← Old Diary Leaves 3

CHAPTER XI—CHƯƠNG XI

CHAPTER XI—CHƯƠNG XI

REALITY OF THOUGHT-TRANSFERENCE—TÍNH HIỆN THỰC CỦA SỰ CHUYỂN TƯ TƯỞNG

OF the various methods of propaganda, I am not sure but that I should give first place to the conversaziones at private houses. True that from the lecture platform one addresses his hundreds or thousands, yet I doubt if conviction is so driven home to individual minds, if so many real inquiries are made, and so many members won for the Society, as when one is brought into close relation with the smaller company of a drawing-room. This idea first occurred to me on seeing Mohini leaning against the mantel-shelf at Mr. Sinnett’s house in London, and, after a brief exposition of some given theme, answering, seriatim, the questions put by the interested company. Since then I have held many such soirées in various countries, and been present at many at which the incomparable Mrs. Besant was the expositor of our teachings, and my conviction has been strengthened by experience. I can now recommend the practice to all our Branches and groups with perfect confidence. At the house of Mrs. Campbell-Praed, in Talbot Square, there was such a gathering on the evening of May 24th, 1884, and by the request of our gifted hostess I explained the [146] principles and scheme of our Society to as brilliant a party of literary notables as even London could bring together. Questions followed each other rapidly and were answered, and thus in the simplest of ways everybody present came to know something of our great work. Conversaziones like this have been constantly held over the United Kingdom ever since, and, in fact, throughout the whole world wherever there is an English Colony; for the literature of Theosophy has penetrated everywhere, and in most countries its name is familiar as household words.

Trong các phương thức khác nhau của hoạt động hoằng pháp, có lẽ tôi sẽ ưu tiên hàng đầu cho các cuộc đàm đạo tại tư gia. Đúng là từ bục diễn thuyết, người ta có thể nói với hàng trăm, hàng ngàn thính giả, nhưng tôi hoài nghi liệu niềm xác tín có thấm tới từng tâm trí cá nhân sâu đến thế, liệu có phát sinh nhiều câu hỏi thực sự, và liệu có thu nhận được nhiều hội viên cho Hội đến vậy, như khi được tiếp xúc gần gũi với vòng bạn hữu nhỏ trong một phòng khách. Ý này lần đầu đến với tôi khi thấy Mohini tựa bên bệ lò sưởi tại nhà Ông Sinnett ở Luân Đôn, và, sau một sự trình bày ngắn gọn về chủ đề nào đó, lần lượt trả lời từng câu hỏi do cử tọa quan tâm nêu ra. Từ đó, tôi đã chủ tọa nhiều buổi dạ đàm như vậy ở nhiều quốc gia, và tham dự nhiều buổi mà Bà Besant vô song là người trình bày giáo lý của chúng ta, và niềm xác tín của tôi đã được kinh nghiệm củng cố. Giờ đây tôi có thể vững tâm khuyến nghị thực hành này cho tất cả các Chi bộ và nhóm của chúng ta. Tại nhà Bà Campbell-Praed, ở Quảng trường Talbot, đã có một cuộc tụ họp như thế vào tối ngày 24 tháng Năm, 1884, và theo thỉnh cầu của vị gia chủ tài hoa, tôi đã trình bày [146] những nguyên tắc và mô hình của Hội chúng ta trước một nhóm văn sĩ trứ danh mà ngay cả Luân Đôn cũng khó sánh. Câu hỏi nối tiếp câu hỏi và đều được giải đáp, và như vậy, bằng cách đơn giản nhất, tất cả những ai hiện diện đều hiểu biết đôi điều về công trình vĩ đại của chúng ta. Những buổi đàm đạo như vậy từ đó được tổ chức thường xuyên khắp Vương quốc Anh, và thực ra là trên khắp thế giới bất cứ nơi đâu có một Thuộc địa của người Anh; bởi văn học Thông Thiên Học đã thâm nhập mọi nơi, và tại hầu hết các nước, tên gọi của nó đã trở nên quen thuộc tựa như những tiếng nói trong gia đình.

On the evening of 28th May, at the private house where Mohini and I were guests, I tried the now famous experiment with our colleague, Mr. E. D. Ewen, of Scotland, which suggested the means of proving the nature of thought and the process of its evolution, that has been several times described by me, but which has its place also in this detailed historical sketch. As it interested both Mr. (now Sir William) Crookes and Prof. Balfour Stewart, besides other men of science, at the time, it is not right that I should omit it from my present narrative.

Vào tối ngày 28 tháng Năm, tại ngôi nhà riêng nơi Mohini và tôi là khách, tôi đã thử nghiệm cuộc thực nghiệm nay đã nổi tiếng cùng vị đồng sự của chúng ta, Ông E. D. Ewen, người Scotland, điều gợi ý phương cách chứng minh bản chất của tư tưởng và tiến trình triển khai của nó; tôi đã vài lần mô tả, nhưng nó cũng có chỗ đứng trong phác thảo lịch sử chi tiết này. Vì thời đó thực nghiệm này gây hứng thú cho cả Ông (nay là Ngài William) Crookes và Giáo sư Balfour Stewart, cùng các nhà khoa học khác, nên sẽ không ổn nếu tôi bỏ qua nó trong tường thuật hiện tại.

The reader of Stewart and Tait’s Unseen Universe will remember its being said in that suggestive work that, as the evolution of a thought is accompanied by a sort of galvanic discharge from the grey matter of the brain, and as this vibration passed beyond the periphery of the brain into the ether, and no one can say how far it may extend, it is conceivable that the evolution of thought in a human brain may affect [147] a distant plant. (I am now quoting from memory while writing on the ocean, and from a book read many years ago, yet the above is substantially the idea as expressed by the learned authors of the work in question.) Now, this was but a scientific hypothesis, and at the time, I believed, had not been experimentally supported. It was my object to see if any facts could be obtained that might throw light upon this great problem. Circumstances came to my aid at this juncture. Mr. Ewen inherits from his Scotch forebears the gift of second sight; not one that he can exercise at pleasure, but which comes sporadically; he finds he has it on awaking some morning; the next, it is gone and he cannot recall it at will, but must wait until it chooses to reappear. It is usually active throughout the day.

Độc giả của cuốn Vũ trụ Vô hình của Stewart và Tait hẳn còn nhớ, tác phẩm gợi mở ấy có nói rằng vì sự triển khai của một tư tưởng đi kèm với một dạng phóng điện từ chất xám của bộ não, và vì rung động này vượt ra ngoài chu vi não bộ vào trong dĩ thái, chẳng ai có thể nói nó vươn xa đến đâu, cho nên có thể hình dung rằng sự triển khai tư tưởng trong một bộ não người có thể ảnh hưởng [147] đến một cây cỏ ở xa. (Lúc này tôi đang trích theo trí nhớ trong khi viết trên biển, từ một cuốn sách đọc đã nhiều năm, nhưng ý trên cơ bản đúng như điều các tác giả uyên bác đã diễn đạt.) Nay, đó chỉ là một giả thuyết khoa học, và vào lúc ấy, theo tôi biết, chưa được nâng đỡ bằng thực nghiệm. Mục tiêu của tôi là xem có thể có những dữ kiện nào ném ánh sáng vào bài toán lớn lao này hay không. Hoàn cảnh đã trợ giúp tôi đúng lúc. Ông Ewen thừa hưởng từ tổ tiên Scotland của mình khả năng “nhãn thông”; không phải là năng lực có thể sử dụng theo ý muốn, mà xuất hiện từng cơn; có khi sáng thức dậy ông thấy mình có nó; ngày hôm sau, nó biến mất và ông không thể gọi lại theo ý chí, mà phải chờ đến khi nó tự chọn mà tái hiện. Nó thường hoạt động suốt cả ngày.

At that time I was, at the urgent request of the lady’s husband, giving psychopathic treatment to a well-known literary lady, and, with her permission, one day brought Ewen with me. The lady was confined to her bed, and I treated her as she lay. Mr. Ewen was present. I made the “long passes” over her, downward from her chest towards her feet: not always, however, with “mesmeric intention”—i.e., with concentration of the will—but mechanically, yet without making the passes differently in the one case than in the other. To my surprise, Mr. Ewen suddenly said that he could see that my mind was not always equally bent upon the work in hand; that sometimes I made the vital fluid to flow from me, [148] sometimes not: the difference was most palpable to his clairvoyant sight. Thereupon, I put his powers to the test, but found that he could unerringly distinguish my real from my simulated curative passes. He described it to me in this way: The patient’s body was enveloped in a pale bluish aura, seemingly elastic and compressible, like a loosely-inflated toy balloon. Over the pelvic region—the seat of her disease—the aura was of a yellowish color. When I made by will a curative pass with my hands, there flowed from my finger-tips strong, clear streams of vital force, in color a bright and clear sapphire. This strong current, impinging upon the patient’s pale blue aura, was met with a feeble resistance from the latter, but, overcoming this by its own strong rush, it mingled with the weaker aura, tinged it with its own hue, and set it into quick vibration; the result being a reinvigoration of the invalid’s system, and the creating of a tendency towards convalescence. I am convinced of the accuracy of this description, and, in fact, in the case under mention, the lady, instead of lying in bed for months, as her doctor had predicted she must, was up and about within the next ten days. The improvement was so striking, after even the first treatment, that her medical attendant was astounded at his next visit, and said she must have something uncanny about her constitution, some extra spring in her machinery that was out of the common run. This she conveyed to me in a gleeful note the next day, and said that she and her nurse were laughing together [149] over the doctor’s illusion as to the success of his remedies, and his ignorance of the fact of my having treated her and thus put in the suspected “spring” that had worked such a wonder.

Vào thời điểm đó, theo lời khẩn khoản của người chồng bà ấy, tôi đang điều trị chứng loạn thần kinh cho một nữ văn sĩ nổi tiếng, và, với sự cho phép của bà, một ngày nọ tôi đưa Ewen đi cùng. Bà ấy nằm liệt giường, và tôi chữa trị ngay khi bà nằm. Ông Ewen có mặt. Tôi làm những “đường vuốt” dài trên người bà, từ ngực xuống chân: tuy nhiên, không phải lúc nào cũng với “ý định thôi miên” — tức là với sự tập trung của ý chí — mà có lúc chỉ thực hiện một cách cơ học, song vẫn không làm khác đi ở hai trường hợp. Thật bất ngờ, ông Ewen nói ngay rằng ông có thể nhìn thấy tâm tôi không phải lúc nào cũng chuyên chú đồng đều vào công việc trước mắt; rằng đôi khi tôi làm cho lưu chất sinh lực tuôn chảy từ mình, [148] đôi khi lại không: sự khác biệt là điều hiển nhiên đối với thị kiến thông nhãn của ông. Ngay đó, tôi đem năng lực của ông ra thử thách, và thấy ông có thể phân biệt không sai giữa những đường vuốt trị liệu chân thực và những đường vuốt giả vờ của tôi. Ông mô tả với tôi như sau: Cơ thể bệnh nhân được bao bọc trong một hào quang xanh lam nhạt, dường như đàn hồi và có thể nén lại, như một quả bóng đồ chơi bơm hơi lỏng. Ở vùng chậu — nơi căn bệnh cư trú — hào quang có sắc vàng nhạt. Khi tôi dùng ý chí làm một đường vuốt trị liệu bằng đôi tay, từ các đầu ngón tay tôi tuôn ra những dòng sinh lực mạnh mẽ, trong trẻo, có màu xanh lam sáng và trong như bích ngọc. Dòng mạnh mẽ này, khi đập vào hào quang xanh lam nhạt của bệnh nhân, gặp sự kháng cự yếu ớt từ hào quang đó, nhưng, do sức lao mạnh của chính nó, nó đã vượt qua, hòa lẫn với hào quang yếu hơn, nhuộm nó bằng sắc màu của mình, và làm nó rung động nhanh; kết quả là hệ thống cơ thể của người bệnh được tiếp sinh lực trở lại, và hình thành một xu thế hướng đến sự bình phục. Tôi tin chắc sự mô tả này là chính xác, và, thực vậy, trong trường hợp đang nói, thay vì nằm giường hàng tháng như bác sĩ của bà đã dự đoán, bà đã có thể đi lại trong vòng mười ngày kế tiếp. Sự cải thiện quá rõ rệt, ngay cả sau lần trị liệu đầu tiên, đến nỗi bác sĩ điều trị của bà đã vô cùng kinh ngạc trong lần thăm tiếp theo, và nói rằng ắt hẳn trong cơ cấu của bà có điều gì đó huyền dị, một chiếc lò xo phụ nào đó trong bộ máy vốn nằm ngoài khuôn thường. Ngày hôm sau, bà viết cho tôi một mảnh giấy đầy hỷ hả, nói rằng bà và cô y tá đã cùng cười [149] trước ảo tưởng của vị bác sĩ về thành công của các phương dược của ông, và việc ông chẳng hay biết tôi đã chữa trị cho bà và như thế đã lắp vào cái “lò xo” bị nghi ngờ kia — thứ đã làm nên điều kỳ diệu như vậy.

The evening after our visit to Mrs. M. C., I was called upon by Mr. Herbert Stack to arrange for a meeting between myself and the S.P.R. Committee, and, as he was a man of high culture and of scientific tastes, I told him of Ewen’s powers, and suggested that this would be a good chance for us to see whether Stewart and Tait’s theory of thought-evolution was a sound one. As our Scottish friend was still possessed of the vision, and willing to assist in the experiment, it was thus arranged: We were to sit in the unlighted back drawing-room, he with his back to the solid partition to the right of the sliding doors, we two facing him, over against the opposite wall; one of us was to concentrate his thought upon any subject he might choose; if Ewen should be able to fix the moment of concentration, he was simply to say the word “Now!” and we all should then be able to see whether his power extended so far or not. The object in giving him but the one word to utter was to preclude the necessity for his making any sustained mental effort at the time when his consciousness would be functioning on the other and higher plane. Two experiments made by Mr. Stack were successful; the moment of mental concentration being detected by the clairvoyant watcher. Mr. Stack then asked me to try, as, he said, I was much more in the habit of doing these mental feats [150] than himself. Just as I was about to do so and Ewen was all ready, it occurred to me that if I should hold Mr. Stack’s hand and press it at the moment of concentrating my thoughts, both he and I could know whether or not Ewen’s power was real, and the evidence would be doubly strong. So we agreed; I took Mr. Stack’s hand, and, after a moment’s calming of the mind, concentrated. Instantly, before I could transmit the order to my finger muscles, Ewen cried out “Now!” and our plan was frustrated. I was vexed at this, for some instinct made me anxious that the committeeman of the S.P.R. should get such a bit of valuable proof at first hand. His ingenuity, however, was equal to the occasion, for he proposed that he should hold my hand and give me the signal for concentration. This proved all sufficient; he pressed my hand, I fixed my thought, and Ewen, as before, detected the moment of the act. So far so good; we had now four tests between us two, but I suggested, as an extension of the experiment, that we should see if Ewen could trace the direction of thought if it were fixed upon a certain point within the two rooms. Of the two tests made, both were successes. The first time he said: “I think your thought is directed to the ceiling over my head”; the second time he said: “I see the thought-current passing by me, to the left, as if directed to some point in the front drawing-room.” In both cases he was right: the thinker, at the second attempt, directed his attention to a lady, Mme. De Steiger, who sat at the farther end of the lighted front drawing-room.

Buổi tối sau chuyến thăm bà M. C., ông Herbert Stack đến gặp tôi để thu xếp một cuộc gặp giữa tôi và Ủy ban S.P.R., và vì ông là người có trình độ văn hóa cao và thiên hướng khoa học, tôi kể cho ông nghe về năng lực của Ewen, và gợi ý rằng đây là dịp tốt để xem học thuyết về tiến hóa của tư tưởng của Stewart và Tait có vững chắc không. Vì người bạn Scotland của chúng tôi khi ấy vẫn còn thị kiến và sẵn lòng hỗ trợ thí nghiệm, nên sắp đặt như sau: Chúng tôi sẽ ngồi trong phòng khách phía sau không bật đèn; ông ta quay lưng vào bức vách đặc bên phải cánh cửa lùa, còn chúng tôi hai người thì đối diện ông, quay về phía bức tường đối diện; một trong chúng tôi sẽ tập trung tư tưởng vào bất kỳ chủ đề nào mình chọn; nếu Ewen có thể nắm bắt đúng khoảnh khắc tập trung, ông chỉ việc nói một từ “Bây giờ!” và tất cả chúng tôi khi ấy có thể xem năng lực của ông có đạt đến mức đó hay không. Mục đích chỉ cho ông nói mỗi một từ là để loại trừ nhu cầu ông phải gắng sức trí tuệ kéo dài vào thời điểm mà tâm thức ông sẽ vận dụng trên cõi khác và cao hơn. Hai thí nghiệm do ông Stack thực hiện đã thành công; khoảnh khắc tập trung tư tưởng đã được người quan sát thông nhãn phát hiện. Ông Stack sau đó yêu cầu tôi thử, vì, ông nói, tôi quen làm những kỳ công trí tuệ [150] này hơn ông. Ngay lúc tôi sắp làm và Ewen đã sẵn sàng, chợt nảy ra trong tôi ý nghĩ rằng nếu tôi nắm tay ông Stack và bóp nhẹ nó đúng khoảnh khắc tập trung tư tưởng, thì cả ông ấy lẫn tôi đều có thể biết năng lực của Ewen có thật không, và bằng chứng sẽ đậm nét gấp đôi. Thế là chúng tôi đồng thuận; tôi nắm tay ông Stack, và sau một khoảnh khắc lắng tâm, tôi tập trung. Tức thì, trước khi tôi kịp truyền lệnh đến các cơ ngón tay, Ewen kêu lên “Bây giờ!”, và kế hoạch của chúng tôi bị phá hỏng. Tôi lấy làm bực, vì một bản năng nào đó khiến tôi nóng lòng muốn ủy viên S.P.R. có được một mẩu bằng chứng quý giá như vậy từ chính tay mình. Tuy nhiên, sự ứng biến của ông cũng tương xứng với tình huống, vì ông đề nghị sẽ nắm tay tôi và ra tín hiệu cho tôi tập trung. Việc này hóa ra hoàn toàn đủ; ông bóp tay tôi, tôi định tâm tư tưởng, và Ewen, như trước, phát hiện đúng khoảnh khắc hành vi ấy. Cho đến đây thì tốt; giữa hai chúng tôi đã có bốn phép thử, nhưng tôi đề nghị, như một mở rộng thí nghiệm, rằng chúng ta xem liệu Ewen có thể truy dấu hướng của tư tưởng nếu nó được cố định vào một điểm xác định trong phạm vi hai phòng hay không. Trong hai phép thử, cả hai đều thành công. Lần đầu ông nói: “Tôi nghĩ tư tưởng của ông hướng lên trần ngay trên đầu tôi”; lần thứ hai ông nói: “Tôi thấy dòng tư tưởng lướt qua tôi, về bên trái, như thể hướng đến một điểm trong phòng khách phía trước.” Cả hai lần ông đều đúng: người tư tưởng, ở lần thứ hai, đã hướng chú tâm đến một quý bà, Mme. De Steiger, đang ngồi ở đầu xa của phòng khách phía trước có bật đèn.

[151]

[151]

Mr. Ewen’s description of the luminous appearance of a thought-current was very interesting. When one concentrates his mind upon some subject, not of an exciting nature, a shimmer of light goes forth from his brain, like the pulses of light in an electrically charged cloud on a warm summer night. When, on the other hand, the mind sends its outflowing aura to a fixed spot or object, a ray darts from the brain towards its target, like the flash of lightning in a thunderstorm. These revelations, it will be remembered, were made in May, 1884; they received no corroboration for twelve years, but then the accuracy of Mr. Ewen’s observations was, I think, fully proven by those of other and more highly trained students of occult science, as will presently appear.

Mô tả của ông Ewen về diện mạo quang dạ của một dòng tư tưởng thật rất lý thú. Khi một người tập trung thể trí vào một đề tài nào đó, không giàu kích động, một ánh lấp lóa phát ra từ bộ não y, như những nhịp ánh sáng trong một đám mây tích điện vào đêm hè ấm áp. Còn khi thể trí, ngược lại, phóng xuất hào quang của nó đến một điểm hay vật thể cố định, một tia rọi lao đi từ não hướng về đích, như chớp trong cơn giông. Cần nhớ rằng những điều mặc khải này được đưa ra vào tháng Năm, 1884; chúng không được đối chứng trong mười hai năm, nhưng rồi độ chính xác của những quan sát của ông Ewen, theo tôi, đã được chứng minh đầy đủ bởi các quan sát của những đạo sinh khác, được rèn luyện cao hơn, trong khoa học huyền bí, như sẽ trình bày ngay.

An acute scientific mind like Mr. Crookes’ could not fail to be interested with facts like these, which pointed the way towards a splendid field of psychological research. I took Mr. Ewen to him the next morning and described what Mr. Stack and I had seen. He frankly said that this was an important matter, and he would like to follow it up if Mr. Ewen would be so obliging as to lend his services to the inquiry: he further wished to test the physical nature of the thought-current, and see whether it would pass without deflection through sheets of glass and other materials; whether the luminous wave could be focussed by lenses, reflected by mirrors, etc.; in short, whether it had any properties which would make it function on the physical plane, in any degree to be tested by laboratory [152] appliances. [9] Unfortunately, Mr. Ewen’s clairvoyance had not shown itself that day, and he had to leave for Scotland in the afternoon, so that he could not aid in the suggested experiments—much to his own regret, for he is deeply interested in this branch of scientific investigation, and needed no urging. At a large public meeting of the S.P.R., on the evening of May 28th, Mr. Stack and I made our reports on the preliminary experiments, and thus made it a matter of historical record.

Một trí óc khoa học sắc sảo như của ông Crookes hẳn không thể không chú ý đến những sự kiện như thế này, vốn chỉ lối vào một cánh đồng tráng lệ cho khảo cứu tâm lý học. Sáng hôm sau tôi đưa ông Ewen đến gặp ông và thuật lại điều ông Stack và tôi đã thấy. Ông thẳng thắn nói rằng đây là một vấn đề quan trọng, và ông muốn theo đuổi nếu ông Ewen sẵn lòng góp sức cho cuộc khảo sát: ông còn muốn kiểm chứng bản chất vật lý của dòng tư tưởng, và xem nó có thể đi xuyên qua những tấm kính và các chất liệu khác mà không bị lệch hướng hay không; liệu làn sóng phát quang ấy có thể được thấu kính hội tụ, được gương phản xạ, v.v.; tóm lại, liệu nó có những thuộc tính nào khiến nó vận hành trên cõi hồng trần, đến một mức độ có thể được kiểm nghiệm bằng [152] thiết bị trong phòng thí nghiệm. Đáng tiếc, ngày hôm đó thị kiến thông nhãn của ông Ewen không xuất lộ, và ông phải rời sang Scotland vào buổi chiều, nên không thể hỗ trợ các thí nghiệm đề nghị — điều này khiến chính ông rất lấy làm tiếc, vì ông hết sức quan tâm đến ngành khảo cứu khoa học này, và chẳng cần ai thúc giục. Tại một cuộc họp công khai lớn của S.P.R., vào tối ngày 28 tháng Năm, ông Stack và tôi đã báo cáo về các thí nghiệm sơ bộ, và như thế ghi nó vào hồ sơ lịch sử.

The bearing which this discovery has upon certain familiar phenomena will be evident to the intelligent reader; for instance, the jettatura and mal occhio, or killing glance and “evil eye”, with which certain persons are congenitally cursed—the late Pope Pius IXth among them. Ignorant persons like to call this a superstitious folly, but it must be confessed that no popular belief has been more strongly supported by evidence. And it is one that is not confined to one nation or country, but is spread all over the world and recorded in all history. The glance of a human eye may either soothe or slay, according to the mental impulse behind it, provided that the person thought of is sensitive to its vibration. Find the key-note of a glass vessel or globe, and, by playing it with the right intensity on a violin, the glass will be shattered, while no other note will affect it. So man, the most [153] sensitive of organisations, has each his key-note which, if found and played by a thought-current, will carry him out of his equilibrium, perhaps upset his moral nature, or even destroy his life. The world-history of magic and sorcery proves this amply. Thus, it is a truism of ancient date that the hateful will-current of a black magician, if hurled at a pure and saintly person, fails to harm him and is thrown back against the sender, to his possible destruction. No woman was ever seduced, no young man ever made a criminal, unless in their moral systems there was some sympathetic tendency which had been set to quivering and vibrating by the impact of the influences of their environment. It was Horace who said: Hic murus œneus esto, nil conscire sibi, nulla pallescere culpa. And the experience of mankind teaches that this innocence of evil, this absence of consciousness of sin, is indeed a wall of everlasting bronze about us. Mr. Ewen’s second-sight makes it possible for us to realise the truth of this old mystery. So, also, does it make clear the rationale of the charming power of animals and men. It has been denied by some scientists that the bird-charming of serpents is a fact, yet here we have the key to it. We once had at Adyar a yellow cat, which I have seen sitting under the branches of a tall tree and gazing up at a squirrel. The pretty little rodent would move uneasily, squeal, and then drop to the ground before the cat, which would quietly catch it and carry it off to her young. In Isis Unveiled (i, 380) is told the story of Jacques Pelissier, a French [154] peasant of Le Var, “who made a living by killing birds by simple will power.” His case is reported by a savant, Dr. D’Alger, who saw him at work, and declares that the man, by merely fixing his gaze on a sparrow, robin, goldfinch, or meadow-lark, from a distance of twenty, twenty-five, or even thirty paces, would cause it to drop paralysed on the ground, when he would walk up to and do what he liked with it. If asked, he would not completely paralyse his victims, but only partially, and then restore them to animation. Or, if asked, he would kill them absolutely, before laying his hand upon them. Mme. Blavatsky says that this destructive current is a “bolt of the astral fluid”, or ether, and warns against the misuse or cultivation of a power which enables one to commit murder at a distance, without detection, leaving no visible mark upon the victim’s person. In such cases, she says, “the Coroner’s inquest will never disclose anything but sudden death, apparently resulting from heart disease, an apoplectic fit, or some other natural but still not veritable cause.”

Tác dụng mà khám phá này có đối với một số hiện tượng quen thuộc hẳn sẽ hiển nhiên với độc giả thông minh; thí dụ, jettatura và mal occhio, tức “cái nhìn sát hại” và “con mắt ác”, mà một số người bẩm sinh đã bị nguyền rủa — trong đó có cố Giáo hoàng Piô IX. Người ngu dốt thích gọi đây là sự mê tín ngớ ngẩn, nhưng phải thú nhận rằng không có niềm tin dân gian nào được hậu thuẫn mạnh bởi bằng chứng như thế. Và đây không phải là điều giới hạn ở một dân tộc hay quốc gia, mà lan khắp thế giới và được ghi trong toàn bộ lịch sử. Cái nhìn của mắt người có thể hoặc xoa dịu hoặc hạ sát, tùy theo xung lực tâm trí phía sau nó, miễn là người bị nghĩ đến nhạy cảm với rung động của nó. Tìm chủ âm của một bình hay cầu thủy tinh, và, bằng cách diễn đúng cường độ trên đàn vĩ cầm, thì thủy tinh sẽ vỡ, trong khi không một nốt nào khác ảnh hưởng được nó. Cũng vậy, con người — sinh thể nhạy cảm nhất [153] — mỗi người đều có chủ âm, mà nếu bị tìm ra và “chơi” bằng một dòng tư tưởng, sẽ làm y mất quân bình, có lẽ làm chao đảo bản tính đạo đức, hoặc thậm chí hủy hoại sinh mệnh y. Lịch sử thế giới về huyền thuật và phù thủy chứng minh điều này dư đủ. Thế nên, một chân lý cổ xưa là: dòng ý chí nhuốm hận của một nhà hắc thuật, nếu phóng vào một người thanh khiết và thánh thiện, sẽ không làm hại được y và bị nảy ngược về kẻ gửi, có thể dẫn đến diệt vong cho kẻ đó. Chưa từng có người phụ nữ nào bị quyến dụ, chưa từng có chàng trai nào thành tội phạm, trừ phi trong hệ đạo đức của họ có một khuynh hướng cộng hưởng nào đó đã bị làm cho rung lên bởi sự tác động của hoàn cảnh xung quanh. Chính Horace đã nói: Hic murus œneus esto, nil conscire sibi, nulla pallescere culpa. Và kinh nghiệm của nhân loại dạy rằng sự vô nhiễm điều ác này, sự vắng mặt của tâm thức về tội lỗi này, quả là một bức tường đồng vĩnh cửu bao bọc lấy chúng ta. Nhãn thông của ông Ewen khiến chúng ta có thể nhận ra chân lý của huyền cơ xưa cũ ấy. Đồng thời, nó cũng làm rõ căn nguyên của quyền năng “thôi miên” của thú vật và con người. Có nhà khoa học phủ nhận việc rắn có thể thôi miên chim là có thật, thế nhưng đây chính là chìa khóa cho điều ấy. Ở Adyar, chúng tôi từng có một con mèo vàng, tôi đã thấy nó ngồi dưới cành một cây cao và ngước nhìn một con sóc. Chú gặm nhấm nhỏ xinh kia sẽ cựa quậy bồn chồn, kêu “chít chít”, rồi rơi xuống đất trước mặt mèo, và mèo thản nhiên tóm lấy mang về cho con mình. Trong Isis Unveiled (i, 380) có kể câu chuyện Jacques Pelissier, một [154] nông dân Pháp ở Le Var, “người kiếm sống bằng cách giết chim chỉ bằng sức mạnh ý chí”. Trường hợp của ông được một học giả, bác sĩ D’Alger, tường trình — người đã chứng kiến ông hành sự — và xác nhận rằng người đàn ông này, chỉ bằng việc cố định ánh nhìn vào chim sẻ, sơn ca, họa mi, hay chim chiền chiện, ở khoảng cách hai mươi, hai mươi lăm, thậm chí ba mươi bước, sẽ khiến nó rơi xuống đất trong tình trạng tê liệt, rồi ông bước tới muốn làm gì thì làm. Nếu được yêu cầu, ông sẽ không làm tê liệt hoàn toàn nạn nhân mà chỉ một phần, rồi phục hồi sinh động cho nó. Hoặc, nếu được yêu cầu, ông sẽ giết tuyệt đối chúng, trước khi đặt tay lên. Bà Blavatsky nói rằng dòng hủy diệt này là một “tia sét của lưu chất cảm dục”, hay dĩ thái, và cảnh báo chống lại việc lạm dụng hay trau dồi một quyền năng cho phép người ta giết người từ xa, không bị phát hiện, không để lại dấu vết hữu hình nào trên thân thể nạn nhân. Trong những trường hợp như vậy, Bà nói, “Cuộc điều tra của Viên khám nghiệm tử thi sẽ không bao giờ phát hiện điều gì ngoài một cái chết đột ngột, dường như do bệnh tim, một cơn xuất huyết não, hay một nguyên nhân tự nhiên nào đó, nhưng vẫn không phải là nguyên nhân đích thực.”

The great mesmeriser, Regazzoni, is reported to have stricken down and instantly paralysed a blindfolded girl-subject, by his unspoken will, when the scientific observers present requested him to give them this proof of his power.

Người đại thôi miên Regazzoni được tường thuật là đã quật ngã và lập tức làm tê liệt một cô gái bị bịt mắt — một đối tượng thí nghiệm — bằng ý chí không nói thành lời của ông, khi các nhà quan sát khoa học hiện diện đề nghị ông chứng minh quyền năng của mình theo cách đó.

The facts above cited deal mainly with the effect of a thought-current which operates upon objects visible to the eye. Many others offer themselves for use in the argument, but I shall take only one or two. In [155] India, if a cultivator has a good crop of paddy or other grain that is likely to excite the envy or cupidity or passers-by, he drives a stake in the ground near the middle of the field, and hangs on it an inverted clay pot (ghurra) with a grotesque face smeared on it with lime, so that the evil glance may see it first and be “drawn” before it can injure the crop; for it is the first glance that does the mischief. So, too, the Hindu mother of a handsome child will smear its face with some charcoal or mud to protect its young life from the envious glance of some childless woman. This bolt of hate or envy, if hurled, cannot quickly be followed by a second, and hence these devices to draw it away from its target.

Những sự kiện trưng dẫn trên đây chủ yếu bàn đến ảnh hưởng của một dòng tư tưởng tác động lên những vật thể thấy được bằng mắt. Còn nhiều điều khác có thể dùng trong lập luận, nhưng tôi chỉ lấy một hai điều. Ở [155] Ấn Độ, nếu một người canh tác có một mùa lúa nước hay loại ngũ cốc nào đó tốt, dễ khơi gợi sự đố kỵ hay lòng tham của người qua lại, ông sẽ cắm một cọc giữa ruộng, treo lên đó một cái nồi đất (ghurra) úp ngược có bôi một khuôn mặt kỳ quái bằng vôi, để ánh nhìn độc trước hết phải chạm vào đó và bị “hút” vào đó trước khi có thể làm hại mùa màng; vì chính cái nhìn đầu tiên mới gây tác hại. Cũng vậy, người mẹ Hindu có đứa con xinh xắn sẽ bôi mặt nó bằng ít than hoặc bùn để bảo vệ sinh mạng non trẻ khỏi ánh nhìn đố kỵ của một phụ nữ không con. Cái tia sét của hận thù hay ghen tuông ấy, một khi đã phóng ra, không thể nhanh chóng tiếp nối bằng một tia thứ hai, và do đó mới có những mưu mẹo hòng lôi kéo nó lệch khỏi mục tiêu.

If the reader will now turn to the number or Lucifer for September, 1896, and read Mrs. Besant’s, striking article on “Thought-forms”, he will see how completely her observations and those of her advanced fellow-students support the descriptions of Mr. Ewen, given me twelve years earlier, and also the folk-lore teachings about the evil eye, and the observed facts of healing of the sick by gaze alone. Here she describes, from actual vision, the luminous flashes of color that come when the thought is of a general character, and the sharp, dagger-like, darting flash when an evil thought is shot against an individual. The colored illustrations given with the text make the law of thought-evolution very clear to us. Her Figure 4 shows a zigzag flash of dull red aura breaking out of a mental storm-cloud, for all the world like the lightning-bolt [156] that rives an oak in a thunderstorm. This is the thought of brutal violence, sent by a man who has just striken down a woman in an East London slum. The thought-form in Figure 5 is that of a murderer, and exactly like the blade of a poniard. Such must have been the “air-drawn dagger” that the guilty Macbeth saw, yet could not clutch: a “one-pointed” thought, indeed; a wicked, life-taking thought. Human speech is full of expressions which indicate that their first users had an instinctive, if not a clairvoyant, sense of their fitness. For example, the common one: “He looks daggers at me”, exactly represents the shape and motion of a thought of hatred when directed towards someone: a “bright mind”, a “sunny mood”, a “clouded intellect”, the often reiterated confession of the murderer that “all looked red about me”, “green eyed jealousy”, “his glance seemed to pierce me through and through”, etc., similarly support these observations of our clairvoyants.

Nếu bây giờ độc giả mở số báo Lucifer tháng Chín, 1896, và đọc bài viết nổi bật của Bà Besant về “Các hình tư tưởng”, ông sẽ thấy những quan sát của bà và của các đạo sinh đồng môn tiến bộ hoàn toàn hậu thuẫn cho các mô tả của ông Ewen, vốn đã được tôi ghi lại mười hai năm trước đó, và đồng thời ủng hộ giáo lý dân gian về “mắt ác”, cũng như những sự kiện đã quan sát được về việc chữa lành người bệnh chỉ bằng ánh nhìn. Ở đây, bà mô tả — từ thị kiến thực sự — những tia chớp sắc màu phát ra khi tư tưởng có tính chất tổng quát, và tia lóe sắc nhọn, như dao găm, phóng đi khi một ác niệm được bắn vào một cá nhân. Những minh họa màu đi kèm văn bản làm cho định luật tiến hóa của tư tưởng trở nên hết sức rõ ràng đối với chúng ta. Hình 4 của bà cho thấy một tia chớp ngoằn ngoèo hào quang đỏ xỉn bùng ra từ một đám mây bão tố của thể trí, y như tia chớp [156] bổ đôi một gốc sồi trong cơn giông. Đây là tư tưởng của bạo lực tàn bạo, được phát ra bởi một người vừa đả thương một người phụ nữ trong khu ổ chuột Đông Luân Đôn. Hình tư tưởng ở Hình 5 là của một tên sát nhân, và giống hệt lưỡi dao găm. Ắt hẳn đó là “con dao găm vẽ trong không khí” mà kẻ tội lỗi Macbeth thấy nhưng không túm được: quả là một tư tưởng “nhất tâm”; một tư tưởng ác, đoạt mệnh. Ngôn ngữ của con người đầy những biểu đạt cho thấy những người đầu tiên dùng chúng đã cảm nhận theo bản năng, nếu không phải bằng thông nhãn, về sự phù hợp của chúng. Thí dụ, câu quen thuộc: “Anh ta nhìn tôi như dao găm”, diễn tả chính xác hình dạng và chuyển động của một tư tưởng thù hận khi nhắm vào ai đó: “thể trí sáng chói”, “tâm trạng nắng ấm”, “trí tuệ u ám”, lời thú nhận lặp đi lặp lại của kẻ sát nhân rằng “mọi thứ quanh tôi đều đỏ rực”, “ghen tuông ‘mắt xanh’”, “ánh nhìn của hắn dường như xuyên qua tôi”, v.v., đều tương ứng mà hậu thuẫn cho những quan sát của các nhà thông nhãn của chúng ta.

The same rule holds as to the loving, helping, un-selfish thought that would help instead of harming, do good instead of evil. No ocean is too wide, no continent too vast, to obstruct the running of such a good thought to its goal. The ancient shastras teach that it will even bridge the chasm of death, and follow its object into the trans-sepulchral states of existence. The moral to be drawn from these observations, none the less powerful from its being so evident, is that we nave it in our power to ban or bless our fellow-men by the one-pointed thought-currents we send forth [157] from our minds. But this has been indicated by so many speakers and writers of our literature in that of the ages which preceded our own, that I need not dwell upon it, but for the one moment needed to drive it in upon the mind of everyone who aims at spiritual advancement and the doing of good to the race.

Quy luật tương tự cũng đúng với tư tưởng yêu thương, trợ giúp, vị tha — thứ mong làm điều thiện thay vì gây hại, làm lành thay vì làm dữ. Không đại dương nào quá rộng, không lục địa nào quá mênh để ngăn cản một tư tưởng lành như thế chạy đến đích của nó. Các shastra cổ dạy rằng nó còn có thể bắc cầu qua hố thẳm của tử vong, và theo đối tượng của nó vào những trạng thái hiện hữu bên kia mồ. Bài học rút ra từ những quan sát này — không kém phần mạnh mẽ vì quá hiển nhiên — là chúng ta có trong tay quyền năng để nguyền rủa hay ban phúc cho đồng loại bằng những dòng tư tưởng nhất tâm ta [157] phóng ra từ thể trí mình. Nhưng điều này đã được chỉ ra bởi rất nhiều diễn giả và tác giả trong văn học của chúng ta và trong văn học của những thời đại trước thời của chúng ta, nên tôi không cần nán lại, trừ một khoảnh khắc cần thiết để khắc sâu điều ấy vào tâm của mọi người đang nhắm đến thăng tiến tinh thần và làm điều thiện cho nhân loại.

CHAPTER XII—CHƯƠNG XII

THE PAINTING OF ADEPT PORTRAITS—VIỆC VẼ CÁC CHÂN DUNG CHÂN SƯ

Two days after the thought-testing experiments with Mr. Ewen, I went to Paris and remained there a fortnight with H.P.B. Meetings for the instruction of inquirers were held at our own rooms in the Rue Notre Dame des Champs and at those of several friends. Among them was one at the palace of Lady Caithness, at which we met M. Yves Guyot, the famous publicist, and some of his friends as sceptical as himself about things spiritual. H.P.B. and I were made by our hostess, to our great discontent, to sit in two huge throne-like gilt arm-chairs, as though we were royal personages holding a levee. M. Guyot and the others drew from us a full explanation of the principles of our Society and of the views of the Eastern school of mystics as to the constitution of nature and the alleged powers in man. All went well until they said they would now feel obliged if we would show them the phenomenal proof of the correctness of our teachings. I, for my part, had not expected this, as Lady Caithness had not prepared us for any such demand. H.P.B. refused point blank to do the smallest marvel, and could not be moved even by the urgent request of Lady Caithness. I told M. Guyot that we had done what [159] lay within our power to explain the Eastern views as to states of matter beyond those hitherto discovered by Western science, and must leave him to accept, reject, or test them as might seem best to him; I assured him, however, from my own experience, that if any man really wished to get the proofs at first hand, he could do so if he would but take as much trouble as he would cheerfully undergo to gain knowledge in any other department of scientific research: but I regretted as much as himself that Mme. Blavatsky was not willing to do as much for him as I had often seen her do for other inquirers. But so it was, and we must leave the matter as it stood for the present. Of course, M. Guyot and his friends were much dissatisfied, but I never expected that a man of his standing would descend to such insulting and disparaging remarks about H.P.B. and myself as he did some time later. As things turned out, I now believe that H.P.B.’s stubborn refusal was a wise one, and that she or those behind her foresaw that compliance would have been worse than useless, for spiritual phenomena can only be comprehended by the spiritually-minded, and to that -class M. Guyot most certainly did not belong. If H.P.B. had shown him anything, the most that would have happened would, probably, have been that, on leaving the house, he would have said to his companions: “I wonder how that fraudulent old witch did that trick.” What he did say about us subsequently fully warrants the suspicion. I fancy that he and Mr. Podmore and the late Prof. Carpenter and some [160] hundreds more of the sort, will have to be reincarnated many times before they will be able to understand the laws of spirit-action on this physical plane.

Hai ngày sau các thí nghiệm kiểm tra tư tưởng với ông Ewen, tôi đến Paris và ở đó nửa tháng với H.P.B. Những buổi họp để giảng giải cho người tìm hiểu được tổ chức tại chính phòng chúng tôi ở Rue Notre Dame des Champs và tại nhà của một số bạn hữu. Trong số đó có một buổi tại cung của Lady Caithness, nơi chúng tôi gặp ông Yves Guyot, nhà bình luận công luận nổi tiếng, và vài người bạn của ông hoài nghi chẳng kém về những điều tinh thần. H.P.B. và tôi bị bà chủ nhà buộc — thật khiến chúng tôi rất bất bình — phải ngồi trên hai chiếc ghế bành mạ vàng to như ngai, như thể chúng tôi là bậc vương giả mở yết kiến. Ông Guyot và những người khác khiến chúng tôi phải trình bày đầy đủ về những nguyên tắc của Hội chúng tôi và quan điểm của phái thần bí phương Đông về cấu trúc của tự nhiên và những năng lực được cho là có trong con người. Mọi việc đều suôn sẻ cho đến khi họ nói rằng nay họ buộc lòng yêu cầu chúng tôi cho xem chứng nghiệm hiện tượng xác nhận tính đúng đắn của các giáo lý chúng tôi. Phần tôi, tôi đã không trông đợi điều này, vì Lady Caithness không hề chuẩn bị cho chúng tôi một đòi hỏi như vậy. H.P.B. thẳng thừng từ chối làm một phép lạ nhỏ nhất, và không lay chuyển dù Lady Caithness khẩn khoản. Tôi nói với ông Guyot rằng chúng tôi đã làm điều [159] trong năng lực mình để giải thích quan điểm phương Đông về các trạng thái của vật chất vượt ngoài những gì khoa học phương Tây cho đến nay phát hiện, và phải để ông tự do chấp nhận, bác bỏ, hay kiểm nghiệm tùy điều ông thấy tốt nhất; tuy nhiên, từ kinh nghiệm bản thân, tôi quả quyết với ông rằng nếu một người thực sự mong có được bằng chứng trực tiếp, ông ta có thể có, miễn là sẵn lòng chịu khó như khi vui lòng chịu khó để đạt tri thức ở bất kỳ ngành khảo cứu khoa học nào khác: nhưng tôi cũng tiếc chẳng kém ông rằng Bà Blavatsky không sẵn lòng làm cho ông như tôi đã nhiều lần thấy Bà làm cho những người tìm hiểu khác. Nhưng sự thể là thế, và chúng ta phải để mọi chuyện như nó đang là lúc này. Dĩ nhiên, ông Guyot và các bạn ông rất bất mãn, nhưng tôi không bao giờ trông đợi một người ở tầm vóc như ông lại hạ mình buông lời nhục mạ và miệt thị H.P.B. và tôi như ông đã làm ít lâu sau đó. Xét theo diễn tiến sự việc, giờ đây tôi tin rằng sự khăng khăng từ chối của H.P.B. là khôn ngoan, và rằng Bà hay những Đấng đứng sau Bà đã thấy trước rằng việc chiều theo sẽ còn tệ hơn là vô ích, vì hiện tượng tinh thần chỉ có thể được người có tâm thức tinh thần thấu hiểu, và ông Guyot chắc chắn không thuộc hạng đó. Nếu H.P.B. có cho ông thấy điều gì, thì kết cục nhiều lắm cũng chỉ là, khi rời khỏi nhà, ông sẽ nói với bạn đồng hành: “Không hiểu mụ phù thủy già gian xảo đó làm trò ấy ra sao nhỉ.” Những gì ông nói về chúng tôi sau này hoàn toàn khiến người ta nghi rằng hẳn ông sẽ nói như vậy. Tôi đoán rằng ông và ông Podmore, và cố Giáo sư Carpenter cùng [160] vài trăm người cùng hạng khác, sẽ phải tái sinh nhiều lần nữa trước khi có thể hiểu các định luật tác động của tinh thần trên cõi trần này.

I first made the acquaintance of that illustrious man, the late Prof. Charcot, at the Hospice de la Salpétrière, Paris, on 7th June, 1884. I called there with Dr. Combret, F.T.S., a former pupil of his, and the Professor kindly showed me various experiments in hypnotism. This subject has now become so widely known, that it is useless for me to dwell at any length upon the things that were shown me fourteen years ago. It must be familiar to most of my readers, at least to those outside India, that there are two very antagonistic schools among hypnotists, viz., the one of Charcot at La Salpétrière, Paris, and the other of Nancy, Lorraine, founded by Dr. Liêbault and his great disciple Dr. Bernheim. From a remote period there have existed the two parties which these schools now represent, and especially among alienists or physicians who treat patients mentally deranged. The one party, that of Charcot, attribute the abnormal mental and other phenomena of hypnotic subjects to physiological causes; while the other party, that of Nancy, trace them to psychological, i.e., operative mental causes. My readers will find the questions treated at length in back numbers of the Theosophist, [10] together with an account of my experiments at the Salpétrière and Hôpital Civil (Nancy) in the year 1891. The [161] observations of 1884 were valuable, as giving me my first chance to see for myself how far the so-called new science of hypnotism agreed with the century old science of mesmerism, which I had been studying for the previous forty years. Dr. Charcot provoked in his patients the three stages of hypnosis which he claims the credit of classifying, viz.: (1) the cataleptic; (2) the lethargic; (3) the somnambulic. In the first, the position of the patient’s limbs is easily changed by the operator, and every position given them is unresistingly retained for some time; in the second, the subject is unconscious, and if a limb be raised and then let go, it will fall like a dead weight, the eyes are relaxed and the muscles abnormally excitable; in the third, the eyes are closed, or half closed, the muscles may be made to rigidly contract by gentle stimulation of the skin over them, and many other phenomena are producible by suggestion. The Nancy school admits the fact of all these phenomena, but ascribe them solely to the influence of suggestion upon the mind of the patient: “suggestion” covering not only ideas conveyed to him verbally by the hypnotiser, but also silently by gesture, or voluntary or involuntary movements of his body, or even the expression of his face. No one who has not made a deep study of the subject has an idea of the tremendous potentialities included in this matter of hypnotic suggestion: there is scarcely any limit to what may be done by it as regards the control of one mind over another. Charcot produced for me an artificial paralysis of a patient’s limb by [162] applying to it a strong magnet: I can do the same Without a magnet, without even touching the patient with my hand, simply by suggestion; he transferred the paralysis from one arm to the other by the same agency, viz., the magnet; I can do it without one: so can a man of the Nancy school, so can any experienced mesmeriser. Then why must we believe the effect physiological when the provoking cause is mental and lies outside the physical system of the subject?

Tôi lần đầu làm quen với bậc danh giá, cố Giáo sư Charcot, tại Hospice de la Salpétrière, Paris, ngày 7 tháng Sáu, 1884. Tôi đến đó cùng bác sĩ Combret, F.T.S., một môn sinh cũ của ông, và vị Giáo sư tốt bụng đã cho tôi xem nhiều thí nghiệm thôi miên. Nay đề tài này đã trở nên phổ cập, nên tôi khỏi cần dông dài về những điều đã được cho tôi xem mười bốn năm trước. Chắc hẳn đại đa số độc giả của tôi, ít nhất là những người ngoài Ấn Độ, đều biết có hai trường phái thôi miên đối nghịch nhau, tức trường phái của Charcot ở La Salpétrière, Paris, và trường phái Nancy, Lorraine, do bác sĩ Liêbault sáng lập và do đại môn sinh của ông là bác sĩ Bernheim phát huy. Từ thời xa xưa đã có hai phe như hai trường phái này đại diện hiện nay, nhất là giữa các “alienist” — tức các bác sĩ tâm thần điều trị người bệnh loạn trí. Một phe, phe của Charcot, quy các hiện tượng bất thường về tâm trí và các hiện tượng khác ở người bị thôi miên cho những nguyên nhân sinh lý; còn phe kia, phe Nancy, quy chúng cho các nguyên nhân tâm lý, tức nguyên nhân tác động từ thể trí. Độc giả sẽ thấy các vấn đề này được bàn kỹ trong những số cũ của tạp chí The Theosophist, cùng với tường thuật về các thí nghiệm của tôi tại Salpétrière và Hôpital Civil (Nancy) vào năm 1891. Các [161] quan sát năm 1884 rất quý, vì cho tôi cơ hội đầu tiên tự mình xem thử “khoa học mới” gọi là thôi miên tương hợp đến đâu với khoa học trăm năm là thuyết mesmer, mà tôi đã nghiên cứu suốt bốn mươi năm trước đó. Bác sĩ Charcot gây khởi nơi bệnh nhân ba giai đoạn thôi miên mà ông nhận công phân loại, tức: (1) cảm ứng cứng đờ (cataleptic); (2) hôn mê (lethargic); (3) miên hành (somnambulic). Ở giai đoạn thứ nhất, vị trí tứ chi bệnh nhân dễ bị người làm thí nghiệm thay đổi, và mọi tư thế được đặt vào đều được giữ không cưỡng lại trong một thời gian; ở giai đoạn thứ hai, chủ thể bất tỉnh, và nếu nhấc một chi lên rồi buông, nó sẽ rơi xuống như một vật chết, mắt thư giãn và bắp thịt hưng phấn bất thường; ở giai đoạn thứ ba, mắt nhắm, hay khép một nửa, bắp thịt có thể bị làm co cứng bằng cách kích thích nhẹ vùng da phía trên, và nhiều hiện tượng khác có thể tạo ra bằng ám thị. Trường phái Nancy thừa nhận tính thực tại của mọi hiện tượng ấy, nhưng chỉ quy chúng cho ảnh hưởng của ám thị lên tâm trí bệnh nhân: “ám thị” bao gồm không chỉ những ý niệm được truyền miệng bởi người thôi miên, mà còn cả bằng cử chỉ, hoặc các vận động hữu ý hay vô thức của thân người ấy, thậm chí cả vẻ mặt. Không ai chưa từng nghiên cứu sâu đề tài này có thể hình dung được các tiềm năng ghê gớm ẩn trong vấn đề ám thị thôi miên: hầu như không có giới hạn cho những gì có thể làm được xét về việc một tâm trí điều khiển một tâm trí khác. Charcot đã gây nên cho tôi chứng liệt nhân tạo ở một chi của bệnh nhân bằng cách [162] đặt lên đó một nam châm mạnh: tôi có thể làm điều đó mà không cần nam châm, thậm chí không cần chạm tay vào bệnh nhân, chỉ bằng ám thị; ông ấy chuyển chứng liệt từ tay này sang tay kia cũng bằng nam châm; tôi có thể làm điều đó mà không cần nam châm: một người thuộc trường phái Nancy cũng làm được, một nhà mesmer dày dạn cũng làm được. Thế thì cớ sao ta phải tin hiệu ứng là sinh lý học trong khi nguyên nhân khởi phát là tâm lý và nằm bên ngoài hệ thống thể chất của chủ thể?

On 13th June I returned to London in company with Mr. Judge, who had come over from New York to see us on his way out to India, his intended future field of work. A little while before this I had instituted a friendly competition between certain of our London associates who were either professional or amateur artists, to try an important psychical experiment. My earlier readers will recall my description (see London edition,], 1st Series, ch. xxiii, pp. 370-373) of the way in which my adept Guru redeemed his promise that he would give me his portrait at a convenient time. This was a profile likeness, drawn by an amateur who was not an occultist, either trained or untrained, and so, while the resemblance was unquestionable—as I verified later in personal intercourse—it did not show the soul-splendor that lights up an adept’s countenance. Naturally, I wanted to get a better portrait if possible, and bethought me to try whether my sympathetic artistic colleagues in London could get clearer, more life-like, spiritual glimpses of this divine face. Upon broaching the [163] subject, the five—three professionals and two amateurs—whom I addressed, very kindly and willingly consented, and I lent each in turn the photographic copy of the original crayon sketch that I had with me. The results were very instructive. One had got the right idea of his complexion, another of his profile and a third, my respected friend Mme. De Steiger, of the luminous aura that shimmers about his head. But neither of the five was, on the whole, a better likeness than the New York sketch by Monsieur Harrisse. Before this competition was finished, Herr Hermann Schmiechen, a very well-known German portrait-painter, domiciled in London, joined the Society and, to my great delight, at once agreed to have the inspirational test tried with him. The photograph was handed him with no suggestion as to how the subject should be treated. He began work on 19th June and finished it on 9th July. Meanwhile I visited his studio four times alone and once with H.P.B., and was enchanted with the gradual development of the mental image which had been vividly impressed upon his brain, and which resulted in as perfect a portrait of my Guru as he could have painted from life. Unlike the others, who all copied the profile idea of Harrisse, Schmiechen gave the face in full front view, and poured into the eyes such a flood of life and sense of the indwelling soul as to fairly startle the spectator. It was as dear a work of genius and proof of the fact of thought transference as I can imagine. In the picture he has got all—the face, complexion, size, shape and expression [164] of eyes, natural pose of head, shining aura, and majestic character. This is also true of the companion portrait which Schmiechen painted of our other chief Guru, and one feels as if the grand eyes were searching his very heart. I have noticed the signs of this first impression in nearly every case, and the feeling of awe is enhanced by the way in which the two pairs of eyes follow one about the room, still seemingly reading one, no matter where he may take his stand. Then, again, by some trick of the artist’s brush, the shining aura about the two heads seems to be actually in a shimmery motion, just as it is in nature. No wonder the religiously-minded visitor finds himself, as it were, impressed with a sense of the holiness of the room where the two portraits hang, and meditative introspection is easier there than elsewhere. Grand as they are by day, the pictures are even more striking by night, when properly lighted, and the figures seem as if ready to step out of their frames and approach one. The artist has made two or more copies of the portraits, but they lack the life-like character of the original; he evidently lacking the stress of inspiration under which the latter were produced. As for the photographs which were—against my passionate protest—permitted to be made from the copies, they are as inferior to the originals at Adyar, as a tallow candle to the electric light. And it has made me inexpressibly sad that these glorious faces, in cheap photographs, have been sold over the counter by Judgeites, and published in a magazine and a book by Dr. Hartmann.

Ngày 13 tháng Sáu tôi cùng ông Judge — người đã từ New York sang gặp chúng tôi trên đường đi Ấn Độ, nơi ông định làm trường hoạt động tương lai — trở lại Luân Đôn. Ít lâu trước đó, tôi đã khởi xướng một cuộc thi thân hữu giữa một số hội viên Luân Đôn của chúng tôi, những người hoặc là họa sĩ chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư, nhằm thử một thí nghiệm tâm linh quan trọng. Các độc giả lâu năm của tôi hẳn còn nhớ mô tả của tôi (xem ấn bản Luân Đôn,], Tập 1, chương xxiii, tr. 370-373) về cách mà vị Chân sư Guru của tôi giữ lời hứa sẽ cho tôi bức chân dung của Ngài vào lúc thuận tiện. Đó là một chân dung nhìn nghiêng, do một họa sĩ nghiệp dư vẽ, người này không phải là nhà huyền bí, dù được rèn luyện hay không, nên tuy diện mạo thì không thể phủ nhận — như sau đó tôi đã kiểm chứng trong giao tiếp trực diện — nhưng nó không cho thấy vẻ huy hoàng của linh hồn chiếu rạng trên dung mạo một Chân sư. Tự nhiên, tôi muốn có một chân dung tốt hơn nếu có thể, và nảy ý thử xem liệu các đồng nghiệp nghệ sĩ đồng cảm tại Luân Đôn có thể nắm bắt rõ hơn, sống động hơn, mang tính tinh thần hơn những thoáng hiện linh quang trên gương mặt thiêng liêng của Ngài hay không. Khi [163] nêu ý tưởng, năm người — ba chuyên nghiệp và hai nghiệp dư — mà tôi ngỏ lời đã rất tử tế và vui lòng nhận lời, và lần lượt tôi cho mỗi người mượn bản ảnh chụp từ phác thảo than gốc mà tôi có. Các kết quả cho thấy nhiều điều bổ ích. Người này nắm được ý niệm đúng về nước da của Ngài, người khác về đường nét nhìn nghiêng, và người thứ ba — bạn quý của tôi, Mme. De Steiger — về hào quang lấp lánh quanh đầu Ngài. Nhưng xét toàn diện thì không ai trong năm người đạt được nét giống hơn bức phác họa ở New York của ông Harrisse. Trước khi cuộc thi này kết thúc, họa sĩ chân dung người Đức rất nổi tiếng, Herr Hermann Schmiechen, khi ấy sống ở Luân Đôn, gia nhập Hội, và, làm tôi hết sức vui mừng, đã lập tức đồng ý để thử nghiệm linh hứng với ông. Tấm ảnh được trao cho ông mà không gợi ý nào về cách xử lý đề tài. Ông bắt đầu vẽ ngày 19 tháng Sáu và hoàn tất ngày 9 tháng Bảy. Trong thời gian đó tôi đến xưởng của ông bốn lần một mình và một lần với H.P.B., và vô cùng thích thú khi thấy hình ảnh tinh thần, vốn đã được ấn tượng sống động nơi não ông, dần dần hiển hiện, và kết cuộc là một bức chân dung vị Guru của tôi hoàn hảo đến mức như thể ông đang vẽ trực diện. Khác với những người kia, tất cả đều sao chép ý tưởng nhìn nghiêng của Harrisse, Schmiechen vẽ chính diện, và rót vào đôi mắt một luồng sinh khí cùng cảm thức về linh hồn cư trú bên trong đến mức làm người xem giật mình. Đây là một tác phẩm thiên tài và là bằng chứng về sự thật của việc chuyển tư tưởng mà tôi có thể hình dung. Trong bức họa, ông đã nắm được tất cả — gương mặt, nước da, tầm cỡ, hình thể và biểu cảm [164] đôi mắt, thế đầu tự nhiên, hào quang rực sáng, và phẩm cách uy nghi. Điều này cũng đúng với bức chân dung cặp của vị Guru chính khác của chúng tôi do Schmiechen vẽ, và người ta có cảm giác như đôi mắt uy nghi đang soi thấu trái tim mình. Tôi đã để ý dấu hiệu của ấn tượng đầu tiên này trong hầu hết mọi trường hợp, và cảm thức kính sợ càng tăng khi hai đôi mắt như dõi theo ta quanh phòng, vẫn dường như đọc được ta, bất kể ta đứng ở đâu. Rồi nữa, bằng một thủ pháp nào đó của cây cọ, hào quang sáng quanh hai đầu dường như thực sự ở trong chuyển động lung linh, đúng như ngoài tự nhiên. Không lạ gì vị khách có tâm đạo lại thấy mình, như thể, được ấn tượng bởi cảm thức linh thiêng của căn phòng nơi treo hai bức chân dung, và việc quán chiếu nội tâm ở đó dễ dàng hơn nơi khác. Hùng tráng như chúng giữa ban ngày, về đêm — khi được chiếu sáng đúng cách — các bức còn gây ấn tượng mạnh hơn, và hai nhân ảnh như sẵn sàng bước ra khỏi khung mà lại gần ta. Họa sĩ đã làm hai hoặc nhiều bản sao bức chân dung, nhưng chúng thiếu nét sống động của nguyên bản; hiển nhiên ông thiếu sức ép linh hứng dưới đó nguyên bản đã được tạo tác. Còn những bức ảnh chụp — vốn, trái với lời phản đối đầy tâm huyết của tôi — được phép chụp từ các bản sao, thì chúng kém xa nguyên bản ở Adyar như đèn cầy sáp so với ánh điện. Và điều làm tôi buồn không tả xiết là những gương mặt rực rỡ vinh quang ấy, qua những bức ảnh rẻ tiền, đã bị phe những người theo Judge đem bán ngoài quầy, và được bác sĩ Hartmann đăng trong một tạp chí và một quyển sách.

[165]

[165]

Does it not seem as if this foregoing experiment threw a great light on the mystery of art-inspiration, and helped us to see what makes the difference between a great painter or sculptor and the general rabble of the professions? The great artist must be a man whose lower mind is sensitive to the impressions that can be impressed on it by his higher, or spiritual, consciousness, and his best works would be produced in those so-called moments of “inspiration,” when this transfer of consciousness is going on. Is it not illustrated in the case in point, when the artist, guided and fired by an influx from without, paints such pictures as he cannot duplicate in his normal state of independent mortality? And is not the Titian, Rubens, Claude, Cellini, Leonardo, Praxiteles, or Pheidias, one who is open to the guidance of the Higher Self, capable of receiving in “flashes” those race-lifting glimpses of the divine reality behind these walls of flesh? A point of interest in this instance is that the Schmiechen portrait of my Guru was the seventh attempt to get a worthy reflection of his image, for the helping of those who cannot as yet go in sukshma sharira to the Ashram and converse with him face to face.

Há chẳng phải thí nghiệm nói trên đã soi rọi mạnh mẽ vào huyền cơ của linh hứng nghệ thuật, và giúp chúng ta thấy điều gì tạo nên khác biệt giữa một họa sĩ hay điêu khắc gia lớn và đám đông tầm thường của nghề nghiệp sao? Người nghệ sĩ lớn ắt hẳn là người mà hạ trí nhạy bén với những ấn tượng có thể được thấm nhập vào đó bởi tâm thức cao hơn, hay tâm thức tinh thần, của chính mình, và những tác phẩm hay nhất của y sẽ được tạo nên trong những khoảnh khắc gọi là “linh hứng”, khi sự chuyển dịch tâm thức này đang diễn ra. Phải chăng điều đó không được minh họa trong trường hợp đang nói, khi người nghệ sĩ, được dẫn dắt và thắp lửa bởi một luồng nhập lưu từ bên ngoài, vẽ nên những bức họa mà y không thể lặp lại trong trạng thái bình thường của phàm nhân độc lập? Và phải chăng Titian, Rubens, Claude, Cellini, Leonardo, Praxiteles, hay Pheidias không phải là những người mở lòng trước sự dẫn dắt của Chân ngã, có khả năng tiếp nhận theo những “tia lóe” các thoáng nhìn nâng dắt nhân loại về thực tại thiêng liêng phía sau bức tường xác thể này? Một điểm đáng chú ý trong trường hợp này là bức chân dung vị Guru của tôi do Schmiechen vẽ là nỗ lực thứ bảy nhằm có được một phản ảnh xứng đáng về diện mạo của Ngài, để trợ giúp những ai chưa thể đi bằng sukshma sharira đến Tịnh xá và đàm đạo với Ngài mặt đối mặt.

At about this same time, in July, 1884, occurred at the house of our dear hostess, Mrs. Arundale, the afternoon reception by H.P.B. which Mrs. Campbell-Praed has so vivaciously sketched in one of her novels, Affinities. It brings the scene vividly to mind, and I can see the lion-faced H.P.B. sitting there, smoking her cigarettes and resisting all the attempts of Professors [166] Barrett, Oliver Lodge, Coues, Mme. Novikoff, and several others to get her to make some phenomena for them; the while, an insinuatingly kittenish and supple-framed American lady sitting on the arm of her chair, and now and then snuggling her face under the old lady’s double-chin, to her evident disapproval. I stood as spectator in the doorway, greatly amused at the comedy that was going on. Mrs. Campbell-Praed has it all in her story, down to the details of Babula’s coming into the room, and Mohini’s participation in the conversation and discussions.

Cũng vào khoảng thời gian ấy, tháng Bảy năm 1884, tại nhà của vị chủ nhà thân yêu, bà Arundale, đã diễn ra buổi tiếp khách buổi chiều do H.P.B. chủ trì — buổi mà bà Campbell-Praed đã phác họa đầy sinh khí trong một cuốn tiểu thuyết của bà, Affinities. Bức tranh ấy đưa cảnh tượng trở lại sống động trong tâm trí tôi, và tôi thấy H.P.B. với diện mạo sư tử ngồi đó, hút thuốc lá và kháng cự mọi nỗ lực của các giáo sư [166] Barrett, Oliver Lodge, Coues, Mme. Novikoff, cùng một số người khác muốn Bà làm vài hiện tượng cho họ; trong khi đó, một bà người Mỹ dáng dẻo và lối nũng nịu khéo léo ngồi trên tay ghế của Bà, thi thoảng dụi mặt dưới cằm đôi của bà già, điều này rõ ràng làm Bà không ưng. Tôi đứng ở ngưỡng cửa làm khán giả, hết sức thích thú trước vở hài kịch đang diễn. Bà Campbell-Praed tả tất cả trong câu chuyện của bà, đến cả chi tiết Babula bước vào phòng, và phần Mohini tham gia đối thoại và tranh luận.

The making of the acquaintance of Sir Edwin Arnold, briefly alluded to in Chapter VIII, was one of thy notable incidents of that London summer. I met him at the dinner table of a well-known society lady, and shall not forget my astonishment when he was pointed out to me by the lady whom I took in to dinner. The reading of a poem or great novel gives one a sort of ideal of the probable appearance of its author. I had expected to find in the writer of The Light of Asia a person of a romantic type of countenance, pale, with delicate features, a dreamy eye, and a frame of rather the feminine type; instead of which, there sat at the opposite side of the table a portly man, with a large nose and mouth, thick lips, more of a worldly than cloistral look, and wearing a black silk skull-cap. “You must be mistaken,” I said to the lady, “that cannot be Arnold! “But it was, as I found on going around and talking with him after the ladies left the room. He kindly asked me to lunch at his house, [167] and was good enough to present me, as above noted, with some pages of the original manuscript of The Light of Asia, which are now treasured in the Adyar Library. It was from that original that I read when we celebrated, at Adyar, the first anniversary of the death of our dear H.P.B., in compliance with the terms of her will.

Việc làm quen với Ngài Edwin Arnold — trước đây đã điểm qua ở Chương VIII — là một trong những sự kiện đáng nhớ của mùa hè Luân Đôn ấy. Tôi gặp Ngài tại bàn ăn tối của một quý bà thân sĩ nổi tiếng, và tôi sẽ không quên sự sửng sốt của mình khi được người phu nhân đi cùng chỉ mặt ông. Việc đọc một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết lớn khiến người ta hình dung một lý tưởng nào đó về diện mạo có thể có của tác giả. Tôi đã mong được gặp nơi tác giả The Light of Asia một con người mang kiểu diện mạo lãng mạn, gương mặt xanh xao, đường nét tinh tế, ánh mắt mơ màng, và vóc dáng có phần nữ tính; trái lại, phía bên kia bàn lại là một người đẫy đà, mũi và miệng to, môi dày, diện mạo thiên về thế tục hơn là tu viện, và đội một mũ chụp đầu bằng lụa đen. “Hẳn bà lầm,” tôi nói với phu nhân, “ấy không thể là Arnold!” Nhưng quả đúng là ông, như tôi nhận ra khi vòng qua và trò chuyện với ông sau khi các bà rời phòng. Ông tử tế mời tôi đến nhà dùng bữa trưa, [167] và hào phóng tặng tôi — như đã nói ở trên — vài trang bản thảo gốc của The Light of Asia, nay được lưu giữ trân trọng tại Thư viện Adyar. Chính từ bản gốc ấy mà tôi đã đọc khi chúng tôi cử hành, tại Adyar, lễ kỷ niệm đầu tiên ngày viên tịch của H.P.B. thân yêu, theo đúng các điều khoản trong chúc thư của Bà.

In the same month I went to the seat of Lord Borthwick, Ravenstone, in Wigtonshire, Scotland, on a visit, and thence on to Edinburgh, where I founded the Scottish Theosophical Society, with the late Robert M. Cameron as President, and E.D. Ewen as Secretary. Despite the liberalisation of modern thought, the old Presbyterian influence is still so strong in the Northern Capital, as to prevent the very learned and influential men composing this excellent Branch from openly avowing their interest in our movement. Their names are concealed from the public, and admission to their meetings barred against all outsiders. It seems ridiculous that this should be so, and I, for my part, if I lived in Edinburgh, would defy the bigoted public to do their worst, even, if they dared, to burn me for a heretic, rather than submit to such moral slavery. However, men are not all of one opinion as to these questions of expediency, and the spread of our ideas goes on all the same, whether on or below the surface of contemporary society. The only other country in the world where we have encountered the same state of things is Russia, where persecution is the order of the day for such as dare swerve from the straight lines of the State religion.

Cùng tháng đó tôi đến Ravenstone, dinh thự của Lord Borthwick, ở Wigtonshire, Scotland, theo lời mời, rồi từ đó đi Edinburgh, nơi tôi sáng lập Hội Thông Thiên Học Scotland, với cố Robert M. Cameron làm Chủ tịch, và E.D. Ewen làm Thư ký. Bất chấp sự giải phóng của tư tưởng hiện đại, ảnh hưởng Trưởng lão vẫn còn mạnh đến mức ở Kinh đô phương Bắc, khiến những bậc uyên bác và có ảnh hưởng tạo nên Chi bộ ưu hạng này không thể công khai bày tỏ sự quan tâm của họ đến phong trào của chúng ta. Tên tuổi họ được giấu với công chúng, và cửa vào các buổi họp của họ đóng với người ngoài. Thật tức cười khi mọi sự lại như thế, và phần tôi, nếu sống ở Edinburgh, tôi sẽ thách thức công luận cố chấp làm điều tệ hại nhất họ muốn, thậm chí, nếu họ dám, thiêu tôi như một kẻ dị giáo, hơn là chịu thứ nô lệ đạo đức như vậy. Tuy nhiên, người ta không đồng quan điểm với nhau trong các câu hỏi về sách lược, và sự lan truyền tư tưởng của chúng ta vẫn tiếp diễn y nguyên, dù trên bề mặt hay bên dưới lớp vỏ của xã hội đương thời. Nước duy nhất khác trên thế giới nơi chúng ta gặp cảnh tượng tương tự là Nga, nơi bách hại là chuyện thường ngày với bất cứ ai dám lệch khỏi đường thẳng của quốc giáo.

[168]

[168]

On the day after the Branch was formed, I lectured on “Theosophy” in the Oddfellows Hall, to a crowded audience. The incident is worth recording for what happened at the close. Among those who came up to shake me by the hand, was a gentleman who said that the views expressed in the lecture were identical with those which he preached from his own pulpit. I found, upon inquiry, that he was the most popular Presbyterian minister in Edinburgh, and I must say I was astonished that he had recognised in Theosophy the spirit of his particular form of creed, for, having been brought up in it myself, I had always associated it with all that was narrow, bigoted, and hateful: the embodiment of religious tyranny. The conviction now sank into my mind that the followers of even the most intolerant sects will soften and spiritualise their creeds if themselves superior to them, and that even a Scottish Presbyterian may, in exceptional cases, be as kind to his fellow-men outside his sectarian fence, as though he had not been brought up on the iron-and-thunder theology of Knox and Calvin. Do we not see it exemplified in the history of Islam? At one time, the courts of its Khalifs were homes of tolerance and religious amity; at another, hell-centres of bigotry and massacre. “In the tenth century, “says Draper, “the Khalif Hakem II had made beautiful Andalusia the Paradise of the world. Christians, Mussulmans, Jews, mixed together without restraint... All learned men, no matter from what country they came, or what their religious views, were welcomed... His [169] library contained four hundred thousand volumes, superbly bound and illuminated... Almansor, who usurped the Khalifate... put himself at the head of the orthodox party. He therefore had the library of Hakem searched, and all works of a scientific or philosophical nature carried into the public places and burnt or thrown into the cisterns of the palace.” Averroes, the ornament of Islam, a star of the first magnitude in the sky of learning, “was expelled from Spain... denounced as a traitor to religion. There was hardly a philosopher who was not punished. Some were put to death, and the consequence was that Islam was full of hypocrites.” [11]

Ngày kế sau khi Chi bộ được lập, tôi diễn thuyết về “Thông Thiên Học” tại Hội trường Oddfellows, trước một thính chúng chật kín. Sự việc đáng ghi lại vì điều đã xảy ra vào cuối buổi. Trong số những người đến bắt tay tôi, có một quý ông nói rằng những quan điểm nêu trong bài là y hệt những điều ông giảng từ chính bục giảng của ông. Hỏi ra tôi được biết ông là mục sư Trưởng lão được ưa chuộng nhất ở Edinburgh, và tôi phải nói là tôi rất ngạc nhiên khi ông nhận ra trong Thông Thiên Học tinh thần của hình thái tín điều đặc thù của ông, vì, vốn được nuôi dưỡng trong truyền thống ấy, tôi luôn gắn nó với mọi điều chật hẹp, cố chấp và đáng ghét: hiện thân của bạo quyền tôn giáo. Niềm xác tín bấy giờ thấm sâu vào tâm tôi rằng tín đồ của ngay cả những giáo phái không khoan dung nhất cũng sẽ làm mềm và làm tinh thần hóa tín điều của họ nếu bản thân họ vượt trội hơn tín điều, và rằng ngay cả một người Trưởng lão Scotland, trong những trường hợp đặc biệt, cũng có thể tử tế với đồng loại bên ngoài hàng rào giáo phái của mình như thể ông ta đã không được nuôi dưỡng bằng thần học sắt-và-sấm sét của Knox và Calvin. Chẳng phải chúng ta đã thấy điều đó được minh họa trong lịch sử Hồi giáo sao? Có thời, triều đình các Khalif là mái nhà của khoan dung và hòa hiếu tôn giáo; thời khác, là trung tâm địa ngục của cố chấp và tàn sát. “Vào thế kỷ thứ mười,” Draper nói, “Khalif Hakem II đã biến xứ Andalusia xinh đẹp thành Thiên đàng của thế giới. Kitô hữu, Hồi đồ, Do Thái, sống lẫn lộn mà không bị kiềm chế... Mọi người học, bất kể từ nước nào đến, hay có quan điểm tôn giáo gì, đều được chào đón... Thư viện của Ngài [169] chứa bốn trăm nghìn cuốn sách, được đóng và minh họa tuyệt đẹp... Almansor, kẻ đoạt ngôi Khalif... đứng lên lãnh đạo phe chính thống. Vì vậy, y cho lục soát thư viện của Hakem, và tất cả các tác phẩm khoa học hay triết học bị mang ra nơi công cộng thiêu hủy hoặc quăng xuống các bể chứa trong cung.” Averroes, niềm kiêu hãnh của Hồi giáo, một vì sao hạng nhất trên bầu trời học thuật, “bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha... bị tố là kẻ phản bội đức tin. Hầu như chẳng có triết gia nào không bị trừng phạt. Có người bị xử tử, và hệ quả là Hồi giáo đầy những kẻ đạo đức giả.”

This is the holding of the mirror up to human nature, for what happened under the Khalifs has always happened, is happening now, and ever will do the same. For the moment, the learned men who belong to our Scottish Branches may be forced to hide their connection with us, and go to meetings under cover, but as surely as the sun will rise to-morrow, the day is not far distant when Theosophy will be preached, not in one but the majority of Scottish pulpits, and it will be deemed an honor to hold our diplomas of membership. For Scottish nature is but human nature, and the national intellect is powerful beyond the average of the intellects of human races, and cannot be prevented from following wherever the thinkers of the past have been able to soar. When the day of liberty dawns, then—as I told the Edinburgh colleagues when forming [170] the Branch—I shall expect Scottish Theosophists to outstrip all others in spreading the Ancient Wisdom throughout the world.

Ấy là giơ gương soi bản tính con người, vì điều đã xảy ra dưới thời các Khalif, xưa nay vẫn xảy ra, hiện nay vẫn xảy ra, và muôn đời vẫn thế. Tạm thời, các bậc thức giả thuộc các Chi bộ Scotland của chúng ta có thể bị buộc phải giấu giếm mối liên hệ với chúng ta, và dự họp một cách kín đáo, nhưng chắc chắn như mặt trời sẽ mọc vào ngày mai, ngày ấy không xa nữa, Theosophy sẽ được giảng, không phải ở một mà ở đa số các bục giảng ở Scotland, và người ta sẽ xem là vinh dự khi sở hữu văn bằng hội viên của chúng ta. Vì bản tính Scotland chỉ là bản tính con người, và trí tuệ của dân tộc này mạnh mẽ vượt mức trung bình của các chủng nhân loại, và không thể bị ngăn cản khỏi việc theo đuổi bất cứ nơi nào mà những nhà tư tưởng của quá khứ đã có thể bay đến. Khi ngày tự do ló rạng, bấy giờ — như tôi đã nói với các bạn đồng nghiệp ở Edinburgh khi thành lập [170] Chi bộ — tôi sẽ kỳ vọng những người Theosophist Scotland vượt qua tất cả những người khác trong việc truyền bá Minh Triết Cổ khắp thế gian.

On 8th July there was an open meeting of the London Lodge, T.S., at the Prince’s Hall, Piccadilly, intended as a public and farewell demonstration to H. P. B. and myself. Many distinguished people in science, literature, diplomacy, and society were present, and addresses were given by Mr. G. B. Finch, then President of the London Lodge, Mr. Sinnett, Mohini, and myself. My topic was “Theosophy”; Mohini’s, “The Wisdom of the Aryans”; and Mr. Finch’s, a welcome and farewell to us.

Ngày 8 tháng Bảy có một buổi họp công khai của London Lodge, T.S., tại Prince’s Hall, Piccadilly, nhằm làm một cuộc biểu dương công khai và tiễn biệt dành cho H.P.B. và tôi. Nhiều vị danh tiếng trong khoa học, văn chương, ngoại giao, và xã hội tham dự, và có các bài diễn văn của ông G. B. Finch, khi ấy là Chủ tịch London Lodge, ông Sinnett, Mohini, và tôi. Đề tài của tôi là “Thông Thiên Học”; của Mohini là “Minh triết của người Arya”; và của ông Finch là lời chào mừng và tiễn biệt chúng tôi.

My next move was towards Germany, where what happened was so interesting from the Theosophical as well as the personal point of view, that I shall reserve the narrative for the next chapter.

Bước kế tiếp của tôi là hướng về Đức, nơi những điều đã xảy ra thú vị đến mức, xét cả về khía cạnh Thông Thiên Học lẫn cá nhân, mà tôi xin dành phần tường thuật cho chương kế tiếp.

CHAPTER XIII—CHƯƠNG XIII

GERMAN EXPERIENCES—NHỮNG TRẢI NGHIỆM Ở ĐỨC

I CROSSED from Queensborough to Flushing, on the night of 23rd July, in one of the splendid boats that ply on that line, and reached Elberfeld (Germany) a 3 p.m. the following day. A most sisterly welcome was given me by Frau Gustav Gebhard, since, alas! deceased. A sweeter or more loyal character I never met. She was one of those women who shed about them an atmosphere of love and virtue, fill their homes with sunshine, make themselves indispensable to their husbands and adored by their children. Frau Gebhard possessed for her colleagues in the T.S. the special attraction of being a born mystic, and for man years a student of the occult, so far as her family duties allowed. For seven years she had been one of the two pupils of Eliphas Levi, [12] and after the siege of Paris was raised, that half-starved and ill-starred Occultist found generous hospitality in her house for a long period. Her impressions of him were contributed by her to the Theosophist for January, 1886. She speaks very kindly and appreciatively of him as a learned Kabbalist, a teacher, and a friend, but says that his Epicurean nicety in the matter of eating was his weak point and [172] was often to her” a matter of wonder”. As both of them are dead, there is no harm in my saying that Mrs. Gebhard told me that Eliphas was an enormous eater, craved rich food, both animal and vegetable, and drank much wine at his dinner. Mrs. Gebhard’s intercourse with him was chiefly in writing, he taking her through a long course of occult instruction by this medium. A large portion of these teachings were, with the kind permission of Frau Gebhard, translated for the Theosophist, and will be found in the volumes for 1884 (Supplement), 1885 and 1886. The Gebhard mansion was furnished in the best taste, and, in the temporary absence in America of Herr G. Gebhard, the host, his whole family vied with each other in making the home delightful to their guests. On the upper floor Frau Gebhard had an occult room for herself, where she had a choice library of rare books on her favorite subjects, and on the wall a portrait from life, in oils, of her master, Eliphas Levi. It represented him just as he is described by her in the article above mentioned—”of a short and corpulent figure; his face was kind and benevolent, beaming with good nature, and he wore a long grey beard which covered nearly the whole of his breast.” It was an intellectual face, but that of a man whose attractions were for physical rather than for spiritual things; a face totally unlike that of the type of our Indian Adepts, upon which the majesty of a divine aspiration is enthroned. Two days after my arrival, the first of a group of expected Theosophists came in [173] the persons of Mme. Hæmmerlé, of Odessa; Dr. Hübbe Schleiden, of Hamburg; and Dr. E. Coues, of Washington; and on the following day, at a meeting held in the “occult room,” our first German Branch, the “Theosophische Gesellschaft Germania,” was formed. The officers elected were: President, Dr. Hübbe Schleiden; Vice-President, Frau M. Gebhard; Treasurer, Consul G. Gebhard; and Secretary, Herr Franz Gebhard, the worthy son of excellent parents. This was the beginning of the movement in the most intellectual country of Europe, a field which in the course of time must yield a splendid harvest, though, like Scotland, local causes will long keep back its full development. While in Scotland our obstacle is the unexhausted power of Calvinism, in Germany there are several, viz., the tumultuous mental activity within the circle of pecuniary interests, the enormous development of physical science with its accompanying spiritual prostration, and the surviving distrust of mysticism, mystical teachers, and systems, which was caused by the overdose given to Germany by the Rosicrucians, the Egyptian Masonry of Cagliostro, and the misunderstood claims and labors of the mediæval alchemists. A century ago and more, Germany was the centre and hottest nucleus of all this occult research, and if we now see a reactive tendency, it is but the natural working of unchangeable law. The capacity for this high spiritual aspiration is innate in the German character, and it is quite possible that in future some change of circumstances will bring it once more into activity.

Tôi qua từ Queensborough đến Flushing, đêm 23 tháng Bảy, trên một trong những chiếc tàu tuyệt hảo chạy tuyến đó, và đến Elberfeld (Đức) lúc 3 giờ chiều ngày hôm sau. Bà Gustav Gebhard đón tôi với một tình cảm như chị em ruột, nay than ôi! đã quá cố. Tôi chưa từng gặp ai ngọt ngào hay trung tín hơn thế. Bà thuộc về hạng phụ nữ tỏa ra chung quanh một khí vị Tình thương và Đức hạnh, làm cho mái nhà họ ngập nắng, trở nên không thể thiếu đối với chồng và được con cái sùng mộ. Đối với các đồng nghiệp trong Hội Thông Thiên Học, Bà Gebhard có một sức hút đặc biệt: bẩm sinh là một nhà thần bí, và trong nhiều năm là một đạo sinh của huyền bí học, trong chừng mực bổn phận gia đình cho phép. Suốt bảy năm, Bà là một trong hai môn sinh của Eliphas Levi, và sau khi vòng vây Paris được giải tỏa, nhà Huyền bí học đó, nửa đói khát và bạc mệnh, đã được nương náu hào hiệp trong nhà Bà một thời gian dài. Ấn tượng của Bà về ông đã được Bà gửi đăng trên tờ Theosophist số tháng Giêng năm 1886. Bà nói rất tử tế và trân trọng ông như một nhà Kabbalah uyên thâm, một vị thầy và một người bạn, nhưng cũng nói rằng sự kén chọn kiểu khoái lạc trong chuyện ăn uống là nhược điểm của ông và [172] thường khiến Bà “lấy làm lạ”. Vì cả hai người nay đều đã qua đời, nên không hại gì khi tôi nói rằng Bà Gebhard kể với tôi rằng Eliphas ăn cực kỳ khỏe, thèm các món ăn đậm đà, cả động vật lẫn thực vật, và uống nhiều rượu vang trong bữa tối. Sự giao tiếp của Bà Gebhard với ông chủ yếu bằng thư từ; bằng phương tiện này, ông dẫn dắt Bà qua một khóa dài giáo huấn huyền bí. Phần lớn các giáo huấn ấy, với sự cho phép tử tế của Bà Gebhard, đã được dịch cho tờ Theosophist, và có thể thấy trong các tập năm 1884 (Phụ lục), 1885 và 1886. Dinh thự nhà Gebhard được bày biện rất tao nhã, và trong thời gian Ông G. Gebhard, chủ nhà, vắng mặt tạm thời ở Mỹ, cả gia đình ông thi nhau làm cho ngôi nhà trở nên thú vị đối với khách. Trên tầng trên, Bà Gebhard có một phòng huyền bí riêng, nơi Bà có một thư viện chọn lọc những sách hiếm về các chủ đề ưa thích, và trên tường là một bức chân dung sơn dầu vẽ từ đời thực của thầy Bà, Eliphas Levi. Nó khắc họa ông đúng như Bà mô tả trong bài viết đã nhắc—“thấp người và đẫy đà; gương mặt hiền hòa và nhân hậu, toát ra vẻ tốt bụng, và ông để bộ râu xám dài phủ gần kín cả ngực”. Đó là một gương mặt trí tuệ, nhưng thuộc về một người có sức hấp dẫn nghiêng về vật chất hơn là tinh thần; hoàn toàn không giống mẫu loại các Chân sư Ấn Độ của chúng tôi, nơi đó sự uy nghi của một khát vọng thiêng liêng ngự trị. Hai ngày sau khi tôi đến, những người Theosophist đầu tiên trong nhóm được trông đợi đã tới [173]; đó là Bà Hæmmerlé, ở Odessa; Bác sĩ Hübbe Schleiden, ở Hamburg; và Bác sĩ E. Coues, ở Washington; và hôm sau, trong một cuộc họp tổ chức tại “phòng huyền bí”, Chi bộ Đức đầu tiên của chúng ta, “Theosophische Gesellschaft Germania”, được thành lập. Các viên chức được bầu là: Hội trưởng, Bác sĩ Hübbe Schleiden; Phó Hội trưởng, Bà M. Gebhard; Thủ quỹ, Lãnh sự G. Gebhard; và Thư ký, Ông Franz Gebhard, người con xứng đáng của những bậc cha mẹ ưu tú. Đó là khởi đầu của phong trào trong xứ sở trí tuệ bậc nhất châu Âu, một cánh đồng mà theo thời gian ắt sẽ cho mùa gặt lẫy lừng, dù rằng, giống như Scotland, những nguyên nhân tại chỗ sẽ còn lâu kìm hãm sự phát triển tròn đầy của nó. Nếu ở Scotland, chướng ngại của chúng ta là sức tàn chưa cạn của Chủ nghĩa Calvin, thì ở Đức có nhiều chướng ngại, như sự xao động trí lực trong vòng lợi ích tiền tài, sự phát triển khổng lồ của khoa học vật chất với sự suy sụp tinh thần đi kèm, và sự ngờ vực còn tồn lưu đối với thần bí học, các bậc thầy thần bí và những hệ thống, vốn do liều dùng quá độ mà Hội Thập tự Hoa hồng, Nghi thức Tam điểm Ai Cập của Cagliostro, và những đòi hỏi cùng công phu bị hiểu lầm của các nhà luyện kim thuật thời Trung cổ đã ban phát cho nước Đức. Một thế kỷ trước và hơn thế, nước Đức là trung tâm, là hạch tâm bỏng rực của mọi cuộc khảo cứu huyền môn này, và nếu nay ta thấy một khuynh hướng phản hồi thì đó cũng chỉ là sự vận hành tự nhiên của Định luật bất biến. Năng lực cho khát vọng tinh thần cao cả này vốn bẩm sinh trong tính cách người Đức, và rất có thể mai sau một đổi thay hoàn cảnh nào đó sẽ khiến nó lại một lần nữa bừng hoạt động.

[174]

[174]

If it were wise to do so, I might mention names of high Germans secretly inclined towards our Theosophical ideas, that would make my remark seem quite warranted; but all will be made clear in time. Meanwhile, my duty is to go on as I have throughout:so many years, keeping many secrets about persons and things locked up in my breast, and suffering myself and others to be maligned and misunderstood for the sake of the cause to which we have devoted “our lives, our fortunes, and our sacred honor”.

Nếu khôn ngoan để làm vậy, tôi có thể nêu tên những bậc cao nhân người Đức âm thầm thiên hướng về tư tưởng Thông Thiên Học của chúng ta, hầu khiến nhận xét của tôi trở nên hoàn toàn có cơ sở; nhưng rồi mọi điều sẽ sáng tỏ đúng thì giờ của nó. Trong khi ấy, bổn phận của tôi là cứ đi tiếp như bấy lâu nay: qua bao năm tháng, giữ kín nhiều bí mật về người và việc trong lòng mình, và chấp nhận để mình và kẻ khác bị gièm pha và hiểu lầm vì đại nghĩa mà chúng ta đã hiến “đời ta, của cải ta, và danh dự thiêng liêng của ta”.

We have at Adyar a souvenir of the above incident, in an excellent photograph of the group of friends who assisted in forming the new German Branch, and Frau Franz Gebhard has one of myself in an oil portrait for which I gave her sittings. In the interest of the movement in Germany, I left Elberfeld on 1st August with Dr. Hübbe Schleiden for Dresden. It was on that day that the good Doctor received in the train a letter from one of the Masters which answered a question that he had just then put to me. As his account of the incident has been published by the S. P. R. (with their usual sniffings and suspicions), there is no impropriety in my saying that he had begun a conversation about certain painful experiences of his early years, which he was then relating for the first time, and about which he had not spoken to Mme. Blavatsky. While we were thus occupied, the railway guard came to the right-hand window of the carriage for our tickets. I sat to the Doctor’s left. He took both his and my ticket and leaned to the right to [175] hand them to the guard, across the knees of the person who sat to his right. As he was resuming his seat, he saw between his body and the next passenger a letter: it was addressed to himself in the K. H. handwriting, was in a Tibetan, or, rather, Chinese envelope, and its contents not only explained the cause of the misfortunes he had just been complaining of, but also answered certain questions he had addressed to H.P.B. (then in London) in a posted letter, to which, in due course of mail, there had not been time to receive her reply. [13] The case seems free of taint of fraud, but the kind, generous S. P. R. critic who reviews it hints at the possibility of an agent of (the penniless) H.P.B. having been in the train with us! Really, with such people is it worth while to waste time in taking them seriously? At all events, poor Dr. Hübbe was much cheered up and encouraged by the contents of the letter, which, after all, was the principal thing. And I too rejoiced in his joy—as my Diary records it.

Tại Adyar, chúng ta có một kỷ vật của việc trên: một bức ảnh tuyệt đẹp chụp nhóm bạn hữu đã góp phần thành lập Chi bộ Đức mới, và Bà Franz Gebhard có một bức chân dung sơn dầu của tôi, mà tôi đã ngồi làm mẫu cho Bà. Vì lợi ích của phong trào ở Đức, ngày 1 tháng Tám tôi rời Elberfeld cùng Bác sĩ Hübbe Schleiden đi Dresden. Hôm đó, vị Bác sĩ khả kính đã nhận trên tàu một bức thư từ một trong các Chân sư, bức thư trả lời một câu hỏi mà ngay lúc ấy ông vừa nêu với tôi. Vì tường thuật của ông về việc này đã được Hội Nghiên cứu Thông linh (S. P. R.) công bố (với kiểu khịt mũi và ngờ vực thường lệ của họ), nên cũng không có gì bất nhã nếu tôi nói rằng ông đã mở đầu một cuộc trò chuyện về những trải nghiệm đau buồn trong thủa thiếu thời, lần đầu tiên ông kể lại, và về những điều ông chưa hề nói với Bà Blavatsky. Đang lúc chúng tôi mải miết như thế, người soát vé đến cửa sổ phía tay phải của toa tàu để lấy vé. Tôi ngồi bên trái Bác sĩ. Ông cầm cả vé của ông lẫn của tôi và nghiêng người sang phải để [175] đưa cho người soát vé, vươn qua đầu gối người ngồi bên phải ông. Khi ông vừa ngồi thẳng lại, ông nhìn thấy, giữa thân mình với hành khách kế bên, một bức thư: trên thư đề tên chính ông bằng bút tích của Chân sư KH, bỏ trong một phong bì kiểu Tây Tạng, đúng hơn là kiểu Trung Hoa, và nội dung không chỉ giải thích nguyên do những bất hạnh mà ông vừa than phiền, mà còn trả lời một số câu hỏi ông đã gửi cho H.P.B. (lúc đó ở London) trong một bức thư đã bỏ bưu điện, mà theo đường thư bình thường thì chưa thể trông mong có hồi âm của Bà. Trường hợp này dường như không vương mùi gian trá, nhưng nhà phê bình tốt bụng và rộng lượng của S. P. R. khi duyệt đã ám chỉ khả năng có một tay chân của H.P.B. (kẻ đang cháy túi) đã ở cùng chuyến tàu với chúng tôi! Thật vậy, với hạng người như thế, có đáng phí thời giờ để xem họ một cách nghiêm túc hay không? Dù sao đi nữa, Bác sĩ Hübbe tội nghiệp đã được phấn chấn và khích lệ nhiều bởi nội dung bức thư, mà rốt cuộc, đó là điều chủ yếu. Và tôi cũng hoan hỉ trong niềm vui của ông—như Nhật ký của tôi đã ghi lại.

At Weisser Hirsch, a summer resort near Dresden, we visited that noble soul Herr Oskar von Hoffmann, a gentleman in every instinct as well as action. He was then engaged on a translation of Esoteric Buddhism, which he subsequently published at his own cost. It was at his house in Leipzig that Zöllner and the other Professors of the Leipzig University held their memorable séances with Slade, the medium, which confirmed Zöllner in his theory of a Fourth Dimension. The [176] Germans are a handsome race, with a suggestion of the lion, very often, in their faces, and Herr von Hoffmann was a marked example of the type. Both he and his brother who resides in England have been my dear friends for many years, and the latter, especially, has helped the Society when it most needed help.

Ở Weisser Hirsch, một nơi nghỉ mát mùa hè gần Dresden, chúng tôi thăm Ông Oskar von Hoffmann, một tâm hồn cao quý, một quý ông trong cả bản năng lẫn hành xử. Khi ấy ông đang dịch cuốn Esoteric Buddhism, mà sau đó ông đã tự bỏ tiền xuất bản. Chính tại nhà ông ở Leipzig, Zöllner và các Giáo sư khác của Đại học Leipzig đã tổ chức những buổi gọi hồn đáng ghi nhớ với Slade, đồng tử, việc này đã củng cố nơi Zöllner học thuyết về Chiều thứ tư. [176] Người Đức là một giống dân khôi ngô, gương mặt thường gợi bóng dáng sư tử, và Ông von Hoffmann là một ví dụ điển hình. Cả ông và người em trai cư trú ở Anh đã là bạn thân của tôi nhiều năm, và người em, đặc biệt, đã giúp Hội khi Hội cần trợ giúp nhất.

The same evening Dr. Hübbe and I called on Herr Schroeder, the famous magnetiser, who does—or was then doing—wonders in psychopathic healing. His method was simplicity itself; he sets up an auric communication with his patient, and then just lets his superfluous vitality flow into the other’s system until he is cured or helped, as the case may be. Puts himself on tap, as one might say! Well, that is what the Jewish doctors made the Shunamite woman, Abishag, do for old King David, and it is scientific therapeutics. After two more days at Dresden we went to Bayreuth, where we were in time to attend a representation of Parsifal in Wagner’s own theatre. The performance lasted from 4 to 9 p.m., and was deeply impressive. The effect was, in fact, indescribably grand. The Doctor and I called on Baron Hans von Wolzogen, Vice-President and Manager of the Wagner Verein. He received us in his library, where he was standing at a high desk correcting proofs of, an article on “Theosophy and Wagner”. The coincidence struck us all as strange and this impression was enhanced when, on hearing my name, he turned to a book-shelf and, with the remark that a friend at Helsingfors had sent it him the day before, handed me a copy of my Buddhist [177] Catechism, gilt-edged and bound in while velvet! Wagner, he told us, was deeply interested in Buddhism, and Parsifal was originally written to represent the Buddha’s struggles after wisdom and his attainment of the Buddhahood. But at the instance of the kings of Saxony and Prussia and other august patrons, he had recomposed it into its present form, a search after the Holy Grail.

Tối hôm đó, Bác sĩ Hübbe và tôi ghé thăm Ông Schroeder, nhà “từ điện trị liệu” lừng danh, người làm—hoặc khi đó vẫn làm—những điều kỳ diệu trong chữa trị bệnh tâm thể. Phương pháp của ông giản dị đến mức cùng: ông thiết lập sự thông giao hào quang với bệnh nhân, rồi cứ để sinh lực dư thừa của mình chảy vào hệ thống của người kia cho đến khi người ấy khỏi hay đỡ bệnh, tùy trường hợp. Nói cách khác, ông “mở vòi” chính mình! Ấy cũng là điều mà các thầy thuốc Do Thái xưa khiến người phụ nữ Shunem, Abishag, làm cho Vua David già, và đó là liệu pháp khoa học. Sau hai ngày nữa ở Dresden, chúng tôi đến Bayreuth, kịp dự một buổi diễn Parsifal trong chính nhà hát của Wagner. Suất diễn kéo dài từ 4 đến 9 giờ tối, và gây ấn tượng sâu xa. Thực vậy, hiệu quả—khó tả xiết—là hùng vĩ khôn cùng. Bác sĩ và tôi đến thăm Nam tước Hans von Wolzogen, Phó Chủ tịch kiêm Quản lý Wagner Verein. Ông tiếp chúng tôi trong thư viện, nơi ông đang đứng bên một bàn cao sửa bản in thử cho một bài viết về “Thông Thiên Học và Wagner”. Sự trùng hợp khiến cả ba chúng tôi đều lấy làm lạ, và ấn tượng ấy càng đậm khi, nghe tên tôi, ông quay đến một kệ sách và, nói rằng một người bạn ở Helsingfors vừa gửi tặng ngày hôm qua, ông đưa tôi một bản cuốn sách [177] Giáo khoa Phật giáo của tôi, cạnh mạ vàng và bìa bọc nhung trắng! Ông nói, Wagner rất quan tâm đến Phật giáo, và Parsifal nguyên thủy được viết để diễn tả cuộc tranh đấu tìm Minh triết của Đức Phật và sự chứng đắc Phật quả. Nhưng theo yêu cầu của các quốc vương xứ Saxony và Phổ cùng các vị bảo trợ tôn quý khác, ông đã viết lại thành hình thức hiện tại, cuộc kiếm tìm Chén Thánh.

Dr. Coues and Herr Rudolph Gebhard, F.T.S., joined us at Bayreuth in time to attend the opera, and Coues went on with Dr. Hübbe and myself to Münich, which we reached at 8 p.m. on the 5th of August and went to a hotel. We called on Dr. Franz Hartmann’s most estimable sister, the Countess von Spreti, wife of a retired German army officer, and visited the great galleries of paintings and sculptures. The same evening those excellent people, with a Captain Urban and Herr Diesel, another popular mesmeriser, came and spent a pleasant time with us at our hotel. It was here also that I first met Baron Ernst von Weber, the veteran anti-vivisectionist, whom my Indian colleagues will recollect as a Delegate from Germany at one of our Adyar Conventions, and a F.T.S. who was proud of the title. The next morning he accompanied Dr. Hübbe and myself to Ambach, the summer villa, on the lovely Starnberger See, of Prof. Gabriel Max, the great German painter. We returned to town in the evening, but went back again the next day to Ammerland, another lakeside bit of Paradise, where Baron Carl du Prel, the philosopher, was in the habit [178] of spending his hot-weather seasons. He was a short, stoutish, hardy, sun-browned man, with an honest face and a noble head, inside which worked one of the grandest brains of our times. Du Pre was the most esoteric and Theosophical writer of his time in Germany. We dined at Prof. Max’s. He is a short man also, with a thick and long body, a great intellectual head, and is very shy with strangers. We stopped at Ambach that night and the next day and night, returning to Münich on the 10th. A most charming and memorable experience it was throughout. Add to the grand company of high-thinkers, a perfect, sunny day, a clear sky, a lakeshore spread with velvety turf, picturesque villas, a smell of pines in the air, and before us, open, like a heavenly mirror of cloud and shore, the unruffled expanse of Starnberger See. Amid such surroundings I admitted into the Society’s membership, on the 9th, the Baron and Baroness Du Prel, Prof. and Frau Max, the latter’s sister, Fräulein Kitzing, Count and Countess von Spreti, Baron E. von Weber, and Captain Urban. Mme. Hæmmerlé, of Odessa, had joined us on the 8th, and was present in the capacity of an old member. That there was some high talking may be inferred from the quality of the company present. We returned to Ambach by moonlight in rowboats. A few notes on some of the new members will be interesting outside Germany, where their personal history is less known than it is at home.

Bác sĩ Coues và Ông Rudolph Gebhard, F.T.S., nhập bọn với chúng tôi ở Bayreuth kịp dự vở nhạc kịch, và Coues cùng đi tiếp với Bác sĩ Hübbe và tôi đến Münich, nơi chúng tôi tới lúc 8 giờ tối ngày 5 tháng Tám và vào khách sạn. Chúng tôi thăm người chị đáng kính của Bác sĩ Franz Hartmann, là Bá tước phu nhân von Spreti, vợ của một sĩ quan quân đội Đức đã về hưu, và viếng các phòng trưng bày hội họa và điêu khắc đồ sộ. Tối hôm đó, những vị cao nhã ấy, cùng Đại úy Urban và Ông Diesel, một nhà thôi miên được ưa chuộng khác, đến chơi với chúng tôi tại khách sạn, không khí rất vui. Tại đây, tôi cũng lần đầu gặp Nam tước Ernst von Weber, nhà hoạt động kỳ cựu chống giải phẫu thực nghiệm trên động vật, mà các đồng nghiệp Ấn Độ của tôi hẳn còn nhớ là một Đại biểu từ Đức tại một trong những Đại hội Adyar, và là một F.T.S. hãnh diện với tước hiệu ấy. Sáng hôm sau, ông đi cùng Bác sĩ Hübbe và tôi tới Ambach, biệt thự mùa hè bên bờ Starnberger See tuyệt đẹp, của Giáo sư Gabriel Max, họa sĩ vĩ đại của nước Đức. Tối đến chúng tôi quay lại thành phố, nhưng hôm sau lại trở lại Ammerland, một dải thiên thai khác bên hồ, nơi Nam tước Carl du Prel, triết gia, [178] thường nghỉ dưỡng mỗi độ nóng bức. Ông thấp người, hơi đẫy, rắn rỏi, rám nắng, gương mặt chân chất và cái đầu cao quý, bên trong là một khối óc thâm hùng bậc nhất thời đại chúng ta. Du Prel là cây bút huyền bí và Theosophical nhất ở Đức thời đó. Chúng tôi dùng bữa tại nhà Giáo sư Max. Ông cũng thấp người, thân hình dày và dài, đầu óc mẫn tuệ, và rất e thẹn với khách lạ. Chúng tôi ở Ambach đêm ấy, rồi cả ngày và đêm hôm sau, quay về Münich vào ngày 10. Suốt chặng đó là một trải nghiệm vô cùng duyên dáng và khó quên. Thêm vào bầu bạn là những bộ óc cao diệu, một ngày nắng tuyệt hảo, trời trong, bờ hồ trải thảm cỏ mượt, biệt thự duyên dáng, hương thông phảng phất trong không khí, và trước mắt chúng tôi, mở ra như một tấm gương thiên thượng của mây và bờ, là mặt nước phẳng lặng của Starnberger See. Giữa khung cảnh ấy, ngày mồng 9, tôi kết nạp vào Hội các vị: Nam tước và Nam tước phu nhân Du Prel, Giáo sư và Bà Max, người chị của Bà là Cô Fräulein Kitzing, Bá tước và Phu nhân von Spreti, Nam tước E. von Weber, và Đại úy Urban. Bà Hæmmerlé, ở Odessa, đã nhập đoàn ngày mồng 8, và hiện diện với tư cách hội viên kỳ cựu. Có thể suy ra đã có những cuộc đàm đạo rất cao từ phẩm chất của thính chúng. Chúng tôi chèo thuyền trở lại Ambach dưới ánh trăng. Vài dòng ghi chú về một số hội viên mới sẽ hữu ích cho độc giả ngoài nước Đức, nơi tiểu sử cá nhân của họ ít được biết đến hơn ở quê nhà.

Gabriel Max was born 23rd August, 1840, at Prag; studied there at the Academy from 1855-58, and in [179] Vienna until 1861; returned to his native town; in 1862 surprised the world by a series of thirteen pictures which very effectually, yet fantastically, illustrated pieces of music; from 1863-69 continued his artistic studies at Münich, and has since become, by his various pictures, one of the greatest artists of Germany. His subjects are usually of a weird and mystical character. He is also a great anthropologist, and owns a splendid ethnographical collection.

Gabriel Max sinh ngày 23 tháng Tám, 1840, tại Prag; học ở Học viện tại đó từ 1855-58, và ở [179] Vienna cho đến 1861; trở về quê nhà; năm 1862 gây sửng sốt cho công chúng bằng một loạt mười ba bức tranh diễn tả các nhạc khúc rất hiệu quả mà lại đầy kỳ ảo; từ 1863-69 tiếp tục học mỹ thuật tại Münich, và kể từ đó, bằng các tác phẩm đa dạng, trở thành một trong những họa sĩ vĩ đại nhất của Đức. Đề tài của ông thường mang sắc thái quái dị và huyền nhiệm. Ông cũng là một nhà nhân học lớn, và sở hữu một bộ sưu tập dân tộc chí tuyệt hảo.

Hübbe Schleiden, Juris Utriusque Doctor, was born 20th October, 1846, at Hamburg; studied jurisprudence and political economy; was, during the War of 1870-71, an attaché of the German Consulate-General in London; travelled over almost all Europe, and lived in West Africa from 1875-77. He is the author of several very important works, and the author of the German colonial policy, his statesman-like scheme having been adopted by Prince Bismarck, and since carried out by the Kaiser.

Hübbe Schleiden, Juris Utriusque Doctor, sinh ngày 20 tháng Mười, 1846, tại Hamburg; học luật học và kinh tế chính trị; trong Chiến tranh 1870-71, là tùy viên Lãnh sự quán Tổng lãnh sự Đức tại London; đã du hành khắp gần như toàn châu Âu, và sống ở Tây Phi từ 1875-77. Ông là tác giả của vài công trình rất quan trọng, và là kiến trúc sư của chính sách thuộc địa Đức, đề án trị quốc của ông đã được Hoàng thân Bismarck chấp thuận và từ đó được Hoàng đế thi hành.

Baron Carl du Prel was born 3rd April, 1839, in Landshut (Bavaria); studied at the University in Munich; in 1859 entered the Bavarian military service, which he left in 1872 as Captain. In 1868 he was graduated Doctor Philosophæ by the University of Tübingen for his magisterial work on dreams, and his fame was constantly enhanced by other books until his lamented death in 1898; one of them, The Philosophy of Mysticism, which appeared in 1885, has been splendidly translated by my dear friend C. C. Massey.

Nam tước Carl du Prel sinh ngày 3 tháng Tư, 1839, tại Landshut (Bavaria); học tại Đại học Munich; năm 1859 vào quân ngũ Bavaria, đến 1872 giải ngũ với cấp Đại úy. Năm 1868 ông đỗ Tiến sĩ Triết học tại Đại học Tübingen với công trình luận uyên thâm về giấc mơ, và danh tiếng ông liên tục gia tăng với các tác phẩm khác cho đến khi ông mất đáng tiếc năm 1898; trong đó, cuốn Triết học Thần bí học, xuất bản năm 1885, đã được bạn thân yêu của tôi C. C. Massey dịch rất xuất sắc.

[180]

[180]

Such were the men who clustered about me on that green slope by the shore of the sweet lake, which that unfortunate mad king Louis, of Bavaria, loved so romantically and covered with so sad a pall by his suicide in its blue waters. My friendship with them remains unbroken, although two of them have since retired from their membership.

Đó là những con người quây quần bên tôi trên sườn dốc xanh rì bên bờ hồ êm ái, nơi vị vua khốn khổ điên dại Louis của Bavaria từng chìm vào tình yêu lãng mạn và phủ trùm nó bằng một tấm khăn sầu muộn bởi cái chết tự vẫn trong làn nước biếc của ông. Tình bằng hữu giữa tôi với họ vẫn không sứt mẻ, dù sau đó hai người đã rút lui khỏi tư cách hội viên.

From Münich we passed on to Stuttgardt, Kreuznach, and Heidelberg, where we, of course, visited the Schloss, the giant wine-tun, and the other sights. We slept at Mainz, and went thence to Kreuznach to pay a visit to Mme. Hæmmerlé. This is a summer resort for invalids, and is very interesting to strangers. They have there an Ozone Kurhaus (Cure house) which is very curious. The walls are of birch twigs piled up on each other between the timbers of a skeleton frame. A fine spray of water is caused to trickle through the twigs from top to bottom, and in evaporating is said to liberate ozone, which serves as a very healing atmosphere for patients with weak lungs. There are baths, fine gardens lit up at night, a splendid band of musicians—one never hears a bad one in Germany—and in the Bazaar numbers of little shops where one can buy at almost nominal prices jewelry and other objects in agate, onyx, carnelian, and the other stones that are found in the neighboring mountains. Countess von Spreti and Frau Max and her sister suddenly turned up, having determined to give us an agreeable surprise. Mr. Rudolph Gebhard and I got them to consent to come on with us [181] to Elberfeld, our faces being now turned in that direction. We all sailed down the Rhine from Mainz to Cologne, and as the day was bright, the steamboat good, and our company congenial, we had a very happy time of it. The cloud of the Missionary plot was not yet visible, but it was approaching.

Từ Münich chúng tôi đi tiếp đến Stuttgardt, Kreuznach, và Heidelberg, nơi dĩ nhiên chúng tôi thăm Lâu đài, thùng rượu khổng lồ, và các điểm danh thắng khác. Chúng tôi ngủ đêm ở Mainz, rồi từ đó đến Kreuznach thăm Bà Hæmmerlé. Đây là một nơi nghỉ dưỡng mùa hè cho bệnh nhân, và rất hấp dẫn đối với khách lạ. Ở đó có một Ozone Kurhaus (nhà điều trị bằng ôzôn) rất lạ. Tường được kết bằng những cành bạch dương chồng lên nhau giữa các thanh xương của một khung sườn. Một làn phun sương mịn được cho chảy qua các cành từ trên xuống dưới, và khi bốc hơi được cho là giải phóng ôzôn, tạo nên một bầu khí rất trị liệu cho bệnh nhân phổi yếu. Có các phòng tắm, vườn tược đẹp đẽ thắp sáng ban đêm, một dàn nhạc tuyệt vời—ở Đức khó mà nghe dàn tồi—và trong Khu Chợ có vô số tiệm nhỏ, nơi người ta có thể mua trang sức và các vật phẩm khác bằng đá với giá gần như tượng trưng, như mã não, mã não đen, mã não đỏ, và những thứ đá khác tìm thấy trong các dãy núi gần đó. Bá tước phu nhân von Spreti, cùng Bà Max và người chị của Bà, bỗng xuất hiện, vì đã quyết định dành cho chúng tôi một bất ngờ thú vị. Ông Rudolph Gebhard và tôi thuyết phục các Bà vui lòng đi tiếp [181] cùng chúng tôi đến Elberfeld, vì giờ đây chúng tôi quay về hướng ấy. Cả đoàn xuống thuyền đi theo dòng Rhine từ Mainz đến Cologne, và vì trời sáng đẹp, thuyền tốt, bạn đồng hành hợp ý, nên chúng tôi có một khoảng thời gian vô cùng vui vẻ. Đám mây của Âm mưu Truyền giáo lúc ấy chưa hiện hình, nhưng nó đang tới gần.

The Gebhard mansion could contain us all, and the next five days passed away like a bright dream. Dr. Coues, whom we had left behind at Kreuznach, rejoined us on the 15th (August); and on the 17th H. P. B., Mrs. Holloway, Mohini, Bertram Keightley, and Mrs. and Miss Arundale came in a body from London. I gave up my room to Countess von Spreti, and went over to Mr. Franz Gebhard’s villa. Herr Consul G. Gebhard had returned from America, and was the very type of an ideal host. In fact, I never met a more courteous gentleman nor more sympathetic friend. We celebrated his birthday on the 18th with enthusiasm. Mme. Hæmmerlé arrived that day from Kreuznach. On the 19th the Münich ladies left and Dr. Hübbe arrived. Dr. Coues departed on the 20th, and Mme. Hæmmerlé on the 21st. The reader may imagine the tone of conversation that went on during this memorable week, with H. P. B. sparkling like champagne with her witty talk, and everybody contributing his or her best to the enjoyment of the others. Dr. Hübbe, debilitated by severe mental work, left us to go to the Black Forest to recuperate his nervous system in the balsamic air of that vast piney wood. This reminds me that I have omitted mentioning [182] an important incident of my visit to Prof. Gabriel Max.

Dinh thự nhà Gebhard đủ chỗ cho tất cả chúng tôi, và năm ngày kế tiếp trôi qua như một giấc mộng lành. Bác sĩ Coues, người chúng tôi đã để lại ở Kreuznach, hội ngộ với chúng tôi vào ngày 15 (tháng Tám); và ngày 17, H. P. B., Bà Holloway, Mohini, Bertram Keightley, cùng Bà và Cô Arundale kéo nhau từ London tới. Tôi nhường phòng cho Bá tước phu nhân von Spreti, và sang ở biệt thự của Ông Franz Gebhard. Ông Lãnh sự G. Gebhard đã trở về từ Mỹ, và là hiện thân của một chủ nhà lý tưởng. Quả thật, tôi chưa gặp ai lịch lãm hơn cũng như thân ái hơn. Chúng tôi mừng sinh nhật ông ngày 18 thật nồng hậu. Bà Hæmmerlé đến ngày hôm đó từ Kreuznach. Ngày 19, các bà ở Münich rời đi và Bác sĩ Hübbe đến. Bác sĩ Coues đi ngày 20, và Bà Hæmmerlé đi ngày 21. Bạn đọc có thể hình dung cung bậc đàm đạo suốt tuần lễ đáng nhớ ấy, với H. P. B. lấp lánh như rượu champagne trong lời nói dí dỏm, và mọi người đều góp điều hay nhất của mình để mang niềm vui cho người khác. Bác sĩ Hübbe, suy kiệt vì lao lực trí não, rời chúng tôi để đến Hắc Lâm (Black Forest) phục hồi hệ thần kinh trong bầu không khí dầu nhựa tùng bách của khu rừng thông bạt ngàn ấy. Điều này khiến tôi nhớ rằng tôi đã bỏ sót không nhắc [182] một sự việc quan trọng trong chuyến thăm Giáo sư Gabriel Max.

In the compound of the villa stood some majestic old pine trees, under whose shade it was pleasant to lie and look out upon the lake. It suddenly came to my mind that I had been told that a certain Adept in Tibet is in the habit of lying at the foot of a pine tree, resting his back against the trunk, and so absorbing into his system the pure healing aura of the tree. Now, as I have already said, my nervous system had been pretty effectually drained of vitality by the thousands of sick folk whom I had treated psychopathically, and I did not recuperate; my general health was perfect, but the ganglia along the spinal tract felt empty; after five months of rest it was no better. So I tried the tree experiment. It worked like magic, the aura poured through my system, and within two days I was as well as possible.

Trong khuôn viên biệt thự đứng sừng sững mấy cây thông già oai vệ, dưới bóng mát của chúng nằm ngắm hồ rất dễ chịu. Bỗng tôi nhớ lại rằng tôi từng được kể: một vị Chân sư ở Tây Tạng có thói quen nằm dưới gốc thông, tựa lưng vào thân cây, mà hấp thụ vào hệ thống của mình hào quang chữa lành tinh khiết của cây. Nay, như tôi đã nói, hệ thần kinh của tôi đã bị rút cạn sinh lực khá triệt để bởi hàng ngàn bệnh nhân mà tôi đã chữa theo lối tâm thể, và tôi không phục hồi được; sức khỏe tổng quát thì hoàn hảo, nhưng các hạch dọc theo trục cột sống như rỗng không; sau năm tháng nghỉ ngơi cũng chẳng khá hơn. Thế là tôi thử nghiệm với cây. Kết quả như phép lạ, hào quang đổ tràn qua hệ thống tôi, và chỉ trong hai ngày tôi đã khỏe mạnh hết mức có thể.

“H. P. B. savage,” is one of my Diary entires of 24th August; which means that she was in a mood the opposite of mild, and that we all caught our share of the thunderbolts! She had an attack of rheumatism, poor thing! besides her regular ailments. On the evening of the 25th there was a letter phenomenon, strange and convincing enough to satisfy even Mr. Rudolph Gebhard, one of the cleverest conjurers in Europe. He described it in his address before the Annual Convention at Adyar in December, 1884, which he attended as a Delegate (vide Official Report of that year’s Anniversary, p. 111). He said that [183] “from the age of seven he had studied conjuring. At the age of nineteen he went to London, and took lessons from Professor Field, the best sleight-of-hand man there. He had met the leading conjurers of the day and has exchanged tricks with them. He had made a special study of sleight-of-hand. He then gave an interesting account of the dropping of a letter from a picture in the drawing-room of his father’s house while Mme. Blavatsky was in the room. The letter was (by request) addressed to the speaker’s father, and treated of the exact subject he was thinking about at the time. He offered a reward of Rs. 1,000 to anyone who would repeat the same thing under the same conditions. He was himself an amateur conjurer and had his eyes open”. (Cheers.)

“H. P. B. dữ dội,” là một trong những dòng Nhật ký của tôi ngày 24 tháng Tám; nghĩa là Bà đang ở một tâm trạng trái ngược với hiền hòa, và chúng tôi ai nấy đều lãnh phần sấm sét! Tội nghiệp, Bà bị một cơn thấp khớp, ngoài những chứng khó chịu thường ngày. Tối 25 có một hiện tượng thư tín, đủ lạ lùng và thuyết phục để làm hài lòng ngay cả Ông Rudolph Gebhard, một trong những nhà ảo thuật khéo léo nhất châu Âu. Ông đã mô tả việc đó trong bài diễn văn của mình tại Đại hội Thường niên ở Adyar tháng Chạp, 1884, nơi ông tham dự với tư cách Đại biểu (xem Báo cáo Chính thức Kỷ niệm năm ấy, tr. 111). Ông nói rằng [183] “từ năm bảy tuổi ông đã học ảo thuật. Năm mười chín tuổi ông đến London, học với Giáo sư Field, người giỏi nhất về ảo thuật ngón tay ở đó. Ông đã gặp các nhà ảo thuật hàng đầu thời ấy và trao đổi ngón nghề với họ. Ông đặc biệt nghiên cứu ảo thuật ngón tay. Sau đó, ông kể một câu chuyện thú vị về việc một bức thư rơi xuống từ một bức tranh trong phòng khách nhà cha ông khi Bà Blavatsky có mặt trong phòng. Bức thư (theo yêu cầu) đề gửi đến thân phụ ông, và bàn đúng chủ đề mà ông đang nghĩ đến lúc ấy. Ông treo giải 1.000 Rs. cho ai lặp lại được y như thế dưới cùng điều kiện. Ông tự mình là một nhà ảo thuật nghiệp dư và luôn mở to mắt quan sát”. (Vỗ tay.)

In passing judgment on this incident, one important fact is to be considered, viz., that the company present, some twelve or fifteen in number, themselves voted that the letter, if any should come, was to be addressed to Herr G. Gebhard and to be a test to him. They might equally as well have had it addressed to any other person in the room, and as the choice was made only a minute or so before the letter dropped on the piano, it is hard to imagine a more self-evident proof of H.P.B.’s real power to effect these phenomena.

Khi đánh giá sự kiện này, cần cân nhắc một sự thực quan trọng, là: chính những người có mặt hôm đó, chừng mười hai đến mười lăm người, đã biểu quyết rằng bức thư, nếu có rơi xuống, sẽ đề gửi cho Ông G. Gebhard và là một phép thử dành cho ông. Họ cũng có thể chọn đề gửi cho bất cứ ai khác trong phòng, và vì sự chọn lựa được đưa ra chỉ một hai phút trước khi bức thư rơi xuống cây dương cầm, thật khó mà tưởng tượng một bằng chứng tự minh hơn về quyền năng có thực của H.P.B. để tạo tác những hiện tượng như vậy.

Happily, we have now passed beyond the cycle of psychophysical phenomena of this sort since poor H.P.B.’s death, yet, all the same, they were of the greatest importance at that time, and did more than anything else could have done to focus public attention [184] on the Society and upon the way for the diffusion of the ideas of which it was the channel. Prof. Max Müller has done me, personally, a grievous wrong in declaring and repeating in print that in a private conversation between us, at his house in Oxford, I had spoken of false miracles as the natural manure of new religious movements, with the implication that if H.P.B.’s phenomena were of that category it was all right. I cannot lay my hand upon the place where the statement occurs, but I believe he first printed it in the Nineteenth Century, and repeated it in a Gifford Lecture, though of this I am not sure. The important fact is that—probably without malevolent intention, and only because he misunderstood my remark—he made me appear to uphold trickery and falsehood as a necessary means for pushing a religious movement. As we were alone in his library when the conversation occurred, it becomes a question of his memory against mine, and all I can do is to solemnly deny having ever said anything that would bear such a construction, and offset it with the record of my whole life, which in nothing shows me to have been governed by such low principles. My word will go as far as Prof. Müller’s with those who know me intimately. What I did say was that “miracles” had attended the birth of all religions, and that when real phenomena had not been forthcoming, the priests usually employed bogus ones as manure for their crops. But that had no reference to the Theosophical movement, and it was only Prof. Müller’s hatred of [185] it which caused him to misunderstand me. “You have done nobly,” he said, “in helping so much to revive the love for Sanskrit, and the Orientalists have watched the development of your Society with the greatest interest from the commencement. But why will you spoil all this good reputation by pandering to the superstitious fancies of the Hindus, by telling them that there is an esoteric meaning in their Shastras? I know the language perfectly, and I assure you there is no such thing as a Secret Doctrine in it.” In reply, I simply told the Professor that every unspoilt (i.e., unwesternised) Pandit throughout all India believed, as we did, in the existence of this hidden meaning; and that, as for the Siddhis, I personally knew men who possessed them and whom I had seen exhibit their powers. “Well, then,” said my erudite host, “let us change the subject.” And we did, and since then, and until his death, he attacked us and our movement whenever the spirit moved him.

May thay, từ khi H.P.B. tội nghiệp qua đời, chúng ta đã đi qua chu kỳ những hiện tượng tâm-vật lý kiểu này; tuy vậy, chúng đã có tầm quan trọng lớn lao vào thời đó, và làm được hơn bất cứ điều gì khác có thể làm để hướng công luận [184] về phía Hội và mở đường cho sự khuếch tán những tư tưởng mà Hội làm kênh dẫn. Giáo sư Max Müller đã làm tổn thương tôi, cá nhân mà nói, một cách nặng nề khi tuyên bố và lặp lại trên mặt chữ rằng trong một cuộc chuyện trò riêng tư giữa hai chúng tôi, tại nhà ông ở Oxford, tôi đã nói về “phép lạ giả” như là “phân bón tự nhiên” của những phong trào tôn giáo mới, hàm ý rằng nếu các hiện tượng của H.P.B. thuộc loại đó thì cũng chẳng sao. Tôi không thể chỉ ngay ra nơi đăng lời tuyên bố ấy, nhưng tôi tin là ông in nó lần đầu trên Nineteenth Century, và lặp lại trong một Bài giảng Gifford, dù điều này tôi không dám chắc. Điều quan trọng là—có lẽ không do ác ý, mà chỉ vì ông hiểu sai lời tôi—ông đã khiến tôi có vẻ như tán đồng mánh khóe và dối trá như là phương tiện tất yếu để thúc đẩy một phong trào tôn giáo. Vì khi ấy chúng tôi chỉ có hai người trong thư viện của ông, vấn đề trở thành ký ức của ông đối chọi ký ức của tôi, và tất cả những gì tôi có thể làm là long trọng phủ nhận rằng tôi chưa từng nói điều gì có thể bị hiểu theo nghĩa đó, và đem hồ sơ trọn đời tôi làm đối chứng, hồ sơ vốn chẳng cho thấy tôi từng bị lèo lái bởi những nguyên tắc thấp hèn như thế. Với những ai thân biết tôi, lời tôi sẽ có giá trị chẳng kém lời Giáo sư Müller. Điều tôi thật sự đã nói là “phép lạ” luôn hiện diện khi các tôn giáo khai sinh, và khi không có hiện tượng thực, các tư tế thường dùng trò giả như là “phân bón” cho mùa màng của họ. Nhưng điều đó chẳng hề liên quan đến phong trào Thông Thiên Học, và chỉ vì Giáo sư Müller ghét [185] nó nên mới cắt nghĩa sai lời tôi. “Ông đã làm một việc cao đẹp,” ông nói, “trong việc góp phần phục hưng tình yêu tiếng Sanskrit, và các nhà Đông phương học đã theo dõi sự phát triển của Hội ông với mối quan tâm lớn nhất từ thuở ban đầu. Nhưng sao ông lại phá hỏng thanh danh ấy bằng cách nuông chiều những mơ tưởng dị đoan của người Ấn, bằng cách nói với họ rằng trong các Shastra của họ có một ý nghĩa nội môn? Tôi rành ngôn ngữ ấy, và tôi đảm bảo với ông là trong đó không hề có cái gọi là Giáo Lý Bí Nhiệm.” Đáp lại, tôi chỉ nói với Giáo sư rằng mọi vị Pandit chưa bị Tây hóa trên khắp Ấn Độ đều tin, như chúng tôi, vào sự tồn tại của ý nghĩa ẩn tàng ấy; và về các Siddhi, cá nhân tôi biết những người sở hữu chúng và tôi đã thấy họ biểu hiện quyền năng. “Vậy thì,” vị chủ nhà bác học của tôi nói, “xin đổi đề tài.” Và chúng tôi đã đổi, và từ đó cho đến khi ông mất, ông công kích chúng tôi và phong trào của chúng tôi bất cứ khi nào cảm hứng xui khiến ông.

Several other letter phenomena occurred during our stay at Herr Gebhard’s house, but I need not relate them, as the one above described will do for all. Among the visitors of H.P.B. was that talented Russian Solovioff, whose book, which appeared long after dear H.P.B.’s death, made it safe for him to tell his falsehoods about her, shows him to be as heartless and contemptible, though fifty times more talented, than the Coulombs. On 1st September he related to all of us the wonderful waking visit he had had from an Adept and the striking phenomena attending [186] it, not as a questionable delusion of the senses, but as an actual experience so perfect and realistic as to banish all theory of doubt. But, as Prof. Max Müller said, “let us change the subject.”

Trong thời gian chúng tôi lưu lại nhà Ông Gebhard đã xảy ra vài hiện tượng thư tín khác, nhưng tôi không cần kể lại, vì sự kiện vừa thuật có thể đại diện cho tất cả. Trong số những người đến thăm H.P.B. có nhà văn Nga tài hoa Solovioff, người mà cuốn sách, xuất hiện khá lâu sau khi H.P.B. thân yêu khuất núi, khiến ông đủ an toàn để bịa chuyện vu cáo Bà, cho thấy ông cũng lạnh lùng và đáng khinh chẳng kém gì vợ chồng Coulomb, dù tài năng gấp năm mươi lần. Ngày 1 tháng Chín, ông kể cho tất cả chúng tôi nghe về cuộc viếng thăm trong lúc tỉnh thức mà ông nhận được từ một Chân sư và những hiện tượng ấn tượng đi kèm [186] nó, không phải như một ảo giác cảm quan khả nghi, mà như một trải nghiệm đích thực, hoàn hảo đến mức loại bỏ mọi lý thuyết hoài nghi. Nhưng như Giáo sư Max Müller nói, “chúng ta hãy đổi đề tài.”

CHAPTER XIV—CHƯƠNG XIV

THE COULOMB MISSIONARY CONSPIRACY—ÂM MƯU TRUYỀN GIÁO CỦA NHÀ COULOMB

OUR last chapter brought us up to 1st September. There were more days of sunny friendships and bright surroundings at Elberfeld, but on the 10th day the first growl of the coming tempest was heard, for we received from Adyar a lugubrious letter from Damodar, intimating that the Missionaries were hatching a. plot, evidently with the help of Mme. Coulomb. He said that this woman was going about here and there, breathing vengeance against H.P.B. and the Society. The members of the Board of Control, to which I had confided the management of our affairs at Headquarters, became so tired of her and her wretched gossip, that they tried to get her and her husband to go to Colorado, where Dr. Hartmann offered to present them with a gold-mine claim of his. They were both willing and anxious to go, and a day for their sailing, via Hong Kong and San Francisco, had been agreed upon, when they spoilt everything by saying that they held compromising letters of H.P.B.’s and that if they did not receive a bonus of Rs. 3,000, they should give the letters for publication. Of course, that stopped all negotiation; the Board held a meeting to which the accused were summoned, affidavits of their slanders [188] were read in their presence, and they were expelled from membership in the Society. Then came a wrangle and contention about their quitting our premises, they contending that Mme. Blavatsky had left her rooms in their custody, and that they should not leave Adyar until an order was received from her to that effect. Under advice of counsel, the Board wrote and cabled H.P.B. to send the required order; she cabled it back, and at length, after weeks of most disagreeable disturbance, the worthy couple were turned out of the compound, and went and settled themselves at St. Thomé in a house provided for them by the gentle, Christlike Missionaries! Their bombshell mortar battery was fired off in the September number of their Madras organ, the Christian College Magazine, and then they stood by to see the superstructure of the Theosophical Society crumble and bury its founders beneath the ruins. No reasonable person was deceived by the pretence that the employment of the self-discredited Coulombs as tools to attempt our ruin was “in the interest of public morals”; the partisan spirit underneath the attack shone clearly through. If it had been a question of attacking the leaders of one of the sects of their own religion, it is very doubtful if the interests of public morals would not have been left to take care of themselves; but when the chance of discrediting the Society which of all others had the strongest hold upon the confidence of the Indian peoples offered itself, the temptation was irresistible, and even such unsavory accomplices as these were [189] paid their price—partly in cash, partly in promises—and the Rev. Mr. Alexander is said to have served as their literary chef de cuisine. Very ably, too.

Chương trước đưa chúng ta đến ngày 1 tháng Chín. Vẫn còn những ngày bạn hữu rạng rỡ và khung cảnh tươi đẹp ở Elberfeld, nhưng đến ngày thứ mười thì tiếng gầm đầu tiên của cơn bão sắp tới đã vang lên, vì chúng tôi nhận từ Adyar một bức thư buồn thảm của Damodar, cho hay các nhà Truyền giáo đang ấp ủ một âm mưu, rõ ràng với sự tiếp tay của Bà Coulomb. Ông nói, người đàn bà này đi khắp nơi, tuôn thù hận chống H.P.B. và Hội. Các thành viên của Ban Kiểm soát, mà tôi đã giao phó việc quản trị công việc của chúng ta tại Trụ sở, phát chán Bà ta và chuyện ngồi lê đôi mách tồi tệ của Bà, đến mức tìm cách đưa Bà và chồng sang Colorado, nơi Bác sĩ Hartmann đề nghị biếu họ một quyền khai thác mỏ vàng của ông. Cả hai đều sẵn lòng và nôn nóng đi, và đã định được ngày lên đường qua Hồng Kông và San Francisco, thì họ làm hỏng hết bằng cách nói rằng họ giữ những bức thư có thể khiến H.P.B. lâm vào thế khó, và rằng nếu không được thưởng 3.000 Rs., họ sẽ đưa những thư ấy cho báo đăng. Dĩ nhiên, điều đó chấm dứt mọi thương lượng; Ban họp, triệu tập các bị đơn, đọc các lời cung khai về bịa đặt vu khống của họ [188] trước mặt họ, và khai trừ họ khỏi tư cách hội viên Hội. Rồi đến màn tranh cãi ầm ĩ về chuyện họ rời khỏi khuôn viên chúng ta, họ cãi rằng Bà Blavatsky đã để phòng của Bà cho họ trông nom, và rằng họ sẽ không rời Adyar cho đến khi nhận được chỉ thị của chính Bà. Theo tư vấn pháp lý, Ban đã viết thư và điện tín cho H.P.B. để gửi chỉ thị cần thiết; Bà điện hồi đáp, và sau cùng, sau hàng tuần náo động khó chịu nhất, đôi vợ chồng “đáng kính” bị tống ra khỏi khuôn viên, và dọn đến St. Thomé trong một căn nhà do những nhà Truyền giáo hiền hòa, phảng phất hương vị Chúa Kitô! cung cấp cho họ. Cối pháo của họ được khai hỏa trên số tháng Chín của cơ quan ngôn luận ở Madras, tờ Christian College Magazine, và rồi họ đứng xem siêu cấu trúc của Hội Thông Thiên Học tan sụp và chôn vùi những người sáng lập dưới đống đổ nát. Không ai sáng suốt lại bị lừa bởi cái cớ rằng việc thuê mướn vợ chồng Coulomb vốn tự bôi nhọ mình làm công cụ để mưu hại chúng tôi là “vì lợi ích đạo đức công cộng”; tinh thần bè phái ẩn dưới đòn tấn công ấy lộ rõ mồn một. Nếu đây là chuyện công kích những người đứng đầu một trong các giáo phái của chính tôn giáo họ, rất đáng ngờ là lợi ích của đạo đức công cộng có lẽ đã bị mặc kệ; nhưng khi xuất hiện cơ hội làm mất uy tín Hội, vốn là Hội có chỗ đứng vững mạnh nhất trong lòng tin của các dân tộc Ấn Độ, thì cám dỗ trở nên không cưỡng được, và ngay cả những kẻ đồng lõa hôi hám như thế cũng được [189] trả giá—một phần bằng tiền mặt, một phần bằng hứa hẹn—và được nói rằng Mục sư Alexander đã đóng vai bếp trưởng văn bút cho họ. Và làm rất khéo nữa.

Naturally enough, so sensational an article achieved instant notoriety; the Calcutta correspondent of the Times cabled its substance to that paper on September20th and it very soon became known throughout the whole civilised world. Only by the reaction was it now seen how widespread the interest in our views had become, and it is doubtful if any Society had ever before had to sustain so terrible an attack. It almost seemed as if the very reactive bitterness of public denunciations of Mme. Blavatsky was the strongest proof of the deep impression which her revelations of the existence of the Eastern School of Adepts, their individual characters and spiritual attainments, and the part they play in the progress of our race, had made on the public mind.

Không có gì lạ khi một bài báo giật gân như thế lập tức nổi đình nổi đám; phóng viên Calcutta của tờ Times đã điện tóm tắt nội dung cho tờ báo vào ngày 20 tháng Chín, và chẳng bao lâu nó đã vang xa khắp thế giới văn minh. Chỉ nhờ phản ứng người ta mới thấy được tầm rộng của mối quan tâm dành cho các quan điểm của chúng ta đã trở nên như thế nào, và e rằng chưa Hội nào từng phải hứng chịu một đòn tấn công khủng khiếp đến vậy. Cảm tưởng gần như là vị đắng phản ứng của các lời công kích công khai nhắm vào Bà Blavatsky lại là chứng cứ mạnh nhất về ấn tượng sâu đậm mà những mặc khải của Bà về sự tồn tại của Trường phái Chân sư Đông phương, về nhân cách riêng và thành tựu tinh thần của Các Ngài, và về vai trò Các Ngài đóng trong tiến bộ của nhân loại, đã để lại trong công chúng.

Though I have traced the development of this conspiracy to its culmination within a single paragraph, weeks passed between our first warning from Damodar and the appearance of the Calcutta despatches in the Times. These were weeks of painful anxiety to us and others, but to H.P.B. herself of strong mental agony. Her supersensitive temperament made her suffer mental tortures proportionate to the length of her enforced inaction. A perfect parallel can be found in the case of my distinguished compatriot: J. Fenimore Cooper, the author, of whom his biographer, Prof. Lounsbury, says: [190]

Dù tôi tóm tắt sự phát triển của âm mưu này đến lúc đỉnh điểm trong một đoạn văn, nhưng đã có hàng tuần lễ giữa lời cảnh báo đầu tiên của Damodar và việc các bản tin từ Calcutta xuất hiện trên tờ Times. Đó là những tuần lễ âu lo nặng nề đối với chúng tôi và những người khác, nhưng đối với chính H.P.B. thì là cực hình tinh thần dữ dội. Cơ địa siêu mẫn khiến Bà chịu đựng đau khổ tinh thần tỷ lệ với độ dài của sự bất động bị cưỡng bức. Hoàn toàn có thể tìm thấy một trường hợp song song nơi người đồng hương lỗi lạc của tôi: J. Fenimore Cooper, tác giả, mà nhà tiểu sử của ông, Giáo sư Lounsbury, đã nói: [190]

“The extent to which Cooper was affected by hostile criticism is something remarkable, even in the irritable race of authors. He manifested under it the irascibility of a man not simply thin-skinned, but of one whose skin was raw. Meekness was never a distinguishing characteristic of his nature; and attack invariably stung him into defiance or counter attack.” [14]

“Mức độ mà Cooper bị tác động bởi phê bình thù nghịch quả là điều đáng kinh ngạc, ngay cả trong dân tộc vốn dễ chạm tự ái là giới tác giả. Trước công kích, ông bộc lộ tính nóng nảy của một người không chỉ ‘da mỏng’ mà dường như ‘da còn trần trụi’. Sự mềm mỏng chưa bao giờ là đặc tính nổi bật của ông; và mỗi đòn công kích đều kích thích ông bùng lên thách thức hoặc phản công.”

What H.P.B. could do under the circumstances, she did. She wrote to the Times of October 9th, denouncing the alleged private letters of herself to Mme. Coulomb as forgeries, and in published interviews in the Pall Mall and other journals declared her intention of returning to India and prosecuting the Coulombs and the Missionaries for libel. Following her letter to the Editor of the Times, appeared.one from Mr. St. George Lane-Fox, who had just returned from Madras, and who mid that, in common with all who were acquainted with the circumstances of the case, he had “no doubt whatever that, whoever wrote the letters, they were not written by Mme. Blavatsky”; moreover, that he did “not believe that the true Theosophic cause suffers in the slightest degree”. The accuracy of this judgment has been abundantly proven by subsequent events, for, as statistics show, the growth and strength of the Theosophic movement have, year by year, been double what they had been up to the moment of the attack.

Điều gì Bà H.P.B. có thể làm trong hoàn cảnh ấy, Bà đã làm. Bà viết cho tờ Times ngày 9 tháng Mười, tố cáo những bức thư riêng tư bị gán là của Bà gửi Bà Coulomb là đồ ngụy tạo, và trong các cuộc phỏng vấn đăng trên tờ Pall Mall và các báo khác, Bà tuyên bố ý định sẽ trở lại Ấn Độ và kiện vợ chồng Coulomb cùng các nhà Truyền giáo về tội phỉ báng. Ngay sau thư của Bà gửi Chủ bút tờ Times, là thư của Ông St. George Lane-Fox, vừa trở về từ Madras, trong đó ông nói rằng, cùng với tất cả những ai biết rõ hoàn cảnh sự việc, ông “không hề có chút nghi ngờ nào rằng, ai có viết những bức thư đó chăng nữa, thì tác giả không phải là Bà Blavatsky”; hơn nữa, ông “không tin rằng chính nghĩa Thông Thiên Học chân thực chịu thiệt hại dù chỉ chút ít”. Tính xác đáng của phán đoán này đã được thừa nhận đầy đủ bởi những diễn biến sau đó, vì, như thống kê cho thấy, sự tăng trưởng và sức mạnh của phong trào Thông Thiên Học, năm qua năm, đã gấp đôi so với trước thời điểm cuộc công kích.

[191]

[191]

I have no intention at this late day to flog this dead horse; the public have taken their sides, H.P.B. has cast off the burden of her earthly sorrows, and time is daily vindicating her greatness of character and dignity of life-aims. Her personal faults and weaknesses are well-nigh forgotten, and her reputation now rests upon the books she gave us, whose paramount value is being brought to view after the dust and smoke of the conflict have passed away. In company with Mr. Rudolph Gebhard, I returned to India in the first half of November, and Mme. Blavatsky followed in December, bringing with her Mr. Leadbeater and Mr. and Mrs. Cooper-Oakley, of London, and three Delegates from Ceylon, to attend the Annual Convention. Dr. Hartmann and I had joined the party at Colombo, whither I had gone to report to the Sinhalese the grand results of my mission to London in their interest.

Giờ đây tôi không có ý định khơi lại chuyện cũ vô ích; công chúng đã chọn phe của mình, H.P.B. đã trút bỏ gánh nặng sầu đau thế tục, và thời gian hằng ngày đang minh oan cho tầm cỡ vĩ đại của nhân cách Bà và vẻ uy nghi của chí hướng đời Bà. Những lỗi lầm và yếu đuối cá nhân của Bà hầu như đã phai mờ, và thanh danh Bà nay đặt trên những quyển sách Bà đã ban tặng chúng ta, mà giá trị thượng đẳng của chúng đang được phơi bày khi bụi và khói chiến tranh đã tan. Cùng với Ông Rudolph Gebhard, tôi trở lại Ấn Độ trong nửa đầu tháng Mười Một, và Bà Blavatsky theo sau vào tháng Mười Hai, mang theo Ông Leadbeater và Ông Bà Cooper-Oakley, ở London, cùng ba Đại biểu từ Tích Lan, đến dự Đại hội Thường niên. Bác sĩ Hartmann và tôi nhập đoàn tại Colombo, nơi tôi đến để báo cáo với người Tích Lan về những thành quả lớn lao của sứ mệnh London mà tôi thực hiện vì lợi ích của họ.

Before her departure from Europe, H.P.B. received the most gratifying proofs of the unshaken confidence of our European colleagues in her integrity; the London Lodge and the German and French Branches unanimously adopted resolutions of a complimentary character, and the first two cabled their decisions out to Adyar. Meanwhile letters and telegrams poured into Headquarters from the Indian Branches, and the reports from our colleagues of the Board of Control—all of which are now lying on my table as I write—became bright and reassuring; we felt that the storm had passed without doing us such grievous damage after all.

Trước khi rời châu Âu, H.P.B. nhận được những bằng chứng cực kỳ đáng mừng về lòng tin không lay chuyển của các đồng chí châu Âu đối với sự liêm chính của Bà; London Lodge và các Chi bộ Đức và Pháp đồng loạt thông qua các nghị quyết tán dương, và hai nơi đầu tiên đã điện tín quyết nghị của họ về Adyar. Trong khi đó, thư và điện tín đổ về Trụ sở từ các Chi bộ Ấn Độ, và các báo cáo từ các đồng nghiệp trong Ban Kiểm soát—tất cả những thứ này hiện đang nằm trên bàn tôi khi tôi viết—trở nên sáng sủa và trấn an; chúng tôi cảm thấy cơn bão đã qua mà không gây tổn hại khốc liệt như lo ngại.

[192]

[192]

Landing at Bombay on November 10, I lectured on the 12th, on “Theosophy Abroad”, in Framji Cowasji Hall, to a packed audience, and one of the most enthusiastic I ever addressed. Madras was reached on the 15th, and what sort of reception I had the local papers of the day show. More than 300 students of the very Christian College whose professors had attacked H.P.B., and a large number of our Society members, met me at the station, with cheers, a band of musicians, addresses, garlands, and perfume-sprinklings. Their joy and enthusiasm seemed boundless. The address read to me by the schoolboys is very flowery, but quivers with true affection. In certain of its sentences they touch the very heart of the mystery of the failure of the Missionaries to weaken our hold on the Indian public—for a mystery, indeed, it must have seemed to them. These Indian lads identify the Theosophical Society with the revival of Sanskrit Literature, the reconciliation of Religion with Science, the throwing of light upon man’s future state, the welding of the “incohesive” Indian castes and creeds into one brotherhood feeling of mutual sympathy, and the defence of Aryan wisdom and Hindu honor against all critics and all comers. With such convictions as these possessing their minds, and with such thrills of gratitude pulsing through their hearts, the poor conspiracy against H.P.B. and the Blessed Ones was foredoomed to failure—nay, was predestined to do us infinite good instead of infinite harm in the long run. One sees this in the tone of the influential Indian [193] journals of the day. Noticing the return of Mme. Blavatsky and her party, the Indian Mirror of December 20 said:

Đổ bộ Bombay ngày 10 tháng Mười Một, tôi diễn thuyết ngày 12, về “Theosophy Abroad”, tại Framji Cowasji Hall, trước một thính phòng chật kín, và là một trong những thính phòng nồng nhiệt nhất mà tôi từng gặp. Chúng tôi đến Madras ngày 15, và báo địa phương thời ấy cho thấy tôi được đón tiếp ra sao. Hơn 300 học sinh của chính Trường Cao đẳng Cơ đốc mà các giáo sư đã công kích H.P.B., cùng đông đảo hội viên của Hội chúng ta, ra đón tôi ở ga, với tiếng reo hò, một dàn nhạc, các bài đọc chào mừng, vòng hoa, và rưới hương. Niềm vui và sự phấn khích của họ dường như không bờ bến. Bài chào mừng do các em học sinh đọc thì văn hoa, nhưng run rẩy tình thân đích thực. Trong vài câu, các em chạm tới cái lõi của huyền nhiệm về sự thất bại của các nhà Truyền giáo trong việc làm suy yếu chỗ đứng của chúng ta trong công chúng Ấn—quả thực, đối với họ, đó hẳn là một huyền nhiệm. Những thiếu niên Ấn này đồng nhất Hội Thông Thiên Học với sự phục hưng Văn học Sanskrit, sự điều hòa Tôn giáo với Khoa học, việc soi sáng về trạng thái tương lai của con người, việc hàn gắn những đẳng cấp và tín ngưỡng “rời rạc” của Ấn Độ thành một tình huynh đệ tương giao cảm thông, và việc bảo vệ trí huệ Arya và danh dự Ấn giáo trước mọi người phê bình và mọi địch thủ. Với những xác tín như thế chiếm lĩnh tâm trí, và với những rung động tri ân như thế dâng trào trong trái tim, âm mưu hèn hạ chống lại H.P.B. và các Đấng Chân Phúc đã bị định sẵn là thất bại—chẳng những thế, còn được tiền định sẽ mang cho chúng ta lợi ích vô lượng thay vì tổn hại vô cùng về lâu dài. Điều này có thể thấy trong giọng điệu của các [193] tờ báo Ấn Độ có ảnh hưởng thời ấy. Khi thuật tin Bà Blavatsky và đoàn của Bà trở về, tờ Indian Mirror ngày 20 tháng Mười Hai viết:

“The Hindu community, in general, is the more attracted to Mme. Blavatsky, because they believe that the Missionaries have, in reality, attacked the ancient Hindu religion and philosophy under the guise and pretence of exposing the lady’s’ trickery’. On that account the feeling of the native community against the Missionaries and for Mme. Blavatsky is very strong.”

“Cộng đồng Ấn giáo, nói chung, lại càng bị lôi cuốn về phía Bà Blavatsky, vì họ tin rằng các nhà Truyền giáo thực chất đã công kích tôn giáo và triết học Ấn giáo cổ đại dưới cái vỏ và cớ là ‘vạch trần trò xảo thuật’ của vị phu nhân. Bởi lẽ đó, cảm tình của cộng đồng bản xứ chống lại các nhà Truyền giáo và ủng hộ Bà Blavatsky là rất mạnh.”

The Indian Chronicle said: “We are not Theosophists ourselves... but we have a great respect for the founders of the Theosophical Society. It is the only foreign movement which appeals to the national feeling of India... and instead of being made the butt of ridicule, and its leaders the subject of persecution, it ought to be patiently nourished. The Christian scoffers... are perhaps not aware that the existence of Mahatmas... is universally believed throughout India, and it is preposterous to suppose that the Padris of Madras will do any serious harm to that belief.... Theosophy, though it may have to bear much temporary annoyance... will come out of the fiery ordeal purer for having gone through it.” The Sahas of 3rd November expressed the same opinions, saying that the Hindus believed in occult science before we two persons were born, and that this belief—in the case of hundreds, knowledge—cannot be affected by anything that may happen to us. The Amrita Bazaar Patrika said that the Christian accusers were incapable [194] of grasping the possibility of facts such as Theosophy dealt with, but the Hindus, knowing Yoga, believe in the Mahatmas implicitly. In trying to discredit the existence of such men, the Missionaries, as the tone of the whole Indian Press showed, were slapping the faces of, and offering deadly insult to, the whole Indian people.

Tờ Indian Chronicle viết: “Chúng tôi không phải là người của Hội Thông Thiên Học... nhưng chúng tôi rất kính trọng những người sáng lập Hội. Đây là phong trào ngoại quốc duy nhất đánh động tình cảm quốc gia của Ấn Độ... và thay vì bị làm trò cười, thay vì những người lãnh đạo bị bách hại, thì phong trào này đáng được nuôi dưỡng kiên nhẫn. Những kẻ nhạo báng Cơ đốc... có lẽ không ý thức rằng sự hiện hữu của các Mahatma... là điều được tin tưởng phổ biến khắp Ấn Độ, và thật là lố bịch khi nghĩ rằng các Cha xứ ở Madras sẽ làm phương hại nghiêm trọng đến niềm tin ấy.... Thông Thiên Học, dẫu có phải chịu đựng nhiều phiền nhiễu nhất thời... rồi sẽ bước ra khỏi lửa thử vàng và trở nên tinh ròng hơn vì đã đi qua nó.” Tờ Sahas số ngày 3 tháng Mười Một bày tỏ cùng quan điểm, nói rằng người Ấn tin vào khoa học huyền bí trước khi hai chúng tôi chào đời, và niềm tin này—đối với hàng trăm người là tri thức—không thể bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì xảy đến với chúng tôi. Tờ Amrita Bazaar Patrika nói rằng những kẻ cáo buộc theo đạo Cơ đốc bất lực [194] trong việc nắm bắt khả năng của những sự kiện mà Thông Thiên Học bàn đến, nhưng người Ấn, biết về Yoga, tin vào các Mahatma một cách vô điều kiện. Khi tìm cách làm mất uy tín sự hiện hữu của những bậc như thế, các nhà Truyền giáo, như giọng điệu của toàn bộ Báo chí Ấn Độ cho thấy, đã tát vào mặt và phỉ báng chí tử toàn thể dân tộc Ấn.

Her reception at Madras on her return was even more tumultuously joyous than mine had been. She was met at the pier by a large Committee, garlanded, along with her party of fellow-travellers, and escorted in procession to Pachiappah’s Hall, where an assemblage that crowded the place to suffocation was waiting. They rose to their feet and gave vent to their feelings in a roar of cheers and vivas, as she slowly walked through the press to the platform, her hand nervously gripping my arm, her mouth set like iron, her eyes full of glad light and almost swimming in tears of joy. The new-comers from London received each a separate ovation also. Mr. C. Ramiah, the Tahsildar of Madras, bade her welcome on behalf of the local Branch; Judge P. Sreenivas Row requested permission for the address of the Christian College and other College students, bearing some 500 signatures, to be read; and she assenting, it was read by A. G. Krishnaswamy Iyer, a student of the Christian College, amid great excitement. When the outburst of cheering at the end had somewhat subsided, H.P.B. made her first and, so far as I know, only speech from a public platform. She said that “of all the letters published, [195] not a single one, as it stood, had been written by her. She would deny them all in toto... she would be the greatest fool in the world to commit herself so that she might be fairly accused of such vile, disgusting things.... As for her accusers, she and the Colonel had treated them with all possible kindness, and what should she say of their going over to the enemy’s camp, when her back was turned, and selling her like Judas Iscariot? She had not done anything against India of which she should be ashamed, and she was determined to work for India while there was health in her”. (Report in the Madras Mail.)

Lễ đón Bà tại Madras khi trở về còn náo nhiệt hoan hỉ hơn cả của tôi. Bà được một Ủy ban đông đảo đón tại cầu tàu, được choàng hoa cùng với các bạn đồng hành, và được rước kiệu vào Pachiappah’s Hall, nơi một đám đông chật kín đang chờ. Họ đồng loạt đứng dậy và bộc lộ tâm tình bằng một tràng reo hò và hoan hô, khi Bà chậm rãi bước qua đám đông đến diễn đàn, tay Bà nắm chặt cánh tay tôi đầy căng thẳng, môi mím như sắt, mắt Bà rạng vui và gần như lấp lánh lệ mừng. Những người mới từ London đến cũng lần lượt được hoan nghênh riêng. Ông C. Ramiah, Tahsildar của Madras, thay mặt Chi bộ địa phương chào mừng Bà; Thẩm phán P. Sreenivas Row xin phép được đọc bài chào mừng của học sinh Trường Cao đẳng Cơ đốc và các trường khác, mang khoảng 500 chữ ký; Bà ưng thuận, và A. G. Krishnaswamy Iyer, sinh viên Trường Cao đẳng Cơ đốc, đã đọc, giữa lúc xúc động dâng cao. Khi làn sóng hoan hô ở cuối bài đọc lắng xuống phần nào, H.P.B. đã có bài nói đầu tiên và, theo tôi biết, duy nhất của Bà từ một diễn đàn công cộng. Bà nói rằng “trong tất cả những bức thư đã đăng, [195] không có một bức nào, như nó đang được in, là do Bà viết. Bà phủ nhận tất thảy... Bà sẽ là kẻ ngu ngốc nhất trần đời nếu tự buộc tội mình đến mức có thể bị công bằng cáo buộc về những điều dơ bẩn, ghê tởm như thế.... Còn về những kẻ cáo buộc Bà, thì Bà và Đại tá đã đối đãi họ hết mức tử tế, và Bà biết nói gì về việc họ đi sang trại địch khi Bà quay lưng, và đem bán Bà như Judas Iscariot? Bà đã không làm điều gì chống lại Ấn Độ khiến Bà phải hổ thẹn, và Bà quyết tâm làm việc cho Ấn Độ chừng nào còn sức khỏe.” (Theo tường thuật trên tờ Madras Mail.)

Other speeches were made by Mrs. Cooper-Oakley, Mr. Leadbeater, and myself, which were vehemently applauded, and the presentation of garlands and bouquets to H.P.B. and the rest of us terminated the proceedings.

Những bài nói khác lần lượt do Bà Cooper-Oakley, Ông Leadbeater, và tôi trình bày, được hoan nghênh nồng nhiệt, và việc dâng vòng hoa, bó hoa cho H.P.B. và chúng tôi khép lại buổi lễ.

H.P.B. came back fully determined to prosecute the Coulombs and the Missionaries; she had so declared in London and so wrote me from Cairo, where she had stopped some time to collect testimony about the antecedents of the Coulombs. From thence Mr. Leadbeater, then an Anglican curate, or clerk in Holy -Orders, wrote to the Indian Mirror (issue of December 16) about what he and the others had discovered—facts certainly not much to the credit of these champions of “public morals”. He says that the information, derived from the members of Mr. Coulomb’s own family, showed that his (Mr. C.’s) wife, formerly a Miss Emma Cutting, had been employed for a short [196] time as governess in the family of S... Pasha “but was expelled from his household upon the discovery that she was endeavoring to instil vicious ideas into the minds of her charge”; that she pretended to be able to see clairvoyantly buried treasures; that several were induced to dig where she told them, but discovered nothing save once, when they found some: doubloons—which a little girl had seen her place in the hole the night before. Mr. Leadbeater further says that he was assured by Mr. Gregoire d’Elias, Vice-Chancellor of the Russian Legation at Cairo that he knows Mme. Blavatsky intimately, and saw her daily during her (former) stay there, and “esteems. her most highly, and has never till now heard the slightest reflection on her moral character”. I think we may fairly offset this testimony of a high Russian official against the calumnious falsehoods of an accuser like Mme. Coulomb. And a fair-minded person would be disposed to look with great suspicion upon her statement that Mme. Blavatsky, one of the most brilliant women of her time, had put her reputation so completely in her power as the wretched letters in question would show. Of course, never having seen the letters themselves, nor being as infallible in determining the genuinenesses of handwriting as professionals like Netherclift and Berthelot—the Government expert in the recent Zola trial, who made as ridiculous a failure about Dreyfus’s writing as the other did about Parnell’s—I cannot express any opinion as to their genuineness; moreover, since poor [197] H.P.B. is dead, the truth will never be known; but I can and do so say, for the hundredth time, that I have had numberless proofs of H.P.B.’s occult powers, of the clear altruism of her motives, and the moral purity of her life; and I thrust those old scrap-books and bundles of letters and papers back into their boxes, with the sense of relief that one feels on putting out of sight a loathsome thing. Yet not until I have shown why H.P.B. never redeemed her promise to prosecute the Coulombs; for that fact has been used ever since to her discredit, and most unjustly. Fortunately, it is all a matter of record. For it, we must now turn to the Annual Report of the T.S. for the year 1884. [15]

H.P.B. trở về với quyết tâm trọn vẹn sẽ khởi tố vợ chồng Coulomb và các Nhà Truyền giáo; Bà đã tuyên bố như vậy ở Luân Đôn và cũng đã viết cho tôi từ Cairo, nơi Bà dừng lại một thời gian để thu thập lời chứng về lai lịch của vợ chồng Coulomb. Từ đó, Ông Leadbeater, lúc ấy là một phó tế Anh giáo, hay thư lại thuộc Hàng giáo phẩm, đã viết cho tờ Indian Mirror (số ra ngày 16 tháng Mười Hai) về những gì ông và những người khác đã phát hiện—những sự kiện hẳn nhiên chẳng mấy vẻ vang cho các “chiến sĩ” bênh vực “đạo đức công cộng” ấy. Ông nói rằng thông tin, lấy từ chính các thành viên trong gia đình của Ông Coulomb, cho thấy vợ ông ta (Ông C.), trước đây là cô Emma Cutting, đã từng được thuê trong một thời gian ngắn [196] làm gia sư trong gia đình S... Pasha “nhưng đã bị đuổi khỏi nhà ông này sau khi phát giác rằng cô đang tìm cách gieo rắc những quan niệm đồi bại vào tâm trí của các học trò mình”; rằng cô ta giả vờ có thể bằng thông nhãn thấy được những kho báu chôn giấu; rằng đã có nhiều người bị xúi giục đào bới ở nơi cô chỉ, nhưng chẳng phát hiện gì, trừ một lần, khi họ tìm thấy vài đồng: doubloon—mà một bé gái đã trông thấy cô đặt xuống hố từ đêm hôm trước. Ông Leadbeater còn nói rằng ông đã được Ông Gregoire d’Elias, Phó Lãnh sự Phái bộ Nga tại Cairo, quả quyết rằng ông quen biết thân mật với Bà Blavatsky, ngày nào cũng gặp Bà trong thời gian (trước đây) Bà lưu lại đó, và “rất tôn kính Bà, và cho đến nay chưa từng nghe điều gì, dù chỉ thoáng qua, làm phương hại đến phẩm hạnh của Bà”. Tôi nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn có thể hóa giải lời chứng này của một vị quan chức Nga cao cấp trước những điều dối trá nhảm nhí của một kẻ vu khống như Bà Coulomb. Và một người công bằng hẳn sẽ có khuynh hướng nhìn nhận với sự ngờ vực lớn lao lời khẳng định của mụ ta rằng Bà Blavatsky, một trong những người phụ nữ xuất chúng nhất thời đại mình, đã đặt thanh danh bản thân hoàn toàn vào tay mụ, như những bức thư tồi tệ kia muốn cho thấy. Dĩ nhiên, vì chưa từng được xem tận mắt các bức thư đó, mà cũng đâu có bất khả sai lầm trong việc xác định tính chân thực của bút tích như các chuyên gia như Netherclift và Berthelot—chuyên viên giám định của Chính phủ trong vụ xử Zola gần đây, người đã thất bại thảm hại khi giám định bút tích của Dreyfus y như người kia đã từng sai lạc về bút tích của Parnell—nên tôi không thể bày tỏ bất kỳ ý kiến nào về tính chân thật của chúng; hơn nữa, vì tội nghiệp [197] H.P.B. đã mất, nên sự thật sẽ chẳng bao giờ được biết; nhưng tôi có thể, và thực sự nói lần thứ một trăm, rằng tôi đã có vô số bằng chứng về các năng lực huyền bí của H.P.B., về lòng vị tha trong sáng trong các động cơ của Bà, và sự trong sạch về đạo hạnh trong đời sống của Bà; và tôi nhét lại những tập sổ cũ kỹ và các bó thư từ giấy tờ ấy vào thùng, với cảm giác nhẹ nhõm như khi ta cất khuất khỏi mắt một vật gớm ghiếc. Tuy vậy, không phải trước khi tôi đã cho thấy vì sao H.P.B. chưa từng thực hiện lời hứa khởi tố vợ chồng Coulomb; vì sự kiện đó từ bấy đến nay đã bị đem ra để làm phương hại Bà, một cách hết sức bất công. May thay, tất cả đều đã được ghi chép đầy đủ. Để hiểu rõ, giờ đây chúng ta phải xem Báo cáo Thường niên của T.S. cho năm 1884.

She sent me from Cairo the following cable: “Success complete. Outlaws. Legal proofs. Sail Colombo, Navarino.” The meaning of this is that she had what she regarded as legal proofs of the fact that the Coulombs were outlaws who had fled the country to escape arrest for fraudulent bankruptcy. This I learnt on reading the written statements of reputable witnesses which she brought with her; statements which, however suggestive as to the line of inquiry that should be followed up in case the matter should come to trial, I saw at once were not in form for production in Court. Acting without legal advice, she had made a mess of the affair. From the day she landed, she kept urging me to take her to a judge, or solicitor, or barrister, no matter which, for her to file her affidavit and begin our action, [198] but I positively refused. I told her that within the next few days the Convention would meet, and that our paramount duty was to lay her case before the Delegates, have a special Committee formed, of our ablest lawyers, and let them decide what steps she should take; that she and I had so merged our personalities into the Society, that we ought not to move until we should know the wish of our colleagues. She fretted and stormed and insisted, but I would not stir from my position, and, when she threatened to go by herself and “wipe this stain off her character,” I said that I should, in that case, resign my office and let the Convention decide between us: I knew too much about legal practice to do any such foolish thing. She then yielded.

Từ Cairo, Bà gửi cho tôi bức điện sau: “Thành công hoàn toàn. Lưu vong. Bằng chứng pháp lý. Lên tàu Colombo, Navarino.” Ý nghĩa của thông điệp này là Bà đã có, theo nhận định của Bà, các bằng chứng pháp lý cho thấy vợ chồng Coulomb là những kẻ phạm pháp đã chạy trốn khỏi đất nước để tránh bị bắt vì tội phá sản gian lận. Tôi biết điều này khi đọc các bản tường trình viết tay của những nhân chứng khả tín mà Bà mang theo; những bản tường trình ấy, tuy gợi ý về hướng điều tra cần theo đuổi trong trường hợp vụ việc được đưa ra xét xử, nhưng tôi đã thấy ngay rằng chúng không có hình thức thích hợp để nộp ra trước Tòa. Hành động mà không có tư vấn pháp lý, Bà đã làm hỏng việc. Từ ngày đặt chân lên bến, Bà cứ hối thúc tôi đưa Bà tới gặp một thẩm phán, hay một luật sư tư vấn, hoặc một luật sư bào chữa, ai cũng được, để Bà có thể nộp bản khai hữu thệ và bắt đầu khởi kiện, [198] nhưng tôi nhất quyết từ chối. Tôi nói với Bà rằng trong vài ngày tới Đại hội sẽ nhóm họp, và bổn phận tối thượng của chúng ta là trình vụ việc của Bà trước các Đại biểu, lập một Ủy ban đặc biệt gồm những luật gia giỏi nhất của chúng ta, rồi để họ quyết định Bà nên làm những bước nào; rằng Bà và tôi đã hòa nhập phàm ngã của mình vào trong Hội, nên chúng ta không nên hành động cho đến khi biết được nguyện vọng của các đồng liêu. Bà sốt ruột, nổi nóng và nằng nặc, nhưng tôi không nhúc nhích khỏi lập trường của mình, và khi Bà dọa sẽ tự mình đi và “xóa đi vết nhơ này trên thanh danh của mình”, tôi nói rằng trong trường hợp ấy, tôi sẽ từ chức và để Đại hội quyết định giữa chúng tôi: tôi hiểu quá rõ về thực tiễn pháp lý để làm một điều dại dột như vậy. Khi ấy Bà mới chịu.

The Convention met in due course on the 27th, and in my Presidential Address I laid the matter before it. The following paragraphs will be pertinent to our present narrative:

Đại hội nhóm họp đúng kỳ hạn vào ngày 27, và trong Diễn văn Chủ tịch, tôi trình bày vấn đề trước Đại hội. Những đoạn sau đây sẽ thích đáng với câu chuyện hiện tại của chúng ta:

“With regard to the proper course for Madame Blavatsky to adopt in the matter of a lawsuit, there is a difference of opinion among her friends. She herself naturally feels anxious to go to Court with her proofs, and have her accusers punished. That was her first thought when we received the news in London, and I am not aware of her having changed her opinion. Some of her friends and all her enemies also urge it. Her assailants especially display a very eager and unanimous, not to say suspicious, anxiety for her to do so. But the vast majority of our members [199] throughout the world have expressed a decided objection to this course. Their opinion is that, do what our counsel may, it will be impossible to avoid having the trial of Madame Blavatsky’s reputation turned into a trial of the truth of the Esoteric Philosophy and of the existence of the Mahatmas, and, as these are subjects the most sacred, not only to Hindus but to occultists of all religions... the prospect is shocking to their feelings. They represent that, in view of the angry prejudice against us among the Anglo-Indians as a class, the utmost latitude is likely to be given to opposing counsel to ask the most insulting questions, and goad to desperation our witnesses, especially Madame Blavatsky, whose extreme nervousness and excitability all know. This strictly within the limits of legal practice, and without our having any redress. I have the written opinions of eminent London counsel upon this point, which will be submitted for your consideration. In face of this divergence of opinion, and in deference to the views of so many of the leading men in our Society, I have represented to Madame Blavatsky that it is her duty to be governed by the sense of the General Council and not undertake to decide for herself.... If for (the Society’s) sake we should be required to sacrifice even our lives, we ought to be ready to do it without a moment’s hesitation. And, finally, I have insisted that the present imbroglio shall be unreservedly laid before a special Committee of the best lawyers and judicial officers, selected from among the Delegates, who shall [200] be required to examine persons and papers, and submit their recommendations for the decision of the Convention before its final adjournment; she to hold herself ready to sue or not to sue her traducers, as the Convention may order. To this she has with some reluctance finally consented.”

“Về đường hướng thích hợp để Bà Blavatsky theo đuổi trong vấn đề kiện tụng, giữa những người bạn của Bà có sự khác biệt ý kiến. Tự nhiên chính Bà nóng lòng muốn ra Tòa với những bằng chứng của mình, và đưa những kẻ vu cáo Bà ra trừng trị. Đó là suy nghĩ đầu tiên của Bà khi chúng tôi nhận được tin tức ở Luân Đôn, và tôi không được biết là Bà đã thay đổi ý kiến. Một số người bạn của Bà và cả những kẻ thù của Bà cũng thúc giục như vậy. Những kẻ công kích Bà đặc biệt tỏ ra vô cùng háo hức và nhất trí, không nói là có vẻ đáng ngờ, trong mong muốn Bà làm như thế. Nhưng tuyệt đại đa số hội viên của chúng ta [199] trên khắp thế giới đã bày tỏ sự phản đối dứt khoát đối với đường hướng này. Họ cho rằng, cho dù các luật sư của chúng ta có làm gì đi nữa, cũng sẽ không thể tránh khỏi việc phiên tòa về thanh danh của Bà Blavatsky sẽ bị biến thành phiên tòa xét xử tính chân thực của Triết học Huyền môn và sự tồn tại của các Đại Sư, và vì đây là những đề tài thiêng liêng nhất, không chỉ đối với người Ấn giáo mà còn đối với các nhà huyền bí của mọi tôn giáo... viễn cảnh ấy làm tổn thương sâu sắc cảm xúc của họ. Họ nêu rằng, xét tình trạng thành kiến tức giận chống lại chúng ta trong tầng lớp người Anh-Ấn, rất có khả năng các luật sư bên đối lập sẽ được dành mọi sự tự do để đặt ra những câu hỏi xúc phạm nhất, và dồn các nhân chứng của chúng ta, đặc biệt là Bà Blavatsky—người ai cũng biết là hết sức dễ kích động và căng thẳng thần kinh—đến chỗ tuyệt vọng. Điều này hoàn toàn nằm trong giới hạn của thực tiễn pháp lý, mà chúng ta lại không có cách nào khiếu nại. Tôi có trong tay các ý kiến viết tay của những luật sư danh tiếng ở Luân Đôn về điểm này, sẽ được trình quý vị cân nhắc. Đứng trước sự bất đồng ý kiến như vậy, và vì kính nể quan điểm của rất nhiều vị lãnh đạo trong Hội của chúng ta, tôi đã trình bày với Bà Blavatsky rằng bổn phận của Bà là phải theo tiếng nói của Tổng Hội đồng, chứ không tự ý quyết định.... Nếu vì (lợi ích của Hội) mà chúng ta phải hy sinh cả sinh mạng mình, thì chúng ta phải sẵn sàng làm điều đó không một giây do dự. Và, sau cùng, tôi đã yêu cầu rằng tình thế rối ren hiện nay phải được trình bày không chút giấu giếm trước một Ủy ban đặc biệt gồm những luật gia và viên chức tư pháp xuất sắc nhất, được chọn từ các Đại biểu, những người sẽ [200] phải thẩm xét người và giấy tờ, và đệ trình kiến nghị của họ để Đại hội quyết định trước khi bế mạc; còn Bà thì phải sẵn sàng kiện hay không kiện những kẻ vu khống Bà, tùy theo lệnh của Đại hội. Về việc này, sau ít nhiều miễn cưỡng, cuối cùng Bà đã chấp thuận.”

A Committee was chosen, and, before the adjournment, duly reported as follows:

Một Ủy ban được bầu ra, và trước khi bế mạc, đã chính thức báo cáo như sau:

“Resolved: That the letters published in the Christian College Magazine under the heading “Collapse of Koot Hoomi,” are only a pretext to injure the cause of Theosophy; and as these letters necessarily appear absurd to those who are acquainted with our philosophy and facts, and as those who are not acquainted with those facts could not have their opinion changed even by a judicial verdict given in favour of Madame Blavatsky, therefore it is the unanimous opinion of this Committee that Madame Blavatsky should not prosecute her defamers in a Court of Law. Signed by Norendro Nath Sen, [16] Chairman; A. J. Cooper-Oakley, [17]Secretary; Franz Hartmann, M.D.; S. Ramaswamier [18]; Naoroji Dorabji Khandalavala [19]; H. R. Morgan, Major-General; Gyanendranath Chakravarti, M.A. [20]; Nobin [201] K. Bannerji [21]; T. Subba Row [22]; P. Sreenivasrow [23]; P. Iyaloo Naidu [24]; Rudolph Gebhard; R. Raghoonath Row [25]; S. Subramania Iyer. [26] The high character and competency of this Committee cannot be questioned, and if a client is ever justified in acting in legal matters under the advice of counsel, assuredly H.P.B. was in this case.

“Quyết nghị: Rằng những bức thư được đăng trên tạp chí Christian College dưới tiêu đề ‘Sự sụp đổ của Koot Hoomi’ chỉ là một cái cớ nhằm làm tổn hại đến sự nghiệp của Thông Thiên Học; và vì những bức thư này tất yếu sẽ có vẻ nực cười đối với những ai hiểu biết triết học và các sự kiện của chúng ta, và vì những ai không biết các sự kiện ấy cũng không thể thay đổi ý kiến của họ, dù có một bản án tư pháp đưa ra theo hướng có lợi cho Bà Blavatsky đi nữa, nên đây là ý kiến nhất trí của Ủy ban này rằng Bà Blavatsky không nên khởi tố những kẻ phỉ báng Bà tại Tòa án. Ký tên: Norendro Nath Sen, Chủ tịch; A. J. Cooper-Oakley, Thư ký; Franz Hartmann, M.D.; S. Ramaswamier; Naoroji Dorabji Khandalavala; H. R. Morgan, Thiếu tướng; Gyanendranath Chakravarti, M.A.; Nobin [201] K. Bannerji; T. Subba Row; P. Sreenivasrow; P. Iyaloo Naidu; Rudolph Gebhard; R. Raghoonath Row; S. Subramania Iyer. Phẩm hạnh cao quý và năng lực của Ủy ban này không thể bị phủ nhận, và nếu có lúc nào một thân chủ được biện minh khi hành động trong các vấn đề pháp lý theo lời khuyên của luật sư, thì chắc chắn H.P.B. đã làm đúng trong trường hợp này.

In the course of the debate upon the above Report of the Committee, Babu Norendronath Sen cited the case of an action for libel brought by his cousin, the late Keshab Chunder Sen, and said that “the position of plaintiff in an Indian libel case is much worse than that of defendant”. This was his professional experience as a Solicitor of many years’ standing. Judge Khandalavala said that, after giving the Coulomb letters a careful study, he was convinced that the one in which his own name occurred was “a perfect forgery”. General Morgan said that, for reasons stated, he believed that the whole series of letters were forgeries. Judge Sreenivasrow narrated the circumstances which attended his own receipt of Mahatmic letters, and which made a deep impression on his audience; finally he felt convinced that there was no legal proof of the genuineness of the letters in Mme. Coulomb’s possession: [202] “at the best it is but a matter of opinion.” Mr. (now High Court Judge) S. Subramania Iyer’s remarks were full of the luminous impartiality and commonsense which have elevated him to his present position on the Bench.

Trong quá trình tranh luận về Báo cáo nói trên của Ủy ban, Babu Norendronath Sen dẫn lại vụ kiện phỉ báng do người anh em họ của ông, cố Keshab Chunder Sen, khởi xướng, và nói rằng “địa vị của nguyên đơn trong một vụ kiện phỉ báng ở Ấn Độ còn tệ hại hơn nhiều so với bị đơn”. Đó là kinh nghiệm nghề nghiệp của ông, một người đã hành nghề Luật sư tư vấn nhiều năm. Thẩm phán Khandalavala nói rằng, sau khi nghiên cứu cẩn trọng các bức thư của Coulomb, ông tin chắc rằng bức thư có nêu tên ông là “một sự làm giả hoàn hảo”. Tướng Morgan nói rằng, vì những lý do đã nêu, ông tin rằng cả loạt thư đều là đồ giả. Thẩm phán Sreenivasrow kể lại những tình huống liên quan tới chính việc ông nhận được thư của các Đại Sư, điều này đã tạo ấn tượng sâu sắc cho thính giả; cuối cùng ông cảm thấy tin chắc rằng không có bằng chứng pháp lý nào chứng tỏ tính chân thực của những bức thư mà Bà Coulomb nắm giữ: [202] “tốt lắm thì đó cũng chỉ là vấn đề ý kiến.” Ý kiến của Ông S. Subramania Iyer (nay là Thẩm phán Tòa Thượng thẩm) đầy tính sáng suốt vô tư và lương tri, điều đã nâng ông lên vị trí hiện tại trên ghế xét xử.

“From my experience,” he said, among other things, “I know the difficulty of proving the genuineness of letters in a Court of Law, a difficulty which has existed in cases in which I have been engaged myself. It is merely a question of opinion, and I would ask if it is not better to form such an opinion from the evidence embodied in a pamphlet than by the surrender of one’s judgement to the verdict of a Court of Justice. The question is whether this Society, putting itself forward as a Society for the promotion of peace and order, is justified in making an appeal to a Court of Justice in this matter. I think that every reasonable man is at liberty to form an opinion on the evidence placed before him... without going into a Court of Justice in which results are very often contrary to the truth. If Theosophy has only strength in itself, I consider it will survive such difficulties.... We cannot bind Madame Blavatsky, but as a member of our Society I do not think it is the proper course for us to give the world the spectacle of a spiteful cross-examination. Many are insisting that it will be necessary, simply because it would make an interesting trial, but as sober men engaged in spreading the truth, we ought to take a different view.”

“Từ kinh nghiệm của tôi,” ông nói, trong số những điều khác, “tôi biết cái khó của việc chứng minh tính chân thực của những bức thư tại Tòa án, một cái khó đã từng bộc lộ trong các vụ mà chính tôi đã tham dự. Đó chỉ là vấn đề ý kiến, và tôi muốn hỏi liệu có tốt hơn không khi chúng ta hình thành một ý kiến như vậy từ bằng chứng được chứa đựng trong một tập sách mỏng, thay vì giao nộp phán đoán của mình cho một bản án của Tòa Công lý. Vấn đề là liệu Hội này, vốn tự đặt mình là một Hội cổ xúy hòa bình và trật tự, có được biện minh khi kháng cầu lên Tòa Công lý trong việc này hay không. Tôi nghĩ rằng mọi người biết lẽ phải đều có quyền hình thành ý kiến trên cơ sở bằng chứng được đặt trước mặt mình... mà không cần phải vào Tòa, nơi mà kết quả rất thường trái nghịch với sự thật. Nếu Thông Thiên Học chỉ có sức mạnh ở chính nó, tôi cho rằng nó sẽ vượt qua được những khó khăn như thế.... Chúng ta không thể trói buộc Bà Blavatsky, nhưng với tư cách hội viên của Hội, tôi không nghĩ đó là con đường thích đáng để chúng ta phô bày trước thiên hạ cảnh tượng một cuộc thẩm vấn vặn vẹo đầy ác ý. Nhiều người khăng khăng rằng điều đó sẽ là cần thiết, đơn giản vì nó sẽ tạo nên một vụ xử lý thú vị, nhưng, là những người điềm tĩnh dấn thân truyền bá sự thật, chúng ta nên có cái nhìn khác.”

[203]

[203]

Other speakers took part in the discussion, and, the question being put to vote, “the Report of the Committee was then unanimously adopted by acclamation. Three cheers were then given for Madame Blavatsky, who was deeply (and very naturally) affected by this fresh proof of affectionate confidence.” On her appearance the next evening before the audience of 1,500 persons who attended the celebration of the Society’s ninth anniversary, she was cheered to the echo, and every allusion to her in the speeches of the several speakers aroused great enthusiasm.

Các diễn giả khác cũng tham gia thảo luận, và khi vấn đề được đưa ra biểu quyết, “Báo cáo của Ủy ban đã được nhất trí thông qua bằng hoan hô nồng nhiệt. Ba lần hoan hô được dành cho Bà Blavatsky, người đã vô cùng (và rất tự nhiên) xúc động trước bằng chứng mới mẻ này về niềm tin yêu thân ái.” Tối hôm sau, khi Bà xuất hiện trước cử tọa 1.500 người dự lễ kỷ niệm ngày thành lập lần thứ chín của Hội, Bà được hoan hô vang dội, và mỗi lần các diễn giả nhắc đến Bà đều khơi dậy nhiệt tình lớn lao.

One fact, reported confidentially by a very respected colleague of ours, made a deep impression on the minds of the Committee. He had overheard a conversation between two influential Madras civilians about Madame Blavatsky and the charges against her. In reply to a question by one of them as to what would be likely to happen, the other said: “I hope she will bring an action, for... who must try it, is determined to give the greatest latitude for cross-examination so that this d——d fraud may be shown up, and it is not at all impossible that she may be sent to the Andaman Islands.” Of course, this was equivalent to saying that the case was already prejudged, and that H.P.B. would not have a chance of getting justice. What it was that was calculated upon seemed pretty clear from the fact that when the Missionaries saw that H.P.B. had been kept from walking into the trap, they caused Mme. Coulomb to bring an action for libel against General Morgan, intending to [204] subpœna H.P.B. as a witness and cross-examine her, but immediately withdrew it when she was sent away to Europe by her attending physician, as will here-after appear. Their anticipated victory proved a defeat; H.P.B.’s persecution doubled the love felt for her by the Hindus and her foreign colleagues; and they were left with their disreputable informer on their hands. The Rev. Mr. Patterson, “Editor, Christian College Magazine”, in the Madras Mail of 6th May, 1885, appealed to the public for money to send them to Europe, “as the genuineness of the Blavatsky letters may now be considered (by them?) settled, and there is therefore no longer any necessity for M. and Mme. Coulomb to remain in India.... They are penniless, and it is impossible for them to earn a livelihood in this country.... They are not without some claim upon the consideration of the public.... There are many who, feeling that a good work has been done, will be willing to contribute, etc.” He acknowledges receipt of the following sums: The Rt. Rev. the Bishop of Madras, Rs. 50; the Hon. H.S. Thomas, Rs. 100; the Rev. Dr. Miller, Rs. 100; the Rev. J. Cooling, B.A., Rs. 10. Poor Missonaries! poor Coulombs! This was their last resource, after the ghastly failure of a lecture scheme, in which the Coulombs—personally conducted—were to have made the grand tour, showing up the fraudulent tricks of H.P.B., with accessories of bladders, muslin, wigs, and pulling-strings. The one trial given them at the (Missionary) Memorial Hall, Madras, was such a fiasco that it was never [205] repeated, and the poor traitors sank gradually out of sight into their congenial mud. Up to that time the Society had chartered 95 Branches in all the world, up to last December (1897) it had chartered 492. [27] Evidently the crumbling which was expected to follow the Coulomb episode did not happen: the engineer was “hoist with his own petard”.

Một sự kiện, do một đồng liêu rất đáng kính của chúng ta báo cáo một cách kín đáo, đã gây ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của Ủy ban. Ông đã tình cờ nghe lỏm một cuộc trò chuyện giữa hai viên chức dân sự có ảnh hưởng ở Madras về Bà Blavatsky và các cáo buộc nhắm vào Bà. Đáp lại câu hỏi của một người về điều có khả năng xảy ra, người kia nói: “Tôi hy vọng Bà ta sẽ khởi kiện, vì... người phải xét xử vụ này đã quyết tâm dành sự tự do lớn nhất cho việc thẩm vấn vặn vẹo để cái trò bịp bợm đáng nguyền rủa này bị lật tẩy, và không loại trừ khả năng Bà ta sẽ bị đưa ra Quần đảo Andaman.” Dĩ nhiên, điều này tương đương với việc nói rằng vụ án đã bị định kiến từ trước, và H.P.B. sẽ không có cơ hội được công lý. Cái điều mà họ trông đợi xem ra khá rõ ràng từ sự kiện là khi các Nhà Truyền giáo thấy H.P.B. đã không bị dẫn dụ đi vào cái bẫy, họ xúi Bà Coulomb khởi kiện phỉ báng chống lại Tướng Morgan, với ý định [204] tống trát đòi H.P.B. ra làm chứng để vặn vẹo thẩm vấn Bà, nhưng họ lập tức rút đơn khi Bà được bác sĩ điều trị cho đưa đi châu Âu, như sẽ nói đến sau đây. Chiến thắng mà họ dự liệu đã hóa thành thất bại; sự bức hại nhắm vào H.P.B. đã nhân đôi tình thương mà người Ấn và các đồng liêu ngoại quốc dành cho Bà; và họ bị bỏ lại với kẻ chỉ điểm đáng hổ thẹn của chính họ. Mục sư Patterson, “Biên tập viên tạp chí Christian College”, trên tờ Madras Mail số ngày 6 tháng Năm, 1885, đã kêu gọi công chúng quyên tiền đưa họ về châu Âu, “vì tính chân thực của các bức thư Blavatsky giờ đây có thể coi là (theo họ?) đã được định đoạt, nên không còn sự cần thiết nào nữa để Ông bà Coulomb ở lại Ấn Độ.... Họ rỗng túi, và không thể nào kiếm sống ở xứ này.... Họ không phải không có chút ít quyền được công chúng đoái hoài.... Sẽ có nhiều người, cảm thấy rằng một việc tốt đã được làm, sẵn lòng đóng góp, v.v.” Ông ghi nhận đã nhận được các khoản sau: Đức Giám mục đáng kính của Madras, 50 rupia; Ngài H.S. Thomas, 100 rupia; Mục sư Tiến sĩ Miller, 100 rupia; Mục sư J. Cooling, Cử nhân Văn chương, 10 rupia. Tội nghiệp các Nhà Truyền giáo! Tội nghiệp vợ chồng Coulomb! Đây là chước sách cuối cùng của họ, sau sự phá sản rùng rợn của một kế hoạch diễn thuyết mà trong đó vợ chồng Coulomb—được “hộ tống” tận nơi—sẽ thực hiện một chuyến lưu diễn hoành tráng, phơi bày những trò gian trá của H.P.B., với đạo cụ là túi da, màn voan, tóc giả và dây kéo. Lần diễn thử duy nhất ở Hội trường Tưởng niệm (của các Nhà Truyền giáo), Madras, đã là một trò hề nhục nhã đến mức chưa bao giờ [205] được lặp lại, và những kẻ phản bội đáng thương dần chìm khuất vào lớp bùn đồng tính. Tính đến thời điểm đó, Hội đã cấp hiến chương cho 95 Chi hội trên khắp thế giới, đến tháng Mười Hai năm ngoái (1897) Hội đã cấp hiến chương cho 492. Rõ ràng sự sụp đổ vốn được trông đợi sẽ theo sau vụ Coulomb đã không xảy ra: người kỹ sư đã “bị chính mìn mình thổi tung”.

While the party were in Colombo, en route for Madras, an interesting episode occurred. The Rev. Mr. Leadbeater, with H.P.B. and myself acting as, sponsors, “took Pansil” from the High Priest Sumangala and Rev. Amaramoli, in the presence of a crowded audience. This was the first instance of a Christian clergyman having publicly declared himself a follower of the Lord Buddha, and the sensation caused by it may be easily imagined.

Khi đoàn chúng tôi ở Colombo, trên đường đến Madras, đã xảy ra một việc thú vị. Mục sư Leadbeater, với H.P.B. và tôi làm người bảo trợ, đã “thọ Pansil” từ Thượng tọa Sumangala và Mục sư Amaramoli, trước một cử tọa đông nghẹt. Đây là trường hợp đầu tiên một giáo sĩ Kitô công khai tuyên bố mình là người theo Đức Phật, và có thể dễ dàng hình dung được dư luận chấn động đến mức nào.

As we are not likely to have to recur to the Coulomb scandal in any detail, it is proper that I should say what its actual effects were upon us. We have seen that the growth of the Society, as a whole, was quickened to an unexpected degree, and I must also add that very few individual resignations of members were sent in. Yet, so far as the great public is concerned, undoubtedly both H.P.B. and the movement were for a long time under a cloud. It is so much easier to think ill of others than to judicially decide upon their merits and shortcomings, and “where much mud is thrown against a public person, some of it always sticks”: a venerable truism. Until the attacks of the [206] Coulombs and the S.P.R. were made, H.P.B. was simply an exceptional, eccentric, and brilliant woman sans pareil; after that, she was as one who had been arraigned before a Scottish jury and dismissed with the verdict “Not proven,” which was very different from “Not guilty”. Among our members were quite a number, and some influential ones, who had acquired doubts of her perfect innocence, yet excused her in their minds for the sake of the public benefits and private consolations she had given. [28] We were still under the spell of phenomena-hunting, and to have doubt cast on H.P.B.’s phenomena was to shake the whole superstructure—that now solid edifice of Theosophy which settled on its base later on. My correspondence shows the existence of this feeling of gloom and unrest, and in my succeeding chapters it will be shown how I handled the situation. As these nineteen years have gone by since that tragical 1884, the relation of H.P.B. to the movement has greatly changed, and for the better. She is now remembered and appreciated, not so much as the thaumaturge, but as the devoted agent of the Elder Brothers for the spreading of long-hidden truth to modern times. As time goes on this will be more and more so, and in [207] the growing effulgence of this new day the shadows cast about her martyr personality will melt away and the calumnies of her foolish foes be forgotten, as are those libels against Washington which were so rife in his lifetime. For she was the herald of truth and, as Bacon said: “the sun, though it passes through dirty places, yet remains as pure as before.” He might have added: “it illumines the faces of those who stand in its glory.”

Vì khó có khả năng chúng ta sẽ phải trở lại chi tiết về vụ tai tiếng Coulomb, tôi cần nói rõ những ảnh hưởng thực tế của nó đối với chúng ta. Chúng ta đã thấy rằng sự phát triển của Hội, xét trên tổng thể, được đẩy nhanh đến mức bất ngờ, và tôi cũng phải thêm rằng có rất ít thư xin ra hội của hội viên được gửi đến. Tuy nhiên, xét về phía công chúng rộng rãi, không thể chối cãi rằng cả H.P.B. lẫn phong trào đã trong một thời gian dài ở dưới một đám mây nghi ngờ. Dễ dàng hơn biết bao khi nghĩ xấu về người khác, thay vì xét đoán một cách công minh về công và tội của họ, và “khi nhiều bùn đất bị ném vào một nhân vật công chúng, ắt sẽ có ít nhiều bám lại”: một chân lý cổ xưa. Cho đến khi những đòn công kích của [206] vợ chồng Coulomb và S.P.R. được tung ra, H.P.B. đơn giản chỉ là một phụ nữ khác thường, lập dị và lỗi lạc vô song; sau đó, Bà giống như người bị đưa ra trước một bồi thẩm đoàn Scotland và bị cho về với phán quyết “Không được chứng minh”, rất khác với “Vô tội”. Trong hàng ngũ hội viên chúng ta có khá đông người, và một số có ảnh hưởng, đã nảy sinh nghi ngờ về sự vô tội hoàn toàn của Bà, song trong thâm tâm vẫn bao dung cho Bà vì những lợi ích công cộng và những an ủi riêng tư mà Bà đã mang lại. Chúng ta vẫn còn bị say mê săn lùng hiện tượng, và việc gieo nghi ngờ lên các hiện tượng của H.P.B. đồng nghĩa với làm rung chuyển toàn bộ thượng tầng kiến trúc—cái tòa kiến trúc giờ đây đã vững vàng của Thông Thiên Học, vốn chỉ an vị về sau. Thư từ của tôi cho thấy tâm trạng u ám và bất an này có thật, và trong những chương sau tôi sẽ cho thấy cách tôi xử lý tình thế. Khi mười chín năm đã trôi qua kể từ năm 1884 bi thảm ấy, mối liên hệ giữa H.P.B. và phong trào đã thay đổi rất nhiều, theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Bây giờ người ta ghi nhớ và trân trọng Bà, không phải nhiều như một người làm phép lạ, mà như một sứ giả tận tụy của các Huynh Trưởng trong việc truyền bá chân lý bị ẩn giấu từ lâu cho thời hiện đại. Theo đà thời gian, điều này sẽ ngày càng đúng hơn, và trong [207] hào quang ngày mới rực rỡ đang lớn dần, những bóng tối phủ quanh nhân cách tử đạo của Bà sẽ tan biến và những lời vu khống của các đối thủ dại dột sẽ bị lãng quên, như những lời phỉ báng nhắm vào Washington đã từng tràn lan trong thời ông sống. Vì Bà là người báo hiệu cho chân lý, và như Bacon đã nói: “mặt trời, tuy đi qua những nơi nhơ bẩn, song vẫn thanh khiết như trước.” Ông có thể đã thêm: “nó chiếu sáng gương mặt những ai đứng trong vinh quang của nó.”

CHAPTER XV—CHƯƠNG XV

FIRST VISIT TO BURMA—CHUYẾN THĂM ĐẦU TIÊN ĐẾN MIẾN ĐIỆN

THE attendance of Delegates at the Convention of 1884 was double that of the preceding year, and the feeling exceptionally enthusiastic. The first gold medal of the Subba Row Fund was awarded to Judge P. Sreenivasrow, of Madras, for a very able paper on the identity of two great personages as traced in the Puranas. The Convention adjourned sine die on 31st December, and the Delegates gradually departed for their homes, some of them 1,500 miles distant. The last left on 8th January (1885), and the house settled down to its normal quiet. During the night before I was visited by Dj. K.—then an advanced pupil, now a Master—who talked with me about sundry persons and things. Mr. Leadbeater, who had at that time all his great spiritual enlightenment before him, sleeping on another charpai in the same room, heard the two voices and saw a column of light by my bedside, but could not distinguish the form of my visitor. On the following night—as my Diary entry states—”H.P.B. got from her Teacher the plan for her Secret Doctrine, and it is excellent. Oakley and I tried our hands at it yesterday, but this is much [209] better.” Meanwhile, the accumulation of materials for the book had long been going on. It will be news to some that this was not originally intended to be a new book, but only a recasting and amplification of Isis Unveiled, with the late T. Subba Row, B.A., B.L., as co-editor with H.P.B. As first advertised in the Theosophist, it was to have been issued in monthly parts of 77 pages each, and to have run to about twenty parts. This new scheme, given her by her Teacher, changed this programme, and the gradual building up of the present grand work was the result.

Số lượng Đại biểu tham dự Đại hội năm 1884 đông gấp đôi năm trước, và bầu khí thì hết sức phấn khởi. Huy chương vàng đầu tiên của Quỹ Subba Row được trao cho Thẩm phán P. Sreenivasrow, ở Madras, vì một bài khảo cứu rất xuất sắc về sự đồng nhất của hai nhân vật vĩ đại như được truy nguyên trong các Puranas. Đại hội bế mạc không kỳ hạn vào ngày 31 tháng Mười Hai, và các Đại biểu lần lượt trở về nhà, có người cách xa đến 1.500 dặm. Những người cuối cùng rời đi vào ngày 8 tháng Giêng (1885), và ngôi nhà trở lại yên ắng như thường. Đêm trước đó, tôi được Dj. K.—khi ấy là một môn sinh đã tiến bộ, nay là một Chân sư—ghé thăm, nói chuyện với tôi về vài người và vài việc. Ông Leadbeater, người vào thời điểm đó vẫn còn tất cả sự khai ngộ tinh thần lớn lao ở phía trước, đang ngủ trên một chiếc giường dây khác trong cùng phòng, nghe thấy hai giọng nói và thấy một cột sáng bên cạnh giường tôi, nhưng không phân biệt được hình dáng người khách của tôi. Đêm kế tiếp—như ghi chép trong Nhật ký của tôi—“H.P.B. nhận được từ Huấn sư của Bà đề cương cho tác phẩm Giáo Lý Bí Nhiệm, và nó thật tuyệt diệu. Hôm qua Oakley và tôi đã thử sức với đề cương, nhưng đề cương này thì [209] hay hơn nhiều.” Trong khi ấy, tư liệu cho cuốn sách đã được tích lũy từ lâu. Có lẽ sẽ là tin mới với vài người rằng tác phẩm này ban đầu không định là một cuốn sách mới, mà chỉ là tái cấu trúc và mở rộng Isis Unveiled, với cố T. Subba Row, Cử nhân Văn chương, Cử nhân Luật, làm đồng biên tập với H.P.B. Như thông báo đầu tiên trên tờ Theosophist, sách sẽ được xuất bản theo từng tập hàng tháng, mỗi tập 77 trang, và kéo dài khoảng hai mươi tập. Đề án mới này, do Huấn sư ban cho Bà, đã thay đổi chương trình ấy, và kết quả là sự xây dựng dần dần nên tác phẩm vĩ đại hiện nay.

One night, about this time, H.P.B., unsolicited, produced for Dr. Hartmann a caricature sketch of a woman whose double, leaving the body, is waited for by a devil; while the divine ray of the Atma escapes.” Dr. H. says “—notes my Diary—”that the picture answers a question that has been mooted in his mind for several days past, and has a significance of which H.P.B. is not aware.” Just so: perhaps.

Một đêm, vào khoảng thời gian này, H.P.B., không ai đề nghị, đã vẽ cho Bác sĩ Hartmann một bức biếm họa về một người phụ nữ có phách thân, khi rời khỏi thể xác, bị một quỷ dữ rình chờ; trong khi tia thiêng liêng của Atma thì thoát ra.” Bác sĩ H. nói—nhật ký của tôi ghi—“rằng bức tranh trả lời một câu hỏi đã khởi lên trong tâm trí ông mấy ngày qua, và có một ý nghĩa mà H.P.B. không hề hay biết.” Đúng vậy: có lẽ thế.

The late King of Burma, Theebaw III, having heard of my work for Buddhism from an Italian official at Mandalay, a member of our Society, had invited me, to his Court for conversation about the Ceylon Buddhist movement, and in the month of January, just after the Convention above described, I sailed for Rangoon with Mr. Leadbeater to help me in my general work. We had an easy time of it until we got abreast of Monkey Point just at the lower end of the city, where the current of the Irrawady ran like a mill-race, and our poor, broken-down old steamer, the “Asia,” had 210] to come to an anchor and wait for high-water. At last, however, we reached the jetty, and I was received by a Burmese gentleman on behalf of a well-known English official, one of our members. He found us hospitable quarters at the private house of the late Moung Htoon Oung, an advocate and an enlightened man. The same evening our reception-rooms were crowded with the “Elders” (I forget the Burmese name) of the Buddhist community, who plied us with questions and evinced an appreciative and friendly spirit. The next morning Oo Nyoung, Municipal Commissioner, came and escorted us to the golden-domed Shway Dagôn, the finest and most revered pagoda in the Indo-Chinese countries. It is built on a spur of the Pegu hills, and the platform is in part artificially constructed of numberless baskets of earth, brought as an act of piety by Buddhist pilgrims from all parts of the country. The bell-shaped dagoba, gilded from base to apex with gold-leaf at a cost of over a lac of rupees, given by the people, is a resplendent object to one who approaches the city by steamer. When the sun shines on it the effect is very grand indeed [29]: one might fancy it the pharos of the mythic Jerusalem the Golden. It stands upon the upper of two terraces which rises 166 feet from the level of the ground, and has diameters of 900 by about 700 feet. At the two sides of the foot of the grand staircase stand monster leogryphs, built of brick covered with plaster and [211] gaudily painted. The ascent is very tedious, but, reaching the top, one finds himself on a great flagged open space which runs all around the pagoda, and on special days is thronged by a multitude of worshippers, picturesque in costume and colors beyond any other crowd I ever saw. The dagoba stands on an octagonal plinth pierced at four sides with worshipping chambers or temples, each of which enshrines one large and many small statues of the sitting Buddha lit up by thousands of candles, and resounds with the hum of voices of devotees reciting the Five Precepts. Smaller and larger dagobas, chapels, image-houses, bells, and carved figures of lions and other animals are seen around the edges of the platform. One of the bells is so large that six men can stand inside, it being 7 feet 7½ inches across the mouth and weighs 94,628 lbs. (op cit., 197). It is the third largest bell in the world, and has a history that is worth reading.

Vua Miến Điện quá cố, Theebaw III, sau khi nghe một viên chức người Ý ở Mandalay, hội viên của Hội chúng ta, nói về công việc tôi làm cho Phật giáo, đã mời tôi đến triều kiến để đàm đạo về phong trào Phật giáo Tích Lan, và vào tháng Giêng, ngay sau Đại hội vừa mô tả ở trên, tôi cùng Ông Leadbeater xuống tàu đi Rangoon để ông ấy trợ giúp tôi trong công việc chung. Chúng tôi đi sóng yên biển lặng cho đến khi tàu tới ngang Mũi Khỉ ở đoạn hạ lưu thành phố, nơi dòng Irrawady chảy xiết như cối xay, và con tàu cũ kỹ rệu rã của chúng tôi, chiếc “Asia,” đã 210] phải thả neo chờ nước lớn. Sau cùng, tuy vậy, chúng tôi cũng cập bến, và tôi được một quý ông người Miến đón tiếp, thay mặt cho một viên chức người Anh nổi tiếng, hội viên của chúng ta. Ông ấy thu xếp chỗ ở tử tế cho chúng tôi tại tư gia của cố Moung Htoon Oung, một luật sư và là người có tầm nhìn. Tối hôm đó, phòng tiếp khách của chúng tôi chật kín các “Trưởng lão” (tôi quên mất tiếng Miến gọi là gì) của cộng đồng Phật giáo, họ đặt rất nhiều câu hỏi và tỏ ra hiểu biết cũng như thân thiện. Sáng hôm sau, Ông Oo Nyoung, Ủy viên Hội đồng Thành phố, đến và đưa chúng tôi tới ngôi chùa dát vàng Shway Dagôn, ngôi tháp đẹp nhất và được tôn kính nhất trong các xứ Đông Dương. Chùa được xây trên một triền đồi Pegu, và phần sân nền được đắp nhân tạo từ vô số gánh đất do các Phật tử hành hương từ khắp nơi trong nước mang đến như một hành động công đức. Ngôi tháp chuông, được dát vàng lá từ chân đến đỉnh với kinh phí hơn một lakh ru-pia, do dân chúng cúng dường, là một cảnh tượng chói lọi đối với người đi tàu thủy tiến gần thành phố. Khi mặt trời chiếu vào, hiệu quả thật vô cùng hùng tráng: người ta có thể liên tưởng nó như ngọn hải đăng của Giê-ru-sa-lem Vàng huyền thoại. Chùa đứng trên tầng thượng trong số hai tầng sân, cao hơn mặt đất 166 bộ, và có đường kính 900 xấp xỉ 700 bộ. Hai bên chân cầu thang lớn có những tượng sư thú khổng lồ, xây bằng gạch trát vữa và [211] tô sơn sặc sỡ. Việc leo lên rất mệt, nhưng, khi tới đỉnh, người ta thấy mình trên một khoảng sân lát đá rộng lớn chạy quanh ngôi chùa, và vào những ngày đặc biệt thì chật kín những đoàn người đến lễ bái, y phục và sắc màu rực rỡ vượt xa mọi đám đông nào mà tôi từng thấy. Ngôi tháp đứng trên một bệ bát giác, bốn phía có khoét những phòng thờ hay đền miếu, mỗi nơi thờ một tượng Phật ngồi lớn và nhiều tượng nhỏ, thắp sáng bằng hàng nghìn ngọn nến, và vang lên tiếng niệm năm giới pháp của tín đồ. Chung quanh mép sân là những tháp nhỏ và lớn hơn, các tịnh xá, nhà tượng, chuông, và các tượng sư tử cùng các loài thú khác. Có một quả chuông lớn đến mức sáu người có thể đứng vào bên trong, miệng chuông rộng 7 phít 7 rưỡi và nặng 94.628 pao (sđd., 197). Đó là chiếc chuông lớn thứ ba trên thế giới, và có một lịch sử đáng đọc.

From its eight-sided plinth springs the gold-covered pagoda, whose perimeter is 1,355 feet and height 370. Think what a grand object must be this ovoid structure or hillock of masonry enveloped with gold on a bright, sunny day! But I shall not give time to mere architectural details when they can be so easily gotten from Shway Yeo’s charming volumes on Burma. The peculiar sanctity of the Shway Dagôn is due to the fact that “it is the only payah known to Buddhists which contains actual relics, not only of Shin Gautama, but of the three Budhs who preceded him in this world”. In the relic chamber, in the heart of the dagoba, are [212] said to be eight hairs from the head of Gautama Sakhya Muni, and the drinking-bowl of one, the robe of another, and the staff of a third preceding Buddha. Whatever be the fact, the assertion is believed throughout Burma, Siam, Cambodia, and Korea, from all which countries pilgrims swarm to pay their homage. Its actual historical date is not easily fixed, for, though Buddhist authorities assert it to have been built in 588 B.C., yet, as Shway Yeo says, it may have been sacred for cycles upon cycles, if it contains relics of the Buddha’s predecessors. The pagoda is crowned with a htee, or umbrella, One of the emblems of sovereignty. It is an iron, cage-like structure, gilded and hung all over with gold and silver jewelled bells “which tinkle melodiously with every breath of air”. Mr. Oo Nyoung introduced me to various important personages connected with the pagoda, and arrangements were made for me to lecture there on Buddhism.

Từ bệ bát giác ấy vươn lên ngôi bảo tháp dát vàng, chu vi 1.355 bộ và cao 370. Hãy nghĩ xem một cấu trúc hình bầu dục hay ngọn đồi xây bằng gạch đá phủ kín vàng sẽ hùng tráng dường nào dưới nắng trong! Nhưng tôi sẽ không dành thời gian cho các chi tiết kiến trúc đơn thuần khi người ta có thể dễ dàng tìm thấy trong những tập sách duyên dáng của Shway Yeo về Miến Điện. Tính linh thiêng đặc biệt của Shway Dagôn là do “đây là ngôi payah duy nhất mà Phật tử biết đến, chứa những xá lợi thật sự, không chỉ của Shin Gautama, mà còn của ba vị Phật đã xuất thế trước Ngài trong thế giới này”. Trong phòng xá lợi, ở trung tâm tháp, được [212] cho là có tám sợi tóc từ đỉnh đầu của Gautama Sakhya Muni, và bát khất thực của một vị, y bát của vị khác, và tích trượng của vị thứ ba trong các vị Phật trước. Bất kể sự thật thế nào, khẳng định này được tin tưởng khắp Miến Điện, Xiêm, Cam-bốt và Cao Ly, từ những nơi ấy, Phật tử hành hương nô nức kéo về chiêm bái. Niên đại lịch sử thực tế của chùa không dễ xác định, vì tuy các nguồn Phật giáo khẳng định chùa được xây vào năm 588 trước Công nguyên, nhưng như Shway Yeo nói, có thể chùa đã là nơi linh thiêng qua vô lượng chu kỳ, nếu như chứa xá lợi của các bậc tiền Phật. Đỉnh chùa được trang trí bằng một htee, hay tàn lọng, một trong những biểu tượng của vương quyền. Đó là một cấu trúc sắt hình lồng, dát vàng và treo đầy các quả chuông bằng vàng và bạc nạm ngọc “lắc lư reo ngân theo mỗi làn gió”. Ông Oo Nyoung giới thiệu tôi với nhiều nhân vật quan trọng có liên hệ với ngôi chùa, và chúng tôi sắp xếp để tôi thuyết giảng Phật pháp tại đây.

The news of my arrival having been spread, I very soon was visited by large numbers of both Burmese and resident Hindus, coming to discuss their respective religions. January 24 was a very busy day. I had a three hour’s interview with the Tha-tha-nabang, or Buddhist Archbishop, so to say, from Mandalay, and, later, the house full of Burmese and Hindus, each in a separate room, and Leadbeater and I going from one group to the other, discussing now Buddhism with one, and then Hinduism with the other party. On Sunday, the 25th, I lectured in Krishnam Koil on “Hindu Religion, its Enemies and Friends”.

Tin tôi đến đã lan truyền, chẳng bao lâu tôi được đông đảo cả người Miến và người Ấn cư trú tới thăm, đến để bàn luận về tôn giáo của họ. Ngày 24 tháng Giêng là một ngày rất bận. Tôi có một cuộc hội đàm kéo dài ba giờ với vị Tha-tha-nabang, hay có thể gọi là Tổng Giám mục Phật giáo, từ Mandalay tới, và sau đó, nhà cửa chật kín người Miến và người Ấn, mỗi bên trong một phòng riêng, và tôi cùng Leadbeater đi từ nhóm này sang nhóm kia, lúc thì bàn Phật giáo với bên này, rồi lại bàn Ấn giáo với bên kia. Chủ nhật, ngày 25, tôi thuyết giảng ở Krishnam Koil về “Tôn giáo Ấn giáo, những Kẻ thù và Những người Bạn của nó”.

[213]

[213]

A band of native Christian rowdies attended, and by their bad behaviour created great excitement. There was every prospect of a hand-to-hand fight, with bloodshed, but I managed to stop it. My throat was, however, the worse for the excessive use of my voice at the lecture and in the interminable discussions with our visitors.

Một nhóm thanh niên nghịch ngợm theo đạo Cơ Đốc kéo đến, và bằng lối ứng xử tệ hại đã gây náo động lớn. Đã có mọi dấu hiệu cho thấy sắp xảy ra một cuộc ẩu đả tay đôi đổ máu, nhưng tôi đã kịp ngăn chặn. Tuy vậy, cổ họng tôi bị ảnh hưởng vì dùng quá mức, do thời lượng bài giảng và những cuộc tranh luận bất tận với khách thăm của chúng tôi.

I had the opportunity for seeing a number of instructive mesmeric experiments here, by a private gentleman named Moody, upon Indian subjects. I have notes of a series involving the question of thought-transference which were tried at my suggestion. They were made with a pocket-handkerchief. The operator having brought his subject into the state of suggestibility, stood before him holding a white handkerchief in his hands. Recognising its nature and normal color at first, he subsequently saw it, without any spoken orders, as red, blue, green, yellow, purple, black, brown, or whatsoever other color I whispered in the operator’s ear. The color sensation underwent an instantaneous change when the mesmeriser visualise in his own mind the color designated by me. We also proved the community of taste and feeling between mesmeriser and subject, by the usual experiments of making the former, with his back turned towards the subject, taste successively sugar, quinine, ginger, salt, vinegar, etc., etc., and by pricking or pinching him, every taste and every physical sensation being immediately reproduced in the subject. To a reflective mind this field of mesmeric research produces most [214] serious thoughts; there is something so awesome in the idea that two human beings can be thus identified as to mental and physical action. Such an experiment is, in fact, a key that unlocks awful mysteries.

Tại đây, tôi có dịp xem một loạt thí nghiệm thôi miên mang tính giáo dục, do một quý ông tư nhân tên Moody thực hiện trên các đối tượng người Ấn. Tôi có ghi chép về một chuỗi thí nghiệm liên quan đến vấn đề chuyển di tư tưởng được tiến hành theo gợi ý của tôi. Chúng được thực hiện với một chiếc khăn tay bỏ túi. Người điều khiển, sau khi đưa đối tượng vào trạng thái dễ ám thị, đứng trước mặt anh ta, cầm một chiếc khăn tay trắng trong tay. Sau khi nhận biết bản chất và màu sắc bình thường của nó lúc đầu, về sau anh ta thấy nó, dù không có mệnh lệnh nào bằng lời nói, chuyển thành đỏ, xanh lam, xanh lục, vàng, tím, đen, nâu, hoặc bất kỳ màu nào khác mà tôi thì thầm vào tai người điều khiển. Cảm giác về màu sắc thay đổi tức khắc khi nhà thôi miên hình dung trong tâm trí mình màu do tôi chỉ định. Chúng tôi cũng chứng minh sự cộng thông vị giác và cảm giác giữa nhà thôi miên và đối tượng, bằng những thí nghiệm quen thuộc khiến người thứ nhất, quay lưng về phía đối tượng, lần lượt nếm đường, ký ninh, gừng, muối, giấm, v.v., và bằng cách châm hay véo người ấy—mỗi vị giác và mỗi cảm giác thân xác lập tức được tái tạo nơi đối tượng. Đối với một tâm trí biết suy tư, lĩnh vực nghiên cứu thôi miên này gợi nên những [214] suy tưởng nghiêm cẩn nhất; ý nghĩ rằng hai con người có thể được đồng nhất với nhau đến thế trong hoạt động tâm thần và thể xác quả thật gây kinh sợ. Quả vậy, một thí nghiệm như thế là chiếc chìa khóa mở ra những huyền bí rợn ngợp.

My first lecture at Shway Dagôn was given on 27th January in a crimson-and-gold rest-house, beautifully carved outside and intoxicating with color inside. Pansil, or the Five Precepts, was first given by a Burmese priest, some introductory remarks were made, and I was then given speech. I spoke for an hour, but, as three interpreters had to translate me by turns, I very much doubt if my huge audience got a very clear idea of what I said. The scene, however, vividly appealed to my artistic sense, and I took in the whole picture piece-meal, while keeping an attentive ear upon my interpreters to see if they seemed to be rendering, if not my words, at least my ideas, correctly. For one of average intuitiveness of temperament can do so much by thought-reading, even though ignorant of the vernacular employed. My reasoned discourse finished, I was put through a public examination in Buddhistic theology and metaphysics by several priests, and pronounced satisfactory. I don’t wonder at their taking precautions before giving me their confidence, considering what a marvel, almost an impossibility, it must have seemed to them that a pucca white man (that is, a pure-blooded not a mixed. blooded one) should come and, at that sacred shrine, in open day and in the presence of thousands of Burmans, avow himself a Buddhist from conviction, without [215] ulterior motive. In fact, this suspicion followed us for years in Asia, and we had to live it down before we won the sure place in the confidence of the Asiatic peoples which we now hold.

Bài giảng đầu tiên của tôi tại Shway Dagôn được thực hiện vào ngày 27 tháng Giêng ở một nhà nghỉ đỏ-vàng, chạm khắc bên ngoài rất đẹp và như say sưa sắc màu bên trong. Trước hết, một vị sư Miến tụng Pansil, hay Ngũ Giới, có vài lời dẫn nhập, rồi tôi được mời nói. Tôi nói trong một giờ, nhưng vì có đến ba người phiên dịch thay nhau, tôi rất nghi ngờ việc thính chúng đông đảo của mình có lĩnh hội rõ ràng điều tôi nói hay không. Tuy nhiên, khung cảnh ấy quả thật chạm tới cảm quan thẩm mỹ của tôi, và trong khi vẫn chăm chú lắng nghe các thông dịch viên để xem họ có diễn đạt, nếu không phải lời thì ít ra cũng là ý tưởng của tôi, cho đúng không, tôi vẫn kịp ghi nhận trọn bức tranh theo từng mảng. Bởi với một người có trực giác trung bình, người ta có thể làm được rất nhiều nhờ đọc ý nghĩ, dù không biết thứ tiếng địa phương được dùng. Khi bài thuyết luận có cơ sở lý lẽ của tôi kết thúc, tôi được mời trải qua một cuộc vấn đáp công khai về thần học và siêu hình học Phật giáo bởi nhiều vị sư, và được đánh giá đạt yêu cầu. Tôi không lạ gì việc họ cẩn trọng trước khi trao cho tôi tín nhiệm, nếu cân nhắc đến điều kỳ lạ, hầu như bất khả, rằng một người da trắng chính hiệu (tức thuần huyết, không lai) lại đến và, tại thánh địa ấy, giữa ban ngày và trước mặt hàng nghìn người Miến, công khai thừa nhận mình là Phật tử do xác tín, không [215] do động cơ hậu ý nào khác. Thực tế, mối nghi ngờ này theo chúng tôi suốt nhiều năm ở châu Á, và chúng tôi đã phải sống sao để xóa đi điều đó trước khi giành được vị trí chắc chắn trong niềm tin của các dân tộc châu Á như hiện nay.

At 1.27 a.m. in the following night I was awakened by a telegraph peon who brought me this despatch from Damodar: “Return at once, Upasika (H.P.B.) dangerously ill.” It was a thunderclap out of a clear sky. “Poor old chum!” my Diary says. “No more sleep for me that night.” I spent the time in perfecting plans for carrying on the Burma mission. At an early hour I went with Leadbeater to carry the bad news to our dear Mrs. Gordon, of Calcutta, then in Rangoon on a visit to her adopted daughter. After that to a Buddhist meeting where I was engaged to speak; then to bid farewell to the Mandalay Archbishop; and then, at 11 a.m., to the steamer “Oriental” in which I sailed for Madras. Leadbeater was left behind to go on with the work.

Lúc 1 giờ 27 phút sáng đêm kế tiếp, tôi bị đánh thức bởi một nhân viên điện báo mang đến cho tôi bức điện của Damodar: “Hãy về ngay, Upasika (H.P.B.) nguy kịch.” Đó là một tiếng sét giữa trời quang. “Tội nghiệp người bạn già!” Nhật ký của tôi viết. “Đêm ấy tôi không thể chợp mắt.” Tôi dành thời gian để hoàn tất các kế hoạch tiếp tục sứ mệnh Miến Điện. Sớm sớm tôi cùng Leadbeater đến báo tin dữ cho bà bạn quý của chúng tôi, Bà Gordon ở Calcutta, khi ấy đang ở Rangoon thăm con gái nuôi. Sau đó tới một cuộc họp Phật giáo nơi tôi đã hẹn sẽ nói; rồi đi chào từ biệt vị Tổng Giám mục Mandalay; và rồi, lúc 11 giờ, lên tàu “Oriental” để nhổ neo về Madras. Leadbeater ở lại để tiếp tục công việc.

My older colleagues will have no trouble in figuring to themselves my state of mind while on that sea voyage. Here were we two with our vast work not yet even shaped out, the Society still staggering under the blow struck by the Missionaries; for, while we were floating along on the full tide of our co-workers’ sympathy, yet outside our ship, to borrow the metaphor, the billows of angry outside hatred and suspicion were swelling, and foaming, and dashing against it all around. With us together and united, each [216] supplying what the other lacked, and linked together in one intense thought of service to man, there was nothing to fear for the future, our cause had in it the spirit of victory. But with her stricken down, perhaps lying on her bed of death, perhaps doomed to die before I could get back to receive her last word and close her eyes, how heavy my heart must have been needs no seventh son of a seventh son to comprehend. No wonder I wrote in my Diary, when the ship was running through a silvery sea: “My poor Chum, and is thy life of adventure, of anguish, of violent contrasts and of unswerving devotion to Humanity, ended? Alas, my loss will be greater than if thou hadst been wife, or sweetheart, or sister; for now must I carry alone the immense burden of this responsibility with which the Holy Ones have charged us.”

Những đồng liêu lâu năm của tôi sẽ không khó hình dung tâm trạng của tôi trong chuyến hải hành ấy. Chúng tôi chỉ có hai người với công việc vĩ đại chưa kịp định hình, Hội vẫn còn chao đảo dưới đòn đánh của các Nhà Truyền giáo; vì tuy chúng tôi đang trôi đi trên làn nước tràn đầy cảm tình của các bạn đồng hành, nhưng ngoài con tàu, mượn hình ảnh mà nói, những ngọn sóng căm hờn và nghi kỵ của bên ngoài đang dâng lên, sủi bọt và ào ạt vỗ vào xung quanh. Khi chúng tôi ở bên nhau và hiệp nhất, mỗi [216] người bù đắp điều người kia thiếu, và kết liên với nhau trong một tư tưởng duy nhất về phụng sự nhân sinh, thì tương lai chẳng có gì đáng sợ, vì sự nghiệp của chúng tôi hàm chứa tinh thần chiến thắng. Nhưng khi Bà ngã quỵ, có lẽ đang nằm trên giường hấp hối, có lẽ định mệnh đã an bài Bà sẽ qua đời trước khi tôi kịp trở về nghe lời trăn trối và khép mắt cho Bà, thì trái tim tôi nặng trĩu đến mức nào, điều đó chẳng cần đến “đứa con trai thứ bảy của người con trai thứ bảy” cũng hiểu được. Không lạ gì tôi đã viết trong Nhật ký, khi tàu lướt trên mặt biển bạc: “Người bạn chí thân của tôi ơi, có phải đời sống phiêu lưu, thống khổ, đầy đối cực dữ dội và hết mực tận hiến cho Nhân loại của Người đã kết thúc rồi chăng? Than ôi, mất mát của tôi sẽ còn lớn hơn nếu Người là vợ, hay người yêu, hay chị gái; bởi giờ đây tôi phải một mình gánh vác gánh nặng mênh mông của trách nhiệm mà các Đấng Thiêng Liêng đã giao phó cho chúng ta.”

The transit across the Bay of Bengal was as calm as a summer yachting voyage, and passed without incident, beyond my being spied out by Hindu friends at Bimlipatam, and taken ashore and made to lecture that evening. We reached Madras at 4 p.m. on 5th February; I hurried home and found H.P.B. in a state between life and death, with congestion of the kidneys, rheumatic gout, and an alarming loss of vitality. Added to this, an enfeebled action of the heart had brought her to a crisis where her life trembled in the balance. She was so delighted to see me that she put her arms around my neck, as I came to her bedside, and wept on my breast. I was unspeakably [217] glad to be there to, at least, bid her farewell and assure her of my steadfastness. Her attending physicians, Dr. Mary Scharlieb and Dr. Franz Hartmann, M.D., said it was simply a miracle that she was alive. Our Teacher had worked the wonder by coming one night when they were waiting for her last gasp, laying his hand on her, and snatching her back from death. Wonderful woman! This same thing happened with her at Philadelphia, when Dr. Pancoast told her that her leg must be cut off to Save her life; but she was out of the house the very next day, with her mortifying limb cured. Readers of the first volume of these O.D.L. reminiscences will recall the facts. She hung in this state the next four days, we at first not knowing whether she would live a year or years, or suddenly die from syncope. As her strength served we talked over the situation, and she rejoiced in my promise of undying loyalty to the cause we represented. But I was not left to commune with her in peace. Mr. Lane-Fox had returned from London, and he and Hartmann and the other new-comers had put their heads together, and hatched a scheme for what was simply my putting aside, and the transfer of the governing power to a Committee, composed mainly of themselves. It was an ungracious and ungrateful project, and I revolted at once. They had even got poor H.P.B. to sign the papers, which they formally handed me (and which, you may be sure, I have in the box of archives for that year). When I went to her with the paper, and asked her if it coincided with her sense [218] of justice that I, who had watched over and built up the Society from its first germ until now, should be turned out on the road to go hang, without a word of thanks or even so much as the “chit”, or character certificate, one gives to the rest-house keeper after a day’s stay, or to the dhobie (washerman) or one’s water-boy; she moaned out that she had signed something they had brought to her dying-bed, and which they said was very important for the Society, but she never understood it to mean what I described, and that she repudiated any such ingratitude. She told me to tear the papers, but I said no, I should keep them as the story of an episode that might be useful to the future historian. So it passed. While we two were talking, H.P.B. got a note from our Guru in a phenomenal way, saying that she might assure Subba Row and Damodar that, upon her dying, the link between the T.S. and the Master should remain unbroken. A promise which has been amply fulfilled.

Chuyến vượt Vịnh Bengal êm như một cuộc du ngoạn thuyền buồm mùa hạ, và chẳng có biến cố gì, ngoài việc tôi bị những người bạn Ấn giáo phát hiện tại Bimlipatam, đưa lên bờ và bắt tôi nói chuyện tối hôm đó. Chúng tôi tới Madras lúc 4 giờ chiều ngày 5 tháng Hai; tôi vội vã về nhà và thấy H.P.B. trong trạng thái giữa sống và chết, bị xung huyết thận, thống phong thấp và suy kiệt sinh lực đáng báo động. Thêm vào đó, sự hoạt động yếu ớt của tim đã đưa Bà đến bờ vực mà mạng sống như treo trên cán cân. Bà vui mừng khôn xiết khi thấy tôi, vòng tay ôm cổ tôi khi tôi đến bên giường, và khóc trên ngực tôi. Tôi không sao [217] nói hết niềm mừng vì kịp về ít ra để vĩnh biệt Bà và khẳng định lòng son sắt của tôi. Hai bác sĩ điều trị, Bác sĩ Mary Scharlieb và Bác sĩ Franz Hartmann, M.D., nói rằng việc Bà còn sống thực là một phép lạ. Huấn sư của chúng tôi đã làm nên điều kỳ diệu khi một đêm đến, lúc họ đang chờ hơi thở cuối cùng của Bà, đặt tay lên người Bà, và giật Bà về khỏi cửa tử. Người phụ nữ phi thường! Chính điều này đã từng xảy ra với Bà ở Philadelphia, khi Bác sĩ Pancoast bảo rằng phải cắt chân để cứu mạng; nhưng ngay hôm sau Bà đã ra khỏi nhà, với cái chân đang hoại thư được chữa lành. Độc giả của tập đầu trong những hồi ký O.D.L. này hẳn còn nhớ những sự kiện ấy. Bà treo lơ lửng trong trạng thái này suốt bốn ngày sau, lúc đầu chúng tôi không biết Bà sẽ sống một năm hay nhiều năm, hay đột ngột lìa đời do truỵ tim. Khi Bà đủ sức, chúng tôi bàn về tình hình, và Bà hoan hỉ khi tôi hứa sẽ trung thành vĩnh cửu với sự nghiệp mà chúng tôi đại diện. Nhưng tôi đã không được để yên mà tâm sự với Bà. Ông Lane-Fox đã từ Luân Đôn trở lại, và ông cùng Hartmann và những người mới đến khác đã chụm đầu với nhau, bày ra một kế hoạch thực chất là gạt tôi sang một bên, và chuyển quyền điều hành cho một Ủy ban, chủ yếu do chính họ lập nên. Đó là một mưu toan thiếu hào hiệp và vong ân, và tôi lập tức phản đối. Họ thậm chí còn khiến tội nghiệp H.P.B. ký vào giấy tờ, mà họ trịnh trọng trao cho tôi (và dĩ nhiên, bạn có thể tin là tôi cất kỹ trong hòm lưu trữ của năm ấy). Khi tôi đem giấy tờ đến gặp Bà, và hỏi rằng có phù hợp với lẽ công bằng nơi lương tâm Bà hay không khi tôi—người đã trông nom và xây dựng Hội từ thời phôi thai cho đến nay—bị tống ra đường cho treo cổ, không một lời cảm ơn hay thậm chí là “tờ chit”, tức tờ giấy chứng nhận tư cách, thứ người ta vẫn đưa cho người giữ quán trọ sau một ngày nghỉ, hay cho bác giặt đồ, hay cho chú bé gánh nước; Bà rên lên rằng Bà đã ký vào một thứ họ mang đến giường bệnh của Bà, và họ nói rằng nó rất quan trọng cho Hội, nhưng Bà chưa bao giờ hiểu rằng nó mang nghĩa như tôi mô tả, và Bà phủ nhận bất kỳ sự vong ân nào như thế. Bà bảo tôi xé giấy tờ đi, nhưng tôi nói không, tôi sẽ giữ chúng như tư liệu cho một biến cố, có thể hữu ích cho sử gia tương lai. Thế là chuyện trôi qua. Khi chúng tôi đang chuyện vãn, H.P.B. nhận được thư từ Guru của chúng tôi bằng một cách thức hiện tượng kỳ diệu, nói rằng Bà có thể trấn an Subba Row và Damodar rằng, khi Bà qua đời, mối liên hệ giữa T.S. và Chân sư sẽ vẫn không bị gián đoạn. Một lời hứa đã được thực hiện dư dật.

By the 10th H.P.B. was about again, and so much better that, when a telegram came from Leadbeater urging my return to Rangoon as there was a very promising opening for the T.S., she consented to my going. So I sailed on the “Oriental” on the 11th. My “Chum” wept when we parted, and I should too if I had thought it was for the last time, but my mind was now completely reassured on that point. The recollection that she would not be permitted to die before her work was accomplished and somebody was ready to fill the gap she would leave, came back to me.

Đến ngày mồng 10, H.P.B. đã đi lại được, và khỏe đến mức khi một bức điện từ Leadbeater thúc giục tôi trở lại Rangoon vì có một cơ hội rất hứa hẹn cho T.S., Bà đã đồng ý để tôi đi. Thế là ngày 11 tôi xuống tàu “Oriental”. “Bạn Chí” của tôi bật khóc lúc chia tay, và tôi cũng sẽ như vậy nếu tôi nghĩ đó là lần cuối, nhưng tâm trí tôi nay đã hoàn toàn được trấn an về điểm ấy. Tôi đã nhớ lại rằng Bà sẽ không được phép qua đời trước khi hoàn tất công việc của mình và trước khi có ai đó sẵn sàng lấp đầy khoảng trống Bà để lại.

[219]

[219]

I had forgotten that in my momentary grief at the: thought of parting from her.

Khi ấy tôi đã quên điều đó trong nỗi đau phút chốc vì ý nghĩ phải xa Bà.

Mr. Leadbeater, with deputations of Burmese: Elders and Hindus, received me at the jetty at Rangoon on my arrival on 19th February. On the following: day I paid my respects to the late beloved and respected Bishop Bigandet, author of The Legend of Gaudama one of the most authoritative books on Southern Buddhism. His sweet manners and noble character had earned for him the confidence and homage of all educated Burmese as well as of all Christians. We had a most agreeable talk together about Buddhism and its literature. He was past seventy and quite feeble. He expressed his regret that he should never be able to bring out another book, and, although I offered to supply him with a secretary to whom he might dictate according to his strength, he sadly shook his head and said that his work was all but finished, and the affairs of the world were receding from his sight. With that perfect courtesy of an old French courtier of the time of the Louis, he said it was now my turn to supply this want, and when I protested my incapacity, shook his finger at me and smilingly said he could not accept that excuse, since he had read my Buddhist Catechism and there was no more useful book on the religion of Sakhya Muni. Of course I put that down to his amiable politeness, but his manner was so charming that I could only answer by my blushes. He was a tall spare man of graceful carriage, with white, small hands and small feet, and wore the episcopal purple [220] cassock with red buttons, a long gold chain and cross, and the ring of his episcopal rank. When I took my leave he insisted on accompanying me downstairs to the gate, and after a final exchange of kind expressions we parted—for ever, for I never saw him again.

Ông Leadbeater, cùng các phái đoàn Trưởng lão người Miến và người Ấn, đón tôi tại bến tàu ở Rangoon khi tôi tới nơi vào ngày 19 tháng Hai. Hôm sau, tôi đến vấn an vị Giám mục khả ái và đáng kính quá cố, Đức Cha Bigandet, tác giả tác phẩm The Legend of Gaudama, một trong những cuốn sách có thẩm quyền nhất về Phật giáo Nam truyền. Phong cách dịu dàng và nhân cách cao quý đã khiến Ngài được mọi người Miến có học cũng như mọi tín đồ Kitô giáo tín phục và tôn kính. Chúng tôi có một cuộc đàm đạo rất thú vị về Phật giáo và văn hiến của đạo. Ngài đã ngoài bảy mươi và khá yếu. Ngài bày tỏ niềm tiếc nuối rằng mình sẽ không thể xuất bản thêm cuốn sách nào, và mặc dù tôi đề nghị cung cấp cho Ngài một thư ký để Ngài có thể đọc cho chép tùy theo sức khỏe, Ngài buồn bã lắc đầu và nói rằng công việc của Ngài hầu như đã xong, và các việc đời đang dần rời xa tầm mắt. Với phép lịch thiệp hoàn hảo của một vị quý tộc Pháp thời các vua Louis, Ngài nói giờ đây đến lượt tôi phải đáp ứng sự thiếu hụt này, và khi tôi phản đối vì bất tài, Ngài giơ ngón tay trỏ, mỉm cười nói rằng Ngài không thể chấp nhận lời biện bạch đó, vì Ngài đã đọc sách Giáo lý Phật giáo dạng Hỏi–Đáp của tôi và không có cuốn nào hữu ích hơn về tôn giáo của Đấng Thích-ca Mâu-ni. Dĩ nhiên tôi cho điều đó là lịch thiệp, nhưng cung cách của Ngài quá duyên dáng đến nỗi tôi chỉ còn biết đáp lại bằng đôi má ửng hồng. Ngài cao, mảnh khảnh, dáng điệu tao nhã, tay nhỏ trắng và bàn chân nhỏ, khoác chiếc áo thụng tím của Giám mục [220] với hàng khuy đỏ, đeo sợi dây chuyền vàng dài với thánh giá, và chiếc nhẫn của phẩm trật Giám mục. Khi tôi cáo lui, Ngài nhất định tiễn tôi xuống tận cổng, và sau khi trao đổi những lời tốt đẹp cuối cùng, chúng tôi chia tay—vĩnh viễn, vì tôi không bao giờ gặp lại Ngài nữa.

The next day we breakfasted in the Burmese fashion, on the floor, at a Burmese rest-house, and later received the calls of several European gentlemen interested in Mesmerism, to whom I showed a variety of experiments in thought control. A large Committee of English and Pali native scholars sat the next day to complete a revision of the Burmese translation of the Buddhist Catechism, and accomplished it after some hours of work. Some 20,000 copies were subscribed for on the spot for gratuitous distribution, and the Elders showed quite an enthusiasm about the affair. After the adjournment Leadbeater and I called on Messrs. Duncan and Badelier, two new acquaintances, and I received the former into membership along with eight others. On Monday following I lectured in the Town Hall on “Theosophy No Sect” to a large audience including Missionaries, and later organised the “Rangoon T.S.,” a Hindu Branch with all Tamil members. On the Wednesday we dined at Mr. Duncan’s, where we witnessed and assisted in some very instructive mesmeric experiments. I recollect one which recalls some narratives in Baron Du Potêt’s dassical work La Magie Dévoilée. In the centre of the drawing-room stood a large round table, and the [221] company sat against the walls all around the room. The subject, a Hindu servant, being in another room where he could hear nothing of our conversation, I asked Mr. Duncan to draw on the floor with his finger an imaginary line from the table outward, and will that the subject should not be able to cross it. The company present chose the place where the line should be drawn, and then Mr. Duncan, approaching his finger tips to the carpet, but without touching it, willed that his subject should not be able to pass the invisible barrier. The subject was then sent for. On entering, he was told to walk around the table twice, after which he would be told what next to do. He began the circumambulation, and went on well enough until he came to the enchanted spot, when he suddenly stopped, tried to lift one foot to step forward, failed, shrank back, and said he couldn’t go farther. Why? “Why, don’t you see that line of fire; how could I get past it?” he answered. I told him there was nothing there; to try again. It was quite useless, he could not advance an inch until Mr. Duncan, who had all this while been standing silent, made a dispersive sweep with his hand and said “All right!” when “Tommy” completed the circuit of the table. He described it to me as a low wall of flames about six inches high. ur preliminary discussions with the Burmese finally resulted in the formation of the “Shway Dagôn T.S.,” a Buddhist Branch. They were very urgent that I should stop in Burma at least a couple of months to organise the movement, and it was really desirable, [222] but the claims on my time elsewhere forbade it and I had to decline. I told them they must get on as best they could, on the lines I laid out for them.

Ngày hôm sau, chúng tôi ăn sáng theo lối Miến, ngồi dưới sàn, tại một nhà nghỉ Miến, rồi sau đó tiếp đón vài quý ông châu Âu quan tâm đến thôi miên, mà tôi đã trình diễn cho họ nhiều thí nghiệm về khống chế tư tưởng. Hôm sau, một Ủy ban lớn gồm các học giả người Anh và bản xứ biết tiếng Pali ngồi họp để hoàn tất việc duyệt sửa bản dịch Miến ngữ của cuốn Giáo lý Vấn đáp Phật giáo, và sau vài giờ làm việc thì hoàn thành. Ngay tại chỗ có chừng 20.000 bản được đăng ký đặt mua để phát không, và các vị Trưởng lão tỏ ra thật nhiệt thành về việc này. Sau khi bế mạc, Leadbeater và tôi đến thăm các ông Duncan và Badelier, hai người mới quen, và tôi thu nhận ông thứ nhất vào hàng ngũ hội viên cùng với tám người khác. Thứ Hai kế đó, tôi thuyết trình tại Tòa Thị chính về đề tài “Thông Thiên Học Không Phái Phân” trước một cử tọa đông đảo trong đó có cả các Nhà truyền giáo, rồi sau đó tổ chức “Rangoon T.S.”, một Chi bộ Ấn giáo gồm toàn hội viên người Tamil. Thứ Tư, chúng tôi dùng cơm tối tại nhà ông Duncan, nơi chúng tôi chứng kiến và cùng tham gia một số thí nghiệm thôi miên rất hữu ích. Tôi còn nhớ một thí nghiệm gợi lại vài câu chuyện trong tác phẩm cổ điển La Magie Dévoilée của Nam tước Du Potêt. Giữa phòng khách có một bàn tròn lớn, và [221] mọi người ngồi dựa vào tường chung quanh phòng. Đối tượng thí nghiệm là một gia nhân Ấn giáo, ở phòng khác, nơi anh ta không thể nghe gì cuộc đàm thoại của chúng tôi; tôi bèn nhờ ông Duncan dùng ngón tay vẽ trên sàn một đường tưởng tượng từ mép bàn kéo ra ngoài, rồi dùng ý chí khiến đối tượng không thể vượt qua đó. Mọi người có mặt chọn chỗ sẽ vạch đường, rồi ông Duncan, đưa đầu ngón tay đến sát thảm nhưng không chạm vào, tập trung ý chí khiến đối tượng không thể vượt qua hàng rào vô hình. Sau đó mới gọi đối tượng vào. Khi vào phòng, anh ta được bảo đi một vòng quanh bàn hai lần, rồi sẽ được dặn phải làm gì tiếp theo. Anh bắt đầu đi vòng, mọi việc đều ổn cho đến khi đến chỗ bị làm phép, thì bỗng dừng lại, cố nhấc một chân bước tới, không được, co người lại và nói rằng không thể đi xa hơn. Vì sao? “Sao, ông không thấy vạch lửa đó à; làm sao tôi vượt qua được?” anh đáp. Tôi bảo ở đó chẳng có gì cả; thử lại đi. Vô ích, anh không thể tiến thêm một tấc nào cho đến khi ông Duncan, từ nãy giờ vẫn đứng im lặng, vung tay làm một động tác xua tan và nói “Được rồi!”, thì “Tommy” mới đi trọn vòng quanh bàn. Anh tả với tôi đó là một bức tường lửa thấp chừng sáu inch. Các cuộc thảo luận sơ bộ của chúng tôi với người Miến rốt cuộc dẫn đến việc thành lập “Shway Dagôn T.S.”, một Chi bộ Phật giáo. Họ nài nỉ tôi lưu lại Miến Điện ít nhất vài tháng để tổ chức phong trào, và thực ra điều đó là đáng làm, [222] nhưng các công việc nơi khác đòi hỏi thời gian của tôi nên không thể, và tôi đành từ chối. Tôi bảo họ phải tự mình tiến hành tốt nhất có thể, theo những đường hướng tôi đã vạch ra cho họ.

Saturday, 28th February, was a great holiday with the “Burmese, as the anniversary of the Buddha’s alleged descent from the Tusita heaven into his mother’s womb under the form of a white elephant! We went again to Shway Dagôn and saw a great crowd of pilgrims. Meetings, talks, and Branch reunions engaged us during the next few days. Meanwhile, I was collecting the opinions of the most respectable Elders about King Theebaw, with the result that I decided that I should not accept his invitation to Mandalay, as he was a monster of vice and cruelty, and his motive in asking me was not to satisfy his thirst for religious knowledge, but only to gratify an idle curiosity to see the white Buddhist. I had too much respect for the dignity of the Society and its President to put myself on show before a debauched tyrant, and sacrifice my American self-respect by kow-towing to him, merely on the chance of getting a costly ruby ring, or a sum of money, some expensive silken cloths, or such-like toys. So I sent word to that effect to our Italian colleague through whom the King’s message had been transmitted, and when, a few days later, I was urged to reconsider by King Theebaw’s local agent and another “Burmese noble, I held my ground and gave my reasons with perfect frankness. I am not sure, but I think that at heart even the Burmans respected me for my independence.

Thứ Bảy, ngày 28 tháng Hai, là một đại lễ với “người Miến”, vì là kỷ niệm ngày Đức Phật được cho là từ cõi trời Tusita giáng nhập vào thai mẹ dưới hình tướng một con voi trắng! Chúng tôi lại đến Shway Dagôn và thấy một đám đông hành hương rất lớn. Các buổi họp, đàm thoại, và sinh hoạt Chi bộ bận rộn chúng tôi trong mấy ngày kế tiếp. Trong khi đó, tôi thu thập ý kiến của các vị Trưởng lão đáng kính nhất về vua Theebaw, và đi đến kết luận rằng tôi không nên nhận lời mời của Ngài đến Mandalay, vì Ngài là một kẻ trụy lạc tàn bạo, và động cơ mời tôi không phải để thỏa mãn khát vọng tri thức tôn giáo, mà chỉ để thỏa trí tò mò nhàn rỗi muốn xem vị Phật tử da trắng. Tôi quá tôn trọng phẩm giá của Hội và vị Chủ tịch của Hội để tự đem mình ra làm trò trước một bạo chúa truỵ lạc, và hy sinh lòng tự trọng kiểu Mỹ của tôi bằng cách khấu đầu trước Ngài, chỉ để may ra nhận một chiếc nhẫn hồng ngọc đắt tiền, hay một khoản tiền, vài tấm lụa quý, hoặc những món đồ chơi tương tự. Thế nên tôi nhắn điều đó đến vị đồng nghiệp người Ý của chúng tôi – người đã chuyển thông điệp của vua – và khi, vài ngày sau, tôi được viên đại diện địa phương của vua Theebaw và một “quý tộc Miến” khác thúc giục xem xét lại, tôi vẫn giữ lập trường và nêu lý do hết sức thẳng thắn. Tôi không dám chắc, nhưng nghĩ rằng trong thâm tâm ngay cả người Miến cũng kính trọng tôi vì sự độc lập của mình.

[223]

[223]

The incoming Madras Mail brought us disagreeable news. Hartmann reported that the Central Committee at Adyar had resigned, and some Branches would dissolve if H.P.B.’s case were not made good against the Padris. H.P.B., with her usual inconsistency, reproached me for having prevented her—as she said, although it was not I but the Convention who had done it—from bringing suit against them; and copies were sent me of the latest Missionary pamphlet against us. As I wrote in my Diary, there was “something hostile in the air”. How true is that expression—so-and-so is “in the air”; for assuredly we are constantly acted upon by currents, mental, moral, spiritual, and physical, that are set flowing by our fellow-men. So, likewise, are others acted upon by our own thought-currents—as we now all have been taught by our advanced students in occultism. The next day came a cable from Adyar that H.P.B. had had a relapse and I must cut short my projected tour in Burma and Bengal, and come back at once. With that exhilarating intelligence on my mind, I had to lecture in the evening to an audience of 1,000 in the Town Hall. The dear Missionaries had a fellow posted at the door to sell the above-mentioned pamphlet, and I saw many in the hands of my auditors; but nothing is so bracing as a savage opposition, and nothing so stirs up all the resisting power one has in him. I took the adversary by the throat, so to say, and shook him, and made my sympathetic Burmese and Hindu hearers join together in peals of applause. I don’t believe our [224] esteemed enemies made much profit out of their speculation of importing this poisoned weapon to use against us.

Bức thư đến bằng chuyến Madras Mail mang tin không vui. Hartmann báo rằng Ủy ban Trung ương ở Adyar đã từ chức, và một số Chi bộ sẽ tự giải tán nếu vụ của Bà H.P.B. không được làm sáng tỏ trước các vị Padris. Bà H.P.B., với sự bất nhất thường thấy, trách tôi đã ngăn Bà – như Bà nói, dẫu không phải tôi mà là Đại hội đã làm điều đó – không cho kiện họ; và người ta cũng gửi cho tôi các bản sao của tờ truyền đơn chống chúng tôi mới nhất của các Nhà truyền giáo. Như tôi ghi trong Nhật ký, có “một điều gì đó thù địch trong không khí”. Cụm từ đó thật đúng – cái này cái kia “đang ở trong không khí”; bởi chắc chắn chúng ta liên tục bị tác động bởi các dòng lưu, trí tuệ, đạo đức, tinh thần và thể chất, do đồng loại chúng ta khơi chảy. Tương tự, người khác cũng bị tác động bởi các dòng tư tưởng của chính chúng ta – như giờ đây tất cả chúng ta đều đã được các môn sinh tiến bộ trong huyền bí học chỉ dạy. Ngày hôm sau, một bức điện từ Adyar báo Bà H.P.B. đã tái phát, và tôi phải rút ngắn chuyến du hành dự định ở Miến Điện và Bengal, lập tức quay về. Với tin “phấn chấn” đó trong đầu, buổi tối tôi vẫn phải thuyết trình trước 1.000 người ở Tòa Thị chính. Các vị Nhà truyền giáo đáng mến cho người đứng trước cửa bán tập truyền đơn nói trên, và tôi thấy nhiều người trong cử tọa cầm nó; nhưng chẳng có gì tiếp sức bằng một sự đối kháng dữ dội, và chẳng có gì khơi dậy toàn bộ năng lực kháng cự của con người bằng điều ấy. Nói cách khác, tôi “chộp đối phương ngay cổ họng” và lắc mạnh, khiến các thính giả Miến và Ấn giáo thiện cảm của tôi cùng hòa nhịp những tràng vỗ tay như sấm. Tôi không tin những kẻ thù [224] kính mến của chúng tôi thu được bao nhiêu lợi lộc từ vụ đầu cơ đưa thứ vũ khí tẩm độc này vào để chống lại chúng tôi.

We had already a Buddhist and a Hindu Branch in Rangoon; I had now to form one of Europeans and Eurasians interested in Mesmerism and practical Psychology in general. I gave it the name of the “Irrawady T.S.”

Chúng tôi đã có một Chi bộ Phật giáo và một Chi bộ Ấn giáo ở Rangoon; giờ tôi phải lập thêm một Chi bộ cho người Âu và Âu-Á quan tâm đến thôi miên và Tâm lý học thực hành nói chung. Tôi đặt tên là “Irrawady T.S.”.

A second urgent telegram came the next day, but I could not get a steamer until the following day, the 11th, when I sailed in the “Himalaya” for Madras. The Captain, Mr. Allen, was an old acquaintance, having commanded the “Chanda” in 1880, when H.P.B. and I returned from Colombo to Bombay. Having a day at command before sailing, I profited by a visit from Mr. Duncan to our house, to make further and better mesmeric experiments on his boy “Tommy”. The boy was made to sit with his back against the wall of the room, just beside a large French window opening on a sunny verandah; his mesmeriser, Mr. Duncan, stood facing him, with a white handkerchief in his hands; I stood in the verandah, out of Tommy’s range of vision, with a book of samples of bright colored papers, used by book-binders and others. Mr. Duncan would say to Tommy, showing the handkerchief: “What is this?” “A handkerchief.” “Color?” “White.” I would then show Duncan, say, a red paper, and he, still holding the handkerchief out to Tommy, would repeat: “Color?” “Red”, the boy would answer. So color after color would be [225] silently shown to the mesmeriser, and the next moment he mentally imparted it to the linen handkerchief, and it was seen by the hypnotised subject. This was, I fancy, about as fine a proof of the possibility of thought-transference as can be found on record.

Một bức điện khẩn thứ hai đến vào ngày hôm sau, nhưng tôi không kiếm được tàu cho đến ngày hôm sau nữa, tức ngày 11, khi tôi xuống tàu “Himalaya” về Madras. Thuyền trưởng, ông Allen, là người quen cũ, vì từng chỉ huy tàu “Chanda” năm 1880, khi Bà H.P.B. và tôi từ Colombo về Bombay. Còn một ngày trước khi khởi hành, tôi tranh thủ việc ông Duncan đến nhà để tiếp tục và làm tốt hơn các thí nghiệm thôi miên với cậu bé “Tommy” của ông. Cậu bé được đặt ngồi tựa lưng vào tường phòng, ngay bên cửa sổ kiểu Pháp lớn mở ra hiên nắng; người thôi miên – ông Duncan – đứng đối diện cậu, cầm một chiếc khăn tay trắng; tôi đứng ngoài hiên, ngoài tầm nhìn của Tommy, với một cuốn sách mẫu giấy màu sặc sỡ dùng cho thợ đóng sách và thợ khác. Ông Duncan nói với Tommy, giơ chiếc khăn: “Đây là gì?” “Khăn tay.” “Màu?” “Trắng.” Tôi bấy giờ sẽ đưa cho ông Duncan xem, ví dụ, một tờ giấy đỏ, và ông, vẫn đưa chiếc khăn tay cho Tommy nhìn, lại hỏi: “Màu?” “Đỏ”, cậu bé đáp. Cứ thế, màu này nối màu khác [225] được tôi lặng lẽ cho người thôi miên xem, và ngay sau đó ông dùng ý niệm “truyền” màu ấy vào chiếc khăn vải lanh, và nó được đối tượng bị thôi miên nhìn thấy. Theo tôi, đây là một bằng chứng đẹp đẽ bậc nhất về khả năng truyền tư tưởng từng được ghi nhận.

While in Paris in the October preceding, Mr. Rudolph Gebhard and I had been present on the 18th at some mesmeric experiments of M. Robert, the well-known masseur-magnétiseur, on one of his clairvoyant subjects. Among other things, the latter told us that he saw us sailing in a steamer on a far-off sea; a man falling overboard; the steamer stopped; a boat put out, and the steamer sailing in a circle. That sounded queer, as neither of us recollected the evident fact that a vessel, especially a steamer, usually does sail in a circle to pick up a person who has gone overboard; however, I made a note of it at the time, and it now came vividly back to me, for, while crossing the Bay of Bengal on March 14, a Hindu deck passenger fell overboard, and the “Himalaya” sailed in a circle to pick him up. The coming event of March had, therefore, cast its astral shadow before it on the clairvoyant brain, five months in advance of its happening. I reported the fact to M. Robert by letter at the time, and he can confirm it to anybody who may have the curiosity to ask him to let them see my letter.

Trong thời gian ở Paris hồi tháng Mười trước đó, ông Rudolph Gebhard và tôi đã có mặt ngày 18 tại vài thí nghiệm thôi miên của ông Robert, nhà masseur–magnétiseur trứ danh, trên một trong các đối tượng thông nhãn của ông. Trong những điều khác, người sau nói rằng thấy chúng tôi đi tàu trên một vùng biển xa; có một người rơi xuống nước; tàu dừng lại; thuyền con được hạ xuống, và tàu chạy theo vòng tròn. Nghe lạ, vì cả hai chúng tôi đều không kịp nhớ đến thực tế hiển nhiên rằng một con tàu, nhất là tàu hơi nước, thường chạy vòng tròn để vớt người bị rơi; tuy nhiên, tôi đã ghi chú điều đó lúc bấy giờ, và giờ nó bỗng hiện về rõ rệt với tôi, vì khi băng qua Vịnh Bengal ngày 14 tháng Ba, có một hành khách hạng boong người Ấn rơi xuống nước, và “Himalaya” chạy vòng tròn để vớt anh ta. Như vậy, biến cố sắp xảy đến trong tháng Ba đã gieo cái bóng cảm dục của nó lên bộ não thông nhãn trước đó năm tháng. Tôi đã báo cho ông Robert bằng thư ngay lúc ấy, và ông có thể xác nhận với bất cứ ai muốn đề nghị ông cho xem lá thư của tôi.

We touched at the usual coast ports, among them Cocanada, Subba Row’s native place, where I went ashore and organised the local Branch T. S. which still survives. Our steamer landed us at Madras [226] on 19th March, and on reaching Headquarters I “found Atra Cura enthroned and everything looking bad”. But we need not sail into that cloud-bank just as we have reached port. Leave it for the next chapter.

Tàu ghé các cảng ven bờ thường lệ, trong đó có Cocanada, quê của Subba Row, nơi tôi lên bờ và tổ chức Chi bộ địa phương T.S., nay vẫn còn. Tàu đưa chúng tôi cập bến Madras [226] ngày 19 tháng Ba, và khi đến Trụ sở, tôi thấy “Atra Cura ngự trị và mọi thứ trông tệ”. Nhưng chúng ta không cần lao vào đám mây mù ấy ngay lúc vừa về đến bến. Hãy để dành cho chương kế.