← Old Diary Leaves 3

OLD DIARY LEAVES, Vol. III

OLD DIARY LEAVES, Vol. III

by Henry Steel Olcott

MỤC LỤC

MỤC LỤC3

INTRODUCTION—LỜI GIỚI THIỆU6

CHAPTER I—CHƯƠNG I7

OFFICIAL RECOGNITION—THỪA NHẬN CHÍNH THỨC7

CHAPTER II —CHƯƠNG II18

AN ADEPT SEEN AT PONDICHERRY—MỘT VỊ CHÂN SƯ ĐƯỢC THẤY Ở PONDICHERRY18

CHAPTER III—CHƯƠNG III28

THE MASTER K.H. AT LAHORE—CHÂN SƯ K.H. TẠI LAHORE28

CHAPTER IV—CHƯƠNG IV39

RECEPTION BY THE MAHARAJAH OF KASHMIR —ĐƯỢC TIẾP KIẾN BỞI CỦA KASHMIR MAHARAJAH39

CHAPTER V—CHƯƠNG V49

MYSTERIOUS DISAPPEARANCE OF DAMODAR—SỰ BIẾN MẤT BÍ ẨN CỦA DAMODAR49

CHAPTER VI—CHƯƠNG VI61

“COMING EVENTS CAST THEIR SHADOWS BEFORE”—“CÁC BIẾN CỐ SẮP ĐẾN THƯỜNG ĐỔ BÓNG TRƯỚC”61

CHAPTER VII—CHƯƠNG VII72

PHENOMENA AND HEALING AT NICE—HIỆN TƯỢNG VÀ TRỊ LIỆU Ở NICE72

CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII81

A STRUGGLE IN THE LONDON LODGE, T.S.—MỘT CUỘC TRANH CHẤP TRONG HỘI QUÁN LONDON, T.S.81

CHAPTER IX—CHƯƠNG IX88

H. P. B. AND THE S. P. R. REPORT—H. P. B. VÀ BẢN TƯỜNG TRÌNH CỦA S. P. R.88

CHAPTER X—CHƯƠNG X99

SUCCESSFUL ISSUE OF BUDDHIST MISSION—THÀNH QUẢ TỐT ĐẸP CỦA SỨ MỆNH PHẬT GIÁO99

CHAPTER XI—CHƯƠNG XI123

REALITY OF THOUGHT-TRANSFERENCE—TÍNH HIỆN THỰC CỦA SỰ CHUYỂN TƯ TƯỞNG123

CHAPTER XII—CHƯƠNG XII133

THE PAINTING OF ADEPT PORTRAITS—VIỆC VẼ CÁC CHÂN DUNG CHÂN SƯ133

CHAPTER XIII—CHƯƠNG XIII144

GERMAN EXPERIENCES—NHỮNG TRẢI NGHIỆM Ở ĐỨC144

CHAPTER XIV—CHƯƠNG XIV156

THE COULOMB MISSIONARY CONSPIRACY—ÂM MƯU TRUYỀN GIÁO CỦA NHÀ COULOMB156

CHAPTER XV—CHƯƠNG XV173

FIRST VISIT TO BURMA—CHUYẾN THĂM ĐẦU TIÊN ĐẾN MIẾN ĐIỆN173

CHAPTER XVI—CHAPTER XVI188

H. P. B. LEAVES FOR EUROPE—H. P. B. LÊN ĐƯỜNG SANG CHÂU ÂU188

CHAPTER XVII—CHAPTER XVII203

CONCERNING SIBYLS—BÀN VỀ CÁC NỮ TIÊN TRI203

CHAPTER XVIII—CHƯƠNG XVIII219

FINAL DEPARTURE OF DAMODAR—CUỘC RA ĐI CUỐI CÙNG CỦA DAMODAR219

CHAPTER XIX—CHAPTER XIX232

IN NORTHERN INDIA AGAIN—LẠI Ở BẮC ẤN232

CHAPTER XX—CHAPTER XX244

PROGRESS OF THEOSOPHY IN INDIA—TIẾN TRÌNH CỦA THÔNG THIÊN HỌC Ở ẤN ĐỘ244

CHAPTER XXI—CHƯƠNG XXI256

PHENOMENAL MEMORIES OF PANDITS—NHỮNG KÝ ỨC PHI THƯỜNG CỦA CÁC PANDIT256

CHAPTER XXII—CHAPTER XXII266

H. P. B. IN EXILE—H. P. B. TRONG CẢNH LƯU ĐÀY266

CHAPTER XXIII—CHAPTER XXIII275

TENDER OF RESIGNATION—ĐỆ TRÌNH ĐƠN TỪ CHỨC275

CHAPTER XXIV—CHƯƠNG XXIV286

CREMATION CEREMONY IN CEYLON—LỄ HỎA TÁNG Ở TÍCH LAN286

CHAPTER XXV—CHƯƠNG XXV298

ESTABLISHING A BUDDHIST FLAG—DỰNG LÁ CỜ PHẬT GIÁO298

CHAPTER XXVI—CHƯƠNG XXVI317

FOUNDING THE ADYAR LIBRARY—THÀNH LẬP THƯ VIỆN ADYAR317

CHAPTER XXVII—CHƯƠNG XXVII325

THE OPENING CEREMONY—LỄ KHAI TRƯƠNG325

CHAPTER XXVIII—CHƯƠNG XXVIII339

MORE TOURING IN CEYLON AND WESTERN INDIA—THÊM NHỮNG CHUYẾN DU HÀNH Ở TÍCH LAN VÀ TÂY ẤN339

CHAPTER XXIX—CHAPTER XXIX351

THUGS—THE PRINCE OF WALES IN DANGER—THUGS—THÁI TỬ XỨ WALES LÂM NGUY351

CHAPTER XXX—CHAPTER XXX362

H. P. B. FOUNDS “LUCIFER”—H. P. B. SÁNG LẬP “LUCIFER”362

ENDNOTE374

INTRODUCTION—LỜI GIỚI THIỆU

THE first volume of these historical sketches covered the period from the meeting of Madame Blavatsky and myself, in 1874, to our departure from New York for Bombay in December, 1878; the second tells of our adventures in India and Ceylon, the formation of Branches, the giving of lectures, healings of the sick by hundreds, occult phenomena produced by H.P.B. etc., and brings us down to the autumn of 1883: at this time we take up the thread of narrative, and go forward to the month of May, 1887. I think the reader will agree with me that the subject-matter of this volume possesses absorbing interest, quite equal to that in its two preceding volumes, if not even greater. Accounts are given among other things of my meetings with several of the “Masters” in the course of my travels, and of the results of the same, of our removal of the Society’s Headquarters from Bombay to Madras, of H.P.B.’s last departure from her beloved Indian home into the exile of an European residence. The troublous times of the Coulomb conspiracy are dealt with in this volume, and the true story of the S.P.R. Report is placed on record, so that each member of our world-wide organisation may be in [vi] a position to refute the slanders which, even at this date, echo in some quarters round the name of Mme. Blavatsky. The building and formal installation of the Adyar Library, with ceremonies of an unprecedented character conducted by Indian pandits, Buddhist monks, Parsi mobeds, and a Muslim maulvi, are described, and numberless details of the growth of the Theosophical movement, and of our Society in particular, are given. The story takes us to Europe as well as through Eastern lands, the intelligent reader being afforded the chance of watching the gradual outworking of the plan of the unseen Founders, whom, their visible agents know to be at work through this channel in spreading throughout the world a knowledge of the principles which were taught by the Ancient Sages, and the general understanding and adoption of which would cure most of the evils which now afflict mankind. For men suffer because of ignorance of themselves and their environment, and the false ideals of happiness which they struggle for are begotten by their ignorance—by nothing else. The war of individual men, of classes, and of nations can never—will never—cease until the ideal of the Perfect Man, the omnipotence of His perfected Will, and the irresistible force of the law of Karma are grasped by the public mind, and the present popular ignorance is dispelled.

Tập thứ nhất của những phác thảo lịch sử này bao trùm giai đoạn từ cuộc gặp gỡ giữa Bà Blavatsky và tôi vào năm 1874, đến khi chúng tôi rời New York đi Bombay vào tháng Mười Hai, 1878; tập thứ hai kể về những chuyến phiêu lưu của chúng tôi ở Ấn Độ và Tích Lan, việc thành lập các Chi bộ, các buổi thuyết trình, chữa lành cho hàng trăm người bệnh, các hiện tượng huyền bí do H. P. B. tạo ra, v.v., và đưa chúng ta đến mùa thu năm 1883; từ thời điểm này, chúng ta nối lại mạch tự sự và tiến tới tháng Năm, 1887. Tôi nghĩ độc giả sẽ đồng ý với tôi rằng nội dung của tập này có sức hấp dẫn say đắm, hoàn toàn tương xứng với hai tập trước, nếu không muốn nói là còn hơn. Trong số nhiều điều khác, có các tường thuật về những cuộc gặp gỡ của tôi với vài vị “Chân sư” trong các chuyến du hành và các kết quả của chúng, về việc dời Trụ sở của Hội từ Bombay đến Madras, về lần rời Ấn Độ thân yêu sau cùng của H. P. B. để đi đến cảnh lưu đày sống ở Âu châu. Những thời khốn đốn của âm mưu Coulomb được đề cập trong tập này, và sự thật về Bản Báo cáo của S.P.R. được ghi chép lại, để mỗi hội viên của tổ chức toàn cầu của chúng ta có thể ở [vi] vị thế bác bỏ những lời phỉ báng vốn, đến tận hôm nay, vẫn còn vang vọng nơi này nơi khác quanh tên tuổi của Bà Blavatsky. Việc xây cất và lễ khánh thành chính thức Thư viện Adyar, với các nghi lễ chưa từng có do các pandit Ấn Độ, chư tăng Phật giáo, các mobed Ba Tư giáo, và một vị maulvi Hồi giáo cử hành, được mô tả; cùng vô số chi tiết về sự lớn mạnh của phong trào Thông Thiên Học, và đặc biệt là của Hội chúng ta, cũng được trình bày. Câu chuyện đưa chúng ta đến Âu châu cũng như đi qua các miền phương Đông, tạo điều kiện cho độc giả sáng suốt theo dõi sự triển khai dần dần Thiên cơ của các Vị Sáng Lập vô hình, mà các đại diện hữu hình của Các Ngài biết rõ là đang làm việc qua kênh này để truyền bá khắp thế giới những nguyên tắc do các Bậc Hiền triết Cổ xưa đã dạy; và khi được thấu hiểu rộng rãi, được tiếp nhận chung, chúng sẽ chữa lành phần lớn những tai ương hiện đang giày vò nhân loại. Bởi con người khổ vì ngu tối về chính mình và về môi trường của mình, và vì những lý tưởng sai lầm về hạnh phúc mà họ theo đuổi—chỉ do sự ngu tối ấy mà ra, không phải do gì khác. Cuộc chiến của từng cá nhân, của các giai tầng, và của các dân tộc sẽ không bao giờ—sẽ chẳng bao giờ—chấm dứt cho đến khi lý tưởng về Con Người Toàn Thiện, quyền năng vô hạn của Ý chí được kiện toàn của Ngài, và sức mạnh không cưỡng nổi của định luật nghiệp quả được công chúng nắm bắt, và tình trạng ngu dốt phổ biến hiện nay bị xua tan.

CHAPTER I—CHƯƠNG I

OFFICIAL RECOGNITION—THỪA NHẬN CHÍNH THỨC

IF there was ever a man who could turn a menu into a sort of alimentary poem, it is Brigadier-General A. Kenny-Herbert, ex-Military Secretary to the Government of Madras, now retired and living in London. He possesses so perfect a genius for cooking, that I believe he could develop the latent potentialities of a potato or parsnip so as to force one to realise what must have been the food of the Olympian gods. In fact, I should not be surprised to learn that he had been at least a sous chef in the Jovian kitchen, and along with his colleagues Soyer and Brillat Savarin, had reincarnated to teach our generation how to prepare digestible dishes. It is a passion with him, as it was with Alexandre Dumas, and I very much fear that—if ‘tis truly said that the ruling passion shows strong at death—he would refuse to die until he had had time to give his final orders for the preparation of the “funeral bak’d meats”.

Nếu từng có một người có thể biến một tờ thực đơn thành một loại thi ca ẩm thực, thì ấy là Chuẩn tướng A. Kenny-Herbert, cựu Thư ký Quân vụ của Chính quyền Madras, nay đã hồi hưu và sống ở London. Ông có một thiên tư tuyệt hảo về nấu nướng, đến mức tôi tin rằng ông có thể khai mở tiềm năng tiềm ẩn của củ khoai tây hay củ cải đường để khiến ta cảm nhận được hẳn đó phải là thức ăn của các thần Olympus. Thực vậy, tôi cũng không ngạc nhiên nếu biết rằng ít nhất ông đã từng là một phó bếp trong nhà bếp của Jupiter, và cùng với các đồng nghiệp Soyer và Brillat Savarin, đã tái sinh để dạy thế hệ chúng ta cách chế biến các món ăn dễ tiêu. Ấy là một đam mê ở nơi ông, như đã từng ở nơi Alexandre Dumas, và tôi rất e rằng—nếu quả thật “đam mê chi phối lộ rõ lúc lâm chung”—thì ông sẽ không chịu trút hơi thở cuối cùng cho tới khi kịp đưa ra những chỉ dẫn chót cho việc chuẩn bị “các món nướng dành cho tang lễ”.

General—then only Lieut.-Colonel—Kenny-Herbert invited H. P. B. and myself to his house one day to a tiffin which, in compliment to us, he made an entirely vegetarian repast. After so many years I vainly try to recall the courses, but I have the most vivid recollection of the fact that we and the three other guests declared it to be superlatively appetising. The service [2] matched the food, giving one the impression that this was not a feast of Gargantua, but a Lucullan banquet over the preparation of which an exquisitely refined taste had presided. Most of our Western vegetarian cookery, on the other hand, has given me the impression that it was but the serving up of chicken feed in a style the reverse of attractive to a refined nature. If vegetarians could but get this pseudonymic “Wyvern” to teach them how to do it, their cause would win fifty converts where it now does one. They have proved unmistakably that vegetable food is as nutritious and healthier than meat diet, they need go no farther; but their cause can never be won until their cooks learn how to make one’s mouth water at sight of their dishes.

Khi đó—mới chỉ là Trung tá—Kenny-Herbert đã mời H. P. B. và tôi đến nhà ông dùng bữa trưa, mà để tỏ lòng trân trọng chúng tôi, ông đã chuẩn bị hẳn một bữa chay. Sau nhiều năm, tôi cố công mà vẫn không nhớ ra hết các món, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ rằng chúng tôi và ba vị khách kia đều khẳng định bữa ấy tuyệt ngon. Việc phục vụ [2] sánh đôi cùng món ăn, khiến người ta có cảm giác đây không phải là một yến tiệc kiểu Gargantua, mà là một bữa tiệc kiểu Lucullus—cả quá trình chuẩn bị đều có một khẩu vị tinh tế tuyệt vời chủ trì. Trái lại, phần lớn nghệ thuật nấu chay kiểu Tây mà tôi từng nếm lại cho tôi cảm giác như chỉ là bày biện thức ăn cho gà theo một lối hoàn toàn không hấp dẫn một tâm hồn tao nhã. Nếu những người ăn chay có thể mời được “Wyvern”—bút danh của vị ấy—dạy cho họ cách làm, thì sự nghiệp của họ mỗi khi có một người cải đạo đã sẽ có được đến năm mươi. Họ đã chứng minh không thể nhầm lẫn rằng thức ăn thực vật bổ dưỡng chẳng kém và còn tốt cho sức khỏe hơn đồ mặn; họ không cần đi xa hơn; nhưng sự nghiệp của họ sẽ không bao giờ thành công cho đến khi đầu bếp của họ học được cách làm cho người ta phải “chảy nước miếng” ngay khi nhìn thấy món ăn của họ.

Whether it was the food, or the sweet hospitableness of our hosts, or the semi-malicious banter of Mr. Forster Webster, Mr. Reed, and Capt. Agnew, A. D. C., or the bright sunshine and flowers in the garden, or what not, Madame Blavatsky bubbled over with high spirits and kept the company in continual merriment. Anon, a jest would be followed by an occult teaching, and that by the making of “spirit raps” on the table or silvery bell-tinkling in the air; and this party, like every other in which she had been present, broke up with the impression left on the guests that she was one of the most brilliant and entertaining, if eccentric, personages they had ever encountered. At Ooty, as at Allahabad and Simla, persons of the most influential position were disposed to be friendly to her and to the Society, some of the most impressible ready to submit [3] themselves wholly to her charm. Here, as elsewhere, she spoilt her chances of full success by some sudden caprice of conduct, some passionate revolt against conventional narrow-mindedness, the uttering of strong language, or the indulgence of biting witticisms about some high-placed person. While eminently fitted to shine in the world, and having had many -years of intimacy with it through her high birth, she had passed out of the “sphere of its influence,” and brought away with her a feeling of disgust for social shams and of contempt for moral cowards. She railed at society, not like your parvenus, whose bitterness springs from their being kept beyond the threshold of the salons of the fashionable caste, but as one who, born in the purple and accustomed to equal association with peers and peeresses, had differentiated from her species and stepped up to higher ground.

Không biết vì món ăn, hay vì lòng hiếu khách ngọt ngào của gia chủ, hay vì những lời pha trò hơi tinh quái của Ông Forster Webster, Ông Reed, và Đại úy Agnew, A.D.C., hay vì nắng rực rỡ và hoa trong vườn, hay vì điều gì khác, mà Bà Blavatsky đã tràn trề hứng khởi và khiến cả bọn không ngớt cười vui. Khi thì một câu bông đùa, khi thì một lời dạy huyền bí, rồi lại “tiếng gõ linh hồn” trên mặt bàn hay tiếng chuông bạc lanh lảnh trong không khí; và buổi tiệc này—như mọi buổi nào có Bà tham dự—kết thúc để lại trong khách mời ấn tượng rằng Bà là một trong những nhân vật rực rỡ và thú vị nhất, dẫu lập dị, mà họ từng gặp. Ở Ooty, cũng như ở Allahabad và Simla, những người ở địa vị có ảnh hưởng nhất đều có thiện cảm với Bà và với Hội, một số người dễ cảm ứng nhất thì sẵn lòng phó thác [3] hoàn toàn cho sức hấp dẫn của Bà. Nhưng, ở đây như ở nơi khác, Bà lại tự làm hỏng cơ hội thành công trọn vẹn bởi một cơn thất thường nào đó trong cách xử sự, một cuộc phản kháng dữ dội nào đó trước đầu óc hẹp hòi của thói thường, những lời nặng nề, hoặc những câu bông đùa cay nghiệt về một nhân vật ở địa vị cao. Dù rất thích hợp để tỏa sáng giữa chốn thị thành, và đã có nhiều năm thân thuộc với nó nhờ sinh trưởng trong gia đình quyền quý, Bà đã bước ra khỏi “vùng ảnh hưởng” của nó, và mang theo một cảm giác ghê tởm đối với những giả trá xã hội và khinh bỉ đối với những kẻ hèn nhát về đạo đức. Bà mắng nhiếc xã hội, không như những kẻ trưởng giả học làm sang vốn cay đắng vì bị giữ ngoài ngưỡng cửa các salon của giới thượng lưu, mà như một người, sinh trong nhung lụa và quen giao du bình đẳng với các công hầu khanh tướng, nay đã ly sai khỏi đồng loại và bước lên bình diện cao hơn.

The culminating point of my visit was the settlement with the Madras Government of the civil status of the Theosophical Society which, as was remarked in Chapter XXX of the preceding volume, was successfully accomplished on 12th September, 1883, at Ootacamund. For convenient reference, I shall quote in this connection the text of the letters which passed between myself and the Governor-in-Council. They were as follows:

Đỉnh điểm của chuyến thăm của tôi là việc dàn xếp với Chính quyền Madras về địa vị pháp lý của Hội Thông Thiên Học, việc mà như đã nói ở Chương XXX của tập trước, đã được hoàn tất tốt đẹp vào ngày 12 tháng Chín, 1883, tại Ootacamund. Để tiện tham chiếu, tôi sẽ trích dưới đây toàn văn các thư đã trao đổi giữa tôi và Toàn quyền—trong—Hội đồng. Chúng như sau:

From COLONEL HENRY S. OLCOTT,

Từ ĐẠI TÁ HENRY S. OLCOTT,

President of The Theosophical Society.

Chủ tịch Hội Thông Thiên Học.

TO THE HONORABLE E. F. WEBSTER,

KÍNH GỬI NGÀI E. F. WEBSTER,

Chief Secretary to the Government of Madras.

Tổng Thư ký Chính quyền Madras.

[4]

[4]

SIR,-I have the honor to address you on behalf of the Theosophical Society, of which I am President, and the objects of which organisation are as follow:

THƯA NGÀI,—Tôi hân hạnh kính trình Ngài thay mặt cho Hội Thông Thiên Học, mà tôi là Chủ tịch, và tôn chỉ của tổ chức này như sau:

I. (a) To promote the feeling of mutual tolerance and kindness between people of different races and religions;

I. (a) Khơi dậy tình khoan dung và nhân ái giữa những người thuộc các chủng tộc và tôn giáo khác nhau;

(b) To encourage the study of the philosophies, religions, and science of the ancients, particularly of the Aryans;

(b) Khuyến khích việc nghiên cứu các triết học, tôn giáo và khoa học của cổ nhân, đặc biệt của người Arya;

(c) To aid scientific research into the higher nature and powers of man.

(c) Hỗ trợ nghiên cứu khoa học về bản tánh và các năng lực cao của con người.

II. These are our only corporate aspirations, and, since the year 1875—when the Society was founded at New York—they have been openly declared and publicly defended. With them we have exclusively occupied ourselves, and have most strenuously refused to meddle with politics or to advocate any creed to the exclusion of others.

II. Đó là những nguyện vọng tập thể duy nhất của chúng tôi, và từ năm 1875—khi Hội được thành lập tại New York—chúng đã được công khai tuyên bố và biện hộ trước công luận. Với những mục tiêu ấy, chúng tôi đã chuyên chú hành động, và đã kiên quyết tránh can dự vào chính trị hoặc cổ xúy một tín điều nào loại trừ các tín điều khác.

III. The principal seat of the Society’s operations was transferred from New York to India in February, 1879, for the greater convenience of our purely Oriental researches, and in December, 1882, was moved from Bombay to Madras for a like reason.

III. Trung tâm chính của hoạt động của Hội đã được chuyển từ New York sang Ấn Độ vào tháng Hai, 1879, để tiện cho các nghiên cứu hoàn toàn phương Đông của chúng tôi, và đến tháng Mười Hai, 1882, lại được dời từ Bombay đến Madras cũng vì lý do tương tự.

IV. The Society was, in the first instance, an open body; but it was found in practice that the successful prosecution of physical experiments, in the progress of which the most private thoughts and aspirations of our common nature had to be expressed, demanded a more confidential relation between members. The principle of secrecy, identical with that of Free Masonry and Odd Fellowship, and with the same laudable motive, was therefore adopted as early as the second year of the Society’s existence.

IV. Thoạt đầu, Hội là một tổ chức mở; nhưng trên thực tế, người ta thấy rằng việc tiến hành thành công các thí nghiệm thuộc về thể chất—trong đó những ý nghĩ và khát vọng riêng tư nhất của bản tánh chung của chúng ta phải được bộc lộ—đòi hỏi một mối liên hệ tin cậy hơn giữa các hội viên. Do đó, nguyên tắc giữ bí mật—tương tự như của Hội Tam điểm và Hội Odd Fellows, và cũng với động cơ đáng khen như vậy—đã được chấp nhận từ ngay năm thứ hai sau khi Hội ra đời.

V. Our work being thus cut off from public view, many ladies and gentlemen of good position, socially, joined us, both in America and Europe—where branches after a while sprang up. But coincidently with our coming to India this private relation between ourselves, and the great favor which our endeavors to revive Aryan learning excited among Hindus, caused a suspicion—to the last degree unjust and unfounded—that we might have under the mask of philosophical study some political design. Accordingly, the Government of India, at the instance of Her Majesty’s Home Government, caused us to be watched both at Bombay, our residence, and while travelling over India. There being nothing whatever to discover of the nature apprehended, the expense and trouble lavished upon us only ended in proving our blamelesseness of motive and conduct. For sufficient proof of which I would respectfully invite attention to the enclosed letter [No. 1025 E. G., dated Simla, the 2nd October, 1880] from the Secretary to Government in the Foreign Department to myself—which I transmit in the original, with request for its return. It is therein remarked that “the Government of India has no desire to subject you (ourselves) to any inconvenience during your (our) stay in the country,” and “so long as the members of the Society [6] confine themselves to the prosecution of philosophical and scientific studies, wholly unconnected with politics,.... they need apprehend no annoyance, etc., etc.”

V. Công việc của chúng tôi vì thế bị cắt khỏi tầm nhìn công chúng, và nhiều vị phu nhân, quý ông ở địa vị xã hội tốt đã gia nhập chúng tôi, cả ở Mỹ lẫn ở Âu châu—nơi mà sau một thời gian cũng nảy sinh các Chi bộ. Nhưng trùng với việc chúng tôi đến Ấn Độ, mối quan hệ kín đáo này giữa chúng tôi, cùng với sự mộ chuộng lớn lao mà những nỗ lực khơi phục học thuật Arya của chúng tôi khơi dậy nơi người Hindu, đã gây nên một ngờ vực—hết sức bất công và vô căn cứ—rằng có thể dưới chiếc mặt nạ nghiên cứu triết học, chúng tôi còn có động cơ chính trị nào đó. Vì thế, Chính quyền Ấn Độ, theo gợi ý của Chính phủ Mẫu quốc của Nữ hoàng, đã cho giám sát chúng tôi cả ở Bombay, nơi cư trú, lẫn khi đi lại khắp Ấn Độ. Vì chẳng có gì thuộc loại họ lo ngại để phát hiện, nên chi phí và công sức đổ vào chúng tôi chỉ rốt cuộc chứng tỏ mục đích và hạnh kiểm của chúng tôi hoàn toàn vô tì vết. Để có chứng cứ đủ đầy, tôi xin trân trọng mời lưu ý đến bức thư đính kèm [Số 1025 E. G., đề ngày Simla, 2 tháng Mười, 1880] của Thư ký Chính phủ thuộc Bộ Ngoại giao gửi cho tôi—mà tôi gửi bản gốc, kính xin hoàn trả. Trong thư có nói rằng “Chính quyền Ấn Độ không có ý gây bất tiện cho ông (chúng tôi) trong thời gian ông (chúng tôi) lưu lại xứ sở,” và “chừng nào các hội viên của Hội [6] còn giới hạn mình trong việc tiến hành các nghiên cứu triết học và khoa học, hoàn toàn không dính dáng đến chính trị,.... thì họ chẳng có gì phải e ngại bị quấy nhiễu, v.v., v.v.”

VI. The above decision is in strict accordance with the oft-declared policy of Her Most Gracious Majesty’s Asiatic relations with subjugated peoples, to maintain strict neutrality in all matters involving religious inquiry or belief; and, having ever faithfully observed the laws and respected the established regulations of Government in India—as everywhere else throughout the world where our Society has branches—we are entitled to protection, and demand it as our right.

VI. Quyết định trên hoàn toàn phù hợp với chính sách, vốn được tuyên bố nhiều lần, của Nữ hoàng Tối nhân từ trong quan hệ với các dân tộc Á châu bị trị: giữ trung lập nghiêm ngặt trong mọi vấn đề liên quan đến khảo cứu hay tín ngưỡng tôn giáo; và vì chúng tôi luôn tuân thủ luật pháp và tôn trọng các quy định hiện hành của Chính quyền ở Ấn Độ—cũng như ở khắp nơi trên thế giới nơi Hội chúng tôi có Chi bộ—chúng tôi xứng đáng được bảo hộ, và đòi hỏi điều ấy như một quyền lợi chính đáng.

VII. Entire freedom from annoyance and molestation we have not enjoyed in the Madras Presidency. In various quarters a certain pressure, none the less; menacing because unofficial, has been put upon Hindu subordinates to prevent their taking active interest in our work. Though the vindication of the wisdom, virtues, and spiritual achievements of their ancestors was involved, they have been made to feel that they could not be Theosophists without losing the goodwill of their superiors—possibly their chances of promotion. Timid by nature, the subordinates have, in many—though, to the honour of true manhood, be it said, not all—instances, sacrificed their feelings to this petty tyranny. But despite all opposition, whether of sectarian bigotry or other kinds, the Society has so rapidly increased, that it has already founded twenty Branches within the [7] Madras Presidency. An impartial inquiry among our members will show that the influence upon the natives is excellent: improving their moral tone, making them more religious, more self-reliant, and more tractable as subjects. Should the Government of Madras care to test the truth of this assertion, I shall most gladly furnish every needed facility.

VII. Tại Phủ Madras, chúng tôi chưa được hoàn toàn tự do khỏi phiền nhiễu và sách nhiễu. Ở nhiều nơi, một sức ép nào đó, tuy không chính thức nhưng vẫn đáng lo, đã được đặt lên các thuộc viên Hindu nhằm ngăn cản họ tham gia tích cực vào công việc của chúng tôi. Dù rằng việc minh tuyền trí tuệ, đức hạnh và thành tựu tinh thần của tổ tiên họ là điều nằm trong đó, họ đã bị làm cho cảm thấy rằng họ không thể là người Thông Thiên học mà không đánh mất thiện chí của thượng cấp—có thể là cả cơ hội thăng tiến. Vốn nhút nhát, các thuộc viên, trong nhiều—nhưng, vì vinh dự của khí phách chân chính, cần nói rằng, không phải tất cả—trường hợp, đã hy sinh cảm tình của mình trước sự chuyên quyền nhỏ nhen ấy. Nhưng bất chấp mọi chống đối, dù của cuồng tín giáo phái hay các loại khác, Hội đã phát triển nhanh đến mức đã lập được hai mươi Chi bộ trong [7] Phủ Madras. Một cuộc điều tra vô tư giữa các hội viên của chúng tôi sẽ cho thấy ảnh hưởng đối với dân bản xứ là rất tốt: nâng cao phẩm hạnh, làm cho họ sùng kính hơn, tự cậy hơn, và ngoan hiền hơn trong tư cách thần dân. Nếu Chính quyền Madras muốn kiểm chứng thực hư lời này, tôi sẽ rất vui lòng cung cấp mọi phương tiện cần thiết.

VIII. In view of the above facts, what I respectfully ask is, that the Government will make it understood that so long as the Theosophical Society shall keep to its declared field of activity, an absolute neutrality shall be observed towards it by officials throughout the Presidency; and especially forbid that the fact of membership or non-membership shall even be considered in determining the claims of any employée, English or Native, to official favor.

VIII. Xét những sự việc nêu trên, điều tôi trân trọng thỉnh cầu là Chính quyền hãy cho hiểu rằng chừng nào Hội Thông Thiên Học còn giữ đúng phạm vi hoạt động đã tuyên bố, thì các quan chức khắp Phủ sẽ phải giữ thái độ tuyệt đối trung lập đối với Hội; và đặc biệt, phải cấm việc cân nhắc tư cách hội viên hay không hội viên khi định đoạt quyền lợi của bất kỳ nhân viên nào, người Anh hay người bản xứ, đối với sự ưu ái của công vụ.

I have the honor to be, sir,

Tôi hân hạnh được là,

Your most obedient servant,

Kẻ tận tụy vâng mệnh của Ngài,

H.S.OLCOTT,

H. S. OLCOTT,

President, Theosophical Society.

Chủ tịch, Hội Thông Thiên Học.

___________

___________

PUBLIC DEPARTMENT

BỘ PHẬN CÔNG VỤ

Proceedings of the Madras Government

Nghị sự của Chính quyền Madras

Read the following [foregoing] letter from Colonel H. S. Olcott, President, Theosophical Society, dated 7th September, 1883: (l) stating the objects of the Society; (2) transmitting a letter addressed to him by [8] the Government of India, Foreign, Department, of 2nd October, 1880, promising the members of the Society freedom from all annoyance so: long as they confine themselves to the prosecution of philosophical and scientific studies wholly unconnected with politics; (3) complaining that in various quarters of the Madras Presidency, some native subordinates have been made to feel that they cannot join the, Society without losing the goodwill of their official Superiors.

Đọc bức thư sau đây [đã dẫn ở trên] của Đại tá H. S. Olcott, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học, đề ngày 7 tháng Chín, 1883: (1) nêu tôn chỉ của Hội; (2) chuyển một bức thư gửi cho ông bởi [8] Chính quyền Ấn Độ, Bộ Ngoại giao, đề ngày 2 tháng Mười, 1880, hứa cho các hội viên của Hội được tự do khỏi mọi quấy nhiễu chừng nào họ còn giới hạn mình trong việc tiến hành các nghiên cứu triết học và khoa học hoàn toàn không liên hệ đến chính trị; (3) khiếu nại rằng ở nhiều nơi trong Phủ Madras, một số thuộc viên bản xứ đã bị làm cho cảm thấy rằng họ không thể gia nhập Hội mà không đánh mất thiện chí của thượng cấp công vụ của họ.

ORDER

LỆNH

13th September, 1883, No. 1798

Ngày 13 tháng Chín, 1883, Số 1798

Colonel Olcott may be assured that this Government will strictly follow the lines that have been laid down by the Government of India in their letter to his address. In regard to the complaint he has preferred, they observe that it is of a general nature only, no specific instances being mentioned; and His Excellency the Governor-in-Council need only say that he would highly disapprove any interference with the religious or philosophical ideas of any section of the population.

Có thể trấn an Đại tá Olcott rằng Chính quyền này sẽ tuân thủ nghiêm ngặt đường lối đã được Chính quyền Ấn Độ nêu trong thư gửi cho ông. Về khiếu nại ông đã nêu, nhận thấy đó chỉ là tính chất chung chung, không nêu trường hợp cụ thể nào; và Ngài Toàn quyền—trong—Hội đồng chỉ cần nói rằng Ngài sẽ hết sức bất bình trước bất kỳ sự can thiệp nào vào tư tưởng tôn giáo hay triết học của bất kỳ thành phần nào trong dân chúng.

[True Extract]

[Trích đúng nguyên văn]

(Sd.) FORSTER WEBSTER,

(Đã ký) FORSTER WEBSTER,

Ag. Chief Secretary.

Quyền Tổng Thư ký.

TO COLONEL H. S. OLCOTT,

GỬI: ĐẠI TÁ H. S. OLCOTT,

President, Theosophical Society.

Chủ tịch, Hội Thông Thiên Học.

I have elsewhere mentioned H. P. B.’s inheritance of the fiery temper of the Dolgoroukis, and the [9] terrible struggle it was to even measurably subdue her irritability. I will now tell a story which I had from her own lips, and the incidents of which had a most lasting effect upon her through life. In childhood her temper was practically unrestrained, her noble father petting and idolising her after the loss of his wife. When, in her eleventh year, the time came for her to leave his regimen and pass under the management of her maternal grandmother (the wife of General Fadeyef, born Princess Dolgorouki), she was warned that such unrestrained liberty would no longer be allowed her, and she was more or less awed by the dignified character of her relative. But on one occasion, in a fit of temper at her nurse, a faithful old serf who had been brought up in the family, she struck her a blow in the face. This coming to her grandmother’s knowledge, the child was summoned, questioned, and confessed her fault. The grandmother at once had the castle bell rung to call in all the servants of the household of whom there were scores, and when they were assembled in the great hall, she told her that she had acted as no lady should, in unjustly’ striking a helpless serf who would not dare defend herself; and she ordered her to beg her pardon and kiss her hand in token of sincerity. The child at first, crimson with shame, was disposed to rebel, but the old lady told her that if she did not instantly obey she would send her from her house in disgrace. She added that no real noble lady would refuse to make amends for a wrong to a servant, especially one who [10] by a lifetime of faithful service had earned the confidence and love of her superiors. Naturally generous and kind-hearted towards the people of the lower classes, the impetuous child burst into tears, kneeled before the old nurse, kissed her hand, and asked to forgiven. Needless to say she was thenceforth fairly worshipped by the retainers of the family. She told me that that lesson was worth everything to her, and it had taught her the principle of doing justice to those whose social rank made them incapable of compelling aggressors to do rightly towards them.

Ở nơi khác tôi có nhắc đến việc H. P. B. thừa hưởng tính khí bốc lửa của dòng Dolgorouki, và [9] cuộc vật lộn ghê gớm để chí ít cũng phần nào kềm giảm được sự cáu kỉnh của Bà. Giờ tôi sẽ kể một câu chuyện chính Bà đã kể cho tôi, và những tình tiết của nó đã có ảnh hưởng bền bỉ lên Bà suốt đời. Khi còn bé, Bà hầu như chẳng bị kiềm chế tính khí, người cha quý tộc của Bà nuông chiều và sùng ái Bà sau khi mất vợ. Đến năm thứ mười một, lúc phải rời sự chăm nom của người cha để chuyển sang sự quản lý của người bà ngoại (phu nhân Tướng Fadeyef, nhũ danh Công chúa Dolgorouki), Bà được cảnh báo rằng sự tự do không kiềm tỏa như thế sẽ không còn được cho phép nữa, và Bà cũng có phần kính sợ trước phong thái đĩnh đạc của thân mẫu bà. Nhưng có lần, trong một cơn nóng giận với người vú, một lão nông nô trung tín đã lớn lên trong gia đình, Bà đã tát một cái vào mặt bà ấy. Chuyện đến tai bà ngoại, đứa trẻ được gọi đến, bị hỏi, và thú nhận lỗi. Bà ngoại lập tức cho rung chuông tòa nhà để gọi hết thảy gia nhân—vốn đông đến hàng chục—về tập hợp ở đại sảnh; và khi họ đã có mặt, bà bảo đứa trẻ rằng nó đã hành xử không xứng tư cách một tiểu thư, khi vô cớ đánh một nông nô bất lực, người không dám tự vệ; rồi truyền cho nó phải xin lỗi và hôn tay bà vú như dấu hiệu thành khẩn. Ban đầu đứa trẻ đỏ bừng vì xấu hổ, có ý muốn chống, nhưng lão phu nhân bảo rằng nếu nó không lập tức vâng lời, bà sẽ đuổi nó khỏi nhà trong tủi nhục. Bà nói thêm rằng chẳng một tiểu thư quý phái thực sự nào lại từ chối đền bù một điều sai trái đối với gia nhân, nhất là người [10] đã, bằng cả đời trung thành, xứng đáng được thượng cấp tin cậy và yêu mến. Vốn rộng lượng và nhân hậu với những người thuộc tầng lớp thấp, đứa trẻ nóng nảy òa khóc, quỳ xuống trước bà vú già, hôn tay bà, và xin được tha thứ. Không cần nói cũng biết, từ đó Bà được gia nhân trong nhà thờ phụng. Bà kể với tôi rằng bài học ấy quý hơn hết thảy đối với Bà, nó đã dạy Bà nguyên tắc làm công bằng đối với những người mà địa vị xã hội khiến họ không thể buộc kẻ xâm phạm phải cư xử đúng đắn với họ.

All who have published reminiscences of her childhood—Mme. Jelihovsky, her sister; Mlle. Fadeyef, her aunt; Mr. Sinnett, and others—testify to the innate kindness and chivalrousness of her disposition, notwithstanding her inability to restrain her tongue or her temper, which too often, as at Ooty, brought her into trouble. But whatever her faults, there is one chargeable to a high placed lady at Ootacamund which does not redound to the latter’s credit. My readers may remember my telling in the previous volume of H. P. B.’s “doubling” a valuable topaz or yellow diamond in a ring for Mrs. Sinnett while we were together at Simla. She did a similar favor for the lady friend at Ootacamund, a duplicate being made for her by H. P. B. of a valuable sapphire. In the course of time she and the lady fell out, or rather the lady fell away from her, but kept the stone, which she had had appraised by a jeweller and found its commercial value to be quite two hundred rupees. If [11] poor, impecunious H. P. B. had played her—as was pretended—the trick of passing off a valuable sapphire (which she did not possess before it went from her hand to the lady’s) as a mysterious apport, at least the recipient kept it and made the only profit out of the: transaction!

Tất cả những ai đã viết hồi ức về thời thơ ấu của Bà—Bà Jelihovsky, chị gái của Bà; cô Fadeyef, dì của Bà; Ông Sinnett, và những người khác—đều làm chứng cho lòng nhân ái và tinh thần hiệp sĩ bẩm sinh trong tính tình của Bà, bất chấp việc Bà không kiềm nổi lời nói hay cơn nóng, điều quá thường xuyên, như ở Ooty, đã đưa Bà vào rắc rối. Nhưng dù Bà có khuyết điểm gì, có một điều quy cho một vị phu nhân ở địa vị cao tại Ootacamund thì chẳng làm vinh dự gì cho người ấy. Độc giả hẳn còn nhớ tôi có kể trong tập trước chuyện H. P. B. “nhân đôi” một viên topaz quý hay kim cương vàng gắn nhẫn cho Bà Sinnett khi chúng tôi cùng ở Simla. Bà đã làm một ân huệ tương tự cho một nữ thân hữu ở Ootacamund, tạo một bản song trùng cho bà ấy, do tay H. P. B., của một viên sapphire quý. Rồi theo thời gian, Bà và vị phu nhân kia bất hòa, hay đúng hơn là vị phu nhân kia rời bỏ Bà, nhưng giữ viên đá, đem cho thợ kim hoàn định giá và thấy giá thương mại của nó là chừng hai trăm rupee. Nếu [11] H. P. B. đáng thương, túng thiếu đã, như bị cáo buộc, giở trò đánh lừa bằng cách đưa một viên sapphire quý (mà trước khi nó rời tay Bà sang tay vị phu nhân, Bà không hề sở hữu) như một vật được “chuyển dịch” huyền linh, thì ít nhất người nhận vẫn giữ nó và là người duy nhất thu lợi từ vụ việc!

Two days after receipt of the Order in Council, we two left beautiful Ooty in tongas for Coimbatore, where we tarried three days, receiving visitors, answering questions, and taking candidates into membership. I lectured on two successive days and did a good deal of psychopathic work: on 19th September, it appears, I mesmerised thirty large jars of water and seventeen bottles of oil for the use of the sick. H. P. B. was present when, in the usual formal way, I organised a local Branch under the name of the Coimbatore T. S. Our visit finished, we left for Pondicherry, followed by warm protestations of affectionate goodwill. This was one of the two or three occasions only in which my colleague even assisted in the formation of Indian Branches, despite the foolish idea entertained by many, ignorant of the facts, who constantly talk of her personally founding our Branches and wearing herself out with travel and its privations. Greater stuff was never spoken: her sphere was the literary and spiritual one, and her travelling in those days was mainly limited to the distances between her writing-table, the dining-room, and her bed. She was as unfit for platform and pioneer organising work as she was for cooking; and when we remember that [12] she thought to get boiled eggs by laying them, raw, on the hot coals, her culinary aptitude is easily gauged. Moreover, she had too much sense to try it, but kept strictly to her own department, as I did to mine.

Hai ngày sau khi nhận được Sắc lệnh của Hội đồng, hai chúng tôi rời Ooty xinh đẹp bằng xe tonga đi Coimbatore, nơi chúng tôi dừng lại ba ngày, tiếp khách, trả lời thắc mắc, và nhận đơn xin gia nhập. Tôi thuyết trình hai ngày liên tục và làm khá nhiều việc chữa trị bằng tâm lực: vào ngày 19 tháng Chín, tôi đã từ hóa ba mươi chum nước lớn và mười bảy chai dầu cho người bệnh dùng. H. P. B. có mặt khi, theo nghi thức thường lệ, tôi tổ chức một Chi bộ địa phương của T. S. tại Coimbatore. Kết thúc chuyến thăm, chúng tôi lên đường đi Pondicherry, được tiễn bằng những lời bày tỏ nồng ấm tình thân ái. Đây là một trong hai hay ba dịp hiếm hoi đồng sự của tôi có dự phần vào việc thành lập các Chi bộ Ấn Độ, trái với ý niệm ngây ngô của nhiều người, không thông thạo sự thật, vẫn chăm chăm nói rằng chính Bà đích thân lập các Chi bộ của chúng ta và tự khánh kiệt bởi đường xa dặm dài và những nỗi gian truân. Chưa bao giờ có điều gì ngớ ngẩn hơn được thốt ra: lĩnh vực của Bà là văn bút và tinh thần, còn những chuyến đi của Bà thời ấy phần lớn chỉ giới hạn trong khoảng cách từ bàn viết, phòng ăn đến giường ngủ. Bà không thích hợp với diễn đàn và công việc tổ chức mở đường cũng như không thích hợp với việc bếp núc; và nhớ rằng [12] Bà tưởng có thể luộc trứng bằng cách đặt chúng—còn sống—lên than hồng, thì tài nấu nướng của Bà cũng đã có thể dễ dàng đo lường. Vả lại, Bà đủ khôn ngoan để không dấn vào, mà giữ nghiêm ngặt lĩnh vực của riêng mình, như tôi giữ lĩnh vực của tôi.

From the Nilgiris to the French territory of Pondicherry one has to cross country from West to East by rail, at Villupuram Junction changing to a short, branch line of twenty-six miles that takes one to Pondicherry. An amusing episode occurred between the two stations. At the Junction a certain elderly Hindu gentleman of our acquaintance accosted us with the usual signs of exaggerated reverence, so easily seen through by foreigners, and begged me to cure a paralytic—some rich or influential person—who would apply to me before reaching Pondicherry. Now this was too much for good nature; if I was to be pestered from morning to night by patients while stopping at stations, at least I ought to be allowed to rest myself while traveling. Naturally, I refused the man’s request; but he stuck to me like a leech, got into our compartment of the train, and urged, and fawned, and begged until he wore out my patience. Just then we came to a place where there was a halt of ten minutes, and my pest abased himself to the dust to persuade me to get out and cure his man, whom we saw sitting in an arm-chair on the platform with a number of people about him. In desperation, and to rid myself of the man’s importunities, I got out, went over to the sick man, handled his paralysed [13] limbs, made mesmeric passes over them with a little massage, got his arm flexible, then his leg, made him stand, walk, put his bad foot on his chair, lift the chair with the just-paralysed hand, and then, as the engine whistle blew, salaamed the company and ran back to our carriage. All this while H. P. B. had sat at a window, smoking a cigarette and watching my performance: she had never seen me at this work before and was deeply interested. As the train started, we saw my cured paralytic walk off, followed by his party and by a servant carrying the chair; not one of them looking behind him. The effect upon H. P. B. was most comical to me and set me to laughing heartily. The language she used was choice and so strong, that if her words had been leaden shot and hurled at their mark by the full force of her wrath, the backs of the retreating company would have been well peppered. Such ingratitude, such base and disgusting ingratitude, she had never seen in her life. “What do you mean?” I asked. “Mean? why, there was that man almost licking your feet in the train to get you to heal his friend; you heal him in the most marvellous way, on the platform, while the train stops ten minutes or so; and he, his friend, and his friend’s friends calmly walk away, without a word of thanks or even a backward look of thankfulness. That beats everything I ever saw!” I told her that if she had travelled with me and seen my mesmeric healings, she would have realised that the number of patients who had shown real gratitude for benefits conferred were far less than one in a [14] hundred: that if the other ninty-nine were really grateful, they concealed it from view, and left me to practise the rule that Srî Krishna gave to Arjuna, to do the necessary thing and care naught for the fruits of action. But she never forgot the incident.

Từ vùng đồi Nilgiri sang lãnh thổ Pháp Pondicherry, người ta phải băng ngang từ Tây sang Đông bằng xe lửa, tại ga Villupuram đổi sang tuyến nhánh dài hai mươi sáu dặm dẫn tới Pondicherry. Giữa hai ga đã xảy ra một chuyện khôi hài. Ở Ga liên vận, một quý ông Hindu đứng tuổi là chỗ quen biết đã chào chúng tôi bằng những dấu hiệu tôn kính thái quá thường thấy, mà người ngoại quốc dễ nhận ra, rồi nài nỉ tôi chữa một người bị liệt—hình như là người giàu hay có thế lực—sẽ đến nhờ tôi trước khi tới Pondicherry. Điều này đã vượt quá sức nhẫn nại; nếu tôi phải bị bệnh nhân quấy rầy từ sáng đến tối khi dừng ở các ga, thì tối thiểu cũng nên để tôi được nghỉ ngơi trên tàu. Lẽ tự nhiên, tôi từ chối lời thỉnh cầu của ông ta; nhưng ông ta bám tôi như đỉa, chui vào luôn khoang của chúng tôi, nài nỉ, cầu cạnh, van vỉ đến mức khiến tôi kiệt nhẫn. Đúng lúc đó tàu dừng mười phút ở một bến, và kẻ quấy rầy sụp mình xuống đất năn nỉ tôi xuống chữa cho người của ông ta, người mà chúng tôi thấy đang ngồi trên một chiếc ghế bành ngoài sân ga, có khá đông người đứng quanh. Trong tuyệt vọng, và để thoát khỏi sự nài nỉ liên hồi, tôi bước xuống, tiến đến người bệnh, sờ nắn các chi [13] bị liệt, làm các động tác từ hóa trên đó với chút xoa bóp, khiến cánh tay rồi đến chân trơn tru trở lại, cho ông ta đứng dậy, đi lại, đặt bàn chân đau lên ghế, nhấc chiếc ghế bằng bàn tay vừa bị liệt, và rồi, khi còi máy kéo ré lên, tôi chắp tay chào mọi người và chạy về khoang. Suốt thời gian đó, H. P. B. ngồi ở cửa sổ, rít điếu thuốc lá và dõi theo màn trình diễn của tôi: trước đó Bà chưa từng thấy tôi làm việc này và Bà rất mực thích thú. Khi tàu chuyển bánh, chúng tôi thấy người bị liệt đã được chữa đi bộ thong thả, theo sau là đoàn tùy tùng và một gia nhân vác chiếc ghế; chẳng ai trong số họ ngoái lại nhìn. Ấn tượng nơi H. P. B. thật nực cười đối với tôi và làm tôi cười sảng khoái. Ngôn từ Bà dùng thật chọn lọc và mạnh đến độ, nếu lời Bà là đạn bi chì bắn đi bằng toàn bộ sức giận của Bà, lưng của đoàn người đang lầm lũi kia ắt hẳn đã bị “rắc” không ít. Sự vô ơn như thế, sự vô ơn bỉ ổi và ghê tởm như thế, suốt đời Bà chưa từng thấy. “Ông muốn nói gì?” tôi hỏi. “Nói gì ư? Ở trên tàu, người nọ suýt liếm chân ông để cầu ông chữa cho bạn mình; ông chữa cho anh ta theo cách kỳ diệu, ngay trên sân ga, trong mươi phút tàu dừng; thế mà hắn, bạn hắn, và bạn của bạn hắn thản nhiên bỏ đi, không một lời cảm ơn hay dù chỉ một cái ngoái lại tỏ ý tri ân. Thế thì còn gì bằng!” Tôi bảo Bà rằng nếu Bà đã đi với tôi và thấy các ca chữa bằng từ hóa của tôi, hẳn Bà sẽ nhận ra số bệnh nhân tỏ lòng biết ơn thực sự đối với những lợi ích được ban là ít hơn xa con số [14] một trên trăm: còn nếu chín mươi chín người kia thực sự biết ơn, họ đã che giấu điều ấy, và để mặc tôi thực hành lời dạy mà Srî Krishna ban cho Arjuna: làm việc cần làm và chẳng bận tâm gì đến quả của hành động. Nhưng Bà không bao giờ quên biến cố ấy.

CHAPTER II —CHƯƠNG II

AN ADEPT SEEN AT PONDICHERRY—MỘT VỊ CHÂN SƯ ĐƯỢC THẤY Ở PONDICHERRY

CAN any of H. P. B.’s old friends figure to themselves how she must have looked and felt on being received at a railway station by a Governor’s band playing “God Save the Queen,” and then taken in procession, to the clang of music, to our lodging-house? That is just what happened to us on reaching Pondicherry, and I draw the veil over the amusing picture, as I have not the talent of Bret Harte do to it justice. At the house, in the presence of a select number of dark-skinned French “citizens,” an address in a rickety sort of French was read to us and duly responded to by me; after which presentations, welcomes, and compliments followed, and our rooms were thronged by visitors day and evening. The next morning I had ceremonial visits to make to His Excellency the Governor, His something the Mayor, and various other local officials, by all of whom I was courteously and kindly received. Then I had a look through the town, upon which the French cachet was placed wherever possible—the blue and-white enamelled street signs at the corners, the little side-walk tables and chairs at restaurants, the Paris names and shops in petto, the French look of the Place Dupleix, the unmistakable French look of the [16] functionaries and white traders, the very aping of French manners by the natives. This little seven-bynine colony, comparatively to British India as big as a postage stamp, and hemmed in by it on the three land sides, was totally unlike it, even in the attitude of the white and dark races towards each other. That, indeed, was what struck me most forcibly, accustomed as I had become to the immense gulf between the races in the Great British Dependency. My introducer to all these high officials was a dark, almost black, Tamil gentleman, a Membre du Conseil; and I was no less pleased than surprised to see how they received him as an equal, quite as though his dark skin did not prevent his being a human being as good as themselves. While I might have been amused to see my friend playing the citizen, I was not amused, but very much gratified to see that his right to respect was freely conceded.

Bạn nào từng thân quen H. P. B. có thể hình dung Bà sẽ trông như thế nào và cảm ra sao khi được đón ở sân ga bởi ban nhạc của Thống đốc tấu “God Save the Queen”, rồi được rước về nhà trọ trong tiếng nhạc rộn ràng không? Đó chính là điều đã xảy đến với chúng tôi khi đến Pondicherry, và tôi xin khép màn bức tranh khôi hài ấy, bởi tôi không có tài của Bret Harte để làm nó nên xứng đáng. Tại nhà, trước một nhóm “công dân” da ngăm kiểu Pháp, một bài diễn văn bằng thứ tiếng Pháp khấp khểnh được đọc cho chúng tôi nghe và tôi đã đáp lại đúng thủ tục; tiếp đó là các nghi thức giới thiệu, đón chào, và tán tụng, và phòng chúng tôi chật kín khách lui tới suốt ngày đêm. Sáng hôm sau, tôi có các cuộc thăm viếng chính thức đến Ngài Thống đốc, Ngài Thị trưởng nọ, và vài quan chức địa phương khác, tất thảy đều tiếp tôi niềm nở và tử tế. Rồi tôi đi một vòng thăm phố, nơi cái dấu ấn Pháp được ghi lại nơi có thể—những bảng tên đường men xanh—trắng ở góc phố, bàn ghế vỉa hè ở các quán ăn, những tên gọi kiểu Paris và các cửa hiệu thu nhỏ, dáng vẻ Pháp của Quảng trường Dupleix, vẻ Pháp không lẫn vào đâu của [16] các công chức và thương nhân da trắng, ngay cả sự bắt chước lối Pháp của người bản xứ. Cái thuộc địa nhỏ xíu bảy—bởi—chín này, nếu so với Ấn Độ thuộc Anh thì chỉ như một con tem thư, lại hoàn toàn khác biệt, ngay cả trong thái độ giữa chủng tộc da trắng và da sẫm đối với nhau. Thật vậy, điều gây ấn tượng mạnh nhất với tôi, vốn đã quen với vực sâu thăm thẳm giữa hai chủng ở Đế quốc Lệ thuộc Vĩ đại của Anh. Người giới thiệu tôi với tất cả các quan chức cao cấp ấy là một quý ông Tamil da sẫm, gần như đen, một Membre du Conseil; và tôi không chỉ ngạc nhiên mà còn rất mừng khi thấy họ tiếp ông ấy như người ngang hàng, như thể nước da sẫm của ông chẳng hề ngăn cản ông là một con người tốt đẹp như chính họ. Dù tôi có thể cười thầm khi thấy bạn tôi “đóng vai công dân”, thì tôi đã không cười, mà rất lấy làm hài lòng khi thấy quyền được kính trọng của ông được thừa nhận một cách tự nhiên.

Before our arrival it had been arranged that I was to lecture in English and the Mayor would translate me into French. At the appointed hour I confronted a large audience of both races; the Mayor presided and I began speaking, but after a sentence or two, paused for my interpreter to take up the running. This went on for perhaps ten minutes, when the Mayor confessed that his stock of English was exhausted and called the Interpreter to Government, a French gentleman, to replace him. Five or six sentences finished him up, and a third translator, a Tamil, was brought forward, but he broke down almost at once. It is a matter of common observation that foreigners [17] of every nation understand English when spoken by one of themselves much better than when we speak it, the accent making it more comprehensible. There I stood feeling like a fool, and ready to give it up as a hopeless case; but the Mayor, in his best French, told the audience that he had had a long conversation with me on Theosophy that morning, and that I knew quite enough French to speak without interpretation, whereupon I was called upon from all parts of the room to go ahead, and that I had finally to do despite my excuses and protestations. In a fashion that I dare not look back upon, I went on, and on, for more than an hour, expounding our ideas and Eastern philosophy as best I could; and the audience were kind enough to signify by loud applause that in coming out to India they had brought with them that lovely national trait of courtesy and forbearance for strangers who try to speak their tongue. You should, however, have seen the face and gestures of H. P. B. when I returned home and told her what I had done. She held up both hands in amazement, and made comments strongly suggestive of her horror at the possible and probable mistakes I had made in the use of genders and verbs! However, I did get through after a fashion, and we did form a T. S. Branch in the town, which was the chief thing after all.

Trước khi chúng tôi đến, đã sắp đặt rằng tôi sẽ thuyết trình bằng tiếng Anh và Ngài Thị trưởng sẽ dịch sang tiếng Pháp cho tôi. Đến giờ hẹn, tôi đối diện với một thính phòng đông đảo đủ hai chủng; Ngài Thị trưởng chủ trì và tôi bắt đầu nói, nhưng sau một hai câu, tôi dừng để thông ngôn tiếp lời. Cứ thế độ chừng mười phút, đến khi Ngài Thị trưởng thú nhận vốn liếng tiếng Anh đã cạn và mời Thông dịch viên của Chính quyền, một quý ông người Pháp, lên thay. Năm sáu câu là ông này “đuối”, và một dịch giả thứ ba, người Tamil, được dẫn lên, nhưng gần như lập tức vấp. Người ta thường thấy rằng người ngoại quốc thuộc bất kỳ dân tộc nào cũng hiểu tiếng Anh khi do chính đồng hương họ nói dễ hơn nhiều so với khi chính chúng ta nói, vì chất giọng giúp họ dễ nắm bắt hơn. Tôi đứng đó thấy mình thật như trò hề, sẵn sàng bỏ cuộc vì vô vọng; nhưng Ngài Thị trưởng, bằng tiếng Pháp chuẩn mực nhất, nói với thính phòng rằng buổi sáng ông đã có cuộc đàm đạo dài với tôi về Thông Thiên Học, và rằng tôi biết đủ tiếng Pháp để nói không cần thông dịch; thế là tôi được gọi từ khắp nơi trong phòng mời nói tiếp, và cuối cùng tôi phải làm điều ấy dù đã đưa ra lời xin miễn và phân trần. Theo một cách mà tôi không dám ngoái nhìn lại, tôi đã nói, cứ thế, hơn một giờ, giảng giải lý tưởng của chúng ta và triết học phương Đông hết sức có thể; và thính giả đã tử tế cho thấy, bằng những tràng vỗ tay vang dội, rằng khi đến Ấn Độ họ cũng mang theo đức tính dân tộc tuyệt đẹp là nhã nhặn và khoan dung với người lạ cố gắng nói tiếng của họ. Tuy vậy, các bạn ắt nên thấy khuôn mặt và điệu bộ của H. P. B. khi tôi trở về nhà và kể Bà nghe điều tôi đã làm. Bà giơ cả hai tay ra vẻ sửng sốt, và buông lời bình đầy hàm ý kinh hãi trước những lỗi có thể và có lẽ tôi đã phạm trong việc dùng giống và chia động từ! Tuy nhiên, rốt cuộc tôi cũng đã vượt qua theo cung cách nào đó, và chúng tôi cũng lập được một Chi bộ T. S. ở thị trấn, đó mới là điều chính yếu sau cùng.

I was so busy telling her the above and hearing her comments, that beyond a sweeping bow to the dozen or so of visitors sitting on the floor about her, whom she had been entertaining during my absence, I took no [18] notice of them. She, however, presently gave me a certain look, and by slightly inclining her head, made me look towards her right at one man who sat behind the others, and who met my startled gaze with a kindly smile. It was none other than one of the Masters known to me at New York during the writing of Isis Unveiled: one who disliked English so much that he always spoke and wrote French in his communications with me: the very one who gave me that cutting rebuke by duplicating several times the lead-pencil I hesitated to lend “H. P. B.”—his temporary shell. I can’t say if the others saw him, but certainly they could not have left him so unnoticed if they had, for he was to them, in majesty, as a lion to a whippet. I longed to approach and address him, but his eyes expressed the command that I should not, so I took my seat on the floor to H. P. B.’s left, where I had him in full view. The company did not stay long after my arrival, and he, after saluting H. P. B., like the rest, with folded palms, in the Indian fashion, spoke a word or two to her apart and followed them out.

Tôi mải kể Bà nghe chuyện trên và lắng nghe bình luận của Bà đến nỗi, ngoài một cái cúi chào chung đến chục vị khách ngồi dưới sàn quanh Bà, những người Bà đã tiếp trong lúc tôi vắng mặt, tôi chẳng [18] để ý gì đến họ. Tuy nhiên, Bà liền đưa cho tôi một ánh nhìn nhất định, và bằng một cái gật đầu nhẹ, khiến tôi hướng mắt về bên phải của Bà, nơi một người ngồi sau những người khác, và người ấy đáp lại cái nhìn sững sờ của tôi bằng một nụ cười hiền hậu. Đó chính là một trong các Chân sư mà tôi đã quen biết ở New York trong thời kỳ soạn tác phẩm Isis Unveiled: một Vị rất ghét tiếng Anh đến mức Ngài luôn nói và viết tiếng Pháp trong mọi thông điệp gửi tôi; chính Vị đã cho tôi một lời quở trách đanh thép bằng cách nhân đôi nhiều lần chiếc bút chì mà tôi đã ngần ngại cho “H. P. B.”—vỏ xác tạm thời của Ngài—mượn. Tôi không thể nói những người khác có thấy Ngài không, nhưng chắc chắn họ đã không thể để Ngài bị bỏ qua như thế nếu họ thấy, bởi đối với họ, về uy nghi, Ngài như một con sư tử bên cạnh một chú chó săn nhỏ. Tôi ao ước được đến gần và trò chuyện với Ngài, nhưng đôi mắt Ngài biểu lộ mệnh lệnh rằng tôi không được làm vậy, nên tôi ngồi xuống sàn bên trái H. P. B., nơi tôi có thể trông thấy Ngài rõ ràng. Cả đoàn chẳng mấy chốc rút lui sau khi tôi đến, và Ngài, sau khi chào H. P. B. như những người khác, chắp tay, theo lối Ấn Độ, nói với Bà đôi lời riêng, rồi theo họ ra ngoài.

We left Pondicherry for Madras, September 23rd, and got home that afternoon, rejoiced to see the dear place again. As usual after a tour, I had no end of arrears of correspondence and literary work to make up, but by the next midnight it had been disposed of. On the 25th we celebrated the first Anniversary of the Madras T. S. at Pachaiyappah’s Hall, a great crowd attending. Besides myself, Dewan Bahadur R. Raghoonath Row, and the regretted T. Subba Row made [19] Speeches. My stay at home was so very brief, that on the 27th I started again on a long journey to the northward, with our friend L. V. V. Naidu as my Private Secretary. Bellary, Adoni, and Hyderabad—the Nizam’s capital—came in sequence, and the usual events of Branch-making, question-answering, and patient-healing occurred. My receptions by friends were always kind, and personal ties of brotherhood were made which are still unbroken.

Chúng tôi rời Pondicherry đi Madras ngày 23 tháng Chín và về đến nhà buổi chiều hôm ấy, thật sung sướng khi lại thấy nơi thân yêu. Như lệ thường sau một chuyến đi, tôi có vô khối thư từ và công việc văn bút tồn đọng phải giải quyết, nhưng đến quá nửa đêm hôm sau thì đã xong xuôi. Ngày 25, chúng tôi kỷ niệm Lễ Thành lập lần thứ nhất của T. S. Madras tại Hội trường Pachaiyappah, người dự chật ních. Ngoài tôi ra, Dewan Bahadur R. Raghoonath Row và vị quá cố đáng thương tiếc T. Subba Row cũng [19] diễn thuyết. Tôi ở nhà quá ngắn, đến mức ngày 27 tôi lại khởi hành cho một chuyến dài lên miền Bắc, với người bạn L. V. V. Naidu làm Thư ký riêng. Bellary, Adoni, và Hyderabad—kinh đô của Nizam—lần lượt đến lượt, và các sự kiện thường thấy như lập Chi bộ, hỏi—đáp, và chữa trị cho bệnh nhân liên tiếp diễn ra. Mỗi nơi, tôi đều được thân hữu tiếp đón tử tế, và thắt chặt những mối dây huynh đệ cá nhân đến nay vẫn chưa hề dứt.

At Mr. Narasimhalu Chetty’s house, at Hyderabad, there was a most interesting case of the cure of blindness in one eye within the half-hour’s treatment. I remember it so well. Facing the house, on the farther side of the road that skirted the compound, stood a telegraph pole. The patient, an adult Hindu, had been brought to me by his physician, Dr. Rustomji, F. T. S., to the upper verandah, where I sat talking with friends. He had done his best for the patient, but had failed to even temporarily relieve the total blindness of the eye. It looked as healthy as the other one, but, on testing in the usual way, I found that it was unmistakably sightless. I therefore breathed upon the eyeball, “with mesmeric intent,” through the small silver tube I carried in my pocket for that purpose, made the proper passes over the forehead and nape of the neck, and after the time mentioned had the pleasure to receive the patient’s joyous assurance that his sight was restored. To make sure, I laid my finger on the other eyeball and told him to describe what he saw straight ahead of him. He at once said: “The [20] compound, the fence, the gate, the road, and a telegraph pole; on the glass knob to the right hangs a bit of colored rag” All was correct. The doctor was perfectly delighted, while as for the patient, after a prostration before me he hurried away. When the doctor and I came to talk over the case, I wanted to recall the patient for us to make an optical examination with an instrument, but Dr. Rustomji soon brought back word that the fellow had gathered his few effects together and hastened away to his village to take his people the glad tidings. Whether the rumor of this got spread through the town or not I cannot say, but certainly my audience the next day was so great, that the hall was—as a Hindu correspondent wrote to his paper about another such meeting—”crowded to the proverbial pin-drop,” and we had to adjourn to the compound and let them spread over the lawn. Secunderabad, Bolaram, Sholapore, and Poona followed next at the latter place—I see by my Diary—I received the shortest address on record—a model of brevity. The members met me at the station, drove me to the bungalow prepared for my accommodation, got the company placed, and then the spokesman, taking my hand, said: “Mr. President and dear brother, I welcome you to our station.” I replied: “Thank you heartily,” and that finished it. Oh! that those concocters of long, tiresome addresses in Sanskrit, Pali, Sinhalese, Tamil, Telugu, Bengalee, Urdu, Hindi, Hindustani, Gurumukhi, Marathi, Gujerati, and a dozen other, to me unknown, tongues that I have had to listen to, [21] often at midnight or even at 4 o’clock in the morning, after a long, bone-banging railway journey, could only have had the inspiration of the Sholapore President, how happy it would have made me! At this station a new recruit—Mr. W. T. Brown, of Glasgow, “Poor Brown”—joined me for the tour. He, and a Mrs. Sarah Parker, of Dublin, had just arrived at Madras under the impulse of service, and Brown had volunteered to help me. I wrote him from Hyderabad a kind but most explicit letter, warning him of the self-sacrifice he must expect to make; the public ingratitude, individual treacheries, libellous atacks on character, unjust suspicion of motives, bad fare and fatiguing journeys by nights and days in all sorts of conveyances: warning him to return to Europe if he had expected anything else, and leave H. P. B. and myself to continue the work we had begun with our eyes open. His reply was a telegraphic notice of his coming to me, and he overtook me at Sholapore.

Tại nhà Ông Narasimhalu Chetty ở Hyderabad, có một ca bệnh thú vị bậc nhất: chữa khỏi mù một mắt chỉ trong nửa giờ trị liệu. Tôi còn nhớ rất rõ. Đối diện căn nhà, bên kia con đường chạy men theo khuôn viên, có một cột điện báo. Bệnh nhân, một người Hindu trưởng thành, được bác sĩ của ông, Bác sĩ Rustomji, F.T.S., đưa đến hiên lầu, nơi tôi ngồi đàm thoại cùng thân hữu. Ông đã làm hết sức cho bệnh nhân, nhưng đã không thể—dù chỉ tạm—khôi phục thị lực hoàn toàn mất của con mắt. Nó trông khỏe như mắt kia, nhưng khi thử theo cách thường lệ, tôi thấy không thể nhầm là nó hoàn toàn mù. Vậy nên tôi thở lên nhãn cầu, “với ý hướng từ hóa”, qua ống bạc nhỏ tôi mang sẵn trong túi để dùng vào việc này, làm các lượt từ hóa đúng cách trên trán và sau gáy, và sau thời gian nói trên, tôi hân hạnh nhận được lời xác nhận vui mừng của bệnh nhân rằng thị lực đã khôi phục. Để chắc ăn, tôi đặt ngón tay lên nhãn cầu bên kia và bảo ông ta mô tả những gì thấy ngay trước mặt. Ông đáp ngay: “Cái [20] sân, hàng rào, cổng, con đường, và một cột điện báo; trên cái núm thủy tinh bên phải có treo một mảnh giẻ màu.” Tất cả đều đúng. Bác sĩ mừng rỡ khôn xiết, còn bệnh nhân thì sau khi phủ phục trước tôi liền vội vã ra về. Khi bác sĩ và tôi bàn bạc về ca này, tôi muốn gọi bệnh nhân trở lại để chúng tôi khám nhãn khoa bằng dụng cụ, nhưng Bác sĩ Rustomji chẳng mấy chốc cho hay người kia đã thu vén ít đồ đạc rồi hối hả về làng để báo tin mừng cho gia đình. Tin đồn về việc này có lan khắp thị trấn hay không, tôi không dám chắc, nhưng quả là hôm sau thính phòng của tôi đông đến mức, như một thân hữu Hindu đã viết cho tờ báo của ông về một cuộc họp tương tự khác, là “đông nghẹt đến mức thả ghim cũng nghe”, và chúng tôi phải dời ra ngoài sân và để họ tràn ra bãi cỏ. Secunderabad, Bolaram, Sholapore, rồi Poona tiếp theo; ở chặng sau cùng—tôi thấy trong Nhật ký của mình—tôi đã nhận được bài diễn từ ngắn nhất từng ghi nhận—một mẫu mực cô đọng. Anh em hội viên đón tôi ở sân ga, đưa tôi về bungalow đã chuẩn bị để tôi nghỉ, sắp đặt chỗ ngồi cho quan khách, và rồi người phát ngôn, nắm tay tôi, nói: “Thưa Ngài Chủ tịch và huynh đệ thân mến, tôi chào mừng Ngài đến trạm của chúng tôi.” Tôi đáp: “Xin chân thành cảm ơn,” và thế là xong. Ôi! giá như những người soạn các bài diễn từ dài đằng đẵng bằng Sanskrit, Pali, Sinhalese, Tamil, Telugu, Bengalee, Urdu, Hindi, Hindustani, Gurumukhi, Marathi, Gujerati, và chừng chục thứ tiếng khác mà tôi chẳng thông thạo, mà tôi đã từng phải nghe [21]—nhiều khi lúc nửa đêm hay thậm chí bốn giờ sáng, sau một chuyến tàu dài bầm dập xương cốt—chỉ cần có được cảm hứng như vị Chủ tịch Sholapore, thì biết bao hạnh phúc cho tôi! Ở trạm này, một tân binh—Ông W. T. Brown, người Glasgow, “Brown tội nghiệp”—gia nhập đoàn tôi cho chuyến du hành. Ông ấy, và Bà Sarah Parker, người Dublin, vừa đến Madras vì thôi thúc phụng sự, và Brown đã tình nguyện hỗ trợ tôi. Từ Hyderabad, tôi viết cho ông một lá thư thân tình nhưng rành mạch, cảnh báo ông về sự tự hy sinh mà ông phải sẵn lòng chấp nhận; về sự vô ơn của công chúng, những phản trắc cá nhân, những đòn vu khống bôi nhọ, những nghi ngờ bất công về động cơ, cơm nước kham khổ và những chuyến đi nhọc nhằn suốt ngày đêm bằng đủ thứ phương tiện: cảnh báo ông hãy quay về Âu châu nếu ông mong đợi điều gì khác, và hãy để H. P. B. cùng tôi tiếp tục công việc mà chúng tôi đã khởi đầu với con mắt mở to. Hồi đáp của ông là một bức điện báo tin ông đang đến với tôi, và ông đã đuổi kịp tôi ở Sholapore.

The coming into the electric intellectual atmosphere of Poona was a delightful sensation. The cultured Marathi mind is capable of grasping the highest problems of philosophy with ease, and the tone of conversation among the cultured class is as high as one could imagine to exist anywhere, even in a German or English University town. In travelling through the East one feels acutely these contrasts, and gauges towns by the mental standard alone. If you ask me to describe their physical features I could scarcely do it, for the recollection of all these thousands of temples, [22] dharmsalas, tanks, bazaars, streets, and bungalows is almost a dim jumble in the memory; but I can give a pretty fair description of the intellectual state of almost any of the towns and villages which I have visited. Now that I recall it, this is just what I was surprised to find in an old classical teacher of mine whom I revisited many years after leaving his school; he recollected almost nothing of the personal appearance of my old class mates, but when I mentioned a name, it associated itself with the boy’s mind, and as such he remembered him. The subject given me to lecture upon at Hirabag, in the Town Hall, was “The Future Life “, and Sir Jamsetji Jijibhoy, the second baronet, occupied the chair. From Poona we moved on to’ Bombay.

Bước vào bầu khí trí tuệ đầy điện lực của Poona là một cảm giác thật thú vị. Trí tuệ Marathi có văn hóa có thể nắm bắt những vấn đề tối cao của triết học một cách dễ dàng, và sắc thái của những cuộc đối thoại giữa giới có học ở đây cao đến mức người ta có thể hình dung tồn tại ở bất kỳ đâu, ngay cả tại một thành phố đại học Đức hay Anh. Khi đi dọc phương Đông, người ta thấm thía những đối nghịch ấy, và đánh giá các thị trấn theo chuẩn mực duy nhất: trí tuệ. Nếu bạn bảo tôi mô tả đặc điểm vật chất của chúng, tôi e khó lòng, bởi ký ức về hàng ngàn ngôi đền, [22] dharmsala, hồ ao, chợ búa, đường phố, và bungalow kia giờ chỉ như một mớ hỗn độn mờ nhạt; nhưng tôi có thể cho bạn một mô tả khá chính xác về tình trạng trí tuệ của hầu như bất kỳ thị trấn hay làng mạc nào tôi đã viếng. Giờ tôi sực nhớ, đó cũng là điều tôi từng ngạc nhiên khi thấy ở một thầy giáo cổ điển cũ của tôi, người tôi tìm lại thăm sau nhiều năm rời trường; thầy chẳng nhớ mấy về diện mạo của các bạn cùng lớp cũ của tôi, nhưng khi tôi nhắc đến một cái tên, nó lập tức gắn liền với “cái trí” của cậu ấy, và như thế thầy nhớ ra học trò mình. Chủ đề được giao cho tôi thuyết giảng tại Hirabag, trong Tòa Thị chính, là “Đời sống mai sau”, và Nam tước thứ hai Sir Jamsetji Jijibhoy chủ tọa. Từ Poona, chúng tôi di chuyển về Bombay.

For lack of house accommodation, the Branch put us in large tents on the Esplanade, and we found it very cool and comfortable until the next day, when an untimely storm burst upon the city, and we were drenched with torrents of rain during two days. Our tents became soaked, our effects damp and mouldy, and the flat ground about our camp, not being able to’ receive the deluge as fast as it fell, was turned into a shallow pond. This meaning fever to us and consequent interruption of work, our colleagues put us into some large empty rooms in the old building of the Bombay Gazette, where we were at least dry. A lecture was given on the 17th at Framji Cowasji Hall, and young Brown’s remarks at the close were received with great friendliness by the crowded audience.

Vì thiếu chỗ ở, Chi bộ dựng cho chúng tôi các lều lớn ở bãi Esplanade, và chúng tôi thấy rất mát mẻ, dễ chịu cho đến ngày hôm sau, khi một cơn bão trái mùa ập xuống thành phố, và chúng tôi bị mưa như trút suốt hai ngày. Lều của chúng tôi ướt sũng, đồ đạc ẩm và mốc, và mặt đất bằng phẳng quanh trại không kịp thấm lượng nước xối xả, biến thành một vũng cạn. Điều này đồng nghĩa với sốt rét đối với chúng tôi và công việc bị gián đoạn, nên đồng sự đưa chúng tôi vào mấy căn phòng lớn bỏ trống trong tòa nhà cũ của tờ Bombay Gazette, ít ra thì khô ráo. Ngày 17, một bài thuyết trình được tổ chức tại Framji Cowasji Hall, và phần phát biểu của chàng Brown trẻ ở cuối buổi được cử tọa đông đảo đón nhận thân tình.

[23]

[23]

It may be a relief to some of the readers of these sketches to learn that at Bombay I received orders from my Guru to suspend all healings until further advices, and that the narratives, which must have sorely tried their feelings, will henceforth practically cease. The prohibition came none too soon, for I am persuaded that I myself should have become paralysed if the strain had been kept up. One morning, at Madras, just before starting on the present journey, I found my left forefinger devoid of sensation—a clear warning to be careful; and between Madras and Bombay it had taken me much longer and demanded far greater exertions to effect cures than it had previously; there was also a much larger percentage of failures. This is not to be wondered at, for, after treating one way or another some 8,000 patients within the twelvemonth, the sturdiest psychopath, let alone a man of fifty-odd, might be expected to have come to the last “volt” in his vital battery: a state to which the tiring journeys, the nights of broken sleep, the often meagre food, and the ceaseless intellectual strain of a large correspondence, daily conversaziones, and almost daily extemporaneous lectures on profound themes must, naturally, have greatly helped to bring about.

Có lẽ sẽ làm nhẹ lòng một số độc giả của những ký sự này khi biết rằng ở Bombay tôi nhận được chỉ thị từ Đạo sư của mình là tạm ngưng mọi việc chữa trị cho đến khi có hiệu lệnh mới, và rằng các tường thuật, hẳn đã làm họ mệt mỏi, từ đây sẽ hầu như chấm dứt. Lệnh cấm đến không sớm không muộn, vì tôi tin chắc rằng bản thân tôi đã bị liệt nếu sức căng tiếp tục duy trì. Một sáng nọ, ở Madras, ngay trước khi khởi hành cho chuyến đi này, tôi phát hiện ngón trỏ trái mất cảm giác—một cảnh cáo rõ ràng phải cẩn trọng; và giữa Madras và Bombay, tôi đã mất nhiều thời gian hơn và phải nỗ lực lớn hơn để chữa khỏi so với trước; tỷ lệ thất bại cũng lớn hơn nhiều. Điều này chẳng có gì lạ, vì sau khi chữa theo cách này hay cách khác cho cỡ 8.000 bệnh nhân trong vòng mười hai tháng, thì ngay cả người hành nghề trị liệu bằng tâm lực dẻo dai nhất, huống hồ một người đã bước qua ngũ tuần, cũng có thể bị đẩy đến “vôn” cuối cùng của “ắc quy sinh lực”: một tình trạng mà các chuyến đi đuối sức, những đêm ngủ chập chờn, bữa ăn đạm bạc, và sức ép trí lực không ngừng của một khối thư từ lớn, những buổi đàm đàm hằng ngày, và những bài thuyết trình ứng khẩu gần như hằng ngày về các chủ đề sâu xa, hẳn nhiên, đã góp phần lớn tạo nên.

On 20th October H. P. B. joined me at Bombay to make a joint visit to the Maharajah Holkar, who had invited us and sent us money for our railway expenses. But a telegram to us at Bombay put an end to the affair, as he was unable to receive us, so H. P. B. returned to Madras and I kept on my pre-arranged [24] itinerary. While at Bombay we received an intimation from King Thebaw, of Burma, that he would be pleased to have us visit him at Mandalay. Mr. Brown, Damodar Mavalankar, and L. V. V. Naidu went North with me; and another F.T.S.—T. Narainswamy Naidu—got permission to join us as a mere companion. To avoid confusion on those long tours, a programme was always settled upon in advance, and printed copies circulated to the Branches and groups on the route; giving the hours and minutes of my arrivals at and departures from stations, and information as to the kind of food, the quantity of firewood, water, and accommodation required, and all other details: the Branches were left to select the subjects for my lectures, but sometimes neglected it until I was actually ready to mount the platform.

Ngày 20 tháng Mười, H. P. B. nhập đoàn với tôi ở Bombay để cùng thăm Maharajah Holkar, người đã mời và gửi tiền chi phí đường sắt cho chúng tôi. Nhưng một bức điện gửi cho chúng tôi ở Bombay đã dẹp bỏ chuyến đi, vì Ngài không thể tiếp chúng tôi, nên H. P. B. quay về Madras còn tôi tiếp tục theo [24] lộ trình đã định. Trong thời gian ở Bombay, chúng tôi nhận được thông điệp của Vua Thebaw của Miến Điện rằng Ngài hân hạnh mời chúng tôi đến thăm tại Mandalay. Ông Brown, Damodar Mavalankar, và L. V. V. Naidu đi Bắc với tôi; và một F.T.S. khác—T. Narainswamy Naidu—được phép nhập đoàn như một bạn đồng hành thuần túy. Để tránh rối ren trong những hành trình dài ấy, chúng tôi luôn ấn định một chương trình trước, và in phát cho các Chi bộ và nhóm trên lộ trình; ghi rõ giờ phút tôi đến và rời các ga, cũng như thông tin về loại thực phẩm, lượng củi đốt, nước và chỗ ở cần thiết, và mọi chi tiết khác: các Chi bộ được quyền chọn chủ đề cho các bài thuyết trình của tôi, nhưng đôi khi lại quên cho đến khi tôi đã sẵn sàng bước lên diễn đàn.

From some of our best-beloved colleagues, who were then living at Jubbulpore, we received an affectionate welcome and good service for seeing persons and places. I visited the High School and the Rajkumar College, one of those schools for young princes and nobles that the Government has founded throughout India. It was interesting to see together these lads who in time will rule millions, and I spoke kind words of counsel to each class as I passed through the rooms. I was told later that my words had stirred the hearts of the princelings, so that they formed a friendly league between themselves, to keep up their friendship and encourage each other to lead the good life prescribed for kings in the old Scriptures. They all came to my lecture the same evening, which, because of the crowd, was given in the open air.

Từ vài cộng sự thân quý nhất của chúng tôi, khi ấy đang sống ở Jubbulpore, chúng tôi nhận được sự chào đón ân cần và sự giúp đỡ tận tình để thăm viếng người và cảnh. Tôi đã ghé thăm Trường Trung học và Trường Rajkumar, một trong những trường dành cho các hoàng tử và bậc quý tộc trẻ mà Chính phủ đã lập ra khắp Ấn Độ. Thật thú vị khi được thấy cùng nhau những chàng trai mà rồi đây sẽ cai quản hàng triệu người, và tôi đã nói vài lời khuyên nhủ dịu dàng với từng lớp khi đi qua các phòng học. Về sau tôi được cho biết rằng lời nói của tôi đã lay động trái tim các tiểu vương, đến nỗi họ lập thành một liên minh thân hữu với nhau để duy trì tình bằng hữu và khích lệ nhau sống đời tốt đẹp như Kinh Thư xưa quy định cho bậc vương giả. Tối hôm đó tất cả đều đến nghe buổi thuyết giảng của tôi, và vì đám đông quá lớn nên buổi nói chuyện được tổ chức ngoài trời.

The next morning we rose at 3.30, and at 5 drove away to the Marble Rocks, one of the tourist’s sights of India. To one who had seen Niagara and many great rivers of the world, it was a tame affair. The sacred Nerbudda River is here hemmed in between barriers of white limestone, which it has seamed and cross-seamed with numberless cracks. The rocky scenery is rather artistic in petto than grand and imposing; though by moonlight it must seem quite fairy-like. Far more striking to me was an old Bawa (ascetic) whom we found living in an adjacent cave. He had great repute as a proficient in the physiological feats of Hatha Yoga, and obligingly performed a number of them—not a whit more difficult than those one sees in our modern European variety halls and hippodromes—at my request. He told us that he had spent the past forty-seven years of his life in making Pradakshina (circumambulation) of the Nerbudda River as a work of merit; the distance to travel is 1,800 miles, and the time occupied in each circuit of his foot-pilgrimage three years. He was a fine, hale man, with a bright eye and the expression of a firm character on his face. While I was studying these details, I was startled by his asking me to be good enough to teach him to concentrate the mind! If that was what his half century of struggle had resulted in, certainly it offered no inducement for anybody else to try his Hatha Yoga. Here was a man who had got his body under such [26] control that he could almost turn himself inside out and walk down his own throat, but had not yet learned how to fix that wandering mind which gives us so much trouble. Needless to say, I “improved the occasion” to tell him a little homely truth about seeming and being, on the lines of the Gita, the Dhammapada, and St. Matthew, xxiii. What a lesson it is in self-development!

Sáng hôm sau chúng tôi dậy lúc 3 giờ 30, và 5 giờ thì đi xe tới Marble Rocks, một trong các thắng cảnh dành cho du khách ở Ấn Độ. Đối với người đã từng thấy Niagara và nhiều con sông vĩ đại trên thế giới như tôi, thì đó là một cảnh khá hiền hòa. Dòng sông thiêng Nerbudda ở đây bị kẹp giữa những bức vách đá vôi trắng, nơi con sông đã khắc dọc khắc ngang vô số vết nứt. Phong cảnh đá nơi đây thiên về vẻ nghệ thuật tinh xảo hơn là hùng vĩ uy nghi; tuy vậy, dưới ánh trăng ắt hẳn nó phải trông thật huyền ảo. Ấn tượng mạnh mẽ hơn nhiều đối với tôi là một ông Bawa (ẩn tu) già mà chúng tôi gặp đang sống trong một hang động kề bên. Ông rất nổi danh là người tinh thông các công phu sinh lý của Hatha Yoga, và đã vui lòng biểu diễn một số động tác—chẳng khó hơn chút nào so với những điều ta thấy ở các nhà hát tạp kỹ và rạp xiếc châu Âu ngày nay—theo lời thỉnh cầu của tôi. Ông nói với chúng tôi rằng ông đã dành bốn mươi bảy năm qua của đời mình để làm Pradakshina (đi nhiễu) quanh sông Nerbudda như một công đức; quãng đường phải đi là 1.800 dặm, và thời gian dành cho mỗi vòng hành hương bằng chân là ba năm. Ông là một người khỏe mạnh, tráng kiện, mắt sáng, nét mặt biểu lộ một Tính cách cương nghị. Trong khi tôi đang quan sát những chi tiết ấy, tôi giật mình khi ông xin tôi vui lòng dạy ông cách tập trung thể trí! Nếu nửa thế kỷ phấn đấu mà kết quả là như vậy, thì hẳn nó không hề cống hiến chút hấp dẫn nào để ai khác thử theo con đường Hatha Yoga của ông. Ở đây là một người đã chế ngự thân xác đến mức [26] có thể gần như lộn trái chính mình và “đi xuống cổ họng của mình”, thế mà vẫn chưa học được cách cố định cái tâm trí lang thang vốn gây cho chúng ta biết bao phiền toái. Không cần nói cũng rõ, tôi đã “nhân dịp” đó để nói với ông đôi điều chân thật giản dị về cái dường như và cái chân là, theo tinh thần của Gita, Kinh Pháp cú, và Phúc Âm theo Thánh Matthew, chương xxiii. Thật là một bài học về tu dưỡng bản thân!

My lecture that evening was upon the necessity for a revival of Sanskrit literature, and at the close I started a subscription for the opening of a Sanskrit School, towards which the handsome sum of Rs. 1,500 was pledged with a great show of enthusiasm. The same idea was broached by me at my first lecture at Allahabad, whither I went from Jubbulpore. The great audience caught at the idea at once, and Rs. 2,007 was subscribed that evening, and Rs. 2,500 more was reported at a meeting of the local Branch on the 30th as having been inscribed on the subscription paper.

Buổi thuyết giảng tối hôm đó của tôi nói về sự cần thiết phải phục hưng văn học Sanskrit, và khi kết thúc, tôi khởi xướng cuộc quyên góp để mở một Trường Sanskrit, và số tiền Rs. 1.500 đã được hứa tặng với một bầu không khí nhiệt thành lớn lao. Cùng ý tưởng ấy tôi đã nêu lên trong buổi thuyết giảng đầu tiên ở Allahabad, nơi tôi đi từ Jubbulpore. Cử tọa đông đảo lập tức đón nhận ý tưởng, và Rs. 2.007 được góp ngay tối đó, cùng với Rs. 2.500 nữa được báo cáo trong một cuộc họp của Chi Bộ địa phương vào ngày 30 là đã được ghi vào tờ danh sách quyên góp.

On the 31st we moved on to Ghazipore, where we were given hospitality by the Maharajah of Dumraon, and where, on arrival, I had to reply to three addresses, in English, Sanskrit, and Urdu—to the last-named two through interpreters. The next halting-place was Cawnpore, of tragic memory, where the bungalow of the Maharajah of Burdwan had been placed at my disposal. When we drove through the compound we found the house illuminated with 1,000 chirags, or Indian clay lamps, and the rooms were a blaze of light.

Ngày 31, chúng tôi tiếp tục đi Ghazipore, nơi chúng tôi được Maharajah của Dumraon khoản đãi, và khi đến nơi, tôi phải đáp từ ba bài chào mừng bằng tiếng Anh, tiếng Sanskrit và tiếng Urdu—hai thứ tiếng sau thông qua thông dịch viên. Điểm dừng tiếp theo là Cawnpore, nơi ghi dấu ký ức bi thương, ở đó bungalow của Maharajah xứ Burdwan đã được dành cho tôi sử dụng. Khi xe chạy qua khuôn viên, chúng tôi thấy căn nhà được thắp sáng bằng 1.000 ngọn chirag, tức đèn đất sét kiểu Ấn, và các phòng rực rỡ ánh sáng.

CHAPTER III—CHƯƠNG III

THE MASTER K.H. AT LAHORE—CHÂN SƯ K.H. TẠI LAHORE

THIS Cawnpore visit was made memorable to me by the proofs I got of Damodar’s rapid psychical development. As stated elsewhere, he had been visited when a lad, during a severe illness, by a glorious Personage, whom he was enabled to identify many years later, after connecting himself with our Society, as one of the Masters. The intimate relationship of teacher and pupil had then been established between them, and Damodar had thrown himself heart and soul into psychic training; regulating his diet, devoting specified hours to meditation, cultivating a spirit of perfect unselfishness, and working night and day, to the uttermost limits of his strength, on the duties of the official position I gave him in the Society. His coming with me on the present tour was by command of his Guru, and throughout the journey we had many proofs of the progress he was making in spiritual unfolding. I remember that he astonished me, that evening of our arrival at Cawnpore, by giving me, verbally, a message from the Master in answer to my surmise as to what I ought to do in a certain matter that had just turned up, and telling me that I would [28] find it written out in a note that was even then in my locked writing-desk, the key of which was in my pocket, as it had, of course, been all day. On going to the desk and unlocking it, I did find the very letter he had mentioned, and which, by the by, was from Mahatma K. H., in the handwriting subsequently pronounced by the sage S. P. R., on the authority of the infallible Mr. Netherclift, to be of H. P. B.’s concoction and nothing else! As H. P. B. and I were then five days’ postal distance apart, the forgery theory will hardly cover the Cawnpore incident.

Chuyến thăm Cawnpore này đã trở thành đáng ghi nhớ đối với tôi vì những bằng chứng tôi nhận được về sự phát triển thông linh rất nhanh của Damodar. Như đã nói ở nơi khác, khi còn là một thiếu niên, trong một cơn bệnh nặng, y đã được một Đấng Huy hoàng viếng thăm, và nhiều năm sau, sau khi kết duyên với Hội của chúng tôi, y mới có thể nhận ra Đấng ấy là một trong các Chân sư. Từ đó, mối quan hệ thân mật giữa thầy và trò được thiết lập, và Damodar đã dốc lòng dốc sức vào rèn luyện thông linh; điều chỉnh chế độ ăn, dành những giờ ấn định cho tham thiền, nuôi dưỡng tinh thần vị tha hoàn toàn, và làm việc suốt ngày đêm, đến tận cùng sức lực, với những nhiệm vụ của chức vụ mà tôi giao cho y trong Hội. Việc y cùng tôi đi chuyến du hành này là theo lệnh của vị Guru của y, và suốt cuộc hành trình chúng tôi có nhiều bằng chứng về tiến bộ trong sự khai mở tinh thần của y. Tôi nhớ tối hôm chúng tôi đến Cawnpore, y đã làm tôi kinh ngạc khi truyền miệng cho tôi một thông điệp từ Chân sư để đáp lại suy đoán của tôi về việc tôi nên làm gì trong một việc vừa nảy sinh, và nói với tôi rằng tôi sẽ [28] thấy nó được chép trong một tờ giấy ngay lúc ấy đang ở trong bàn viết có khóa của tôi, chìa khóa vẫn ở trong túi tôi, như vốn vậy suốt cả ngày. Khi đến mở bàn ra, quả tôi thấy đúng lá thư y nói, và lá thư ấy, nhân đây xin nói, là từ vị Mahatma K. H., với bút tích mà sau này các vị hiền triết của S. P. R., dựa vào thẩm quyền của ông Netherclift “bất khả sai lầm”, đã tuyên bố là do H. P. B. bịa đặt và chẳng là gì khác! Vì H. P. B. và tôi khi ấy cách nhau một quãng đường thư tín 5 ngày, thuyết giả mạo thật khó mà bao trùm được sự kiện ở Cawnpore này.

On the second day after reaching Cawnpore, I received from Adyar a rather large mail that had been readdressed to me from there. Among the letters was one from the late Mr. Sam. Ward, dated at Capri, and enclosing a note to Mahatma K. H., which he begged me to have forwarded if possible. As Damodar was then going nightly in astral body to the ashram (residence) of that Master, I handed him the letter, saying that he might ask him whether he should bring on the letter, or not. This was on the afternoon of November 4 (1883), and we were at Cawnpore, N. W. P. The reader will kindly keep this in mind in view of the sequel.

Ngày thứ hai sau khi đến Cawnpore, tôi nhận được từ Adyar một mẻ thư khá lớn đã được từ đó chuyển tiếp cho tôi. Trong số thư có một của cố ông Sam. Ward, đề Capri, kèm theo một lá gửi cho Mahatma K. H., ông tha thiết xin tôi chuyển đi nếu có thể. Vì lúc ấy Damodar mỗi đêm đều đi bằng thể cảm dục đến ashram (nơi cư trú) của vị Chân sư đó, tôi đưa lá thư cho y, nói rằng y có thể hỏi xem Ngài có muốn y mang lá thư đến, hay không. Việc này xảy ra chiều ngày 4 tháng 11 (1883), và chúng tôi đang ở Cawnpore, N. W. P. Xin bạn đọc vui lòng ghi nhớ điều này để chờ phần tiếp theo.

On the previous evening I had lectured in the station theatre, a long narrow room with the stage at one end. Agreeably to the repulsive custom that prevails through-out British India, all Europeans, or rather whites, all half-breeds, and even all Christian converts or pretended converts wearing European dress, were [29] given the front seats, and all Hindus, however highborn or respectable (not always convertible terms), were placed behind them: an aisle ran through the middle of the room. Now I am rather sensitive to the auric “spheres” of persons, and quick at feeling whether they are sympathetic or hostile to myself. Every public lecturer, dramatic artist, and other public character has this same finer sense more or less acutely developed, but I fancy mine is rather quicker than the average. On this occasion I felt as if there stretched between me and the beloved Hindus a barrier, almost a wall, of antagonistic thought, and a less skilled hand might have been stricken dumb by it. But, finding the hostile current flowing towards me from the right, I planted myself opposite the aisle, put my will to work to break through the cross current, and at last made the connection between myself and the sympathetic portion of my audience. That this is no freak of the imagination, but a very real and palpable fact in human intercourse, will be attested by every person of average nervous sensitiveness whose business it is to speak, sing, or play before the public. More than once it has happened that the presence of a single white man, not a Theosophist, in an audience of Hindus, has acted as a damper upon them and reacted upon me, and for the simple reason that, while between all Asiatics, of whatsoever race and creed, and myself there is a complete sympathy and mutual trust, between them and the average white man there is the distinct mutual antipathy based, as I believe, [30] upon a conflict of auric or mesmeric polarities. Closer personal intercourse and the development of mutual sympathies would change the present feeling of noli me-tangere into the same pleasant relationship as that of all Asiatics and all recognised Theosophists.

Tối hôm trước tôi đã thuyết giảng tại nhà hát của ga, một căn phòng dài hẹp với sân khấu ở một đầu. Theo cái tục lệ khó chịu đang thịnh hành khắp Ấn Độ thuộc Anh, tất cả người châu Âu, hay nói đúng hơn là người da trắng, mọi người lai, và thậm chí tất cả những người cải đạo sang Cơ Đốc hoặc giả vờ cải đạo mà mặc Âu phục, đều được [29] xếp ngồi ghế trước, còn tất cả người Hindu, bất kể xuất thân cao quý hay đáng kính đến đâu (hai khái niệm ấy không phải lúc nào cũng đồng nghĩa), đều bị xếp ngồi phía sau họ: giữa phòng có một lối đi. Nay tôi khá nhạy cảm với “cầu” hào quang của người ta, và nhanh chóng cảm ra họ có thiện cảm hay ác cảm với mình. Mọi diễn giả công chúng, nghệ sĩ sân khấu, và những người hoạt động nơi công chúng khác đều có phần nào phát triển giác quan tinh tế này, nhưng tôi cho rằng của tôi nhanh hơn mức trung bình. Lần này tôi cảm thấy dường như giữa tôi và những người Hindu thân yêu có một bức chắn, gần như một bức tường, của tư tưởng đối kháng, và một người kém lão luyện hơn có thể đã bị nó làm câm lặng. Nhưng, khi nhận ra luồng đối kháng đổ vào tôi từ bên phải, tôi đứng đối diện lối đi, vận dụng ý chí để phá vỡ luồng cản chéo, và rốt cuộc tạo được sự nối kết giữa tôi và phần thính giả có thiện cảm. Điều này không phải là trò tưởng tượng, mà là một thực tại rất cụ thể trong giao tiếp của con người, điều ấy sẽ được mọi người có độ nhạy thần kinh trung bình, mà công việc là nói, hát hay trình diễn trước công chúng, xác nhận. Không chỉ một lần đã xảy ra việc chỉ sự có mặt của một người da trắng, không phải là người Thông Thiên Học, trong một cử tọa người Hindu, đã như một cái phanh hãm họ và phản hồi lại tôi, và chỉ vì một lẽ đơn giản là, còn giữa tất cả người Á châu, bất kể chủng tộc và tín ngưỡng, và tôi, có sự đồng cảm và tin cậy lẫn nhau hoàn toàn, thì giữa họ và một người da trắng trung bình lại có sự phản cảm lẫn nhau rõ rệt, mà theo tôi [30] là do xung đột về phân cực hào quang hoặc thôi miên. Sự giao tiếp cá nhân gần gũi hơn và sự phát triển đồng cảm lẫn nhau sẽ khiến cảm thức hiện tại “xin đừng đụng đến tôi” biến đổi thành mối quan hệ dễ chịu như giữa tất cả người Á châu và tất cả những Nhà Thông Thiên Học được thừa nhận.

From Cawnpore we moved on to Lucknow on the evening of 4th November, reached that station at 9 p.m., and were welcomed at the house of Mr. Jwala Prasad, one of our active members. Every minute Of the following day was occupied, the details including receptions of visitors, with conversaziones, the trial and expulsion of an unworthy half-caste member, a lecture on “Theosophy and Its Claims,” and then, until 1 a.m., private teaching of mesmerism, with illustrative demonstrations on one of the Hindu gentlemen of my suite. Bara Banki followed after Lucknow, and the usual routine was gone through. I must in passing, however, pay a just tribute to the intellectual brilliancy shown by Pandit Pran Nath, F.T.S., in summarising my lectures at the above two places, in Urdu, with an eloquence and unhesitating fluency that were both admirable and remarkable. I have been often placed similarly under obligations by educated friends, for from first to last my lectures throughout Asia have been interpreted in eighteen different languages.

Từ Cawnpore, tối 4 tháng 11 chúng tôi đi Lucknow, đến ga lúc 9 giờ tối và được chào đón tại nhà ông Jwala Prasad, một hội viên năng nổ của chúng tôi. Mọi phút giây của ngày hôm sau đều kín lịch, gồm đón tiếp khách, trò chuyện, xét xử và khai trừ một hội viên lai đáng chê, một bài thuyết giảng về “Thông Thiên Học và Những Điều Chủ Trương”, và rồi, đến 1 giờ sáng, dạy riêng về thôi miên, với các màn minh họa trên một vị quý ông Hindu đi cùng tôi. Sau Lucknow là Bara Banki, và những việc thường lệ cũng được tiến hành. Nhân đây, tôi phải dành lời tôn vinh xứng đáng cho sự sáng láng trí tuệ của Pandit Pran Nath, F.T.S., khi tóm lược các bài giảng của tôi ở hai nơi nói trên bằng tiếng Urdu, với một lối hùng biện và sự trôi chảy không hề do dự, vừa đáng khâm phục vừa đáng kinh ngạc. Tôi đã nhiều lần mắc nợ như vậy với các thân hữu có học, vì từ đầu chí cuối, các bài giảng của tôi khắp Á châu đều được phiên dịch sang mười tám thứ tiếng khác nhau.

Bareilly next, where I lectured, and then on to Moradabad, where Damodar gave me another proof of his acquired power of travelling in the astral “double”. He went to Adyar, conversed with H.P.B., [31] heard the voice of a Master speak a message to me, and asked H. P. B. to telegraph me the substance of it so as to satisfy me of his veracity in these matters. On reporting the facts to me, he dictated the message as he heard it, and all present in my room signed a certificate as to the facts. The next morning the expected telegram form H.P.B. was delivered to me by the postman, this being the rule in India as to the class of “Deferred” messages. The despatch corroborated Damodar’s dictated and certificated message, and again the witnesses who were present signed their names on the back of the Government dispatch. The S.P.R. has been pleased to do its best to weaken Damodar’s reputation for credibility and mine for common sense in this affair, but the facts are above honestly reported, and their opinion does not concern me in the least.

Tiếp theo là Bareilly, nơi tôi thuyết giảng, rồi đến Moradabad, nơi Damodar lại cho tôi một bằng chứng khác về năng lực di chuyển bằng “phân thân” cảm dục mà y đã thủ đắc. Y tới Adyar, nói chuyện với H. P. B., [31] nghe một Chân sư nói một thông điệp gửi tôi, và bảo H. P. B. điện báo cho tôi nội dung chính để khiến tôi yên tâm về tính chân thực của mình trong những việc như thế. Khi trình bày sự việc với tôi, y đọc lại bức thông điệp đúng như y nghe, và tất cả những người có mặt trong phòng tôi đều ký vào một bản chứng thực về các dữ kiện. Sáng hôm sau, bức điện tín mong đợi từ H. P. B. được phát tận tay tôi bởi người phát thư, vì ở Ấn Độ, đó là quy định đối với loại điện tín “Hoãn”. Bức điện xác nhận bức thông điệp mà Damodar đã đọc và được chứng thực, và lần nữa những nhân chứng có mặt đều ký tên ở mặt sau bức công điện của Chính phủ. S. P. R. đã ra sức làm suy yếu danh tiếng đáng tin cậy của Damodar và lẽ thường của tôi trong vụ này, nhưng sự kiện đã được thuật lại một cách trung thực, và ý kiến của họ chẳng can hệ gì đến tôi cả.

Aligarh came next on our tour-programme, and here, on the 12th of the month, we came to the sequel of the Ward-K.H. letter affair. At the post-office I received my mail from Adyar, and in it a letter posted at Headquarters on the 5th inst. by H. P. B., enclosing Mr. Ward’s identical letter to K. H., which, it will be remembered, I received from Italy and handed to Damodar at Cawnpore on the 4th—that is to say, the evening before she posted it at Adyar. Its cover bore the despatching stamp of Adyar, November 5, and the receiving stamp of Aligarh of November 10, the two places being distant apart five days’ rail journey. The letter had been awaiting me two days in [32] the Aligarh post-office. I submit this as about as clear a provable case of instantaneous transportation of a material object between two distant points as can be found on record. Collusion and trickery are barred by the evidence of the postal marking described. I have the letter still in my possession, and shall be happy to show it to anyone save the managers of the S. P. R., whose savage injustice to H. P. B., the most gifted and marvellous psychic of the age, makes it unseemly for those who knew her merits as well as demerits to take further notice of that clique.

Aligarh là điểm đến kế tiếp trong chương trình du hành của chúng tôi, và tại đây, vào ngày 12 trong tháng, chúng tôi gặp phần tiếp theo của vụ lá thư Ward–K. H. Ở bưu điện tôi nhận thư từ Adyar, trong đó có một lá thư do H. P. B. gửi đi ở Trụ sở chính vào ngày mồng 5, kèm theo chính lá thư ông Ward gửi cho K. H., mà bạn còn nhớ, tôi đã nhận từ Ý và trao cho Damodar ở Cawnpore vào ngày mồng 4—tức là tối hôm trước khi Bà gửi nó tại Adyar. Phong bì mang dấu bưu cục Adyar ngày 5 tháng 11 và dấu đến của Aligarh ngày 10 tháng 11, hai nơi cách nhau năm ngày tàu hỏa. Lá thư đã chờ tôi hai ngày ở [32] bưu điện Aligarh. Tôi xin trình trường hợp này như một ví dụ có thể chứng minh rõ ràng nhất về sự chuyển dời tức thì của một vật thể từ điểm này đến điểm kia, như từng được ghi chép. Sự thông đồng và trò lừa bịp bị loại trừ bởi bằng cớ dấu bưu cục đã mô tả. Tôi vẫn còn giữ lá thư và sẵn lòng cho ai xem ngoại trừ các nhà quản lý của S. P. R., vì sự bất công thô bạo của họ đối với H. P. B., nhà thông linh tài năng và kỳ diệu nhất của thời đại, khiến những người biết rõ ưu và khuyết của Bà không thấy phù hợp để còn lưu tâm đến nhóm đó nữa.

In connection with this astral journey, Damodar told me an interesting fact. On putting his body to sleep as usual, he made a dash for the home of the Master among the Himalayas, but found, on arriving, that he too was away in the astral body; and, by the power of his attraction for his pupil, the latter was swept away as powerfully and instantaneously as though he had ventured into a deep and impetuous river current and been carried off his footing. The next minute Damodar found himself at Adyar, in the presence of both his Master and H. P. B. On going to sleep he had held Mr. Ward’s letter in his hand, and it had, it seems, gone along with him on the astral plane—itself, of course, changed from ponderable into astral, or etheric, matter. On telling the Master about the letter, he perceived it in his hand, gave it over to him, and was bidden to return to his place. By the radical power of the occult chemistry or physics, the astralised letter was restored to its solid [33] stake, taken by H.P.B., and the next day duly posted to my Aligarh address; the sequel is known. If I were better versed in science, I should use this incident, together with that of the other Master’s turban given me at New York by my astralised visitor, and various other instances of apport, as a text for a discourse upon the possible changes in solid bodies, from the densely physical, objective, and ponderable condition, into that of the invisible, intangible one of bodies on the astral plane. That the changes can be worked in both directions, viz., from the objective to the hyperphysical, and back again into reintegration, or manifestation, is within the personal knowledge of many experienced investigators of psychical phenomena. These sixty-odd chapters of this series of] contain enough examples to prove the case, and the eye-witnesses to them are both numerous and unimpeachable: so, too, the works of an army of other writers and experimentalists in this field of natural science support my own statements. What with our X-rays, our Marconi rays, our researches in the Odic Force, in hypnotism, and, by no means the least important, in spiritualistic mediumship (e.g., the cases of Mrs. Compton, Mrs. d’Esperance, and Honto and other materialisations at the Eddys’), we shall soon find ourselves forced to begin again with the alphabet of physical science, and stretch out our hands to the East for help to understand the Nature in which our microcosmic selves have been so long vaunting our wisdom. The [34] phenomenon of my rose-born, half-ounce gold ring, which all my constant readers must recollect, is the only one that I can now call to mind which proves that a solid object can exist within another solid object without possessing tangible bulk and without abrading or disturbing its particles, yet at the same time have appreciable weight. Surely a long vista of physical discoveries is opening out before us!

Liên quan đến cuộc du hành cảm dục này, Damodar nói với tôi một điều thú vị. Khi đặt thân xác vào giấc ngủ như thường lệ, y lao vút đến ngôi nhà của Chân sư nơi dãy Himalaya, nhưng khi tới nơi thì thấy Ngài cũng đang rời đi bằng thể cảm dục; và bởi quyền năng của sự hấp dẫn mà Ngài dành cho đệ tử của mình, y bị cuốn đi mạnh mẽ và tức thì chẳng khác nào vừa liều mình bước vào dòng chảy sâu và xiết của một con sông, rồi bị cuốn mất điểm tựa. Phút kế, Damodar thấy mình ở Adyar, trước mặt cả Chân sư và H. P. B. Khi đi ngủ y cầm lá thư của ông Ward trong tay, và dường như nó đã theo y đi trên cõi cảm dục—bản thân nó, dĩ nhiên, được đổi từ vật chất nặng thành chất cảm dục, hay dĩ thái. Khi thưa với Chân sư về lá thư, y nhận thấy nó ở trong tay mình, trao nó cho Ngài, và được bảo trở về nơi của mình. Bằng năng lực căn để của “hóa học” hay “vật lý” huyền môn, lá thư đã được cảm dục hóa được phục nguyên lại [33] thể rắn, được H. P. B. nhận, và hôm sau được gửi đúng thủ tục đến địa chỉ của tôi ở Aligarh; phần tiếp theo thì đã rõ. Nếu tôi rành khoa học hơn, hẳn tôi sẽ dùng sự kiện này, cùng với vụ chiếc khăn xếp của vị Chân sư khác tặng tôi ở New York khi Ngài viếng tôi bằng thể cảm dục, và nhiều thí dụ khác về chuyển vật, làm văn bản cho một bài luận về những biến đổi khả hữu của vật thể rắn, từ trạng thái đậm đặc, khách quan, nặng đo được, sang trạng thái vô hình, bất khả tiếp xúc của các vật thể trên cõi cảm dục. Rằng những chuyển đổi có thể được thực hiện theo cả hai chiều, tức là từ khách quan sang siêu vật lý, và rồi trở lại mà tái kết hợp, hay hiện hình, là điều nằm trong hiểu biết cá nhân của nhiều nhà điều tra kinh nghiệm về các hiện tượng thông linh. Hơn sáu mươi thiên trong loạt bài này chứa đủ ví dụ để chứng minh trường hợp, và những nhân chứng mục kích thì vừa đông đảo vừa đáng tin: cũng tương tự, các tác phẩm của một đội ngũ tác giả và nhà thực nghiệm trong lĩnh vực khoa học tự nhiên này đều hỗ trợ cho các tường thuật của tôi. Với các tia X, tia Marconi, các nghiên cứu về Lực Od, về thôi miên, và—không hề là phần kém quan trọng—về đồng cốt của phong trào Thần linh học (chẳng hạn các trường hợp của bà Compton, bà d’Esperance, và Honto cùng các hiện hình khác tại nhà anh em Eddy), chẳng mấy chốc chúng ta sẽ buộc phải bắt đầu lại từ bảng chữ cái của khoa học vật lý, và đưa tay về phương Đông để tìm sự trợ giúp hầu hiểu được Tự Nhiên trong đó cái Ta vi mô của chúng ta đã khoe khoang sự khôn ngoan quá lâu. [34] Hiện tượng chiếc nhẫn vàng nửa ounce sinh ra trong bông hồng của tôi—mà tất cả độc giả thường xuyên của tôi hẳn còn nhớ—là trường hợp duy nhất lúc này tôi có thể nhớ ra chứng minh rằng một vật thể rắn có thể tồn tại bên trong một vật thể rắn khác mà không có dung tích tiếp xúc được và không làm mài mòn hay xáo trộn các hạt của nó, nhưng đồng thời vẫn có trọng lượng đo được. Chắc chắn một viễn cảnh dài lâu về các khám phá vật lý đang mở ra trước mắt chúng ta!

We went on to Delhi next, where I lectured twice at the Town Hall, and whence I despatched young Brown and L. V. V. Naidu, of my party, to form a Branch at Rawal Pindi, my own duties precluding my going myself. From Delhi the programme took me to Meerut, the home of that gifted young Hindu lawyer, Rama Prasad, whose work on Nature’s Finer Forces made him known, some years later, to the whole Theosophical reading public, the world over. From thence to Lahore, where things of great moment happened. Between the two stations Damodar made another astral flight which was capable of verification. Three of us—he, I, and T. Narainswamy Naidu—were in the same railway carriage, Damodar apparently moving uneasily, as if in sleep, on one of the berths: I was reading a book by the lamp-light. Damodar suddenly came over to me and asked the time, which by my watch was some minutes before 6 p.m. He told me that he had just come from Adyar, where H. P. B. had met with an accident; whether a serious one or not, he could not tell me, but he thought she had tripped her foot in the carpet and fallen heavily [35] on her right knee. The reader will observe that the young man was but a beginner in occult science, and incapable as yet of accurate recollection, in returning to outward consciousness, of his experiences on the other planes of being. I mention this in view of the studied unfairness of the S. P. R. toward him. For my own satisfaction I did two things on hearing his story. I wrote a certificate of the occurrence and got Narainswamy to sign it with me, noting the time; and from the next station, Saharanpore, telegraphed H. P. B. a question as to “what accident happened at headquarters at about 6 o’clock”? We reached Lahore the next morning at 9, and were escorted to a camp of six tents and four large shamianas (open canvas pavilions) which had been pitched for me on the open ground (maidan) to the north of the city. We very soon began talking with our friends about the previous evening’s incident in the train, and my memorandum was passed around for information: I got the friends present to sign it, and to say that the expected telegram from H. P. B. had not yet arrived. My party left me to take their morning bath and meal, and while I was sitting under the shadow of my tent with Mr. R. C. Bary, Editor of the Arya magazine, a Government telegraph peon was seen coming towards us with a brown-covered telegram in his hand. I made Mr. Ruttan Chand take it into his own hands and keep it unopened until the return of our party, in whose presence it should be opened and read. This was done at 12 noon by Mr. R. C. Bary, and the nine [36] present signed on the back to attest the circumstances. The contents were these: “Nearly broke right leg, tumbling from Bishop’s chair, dragging Coulomb, frightening Morgans. Damodar startled us.” My Saharanpore despatch was received by H. P. B. late at night on the 17th: her reply was dated at Adyar at 7.55 a.m. on the 18th, and I got it at Lahore at noon. The discrepancy in Damodar’s statement of details and H. P. B.’s is not even surprising in view of his then stage of spiritual evolution, while the corroboration of the major fact of the heavy fall and the injury to her right knee is full. There have been critics of limited acumen but great conceit, who wish us to believe that this might have been a vulgar conspiracy between Damodar and H. P. B. to deceive me; but I am not aware that it is likely that a fat woman of 16-stones’ weight would give herself a serious injury to her knee for the purpose of befooling me, when she might as easily have agreed with Damodar that he should have seen her doing something that would have been queer and yet harmless in itself, such, for instance, as making antic gestures, tearing a newspaper into bits, or declaiming a Russian or French poem: the explanation has not the support of common sense. And then character counts for something outside the S. P. R., and gentlemen are entitled to some credence when it is not a question of money interests; sometimes even then. H. P. B.’s telegram mentioned a fact until then unknown to us, that Major-General and Mrs. Morgan, of Ootacamund, were visiting at Adyar. [37]

Kế đó chúng tôi đến Delhi, nơi tôi thuyết giảng hai lần ở Tòa Thị Chính, và từ đó tôi cử chàng Brown trẻ và L. V. V. Naidu trong đoàn của tôi đi lập một Chi bộ ở Rawal Pindi, vì bổn phận của chính tôi không cho phép tự mình đi được. Từ Delhi, chương trình đưa tôi đến Meerut, quê nhà của chàng luật sư Hindu tài hoa Rama Prasad, người có tác phẩm Nature’s Finer Forces đã khiến anh được công chúng đọc sách Thông Thiên Học khắp thế giới biết đến vài năm sau đó. Từ đó đến Lahore, nơi những việc trọng đại đã xảy ra. Giữa hai ga, Damodar lại thực hiện một chuyến bay cảm dục khác có thể thẩm tra được. Ba chúng tôi—y, tôi và T. Narainswamy Naidu—cùng ngồi trong một toa tàu, Damodar dường như trở mình khó chịu như thể đang ngủ trên một trong các giường nằm: tôi đang đọc sách dưới ánh đèn. Damodar bỗng đến bên tôi và hỏi giờ, theo đồng hồ tôi là vài phút trước 6 giờ chiều. Y nói vừa ở Adyar về, nơi H. P. B. gặp một tai nạn; có nghiêm trọng hay không y không nói được, nhưng y nghĩ Bà vấp thảm và ngã mạnh [35] lên đầu gối phải. Bạn đọc sẽ lưu ý rằng chàng thanh niên này mới chỉ là người sơ cơ trong khoa học huyền môn, và chưa có khả năng hồi tưởng chính xác, khi trở về ý thức ngoài đời, các kinh nghiệm của mình trên các cõi tồn tại khác. Tôi nêu điều này vì sự thiếu công tâm có chủ đích của S. P. R. đối với y. Về phần tôi, để cho yên tâm, tôi đã làm hai việc ngay khi nghe chuyện của y. Tôi viết một bản chứng thực sự việc và mời Narainswamy cùng ký với tôi, ghi rõ thời gian; và từ ga kế tiếp, Saharanpore, điện cho H. P. B. một câu hỏi về “tai nạn nào đã xảy ra tại Trụ sở vào khoảng 6 giờ”? Sáng hôm sau chúng tôi đến Lahore lúc 9 giờ, và được đưa đến một doanh trại gồm sáu lều và bốn shamiana lớn (nhà bạt vải bạt mở) đã được dựng sẵn cho tôi trên bãi đất trống (maidan) phía bắc thành phố. Chúng tôi sớm nói với bạn bè về sự cố tối hôm trước trên tàu, và bản ghi nhớ của tôi được chuyền tay để thông tin: tôi mời các bạn có mặt ký vào đó, và ghi rằng điện tín mong đợi từ H. P. B. chưa đến. Nhóm của tôi rời tôi để tắm và ăn sáng, và trong lúc tôi đang ngồi dưới bóng mát của lều với ông R. C. Bary, Chủ bút tạp chí Arya, thì một nhân viên điện tín của Chính phủ được trông thấy đang tiến về phía chúng tôi với một bức điện bìa nâu trên tay. Tôi bảo ông Ruttan Chand tự tay nhận lấy và giữ điện tín còn niêm phong cho đến khi nhóm chúng tôi trở lại, để mở và đọc trước sự chứng kiến của họ. Việc này được thực hiện vào đúng 12 giờ trưa bởi ông R. C. Bary, và chín người [36] có mặt ký vào mặt sau để xác nhận bối cảnh. Nội dung như sau: “Suýt gãy chân phải, ngã từ ghế của Giám mục, kéo theo Coulomb, làm cho vợ chồng Morgan khiếp sợ. Damodar đã làm chúng tôi giật mình.” Bức điện của tôi từ Saharanpore được H. P. B. nhận vào khuya ngày 17; hồi âm của Bà đề ngày ở Adyar lúc 7 giờ 55 sáng ngày 18, và tôi nhận được tại Lahore vào buổi trưa. Sự sai biệt trong lời tường thuật chi tiết của Damodar với của H. P. B. thậm chí chẳng có gì đáng ngạc nhiên xét theo giai đoạn tiến hóa tinh thần của y khi ấy, trong khi sự xác nhận sự kiện chính là cú ngã nặng và chấn thương đầu gối phải của Bà thì hoàn toàn đầy đủ. Đã có những nhà phê bình trí tuệ hạn hẹp nhưng tự phụ lớn lao muốn chúng ta tin rằng đây có thể là một âm mưu tầm thường giữa Damodar và H. P. B. để lừa tôi; nhưng tôi không thấy có khả năng một phụ nữ nặng 16 stone lại tự gây thương tích nghiêm trọng cho đầu gối mình chỉ để đùa cợt tôi, trong khi Bà có thể dễ dàng thỏa thuận với Damodar rằng y đã thấy Bà làm một điều gì đó kỳ lạ mà vô hại, chẳng hạn như làm điệu bộ ngộ nghĩnh, xé nát một tờ báo, hoặc ngâm một bài thơ Nga hay Pháp: lời giải thích ấy chẳng được lẽ thường ủng hộ. Vả lại, nhân cách vẫn có trọng lượng ở bên ngoài S. P. R., và các quý ông có quyền được tin cậy khi không dính đến vấn đề lợi ích tiền bạc; đôi khi ngay cả khi có. Điện tín của H. P. B. còn nhắc đến một điều khi ấy chúng tôi chưa hay biết, rằng Thiếu tướng và phu nhân Morgan, ở Ootacamund, đang đến thăm Adyar. [37]

My camp was thronged with visitors during the three days of our stay, and I gave two lectures under the largest shamiana to multitudes, with great pots of fire standing along the sides to modify the biting November cold, for the Punjab is the reverse of tropical as to temperature in our winter months. My kind and most capable interpreter was Pandit Gopinath, F. T. S., a well-educated and most enterprising journalist, a Brahmin of Kashmir, well known to Theosophists for his unshakable loyalty to the two Founders.

Trong ba ngày chúng tôi lưu lại, lều trại của tôi tấp nập khách đến thăm, và tôi đã thuyết giảng hai lần dưới shamiana lớn nhất cho đám đông, với những vạc lửa lớn đặt dọc hai bên để giảm bớt cái lạnh cắt da của tháng Mười Một, vì Punjab về nhiệt độ trong những tháng mùa đông thì trái ngược hẳn với vùng nhiệt đới. Người thông dịch khả ái và mẫn cán của tôi là Pandit Gopinath, F.T.S., một nhà báo có học vấn tốt và rất năng nổ, một Bà-la-môn xứ Kashmir, vốn nổi tiếng với các Nhà Thông Thiên Học vì lòng trung kiên bất lay chuyển đối với hai vị Sáng Lập.

I was sleeping in my tent, the night of the 19th, when I rushed back towards external consciousness on feeling a hand laid on me. The camp being on the open plain, and beyond the protection of the Lahore Police, my first animal instinct was to protect myself from a possible religious fanatical assassin, so I clutched the stranger by the upper arms, and asked him in Hindustani who he was and what he wanted. It was all done in an instant, and I held the man tight, as would one who might be attacked the next moment and have to defend his life. But the next instant a kind, sweet voice said: “Do you not know me? Do you not remember me?” It was the voice of the Master K. H. A swift revulsion of feeling came over me, I relaxed my hold on his arms, joined my palms in reverential salutation, and wanted to jump out of bed to show him respect. But his hand and voice stayed me, and after a few sentences had been exchanged, be took my left hand in his, gathered the fingers of his right into the palm, and stood quiet beside my [38] cot, from which I could see his divinely benignant face by the light of the lamp that burned on a packing-case at his back. Presently I felt some soft substance forming in my hand, and the next minute the Master laid his kind hand on my forehead, uttered a blessing, and left my half of the large tent to visit Mr. W. T. Brown, who slept in the other half behind a canvas screen that divided the tent into two rooms. When I had time to pay attention to myself, I found myself holding in my left hand a folded paper enwrapped in a silken cloth. To go to the lamp, open and read it, was naturally my first impulse. I found it to be a letter of private counsel, containing prophecies of the death of two undesignated, then active, opponents of the Society, which were realised in the passing away of the Swami Dayânand Saraswati and Babu Keshab Chandra Sen shortly after. A point to notice is that the handwriting of this letter, formed in my own palm by the Master K. H. himself, is identical with that of all those others which the sagacious Netherclift, after much dissection of them into their original pothook-and-hanger elements, pronounced to be of Blavatskyan origin! What happened in young Brown’s end of the tent he related orally to a great many still living witnesses, and published in his pamphlet, Some Experiences in India, my copy of which I cannot lay my hand upon at this moment. But in his other pamphlet, The Theosophical Society an Explanatory Treatise, published at Madras, he says (p. 11): “It will be sufficient here to remark that Mahatma K. H. [39] is a living Adept, and that the writer had the honor of seeing him personally at Lahore and of being spoken to by him and even touched. Letters have been received by the writer at Madras, Lahore, Jammu (Kashmir), and again at Madras, all being in the same handwriting,” etc., etc. The foundation having been thus laid, and Mr. Brown’s other pamphlet available after a little search, I may say that on hearing an exclamation from his side of the screen, I went in there and he showed me a silk-wrapped letter of like appearance to mine though of different contents, which he said had been given him much as mine had been to me, and which we read together. That he has since swung around a whole circle of changes, and is now a professed Roman Catholic and a teacher in a school of that Church, does not alter in the least the facts of his receiving this letter as described, and his identifying it as in the K. H. script.

Đêm 19, tôi đang ngủ trong lều thì bỗng như bị lôi trở về phía ngoại thức khi cảm một bàn tay đặt lên mình. Vì doanh trại ở trên bãi đất trống, ngoài sự bảo vệ của Cảnh sát Lahore, nên bản năng thú vật đầu tiên của tôi là tự vệ trước nguy cơ một kẻ cuồng tín tôn giáo ám sát, vì thế tôi túm chặt người lạ vào bắp tay, và hỏi bằng tiếng Hindustani y là ai và muốn gì. Tất cả diễn ra trong khoảnh khắc, và tôi giữ chặt người ấy, như một người có thể bị tấn công ngay tức khắc và phải bảo vệ mạng sống. Nhưng khoảnh khắc kế tiếp, một giọng nói êm ái, nhân hậu cất lên: “Ông không nhận ra tôi ư? Ông không nhớ tôi sao?” Đó là giọng nói của Chân sư K. H. Một sự đảo chiều cảm xúc chớp nhoáng tràn ngập tôi, tôi buông lỏng tay khỏi cánh tay Ngài, chắp tay vái chào cung kính, và định bật dậy khỏi giường để tỏ lòng kính trọng. Nhưng tay và giọng nói của Ngài đã ngăn tôi, và sau khi trao đổi vài câu, Ngài nắm tay trái tôi trong tay Ngài, khum các ngón tay phải vào lòng bàn tay, và đứng yên bên [38] giường xếp của tôi, từ đó tôi có thể thấy khuôn mặt từ hòa thần thánh của Ngài dưới ánh đèn đặt trên một thùng gỗ phía sau lưng Ngài. Chẳng bao lâu tôi cảm thấy một chất mềm nào đó đang hình thành trong tay, và phút kế Chân sư đặt bàn tay nhân từ lên trán tôi, ban phúc, rồi rời nửa lều của tôi để thăm ông W. T. Brown, người ngủ ở nửa kia sau tấm màn vải chia lều thành hai phòng. Khi có thì giờ để chú ý đến chính mình, tôi thấy trong tay trái mình một tờ giấy gấp được bọc trong một mảnh lụa. Tự nhiên, việc đầu tiên là đến bên đèn, mở ra và đọc. Đó là một bức thư khuyên dạy riêng, trong đó có lời tiên đoán về cái chết của hai đối thủ khi ấy đang hoạt động, và điều này đã được thực hiện trong sự ra đi của Swami Dayânand Saraswati và Babu Keshab Chandra Sen chẳng bao lâu sau. Điểm đáng lưu ý là bút tích của bức thư này—được chính Chân sư K. H. kết thành trong lòng bàn tay tôi—giống hệt với tất cả những bức thư khác mà ông “thông tuệ” Netherclift, sau khi phân tích tỉ mỉ thành những nét móc cơ bản, đã tuyên bố là có nguồn gốc từ bà Blavatsky! Việc xảy ra ở phía lều của chàng Brown trẻ, anh đã kể miệng cho rất nhiều nhân chứng còn sống, và công bố trong cuốn sách nhỏ Some Experiences in India, bản của tôi hiện không tìm thấy lúc này. Nhưng trong cuốn sách nhỏ khác của anh, The Theosophical Society an Explanatory Treatise, xuất bản tại Madras, anh viết (trang 11): “Ở đây chỉ xin nói vắn tắt rằng Mahatma K. H. [39] là một Chân sư còn sống, và người viết đã có vinh hạnh được trông thấy Ngài bằng xương bằng thịt tại Lahore, được Ngài nói chuyện và thậm chí chạm vào. Những bức thư đã được người viết nhận tại Madras, Lahore, Jammu (Kashmir), và lại ở Madras, tất cả đều cùng một bút tích,” v.v. Nền tảng đã được đặt như thế, và cuốn sách nhỏ kia của ông Brown có thể tìm được sau ít nhiều dò tìm, tôi có thể nói rằng khi nghe tiếng kêu từ bên kia tấm màn, tôi bước vào và anh cho tôi xem một bức thư bọc lụa trông giống thư của tôi, tuy nội dung khác, mà anh nói đã được trao cho anh cũng gần như cách thức bức thư của tôi, và chúng tôi cùng đọc. Về sau anh đã đổi thay cả một vòng tròn và nay là người Công giáo La Mã công khai, dạy học trong một trường của Giáo hội ấy, nhưng điều đó không thay đổi gì các sự kiện anh đã nhận bức thư như mô tả, và việc anh xác nhận nó là bút tích của K. H.

The Master’s letter to me connects itself with the visit to me at New York of the other Master when at my unspoken thought-wish, he “materialised” his turban and gave it to me as an objsective proof that I had received his visit. The letter says: “At New York you demanded of... an objective proof that his visit to you was not a Mâya, and he gave it; [now] unasked, I give you the present one: tho’ I pass out of your sight, this note will be to you the reminder of our conferences. I now go to young Mr. Brown to try his intuitiveness. To-morrow night, when the camp is quiet and the worst of the emanations from your [40] audience have passed away, I shall visit you again for a longer conversation, as you must be forewarned against certain things in the future.” He concludes with a remark that will not be very palatable reading to our ingenious American rivals who are trying to play the drama of Hamlet with the Dane omitted. He says: “Ever be vigilant, zealous, and judicious; for, remember that the usefulness of the Theosophical Society largely depends upon your exertions, and that our blessings follow its suffering ‘Founders’ and all who help on their work.”

Bức thư của Chân sư gửi tôi có liên hệ với lần Ngài khác đến thăm tôi tại New York, khi theo ước muốn thầm lặng của tôi, Ngài đã “hiện hình” chiếc khăn xếp và trao cho tôi như một bằng chứng khách quan rằng tôi đã nhận cuộc viếng thăm của Ngài. Bức thư viết: “Ở New York ông đã đòi... một bằng chứng khách quan rằng chuyến thăm ông của Ngài không phải là một Mâya, và Ngài đã ban cho; [nay] không đợi ông thỉnh, Ta ban cho ông bằng chứng này: dẫu Ta khuất khỏi tầm mắt ông, thì bức thư này sẽ là nhắc nhớ về những cuộc đàm đạo của chúng ta. Giờ Ta đến với chàng Brown trẻ để thử trực giác của anh ấy. Đêm mai, khi doanh trại yên tĩnh và phần tệ nhất của những phát xạ từ cử tọa của ông [40] đã tiêu tan, Ta sẽ lại thăm ông để đàm đạo lâu hơn, vì ông cần được cảnh báo trước về một số điều trong tương lai.” Ngài kết thúc bằng một nhận xét hẳn không làm dễ chịu lắm cho các đối thủ Mỹ tài tình của chúng ta, những người đang cố diễn vở Hamlet mà bỏ hẳn vai người Đan Mạch. Ngài viết: “Hãy luôn cảnh giác, nhiệt thành và khôn ngoan; vì hãy nhớ rằng sự hữu ích của Hội Thông Thiên Học phần lớn tùy ở nỗ lực của ông, và rằng phúc lành của chúng ta theo các ‘vị Sáng Lập’ của Hội đang gánh chịu và tất cả những ai phụ giúp công việc của họ.”

CHAPTER IV—CHƯƠNG IV

RECEPTION BY THE MAHARAJAH OF KASHMIR —ĐƯỢC TIẾP KIẾN BỞI CỦA KASHMIR MAHARAJAH

THE experience described in the last chapter was certainly calculated to make a deep impression on the dullest mind; how much more so on one whose highest aspiration was to be permitted to work in some capacity or other with the “Elder Brothers” for the good of the race! If anybody had asked me what was the rarest pleasure that I could imagine, I should have answered: “To see and converse with a Master, for in his benign atmosphere the mind and heart would expand like a flower to the sun and one’s being be filled with joy.” And here I had had it without the asking. Yet when I came to look back upon it, it was but like a remembered glint of sunshine on a cloudy day, seen for a moment, then gone. The whole time of the interview could not have been longer than ten minutes. The touch of his hand drew me out of the depths of the oblivion of dreamless sleep. I had had a fatiguing day, the tent was very cold, heated only by some embers in a great earthen pot, and I had covered myself to the ears in the bed-clothes. I am touched, I wake with a start, I clutch the arms [42] of my visitor, possibly my would-be assassin; the sweet, kind voice breaks the last stupor of slumber; he is there, standing beside my bed, his face aglow with a smile; I see it in the chiaroscuro of the backlight. Then the magical creation of the silk-enwrapped letter in my hand, a few words, a farewell salute, he walks past the lamp on the box, his noble form lingers an instant in the tent-door, he gives a last friendly glance at me, and is gone. It is not much as to time, but its memory will last my life through. Years before—as my readers will perhaps remember—I was bidden to go on with my work as if there were no Masters to guide and help, but only Humanity, the “Great Orphan,” to labor for: to expect nothing from Them, yet to be ready for anything. So I have gone on until to-day, never asking for help, never holding back for lack of the promise of it, yet never being without it when it was really needed.

Kinh nghiệm mô tả trong chương trước hẳn đủ để khắc sâu vào cả tâm trí chậm chạp nhất; huống nữa là đối với một người có nguyện vọng cao nhất là được phép cùng làm việc với các “Huynh Trưởng” trong bất cứ vai trò nào vì lợi ích của nhân loại! Nếu ai hỏi tôi niềm vui hiếm có nhất mà tôi có thể tưởng tượng là gì, tôi sẽ đáp: “Được trông thấy và đàm đạo với một Chân sư, vì trong bầu khí từ ái của Ngài, tâm và lòng sẽ nở ra như đóa hoa hướng về mặt trời và toàn bộ hữu thể được chan chứa hân hoan.” Và ở đây, tôi đã có được điều ấy mà không cần thỉnh cầu. Tuy vậy, khi ngoảnh nhìn lại, nó giống như tia nắng lóe lên trên ngày nhiều mây—chỉ kịp thấy trong khoảnh khắc, rồi tan. Toàn bộ thời gian gặp gỡ không thể quá mười phút. Cái chạm tay của Ngài kéo tôi lên từ đáy quên lãng của giấc ngủ không mộng. Tôi đã có một ngày mệt mỏi, lều rất lạnh, chỉ sưởi bởi vài than hồng trong một chậu đất lớn, và tôi trùm chăn đến tận tai. Tôi bị chạm, giật mình tỉnh, bàn tay [42] nắm chặt lấy cánh tay người khách, có lẽ là kẻ ám sát tôi; giọng nói dịu dàng, nhân hậu phá tan chút mê ngu cuối cùng của cơn ngủ; Ngài ở đó, đứng bên giường tôi, gương mặt bừng sáng nụ cười; tôi thấy trong ánh tối—sáng của ngọn đèn phía sau lưng Ngài. Rồi sự kết hiện thần diệu của bức thư bọc lụa trong tay tôi, vài lời, một cử chào biệt, Ngài đi ngang qua ngọn đèn trên chiếc thùng, dáng hình cao quý dừng một thoáng nơi cửa lều, Ngài ném cho tôi cái nhìn thân thiện sau cuối, và biến mất. Không nhiều về thời gian, nhưng ký ức của nó sẽ theo tôi suốt đời. Nhiều năm trước—như bạn đọc có lẽ còn nhớ—tôi đã được dạy phải tiếp tục công việc như thể chẳng hề có các Chân sư để hướng dẫn và nâng đỡ, mà chỉ có Nhân Loại, “Đứa Trẻ Mồ Côi Lớn Lao”, để phục vụ: đừng mong đợi gì nơi Các Ngài, nhưng hãy sẵn sàng cho bất cứ điều gì. Thế là tôi đã tiếp tục cho đến hôm nay, chẳng bao giờ xin giúp đỡ, chẳng bao giờ chùn bước vì thiếu lời hứa, nhưng cũng chẳng bao giờ thiếu sự trợ giúp khi thật sự cần đến.

This Lahore visit of the Master was but one of many proofs vouchsafed me that we are watched and helped; never deserted, never forgotten, howsoever dark may seem the outlook, howsoever menacing the aspect of things. Twenty-odd years of this experience has begotten a constant calm and an abiding trust in my heart, as it did in that of H. P. B. Sometimes it may be a glimpse of a personage, sometimes an audible voice, sometimes a clear forecast of events, sometimes a message through third parties; like that which Mme. Mongruel, the gifted seeress, gave me in her somnambulic sleep last year at Paris, and which [43] foretold the immediate future of the Society, the duration of my own life, and the aspect of things towards the end of it. Thus, in the letter made in my hand were predicted the deaths of our two opponents, then most active, and good counsel was given me. Though traitors should fill twenty corner-stones with deliberately concocted lies about the history of our movement, and for ever suppress my name and Mrs. Besant’s from their falsified records, it will profit them not one iota; the work will go on, and the real workers be recognised, comforted, and helped, so long as they are loyal to their duty.

Chuyến viếng thăm Lahore của Chân sư chỉ là một trong nhiều bằng chứng được ban cho tôi rằng chúng ta được dõi theo và nâng đỡ; chẳng bao giờ bị bỏ rơi, chẳng bao giờ bị quên lãng, dẫu triển vọng có vẻ u ám đến đâu, dẫu bộ mặt sự việc có vẻ đe dọa đến đâu. Hơn hai mươi năm kinh nghiệm như vậy đã tạo nên một sự bình thản thường hằng và một niềm tín thác cư trú trong tim tôi, như đã ở trong tim của H. P. B. Đôi khi là thoáng thấy một vị nhân vật, đôi khi là một giọng nói nghe được, đôi khi là dự báo minh bạch về sự kiện, đôi khi là thông điệp qua người thứ ba; như điều bà Mongruel, nữ tiên tri tài hoa, đã cho tôi trong giấc xuất thần của bà năm ngoái ở Paris, và [43] đã dự báo tương lai gần của Hội, độ dài đời sống của chính tôi, và cục diện sự việc về cuối đời. Cũng thế, trong bức thư kết hiện trong tay tôi là lời tiên đoán về cái chết của hai đối thủ của ta, khi ấy hoạt động tích cực nhất, cùng với lời khuyên tốt lành dành cho tôi. Dẫu kẻ phản trắc có lấp đầy hai mươi viên đá góc với những lời dối trá được chế tác có chủ ý về lịch sử phong trào của chúng ta, và mãi mãi xóa tên tôi và bà Besant khỏi những bản ghi bị bóp méo của họ, điều đó cũng chẳng có lợi cho họ dù chỉ một tơ tóc; công việc vẫn sẽ tiếp diễn, và những người làm việc thật sự sẽ được nhận biết, được an ủi, và được trợ giúp, chừng nào họ còn trung tín với bổn phận.

The next evening, after the visits to Mr. Brown and myself, we two and Damodar sat in my tent, at 10, o’clock, waiting for an expected visit from Master K. H. The camp was quiet, the rest of our party dispersed through the city of Lahore. We sat on chairs at the back of the tent so as not to be observed from the camp: the moon was in its last quarter and had not risen. After some waiting we heard and saw a tall Hindu approaching from the side of the: open plain. He came to within a few yards of us and beckoned Damodar to come to him, which he did. He told him that the Master would appear within a few minutes, and that he had some business with Damodar. It was a pupil of Master K. H. Presently we saw the latter coming from the same direction, pass his pupil—who had withdrawn to a little distance—and stop in front of our group, now standing and saluting in the Indian fashion, some [44] yards away. Brown and I kept our places, and Damodar went and conversed for a few minutes with the Teacher, after which he returned to us and the king-like visitor walked away. I heard his footsteps on the ground, so it was no wraith, but the man in his external body. Observe that it could not have been Damodar masquerading, for he himself formed one of our group of three. Then there are the distinguished personal peculiarities of the two, as unlike as possible, to account for, and the chela, whom I had had to do with for years. Still further proof was given me before retiring, when I was writing my Diary: the pupil lifted the portiére, beckoned to me, and pointed to the figure of his Master, waiting for me out on the plain in the starlight. I went to him, he walked off to a safe place at some distance where intruders need not be expected, and then for about a half-hour told me what I had to know, and what does not concern third parties, since that chapter of T. S. history was long since closed. Needless to say I slept very little on either of those two nights. The august visitor told me, however, that he had not come to me of his own motion entirely, although glad to come to me in person; but had been sent by the Authority higher than himself, who was satisfied with my fidelity and wished me to never lose confidence. There were no miracles done at the interview, no magic circle traced on the ground, no gum-burning lamps placed around it and burning with steely-blue flames: just two men talking together, a meeting, and a parting when [45] the talk was over. I can affirm that it was not Damodar but was the One I was called to meet; so let it pass.

Tối hôm sau, sau khi đã viếng ông Brown và tôi, ba chúng tôi—tôi, Brown và Damodar—ngồi trong lều của tôi lúc 10 giờ, đợi một cuộc viếng thăm dự kiến của Chân sư K. H. Doanh trại yên tĩnh, các thành viên khác trong đoàn tản ra khắp thành Lahore. Chúng tôi ngồi trên ghế phía sau lều để khỏi bị trông thấy từ trong trại: trăng đang vào tuần cuối và chưa mọc. Đợi một lát, chúng tôi nghe và thấy một người Hindu cao lớn tiến đến từ phía bãi đất trống. Ông đến cách chúng tôi vài thước và ra hiệu gọi Damodar đến, y liền đi. Ông nói với y rằng Chân sư sẽ xuất hiện trong vài phút nữa, và rằng ông có chút việc với Damodar. Đó là một đệ tử của Chân sư K. H. Rồi chẳng bao lâu, chúng tôi thấy Ngài đến từ cùng hướng ấy, đi ngang qua đệ tử—người đã lui ra xa một chút—và dừng lại trước nhóm chúng tôi, khi ấy đang đứng lên và chào theo lễ Ấn Độ, cách [44] vài thước. Brown và tôi giữ nguyên chỗ, còn Damodar đi đến trò chuyện vài phút với Bậc Thầy, sau đó y trở về với chúng tôi và vị khách có phong thái vương giả bước đi. Tôi nghe tiếng chân Ngài trên mặt đất, cho nên đó không phải là một bóng ảnh, mà là con người bằng thân xác bên ngoài. Cần lưu ý rằng không thể là Damodar cải trang, vì y đang là một trong ba người chúng tôi. Rồi còn những đặc điểm cá nhân rất riêng biệt của hai người—khác nhau hết mức—để ta cân nhắc, và về người đệ tử ấy, tôi đã có giao tiếp trong nhiều năm. Bằng chứng còn mạnh hơn được ban cho tôi trước khi đi nghỉ, khi tôi đang viết Nhật ký: người đệ tử vén màn cửa, ra hiệu cho tôi, và chỉ về phía dáng hình của vị Thầy Ngài, đang chờ tôi ngoài bãi, dưới ánh sao. Tôi đi đến với Ngài, Ngài đi đến một nơi an toàn hơi xa một chút, nơi khó có kẻ quấy rầy, và rồi trong chừng nửa giờ Ngài nói với tôi điều tôi cần biết, và điều ấy không can hệ đến người thứ ba, vì chương ấy của lịch sử T. S. đã khép lại từ lâu. Không cần nói cũng rõ là tôi ngủ rất ít trong cả hai đêm ấy. Tuy nhiên, vị khách tôn nghiêm nói với tôi rằng Ngài đến với tôi không hoàn toàn theo ý riêng mình, dù vui lòng đến gặp tôi trực diện; nhưng đã được một Thẩm Quyền cao hơn chính Ngài sai phái, người hài lòng với lòng trung thành của tôi và muốn tôi đừng bao giờ đánh mất niềm tin. Không có phép lạ nào được làm trong cuộc gặp, không có vòng tròn ma thuật vạch trên đất, không có những đèn đốt bằng nhựa cây đặt quanh và cháy ngọn xanh lam thép: chỉ là hai người nói chuyện với nhau, gặp gỡ, rồi chia tay khi [45] câu chuyện kết thúc. Tôi có thể quả quyết rằng người ấy không phải là Damodar mà là Đấng tôi được gọi đến gặp; vậy thì xin để qua.

I broke up camp the next day—November 21—and left Lahore for Jammu, the lower capital of H. H. the late Maharajah of Kashmir, whose invitation to visit him I had accepted. One of his durbar officers, a Muslim and, strange to say, given to drinking, despite the prohibitions of his creed, had been sent down to escort me from Lahore. Simple affair as this was, there had been protests, explanations, and compromises before it could be arranged. I had heard that the Maharajah’s custom was to make presents in cash and costly clothing to his visitors, and I positively declined to accept a single rupee, as incompatible with my lifelong habit. The emissary was at his wits’ end between two such stubborn men, and an active exchange of telegrams made things no better until, at last, the cloud rolled by and all was settled in a way to satisfy us both. It was agreed that the khillât, or present, should be given and by me received and receipted for officially, as President of the Theosophical Society, in which capacity I am ready to accept any gifts, however large, that involve no wrong to anybody. So, all being right, our party took the 6 p.m. train for Wazirabad, which was reached at 9.30. My escort had evidently been saying good-bye to friends to some purpose, as his breath smelt very bad in our closed railway carriage, and he was quite half-seas-over. His tongue got to wagging about politics, and I was assured, with mysterious [46] hints and nods, that a revival of Moslem power was certain, and that his fifty million Indian co-religionists would rally under the standard of the Nizam of Hyderabad. After a while I got my fill of this nonsense and the odors of his mouth, and retired to my corner and read. He wanted to stop at Wazirabad, for that meant the chance for sleep and other things, but I declared my intention of pushing forward to Sialkot. We reached that place by horse-dawk at 3 a.m., stopped at the rest-house until noon, then moved on to Jammu. We left our carriages on the hither side of the River Tavi, and were brought on two of the royal elephants, a distance of two miles, to the huge bungalow that the Maharajah keeps for his more important guests. The road from the river leads straight through the main street of the quaint old town, whose breadth may be guessed when I tell my reader that as our elephants moved their huge bulk forward, horsemen, and even foot-passengers, had to whirl into alleys or clamber into shops to avoid being crushed! And we, seated on their backs, cross-legged in true Oriental fashion, were almost on a level with the living apartments and, if we had been discourteous according to Indian notions of politeness, might have seen the families in their private rooms. At the rest-house we were received by an army of servants with the obsequiousness that means naught else than the hope of bakshish. My lordship was asked to name what meats, game, fish, etc., I might prefer, whether I would begin operations now with the customary [47] whisky “peg,” and when I would have my meals. They appeared really astonished when I named my simple, non-flesh diet (for that time was included within my five years’ trial of vegetarianism), and declined their liquors, wines, and fermented drinks. Such a mad white they had never seen before! And then, too, who had ever seen a European gentleman on terms of friendly equality with Indians? Yes, here were two Sahibs, actually two, travelling with dark-skinned people as if they were as good as themselves, and apparently enjoying their company! Bismillah!

Hôm sau—ngày 21 tháng 11—tôi dỡ trại và rời Lahore đến Jammu, thủ phủ vùng thấp của Đức Maharajah quá cố xứ Kashmir, người mà lời mời đến viếng tôi đã nhận. Một viên chức triều đình của Ngài, theo Hồi giáo và, thật lạ, lại nghiện rượu dù giáo điều cấm đoán, được cử xuống hộ tống tôi từ Lahore. Việc đơn giản thế mà cũng có phản đối, giải thích, và thỏa hiệp trước khi thu xếp xong. Tôi nghe rằng thông lệ của Maharajah là tặng tiền mặt và y phục đắt tiền cho khách của mình, và tôi nhất quyết từ chối nhận một đồng rupee nào, vì trái với thói quen suốt đời của tôi. Sứ giả ấy rơi vào cảnh bối rối giữa hai con người ngoan cường như vậy, và một loạt điện tín qua lại khiến sự việc càng không khá hơn, đến lúc, sau cùng, đám mây tan và mọi điều được dàn xếp theo cách làm cả hai chúng tôi hài lòng. Thống nhất rằng khillât, tức lễ vật, sẽ được trao và tôi sẽ nhận, đồng thời ký biên nhận một cách chính thức với tư cách Chủ tịch Hội Thông Thiên Học, trong tư cách ấy tôi sẵn sàng nhận bất cứ lễ tặng nào, dù lớn bao nhiêu, miễn không gây thiệt hại cho ai. Thế là, mọi sự đâu vào đấy, đoàn chúng tôi lên tàu lúc 6 giờ tối đến Wazirabad, đến nơi lúc 9 giờ 30. Người hộ tống của tôi hiển nhiên đã “chia tay bạn bè” theo cung cách của ông ta, vì hơi thở ông nồng nặc trong toa tàu đóng kín cửa, và ông ta chếnh choáng say. Lưỡi ông bắt đầu huyên thuyên về chính trị, và với những [46] ám hiệu, cái gật đầu bí hiểm, tôi được quả quyết rằng sự phục hưng quyền lực Hồi giáo là điều chắc chắn, và năm chục triệu đồng đạo Ấn Độ của ông sẽ tập hợp dưới cờ của Nizam xứ Hyderabad. Một lát sau tôi đã quá đủ thứ rồ dại ấy và mùi nồng từ miệng ông, bèn rút về góc mình đọc sách. Ông ta muốn dừng ở Wazirabad, vì như thế có cơ may được ngủ và “những thứ khác”, nhưng tôi tuyên bố quyết đi thẳng đến Sialkot. Chúng tôi đến nơi bằng xe trạm ngựa lúc 3 giờ sáng, nghỉ ở nhà nghỉ đến trưa, rồi đi Jammu. Chúng tôi rời xe ở bờ bên này sông Tavi, và được đưa đi bằng hai con voi của hoàng gia, đoạn đường hai dặm, đến bungalow lớn mà Maharajah dùng để tiếp các bậc khách quan trọng. Con đường từ sông đi thẳng vào phố chính của thị trấn cổ kính xinh xắn, mà bề rộng có thể đoán được khi tôi nói rằng khi các con voi của chúng tôi tiến bước đồ sộ, kỵ mã, và ngay cả người đi bộ, phải vọt vào các hẻm hoặc trèo ngay lên các cửa hiệu để khỏi bị nghiền nát! Còn chúng tôi, ngồi trên lưng voi, xếp bằng theo đúng điệu Đông phương, gần như ngang với những căn phòng ở, và nếu chúng tôi thất lễ theo quan niệm lịch thiệp Ấn Độ, chúng tôi có thể nhìn thấy các gia đình trong phòng riêng của họ. Ở nhà nghỉ, chúng tôi được một đạo quân đầy tớ tiếp đón với lối khúm núm mà chẳng biểu thị gì khác hơn hy vọng tiền thưởng. “Ông chủ” của tôi được hỏi muốn dùng những món thịt, thú, cá nào, rằng liệu tôi có muốn bắt đầu theo tục lệ [47] bằng một ly whisky “peg”, và giờ nào tôi muốn dùng bữa. Họ thực sự tỏ ra kinh ngạc khi tôi nêu chế độ ăn đạm bạc không thịt (vì khi ấy tôi đang trong năm năm thử nghiệm ăn chay), và từ chối các loại rượu mạnh, rượu vang, đồ uống lên men. Một người da trắng điên rồ như thế họ chưa từng thấy! Và nữa, ai đã từng thấy một quý ông châu Âu đối xử bình đẳng thân thiện với người Ấn? Vâng, ở đây có hai ông Sahib, thật sự là hai, đi cùng với những người da ngăm như thể họ cũng tốt như chính các ông, và dường như còn thích thú bầu bạn của họ nữa! Bismillah!

As we learned that a certain famous European doctor had been sent by the Maharajah’s request to prescribe for him, and that he would arrive that evening and be lodged in the same house with us, I at once asked our minister-escort to change us into a smaller bungalow that stood near by, for I could not bear the sight -of my dear dark-complexioned colleagues being scornfully looked down upon, as they would almost certainly be. My request being granted, we found ourselves very comfortable and independent in a house of four rooms divided by cross walls and with doors of communication. In view of what was to happen, we may-as well have the ground plan. Thus;

Vì chúng tôi biết rằng một bác sĩ châu Âu danh tiếng đã được mời theo yêu cầu của Maharajah để chữa cho Ngài, và rằng ông sẽ đến tối đó và được xếp ở cùng nhà với chúng tôi, tôi liền xin viên bộ trưởng hộ tống chuyển chúng tôi sang một bungalow nhỏ hơn gần đó, vì tôi không chịu nổi cảnh các bạn đồng hành thân yêu da sậm của tôi bị khinh khỉnh nhìn xuống, điều hầu như chắc chắn sẽ xảy ra. Yêu cầu của tôi được chấp thuận, chúng tôi thấy mình rất thoải mái và độc lập trong một căn nhà bốn phòng, chia bởi tường vuông góc và có cửa thông nhau. Xét đến những gì sắp xảy ra, tốt hơn cả là có ngay sơ đồ mặt bằng. Như sau:

A.—My room; used also as dining- room. C.—Pandit Gopinath L.V.V. Naidu, and T. Narain- swamy.

A.—Phòng tôi; cũng dùng làm phòng ăn. C.—Pandit Gopinath, L. V. V. Naidu, và T. Narainswamy.

B.—Damodar’s D.—W.T. Brown.

B.—Phòng của Damodar D.—W. T. Brown.

[48]

[48]

The next morning, at 10-30, the same Minister of the Durbar brought me word that His Highness begged the honour of my presence at the Palace. In our compound stood two elephants and four fine saddle-horses, richly caparisoned, with housings and saddle-covers of Kashmir-shawl work, and silver-mounted bridles and stirrups, awaiting my pleasure, with a guard of honor of armed sepoys. I chose the elephants, so we mounted the sagacious, kneeling beasts and went on our way, the sepoys in front to clear the road. I made the discovery that elephant-riding is not so bad when one sits on the pad in Eastern fashion, the legs crossed. I had tried it elsewhere in a howdah, or structure with raised seats, and in spite of its being covered with plates of silver and otherwise gorgeously gotten up, one rode most uncomfortably, shaken about like a bag of meal on an oscillating pivot. Again we threaded the narrow streets of Jammu, driving all wayfarers to the nearest shelters, and at last reached the Palace. There were the usual enclosing walls with massive gates, the outer compound with horses, elephants, camels, oxen, donkeys, heavy wains, light vehicles (ekkas), piles of straw, bags of grain, building materials, etc., all in confusion, armed sentries pacing their beats, and soldiers in untidy undress lounging about. Then came an inner court and the Palace gateway, through which we passed, mounted a wide staircase and found ourselves in the Presence Chamber. I forget after these fourteen years how it looked, but a vague memory of general [49] untidiness remains in my mind. The Maharajah came soon and received me with an air of kindness and stately courtesy that showed beyond doubt that I was welcome. In compliment to him I wore the woollen dress of the better class in the Punjab—pyjamas, a sleeveless waistcoat with deep flaps, an outside choga, or long robe, striped Kashmir socks, and purple slippers embroidered with imitation gold braid—which, of course, I left at the door. His first expression to Pandit Gopinath, my interpreter, was one of pleasure to see me in his national costume. A carpet and back-bolster had been spread for him on a slightly raised platform, before which we were to sit on the carpeted floor: but he dragged the bolster from there, placed it on the floor, motioned me to sit beside him, called me his elder brother, and proceeded with the conversation, which he opened with the usual exchange of compliments and good wishes. He was a man of noble presence, with an intellectual face and the splendid eyes of the Hindu, which by turns can be full of pathos, blaze with anger, or penetrating with intelligent interest. His personality fitted the kingly office perfectly, which is more than can be said of some other sovereigns whom I have seen, and who looked rather like cooks or grooms than highborn rulers of men. I found him to be a thoughtful Vedantin, well acquainted with philosophical systems. He fully believed in the existence of living Mahatmas, and trusted in them to do for India all that her Karma made possible, but no more. He gently broached the [50] subject of his own ill-health, said he knew of my cures and of the recent prohibition to continue the practice, but asked if I would not at least relieve the acute pain he was then suffering from. I consented, of course, and on his removing his turban, did what I could for him with mesmeric healing passes. He submitted to my manipulations with perfect docility, which, I must confess, gave me a peculiar sensation, for Americans are not in the habit of handling sovereigns like common men, however they may theoretically regard them as their equals. I had the pleasure of removing His Highness’ pain, and when the audience closed he begged me to visit him twice a day during my stay, that we might talk of the high religious themes which equally interested us.

Sáng hôm sau, vào 10 giờ 30, chính vị Đại thần của Durbar lại đến báo tin rằng Điện hạ thỉnh mời tôi vào Hoàng cung. Trong khuôn viên của chúng tôi có hai con voi và bốn con ngựa yên hảo hạng, trang sức lộng lẫy, với yên cương và phủ yên dệt kiểu khăn choàng Kashmir, hàm thiếc và bàn đạp gắn bạc, đứng chờ tôi, kèm theo một đội danh dự lính sepoy vũ trang. Tôi chọn voi, thế là chúng tôi leo lên lưng những con vật khôn ngoan đang quỳ và lên đường, toán sepoy đi trước dẹp đường. Tôi phát hiện cưỡi voi cũng không đến nỗi tệ khi ngồi trên tấm đệm theo kiểu phương Đông, vắt chéo chân. Tôi đã thử nơi khác với cái bành có ghế cao, và dù phủ bạc và trang hoàng rực rỡ thế nào đi nữa thì ngồi vẫn rất khó chịu, bị lắc lư như bao bột đặt trên một trục đu đưa. Chúng tôi lại len qua những con phố hẹp của Jammu, xua mọi người đi đường vào các nơi trú gần nhất, và cuối cùng đến Hoàng cung. Có những tường bao quen thuộc với cổng lớn kiên cố, sân ngoài có ngựa, voi, lạc đà, bò, lừa, xe thồ nặng, xe nhẹ, đống rơm, bao ngũ cốc, vật liệu xây dựng, v.v... tất cả lộn xộn; lính canh vũ trang đi tuần, và binh sĩ mặc thường phục luộm thuộm ngồi thẩn thơ. Rồi tới nội viện và cổng cung, chúng tôi đi qua, bước lên cầu thang rộng và thấy mình ở Phòng Triều yết. Sau mười bốn năm, tôi quên mất trông nó thế nào, chỉ còn một ký ức mơ hồ về sự [49] bừa bộn chung chung. Đại vương đến ngay và tiếp tôi với vẻ thân ái và phong thái đường bệ, khiến tôi không còn nghi ngờ gì về sự đón tiếp nồng hậu. Để tỏ lòng kính lễ, tôi mặc y phục len của hạng khá giả ở Punjab—pijama, áo gi-lê không tay vạt dài, áo ngoài choga tức áo dài, vớ Kashmir sọc, và dép tím thêu chỉ mạ vàng giả—mà dĩ nhiên tôi để lại ngoài cửa. Lời đầu của Ngài nói với Pandit Gopinath, thông dịch của tôi, là vui mừng khi thấy tôi mặc quốc phục của Ngài. Một tấm thảm và gối dựa lưng được trải cho Ngài trên bục hơi cao, trước đó chúng tôi sẽ ngồi trên sàn trải thảm; nhưng Ngài kéo gối từ trên bục xuống, đặt xuống sàn, ra hiệu mời tôi ngồi cạnh, gọi tôi là huynh trưởng, rồi bắt đầu câu chuyện, mở đầu bằng những lời chúc tụng theo lễ thường. Ngài là người có dung nghi cao quý, gương mặt trí tuệ và đôi mắt tuyệt đẹp của người Ấn, khi thì chan chứa bi cảm, khi thì bừng bừng giận dữ, khi lại sáng quắc, thấu suốt với mối quan tâm thông tuệ. Phàm ngã của Ngài rất hợp với ngôi vị vương giả, điều mà tôi không thể nói về một số quân vương khác mà tôi đã gặp, những vị trông giống đầu bếp hoặc nài ngựa hơn là bậc cầm quyền cao quý. Tôi thấy Ngài là một người theo Vedanta trầm tư, am tường các hệ thống triết học. Ngài tin trọn vẹn vào sự hiện hữu của các Chân sư đang sống, và đặt niềm tin nơi Các Ngài sẽ làm cho Ấn Độ tất cả điều gì mà nghiệp quả của đất nước cho phép, nhưng không hơn thế. Ngài nhẹ nhàng nêu [50] chuyện về bệnh trạng của mình, nói Ngài biết các ca chữa bệnh của tôi và việc gần đây tôi bị cấm tiếp tục thực hành, nhưng hỏi liệu tôi có thể ít nhất làm dịu cơn đau cấp tính mà Ngài đang chịu không. Tất nhiên tôi ưng thuận, và khi Ngài tháo khăn xếp, tôi làm hết sức có thể bằng các động tác thôi miên chữa bệnh. Ngài hoàn toàn ngoan ngoãn để tôi điều khiển, điều này, tôi phải thú thực, làm tôi có một cảm giác khá lạ, vì người Mỹ chúng tôi không có thói quen chạm tay vào quân vương như người thường, dù về lý thuyết có xem họ là bình đẳng. Tôi hân hạnh đã xua được cơn đau của Điện hạ, và khi buổi yết kiến kết thúc, Ngài nài tôi mỗi ngày đến thăm hai lần trong thời gian tôi lưu lại, để chúng tôi đàm đạo các chủ đề tôn giáo cao siêu vốn cùng quan tâm.

The same evening, when I was sitting in our bungalow, I saw a queer procession of men enter from the verandah. First came a Court official, attended by a servant carrying a pair of scales and another with some heavy bag on his shoulder, which was gravely laid at my feet. Then followed a string of twenty-one other dark-faced, turbaned servants, each bearing on his head a flat basket of fruit or sweets, which were piled on each other on the table, counted by the Court officer, and the men dismissed. While I was wondering what all this could mean, Gopinath was told that His Highness received me as a guest of the first-class, and, as such, twenty-one baskets were sent me; there were guests of three classes, of which the second received fourteen baskets, the third seven baskets, below that people [51] did not count! He then opened the gunny-bag, poured the contents—silver coins—into the scales, weighed them, and took my receipt for Rs. 500. This, he explained, was “table money,” though why he should give me that when our every possible and impossible wish was gratified, I could not imagine. However, it was the custom of the Court of Kashmir, and His Highness’ honor was involved in doing things as they had always been done from ancient times by Indian kings.

Tối hôm đó, đang ngồi trong bungalow của mình, tôi thấy một đoàn người lạ lùng đi vào từ hiên. Trước hết là một quan viên triều đình, có người hầu đi kèm mang một cái cân, người khác vác một bao nặng trên vai, và trang trọng đặt xuống chân tôi. Tiếp đến là một dãy hai mươi mốt người hầu da ngăm, đội khăn xếp, mỗi người đội trên đầu một mẹt phẳng đựng trái cây hoặc bánh kẹo, xếp chồng lên nhau trên bàn, được viên chức triều đình đếm và cho người lui ra. Tôi đang phân vân không hiểu tất cả chuyện này nghĩa là gì thì Gopinath được báo rằng Điện hạ tiếp tôi như thượng khách, và vì thế gửi cho tôi hai mươi mốt mẹt; ở đây có ba hạng khách, hạng hai nhận mười bốn mẹt, hạng ba bảy mẹt, dưới hạng đó thì người ta [51] không tính! Rồi ông mở bao tải bố, đổ tiền bạc ra cân, và lấy biên nhận của tôi cho 500 Rs. Ông giải thích đây là “tiền bàn ăn”, dù tại sao lại đưa tôi khoản ấy khi mọi ước muốn khả hữu và bất khả hữu của chúng tôi đều được đáp ứng, tôi không thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, đó là tập tục của triều đình Kashmir, và danh dự của Điện hạ gắn liền với việc làm mọi sự như từ xưa các quốc vương Ấn đã làm.

I went twice to the Palace the next day, and resumed the Vedantic discussions and even the mesmeric passes. His Dewan (Prime Minister) was present with other officials, including the Chief Justice, and after the free Eastern fashion, dipped into the conversation from time to time. That is a thing that always astonishes Europeans: if there be a wrangle in the street and a crowd gathers, they will turn to listen to a side remark by a boy as readily as though he were an adult. Can it be because, by the accepted belief in Karma, only our encasing bodies are young, the Dweller within the one being as old as that within the other? It is an idea to be considered like any other, at all events.

Hôm sau tôi vào Hoàng cung hai lần, tiếp tục những cuộc thảo luận Vedanta và cả các động tác thôi miên. Dewan (Tể tướng) của Ngài có mặt cùng các quan khác, gồm cả Chánh án, và theo lối tự do phương Đông, thỉnh thoảng chen lời vào câu chuyện. Điều này luôn làm người Âu kinh ngạc: nếu có cuộc cãi lộn ngoài phố và một đám đông tụ lại, họ sẽ quay sang lắng nghe lời xen ngang của một cậu bé dễ dàng như thể cậu là người lớn. Có thể chăng vì theo niềm tin được chấp nhận về nghiệp quả, chỉ có những thể xác bọc lấy chúng ta là trẻ, còn đấng nội tại bên trong người này già dặn chẳng kém bên trong người kia? Dù sao, đó là một ý tưởng đáng được cân nhắc như mọi ý tưởng khác.

In the afternoon the Maharajah presided at games and a series of animal combats, and took me to his pavilion and placed me at his side. It being an entirely novel experience, I stayed the thing out, but once was enough. There were fights between rams, elephants, and horses—the first laughable, the second [52] tame, since the elephants were not angry; the third exciting, for the splendid stallions lashed out at each other, screamed and tried to bite. A cock-fight brought the affair to a close.

Buổi chiều Đại vương chủ trì các trò chơi và một loạt cuộc đấu thú, và đưa tôi vào đình tạ của Ngài, đặt tôi ngồi bên cạnh. Vì là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ, tôi ở lại xem cho trọn, nhưng một lần là đủ. Có các trận đấu giữa cừu đực, voi và ngựa—trận đầu buồn cười, trận [52] thứ hai nhạt vì voi không giận dữ; trận thứ ba thì gay cấn, vì những con chiến mã tuyệt đẹp vừa đá nhau, vừa hí vang và tìm cách cắn. Một trận chọi gà kết thúc buổi diễn.

The Chief Justice spent the evening with me in pleasant talk, in the course of which he dropped the remark that the Maharajah was “so taken with me that he would give me anything I might ask for”. I took this for what it was worth, but after the Judge had gone, young Brown, to my amazement, asked me to get him the appointment of Judge. “What!” I said, “you, who came to India to devote yourself to unselfish work; whom I warned by letter to expect naught but the chance of self-sacrifice; who have just been honored with a visit and letter from a Master, a distinction that has been withheld from some of the oldest of our members—you are ready, to snap at the first temptation, and take a post for which you are not qualified?” I explained to him that if indeed the Maharajah respected me, it was because he had become convinced that I would not take for myself or any private friend any present or favor whatever. He at last saw the point and said no more; but his character-gauge had been exposed to me once for all, and his subsequent career has corroborated my impressions.

Chánh án dành buổi tối chuyện trò thú vị với tôi, và trong lúc nói chuyện, ông buột miệng rằng Đại vương “quá ưa thích tôi đến nỗi sẽ cho tôi bất cứ điều gì tôi có thể xin”. Tôi xem câu ấy theo giá trị của nó, nhưng sau khi vị Thẩm phán ra về, cậu Brown trẻ, khiến tôi hết sức ngạc nhiên, xin tôi giúp cậu được bổ làm Thẩm phán. “Cái gì cơ!” tôi nói, “cậu, người đã đến Ấn Độ để hiến mình cho công việc vô ngã; người mà tôi đã cảnh báo bằng thư rằng chỉ nên mong chờ cơ hội tự hy sinh; người vừa được vinh dự đón một cuộc viếng thăm và một lá thư từ một Chân sư, một đặc ân mà một số thành viên kỳ cựu của chúng ta còn chưa có—cậu lại sẵn sàng chộp ngay cám dỗ đầu tiên, và nhận một chức vụ mà cậu không đủ tư cách ư?” Tôi giải thích cho cậu rằng nếu quả thật Đại vương kính trọng tôi, ấy là vì Ngài đã tin chắc rằng tôi sẽ không nhận cho bản thân hay cho bất kỳ bạn thân nào món quà hay ân huệ nào. Cuối cùng cậu hiểu ra và không nói gì nữa; nhưng thước đo tính cách của cậu đã bày ra trước mắt tôi một lần là đủ, và đường đời về sau của cậu đã xác nhận ấn tượng của tôi.

I went as usual, the next day, to the Palace, and in the afternoon saw a review by General Prince Ram Singh, Commander-in-Chief of the Kashmir Government Service troops, which have since then behaved [53] so splendidly in the various British Border Expeditions. This was all very fine, but an event occurred that night which drove the recollection of everything else out of my thought: Damodar disappeared from his room, and was not to be found when I looked there for him in the early morning.

Hôm sau, như thường lệ, tôi vào Hoàng cung, và buổi chiều xem cuộc duyệt binh do Thân vương Tướng quân Ram Singh, Tổng tư lệnh quân đội Chính phủ Kashmir, chủ trì—đội quân này từ đó đã thể hiện [53] xuất sắc trong các cuộc Hành quân Biên giới của Anh. Mọi sự đều rất mỹ mãn, nhưng đêm ấy đã xảy ra một biến cố xóa sạch mọi ký ức khác khỏi ý nghĩ tôi: Damodar biến mất khỏi phòng, và khi tôi tìm cậu vào lúc rạng sáng thì không thấy đâu.

CHAPTER V—CHƯƠNG V

MYSTERIOUS DISAPPEARANCE OF DAMODAR—SỰ BIẾN MẤT BÍ ẨN CỦA DAMODAR

DAMODAR had disappeared, and left no trace behind him as a clue to show me whither he had gone or when he would return, if ever. I hastily went through the four communicating rooms, but they were empty; my other companions having gone to the river for a bath. From Damodar’s window I called to a servant, and learned from him that Damodar had left the bungalow, alone, at daybreak, but left no message. Not knowing exactly what to make of it, I returned to my room, and found lying on the table a note from a Master, bidding me not to worry about the lad as he was under his protection, but giving me no hint as to his return. It had taken but a minute or so to make the circuit of the four inter-communicating open-doored rooms, and I had heard no messenger’s footstep in the gravelly compound; a person could hardly have entered my room between my leaving and re-entering it, yet here was the mysterious letter, in the “K.H.” writing and familiar Chinese envelope, lying on my table.

DAMODAR đã biến mất, không để lại một dấu vết nào làm manh mối cho tôi biết cậu đã đi đâu hay khi nào sẽ trở lại, nếu còn trở lại. Tôi vội lục soát bốn căn phòng thông nhau, nhưng trống không; các bạn đồng hành khác của tôi đã ra sông tắm. Từ cửa sổ phòng Damodar tôi gọi một gia nhân, và biết được rằng Damodar đã rời bungalow, đi một mình, lúc rạng đông, nhưng không để lại lời nhắn. Không rõ nên nghĩ sao, tôi quay về phòng, và thấy trên bàn có một bức thư từ một Chân sư, dặn tôi đừng lo lắng về cậu bé vì cậu ở dưới sự che chở của Ngài, nhưng không cho biết chút gợi ý nào về ngày trở lại. Tôi chỉ mất một, hai phút để vòng qua bốn căn phòng thông nhau, cửa mở, mà tôi không nghe tiếng chân sứ giả nào trên nền sỏi của khuôn viên; khó có thể có ai vào phòng tôi trong khoảng tôi vừa ra rồi trở lại, vậy mà bức thư huyền bí này, với bút tích “K.H.” và phong bì Trung Hoa quen thuộc, lại đang nằm trên bàn tôi.

My first instinct was to take Damodar’s luggage—his trunk and bedding—and pack it away under my own cot. I then despatched a telegram to H.P.B.,[55] telling her of his disappearance and of my having no idea as to his return. When the bathers got back from the river, they were naturally as excited as myself over the incident, and we wasted much time in speculations and surmises as to its possible sequel.

Phản ứng đầu tiên của tôi là lấy hành lý của Damodar—rương và chăn nệm—cất dưới giường của mình. Rồi tôi đánh điện cho H.P.B.,[55] báo bà biết việc cậu biến mất và rằng tôi không có ý niệm nào về ngày cậu trở lại. Khi các anh em đi tắm ở sông về, họ tự nhiên cũng hồi hộp chẳng kém tôi về việc này, và chúng tôi đã phí khá nhiều thì giờ đoán già đoán non về hệ quả có thể có.

I went twice to the Palace that day and found myself increasingly welcome to His Highness. He showed me every courtesy, discussed the Vedanta philosophy with evidently deep interest, and gave me a pressing invitation to accompany him the next time he should go to his Kashmirian capital, Srinagar. Just as evening was closing in, and I was sitting alone, writing, in our bungalow, the others having gone for a ride on horseback, I heard a step on the gravel outside, and, looking around, saw a tall Kashmiri-costumed telegraph peon (messenger) bring me a message. On opening it, I found it to be from H. P. B., in answer to mine. She said that a Master had told her that Damodar would return, and that I must not let his luggage, especially his bedding, be touched by any third party. That was strange, was it not, that she, at Madras—i.e., some 2,000 miles away—should tell me to do the very thing it had been my first impulse to do on finding out the lad’s departure? Was it long-distance telepathy, or what? There was something stranger yet to come. To open and read the despatch had not taken me a minute; the peon had not had more than time enough to get across the verandah into the compound when, like a flash, it came to me that the form of the peon was not real but a Maya, [56] and that he belonged to the Brotherhood: I knew it, I could swear to it, because of a certain psychic disturbance caused in me by the approach of one of those personages; in fact, I could presently identify the peculiar vibration set up by the mesmeric current of my own Teacher, who was also H.P.B.’s Teacher. I ran to the door and looked across the bare compound, in which were no trees or bushes to serve as hiding-places, but nothing was in sight: the peon had disappeared as if into the ground.

Ngày hôm ấy tôi vào Hoàng cung hai lần và thấy mình càng lúc càng được Điện hạ quý mến. Ngài dành cho tôi mọi phép lịch sự, đàm đạo triết học Vedanta với mối quan tâm hiển nhiên sâu sắc, và nài tôi lần sau tháp tùng Ngài khi Ngài đi kinh đô xứ Kashmir, Srinagar. Vừa khi chiều buông, tôi ngồi một mình viết lách trong bungalow, những người khác đã cưỡi ngựa đi dạo, tôi nghe tiếng chân trên sỏi ngoài sân, ngoảnh lại thấy một phu điện tín cao lớn mặc đồ Kashmir mang điện đến. Mở ra, tôi thấy thư của H. P. B. hồi âm điện của tôi. Bà nói một Chân sư đã bảo bà rằng Damodar sẽ trở về, và tôi chớ để hành lý của cậu, nhất là chăn nệm, cho bất kỳ người thứ ba nào động vào. Lạ chưa, phải không, rằng bà, ở Madras—tức cách hơn 2.000 dặm—lại dặn tôi làm đúng điều mà phản ứng đầu tiên của tôi là làm ngay khi biết cậu bé đã đi? Ấy là viễn cảm tầm xa, hay là gì nữa? Còn điều lạ hơn nữa sắp xảy đến. Mở và đọc bức điện không tốn của tôi một phút; phu điện tín chưa kịp đi khỏi hiên vào tới sân thì, như một tia chớp, tôi chợt biết hình dáng của người phu không phải thật mà là một ảo lực (Maya), [56] và rằng ông thuộc về Huynh đệ Đoàn: tôi biết chắc, tôi có thể thề, vì một kiểu xao động thông linh nhất định do sự đến gần của một trong những vị ấy gây ra cho tôi; thật vậy, chẳng mấy chốc tôi nhận ra rung động đặc thù do dòng thôi miên của chính Vị Thầy của tôi—cũng là Vị Thầy của H.P.B.—khởi phát. Tôi chạy ra cửa và nhìn khắp khuôn viên trống trải, không có cây cối hay bụi rậm nào làm chỗ ẩn, nhưng chẳng thấy gì: người phu biến mất như thể chui xuống đất.

I have been asked, when telling this story, how the transfer of the despatch from the keeping of the real peon to the simulated one, and the return of my signed receipt to the telegraph office, could be accounted for unless the messenger had been a consenting party. The thing is very simple, provided the reality of hypnotic power be conceded. The perfected hypnotism of the Orient I mean: not the rudimentary stage of it to which the schools of Nancy and La Salpètriere have hitherto attained; the secret of Mâya, in short. The adept meets the peon; by will-power prevents his seeing him; causes him to become unconscious; leads him to any convenient place of hiding; leaves him there asleep; puts the illusive appearance of the man over his own features and person; brings me the telegram, takes my receipt, salutes, and retires; the next moment, the nervous thrill caused in me by his sympathetic magnetism reacting in himself, warns him that I am on the alert and will naturally come to the door, so he inhibits my sight to prevent my seeing him, returns to the [57] sleeping peon, puts the receipt in his hand, wills that he shall recollect, as if it had happened to himself, the brief episode of our meeting, awakens him, inhibits his sight, and send him back to the telegraph office. A very simple sequence of events, easily comprehensible for every advanced mesmerist.

Khi kể chuyện này, người ta có hỏi tôi làm sao giải thích việc chuyển giao bức điện từ tay người phu thật sang người phu giả, rồi việc biên lai có chữ ký của tôi trở về đến sở điện tín, nếu như người đưa tin không đồng lõa. Chuyện này rất đơn giản, miễn là thừa nhận thực tại của năng lực thôi miên. Tôi muốn nói đến phép thôi miên đã được hoàn thiện ở phương Đông: chứ không phải mức sơ đẳng mà các trường Nancy và La Salpètriere đến nay mới đạt; nói ngắn, ấy là bí pháp Ảo lực. Vị chân sư gặp người phu; bằng ý lực, khiến ông ta không nhìn thấy mình; làm ông ta bất tỉnh; dẫn ông ta đến một nơi ẩn náu tiện lợi; để ông ta ngủ ở đó; phủ lấy diện mạo và thân hình của chính mình một vẻ ngoài hư ảo của người phu; đem điện cho tôi, lấy biên lai của tôi, chào, và lui gót; ngay khoảnh khắc sau, luồng rộn ràng thần kinh do từ điện cảm ứng của Ngài nơi tôi phản hồi lại trong chính Ngài, báo cho Ngài biết tôi đã cảnh giác và tự nhiên sẽ ra cửa, nên Ngài ức chế thị giác của tôi để tôi không thể thấy Ngài, trở lại chỗ [57] người phu đang ngủ, đặt biên lai vào tay ông, dùng ý lực khiến ông nhớ lại, như thể chính ông trải qua, đoạn việc ngắn ngủi khi hai người gặp nhau, đánh thức ông, tiếp tục ức chế thị giác ông, và cho ông quay về sở điện tín. Một chuỗi sự kiện rất đơn giản, dễ hiểu đối với bất kỳ nhà thôi miên lão luyện nào.

It was on 25th November, at daylight, that Damodar left us: he returned in the evening of the 27th—after an absence of some sixty hours, but how changed! He left, a delicate-framed pale student-like young man, frail, timid, deferential; he returned with his olive face bronzed several shades darker, seemingly robust, tough, and wiry, bold and energetic in manner: we could scarcely realise that he was the same person. He had been at the Master’s retreat (ashram), undergoing certain training. He brought me a message from another Master, well known to me, and, to prove its genuineness, whispered in my ear a certain agreed password by which Lodge messages were authenticated to me, and which is still valid: a fact which certain transatlantic persons might profitably take note of.

Sáng ngày 25 tháng Mười Một, lúc tảng sáng, Damodar rời chúng tôi; tối ngày 27 cậu trở về—sau khoảng sáu mươi giờ vắng mặt, nhưng thay đổi biết bao! Cậu đi thì thân thể mảnh khảnh, xanh xao, dáng thư sinh, yếu ớt, rụt rè, nhã nhặn; cậu về thì gương mặt rám ô-liu sẫm hơn mấy bậc, có vẻ khỏe mạnh, dẻo dai, cứng cỏi, tác phong bạo dạn, năng nổ: chúng tôi hầu như không tin đó là cùng một người. Cậu đã ở ẩn thất của Chân sư, thọ lãnh một số huấn luyện. Cậu mang cho tôi một thông điệp từ một Vị Chân sư khác, người mà tôi biết rõ, và, để chứng minh tính xác thực, cậu thì thầm vào tai tôi một mật khẩu đã ước định dùng để xác thực các thông điệp của Thánh đoàn gửi cho tôi, và mật hiệu ấy vẫn còn hiệu lực đến nay: một sự thật mà vài người bên kia Đại Tây Dương có thể ghi nhớ cho đáng.

At the Maharajah’s request I had been giving him some mesmeric passes every day, which seemed to do him good, or, at least, he said they did. He now began to deplore my necessary departure, and begged me to select somebody at his Court to whom I should be willing to give him over for future treatment. Upon this, I looked about me more closely than I had been doing, and found that there were three distinct parties or cliques, each trying to gain a paramount influence [58] over the sovereign, and each as selfish and, it almost seemed to me, unscrupulous as the other. For the first time in my life, I got a clear view of the rotten moral atmosphere of an Indian Prince’s Court. So I told His Highness—for it was my blunt candor that, I fancy, had given him the good opinion of me that the Chief Justice had described in Brown’s hearing—I told him frankly that the only person whom I would recommend as his psychopath was his youngest son, Prince Amar Singh, who was then a handsome, honest-looking youth. His Highness approving my choice, I showed the young Prince how to treat his father, and gave him the famous silver tube with which I had worked so many cures of eye and ear affections during the course of that memorable year. But, as I afterwards learnt, no good came of it, for the son stood in such awe of the parent, that he was quite unable to feel, much less show, that firm, commanding appearance: of face, gesture, and voice which is indispensable for the psychopath to have when treating a patient. Yet I would not have risked my royal patient’s coming under the influence of either one of those scheming courtiers, who would certainly have used the intimacy for their selfish purposes. The Maharajah died a few years later, and was succeeded by his eldest son, who was away at Srinagar at the time of my visit to Jammu, and whom, therefore, I did not meet. The latter was for some time suspended by the Government of India, a Council of Regency was formed, and young Prince Amar Singh was appointed its President. [60] Major-General Ram Singh, the second son, has brought the Kashmir army to such a state of proficiency, that it rendered the most valuable services to the British Commander-in-Chief, as before stated, in recent border campaigns.

Theo thỉnh cầu của Đại vương, mỗi ngày tôi có làm cho Ngài vài động tác thôi miên, dường như có ích cho Ngài, hoặc ít nhất chính Ngài nói vậy. Nay Ngài bắt đầu than tiếc chuyện tôi sắp phải đi, và nài tôi chọn một người trong triều để tôi có thể giao Ngài cho người ấy điều trị về sau. Vì thế, tôi nhìn quanh kỹ hơn trước, và thấy có ba phe nhóm rõ rệt, phe nào cũng tìm cách giành ảnh hưởng [58] trội hơn với quân vương, và phe nào xem ra cũng ích kỷ và, tôi hầu như nghĩ, bất chấp thủ đoạn như nhau. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ bầu không khí đạo đức băng hoại ở một triều đình vương công Ấn Độ. Thế là tôi nói thẳng với Điện hạ—bởi lẽ chính sự bộc trực của tôi, tôi nghĩ vậy, đã khiến Ngài quý trọng tôi như lời Chánh án thuật lại mà Brown nghe được—tôi nói thẳng rằng người duy nhất tôi có thể tiến cử làm nhà trị liệu thôi miên cho Ngài là con trai út của Ngài, Thân vương Amar Singh, khi ấy là một chàng trai khôi ngô, có vẻ trung thực. Điện hạ ưng thuận lựa chọn của tôi, tôi bèn chỉ cho vị Thân vương trẻ cách điều trị cho phụ vương, và trao cho cậu ống bạc nổi tiếng mà suốt năm đáng nhớ ấy tôi đã dùng để chữa nhiều bệnh về mắt và tai. Nhưng, như sau này tôi được biết, chuyện chẳng đi đến đâu, vì người con quá kính sợ phụ vương, đến mức hoàn toàn không thể cảm được, huống chi biểu lộ, vẻ mặt, cử chỉ và giọng nói chắc chắn, uy nghi—điều tối thiết yếu cho nhà trị liệu thôi miên khi điều trị bệnh nhân. Dẫu vậy, tôi cũng không liều để bệnh nhân vương giả của tôi rơi vào ảnh hưởng của bất cứ kẻ mưu mẹo nào trong đám cận thần kia, những kẻ chắc chắn sẽ dùng mối thân cận ấy vì mục đích ích kỷ của họ. Vài năm sau Đại vương băng hà và được Thái tử trưởng nối ngôi; vị này khi tôi thăm Jammu thì đang ở Srinagar, nên tôi không gặp. Người kế vị về sau bị Chính phủ Ấn Độ đình chỉ một thời gian, Hội đồng Nhiếp chính được lập, và Thân vương trẻ Amar Singh được bổ làm Chủ tịch. [60] Thiếu tướng Ram Singh, hoàng tử thứ hai, đã đưa quân đội Kashmir đến trình độ thiện chiến đến nỗi, như đã nói, họ đã giúp sức vô cùng quý giá cho Tổng Tư lệnh quân đội Anh trong các chiến dịch biên giới gần đây.

The day fixed for my departure having come, the Maharajah, finding me obdurate about prolonging my visit, consented to receive me in audience of leave. So I went to the Palace for the last time, I and my suite riding on elephants, and causing every person, whether mounted or afoot, whom we met in the cramped lanes of Jammu, to scuttle out of our way into the nearest shops, courts, or blind alleys. We found His Highness, with his Prime Minister (Dewan), his Treasurer, and other officials, seated cross-legged on the floor, with a number of piles of woollen stuffs placed before him in a row: one pile much bigger than the rest. Through the able interpreter, Pandit Gopinath, he and I fell into conversation about my departure and hoped-for return, after which, on a signal from the Maharajah, a high official pushed the big pile over towards me, with the request that I should accept the articles as His Highness’ khillât (complimentary present). At the same time the Treasurer laid before me two heavy bags of coin. To each member of my suite was given one of the smaller piles of woolens. According to custom, I touched the presents, made a respectful salutation, by joining my palms and holding them edgewise to my forehead, which the Maharajah returned; we then rose and, saluting the officials in [60] turn, left the audience-chamber, having seen the noble face of our host for the last time. No other reigning Indian Prince whom I have met has left so pleasant impressions on my memory. I speak only as to my personal intercourse with him; what sort of view the Government of India may have taken of him as their political ally, I cannot say; but so far as his treatment of me is concerned, no one could have shown himself a more perfect gentleman, a more generous, self-respecting Prince, or a more thoughtful host. I must not fail, moreover, to express the obligations under which Pandit Gopinath, F. T. S., of Lahore, laid the Society and myself, personally, by his unpaid and invaluable services during this visit and my whole tour in the Punjab of 1883.

Đến ngày ấn định cho cuộc khởi hành của tôi, Đại vương, thấy tôi khăng khăng không chịu lưu lại, bèn đồng ý ban cho tôi một cuộc yết kiến từ biệt. Thế là tôi vào Hoàng cung lần cuối, tôi và đoàn tùy tùng cưỡi voi, khiến mọi người dù cưỡi ngựa hay đi bộ gặp chúng tôi trên những lối nhỏ chật hẹp của Jammu đều phải vội vã lánh vào các cửa hiệu, sân trong, hay ngõ cụt gần nhất. Chúng tôi thấy Điện hạ, bên cạnh là Tể tướng (Dewan), Thượng thư Ngân khố, và các quan khác, ngồi xếp bằng trên sàn, trước mặt là một hàng đống hàng len đặt thành dãy: một đống lớn hơn hẳn các đống khác. Qua lời thông ngôn tài tình của Pandit Gopinath, Ngài và tôi trò chuyện về việc tôi ra đi và hy vọng gặp lại, sau đó, theo hiệu lệnh của Đại vương, một vị đại thần đẩy đống lớn về phía tôi, xin tôi nhận các phẩm vật ấy như khillât (tặng phẩm vinh dự) của Điện hạ. Đồng thời Thượng thư Ngân khố đặt trước mặt tôi hai túi tiền nặng. Mỗi người trong đoàn tùy tùng của tôi được tặng một đống hàng len nhỏ hơn. Theo lệ, tôi chạm tay vào tặng phẩm, kính cẩn chắp tay đưa thẳng cạnh bàn tay lên trán để chào, và Đại vương đáp lễ; rồi chúng tôi đứng dậy, [60] lần lượt chào các quan, và rời phòng yết kiến, kỳ này là lần cuối cùng được diện kiến dung nhan cao quý của vị chủ nhà. Trong số các vương công Ấn Độ đương quyền mà tôi từng gặp, không ai để lại trong tôi ấn tượng dễ chịu đến thế. Tôi chỉ nói về mối giao tiếp cá nhân giữa tôi với Ngài; còn Chính phủ Ấn Độ nhìn Ngài như một đồng minh chính trị ra sao, tôi không biết; nhưng xét về cách Ngài đối đãi với tôi, khó ai xứng đáng là một bậc quân tử hoàn hảo hơn, một vị vương hào hiệp, tự trọng hơn, hay một chủ nhà tế nhị hơn. Tôi cũng không thể không nhắc đến món nợ ân tình với Pandit Gopinath, F. T. S., ở Lahore—người đã giúp không công nhưng vô giá trong chuyến thăm này và suốt hành trình của tôi ở Punjab năm 1883—đối với Thông Thiên Học Hội và riêng cá nhân tôi.

When my khillât was examined at the bungalow, it was found to comprise a silk-lined, richly embroidered choga (outside coat); a splendid Kashmir shawl, “worked to the centre”; fine, soft woollen tissue for a turban; a green neck or waist scarf, with embroidered ends; and three pieces of pashmina, or soft cloth made of goat’s hair, for a suit of clothes in the Punjabi fashion. The huge bags of coin contained, each, a thousand rupees; thus making the whole gift in money to me (or, rather, to the Society, since I receipted for it officially) Rs. 2,500. The Treasurer’s Report to that year’s T.S. Convention shows that, of this sum, I gave Rs. 1,500 towards the purchase of the Adyar property, and the remaining Rs. 1,000 to the Current Expense Account. The choga and shawl I gave to H.P.B., the [61] turban and three other pieces of fine cloth to other friends, and the little green scarf I kept for myself to protect my throat when on tour. But the moths ate it up before long, and so I kept nothing of the Jammu presents save the memory of the kindness of their donor. The presents of cloths to my suite were similar to my own, but fewer in number and of rather inferior quality. At 1 p.m. we left on our elephants for the other side of the river, and after a delay of four hours at Sialkot, reached Wazirabad and passed the night there. In the morning Damodar left us for Madras, and we went on to Kapurthala via Lahore and Kirtarpur.

Khi mở khillât của tôi tại bungalow, thấy gồm một áo choga (áo khoác ngoài) lót lụa, thêu rất tinh; một chiếc khăn choàng Kashmir tuyệt hảo, “thêu kín đến giữa”; tấm vải len mềm, mịn để quấn khăn xếp; một khăn cổ hoặc thắt lưng màu xanh lá cây, hai đầu thêu; và ba tấm pashmina, tức vải mềm dệt bằng lông dê, để may một bộ quần áo kiểu Punjabi. Hai túi tiền lớn mỗi túi chứa một nghìn rupee; như vậy tổng số tiền tặng tôi (đúng hơn là tặng Hội, vì tôi ký biên nhận chính thức) là 2.500 Rs. Báo cáo của Thủ quỹ tại Đại hội đồng T.S. năm ấy cho thấy, trong khoản này, tôi đã góp 1.500 Rs. vào việc mua khu đất ở Adyar, và 1.000 Rs. còn lại vào Quỹ Chi tiêu Thường xuyên. Áo choga và khăn choàng tôi tặng H.P.B., [61] khăn xếp và ba tấm vải mịn kia tôi tặng các bạn khác, còn chiếc khăn xanh nhỏ thì tôi giữ lại để che cổ khi đi công tác. Nhưng chẳng bao lâu bướm vải đã ăn nát nó, thành thử tôi chẳng giữ được gì từ những tặng phẩm ở Jammu ngoài ký ức về lòng tử tế của vị ân nhân. Quà tặng cho đoàn tùy tùng của tôi cũng tương tự, nhưng ít món hơn và kém phẩm hơn. Lúc 1 giờ trưa, chúng tôi cưỡi voi qua bờ sông bên kia, và sau bốn giờ chờ ở Sialkot, tới Wazirabad và nghỉ đêm ở đó. Sáng hôm sau Damodar tách đoàn về Madras, còn chúng tôi đi Kapurthala qua Lahore và Kirtarpur.

Our reception at Kapurthala by the aged ex-Dewan Ramdas; the reigning one, his son, Mathura Das; Mr. Harichand, Political Assistant; and other important officials, was most cordial and gratifying. The now so well-known Maharaja was then a child, and the State was administered for him by specially-chosen officials—whether British or not, I do not remember. I found the mental atmosphere much better than that at Jammu, where the sovereign seemed to me the only one who really cared much for philosophical discussions. Moreover, there was not the same heavy atmosphere of selfish intrigue; one could breathe freer. I have noted the fact in my Diary, so it must have been very palpable. While at this station I was the guest of Dewan Mathura Das, and on the third day lectured on “The Nature of Religion “, Pandit Gopinath acting as interpreter in his usual [62] fluent fashion. The fourth and fifth days were devoted to the admission of candidates for membership, among them all the chief officials, and to the organisation of the Kapurthala T.S. My visit finished, I left for Jaipur, and reached that unique city the next evening. We were accommodated at the traveller’s bungalow—the best in India, so far as my observations go.

Tại Kapurthala, chúng tôi được tiếp đón rất nồng hậu và đáng mừng bởi vị cựu Dewan Ramdas đã già; Dewan đương nhiệm là con trai ông, Mathura Das; Ông Harichand, Trợ tá Chính trị; và các quan chức quan trọng khác. Vị Maharaja nay đã rất nổi danh khi ấy còn là một đứa trẻ, và Nhà nước do các viên chức tuyển chọn đặc biệt quản trị thay—tôi không nhớ rõ họ có phải người Anh hay không. Tôi thấy bầu không khí tư tưởng nơi đây tốt hơn ở Jammu, nơi quân vương dường như là người duy nhất thật sự quan tâm đến luận đàm triết học. Vả lại, không khí nặng nề của những mưu mô ích kỷ cũng không có ở đây; người ta có thể thở dễ dàng hơn. Tôi đã ghi điều ấy trong Nhật ký, hẳn vì ấn tượng ấy rất rõ. Ở trạm này, tôi là khách của Dewan Mathura Das, và ngày thứ ba tôi diễn thuyết về “Bản Tính của Tôn giáo”, Pandit Gopinath thông dịch như [62] thường lệ, rất lưu loát. Ngày thứ tư và thứ năm dành cho việc thu nhận hội viên mới—trong đó có tất cả các quan chức đầu ngành—và tổ chức chi bộ T.S. tại Kapurthala. Kết thúc chuyến thăm, tôi đi Jaipur, và tối hôm sau đến được thành phố độc đáo ấy. Chúng tôi được bố trí ở bungalow dành cho lữ khách—tốt nhất ở Ấn Độ, theo quan sát của tôi.

Our local colleagues took me the next morning to call on Atmaram Swami, a well-known and respected ascetic, who had been telling them long before my arrival that he was personally acquainted with our Masters, and that, eight years before, in Tibet, one of them, known as Jivan Singh, Chohan, had told him that he need not be discouraged about the religious state of India, for they had arranged that two Europeans, a man and a woman, should soon come and revive the Eastern religions. This date corresponds with that of the formation of our Society at New York, and the intelligence was most important to me. I found the Yogi a man of dignified presence, with a calm, thoughtful countenance, quite a different sort of person from the ordinary ascetic now so common in and profitless to India. His greeting to me was charmingly affable, and he expressed the greatest desire that our members should be encouraged to practise Yoga. I told him that I dared not do that wholesale, for, unless the candidates had the right temperament and above all, the watchful surveillance of competent teachers, they ran the risk of being seriously harmed by psychical experiments. He agreed with me in this respect, but said [63] that everything had been foreseen and the right thing would be brought about in good time. This has, in fact, proved true, and the marvellous things that have happened with Mrs. Besant, Mr. Leadbeater, and others who were not even members of the Society, fully corroborate the prognostics made to me in 1883, at Jaipur, by Atmaram Swami.

Sáng hôm sau, các đồng sự địa phương đưa tôi đi thăm Atmaram Swami, một vị khổ hạnh nổi tiếng và đáng kính, người đã bảo họ từ lâu trước khi tôi đến rằng ông quen biết các Chân sư của chúng ta, và rằng tám năm trước, ở Tây Tạng, một vị trong số Các Ngài, được biết với danh xưng Jivan Singh, Chohan, đã bảo ông đừng nản lòng về tình trạng tôn giáo của Ấn Độ, vì Các Ngài đã sắp đặt cho một nam và một nữ người Âu sớm đến để phục hưng các tôn giáo phương Đông. Mốc thời gian này trùng với ngày thành lập Hội của chúng ta ở New York, và tin ấy đối với tôi là vô cùng quan trọng. Tôi thấy vị Yogi là người phong thái đĩnh đạc, diện mạo điềm tĩnh, trầm tư, rất khác với kiểu khổ hạnh tầm thường nay đầy rẫy và vô bổ cho Ấn Độ. Ông tiếp tôi một cách cực kỳ thân tình, và bày tỏ ước nguyện lớn lao rằng các hội viên của chúng ta nên được khuyến khích thực hành Yoga. Tôi nói rằng tôi không dám làm như thế một cách ồ ạt, vì nếu người dự học không có đúng khí chất, và nhất là không có sự giám sát cẩn trọng của các vị thầy đủ năng lực, thì họ có nguy cơ bị hại nặng nề bởi các thí nghiệm thông linh. Ông đồng ý với tôi ở điểm này, nhưng nói [63] rằng mọi sự đã được lường trước và điều thích đáng sẽ được đưa đến đúng thời. Quả thật điều ấy đã ứng nghiệm, và các sự việc kỳ diệu xảy đến với Bà Besant, Ông Leadbeater, và những người khác, vốn thậm chí chưa phải là hội viên của Hội, đã hoàn toàn xác chứng những điều được báo trước cho tôi năm 1883, tại Jaipur, bởi Atmaram Swami.

The same day I had to perform the unpleasant duty of degrading from office and expelling from the Society the Vice-President of our local Branch, for trying to use his position to get personal favors from an influential Anglo-Indian official and from Mr. Sinnett, both members. This degradation of our Society is an offence so heinous, that I should certainly expel anyone found guilty of it. So long as I live, at least, the honor of the Society shall be protected against such ignoble self-seekers. This business disposed of, I lectured alfresco in the great courtyard of the Maharaja’s College to a large assemblage, and at 6 p.m. we left for Baroda, on our homeward journey. After a dusty ride of thirty hours in the train, we reached the Gaikwar’s capital, and were met at the station by Judge Gadgil and other valued friends, who took us to our destined quarters, and kept me chatting until 3 a.m.! The next day, our former evil-wisher having been succeeded by another British Resident, I paid him my respects, and in the evening lectured on the “Proofs of a Future Life”; a meeting of the local Branch, with fresh admissions of candidates for membership, closed the proceedings of the day.

Cùng ngày đó, tôi buộc phải làm việc khó chịu là giáng chức và khai trừ khỏi Hội vị Phó Chủ tịch chi bộ địa phương, vì đã tìm cách lợi dụng chức vụ để xin ân huệ riêng từ một viên chức Anh-Ấn có ảnh hưởng và từ Ông Sinnett—cả hai đều là hội viên. Sự làm hoen ố Hội như vậy là tội nặng nề đến mức tôi chắc chắn sẽ khai trừ bất cứ ai bị phát hiện có tội. Ít nhất là chừng nào tôi còn sống, danh dự của Hội sẽ được bảo toàn trước những kẻ hèn hạ mưu cầu tư lợi. Việc này giải quyết xong, tôi diễn thuyết ngoài trời trong sân lớn của Trường Cao đẳng của Maharaja trước một cử tọa đông đảo, và lúc 6 giờ chiều chúng tôi lên đường về Baroda, trên chặng đường về nhà. Sau một hành trình bụi bặm ba mươi giờ trên tàu, chúng tôi tới kinh đô của Gaikwar, và được Thẩm phán Gadgil cùng các bạn quý trọng khác đón tại ga, đưa về nơi cư trú, và giữ tôi trò chuyện đến tận 3 giờ sáng! Ngày hôm sau, viên Khâm sứ Anh vốn trước kia không có thiện cảm đã được thay bằng một vị khác, tôi đến trình diện, và buổi tối tôi diễn thuyết về “Chứng cớ của Đời Sống Hậu Lai”; một phiên họp của chi bộ địa phương, với những hội viên mới được thu nhận, đã khép lại các hoạt động trong ngày.

[64]

[64]

By the Gaikwar’s special invitation I visited him at his magnificent Palace the next day, and had a long talk about several of our philanthropic schemes—among others, the promotion of Sanskrit education and literature, in which he took and still takes much interest. His Palace, as hundreds of visitors can testify, is one of the finest in all India, and will long be a grand monument of his largeness of views as to the dignity of the sovereign of a great Indian State.

Theo lời mời đặc biệt của Gaikwar, hôm sau tôi vào thăm Ngài ở Hoàng cung nguy nga và có một cuộc đàm đạo dài về nhiều đề án từ thiện của chúng tôi—trong đó có việc phát triển giáo dục và văn học Sanskrit, điều mà Ngài đã và vẫn còn rất quan tâm. Hoàng cung của Ngài, như hàng trăm du khách có thể xác nhận, là một trong những cung điện đẹp nhất ở Ấn Độ, và sẽ còn là đài kỷ niệm hùng vĩ cho tầm nhìn rộng lớn của Ngài về phẩm cách của một vị quân vương ở một tiểu bang lớn của Ấn Độ.

From Baroda we went the long journey to Gooty, in the Madras Presidency, halting a few hours between two trains at Bombay. From Gooty we pushed on in bullock-carts to Kurnool, a distance of sixty miles. A warm welcome made us forget the fatigues of the journey; I received and replied to Sanskrit and English addresses; organised a local Branch; the next morning at 8 o’clock lectured, and at 4 p.m. started back to Gooty, which we reached after riding all night. I completed the formation of our ever active and honorably distinguished Gooty T. S., and at 5.30 p.m. took train again for Madras, where we arrived on the morning of December 15th, thus completing the 7,000-mile tour on time and without accident. What impression the return made on my mind may be guessed from the following line in my Diary: “Home never seemed so delightful, nor myoid Chum so dear. “These home-comings are an ever recurrent delight, and no place in either of the distant lands I visit seems half so sweet and restful as Adyar.

Từ Baroda chúng tôi thực hiện chặng đường dài đến Gooty, thuộc Presidensi Madras, dừng vài giờ giữa hai chuyến tàu ở Bombay. Từ Gooty chúng tôi đi tiếp bằng xe bò đến Kurnool, quãng đường sáu mươi dặm. Sự đón tiếp nồng hậu khiến chúng tôi quên mệt nhọc của chuyến đi; tôi nhận và hồi đáp các diễn văn bằng Sanskrit và tiếng Anh; tổ chức một chi bộ địa phương; sáng hôm sau lúc 8 giờ tôi diễn thuyết, và lúc 4 giờ chiều trở lại Gooty, nơi chúng tôi tới nơi sau một đêm đi xe. Tôi hoàn tất việc thành lập chi bộ Gooty T.S. vốn từ đó luôn năng động và trứ danh vì danh dự, và lúc 5 giờ 30 chiều lại lên tàu về Madras, nơi chúng tôi tới vào sáng ngày 15 tháng Mười Hai, như vậy là kết thúc cuộc hành trình 7.000 dặm đúng hạn và bình an vô sự. Ấn tượng khi trở về nhà có thể đoán được qua dòng này trong Nhật ký của tôi: “Chưa bao giờ nhà lại có vẻ đáng mến đến thế, cũng chưa bao giờ Người bạn già của tôi lại thân thương đến thế.” Những lần trở về nhà luôn là niềm vui lặp lại, và chẳng nơi nào ở hai miền đất xa tôi đến có thể ngọt ngào và êm ả bằng Adyar.

[65]

[65]

The approaching Annual Convention now demanded all my attention, and from that onward to the 27th my every hour was taken up with the reception and accommodation of Delegates, the erection of temporary buildings, the preparation of the annual financial and other reports, and the arrangement of the agenda. Dr. Franz Hartmann, a recent acquisition to our membership, turned up on 17th December as Special Delegate from the old New York nucleus and the Rochester and St. Louis Branches. Since he has conveniently forgotten the fact, on seceding with the disloyal American party, I may say that neither Mr. Judge, who wrote his credentials, nor he who presented them and as Delegate addressed the Convention, nor H. P. B. nor I, had any other idea than that the official, vital, and only centre of the T. S. was at Adyar, and that what was left at New York was a few crumbs of the loaf. However, this has been all explained and backed with historical proofs, [1] so it is useless to dwell upon the subject any longer.

Đại hội đồng Thường niên sắp đến liền đòi hỏi trọn vẹn sự chú tâm của tôi, và từ đó đến ngày 27, từng giờ của tôi đều bận bịu lo đón tiếp và sắp xếp chỗ ở cho các Đại biểu, dựng các công trình tạm, chuẩn bị các báo cáo tài chính và báo cáo khác thường niên, và sắp xếp chương trình nghị sự. Bác sĩ Franz Hartmann, một hội viên mới gia nhập Hội, đã ghé Adyar ngày 17 tháng Mười Hai với tư cách Đại biểu Đặc mệnh từ hạt nhân cũ ở New York và các chi bộ Rochester và St. Louis. Vì sau này ông đã tiện quên chuyện ấy khi tách ra theo phe Mỹ bất trung, tôi xin nói rằng cả Ông Judge, người viết giấy ủy nhiệm cho ông, lẫn ông—người trình giấy ấy và với tư cách Đại biểu đã diễn thuyết trước Đại hội—cũng như H. P. B. và tôi, đều không có ý niệm nào khác ngoài việc cho rằng trung tâm chính thức, sinh mệnh và duy nhất của T.S. là ở Adyar, và rằng những gì còn lại ở New York chỉ như vài mẩu vụn của ổ bánh. Tuy nhiên, điều này đã được giải thích hết và có bằng chứng lịch sử hỗ trợ, nên chẳng ích gì mà nêu lại nữa.

There is an entry in my Diary that rather instructively marks the different uses that a little money can be put to for the making of Karma. On 18th December the Indian public of Madras gave a farewell banquet and reception to a high European official on his retirement on pension, on which they spent Rs. 15,000; a few days later we collected a lesser sum to pay for the Adyar Headquarters property. The first event [66] went off with a splutter and glare like a fire-work; the money wasted, the subscribers forgotten by the beneficiary of the show: the other gave a permanent home to our Society, a noble housing, a refuge for its Founders in old age, probably a nucleus for the world-benefiting T. S. Oriental Institute that Mrs. Besant, the Countess Wachtmeister, and I have planned out. In fact, when one looks back through the whole career of the Society, one may well be amazed that such a comparatively trifling sum in the aggregate has been spent in pushing its work to the five quarters of the world.

Có một ghi chú trong Nhật ký của tôi khá đắt giá, cho thấy một ít tiền có thể được dùng theo những cách khác nhau để tạo nghiệp. Ngày 18 tháng Mười Hai, công chúng Ấn Độ ở Madras đã mở tiệc chia tay và buổi tiếp tân cho một viên chức Âu cao cấp về hưu, chi ra 15.000 Rs.; vài ngày sau chúng tôi góp được một khoản ít hơn để trả tiền mua bất động sản Trụ sở Adyar. Sự kiện thứ nhất [66] bùng lên như pháo bông, sáng lòa rồi tắt; tiền phung phí, người đóng góp bị kẻ hưởng lợi quên lãng: sự kiện kia mang đến cho Hội một mái nhà vĩnh viễn, một ngôi nhà xứng đáng, một chỗ nương tựa cho các Nhà Sáng lập khi về già, có lẽ là điểm hạt nhân cho Viện Đông phương T.S. sẽ mang lợi ích cho thế giới mà Bà Besant, Nữ Bá tước Wachtmeister và tôi đã dự phác. Thật vậy, nhìn lại toàn bộ hành trình của Hội, người ta có thể kinh ngạc rằng tổng chi tiêu để đưa công việc của Hội đến “năm phương trời” lại tương đối nhỏ bé đến thế.

When the Convention opened, the house and outbuildings were crammed with Delegates, and a real enthusiasm marked the whole series of meetings: our position in India seemed impregnable, not a cloud floated in our sky. Daily phenomena occurred in the “shrine”; six and even seven persons got notes, in English and Indian vernaculars simultaneously, answering questions put by them just before. On the morning of the 28th out on the lawn, before the opening of Convention, I told H. P. B. how sorry I was that the other Madras members had allowed Judge P. Sreenivas Row to spend so large a sum as Rs. 500 out of his own pocket towards the cost of the Convention, as I was sure he could not afford to be so generous. She reflected a moment, and then called Damodar to her from a group with whom he was talking a little way off. “Go,” she said, “to the shrine and bring me a packet you will find there.” He went, and within less than five minutes came hurrying back with a closed letter in his [67] hand, addressed on the cover to “P. Sreenivas Row”. The Judge, being called to us, was given the packet and bidden to open it. He did so, and the expression of amazement on his face was indescribable when he drew forth a very kind and affectionate letter to himself from Master K. H., thanking him for his zealous services, and giving him the notes enclosed as a help towards the Convention’s expenses The enclosure was in Government Promissory Notes to the aggregate value of Rs. 500, and on the back of each were written the initials “K. H.” in blue pencil. I have given the facts exactly as they occurred, and one of the notes—for Rs. 10—I have kept as a souvenir, by the Judge’s kind permission. The points to bear in mind are that I myself had heard, but a moment before repeating it to H. P. B., about the Judge’s unstinted generosity; that Damodar had gone to the shrine and returned with the money within the next five minutes; that each note bore the familiar “K. H.” initials; that neither H. P. B. nor Damodar had then between them one hundred, let alone five hundred rupees, and that the gift was at once reported to all the Delegates clustered over the lawn. That it was not “fairy gold” is evident from the fact of my having one of the very notes now at Adyar, after the lapse of nearly fourteen years.

Khi Đại hội đồng khai mạc, nhà và các dãy nhà phụ chật kín Đại biểu, và một niềm phấn hứng thực sự thấm đượm toàn bộ chuỗi phiên họp: vị thế của chúng ta ở Ấn Độ xem ra vững như bàn thạch, bầu trời ta không gợn đám mây. Mỗi ngày đều có hiện tượng xảy ra trong “điện thờ”; sáu, thậm chí bảy người nhận được thư, bằng tiếng Anh và các tiếng bản xứ Ấn Độ cùng lúc, trả lời những câu hỏi họ vừa đặt. Sáng ngày 28, ngoài bãi cỏ, trước giờ khai mạc, tôi nói với H. P. B. rằng tôi rất tiếc vì các hội viên Madras khác đã để Thẩm phán P. Sreenivas Row phải tự bỏ ra một khoản lớn đến 500 Rs. cho chi phí Đại hội, vì tôi chắc ông không kham nổi sự hào phóng ấy. Bà suy nghĩ giây lát, rồi gọi Damodar rời nhóm bạn đang trò chuyện cách đó không xa. “Đi,” bà nói, “vào điện thờ và mang cho ta một gói mà con sẽ thấy ở đó.” Cậu đi và chỉ chưa đầy năm phút sau đã vội vã trở lại với một bức thư còn niêm [67] trong tay, bên ngoài đề “P. Sreenivas Row”. Mời Thẩm phán đến, chúng tôi trao gói và bảo ông mở ra. Ông làm theo, và vẻ kinh ngạc hiện trên mặt ông không thể tả khi ông rút ra một bức thư rất thân ái gửi riêng cho ông từ Chân sư K. H., cảm tạ ông vì những công lao nhiệt thành và gửi kèm những tờ bạc để phụ giúp chi phí Đại hội. Phần gửi kèm là các Tín phiếu Chính phủ tổng trị giá 500 Rs., và mặt sau mỗi tờ đều có viết chữ đầu “K. H.” bằng bút chì xanh. Tôi đã thuật lại chính xác sự kiện như nó diễn ra, và một trong các tờ—giá trị 10 Rs.—tôi đã giữ làm kỷ niệm, nhờ sự cho phép tử tế của Thẩm phán. Những điểm cần ghi nhớ là: chính tôi chỉ mới nghe, ngay trước khi nói với H. P. B., về lòng hào phóng vô bờ của Thẩm phán; rằng Damodar đã vào điện thờ và trở ra với tiền trong vòng năm phút tiếp theo; rằng mỗi tờ bạc đều có ký hiệu “K. H.” quen thuộc; rằng khi ấy cả H. P. B. lẫn Damodar cộng lại cũng không có nổi một trăm, huống chi năm trăm rupee; và rằng món quà lập tức được báo cho toàn thể các Đại biểu tụ họp ngoài bãi cỏ biết. Nó không phải “vàng của tiên” là điều hiển nhiên từ sự việc tôi hiện còn giữ một trong các tờ bạc đó ở Adyar, sau gần mười bốn năm.

It was at that year’s Convention that the subscription was collected to create the Subba Row Medal Fund, for the fitting recognition by the Society of important contributions to Theosophical literature. The recipients thus far have been Judge Sreenivas [68] Row, H. P. B., Mrs. Besant, G. R. S. Mead, and A. P. Sinnett. The capital is so small that I cannot award the medal out of the interest paid by Government on the deposit every year. I should be glad to have another £100 to add to it. An interesting, though not very important, feature of the meeting was my giving the Five Precepts of the Buddhist religion to Dr. Franz Hartmann, in the presence of H.P. B., four Buddhist Delegates from Ceylon, Damodar, “Bawaji,” Tookaram Tatya, and Balai Chand Mullik, of Calcutta. By Dr. Hartmann’s request I procured by telegraph the High Priest Sumangala’s authority to act for him in the matter.

Chính tại Đại hội năm ấy, chúng tôi quyên góp để lập Quỹ Huân chương Subba Row, nhằm ghi nhận xứng đáng của Hội đối với những đóng góp quan trọng cho văn học Thông Thiên Học. Những người được nhận cho đến nay là Thẩm phán Sreenivas [68] Row, H. P. B., Bà Besant, G. R. S. Mead, và A. P. Sinnett. Vốn liếng quá nhỏ đến nỗi tôi không thể hằng năm trao huân chương chỉ dựa vào tiền lãi Chính phủ trả cho khoản ký thác. Tôi sẽ rất mừng nếu có thêm 100 bảng Anh bổ sung. Một điểm thú vị, dù không mấy trọng yếu, của kỳ họp là tôi truyền Năm Giới của Phật giáo cho Bác sĩ Franz Hartmann, trước sự hiện diện của H.P. B., bốn Đại biểu Phật giáo từ Tích Lan, Damodar, “Bawaji”, Tookaram Tatya và Balai Chand Mullik của Calcutta. Theo yêu cầu của Bác sĩ Hartmann, tôi đã điện xin thẩm quyền của vị Tăng Thống Sumangala cho tôi thay mặt Ngài thực hiện việc này.

By the last day of December the greater part of the Delegates had left for their homes, and only our house-party remained. Thus closed one of the busiest, most encouraging and successful years in our Society’s history. To get through my share of the work, I had travelled 16,500 miles in India and Ceylon. The future sparkled with bright promise; but the lower gods were envious, and were already forging the thunderbolt that Mara meant to hurl at us within the next few months; to how little profit, my narrative will show in the process of its unfolding.

Đến ngày cuối tháng Mười Hai, phần lớn các Đại biểu đã về nhà, chỉ còn lại các vị khách trú trong nhà. Như thế khép lại một trong những năm bận rộn, phấn khởi và thành công nhất trong lịch sử Hội của chúng ta. Để làm tròn phần việc của mình, tôi đã đi 16.500 dặm trong Ấn Độ và Tích Lan. Tương lai lấp lánh lời hứa; nhưng các thần linh bậc thấp thì ghen tị, và đã rèn sẵn tia sét mà Mara định ném vào chúng ta trong vài tháng tới; còn được gì từ chuyện đó, trình thuật của tôi sẽ cho thấy trong tiến trình kể lại.