CHAPTER VI—CHƯƠNG VI
“COMING EVENTS CAST THEIR SHADOWS BEFORE”—“CÁC BIẾN CỐ SẮP ĐẾN THƯỜNG ĐỔ BÓNG TRƯỚC”
THE eventful year 1884 now opens out before us the tenth since H. P. B. and I first met at that Vermont farm-house. What a succession of stirring events and picturesque experiences had followed each other throughout those ten years; how immeasurably had our field widened, how great the effect upon ourselves and upon others! The epoch opened upon us amid the weird nightly séances of farmer-mediums, with “materialised,” or rather objectified, phantoms of the astral world stalking before us in the gloom, sometimes nodding in dumb show, sometimes whispering, and anon even shouting their common-place messages to the living; its close finds us settled in a noble Indian bungalow amid enthusiastic Asiatic friends, every corner of India familiar to me, our Society’s name known throughout the world, and its chartered Branches established in various countries: truly, a chapter of romance.
Năm 1884 đầy biến động nay mở ra trước mắt chúng ta—năm thứ mười kể từ ngày H. P. B. và tôi gặp nhau lần đầu ở căn nhà nông trại Vermont ấy. Một chuỗi dài những biến cố sôi động và trải nghiệm nên thơ đã liên tiếp nối nhau suốt mười năm; trường hoạt động của chúng ta mở rộng đến khôn lường, ảnh hưởng đối với chúng tôi và tha nhân lớn lao dường nào! Kỷ nguyên ấy mở ra với những buổi gọi hồn kỳ quái ban đêm của các nông phu-đồng tử, với những bóng ma “hiện hình”, đúng hơn là vật hiện hóa, của thế giới cảm dục lảng vảng trước mắt chúng tôi trong bóng tối, đôi khi gật đầu ra hiệu, đôi khi thì thầm, và lắm khi thậm chí la to những thông điệp tầm thường gửi người sống; và kết thúc với việc chúng tôi an cư trong một bungalow Ấn Độ nguy nga giữa vòng tay nồng hậu của bạn bè Á châu, từng góc Ấn Độ đã quen thuộc với tôi, danh xưng của Hội vang khắp thế giới, và các chi bộ được cấp hiến chương lập ở nhiều quốc gia: quả là một chương đời lãng mạn.
The last of the visiting Delegates to the 8th T. S. Anniversary had hardly left the house before I resumed [70] my official wanderings. On 4th January I sailed for Bimlipatam, on the Coromandel Coast, the nearest port to Vizianagram, to visit the Maharajah of which ancient Zemindary I had been invited. [2] Among my fellow-passengers was a Scotch gentleman endowed with the “second sight,” and, like the Swiss philosopher Zschokke, compelled at times, against his own wish, to see the life-histories of strangers pass before his inner vision in phantom pictures. Everybody who has read Dale Owen or Ennemoser knows the story of how Zschokke silenced a braggart infidel, one of a party of student pedestrians whom he encountered at an inn among the Alps. The feather-brained youths drank deeply and grew very noisy and impertinent. A quiet man at a small table in a corner attracted their attention, and presently the loud-voiced braggart in question, who had denied the existence of God and the soul in the most vehement language, turned to the quiet man and challenged him to defend the opposite view. Zschokke—for it was he—saw, as in a moving picture, the whole of the boaster’s life spread out before him, and replied by asking him whether he would admit the existence of a soul if he, the speaker, should tell him the secrets of his past career. The young man laughed the proposition to scorn, and dared Zschokke to expose all, even the most important of his secrets. Thereupon the latter proceeded to do so, and among other disgraceful scenes described one where the young fellow was robbing his master’s [71] till. The bursting of such a bomb, it may be supposed, put a stop to the idle debate, and the philosopher left the room in quiet dignity unmolested.
Vị Đại biểu thăm viếng cuối cùng của Lễ kỷ niệm T.S. lần thứ 8 vừa rời nhà thì tôi lại [70] tiếp tục những chuyến công cán chính thức. Ngày 4 tháng Giêng tôi xuống tàu đi Bimlipatam, bờ biển Coromandel, hải cảng gần nhất với Vizianagram, để thăm vị Maharajah của lãnh địa Zemindary cổ kính mà tôi đã được mời. Trong số bạn đồng hành có một quý ông người Scotland có “nhị kiến”, và, như triết gia Thụy Sĩ Zschokke, đôi khi bị bắt buộc, trái với ý muốn, phải thấy lịch sử đời sống của người lạ lướt qua trước tâm nhãn mình như những bức họa huyễn tượng. Ai từng đọc Dale Owen hoặc Ennemoser đều biết câu chuyện Zschokke đã khiến một kẻ báng bổ ba hoa im miệng thế nào—một trong nhóm du sinh đi bộ mà ông gặp ở một quán trọ giữa dãy Alps. Đám thanh niên non dại uống say, trở nên ồn ào và láo xược. Một người trầm lặng ngồi ở chiếc bàn nhỏ trong góc thu hút sự chú ý của họ, và chẳng mấy chốc kẻ ba hoa nọ, kẻ đã phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế và linh hồn bằng những lời lẽ kịch liệt nhất, bèn quay sang người trầm lặng và thách ông bênh vực quan điểm ngược lại. Zschokke—vì chính là ông—thấy, như trong một cuộn phim chuyển động, toàn bộ đời sống của kẻ khoác lác trải ra trước mắt, và đáp lại bằng cách hỏi xem y có chịu thừa nhận sự hiện hữu của linh hồn hay không, nếu như chính ông, người đang nói, sẽ kể cho y nghe các bí mật của đời y. Gã thanh niên cười nhạo đề nghị, và thách Zschokke phơi bày tất cả, kể cả điều bí mật nhất của y. Thế là Zschokke bắt đầu làm vậy, và trong số các cảnh đáng hổ thẹn khác, ông tả lại một cảnh gã đang ăn cắp tiền [71] trong hộc của chủ. Có thể hình dung được quả bom như thế nổ tung đã chấm dứt cuộc tranh luận nhảm ra sao, và nhà hiền triết rời phòng trong vẻ đoan trang, chẳng ai dám quấy nhiễu.
On landing at Bimlipatam I found the Maharajah’s carriage and pair awaiting me, and after a pleasant drive for some hours, reached Vizianagram. I had “Bawaji” with me as Private Secretary, and my Mussulman servant, Abdullah, to look after my luggage and myself. After making a toilet I drove to the Fort, and was met at the door of his residence by the Prince, who welcomed me with the extreme courtesy for which he is known to the whole European community of Madras and Calcutta, and which has earned from them the title of Prince Charming. He is quite a book-collector, and has a very fine library, most of the books in rich bindings. He talked earnestly and fluently about religious and philosophical questions, but not with the evidently deep interest and conviction shown by the Maharajah of Kashmir. In fact, it struck me that he had no very well formed belief at all in religion, but was mostly concerned in the affairs of the world, its pleasures, and his personal position. I fancy that he had had some anticipation that I would show him phenomena, and that his lack of interest in our Society during the subsequent years marks his disappointment in that respect. However, nothing could have been nicer than his behaviour as host, and his conversation, on the four days of my stay, was very enjoyable. Before we left, he refunded to Bawaji the expenses of our [72] journey, gave a considerable order for Theosophical literature, and made a gift of Rs. 500 to the Society’s treasury. Two lectures were given, and a ranch organised at Vizianagram, and on 11th January we sailed for Madras, which was reached on the third day.
Lên bờ tại Bimlipatam, tôi thấy xe song mã của Maharajah đang đợi, và sau mấy giờ xe êm ái, đến Vizianagram. Đi cùng tôi có “Bawaji” làm Bí thư riêng, và người gia nhân Hồi giáo của tôi, Abdullah, lo hành lý và trông nom tôi. Thay áo xống xong, tôi vào Pháo đài, và được Vương tử ra cửa đón, tiếp đãi tôi với phép lịch sự tuyệt hảo mà cả cộng đồng Âu châu ở Madras và Calcutta đều biết về ông, nhờ đó mà họ đặt cho ông danh hiệu Prince Charming—Vương tử Quyến rũ. Ông khá mê sưu tập sách và có một thư viện rất đẹp, phần lớn sách bìa bọc sang trọng. Ông nói chuyện sôi nổi, lưu loát về các vấn đề tôn giáo và triết học, nhưng không với mối quan tâm sâu xa và xác tín rõ rệt như Maharajah xứ Kashmir. Thật ra, tôi có ấn tượng rằng ông chưa có một tín niệm tôn giáo được hình thành vững vàng, mà phần nhiều để tâm vào việc đời, thú vui, và vị thế cá nhân. Tôi ngờ rằng ông đã kỳ vọng tôi sẽ trình bày hiện tượng, và việc ông không mấy quan tâm đến Hội chúng ta trong những năm tiếp theo cho thấy sự thất vọng của ông ở điểm đó. Tuy vậy, không gì có thể nhã nhặn hơn cách ông ứng xử với tư cách chủ nhân, và cuộc trò chuyện của ông trong bốn ngày tôi lưu lại rất thú vị. Trước khi chúng tôi đi, ông hoàn trả cho Bawaji chi phí chuyến đi của chúng tôi, đặt mua một số lượng đáng kể sách vở Thông Thiên Học, và tặng 500 Rs. cho quỹ của Hội. Tôi có hai bài thuyết pháp, và tổ chức một chi bộ tại Vizianagram, và ngày 11 tháng Giêng chúng tôi xuống tàu về Madras, tới nơi vào ngày thứ ba.
I had hardly got back before a small disturbance was created by the brother of one of our Hindu colleagues, who demanded that the latter should at once quit our house under penalty of being outcasted—an ordeal that few Hindus care to face, however zealous they may be as “reformers”. Under the ponderous mass of ancient custom, backed by public opinion, the individual is crushed unless he have money to bribe influential pûjâris (family priests). This case being referred to me, I ordered both parties to go outside the compound and settle their differences, as I should not permit any caste battles to be fought out within our precincts.
Tôi vừa về tới thì một chuyện rắc rối nho nhỏ khởi lên bởi người anh của một đồng sự Hindu của chúng tôi, kẻ đòi người em phải lập tức rời nhà chúng tôi, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi giai cấp—một thử thách mà ít Hindu nào muốn đối mặt, dù là người “cải cách” nhiệt thành đến đâu. Dưới sức nặng ghê gớm của tập tục cổ xưa, lại được dư luận hậu thuẫn, cá nhân sẽ bị nghiền nát, trừ phi có tiền để hối lộ các pûjâri (tư tế gia tộc) có thế lực. Vụ này được đưa lên tôi, tôi bèn ra lệnh cho cả hai bên đi ra ngoài khuôn viên và giải quyết bất đồng của họ, vì tôi sẽ không cho phép bất kỳ trận chiến giai cấp nào diễn ra trong phạm vi nhà của chúng tôi.
It may be as well to say a few words about the attitude of the Society towards caste and other social abuses that swarm about us. I bracket caste with them, because in the present state of India and the world I regard it as an abuse and even an infringement of personal liberty of action. What it was in the beginning, and why instituted by the unseen Managers of the Aryan race, has been explained to us by Mrs. Besant in sublime language and with masterful ability: as a working part in the plan of spiritual development its excellence is apparent. But like the rusting machinery of an abandoned mine, it is useful [73] to nobody, a cumberer of the high road. I speak my own opinion, of course, and that binds nobody save myself. Unquestionably we find all groups of the race, called nations, differentiate themselves into the four chief classes that correspond with the four castes of the Aryans, viz., the hand-toilers, the traders, the fighters and rulers, and the teachers of various kinds; undeniably, therefore, the institution of caste by Sri Krishna was a wise act and bore splendid fruits. But the Western class is not a fixed but a changeful thing; the peasant of one day may become the trader, general, or teacher of the next decade: this is proved by a thousand examples. The class, therefore, is not so great an evil in our modern social order as the fixed and immovable condition of hereditary caste, which has fallen from the dignity of a nursing school for reincarnating souls, to the low state of trades guilds, social tyrannies, and unspiritual panditism and miseries of religious hypocrisy. Admitting all this, there is a necessary reformatory work to be carried on by specially-fitted caste reformers, individuals, and societies. It is as much outside the field of our Society’s corporate activity as diet, intemperance, widow remarriage, chattel slavery, the social evil, vivisection, and fifty other outlets for philanthropic zeal. As a Society we abstain from meddling with them, though as individuals we are perfectly free to plunge in to the thick of either of the fights that they occasion. The Theosophical Society ignores the differences of sex, for the Higher Self has [74] no sex; also of color, for That is neither white, black, red, or yellow like the human races; of rank, wealth, and political condition, worldly power or literary rank, for It is above all these limitations of the physical man—spotless, immortal, divine, unchangeable. That is why, as President, I never commit the Society to one side or the other of these questions. Mrs. Besant’s Central Hindu College at Benares, my three Buddhist Colleges and two hundred schools in Ceylon, and my Pariah (Harijan) free schools in Madras are all individual, not Society, activities.
Có lẽ cũng nên nói đôi điều về thái độ của Hội đối với chế độ đẳng cấp và các tệ nạn xã hội khác đang nhan nhản quanh chúng ta. Tôi xếp đẳng cấp vào cùng một loại với các tệ nạn ấy, vì trong tình trạng hiện tại của Ấn Độ và thế giới, tôi coi đó là một tệ nạn và thậm chí là sự xâm phạm tự do hành động của cá nhân. Nó thuở ban đầu là gì, và vì sao được các Vị Quản Trị vô hình của giống dân Arya thiết lập, đã được Bà Besant giảng giải cho chúng ta bằng ngôn từ cao siêu và tài năng của bậc thầy: xét như một bộ phận vận hành trong kế hoạch phát triển tinh thần, phẩm hảo của nó là hiển nhiên. Nhưng cũng như bộ máy đang rỉ sét của một hầm mỏ bị bỏ hoang, nó [73] vô dụng đối với bất cứ ai, chỉ làm vướng đường lớn. Tôi dĩ nhiên chỉ phát biểu ý kiến riêng mình, và điều đó không ràng buộc ai ngoài tôi. Không thể phủ nhận rằng mọi nhóm của nhân loại, gọi là quốc gia, đều tự biệt hóa thành bốn hạng chính tương ứng với bốn đẳng cấp của người Arya, tức là: người lao động chân tay, nhà buôn, chiến sĩ kiêm nhà cai trị, và các bậc thầy dạy thuộc nhiều loại; do đó, không thể chối cãi rằng chế định đẳng cấp do Sri Krishna thiết lập là một hành động khôn ngoan và đã kết trái rực rỡ. Nhưng ở phương Tây, giai tầng không cố định mà biến đổi; người nông dân hôm nay có thể trở thành nhà buôn, vị tướng hay người dạy học trong thập kỷ tới: điều này được chứng minh bởi muôn ngàn ví dụ. Bởi vậy, giai tầng tự nó không phải là điều ác lớn trong trật tự xã hội hiện đại bằng tình trạng cố định, bất động của đẳng cấp cha truyền con nối, vốn đã sa sút từ phẩm vị của một trường nuôi dưỡng cho các linh hồn tái sinh xuống trạng thái thấp kém của phường hội nghề nghiệp, áp bức xã hội, thứ “bác học” vô tinh thần và những khổ ải của thói đạo đức giả tôn giáo. Thừa nhận tất cả điều đó, ắt có một công cuộc cải cách cần thiết phải được đảm đương bởi những nhà cải cách đẳng cấp có căn cơ thích đáng, bởi các cá nhân và các hội đoàn. Những việc ấy cũng ở ngoài phạm vi hoạt động tập thể của Hội chúng ta như chuyện ăn kiêng, nết điều độ, tái giá của góa phụ, chế độ nô lệ, tệ nạn xã hội, giải phẫu sinh thể và năm mươi lối khác để xả năng lượng bác ái. Với tư cách là một Hội, chúng ta kiêng can thiệp vào chúng, dù với tư cách cá nhân, chúng ta hoàn toàn tự do dấn thân vào giữa bất kỳ cuộc đấu tranh nào mà chúng khơi ra. Hội Thông Thiên Học bỏ qua những khác biệt về giới, vì Chân ngã [74] không có giới; cũng bỏ qua màu da, vì Cái Đó không phải trắng, đen, đỏ hay vàng như các chủng người; bỏ qua đẳng cấp, của cải và địa vị chính trị, quyền lực thế gian hay địa vị văn chương, vì Cái Đó vượt ngoài mọi giới hạn của phàm nhân—vô nhiễm, bất tử, thiêng liêng, bất biến. Vì thế, với tư cách Hội trưởng, tôi không bao giờ cam kết để Hội đứng về phía này hay phía kia trong những vấn đề ấy. Trường Trung tâm Ấn giáo của Bà Besant ở Benares, ba Trường Phật giáo và hai trăm trường học của tôi ở Tích Lan, cùng các trường miễn phí cho Pariah (Harijan) ở Madras của tôi, tất cả đều là hoạt động cá nhân, không thuộc về Hội.
The Sinhalese Buddhists having secured my promise to go to London and try to settle their religious disabilities, I now began to make the necessary preparations, first for a visit to Colombo for the final arrangement of matters with them, and then for the European journey. In view of possible contingencies of accident to me, I held a Council Meeting on January 20th, at which I put the management of the Society into their hands until my return, and the next day left by train for Tuticorin, the southernmost station in India, whence the British India Company’s boats sail for Colombo. The Council deciding that H. P. B. should accompany me to Europe, she also began her preparations during my absence in Ceylon. On the boat from Tuticorin I met two young Russian nobles and a wealthy friend of theirs who had been enticed to India by H. P. B.’s romantic stories in her Caves and Jungles of Hindustan, as they appeared originally in the Roussky Vyestnik. The young men told [75] me that all Russia had been charmed and bewildered by them.
Những Phật tử Tích Lan, sau khi giành được lời hứa của tôi sẽ sang London để cố gắng giải quyết những bất lợi tôn giáo của họ, tôi bắt đầu thực hiện các chuẩn bị cần thiết, trước hết là thăm Colombo để thu xếp sau cùng với họ, rồi đến chuyến đi châu Âu. Xét những bất trắc có thể xảy đến với tôi, tôi triệu tập một Phiên họp Hội đồng vào ngày 20 tháng Giêng, trong đó tôi trao quyền điều hành Hội vào tay họ cho đến khi tôi trở về, và hôm sau tôi đi tàu hỏa đến Tuticorin, ga cực nam của Ấn Độ, nơi tàu của Công ty British India nhổ neo đi Colombo. Hội đồng quyết định rằng Bà H. P. B. nên cùng tôi đi Âu châu, nên Bà cũng bắt đầu chuẩn bị trong khi tôi vắng mặt ở Tích Lan. Trên chiếc tàu từ Tuticorin, tôi gặp hai vị thanh niên quý tộc Nga và một người bạn giàu có của họ, những người đã bị hấp dẫn đến Ấn Độ bởi các câu chuyện lãng mạn của Bà H. P. B. trong cuốn Caves and Jungles of Hindustan, như chúng xuất hiện nguyên thủy trên tờ Roussky Vyestnik. Hai chàng thanh niên [75] bảo tôi rằng cả nước Nga đã bị chúng mê hoặc và choáng ngợp.
Reaching Colombo the next morning at dawn, I called a meeting of leading Buddhists, under Sumangala’s chairmanship, to consider the situation; and on the following day, at an adjourned meeting at Meligakanda, that useful body, the Buddhist Defence Committee, was formed, with suitable officers and a very simple and common-sense code of Rules. It was then decided that I should go to London as an Honorary Member and special delegate of the Committee. Visits of conference to the Governor, Government Agent, Inspector-General of Police, and other officials, various meetings with the Buddhists, the drafting of several petitions and addresses and other work followed. In view to possibilities, the Chief priests of the two ancient Royal Viharas at Kandy, together with Sumangala, Subhuti, Dhammalankara, and other priests of the Maritime provinces, united in giving me full powers to represent them in the admission of candidates into the ranks of Buddhism, on their “taking Pansil”—the Five Precepts.
Đến Colombo sáng hôm sau vào lúc rạng đông, tôi triệu tập một cuộc họp những Phật tử hàng đầu, do Sumangala làm chủ tọa, để xem xét tình thế; và hôm sau, tại một cuộc họp hoãn lại ở Meligakanda, một cơ cấu hữu ích, Ủy ban Bảo vệ Phật giáo, được thành lập, với các viên chức thích hợp và một bộ quy luật rất đơn giản, hợp lẽ thường. Khi ấy quyết định rằng tôi sẽ đi London với tư cách Hội viên Danh dự và đặc phái viên của Ủy ban. Tiếp theo là các cuộc viếng thăm để hội đàm với Ngài Toàn quyền, Viên chức Đại diện Chính phủ, Tổng thanh tra Cảnh sát và các quan chức khác, nhiều cuộc họp với các Phật tử, thảo thỉnh nguyện thư và diễn văn cùng những công việc khác. Xét đến các khả năng, chư Tăng cả hai Hoàng tự cổ ở Kandy, cùng với Sumangala, Subhuti, Dhammalankara và các vị sư ở các tỉnh ven biển, đã đồng thanh trao cho tôi đầy đủ quyền đại diện các ngài trong việc thu nhận những người thọ “Pansil”—Ngũ Giới—vào hàng ngũ Phật giáo.
The primary objects that my European visit was intended to realise were: (1) To convince Government of the actual disabilities under which the Sinhalese Buddhists suffered in a case of criminal assault, like the recent bloody attack by Roman Catholics on a Buddhist religious procession, the culprits in which riot had escaped punishment. (2) To induce Government to appoint a Buddhist Registrar of Marriages [76] so that the Buddhists might not be compelled to get married by an official of hostile religious belief. (3) To get some action taken on the questions of the management of the Temporalities of Buddhist Viharas, whose rights had long been trampled on by their own lay administrators, to the shame of the Colonial officials, who had neglected their duty. (4) To try and secure an order declaring Wesak—the May Full-Moon day, Buddha’s Birthday, and consequently the Buddhist Christmas—a public holiday. While each of the great sects in India enjoyed their own special holidays, the patient, long-suffering Sinhalese had no such act of justice done them. Before sailing, on February 10th, I took Sumangala to the Government House to see the Governor, and a discussion which I had previously held with His Excellency about the Wesak, was resumed between us three, and Sir Arthur gave us encouragement to count upon his friendly action when the question should be referred back to him in due course from the Colonial Office, where I was to broach it.
Các mục tiêu chủ yếu mà chuyến Âu du của tôi hướng tới là: (1) Thuyết phục Chính phủ về những bất lợi thực tế mà Phật tử Tích Lan phải chịu trong các vụ tấn công hình sự, như cuộc tấn công đẫm máu gần đây của giáo dân Công giáo La Mã vào một đoàn rước tôn giáo Phật giáo, trong đó những kẻ gây rối đã thoát trừng phạt. (2) Thúc giục Chính phủ bổ nhiệm một Viên chức đăng ký hôn nhân [76] là Phật tử để người Phật giáo không bị buộc phải kết hôn trước một viên chức mang tín ngưỡng đối nghịch. (3) Yêu cầu có hành động đối với việc quản trị tài sản thế tục của các Tự viện Phật giáo, nơi quyền lợi đã lâu bị chà đạp bởi chính các vị hành giả cư sĩ quản lý của họ, nỗi hổ thẹn cho các quan chức Thuộc địa, là những người đã sao lãng bổn phận. (4) Cố gắng giành một sắc lệnh tuyên bố Wesak—ngày Trăng tròn tháng Năm, Ngày Đản sinh của Đức Phật, và do đó là “Lễ Giáng sinh” của Phật giáo—thành ngày lễ công cộng. Trong khi mỗi giáo phái lớn ở Ấn Độ đều được hưởng những ngày lễ đặc thù, thì người Tích Lan nhẫn nại, chịu đựng trường kỳ chưa hề được thực thi một hành động công bằng như thế. Trước khi xuống tàu, ngày 10 tháng Hai, tôi đưa Sumangala đến Dinh Toàn quyền yết kiến Ngài, và cuộc thảo luận mà trước đó tôi đã có với Ngài về lễ Wesak được chúng tôi ba người nối lại, và Sir Arthur khích lệ chúng tôi trông đợi thiện chí hành động của ông khi vấn đề được chuyển về cho ông theo trình tự từ Bộ Thuộc địa, nơi tôi sẽ nêu ra.
On reaching Adyar I found there waiting for me Mr. St. George Lane-Fox, the electrical engineer, a new recruit to our ranks. H. P. B. had gone away to Kathiawar with Dr. Hartmann, on a visit to the Thakur Saheb of Wadhwan, one of our members. I hurried up affairs, and on 18th February the Wadhwan party met me in Bombay. On the 20th we sailed for Marseilles, on the “Chandernagore,” Captain Dumont—an excellent French steamer and a [77] super-excellent French Commander, whose friendship I have kept ever since. He is now chief manager of the Suez Canal traffic. Our party consisted of H. P. B., myself, Mohini M. Chatterji, and B. J. Padshah, one of the cleverest Parsi graduates of the Bombay University. Then there was Babula, our trusty servant. Before sailing I enlarged the Managing Committee left in charge of Headquarters, by adding to the Council Members Dr. Hartmann, Mr. Lane-Fox, and—Mr. Coulomb. Considering what happened later, this last appointment may surprise some, but nothing whatever had occurred up to that time to make me have a bad opinion of him. As for his wife, I was as far as possible from suspecting that she had been a party to tricks, either with or without H. P. B.’s knowledge. Not a word of suspicion had been dropped, nor a thing done by her, to my knowledge, of that sort. Of course, if I had had even an inkling of her real character, instead of making her husband (at her request—she saying that he was a proud man and his feelings would be hurt if I left him out) a Committee man, I should have had our servants chase both of them out of our compound with bamboo switches. She seemed to me a hard-working woman, who was doing all she possibly could to keep the house tidy and take care of H. P. B.’s physical comfort: she bought the food, had meals very properly served, and looked after the servants. Often I felt quite sorry for her when H. P. B. scolded her for trifling faults and, I thought, showed ingratitude for her [78] services. Her character I did not admire in the least; she was a gossip and tale-bearer, and gabbled too much about religious matters that she did not in the least comprehend. But she seemed faithful as a dog to H. P. B., and well earned the food and shelter she and her husband got from us. He was handy with tools and fond of using them, so he was given in charge the work of masons and carpenters, that in a large place like ours is constantly needed. He was a quiet, well-behaved person, seemingly perfectly honest, and I liked him well enough to put him on the Committee. A few words of explanation as to the house will be useful.
Về đến Adyar, tôi thấy Ông St. George Lane-Fox, kỹ sư điện, một tân binh của hàng ngũ chúng ta, đang chờ tôi. Bà H. P. B. đã đi Kathiawar với Bác sĩ Hartmann, để thăm Thakur Saheb của Wadhwan, một hội viên của chúng ta. Tôi khẩn trương thu xếp công việc, và ngày 18 tháng Hai, đoàn Wadhwan gặp tôi tại Bombay. Ngày 20, chúng tôi xuống tàu đi Marseilles, trên chiếc “Chandernagore”, do Thuyền trưởng Dumont chỉ huy—một tàu Pháp hảo hạng và một [77] vị Chỉ huy trưởng người Pháp siêu hảo, người mà tình bằng hữu tôi giữ gìn từ đó đến nay. Hiện ông là người quản trị chính giao thông Kênh đào Suez. Đoàn chúng tôi gồm có Bà H. P. B., tôi, Mohini M. Chatterji và B. J. Padshah, một trong những cử nhân Parsi thông tuệ nhất của Đại học Bombay. Còn có Babula, người gia bộc trung tín của chúng tôi. Trước khi xuống tàu, tôi mở rộng Ủy ban Điều hành được giao quản lý Trụ sở, bằng cách bổ sung vào Hội đồng các Ông Dr. Hartmann, Lane-Fox, và—Ông Coulomb. Xét những gì xảy ra sau này, việc bổ nhiệm cuối cùng này có thể khiến vài người ngạc nhiên, nhưng cho đến lúc ấy tuyệt nhiên chưa có gì xảy ra khiến tôi có ý kiến xấu về ông. Còn về vợ ông, tôi tuyệt đối không ngờ rằng bà đã tham gia trò bịp bợm, dù có hay không có sự hay biết của Bà H. P. B. Chưa một lời nghi ngờ nào được thốt ra, cũng chưa một việc nào do bà làm, theo tôi biết, thuộc loại ấy. Dĩ nhiên, nếu tôi có mảy may linh cảm về chân tướng của bà, thì thay vì, theo lời bà đề nghị—bà nói rằng chồng bà là người kiêu hãnh và sẽ bị tổn thương nếu tôi loại ông—đưa ông chồng vào Ủy ban, hẳn tôi đã sai gia nhân dùng roi tre đuổi cả hai ra khỏi khuôn viên của chúng tôi. Với tôi, bà có vẻ là một phụ nữ siêng năng, làm hết sức để giữ nhà ngăn nắp và chăm lo tiện nghi thể xác cho Bà H. P. B.: bà mua thực phẩm, cho dọn bữa rất gọn gàng, và trông coi gia nhân. Nhiều lần tôi thấy khá ái ngại cho bà khi Bà H. P. B. mắng bà vì những lỗi lặt vặt và, theo tôi nghĩ, tỏ ra vô ơn trước [78] những phục dịch của bà. Tính nết bà thì tôi không thích chút nào; bà là kẻ buôn chuyện và hay đặt điều, lại ba hoa quá lắm về các vấn đề tôn giáo mà bà chẳng hề thông hiểu. Nhưng bà có vẻ trung thành với Bà H. P. B. như một con chó, và xứng đáng với cơm ăn chỗ ở mà vợ chồng bà nhận nơi chúng tôi. Ông ấy thì thạo đồ nghề và thích dùng đồ nghề, nên được giao coi thợ nề, thợ mộc—những việc ở một cơ ngơi lớn như của chúng tôi luôn luôn cần đến. Ông là người trầm tĩnh, cư xử đứng đắn, xem ra hoàn toàn lương thiện, và tôi quý ông đủ để đưa vào Ủy ban. Vài lời giải thích về căn nhà cũng sẽ hữu ích.
The main building at Adyar is nearly 100 feet square; there are six large rooms and the Convention Hall (100X28) on the ground floor, and when we moved there, there were one large and one very small room upstairs: the rest brick-and-cement terrace. The large room upstairs was used by H. P. B. as her bedroom, a piece curtained off from which made her sitting-room. I put up a temporary kitchen for her at the N. W. corner of the roof, and the little room over the stairs was given to Damodar. My quarters were in a detached, one-storied brick bungalow in the grounds, distant a hundred yards from the house. To gain access to the upper floor of the main building, one had to go outside on the back verandah and mount by an inclosed brick staircase. When the door at its foot was locked, no one could get to the upper rooms. This should be kept in mind. Soon after coming we [80] had built a room for use as a “shrine,” and cut down a blocked-up window in H. P. B.’s room into a door to give access to it. When the room was finished, she moved her desk in and installed herself in it. But her bedroom did not suit her, so she set Mr. Coulomb to work to building another for her at the N. E. angle of the terrace, and this was in progress when we left for Europe. He having charge of the work, and his wife that of H. P. B.’s effects, they kept the key of the staircase, and nobody had the least concern in what the workmen were doing upstairs, as even the materials were carried in at the back verandah without troubling anybody. Damodar was now sleeping and working in the office-room downstairs. The Coulombs occupied another detached bungalow in the grounds that matched my own. Dr. Hartmann, Mr. Lane-Fox, and the rest of the house-party had quarters either in the downstairs rooms or over in my bungalow, according to their choice. The easy and natural isolation of the upper floor apartments will now be clearly understood, and should be kept in mind when reading the S. P. R. report of the “Coulomb case”. We may now return to the “Chandernagore,” where day after day we shall find H. P. B. working in the Captain’s cabin on a French translation of Isis Unveiled which she had undertaken at the request of our French colleagues.
Tòa nhà chính ở Adyar gần như hình vuông 100 feet; tầng trệt có sáu phòng lớn và Hội trường Đại hội (100X28), và khi chúng tôi dọn đến, tầng trên có một phòng lớn và một phòng rất nhỏ: phần còn lại là sân thượng xây gạch và xi măng. Phòng lớn trên lầu được Bà H. P. B. dùng làm phòng ngủ, trong đó một khoảng được che rèm làm phòng tiếp khách của bà. Tôi dựng một bếp tạm cho bà ở góc Tây Bắc của sân thượng, và căn phòng nhỏ trên lối cầu thang được giao cho Damodar. Chỗ ở của tôi là một bungalow gạch một tầng tách biệt trong khuôn viên, cách tòa nhà chừng một trăm thước. Để lên tầng trên của tòa nhà chính, phải đi ra bên ngoài hiên sau và trèo lên bằng cầu thang gạch kín. Khi cánh cửa dưới chân cầu thang được khóa, thì không ai có thể lên các phòng trên lầu. Điều này nên ghi nhớ. Chẳng bao lâu sau khi đến nơi, chúng tôi [80] đã xây một phòng dùng làm “điện thờ”, và đục một cửa sổ bịt kín trong phòng của Bà H. P. B. thành cửa đi để thông sang đó. Khi phòng hoàn tất, bà chuyển bàn làm việc vào và an vị trong ấy. Nhưng phòng ngủ không hợp ý, nên bà giao cho Ông Coulomb xây một phòng khác cho bà ở góc Đông Bắc sân thượng, và việc này đang tiến hành khi chúng tôi lên đường sang Âu châu. Ông phụ trách công việc xây dựng, còn vợ ông coi sóc đồ đạc của Bà H. P. B., họ giữ chìa khóa cầu thang, và chẳng ai mảy may quan tâm thợ thuyền làm gì trên lầu, vì ngay cả vật liệu cũng được khiêng vác từ hiên sau mà chẳng làm phiền ai. Khi ấy Damodar ngủ và làm việc ở phòng văn phòng tầng trệt. Vợ chồng Coulomb ở một bungalow tách biệt khác trong khuôn viên, tương xứng với bungalow của tôi. Bác sĩ Hartmann, Ông Lane-Fox và những người còn lại trong nhà tùy chọn ở các phòng tầng trệt hoặc sang bungalow của tôi. Sự biệt lập dễ dàng và tự nhiên của dãy phòng tầng trên giờ đây hẳn đã rõ ràng, và nên ghi nhớ điều này khi đọc báo cáo của S. P. R. về “vụ Coulomb”. Giờ chúng ta hãy trở lại chiếc “Chandernagore”, nơi ngày qua ngày sẽ thấy Bà H. P. B. làm việc trong cabin của Thuyền trưởng với bản dịch tiếng Pháp cuốn Isis Unveiled mà bà nhận làm theo đề nghị của các đồng chí Pháp.
Barring a very little rough weather in the Mediterranean, our voyage was exceptionally calm and delightful: in fact, the Captain said he had never had such an one, taking it throughout. I see that I have taken special notes of the lovely picture that we sailed through when passing the Straits of Messina: a cloudless azure sky, the town of Messina, picturesque Reggio, on the Calabrian side, the winding blue strait, the lighthouse standing out in high light, a red-piped coasting steamer, and a sombre contrast of black clouds massed above Ætna’s smoking peak. Along the Italian shore ran the trains with their puffing engines, looking from the deck of our distant steamer like a toy rail-road run for dolls. Reaching Marseilles on 12th March, we were sent over to Trioul to be quarantined twenty-four hours for the sanitary sins of Bombay—a vexatious experience just at the end of a long voyage, when we were impatient to set foot again on the solid ground. Trioul is a basin-harbor amid barren rocks, with clusters of silent grey pavilions and godowns in stone, and a Roman Catholic chapel perched on a rock and capped with its great cross. A tremendous gale had sprung up—the mistral, I presume—and our ship was so pushed by it that we broke three cables at our moorings; if the fourth had parted we must have inevitably been wrecked within the very basin. Happily it did not, and we left the Quarantine early the next morning and got safely to Marseilles; passing on the way Château d’If, about which rather commonplace, if somewhat old fortress, Alexandre Dumas has woven the golden spell of romance. No wonder tourists actually ask to be shown the cells of Edmond Dantes and the good Abbé Faria, and the rocky precipice from which the [81] future Comte de Monte Cristo was flung as a supposed corpse; and no wonder the guides actually do show them. When Mark Twain can be forgiven for weeping at the bogus grave of Adam in Palestine, and the whole of Christendom was collectively bamboozled by toe nails of the Holy Ghost, phials of Liebfraumilch, winking statues, etc., and French Spiritistes have recorded improving messages from “Tartuffe,” who shall blame the breadwinners at the Château d’If for truckling to the ignorant and harmless curiosity of a public who have been so hypnotised by Dumas’ genius as to believe that D’Artagnan and Athos, Dantes and Danglars, were men of blood and bone like ourselves? Surely their offence is not equal to that of a travelled New York ignoramus, who told me that he had seen the dungeon in the Castle of Chillon where “Lord Byron had been imprisoned so many years that he had worn a track in the stone floor of his cell”!
Ngoại trừ chút thời tiết xấu trên Địa Trung Hải, chuyến hải hành của chúng tôi đặc biệt êm ả và thú vị: thực vậy, Thuyền trưởng nói ông chưa từng có chuyến đi nào như thế, xét toàn tuyến. Tôi thấy mình đã ghi chép kỹ bức tranh tuyệt mỹ mà chúng tôi lướt qua khi đi qua Eo biển Messina: bầu trời xanh trong không gợn mây, thành Messina, thị trấn Reggio tuyệt mỹ bên bờ Calabria, dòng eo xanh uốn khúc, ngọn hải đăng nổi bật trong ánh sáng rực, một chiếc tàu ven bờ ống khói đỏ, và một mảng tương phản u sầm của mây đen tụ thành khối trên đỉnh Etna đang bốc khói. Dọc bờ biển Ý là đoàn tàu với đầu máy phì khói, trông từ boong tàu xa của chúng tôi như một đường sắt đồ chơi chạy cho búp bê. Tới Marseilles ngày 12 tháng Ba, chúng tôi bị đưa qua Trioul để cách ly ba mươi sáu giờ vì các lỗi vệ sinh của Bombay—một trải nghiệm bực bội ngay cuối một chuyến đi dài, khi chúng tôi đang nôn nóng đặt chân trở lại đất liền vững chắc. Trioul là một cảng lòng chảo giữa những ghềnh đá cằn cỗi, với những cụm nhà pavilions xám im ắng và nhà kho đá, và một nhà nguyện Công giáo La Mã chễm chệ trên ghềnh, đội cây thánh giá lớn. Một trận gió dữ dội nổi lên—hẳn là gió mistral—và tàu chúng tôi bị đẩy đến nỗi đứt ba dây neo; nếu sợi thứ tư cũng đứt thì hẳn chúng tôi đã bị đắm ngay trong lòng chảo cảng. May thay nó không đứt, và sáng sớm hôm sau chúng tôi rời Trạm Kiểm dịch và cập bến Marseilles an toàn; đi ngang qua Château d’If, quanh đó—một pháo đài xưa tuy khá tầm thường—Alexandre Dumas đã dệt nên phép màu vàng của huyền thoại. Chả trách du khách lại đòi được xem xà lim của Edmond Dantes và cha Abbé Faria nhân hậu, và vách đá cheo leo mà từ đó [81] vị hầu tước Monte Cristo tương lai đã bị quăng xuống như một xác chết; và cũng chả trách các hướng dẫn thực sự chiều theo. Khi Mark Twain còn có thể được tha thứ vì rơi lệ bên mộ giả của Adam ở Palestine, và cả thế giới Ki-tô giáo từng bị lừa tập thể bởi móng chân của Chúa Thánh Thần, các lọ Liebfraumilch, tượng biết nháy mắt, v.v., và giới Spiritistes Pháp đã ghi chép những thông điệp “giáo hóa” từ “Tartuffe”, thì ai lại có thể trách những người kiếm cơm ở Château d’If vì chiều theo sự tò mò ngây thơ vô hại của công chúng đã bị thôi miên đến mức tin rằng D’Artagnan và Athos, Dantes và Danglars, là những người bằng xương bằng thịt như chúng ta? Chắc hẳn lỗi của họ không thể sánh với lỗi của một anh chàng ngu dốt ở New York hay đi đây đó, kẻ đã nói với tôi rằng hắn đã nhìn thấy ngục thất trong Lâu đài Chillon nơi “Lord Byron đã bị giam nhiều năm đến nỗi ông đã mài mòn một lối trên nền đá của xà lim mình”!
We were met, on landing, by our two staunch, highly-cultured friends, Baron J. Spedalieri, the pupil of Lévi, and Captain D. A. Courmes, of the French Navy, who showed us every possible attention and H. P. B. a sincere reverence. Among the throng of her admirers not one was so capable of gauging her literary and mystical abilities as the good Kabbalist of Marseilles. It is my delight to revisit his house every time I pass that way and be folded to the breast of the affectionate patriarch, whose mind is as vigorous now at 85 as it was when my chum and I first sat at [82] his table in 1884. [3] The fidelity and unflagging sympathy of Captain Courmes in our work is matter of common knowledge among all readers of Theosophical literature.
Khi lên bờ, chúng tôi được hai người bạn kiên định và rất mực học thức của mình đón tiếp, Nam tước J. Spedalieri, môn đồ của Lévi, và Đại úy D. A. Courmes thuộc Hải quân Pháp, những người đã dành cho chúng tôi mọi sự chăm sóc có thể và dành cho Bà H. P. B. lòng tôn kính chân thành. Giữa đám người hâm mộ bà, không ai có năng lực đánh giá đúng tài văn chương và khả năng huyền học của bà như vị học giả Kabbalah tốt lành ở Marseilles. Tôi luôn hân hoan ghé lại nhà ông mỗi lần đi qua tuyến ấy và được ôm vào lòng bởi bậc gia trưởng âu yếm, trí tuệ của ông vẫn cường kiện ở tuổi 85 chẳng khác gì khi bạn tôi và tôi lần đầu [82] ngồi bên bàn ông năm 1884. Lòng trung kiên và cảm thông không mệt mỏi của Đại úy Courmes trong công việc của chúng ta là điều mọi độc giả của văn học Thông Thiên Học đều biết.
CHAPTER VII—CHƯƠNG VII
PHENOMENA AND HEALING AT NICE—HIỆN TƯỢNG VÀ TRỊ LIỆU Ở NICE
ON the second day after arrival, H. P. B. and I went to Nice for a promised visit to Lady Caithness, Duchesse de Pomar; and Mohini and Padshah preceded us to Paris. Our hostess did everything within her power to make us feel at home in her Palais Tiranty, and to draw around H. P. B. the cream of the nobility that flock to the Riviera in the colder months. Daily they visited us to talk of Theosophy, and on most of the evenings there were meetings at which discussions and expositions were followed by light suppers, for the arrangement of which Lady Caithness had a special talent. If I was delighted by this first intimate view of Continental high life, H. P. B. was still more so in meeting, after many years of voluntary expatriation, her compatriots with whom she could talk Russian by the hour, and get news at first hand of the fortunes and misfortunes of families in whose intimacy her own had always dwelt. Iconoclast she may have been as to some things, but a more -enthusiastic Russian than she was never born, albeit she took out her naturalisation papers at New York and forswore allegiance to the Czar and all other monarchs or princes. I fancy she did that, as she did her two marriages, either as a caprice or for some occult reason not apparent on the surface.
Vào ngày thứ hai sau khi đến nơi, Bà H. P. B. và tôi đi Nice theo lời hẹn thăm Lady Caithness, Duchesse de Pomar; còn Mohini và Padshah đi trước chúng tôi đến Paris. Chủ nhà đã làm mọi điều trong khả năng để khiến chúng tôi cảm thấy như ở nhà trong Palais Tiranty của bà, và để quy tụ quanh Bà H. P. B. tinh hoa giới quý tộc đổ về Riviera trong những tháng lạnh. Mỗi ngày họ đến thăm chúng tôi để đàm đạo về Thông Thiên Học, và hầu hết các buổi tối đều có những cuộc họp, trong đó thảo luận và diễn giải được nối tiếp bằng những bữa dạ tiệc nhẹ—một khoản mà Lady Caithness có tài đặc biệt. Nếu tôi thích thú với lần đầu được nhìn cận cảnh đời sống thượng lưu Lục địa, thì Bà H. P. B. lại càng thích thú hơn khi, sau nhiều năm tự ý xa quê, được gặp các đồng bào mà với họ bà có thể trò chuyện tiếng Nga hàng giờ, và nhận tin tức trực tiếp về vận bỉ thịnh suy của những gia đình mà gia đình bà luôn thâm giao. Ở vài phương diện bà có thể là người bài trừ thần tượng, nhưng một người Nga say mê quê hương hơn bà thì chưa từng sinh ra, dẫu rằng bà đã làm thủ tục nhập tịch ở New York và thề từ bỏ sự thần phục Sa hoàng và mọi quân vương hay vương tử khác. Tôi đoán bà làm vậy, cũng như việc bà trải qua hai cuộc hôn nhân, hoặc là do bốc đồng, hoặc vì một nguyên do huyền bí nào đó không hiển lộ trên bề mặt.
[84]
[84]
We made two friends extremely well worth having, in Colonel and Mrs. Evans, of Cimiez, a couple who lived in a splendid villa, which was made for us altogether sunny by their cordial welcomes. We also met at Nice Madame Agathe Hæmmerle, of Russia, a lady of high culture, an astonishing linguist, and the regular correspondent of half the noted savants of Europe who give themselves to research in the different fields of Psychology. Then there was an evening with the astronomer Camille Flammarion, of the Paris Observatory, at that time a member of our Society. Two evenings were given in part to mesmeric experiments by M. Robert, the Parisian professional, which were very instructive; and on another occasion Mme. Hæmmerle and I attended a public lecture, with experiments, on the same subject, by Prof. Guidi, the Italian specialist. The disbelievers in thought-transference should be called upon to explain one of these experiments to which I was a party. The lecturer had two lady assistants, of whom one played the piano and the other was the mesmeric subject. He bade us notice the effect of the music on the latter—whom he had proved to us to be in a state of insensibility to pinches, pullings, and loud noises. He willed her to hear the music, and she responded in physical movements to every change in its character, expressing in highly dramatic postures the feeling appealed to for the moment. Pride, anger, mirthfulness, affection, disdain, defiance, terror, were successively portrayed by this cataleptical being, as though she had been [85] some musical instrument played upon by the pianist’s fingers. Signor Guidi then said that if any gentleman present wished to satisfy himself of the power of the subject to receive mental suggestions, he would be glad to give him the chance. I rose at once and offered myself for the experiment. The lecturer came over to me, told me that I must concentrate my thought at the moment when I wished to fix the subject in the pose in which she might be at the time, and when he was satisfied that I understood him, grasped my hand for a moment and then stood aside. The pianist was then told to resume her playing, and the hypnotised subject began once more her statuesque poses. I took one good look at her, after which I leaned my chin on my cane and turned my eyes downward, so that I could see her movements through my eyelashes, but she could not get any hint as to my purpose. I let her go on until, in expressing the feeling of sublimity, she was leaning backward, seemingly past the centre of gravity, and was kept from falling only by the contraction of the leg-muscles: it was a posture so difficult, that in the natural state one could scarcely have retained it a minute. Then, without making the smallest gesture or muscular contraction to show my object, I mentally ordered her to become rigid. She responded instantaneously; the thought had barely been formed in my mind before she caught and obeyed it. With her head thrown far back, her torso bent back from the hips at an oblique angle, her arms held at their full length pointing upward, her knees bent [86] forward, she seemed as immovable as if she were a statue of bronze. It was to me a most instructive experiment; the more so in that the mere clasping of my hand for a moment by the mesmeriser sufficed to put me in psychical rapport with his subject, without the speaking of a word by him or by me.
Chúng tôi kết giao được hai người bạn thật rất đáng quý, đó là Đại tá và Phu nhân Evans ở Cimiez, một đôi vợ chồng sống trong một biệt thự lộng lẫy, trở nên bừng nắng với những cuộc tiếp đón nồng hậu dành cho chúng tôi. Chúng tôi cũng gặp ở Nice Bà Agathe Hæmmerle, người Nga, một phụ nữ học vấn cao, một nhà ngôn ngữ kỳ tài, người thư tín đều đặn của không biết bao nhiêu học giả lừng danh khắp châu Âu—những người dấn thân vào nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của Tâm lý học. Rồi có một buổi tối cùng nhà thiên văn Camille Flammarion của Đài thiên văn Paris, lúc ấy là một hội viên của chúng ta. Hai buổi tối dành một phần cho các thí nghiệm thôi miên của Ông Robert, một nhà chuyên nghiệp Parisienne, rất bổ ích; và vào dịp khác, Bà Hæmmerle và tôi dự một bài giảng công khai kèm thí nghiệm cùng đề tài do Giáo sư Guidi, chuyên gia Ý, trình bày. Những người không tin vào truyền tư tưởng hẳn phải lý giải một trong các thí nghiệm này mà tôi trực tiếp tham dự. Diễn giả có hai trợ tá, một vị chơi piano và một vị là đối tượng thôi miên. Ông bảo chúng tôi lưu ý tác động của âm nhạc lên người sau—mà ông đã chứng minh là đang ở trạng thái không cảm giác với véo, kéo và tiếng động lớn. Ông dụng ý cho cô nghe âm nhạc, và cô đáp ứng bằng những cử động thân thể theo từng thay đổi tính chất của nhạc, biểu hiện bằng những tư thế rất kịch tính cảm xúc được khơi lên trong khoảnh khắc. Kiêu hãnh, giận dữ, hóm hỉnh, trìu mến, khinh miệt, thách thức, kinh hãi lần lượt được cô này—trong trạng thái cứng đờ—tái hiện như thể cô là [85] một nhạc cụ mà ngón đàn của người chơi piano đang điều khiển. Rồi Ngài Guidi nói rằng nếu quý ông nào có mặt muốn tự mình kiểm chứng năng lực tiếp nhận ám thị tâm linh của đối tượng, ông sẵn lòng tạo cơ hội. Tôi đứng dậy ngay và xung phong cho thí nghiệm. Diễn giả bước lại phía tôi, bảo rằng tôi phải tập trung tư tưởng đúng lúc khi muốn cố định đối tượng trong tư thế mà cô đang có vào thời điểm ấy, và khi chắc rằng tôi hiểu, ông nắm tay tôi một thoáng rồi lùi ra. Người chơi piano được bảo tiếp tục, và đối tượng bị thôi miên lại bắt đầu những tư thế như tượng. Tôi nhìn cô một cái thật kỹ, rồi tựa cằm lên gậy, hạ mắt xuống, sao cho tôi thấy được động tác của cô qua hàng mi, còn cô không thể nhận một manh mối nào về dụng ý của tôi. Tôi để cô tiếp tục cho đến khi, để biểu hiện cảm hứng hùng vĩ, cô ngả người ra sau, dường như vượt quá trọng tâm, và chỉ được giữ khỏi ngã nhờ sự co cứng của các cơ chân: đó là tư thế khó đến nỗi trong trạng thái tự nhiên hầu như chẳng ai giữ nổi một phút. Rồi, không hề có một cử chỉ hay co cơ nhỏ nào lộ ý định, tôi ra lệnh trong tâm cho cô hóa cứng bất động. Cô đáp ứng tức khắc; ý nghĩ vừa nảy trong óc tôi thì cô đã bắt được và tuân theo. Với đầu ngửa hẳn ra sau, thân trên bẻ về sau từ hông theo góc nghiêng, đôi tay duỗi thẳng chỉ lên cao, đầu gối [86] chùng về phía trước, cô trông bất động như một pho tượng đồng. Với tôi, đây là thí nghiệm cực kỳ bổ ích; lại càng bổ ích hơn vì chỉ cần diễn giả nắm tay tôi một thoáng đã đủ đặt tôi vào trạng thái liên thông tâm lý với đối tượng của ông, mà không cần một lời nói nào từ ông hay từ tôi.
The mention above of M. Robert’s experiments at the Palais Tiranty recalls to my mind a story that he told us, and which conveys a useful lesson to all mesmeric experimentators. He had a certain very good clairvoyant subject who, one time when he was asleep and lucid, told his mesmeriser that a certain jeweller’s shop in Nice would be entered by burglars on a certain night. Thereupon, Robert, seeing a fine chance to help the mesmerist party, and, very likely, to advertise his own business of Masseur, went to the jeweller, handed him his business card, and told him to take extra precautions against burglary on the night in question. The jeweller thanked him, but said that he did not believe much in clairvoyance, and that, in any case, his premises were quite secure against burglars. Yet it so happened that the predicted burglary actually was made at the time mentioned. Then there was a fine excitement, a running to the Prefect of Police, and the usual wailing on house tops. Ah! that address card of the mesmeriser—happy thought! He must have known something about it and tried to buy him off by the offer of a bribe, failing the receipt of which he had allowed his pals to do the burglary. So the card is taken to M. le Prefect, and the poor [87] innocent M. Robert summoned to come and stand an investigation. He went, was examined, and politely told that the Police were as incredulous as the jeweller about clairvoyance, and he must explain on some more reasonable and common-sense ground his fore-knowledge of the intended burglary. The wretched Robert managed to get off by citing a number of the most eminent personages in Nice to testify to his good character but he had to pack off secretly his equally innocent clairvoyant, to put him beyond the clutch of the Nice detectives. Perhaps these facts will give a valid reason for the extreme reluctance of every respectable mesmeriser to allow his clairvoyant to aid in the tracking of criminals and the unravelling of crimes. The narrow escape of H. P. B. from arrest in Russia for suspected complicity in a murder, the perpetrator of which she discovered clairvoyantly at her father’s request and the special solicitation of the District Inspector-General of Police, is familiar to many of her friends, and bears me out in the precautionary word I offer to all mesmerisers who are so fortunate as to have under their control a good clairvoyant, whose aid the Police would obtain:—DON’T.
Việc nhắc đến các thí nghiệm của Ông Robert tại Palais Tiranty khiến tôi nhớ một câu chuyện ông kể, chứa đựng một bài học hữu ích cho mọi người làm thí nghiệm thôi miên. Ông có một đối tượng thấu thị rất tốt, một lần khi đang ngủ và minh triết thì nói với người thôi miên của mình rằng một cửa hiệu kim hoàn ở Nice sẽ bị trộm đột nhập vào một đêm nhất định. Bấy giờ, Robert, thấy một dịp tốt để trợ giúp phong trào thôi miên, và rất có thể để quảng bá nghề nghiệp xoa bóp trị liệu của mình, bèn đến gặp chủ tiệm, đưa danh thiếp, và bảo ông ta đề phòng đặc biệt đêm ấy. Chủ tiệm cảm ơn, nhưng nói ông không tin mấy vào thấu thị, và dù sao thì cơ sở của ông đã an toàn trước bọn trộm. Ấy thế mà vụ trộm như dự báo đã xảy ra đúng thời điểm. Lập tức náo động, chạy đến dinh Ngài Tổng đốc Cảnh sát, và than khóc rền trời. À! tấm danh thiếp của nhà thôi miên—ý nghĩ tuyệt diệu! Hẳn ông ta biết gì đó và đã cố mua chuộc chủ tiệm bằng một món hối lộ, không được thì để mặc đám bạn đồng lõa đi ăn trộm. Thế là danh thiếp được mang đến trước M. le Prefect, và tội nghiệp [87] Ông Robert vô can bị triệu đến điều tra. Ông đi, bị thẩm vấn, và lịch sự được bảo rằng Cảnh sát cũng hoài nghi như ông kim hoàn về thấu thị, và ông phải giải thích trên một cơ sở hợp lý, thường thức hơn về việc biết trước vụ trộm. Khốn khổ thay, Robert thoát nạn bằng cách dẫn chứng một số nhân vật danh giá nhất ở Nice để làm chứng cho tư cách tốt của mình, nhưng ông phải bí mật cho đối tượng thấu thị vô tội của mình rời đi, để đưa anh ta ra ngoài tầm tay của thám tử Nice. Có lẽ những sự thật này sẽ cho một lý do chính đáng vì sao mọi nhà thôi miên đứng đắn đều cực kỳ ngần ngại khi để đối tượng thấu thị của mình giúp truy lùng tội phạm và gỡ rối các vụ án. Việc Bà H. P. B. suýt bị bắt ở Nga vì nghi đồng lõa trong một vụ giết người—kẻ thủ ác mà bà phát hiện bằng thấu thị theo lời thỉnh cầu của thân phụ bà và yêu cầu đặc biệt của Viên Tổng thanh tra Quận—là điều nhiều bằng hữu của bà đều biết, và xác nhận lời cảnh tỉnh mà tôi dành cho mọi nhà thôi miên may mắn có trong tay một đối tượng thấu thị giỏi mà Cảnh sát muốn nhờ vả:—ĐỪNG.
It so happened that the annual “Bataille des Fleurs” (Flower Carnival) came off while we were in Nice, and I was very glad to see one of the most charming ways in which the fashionable world contrives to kill time. The Duchess could not go out herself, but sent me, in charge of one of her lady friends, in her carriage to fall in with the procession. Almost every carriage [88] but ours was bedecked with flowers and garlands, and bunches of them adorned the horses. From every house fronting the street, flowers were showered down upon us; the sun shone resplendently, the bosom of the Mediterranean lay like a pavement of sapphires, the cool grey-greens of the olive orchards on the hilly slopes refreshed the eye, and all was joyous laughter, gay trifling, and prankish little tricks of flower-pelting along the route. A pretty Russian Countess up in a balcony asked, by dumb show, of her friend the lady by my side, who I was, and was answered with a mysterious nodding and winking to indicate that she should hear the facts later. She did, and no mistake: the mutual friend told her that I was the Governor of Madras and her affianced husband! The flower-battle was very pretty foolery, to be sure, yet a saddening spectacle; for one can realise, in seeing the round of childish amusements followed year after year in changeless monotony, how indisposed the higher circles are to think of serious things, how completely submerged in sensuous pleasures. Yet their religious feelings can be excited to even the point of frenzy by a great preacher or a great idea set in circulation at the right time. At this moment there are many women of the highest social rank, some even among the royalties, who read Theosophical literature and think the Theosophical things: this is a fact well known to me. A bit of leaven is working in the mass, and the influence will grow. But for the several scandals that have been attached to our movement since 1884, an open [89] connection with Theosophy would not be so shunned as it has been, and, to some extent, still is, by the European aristocracy and upper middle class. The greatest obstacle in our way, however, is the iron hold that social routine has upon those classes, and the almost hopeless submergence of the individual in the fashionable, time-killing, oblivion-seeking round of daily life. Apart from the crowd, these reading and thinking entities would be free to develop all the good in themselves: as it is, they are wasting this present incarnation.
Tình cờ lễ hội thường niên “Bataille des Fleurs” (Carnaval Hoa) diễn ra khi chúng tôi ở Nice, và tôi rất vui được thấy một trong những cách duyên dáng nhất mà thế giới thượng lưu bày ra để giết thời giờ. Nữ Công tước không thể ra ngoài, nhưng cho tôi mượn xe, giao cho một người bạn phu nhân hộ tống, để nhập vào đoàn rước. Hầu như mọi cỗ xe [88] ngoài xe chúng tôi đều trang trí hoa và tràng hoa, và ngựa cũng đeo bó hoa. Từ mọi căn nhà dọc phố, hoa tuôn rơi xuống chúng tôi; mặt trời rực rỡ, mặt Địa Trung Hải phẳng lặng như tấm ngọc bích, những sắc xanh xám mát mắt của vườn ô-liu trên sườn đồi làm dịu con mắt, và khắp chốn là tiếng cười vui, những đùa cợt hồn nhiên, và trò ném hoa dí dỏm dọc đường. Một nữ Bá tước Nga xinh đẹp trên ban công dùng ám hiệu hỏi người bạn phu nhân bên tôi rằng tôi là ai, và được đáp lại bằng những cái gật đầu, nháy mắt bí ẩn hàm ý rằng sau sẽ biết rõ. Cô đã biết, khỏi phải nghi ngờ: người bạn chung kể với cô rằng tôi là Thống đốc Madras và là vị hôn phu của cô! Trận “hoa chiến” quả là một thú vui ngộ nghĩnh, song cũng là một cảnh tượng gợi buồn; vì người ta có thể nhận ra, khi thấy chuỗi trò vui thơ trẻ được lặp lại năm này qua năm khác trong đơn điệu bất biến, rằng tầng lớp thượng lưu ít sẵn lòng nghĩ đến những điều nghiêm túc đến nhường nào, và họ chìm đắm đến mức nào trong khoái lạc giác quan. Vậy nhưng cảm thức tôn giáo của họ vẫn có thể bị đánh động đến cuồng nhiệt bởi một nhà giảng thuyết lớn hay một ý tưởng lớn được đưa vào đúng thời điểm. Lúc này có nhiều phụ nữ thuộc địa vị xã hội cao nhất, thậm chí một số trong hàng vương giả, đọc sách Thông Thiên Học và suy nghĩ theo đường hướng Thông Thiên Học: đây là điều tôi biết rõ. Một chút men đang làm dậy khối bột, và ảnh hưởng sẽ tăng trưởng. Nhưng nếu không vì vài vụ tai tiếng bám vào phong trào của chúng ta từ năm 1884, thì mối liên hệ công khai [89] với Thông Thiên Học đã không bị giới quý tộc và trung lưu thượng đẳng châu Âu ghét ngại như đã và, phần nào, vẫn còn. Trở ngại lớn nhất trên đường chúng ta, tuy nhiên, là gọng kìm sắt của nếp sinh hoạt xã hội bấu víu lên những tầng lớp ấy, và sự hầu như bất lực của cá nhân bị chìm nghỉm trong vòng quay thời thượng giết thời gian, tìm quên lãng của đời sống hằng ngày. Nếu tách khỏi đám đông, những thực thể biết đọc biết nghĩ này sẽ được tự do để phát triển mọi điều thiện trong chính họ: còn như hiện tại, họ đang phung phí kiếp lâm phàm này.
Although I thought, before leaving Adyar, that I had done with my healings, I let myself be tempted to take, at H. P. B.’s request, the cases of three Russian ladies whom we met at Lady Caithness’ house on the evening of 25th March—a Princess, a Countess, and a Baroness: the second, a cousin of H. P. B.’s; the last-named, one of her playmates in childhood. The Princess had a stubborn remnant of a stroke of hemiplegia, which, since twelve years, had prevented her raising her left hand to her head and using her left foot properly. Within a half-hour I freed both limbs from their bonds. The Countess was extremely deaf: after a treatment of fifteen minutes she could hear ordinary conversation, and was enchanted to he able to enjoy the music of a concert that evening, as she had not for years. The third lady I relieved of a minor spinal trouble. H. P. B. and I left Nice for Paris, March 27, many of our new friends seeing us off at the station.
Dầu tôi đã tưởng, trước khi rời Adyar, rằng mình đã kết thúc việc trị liệu, tôi vẫn để mình bị cám dỗ nhận, theo yêu cầu của Bà H. P. B., ba ca của ba phu nhân Nga mà chúng tôi gặp tại nhà Lady Caithness tối 25 tháng Ba—một Công chúa, một Nữ Bá tước và một Nữ Nam tước: người thứ hai là chị em họ của Bà H. P. B.; người thứ ba là bạn chơi thuở nhỏ của bà. Vị Công chúa bị di chứng ngoan cố của chứng liệt nửa người, suốt mười hai năm đã khiến bà không thể giơ tay trái lên đầu và dùng chân trái đúng cách. Trong vòng nửa giờ tôi đã giải phóng cả hai chi khỏi ràng buộc. Nữ Bá tước bị điếc nặng: sau mười lăm phút trị liệu bà đã nghe được đàm thoại bình thường, và vô cùng hân hoan vì có thể thưởng thức âm nhạc buổi hòa nhạc tối hôm ấy như bấy lâu không thể. Vị phu nhân thứ ba tôi đã làm nhẹ chứng bệnh cột sống nhẹ. Bà H. P. B. và tôi rời Nice đi Paris ngày 27 tháng Ba, nhiều bạn mới tiễn chúng tôi ở ga.
[90]
[90]
We reached Marseilles at 9.30 p.m., and Paris the next evening at 11 p.m. Mohini, Dr. Thurman, F.T.S., and W. Q. Judge—who had left New York for India—met us at the station and conducted us to our apartments at 46 Rue Notre Dame des Champs, which Lady Caithness had hired for us, and H. P. B. occupied, three months. Visitors thronged, and a multitude of questions were asked about our Society and its aims. It had then about 100 Branches or a sixth of its present strength. The Parisian Press, always in search for sensations, gave us many columns of notices; Victor Hugo’s organ, Le Rappel, leading off with an article of three columns on “The Buddhist Mission to Europe”.
Chúng tôi đến Marseilles lúc 9 giờ 30 tối, và Paris tối hôm sau lúc 11 giờ. Mohini, Bác sĩ Thurman, F.T.S., và W. Q. Judge—người đã rời New York đi Ấn Độ—đón chúng tôi ở ga và đưa về căn hộ tại số 46 Rue Notre Dame des Champs, do Lady Caithness thuê cho chúng tôi, và Bà H. P. B. ở đó ba tháng. Khách khứa dập dìu, và muôn câu hỏi được nêu về Hội của chúng ta và mục đích của nó. Khi ấy Hội có khoảng 100 Chi bộ, tức một phần sáu sức mạnh hiện nay. Báo chí Paris, luôn săn lùng cảm giác mạnh, đã dành cho chúng tôi nhiều cột bài; cơ quan ngôn luận của Victor Hugo, tờ Le Rappel, mở đầu bằng một bài ba cột về “Phái đoàn Phật giáo đến châu Âu”.
Our old Albany friends, Dr. and Mrs. Ditson, we found living in Paris, and the Doctor and I went together to see the famous healer, Zouave Jacob, a few days after our arrival. The exceptional healing power of this man was first exhibited during the Second Empire, and the Press of Europe and America teemed for years with stories of his wonders. We were courteously welcomed, M. Jacob saying that he knew me by reputation as a founder of the T.S. and a healer. He was a spare man of medium size, lithe, active, and full of nervous force, with his hair cut short, black firm eyes, and a black moustache; he was dressed in black, his frock-coat buttoned, his linen scrupulously clean. He led us to his clinic room—a long narrow basement chamber, with a bench against the walls all around. On the average he was treating fifty [91] atients a day, and having been at the work twenty years, there must have passed through his rooms some 300,000 patients. I was much struck with his method. At the appointed hour the entrance door would be closed, the patients seated on the benches, and in silence, and with an air of solemnity, Zouave would enter and take his stand, with arms folded, at the centre of the lower end near the door. After a moment of meditation, he would raise his head and slowly glance at every patient, letting his eyes rest on every face deliberately and scrutinisingly. Then, beginning with the nearest on his left hand, he would stop in front of him and gaze as if trying to look his body through; then he would perhaps touch him in some part, or not, as the case might be, and ask: “Est-ce là?” (Is it there?), and upon receiving the affirmative reply, would give some order, or make a pass or two, or let the hand rest on the affected part, and either let the patient stop, or send him away and pass on to the next. Sometimes, after gazing at a patient, he would shake his head and say: “Rien! Allez,” intimating that he could do nothing and the patient should go away. So he would move around the whole room, always silent, grave, impressive; effecting many cures, rejecting some cases, directing others to return the next day for further treatment, taking no fees, but trusting for his support to sales of his photograph and literature. A striking personality, a rather vain man, bitterly resenting the petty persecutions of the doctors of medicine and [92] the priests, which had followed him throughout his career. I had—it will be remembered—but just completed my fifteen months of healings, and his method greatly impressed me with its efficacy and simplicity. It was pure hypnotic suggestion, and called for no outpouring of the healer’s own vitality as mine had done. His impassive calm and mysterious insight into symptoms, the silence maintained, the gliding noiselessly from patient to patient; the joyful words and expressions of such as were relieved of pains in the sight of all, combined to create a vivid expectancy, which his repute as a great healer intensified, and effected spontaneous cures at the moment when his pointing finger touched the spot of suffering. The one indispensable factor was that he should show in his every motion and whole demeanor a sense of absolute self-confidence as the Master of Pain. It was collective auto-suggestion, the mighty power that helps General Booth and all great revivalists to “convert” their thousands and tens of thousands. In fact, the method of the Salvation Army is one of the most effective hypnotising agencies ever adopted. Last summer I saw it used to perfection by Booth himself in Exeter Hall, and seventy-five subjects drawn by Braid’s and Charcot’s system to the “anxious bench”. The rhythmic pounding of the big drums and swells and falls of the music were identical in potency with that of the tap of the huge tambourines of the Aïssouas in their blood-curdling hypnotic phenomena.[93] The next day Dr. Ditson and I called on another healer, a spiritualist medium named Eugene Hippolyte, fils, who was said to have made many cures under “control”. He was a large, sallow-complexioned man, and on testing him, with his consent, I found him quite sensitive to my mesmeric control—a patient whom I could have relieved of almost any functional disorder in two or three treatments. We then paid our respects to still another, M. Adolphe Didier, brother of the very celebrated “Alexis,” whose marvellous clairvoyant faculty is historical. M. Adolphe had only recently resumed residence in Paris after many years spent in London in practice as a medical clairvoyant. He gave me his brother’s address and we called on him, but had no opportunity of witnessing a display of his powers.
Những người bạn cũ ở Albany của chúng tôi, Bác sĩ và Phu nhân Ditson, khi ấy sống tại Paris, và vài ngày sau khi chúng tôi đến nơi, Bác sĩ và tôi cùng nhau đi thăm nhà trị liệu trứ danh Zouave Jacob. Năng lực trị liệu phi thường của người này lần đầu bộc lộ vào thời Đệ Nhị Đế chế, và báo chí châu Âu lẫn châu Mỹ tràn ngập suốt nhiều năm những câu chuyện về phép lạ của ông. Chúng tôi được tiếp đón nhã nhặn, Ông Jacob nói ông biết tôi qua danh tiếng như là một người sáng lập T.S. và một nhà trị liệu. Ông ta tầm thước, mảnh khảnh, dẻo dai, tràn trề lực thần kinh, tóc cắt ngắn, mắt đen cứng cỏi, ria mép đen; ăn mặc đồ đen, áo choàng cài khuy, cổ tay ao trắng tinh tươm. Ông dẫn chúng tôi vào phòng khám—một gian tầng trệt dài, hẹp, có băng ghế dọc tường quanh phòng. Trung bình ông chữa [91] bệnh nhân mỗi ngày năm mươi người, và vì đã làm việc hai mươi năm, hẳn đã có chừng 300.000 người đi qua phòng ông. Tôi rất ấn tượng với phương pháp của ông. Đến giờ hẹn, cửa vào đóng lại, bệnh nhân ngồi trật tự trên ghế băng, và trong im lặng, với vẻ trang nghiêm, Zouave bước vào và đứng, khoanh tay, ở giữa đầu dưới gần cửa. Sau một khoảnh khắc tĩnh niệm, ông ngẩng đầu và chầm chậm liếc nhìn từng bệnh nhân, để mắt dừng lần lượt trên từng gương mặt một cách cố ý, dò xét. Rồi, bắt đầu từ người gần nhất bên tay trái, ông dừng trước người ấy và nhìn như muốn xuyên thân thể họ; có khi ông chạm vào một bộ phận nào đó, hoặc không, tùy trường hợp, và hỏi: “Có phải chỗ đó không?”, và khi nhận được lời xác nhận, sẽ đưa ra chỉ dẫn nào đó, hoặc phẩy tay đôi ba cái, hoặc để bàn tay đặt trên chỗ đau, và hoặc cho bệnh nhân ở lại, hoặc bảo về, rồi chuyển sang người kế tiếp. Đôi khi, sau khi nhìn một bệnh nhân, ông lắc đầu và nói: “Không có gì! Đi đi”, hàm ý ông không làm gì được và bệnh nhân nên ra về. Cứ thế ông đi vòng quanh cả phòng, lúc nào cũng lặng lẽ, trịnh trọng, gây ấn tượng; chữa lành nhiều ca, từ chối vài ca, chỉ định một số ca trở lại hôm sau để trị tiếp, không thu phí, mà sống nhờ bán ảnh và tài liệu của mình. Một nhân cách gây ấn tượng mạnh, có phần tự phụ, cay đắng uất ức vì những cuộc quấy nhiễu lặt vặt của bác sĩ y khoa và [92] giáo sĩ bám theo suốt sự nghiệp. Tôi—xin nhắc—vừa kết thúc mười lăm tháng hành y trị liệu, và phương pháp của ông khiến tôi ấn tượng sâu sắc bởi hiệu lực và sự giản dị. Đó là ám thị thôi miên thuần túy, không đòi hỏi người chữa phải tuôn đổ sinh lực của chính mình như tôi đã làm. Vẻ bình thản bất động và khả năng thấu triệt bí ẩn vào triệu chứng, sự im lặng duy trì, dáng lướt nhẹ từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác; lời mừng rỡ và nét mặt của những người được giải thoát khỏi đau đớn ngay trước mắt mọi người—tất cả hợp lại tạo nên một kỳ vọng sống động, được danh tiếng nhà trị liệu vĩ đại của ông gia cường, và gây nên những ca tự động bình phục đúng lúc ngón tay chỉ của ông chạm vào chỗ đau. Yếu tố bất khả thiếu là ông phải biểu lộ trong từng động tác và toàn bộ phong thái một cảm thức tự tin tuyệt đối như là Bậc làm chủ nỗi đau. Ấy chính là tự ám thị tập thể, năng lực hùng hậu giúp General Booth và tất cả bậc đại phục hưng “cải hóa” hàng ngàn và hàng chục ngàn người. Quả thật, phương pháp của Đội quân Cứu thế là một trong những phép thôi miên hữu hiệu nhất từng được áp dụng. Mùa hè rồi tôi thấy nó được dùng đến mức tuyệt xảo bởi chính Booth tại Exeter Hall, và bảy mươi lăm người bị cuốn hút theo phương pháp của Braid và Charcot đến “hàng ghế lo âu”. Nhịp giã dồn của đại cổ và những cơn dâng trào rồi lắng xuống của âm nhạc đồng nhất về uy lực với tiếng đập của những chiếc tambourines khổng lồ của phái Aïssouas trong những hiện tượng thôi miên rợn người. [93] Hôm sau, Bác sĩ Ditson và tôi đến thăm một nhà trị liệu khác, một đồng tử thần linh học tên Eugene Hippolyte, fils, được nói là đã chữa lành nhiều ca dưới “kiểm soát”. Ông ta là người to con, da tái, và khi kiểm nghiệm với sự đồng ý của ông, tôi thấy ông rất nhạy với ảnh hưởng thôi miên của tôi—một bệnh nhân mà tôi có thể đã làm dịu khỏi hầu hết các rối loạn chức năng chỉ trong hai hay ba liệu trình. Rồi chúng tôi đến thăm một vị nữa, Ông Adolphe Didier, em trai của “Alexis” rất lừng danh, người mà năng lực thấu thị kỳ diệu đã đi vào lịch sử. Ông Adolphe chỉ mới gần đây trở lại ở Paris sau nhiều năm hành nghề thấu thị y học tại Luân Đôn. Ông cho tôi địa chỉ của anh trai, và chúng tôi đến thăm, nhưng không có dịp chứng kiến màn biểu diễn năng lực của ông.
Meetings for conversation and discussion were being held by H. P. B. and myself at the houses of Lady Caithness and other friends, some of the results of which her ladyship has embodied in her work, The Mystery of the Ages.
Các buổi đàm đạo và thảo luận được Bà H. P. B. và tôi tổ chức tại nhà Lady Caithness và những bằng hữu khác, một phần kết quả của các buổi ấy đã được bà ghi lại trong tác phẩm The Mystery of the Ages.
CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII
A STRUGGLE IN THE LONDON LODGE, T.S.—MỘT CUỘC TRANH CHẤP TRONG HỘI QUÁN LONDON, T.S.
ON the 5th of April I left H. P. B. and took the train for London with Mohini M. Chatterji. As a serious dispute had grown up in the London Lodge between Mrs. Anna Kingsford, Mr. Edward Maitland, and their party, on the one hand, and Mr. Sinnett and the rest of the members, on the other, about the comparatively superior value of the Indian teachings as compared with the Christo-Egyptian teachings which she was giving out, and as it lay with me to settle it or see the members divided into two camps, as it were, I had issued from Nice a circular to each registered member of the London Lodge, asking them to send me, separately to Paris, in confidence, their views respectively on the situation. These letters I had brought with me to read in the train. I had just come to a passage in the letter of Bertram Keightley, where he affirmed his entire confidence that the Masters would order all things well, when, from the roof of the railway carriage, above Mohini’s head, a letter came fluttering down. It proved to be addressed to me and to be in the K. H. handwriting, giving me necessary advice for the treatment of the difficulty.[95]
Ngày 5 tháng Tư tôi rời Bà H. P. B. và lên tàu đi Luân Đôn cùng Mohini M. Chatterji. Vì trong Hội quán London đã nảy sinh một cuộc tranh chấp nghiêm trọng giữa Bà Anna Kingsford, Ông Edward Maitland và phe của họ, một bên, và Ông Sinnett cùng những hội viên khác, bên kia, về giá trị so sánh giữa các giáo huấn Ấn Độ và các giáo huấn theo hướng Kitô–Ai Cập mà bà đang truyền bá; và vì việc dàn xếp hay để các hội viên phân hóa thành hai phe như thể đối đầu nhau nằm ở tôi, nên tôi đã gửi từ Nice một thông tư đến từng hội viên đăng ký của Hội quán London, yêu cầu họ gửi riêng cho tôi, về Paris, trong vòng tin cậy, quan điểm của họ về tình hình. Những bức thư này tôi mang theo để đọc trên tàu. Tôi vừa đọc đến một đoạn trong thư của Bertram Keightley, nơi ông bày tỏ niềm tin trọn vẹn rằng các Chân sư sẽ sắp xếp ổn thỏa mọi việc, thì từ mái toa xe lửa, ngay trên đầu Mohini, một bức thư bay phất phơ rơi xuống. Hóa ra thư đề gửi cho tôi và viết bằng bút tích của Chân sư K. H., trao cho tôi lời khuyên cần thiết để xử lý khó khăn. [95]
It was as if intended as a marked response to the loyal thought of the writer of the letter I was reading at the moment. I wish that everybody in the Society could realise how certain it is that those Great Brothers who are behind our work keep a vigilant eye upon all of us who with a pure heart and unselfish mind throw our energies into it. What more comforting than to know that our labors are not in vain nor our aspirations unheeded?
Hệt như một sự đáp ứng được đánh dấu cho tư tưởng trung kiên của người viết bức thư mà tôi đang đọc đúng lúc ấy. Ước chi mọi người trong Hội đều nhận ra điều chắc chắn này: rằng những Huynh Trưởng Cao Cả đứng đằng sau công việc của chúng ta luôn dõi mắt cảnh tỉnh trên tất cả những ai với trái tim thanh khiết và tâm trí vô kỷ dốc sức vào đó. Còn gì an ủi hơn khi biết rằng nỗ lực của chúng ta không uổng và khát vọng của chúng ta không bị bỏ qua?
The trouble in our London Lodge, like all such misunderstandings, tended to increase and ultimately to disrupt the once harmonious group. It was imperative that I should put a stop to it, if possible, and this was my principal business in going over to London. If I had had the least doubt of it before, it would have been dispelled by a letter which I received phenomenally in my cabin on board the “Shannon,” the day before we reached Brindisi, and in which it was said:
Rắc rối trong Hội quán London của chúng ta, như mọi hiểu lầm tương tự, có xu hướng leo thang và rốt cuộc làm tan vỡ một nhóm từng hòa thuận. Tôi buộc phải chặn đứng nó, nếu có thể, và đó là công việc chính của tôi khi sang Luân Đôn. Nếu trước đó tôi còn chút nghi ngờ, thì nó đã bị xua tan bởi một bức thư mà tôi nhận được theo lối hiện tượng trong cabin của mình trên tàu “Shannon”, một ngày trước khi chúng tôi tới Brindisi, trong đó viết:
“Put all needed restraint upon your feelings, so that you may do the right thing in this Western imbroglio. Watch your first impressions. The mistakes you make are from failure to do this. Let neither your personal predilections, affections, suspicions, nor antipathies affect your action. Misunderstandings have grown up between Fellows, both in London and Paris, which imperil the interests of the movement... try to remove such misconceptions as you will find, by kind persuasion and an appeal to the feeling of loyalty to the cause of truth, [96] if not to us. Make all these men feel that we have no favorites, nor affections for persons, but only for their good acts and for humanity as a whole.”
“Hãy đặt mọi kiềm chế cần thiết lên cảm xúc của anh, để anh có thể làm điều đúng trong mớ rối rắm Tây phương này. Hãy quan sát ấn tượng đầu tiên của anh. Những sai lầm anh mắc phải là do không làm điều này. Đừng để thiên kiến cá nhân, tình cảm, nghi ngờ hay ác cảm chi phối hành động của anh. Những hiểu lầm đã nảy sinh giữa các Huynh đệ, cả ở London lẫn Paris, đe dọa quyền lợi của phong trào... hãy cố gắng loại bỏ những ngộ nhận mà anh sẽ gặp bằng cách khuyên nhủ ôn hòa và kêu gọi cảm thức trung thành với lý tưởng chân lý, [96] nếu không thì với chúng ta. Hãy làm cho tất cả những người này cảm nhận rằng chúng ta không có kẻ được ưu ái, cũng không có tình dành cho cá nhân, mà chỉ dành cho những hành động tốt của họ và cho nhân loại nói chung.”
A great truth was stated in this same letter, viz.: “one of the most valuable effects of Upasika’s (H.P.B.’s) mission is that it drives men to self-study, and destroys in them blind servility to persons.” What a pity that some of her most ardent disciples could not have realised this, for they would have been spared the bitter pain that has been caused them and all of us by the many successful exposures of her defects of character, by opponents who accepted their foolish challenge and proved her to be the reverse of infallible. She was great enough and had quite sufficient claims upon our gratitude, without our trying to make of her a goddess, immaculate and unerring.
Một chân lý lớn đã được nêu trong chính bức thư này, rằng: “một trong những hiệu quả quý giá nhất của sứ mệnh của Upasika (H.P.B.) là thúc đẩy con người tự học, và tiêu hủy nơi họ thói nô phục mù quáng đối với cá nhân.” Tiếc thay, một vài môn đồ nhiệt thành nhất của bà đã không nhận ra điều này, bởi thế họ đã không tránh khỏi nỗi đớn đau cay đắng đã giáng xuống họ và tất cả chúng ta vì nhiều cuộc phơi bày thành công những khiếm khuyết tính cách của bà, bởi đối phương—những người đã nhận lời thách thức dại dột và chứng minh rằng bà chẳng hề vô ngộ. Bà đủ vĩ đại và có thừa những quyền đòi hỏi lòng tri ân của chúng ta, không cần chúng ta cố biến bà thành một nữ thần vô nhiễm, vô sai.
In the London struggle in our Branch I had to deal with a learned, clever, self-confident woman, ambitious and eccentric: a unique personality, who believed herself the angel of a new religious epoch, the reincarnation of Hermes, Joan of Arc, and other historic characters. By canvassing the opinions of all the registered members of the London Lodge, T.S., I had ascertained that as between her teachings and those of the Indian sages, the verdict was almost unanimous against her. It was not that they did not appreciate her great qualities as they deserved, but that they valued those of the Masters more. Perhaps, also, they found her inclined to be too masterful for British notions. The first step was naturally to call [97] on her, which I did. I cannot say I altogether liked her, although it did not take many minutes for me to gauge her intellectual power and the breadth of her culture. There was something uncanny to me in her views about human affection. She said she had never felt love for a human being; that people had told her, before her child was born, to wait its appearance and she would feel the great gush of mother-love and the fountains of her affection would be unsealed: she had waited, the child had been shown her, but her only feeling was the wish that they should take it away out of her sight! Yet she lavished excessive love on a guinea-pig, and, in his Life of Anna Kingsford, Mr. Maitland’s splendid pen has made us all see, as in a mental kinematograph, his great colleague carrying the little beast around with her travels, lavishing on it her caresses, and keeping the anniversary of its death as one does that of a near relative.
Trong cuộc tranh chấp ở Chi bộ Luân Đôn, tôi phải đối mặt với một phụ nữ uyên bác, thông minh, tự tin, nhiều tham vọng và lập dị: một cá tính độc đáo, tin rằng mình là thiên sứ của một thời đại tôn giáo mới, là hóa thân của Hermes, Jeanne d’Arc và những nhân vật lịch sử khác. Qua việc thăm dò ý kiến của tất cả hội viên đăng ký của Hội quán London, T.S., tôi đã xác định rằng, giữa giáo huấn của bà và giáo huấn của các bậc hiền triết Ấn Độ, phán quyết hầu như nhất trí chống lại bà. Không phải vì họ không đánh giá đúng đắn những phẩm chất lớn lao của bà, mà vì họ xem trọng những phẩm chất của các Chân sư hơn. Có lẽ nữa, họ thấy bà có khuynh hướng quá áp chế so với quan niệm của người Anh. Bước đầu tiên dĩ nhiên là [97] đến thăm bà, và tôi đã làm vậy. Tôi không thể nói là tôi hoàn toàn ưa bà, tuy chỉ ít phút cũng đủ để tôi đo được sức mạnh trí tuệ và bề dày học vấn của bà. Có điều gì đó khiến tôi thấy không an tâm trong quan niệm của bà về tình cảm con người. Bà nói bà chưa bao giờ cảm thấy tình yêu đối với một con người; rằng người ta từng bảo bà, trước khi con bà ra đời, hãy đợi đến lúc ấy thì bà sẽ cảm thấy dòng thác tình mẫu tử trào dâng và suối nguồn thương mến của bà sẽ được mở ra: bà đã đợi, đứa trẻ được đưa cho bà nhìn, nhưng cảm giác duy nhất của bà là muốn họ mang nó đi khuất khỏi mắt bà! Vậy mà bà lại tuôn đổ tình yêu thái quá vào một con chuột lang, và, trong cuốn Đời sống của Anna Kingsford, ngòi bút tuyệt diệu của Ông Maitland đã khiến tất cả chúng ta nhìn thấy, như trong một máy chiếu phim tinh thần, vị cộng sự vĩ đại của ông bồng bế con vật bé nhỏ nay đây mai đó với mình, vỗ về âu yếm nó, và giữ ngày giỗ của nó như người ta kỷ niệm ngày mất của một thân nhân gần gũi.
The annual election of officers by the London Lodge was to come off on the following day, so I had no time to lose. I made Mrs. Kingsford the offer to give her a charter for a separate Branch of her own, to be called The Hermetic T.S., first having discussed it with Mr. C. C. Massey, her sincere friend and mine. The offer was accepted, and the election passed off harmoniously; Mr. G. B. Finch being chosen President, Mr. Sinnett, Vice-President and Secretary, and Miss Arundale, Treasurer. Things were proceeding smoothly, in the usual manner, when they were interrupted by the sensational appearance of H.P.B., whom I had [98] left in Paris, but who took a flying trip so as to be present at this meeting. The Kingsford-Maitland party, who had notified me in advance that they would not be candidates for re-election to office in the London Lodge, T.S., presented me, before leaving, a formal application for a chapter for the new Branch, which I promised to grant. On the 9th (April) the meeting for organisation was held at the chambers of Mr. Massey, and the “Hermetic Lodge, T.S.” became an established fact. Besides Mrs. Kingsford, Mr. Maitland, Mr. Kirby, and Mr. Massey, there were present Lady Wilde, her sons Oscar and William, and the wife and daughters of the late Dr. Keneally. These three ladies applied for, and were admitted into, membership. Mohini M. Chatterji accompanied me, and made one of the excellent addresses on the occasion.
Cuộc bầu cử thường niên các viên chức của Chi bộ Luân Đôn sẽ diễn ra vào ngày hôm sau, nên tôi không còn thời gian để chần chừ. Tôi đề nghị với Bà Kingsford sẽ cấp cho Bà một văn thư công nhận để lập một Chi hội riêng, gọi là T. S. Huyền bí, sau khi đã bàn bạc trước với Ông C. C. Massey, người bạn chân thành của Bà và của tôi. Đề nghị được chấp thuận và cuộc bầu cử diễn ra êm thắm; Ông G. B. Finch được chọn làm Chủ tịch, Ông Sinnett làm Phó Chủ tịch kiêm Thư ký, và Cô Arundale làm Thủ quỹ. Mọi việc đang tiến hành trôi chảy như thường lệ thì bị gián đoạn bởi sự xuất hiện đầy giật gân của H. P. B., người mà tôi [98] đã để lại ở Paris, nhưng Bà đã “đi chớp nhoáng” để có mặt tại kỳ họp này. Phái Kingsford–Maitland, vốn đã báo trước với tôi rằng họ sẽ không tái ứng cử chức vụ trong Chi bộ Luân Đôn, T. S., trước khi rời đi đã đệ trình cho tôi đơn xin chính thức một hiến chương cho Chi hội mới, điều mà tôi hứa sẽ cấp. Ngày 9 (tháng Tư) cuộc họp tổ chức được tiến hành tại phòng làm việc của Ông Massey, và “Chi bộ Huyền bí, T. S.” trở thành một thực thể đã được thiết lập. Ngoài Bà Kingsford, Ông Maitland, Ông Kirby và Ông Massey, còn có mặt Phu nhân Wilde, hai con trai Bà là Oscar và William, cùng vợ và các con gái của Cố Bác sĩ Keneally. Ba quý bà này nộp đơn và được kết nạp làm hội viên. Mohini M. Chatterji đi cùng tôi và có một trong những bài diễn thuyết xuất sắc trong dịp này.
On the Easter Sunday I went with Miss Arundale and Mohini to Westminster Abbey to hear a preacher of high repute, and then to the Central Hall and Barracks of the Salvation Army. We all gave the palm to Mrs. Booth and the other speakers who followed her, over the stately and soulless inanity of the fashionable Abbey priest, whose discourse had not warmth enough in it to vitalise an amœba, whereas those of the others boiled over with fervor. The Kingdom of Heaven will never be carried in white bands and cassocks, unless the man they hide be a bit more like “flames of fire” than like a boxful of dictionary words and rhetorical phrases.
Vào Lễ Phục Sinh, tôi cùng Cô Arundale và Mohini đến Tu viện Westminster nghe một nhà giảng đạo danh tiếng, rồi đến Đại Sảnh và Trại của Đội Cứu Thế. Tất cả chúng tôi đều tôn vinh Bà Booth và các diễn giả theo sau Bà, vượt trội hẳn so với sự vô vị vô hồn đầy kiểu cách của vị linh mục thời thượng ở Tu viện, người có bài giảng còn không đủ hơi ấm để làm sinh khí cho một con amip, trong khi lời của những người kia thì sôi sục nhiệt thành. Nước Trời sẽ chẳng bao giờ được mang đi trong những dải băng trắng và áo lễ giáo sĩ, trừ phi người mà chúng che khuất giống “những ngọn lửa” hơn là một chiếc hộp đầy chữ trong từ điển và những câu khoa trương tu từ.
[99]
[99]
The change from the tropical heat of India to the bitter winds and damp days and nights of London, and the lack of warm clothing, laid me up with a pleuritic cold for two or three days and might have been more serious but for the unselfish care of Mrs. and Miss Arundale, my hostesses, who were kindness personified. Out again on the 16th, I was given a dinner at the Junior Athenæum Club by Mr. W. H. Coffin, of the Society for Psychical Research. He had bidden to meet me Messrs. W. Crookes, F. R. S.; Prof. W. F. Barrett, F.R.S.E.; Co1. Hartley, LL.D.; H.J. Hood; A. P. Sinnett; F. Podmore, M.A.; Edward Pease; Rev. Dr. Taefel; F. W. H. Myers; and Edmund Gurney. Truly a brilliant company of scholars and literati! This was in the early pre-Coulombian days, when the Theosophical Society had not been declared taboo, and H. P. B. had not been branded by the S. P. R. as the most accomplished and dangerous charlatan of the present world-period!
Sự chuyển đổi từ cái nóng vùng nhiệt đới của Ấn Độ sang gió buốt và những ngày đêm ẩm lạnh của Luân Đôn, cộng thêm thiếu áo ấm, khiến tôi nằm liệt vì cảm lạnh kiểu viêm màng phổi trong hai, ba ngày và lẽ ra đã nghiêm trọng hơn nếu không có sự chăm sóc vô tư lợi của Bà và Cô Arundale, hai bà chủ nhà của tôi, hiện thân của lòng tốt. Ra ngoài trở lại vào ngày 16, tôi được Ông W. H. Coffin, thuộc Hội Nghiên Cứu Thông linh, mời dự tiệc tại Câu lạc bộ Junior Athenæum. Ông đã mời đến gặp tôi các Ông W. Crookes, F. R. S.; Giáo sư W. F. Barrett, F.R.S.E.; Đại tá Hartley, LL.D.; H. J. Hood; A. P. Sinnett; F. Podmore, M.A.; Edward Pease; Mục sư Tiến sĩ Taefel; F. W. H. Myers; và Edmund Gurney. Quả là một nhóm rực rỡ của các học giả và văn sĩ! Đây là thời kỳ tiền-Coulomb, khi Hội Thông Thiên Học chưa bị tuyên bố cấm kị, và H. P. B. chưa bị S. P. R. đóng dấu là kẻ lừa bịp lão luyện và nguy hiểm nhất của thời kỳ thế giới hiện tại!
On the 17th Mohini and I visited the laboratory of Mr. Crookes, and were shown a variety of most interesting experiments. The next day we two and Mr. Sinnett dined at a private house, where Mohini saw for the first time a lady partisan of the Esthetic Reform movement, dressed in the utterly absurd style of costume affected by that body of cranks, and having her hair tousled, like a rat’s nest, all over her head, and far too much of her bust exposed to suit our Hindu’s notions of decency. As luck would have it, she was given to Mohini to take in to dinner. He glanced at me [100] hopelessly, not knowing what was expected of him, with a strange expression of eye that I could not make out and had no time to inquire into at the moment. When we were driving home, later, in the cab, the mystery was explained in a way that was nearly the death of me. “That lady that I took in to dinner,” said he, “does she sometimes get dangerous?” “Dangerous? What do you mean?” I replied. “Why, she is insane, isn’t she? She must be. She asked me at the table if we ever laughed in India! It was when you were telling that comical story, at which they all roared. The fact is, I kept my eyes all the while fixed on my plate, lest by catching hers I might send her off into a paroxysm and she might use one of the knives beside her plate: how could I laugh? Don’t you think it was inhospitable in them to put such a lady in my charge without telling me what to do in case a fit should come on?” He said this in perfect sincerity, and stared in astonishment when I burst into fits of laughter; which made it worse than ever for me. He was much relieved when I at last was able to explain matters, and assured me that he thought the lady was a mad relative of the family, who was, perhaps, harmless, ordinarily, but subject to recurrent crises of the nerves, and was “allowed to dress like that to keep her quiet “.
Ngày 17, Mohini và tôi thăm phòng thí nghiệm của Ông Crookes và được xem một loạt thí nghiệm thú vị nhất. Hôm sau, hai chúng tôi và Ông Sinnett dự bữa tối ở một tư gia, nơi Mohini lần đầu nhìn thấy một quý bà tham gia phong trào Cải cách Thẩm mỹ, ăn mặc theo kiểu y phục hết sức ngớ ngẩn mà nhóm người lập dị đó chuộng, tóc rối bù như ổ chuột trên khắp đầu, và phần ngực phô bày quá mức so với quan niệm đoan trang của người Ấn của chúng ta. Trớ trêu thay, Bà ấy lại được xếp cho Mohini dẫn vào bàn ăn. Y liếc nhìn tôi [100] đầy tuyệt vọng, không biết mình phải làm gì, với một ánh mắt lạ lùng mà tôi không hiểu nổi và cũng không có thời gian hỏi ngay lúc đó. Khi sau đó chúng tôi ngồi xe ngựa về nhà, điều bí ẩn được giải thích theo một cách suýt nữa làm tôi chết vì cười. “Quý bà mà tôi dẫn vào bàn ăn,” y nói, “Bà ấy có khi nào trở nên nguy hiểm không?” “Nguy hiểm ư? Ý anh là gì?” tôi đáp. “Ơ kìa, Bà ấy bị điên, phải không? Hẳn là vậy. Bà ấy hỏi tôi trên bàn ăn rằng ở Ấn Độ chúng tôi có bao giờ cười không! Lúc ông kể câu chuyện khôi hài đó, mọi người đều cười ồ. Thực ra, tôi cứ để mắt dán chặt xuống đĩa của mình suốt, kẻo lỡ bắt gặp ánh mắt Bà ấy thì tôi có thể làm Bà phát cơn kịch phát và Bà có thể dùng một trong những con dao bên cạnh đĩa của Bà: làm sao tôi có thể cười? Ông có nghĩ rằng thật là thiếu hiếu khách khi họ giao một quý bà như thế cho tôi trông nom mà không dặn tôi phải làm gì nếu cơn bệnh kéo đến không?” Y nói hết sức nghiêm túc và tròn mắt kinh ngạc khi tôi bật cười như nắc nẻ; điều này lại càng làm tôi khó xử hơn. Y thở phào nhẹ nhõm khi cuối cùng tôi có thể giải thích mọi chuyện, và quả quyết với tôi rằng y nghĩ quý bà kia là người thân bị điên của gia đình, có lẽ thường ngày thì vô hại, nhưng hay lên cơn rối loạn thần kinh tái phát, và “được cho mặc như thế để Bà yên phận”.
My Diary shows that the making of the “Hermetic” group did not quite settle the disturbance in the old Lodge. The members generally wanted to profit by both courses of instruction and to belong to both Lodges. The effect was to keep up the excitement, so I was [101] obliged to issue a new rule, to the effect that multiple membership would not be allowed; no person to be an active member in more than one Branch simultaneously; and where double membership existed, choice should be made in which group the individual preferred to remain. The effect was to threaten the disruption of the “Hermetic” Lodge. So, after consultations with Mr. Massey, I suggested that Mrs. Kingsford should return her charter and form her friends into an independent society, and thus make it feasible for them to belong to both. For, the Hermetic being an outside body, its relation to us would be the same as that of the Asiatic, Geographical, Astronomical, or any other foreign society. Mrs. Kingsford returning a favorable answer through Mr. Massey, this plan was carried into effect, the Hermetic Lodge of the T. S. ceased to exist, and the “Hermetic Society” was born, with Mrs. Kingsford as President and Mr. Maitland as Vice-President. Calm followed the storm and all went well. The first meeting was held on May 9th, and, by request, I made a friendly address of good wishes and sympathy for the new society.
Nhật ký của tôi cho thấy việc lập nhóm “Huyền bí” vẫn chưa hẳn giải quyết xong xáo trộn trong Chi bộ cũ. Hội viên nói chung muốn được hưởng lợi từ cả hai chương trình giảng dạy và thuộc về cả hai Chi bộ. Hệ quả là khiến sự náo động kéo dài, nên tôi [101] buộc phải ban hành một quy định mới, theo đó không cho phép đa hội tịch; không ai được đồng thời là hội viên tích cực của hơn một Chi hội; và nơi nào có hội tịch kép thì đương sự phải chọn mình muốn ở lại nhóm nào. Tác động của việc này là đe dọa sự tan rã của Chi bộ “Huyền bí”. Vì vậy, sau khi hội ý với Ông Massey, tôi đề nghị Bà Kingsford nên trả lại hiến chương và tổ chức bạn hữu của Bà thành một hội độc lập, nhờ đó họ có thể đồng thời thuộc về cả hai bên. Bởi lẽ, hội Huyền bí là một tổ chức bên ngoài, nên quan hệ của họ với chúng tôi sẽ giống như của các hội Á châu, Địa lý, Thiên văn, hay bất kỳ hội ngoại quốc nào khác. Bà Kingsford hồi đáp thuận lợi qua Ông Massey, kế hoạch này được thực thi, Chi bộ Huyền bí của T. S. chấm dứt tồn tại và “Hội Huyền bí” ra đời, với Bà Kingsford làm Chủ tịch và Ông Maitland làm Phó Chủ tịch. Bình yên theo sau cơn bão và mọi việc hanh thông. Cuộc họp đầu tiên được tổ chức ngày 9 tháng Năm, và theo thỉnh cầu, tôi có một bài nói chuyện thân hữu chúc lành và bày tỏ cảm thông với hội mới.
The interest in Theosophical ideas was now spreading throughout all London social circles. Virtually begun by the publication of Mr. Sinnett’s The Occult World—of which the late Mr. Sam Ward gave away 250 copies among his friends—it had been fostered by a number of agencies, literary and social, and one could pretty well foresee the extension that has since occurred. A number of persons of high [102] standing in the world of letters, as well as in the nobility, joined us. I had my full share of dinners to eat in company with social lions, some of whom impressed me most amiably—others didn’t. At Mrs. Tennant’s house I met Sir Edwin Arnold, was invited to lunch with him, and he gave me the valuable present of some pages of the original manuscript of The Light of Asia, which is now one of the curios of the Adyar Library. At Mrs. Bloomfield Moore’s Mr. Sinnett and I met Robert Browning, and talked some Theosophy with that master of verse. Earl Russell had me up to Oxford for a night, and Lord Borthwick, F.T.S., to his place in Scotland for a fortnight. At one table I met an officer of the Queen’s Household and a famous General; at another, one of the greatest of modern painters. Everywhere the theme of talk was Theosophy: the tide was rising. The ebb was to follow, but as yet no one foresaw it in Europe, for it was to begin at Madras: the Scottish Missionaries its engineers, the high-minded Coulombs their tools. We shall come to that chapter of history very soon now, as we are recalling the incidents of the month of April, 1884, and the grand explosion occurred only a few weeks later.
Mối quan tâm đến các tư tưởng Thông Thiên Học lúc này lan ra khắp các giới xã hội Luân Đôn. Khởi đầu thực sự từ việc xuất bản tác phẩm The Occult World của Ông Sinnett—mà Cố Ông Sam Ward đã tặng 250 bản cho bạn bè—nó được nuôi dưỡng bởi nhiều kênh, văn học và xã hội, và người ta có thể khá dễ dàng dự báo sự mở rộng như đã xảy ra từ đó. Một số nhân vật [102] có địa vị cao trong giới văn học, cũng như trong giới quý tộc, đã gia nhập với chúng tôi. Tôi nhận đủ loại lời mời ăn tối chung với các “sư tử” xã hội, số người trong đó có người gây ấn tượng rất dễ mến—số khác thì không. Ở nhà Bà Tennant, tôi gặp Sir Edwin Arnold, được mời ăn trưa cùng Ông, và Ông tặng tôi món quà quý giá là mấy trang bản thảo gốc của The Light of Asia, hiện là một cổ vật trong Thư viện Adyar. Ở nhà Bà Bloomfield Moore, Ông Sinnett và tôi gặp Robert Browning và đàm đạo đôi điều Thông Thiên Học với bậc thầy thi ca ấy. Bá tước Russell mời tôi lên Oxford qua đêm, và Lord Borthwick, F. T. S., mời tôi đến điền trang của Ông ở Scotland nửa tháng. Ở một bàn tiệc nọ, tôi gặp một viên chức trong Hoàng hộ của Nữ hoàng và một vị Tướng nổi tiếng; ở bàn khác, một trong những họa sĩ vĩ đại nhất thời hiện đại. Ở đâu đề tài đàm luận cũng là Thông Thiên Học: thủy triều đang dâng. Sự rút lui sẽ theo sau, nhưng lúc này chưa ai đoán thấy ở châu Âu, vì nó sẽ khởi đầu ở Madras: các nhà Truyền giáo Scotland là kỹ sư của nó, vợ chồng Coulomb cao thượng là công cụ của họ. Chúng ta sẽ sớm đến chương lịch sử đó, khi chúng ta đang hồi tưởng những sự việc của tháng Tư năm 1884, và vụ nổ lớn chỉ xảy ra vài tuần sau đó.
CHAPTER IX—CHƯƠNG IX
H. P. B. AND THE S. P. R. REPORT—H. P. B. VÀ BẢN TƯỜNG TRÌNH CỦA S. P. R.
Two distinct and very different streams of the Society’s Karma were now converging, though we then realised very little their prospective importance. One was the outcome of my special mission for the Ceylon Buddhists, which had brought me to Europe this year; the other, our first contact with the Society for Psychical Research. The former, beneficent in itself, brought honor to us and joy to a whole nation; the latter cast a disrepute upon the S. P. R., caused us undeserved grief and sorrow, tarnished our reputation, and pierced the heart of that unrewarded servant of the race, H. P. B. In the sequence of events it comes first, and shall have first attention.
Hai dòng Nghiệp quả riêng biệt và rất khác nhau của Hội lúc này đang hội tụ, tuy khi ấy chúng ta rất ít nhận ra tầm quan trọng về sau của chúng. Một là kết quả của sứ mệnh đặc biệt của tôi cho Phật tử Tích Lan, điều đã đưa tôi đến châu Âu năm đó; dòng kia, lần tiếp xúc đầu tiên của chúng ta với Hội Nghiên Cứu Thông linh. Dòng trước, tự thân thì lợi ích, mang lại vinh dự cho chúng ta và niềm vui cho cả một dân tộc; dòng sau gieo sự mang tiếng cho S. P. R., gây cho chúng ta nỗi sầu khổ không đáng, làm hoen ố thanh danh chúng ta, và đâm vào trái tim của người phụng sự vô tư cho giống nòi, H. P. B. Theo trình tự sự kiện, nó đến trước và sẽ được nói trước.
There had been the making of acquaintances between us and the S. P. R.; entire cordiality and unsuspicious friendliness on our part; an equally apparent sympathy on theirs; agreeable social meetings at the houses of their leaders; and, finally, a consent on my part to be examined by a Committee of the S. P. R. The sky was purely blue, without the tiniest cloud to indicate the hurricane in preparation for us. So those were joyous days in London and Paris, and H. P. B. and I were in exuberant spirits. On 11th May (1884) I had my first sitting and examination with Messrs.[104] F. W. H. Myers and J. Herbert Stack. A stenographer reported the Questions and Answers. The printed Report is in a pamphlet of 130 pp. 8vo. (Private and confidential to members of the S. P. R.), which was issued in December, 1884, and which also contains reports of similar examinations by the Committee of Mohini M. Chatterji, and forty-two documentary appendices. The ground covered by the inquiry was as to the appearance of phantasms of the living; the projection and material constitution of the human Double; appearances and communication with the same at distances from the physical body; visits to the witnesses from living Adepts or Mahatmas; apports of ponderable objects; astral bell-sounds; the phenomenal receipt of written documents; the precipitation of Mahatmic writing within closed letters from ordinary correspondents while in transit through the mails; the giving of flowers by an Adept’s double to a group of observers, etc. I think that any candid reader of the Report will notice the perfect candor, openness, and evident good faith of the witnesses, and the amplitude of corroboration contained in the documents which were laid by us before the Committee. But to understand our feelings when, later on, the S. P. R. made its merciless attack upon H. P. B., our Masters, and ourselves, one should try to put oneself in our places. Here were we laying bare a series of personal experiences which had for us a most private and sacred character, for no possible benefit that could accrue to ourselves, but solely that our testimony might help the cause of [105] spiritual science and give comfort to other students not yet so favored as ourselves; going before the Committee with no prepared case, but answering the questions sprung upon us, and hence putting ourselves at the mercy of those who had none of our enthusiasm, whose policy was to criticise, analyse, and pick flaws in our statements, and who in rendering their final judgment were unsparing of our feelings, sceptical as to our motives, and merciless to a degree. Worst of all, they were then incompetent through inexperience of psychical laws, misled by the conclusions of an agent—Dr. Hodgson—whom they sent out to India to verify our statements and collect evidence, and by an utterly incompetent handwriting expert’s report, and so put themselves on permanent record as the self-righteous calumniators of a woman—H. P. B.—who had neither done an injury to a living person, nor asked or received any benefit or reward for her services to the world, yet whom they dared to brand as “one of the most accomplished, ingenious, and interesting impostors in history” (see Report of the Committee appointed to investigate phenomena connected with the Theosophical Society. Members: Messrs. E. Gurney, F. W. H. Myers, F. Podmore, H. Sidgwick, and J. H. Stack. Published in 1885).
Đã có việc làm quen giữa chúng ta và S. P. R.; từ phía chúng ta là sự thân tình trọn vẹn và thiện chí không mảy may nghi ngờ; từ phía họ là sự đồng cảm cũng hiển hiện như vậy; các buổi gặp gỡ xã hội dễ chịu tại nhà riêng của các vị lãnh đạo của họ; và, sau cùng, tôi đồng ý để một Ủy ban của S. P. R. thẩm vấn tôi. Bầu trời trong xanh không gợn một cụm mây nhỏ nào báo hiệu cơn cuồng phong đang được chuẩn bị cho chúng ta. Thế nên đó là những ngày hân hoan ở Luân Đôn và Paris, và H. P. B. cùng tôi phấn chấn dạt dào. Ngày 11 tháng Năm (1884) tôi có buổi làm việc và thẩm vấn đầu tiên với các Ông [104] F. W. H. Myers và J. Herbert Stack. Một người tốc ký đã ghi lại Hỏi–Đáp. Bản Tường trình in trong một tập sách mỏng 130 trang, khổ 8 (Riêng tư và mật, dành cho hội viên của S. P. R.), phát hành tháng Mười Hai năm 1884, và cũng bao gồm các báo cáo về những cuộc thẩm vấn tương tự của Ủy ban với Mohini M. Chatterji, cùng bốn mươi hai phụ lục tài liệu. Phạm vi điều tra bao gồm: sự xuất hiện của những ảo ảnh của người đang sống; sự phóng xuất và cấu tạo vật chất của song trùng con người; sự xuất hiện và giao tiếp với song trùng ấy ở những khoảng cách xa khỏi thể xác; những chuyến viếng thăm nhân chứng của các Chân sư hay các Đại sư còn sống; những vật nặng được đưa tới một cách huyền nghiệm; những tiếng chuông nơi cõi cảm dục; việc nhận được văn bản viết một cách hiện tượng; sự ngưng tụ bút tích của các Đại sư vào trong những phong thư kín của các thư tín bình thường trong khi thư đang chuyển qua bưu điện; việc một bản song trùng của một Chân sư trao hoa cho một nhóm quan sát viên, v.v. Tôi nghĩ bất kỳ độc giả thành tâm nào của Bản Tường trình cũng sẽ nhận thấy sự hoàn toàn ngay thẳng, cởi mở và thiện chí hiển nhiên của các nhân chứng, cùng sự phong phú xác nhận chứa trong các văn bản mà chúng tôi đã trình Ủy ban. Nhưng để thấu hiểu tâm trạng của chúng tôi khi, sau này, S. P. R. tung ra cuộc công kích không chút nể nang vào H. P. B., các Chân sư của chúng tôi và chính chúng tôi, người ta nên tự đặt mình vào vị trí của chúng tôi. Này đây chúng tôi đang phơi bày một chuỗi trải nghiệm cá nhân vốn đối với chúng tôi mang tính riêng tư và thiêng liêng nhất, không vì bất kỳ lợi ích nào có thể đến với bản thân, mà chỉ để lời chứng của chúng tôi có thể giúp ích cho sự nghiệp [105] khoa học tinh thần và đem an ủi đến cho các đạo sinh khác chưa được ưu đãi như chúng tôi; bước vào trước Ủy ban mà không có hồ sơ chuẩn bị, chỉ trả lời những câu hỏi bất ngờ, và vì thế phó mặc mình cho những người không hề chia sẻ nhiệt huyết của chúng tôi, những người có chủ trương phê bình, phân tích và moi lỗi trong các lời trình bày của chúng tôi, và khi đưa ra phán quyết sau cùng thì không hề nương tay với cảm xúc của chúng tôi, hoài nghi động cơ của chúng tôi và tàn nhẫn đến cùng cực. Tệ hơn cả, họ khi ấy bất cập do vô kinh nghiệm về các định luật thông linh, bị dẫn dắt sai lạc bởi kết luận của một đặc phái viên—Bác sĩ Hodgson—người họ phái sang Ấn Độ để thẩm tra các trình bày của chúng tôi và thu thập chứng cứ, và bởi báo cáo của một chuyên gia giám định chữ viết hoàn toàn bất xứng, và như thế họ đã tự ghi mình vào biên niên sử như những kẻ phỉ báng tự cho mình là công chính nhằm vào một phụ nữ—H. P. B.—người chưa từng làm hại một ai đang sống, cũng chưa từng xin hay nhận bất kỳ lợi ích hay phần thưởng nào cho công trình Bà cống hiến cho thế giới, vậy mà họ dám đóng mác Bà là “một trong những kẻ bịp bợm lão luyện, tài trí và thú vị nhất trong lịch sử” (xem Bản tường trình của Ủy ban được lập để điều tra các hiện tượng liên quan đến Hội Thông Thiên Học. Thành viên: các Ông E. Gurney, F. W. H. Myers, F. Podmore, H. Sidgwick và J. H. Stack. Xuất bản năm 1885).
This Second Report was received by poor H. P. B. at Adyar when she lay apparently on her death-bed, and it nearly killed her. With an agony of pathos she has written in blue pencil, in the copy that now lies before me, the following: [106] “Madame Blavatsky who will soon be dead and gone, for she is doomed, says this to her friends of the P. R. S. (S. P. R.): After my death these phenomena, which are the direct cause of my premature death, will take place better than ever. But whether dead or alive, I will be ever imploring my friends and Brothers never to make them public; never to sacrifice their rest, their honor, to satisfy public curiosity or the empty pretext of science. Read the book. Never, throughout my long and sad life, never was there so much of uncalled for, contemptuous suspicion and contempt lavished upon an innocent woman as I find here in these few pages published by so-called friends.
Bản Tường trình Thứ hai này được tội nghiệp H. P. B. nhận tại Adyar khi Bà dường như đang nằm trên giường hấp hối, và nó suýt giết chết Bà. Với nỗi bi thương thắt ruột, Bà đã viết bằng bút chì xanh trong bản in đang nằm trước mặt tôi đây những dòng sau: [106] “Madame Blavatsky, người sớm sẽ chết và ra đi, vì đã bị định mệnh đoạt mạng, nói điều này với những người bạn của Bà trong P. R. S. (S. P. R.): Sau khi tôi chết, những hiện tượng này, vốn là nguyên nhân trực tiếp của cái chết yểu của tôi, sẽ xảy ra tốt hơn bao giờ hết. Nhưng dù chết hay còn sống, tôi sẽ mãi nài xin bạn bè và các Huynh Đệ của tôi chớ bao giờ công bố chúng; chớ bao giờ hy sinh sự yên ổn của họ, danh dự của họ, để thỏa mãn tính tò mò của công chúng hay cái cớ rỗng tuếch của khoa học. Hãy đọc cuốn sách. Chưa từng bao giờ, suốt cuộc đời dài mà buồn của tôi, chưa từng có nhiều ngờ vực khinh miệt vô cớ và sự miệt thị trút xuống đầu một người phụ nữ vô tội như tôi thấy ở đây trong vài trang do những người tự xưng là bạn bè này xuất bản.
“H. P. BLAVATSKY
“H. P. BLAVATSKY
“ADYAR, Feb. 5, 1885,
“ADYAR, 5 Tháng Hai, 1885,
“on my death-bed.”
“trên giường hấp hối.”
She adds the remark that she shall never forgive me for “thrusting our phenomena upon the attention of the gentlemen scientists of the P.R.S. (S. P. R.),” which was rather hard on me, considering the innocent part I played in the whole affair. I knew of nothing to be concealed, had no suspicion whatever of bad faith anywhere, and was perfectly willing to put every facility in the way of those who wished to investigate the facts. This is conclusively shown in Dr. Hodgson’s Report on his investigations in India, as the special agent of the S.P.R. On page 311, he says
Bà còn ghi thêm rằng Bà sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi vì đã “xô đẩy các hiện tượng của chúng ta vào sự chú ý của các quý ông khoa học thuộc P. R. S. (S. P. R.)”, điều này hơi nặng tay với tôi, xét phần trong trắng của tôi ở toàn bộ vụ việc. Tôi không biết có điều gì cần che giấu, hoàn toàn không nghi ngờ gì về sự bất lương ở đâu cả, và sẵn lòng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những ai muốn khảo sát các sự kiện. Điều này được chứng tỏ dứt khoát trong Bản Tường trình của Bác sĩ Hodgson về cuộc điều tra của ông ở Ấn Độ, với tư cách là đặc phái viên của S. P. R. Ở trang 311, ông viết
[107] of me: “His candor was shown by his readiness in providing me with extracts from his own diary, and the freedom with which he allowed me to inspect important documents in, his possession; and he rendered me every assistance in his power in the way of my acquiring the evidence of the native witnesses. Not only so, but observing, as I thought, that Mr. Damodar was unduly endeavoring to take part in my examination of a witness, shortly after I arrived in India, he desired me not to hesitate in taking the witnesses apart for my private examination, and he made special arrangements for my convenience.”
[107] về tôi như sau: “Sự ngay thẳng của Ông thể hiện ở việc Ông sẵn sàng cung cấp cho tôi những đoạn trích từ chính nhật ký của mình, và tự do cho phép tôi xem các văn bản quan trọng đang ở trong tay Ông; và Ông đã hỗ trợ tôi hết mực trong việc thu thập lời chứng của các nhân chứng bản địa. Không chỉ vậy, nhận thấy, như tôi nghĩ, rằng Ông Damodar đã quá mức muốn tham gia vào cuộc thẩm vấn nhân chứng của tôi, chẳng bao lâu sau khi tôi đến Ấn Độ, Ông ấy nói rằng tôi đừng ngần ngại tách riêng các nhân chứng để thẩm vấn riêng tư, và Ông ấy đã sắp xếp đặc biệt để tôi tiện bề làm việc.”
Now there are several points not to be overlooked in finally revising the wholesale condemnation of Madame Blavatsky and the discrediting of her phenomena by Dr. Hodgson and his colleagues of the S.P.R.:
Giờ có vài điểm không nên bỏ qua khi cuối cùng xét duyệt lại sự kết tội “quét sạch sành sanh” với Madame Blavatsky và việc giáng uy tín các hiện tượng của Bà bởi Bác sĩ Hodgson và các đồng nghiệp của ông ở S. P. R.:
1. No prepared case was submitted to the Committee in London, Mr. Sinnett, Mr. Mohini, and I having come forward and answered questions impromptu, according to our best recollections about events stretching back over several years. When the incidents occurred there had been no measuring by feet and inches, consulting of watches, tying up of H. P. B. in a bag or fastening her to chairs by sealed threads, as in the case of mediums; nor did either of us think for one moment of daring to banter with the august Personages in momentary view, or to tell them to move here, or stand there, or let themselves be weighed or handled or pinched, to satisfy us that they were real. [108] I have never heard of anybody’s so treating any saintly personage. So we simply made ourselves the easy game of a Committee who cared not a whit about our feelings, motives, or opinions as to the Living Teachers, but concerned themselves chiefly in trying to break down the standing of the great rival Society, and sweeping our rubbish off the ground which they aimed at occupying alone. This is the tone that seems to run through the whole Report.
1. Không có hồ sơ chuẩn bị nào được đệ trình Ủy ban ở Luân Đôn, vì Ông Sinnett, Ông Mohini và tôi bước ra trả lời ngay tại chỗ, theo ký ức tốt nhất của chúng tôi về những sự kiện trải dài qua nhiều năm. Khi các biến cố xảy ra, đã không có việc đo đạc bằng thước tấc, xem đồng hồ, trói H. P. B. vào bao hay buộc Bà vào ghế bằng chỉ được niêm phong như đối với các đồng tử; và cũng chẳng ai trong chúng tôi nghĩ đến chuyện cả gan bông đùa với các Đấng Tôn Nghiêm hiện đến thoáng chốc, hay bảo Các Ngài di chuyển chỗ này, đứng chỗ kia, hay để cho cân, cho sờ, cho véo, để thỏa mãn rằng Các Ngài là có thật. [108] Tôi chưa từng nghe ai đối xử như vậy với bất kỳ bậc thánh thiện nào. Vậy nên chúng tôi chỉ tự biến mình thành miếng mồi dễ dàng cho một Ủy ban chẳng bận tâm mảy may đến cảm xúc, động cơ hay quan kiến của chúng tôi về các Vị Thầy Sống, mà chủ yếu chăm chăm tìm cách hạ thấp vị thế của Hội đối thủ lớn, và quét rác rưởi của chúng tôi khỏi mảnh đất mà họ nhắm độc chiếm. Đây là giọng điệu dường như xuyên suốt cả Bản Tường trình.
2. That when later on, in India, they cross-examined the Hindu and other Indian witnesses who had signed the certificates published in the Theosophist, in Mr. A. O. Hume’s Hints on Esoteric Theosophy and other pamphlets, every stress was laid upon their contradictions, while no allowance whatever was made for (a) the utter inexperience of Asiatics in psychical research methods, and (b) their mental incompetency to restate accurately what had been their observations and impressions at the time of witnessing the phenomena, when no tests had been applied, measurements taken, or other details looked to: since nobody had had an idea that they would have to recall the incidents four or five or even more years later. A judicially-minded investigator would have seen at a glance that self-contradictions would, under those circumstances, have been the most natural, and mnemonic accuracy the least so, to expect. Every cool observer at mediumistic circles would know that. I have attended the late Date Owen, Epes Sargent, and other equally honest and cultured men, to circles [109] where they proved to me their perfect inaccuracy of observation. How much less, then, ought to have been expected from Hindus who had never had the least personal experience in such matters?
2. Rằng về sau, ở Ấn Độ, khi họ đối chất các nhân chứng Hindu và các nhân chứng Ấn khác đã ký những chứng thư đăng trên tờ Theosophist, trong tác phẩm Hints on Esoteric Theosophy của Ông A. O. Hume và các tập sách mỏng khác, họ đã dồn hết trọng lượng vào những mâu thuẫn của các nhân chứng, trong khi hoàn toàn không xét tới (a) sự hoàn toàn vô kinh nghiệm của người Á châu về các phương pháp nghiên cứu thông linh, và (b) sự bất cập trong năng lực của họ để trình bày chính xác những quan sát và ấn tượng mà họ từng có vào lúc chứng kiến các hiện tượng, khi không có thử nghiệm nào được áp dụng, không đo đạc, cũng không chú ý đến các chi tiết khác: bởi vì chẳng ai từng nghĩ rằng họ sẽ phải hồi ức lại các biến cố bốn, năm hay thậm chí nhiều năm sau đó. Một nhà điều tra có tư duy công minh lẽ ra phải thấy ngay rằng, trong hoàn cảnh ấy, sự tự mâu thuẫn là điều tự nhiên nhất, còn độ chính xác ký ức là điều ít có thể trông đợi nhất. Bất cứ ai bình tĩnh quan sát các buổi đồng tử đều biết điều đó. Tôi đã cùng cố Ông Date Owen, Epes Sargent, và những người khác cũng ngay thẳng và có văn hóa như thế, tham dự các buổi [109] mà họ chứng minh cho tôi thấy sự thiếu chính xác hoàn toàn trong quan sát của chính họ. Huống chi lại trông đợi ở những người Hindu chưa hề có chút trải nghiệm cá nhân nào trong những việc như vậy?
3. The chief accuser of Madame Blavatsky was Mme. Emma Coulomb, whose moral worth is shown in her confession to the Missionaries that she had been cognisant of the fraudulent character of H. P. B.’s phenomena all along, and had served as her lying and dishonest accomplice! Inquiries at Cairo, of the ladies of the Royal harem, would yield highly interesting facts about her.
3. Kẻ cáo buộc chính Madame Blavatsky là Bà Emma Coulomb, người mà giá trị đạo đức được bộc lộ trong thú nhận với các nhà Truyền giáo rằng Bà ta đã biết về tính chất gian dối của các hiện tượng của H. P. B. suốt từ đầu, và đã đóng vai đồng lõa nói dối và bất lương cho Bà ấy! Hỏi thăm tại Cairo, ở các bà trong hậu cung hoàng gia, hẳn sẽ thu được những dữ kiện đầy thú vị về Bà ta.
4. That the pretended letters of H. P. B. to her were never shown me by anybody, although I was within easy reach, a fact which does not go towards proving their genuineness.
4. Rằng những lá thư bị gán là của H. P. B. gửi cho Bà ta chưa từng được ai cho tôi xem, dù tôi ở ngay gần, một sự kiện chẳng giúp gì cho việc chứng minh tính xác thực của chúng.
5. That the unqualified opinion of the caligraphic expert who declared the K. H. and other alleged Mahatmic letters to have been written by H. P. B. (from certain resemblances between them and her admitted handwriting), upon which the S. P. R. Committee largely based their denunciation of her, is that of a man notorious for having declared, on like professional analyses, the “Pigot Forgeries” to have been genuine letters of Mr. Parnell, while the forger himself later killed himself in prison after confessing to his forgeries. Moreover, his professional opinion is opposed to the categorically opposite one of the chief caligraphist of the High Court of Berlin. Letters of H. P. B. and of the Mahatma K. H. were submitted [110] for his decision by Herr G. Gebhard, Persian Consul, and he declared in writing that “it was impossible that the two letters could have been written by the same hand” (Theosophist, June; 1886, Supplement).
5. Rằng ý kiến chắc nịch của “chuyên gia giám định chữ viết” vốn tuyên bố các thư của K. H. và những thư bị cho là của các Đại sư khác do H. P. B. viết (dựa trên vài điểm tương đồng giữa chúng và chữ viết được thừa nhận của Bà), điều mà Ủy ban S. P. R. phần lớn dựa vào để luận tội Bà, lại xuất phát từ một người nổi danh vì từng tuyên bố, dựa trên những phân tích nghề nghiệp tương tự, rằng các “Bản giả mạo Pigot” là thư thật của Ông Parnell, trong khi chính kẻ làm giả sau đó đã tự sát trong tù sau khi thú nhận hành vi giả mạo. Hơn nữa, ý kiến nghề nghiệp của ông ta bị đối lập bởi kết luận quả quyết ngược lại của vị chuyên gia giám định chữ viết hàng đầu của Tòa Thượng thẩm Berlin. Các thư của H. P. B. và của Chân sư K. H. đã được [110] Ông G. Gebhard, Lãnh sự Ba Tư, gửi để ông này phán quyết, và ông đã tuyên bố bằng văn bản rằng “không thể nào hai lá thư ấy lại do cùng một bàn tay viết ra” (Theosophist, Tháng Sáu; 1886, Phụ lục).
6. That even if the resemblances in the handwritings to Madame Blavatsky’s had been much more striking than they were, this would have been no proof of her mala fides, since every tyro in spiritualistic research knows that, whether a psychic message is written on a closed slate, or precipitated on a paper or card laid on the floor, or on the ceiling, or anywhere else at a distance from the medium, the writing will usually resemble that of the medium. The same rule applies to all intermediary agents through whom messages in psychic writing are transmitted. Neither Dr. Hodgson, nor either of his colleagues, nor their infallible “expert” seems to have known this elemen1ary fact; yet this did not deter them from rendering an unjust and cruel judgment on a woman whom they almost seem to have fallen upon to claw to pieces, like so many wolves on a victim’s carcase. I wish to keep my feelings within bounds, but it becomes very hard when I think of the injustice done to my old colleague. The attitude of the Committee of the S. P. R. seems to me that of a body of gifted, scholarly men, blinded by self-righteousness so as to make them incapable of seeing facts as they were, and daring to lay violent hands upon the reputation of a person entitled, under every principle of human justice, to [111] benefit of the doubt. [4] Was any mercy shown her? One searches in vain throughout the published Report for the smallest sign of it
6. Rằng ngay cả nếu sự tương đồng trong chữ viết với của Madame Blavatsky còn nổi bật hơn thế nữa, thì điều đó cũng chẳng chứng minh được sự gian ý của Bà, bởi mọi người sơ học trong nghiên cứu đồng cốt đều biết rằng, dù một thông điệp thông linh được viết trên một bảng đá đóng kín, hay được ngưng tụ trên một tờ giấy hay thiếp đặt dưới sàn, hay trên trần nhà, hay ở bất cứ đâu cách xa đồng tử, thì chữ viết thường sẽ giống chữ của đồng tử. Quy luật tương tự áp dụng cho mọi tác nhân trung gian mà qua đó các thông điệp bằng chữ thông linh được truyền đạt. Cả Bác sĩ Hodgson, lẫn bất kỳ đồng nghiệp nào của ông, cũng như “chuyên gia” bất khả sai lầm của họ, dường như chẳng hề biết điều căn bản này; thế mà điều đó chẳng ngăn họ đưa ra một phán quyết bất công và tàn nhẫn về một người phụ nữ mà họ gần như đã nhào tới cấu xé như một bầy sói vồ thây mồi. Tôi muốn giữ cảm xúc mình trong giới hạn, nhưng điều đó trở nên rất khó khi tôi nghĩ đến sự bất công đã làm với đồng sự cũ của tôi. Thái độ của Ủy ban S. P. R. theo tôi là của một nhóm những người tài năng, học thức, nhưng mù lòa vì tự cho mình là công chính đến độ không thể thấy sự vật như chúng vốn là, và dám đặt tay bạo tàn lên thanh danh của một người, mà theo mọi nguyên tắc công lý của loài người, [111] đáng được hưởng quyền lợi của sự hồ nghi. Có chút xót thương nào được dành cho Bà không? Người ta vô vọng lục khắp Bản Tường trình đã công bố mà không thấy một dấu hiệu nhỏ nhất của điều đó.
Oh! for the rarity
Ôi! hiếm hoi thay
Of Christian charity.
Lòng bác ái Kitô.
7. That Dr. Hodson, the agent-detective sent by the S. P. R. to India to ferret out the facts, has since then become an avowed spiritualist, to the extent of pronouncing the medium, Mrs. Piper’s phenomena, spiritualistic after six years’ scrutiny of them! In his earlier days he devoted fourteen hours to the writing up of a single slate-writing séance—i.e., at the time when he was as sceptical and incompetent to pronounce upon” psychic powers” as is Mr. Podmore to this day. It is sad to think what a different report on H. P. B.’s phenomena he would have made to the S. P. R. but for his incompetence as an observer of psychic facts; sad, because he might then have done her justice instead of injustice, and spared her years [112] of agony undeserved. The congeniality of Dr. Hodgson’s mind at that time with Mr. Podmore’s is apparent throughout his report of observations: a single example will suffice—ex uno disce omnes. Mr. S. Ramaswamier, District Registrar of Tinnevelly, Madras Presidency, encountered in Sikkim my Guru, Mahatma M., on horseback, and had a long conversation with him, which he describes at length (Theosophist, December, 1882). Dr. Hodson says: “I see no improbability in supposing that the Mahatma was personated by one of Madame Blavatsky’s confederates.” As though this penniless woman had a paid army of cheats scattered over India, even to Sikkim!
7. Rằng Bác sĩ Hodson, đặc phái viên–thám tử do S. P. R. phái sang Ấn Độ để bới tìm sự thật, từ đó đã trở thành một người thừa nhận thuyết linh hồn, đến mức kết luận rằng các hiện tượng của đồng tử, Bà Piper, là thông linh sau sáu năm rà soát chúng! Thuở trước ông từng dành mười bốn giờ để viết lại một buổi cầu chữ trên bảng đá—tức là vào thời ông hoài nghi và bất cập trong khả năng phán định về “năng lực thông linh” như Ông Podmore cho đến nay. Thật buồn khi nghĩ rằng đáng lẽ ông đã có thể nộp cho S. P. R. một báo cáo khác hẳn về các hiện tượng của H. P. B. nếu không vì sự bất cập của ông với tư cách một quan sát viên các sự kiện thông linh; buồn bởi lẽ khi đó có thể ông đã làm công bình cho Bà thay vì bất công, và đã miễn cho Bà những năm [112] sầu khổ không đáng. Sự đồng thanh tương ứng giữa tâm tính của Bác sĩ Hodgson thời điểm đó với Ông Podmore hiển nhiên suốt các ghi chú quan sát của ông: một ví dụ thôi là đủ—từ một mà suy ra tất cả. Ông S. Ramaswamier, Viên Đăng bộ Quận Tinnevelly, Thuộc địa Madras, đã gặp ở Sikkim Đạo sư của tôi, Chân sư M., trên lưng ngựa, và có một cuộc đàm đạo dài với Ngài, điều ông thuật lại tỉ mỉ (Theosophist, Tháng Mười Hai, 1882). Bác sĩ Hodson nói: “Tôi không thấy có điều bất khả trong giả thuyết cho rằng vị Đại sư đã bị một trong những kẻ đồng lõa của Madame Blavatsky đóng giả.” Như thể người đàn bà tay trắng này có cả một đạo quân bịp bợm ăn lương rải khắp Ấn Độ, thậm chí đến Sikkim!
8. That weird phenomena occurred in H. P. B.’s presence from her very childhood, as is proved by the testimony of her family, and that similar ones were witnessed by myself and many other persons in America and India, long before the Coulombs came out of their obscurity, and under circumstances precluding the theory of confederacy or bad faith. [5] This fact should, it would seem, have great weight in the making up of the public verdict in the case at issue. The misfortune was that the S. P. R. Committee, owing to ignorance and lack of experience, doubted the possibility of such phenomena, and hence—as Mr. Podmore puts it in the passage above quoted—as they had “to assume abnormality somewhere,” [113] it was “easier to suppose the medium abnormally dishonest than to credit him with abnormal psychic powers”.
8. Rằng các hiện tượng lạ lùng đã xảy ra trong sự hiện diện của H. P. B. từ thuở ấu thơ, như được chứng thực bởi lời chứng của gia đình Bà, và những hiện tượng tương tự đã được chính tôi và nhiều người khác chứng kiến ở Mỹ và Ấn Độ, từ lâu trước khi vợ chồng Coulomb xuất hiện từ chốn vô danh, và trong những hoàn cảnh loại trừ giả thuyết thông đồng hay gian ý. Sự kiện này, hẳn vậy, lẽ ra phải có trọng lượng lớn trong việc hình thành phán quyết công chúng về vụ việc đang xét. Điều bất hạnh là Ủy ban S. P. R., vì thiếu hiểu biết và thiếu trải nghiệm, đã hoài nghi khả tính của những hiện tượng như vậy, và thế nên—như Ông Podmore diễn đạt ở đoạn trích dẫn phía trên—khi họ “phải giả định có điều bất thường ở đâu đó,” [113] thì “dễ cho rằng đồng tử bất thường ở chỗ bất lương hơn là thừa nhận y có năng lực thông linh bất thường”.
If the reader will but think a moment, he will see how impossible it was that the members of the committee could have been qualified to pronounce upon phenomena of the class of H. P. B.’s. There had been plenty of mediums in Europe and America, but no alleged adept proficients in psychical science since Cagliostro and Count St. Germain. Where is the record of verified phenomena with which H. P. B.’s could be compared and tested? In the whole range of scientific research no branch demands of the experimenter such intuitive insight, such capacity for delicate weighing of facts, such a profound knowledge of man in his physical, mental, and spiritual aspects, such an intimate acquaintance with the ancient schools of philosophy and of occultism, such a memory of the recorded powers of adepts, such a power to experimentally verify at first hand the number and play of the finer forces of nature, as this field of transcendental physics. What were the special qualifications, then, of Messrs. Myers, Gurney, Podmore, Stack, Sidgwick, and Hodgson for this inquest? What weight ought to be given to their hasty verdict? We scorn the raw opinions of the uneducated tradesman upon astronomy, mathematics, symbology, spirit survival, or any other of the great questions of human knowledge with which he has had no familiarity whatever. Yet is his case worse than that of these gentlemen amateurs in [114] Practical Psychology, who possessed no more qualification to render a just judgment on H. P. B.’s psychical powers than our supposed green-grocer, tailor, or blacking-maker? If the S. P. R. had had to convert the public to a belief that ran counter to its preconceptions, or to some new aspect of a fixed error, such as the geocentric theory, for example, does any sane man believe that they would have brought forward so weak a case as this, and so hastily risked the indignant censure of a more enlightened posterity? But the chance of discrediting a dangerous personality, by merely calling her a clever impostor and thus appealing to popular ignorance and popular prejudice, was too tempting to be resisted; so they slandered and passed on, leaving their poisoned shaft to rankle in the breast of this poor, race-loving, imprudent, impulsive thaumaturgist and teacher. They have had their day of triumph, but divine justice has still its inexorable policy to vindicate.
Nếu độc giả chỉ chịu dừng lại nghĩ một chút, ông/bà sẽ thấy các thành viên Ủy ban ấy không thể đủ tư cách để phán định các hiện tượng thuộc loại của H. P. B. Ở châu Âu và Mỹ đã có lắm đồng tử, nhưng chẳng có ai được cho là bậc thiện xảo trong khoa học thông linh kể từ thời Cagliostro và Bá tước St. Germain. Ở đâu có ghi chép về những hiện tượng đã được thẩm định mà người ta có thể đem so sánh và kiểm nghiệm với của H. P. B.? Trong toàn bộ phạm vi nghiên cứu khoa học, không ngành nào đòi hỏi ở người thực nghiệm trực giác tinh tế đến vậy, năng lực cân nhắc tường tế các sự kiện đến vậy, tri thức thâm sâu về con người trong phương diện thể xác, tinh thần và tinh túy đến vậy, sự quen thuộc mật thiết với các trường phái triết học và huyền bí cổ đại đến vậy, trí nhớ về những năng lực đã được ghi chép của các vị đạt đạo đến vậy, năng lực tự thân kiểm chứng bằng thực nghiệm số lượng và sự vận hành của các mãnh lực tinh vi của thiên nhiên đến vậy, như lĩnh vực vật lý siêu nghiệm này. Vậy thì các tư cách chuyên biệt của các Ông Myers, Gurney, Podmore, Stack, Sidgwick, và Hodgson cho cuộc điều tra này là gì? Phán quyết vội vàng của họ đáng được đặt bao nhiêu trọng lượng? Chúng ta khinh thị các ý kiến thơ ngây của một người buôn bán chưa học về thiên văn, toán học, biểu tượng học, sự tồn tại sau khi chết, hay bất cứ vấn đề trọng đại nào của tri thức nhân loại mà ông ta chưa từng quen thuộc chút nào. Thế mà trường hợp của ông ta cũng đâu tệ hơn các quý ông nghiệp dư [114] trong Tâm lý học Thực hành này, những người chẳng có tư cách nào hơn người bán rau, thợ may, hay thợ đánh xi của chúng ta để đưa ra một phán định công minh về năng lực thông linh của H. P. B.? Nếu S. P. R. phải thuyết phục công chúng tin vào một tín điều trái với những định kiến sẵn có, hay một diện mạo mới của một sai lầm cố kết, thí dụ như thuyết địa tâm chẳng hạn, liệu có người tỉnh táo nào tin rằng họ sẽ đem ra một hồ sơ yếu ớt như vậy, và vội vã liều nhận lãnh sự quở trách phẫn nộ của hậu thế sáng suốt hơn? Nhưng cơ hội giáng uy tín một nhân vật nguy hiểm, chỉ bằng cách gọi Bà là một kẻ bịp tài khéo và nhờ thế đánh vào sự ngu muội và thành kiến quần chúng, quá đỗi hấp dẫn để họ cưỡng lại; thế là họ vu khống rồi đi tiếp, để lại mũi tên tẩm độc của mình cắm sâu trong ngực của người phụng sự đáng thương, yêu giống nòi, bồng bột, bộc trực, làm phép lạ và dạy học này. Họ đã có ngày khải hoàn, nhưng công lý thiêng liêng vẫn còn chính sách bất khả xâm phạm của mình cần được minh chứng.
Whatever her other friends may have done, I, at least, have always tried to deal with H. P. B. as a natural, not a supernatural, personage. In relating my observations of her phenomena I have done my best to speak the plain truth and present my facts without bias. This policy has been adhered to in the face of the resistance of many of my colleagues who would have liked to cover up her weaknesses. What they might think of me was of no consequence whatsoever; I had my duty to do to “my benefactress, friend, and co-founder of the Society. I have done it all [115] the better, I believe, by telling the truth, adding nothing pleasant, concealing nothing unpleasant. I have taken H. P. B. as a being of different sides of character, some almost angelic, others the reverse. Often, when on lecturing tours in far-away lands, I have been asked what I had to say in defence of her against the charges of the Coulombs and Hodgson. My answer has always been that the case against her had never been judicially presented, but very crudely and in an unconvincing way; that I myself had seen so many of her phenomena produced under circumstances of an unimpeachable character, as to make me know that she was a great adept in handling nature’s occult forces; but that, even if one had to accept as proven every charge brought against her phenomena, she was still a benefactress of mankind in the teachings she had left behind, and had won the fervent gratitude of thousands of men and women whom her writings had first shown the path up the hill of spiritual truth. And I have challenged my questioners to tell the audience whether they or any other of Mme Blavatsky’s flippant accusers dare claim the right to a tithe of the love and gratitude given her by the public, for what they had done for humanity. I never yet failed to win the applause of my hearers. For there is beneath all social movements, down in the heart of human nature, a passionate love of fairplay, and this will vindicate the now besmirched reputation of Helena Petrovna. In short, all of us instinctively believe in Karma. As for the victim of the S. P. R., she is beyond their reach, [116] at their most malicious attempts to do her Karma thrust her under this crushing burden of sorrow, but the ordeal is past, and she can now Know how sublime a thing it is To suffer and be strong.
Dù các bằng hữu khác của Bà có làm gì, riêng tôi, tối thiểu, luôn cố gắng đối xử với H. P. B. như một nhân vật tự nhiên, không phải siêu nhiên. Khi thuật lại những quan sát của tôi về các hiện tượng của Bà, tôi đã hết sức nói sự thật thẳng thắn và trình bày sự kiện không thiên vị. Chủ trương này được giữ vững bất chấp sự chống đối của nhiều đồng sự muốn che đậy những điểm yếu của Bà. Họ nghĩ gì về tôi thì chẳng quan trọng chút nào; tôi có bổn phận phải làm đối với “ân nhân, bạn hữu và đồng sáng lập Hội” của tôi. Tôi đã làm [115] trọn bổn phận ấy tốt hơn, tôi tin vậy, bằng cách nói thật, không thêm điều dễ nghe, không giấu điều khó nghe. Tôi nhìn H. P. B. như một con người đa mặt, khía cạnh thì hầu như thiên thần, khía cạnh thì ngược lại. Thường, khi đi diễn thuyết ở những miền xa, người ta hỏi tôi có gì để biện hộ cho Bà trước những cáo buộc của vợ chồng Coulomb và Hodgson. Câu trả lời của tôi luôn là hồ sơ kiện cáo Bà chưa từng được trình bày theo lối pháp đình, mà rất thô vụng và không thuyết phục; rằng chính tôi đã chứng kiến quá nhiều hiện tượng của Bà được tạo ra trong những hoàn cảnh không thể chê trách, đủ để tôi biết rằng Bà là một bậc thiện xảo trong việc vận dụng các mãnh lực huyền vi của thiên nhiên; nhưng rằng, ngay cả nếu phải chấp nhận như đã chứng minh mọi cáo buộc nhằm vào các hiện tượng ấy, thì Bà vẫn là ân nhân của nhân loại nơi những giáo lý Bà để lại, và Bà đã giành được lòng biết ơn nồng hậu của hàng nghìn nam nữ mà trước tiên các trước tác của Bà đã chỉ đường lên dốc chân lý tinh thần. Và tôi đã thách thức những người chất vấn tôi hãy nói cho cử tọa biết liệu họ hay bất kỳ kẻ cáo buộc hời hợt nào khác của Bà Blavatsky dám đòi quyền được hưởng một phần mười tình thương và lòng biết ơn mà công chúng dành cho Bà, vì những gì họ đã làm cho nhân loại hay không. Tôi chưa từng một lần thất bại trong việc nhận được tràng pháo tay của thính giả. Bởi vì dưới tất cả các vận động xã hội, sâu trong trái tim bản tính con người, có một tình yêu công bằng nồng nhiệt, và điều này sẽ minh tuyết thanh danh nay bị bôi bẩn của Helena Petrovna. Tóm lại, tất cả chúng ta theo bản năng tin vào Nghiệp quả. Còn về nạn nhân của S. P. R., Bà đã vượt khỏi tầm với của họ, [116] dẫu những mưu toan độc địa nhất của họ nhằm hại Bà—Nghiệp đã đẩy Bà vào gánh nặng sầu khổ đè nát này, nhưng thử thách đã qua, và giờ Bà có thể biết điều cao cả dường bao là chịu đựng và mạnh mẽ.
CHAPTER X—CHƯƠNG X
SUCCESSFUL ISSUE OF BUDDHIST MISSION—THÀNH QUẢ TỐT ĐẸP CỦA SỨ MỆNH PHẬT GIÁO
TURNING our backs upon the tragical episode of the attack of the S. P. R. upon Madame Blavatsky and her associates, we will now take up the pleasanter task of recalling, for permanent record, in greater detail than was given in Chapter VI, the incidents of the Buddhistic commission with which the Sinhalese nation had honored me, and which had brought me to London in the spring of 1884. The events preceding this action are historically so important, and their consequences have been so serious, that I feel it a duty to expand the brief narrative above mentioned, and to quote, from the original documents in my possession, facts that must otherwise go unrecorded, My duty was, as above stated, to lay before the Colonial Office certain grievances for which no redress had been obtained in Ceylon. They struck at the very root of the principle of religious neutrality, so clearly and so wisely announced by Her Majesty the Queen, as the future policy of her Government throughout her dominions. Of course, the British Empire would not hold together under any other system than the absolute guarantee to all the followers of the various religions under its sway, of the right of private judgment as to [118] their creeds and of personal freedom as to their forms of worship. When the Portuguese conquered the Maritime Provinces of Ceylon, they adopted the opposite policy and employed the brutal agencies of the sword, fire, confiscation, and rapine to compel the mild and inoffensive people of the Island to adopt the Christian religion, but without avail. The poor creatures saw their houses burnt, their females dishonored, and their friends put to the sword, but they only fled to the jungles and clung to Buddhism. Under the rule of the Dutch, who supplanted the Portuguese, the same stress was put upon them, but by chiefly legal enactments and appeal to selfish motives, rather than by military cruelty. Cruel enough, though, were some of their laws as, for instance, the denial of legitimacy to children born in lawful Buddhistic wedlock and of their right of inheritance, unless the parents were married in a Christian church: an infamous bit of cunning. A Jubilee Report of the C. M. Society, noticing the past and then present state of the Christian Churches in Ceylon, says that these harsh measures of the Dutch bred “Christians”—i.e., hypocrites—prolifically, and when the British drove out the Dutch and conquered the Maritime Provinces, the church registers bore the names of thousands of this sort of Christians, but within a brief time after the proclamation of religious freedom was made, “the flourishing tree was wilted as though stricken by a black frost”. I quote the substance of this avowal from memory, but I think I am fairly accurate. [119] However warlike the Sinhalese of the seaboard may have been in the far past, the fight has all been drawn out of them by three centuries of foreign rule [6]; yet its potentiality is always there, according to the law of sociological evolution, and it only needs the right concatenation of circumstances to set their passions ablaze again. On Easter Day, 1883, a crisis occurred which, under less wise self-restraint in the leaders of the Buddhist community, might have caused serious riots and blood-shed. If the leaders had not been under what we may call the conservative training of membership in the Theosophical Society, which had taught them the benefit of union and patient persistence in the conduct of public movements, the masses might have broken loose and taken that Lynch law redress for their wrongs which they could not get from a vacillating Governor and unsympathetic officials. Briefly, the facts were that on the Easter Day a procession of peaceful, unarmed Buddhist worshippers was passing through the streets of Colombo to Kotahena, a suburb where one of their most revered temples is situate, to make the customary offerings of flowers, fruits, and other things at the shrine, when they were assaulted violently by a large mob. To quote from the Petition laid before the Governor: “They were murderously assaulted by a mob of Roman Catholics and other evilly-disposed rioters, who bore [120] painted upon their persons the sign of a cross, who had inflamed their passions by intoxicant drinks, and who were armed with bludgeons, sharp weapons, and other deadly instruments; that in the affray which followed, the lives of women and children were imperilled, great bodily harm was done to a number of Buddhists, five head of cattle drawing their carts were slaughtered in the Queen’s highway, and the carts themselves, with their valuable contents, were consumed by fire.” It goes on to state that a Buddhist named Juan Naid was murdered, the Police looking on without interfering; that the mob was collected by the ringing of tocsins on the bells of the Catholic churches, and that certain noted persons were seen by the Police painting white crosses on the dark-skinned bodies of the rioters, organising the attack, and giving them liquors. Although these outrages were witnessed by thousands, and the leaders were all well known, no action was taken by the authorities, and it was but too evident that the whole thing was to be ignored. After waiting some days, the leaders of the Buddhist community, taking counsel together, brought a criminal action against certain suspected parties, with such proofs as, without Police help, could be discovered. The Justice of the Peace recommended that twelve of the accused should be committed for trial, but the Acting Queen’s Advocate, acting in violation of the “Ordinance (Ord., XI of 1868) and of the settled policy of British justice, the sitting Justice of the Peace was obliged, under instructions of the Acting Queen’s [121] Advocate, to assume the functions of the Supreme Court, and, without trial by jury, to decide the validity of the complaint and the value of the testimony offered by the accused.... Thus, then, as events proved, the ordinary course of justice was interrupted and the accused were released....” The result being,” says the Petition, “that, notwithstanding we have spent Rs. 5,000 in legal and other expenses to secure justice, the murderers of an unoffending Buddhist are unpunished, no recompense has been given for property destroyed, to the value of some Rs. 4,000, and the whole body of Sinhalese Buddhists... are left to face the possibility of similar bloody attacks in future by the various enemies of their religion.... So serious has the agitation upon this subject already become, that, but for the remonstrances of counsel, ten thousand Buddhists would have presented this petition in person to your Excellency; and a committee of our influential men have, in despair, taken the preliminary steps to ask of the Home Government and the Commons of England such help as may be practicable to redress their wrongs and give full effect in future to the assurances of religious neutrality in Her Majesty’s Asiatic dominions which have, from time to time, in the Royal name been solemnly pledged.”
Gác lại biến cố bi thương của cuộc công kích từ S. P. R. vào Madame Blavatsky và các cộng sự của Bà, giờ chúng ta sẽ tiếp nhận một công việc dễ chịu hơn: ghi lại, để làm hồ sơ lâu dài, chi tiết hơn so với trong Chương VI, những sự việc của phái vụ Phật giáo mà dân tộc Tích Lan đã giao phó cho tôi, và điều đã đưa tôi đến Luân Đôn vào mùa xuân năm 1884. Những sự kiện dẫn đến hành động này quan trọng đến vậy về mặt lịch sử, và hệ quả của chúng lại nghiêm trọng đến mức tôi thấy mình có trách nhiệm phải triển khai bản tường thuật vắn tắt đã nói, và dẫn ra, từ các văn kiện gốc mà tôi nắm giữ, những sự kiện nếu không sẽ không được ghi chép. Nhiệm vụ của tôi, như đã nêu, là trình lên Bộ Thuộc địa những điều oan khuất mà ở Tích Lan chưa hề được giải xử. Chúng đánh thẳng vào gốc rễ nguyên tắc trung lập tôn giáo, điều mà Bệ hạ Nữ hoàng đã công bố rõ ràng và khôn ngoan như là chính sách tương lai của Chính phủ Bà trên khắp các lãnh thổ của mình. Tất nhiên, Đế quốc Anh sẽ không thể gắn kết nếu không có hệ thống bảo đảm tuyệt đối cho tất cả các tín đồ của các tôn giáo khác nhau dưới quyền trị vì của mình quyền phán đoán riêng tư về [118] tín điều của họ và tự do cá nhân trong các hình thức thờ phụng của họ. Khi người Bồ Đào Nha chinh phục các Tỉnh Duyên hải của Tích Lan, họ áp dụng chính sách ngược lại và dùng những công cụ tàn bạo là gươm, lửa, tịch thu và cướp bóc để ép buộc những người dân hiền hòa vô hại của đảo chấp nhận tôn giáo Kitô, nhưng vô hiệu. Những con người khốn khổ ấy thấy nhà mình bị đốt, phụ nữ bị nhục, và bè bạn bị chém giết, nhưng họ chỉ chạy vào rừng và bám chặt Phật giáo. Dưới thời người Hà Lan, những kẻ thay chân người Bồ, áp lực tương tự được đặt lên họ, nhưng chủ yếu bằng đạo luật và khêu gợi tư lợi hơn là bằng tàn bạo quân sự. Dầu vậy, một số luật của họ cũng đủ tàn ác, như chẳng hạn phủ nhận tính hợp pháp đối với những đứa trẻ sinh ra trong hôn phối Phật giáo hợp pháp và quyền thừa kế của các em, trừ phi cha mẹ cưới nhau trong một nhà thờ Kitô giáo: một mưu kế vô liêm sỉ. Bản Báo cáo Kim khánh của Hội C. M., nhận xét về tình trạng trước kia và bấy giờ của các Giáo hội Kitô ở Tích Lan, nói rằng những biện pháp cứng rắn của người Hà Lan đã sinh ra “các Kitô hữu”—tức là bọn đạo đức giả—như nấm, và khi người Anh đánh đuổi người Hà Lan và chiếm các Tỉnh Duyên hải, sổ bộ nhà thờ ghi tên hàng ngàn kiểu ‘Kitô hữu’ này, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn sau khi tuyên bố tự do tôn giáo được ban bố, “cây đang xanh tốt đã héo rũ như bị sương giá đen đánh trúng”. Tôi trích lược thừa nhận này theo ký ức, nhưng nghĩ rằng mình khá chính xác. [119] Dẫu những người Tích Lan vùng duyên hải có thể từng hiếu chiến trong quá khứ xa xưa, thì sức chiến đấu đã bị rút cạn bởi ba thế kỷ ngoại trị; tuy vậy khả tính của nó luôn đó, theo định luật tiến hóa xã hội học, và chỉ cần đúng chuỗi hoàn cảnh là đủ châm ngòi bùng lửa đam mê của họ trở lại. Vào Lễ Phục Sinh năm 1883, một cơn khủng hoảng đã xảy ra mà, nếu không có sự tự chế khôn ngoan nơi các vị lãnh đạo cộng đồng Phật giáo, có thể đã gây ra bạo động trầm trọng và đổ máu. Nếu các vị lãnh đạo ấy không được, ta có thể gọi, “huấn luyện bảo thủ” bởi tư cách hội viên Hội Thông Thiên Học, điều đã dạy họ lợi ích của đoàn kết và kiên nhẫn bền bỉ trong điều hành các vận động công cộng, thì quần chúng hẳn đã buông lỏng và áp dụng thứ luật “Lynch” để phục thù những nỗi oan mà họ không được một vị Thống đốc lừng khừng và các quan chức vô cảm đáp đền. Tóm tắt, sự việc là vào Lễ Phục Sinh, một đoàn rước gồm những Phật tử hiền hòa tay không vũ khí đi qua các đường phố Colombo đến Kotahena, một ngoại ô nơi tọa lạc một trong những ngôi chùa tôn kính nhất của họ, để thực hiện các lễ dâng hoa, trái cây và các vật phẩm khác tại điện thờ, thì họ bị một đám đông lớn tấn công bạo lực. Trích từ Bản Kiến nghị trình lên vị Thống đốc: “Họ bị đám đông người Công giáo La Mã và các phần tử phá rối ác tâm khác tập kích mang tính sát nhân, những kẻ [120] vẽ lên thân thể mình dấu thập tự, đã kích động dục vọng bằng đồ uống có cồn, và được trang bị dùi cui, vũ khí sắc nhọn và các công cụ sát thương khác; rằng trong cuộc ẩu đả kế đó, sinh mạng phụ nữ và trẻ em bị đe dọa, thương tích nặng nề giáng xuống nhiều Phật tử, năm con gia súc kéo xe bị chém giết ngay trên đại lộ của Nữ hoàng, còn các cỗ xe, cùng tài vật quý, thì bị thiêu rụi.” Bản văn tiếp rằng một Phật tử tên là Juan Naid bị sát hại, Cảnh sát đứng nhìn mà không can thiệp; rằng đám đông được tập kết bằng tiếng chuông báo động rung lên ở các nhà thờ Công giáo, và có những nhân vật nổi danh được Cảnh sát thấy đang vẽ dấu thập trắng lên thân thể sậm màu của đám người phá rối, tổ chức tấn công và phát rượu cho họ. Dẫu những sự tàn bạo này được hàng ngàn người chứng kiến, và các thủ lĩnh đều được biết rõ, nhà chức trách không có hành động nào, và quá hiển nhiên rằng toàn bộ sự việc sẽ bị lờ đi. Sau mấy ngày chờ đợi, các vị lãnh đạo cộng đồng Phật giáo, cùng bàn bạc, đã khởi tố hình sự một số đối tượng đáng tình nghi, với những bằng chứng có thể tìm thấy được mà không có trợ giúp của Cảnh sát. Thẩm phán Hòa bình kiến nghị mười hai bị cáo phải bị truy tố, nhưng Quyền Trạng sư của Nữ hoàng, hành động trái với “Sắc lệnh (Sắc lệnh XI năm 1868) và chính sách an bài của công lý Anh quốc, vị Thẩm phán Hòa bình thụ lý buộc phải, theo chỉ thị của Quyền Trạng sư [121] của Nữ hoàng, đảm nhận các chức năng của Tối cao Pháp viện, và, không có sự xét xử bởi bồi thẩm đoàn, tự quyết định về tính hợp lệ của đơn kiện và giá trị lời khai do bị cáo đưa ra.... Kết quả là, như diễn biến cho thấy, tiến trình bình thường của công lý bị gián đoạn và các bị cáo được thả....” Do đó,” Bản Kiến nghị nói, “dẫu chúng tôi đã tốn Rs. 5.000 cho án phí và các chi phí khác để tìm công lý, những kẻ sát hại một Phật tử hiền lương vẫn không bị trừng phạt, không bồi thường nào được trao cho tài sản bị hủy hoại trị giá cỡ Rs. 4.000, và toàn thể Phật tử Tích Lan... bị để mặc đối mặt với khả năng các cuộc tấn công đẫm máu tương tự trong tương lai bởi những kẻ thù khác nhau của tôn giáo họ.... Sự kích động về chủ đề này đã nghiêm trọng đến nỗi, nếu không vì lời khuyên can của cố vấn pháp lý, mười ngàn Phật tử hẳn đã nộp Bản Kiến nghị này trực tiếp lên Ngài; và một ủy ban gồm những nhân sĩ có ảnh hưởng của chúng tôi, vì tuyệt vọng, đã tiến hành các bước sơ bộ để xin Chính phủ Mẫu quốc và Viện Thứ dân Anh giúp đỡ ở mức khả dĩ để giải oan và bảo đảm trọn vẹn trong tương lai việc thực thi các cam kết về trung lập tôn giáo tại các xứ Á của Bệ hạ, điều đã, theo thời gian, nhiều lần được long trọng cam kết nhân danh Hoàng gia.”
Things went from bad to worse. The Buddhists, smarting under a sense of their wrongs, and goaded by the jeers and taunts of the unpunished rioters, were getting ripe for bloody reprisals. Government had not turned over a finger to right them in more than [122] a year. In short, there was a crisis that menaced the destruction of law and order.
Sự tình càng lúc càng tệ. Phật tử, ê chề bởi cảm thức oan ức, và bị chọc tức bởi lời nhạo báng và khiêu khích của đám phá rối không bị trừng trị, đang chín muồi cho những đòn trả thù đẫm máu. Chính quyền đã không nhúc nhích một ngón tay để giải oan cho họ suốt hơn [122] một năm. Tóm lại, có một cuộc khủng hoảng đe dọa phá vỡ luật pháp và trật tự.
The first thing that occurred to the Buddhist leaders in their time of worst trouble was, as stated in Chapter VI, to telegraph me an urgent request to come over and help them. Accepting, as in duty bound, I crossed via Tuticorin and reached Colombo on Sunday, 27th January, 1884. I went straight to Sumangala’s College and organised a meeting of leading Buddhists. The next day I got them to form a Buddhist Defence Committee, with old Mr. Goonewardene Mohandiram, as Chairman, Don Carol is, as Vice-Chairman, H. A. Fernando as Treasurer, and C. P. Goonewardene as Secretary; that is to say, all most respected persons in the community. They elected me an Honorary Member, as the following extract shows:
Điều đầu tiên nảy ra trong đầu các vị lãnh đạo Phật giáo khi lâm vào nỗi khốn khó tệ hại nhất của họ là, như đã nêu ở Chương VI, đánh điện khẩn cầu tôi sang giúp. Nhận lời, như một bổn phận, tôi vượt biển qua ngả Tuticorin và đến Colombo vào Chủ nhật, ngày 27 tháng Giêng năm 1884. Tôi đi thẳng đến Trường của Sư trưởng Sumangala và tổ chức một cuộc họp của các Phật tử lãnh đạo. Hôm sau tôi vận động để họ lập một Ủy ban Phòng vệ Phật giáo, với Cụ Goonewardene Mohandiram làm Chủ tịch, Don Carolis làm Phó Chủ tịch, H. A. Fernando làm Thủ quỹ, và C. P. Goonewardene làm Thư ký; tức là toàn những nhân vật được cộng đồng kính trọng. Họ bầu tôi làm Hội viên Danh dự, như đoạn trích sau đây cho thấy:
“At the suggestion of the High Priest, and upon the motion of Mr. Don Carolis, seconded by Mr. H.A. Fernando, and supported by Mr. J. P. Jayatilleke, it was unanimously
“Theo đề nghị của Ngài Tăng trưởng, và theo kiến nghị của Ông Don Carolis, được Ông H. A. Fernando tán trợ, và được Ông J. P. Jayatilleke ủng hộ, nên nhất trí
“Resolved, that Colonel H. S. Olcott, of Madras, be respectfully requested to generally assist the Committee to carry out the objects of its organization.
“Quyết nghị rằng Đại tá H. S. Olcott, ở Madras, được cung kính thỉnh cầu chung tay hỗ trợ Ủy ban nói chung để thực hiện các mục tiêu của tổ chức.
“And that provided he consent, he be made an Honorary Member, and asked to proceed to London as the Chief Agent of the Committee, with full power to represent it under any circumstances that may arise, and in its name and that of the Sinhalese Buddhists in general, to ask for such redress and enter into such, engagements as may appear to him judicious.”
“Và nếu Ngài vui lòng chấp thuận, Ngài sẽ được mời làm Hội viên Danh dự, và được thỉnh mời sang Luân Đôn với tư cách Đặc sứ Trưởng của Ủy ban, với toàn quyền đại diện cho Ủy ban trong mọi hoàn cảnh có thể phát sinh, và nhân danh Ủy ban và toàn thể Phật tử Tích Lan, thỉnh cầu các biện pháp giải oan thích đáng và ký kết những cam kết mà Ngài xét thấy khôn ngoan.”
[123]
[123]
The next day I went to Kandy to personally confer with the new Governor, Sir Arthur Gordon, who had just succeeded Sir James R. Longden, the Feeble. I found him quite another sort of person, and from his intelligent grasp of the situation felt much encouragement for our cause. He promised to forward immediately to London any papers we might wish to lay before the Colonial Office, and altogether expressed his sympathy with our party under the afflicting circumstances. Messrs. Wm. de Abrew and Goonesekara accompanied me to the interview. These preliminaries being satisfactorily settled, we returned to Colombo on the next day.
Ngày hôm sau, tôi đi Kandy để trực tiếp hội đàm với vị Thống đốc mới, Ngài Arthur Gordon, người vừa kế nhiệm Ngài James R. Longden, Kẻ Yếu Ớt. Tôi nhận thấy Ngài là một hạng người hoàn toàn khác, và từ sự nắm bắt thông tuệ của Ngài về tình hình, tôi cảm thấy rất được khích lệ cho chính nghĩa của chúng tôi. Ngài hứa sẽ lập tức chuyển về Luân Đôn bất kỳ hồ sơ nào chúng tôi muốn trình lên Bộ Thuộc địa, và bày tỏ trọn vẹn cảm tình của Ngài với phía chúng tôi trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Các Ông Wm. de Abrew và Goonesekara tháp tùng tôi trong buổi yết kiến. Những thủ tục ban đầu như vậy được dàn xếp ổn thỏa, hôm sau chúng tôi trở lại Colombo.
At the College I held, on the following day, a private conference with the High Priest, Sumangala, Dhammalankara, Subhuti, and Weligama, who, among other things, joined in giving me a written commission to, accept, in their names, any persons, in Europe or elsewhere, who might wish to formally declare themselves Buddhists. The ranking High Priests of Malwatte and Asgiri, the Royal Temples at Kandy, had, given me similar powers already. Having done all that was possible in Ceylon, I returned that evening to India, to arrange affairs at Adyar and make as early a start as possible for London.
Tại Trường, vào ngày kế tiếp, tôi họp kín với các Ngài Tăng trưởng Sumangala, Dhammalankara, Subhuti và Weligama, trong đó các Ngài, ngoài những điều khác, cùng ký trao cho tôi một ủy quyền bằng văn bản cho phép tôi, nhân danh các Ngài, tiếp nhận ở châu Âu hay nơi nào khác bất kỳ ai muốn chính thức tuyên bố mình là Phật tử. Các Ngài Tăng trưởng thượng thủ của Malwatte và Asgiri, các Chùa Hoàng gia tại Kandy, trước đó đã trao cho tôi quyền tương tự. Hoàn tất mọi điều có thể ở Tích Lan, tối hôm đó tôi trở về Ấn Độ, để sắp xếp công việc tại Adyar và lên đường sớm nhất có thể sang Luân Đôn.
The idea of H. P. B.’s accompanying me to Europe was an afterthought, it having been decided in a Council meeting after I had foreseen that I would have to go to London for the settlement of the Ceylon business.
Ý tưởng H. P. B. đi cùng tôi sang châu Âu chỉ là một suy tính sau đó, vốn được quyết định trong một phiên họp Hội đồng sau khi tôi đã thấy trước rằng mình sẽ phải tới Luân Đôn để dàn xếp công việc ở Ceylon.
[124]
[124]
H. P. B., taking time by the forelock, preceded me to Bombay so as to make a promised visit to our colleague, the late Thakur of Wadhwan.
H. P. B., nắm thời cơ, đã đi trước tôi tới Bombay để thực hiện chuyến thăm đã hứa với vị đồng sự của chúng tôi, cố Thakur của Wadhwan.
On the 15th of February I left for Bombay with Mr. St. George Lane-Fox, F. T. S., and on the 18th was rejoined by H.P.B., Dr. Hartmann, and Mohini, who had extended their Kathiawar trip as far as Sihor, to visit our always beloved and loyal colleague, Prince Harisinhji Rupsinhji. On the 20th, at noon, we sailed for Marseilles on the S.S. “Chandernagore,” of one of -the French lines, receiving demonstrations of affection from a large number of friends who came, with the usual bouquets and flower-wreaths, to see us off.
Ngày 15 tháng Hai tôi rời tới Bombay cùng Ông St. George Lane-Fox, F. T. S., và ngày 18 thì H.P.B., Bác sĩ Hartmann, và Mohini quay lại nhập đoàn, những người đã kéo dài chuyến đi Kathiawar đến tận Sihor để thăm vị đồng sự thân yêu và trung thành của chúng tôi, Hoàng thân Harisinhji Rupsinhji. Trưa ngày 20, chúng tôi xuống tàu S.S. “Chandernagore” của một trong các hãng Pháp, đi Marseilles, được đông đảo bằng hữu ra tiễn với những biểu lộ thân tình, tay mang những bó hoa và vòng hoa như lệ thường.
The particulars of our delightful voyage, our arrival at Marseilles and Nice, the incidents which occurred while we were the guests of Lady Caithness, our arrival at Paris, my leaving H. P. B. there and proceeding on to London with Mohini, the settlement of the teapot -tempest in the London Lodge, and the melancholy results of our intercourse with the S. P. R., have been recorded above. We will now resume the thread of our narrative of the results of my Buddhist mission.
Những chi tiết về chuyến hải hành thú vị, việc chúng tôi cập cảng Marseilles và Nice, các sự việc xảy ra khi chúng tôi là khách của Lady Caithness, lúc tới Paris, việc tôi để H. P. B. lại đó và cùng Mohini đi tiếp sang Luân Đôn, việc dàn xếp “cơn bão trong ấm trà” ở London Lodge, và những kết cục đáng buồn từ mối giao tiếp của chúng tôi với S. P. R., đều đã được ghi lại ở trên. Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục mạch tường thuật về kết quả của sứ mệnh Phật giáo của tôi.
A long familiarity with the methods of public business as followed in governmental departments restrained me from hurrying to the Colonial Secretary’s antechamber with my papers in my hand. Instead of committing that indiscretion, which has caused so many aspirants for official favor to spend weeks and months outside the door behind which the great man sits, I made it my first business to find out how the [125] business of the Colonial Office was transacted, which bureau had special charge of Ceylon affairs, and what was the character of the gentleman in charge of it. These inquiries—which, of course, I might have completed in an hour had I been so fortunate as to meet with the right man—took up a fortnight. Seeing at last my way clear, I called at the Colonial Office and sent in my card to the Hon. R. H. Meade. Mr. Meade received me with the utmost politeness, and showed himself entirely familiar with the details of our case. He was good enough to enlighten me about the forms of correspondence used in the British public offices, and I addressed to Lord Derby the following letter:
Sự quen thuộc lâu năm với các phương thức công vụ theo lề lối của các cơ quan chính phủ đã ngăn tôi vội vã mang giấy tờ tới phòng ngoài của Bộ trưởng Thuộc địa. Thay vì phạm sự đường đột ấy, điều đã khiến nhiều người cầu cạnh ân huệ chính thức phải dầm dề hàng tuần hàng tháng trước cánh cửa sau đó là nơi vị chức sắc bậc cao ngồi, tôi đã làm việc đầu tiên là tìm hiểu cách thức [125] tiến hành công việc ở Bộ Thuộc địa, phòng nào phụ trách đặc biệt các việc của Ceylon, và tính tình của vị phụ trách ra sao. Những dò hỏi này — vốn dĩ, dĩ nhiên, tôi có thể hoàn tất trong một giờ nếu may gặp đúng người — đã tiêu tốn nửa tháng. Cuối cùng khi thấy đường đi nước bước đã rõ, tôi tới Bộ Thuộc địa và gửi danh thiếp vào cho Ngài R. H. Meade. Ông Meade tiếp tôi cực kỳ nhã nhặn và tỏ ra am tường tường tận các chi tiết vụ việc của chúng tôi. Ông còn vui lòng giảng giải cho tôi về các thể thức thư từ dùng trong các công sở công của Anh, và tôi đã gửi tới Ngài Bá tước Derby bức thư sau:
77 ELGIN CRESCENT W.,
77 ELGIN CRESCENT W.,
LONDON, the 17th May, l884.
LONDON, ngày 17 tháng Năm, l884.
TO
KÍNH GỬI
THE RIGHT HONORABLE THE EARL OF DERBY,
Ngài Tối Kính, Bá tước Derby,
Secretary of State for the Colonies.
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa.
MY LORD:
Kính thưa Ngài:
1. The despatch of the 18th of February of H. E. Sir Arthur Gordon to your Lordship will have informed you of my having come to London as the representative of the Sinhalese Buddhists, to obtain redress for the gross wrongs done them in connection with the riots of Easter Sunday last year.
1. Bức công văn ngày 18 tháng Hai của Ngài Toàn quyền Sir Arthur Gordon gửi tới Ngài hẳn đã cho biết tôi đã đến Luân Đôn với tư cách đại diện cho người Phật tử Sinhala, để đòi lại công lý cho những bất công nghiêm trọng đã xảy đến với họ liên quan đến các vụ bạo loạn vào Chủ nhật Phục sinh năm ngoái.
2. I have personally conferred with the Hon. R. H. Meade of the Colonial Office with respect to [126] the matter, and now have the honor to ask your Lordship’s consideration of the enclosures herewith forwarded, copies of which are not on file in the office. They are:
2. Tôi đã trực tiếp thảo luận với Ngài R. H. Meade của Bộ Thuộc địa về [126] vấn đề này, và nay hân hạnh thỉnh cầu Ngài xem xét các tài liệu đính kèm gửi kèm đây, bản sao của chúng hiện không có lưu tại văn phòng. Đó là:
3. A copy of an official report of a meeting of Sinhalese Buddhists held at Colombo on the 28th day of January, 1882, to consider the present state of Buddhism in the Island of Ceylon, and adopt such measures as may be necessary for obtaining redress for certain grievances.
3. Bản sao một báo cáo chính thức về cuộc họp của những Phật tử Sinhala tổ chức tại Colombo ngày 28 tháng Giêng năm 1882, nhằm xem xét tình trạng hiện tại của Phật giáo trên đảo Ceylon, và thông qua những biện pháp cần thiết để khắc phục một số bất bình.
4. Copy of a letter and appeal to H. E. Sir Arthur Gordon, Governor of Ceylon, asking him to take certain specified lawful steps to secure redress for the Buddhists: the writer being Edward F. Perera, Esq., leading Proctor for the Buddhists in the late riot proceedings. To which letter, although written and delivered to its addressee on the 5th of February, no response had, I believe, been received up to the most recent dates from the Island.
4. Bản sao thư và kháng thư gửi Ngài Toàn quyền Sir Arthur Gordon, Thống đốc Ceylon, thỉnh cầu Ngài có những bước đi hợp pháp được nêu rõ nhằm bảo đảm sự đền bù cho người Phật tử: người viết là Luật sư Edward F. Perera, vị chưởng khế hàng đầu của Phật tử trong các vụ tố tụng liên quan tới bạo loạn vừa qua. Cho đến những tin tức gần nhất nhận được từ đảo, tôi tin rằng bức thư này, tuy được viết và trao tới tay người nhận vào ngày 5 tháng Hai, vẫn chưa hề nhận được hồi đáp.
5. Extracts from a private letter to myself from Mr. J. R. De Silva, one of the best and most intelligent Buddhists of Ceylon, and the gentleman who was Secretary to the meeting for forming the Defence Committee named in the Document; the information showing the despairing state of feeling with regard to the prospect of getting justice from Government unless my present mission should succeed.
5. Trích đoạn từ một bức thư riêng gửi cho tôi của Ông J. R. De Silva, một trong những Phật tử ưu tú và thông tuệ nhất của Ceylon, vị thư ký cuộc họp thành lập Ủy ban Phòng vệ được nêu trong Tài liệu; trong đó thông tin cho thấy tâm trạng tuyệt vọng trước viễn cảnh mong được chính phủ thực thi công lý, trừ phi sứ mệnh hiện tại của tôi thành công.
6. I have also shown to Mr. Meade a copy of a Colombo paper, which sets forth the unlimited power habitually enjoyed by the second law officer of the [127] crown—the local official primarily responsible, as alleged, for the apparent miscarriage of justice complained of.
6. Tôi cũng đã cho Ông Meade xem một tờ báo Colombo, trong đó trình bày quyền lực vô hạn vốn được viên pháp quan thứ hai của [127] Hoàng gia thụ hưởng — vị quan chức địa phương bị cho là chịu trách nhiệm chính cho sự có vẻ như là sai lầm nghiêm trọng của công lý mà người ta đang khiếu nại.
7. That your Lordship may know what the Sinhalese people hope for as measures of justice, I would state that I am asked to beg your consideration of the following points:
7. Để Ngài hiểu được dân tộc Sinhala kỳ vọng những biện pháp công lý nào, tôi xin trình rằng tôi được thỉnh cầu nêu lên để Ngài xem xét các điểm sau:
(a) That the Attorney-General of Ceylon [7] be instructed, if not illegal, to order the parties accused of the guilt of the Easter Riot and of its consequences to be committed for trial.
(a) Chỉ thị cho Tổng Chưởng lý Ceylon, nếu không trái luật, ra lệnh truy tố đưa ra xét xử các cá nhân bị cáo buộc tội lỗi trong vụ Bạo loạn Phục sinh và các hệ quả của nó.
(b) That, either by extending the terms of the Imperial Indian Proclamation of religious neutrality by the British Government, or otherwise, some absolute guarantee of their religious rights and privileges shall be at once given the Sinhalese Buddhists, so that the prevailing inquietude may be done away with, and all officials be made to feel that Her Majesty’s Government will hold them to stern account should they henceforth fail in the impartial performance of duty.
(b) Hoặc bằng cách mở rộng các điều khoản của Tuyên cáo Trung lập Tôn giáo ở Ấn Độ thuộc Đế quốc của Chính phủ Anh, hoặc bằng phương thức khác, cần ngay lập tức ban hành một bảo đảm tuyệt đối về các quyền và đặc quyền tôn giáo cho người Phật tử Sinhala, để loại bỏ tình trạng bất an đang lan rộng, và để mọi quan chức đều cảm nhận rằng Chính phủ Bệ hạ sẽ nghiêm khắc truy cứu trách nhiệm nếu từ nay họ thất bại trong việc thi hành công vụ một cách vô tư.
(c) That the Brithday of Buddha, viz., the Full Moon day of May, be proclaimed a full holiday for “Buddhist employees of Government, as the sacred days of Mussulmans, Hindus, and Parsis are officially recognised holidays in India for employees of those several faiths. The Buddhists, who are always most loyal subjects, are compelled to either work on this, their most holy day of the year, or lose the day’s pay.
(c) Rằng Sinh nhật của Đức Phật, tức ngày Rằm tháng Năm, được tuyên bố là một ngày nghỉ trọn vẹn cho “nhân viên Chính phủ theo Phật giáo”, tương tự như những ngày thánh của người Hồi giáo, Ấn giáo và Parsi là ngày nghỉ chính thức ở Ấn Độ đối với nhân viên thuộc các đức tin đó. Người Phật tử, vốn luôn là thần dân trung thành, hiện bị buộc hoặc phải làm việc vào ngày thiêng liêng nhất trong năm của họ, hoặc mất đi một ngày lương.
(d) That all restrictions upon the use of their national and religious music shall be removed, and [128] the Buddhists permitted to hold their religious processions as always hitherto since the remotest epochs. Though your Lordship’s despatch to Sir Arthur Gordon of December last, as transmitted to Mr. Perera through the Ceylon Colonial Government, declared that instructions had been given which your Lordship trusted “will enable all Her Majesty’s subjects in Ceylon to practise the rites of their respective religions without: interference”; yet the most revered and respected monk in the Island—Sumangala Thero, High Priest of Adam’s Peak and Principal of Widyodaya College, Colombo—was, only the other day, denied the privilege of a procession with tom-toms, and thus forced to bring his religious fair, or pinkamma, to a permature close. Harsh and unpleasant as the sound of the tomtom may be to European ears, yet it is music to the Asiatic, and a festival without it is lifeless and uninteresting to them.
(d) Rằng mọi hạn chế đối với việc sử dụng âm nhạc dân tộc và tôn giáo của họ đều được gỡ bỏ, và [128] người Phật tử được phép tổ chức các cuộc rước tôn giáo như vẫn luôn được thực hành từ những thời đại xa xưa. Dù công văn của Ngài gửi Sir Arthur Gordon vào tháng Mười Hai năm trước, được chuyển cho Ông Perera qua Chính quyền Thuộc địa Ceylon, đã tuyên bố rằng đã ban hành những chỉ dẫn mà Ngài tin rằng “sẽ cho phép mọi thần dân Bệ hạ ở Ceylon thực hành các nghi lễ của tôn giáo riêng của họ mà không: bị can thiệp”; thế nhưng vị tăng sĩ đáng kính và được tôn trọng nhất trên đảo — Tôn giả Sumangala, Trưởng Tăng của Adam’s Peak và Hiệu trưởng Trường Widyodaya, Colombo — chỉ mới đây đã bị từ chối đặc ân tổ chức một cuộc rước với trống, và vì thế buộc phải kết thúc sớm hội lễ tôn giáo, hay pinkamma, của Ngài. Dù âm thanh trống có thể khó nghe và khó chịu với tai người Âu, thì đối với người Á, đó là âm nhạc, và một lễ hội không có trống thì đối với họ thật nhạt nhòa, không hồn.
(e) That Buddhist Registrars of Marriages, etc., shall be appointed in Buddhist villages and wards of cities, and the Buddhists not forced as hitherto to depend for these services upon their bitter enemies of others faiths.
(e) Rằng cần bổ nhiệm các viên chức đăng ký hôn nhân v.v. là người Phật giáo tại các làng Phật giáo và các khu phố Phật giáo trong thành thị, và người Phật tử không còn bị buộc như trước đây phải phụ thuộc vào các đối thủ cay nghiệt thuộc tôn giáo khác để thực hiện các dịch vụ này.
(f) That immediate steps shall be taken to decide the question of the Buddhist Temporalities, and, by taking financial matters out of the hands of the priests who, by their ordination laws, are prohibited from meddling in worldly affairs, but nevertheless have been greatly corrupted by the hasty action of the British authorities in turning over to their custody [129] (see Ordnance No. 10, of 1856) the vast estates of the Church, to aid in restoring the pristine virtue of the priesthood. An examination of Ceylon official records shows that the British authorities have, unwittingly, helped to a great extent to injure the tone of Buddhist morality, by first extinguishing the ancient sovereign power of ecclesiastical discipline vested in the King, and then failing to either exercise it themselves or to vest it in a Chamber, or Board, or Council of Priests. The High Priest of the Dâlada Maligâwa, at Kandy, himself bitterly complained to me about this when I was at his temple in January last.
(f) Rằng cần tiến hành ngay các bước để quyết định vấn đề Tài sản thế tục của Phật giáo, và, bằng cách rút các vấn đề tài chính ra khỏi tay chư tăng — những người theo luật thọ giới bị cấm can dự vào việc thế tục, nhưng dẫu vậy đã bị bại hoại lớn lao bởi hành động vội vã của nhà chức trách Anh khi giao [129] (xem Sắc lệnh số 10, năm 1856) những cơ nghiệp mênh mông của Giáo hội cho họ quản giữ — để góp phần khôi phục đức hạnh nguyên sơ của Tăng đoàn. Xem xét hồ sơ chính thức của Ceylon cho thấy nhà chức trách Anh, một cách vô tình, đã góp phần lớn vào việc làm tổn hại phẩm chất đạo đức Phật giáo, bằng cách trước là dập tắt quyền lực chủ quyền cổ xưa về kỷ luật giáo hội vốn nằm trong tay Quốc vương, sau đó lại không chịu hoặc tự mình thực thi, hoặc chuyển giao nó cho một Viện, hay Ủy ban, hay Hội đồng Tăng lữ. Chính vị Trưởng Tăng của Dâlada Maligâwa ở Kandy cũng đã đau xót than phiền với tôi về điều này khi tôi ở tại ngôi đền của Ngài vào tháng Giêng vừa qua.
I am sorry to inform your Lordship that discontent and despair are rapidly spreading among the Sinhalese Buddhists; a fact to be the more deplored, since there is not in all the Imperial realm a more simple, peaceable community.Before the manufacture and sale of arrack was promoted for revenue purposes, they were—unless history belies them—a most kindly, quiet, and virtuous nation. Their devotion to Buddhism appears in the fact that, despite the bloody policy of the Portuguese, and the despicable and crafty one of the Dutch, they ever remained secretly true to their forefathers’ faith, and as soon as it became safe under British rule, openly professed it. They feel just now, however, as though the ruling powers were secretly willing to deliver them over to the Romish mob, and determined to deny them common protection. No seer is required to foretell what the legitimate outcome of such a feeling must be, and on behalf of [130] the better part of the nation, I do most earnestly implore your Lordship to take such steps as shall, without dangerous delay, prove to them the sincerity of the professions of Government as made from time to time.
Tôi rất tiếc phải báo tin với Ngài rằng sự bất mãn và tuyệt vọng đang nhanh chóng lan rộng trong giới Phật tử Sinhala; một thực tế càng đáng tiếc hơn, bởi trong toàn cõi Đế quốc không có cộng đồng nào hiền hòa, chất phác hơn. Trước khi việc sản xuất và bán rượu arrack được khuyến khích vì mục tiêu tăng thu, họ — nếu lịch sử không đánh lừa chúng ta — là một dân tộc nhân hậu, yên bình và đức hạnh. Lòng sùng mộ Phật giáo của họ thể hiện ở chỗ, bất chấp chính sách đẫm máu của người Bồ Đào Nha và chính sách ti tiện, xảo quyệt của người Hà Lan, họ vẫn luôn âm thầm trung trinh với tín ngưỡng tổ tiên, và ngay khi trở nên an toàn dưới sự cai trị của Anh quốc, họ đã công khai tuyên xưng đạo. Tuy nhiên, ngay lúc này, họ có cảm giác như thể nhà cầm quyền ngấm ngầm sẵn lòng nộp họ cho đám đông Giáo Rôma, và quyết chí khước từ cho họ sự bảo hộ thông thường. Không cần tới nhà tiên tri nào để đoán biết kết cục hợp lẽ của tâm trạng như vậy sẽ là gì, và thay mặt cho [130] bộ phận ưu tú của quốc dân, tôi khẩn khoản van nài Ngài vui lòng thực thi những bước đi, không chậm trễ đến mức nguy hiểm, để chứng minh cho họ sự chân thành của những tuyên ngôn từ phía Chính phủ đã được đưa ra hết lần này tới lần khác.
I have the honor to be,
Tôi trân trọng kính chào,
Your Lordship’s obedient, humble servant,
Kẻ bề tôi khiêm tốn, vâng phục của Ngài,
(SD.) HENRY S. OLCOTT.
(SD.) HENRY S. OLCOTT.
A few days later, having received further communications from Colombo, I supplemented it with a second letter, to the following effect:
Vài ngày sau, sau khi nhận thêm thư từ từ Colombo, tôi đã bổ sung bằng một bức thư thứ hai, với nội dung như sau:
77 ELIGIN CRESCENT, NOTTING HILL,
77 ELIGIN CRESCENT, NOTTING HILL,
LONDON, 27th May, 1884.
LONDON, ngày 27 tháng Năm, 1884.
TO THE RIGHT HONORABLE THE EARL OF DERBY,
KÍNH GỬI NGÀI TỐI KÍNH, BÁ TƯỚC DERBY,
Secretary of State for the Colonies.
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa.
My LORD,—I have the honor to enclose, for your Lordship’s information, the following additional papers on the matter of the late religious riots at Colombo, Ceylon:
Kính thưa Ngài,— Tôi hân hạnh gửi kèm, để Ngài tường, các tài liệu bổ sung sau về vấn đề các cuộc bạo loạn tôn giáo gần đây tại Colombo, Ceylon:
Copies of eight letters and endorsements, included in a correspondence, in February last, between H. Sumangala Thero, High Priest, and certain Government officials, with respect to a Police permit for a religious procession.
Bản sao tám bức thư và các bút phê, nằm trong một tập thư từ, vào tháng Hai vừa rồi, giữa Tôn giả H. Sumangala, Trưởng Tăng, và một số quan chức Chính phủ, liên quan đến giấy phép của Cảnh sát cho một cuộc rước tôn giáo.
The venerable High Priest, as your Lordship will perceive, asked for permission to perform the well-known, popular rite of conveying about the city, with appropriate music, a sacred relic. The object was to [131] help ally the prevalent apprehension “with respect to sicknesses now prevailing at Colombo,” the relic being supposed to possess a certain power in itself. If this be regarded as a mere superstition, it is to be observed that it is identical in character with the popular feeling in Catholic and Greek Protestant countries, which demands the similar bearing of relics about the streets in times of pestilence. Moreover, among the Sinhalese Buddhists the ceremonial is hallowed by the custom of many ages.
Vị Trưởng Tăng khả kính, như Ngài có thể thấy, đã xin phép cử hành nghi lễ phổ cập, nổi tiếng là rước một xá lợi quanh thành phố, với âm nhạc thích hợp. Mục đích là để [131] giúp xoa dịu nỗi lo ngại đang lan rộng “liên quan đến các bệnh tật hiện đang hoành hành tại Colombo”, vì xá lợi được tin là tự thân có một quyền năng nhất định. Nếu việc này bị coi chỉ là một sự mê tín, thì cần lưu ý rằng nó đồng nhất về bản chất với tâm thức phổ cập ở các xứ Công giáo và Tin Lành Hy Lạp, vốn đòi hỏi việc rước các xá tích tương tự trên đường phố mỗi khi có dịch. Hơn nữa, với người Phật tử Sinhala, nghi lễ này đã được thánh hóa bởi phong tục của bao thời đại.
The documents show that their innocent request was virtually denied, notwithstanding the benevolent assurances of your Lordship, as communicated through the Colonial authorities in January last.
Các văn kiện cho thấy yêu cầu vô tội của họ trên thực tế đã bị khước từ, bất chấp những bảo chứng nhân ái của Ngài, được truyền đạt qua nhà chức trách Thuộc địa hồi tháng Giêng vừa rồi.
My latest advices from Ceylon—May 5th, instant—indicate a continuance of the unsettled feeling among the Buddhists; and I venture to hope that, in view of the fact that they have now been patiently waiting for about thirteen months for justice, your Lordship may be able to give early and favorable consideration to the appeal which, on their behalf, I have had the honor to make. With assurances of profound respect,
Tin tức mới nhất tôi nhận từ Ceylon — ngày 5 tháng Năm vừa qua — cho thấy tâm trạng bất ổn nơi người Phật tử vẫn tiếp diễn; và tôi mạn phép hy vọng rằng, xét đến sự kiện họ đã kiên nhẫn chờ đợi công lý suốt khoảng mười ba tháng nay, Ngài có thể sớm dành cho lời thỉnh cầu mà tôi đã hân hạnh thay mặt họ trình lên một sự xem xét tích cực. Xin gửi đến Ngài lời kính trọng sâu xa,
I have the honor to be,
Tôi trân trọng kính chào,
Your Lordship’s obedient servant,
Kẻ bề tôi vâng phục của Ngài,
(SD.) H.S. OLCOTT.
(SD.) H.S. OLCOTT.
About this time some of the London editors, coming to know of the nature of my business in London, expressed their sympathy; and one Conservative organ, [132] at least, intimated- that there had been a miscarriage of justice, and that it was the duty of Government to make proper amends.
Vào thời điểm đó, một số chủ bút ở Luân Đôn, khi biết về tính chất công việc của tôi, đã bày tỏ sự cảm thông; và ít nhất một tờ báo bảo thủ [132] ám chỉ rằng đã có một vụ công lý xử sai, và rằng nhiệm vụ của Chính phủ là phải bù đắp thỏa đáng.
I will now complete the record, by giving the text of the reply of the Earl of Derby to my communications, and of the letters which subsequently passed between us:
Giờ đây tôi sẽ hoàn tất hồ sơ, bằng cách đưa ra toàn văn hồi thư của Bá tước Derby cho các thư tín của tôi, cùng những thư từ sau đó giữa chúng tôi:
DOWNING STREET,
DOWNING STREET,
17th June, 1884.
ngày 17 tháng Sáu, 1884.
SIR,— I am directed by the Earl of Derby to acknowledge the receipt of your letters of the 17th and 27th ultimo, relating to certain grievances which the Buddhists of Ceylon are alleged to be suffering.
THƯA ÔNG,— Tôi được Bá tước Derby ủy chỉ ghi nhận đã nhận thư của Ông đề ngày 17 và 27 tháng trước, liên quan đến những bất bình mà người Phật tử Ceylon bị cho là đang phải chịu đựng.
2. Lord Derby has already expressed his great regret that it has not been found possible to prosecute the ringleaders of the riots of Easter Sunday last year, and is ready to acknowledge that the sufferers on that occasion have real grounds for complaint in this respect; but in the absence of fresh evidence, it would be impossible to reopen the matter.
2. Ngài Derby đã bày tỏ sự rất lấy làm tiếc rằng không thể tiến hành truy tố những kẻ cầm đầu các vụ bạo loạn vào Chủ nhật Phục sinh năm ngoái, và Ngài sẵn lòng thừa nhận rằng những người chịu thiệt hại trong dịp ấy có các căn cứ thực sự để khiếu nại về điểm này; tuy nhiên, trong tình trạng không có bằng chứng mới, thì không thể mở lại vụ việc.
3. Her Majesty’s Government are resolved that in Ceylon, as in other parts of the Empire, the principles of religious liberty shall be strictly adhered to, and will do their utmost to remove any grievance under which any religious community can be shown to labor, and to put an end to any appearance of disregarding the proclamations of religious neutrality which were made at the time when the English took possession of the Island. It is impossible to make any more [133] explicit statement of the firm intention of the Government to abide by the spirit of those ancient proclamations than has already been made by the Governor, under the instructions of the Secretary of State, as given in Lord Derby’s despatch, to which reference is made in your letter of 17th May,
3. Chính phủ Bệ hạ kiên quyết rằng, ở Ceylon cũng như các phần khác của Đế quốc, những nguyên tắc về tự do tôn giáo sẽ được tuân thủ nghiêm ngặt, và sẽ làm hết sức mình để loại bỏ bất kỳ bất bình nào khi có thể chứng minh là một cộng đồng tôn giáo đang phải gánh chịu, cũng như chấm dứt bất kỳ biểu hiện nào coi thường các tuyên cáo về trung lập tôn giáo vốn đã được ban bố vào thời điểm người Anh tiếp quản đảo. Không thể có một [133] tuyên ngôn minh thị hơn nữa về chủ định vững chắc của Chính phủ trong việc tuân giữ tinh thần của các tuyên cáo xưa ấy, hơn những gì Thống đốc đã tuyên bố theo chỉ thị của Bộ trưởng, như đã nêu trong công văn của Ngài Derby, mà Ông có nhắc tới trong bức thư ngày 17 tháng Năm của mình.
Lord Derby has confidence in the loyalty and good sense of the Buddhist community in Ceylon, and feels sure that they will loyally accept his assurances in this matter.
Ngài Derby đặt niềm tin vào lòng trung thành và lương tri của cộng đồng Phật tử ở Ceylon, và tin chắc rằng họ sẽ chân thành chấp nhận những bảo chứng của Ngài trong vấn đề này.
4. The question of dealing with the Buddhist Temporalities is a difficult one, and has already engaged the attention of Her Majesty’s Government, and of Sir Arthur Gordon’s predecessors. No doubt Sir Arthur Gordon, to whom your letter will be referred, will carefully consider the whole matter, and Lord Derby will be glad to give his attention to any practicable scheme suggested to Sir A. Gordon and recommended by him, which would enable the Buddhist community to control the management of the Properties vested in their Church, though clearly the exercise of any such control should be by the Buddhists themselves rather than through the instrumentality of any Government officials.
4. Vấn đề xử lý Tài sản thế tục của Phật giáo là một vấn đề khó, và đã thu hút sự quan tâm của Chính phủ Bệ hạ cũng như các vị tiền nhiệm của Sir Arthur Gordon. Không nghi ngờ gì, Sir Arthur Gordon, người sẽ được chuyển cho lá thư của Ông, sẽ xem xét cẩn trọng toàn bộ sự việc, và Ngài Derby sẽ hoan hỷ lưu tâm tới bất kỳ phương án khả thi nào được đề xuất tới Sir A. Gordon và được Ngài khuyến nghị, phương án ấy cho phép cộng đồng Phật giáo kiểm soát việc quản trị các Tài sản ký thác cho Giáo hội của họ, dẫu rõ ràng việc thực thi quyền kiểm soát như vậy phải là do chính người Phật tử chứ không qua trung gian bất kỳ quan chức nào của Chính phủ.
5. As regards the suggestion that the Birthday of Buddha should be observed as a full holiday for all Buddhist servants of the Government, and the questions of allowing tom-toms in the religious processions, and of the appointment of Buddhist registrars of marriage, Lord Derby can express no opinion without [134] first referring to the Governor, but he is confident that it will be the wish of Sir Arthur Gordon, as it is that of Her Majesty’s Government, that every consideration possible should be shown in these matters.
5. Về đề nghị rằng Sinh nhật của Đức Phật nên được coi là ngày nghỉ trọn vẹn đối với tất cả công chức theo Phật giáo, cũng như các vấn đề cho phép trống trong các cuộc rước tôn giáo, và việc bổ nhiệm các viên chức đăng ký kết hôn là Phật tử, Ngài Derby không thể đưa ra ý kiến trước khi [134] tham khảo với Thống đốc, song Ngài tin chắc rằng ý muốn của Sir Arthur Gordon cũng như của Chính phủ Bệ hạ là phải dành mọi sự cân nhắc có thể trong những vấn đề ấy.
Your letters will accordingly be referred to the Governor by the outgoing mail.
Các thư của Ông sẽ được chuyển cho Thống đốc theo chuyến thư sắp rời.
I am, Sir,
Tôi kính thư, thưa Ông,
Your obedient servant,
Kẻ bề tôi vâng phục của Ông,
(SD.) R. H. MEADE.
(SD.) R. H. MEADE.
77 ELGIN CRESCENT, NOTTING HILL, W.,
77 ELGIN CRESCENT, NOTTING HILL, W.,
LONDON, 19th June, 1884.
LONDON, ngày 19 tháng Sáu, 1884.
TO
KÍNH GỬI
THE RIGHT HONORABLE THE EARL OF DERBY,
Ngài Tối Kính, Bá tước Derby,
Secretary of State for the Colonies.
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa.
MY LORD,—I have the honor to acknowledge the receipt of your Lordship’s letter of the 17th inst., replying to mine of the 17th and 27th ultimo.
Kính thưa Ngài,— Tôi hân hạnh xác nhận đã nhận thư của Ngài đề ngày 17 tháng này, hồi đáp các thư của tôi ngày 17 và 27 tháng trước.
II. On behalf of the Buddhists of Ceylon, I have to thank you for the frank and unequivocal declaration of the intent of Her Majesty’s Government to rigidly enforce the neutrality of the Crown in the matter of religious liberty as regards the Buddhist community of Ceylon, equally with other religious communities in all parts of the Empire. Or, as you state it, “to put an end to any appearance of disregarding the proclamations of religious neutrality which were made at the time when the English took possession of [135] the Island.” This assurance, if published in the Gazette of the Local Government, and made obligatory upon all local officials, will go far towards re-establishing the confidence of the Sinhalese nation, now so deeply shaken by recent events. What the nation wants is the full conviction that they are not to be made the victims of a mob of religious fanatics who, by threatening the peace of Ceylon, can intimidate officials and escape punishment of their crimes.
II. Thay mặt người Phật tử Ceylon, tôi xin cảm tạ Ngài vì lời tuyên ngôn thẳng thắn và dứt khoát về ý định của Chính phủ Bệ hạ trong việc nghiêm ngặt duy trì tính trung lập của Hoàng gia trong vấn đề tự do tôn giáo đối với cộng đồng Phật giáo Ceylon, bình đẳng với các cộng đồng tôn giáo khác ở mọi phần của Đế quốc. Hoặc, như Ngài đã nêu, “chấm dứt bất kỳ biểu hiện nào coi thường các tuyên cáo về trung lập tôn giáo vốn đã được ban bố vào thời điểm người Anh tiếp quản [135] đảo.” Bảo chứng này, nếu được công bố trên Công báo của Chính quyền địa phương và trở thành mệnh lệnh buộc mọi quan chức địa phương phải tuân thủ, sẽ đóng góp lớn trong việc khôi phục lòng tin của dân tộc Sinhala, hiện đang bị lay chuyển sâu sắc bởi các biến cố gần đây. Điều quốc dân mong muốn là sự xác tín trọn vẹn rằng họ sẽ không bị biến thành nạn nhân của đám cuồng tín tôn giáo vốn có thể, bằng cách đe dọa sự bình yên của Ceylon, làm khiếp sợ quan chức và thoát khỏi sự trừng phạt cho tội ác của mình.
III. I beg your Lordship’s attention to the 2nd clause of the letter under reply, as it really touches the most vital point of the present question. It is there remarked that “in the absence of fresh evidence, it would be impossible to re-open the matter” of the trial of the alleged ringleaders of the riots of Easter Sunday last year. By implication this, of course, affirms that if such “fresh evidence” had been by me brought forward, Her Majesty’s Government would have felt it their duty to instruct the Colonial law officers of the Crown to proceed to prosecution, as by statute provided. If I am not mistaken in this deduction, I would most earnestly beg of your Lordship to put that affirmation into so many words. For, that alone would, in the opinion of the Sinhalese, restore them to their vested rights as subjects, by showing them that the Courts are as open to them as to their foes, and they need not sue for justice in vain. Until this moment, in the absence of some such assurance since the riots, they have felt the contrary, and it was their despair which drove them to organize [136] the “Buddhist Defence Committee” on the 28th of January last, and send me to England upon my present mission.
III. Tôi kính thỉnh Ngài lưu tâm đến khoản 2 của bức thư Ngài hồi đáp, vì nó thực sự chạm đến điểm cốt tử của vấn đề hiện thời. Ở đó có nói rằng “trong tình trạng không có bằng chứng mới, thì không thể mở lại vụ việc” xét xử các kẻ bị cáo buộc là cầm đầu bạo loạn Chủ nhật Phục sinh năm ngoái. Hàm ngụ của câu ấy, dĩ nhiên, xác quyết rằng nếu có “bằng chứng mới” do tôi đưa ra, thì Chính phủ Bệ hạ hẳn sẽ thấy là bổn phận của mình phải chỉ thị cho các pháp quan thuộc địa của Hoàng gia tiến hành truy tố theo như luật định. Nếu suy luận này của tôi không sai, tôi khẩn khoản thỉnh cầu Ngài diễn đạt khẳng định ấy thành câu chữ rõ ràng. Bởi lẽ, chỉ riêng điều đó, theo quan điểm của người Sinhala, cũng đủ trả lại cho họ những quyền đã được xác lập với tư cách thần dân, bằng cách cho họ thấy rằng tòa án rộng mở với họ như với đối phương, và rằng họ sẽ không khẩn cầu công lý một cách tuyệt vọng nữa. Cho tới thời điểm này, vì thiếu vắng một bảo chứng như vậy kể từ sau các cuộc bạo loạn, họ đã có cảm tưởng ngược lại, và chính tuyệt vọng đã thúc đẩy họ tổ chức [136] “Ủy ban Phòng vệ Phật giáo” vào ngày 28 tháng Giêng vừa qua, và cử tôi sang Anh trên sứ mệnh hiện tại.
IV. A reference to the archives of the Colonial Office will convince your Lordship of the fact that the question of the Buddhist Temporalities is in the state of a case awaiting decision, after a full report by a Special Commission appointed to look into the entire subject. Their report is dated 17th October, 1876, and the delay of Government in acting upon its recommendations has been productive of much injury to the morals of the Kandyan priesthood.
IV. Tham khảo văn khố của Bộ Thuộc địa sẽ khiến Ngài xác tín về thực tế rằng vấn đề Tài sản thế tục của Phật giáo đang ở trạng thái một vụ việc chờ quyết định, sau bản báo cáo đầy đủ của một Ủy ban Đặc biệt được cử xem xét toàn bộ chủ đề này. Báo cáo của họ đề ngày 17 tháng Mười, 1876, và sự chậm trễ của Chính phủ trong việc hành động theo các kiến nghị đã gây tổn hại lớn tới đạo hạnh của Tăng đoàn Kandyan.
V. I thank your Lordship for the promise to refer to H. E. Sir Arthur Gordon, Governor of Ceylon, with the expression of the wish of Her Majesty’s Government “that every consideration possible should be shown in these matters”—the questions of making Lord Buddha’s Birthday a Government holiday for Buddhist public servants, of allowing tom-toms in religious processions, and of the appointment of Buddhist Registrars. I have the full conviction that Sir Arthur Gordon will do all he can to give effect to the expressed sympathies of Government, and in all official matters to treat the Sinhalese with justice, when his attention is called to grievances.
V. Tôi cảm ơn Ngài vì đã hứa sẽ tham khảo với Ngài Toàn quyền Sir Arthur Gordon, Thống đốc Ceylon, cùng với việc bày tỏ nguyện vọng của Chính phủ Bệ hạ “rằng cần dành mọi sự cân nhắc có thể trong những vấn đề này” — các vấn đề về việc lấy Sinh nhật Đức Phật làm ngày nghỉ công vụ cho công chức Phật giáo, việc cho phép trống trong các cuộc rước tôn giáo, và việc bổ nhiệm các viên chức đăng ký là Phật tử. Tôi hoàn toàn tin chắc Sir Arthur Gordon sẽ làm mọi điều có thể để hiện thực hóa cảm thông được Chính phủ bày tỏ, và trong mọi công vụ xử trí công bằng với người Sinhala, ngay khi những bất bình được trình bày lên.
VI. To complete the files of the Colonial Office to date, I hand your Lordship herewith copies of documents received by me by last mail from the Buddhist Defence Committee. They show that permission was denied for a Buddhist religious procession upon the [137] Birthday of Lord Buddha (May 9th), and for another on the Sinhalese New Year’s Day (April 11 th), although permits were issued for processions, with tom-toms, during the months of February and March, to Mohammedan and Hindu applicants. Can it be that to the representatives of the most ancient religion in Ceylon these simple privileges are to be denied, while granted to communities of all the other and later faiths? That permission to march in religious procession was actually given the Buddhists in one or two instances within the past year, but was of no practical benefit to them, since they were prohibited the use of their tom-toms; and therefore the permit or permits were not availed of. For, as the correspondent shows, a procession without those musical instruments is a tame and lifeless affair. It is the commonest of things in Great Britain for the ordinary street traffic to be suspended in streets along which authorised processions are passing. It would be no great concession, therefore, for the same thing to be done in the small town of Colombo—where the street traffic is usually very small—upon the rare occasions of Buddhist processions, seeing that the Sinhalese people have ever been loyal and peaceable subjects of Her Majesty, and the privilege for which they are contending has been enjoyed from the remotest antiquity.
VI. Để hoàn thiện hồ sơ của Bộ Thuộc địa tính đến ngày, tôi xin gửi kèm Ngài bản sao những văn kiện do tôi nhận trong chuyến thư vừa qua từ Ủy ban Phòng vệ Phật giáo. Chúng cho thấy giấy phép đã bị khước từ đối với một cuộc rước tôn giáo Phật giáo vào [137] ngày Sinh nhật Đức Phật (9 tháng Năm), và cho một cuộc rước khác vào ngày Tết Sinhala (11 tháng Tư), dẫu cho trong các tháng Hai và Ba, giấy phép đã được cấp — kèm theo trống — cho các đương đơn Hồi giáo và Ấn giáo. Há lại có thể để xảy ra chuyện những đặc ân đơn sơ ấy bị khước từ đối với những đại diện của tôn giáo cổ xưa nhất ở Ceylon, trong khi lại được trao cho các cộng đồng của mọi đức tin khác và muộn hơn hay sao? Rằng giấy phép đi rước trong một vài trường hợp trong năm qua quả đã được cấp cho người Phật tử, nhưng không mang lại lợi ích thực tiễn nào cho họ, vì họ bị cấm dùng trống; và vì thế giấy phép (hoặc các giấy phép) đã không được sử dụng. Bởi, như vị thông tín viên cho thấy, một đoàn rước không có các nhạc cụ ấy là một cuộc rước nhạt nhòa, vô sinh khí. Ở Đại Anh, việc tạm ngưng giao thông thông thường trên các tuyến phố nơi có các đoàn rước được phép đi qua là điều hết sức bình thường. Do đó, không phải là một nhượng bộ lớn khi làm điều tương tự tại thị trấn nhỏ Colombo — nơi giao thông đường phố thường ít ỏi — vào những dịp hiếm hoi của các cuộc rước Phật giáo, xét rằng người Sinhala luôn là thần dân trung thành và hiền hòa của Bệ hạ, và đặc quyền mà họ đang tranh đấu vốn đã được hưởng từ thời xa xưa nhất.
I am, my Lord,
Tôi kính thư, kính thưa Ngài,
Your Lordship’s obedient Servant,
Kẻ bề tôi vâng phục của Ngài,
(SD.) H. S. OLCOTT.
(SD.) H. S. OLCOTT.
[138]
[138]
DOWNING STREET,
DOWNING STREET,
27thJune,1884
ngày 27 tháng Sáu, 1884
SIR,— I am directed by the Earl of Derby to acknowledge the receipt of your further letter of the 19th instant, on the subject of the late unfortunate riots which took place in Ceylon on Easter Sunday last year.
THƯA ÔNG,— Tôi được Bá tước Derby ủy chỉ ghi nhận đã nhận bức thư mới của Ông đề ngày 19 tháng này, về những vụ bạo loạn bất hạnh đã diễn ra ở Ceylon vào Chủ nhật Phục sinh năm ngoái.
A copy of your letter will be sent to Sir Arthur Gordon, with the previous correspondence, for his consideration. As Governor of the Island he is responsible for the peace and order of the community, and no final decision can be taken without first referring the matter to him.
Bản sao thư của Ông sẽ được gửi cho Sir Arthur Gordon, cùng với toàn bộ thư từ trước, để Ngài xem xét. Là Thống đốc đảo, Ngài chịu trách nhiệm về hòa bình và trật tự của cộng đồng, và không thể có quyết định chung cuộc nào được đưa ra mà không tham khảo trước với Ngài.
Lord Derby, however, desires me to acquaint you, with reference to paragraph 3 of your letter, that your inference is correct that if any fresh evidence had been forthcoming, such as would justify legal proceedings, a prosecution would have been instituted and pressed to its conclusion.
Tuy nhiên, liên quan đến đoạn 3 trong thư của Ông, Bá tước Derby mong tôi thông báo với Ông rằng suy luận của Ông là đúng: nếu có bằng chứng mới xuất lộ đủ để biện minh cho việc khởi tố theo luật, thì việc truy tố đã được tiến hành và theo đuổi đến cùng.
I am to add, what must be well known in Ceylon, [8] that when the new Queen’s Advocate arrived in the Island, he was instructed to review the whole proceedings, with the view to ascertaining whether then, late as it was, those who took part in the disgraceful riots of Easter Sunday might not be brought to justice, and Lord Derby much regrets that this has not been found possible.
Tôi còn được dặn nói thêm, điều này hẳn đã được biết rõ ở Ceylon, rằng khi vị Biện lý mới của Nữ hoàng tới đảo, Ngài đã được chỉ thị xem xét lại toàn bộ tiến trình, nhằm xác định xem liệu bấy giờ, dù đã muộn, những kẻ tham gia vào các vụ bạo loạn đáng hổ thẹn hôm Chủ nhật Phục sinh có thể bị đưa ra trước công lý hay không, và Ngài Derby rất lấy làm tiếc rằng điều đó đã không thể thực hiện.
I am, sir,
Tôi kính thư, thưa Ông,
Your obedient servant,
Kẻ bề tôi vâng phục của Ông,
(SD.) R. H. MEADE.
(SD.) R. H. MEADE.
COLONEL OLCOTT.
ĐẠI TÁ OLCOTT.
[139]
[139]
The London business being thus satisfactorily disposed of, I waited, by appointment, upon Lord Derby, to take leave and to thank him for the prompt attention paid by the Colonial Office to the representations, made through me by the Sinhalese Buddhists. His Lordship’s reception of me was most cordial. He said that the members of Government had been much pained on hearing of the lawless events at Colombo, and he: was very sorry not to be able to do more than he had; but he said that if, at any future time the Sinhalese Buddhists should have occasion to seek the protection of the Colonial Office, he hoped that I would have no hesitancy in writing or speaking to him about it: I should always be most welcome.
Công việc ở Luân Đôn đã được giải quyết ổn thỏa như vậy, tôi theo hẹn tới yết kiến Ngài Derby, để cáo từ và cảm ơn vì Bộ Thuộc địa đã nhanh chóng lưu tâm đến những trình bày mà tôi thay mặt người Phật tử Sinhala nêu lên. Ngài tiếp tôi hết sức thân tình. Ngài nói các thành viên Chính phủ đã rất đau lòng khi nghe tin về những sự việc vô pháp ở Colombo, và Ngài rất tiếc là không thể làm hơn những gì đã làm; nhưng Ngài nói rằng nếu, vào bất kỳ lúc nào trong tương lai, người Phật tử Sinhala có nhu cầu cầu viện sự bảo hộ của Bộ Thuộc địa, Ngài hy vọng tôi sẽ không ngần ngại viết thư hay trực tiếp thưa chuyện với Ngài về việc đó: tôi sẽ luôn luôn được tiếp đón nồng hậu.
The sequel to this interesting case is soon told. The, demands of the Buddhists, so far as they could be in law, were complied with. Their right of religious processions was recognized. The Birthday of Lord Buddha was proclaimed a full holiday for the Buddhists of Ceylon. The displeasure of Government for the failure of justice, in the matter of prosecuting the rioters, was made known in the Island. Buddhist Registrars of Marriages were appointed; and finally, the Buddhist Temporalities problem has been recently put in the way of settlement, by the proclamation, in, the Government Gazette, of the Buddhist Temporalities Ordnance No. 17, of 1895, which placed the vast land endowments of the Viharas under the control of committees of laymen, whose duties and responsibilities were defined in the Ordnance itself. In the [140] Gazette, of November 12th, 1897, Sir E. Noel Walker, Colonial Secretary of Ceylon, proclaimed, by the Governor’s command, the rules of the Colombo Provincial Committee, of which not the least important are those relating to the trial and punishment of Buddhist priests for offences against the rules of their ordination, and to the qualifications necessary for candidates for incumbencies of temples. This being the first step in what, I sincerely hope, may be the beginning of the entire reformation of the Ceylon priesthood, I shall quote the Rules in question in this connection.
Hậu truyện của vụ việc thú vị này có thể kể ngắn gọn. Các yêu cầu của người Phật tử, trong khuôn khổ luật pháp cho phép, đã được đáp ứng. Quyền rước tôn giáo của họ được thừa nhận. Ngày Sinh nhật Đức Phật được tuyên bố là ngày nghỉ trọn vẹn dành cho người Phật tử Ceylon. Sự bất bình của Chính phủ đối với sự thất bại của công lý trong việc truy tố những kẻ bạo loạn đã được tuyên thông trên đảo. Các viên chức đăng ký hôn nhân là Phật tử đã được bổ nhiệm; và sau cùng, vấn đề Tài sản thế tục Phật giáo gần đây đã được đặt vào lộ trình giải quyết, bằng việc công bố, trên Công báo Chính phủ, Sắc lệnh về Tài sản thế tục Phật giáo số 17, năm 1895, đặt các cơ nghiệp đất đai mênh mông của các tự viện dưới sự quản trị của các ủy ban cư sĩ, với nhiệm vụ và trách nhiệm được quy định trong chính Sắc lệnh. Trong [140] Công báo ngày 12 tháng Mười Một, 1897, Ngài E. Noel Walker, Tổng Thư ký Thuộc địa Ceylon, đã nhân danh Thống đốc công bố các quy tắc của Ủy ban Tỉnh Colombo, trong đó không kém phần quan trọng là những quy tắc liên quan đến việc xét xử và trừng phạt chư tăng Phật giáo vì vi phạm các điều khoản của luật thọ giới, và về các điều kiện cần có đối với ứng viên thọ nhận chức vụ trụ trì chùa. Vì đây là bước đầu tiên trong điều mà tôi thành tâm hy vọng sẽ là khởi nguyên của công cuộc cải cách toàn diện Tăng đoàn Ceylon, tôi xin trích dẫn các Quy tắc ấy ở đây.
“1. A representation of an offence committed by an incumbent of a temple or any other priest or priests in violation of the ‘Vinaya,’ made in writing by five or more laymen, or by two Buddhist priests, or a Committee member, or by the President of District Committee of the district wherein the offender lives, shall De considered a sufficient cause for the Provincial Committee to institute an inquiry.
“1. Việc trình báo bằng văn bản về một tội lỗi do vị trụ trì một ngôi chùa hoặc bất kỳ vị tăng nào khác vi phạm ‘Giới luật’ (Vinaya), được làm bởi năm hay nhiều cư sĩ hơn, hoặc bởi hai vị tăng Phật giáo, hoặc bởi một thành viên Ủy ban, hoặc bởi Chủ tịch Ủy ban Quận của quận nơi người phạm lỗi cư trú, sẽ được coi là đủ cơ sở để Ủy ban Tỉnh khởi sự một cuộc điều tra.
“2. The Provincial Committee and a chapter of five, ten, or twenty Buddhist priests selected by the Committee shall constitute a competent body to inquire into offences committed by priests in violation of the Vinaya ‘.
“2. Ủy ban Tỉnh cùng với một hội đồng gồm năm, mười, hoặc hai mươi vị tăng Phật giáo do Ủy ban lựa chọn sẽ cấu thành một cơ quan đủ thẩm quyền để điều tra các tội lỗi do chư tăng phạm phải trái với Giới luật.
“3. The chapter of Buddhist priests shall belong to the same sect as that of the offender against whom a complaint is preferred, and its opinion is to be taken by the Committee only on ‘Vinaya’ matters.
“3. Hội đồng chư tăng Phật giáo phải thuộc cùng hệ phái với người phạm lỗi bị khiếu nại, và ý kiến của hội đồng chỉ được Ủy ban tham khảo về các vấn đề thuộc Giới luật.
[141]
[141]
“4. The Provincial Committee alone shall have the power of finally deciding on the removal or otherwise of the accused from the incumbency, and in the event of the nature of the offence established at the inquiry requiring that the offender or offenders should be disrobed, it shall be competent for the said Committee, provided the action be acquiesced in by the said advisory councilor a majority of its members, to entrust a Committee of priests especially appointed with the execution of this part of the finding.
“4. Chỉ riêng Ủy ban Tỉnh có thẩm quyền đưa ra quyết định chung cuộc về việc bãi miễn hay không bãi miễn bị cáo khỏi chức vụ trụ trì, và trong trường hợp bản chất của tội lỗi được xác lập tại cuộc điều tra cho thấy cần phải hoàn tục người phạm lỗi, Ủy ban nói trên, với điều kiện hành động đó được hội đồng tư vấn tán đồng hoặc đa số tán đồng, sẽ có thẩm quyền ủy thác việc thi hành phần này của quyết định cho một Ủy ban chư tăng được bổ nhiệm đặc biệt.
“5. All charges preferred against priests shall be fully inquired into, and the proceeding duly recorded. Every such inquiry shall be in the presence of the accused, who shall have full liberty to make their defence, unless in case of their absence it is proved to the satisfaction of the Provincial Committee that they have had ample and distinct notice of the inquiry, and the Committee is satisfied that they have no valid excuse for being absent therefrom, and satisfied that they purposely evade the inquiry.
“5. Mọi cáo buộc đối với chư tăng đều phải được điều tra đầy đủ và tiến trình phải được ghi chép cẩn thận. Mọi cuộc điều tra như vậy phải có mặt bị cáo, người sẽ được hoàn toàn tự do tự bào chữa, trừ trường hợp vắng mặt mà chứng minh được với sự thỏa mãn của Ủy ban Tỉnh rằng họ đã được báo tin rõ ràng và đầy đủ về cuộc điều tra, và Ủy ban thỏa mãn rằng họ không có lý do chính đáng để vắng mặt, và thỏa mãn rằng họ cố tình lẩn tránh việc điều tra.
“6. If any priest who is not duly ordained a priest, or who has been disrobed under the above rules, is found wearing the robes of a Buddhist priest, the Provincial Committee shall have the power to prosecute him at the nearest Police Court.
“6. Nếu bất kỳ vị tăng nào không được thọ giới hợp lệ, hoặc đã bị hoàn tục theo các quy tắc nói trên, mà bị phát hiện mặc y phục của một vị tăng Phật giáo, Ủy ban Tỉnh sẽ có thẩm quyền truy tố người ấy tại Tòa án Cảnh sát gần nhất.
“7. The characteristic qualifications required in a priest of the Buddhist faith (adherence to an observation of the rules laid down in the ‘Vinaya’ for their guidance, knowledge of the Buddhist doctrines, and education) shall be considered essential qualifications [142] in candidates for incumbencies, and the Provincial Committee shall give due weight and consideration to such qualifications.
“7. Những phẩm chất đặc trưng cần có ở một vị tăng theo đạo Phật (sự tuân thủ và thực hành các quy tắc được nêu trong ‘Giới luật’ để chỉ dẫn họ, tri thức về giáo lý Phật giáo, và học vấn) sẽ được coi là các điều kiện thiết yếu [142] đối với ứng viên chức vụ trụ trì, và Ủy ban Tỉnh sẽ cân nhắc đúng mức các phẩm chất ấy.
“8. In selecting a candidate to fill up an incumbency Nâti-sisya and Sisyânu sisya Parâmpara successions shall be observed, provided the Provincial Committee is satisfied that the election is not liable to operate against the interest of the temple, and the candidate possesses the qualifications prescribed in rule No.7.”
“8. Khi lựa chọn ứng viên để bổ nhiệm vào một chức vụ trụ trì, các hệ phái kế thừa Nâti-sisya và Sisyânu sisya Parâmpara sẽ được tôn trọng, với điều kiện Ủy ban Tỉnh thỏa mãn rằng việc bầu chọn không phương hại tới lợi ích của ngôi chùa, và ứng viên có các phẩm chất được quy định trong quy tắc số 7.”
The following excerpt from my address before the convention of Buddhist Priests, which met at my invitation at Galle, on July 4th, 1880, will also be of interest as showing that my original plans for the elevation and purification of the Buddhist Sangha have now, after the lapse of seventeen years, been realised in the official proclamation of the foregoing Rules. Events have clearly proved the truth of my forecast, that what a nation really needs and persistently demands, any wise Government will concede. I said, in the address in question:
Đoạn trích sau từ bài diễn văn của tôi trước Hội nghị chư Tăng Phật giáo, nhóm họp theo lời mời của tôi tại Galle, ngày 4 tháng Bảy, 1880, cũng sẽ đáng chú ý vì cho thấy các kế hoạch ban sơ của tôi nhằm chấn hưng và tịnh hóa Tăng-già Phật giáo nay, sau mười bảy năm, đã được hiện thực trong bản công bố chính thức các Quy tắc vừa dẫn. Các biến cố đã chứng minh rõ ràng sự đúng đắn của dự liệu của tôi, rằng điều một dân tộc thực sự cần và bền bỉ đòi hỏi, thì bất kỳ Chính phủ khôn ngoan nào cũng sẽ chấp thuận. Tôi đã nói, trong bài diễn văn nói trên:
“I have noticed a very sad apathy among the priests about the question of disrobing such as have been proved immoral and to be disgracing their religion and their Order. At a recent convention of Chief Priests and Kandyan Chiefs I spoke of this as doing enormous injury to both priests and laity. The explanation given was that the Church has no power to unfrock a bad priest, and he can continue to wear the robes in defiance of their authority. In the time [143] of the Kandyan Kings, I was told, the King had the power and used it, but under the present Government there was no remedy. Well, my answer to this is to point to the Vth clause of the Kandy convention rules, and to have the two million Buddhists of this Island petition and demand that its spirit as well as letter shall be strictly obeyed. The Government has there solemnly bound itself to protect and maintain Buddhism, and, if you demand it, believe me, the clever lawyers of the Crown will find a way to disrobe your bad priests and not violate Buddhist Law Nothing would be easier than for a High Ecclesiastical Tribunal with adequate powers to be constituted by law. If the Government does nothing, no one is to blame except the Buddhists themselves. How can you expect a Christian Government to help to maintain, ‘inviolable,’ the religion of Buddha, when Buddhists will not even open their mouths to ask it to do so?..
“Tôi nhận thấy một sự thờ ơ rất đáng buồn trong hàng tăng sĩ đối với vấn đề giải y những người đã bị chứng minh là vô đạo hạnh và làm ô nhục tôn giáo cùng Tăng đoàn của mình. Tại một hội nghị gần đây của các Trưởng lão Tăng và các Thủ lĩnh Kandyan, tôi đã nói rằng điều này gây tổn hại to lớn cho cả Tăng lẫn tục. Lời giải thích đưa ra là Giáo hội không có quyền lột áo một tăng xấu, và người ấy có thể tiếp tục mặc áo tu bất chấp uy quyền của Giáo hội. Vào thời [143] các Quốc vương Kandyan, tôi được nói là Quốc vương có quyền đó và có dùng đến, nhưng dưới triều đại hiện tại thì không có phương thuốc nào. Vậy, câu trả lời của tôi là hãy trỏ vào khoản V của các quy tắc hội nghị Kandy, và để hai triệu Phật tử của hòn đảo này thỉnh cầu và yêu cầu rằng tinh thần cũng như câu chữ của khoản ấy phải được tuân thủ nghiêm ngặt. Chính phủ đã trịnh trọng cam kết bảo hộ và duy trì Phật giáo, và nếu quý vị yêu cầu, tin tôi đi, các luật sư tinh thông của Hoàng gia sẽ tìm ra cách để giải y những tăng xấu của quý vị mà vẫn không vi phạm Phật luật. Không gì dễ hơn việc thiết lập bằng pháp luật một Tòa Thượng thẩm Giáo quyền với đầy đủ thẩm quyền. Nếu Chính phủ không làm gì, thì chẳng có ai đáng trách ngoài chính người Phật tử. Làm sao quý vị có thể mong một Chính phủ Kitô giáo giúp duy trì ‘bất khả xâm phạm’ tôn giáo của Đức Phật, khi chính người Phật tử còn không buồn mở miệng để yêu cầu họ làm vậy?..
“It is my deliberate conviction, based upon these two months’ observations, that the entire structure of Sinhalese Buddhism is in danger, and that if this apathy of yours continues, and no determined effort is made to reform the abuses and dissensions that now prevail among both priests and laity, in one more century all Ceylon will have become infidel or Christian—probably the former.
“Quan điểm chín chắn của tôi, dựa trên những quan sát trong hai tháng này, là toàn bộ cơ cấu của Phật giáo Sinhala đang lâm nguy, và nếu tình trạng thờ ơ ấy của quý vị tiếp diễn, và không có nỗ lực kiên quyết nào nhằm cải tổ những lạm dụng và bất hòa hiện đang lan tràn giữa cả tăng lẫn tục, thì chỉ trong một thế kỷ nữa, toàn Ceylon sẽ trở thành hoặc vô tín ngưỡng, hoặc theo Kitô giáo — có lẽ là điều trước.
“One more important idea has come to me. The children of Buddhists should be taught their religion, regularly, on specified days, at a specified hour, at “very temple in the Island. How can we expect them [144] to grow up strong Buddhists if they are not taught the elements of their parents’ religion in their childhood? The Christians do not neglect their children; why should Buddhists neglect theirs?”
“Một ý tưởng quan trọng nữa đến với tôi. Con em người Phật tử phải được dạy đạo của mình, một cách đều đặn, vào những ngày định trước, vào giờ định trước, tại mỗi chùa trên đảo. Làm sao chúng ta có thể trông mong các em lớn lên thành những Phật tử kiên định nếu chúng không được dạy những yếu lược của tôn giáo cha mẹ từ thuở ấu thơ? Người Kitô hữu không bỏ bê con em họ; vậy cớ sao Phật tử lại bỏ bê con em mình?”
It was the large endowments of the Viharas by former Buddhist sovereigns that demoralised the Order of the Yellow Robe, so far as it was enriched. Private purity, piety, and spiritual aspiration have never survived the acquisition of wealth; the spirit becomes less willing as the flesh grows more and more pampered. However, we are now at the parting of the ways, and the future of Ceylon Buddhism looks brighter. To the spread of our educational movement we have every right to look, in Ceylon, for that gradual raising of the popular intelligence and purging of the national ideals which, infallibly and invariably, react upon all priestly fraternities that develop out of the body of the people.
Chính các cơ nghiệp lớn lao do các vị quân vương Phật giáo xưa ban tặng cho các tự viện đã làm suy đồi Tăng đoàn Y Vàng, ít nhất là đối với phần nào được thụ hưởng. Sự thanh khiết riêng tư, lòng mộ đạo và chí hướng tinh thần chưa bao giờ tồn tại nổi cùng với sự thâu đắc của cải; tinh thần trở nên kém nhiệt thành khi thân xác càng ngày càng được nuông chiều. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta đang ở ngã rẽ, và tương lai của Phật giáo Ceylon có vẻ sáng sủa hơn. Đối với sự lan rộng của phong trào giáo dục của chúng tôi, chúng tôi có mọi quyền kỳ vọng, ở Ceylon, vào sự nâng dần trình độ trí thức của quảng đại quần chúng và sự gạn lọc các lý tưởng quốc gia, những điều, một cách bất biến và không thể sai lệch, sẽ phản ứng ngược trở lại đối với mọi đoàn thể tăng lữ nảy sinh từ chính cơ thể của dân tộc.