiên, hòn đảo này là cảnh sắc rất quyến rũ đối với người tìm một quê nhà Á Châu; nhưng vài điều cân nhắc như sự cách ly với Ấn Độ, cước bưu chính, và trình độ trí hóa chung của dân chúng còn lạc hậu, đã lấn át vẻ đẹp của nó và khiến chúng tôi chọn Ấn Độ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất động sản nào tốt được đề nghị cho chúng tôi, và chúng tôi chưa có kế hoạch dứt khoát. Song, vào ngày 31 tháng Năm, hai chúng tôi được các con trai Thẩm phán Muttuswamy khẩn cầu đến xem một bất động sản đang bán rẻ. Chúng tôi được chở đến Adyar, và ngay cái nhìn đầu tiên đã biết nơi ở tương lai của mình đã tìm thấy. Tòa nhà kiểu cung điện, hai bungalow nhỏ hơn bên bờ sông, chuồng ngựa xây gạch, nhà xe, kho (phòng chứa), và bể bơi; đại lộ cây xoài và cây đa cổ thụ, cùng một đồn điền phi lao lớn (một loài cây có nón), tất cả tạo nên một dinh thự thôn dã mê hoặc, trong khi giá chào—khoảng hơn 9.000 Rs., tức độ 600 bảng—thật quá khiêm nhường, thực chất chỉ là tượng trưng, khiến kế hoạch mua trở nên khả thi ngay cả với chúng tôi. Vì thế chúng tôi quyết định mua, và rồi việc này được thực hiện nhờ sự giúp đỡ cao cả của P. Iyaloo Naidu và Thẩm phán Muttuswamy Chetty, người thứ nhất ứng trước một phần tiền, người thứ hai vay phần còn lại với điều kiện rất dễ chịu. Một lời kêu gọi vận động quyên góp lập tức được phát ra, và trong năm tiếp theo tôi hân hạnh thanh toán xong cả thảy và nhận văn tự sở hữu. Giá rẻ được giải thích bởi thực tế là việc mở tuyến đường sắt đến chân dãy Nilgiri đưa nơi dưỡng bệnh tuyệt đẹp Ootacamund vào trong tầm một ngày đi từ Madras, khiến các quan chức cao cấp ở đó nửa năm, và dồn các bungalow lộng lẫy ở Madras vào một thị trường không người hỏi mua. Số tiền tôi trả cho “Huddlestone’s Gardens.” cỡ như giá vật liệu cũ nếu các tòa nhà bị phá đi. Quả thật, đó chính là điều sắp xảy ra nếu chúng tôi không xuất hiện đúng lúc với tư cách người mua. Chúng tôi ở lại Madras thêm một tuần, trong thời gian đó tôi thuyết giảng hai lần, và nhận thêm hội viên mới, và ngày 6 tháng Sáu chúng tôi lên tàu hỏa đi Bombay. Hơn năm mươi người bạn, mang theo hoa, ra tiễn và nài nỉ chúng tôi sớm trở lại để định cư thường trú giữa họ. Lúc 11 giờ trưa ngày mồng 8, chúng tôi tới Bombay và thấy nhiều bạn hữu tụ họp để đón và đưa chúng tôi về nhà. Người ta hay thuận miệng gọi Madras là “Phủ Thống đốc Tối tăm”; và là nơi nóng không chịu nổi. Nhưng thực ra, về khí hậu tôi vẫn thích nơi này hơn chỗ khác, và về Văn học Sanskrit và Triết học Arya, đây là Phủ Tổng trấn sáng suốt nhất của Ấn Độ; các Pandit uyên bác có nhiều ở các làng, và tầng lớp có học, nói chung, ít bị nền giáo dục phương Tây làm hư hỏng hơn. Ở Bengal và Bombay có nhiều văn sĩ cỡ như Telang và Bhandarkar, nhưng tôi không thể nhớ ra ai sánh với T. Subba Row, của Madras, về thiên tư sáng láng trong việc nắm được tinh thần của Minh Triết xưa. Và việc ông ở Madras là một trong những nguyên nhân khiến chúng tôi chọn thành phố thuộc Phủ Tổng trấn này làm nơi cư trú chính thức. Dẫu Ông đã khuất, chúng tôi vẫn chưa hề hối tiếc về lựa chọn của mình, vì Adyar là một kiểu Thiên Đường.

CHAPTER XXIV

BARODA TO CEYLON, AND THE HEALINGS OF SICK FOLK THERE -TỪ BARODA ĐẾN CEYLON, VÀ NHỮNG CA CHỮA LÀNH CHO NGƯỜI BỆNH Ở ĐÓ

ONE of the moral thunderstorms that pelted us in those days was the ill-natured attack that the Swâmi Dayânand Sarawasti made against us, in March, 1882, and I see by my Diary that my first work after our return to Bombay was the preparation of our defence. It appeared in the July Theosophist, as a Supplement of 18 pages, and I think it must have been tolerably convincing, since its facts have never been gainsaid by Swâmi or his followers. Among the proofs was the facsimile of his proxy paper, empowering me to cast his vote as a Council Member in its meetings. He had denied his membership in the Society, and averred that we had used his name as a Councillor without permission; stigmatizing our conduct as cunning and unprincipled! How many equally groundless charges, innuendoes, slanders, and literary attacks have been circulated against the Society and its managers, from its foundation down to the present time, and into what complete oblivion have they successively fallen!

Một trong những cơn giông bão đạo đức quật xuống chúng tôi thời ấy là cuộc công kích ác ý mà Swâmi Dayânand Sarawasti nhằm vào chúng tôi, vào tháng Ba năm 1882, và tôi thấy trong Nhật ký rằng việc đầu tiên của tôi sau khi trở về Bombay là soạn bản biện hộ. Nó xuất hiện trong số tháng Bảy của The Theosophist, dưới dạng một Phụ bản 18 trang, và tôi cho rằng nó hẳn đủ sức thuyết phục, vì các sự kiện nêu ra chưa từng bị Swâmi hay các đệ tử ông bác bỏ. Trong số các chứng cứ có bản sao chụp giấy ủy quyền của ông, trao cho tôi quyền bỏ phiếu thay ông với tư cách Ủy viên Hội đồng trong các phiên họp. Ông đã phủ nhận tư cách hội viên của mình trong Hội, và quả quyết rằng chúng tôi đã dùng tên ông làm Ủy viên Hội đồng mà không xin phép; bêu xấu hành vi của chúng tôi là mánh khóe và bất chấp nguyên tắc! Biết bao cáo buộc vô căn cứ tương tự, lời ám chỉ, lời phỉ báng và công kích trên mặt chữ đã được tung ra chống lại Hội và những người điều hành, từ ngày thành lập cho tới nay, và rồi tất cả lần lượt rơi vào quên lãng hoàn toàn!

In June, 1882, H.P.B. and I accepted an invitation to visit Baroda, the flourishing capital of H. H. the Gaikwar. Judge Gadgil, F.T.S., and other high officials (Durbaris is the name for them in all Native States) met us at the station, and took us to a bungalow adjoining the new and splendid palace of His Highness. We had as many visitors as usual on our tours, which means that our reception-room would be crowded with inquirers day and evening. The Gaikwar holding a Durbar that day I was invited to it, and later was held, in talk with His Highness about Theosophy for three hours or more. I had great hopes then that I should find in him our most sympathetic friend among the Indian Princes. He was young and very patriotic, which, in India, means that he should have an ardent love for his ancestral religion and be kind to all its friends. His private life was pure and his aims high; in strong contrast with those of most of his class, who are, as a rule, debauched by the infernal influences about their Courts. I had the more reason for my hope in his markedly kind and respectful manner towards myself, but we have been disappointed: his English tutor made him a bizarre sort of materialist, the cares of State have overworked him, and, while he talks much about Theosophy, he is Theosophical in neither his belief nor practice. At the same time, he is a man of great energy and ability, and his life has been pure throughout. His Dewan, or Prime Minister, at the time of our visit, was the Raja Sir T. Madhava Row, K.C.S.I., whose conspicuous ability as a statesman has been pointed out by the Times. He was a handsome man, of distinguished appearance and courtly manners, and a picturesque object to look at when dressed in his court costume. To us he was polite and genial, talked intelligently on philosophical questions, and asked from H. P. B. such phenomenal proofs of her alleged super-physical powers as would convince him of the soundness of the basis of our theories as to man’s duplex nature. He got nothing more than a few raps on tables and bell-sounds in the air, but his Naib, or Assistant Dewan did. This gentleman, since also dead, was one of those highly educated, intellectually gifted graduates of the Bombay University, who have made their shining marks in contemporary Indian History. Mr. Kirtane was the old friend and college-mate of Judge Gadgil, who earnestly wanted him to join our Society and help in forming a local Branch. But the former, while pious and rather inclined towards Mysticism, was as sceptical as his chief, Sir T., about the development in our times of the Yogic powers, and looked askance at us on account of our affirmative declarations. Sir T. Madhava Row was more statesman than scholar, and nothing of a Mystic; Mr. Kirtane was more of the second and third than of the first. So he got the proofs, withheld from the Dewan Sahib. It happened in this way, as I now recollect it. I had been out to see the Gaikwar, and on my return found Kirtane and Gadgil standing at the threshold of H. P. Bo’s open door, while she was in the middle of the room with her back towards us. Our two friends told me not to step inside, as Madame B. was doing a phenomenon and had just turned them out on the verandah where I found them. The next minute she came towards us, and, taking a sheet of paper from the table, told the gentleman to mark it for identification. Receiving it back, she said: “Now turn me in the direction of his residence.” They did so. She then laid the paper between her palms (held horizontally), remained quiet a moment, then held it towards us and went and sat down. Cries of amazement broke from the two Durbaris on seeing on the just before clean sheet of paper, a letter addressed to me in the handwriting and bearing the signature of the then British Resident at that Court. It was a most peculiar, small caligraphy, and the signature more like a tiny tangle of twine than a man’s name. They then told me their story. It seems that they were asking H. P. B. to explain the scientific rationale of the process of precipitating upon paper, cloth, or any other surface, a picture or writing, then invisible to the onlooker, and without the help of ink, paints, pencils, or other mechanical agents. She told them just what I have explained in my first volume of these OLD DIARY LEAVES, in connection with her New York precipitations of the Yogi’s and M. A. Oxon’s portraits, the writing of the latter, and other phenomena; she explained that inasmuch as the images of all objects and incidents are stored in the Astral Light, it did not require that she should have seen the person or known the writing, the image of which she wished to precipitate; she had only to be put on the trace and could find and see them for herself and then objectivate them. They urgently begged her to do the thing for them. “Well, then,” she finally said, “tell me the name of some man or woman most unfriendly to the Theosophical Society, one whom neither Olcott nor I could have ever known.” At once, they mentioned Mr.... the British Resident, who held us and our Society in especial hatred, who never missed the chance of saying unkind things of us, and who had prevented the Gaikwar from inviting H. P. B. and myself to his enthronement, as he had otherwise intended, on the suggestion of Judge Gadgil. They thought this a poser. That it was not, the sequel proved. I thought they would explode with laughter when they read the contents of the note. It was addressed to “My dear Colonel Olcott,” begged my pardon for the malicious things he had said against us, asked me to enter him as a subscriber to our “world renowned magazine, the Theosophist,” and said he wished to become a member of the Theosophical Society: it was signed “Yours sincerely” and with his name. She had never seen a line of the gentleman’s writing nor his signature, never met him in the flesh, and the note was precipitated on that sheet of paper, held between her hands, as she stood in the middle of the room, in broad daylight, with us three witnesses looking on.

Vào tháng Sáu năm 1882, H.P.B. và tôi nhận lời mời đến thăm Baroda, thủ phủ phồn thịnh của Đức Ông Gaikwar. Thẩm phán Gadgil, F.T.S., và các quan chức cao cấp khác (ở tất cả các Tiểu bang Bản xứ, họ được gọi chung là các Durbari) đón chúng tôi tại ga và đưa chúng tôi đến một bungalow sát kề cung điện mới nguy nga của Đức Ông. Chúng tôi có đông khách thăm viếng như thường lệ trong các chuyến đi, nghĩa là phòng tiếp khách chật kín người hỏi han cả ngày lẫn tối. Hôm ấy Gaikwar mở Durbar, tôi được mời dự, và sau đó tôi có cuộc đàm đạo với Đức Ông về Thông Thiên Học trong ba giờ hoặc hơn. Lúc bấy giờ tôi hy vọng lớn lao rằng tôi sẽ tìm thấy nơi Ngài một người bạn đồng cảm nhất trong số các Vương công Ấn Độ. Ngài còn trẻ và rất ái quốc, điều ấy, ở Ấn Độ, có nghĩa là Ngài phải có tình yêu nồng nhiệt đối với tôn giáo tổ tiên và tử tế với tất cả bạn hữu của tôn giáo ấy. Đời sống riêng của Ngài trong sạch và chí hướng cao thượng; khác hẳn với đa số những người đồng hạng, vốn nói chung đã sa đọa bởi những ảnh hưởng tệ hại quanh triều đình họ. Tôi càng có lý do hy vọng hơn do tác phong đối đãi rất mực tử tế và kính trọng của Ngài đối với bản thân tôi, nhưng rồi chúng tôi thất vọng: thầy dạy tiếng Anh đã biến Ngài thành một thứ duy vật kỳ quặc, việc nước khiến Ngài lao nhọc, và tuy Ngài nói nhiều về Thông Thiên Học, nhưng Ngài không theo Thông Thiên Học cả trong tin tưởng lẫn hành trì. Đồng thời, Ngài là người có nghị lực và tài năng lớn, và đời sống Ngài vẫn trọn vẹn trong sạch. Dewan, hay Thủ tướng, lúc chúng tôi thăm viếng, là Raja Sir T. Madhava Row, K.C.S.I., người có tài năng kiệt xuất với tư cách chính khách đã được tờ Times ghi nhận. Ông là người khôi ngô, phong thái lỗi lạc, lễ độ nơi triều đình, và là một hình ảnh ngoạn mục khi khoác triều phục. Với chúng tôi, ông lịch thiệp và hòa nhã, nói năng thông tuệ về các vấn đề triết học, và yêu cầu H. P. B. chứng tỏ những hiện tượng phi thường về các quyền năng siêu phàm được gán cho Bà, sao cho ông có thể bị thuyết phục về sự vững chắc của nền tảng cho các thuyết của chúng tôi về bản tính kép của con người. Ông không được gì hơn ngoài vài tiếng gõ bàn và tiếng chuông vang trong không khí, nhưng Naib của ông, hay Phó Dewan, thì được. Vị này, nay cũng đã qua đời, là một trong những cử nhân học thức cao và thiên tư xuất chúng của Đại học Bombay, những người đã để lại dấu ấn rực rỡ trong Lịch sử Ấn Độ đương thời. Ông Kirtane là bạn cũ và bạn học của Thẩm phán Gadgil, người hết lòng mong ông gia nhập Hội của chúng tôi và giúp lập một Chi bộ địa phương. Nhưng vị trước, tuy mộ đạo và hơi thiên về Thần bí học, lại hoài nghi như thủ trưởng của ông, Sir T., về sự phát triển các năng lực Du-già trong thời chúng ta, và nhìn chúng tôi bằng con mắt nghi ngại vì những lời khẳng định của chúng tôi. Sir T. Madhava Row thiên về chính trị hơn là học thuật, và không phải người Thần bí; còn ông Kirtane thì nghiêng nhiều về hai mặt sau hơn là mặt trước. Vì vậy ông đã được chứng cớ, điều lại bị giữ kín trước Dewan Sahib. Sự việc xảy ra như sau, theo tôi còn nhớ. Tôi vừa ra thăm Gaikwar, khi trở về thì thấy Kirtane và Gadgil đứng ngay ngưỡng cửa căn phòng mở của H. P. B., còn Bà thì đứng giữa phòng quay lưng lại phía chúng tôi. Hai người bạn nói tôi đừng bước vào, vì Bà đang làm một hiện tượng và vừa đuổi họ ra hành lang nơi tôi gặp họ. Phút sau, Bà bước về phía chúng tôi, và, lấy từ trên bàn một tờ giấy, bảo các ông đánh dấu nhận dạng. Nhận lại tờ giấy, Bà nói: “Giờ hãy quay tôi về hướng tư dinh của ông ta.” Họ làm theo. Bà liền đặt tờ giấy giữa hai lòng bàn tay (giữ ngang), đứng yên một lát, rồi đưa tờ giấy về phía chúng tôi và đi ngồi xuống. Hai vị Durbari kêu lên kinh ngạc khi thấy trên tờ giấy vừa trước còn sạch, xuất hiện một bức thư gửi cho tôi, viết bằng nét chữ và mang chữ ký của vị Khâm sứ Anh đương nhiệm tại triều đình ấy. Đó là một thứ chữ nhỏ rất đặc biệt, và chữ ký thì giống như một mớ sợi nhỏ rối beng hơn là một cái tên. Rồi họ kể cho tôi câu chuyện của họ. Có vẻ như họ đang yêu cầu H. P. B. giải thích cơ sở khoa học của quy trình ngưng tụ lên giấy, vải, hay bất kỳ bề mặt nào, một bức tranh hay dòng chữ, vốn vô hình đối với người đứng xem, và không dùng mực, sơn, bút chì, hay các phương tiện cơ giới khác. Bà nói với họ đúng như điều tôi đã trình bày trong tập đầu những trang OLD DIARY LEAVES, liên quan đến các hiện tượng ngưng tụ ở New York của Bà: các chân dung vị Yogi và của M. A. Oxon, bài viết của người sau, và các hiện tượng khác; Bà giải thích rằng bởi vì hình ảnh của mọi vật và mọi biến cố đều được lưu trữ trong Ánh sáng Cảm dục, nên không đòi hỏi Bà đã từng thấy người đó hay biết nét chữ mà Bà muốn ngưng tụ hình ảnh của nó; Bà chỉ cần được đặt vào manh mối và có thể tự tìm và thấy chúng, rồi khách thể hóa chúng. Họ khẩn khoản nài Bà làm điều ấy cho họ. Cuối cùng Bà nói: “Vậy thì, hãy nói cho tôi tên một người đàn ông hay đàn bà thù nghịch nhất với Hội Thông Thiên Học, một người mà Olcott lẫn tôi không thể nào đã từng biết.” Lập tức, họ nêu ông... vị Khâm sứ Anh, người đặc biệt căm ghét chúng tôi và Hội của chúng tôi, không bỏ lỡ cơ hội nào để nói những điều cay nghiệt về chúng tôi, và người đã ngăn Gaikwar mời H. P. B. và tôi dự lễ đăng quang của Ngài, vốn là ý định trước đó, theo gợi ý của Thẩm phán Gadgil. Họ nghĩ đây là câu đố hóc búa. Nhưng không phải, như kết cục đã chứng minh. Tôi tưởng họ sắp bật cười vỡ bụng khi đọc nội dung mảnh thư. Thư gửi cho “Đại tá Olcott thân mến của tôi,” xin lỗi tôi vì những lời độc địa ông ta từng nói chống lại chúng tôi, xin tôi ghi tên ông vào danh sách đặt mua “tạp chí lừng danh thế giới, The Theosophist,” và nói ông muốn trở thành hội viên Hội Thông Thiên Học: thư ký “Trân trọng” và ghi tên ông. Bà chưa bao giờ thấy một dòng chữ hay chữ ký của ông, chưa từng gặp ông bằng xương bằng thịt, và mảnh thư đã được ngưng tụ trên tờ giấy ấy, kẹp giữa hai tay Bà, khi Bà đứng giữa phòng, giữa ban ngày ban mặt, với ba chúng tôi làm chứng mắt thấy tai nghe.

I have seldom faced a more brilliant audience than that which listened to my first Baroda lecture on Theosophy. It was held in the gorgeous Marriage Hall where the members of the Royal Family of Baroda are wedded. The Gaikwar, his Prime Minister, and all the nobles and English-knowing officials of the State, together with the British Resident and staff, were present, and at the close the vote of thanks was moved by a Muslim Durbari, who became subsequently Dewan. His speech struck me as being a gem of pure English rhetoric and polished courtesy. It was at once instructive and amusing to listen to his compliments, for I happened to know that the speaker was a thorough infidel, who believed in no religion whatsoever, except that of “Get on,” had no faith in us, and his performance was a clever feat of carrying water on both shoulders simultaneously!

Hiếm khi tôi phải diễn thuyết trước một thính chúng rực rỡ hơn buổi thuyết trình đầu tiên của tôi tại Baroda về Thông Thiên Học. Buổi đó tổ chức trong Đại sảnh Hôn lễ lộng lẫy, nơi các thành viên Hoàng gia Baroda cử hành hôn phối. Gaikwar, Thủ tướng của Ngài, và tất cả quý tộc cùng các quan chức biết tiếng Anh của Tiểu bang, cùng với Khâm sứ Anh và bộ tham mưu, đều có mặt, và cuối buổi, lời cảm tạ được đề nghị bởi một vị Durbari Hồi giáo, người sau này trở thành Dewan. Bài diễn văn của ông khiến tôi thấy như một viên ngọc của thuật hùng biện tiếng Anh tinh khiết và lễ độ tao nhã. Vừa hữu ích vừa thú vị khi lắng nghe những lời tán dương của ông, vì tôi tình cờ biết diễn giả là một người hoàn toàn vô tín, chẳng tin một tôn giáo nào hết, ngoài tôn giáo “Tiến thân”, không tin chúng tôi, và màn trình diễn của ông là một cuộc khéo léo gánh nước bằng cả hai vai cùng lúc!

A second lecture on “Science and Hinduism” followed on the next day, at the same place, before the same resplendent audience. That evening we gained a very valuable colleague in Dr. Balchandra, Chief Medical Officer of Baroda, who is one of the most intellectual and best educated men of India. I think it was for his special benefit that H. P. B., that evening, read the contents of a telegram in its sealed envelope before it was opened. She also rang her atmospheric bells, and the next day complied with the Gaikwar’s request to make some table rappings for him, during the course of a long interview which he sought.

Bài diễn thuyết thứ hai về “Khoa học và Ấn Độ giáo” diễn ra vào ngày hôm sau, cùng nơi, trước cùng thính chúng huy hoàng. Tối ấy chúng tôi có được một cộng sự viên rất quý là Bác sĩ Balchandra, Chánh Y sĩ của Baroda, một trong những người trí tuệ nhất và học vấn bậc nhất Ấn Độ. Tôi nghĩ tối đó H. P. B. đã đọc nội dung một bức điện tín trong phong bì còn niêm trước khi mở ra là dành riêng cho lợi ích của ông. Bà cũng rung những chiếc chuông không-khí của mình, và hôm sau đáp lời thỉnh cầu của Gaikwar làm một số tiếng gõ bàn cho Ngài, trong suốt một buổi phỏng vấn dài mà Ngài chủ động xin.

From Baroda we went on to Wadhwan to see our friend the reigning Thakore Sahib. We then returned to Bombay, and divided work between us by my driving on the editorial matter for the next Theosophist, and her driving herself to the verge of apoplexy; for I see an entry of 28th June, that “H. P. B. is threatened with apoplexy, so my departure for Ceylon is again postponed”. She recovered her normal health in due time, having meanwhile passed through a fit of extreme irritability, in which she made things lively for all of us. I finally got away to sea on 15th July, and I leave the reader to imagine how charmed I must have been on the P. and O. steamer, when it is stated that the monsoon had burst a fortnight earlier, that the ship pitched and rolled like mad in the angry sea, and that she was so stuffed full of cargo that every cabin in the second class, save the three or four we occupied; was packed with sandalwood, onions, and licorice-wood, which mingled their various odors with that of the hot oil of the engine and the foul smell of damp cotton mattresses. I write that down as my worst episode of ocean travel.

Từ Baroda, chúng tôi đi tiếp đến Wadhwan thăm người bạn chúng tôi là Thakore Sahib đương trị. Rồi chúng tôi trở lại Bombay, và phân chia công việc: tôi gắng sức cho bài vở biên tập cho số tiếp theo của The Theosophist, còn Bà thì tự đẩy mình đến bờ vực chứng trúng phong; vì tôi thấy có ghi chép ngày 28 tháng Sáu rằng “H. P. B. có nguy cơ trúng phong, nên việc tôi đi Tích Lan lại hoãn nữa”. Bà kịp hồi phục sức khỏe bình thường đúng lúc, sau khi trải qua một cơn cáu gắt cực độ, trong đó Bà khiến mọi người chúng tôi đều phải náo động. Sau cùng tôi lên tàu ra khơi ngày 15 tháng Bảy, và xin để độc giả tưởng tượng tôi đã mê mẩn hân hoan thế nào trên chiếc tàu hơi nước của P. and O., khi được biết gió mùa đã ập đến sớm hai tuần, con tàu lắc lư chao đảo như điên trên biển động, và nó nhồi nhét hàng hóa đến mức mọi cabin hạng hai, trừ ba bốn cabin chúng tôi chiếm, đều chất đầy gỗ đàn hương, hành tây, và gỗ cam thảo, hòa trộn mùi hương đủ loại của chúng với mùi dầu máy nóng và mùi hôi của những nệm bông ẩm. Tôi ghi lại đó là đoạn tệ hại nhất trong hành trình biển của tôi.

I was returning to the Island, after a half-year’s absence, to go on with the Educational propaganda. My first impressions were most discouraging. It seemed as if all the life had left the Branches and members when I had sailed for Bombay, and only Rs. 100 of the unpaid subscriptions—some Rs. 13,000—had been collected. Of the Trust Fund money, Rs. 243 had been used for current expenses, and along with it Rs. 60 belonging to the Buddhist Catechism Fund. Paltry excuses were made, and I had to accept them as I could do no better. There was nothing left for it but to just go to work again, re-infuse life into everything, wipe out the story of the half-year’s idleness, and set the machinery in motion. So I began with the High Priest and Megittuwatte, and arranged for some lectures that the committee had asked me to give in Colombo. Then, at a Branch meeting, I explained the system of voluntary self-taxation adopted by many good Christians, by which sometimes ten per cent of their incomes is set aside for religious and charitable work; I had seen my father and other pious Christian gentlemen doing this as a matter of conscience. Then I read a memorandum in which I had it proved that what they, our Colombo martyrs, had given and spent for this Buddhist revival movement amounted to just 3/4ths of 1 per cent of their incomes: this was easy to do, as most of them were Government servants in receipt of fixed salaries. I left them to draw the plain inference for themselves.

Tôi trở lại Đảo, sau nửa năm vắng mặt, để tiếp tục vận động Giáo dục. Ấn tượng đầu tiên của tôi thật nản lòng. Có vẻ như mọi sinh khí đều rời bỏ các Chi bộ và hội viên khi tôi nhổ neo đi Bombay, và chỉ thu được Rs. 100 trong tổng số hội phí còn nợ—khoảng Rs. 13.000. Về tiền Quỹ Tín thác, Rs. 243 đã được dùng cho chi phí thường xuyên, và kèm theo đó là Rs. 60 thuộc Quỹ Sách Giáo Lý Phật giáo. Những lời biện hộ lặt vặt được đưa ra, và tôi buộc phải chấp nhận vì chẳng làm gì hơn được. Không còn cách nào ngoài bắt tay làm lại, thổi sinh khí trở lại mọi sự, xóa sạch câu chuyện nửa năm lười nhác, và cho guồng máy chạy lại. Thế là tôi bắt đầu với Tăng Thống và Megittuwatte, và sắp xếp vài buổi diễn thuyết mà ban ủy nhiệm yêu cầu tôi thực hiện ở Colombo. Rồi, tại một cuộc họp Chi bộ, tôi giải thích hệ thống tự nguyện tự đánh thuế mà nhiều tín đồ Cơ Đốc tốt lành áp dụng, theo đó đôi khi mười phần trăm thu nhập của họ được dành riêng cho công tác tôn giáo và từ thiện; tôi đã thấy cha tôi và các vị Cơ Đốc mộ đạo khác làm điều này như một vấn đề lương tâm. Sau đó tôi đọc một bản ghi nhớ trong đó tôi chứng minh rằng những gì họ, các “người tử đạo” Colombo của chúng ta, đã cho và đã chi cho phong trào phục hưng Phật giáo này chỉ vỏn vẹn bằng 3/4 của 1 phần trăm thu nhập của họ: điều này dễ làm, vì đa số họ là công chức nhận lương định ngạch. Tôi để họ tự rút ra kết luận hiển nhiên.

The town lectures were delivered, and on 27th July the Colombo T S. celebrated its anniversary with a dinner. Our Hall was decorated with flowers and green leaves and sprays, in the tasteful fashion in which the Sinhalese excel. On the end wall was a drawing of a white and black hand clasped, under the word “Brotherhood,” and on the other sides ran the following condensed statement of the Law of Karma: “The Past you cannot recall. The Present is yours. The Future will be what you make it.” The next day I went on to Galle to begin my tour in that province.

Các buổi diễn thuyết tại thị trấn đã được thực hiện, và ngày 27 tháng Bảy, Hội Colombo T. S. kỷ niệm ngày thành lập bằng một bữa tiệc. Hội trường của chúng tôi được trang hoàng bằng hoa, lá xanh và cành, theo lối trang trí tao nhã mà người Tích Lan rất giỏi. Trên bức tường đầu hồi là hình vẽ đôi bàn tay trắng và đen nắm chặt, phía dưới chữ “Huynh đệ”, và ở các vách bên là câu tóm lược sau của Định luật Nghiệp: “Quá khứ bạn không thể gọi về. Hiện tại là của bạn. Tương lai sẽ là điều bạn tạo nên.” Hôm sau tôi đi tiếp đến Galle khởi đầu chuyến đi thuyết giảng ở tỉnh ấy.

My first public discourse was at Dondera, the southernmost point of the Island. I passed my fiftieth birthday at Galle in literary work and in a mental retrospect of my past life, of which more than half had been devoted to work for the public. The knowledge that I should not see another semi-centennial anniversary only strengthened my determination to accomplish as much for Theosophy as possible in the years that might be available.

Bài diễn thuyết công khai đầu tiên của tôi diễn ra tại Dondera, mũi cực Nam của Đảo. Tôi đón sinh nhật thứ năm mươi tại Galle bằng công việc văn chương và một cuộc hồi tưởng trong trí về đời mình, hơn một nửa trong đó đã dành cho công việc vì công chúng. Biết rằng tôi sẽ không thấy một lễ kỷ niệm nửa thế kỷ nữa chỉ làm tăng thêm quyết tâm của tôi là làm được càng nhiều cho Thông Thiên Học càng tốt trong những năm còn có thể.

I shall not burden my record with notes of the various villages that were visited, nor of the sum subscribed to the Buddhist Fund. On 9th August, however, I lectured at Wijananda Vihara, where H. P. B. and I first publicly took Pansil and thus proclaimed ourselves Buddhists, in the year 1880. My neutrality with respect to differences of caste and sect made me welcome to all, and I passed from vihara to vihara, addressing now an audience of Willallas, now one of the Fisher caste, anon one of the great Cinnamon-peeler caste; each time collecting money for the common object. The meeting at Kelagana Junction was picturesque and radiant with the bright shades of green peculiar to tropical Ceylon. My platform was formed of large tables, and on it a small stand and three chairs, two of which were occupied by as many yellow-robed monks, the third by myself. It was under the thick shade of a bread-fruit tree. There had been a long procession with flags, banners, and tom-toms; bright-colored cloths were hung down the fronts of houses and across roads; and there were no end of cheers and shouting, but, as noted in my Diary, it was “much glory but little cash for the Fund”. The collection was only Rs. 42.77, and it is not surprising that I added in my note the word “Humbug”! It was much the same the next day, when only Rs. 50 were subscribed, and I summed up the experience in the words “Procession and flummery”. Things went on day by day with varying success, but everywhere plenty of goodwill and kindness. They are a loving people, the Sinhalese, and mean to do all they can according to their lights. I was in Colombo on 24th August, to attend the wedding of one of our best workers, with the sister of our first Sinhalese friend, J. R. De Silva. The ceremony was only the signing of the civil contract and exchange of pledges at the office of the Government Registrar of Marriages, the time having not yet come for our Buddhist Registrar and the modified ancient ceremony now used by him. Mr. De Silva’s house had been richly decorated in kalsomine by himself, and turned into a bower of greenery. We went in a procession of carriages to the Registrar’s office with the bridal couple, and escorted them back again to the bride’s house; then there were refreshments, and at 5 p.m. we all went by rail to their future residence, the village of Morutuwa. Here a walking procession was formed, with the newly-married couple in front, next to the band, the bride in her veil, white gown, and satin slippers. The whole village was alive; there were blue lights burning, rockets and Roman candles being let off, the Volunteers’ band discoursing excellent music. But when we approached the house there was a bridge to cross and the music ceased and the procession moved on in silence. It gave me the idea of a company of ghosts moving. without noise and lighted up by the moonlight. A fine supper was served in a long palm-thatched structure, specially erected, and there were toasts to everybody worth toasting, until half an hour before midnight, when we returned to town by special train. A conference with Sumangala Thero and Hiyeyentaduwe, his Assistant Principal of the College, about a number of new questions and answers that I had drafted for a new edition of the Buddhist Catechism, occupied the next day, and I then returned to Galle and my touring work.

Tôi sẽ không làm nặng nề bản ghi chép bằng các chi tiết về những làng mạc đã ghé thăm, cũng như về con số đóng góp cho Quỹ Phật giáo. Tuy nhiên, ngày 9 tháng Tám, tôi diễn thuyết tại tu viện Wijananda, nơi H. P. B. và tôi lần đầu công khai thọ Ngũ giới và tuyên bố mình là Phật tử, vào năm 1880. Lập trường trung lập của tôi đối với những khác biệt về giai cấp và tông phái khiến tôi được mọi nơi đón tiếp, và tôi đi từ tu viện này sang tu viện khác, khi thì diễn thuyết trước thính chúng Willallas, khi thì trước giai cấp Ngư dân, khi nữa là trước giai cấp Lột quế; mỗi lần đều quyên góp tiền cho mục đích chung. Buổi họp ở ngã ba Kelagana thật đẹp mắt và rạng rỡ với những sắc xanh tươi sáng đặc trưng của Tích Lan nhiệt đới. Bục diễn thuyết của tôi được ghép bằng những chiếc bàn lớn, trên đó là một bục nhỏ và ba chiếc ghế, hai ghế do hai vị tăng khoác y vàng ngồi, còn ghế thứ ba là của tôi. Tất cả nằm dưới bóng râm dày của một cây sa kê. Trước đó là một đoàn rước dài với cờ, biểu ngữ, và trống tom-tom; những tấm vải màu sặc sỡ được treo dọc mặt tiền nhà và băng qua đường; và những tràng reo hò không dứt, nhưng, như ghi trong Nhật ký của tôi, đó là “vinh quang nhiều mà tiền cho Quỹ thì ít”. Thu được chỉ có Rs. 42.77, không lạ khi tôi thêm vào ghi chú chữ “Lừa bịp”! Hôm sau cũng gần như thế, chỉ có Rs. 50 đóng góp, và tôi tổng kết kinh nghiệm bằng mấy chữ “Rước kiệu và lòe loẹt”. Công việc cứ thế tiếp diễn ngày qua ngày với mức độ thành công khác nhau, nhưng ở đâu cũng đầy thiện chí và lòng tốt. Người Tích Lan là một dân tộc giàu tình thương, và họ muốn làm tất cả trong khả năng theo hiểu biết của mình. Tôi có mặt tại Colombo ngày 24 tháng Tám, để dự lễ cưới của một trong những cộng sự viên giỏi nhất của chúng tôi, với chị gái của người bạn Tích Lan đầu tiên của chúng tôi, J. R. De Silva. Nghi lễ chỉ là ký khế ước dân sự và trao lời thệ tại văn phòng Viên chức Đăng ký Kết hôn của Chính phủ, thời điểm ấy chưa tới cho sự có mặt của Viên chức Đăng ký Phật giáo và nghi lễ cổ được cải biên hiện do ông phụ trách. Ngôi nhà của ông De Silva được chính tay ông trang trí bằng kalsomine rất đẹp, biến thành một lùm cây xanh mướt. Chúng tôi đi thành đoàn xe đến văn phòng Đăng ký với đôi tân lang tân nương, rồi hộ tống họ về lại nhà gái; sau đó dùng tiệc nhẹ, và lúc 5 giờ chiều tất cả chúng tôi đi tàu về nơi cư trú tương lai của họ, là làng Morutuwa. Tại đây một đoàn rước bộ được hình thành, với đôi tân hôn đi đầu, tiếp theo là ban nhạc, cô dâu đội khăn voan, áo trắng, giày sa-tanh. Cả làng náo nhiệt; đèn xanh rực sáng, hỏa tiễn và pháo hoa La Mã bắn vang, ban nhạc Dân quân tấu những khúc nhạc tuyệt hay. Nhưng khi đến gần nhà có một cây cầu phải băng qua, nhạc ngừng và đoàn rước tiến lên trong im lặng. Nó tạo cho tôi ấn tượng như một đoàn hồn ma di chuyển, không tiếng động và được ánh trăng soi rọi. Một bữa tối thịnh soạn được dọn trong một mái lá cọ dài, dựng riêng, và có lời chúc tụng dành cho mọi người đáng chúc, kéo dài đến nửa giờ trước nửa đêm, khi chúng tôi trở về thành phố bằng chuyến tàu đặc biệt. Một cuộc hội kiến với Ngài Sumangala và Hiyeyentaduwe, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng của Ngài, về một loạt câu hỏi và trả lời mới mà tôi đã soạn cho ấn bản mới của Sách Giáo Lý Phật giáo, chiếm trọn ngày hôm sau, và rồi tôi trở lại Galle tiếp tục chuyến diễn thuyết.

An incident occurred on the 29th of August, at China Garden, a quarter of Galle, which has become in Ceylon historic. After my lecture, the subscription paper was laid out on a table and the people came up in turn to subscribe. A man named Cornelis Appu was introduced to me by Mr. Jayasakere, the Branch President, and he subscribed the sum of half a rupee, apologizing for the pettines of the amount because of his having been totally paralyzed in one arm and partially in one leg for eight years, and therefore unable to earn his livelihood by his trade. Now at Colombo, on my arrival from Bombay, the High Priest had told me that the Roman Catholics had made their arrangements to convert the house-well of a Catholic, near Kelanie, into a healing-shrine, after the fashion of Lourdes. One man was reported to have been miraculously cured already, but on investigation it proved a humbug. I told the High Priest that this was a serious matter and he should attend to it. If the hypnotic suggestion once got started, there would soon be real cures and there might be a rush of ignorant Buddhists into Catholicism. “What can J do?” he said. “Well, you must set to work, you or some other well-known monk, and cure people in the name of Lord Buddha.” “But we can’t do it; we know nothing about those things,” he replied. “Nevertheless it must be done,” I said. When this half-paralyzed man of Galle was speaking of his ailment, something seemed to say to me: “Here’s your chance for the holy well!” I had known all about Mesmerism and Mesmeric Healing for thirty years, though I had never practised them, save to make a few necessary experiments at the beginning, but now, moved by a feeling of sympathy (without which the healer has no healing power to radically cure), I made some passes over his arm, and said I hoped he might feel the better for it. He then left. That evening I was chatting with my Galle colleagues at my quarters on the seashore, when the paralytic hobbled in and excused his interruption by saying that he felt so much better that he had come to thank me. This unexpected good news encouraged me to go farther, so I treated his arm for a quarter of an hour and bade him return in the morning. I should mention here that nobody in Ceylon knew that I possessed or had ever exercised the power of healing the sick, nor, I fancy, that anybody had it, so the theory of hypnotic suggestion, or collective hallucination, will scarcely hold in this case—certainly not at this stage of it.

Một sự kiện xảy ra ngày 29 tháng Tám, tại China Garden, một khu của Galle, đã trở thành điều lịch sử ở Tích Lan. Sau bài diễn thuyết của tôi, tờ quyên góp được đặt trên bàn và người ta lần lượt lên ký góp. Một người tên Cornelis Appu được ông Jayasakere, Hội trưởng Chi bộ, giới thiệu với tôi, và ông góp nửa rupee, xin lỗi vì số tiền ít ỏi do ông bị bại liệt hoàn toàn một tay và bán thân một chân suốt tám năm, nên không thể mưu sinh bằng nghề nghiệp. Lúc ở Colombo, khi tôi từ Bombay về, Tăng Thống đã nói với tôi rằng người Công giáo La Mã đã định biến giếng nhà của một tín đồ Công giáo, gần Kelanie, thành một thánh địa chữa bệnh, theo kiểu Lourdes. Có tin báo rằng một người đã được chữa lành một cách kỳ diệu, nhưng điều tra ra thì là trò lừa. Tôi nói với Tăng Thống đây là chuyện nghiêm trọng và Ngài phải xử lý. Nếu ám thị thôi miên một khi đã khởi phát, sẽ sớm có những ca chữa lành thực sự và có thể sẽ có một làn sóng Phật tử nhẹ dạ đổ vào Công giáo. “Tôi có thể làm gì?” Ngài nói. “Ngài phải bắt tay vào, Ngài hoặc một vị tăng có tiếng nào khác, và chữa bệnh nhân nhân danh Đức Phật.” “Nhưng chúng tôi không thể; chúng tôi chẳng biết gì về những điều ấy,” Ngài đáp. “Dẫu sao thì vẫn phải làm,” tôi nói. Khi người đàn ông bán thân bất toại ở Galle này nói về căn bệnh, dường như có tiếng nói với tôi: “Đây là cơ hội của anh cho vụ giếng thiêng!” Tôi đã hiểu biết về Thôi miên Mesmer và Trị liệu Mesmer suốt ba mươi năm, dù tôi chưa bao giờ hành nghề, trừ vài thí nghiệm cần thiết lúc khởi đầu, nhưng lúc này, vì động lòng trắc ẩn (nếu không có nó, người chữa lành chẳng có năng lực chữa triệt để), tôi thực hiện vài đường vuốt từ lực trên cánh tay ông, và nói tôi hy vọng ông sẽ thấy khá hơn. Ông rồi ra về. Tối hôm đó tôi đang chuyện trò với các đồng nghiệp ở Galle tại chỗ ở bên bờ biển, thì người bại liệt tập tễnh bước vào và xin lỗi vì sự quấy rầy, nói rằng ông cảm thấy đỡ nhiều quá nên đến cảm ơn tôi. Tin vui bất ngờ này khích lệ tôi tiến xa hơn, vì vậy tôi trị liệu cho cánh tay ông mười lăm phút và bảo ông sáng mai quay lại. Tôi nên nói thêm rằng ở Tích Lan không ai biết tôi có hay từng thực hành năng lực chữa bệnh, cũng như, tôi đoán, chẳng ai tin là có người sở hữu khả năng ấy, nên thuyết ám thị thôi miên hay ảo giác tập thể hầu như không đứng vững trong trường hợp này—ít nhất là ở giai đoạn này.

He came in the morning, eager to worship me as something superhuman, so much better did he feel. I treated him again, and the next day and the next; reaching the point on the fourth day where he could whirl his bad arm around his head, open and shut his hand, and clutch and handle objects as well as ever. Within the next four days he was able to sign his name with the cured hand, to a statement of his case, for publication; this being the first time in nine years that he had held a pen. I had also been treating his side and leg, and in a day or two more he could jump with both feet, hop on the paralyzed one, kick equally high against the wall with both, and run freely. As a match to loose straw, the news spread throughout the town and district. Cornelis brought a paralyzed friend, whom I cured; then others came, by twos and threes first, then by dozens, and within a week or so my house was besieged by sick persons from dawn until late at night, all clamoring for the laying on of my hands. They grew so importunate at last that I was at my wits’ end how to dispose of them. Of course, with the rapid growth of confidence in myself, my magnetic power multiplied itself enormously, and what I had needed days to accomplish with a patient, at the commencement, could now be done within a half hour. A most disagreeable feature of the business was the selfish inconsiderateness of the crowd. They would besiege me in my bedroom before I was dressed, dog my every step, give me no time for meals, and keep pressing me, no matter how tired and exhausted I might be. I have worked at them steadily four or five hours, until I felt I had nothing more in me, then left them for a half hour while I bathed in the salt water of the harbor, just back of the house, felt currents of fresh vitality entering and re-enforcing my body, gone back and resumed the healing, until, by the middle of the afternoon, I had had enough of it, and then had actually to drive the crowd out of the house. My rooms were on the upper storey—one flight up—and most of the bad cases had to be carried up by friends and laid at my feet. I have had them completely paralyzed, with their arms and legs contracted so that the man or woman was more like the gnarled root of a tree than anything else; and it happened sometimes that, after one or two treatments of a half hour each, I made those people straighten out their limbs and walk about. One side of the broad verandah that ran around the whole house, I christened “the cripples’ race-course,” for I used to mate two or three of those whose cases had been worst, and compel them to run against each other the length of that side. They and the crowd of onlookers used to laugh at this joke, and wonder at the same time, but I had a purpose in it, which was to impart to them the same unflinching confidence in the effectiveness of the remedy that I felt, so that their cures might be radical. Quite recently, while in Ceylon, on my way to London, I met one of my bad patients of those days, whom I had cured of complete paralysis, and asked him to tell those present what I had done for him. He said that he had been confined to his bed for months in a perfectly helpless state, his arms and legs paralyzed and useless. He had been carried upstairs to me. I had treated him a half hour the first day, and fifteen or twenty minutes the next. I had cured him so effectually that in the intervening fourteen years he had had no return of his malady. Fancy the pleasure it must have been to me to have relieved so much suffering, and in many cases to have restored the invalids to all the enjoyments of good health and all the activities of life.

Sáng hôm sau ông đến, nôn nóng muốn sùng bái tôi như một người siêu phàm, vì ông cảm thấy khỏe ra nhiều. Tôi lại trị liệu cho ông, rồi hôm sau và hôm sau nữa; đến ngày thứ tư thì ông có thể quay vung cánh tay bệnh quanh đầu, mở và nắm tay, nắm và cầm nắm đồ vật tốt như thường. Trong bốn ngày kế tiếp ông có thể ký tên bằng tay đã được chữa, vào một bản tường trình bệnh trạng để đăng báo; đây là lần đầu tiên trong chín năm ông cầm bút. Tôi cũng đã trị liệu phần hông và chân của ông, và chỉ một hai ngày nữa ông đã có thể nhảy bằng cả hai chân, nhảy lò cò trên chân từng bị liệt, đá chân lên tường cao ngang nhau bằng cả hai chân, và chạy tự do. Như lửa bén rơm khô, tin tức lan khắp thị trấn và cả vùng. Cornelis đưa đến một người bạn bị bại liệt, tôi chữa khỏi; rồi những người khác đến, đầu tiên từng đôi từng ba, rồi theo chục, và chỉ trong một tuần hay hơn, nhà tôi bị vây kín bởi người bệnh từ sáng tinh mơ đến khuya, tất cả nài nỉ được tôi đặt tay chữa trị. Họ trở nên nài ép đến mức cùng cực khiến tôi khổ tâm tìm cách giải quyết. Dĩ nhiên, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng niềm tin nơi tôi, từ lực của tôi tăng lên gấp bội, và những gì ban đầu tôi cần nhiều ngày để thực hiện với một bệnh nhân, thì nay có thể làm trong nửa giờ. Một nét rất khó chịu của công việc là sự ích kỷ thiếu quan tâm của đám đông. Họ vây lấy tôi ngay trong phòng ngủ trước khi tôi mặc xong áo quần, bám theo từng bước, không để tôi có thời giờ dùng bữa, và cứ nài nỉ tôi bất kể tôi mệt mỏi kiệt sức ra sao. Tôi đã làm việc với họ liên tục bốn hay năm giờ, cho đến khi cảm thấy trong mình chẳng còn gì để cho, rồi rời họ nửa giờ để tắm trong làn nước mặn của bến cảng sau nhà, cảm nhận những dòng sinh lực mới tràn vào và tăng cường cho cơ thể, quay lại tiếp tục chữa bệnh, cho đến giữa buổi chiều thì tôi chịu hết nổi, và rồi phải thực sự xua đám đông ra khỏi nhà. Phòng tôi ở tầng trên—lên một tầng—và đa số ca nặng phải được bạn bè khiêng lên và đặt dưới chân tôi. Tôi từng thấy họ hoàn toàn bại liệt, tay chân co rút, khiến người đàn ông hay đàn bà trông giống như rễ cây xoắn xít hơn là bất cứ thứ gì khác; và đôi khi, sau một hai lần trị liệu, mỗi lần nửa giờ, tôi khiến những người ấy duỗi thẳng tay chân và đi lại. Một phía của hành lang rộng chạy quanh cả căn nhà, tôi đặt tên là “đường đua của những người tàn tật”, vì tôi thường ghép đôi hay ba người từng bị nặng nhất với nhau và bắt họ chạy thi dọc theo phía ấy. Họ và đám đông đứng xem vừa cười với trò đùa này, vừa lấy làm lạ, nhưng tôi có chủ đích: truyền sang họ cùng ý chí tin chắc không nao núng vào hiệu lực của phương thuốc như tôi cảm thấy, để việc chữa lành được tận gốc. Gần đây thôi, khi ở Tích Lan, trên đường đi London, tôi gặp lại một trong số bệnh nhân nặng của những ngày ấy, người tôi từng chữa khỏi liệt hoàn toàn, và yêu cầu ông kể cho những người có mặt nghe tôi đã làm gì cho ông. Ông nói rằng mình đã nằm liệt giường nhiều tháng trong tình trạng hoàn toàn bất lực, tay chân tê liệt và vô dụng. Ông đã được người ta khiêng lên lầu đến với tôi. Tôi trị liệu cho ông nửa giờ ngày đầu, và mười lăm hay hai mươi phút ngày kế tiếp. Tôi đã chữa ông hiệu nghiệm đến mức trong mười bốn năm kế đó ông không hề bị tái phát. Hãy tưởng tượng niềm vui của tôi khi được giải thoát cho bấy nhiêu nỗi khổ đau, và trong nhiều trường hợp, đưa người bệnh trở lại hưởng thụ đầy đủ sức khỏe tốt và mọi hoạt động của đời sống.

I see that the first patient that Cornelis brought me, after he was cured, had the thumb and fingers of his right hand clenched with paralysis so that they were as stiff as wood. They had been so for two and a half years. Within five minutes the hand was restored to its flexibility. The next day he returned with his hand all right, but the toes of his right foot constricted. I took him into my room and made him as good as new, within a quarter of an hour. This sort of thing went on even at the country villages on my routes through the Southern Province. I would reach my stopping-place in my travelling-cart, and find patients waiting for me on the verandahs, the lawn, and in all sorts of conveyances—carts, spring-waggons, hand-carts, palanquins, and chairs carried on bamboo poles. An old woman afflicted (how much, indeed!) with a paralyzed tongue was cured; the bent elbow, wrist, and fingers of a little boy were freed; a woman deformed by inflammatory rheumatism was made whole. At Sandravela, a beggar woman with a bent back, of eight years’ standing, gave me a quarter-rupee (about 4d.) for the Fund. When I knew what she suffered from, I cured her spine and made her walk erect.

Tôi thấy rằng bệnh nhân đầu tiên mà Cornelis đưa đến cho tôi, sau khi chính ông được chữa lành, là người có ngón cái và các ngón tay bàn tay phải nắm chặt vì bại liệt, cứng như gỗ. Tình trạng ấy đã kéo dài hai năm rưỡi. Chỉ trong năm phút, bàn tay đã được phục hồi linh hoạt. Hôm sau ông trở lại với bàn tay ổn cả, nhưng các ngón chân bàn chân phải co rút. Tôi đưa ông vào phòng và chữa cho ông lành như mới, trong vòng mười lăm phút. Những việc như thế vẫn xảy ra ngay cả ở các làng quê trên lộ trình của tôi qua Tỉnh miền Nam. Tôi đến nơi dừng chân bằng xe du hành, và thấy bệnh nhân chờ tôi trên hàng hiên, trên bãi cỏ, và trong đủ loại phương tiện—xe bò, xe lò xo, xe tay, võng kiệu, và ghế khiêng bằng sào tre. Một cụ bà mắc (vâng, thật nhiều!) chứng tê liệt lưỡi được chữa khỏi; khuỷu tay, cổ tay và các ngón tay co rút của một cậu bé được thả lỏng; một phụ nữ biến dạng do thấp khớp viêm được chữa lành. Ở Sandravela, một bà lão ăn mày lưng còng, tám năm liền, đưa cho tôi một phần tư rupee (khoảng 4d.) cho Quỹ. Khi biết bà mắc bệnh gì, tôi chữa lại cột sống và khiến bà đi thẳng lưng.

Baddegama is a noted centre of Missionary activity and—so far as I was concerned, and Buddhism generally—of malevolence. It was the view of this lovely landscape—so it is said—which suggested to Bishop Heber the opening verse of his immortal Missionary Hymn. There had been threats that the Missionaries were going to attack me at my lecture there, and the Buddhists naturally thronged to hear me. Several of our members came out from Galle, and whom should I see there but Cornelis Appu, who had walked the whole twelve miles. No doubt, then, as to his having been cured! The gentle Missionaries were conspicuous by their absence, and I had the huge audience all to myself.

Baddegama là một trung tâm nổi tiếng của hoạt động Truyền giáo và—xét phần tôi, và Phật giáo nói chung—của sự ác ý. Người ta nói chính quang cảnh tuyệt đẹp này đã gợi cảm hứng cho Giám mục Heber viết câu đầu trong Bài Thánh Ca Truyền Giáo bất hủ của ông. Có những lời đe dọa rằng các nhà Truyền giáo sẽ công kích tôi trong buổi thuyết giảng ở đó, nên Phật tử, dĩ nhiên, kéo đến đông để nghe tôi. Nhiều hội viên của chúng tôi từ Galle cũng đến, và tôi còn thấy cả Cornelis Appu, người đã đi bộ suốt mười hai dặm đường. Không còn nghi ngờ gì việc ông đã được chữa khỏi! Các nhà Truyền giáo “hiền lành” vắng bóng một cách nổi bật, và tôi có cả cử tọa đông đảo ấy cho riêng mình.

I was amused by a case that came under my hands at the little hamlet of Agaliya. An old, wrinkled native woman of seventy-two years of age had been kicked by a buffalo cow while milking, some years before, had to walk with a staff, and could not stand erect. She was a comical old creature, and laughed heartily when I told her that I should soon make her dance. But after only ten minutes of passes down her spine and limbs she was almost as good as new, and I seized her hand, threw away her staff, and made her run with me over the lawn. My next patient was a boy of seven years, whose hands could not be closed, on account of a constriction of the tendons of the backs. I cured him in five minutes, and he went straight away to where the breakfast was ready for the family, and fell to eating rice with his right hand, now quite restored.

Tôi thấy thú vị với một ca đến tay tôi ở thôn xóm nhỏ Agaliya. Một bà lão da vàng nhăn nheo bảy mươi hai tuổi từng bị bò mộng húc khi đang vắt sữa cách đây vài năm, phải chống gậy đi, và không thể đứng thẳng. Bà là một người rất hài hước, và cười lớn khi tôi nói tôi sẽ sớm khiến bà nhảy múa. Nhưng chỉ sau mười phút vuốt từ lực dọc sống lưng và chân tay, bà đã gần như lành lặn, và tôi nắm tay bà, quăng cây gậy, và kéo bà chạy với tôi trên bãi cỏ. Bệnh nhân kế tiếp là một cậu bé bảy tuổi, hai bàn tay không thể nắm lại vì gân ở mu tay co rút. Tôi chữa cậu trong năm phút, và cậu đi thẳng đến bàn ăn sáng của gia đình, bắt đầu bốc cơm bằng tay phải, lúc này đã phục hồi hoàn toàn.

In due time I got back to the Galle Headquarters, where a second siege by the sick had to be undergone. I have noted down an incident which shows the uncharitable and selfish spirit which actuates some of the medical profession—happily, not all—with regard to the curing of patients by unpaid outsiders; for, remember, I never took a farthing for all these cures.

Đến lúc thích hợp tôi trở lại Trụ sở Galle, nơi một cuộc vây hãm lần hai của người bệnh lại phải chịu đựng. Tôi có ghi lại một sự cố cho thấy tinh thần thiếu bác ái và ích kỷ chi phối một số người trong giới y khoa—may thay, không phải tất cả—đối với việc người ngoài không công chữa lành cho bệnh nhân; xin nhớ, tôi không nhận một đồng xu nào cho tất cả những ca chữa trị ấy.

A number of former patients of the Galle General Hospital, who had been discharged as incurable, came to me and recovered their health; and, naturally, went to shouting the news on the house-tops, soto say. The medical profession could not very well remain blind or indifferent to such a thing, and one day my doings with my patients were overlooked by one of the civil surgeons of the district. On that day 100 patients presented themselves and I treated twenty-three; making, as I see it noted, some wonderful cures. Dr. K. recognizing one of the men, brought him to me with the remark that he had been pronounced incurable after every treatment had failed, and he would like to see what I could make of him. What I made was to enable the sick man to walk about without a stick, for the first time in ten years. The Doctor frankly and generously admitted the efficacy of the mesmeric treatment and remained by me all day, helping me to diagnose; and doing the duties of an hospital assistant. We were mutually pleased with each other, and at parting it was agreed that he should come the next day after breakfast, and help me in whatever way he could. He, himself, was suffering from a stift ankle or something about his foot, I forget just what, which I relieved. The next day he neither came nor sent any word. The mystery was explained by a note he wrote to the mutual friend who had introduced him to me. It seems that on leaving me, full of enthusiasm about what he had seen—as any open-minded, unspoilt young man would naturally be—he went straight to the Chief Medical Officer and reported. His superior coldly listened, and, when he had finished, delivered himself of the sentence of major and minor excommunication on me. I was a charlatan, this pretended healing was a swindle, the patients had been paid to lie, and the young doctor was forbidden to have anything more to do with me or my money-tricks. To clench the argument, he warned the other that, if he persisted in disregarding his orders, he would run the risk of losing his commission. And if he could find that I took any fee, he should have me prosecuted for practising medicine without a licence! So my quondam assistant and admirer, forgetful of his duty to perfect himself in the healing art, of the paramount claims of Truth to his loyalty, and of science to his professional devotion, of all he had seen me do and its promise of what he could, in time, himself do, not even remembering his relieved foot, nor the claims of politeness upon those who make appointments and are prevented from keeping them, did not come the next day nor even send me one line of apology. I felt sorry for him, because all his future prospects in Government service were at stake, at the same time I am afraid I did not respect him as much as I should if he had manfully stood out against this pitiful and revolting professional slavery; this moral obliquity, which would rather that the whole of mankind should go unhealed unless they were cured by orthodox doctors, in an atmosphere of medical holiness and infallibility. The acquisition of the power to relieve physical suffering by mesmeric processes is so easy that, in ninety-nine cases out of the hundred, it would be one’s own fault if it were not developed, but I think that is too important a question to broach at the end of a chapter, so let it stand over for the present.

Một số bệnh nhân từng điều trị ở Bệnh viện Tổng quát Galle, đã bị cho xuất viện vì vô phương cứu chữa, tìm đến tôi và hồi phục sức khỏe; và, dĩ nhiên, đã rao tin khắp “mái nhà”, có thể nói vậy. Giới y không thể giả vờ mù hay dửng dưng trước chuyện như thế, và một ngày kia những việc tôi làm với bệnh nhân bị một trong các bác sĩ dân sự trong quận theo dõi. Hôm ấy có 100 người bệnh trình diện và tôi trị liệu hai mươi ba người; theo ghi chú của tôi, đã thực hiện vài ca chữa lành đáng kinh ngạc. Bác sĩ K. nhận ra một bệnh nhân, đưa ông đến với tôi và nói rằng ông ta đã được tuyên bố vô phương sau khi mọi cách trị đều thất bại, và ông muốn xem tôi có thể làm được gì. Điều tôi làm là giúp bệnh nhân đi lại không cần gậy, lần đầu trong mười năm. Vị bác sĩ thẳng thắn và rộng lượng thừa nhận hiệu lực của trị liệu bằng thôi miên Mesmer và ở lại bên tôi cả ngày, giúp tôi chẩn đoán; làm công việc của một phụ tá bệnh viện. Chúng tôi hài lòng với nhau, và lúc chia tay đồng ý rằng ông sẽ đến sau bữa sáng hôm sau, giúp tôi trong mọi việc ông có thể. Bản thân ông đang bị cứng mắt cá hay vấn đề gì đó ở bàn chân, tôi quên mất, mà tôi đã giúp thuyên giảm. Hôm sau ông không đến cũng không nhắn. Bí ẩn được giải thích bằng một bức thư ông viết cho người bạn chung đã giới thiệu ông với tôi. Có vẻ như rời tôi, tràn đầy hứng khởi về những gì đã thấy—như bất cứ người trẻ cởi mở, chưa bị hư hỏng nào tự nhiên sẽ thế—ông đi thẳng đến Chánh Y sĩ và báo cáo. Cấp trên nghe lạnh lùng, và khi ông nói xong, liền buông ra bản án tuyệt thông lớn nhỏ dành cho tôi. Rằng tôi là kẻ lang băm, việc chữa trị giả vờ này là trò lừa gạt, bệnh nhân đã được trả tiền để nói dối, và bác sĩ trẻ bị cấm dính líu gì thêm với tôi hay những trò tiền bạc của tôi. Để “đinh” cho lập luận, ông cảnh cáo người kia rằng, nếu cứ khăng khăng coi thường lệnh của ông, sẽ có nguy cơ mất chức vụ. Và nếu ông ta tìm ra rằng tôi nhận bất kỳ thù lao nào, ông sẽ truy tố tôi vì hành nghề y không giấy phép! Vậy là người phụ tá và ngưỡng mộ thuở trước của tôi, quên mất bổn phận tự hoàn thiện trong nghệ thuật chữa lành, quên mất đòi hỏi tối thượng của Chân lý đối với lòng trung tín, của khoa học đối với sự tận hiến nghề nghiệp, quên hết những gì ông từng thấy tôi làm và viễn cảnh những gì tự ông có thể làm theo thời gian, thậm chí cũng không nhớ đến bàn chân đã được làm dịu, cũng như phép lịch sự đối với người đã hẹn giờ mà không thể đến, đã không đến hôm sau cũng chẳng gửi một dòng xin lỗi. Tôi thấy tiếc cho ông, vì mọi triển vọng tương lai trong ngành công vụ của ông đều bị đe dọa, đồng thời tôi e rằng tôi không còn kính trọng ông như lẽ ra sẽ có nếu ông đã can đảm đứng lên chống lại thứ nô lệ nghề nghiệp đáng thương và ghê tởm này; cái lệch lạc đạo đức mà thà để cả nhân loại không được chữa lành còn hơn để họ được chữa bởi những bác sĩ không chính thống, trong bầu không khí thánh thiện và bất khả ngộ y khoa. Việc thủ đắc năng lực làm dịu khổ đau thể xác bằng các quy trình thôi miên Mesmer là dễ đến mức, trong chín mươi chín trường hợp trên một trăm, nếu không phát triển được thì là lỗi của chính mình, nhưng tôi cho rằng đó là một vấn đề quá hệ trọng để khai mở ở cuối một chương, nên hãy tạm gác lại.

CHAPTER XXV

POSSIBLE DISCOVERY OF THE SECRET OF PSYCHOPATHIC HEALING —CÓ THỂ KHÁM PHÁ BÍ QUYẾT CỦA TRỊ LIỆU TÂM PHÁP

THE Asiatics have certainly perfected the art of feeding the vanity of public men, and their public men seem to like it. To us Westerns, however, too much grandeur is a bother, and one is constantly being put into dilemmas where one has to quietly play the part of willing victim, or by churlish refusal make oneself seem a very underbred person to one’s Oriental friends. This is apropos of my Diary entry of 3rd October, 1882, that I had that day crossed a brimful river in Ceylon, and, walked a mile to the temple where I was to lecture, on white cloths spread over the whole route for my eminent feet, between two continuous lines of palm-leaf fringes, and under a white canopy (Kodiya) which enthusiastic Buddhists carried on painted staves, over my respectable head. At the same time paralytics, clamoring for the laying on of my hands, besieged me along the whole route. I could have dispensed with the whole tamasha without the least difficulty, but the crowd could not. What a fool one does feel when, perched on a decorated elephant, or carried in an open sedan chair, half smothered with thick garlands of tuberose blooms, and surrounded by shouting thousands, one sees even one European standing by the roadside or in a verandah, looking sneeringly at one as if he were really a voluntary mountebank. Talk about nerve—this is one of the things to try it, for one can so easily foresee the circulation of the story throughout the station and the contemptuous comments that will be made upon one’s abasement of the race-dignity, while one’s whole heart is fixed upon doing good to others and impatient of all this childish show. The most difficult lesson for a white man in Asia to learn is, that the customs of his people and those of the dusky races are absolutely different, and that if he dreams of getting on well with the latter he must lay aside all prejudices and hereditary standards of manners, and be one with them, both in spirit and in external forms. If the English conquerors of the dark-skinned nations could only realize and act upon this principle, they would rule through love instead of by craft and force. They make themselves respected and feared, but loved?—never. However, they are not going to change their natures to please me, so I shall pass to the illustration of the point I was making in the last chapter, about the true secret of successful Psychopathy, or mesmeric healing.

Người Á Đông hẳn đã tinh luyện nghệ thuật nuông chiều hư danh của các nhân vật công chúng, và các nhân vật công chúng của họ xem ra ưa thích điều ấy. Với chúng tôi, người Tây phương, quá nhiều hoa mỹ quả là phiền toái, và người ta thường xuyên bị đặt vào thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc lặng lẽ đóng vai kẻ tự nguyện làm nạn nhân, hoặc, bằng cách từ chối cộc cằn, khiến mình có vẻ là người rất kém giáo dưỡng trong mắt bạn hữu phương Đông. Điều này liên quan đến dòng Nhật ký của tôi ngày 3 tháng Mười, 1882, rằng hôm đó tôi đã băng qua một con sông đầy ắp ở Tích Lan, và đi bộ một dặm đến ngôi chùa nơi tôi sẽ thuyết giảng, trên những tấm vải trắng trải suốt lộ trình cho đôi chân “cao quý” của tôi, giữa hai hàng tua lá cọ liên tục, và dưới một tán trắng (Kodiya) mà các Phật tử nhiệt thành khiêng bằng những cây gậy sơn, trên đầu “đáng kính” của tôi. Đồng thời, những người tê bại, nài nỉ được đặt tay chữa trị, vây kín tôi suốt lộ trình. Tôi có thể dễ dàng bỏ qua cả cái tamasha đó, nhưng đám đông thì không thể. Người ta thấy mình ngu ngốc nhường nào khi, ngồi trên lưng voi trang trí, hay được khiêng trong kiệu mở, gần như ngộp thở giữa những vòng hoa huệ dày đặc, và bị vây quanh bởi hàng ngàn người hò reo, lại thấy chỉ một người Âu đứng bên vệ đường hay trên hiên nhà, nhìn mình nhếch mép như thể thật sự là một anh hề tự nguyện. Nói về “thần kinh thép”—đây là một trong những chuyện thử thách nó, vì người ta có thể dễ dàng hình dung cảnh câu chuyện lan khắp trạm đồn và những lời bình miệt thị sẽ được thốt ra về việc mình “hạ thấp phẩm giá chủng tộc”, trong khi cả tấm lòng thì hướng đến việc làm điều thiện cho người khác và sốt ruột trước tất cả trò trẻ con này. Bài học khó nhất cho người da trắng ở châu Á là: phong tục của dân tộc mình và của các sắc dân sậm màu hoàn toàn khác nhau, và nếu mơ ước hòa hợp với họ thì phải gác bỏ mọi thành kiến và chuẩn mực lễ nghi thừa hưởng, trở nên một với họ cả trong tinh thần lẫn hình thức bên ngoài. Nếu người Anh, những người chinh phục các dân tộc da sậm, có thể nhận ra và hành động theo nguyên tắc này, họ sẽ cai quản bằng tình yêu thay vì mưu mẹo và vũ lực. Họ khiến người ta kính nể và sợ hãi, nhưng được yêu ư?—không bao giờ. Tuy vậy, họ sẽ không đổi bản tính chỉ để làm vừa lòng tôi, nên tôi sẽ chuyển sang minh họa cho điểm tôi đã nêu ở chương trước, về bí quyết chân thực của Tâm pháp trị liệu thành công, tức trị liệu thôi miên Mesmer.

The secret in question was revealed to me by an experience I had at a small village in Southern Ceylon, during this tour which we are now tracing. I think it was at Pitiwella, five miles from Galle, though I am not sure, having failed to record the case apart from others treated on the same day. My interpreter, secretary, and. servant, together with many other witnesses, will be able to recall the facts if my word is challenged, so it does not matter. A man suffering from hemiplegia, or paralysis of one side, was brought to me for treatment. I began on his arm, making passes along the nerves and muscles, and occasionally breathing upon them. In less than a half hour I had restored the arm to flexibility; so much so that he could whirl his ar:m around his head, open and close his fingers at will, grasp and hold a pen or even a pin, and, in fact, do anything he liked with the limb. Then—as I had been kept continuously at work on similar cases for several hours, and felt tired—I bade the committee to make him take a seat and give me time to rest. While I was smoking a pipe, the committee told me that the patient was well-to-do, had spent Rs. 1,500 on medical men without getting relief, and was an avaricious person, well known for his closeness. Now, of all things that are disgusting to the occultist, money-greed is one of the chief: it is so low and ignoble a passion. My feelings underwent an instant change towards the patient. The committee, at my suggestion, asked him how much he had- decided to give towards the Buddhist National Fund for schools. He whined out that he was a poor man and had spent much on doctors, but he would give one rupee! That capped the climax. I told them to say to him that, although he had spent Rs. 1,500 in vain, he had now had his arm cured gratis, and he might now spend an equal sum, and see if the doctors would not cure his paralyzed leg, and he had better keep the rupee he had just offered for Buddhist schools, towards the doctors’ fees. I told them to take the creature away and never let me see him again. But the committee, with one accord, begged me to recall my order, as the mere mention of money would assuredly be misconstrued and misrepresented by our bitter opponents, who could not say that I had ever taken a cent for my healings, or that they had been made by the Buddhist Committee an excuse to influence subscriptions. So after a while I had the patient brought before me, and within another half hour had released his leg from its state of paralysis, and sent the man away walking as well as anyone. My secretary took from him, it seems, a certificate of the cure, and I have it among the papers connected with that Ceylon tour.

Bí quyết nói trên được mạc khải cho tôi qua một kinh nghiệm ở một ngôi làng nhỏ miền Nam Tích Lan, trong chuyến đi mà chúng ta đang lần dấu. Tôi nghĩ đó là tại Pitiwella, cách Galle năm dặm, dù không chắc, vì tôi không ghi chép riêng ca này tách khỏi các ca khác được trị cùng ngày. Thông dịch viên, thư ký, và gia nhân của tôi, cùng với nhiều nhân chứng khác, sẽ có thể nhớ lại sự việc nếu lời tôi bị thách thức, nên cũng không hại gì. Một người mắc chứng liệt nửa người được đưa đến tôi trị liệu. Tôi bắt đầu với cánh tay ông, vuốt từ lực dọc theo các dây thần kinh và bắp thịt, và đôi khi hà hơi lên đó. Chưa đầy nửa giờ tôi đã phục hồi được sự linh hoạt cho cánh tay; đến mức ông có thể quay vung tay quanh đầu, mở và khép các ngón tùy ý, nắm và giữ bút hay thậm chí một chiếc ghim, và, thực ra, làm mọi điều ông muốn với chi thể ấy. Sau đó—vì tôi đã phải làm việc liên tục nhiều giờ liền với những ca tương tự, và thấy mệt—tôi bảo ủy ban cho ông ngồi xuống để tôi nghỉ. Trong lúc tôi đang phì phèo tẩu thuốc, ủy ban cho tôi biết bệnh nhân khá giả, đã tiêu Rs. 1.500 cho các thầy thuốc mà không thuyên giảm, và là người tham lam, tiếng tăm keo kiệt. Giờ thì, trong tất cả những điều khiến nhà huyền bí chán ghét, lòng tham tiền là một trong những điều hàng đầu: đó là một dục vọng thấp hèn và đê tiện. Tâm cảm của tôi đối với bệnh nhân lập tức đổi khác. Theo gợi ý của tôi, ủy ban hỏi ông ta đã định góp bao nhiêu cho Quỹ Quốc gia Phật giáo dành cho trường học. Ông ta rên rỉ rằng mình nghèo và đã tiêu nhiều cho thầy thuốc, nhưng sẽ cho một rupee! Như thế thì hết chịu nổi. Tôi bảo họ nhắn với ông ta rằng, tuy đã tiêu Rs. 1.500 uổng phí, nhưng giờ cánh tay đã được chữa miễn phí, và ông có thể tiêu tiếp một khoản tương tự, để xem các thầy thuốc có chữa được chân bị liệt không, và tốt hơn ông nên giữ lại đồng rupee vừa định cho các trường Phật giáo để trả lệ phí thầy thuốc thì hơn. Tôi bảo họ đưa con người ấy đi và đừng bao giờ để tôi thấy mặt nữa. Nhưng ủy ban đồng lòng năn nỉ tôi rút lại lệnh, vì chỉ cần nhắc đến tiền thôi đã đủ để đối thủ cay nghiệt của chúng tôi chắc chắn xuyên tạc và bóp méo, những người vốn không thể nói rằng tôi đã từng nhận một xu cho việc chữa trị, hay rằng ủy ban Phật giáo đã mượn cớ chữa trị để tác động việc quyên góp. Vậy nên một lát sau tôi cho đưa bệnh nhân trở lại trước mặt, và chỉ trong nửa giờ nữa đã giải phóng được cái chân khỏi tình trạng bại liệt, và cho người ấy ra về đi lại như thường. Thư ký của tôi, hình như, đã nhận của ông ta một giấy chứng nhận ca chữa lành, và tôi vẫn còn lưu trong hồ sơ liên quan đến chuyến đi Tích Lan ấy.

The committee in charge of my work had arranged a series of loop tours of about a fortnight each, which brought me around each time to Galle, the central point. When this particular one was finished I was asking one day how it had fared with a certain few patients whose cases had more particularly interested me than the rest, and among others, I mentioned this miser’s. The reply surprised me very much: the arm, they said, remained cured, but the leg had relapsed into the paralytic state. Although I had read of no similar case in the books on Mesmerism, the reason suggested itself at once—I had felt no real sympathy for the man after hearing about his miserliness, and therefore my vital aura had not vibrated along his nerves, as it had when applied to the nerves of his arm; there had been a momentary healthful stimulus followed by a return to the state of nerve-paralysis. In both cases I had had exactly the same knowledge of the science, and the same measure of vital force to transmit, but in the latter, none of that feeling of sympathy and benevolent intent which, in the case of the arm, resulted in a permanent cure. I am aware that some writers on Psychopathy—among them. Younger, whose work [14] appeared five years later than my Ceylon experience—have affirmed that “sympathy is the keynote of nearly all the phases of development of the mesmeric state” (Op. cit., p. 28), but I do not recall an instance like the one above cited. The good M. Deleuze, formerly of the Jardin des Plantes, in Paris, whose Practical Instructions in Animal Magnetism is a classic, and who describes the proper methods of treatment in various diseases, notes no case like this, although he tells us that “Magnetism is effectual in all kinds of paralysis”. He says, however, that the sensitive operator will always recognize a change occurring in himself when he magnetizes. “This disposition is composed of a determined intention, which banishes all distraction [meaning mind-wandering, of course, a state absolutely obstructive to the working of cures of disease, as I know by much experience.—O.] without our making any effort, of a lively interest which the patient inspires in us and which draws us towards him, and of a confidence in our power, which leaves us in no doubt as to our success in alleviating him” (Op. cit., p. 203). But he quotes no example to prove the indispensableness of sympathetic benevolence of intent, and I am inclined to think my case almost unique. It is to be observed further, in reading up from the authorities, that although I felt no sympathy for my patient, I nevertheless did restore his leg to functional activity for the time being: I made him walk as well as he ever did. My will and skill were powerful enough for that, but not being moved by the third element, compassion, there was a relapse after the first effect of nerve stimulation had passed off. It seems to me that it also goes to prove that mesmeric healing is not necessarily attributable to the exercise of faith, but rather to the transfusion of vital aura to the patient, and its operation under varying conditions within his system.

Ủy ban phụ trách công việc của tôi đã thu xếp một loạt các tua hình vòng, mỗi vòng khoảng nửa tháng, đưa tôi trở lại Galle mỗi lần, là điểm trung tâm. Khi kết thúc vòng tua cụ thể này, một ngày kia tôi hỏi kết quả đối với một số bệnh nhân mà trường hợp của họ khiến tôi quan tâm hơn cả, và trong số đó, tôi nêu cả người bủn xỉn này. Câu trả lời làm tôi rất ngạc nhiên: họ nói cánh tay thì vẫn khỏi, nhưng chân đã tái liệt. Dù tôi không đọc được trường hợp tương tự nào trong các sách về Thôi miên, lý do lập tức tự hiện lên—tôi đã không còn cảm thông thật sự với người ấy sau khi nghe chuyện keo kiệt, và vì thế hào quang sinh lực của tôi đã không cộng hưởng dọc theo các dây thần kinh ở chân ông, như nó từng làm khi áp vào thần kinh ở cánh tay; chỉ có kích thích khoảnh khắc lành mạnh, rồi sau đó là quay trở lại trạng thái tê liệt thần kinh. Trong cả hai trường hợp tôi có cùng mức tri thức khoa học, và cùng lượng sinh lực để truyền, nhưng trong trường hợp sau, không có chút cảm tình và thiện ý nào, điều mà, trong trường hợp cánh tay, đã đưa đến một sự chữa lành bền vững. Tôi biết rằng một số tác giả viết về Tâm pháp trị liệu—trong đó có Younger, người có tác phẩm xuất bản muộn hơn kinh nghiệm Tích Lan của tôi năm năm—đã quả quyết rằng “cảm thông là chủ âm của gần như mọi giai đoạn phát triển của trạng thái thôi miên” (sách đã dẫn, tr. 28), nhưng tôi không nhớ có một ví dụ như ví dụ vừa nêu. Ông Deleuze khả kính, trước kia thuộc Jardin des Plantes, ở Paris, người có cuốn Chỉ dẫn Thực hành về Nam châm sinh vật là một tác phẩm kinh điển, và người mô tả các phương pháp điều trị thích đáng cho các loại bệnh khác nhau, không ghi một ca nào như thế, dù ông nói với chúng ta rằng “Nam châm sinh vật hiệu nghiệm trong mọi loại bại liệt”. Tuy nhiên, ông nói người tác động mẫn cảm sẽ luôn nhận ra một biến chuyển xảy ra nơi chính mình khi ông ấy truyền lực. “Trạng thái này gồm một ý hướng dứt khoát, vốn xua tan mọi xao lãng [tức là tâm trí tán loạn, dĩ nhiên, một trạng thái tuyệt đối cản trở việc chữa lành bệnh, như tôi biết bằng nhiều kinh nghiệm.—O.] mà không cần gắng sức, một mối quan tâm sống động mà bệnh nhân gợi lên nơi chúng ta và lôi cuốn chúng ta đến với họ, và một niềm tự tín vào năng lực của mình, để chúng ta không còn nghi ngờ gì về sự thành công trong việc làm dịu nỗi đau của họ” (sách đã dẫn, tr. 203). Nhưng ông không dẫn ví dụ nào để chứng minh tính tất yếu của lòng từ ái cảm thông như một ý hướng, và tôi thiên về nghĩ rằng trường hợp của tôi hầu như là độc nhất. Cần lưu ý thêm, khi đọc đối chiếu các tác giả, rằng tuy tôi không cảm thông với bệnh nhân, tôi vẫn khôi phục được chức năng hoạt động cho chân ông trong thời điểm ấy: tôi khiến ông đi lại tốt như xưa. Ý chí và kỹ xảo của tôi đủ mạnh để làm điều đó, nhưng vì không được thúc đẩy bởi yếu tố thứ ba, là lòng bi mẫn, nên đã có một sự tái phát sau khi tác dụng kích thích thần kinh ban đầu qua đi. Với tôi, điều này cũng chứng tỏ rằng trị liệu bằng thôi miên không nhất thiết quy về việc vận dụng đức tin, mà đúng hơn là sự truyền dẫn hào quang sinh lực sang bệnh nhân, và sự vận hành của nó trong những điều kiện khác nhau bên trong cơ cấu cơ thể của người ấy.

Here was a patient who, if moved by faith in the case of his arm, must have been doubly so in the case of his leg, after the paralysis had been removed from the former; here were several bystanders whose minds and outward demonstrations of belief would follow the same rule; here, finally, was I, exercising the identical power and applying, the same technical knowledge in both cases, and, if you choose to so regard it, silently making the self-same suggestion of possible cure, yet curing the arm and failing to permanently cure the leg. It is a most important bit of evidence in the question of psychopathic science, and well worth keeping in mind. I can conceive of no applicability of the theories of either the Salpétriére or Nancy Schools of Hypnotism to cases like the foregoing; it stands apart and is explicable only on the theory of a vital transfusion from operator to patient. The case becomes stronger when one reflects that I was operating upon and in the presence of Sinhalese, who knew nothing about our Western mesmeric and hypnotic theories and results, to whom the whole thing was a puzzling mystery, and who, consequently, were not in a condition of mind to hypnotically suggest anything to the patient. MM. Binet and Féré, in their academical work on Animal Magnetism (International Scientific Series, vol. lx, p. 178 et seq.), define hypnotic suggestion as of various forms, and specify that resulting from spoken words and that from gestures. For instance, in the first case one may convey the idea of an actual object by saying: “There is a serpent at your feet,” or that there is a cat or dog or bird in the room; the animal being instantly perceived by the subject through the influence of the mind-picture so evoked. In the other case the idea may be provoked by simply making gestures which indicate the motions or habits of the imaginary animal. But, they tell us, gestures are “a very inferior means... fairly successful in the case of subjects who have been long under treatment”; that is, often hypnotised and trained to accept suggestions of all kinds from the operator. What was there of this sort in the case of my patient? He had never been hypnotised; had never heard of such a thing; was not mesmerised by me, but in the full possession of his senses; could not understand a word of English or any other language which I knew, and as said above, if hypnotically sensitive, must have been doubly so to the fact that his leg could be cured since the use of his arm had just been restored to him.

Ở đây là một bệnh nhân mà, nếu như niềm tin đã tác động trong trường hợp cánh tay của y, thì hẳn phải tác động gấp đôi trong trường hợp cái chân của y, sau khi chứng liệt đã được giải trừ ở chi trước; ở đây còn có mấy người đứng xem, mà tâm trí và những biểu lộ niềm tin ra bên ngoài của họ cũng sẽ đi theo cùng một quy luật; và, sau cùng, có tôi, đang vận dụng cùng một năng lực và áp dụng cùng một tri thức kỹ thuật trong cả hai trường hợp, và, nếu các bạn muốn hiểu như vậy, thì âm thầm đưa ra cùng một gợi ý về khả năng chữa lành, thế mà lại chữa được cánh tay và không thể chữa lành vĩnh viễn cái chân. Đây là một mẩu bằng chứng hết sức quan trọng trong vấn đề khoa học “tâm thuật”, và rất đáng ghi nhớ. Tôi không thấy có sự ứng dụng nào của các thuyết của Trường phái Salpêtrière hay Nancy về thuật thôi miên vào những trường hợp như trên; nó đứng riêng ra và chỉ có thể giải thích theo thuyết truyền sinh khí sống từ người hành thuật sang bệnh nhân. Trường hợp càng trở nên vững chắc hơn khi nhớ rằng tôi đã làm việc với những người Sinhala (Tích Lan), vốn chẳng biết gì về các lý thuyết và kết quả của thôi miên và mê lực phương Tây của chúng ta, đối với họ toàn bộ sự việc là một điều bí ẩn khó hiểu, và vì vậy, họ không ở trong trạng thái tâm trí có thể gợi ý thôi miên điều gì cho bệnh nhân. Hai ông Binet và Féré, trong tác phẩm hàn lâm về Từ lực động vật (International Scientific Series, quyển lx, tr. 178 và tiếp theo), định nghĩa gợi ý thôi miên dưới nhiều dạng, và nêu rõ gợi ý phát sinh từ lời nói và gợi ý phát sinh từ cử chỉ. Chẳng hạn, trong trường hợp thứ nhất, người ta có thể truyền đạt ý niệm về một vật thể thực bằng cách nói: “Có một con rắn ở dưới chân anh,” hoặc nói rằng có một con mèo hay con chó hay con chim trong phòng; con vật liền được chủ thể cảm nhận tức khắc qua ảnh tượng tâm trí vừa được khơi dậy như thế. Trong trường hợp kia, ý niệm có thể bị khơi gợi chỉ bằng cách làm những cử chỉ mô tả động tác hay tập tính của con vật tưởng tượng. Nhưng, họ nói với chúng ta, cử chỉ là “một phương tiện rất kém... chỉ khá thành công với những chủ thể đã được điều trị lâu ngày”; nghĩa là, những người thường xuyên bị thôi miên và đã được rèn để chấp nhận mọi loại gợi ý từ người điều khiển. Trong trường hợp bệnh nhân của tôi thì có gì thuộc loại này? Y chưa từng bị thôi miên; chưa từng nghe nói đến chuyện ấy; tôi cũng không mê lực y, mà y vẫn hoàn toàn tỉnh táo; y không hiểu một từ tiếng Anh nào hay bất kỳ ngôn ngữ nào mà tôi biết, và như đã nói ở trên, nếu y nhạy cảm về phương diện thôi miên, hẳn y phải cảm nhận gấp đôi về sự kiện rằng cái chân của y có thể được chữa lành, vì công dụng của cánh tay vừa được phục hồi cho y.

Finally—not to dwell too long on a subject whose importance well excuses my having given it so much space—the Ceylon case powerfully suggests the truth of the ancient teaching that kind thoughts sent out from one to another carry with them an almost magical power for good, while evil ones have the contrary effect. How much it behoves us, then, to guard ourselves from even thinking harm to our neighbors, and how easily we can grasp the idea that the old dread of sorcerers and workers of spells had a solid foundation of fact, and that the subtle powers of nature may be handled to the undoing as easily as to the blessing of men.

Sau cùng—không muốn dừng quá lâu ở một chủ đề mà tầm quan trọng của nó quả thật biện minh cho việc tôi dành nhiều chỗ đến thế—trường hợp ở Tích Lan gợi mạnh mẽ chân lý của giáo huấn xưa rằng những ý nghĩ thiện lành được gởi từ người này đến người khác mang theo một năng lực gần như thần diệu để tạo điều tốt, trong khi những ý nghĩ ác thì gây hiệu quả trái ngược. Vậy thì chúng ta càng nên tự giữ mình đừng để cả đến ý nghĩ gây tổn hại cho láng giềng, và chúng ta dễ dàng nắm bắt ý niệm rằng nỗi sợ xưa về phù thủy và những kẻ thi triển bùa chú đã có một nền tảng sự kiện vững chắc, và rằng các quyền năng vi tế của thiên nhiên có thể được xử dụng để phá hoại dễ như để ban phúc cho con người.

A case of the “Demon Lover” type was brought me at Galle by the Chief Priest of a (Buddhist) Vihara. A young monk, of perhaps twenty-seven years of age, had been haunted since two or three years by a Yakshini, or a female demon, who—the old monk told me—had been playing the part of spirit wife to him, but to such excess as to rather suggest a person afflicted by nymphomania. The poor fellow was thus obsessed seven or eight times a day and had become reduced to almost a skeleton. The Superior calmly asked me to work a cure. Fortunately, I had successfully treated a similar case in America some years before, the patient being a lady, so that I knew pretty well what to do. I put the monk on a course of mesmerised water, making him come to me every morning for a month, for the day’s supply, after which time he was completely cured. I then sent for the Chief Priest and advised him to disrobe his young friend and send him out to take up the ordinary life of the householder, which was done. The simple explanation is that the influence of the bad Elemental spirit upon its medium was nullified and destroyed by the power of my stronger human will, supplemented by the constant action of the vitalized water. Among the scientific practitioners of mesmerism there have never been two opinions, so far as I know, as to the efficacy of magnetised water as a therapeutic agent. Deleuze says “it is one of the most powerful and salutary agents that can be employed.... I have seen magnetised water produce effects so marvellous that I was afraid of having deceived myself, and could not be convinced until I had made a thousand experiments. Magnetisers in general have not made sufficient use of it.” How long the water retains the aura has not—he says—been clearly determined, but “it certainly retains it for many days, and numerous facts seem to prove it not to have been lost after many weeks” (Op, cit., pp. 216, 217).

Một trường hợp thuộc loại “Người Tình Quỷ” được vị Trụ Trì của một Tịnh xá (Phật giáo) đem đến cho tôi ở Galle. Một nhà sư trẻ, chừng hai mươi bảy tuổi, đã bị một Yakshini, tức một nữ quỷ, ám ảnh từ hai ba năm, vị lão sư kể với tôi rằng ả đã đóng vai một người vợ tinh linh đối với y, nhưng đến mức độ thái quá đến nỗi gợi ra hình ảnh một kẻ mắc chứng cuồng dâm nữ. Chàng tội nghiệp bị nhập như vậy bảy hay tám lần một ngày và đã gầy rộc gần như một bộ xương. Vị Thượng tọa điềm tĩnh nhờ tôi chữa. May thay, vài năm trước tôi đã chữa thành công một trường hợp tương tự ở Mỹ, bệnh nhân là một phụ nữ, nên tôi khá biết phải làm gì. Tôi cho vị sư dùng một liệu trình nước được từ hóa, bắt y mỗi sáng đến lấy phần dùng cho cả ngày trong vòng một tháng, sau thời gian đó thì khỏi hẳn. Tôi liền mời vị Trụ Trì đến và khuyên Ngài hoàn tục cho người bạn trẻ này và gởi y ra ngoài để sống đời sống bình thường của một gia chủ, và đã làm như vậy. Giải thích đơn giản là ảnh hưởng của Tinh linh hành khí xấu lên đồng tử của nó đã bị triệt tiêu và phá hủy bởi năng lực của ý chí con người mạnh hơn của tôi, được hỗ trợ bởi tác động liên tục của nước được tiếp sinh lực. Trong giới hành nghề khoa học về mê lực, theo hiểu biết của tôi, chưa từng có hai ý kiến khác nhau về hiệu quả của nước được từ hóa như một tác nhân trị liệu. Deleuze nói “đó là một trong những tác nhân mạnh mẽ và hữu ích nhất có thể dùng.... Tôi đã thấy nước được từ hóa tạo nên những hiệu quả kỳ diệu đến mức tôi sợ mình đã tự lừa dối, và chỉ có thể tin được sau khi tôi đã làm cả nghìn thí nghiệm. Nói chung, các nhà sử dụng mê lực đã chưa dùng nó đủ nhiều”. Nước giữ được hào quang bao lâu—ông nói—chưa được xác định rõ, nhưng “ắt hẳn giữ được trong nhiều ngày, và nhiều sự kiện dường như chứng tỏ nó chưa bị mất ngay cả sau nhiều tuần” (sđd., tr. 216, 217).

My Southern tour rapidly approached its end. Lectures, followed by collections of subscribed sums for the National Fund, were given at Bussé, Ratgama, Dodanduwa, Kumara Vihara, Kittangoda, Hikkaduwe, Totagumuwa, Telwatte, Weeragoda, Kahawe, Madumpe, and Batticola, and my face was then turned towards Colombo; in all, there had been sixty-four public addresses made within the space of about three months, and visits to most of the larger villages in the Galle (Southern) Province. I must mention the fact that whenever I found myself at a village on the seashore I would take a daily salt-water bath, as I found it wonderfully refreshing in the mesmeric sense; no matter how much I might have overdone my healings, a plunge into the sea would restore my vital force within a few minutes. It is a hint that should not be lost by those who follow psychopathy as a profession. I reached Colombo on 25th October, and was present at the High Priest Sumangala’s Widyodaya College, at the exhibition of some genuine relics of the Buddha, which had been excavated at Sopara, from an ancient stupa, or mound, and been presented to the High Priest by the Governor of Bombay, through the Governor of Ceylon. An immense crowd was present on the occasion, and a number of representatives of the Ceylon Government attended out of respect for Sumangala Maha Thera. At his request I lectured in the evening, and Megittuwatte, the great orator, followed in an eloquent discourse.

Chuyến đi miền Nam của tôi nhanh chóng đi đến hồi kết. Những buổi thuyết giảng, kèm theo việc quyên góp cho Quỹ Quốc gia, đã được tổ chức ở Bussé, Ratgama, Dodanduwa, Kumara Vihara, Kittangoda, Hikkaduwe, Totagumuwa, Telwatte, Weeragoda, Kahawe, Madumpe và Batticola, và rồi tôi quay mặt hướng về Colombo; tổng cộng, đã có sáu mươi tư buổi diễn thuyết công khai trong khoảng chừng ba tháng, và thăm viếng phần lớn làng mạc lớn thuộc Tỉnh Galle (miền Nam). Tôi phải nhắc đến thực tế là hễ ở một làng ven biển, tôi đều tắm nước mặn mỗi ngày, vì tôi thấy nó làm tươi mới tuyệt diệu theo nghĩa mê lực; không cần biết tôi có lạm dụng sức mình đến mức nào trong các ca chữa trị, chỉ cần lao xuống biển là sinh lực của tôi lại được phục hồi trong vài phút. Đây là một gợi ý không nên bỏ qua cho những ai theo đuổi “tâm thuật” như một nghề. Tôi đến Colombo ngày 25 tháng Mười và có mặt tại Trường Widyodaya của Đại Trưởng Lão Sumangala, trong buổi trưng bày một số xá lợi đích thực của Đức Phật, được khai quật ở Sopara từ một bảo tháp cổ, và được trao tặng cho Đại Trưởng Lão bởi Thống đốc Bombay, qua Thống đốc Tích Lan. Một đám đông khổng lồ có mặt trong dịp này, và một số đại diện của Chính quyền Tích Lan cũng đến dự để tỏ lòng kính trọng với Ngài Sumangala Maha Thera. Theo lời thỉnh cầu của Ngài, buổi tối tôi thuyết giảng, và Megittuwatte, nhà hùng biện lừng danh, diễn thuyết tiếp theo bằng một bài diễn văn cảm động.

On 1st November, in company with Mr. Thomas Perera, of Galle, a most excellent colleague of ours, I sailed for Bombay, which we reached after a smooth passage, on the third day. H. P. B. was away at Darjeeling with some of our members, having meetings in the flesh with two of our Masters. On the 8th I got from Messrs. Shroff and Pandurang Gopal, the suggestion to make the anniversary meetings of the T. S. into representative conventions of all our Indian Branches. I recollect that I felt rather dubious about the practicability of the scheme, but I passed it on to H. P. B., and when she returned, on the 25th of the month, she brought with her four Bengalis and S. Ramaswamier, of Madras Presidency, as Delegates. Two more came from Bareilly, N. W. P., and two from Baroda; the next day, others came from other places, and when our Seventh Anniversary was celebrated, in Framji Cowasji Hall, on 7th December, we had fifteen Delegates present and addresses from several of them. Mr. Sinnett had come from Allahabad and officiated as Chairman at my request. There was a very crowded audience, and the applause was hearty. Thus was inaugurated the system of Annual Branch Conventions which is now universal, and for the first time—to show the Bombay public how the Theosophical movement was spreading throughout the world—I hung around the hall as many shields as there were Branches of the Society, each inscribed with the name and charter date of a Branch.

Ngày 1 tháng Mười Một, cùng đi với Ông Thomas Perera, ở Galle, một đồng sự xuất sắc của chúng ta, tôi lên tàu đi Bombay, và cập bến sau một chuyến đi biển êm thuận, vào ngày thứ ba. Bà H. P. B. đang ở Darjeeling với vài hội viên của chúng ta, có những cuộc gặp gỡ bằng xương bằng thịt với hai vị Chân sư của chúng ta. Ngày mồng 8, tôi nhận được từ các Ông Shroff và Pandurang Gopal gợi ý biến các kỳ kỷ niệm của Hội T. S. thành những đại hội đại biểu của tất cả các Chi bộ Ấn Độ của chúng ta. Tôi nhớ là mình khá hồ nghi về tính khả thi của đề án, nhưng tôi chuyển nó cho Bà H. P. B., và khi Bà trở về, ngày 25 trong tháng, Bà đem theo bốn người Bengali và S. Ramaswamier, thuộc Phủ Madras, làm Đại biểu. Hai người nữa đến từ Bareilly, N. W. P., và hai từ Baroda; hôm sau, những người khác cũng tới từ nơi khác, và khi chúng ta mừng Lễ Kỷ niệm lần thứ bảy, ở Hội trường Framji Cowasji, ngày 7 tháng Mười Hai, chúng ta có mười lăm Đại biểu hiện diện và nhiều vị trong số họ đọc tham luận. Ông Sinnett đã đến từ Allahabad và, theo lời tôi thỉnh, làm Chủ tọa. Khán phòng chật kín, và tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Thế là hệ thống Đại hội Chi bộ Hằng năm được khai mở—mà giờ đã trở thành phổ biến, và lần đầu tiên—để cho công chúng Bombay thấy phong trào Thông Thiên Học đang lan rộng khắp thế giới—tôi treo quanh hội trường nhiều phù hiệu như số Chi bộ của Hội, mỗi cái đều ghi tên và ngày cấp hiến chương của một Chi bộ.

We now set to work, packing our furniture, books, and personal effects for transfer to Madras; the lovely Adyar property having been bought at a merely nominal price. The Bombay Branch T. S. gave us a farewell reception, with nice speeches, no end of flowers, music, a collation, and the presentation of a large, artistic, and costly silver vase and platter, made specially by the clever silversmiths of the Province of Kutch. On the 17th we took train for Madras the, event being fixed in H. ‘P. B.’s memory by the theft of her handsome Kashmir chudder, through an outside window of the railway carriage while we were occupied at the other side in giving and receiving compliments and salaams. Her remarks upon the incident, when it was discovered, will not bear repetition.

Chúng ta liền bắt tay vào việc, đóng gói đồ đạc, sách vở và đồ dùng cá nhân để chuyển đến Madras; khu đất Adyar tuyệt đẹp đã được mua với một giá gần như tượng trưng. Chi bộ Bombay của Hội T. S. tổ chức tiệc chia tay cho chúng ta, với những bài phát biểu hay, vô số hoa, âm nhạc, bữa nhẹ, và tặng một bình bạc và khay bạc lớn, nghệ thuật và đắt tiền, do các thợ bạc khéo léo của Tỉnh Kutch làm riêng. Ngày 17, chúng tôi lên tàu hỏa đi Madras, sự kiện này được khắc sâu trong ký ức của Bà H. P. B. bởi vụ mất trộm chiếc khăn choàng Kashmir đẹp của Bà, qua cửa sổ ngoài của toa tàu, lúc chúng tôi đang bận ở phía bên kia toa để nhận và đáp lễ những lời chúc tụng cùng những cái chào. Những lời bình của Bà về biến cố đó, khi phát hiện ra, không tiện nhắc lại.

We were welcomed to Madras at the station by a distinguished company of native gentlemen, and escorted in grand style to Adyar, which seemed to smile upon its future masters. The reader can hardly imagine our pleasure in settling into a home of our own, where we should be free from landlords changes, and the other worries of the condition of tenancy. In my Diary I say: “Our beautiful home seemed a fairy-place to us. Happy days are in store for us here.” The bitter ones, alas! we did not foresee.

Chúng tôi được chào đón tại ga Madras bởi một đoàn quý ông bản xứ danh giá, và được hộ tống một cách trọng thể đến Adyar, nơi như đang mỉm cười với những chủ nhân tương lai của mình. Bạn đọc khó mà hình dung được niềm vui của chúng tôi khi được an cư trong ngôi nhà của riêng mình, nơi chúng ta sẽ được thoát khỏi những thay đổi thất thường của chủ nhà và các phiền toái khác của thân phận đi thuê. Trong Nhật ký, tôi viết: “Ngôi nhà xinh đẹp của chúng tôi như một chốn thần tiên đối với chúng tôi. Những ngày hạnh phúc đang chờ đón chúng tôi ở đây.” Than ôi, những ngày khổ sầu, chúng ta đã không lường trước.

The remaining days of December were filled with the petty annoyances of getting servants, overseeing mechanics, making the first necessary repairs, and receiving and unpacking our furniture. The Teacher (M.) came daily to see H. P. B., and I have it recorded that on 29th December, she “made me promise that if she should die, no one but myself should be allowed to see her face. I am to sew her up in a cloth and have her cremated.” That, you see, was nine years before her corpse was carried to the Woking Crematory, near London; hence the possibility of her sudden death was even then kept in mind.

Những ngày còn lại của tháng Mười Hai đầy ắp những phiền toái vụn vặt của việc thuê mướn người hầu, trông coi thợ thuyền, làm những sửa chữa cần thiết ban đầu, và tiếp nhận, mở kiện đồ đạc. Vị Huấn sư (Chân sư M.) đến thăm Bà H. P. B. mỗi ngày, và tôi có ghi lại rằng vào ngày 29 tháng Mười Hai, Bà “bắt tôi hứa rằng nếu Bà qua đời, sẽ không ai ngoài tôi được phép nhìn mặt Bà. Tôi sẽ phải khâu bọc Bà trong một tấm vải và hỏa táng Bà.” Bạn thấy đó, đó là chín năm trước khi thi hài Bà được đưa đến Lò Hỏa táng Woking, gần London; do đó, khả năng Bà đột ngột ra đi đã được lưu tâm ngay từ khi ấy.

The year 1882 went out with me working at my desk alone.

Năm 1882 khép lại với cảnh tôi cô độc làm việc bên bàn giấy.

CHAPTER XXVI

INCIDENTS OF HEALINGS—NHỮNG SỰ KIỆN TRONG CÁC CA CHỮA LÀNH

THE year 1883 was one of the busiest, most interesting and successful, in the Society’s history; certain of its features were very picturesque as will duly, appear. Forty-three new Branches were organized, the majority in India and by myself. My travels extended over seven thousand miles, which means much more than it would in the United States, where one has a railway train to take him to any desired place, and has not to shift to the backs of elephants or have his bones ground together in springless bullock-carts. My colleague and I were separated most of the time, she stopping at home to carry on the Theosophist and I wandering over the Great Peninsula to lecture on Theosophy, heal the sick, and found new Branches.

Năm 1883 là một trong những năm bận rộn, thú vị và thành công nhất trong lịch sử của Hội; vài đặc điểm của năm ấy rất nên thơ như rồi sẽ hiện ra. Bốn mươi ba Chi bộ mới đã được thành lập, đa số ở Ấn Độ và do chính tôi. Chuyến đi của tôi trải dài hơn bảy nghìn dặm, điều này có ý nghĩa nhiều hơn rất nhiều so với ở Hợp Chúng Quốc, nơi người ta có tàu hỏa đưa đến bất kỳ nơi nào mong muốn, và không phải chuyển sang lưng voi hay để xương cốt bị xóc nảy trong những cỗ xe bò không nhíp. Tôi và đồng sự chia nhau phần lớn thời gian, Bà ấy ở nhà để điều hành tờ Theosophist, còn tôi thì lang bạt khắp Bán đảo Lớn để thuyết giảng về Thông Thiên Học, chữa bệnh và lập các Chi bộ mới.

The first weeks of January were given to the settlement of our household in the new Headquarters, and my Diary is full of details of the buying of furniture, the arrangement of the “Shrine Room,” of now polluted memory, but which was to us, during the next two years, a spot hallowed by frequent intercourse with the Masters and many palpable phenomenal proofs of their active interest in ourselves and in the great movement.

Những tuần đầu tháng Giêng dành cho việc ổn định gia cư ở Trụ sở mới, và Nhật ký của tôi đầy những chi tiết về việc mua sắm đồ đạc, sắp đặt “Phòng Thánh”—nay là một ký ức bị ô nhiễm—nhưng đối với chúng tôi, trong hai năm kế tiếp, đó là một nơi được thánh hóa bởi những lần giao tiếp thường xuyên với các Chân sư và nhiều bằng chứng hiện tượng hiển nhiên cho thấy sự quan tâm tích cực của Các Ngài đến chúng tôi và đến đại phong trào.

Marion Crawford’s Mr. Isaacs was sent us at this time by his uncle, Mr. Sam. Ward, one of our most enthusiastic members, who also wrote certain interesting particulars about its production. It was—he told us—inspired by the published accounts of Mahatma K. H., and the idea so took possession of Mr. Crawford that, having once begun writing, he gave himself no rest, scarcely even food, until it was finished. He wrote it in less than four weeks, and Mr. Ward says that it almost seemed as if his nephew had been under the influence of an outside power.

Tác phẩm Mr. Isaacs của Marion Crawford được gởi đến chúng tôi lúc này bởi người chú của ông, Ông Sam. Ward, một hội viên nhiệt thành nhất của chúng ta, người cũng viết cho biết vài chi tiết thú vị về quá trình sáng tác. Ông bảo—tác phẩm được gợi hứng bởi những bài viết về Chân sư KH, và ý tưởng ấy chiếm lĩnh Ông Crawford đến mức khi đã khởi viết, ông không cho mình nghỉ ngơi, hầu như cũng chẳng ăn, cho đến khi hoàn tất. Ông viết nó chưa tới bốn tuần, và Ông Ward nói dường như người cháu đã ở dưới ảnh hưởng của một quyền lực bên ngoài.

Mr. Crawford makes—as any true occultist will tell him—the mistake of having his ideal Eastern adept, Ram Lal, meddling in the love affairs of the hero and heroine, whereas this is inconsistent with the tendencies of a person who has evolved up to and lives mainly on the plane of spirituality. Bulwer was equally wrong, nay worse, in making his adept, Zanoni, abandon, after ages of spiritual striving and success, the fruits of his Yoga, and drop to the vulgar level of us weaklings, who are held in the bonds of the flesh and give and are given in marriage. Both Zanoni and Ram Lal are, as presented to us, practically impossibilities, save as aberrations of nature and the victims of overpowering conspiracies of brutish forces, which they must have vanquished over and over again as they mounted upward from the lower levels where passion reigns and the guiding light of wisdom is hidden. Sexual unions are perfectly natural for the average human being, but perfectly unnatural for the evolved ideal man.

Ông Crawford—như bất kỳ nhà huyền bí chân chính nào cũng sẽ nói với ông—đã mắc sai lầm khi để nhân vật chân sư Đông phương lý tưởng, Ram Lal, can dự vào chuyện tình yêu của nam nữ diễn viên chính, điều này lại trái ngược với khuynh hướng của một người đã tiến hóa lên và sống chủ yếu trên bình diện tinh thần. Bulwer cũng sai tương tự, thậm chí tệ hơn, khi để vị chân sư của ông, Zanoni, từ bỏ—sau bao thời đại nỗ lực và thành tựu tinh thần—những hoa trái của Yoga, và sa xuống bình diện tục lụy như chúng ta, những kẻ yếu đuối bị trói buộc trong xiềng xích xác thân và “lấy vợ lấy chồng”. Cả Zanoni lẫn Ram Lal, như được trình bày với chúng ta, hầu như là những điều không thể—trừ phi là những lệch lạc của tự nhiên và là nạn nhân của những âm mưu áp đảo của các lực thô bạo—mà họ lẽ ra đã phải chiến thắng hết lần này đến lần khác khi họ vươn lên từ những tầng thấp nơi dục vọng thống trị và ánh sáng dẫn đường của minh triết bị che khuất. Sự phối ngẫu là điều hoàn toàn tự nhiên đối với con người trung bình, nhưng hoàn toàn không tự nhiên đối với con người lý tưởng đã tiến hóa.

Friendly letters came pouring in to us this month from Sweden, France, Uruguay, Russia, and America, thus showing how the interest in Theosophical ideas was spreading. At this time the covenants for purchase of the Adyar property were signed and exchanged, and I set to work to raise the money, heading the list with a donation of Rs. 2,000, or one-fifth of the sum needed, from H. P. B. and myself—the mention of which fact is, perhaps, pardonable in view of the cruel things said about our having exploited the Society for our personal gain.

Những bức thư thân hữu từ Thụy Điển, Pháp, Uruguay, Nga, và Mỹ trút về với chúng tôi trong tháng này, cho thấy mối quan tâm đến các ý tưởng Thông Thiên Học đang lan rộng ra sao. Lúc này, các khế ước mua khu đất Adyar đã được ký và trao đổi, và tôi bắt tay gây quỹ, đứng tên đầu danh sách với khoản quyên góp 2.000 Rs, tức một phần năm tổng số cần có, từ Bà H. P. B. và tôi—việc nêu chi tiết này, có lẽ, có thể tha thứ, xét đến những điều độc địa được nói về việc chúng ta đã lợi dụng Hội để trục lợi cá nhân.

On 16th January a public reception was given us by the Madras (native) public at Pachaiappah’s Hall. It was a scene of great enthusiasm and excitement. The building was packed to the doors, its approaches crowded, and everything done to signify the pleasure felt in our change of home. Raja Gajapati Row, a well-known personage in the Madras Presidency, took the chair on the occasion, and speeches were made by him and Judges P. Sreenivasa Rowand G. Muthuswamy Chettty, of the Court of Small Causes. I observe that in the course of my response I broached the idea of making a sort of Hindu Sunday School Union, to open schools and publish catechisms for the religious education of Hindu youth, on their own lines, and that it was warmly supported by the leaders of the Hindu community and unanimously ratified by the cheering audience. At that time it might, perhaps, have been regarded as a fanciful scheme; but now, thirteen years later, we see in it a fair way to being realized; a number of Hindu boys’ societies are fully at work, and the little magazine which represents their interests [15] has a constantly growing circulation.

Ngày 16 tháng Giêng, công chúng Madras (bản xứ) mở tiệc tiếp tân tại Hội trường Pachaiappah để chào mừng chúng tôi. Đó là một khung cảnh nhiệt cuồng và náo động. Tòa nhà chật cứng, lối vào cũng đông nghẹt, và mọi thứ đều được làm để biểu đạt niềm vui trước việc chúng tôi dời nhà. Raja Gajapati Row, một nhân vật nổi tiếng ở Phủ Madras, làm Chủ tọa, và có những bài phát biểu của ông và của các Thẩm phán P. Sreenivasa Row và G. Muthuswamy Chettty, thuộc Tòa Án Các Vụ Kiện Nhỏ. Tôi ghi nhận rằng trong bài đáp từ, tôi đã đưa ra ý tưởng lập một kiểu Liên Hiệp Trường Chủ Nhật của người Ấn giáo, mở trường và xuất bản giáo lý vấn đáp để giáo dục tôn giáo cho thanh thiếu niên Ấn giáo theo đường hướng của chính họ, và ý tưởng đó đã được các vị lãnh đạo cộng đồng Ấn giáo nhiệt liệt ủng hộ và khán giả reo hò nhất trí chuẩn thuận. Khi ấy, có lẽ, nó có thể bị xem là một đề án bay bổng; nhưng nay, mười ba năm sau, chúng ta thấy nó đang trên đường thành hiện thực; một số hội nam sinh Ấn giáo đã hoạt động mạnh mẽ, và tạp chí nhỏ đại diện cho quyền lợi của họ có số phát hành tăng đều.

As our lives are made up of unconsidered trifles, and as I wish to give my narrative the seal of reality, I have mentioned many little incidents which help to fill in the picture and place us, pioneers, before the mind’s eye as living beings, not as the absurd exaggerations which have been so often and so unfortunately indulged in. If H. P. B. wrote mighty books, she also ate her fried eggs swimming in grease every morning, and this narrative has to do with the actual personage instead of the ideal. So I record a little detail that interested me enough at the time to make me record it. The presence of a little river back of the house awakened in us the old love of swimming, and we all went in for it, H. P. B. with the rest of us. It must have astonished our European neighbors to see us four Europeans—for that was the time of the two Coulombs—bathing along with a half dozen dark skinned Hindus, and splashing about and laughing together, exactly as though we did not believe we belonged to a superior race. I taught my “chum” to swim, or rather to flounder about after a fashion, and also dear Damodar, who was up to a certain point one of the greatest cowards I ever saw in the water. He would shiver and tremble if the water was half-knee high, and you may believe that neither H. P. B. nor I spared him our sarcasms. I remember well how all that changed. “Fie!” said I. “A pretty adept you will make when you dare not even wet your knee.”

Vì đời sống chúng ta được dệt nên từ những điều vụn vặt không mấy ai lưu ý, và vì tôi muốn đóng dấu thực tại cho câu chuyện của mình, tôi đã nêu nhiều tình tiết nhỏ góp phần tô đậm bức tranh và đặt chúng ta, những người tiên phong, vào mắt trí như những con người sống động, chứ không như những phóng đại lố bịch đã quá thường và quá đáng bị lợi dụng. Nếu Bà H. P. B. viết những bộ sách vĩ đại, thì Bà cũng ăn trứng chiên ngập mỡ mỗi sáng, và câu chuyện này là về con người thật thay vì hình tượng lý tưởng. Vậy nên tôi ghi lại một chi tiết nhỏ đã làm tôi hứng thú đủ để ghi chép. Dòng sông nhỏ sau nhà đã đánh thức trong chúng tôi tình yêu bơi lội ngày xưa, và tất cả chúng tôi cùng xuống nước, Bà H. P. B. cũng như mọi người. Hẳn các láng giềng Âu châu thấy ngạc nhiên khi thấy bốn người Âu chúng tôi—vâng, đó là thời của đôi vợ chồng Coulomb—tắm cùng với nửa tá người Ấn da sẫm, cùng bì bõm và cười đùa với nhau, y như thể chúng tôi không tin rằng mình thuộc một chủng tộc thượng đẳng. Tôi dạy “bạn chí cốt” của tôi bơi, hay đúng hơn là tập lóp ngóp theo một kiểu nào đó, và cả anh chàng Damodar thân mến, người—trong một chừng mực—là kẻ nhát nước nhất mà tôi từng gặp. Anh run rẩy nếu nước mới tới nửa đầu gối, và bạn có thể tin là cả Bà H. P. B. lẫn tôi đã không tiếc lời mỉa mai. Tôi còn nhớ rất rõ mọi thứ đã thay đổi thế nào. “Chà!” tôi nói. “Anh sẽ thành một chân sư đẹp đẽ nhường nào khi đến đầu gối còn chẳng dám ướt.”

He said nothing then, but the next day when we went bathing he plunged in and swam across the stream: having taken my taunt as meant, and decided that he should swim or die. That’s the way for people to grow into adepts. TRY, is the first, last, and eternal law of self-evolution. Fail fifty, five hundred times, if you must, but try on and try ever, and you will succeed at the end. “I cannot” never built a man or a planet.

Anh không nói gì khi đó, nhưng hôm sau khi đi tắm, anh nhào xuống và bơi qua sông: anh đã coi lời trêu của tôi là lời nhắc nghiêm túc, và quyết định rằng phải bơi hoặc chết. Con người trưởng thành thành chân sư là như vậy. HÃY CỐ GẮNG, đó là định luật thứ nhất, cuối cùng và vĩnh cửu của tự tiến hóa. Hãy thất bại năm mươi, năm trăm lần, nếu phải thế, nhưng cứ cố và cứ cố mãi, và bạn sẽ thành công sau cùng. “Tôi không thể” chưa từng xây dựng nên một con người hay một hành tinh.

It was in this same January that H.H. Daji Raj, the young reigning Thakur of the Kathiawar State of Wadhwan, and a member of our Society, paid us a visit. I had begged him to leave his royalty behind him and come as a private gentleman with the usual couple of servants. He said he would, but when I met him at the station he had a tail of nineteen followers, an allowance which he thought modest in the extreme. In fact, when I remonstrated on his descending upon us with such a rabble of valets, cooks, musicians, barbers, and men of the sword, he showed great astonishment at my unreasonableness, and said that, but for my having written him, he should have brought a hundred or more!

Cũng vào tháng Giêng đó, H. H. Daji Raj, vị Thakur đang trị vì trẻ tuổi của bang Wadhwan thuộc Kathiawar, và là một hội viên của chúng ta, đến thăm chúng tôi. Tôi đã năn nỉ ông để lại vương quyền của mình và đến như một quý ông riêng tư với một đôi bầy tôi như thường lệ. Ông nói sẽ thế, nhưng khi tôi đón ông ở ga, ông có đoàn tùy tùng mười chín người, một con số mà ông cho là hết sức khiêm tốn. Thật ra, khi tôi than phiền vì ông kéo đến chỗ chúng tôi cả một đám hỗn tạp đầy tớ, đầu bếp, nhạc công, thợ cạo và võ sĩ, ông tỏ ra hết sức ngạc nhiên trước sự “vô lý” của tôi, và nói rằng nếu không vì tôi đã viết thư dặn, hẳn ông sẽ đem theo cả trăm người hay hơn nữa!

The Thakur Saheb stopped with us from 30th January until 8th February, spending his time in talks with us, visits to the theatre, a sail on the river, a nautch dance, and other distractions. On the evening of the 7th we had an evening party and reception for the Madras Branch members to meet the Raja. The Convention Hall was fresh-carpeted, brightly lighted, and decorated prettily with flowers and potted plants. A number of addresses were made, and, by request, I gave experimental demonstrations of mesmeric control to illustrate a brief exposition of the science.

Thakur Saheb ở với chúng tôi từ 30 tháng Giêng đến 8 tháng Hai, dành thời gian trò chuyện với chúng tôi, đi xem hát, chèo thuyền trên sông, xem vũ nautch, và các thú vui khác. Tối ngày mồng 7, chúng tôi mở tiệc tiếp tân để hội viên Chi bộ Madras gặp gỡ vị Raja. Hội trường Đại hội được trải thảm mới, thắp đèn sáng rực và trang trí xinh xắn bằng hoa và cây cảnh. Có nhiều bài phát biểu, và theo yêu cầu, tôi làm các màn biểu diễn thực nghiệm về kiểm soát bằng mê lực để minh họa cho bài thuyết minh ngắn về khoa học này.

On 17th February I was again on the move, embarking for Calcutta on the French mail steamer “Tibre”. After a pleasant voyage, I reached my destination on the 20th, and was put up at the Guest Palace (Boitakhana) of the Maharajah Sir Jotendra Mohun Tagore. His house was virtually converted into a hospital, for the sick crowded in upon me for treatment and their friends to look on. One of my first cases was an epileptic boy who was having fifty to sixty fits every day. His disease, however, speedily succumbed to my mesmeric passes, and by the fourth day the convulsions had entirely ceased. Whether the cure was permanent I do not know; perhaps not, for it seems unlikely that deep-seated causes, so powerful as to produce such a great number of fits in a day, should be driven out by a few days’ treatment; one would have to keep up the treatment for, possibly, weeks before one could say there was a complete restoration of health. Yet it may have been so for aught I know. Epilepsy, while one of the most fearful of diseases, is at the same time one of those which yield most surely to mesmeric treatment.

Ngày 17 tháng Hai tôi lại lên đường, xuống tàu bưu chính Pháp “Tibre” đi Calcutta. Sau một chuyến đi êm đềm, tôi đến nơi ngày 20, và được sắp xếp ở tại Dinh Khách (Boitakhana) của Ngài Maharajah Sir Jotendra Mohun Tagore. Ngôi nhà của ông gần như được biến thành bệnh viện, vì người bệnh kéo đến tôi để xin chữa, còn thân nhân thì đến xem. Một trong những ca đầu tiên là một cậu bé động kinh lên cơn năm mươi đến sáu mươi lần mỗi ngày. Tuy nhiên, bệnh đã nhanh chóng khuất phục trước các động tác quét tay mê lực của tôi, và đến ngày thứ tư thì các cơn co giật đã hoàn toàn dứt. Việc chữa lành có vĩnh viễn không thì tôi không biết; có lẽ không, vì dường như khó có chuyện những nguyên nhân ăn sâu, mạnh đến mức tạo nên số cơn nhiều như thế trong một ngày, lại bị đánh bật chỉ bằng vài ngày điều trị; phải duy trì điều trị, có thể là nhiều tuần, trước khi có thể nói là phục hồi sức khỏe hoàn toàn. Tuy vậy, cũng có thể như thế, theo những gì tôi biết. Động kinh, trong khi là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất, lại đồng thời là một trong những bệnh chứng đáp ứng chắc chắn nhất với trị liệu bằng mê lực.

I had a number of equally interesting subjects. Among them a young Brahmin, of probably twenty-eight years, who had been suffering from face paralysis for two years, sleeping with his eyes open because unable to close the eyelids, and incapable of projecting his tongue or using it for speech. When asked his name, he could only make a horrible sound in his throat, his tongue and lips being beyond his control. It was a large room where I was at work, and I was standing at one end of it when this patient was brought in. He was stopped just within the threshold by my committee, for examination. When they stated the case they drew back and left the sick man standing alone and looking at me with an eager expression. He indicated in dumb-show the nature of his affliction. I felt myself full of power that morning; it seemed as if I might almost mesmerise an elephant. Raising my right arm and hand vertically, and fixing my eyes upon the patient, I pronounced in Bengali the words: “Be healed!” At the same time bringing my arm into the horizontal position and pointing my hand towards him. It was as though he had received an electric shock. A tremor ran through his body, his eyes closed and re-opened, his tongue so long paralysed, was thrust out and withdrawn, and with a wild cry of joy he rushed forward and flung himself at my feet. He embraced my knees, he placed my foot on his head, he poured forth his gratitude in voluble sentences. The scene was so dramatic, the cure so instantaneous, that every person in the room partook of the young Brahmin’s emotion, and there was not an eye unmoistened with tears. Not even mine, and that is saying a good deal.

Tôi có một số bệnh nhân cũng thú vị không kém. Trong số đó có một người Brahmin trẻ, chừng hai mươi tám tuổi, đã bị liệt mặt suốt hai năm, ngủ mắt mở vì không thể khép mí, và không thể thò lưỡi hay dùng lưỡi để nói. Khi được hỏi tên, anh chỉ có thể phát ra một âm thanh khủng khiếp trong cổ họng, vì lưỡi và môi ngoài tầm kiểm soát. Đó là một căn phòng lớn nơi tôi làm việc, và tôi đang đứng ở một đầu phòng khi bệnh nhân này được đưa vào. Anh bị dừng lại ngay trong ngưỡng cửa bởi ủy ban của tôi, để khám. Khi họ trình bày trường hợp, họ lùi lại và để người bệnh đứng một mình nhìn tôi với ánh mắt khẩn thiết. Anh ra hiệu câm cho thấy tình trạng của mình. Sáng hôm đó tôi cảm thấy mình tràn đầy năng lực; dường như tôi có thể mê lực cả một con voi. Tôi giơ thẳng đứng cánh tay và bàn tay phải, chăm chú nhìn bệnh nhân, rồi phát âm bằng tiếng Bengali: “Hãy được chữa lành!” Đồng thời hạ tay vào tư thế ngang và chỉ bàn tay về phía anh. Tựa như anh vừa nhận một cú điện giật. Một cơn run lan khắp thân, mắt anh khép lại rồi mở ra, cái lưỡi đã bị liệt lâu ngày được thò ra rồi thụt vào, và với tiếng kêu mừng rỡ, anh lao tới và phủ phục dưới chân tôi. Anh ôm đầu gối tôi, đặt chân tôi lên đầu anh, tuôn trào lời tri ân trong những câu nói liến thoắng. Cảnh tượng quá kịch tính, việc chữa lành quá tức thì, đến nỗi mọi người trong phòng đều hòa cùng xúc động với chàng Brahmin trẻ, và không một mắt nào không ươn ướt lệ. Kể cả mắt tôi, mà nói vậy là đã nhiều lắm rồi.

A third case was the most interesting of all. One Babu Badrinath Banerji, of Bhagalpore, an enrolled pleader of the District Court, had lost his sight. He was completely blind, and had to be led by a boy. He asked me to cure him—to restore sight, that is, to a man suffering from glaucoma, with atrophy of the optic disc, who had passed through the hands of the cleverest surgeons of Calcutta, and been discharged from the Hospital as incurable! Ask the nearest surgeon, and he will tell you what that means. Now I had never treated a blind man, and had no idea whatever as to the chances of my doing the patient any good; but in mesmerism one can do nothing if one has the least doubt of his power to do: self-confidence is the one thing indispensable. I first tested the man’s sensitiveness to my mesmeric current, for these were not cures by hypnotic suggestion that I was making, but downright, honest, old fashioned psychopathic, i.e., mesmeric ones. I found to my great satisfaction, that he was the most sensitive patient I had ever met with. Blind, unable even to distinguish day from night, and, therefore, unable to see my motions and take suggestions from them as to my purposes, he stood before me, and as I advanced my finger-tips to within a half-inch of his forehead, and concentrated my will upon my hand that it should be to his nerves as a strong magnet to the suspended needle, his head inclined forward towards my fingers. I moved them slowly away, but the head also moved, and so kept following them until his forehead was within a foot’s distance from the floor. I then shifted the hand noiselessly to the back of his head, and at once he moved it upward and upward until I thus drew him backwards, so that he overbalanced, and I had to catch him in my arms to keep him from falling. This in silence, without a word or a sound to give him the clue to my proceedings. My way being thus cleared, I held the thumb of my clenched right hand before one of his eyes, and that of the left over his neck, and willed a vital current to run from the one to the other, completing with my body a magnetic circuit, of which one glaucomic eye and the optic tract, to its seat of development in the brain, formed parts. This process was continued for about half an hour, the patient remaining fully conscious always and making remarks from time to time as he chose. At the end of the experiment he could see a reddish glimmer of light in that eye. The other eye was then operated upon similarly, with the same result. He returned the next day for further treatment, and this time the light lost its reddish color and became white. Persevering for ten days, I was finally rewarded by seeing him with restored sight, able to read with one eye the smallest type in a newspaper or book, to dispense with his leader, and go about like: anybody else. A surgeon friend of mine pointing out to me the signs of glaucoma, I found the eye-balls as hard as nuts, and set myself to make them normally elastic, like my own, which I did by the third day, by simple passes and the holding of my thumbs, with “mesmeric intent,” i.e., with concentration of will upon the result aimed at, before the sightless orbs, This cure naturally created much talk, as the patient held every needed written proof of his malady having been pronounced incurable by the highest medical professionals; besides which, his blindness was well known to the whole community of Bhagalpore. Two medical men, graduates of the Calcutta Medical College, studied the eyes through an ophthalmoscope and wrote a report of their observations to the Indian Mirror, from which I think it was copied into the Theosophist. The sequel to the cure was most interesting and striking. His sight faded out twice and was twice restored by me; the first time after it had lasted six months, the second time after a whole twelvemonth. In each case I found him totally blind and restored his sight with half an hour’s treatment. To cure him permanently I should need to have him by me, where I could have given him daily treatments until the glaucomic tendency had been completely extirpated.

Trường hợp thứ ba là thú vị nhất. Một vị Babu Badrinath Banerji, ở Bhagalpore, một luật sư bào chữa đã ghi danh tại Tòa án Quận, bị mù. Ông mù hoàn toàn, phải có một cậu bé dẫn đi. Ông xin tôi chữa—tức là phục hồi thị lực cho một người bị glaucoma (thiên đầu thống), với teo đĩa thị giác, đã qua tay những phẫu thuật gia giỏi nhất Calcutta, và bị Bệnh viện cho về, coi như bất trị! Hãy hỏi vị phẫu thuật gia gần bạn nhất xem điều đó nghĩa là gì. Còn tôi, trước đó chưa từng chữa người mù, và hoàn toàn không biết cơ may giúp ích cho bệnh nhân thế nào; nhưng trong mê lực, người ta không làm được gì nếu có chút hoài nghi về năng lực của mình: tự tín là điều kiện tuyệt đối cần thiết. Trước hết tôi thử độ nhạy của ông với dịng mê lực của tôi, vì những ca này không phải là chữa bằng gợi ý thôi miên mà tôi làm, mà là chữa trị thẳng thừng, lương thiện, kiểu “tâm thuật” cổ điển, tức là mê lực. Tôi rất hài lòng khi thấy ông là bệnh nhân nhạy cảm nhất tôi từng gặp. Mù, thậm chí không phân biệt nổi ngày với đêm, và vì vậy không thể thấy động tác của tôi để nhận gợi ý từ đó mà biết ý đồ của tôi, ông đứng trước mặt tôi, và khi tôi đưa đầu ngón tay đến cách trán ông nửa tấc, tập trung ý chí vào bàn tay để nó đối với thần kinh của ông như một nam châm mạnh đối với kim treo, thì đầu ông nghiêng về phía các ngón tay tôi. Tôi từ từ đưa tay ra xa, nhưng đầu ông cũng di chuyển theo, và cứ thế cho đến khi trán ông chỉ còn cách sàn chừng một bộ. Tôi bèn dịch tay một cách không gây tiếng động ra phía sau đầu ông, và lập tức ông ngẩng đầu lên, lên nữa, cho đến khi tôi kéo ông ngửa về sau, khiến ông mất thăng bằng, và tôi phải đỡ ông trong tay để khỏi ngã. Tất cả diễn ra trong im lặng, không một lời hay âm thanh nào cho ông biết manh mối về những gì tôi làm. Con đường đã hanh thông, tôi giữ ngón cái của bàn tay phải nắm chặt trước một mắt của ông, và ngón cái tay trái trên cổ ông, và “truyền” một dòng sinh khí chạy từ ngón này sang ngón kia, để thân tôi hoàn tất một mạch từ—mà trong đó một mắt glaucomic và đường thị giác đến chỗ phát triển của nó trong não—là những phần tử. Quy trình này tiếp tục khoảng nửa giờ, bệnh nhân luôn hoàn toàn tỉnh táo và đôi khi nói chuyện như ý. Cuối thí nghiệm, ông nhìn thấy một tia le lói màu đỏ ở mắt ấy. Mắt kia cũng được xử lý tương tự, với cùng kết quả. Hôm sau ông quay lại điều trị tiếp, và lần này ánh sáng mất sắc đỏ, trở thành trắng. Kiên trì trong mười ngày, sau cùng tôi được thưởng khi thấy ông lấy lại thị lực, có thể đọc bằng một mắt loại chữ nhỏ nhất trong báo hay sách, không cần người dẫn, và đi lại như mọi người. Một người bạn phẫu thuật gia chỉ cho tôi các dấu hiệu của glaucoma, tôi thấy nhãn cầu cứng như hạt dẻ, và quyết làm cho chúng đàn hồi bình thường như mắt tôi, điều mà tôi làm được đến ngày thứ ba, chỉ bằng các động tác quét tay và giữ hai ngón cái, với “ý định mê lực”, tức tập trung ý chí vào kết quả muốn đạt, trước các con mắt mù. Ca chữa này dĩ nhiên gây nhiều lời bàn, vì bệnh nhân có đầy đủ bằng chứng bằng văn bản về chứng bệnh của mình đã bị các nhà chuyên môn y khoa cao nhất kết luận là bất trị; ngoài ra, tình trạng mù của ông còn được cả cộng đồng Bhagalpore biết rõ. Hai thầy thuốc, tốt nghiệp Trường Y Calcutta, dùng ống soi đáy mắt để khảo sát và viết một bản tường trình về quan sát của họ cho tờ Indian Mirror, từ đó tôi nghĩ bài được chép lại trên tờ Theosophist. Hậu truyện của ca chữa là rất đáng chú ý và ấn tượng. Thị lực của ông tắt đi hai lần và hai lần được tôi phục hồi; lần thứ nhất sau sáu tháng, lần thứ hai sau tròn một năm. Mỗi lần như thế tôi đều thấy ông mù hoàn toàn và phục hồi thị lực cho ông với nửa giờ trị liệu. Để chữa hẳn, tôi cần có ông ở bên cạnh, để có thể cho trị liệu mỗi ngày cho đến khi khuynh hướng glaucomic bị tận trừ hoàn toàn.

Somehow I was extremely lucky in curing deafness. An interesting case came before me on 8th March. His brother was, and is, a high-grade functionnary in the Government Telegraph Department, and he was so deaf that one had to shout in his ear to make oneself heard. In two treatments, on two successive mornings, I had got him to the point where—my Diary lies before me and I speak “by the book”—he could hear me talk in an ordinary conversational tone up to the (measured) distance of 52 feet 8 inches: he walking away from me so that I might know he did not “read my lips”. I shall cite one more case coming under my observation during the Calcutta visit in question, and this must be the last, as I must yield space for other writers.

Bằng cách nào đó, tôi cực kỳ may mắn trong việc chữa điếc. Một trường hợp thú vị đến với tôi ngày 8 tháng Ba. Anh trai bệnh nhân là, và hiện vẫn là, một viên chức cao cấp trong Ngành Điện báo của Chính phủ, còn bản thân anh ta thì điếc đến mức người ta phải hét vào tai mới nghe. Qua hai lần điều trị trong hai buổi sáng liên tiếp, tôi đã đưa anh đến mức—Nhật ký đang ở trước mặt tôi và tôi nói “y theo sách”—anh có thể nghe tôi nói ở giọng đàm thoại bình thường ở khoảng cách (đo được) 52 feet 8 inches: anh vừa đi xa dần ra khỏi tôi để tôi biết rằng anh không “đọc khẩu hình” của tôi. Tôi sẽ dẫn thêm một trường hợp nữa dưới sự chứng kiến của tôi trong chuyến thăm Calcutta nói trên, và đây sẽ là trường hợp cuối, vì tôi phải nhường chỗ cho những người viết khác.

One day my dear colleague, Norendro Nath Sen, wrote to ask me to visit a Hindu lady, lying ill of a grievous malady, and pronounce an opinion upon it. The lady’s husband took me to his house and into the zenana, where I found his comely young wife lying on a mattress on the floor, in a hysteric spasm. She would lie thus six to eight hours daily, with her eyes convulsively closed, the eyeballs introverted, the jaws clenched with tetanus, and speechless. A transfer of the sense of sight had occurred; she could read a book with her finger-tips, and by copying the lines on a slate prove her abnormal faculty. I recalled the experiments which Dr. James Esdaile, Presidency Sungeon, had made and recorded in this same Calcutta forty years before, and I repeated them. I found that the hysteriac could not only read with her finger-tips, but also with her elbow and the small toe of one foot, but with no other. She could not read at the pit of the stomach nor at the back of the head, as I had seen other patients do, and as other writers on mesmerism testify to having seen, but she could hear at the umbilicus, even while I had my fingers pressed tightly into her ears and her husband spoke to her in whispers. The case was, of course, curable by mesmerism, but I declined to take it, as I was leaving Calcutta on the second day following, and this case might need a course of treatment extending over days, if not weeks. It presented, as will be seen, features of deep interest to the psychologist, for here, if ever there were such a thing, we saw the transfer of the senses of sight and hearing to places in the body remote from their proper organs, and the fact could not be explained away on any reasonable hypothesis of a materialistic character. Here was mind functioning at the extremities of the nervous system by an extension, as it were, of its organ, the brain. From this to the prodigy of clairvoyance, or the intelligent observation of facts at great distances from the observer’s body, is but a single step. Once let the thinking faculty be displaced from its proper seat to one or more other points within the limits of the thinker’s body, and there is no logical barrier to the extension of its active consciousness outside the body, save the limits of the power of the Finite to grasp the Infinite.

Một ngày nọ, người đồng sự thân quý của tôi, Norendro Nath Sen, viết thư nhờ tôi đến thăm một phụ nữ Ấn giáo, đang nằm bệnh nặng, và cho chẩn đoán. Chồng bà đưa tôi đến nhà và vào khuê nội (zenana), nơi tôi thấy người vợ trẻ đẹp của ông nằm trên tấm nệm trên sàn, trong một cơn co giật hysteric. Bà nằm như vậy mỗi ngày sáu đến tám giờ, mắt nhắm co giật, nhãn cầu đảo vào trong, quai hàm cứng đờ như uốn ván, và câm nín. Đã xảy ra chuyển di cảm quan: bà có thể đọc sách bằng đầu ngón tay, và bằng cách chép lại các dòng trên bảng đá để chứng minh khả năng bất thường. Tôi nhớ lại các thí nghiệm mà Bác sĩ James Esdaile, Bác sĩ trưởng Phủ Toàn quyền, từng làm và ghi nhận ngay tại Calcutta này bốn mươi năm trước, và tôi lặp lại chúng. Tôi thấy người bệnh hysteric không chỉ đọc bằng đầu ngón tay, mà còn bằng khuỷu tay và ngón út của một bàn chân, nhưng không bằng chỗ nào khác. Bà không thể đọc ở vùng thượng vị hay ở sau đầu, như tôi đã thấy những bệnh nhân khác làm, và như những tác giả khác về mê lực từng chứng thực, nhưng bà có thể nghe ở rốn, ngay cả khi tôi đang ấn chặt ngón tay vào tai bà và chồng bà nói với bà bằng thì thầm. Trường hợp này, dĩ nhiên, có thể chữa bằng mê lực, nhưng tôi từ chối nhận chữa, vì tôi rời Calcutta vào ngày thứ hai sau đó, và ca này có thể cần một liệu trình kéo dài nhiều ngày, nếu không phải là nhiều tuần. Nó trình lộ—như sẽ thấy—những đặc điểm sâu sắc đối với nhà tâm lý học, vì ở đây, nếu từng có thứ như thế, chúng ta thấy sự chuyển di các giác quan thị và thính đến những nơi trên thân thể xa cách các cơ quan thích hợp của chúng, và sự kiện này không thể bị giải thích theo bất kỳ giả thuyết hợp lý nào mang tính duy vật. Ở đây là tâm trí đang vận hành tại các đầu mút của hệ thần kinh, như thể bằng sự mở rộng của cơ quan của nó là bộ não. Từ đây đến hiện tượng thông nhãn, tức quan sát thông minh các sự kiện ở những khoảng cách rất xa khỏi thân thể người quan sát, chỉ là một bước. Một khi năng lực tư duy bị “dời chỗ” khỏi tòa vị thích hợp của nó đến một hay nhiều điểm khác trong giới hạn thân thể của người tư duy, thì không còn hàng rào lô-gích nào cho sự mở rộng tâm thức hoạt động của nó ra ngoài thân thể, ngoài những giới hạn của năng lực Hữu hạn trong việc nắm bắt Vô hạn.

CHAPTER XXVII

TOURING AND HEALING IN BENGA—DU HÀNH VÀ CHỮA BỆNH Ở BENGAL

UNTIL our contemporary men of science took up the serious study of mesmerism under its synonym of hypnotism, the stigma of charlatanry was, more or less justly, placed upon it. Its advocates were as culpably eager to claim too much for it as its opponents were to concede too little. The indisputable soundness of its basis is now proved beyond cavil by the results of recent hypnotic research. If such great points as the reality of clairvoyant vision, the transference of thought, and the existence of the mesmeric aura, or “fluid,” are still in dispute, it is consoling to know that the evidence of their reality is daily accumulating. Before long, the materialists will be obliged to admit it, as they have had to do in the matter of the other phenomena of mesmerism.

Cho đến khi các nhà khoa học đương thời của chúng ta nghiêm túc nghiên cứu mê lực dưới tên đồng nghĩa là thôi miên, thì dấu ấn lang băm vẫn, ít nhiều chính đáng, được gán cho nó. Những người bênh vực đã nóng vội đáng trách khi đòi quá nhiều cho nó cũng như những kẻ phản đối đã miễn cưỡng đáng trách khi chẳng chịu thừa nhận chút nào. Nền tảng không thể tranh cãi của nó nay đã được chứng minh vượt ngoài bẻ bác bởi các kết quả của nghiên cứu thôi miên gần đây. Nếu những điểm lớn như thực tại của thị kiến thông nhãn, chuyển di tư tưởng, và sự hiện hữu của hào quang mê lực, hay “lưu chất”, vẫn còn đang bị tranh luận, thì thật an ủi khi biết rằng bằng chứng về thực tại của chúng đang gia tăng từng ngày. Không bao lâu nữa, những người duy vật sẽ buộc phải thừa nhận, như họ đã phải làm đối với các hiện tượng khác của mê lực.

The above thoughts are suggested to me by the record of my psychopathic experiences of the year 1883, which we are now recalling. I had wasted an enormous volume of my vital force in attempting the indiscriminate treatment of the patients presenting themselves to me. While I succeeded in curing hundreds, I had failed in hundreds of other cases and given but temporary relief in as many more, despite my having exerted my full will power and poured out my vitality as freely as in the successful cases. Nay, I may say that when I failed I had made double and sometimes ten times as much effort as when I effected cures of the most striking and sensational character. One day, when I felt myself very tired after my morning’s work, I began thinking that I might spare my forces in the future by adopting a system of selection: could I not apply some test—some auric measure, or, say, an auræ metrum—by which I might pick out the most sensitive patients and abstain from operating on the others? I postulated to myself the existence in each individual of a nerve-fluid which would be characteristic of himself, or herself, and unlike that of every other individual. This, being conducted by the nerves to the extremities from the source of its generation in the brain, spine, and other centres (the sat chakrams), would be conductible by another person’s nervous system in which an identical state of vibratory thrills or pulsations of aura, was occurring, and which might be brought into sympathetic relation with it, and by no other. Therefore a healer like myself could not cause his nerve-aura to enter the nerve-system of any patient which was out of sympathetic vibration with his own system, any more than an electric current could be made to run through a non-conductor. Per contra, the certainty and rapidity of his cure of any given patient would be in proportion to the completeness of this sympathetic vibration. The charge of charlatanism would only lie where the healer would pretend that he possessed some divine influence which was able to cure any patient who had faith in the healer’s powers, regardless of the question of nerve-sympathy between the two individuals. To proceed upon the latter hypothesis would be to bring psychopathy within the domain of positive science. Then, what test could be tried; how could one know and prove to bystanders, which were the most curable patients? The test must produce visible phenomena, such as the most illiterate might appreciate for themselves. The only one of that sort was the phenomenon of “mesmeric attraction,” and it could be applied thus: The patient should be made to stand erect, out on the floor and leaning against nothing, with his hands (unless paralysed, of course) hanging by his sides and his eyes shut, so as to prevent his being controlled by the “silent suggestion” of the movements of the healer’s hands. Better yet, as regards that, if his back were turned to the healer. Then the latter, concentrating his thought and will upon the patient’s head, raising his hand towards it and bringing his fingers together into a point, should silently will that his hand shall become an attractive magnet to draw the patient’s head towards him, This to be kept up a few minutes until it should be seen whether or not the intended effect followed. If almost immediately the patient began swaying on his feet and his head moved towards the operator’s hand, then the latter might be sure that he was dealing with a very sympathetic sensitive, and the cure of his disease would be virtually instantaneous. The case of the young Brahmin whose facial and lingual paralyses were cured, illustrates my meaning, as does also that of Badrinath Babu, the blind man of Bhagalpore, who was marvellously sensitive. If a less extreme degree of attraction showed itself yet still a strong one, the patient would be curable after two, three, or more treatments. So on to the point where, after three or four minutes’ testing, the patient’s head and body gave no responsive movements. There is nothing original in this experiment so far as the act of attraction goes—for that has been known from Mesmer’s time—the novelty was in the using of it as an aurœmeter, a gauge of psychopathic sensitiveness. I tried it the next day with the most gratifying results: my best patients proved to be the most easily effected, Badrinath Babu to such a degree that—as explained in the preceding chapter—I could thus draw his head down to the very floor, and then, shifting my hand to the back of his neck, draw him up and up and over backward, until he would fall into my extended arms. Thenceforward I had to waste no more nerve-force on rebellious nervous systems, while the confidence gained by being able to know just how sensitive my patient was helped me immensely in working cures. For my own guidance, I mentally grouped all patients into ten classes or degrees of sensitiveness and proceeded to handle them accordingly.

Những suy nghĩ trên đến với tôi khi ghi lại các trải nghiệm “tâm thuật” của năm 1883, mà nay chúng ta đang hồi tưởng. Tôi đã lãng phí một lượng sinh lực khổng lồ trong việc cố gắng điều trị tràn lan mọi bệnh nhân tìm đến. Trong khi tôi chữa khỏi hàng trăm người, tôi đã thất bại ở hàng trăm ca khác và chỉ đem lại nhẹ nhõm tạm thời cho cũng chừng ấy, mặc dù tôi đã vận hết ý chí và tuôn đổ sinh lực hào phóng như ở những ca thành công. Không, tôi phải nói rằng khi thất bại, đôi khi tôi đã nỗ lực gấp đôi và thậm chí gấp mười lần so với lúc thực hiện những ca chữa lành ngoạn mục nhất. Một ngày nọ, khi cảm thấy rất mệt sau buổi làm việc sáng, tôi bắt đầu nghĩ rằng mình có thể tiết kiệm sinh lực về sau bằng cách áp dụng một hệ thống chọn lọc: lẽ nào tôi không thể áp một phép thử nào đó—một chuẩn độ hào quang, hay nói sao nhỉ, một “auræ metrum”—nhờ đó tôi có thể chọn ra những bệnh nhân nhạy cảm nhất và kiêng can thiệp vào những người khác? Tôi tự đặt định đề rằng trong mỗi cá nhân có một “dịch thần kinh” mang đặc trưng riêng biệt, không giống của bất kỳ người nào khác. “Dịch” này, được dẫn truyền theo các dây thần kinh đến các đầu mút từ nguồn phát sinh ở não, tủy sống và các trung tâm khác (bảy luân xa), có thể được dẫn truyền bởi hệ thần kinh của một người khác mà trong đó đang diễn ra một trạng thái đồng nhất về nhịp rung hay độ rung của hào quang, và có thể được đưa vào tương ứng cảm ứng với nó—và không thể với bất kỳ hệ thần kinh nào khác. Vậy nên, một nhà chữa lành như tôi không thể khiến hào quang thần kinh của mình nhập vào hệ thần kinh của bất kỳ bệnh nhân nào mà hệ ấy không đồng cảm về rung động với hệ của mình, giống như một dòng điện không thể chạy qua một chất không dẫn. Ngược lại, sự chắc chắn và tốc độ chữa lành cho một bệnh nhân nhất định sẽ tỷ lệ thuận với mức độ đầy đủ của sự đồng cảm rung động ấy. Lời buộc tội lang băm chỉ đặt ra khi người chữa lành vờ như mình có một ảnh hưởng thần thánh nào đó có thể chữa bất kỳ bệnh nhân nào tin vào năng lực của người chữa, bất kể câu chuyện “đồng cảm thần kinh” giữa hai cá thể. Nếu hành xử theo giả thuyết sau, sẽ đưa “tâm thuật” vào phạm trù khoa học dương tính. Vậy, có thể thử phép thử nào; làm sao biết và chứng minh cho người ngoài thấy, ai là những bệnh nhân dễ chữa nhất? Phép thử phải tạo ra hiện tượng hữu hình, để cả những người thất học nhất cũng có thể tự nhận biết. Cái duy nhất thuộc loại đó là hiện tượng “hấp dẫn mê lực”, và có thể áp dụng như sau: Bệnh nhân nên được đặt đứng thẳng, giữa phòng, không tựa vào đâu, hai tay (trừ trường hợp bị liệt, dĩ nhiên) buông hai bên và nhắm mắt, để khỏi bị chi phối bởi “gợi ý im lặng” từ chuyển động tay của người chữa. Tốt hơn nữa, về mặt này, là để lưng bệnh nhân quay về phía người chữa. Sau đó, người chữa, tập trung tư tưởng và ý chí vào đầu bệnh nhân, giơ tay về phía đó và khép các ngón tay thành một điểm, âm thầm “muốn” bàn tay mình trở thành một nam châm hấp dẫn để kéo đầu bệnh nhân về phía mình. Cứ tiếp tục trong vài phút cho đến khi thấy liệu hiệu quả dự định có xảy ra hay không. Nếu gần như tức khắc bệnh nhân bắt đầu đu đưa trên chân và đầu di chuyển về phía tay người điều khiển, thì người điều khiển có thể chắc chắn rằng mình đang làm việc với một người nhạy cảm rất đồng cảm, và việc chữa bệnh về cơ bản sẽ tức thời. Trường hợp chàng Brahmin trẻ bị liệt mặt và lưỡi được chữa khỏi minh họa ý tôi, cũng như trường hợp Badrinath Babu, người mù ở Bhagalpore, nhạy cảm một cách kỳ diệu. Nếu mức độ hấp dẫn ít cực đoan hơn nhưng vẫn mạnh, bệnh nhân sẽ được chữa sau hai, ba hay nhiều lần điều trị. Cứ thế cho đến điểm mà, sau ba bốn phút thử, đầu và thân bệnh nhân không hề đáp ứng. Không có gì là mới mẻ trong thí nghiệm này xét về hành vi hấp dẫn—vì điều đó đã được biết từ thời Mesmer—cái mới là dùng nó như một “aurœmeter”, một thước đo độ nhạy cảm “tâm thuật”. Tôi thử ngay hôm sau và kết quả thật đáng khích lệ: những bệnh nhân tốt nhất của tôi hóa ra là những người dễ bị tác động nhất, Badrinath Babu đến mức—như đã giải thích ở chương trước—tôi có thể kéo đầu ông cúi sát xuống sàn, rồi, dịch tay ra phía sau gáy, kéo ông ngửa lên, ngửa lên mãi, cho đến khi ông sẽ ngã vào vòng tay dang sẵn của tôi. Từ đó về sau, tôi không còn phải phung phí “dịch thần kinh” vào những hệ thần kinh “chống đối”, còn sự tự tin có được nhờ khả năng biết chính xác bệnh nhân của mình nhạy cảm đến đâu đã giúp tôi rất nhiều trong việc chữa lành. Để tự hướng dẫn, tôi phân chia tất cả bệnh nhân trong tâm trí thành mười hạng, hay cấp độ nhạy cảm, và tùy theo đó mà xử lý.

Among the intelligent Europeans who were drawn to the Maharajah’s Guest-Palace to witness my cures was the Rev. Philip S. Smith, of the Oxford University Mission; a pale little man, highly educated, of course, presenting the type of the religious ascetic, and clothed after the Romish fashion, in a white cassock and a hat of about the shape of an American pie. He was very pleasant towards me, and I gave him every chance to satisfy himself as to the reality of psychopathy: he watched every case, put many questions to the patients, and stopped until he and I were left alone towards dusk. Then we had a long talk together about the business, and case after case was dwelt upon and analysed. He declared himself thoroughly satisfied, and said he could not have believed possible what he had seen, upon the testimony of third parties. Then the subject of the Bible miracles was introduced by him, and he had to confess that he had seen me do a number of the things ascribed to Jesus and the Apostles in the matter of healing—sight restored to the blind, hearing to the deaf, speech to the dumb, the use of limbs to paralytics, neuralgia, colic, epilepsy, and other ills removed. “Well, then, Mr. Smith, please tell me,” I said, “how you would draw the line between these healings and the identical cures wrought in the Bible narratives. If I do the same things why should they not be given the same explanation? If the Bible cases were miraculous, why not mine: and if mine are not miraculous, but perfectly natural, perfectly easy to do by anyone who has the right temperament and can pick out the right subjects, then why ask me to believe that what Paul and Peter did was proof of miraculous power? It seems to me quite illogical.” The little man pondered deeply for several minutes while I quietly smoked in silence. Then he gave me an answer that was most original and one which I can never forget: “I grant you that the phenomena are the same in both cases: I cannot doubt that. The only way I can explain it is by assuming that the healings of our Lord were done through the human side of His nature! “

Trong số những người Âu có học thức bị cuốn hút đến Dinh Khách của Ngài Maharajah để chứng kiến các ca chữa của tôi có Mục sư Philip S. Smith, thuộc Phái bộ Đại học Oxford; một người đàn ông nhỏ, xanh xao, dĩ nhiên học vấn cao, mang kiểu mẫu của một ẩn sĩ tôn giáo, y phục theo lối La Mã, áo chùng trắng và đội cái mũ hình dạng như một chiếc bánh pie của Mỹ. Ông rất dễ mến với tôi, và tôi cho ông mọi cơ hội để tự mình thỏa mãn về thực tại của “tâm thuật”: ông quan sát mọi ca, đặt nhiều câu hỏi cho các bệnh nhân, và ở lại cho đến khi chỉ còn ông và tôi với nhau lúc chạng vạng. Rồi chúng tôi có một cuộc đàm đạo dài về công việc, và từng ca được nhắc lại, phân tích. Ông tuyên bố mình hoàn toàn tin phục, và nói rằng ông đã không thể tin những điều mình thấy, nếu chỉ dựa vào lời chứng của người thứ ba. Rồi ông đưa ra đề tài các phép lạ trong Kinh Thánh, và ông phải thừa nhận rằng ông đã thấy tôi làm một loạt những điều được gán cho Đức Jesus và các Tông đồ trong việc chữa bệnh—trả lại thị lực cho người mù, thính lực cho người điếc, tiếng nói cho người câm, công dụng chi thể cho người bại liệt, và loại bỏ đau thần kinh, đau bụng, động kinh, và các nỗi khổ khác. “Vậy thì, thưa Ông Smith, xin cho tôi biết,” tôi nói, “ông sẽ vạch ranh giới thế nào giữa những ca chữa lành này và những ca hoàn toàn giống như thế được thuật trong Kinh Thánh. Nếu tôi làm những điều giống hệt, tại sao chúng không thể cùng một lối giải thích? Nếu các ca trong Kinh Thánh là phép lạ, sao các ca của tôi không là phép lạ: và nếu các ca của tôi không phải phép lạ, mà hoàn toàn tự nhiên, hoàn toàn dễ làm đối với bất kỳ ai có khí chất phù hợp và biết chọn đúng chủ thể, vậy sao lại đòi tôi tin rằng những gì Phao-lô và Phê-rô làm là bằng chứng quyền năng phép lạ? Theo tôi, điều đó hoàn toàn không lô-gích.” Người đàn ông nhỏ trầm tư suy nghĩ mấy phút trong khi tôi yên lặng hút thuốc. Rồi ông đưa ra một câu trả lời rất độc đáo, điều mà tôi không bao giờ quên: “Tôi công nhận rằng hiện tượng là giống nhau trong cả hai trường hợp: tôi không thể nghi ngờ điều đó. Cách duy nhất tôi có thể giải thích là giả định rằng các sự chữa lành của Đức Chúa chúng ta đã được thực hiện qua phương diện nhân tính của Ngài!”