CHAPTER XVI—CHAPTER XVI
H. P. B. LEAVES FOR EUROPE—H. P. B. LÊN ĐƯỜNG SANG CHÂU ÂU
YES, indeed, Black Care was enthroned at Adyar when I got back from Rangoon; the very moral atmosphere was dark and heavy; H.P.B. was struggling for life and as vehement as an enmeshed lioness; while certain of the European new-comers were displaying a special talent for meddling with the Headquarters’ business, plotting to have me reduced to subjection to a faddish Central Committee, in which I should not have the least influence and keeping my quasi-dying “Chum” in a perpetual state of nervous explosion. Brief mention was made of this matter in Chapter XV, but it is important enough for extension. The wonder is she did not die before I could get there and fight for the status quo ante. One ostensible revolt was against my autocracy, demand being made—to quote from one of the documents before me—that “The President-Founder should be asked to select out of the General Committee an Executive Committee consisting of five persons, including Mr. T. Subba Row and four European gentlemen residing at Headquarters, and to transfer upon them all the supervisory, financial, and executive affairs of the Society, [228] to distribute and direct the work of the Society, to appoint all officers—the President-Founder excepted—and to ratify all documents concerning the Society.”
Đúng vậy, U sầu Đen ngự trị ở Adyar khi tôi trở về từ Rangoon; bầu không khí đạo đức quả là u ám nặng nề; Bà H.P.B. vật lộn với cái chết và dữ dội như một sư tử cái mắc bẫy; trong khi một số tân khách châu Âu lại bộc lộ tài đặc biệt trong việc can thiệp vào công việc của Trụ sở, âm mưu buộc tôi bị khuất phục trước một Ủy ban Trung ương mang màu sắc mốt nhất thời, nơi tôi sẽ không có chút ảnh hưởng nào, và khiến “bạn thân” gần như hấp hối của tôi luôn ở trong trạng thái bùng nổ thần kinh triền miên. Vấn đề này đã được nhắc sơ qua ở Chương XV, nhưng nó đủ quan trọng để triển khai thêm. Điều đáng ngạc nhiên là Bà không chết trước khi tôi kịp về để đấu tranh cho tình trạng như cũ. Một cuộc dấy loạn bề ngoài là chống lại “chế độ độc đoán” của tôi, đòi hỏi – trích một văn bản trước mặt tôi – rằng “Nên yêu cầu Chủ tịch-Sáng lập chọn ra trong Ủy ban Tổng quát một Ủy ban Điều hành gồm năm người, trong đó có ông T. Subba Row và bốn quý ông châu Âu cư trú tại Trụ sở, và chuyển giao cho họ toàn bộ các công việc giám sát, tài chính và điều hành của Hội, [228] để phân phối và chỉ đạo công việc của Hội, bổ nhiệm mọi chức viên – trừ Chủ tịch-Sáng lập – và phê chuẩn mọi văn kiện liên quan đến Hội.”
If this was not modesty, what would be? I was to step aside, after conveying all my powers to a group of five persons, self-picked for me out of the whole Council—four of them Europeans, recently arrived from Europe and America, having but the briefest experience in the executive management of the movement, next to no personal intimacy with the majority of our members, no association whatever with the Ceylon Buddhists, whose educational programme was then getting into full swing, no recognised hold on the affections and confidence of the Hindus and Parsis, nor, with one exception, any private means to contribute towards the up-keep of the Headquarters and of the movement generally. This last difficulty, however, they would get over by forcing H.P.B. and myself to convey our Theosophist and its book business to the Society, without compensation, and without reserving out of the property we had ourselves created, without a rupee’s help from the Society, even the pittances needed for our modest support: they thought it highly detrimental to the Society’s interests that the magazine should be private property! A fine scheme, worthy of the Red Republicans of Ninety-three. Damodar, Bawaji, and Alnanda, our three devoted Hindu fellow-officers, denied the validity of each of the complaints, and protested vehemently against the plan in all its details; while Mr. Leadbeater coincided with [229] them in a very temperate yet firm paper, which is before me. But on 5th February, 1885, when poor H.P.B. was thought to be dying, they got her to scrawl the following:
Nếu thế chưa đủ khiêm tốn, thì còn là gì? Tôi phải đứng sang một bên, sau khi chuyển giao toàn bộ quyền hạn của mình cho một nhóm năm người, tự họ chọn lấy cho tôi từ toàn thể Hội đồng – bốn người là dân châu Âu, mới từ Âu – Mỹ sang, chỉ có chút ít kinh nghiệm trong điều hành phong trào, hầu như không có sự thân tình cá nhân với đa số hội viên của chúng ta, chẳng dính dáng gì với Phật tử Tích Lan, những người có chương trình giáo dục lúc ấy đang vào giai đoạn sôi động, không có chỗ đứng được thừa nhận trong lòng tin yêu của người Ấn giáo và người Ba Tư giáo, và, ngoại trừ một người, cũng không có phương tiện riêng để góp vào việc duy trì Trụ sở và phong trào nói chung. Khó khăn sau cùng này, tuy vậy, họ sẽ vượt qua bằng cách buộc Bà H.P.B. và tôi chuyển giao tờ Theosophist và doanh nghiệp sách của nó cho Hội, không bồi hoàn, và không giữ lại – từ tài sản do chính chúng tôi tạo dựng mà Hội không góp một đồng rupia – ngay cả khoản nhỏ đủ cho sự sinh hoạt khiêm tốn của chúng tôi: họ cho rằng thật có hại cho lợi ích của Hội khi tạp chí là tài sản tư nhân! Một đề án tuyệt đẹp, xứng với những Người Cộng hòa Đỏ của năm 1793. Damodar, Bawaji và Alnanda, ba đồng sự Ấn giáo tận tâm của chúng tôi, bác bỏ tính hợp lệ của từng lời cáo buộc, và kịch liệt phản đối kế hoạch trên mọi điểm; còn ông Leadbeater thì đồng tình với [229] họ trong một bản trình bày rất ôn hòa nhưng kiên quyết, hiện vẫn ở trước mặt tôi. Nhưng vào ngày 5 tháng Hai, 1885, khi tội nghiệp Bà H.P.B. bị cho là sắp chết, họ khiến Bà nắn nót viết mấy dòng sau:
“Believing that this new arrangement is necessary for the welfare of the Society, I approve of it, so far as I am concerned.
“Tin rằng sự sắp xếp mới này là cần thiết cho phúc lợi của Hội, tôi tán thành nó, xét về phần tôi.
“H. P. BLAVATSKY.”
“H. P. BLAVATSKY.”
Mr. Leadbeater says, in his paper: “Mme. Blavatsky withdraws her endorsement of the writing, as having been given without a clear perception of the construction it bears upon its face.” The imminence of death being past, her mind worked again, and she repudiated her endorsement and—as remarked in the last chapter—begged me tear the paper, which I refused. This is but one of a number of proofs of ingratitude that I have had since the Society was founded. If I mention it all it is not by way of protest, but as a striking corroboration of the old truth, that he who sets himself to work for his fellow-men should expect no thanks, but much unkindness. H.P.B. and I had given Rs. 9,000 out of the Theosophist fund towards the Society’s necessities within the preceding twelve months, and, of the nett profits of the magazine to that date, viz., Rs. 15,600, had paid the Society Rs. 14,994-4-6, as I find noted in my Diary. If the charge of “autocracy” lay against me, it was because, until then, I had had to shoulder all the responsibility alone and push on all the movement. Our present helpers had not yet stepped into the ranks, and it [230] was not until two years later that Mr. Judge began to work in America.
Ông Leadbeater nói trong văn bản của mình: “Bà Blavatsky rút lại sự phê chuẩn văn bản, vì đã đưa ra khi chưa nhận thức rõ ý nghĩa biểu kiến của nó.” Khi tình trạng cận kề cái chết qua đi, trí óc Bà hoạt động lại, và Bà phủ nhận việc phê chuẩn, và – như đã nói ở chương trước – nài tôi xé tờ giấy đó, điều mà tôi từ chối. Đây chỉ là một trong nhiều bằng chứng vô ơn mà tôi gặp phải từ khi Hội được lập. Nếu tôi nhắc đến, không phải để than phiền, mà như một sự xác chứng nổi bật cho chân lý xưa: ai dấn thân làm việc cho đồng loại thì đừng mong lời cảm ơn, mà hãy chuẩn bị chịu nhiều điều không hay. Bà H.P.B. và tôi đã xuất quỹ Theosophist 9.000 rupia cho nhu cầu của Hội trong vòng mười hai tháng trước đó, và trong số lợi nhuận ròng của tạp chí tới thời điểm ấy, tức 15.600 rupia, chúng tôi đã nộp cho Hội 14.994-4-6 rupia, như tôi thấy ghi trong Nhật ký. Nếu có lời buộc tội “độc đoán” nhằm vào tôi, thì là bởi cho đến khi ấy, tôi phải gánh toàn bộ trách nhiệm một mình và thúc đẩy cả phong trào. Những người trợ lực hiện nay của chúng ta chưa kịp bước vào hàng ngũ, và [230] phải đến hai năm sau ông Judge mới bắt đầu làm việc ở Mỹ.
The Europeans being leagued against us, I naturally turned for counsel and sympathy to my most trusted Hindu advisers, and long consultations ensued between them and myself, at the residence of Dewan Bahadur R. Raghoonath Row. The result was the adoption of a policy which shortly after I carried out. Mr. Hodgson, of the S.P.R., was still at Madras, and hearing that at an Anglo-Indian dinner-table he had expressed his belief that H.P.B. was a Russian spy, I called on him with Mr. Cooper-Oakley to discuss the matter. Both of us gave our views so clearly that we came away with the impression that Mr. Hodgson thought the charge as puerile and unfounded as we did. Yet he stuck to it, and put the cruel slander into his report to his employers of the S.P.R. Since then I have had no respect for him, for it was a stab in the back to a helpless old woman, who had never done him the least harm. He made me suffer intensely in mind for a couple of days by declaring that Hurrychund Chintamon, of Bombay, had shown him a letter of H.P.B.’s to him, from New York, in which she said I was so under her hypnotic spell that she could make me believe what she liked by just looking me in the face. I saw that such an assertion, however transparently childish and absurd, would be taken up by our opponents to do us harm. While I did not mind what they might do, if even ten times worse than this, it went to my heart that H.P.B., whose loyal [231] friend I had been through everything, should have done this act of treachery to me; and merely to gratify her vanity, as it would seem. But that is the inconsistent creature she was, in her physical self, and it was these traits which made it then so very hard for anybody to live and work with her for any length of time. I have always said that the trouble of getting on with her, as Helena Petrovna, was infinitely more difficult than to overcome all the outside obstacles, impediments, and opposition that stood in the way of the Society’s progress. In my whole experience in the movement, nothing ever affected me so much as this. It made me desperate, and for twenty-four hours almost ready to go down to the beach and drown myself in the sea. But when I put the question to myself what I was working for, whether for the praise of men or the gratitude of H.P.B., or that of any other living person, all this despondency drifted away and my mind has never gone back to it. The sense of the paramount obligation of doing my duty, of serving the Masters in the carrying on of their lofty plans—unthanked, unappreciated, misunderstood, calumniated—it mattered not what—came in to me like the flash of a great light, and there was peace.
Người châu Âu đã liên kết chống chúng tôi, tôi tự nhiên tìm đến các cố vấn Ấn giáo đáng tin nhất để bàn bạc và chia sẻ, và chúng tôi đã có những cuộc tham vấn dài giữa họ và tôi, tại tư gia của Dewan Bahadur R. Raghoonath Row. Kết quả là chúng tôi thông qua một chính sách mà chẳng lâu sau tôi thực hiện. Ông Hodgson, của S.P.R., vẫn còn ở Madras, và khi nghe nói tại một bàn ăn Anglo-Ấn ông đã bày tỏ niềm tin rằng Bà H.P.B. là một điệp viên Nga, tôi cùng ông Cooper-Oakley đến gặp ông ta để bàn luận. Cả hai chúng tôi nêu quan điểm rất rõ, đến nỗi khi ra về, chúng tôi có ấn tượng rằng ông Hodgson thấy lời cáo buộc ấy trẻ con và vô căn cứ như chúng tôi nghĩ. Thế mà ông ta vẫn bám lấy, và đưa lời vu khống độc ác đó vào báo cáo gửi cho chủ của mình tại S.P.R. Từ đó, tôi không còn kính trọng ông ta nữa, vì đó là một nhát đâm sau lưng một bà già bất lực, người chưa hề làm hại ông ta chút nào. Ông ta làm tôi đau đớn tinh thần suốt vài ngày bằng cách quả quyết rằng Hurrychund Chintamon, ở Bombay, đã cho ông ta xem một bức thư của Bà H.P.B. gửi ông ta từ New York, trong đó Bà nói tôi bị Bà thôi miên đến mức chỉ cần Bà nhìn thẳng vào mặt là Bà có thể khiến tôi tin điều Bà muốn. Tôi hiểu rằng một lời khẳng định dẫu ngây ngô và khờ dại đến thế nào cũng sẽ bị đối thủ của chúng tôi chộp lấy để hại chúng tôi. Dẫu tôi không bận tâm họ có thể làm gì, dù gấp mười lần tệ hơn thế, thì trái tim tôi vẫn đau vì Bà H.P.B., người mà tôi đã hết mực [231] trung thành qua mọi điều, lại có thể làm một hành vi bội bạc với tôi; có vẻ chỉ để thỏa mãn tính tự phụ của Bà. Nhưng đó là con người đầy mâu thuẫn của Bà, trong phương diện thân phàm, và chính những nết đó khiến thời ấy thật khó để bất kỳ ai có thể sống và làm việc lâu dài với Bà. Tôi luôn nói rằng rắc rối khi chung sống với Bà, xét như Helena Petrovna, còn khó gấp bội so với việc vượt qua mọi chướng ngại bên ngoài, trở ngại và đối kháng chắn đường tiến bước của Hội. Trong toàn bộ trải nghiệm của tôi trong phong trào, chưa điều gì làm tôi xao động đến thế. Nó làm tôi tuyệt vọng, và trong hai mươi bốn giờ, gần như muốn đi thẳng xuống bãi biển và gieo mình xuống biển. Nhưng khi tôi tự hỏi rốt cuộc mình làm việc vì điều gì, vì lời tán dương của người đời hay vì lòng biết ơn của Bà H.P.B., hay của bất cứ ai khác, thì tất cả uỷ mị ấy tan biến và tâm trí tôi không bao giờ quay lại đó nữa. Cảm thức về nghĩa vụ tối thượng phải làm tròn bổn phận, phụng sự các Chân sư trong việc triển khai những kế hoạch cao cả của Các Ngài – không cần ai cảm ơn, không cần ai trân trọng, bị hiểu lầm, bị vu báng – bất kể là gì – ùa vào tôi như tia chớp của một đại quang minh, và tâm được an.
March 25th, I wrote to Mr. Sinnett and suggested the formation of a Central Committee or T.S. Board of Control, with Headquarters at London, to have charge of our interests in Europe; thus anticipating the idea of a Section, which was adopted later. He, however, did not like it, for, in fact, this would commit [232] him to the policy of a popular propaganda, which H.P.B. and I, under superior encouragement, had always followed out, but which to him was always repugnant; as it had been to Mr. Massey and Dr. Wyld before him.
Ngày 25 tháng Ba, tôi viết cho ông Sinnett và đề nghị thành lập một Ủy ban Trung ương hay một Ban Kiểm soát của T.S., đặt Trụ sở tại London, để phụ trách lợi ích của chúng ta ở châu Âu; như vậy là đi trước ý tưởng về một Khu bộ, vốn được thông qua sau này. Tuy nhiên, ông không thích, vì thực ra điều đó sẽ buộc [232] ông gắn mình với đường lối phổ biến đại chúng, mà Bà H.P.B. và tôi, được khích lệ từ thượng đẳng, luôn theo đuổi, nhưng đối với ông thì luôn gây ác cảm; như trước đây từng gây ác cảm với ông Massey và bác sĩ Wyld.
March 28th was a tempestuous day at Adyar, it seems, for I have written: “A day of disagreeable experiences: H.P.B. wild and violent; news of a further step in the plot of the Missionaries against us; threatened suit against General Morgan by the Coulombs. A bazaar rumor, and improbable.” But it was true, as the sequel proved. All this excitement told almost fatally upon my dear Chum’s health. It was awful to see her, with her face empurpled by the blood that rushed to her head, her eyes almost standing out from their orbits and dead-looking, as she tramped up and down the floor, denouncing everybody and saying wild things. Her physicians said this could not last, she must have rest and quiet or she would drop down dead some day without giving us a moment’s warning. So she listened to them, and, on 29th March resigned her office and gave Babula orders to pack her trunks. Dr. Hartmann and I went the next day to town and took passage tickets for her, Miss Flynn, of Bombay, the Doctor, who consented at my request to go and look after H.P.B., and “Bawaji,” then a devoted follower of hers. The party sailed for Naples on the Tuesday in the Messageries Co.’s steamer “Tibre”. She was so helpless that Dr. Mary Scharlieb’s husband, one of the Presidency Magistrates, procured the use [233] of a hospital chair, and she, sitting in it, was lifted from the boat on board by a hoisting tackle. That night, by her request. I moved over into her room and slept in it for the first time. She particularly asked me not to give it to any other occupant.
Hình như ngày 28 tháng Ba là một ngày giông tố ở Adyar, vì tôi có ghi: “Một ngày trải nghiệm khó chịu: Bà H.P.B. phẫn nộ dữ dội; tin về một bước tiến nữa trong âm mưu của các Nhà truyền giáo chống lại chúng tôi; đe dọa kiện tướng Morgan bởi nhà Coulomb. Lời đồn chợ búa, khó tin.” Nhưng nó là thật, như diễn biến sau chứng minh. Tất cả kích động này tác động gần như chí tử đến sức khỏe của bạn thân yêu của tôi. Thật kinh khiếp khi thấy Bà, với khuôn mặt tím bầm vì máu dồn lên não, đôi mắt như lồi khỏi hốc và đục đi, đi đi lại lại trên sàn, mắng chửi tất cả mọi người và nói những điều điên cuồng. Các bác sĩ nói tình trạng này không thể kéo dài, Bà phải có nghỉ ngơi và yên tĩnh, nếu không một ngày nào đó Bà sẽ gục xuống chết mà chẳng kịp cho chúng tôi lấy một khoảnh khắc báo trước. Vậy là Bà nghe theo, và ngày 29 tháng Ba nộp đơn từ chức và bảo Babula thu xếp hành lý. Ngày hôm sau, bác sĩ Hartmann và tôi vào thành phố lấy vé tàu cho Bà, cô Flynn ở Bombay, bác sĩ – người theo lời tôi thỉnh cầu đã đồng ý đi trông nom Bà H.P.B. – và “Bawaji”, khi ấy là một người theo rất tận tụy của Bà. Nhóm lên tàu “Tibre” của hãng Messageries đi Naples vào thứ Ba. Bà yếu đến nỗi chồng của bác sĩ Mary Scharlieb, một trong các Thẩm phán Tòa Thống đốc, đã thu xếp [233] mượn một ghế bệnh viện, và Bà ngồi trên đó được nâng từ thuyền nhỏ lên tàu lớn bằng ròng rọc. Đêm ấy, theo lời yêu cầu của Bà, tôi chuyển sang phòng Bà và ngủ ở đó lần đầu tiên. Bà dặn riêng tôi đừng giao phòng đó cho ai khác.
The following passages are copied from the official report that appeared in the Theosophist (Supplement) for May, 1885: “At about this time Madame Blavatsky was having severe attacks of palpitation of the heart, and all at Headquarters were kept in a state of alarm, as the physicians had expressed the opinion that under any sudden excitement death might be instantaneous.
Những đoạn sau đây được chép lại từ báo cáo chính thức đăng trên Theosophist (Phụ trương) số tháng Năm, 1885: “Vào khoảng thời gian này, Bà Blavatsky bị các cơn hồi hộp tim rất nặng, và tất cả ở Trụ sở đều lo sợ, vì các bác sĩ cho rằng dưới bất kỳ kích động đột ngột nào, cái chết có thể xảy ra tức khắc.
“Following is the certificate of her medical attendant:
“Sau đây là giấy chứng nhận của bác sĩ điều trị:
“I hereby certify that Mademe Blavatsky is quite unfit for the constant excitement and worry to which she is exposed in Madras. The condition of her heart renders perfect quiet and a suitable climate essential. I therefore recommend that she should at once proceed to Europe, and remain in a temperate climate—in some quiet spot.
“Tôi xin xác nhận rằng Bà Blavatsky hoàn toàn không thích hợp với sự kích động và lo lắng thường xuyên mà Bà phải chịu ở Madras. Tình trạng tim của Bà đòi hỏi sự yên tĩnh tuyệt đối và một khí hậu thích hợp. Vậy nên, tôi khuyến nghị Bà phải lập tức đi châu Âu, và ở trong một khí hậu ôn hòa – tại một nơi yên tĩnh.
(Sd.) ‘MARY SCHARLIEB,
(Ký) ‘MARY SCHARLIEB,
‘M. B. and S. L. London.’”
‘Bằng M.B. và S.L. London.’”
“The local members of the General Council, meeting at Headquarters as an Executive Committee on the 12th instant, adopted unanimously the following:
“Các hội viên địa phương của Tổng Hội đồng, họp tại Trụ sở với tư cách Ủy ban Điều hành vào ngày 12 tháng này, đã nhất trí thông qua như sau:
Resolution
Nghị quyết
“‘Resolved that Madame Blavatsky’s resignation be accepted, and that the President be requested in [234] the name of the Council to inform her of the great regret with which they have learnt that she is compelled, on account of her extreme ill-health, to relinquish her duties as Corresponding Secretary of the Theosophical Society. The Council further record their high sense of the valuable services she has rendered to the cause of science and philosophy.
“‘Quyết nghị rằng đơn từ chức của Bà Blavatsky được chấp thuận, và đề nghị Chủ tịch, [234] nhân danh Hội đồng, thông báo cho Bà nỗi tiếc nuối lớn lao khi biết rằng Bà buộc phải, vì lâm vào cơn bạo bệnh, từ bỏ nhiệm vụ Thư ký Thông tín của Hội Thông Thiên Học. Hội đồng cũng ghi nhận sự đánh giá cao của mình về những cống hiến quý báu của Bà cho sự nghiệp khoa học và triết học.
(Sd.) ‘R. RAGHOONATH ROW,
(Ký) ‘R. RAGHOONATH ROW,
‘Chairman.’ “
‘Chủ tọa.’ “
“To mark our respect for Madame Blavatsky’s exceptional abilities, the vacancy caused by her retirement will not be filled, and the office of Corresponding Secretary is hereby abolished. Official correspondence upon philosophical and scientific subjects will, however, be conducted as heretofore by other members of the Executive Staff, and inquiries may be addressed to the Recording Secretary at Adyar.”
“Để tỏ lòng tôn trọng đối với năng lực đặc biệt của Bà Blavatsky, chức vụ bị bỏ trống do việc Bà thôi nhiệm sẽ không được bổ nhiệm người thay thế, và văn phòng Thư ký Thông tín theo đó bị bãi bỏ. Tuy nhiên, thư tín chính thức về các đề tài triết học và khoa học vẫn sẽ được tiến hành như trước bởi các thành viên khác của Ban Điều hành, và các thắc mắc có thể gửi về Thư ký Ghi chép tại Adyar.”
Her resignation, as acted on by the Executive Committee, read as follows:
Đơn từ chức của Bà, như được Ủy ban Điều hành xử lý, có nội dung như sau:
“ADYAR, March 21st, 1885.
“ADYAR, ngày 21 tháng Ba, 1885.
“To the GENERAL COUNCIL of the THEOSOPHICAL SOCIETY.
“Kính gửi TỔNG HỘI ĐỒNG của HỘI THÔNG THIÊN HỌC.
“GENTLEMEN,—The resignation of office, which I handed in on September 27th, 1884, and which I withdrew at the urgent request and solicitation of Society friends, I must now unconditionally renew. My present illness is pronounced by my medical attendants mortal; I am not promised even one certain year [235] of life. Under these circumstances it would be an irony to profess to perform the duty of Corresponding Secretary; and I must insist upon your allowing me to retire. I wish to devote my remaining few days to other thoughts, and to be free to seek changes of climate, should such be thought likely to do me good.
“THƯA CÁC NGÀI, — Đơn từ chức mà tôi đã nộp ngày 27 tháng Chín, 1884, và sau đó rút lại theo lời yêu cầu khẩn thiết của các bạn hữu trong Hội, nay tôi buộc phải vô điều kiện tái nộp. Cơn bệnh hiện tại của tôi được các y sĩ chẩn đoán là chí tử; tôi không được hứa hẹn chắc chắn ngay cả một năm [235] sống nữa. Trong những hoàn cảnh như vậy, sẽ là một sự mỉa mai nếu tôi vẫn tuyên bố đảm đương nhiệm vụ Thư ký Thông tín; và tôi phải khẩn nài các Ngài cho phép tôi rút lui. Tôi muốn dành những ngày ít ỏi còn lại cho những tâm niệm khác, và được tự do tìm kiếm sự thay đổi khí hậu, nếu xét thấy có thể có lợi cho tôi.
“I leave with you, one and all, and to every one of my friends and sympathisers, my loving farewell. Should this be my last word, I would implore you all, as you have regard for the welfare of mankind and your own karma, to be true to the Society and not to permit it to be overthrown by the enemy.
“Tôi xin gửi tới các Ngài, tất thảy mọi người, và tới từng người bạn hữu và cảm tình viên, lời từ biệt thân thương của tôi. Nếu đây là lời sau cuối, tôi khẩn thiết cầu mong tất cả các Ngài, vì sự quan tâm đến phúc lợi của nhân loại và nghiệp quả của chính các Ngài, hãy trung thành với Hội và đừng để nó bị kẻ thù lật đổ.
“Fraternally and ever yours-in life or death,
“Huynh đệ và mãi mãi của các Ngài – trong sống hay chết,
(Sd.) “H. P. BLAVATSKY.”
(Ký) “H. P. BLAVATSKY.”
I believe that by taking this wise step she saved her life, for it was to the last degree unlikely that she could have borne the strain much longer; and her colleagues are, in a way, indebted to Dr. Mary Scharlieb for the subsequent appearance of The Secret Doctrine, The Key to Theosophy, The Voice of the Silence, and all the other valuable writing she was spared to do after getting out of the psychic maelstrom that had been created about her at Adyar. Apart from the motive of her ill-health and incapacity for work, she was influenced by the wish to relieve the Society from the responsibility which her continuance in office would lay upon it. Later, at one of the Annual Conventions, she was unanimously and enthusiastically invited to return if her physician should consent, and although she [236] could never do that, she resumed her old official status.
Tôi tin rằng bằng bước đi khôn ngoan này, Bà đã cứu mạng mình, vì Bà khó có thể chịu đựng nổi áp lực thêm nữa; và các đồng sự của Bà, theo một nghĩa nào đó, phải tri ân bác sĩ Mary Scharlieb vì sự xuất hiện sau đó của The Secret Doctrine, The Key to Theosophy, The Voice of the Silence, và tất cả những trước tác giá trị khác mà Bà còn được trường lưu để viết sau khi ra khỏi dòng lốc tâm linh đã bủa quanh Bà ở Adyar. Ngoài động cơ do bệnh tật và sự bất lực làm việc, Bà còn bị thôi thúc bởi ý muốn giải trừ cho Hội trách nhiệm mà việc Bà tiếp tục tại chức sẽ đặt lên vai Hội. Sau này, tại một trong các Đại hội Thường niên, Bà đã được nhất trí và nhiệt liệt mời trở lại nếu bác sĩ cho phép, và dẫu [236] Bà không thể làm điều đó, Bà đã tiếp nhận lại địa vị chức vụ cũ.
“The Headquarters,” I wrote on April 1st, in my Diary, “is desolate, yet peaceful as it has not been before. We can now face the situation calmly. General Morgan writes that he has received a letter from Mme. Coulomb’s counsel, demanding an apology for calling her a ‘forger’ and a ‘purloiner of letters’.” On this, a Council meeting was called, and we telegraphed the loyal old veteran to ask a week’s delay to give him time to prepare his answer. At an adjourned meeting, the next day, “the whole Morgan case was discussed, and the unanimous opinion was that the General had better defend the case, as he would most probably win it and expose the worthless characters of the Coulombs.” He did so, but—as noted in a previous chapter—the Missionaries withdrew the suit, as they could get no benefit from it now that H.P.B. was out of their reach!
“Tối 1 tháng Tư,” tôi viết trong Nhật ký, “Trụ sở thật quạnh vắng, nhưng yên bình như chưa từng có trước đây. Chúng tôi giờ có thể bình thản đối diện tình hình. Tướng Morgan viết rằng ông nhận được thư của luật sư bà Coulomb, đòi xin lỗi vì đã gọi bà ta là ‘kẻ làm giả’ và ‘kẻ ăn cắp thư’.” Trước việc này, một phiên họp Hội đồng được triệu, và chúng tôi điện cho vị lão tướng trung trinh xin hoãn một tuần để ông có thời gian chuẩn bị đáp thư. Tại phiên họp hoãn qua ngày hôm sau, “toàn bộ vụ Morgan được thảo luận, và ý kiến nhất trí là tốt hơn Tướng nên tự bào chữa, vì rất có khả năng ông sẽ thắng và phơi bày nhân cách vô giá trị của vợ chồng Coulomb.” Ông đã làm như vậy, nhưng – như đã ghi ở chương trước – các Nhà truyền giáo rút đơn kiện, vì họ chẳng còn trục lợi gì từ đó khi Bà H.P.B. đã ra ngoài tầm với của họ!
At a Council meeting on the Sunday following (5th April), I brought forward as a tentative measure a plan for the creation of a real Executive Committee, which should share with me the management of the Society, and it was adopted. My circular was worded as follows:
Tại phiên họp Hội đồng Chủ nhật ngay sau (ngày 5 tháng Tư), tôi đưa ra, như một biện pháp thăm dò, một kế hoạch lập một Ủy ban Điều hành thật sự, sẽ cùng tôi chia sẻ việc quản trị Hội, và kế hoạch ấy được thông qua. Thông tri của tôi được thảo như sau:
“ADYAR, April 7th, 1885.
“ADYAR, ngày 7 tháng Tư, 1885.
“With a view to improving the administration of the Theosophical Society and relieving the President of a portion of the responsibility which now devolves [237] upon him, I have determined to form, as an experimental measure and subject to ratification by the next Convention an Executive Committee, of which I invite you to become a member.
“Nhằm cải thiện việc quản trị Hội Thông Thiên Học và giải tỏa cho Chủ tịch một phần trách nhiệm hiện đang dồn [237] trên vai, tôi quyết định lập, như một biện pháp thử nghiệm và tùy thuộc sự phê chuẩn của Đại hội kỳ tới, một Ủy ban Điều hành, và trân trọng mời các Ngài gia nhập.
“My wish is that this Committee should assume, in connection with myself, the entire management of the Society’s affairs during the recess—each member and myself to have an equal vote, the President to have a casting vote in case of a tie; all questions to be decided by the majority present; the Secretary to the Society to act as Secretary to the Committee; the entire proceedings to be kept strictly confidential, save with the consent of the majority present; and the Committee to meet at least once a week for business.
“Điều tôi mong muốn là Ủy ban này, phối hợp cùng tôi, sẽ đảm trách toàn bộ công việc của Hội trong thời gian giữa hai khóa Đại hội – mỗi thành viên và tôi có một lá phiếu đồng quyền, Chủ tịch có phiếu quyết định trong trường hợp hòa phiếu; mọi vấn đề sẽ do đa số người hiện diện quyết định; Thư ký của Hội sẽ làm Thư ký của Ủy ban; toàn bộ biên bản được giữ bí mật tuyệt đối, trừ khi có sự đồng thuận của đa số người có mặt; và Ủy ban sẽ họp ít nhất mỗi tuần một lần để giải quyết công việc.
“The design being merely to form a convenient working Committee of Councillors most accessible from the Headquarters, I propose that a circular be sent to each and everyone of the members of the General Council, notifying him of the appointment of this Executive Committee, and inviting him to attend the sessions when in Madras, and at all times to communicate through anyone of his colleagues among your number any matter he may think it advisable to have acted upon. Thus practically the entire General Council would have a share in the management of the Society throughout the year.
“Vì chủ đích đơn thuần là lập một Ủy ban công tác thuận tiện gồm các Ủy viên dễ tiếp cận Trụ sở nhất, tôi đề nghị gửi một thông tri đến từng thành viên của Tổng Hội đồng, thông báo việc bổ nhiệm Ủy ban Điều hành này, và mời họ tham dự các phiên họp khi có mặt tại Madras, và mọi lúc gửi gắm qua bất cứ đồng liêu nào trong số các Ngài mọi việc họ thấy nên được xem xét. Như vậy trên thực tế, toàn thể Tổng Hội đồng sẽ có phần trong việc quản trị Hội suốt năm.
“It is to be understood, of course, that the present measure is adopted tentatively, and that the right is reserved of rescinding this special Rule in case difficulties should arise (as in the late Board of [238] Control) of so serious a nature as to prove its inexpediency. “
“Dĩ nhiên phải hiểu rằng biện pháp hiện thời được áp dụng thử, và chúng ta dành quyền bãi bỏ Quy luật đặc biệt này nếu nảy sinh những khó khăn (như trong Ban Kiểm soát mới đây) [238] trầm trọng đến mức cho thấy nó là không thích hợp. “
In pursuance of the invitation appended to the above circular, the Executive Committee met, and in obedience to a Resolution unanimously adopted, the following gentlemen signed an acceptance of seats “under the conditions mentioned in the President-Founder’s circular letter”; R. Raghoonath Row; P. Sreenivasa Row; S. Subramanier; C. Ramiah; P. Parthasarathy Chetty; T. Subba Row; A.J. Cooper-Oakley; and C. W. Leadbeater.
Theo lời mời kèm trong thông tri trên, Ủy ban Điều hành nhóm họp, và theo một Nghị quyết nhất trí, các quý ông sau ký chấp nhận ghế “theo các điều kiện nêu trong thư thông tri của Chủ tịch-Sáng lập”: R. Raghoonath Row; P. Sreenivasa Row; S. Subramanier; C. Ramiah; P. Parthasarathy Chetty; T. Subba Row; A. J. Cooper-Oakley; và C. W. Leadbeater.
The Committee as thus organised went on harmoniously for some months, but was ultimately abandoned, for the practical reason that nobody save myself had all the details in his head, nor the personal acquaintance with individual colleagues and their local environments, which were needed for acting with judgment in specific cases. The meetings resolved, finally, into mere sittings to agree to all my recommendations, one member after another absented himself, and it was the general wish that I should go on as previously, doing what seemed best without further obstruction. The marplots, Messrs. Lane-Fox and Hartmann, had left the country, and no one else was disposed to make trouble. Yet autocracy was my abhorrence, and I asked nothing better than that somebody should come forward and take a share of the great responsibility for the administration of our difficult business. I looked on the Society as a free and open republic of altruism, in which there should be no sect, or caste, [239] or privileged class, nor any strife or emulation save as to who should best work for the good of the world. I put my views into a leader in the Theosophist for June, 1885, entitled, “Infallibility.” It was apropos of a recent move of Keshub Chunder Sen towards the assumption of quasi-divine honors from his following, I said:
Ủy ban, được tổ chức như vậy, hoạt động hòa thuận trong vài tháng, nhưng rốt cuộc bị bỏ, vì lý do thực tiễn rằng không ai ngoài tôi nắm hết chi tiết trong đầu, cũng như mối quen biết cá nhân với từng đồng sự và hoàn cảnh địa phương của họ, điều cần để hành xử sáng suốt trong các trường hợp cụ thể. Các phiên họp sau cùng trở thành những buổi chỉ để đồng thuận các kiến nghị của tôi, từng thành viên một rồi vắng mặt, và ý muốn chung là tôi cứ tiếp tục như trước, làm điều xem ra tốt nhất mà không bị cản trở nữa. Những kẻ phá thối, các ông Lane-Fox và Hartmann, đã rời khỏi xứ, và không ai khác muốn gây rắc rối. Tuy vậy, tôi rất ghét “chế độ độc đoán”, và tôi chẳng mong gì hơn việc có ai đó bước lên gánh chung phần trách nhiệm lớn lao trong quản trị công việc nan giải của chúng ta. Tôi xem Hội như một “cộng hòa” tự do và cởi mở của lòng vị tha, nơi không có giáo phái, đẳng cấp, [239] hay giới đặc quyền, cũng không có ganh đua nào ngoài việc ai sẽ phụng sự thế gian tốt nhất. Tôi trình bày quan điểm trong bài xã luận trên Theosophist số tháng Sáu, 1885, tựa đề “Bất khả sai lầm”. Bài viết nhân việc ông Keshub Chunder Sen mới đây có động thái hướng tới việc tiếp nhận các vinh hiển gần như thiêng nơi tín đồ mình. Tôi viết:
“A Brahmo organ charges us with the purpose of building up ‘a new order of priesthood’. Perhaps the theory is based upon the fact that certain phenomena have been shown in connection with our movement, and that the authors of two or three Theosophical books, possibly to give them more weight, have affirmed their personal relationship with Mahatmas. But whatever the phenomena, their exhibition has always had for its object to prove the existence in all mankind of certain psychic potentialities, which, under favoring conditions, develop. Was it ever pretended that only certain chosen ‘vessels of election’ could have these powers, or that their exercise proved their possessors to be infallible teachers? Is it not, on the contrary, absolutely true that, from the first page of Isis Unveiled to the last line printed about Theosophy, the uniform burden of Theosophical teaching has been that man, as man, possesses to-day exactly the same psychic and other capabilities as his remotest ancestor possessed; that in successive cycles these have been alternatively developed and latent; and that religious knowledge results from psychic development? Where is the room for a priesthood [240] among us in the exoteric sense of the word? or the necessity, in a Society like ours, for leaders? The writer, for his part, is convinced that, whatever mental sufferings, and whatever injury to personal reputations may result from recent events, the price is not too high to pay if the last chance be destroyed of ever building up a sect and ‘priesthood’ in the Theosophical Society. Rather than see that calamity befall the movement, he would prefer that the respect now felt by any friend for anyone concerned in its inception or direction should be lost; for then the field would be cleared of obstructive personalities for the consideration of first principles. In neither his official nor private capacity has he evinced any sympathy with the yearning after inspired teachers or infallible teachings. Quite the reverse: for he has never let slip an opportunity to affirm the dignity of private judgement; the necessity of individual research and interior development for the comprehension of truth; the absolute independence of Theosophy of all special teachers or groups of teachers—all sects, dogmas, confessions of faith, forms, ceremonies, and national or geographical limitations. If this is not broad enough; if, in any other language besides English, there be any stronger words to express an absolute repugnance to the idea of any thinking person blindly giving up his sovereign right of inquiry to any other person, high or low, adept or non-adept, and of giving any value to a teaching beyond its own intrinsic weight by appealing to an authoritative authorship—then those are the [241] words the writer would wish to employ. There never was an Adept or Mahatma in the world who could have developed himself up to that degree if he had recognised any other principle. Gautama Buddha is held to have been one of the greatest in this august fraternity, and in his Kalama Sutta he enforced at great length this rule, that one should accept nothing, whether written, spoken, or taught by sage, revelator, priest, or book, unless it reconciled itself with one’s reason and common sense.
“Một cơ quan của phái Brahmo buộc tội chúng tôi có ý định xây dựng ‘một trật tự tư tế mới’. Có lẽ lập luận dựa trên sự thật rằng một số hiện tượng đã được trình hiện liên quan đến phong trào của chúng tôi, và rằng tác giả của hai ba cuốn sách Thông Thiên Học, có lẽ nhằm làm cho chúng có sức nặng hơn, đã quả quyết mối liên hệ cá nhân của họ với các Mahatma. Nhưng bất kể hiện tượng là gì, việc trình diễn nó luôn nhắm mục đích chứng minh sự tồn tại trong mọi người của những tiềm năng tâm linh nhất định, thứ sẽ phát triển khi hội đủ điều kiện thuận hợp. Đã bao giờ người ta quả quyết rằng chỉ có những ‘chiếc bình được chọn’ mới có các năng lực ấy, hoặc rằng việc dụng chúng chứng minh người sở hữu là một bậc thầy vô ngộ? Chẳng phải, trái lại, hoàn toàn đúng sao rằng, từ trang đầu của Isis Unveiled đến dòng cuối cùng in về Thông Thiên Học, gánh nặng nhất quán của giáo lý Thông Thiên Học là con người, xét như con người, hôm nay sở hữu đúng những năng lực tâm linh và những khả tính khác như tổ tiên xa xưa nhất của mình; rằng trong các chu kỳ kế tiếp, chúng lần lượt được phát triển hoặc chìm ẩn; và rằng tri thức tôn giáo là kết quả của sự phát triển tâm linh? Ở đâu còn chỗ cho một ‘giới tu sĩ’ [240] trong chúng tôi, theo nghĩa ngoại hiện của từ ngữ? Hay cần thiết gì, trong một Hội như chúng ta, phải có ‘lãnh đạo’? Về phần người viết, ông tin rằng, bất cứ phiền não tinh thần nào, và bất cứ tổn hại danh dự cá nhân nào hệ từ những biến cố gần đây, cái giá cũng không quá đắt nếu đổi lại là hủy diệt được cơ hội cuối cùng của việc dựng lên một giáo phái và ‘giới tu sĩ’ trong Hội Thông Thiên Học. Thà thấy sự tôn trọng hiện có của bất cứ người bạn nào dành cho bất cứ ai tham dự vào sự khai sinh hay điều khiển phong trào này bị mất đi; vì như thế, trường trống sẽ được dọn dẹp khỏi các nhân vật gây nhiễu, để dành cho việc suy xét những nguyên lý đầu tiên. Trong cả tư cách chính thức lẫn riêng tư, ông chưa từng biểu lộ cảm tình với khát vọng tìm kiếm các bậc thầy ‘khải linh’ hay những giáo điều ‘vô ngộ’. Hoàn toàn ngược lại: vì ông chưa từng bỏ lỡ cơ hội để khẳng định phẩm giá của phán đoán cá nhân; sự cần thiết của nghiên cứu độc lập và phát triển nội tâm cho việc thấu hiểu chân lý; tính độc lập tuyệt đối của Thông Thiên Học đối với mọi vị thầy đặc thù hay nhóm thầy – mọi giáo phái, tín điều, bản tín lý, hình thức, lễ nghi, và mọi giới hạn quốc gia hay địa dư. Nếu điều này chưa đủ rộng; nếu, trong bất cứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng Anh, có từ ngữ mạnh hơn để diễn đạt sự ghê tởm tuyệt đối đối với ý tưởng rằng bất kỳ người biết suy nghĩ nào lại mù quáng trao nộp quyền tối thượng về truy vấn của mình cho bất kỳ ai khác, cao hay thấp, chân sư hay không; và với việc gán cho một giáo huấn bất cứ giá trị nào vượt quá trọng lượng nội tại của nó bằng cách viện dẫn tác quyền ‘có thẩm quyền’ – thì [241] những từ ấy là điều người viết mong muốn sử dụng. Chưa từng có một Chân sư hay Mahatma nào trên đời có thể tự phát triển đến mức ấy, nếu ông ta thừa nhận bất kỳ nguyên tắc nào khác. Đức Phật Gautama được xem là một trong những bậc cao cả nhất trong hàng huynh đệ tôn nghiêm này, và trong Kinh Kalama, Ngài đã nhấn mạnh rất dài điều quy tắc rằng chớ chấp nhận gì cả – dù được viết, được nói, hay được dạy bởi hiền triết, kẻ khải thị, giáo sĩ hay sách vở – nếu nó không hòa thuận với lý trí và lẽ thường của chính mình.
“This is the ground upon which we stand; and it is our earnest hope that, when the founders of the Theosophical Society are dead and gone, it may be remembered as their ‘profession of faith’. With stout old John Hales, the preacher of the sixteenth century, we maintain that ‘to mistrust and relinquish our own faculties, and commend ourselves to others, this is nothing but poverty of spirit and indiscretion’.”
“Đó là nền tảng chúng tôi đứng; và là niềm hy vọng chân thành của chúng tôi rằng, khi các đấng sáng lập Hội Thông Thiên Học đã qua đời, điều ấy sẽ được ghi nhớ như là ‘tuyên ngôn đức tin’ của họ. Cùng với vị giảng sư thế kỷ mười sáu, John Hales, chúng tôi chủ trương rằng ‘nghi ngờ và từ bỏ các năng lực của chính mình, và phó thác bản thân cho người khác, ấy chẳng gì khác ngoài sự nghèo khó tinh thần và thiếu khôn ngoan’.”
For my part, as one of the co-founders of the Society, I had persistently adhered to that policy of personal freedom and personal responsibility of the member from the beginning, and have stood for it and fought for it down to the present day. When I can no longer have such freedom within it, I shall leave the Society, and grieve over it as a lost cause. If I needed a Pope I should go to Rome, where a so-called Viceregent of God is enthroned, and a brazen toe of a statue is always waiting to be kissed. Docile obedience to a TEACHER, who has mastered the secrets of life and death, of man and nature, is natural and [242] proper; but servile obedience to a bald creed, or to a person no better nor spiritually wiser than oneself, is the worst of serfdoms—undignified, unmanly, a spiritual suicide. This, I repeat, is my own feeling about the matter, and nobody save myself is responsible for it. It does not bind another member of the Society, and, free-thinker as I am, I am ever ready to stand by my neighbor and defend his right of private judgment, howsoever orthodox he may be to whatsoever form of religious faith. If he is unable to reciprocate, I should ask or compel him to resign his membership, for he has no natural place within our ranks, and “an empty house is better than bad company”.
Về phần tôi, như một trong các đồng sáng lập Hội, tôi kiên định theo đường lối tự do cá nhân và trách nhiệm cá nhân của hội viên ngay từ đầu, và đã bênh vực cho nó, chiến đấu vì nó cho đến ngày nay. Khi nào tôi không còn có được tự do như thế trong Hội, tôi sẽ rời Hội, và đau buồn vì một lý tưởng đã mất. Nếu tôi cần một Giáo hoàng, tôi sẽ đến Rome, nơi một vị gọi là Phó Nhiếp Chính của Thượng đế đang ngự, và một ngón chân bằng đồng của bức tượng luôn chờ để được hôn. Sự vâng phục nhu thuận đối với một HUẤN SƯ, người đã làm chủ các bí nhiệm của sống và chết, của con người và thiên nhiên, là tự nhiên và [242] thích đáng; nhưng vâng phục nô lệ đối với một tín điều trọc lóc, hoặc đối với một người chẳng hơn gì hay chẳng sáng suốt hơn mình về mặt tinh thần, là thứ nô dịch tệ nhất – thiếu phẩm giá, thiếu khí phách, một sự tự sát tinh thần. Điều này, tôi nhắc lại, là cảm nghĩ của riêng tôi về vấn đề, và không ai ngoài tôi chịu trách nhiệm. Nó không ràng buộc hội viên nào khác của Hội, và, là một người tư duy tự do, tôi luôn sẵn sàng đứng cạnh láng giềng và bênh vực quyền phán đoán riêng của anh ta, dẫu anh ta chính thống thế nào đối với bất cứ hình thức tín ngưỡng nào. Nếu anh ta không thể đáp lại như thế, tôi sẽ yêu cầu hoặc buộc anh ta từ nhiệm tư cách hội viên, vì anh ta không có chỗ tự nhiên nào trong hàng ngũ chúng ta, và “nhà trống còn hơn bạn xấu”.
Two consoling things happened at this time, two rifts of clear sky amid the gloom: the Berhampur (Bengal) T.S. sent us a letter of sweet sympathy, and the Ceylon Buddhists reported that the Buddhist National Holiday which I had asked Lord Derby to grant them had, with their Governor, Sir Arthur Gordon’s consent, been gazetted.
Hai điều an ủi đã xảy ra lúc này, hai khe trời xanh giữa u ám: Chi bộ T.S. Berhampur (Bengal) gửi cho chúng tôi một lá thư cảm thông thắm thiết, và các Phật tử Tích Lan báo tin rằng Ngày Lễ Quốc gia Phật giáo mà tôi đã thỉnh cầu Lord Derby ban cho họ, với sự thuận tình của Thống đốc của họ, Sir Arthur Gordon, đã được công bố trên công báo.
Under the circumstances of the situation we had the choice of two policies, the passive and the active: we might keep quiet, carryon our current business without attracting public attention, or we might adopt the bolder course of challenging public opinion, by giving lectures in the principal centres of Indian influence and thought. I declared for the latter, and, my colleagues of the Executive Committee concurring, a lecture at Pachiappah’s Hall, Madras, was arranged for 27th April—the 117th day of the year; hence, [243] to our notions, one of good omen. The result exceeded our highest expectations; the Hall was packed in spite of the fact that, to prevent a rush, the Managing Committee made a small charge for admission. The sum of Rs. 150 was taken at the doors, and given away in charity. Five professors of the Christian College attended, but their presence did not dampen the ardor of their students, who almost cheered themselves hoarse.
Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi có hai đường lối chính sách để chọn, thụ động và chủ động: chúng tôi có thể giữ yên, tiếp tục công việc thường xuyên mà không thu hút chú ý công chúng; hoặc chọn con đường táo bạo hơn là thách thức dư luận, bằng cách diễn thuyết tại các trung tâm chủ yếu của ảnh hưởng và tư tưởng Ấn Độ. Tôi chọn phương án sau, và, các đồng sự trong Ủy ban Điều hành cùng tán thành, một buổi diễn thuyết tại Giảng đường Pachiappah, Madras, được sắp vào ngày 27 tháng Tư – ngày thứ 117 của năm; do đó, [243] theo quan niệm của chúng tôi, là một ngày lành. Kết quả vượt xa kỳ vọng: Giảng đường chật kín bất chấp việc để tránh chen lấn, Ban Quản lý thu một khoản lệ phí vào cửa nhỏ. Số tiền 150 rupia thu được tại cửa đã đem làm từ thiện. Năm giáo sư của Trường Đại học Thiên Chúa giáo có mặt, nhưng sự hiện diện của họ không làm nguội lạnh nhiệt huyết của học sinh họ, những người gần như khan tiếng vì cổ vũ.
I see that the lecture was very fairly reported the next day in the local papers—an encouraging circumstance in itself. T. Subba Row brought back, on the same day, our copy of Mohini’s and Mrs. Holloway’s Man, a Fragment of Forgotten History, and made a very severe criticism on it. “He condemned it utterly” —I write— “saying that its mistakes are calculated to throw discredit upon the Mahatmas, while its dogmatic tone is insufferable.” When the book was announced in London, with the intimation that it embodied authoritative teaching from the Masters of Wisdom, I at once wrote to the Pall Mall Gazette to deny the claim in toto, and warned the public that the authors of the book were alone responsible for its contents. Moreover, I had pasted inside the cover of every copy sold by the Theosophist Manager the same notification.
Tôi thấy bài diễn thuyết được tường thuật khá công bằng hôm sau trên các báo địa phương – tự thân đó là một điều khích lệ. T. Subba Row trong ngày đem về bản in cuốn Man, a Fragment of Forgotten History của Mohini và bà Holloway, và đã phê bình rất nghiêm khắc. “Ông lên án nó toàn diện” — tôi viết — “nói rằng các nhầm lẫn của sách này có thể khiến người ta nghi ngờ các Chân sư, trong khi giọng điệu giáo điều của nó là không thể chịu nổi.” Khi cuốn sách được công bố tại London, với lời cho biết rằng nó hàm chứa giáo lý có thẩm quyền từ các Vị Thầy Minh triết, tôi lập tức viết cho Pall Mall Gazette bác bỏ trọn vẹn lời tuyên bố đó, và cảnh báo công chúng rằng tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung. Hơn nữa, tôi đã dán bên trong bìa mỗi bản bán bởi Quản lý tờ Theosophist một thông báo tương tự.
The European Mail of that week brought dispiriting accounts of the feeling among our people: the result, no doubt, of H.P.B.’s not having been allowed to prosecute her slanderers in court. Still, it could not be helped; to have done otherwise than we did would have been most unwise.
Chuyến Thư châu Âu tuần đó mang đến những bản tường trình làm nản lòng về tâm tình trong hàng ngũ chúng ta: chắc hẳn là kết quả của việc Bà H.P.B. không được phép kiện kẻ vu khống ra tòa. Tuy vậy, không thể làm khác; làm khác đi sẽ cực kỳ bất trí.
[244]
[244]
If the Missionaries did not let Mme. Coulomb loose against General Morgan, it certainly was not for lack of provocation, for the Madras Mail of April 29 contained his reply to her plaint, in which he renewed his former insults and defied her to do her worst; the Editor, at the same time, giving notice that the discussion should not be carried further in his columns.
Nếu các Nhà truyền giáo không thả bà Coulomb ra để đối đầu tướng Morgan, thì chắc chắn không phải vì thiếu sự khích động, vì tờ Madras Mail ngày 29 tháng Tư đăng thư hồi đáp của ông đối với đơn khiếu nại của bà ta, trong đó ông tái khẳng định các lời chỉ trích trước đây và thách bà làm điều tệ nhất bà có thể; đồng thời, Chủ bút thông báo rằng cuộc tranh luận sẽ không được tiếp tục trên mặt báo của ông nữa.
As a mental recreation, on the principle of offsetting one disagreeable thing by another even more lugubrious, I read a good deal just then about the Witchcraft and Witch Trials of the seventeenth century. It strikes a Theosophist, in particular, most forcibly what revolting proofs those tragedies afford of human bigotry, stupid prejudice, and densest ignorance of the laws of life, mind and soul. It is enough to make one weep to recall the pictures of ignorant and innocent hysterics and mediums persecuted, imprisoned, even judicially murdered, because phenomena, which they could not help, occurred in their presence, spreading panic and horror among the eye-witnesses, who were equally ignorant and powerless as the neurotic patients themselves. D’Assier has made good use of some of the thousands of recorded facts, and Prof. Charcot and his colleagues have drawn upon the judicial archives for a basis of argument; but we have only to turn over the pages of Des Mousseaux and the host of writers upon these psychical and mediumistic mysteries, to see that there exists an inexhaustible fund of proof of the occasional interplay of occult forces and the mutual interference of the planes of the living and the dead.
Như một cách giải trí tinh thần, theo nguyên tắc hóa giải một điều khó chịu bằng một điều còn ảm đạm hơn, tôi lúc ấy đọc khá nhiều về Phù thủy và các Phiên tòa xử Phù thủy thế kỷ mười bảy. Điều khiến một người Thông Thiên Học đặc biệt bàng hoàng là những bi kịch đó cho thấy bằng chứng ghê tởm về sự hẹp hòi cuồng tín của con người, định kiến ngu muội, và sự vô minh đặc đặc đối với các định luật của sự sống, của tâm trí và linh hồn. Chỉ nghĩ đến cảnh những người ngây thơ, vô học, mắc chứng loạn thần kinh và đồng cốt bị bách hại, bỏ tù, thậm chí bị giết theo luật, chỉ vì những hiện tượng – mà họ không thể kiểm soát – xảy ra nơi họ hiện diện, gieo rắc hoảng loạn và kinh hoàng cho những người chứng kiến – vốn cũng ngu muội và bất lực không kém các bệnh nhân thần kinh – cũng đủ làm người ta muốn bật khóc. D’Assier đã tận dụng tốt một phần trong số hàng ngàn sự kiện được ghi nhận, và giáo sư Charcot cùng các đồng nghiệp đã tra cứu tư liệu từ kho lưu trữ pháp đình làm nền tảng lập luận; nhưng chúng ta chỉ cần giở vài trang của Des Mousseaux và cả rừng trước tác về những huyền nhiệm tâm linh và đồng cốt này, là thấy có một kho chứng cớ vô tận về sự tương tác bất thường của các mãnh lực huyền bí và sự quấy nhiễu qua lại giữa các cõi của người sống và kẻ chết.
CHAPTER XVII—CHAPTER XVII
CONCERNING SIBYLS—BÀN VỀ CÁC NỮ TIÊN TRI
AFTER a residence of only five months, Mrs. CooperOakley found her health suffering so much in India that about this time she had to leave us for home under medical orders. Our loss has been the very great gain of the London Headquarters, where, under a more bracing climate, she has done a prodigious amount of work.
Sau khi trú tại Ấn Độ chỉ năm tháng, bà Cooper-Oakley nhận thấy sức khỏe tổn hại nhiều đến mức vào thời điểm này bà buộc phải rời chúng tôi về nhà theo lệnh bác sĩ. Mất mát của chúng tôi đã trở thành món lợi rất lớn của Trụ sở London, nơi, dưới một khí hậu tiếp sức hơn, bà đã làm một khối lượng công việc đồ sộ.
Our London news of that week was more calming, as it appeared that, besides Mr. F. W. H. Myers of the S.P.R., nobody had resigned his membership. Whether or not a popular disbelief in the infallibility of professional handwriting experts influenced public opinion, or whether it was just the instinctive feeling that an accused person ought to have the benefit of the doubt, the fact above stated was gratifying to the colleagues of H.P.B. There was in the Theosophist (June, 1898) a reference to the late Mr. Montague Williams, Q.C.’s opinion of the value of this expert testimony. Since then a copy of Mr. Williams’ Leaves from a Life (Macmillan & Co., 1890) has been sent me by a friend in New Zealand, and I am able to show, by the testimony of that eminent leading counsel, [246] how unnecessary was our grief and distress on hearing that Mr. Netherclift had declared the K.H. letters forgeries by H.P.B. Mr. Williams tells (op. cit., p. 263) the story of a case of alleged libel by publication on a postal card, brought against Sir Francis Wyatt Truscott by one John Kearn. Messrs. Poland and Grain conducted the prosecution, while Sir John Holker, Mr. Williams, and Horace Avory represented the accused. The prosecutor and a lady swore to the identity of the handwriting, and the evidence of Charles Chabot and Frederick George Netherclift, professional experts, was then taken. Both swore positively to the writing on the postcard as being that of the defendant, Chabot pointing out in detail to the jury the turns of letters and flourishes, the dots, cross lines, and up and down strokes which bore him out in his decision; and Netherclift, pet of the S.P.R. and slayer of the Blavatsky Medusa, said “he had made handwriting a study during more than thirty years... and that, after minutely comparing the letters (of the defendant) with the postcard, he had independently come to the conclusion that the writer in both cases was the same. He produced a most elaborately written report, calling attention to the various similarities existing between the handwriting on the different documents, and, on being cross-examined, he adhered absolutely to the position he had taken up.” Alas! for the poor man. The defence put upon the stand one Mr. Thomas Flight Smith, an acquaintance of both the parties, the accused and accuser, who swore that he had himself written the [247] postcard as a friendly warning to Sir Francis, yet without malice to Mr. Kearn! His father, Mr. T. J. Smith, bore him out in the assertion, and produced three other postcards written by his son, Mr. Alderman Swan Nottage, who stated that he was a friend of the accused and the witness, Mr. T. F. Smith, and had received many letters from both, and was acquainted with their respective handwritting, swore “that the postcard was undoubtedly written, not by Sir Francis, but by Mr. Smith”. Mr. Williams adds: “The jury stated that they did not wish to hear any further evidence, and proceeded at once to pronounce a verdict of ‘Not Guilty’. So much for the evidence of experts in handwriting!”
Tin tức ở Luân Đôn trong tuần đó đem lại sự trấn an hơn, vì hoá ra, ngoài Ông F. W. H. Myers của S.P.R., không ai từ nhiệm tư cách hội viên. Việc dư luận công chúng có bị ảnh hưởng bởi sự hoài nghi phổ biến đối với tính bất khả sai của các chuyên gia giám định chữ viết tay hay không, hoặc đó chỉ là cảm thức bản năng rằng một người bị cáo buộc phải được hưởng lợi ích của sự nghi ngờ, thì sự kiện vừa nêu quả thật đem lại niềm vui cho các đồng sự của Bà H. P. B. Trong Theosophist (tháng Sáu, 1898) có dẫn ý kiến của cố Luật sư Montague Williams, Q.C., về giá trị của loại bằng chứng chuyên gia này. Từ đó đến nay, một người bạn ở New Zealand đã gửi cho tôi một bản của cuốn Leaves from a Life (Macmillan & Co., 1890) của Ông Williams, và tôi có thể cho thấy, bằng lời chứng của vị luật sư hàng đầu lừng danh ấy, [246] nỗi buồn và nỗi phiền não của chúng tôi khi nghe tin Ông Netherclift tuyên bố các thư của K.H. là do Bà H. P. B. giả mạo đã hóa ra không cần thiết dường nào. Ông Williams kể lại (sách đã dẫn, tr. 263) câu chuyện một vụ kiện vu khống bằng bưu thiếp, do một người tên John Kearn khởi tố chống lại Sir Francis Wyatt Truscott. Các ông Poland và Grain giữ vai công tố, còn phía bị cáo do Sir John Holker, Ông Williams và Horace Avory đại diện. Bên nguyên và một phụ nữ đã thề xác nhận tính đồng nhất của bút tích, rồi lời chứng của Charles Chabot và Frederick George Netherclift, các chuyên gia chuyên nghiệp, được lấy. Cả hai người đều quả quyết rằng chữ trên bưu thiếp là của bị đơn; Chabot còn tỉ mỉ chỉ cho bồi thẩm đoàn những chỗ uốn lượn và bay bướm của chữ cái, những dấu chấm, những gạch ngang dọc, các nét lên và xuống, là những điều củng cố phán quyết của ông; còn Netherclift, “con cưng” của S.P.R. và là “kẻ thủ tiêu” nàng Medusa Blavatsky, nói rằng “ông đã nghiên cứu chữ viết tay hơn ba mươi năm... và rằng, sau khi so sánh tỉ mỉ các bức thư (của bị đơn) với bưu thiếp, ông đã độc lập đi đến kết luận người viết trong cả hai trường hợp là cùng một người. Ông xuất trình một bản báo cáo được thảo một cách hết sức công phu, lưu ý đến các điểm tương đồng khác nhau giữa các bút tích trên những văn bản khác nhau, và khi bị đối chất, ông tuyệt đối giữ vững lập trường của mình.” Than ôi! cho người đàn ông khốn khổ ấy. Bên bào chữa mời ra một người tên là Ông Thomas Flight Smith, người quen của cả đôi bên, bị cáo và nguyên cáo, người đã thề rằng chính ông ta đã viết [247] bưu thiếp ấy như một lời cảnh báo thân thiện gửi Sir Francis, dẫu rằng không có ác ý với Ông Kearn! Cha ông ta, Ông T. J. Smith, xác nhận lời đó, và xuất trình ba bưu thiếp khác do con mình viết; Ông Nghị viên Swan Nottage, người nói rằng ông là bạn của bị cáo và nhân chứng, Ông T. F. Smith, và đã nhận được nhiều thư của cả hai, lại quen thuộc với bút tích của mỗi người, đã thề rằng “bưu thiếp chắc chắn do Ông Smith viết, chứ không phải Sir Francis”. Ông Williams bổ sung: “Bồi thẩm đoàn cho biết họ không muốn nghe thêm bằng chứng nào nữa, và lập tức tuyên án ‘Vô tội’. Ấy là về giá trị của bằng chứng các chuyên gia chữ viết vậy!”
So much, indeed; and notwithstanding the Arab proverb about the malodorousness of proffered advice, I will venture to recommend that copies of Mr. Montague Williams’ book and of the Report of the Parnell case be placed in the library of the S.P.R., for the benefit of those who care to know what the professional opinions of handwriting experts are sometimes worth. Poor H. P. B., how those S(leuthounds) of P(sychical) R(esearch) made thee suffer under the knouts of these experts!
Quả thế; và bất chấp câu tục ngữ Ả Rập về mùi xú uế của lời khuyên không được thỉnh, tôi xin mạo muội đề nghị rằng nên đặt các bản của sách Ông Montague Williams và Bản Tường Trình vụ Parnell vào thư viện của S.P.R., để những ai quan tâm biết rằng đôi khi ý kiến chuyên môn của các chuyên gia chữ viết đáng giá đến mức nào. Tội nghiệp Bà H. P. B., bọn “chó săn” của S.P.R. đã làm Bà chịu khổ biết bao dưới những roi vọt của các chuyên gia này!
On the Good Friday of that year I had had an interview with a Telugu Brahmin astrologer, the possessor of a palm-leaf copy of that wonderful old book of prophecies, the Bhima Grantham, who had greatly astonished me by his readings in that volume. In the Theosophist for May, 1885 (Vol. vi, number 8), [248] will be found my account of it, under the title “Indian Sibylline Books”. As prophecies acquire no value until their fulfilment, but after that become most important as proofs of the predictive faculty in man, my habit is to put on record all I hear of this sort, so that they may be cited at the proper time. That is why I published the revelations of the Telugu Brahmin at the time, and as thirteen years have now passed since then, it will be interesting to turn back to that number of the Theosophist and see what he foretold and how he did it. Several friends of ours told us that they had had read out of one of these ancient olas accurate details of their own lives, and prophecies about their affairs which had been literally fulfilled. They had also been allowed to verify the astrologer’s readings by consulting the book themselves. These friends told me, moreover, that in the course of their consultations it had transpired that their connection with our Society had been mentioned, and that the book contained much about the Society itself. On this account they had arranged the interview between the astrologer and myself, but only with much difficulty and after overcoming his objections to have a sitting with an European. Even then he would not do it until he had consulted the book itself, and learned from it the day, hour, and minute for the interview, the number of witnesses permissible, and the positions (relative to the cardinal points) to be assumed by the Brahmin and myself. At the appointed time we took our seats on the floor, on mats, in the Indian [249] fashion. The book, on being unwrapped, proved to be an ordinary palm-leaf volume, the characters etched on the leaves with a stylus. I judged it to be very old. The edges were much discolored and worn, and the characters black with age. The book was laid before me, the edges of the leaves upward, and I was told to take in my two hands the unwound binding-cord which passes through holes punched in every leaf, insert it between any two leaves I chose, and open it at that place. I did so, and the astrologer then read the contents of that and following pages. Notes were taken by one of the witnesses. The book said: “The inquirer is not a Hindu, but of foreign birth. He was born with the Moon in the constellation Pleiades, having the sign Leo in the ascendant.” Here follow some particulars of the personal sacrifices which I was said to have made for the public welfare. It then continued: “With a colleague, he organised a society for the propagation of Esoteric Philosophy (Brahmagnyanum). This colleague is a woman, of great power (sakti), high family, and, like himself, a foreigner. Though born so well, she too gave up everything, and for thirty years has been working in this same direction. Yet her karma is such as to compel her to endure great trouble and anxiety; and she is hated by her own kind (the white race), for whom she has worked so hard.” It then spoke of two white persons who had been most friendly, but had turned about, published bad stories about her, and tried to make the public doubt the genuineness of our movement.
Vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm ấy, tôi đã có một buổi gặp gỡ với một chiêm tinh gia Bà-la-môn người Telugu, người sở hữu một bản chép trên lá buông của cuốn sách tiên tri cổ kỳ diệu, Bhima Grantham, và ông đã khiến tôi vô cùng kinh ngạc bởi những điều ông đọc ra từ cuốn ấy. Trong Theosophist số tháng Năm, 1885 (Tập vi, số 8), [248] sẽ thấy tường thuật của tôi về việc này, dưới nhan đề “Những Sách Sibylline Ấn Độ”. Vì các lời tiên tri không có giá trị gì cho đến khi được ứng nghiệm, nhưng sau đó lại trở nên cực kỳ quan trọng như những chứng cứ về năng lực tiên tri nơi con người, nên thói quen của tôi là ghi chép tất cả những gì nghe được thuộc loại này, để đến lúc thích hợp có thể trích dẫn. Vì vậy tôi đã công bố những điều mặc khải của vị Bà-la-môn Telugu khi ấy, và vì nay đã mười ba năm trôi qua, hẳn sẽ thú vị nếu giở lại số Theosophist đó để xem ông đã tiên tri điều gì và cách ông làm điều đó. Vài người bạn của chúng tôi cho biết họ đã được đọc ra từ một trong những tập ola cổ ấy những chi tiết chính xác về đời họ, và những lời tiên tri liên quan đến công việc của họ đã được ứng nghiệm từng chữ. Họ cũng được phép kiểm chứng các phần đọc của nhà chiêm tinh bằng cách tự mình tham khảo sách. Hơn nữa, các bạn ấy nói với tôi rằng trong quá trình tham vấn, đã lộ ra việc mối liên hệ của họ với Hội của chúng ta được nhắc đến, và rằng cuốn sách chứa nhiều điều về chính Hội. Vì lẽ đó họ đã thu xếp buổi gặp gỡ giữa nhà chiêm tinh và tôi, nhưng chỉ sau rất nhiều khó khăn và sau khi đã vượt qua sự phản đối của ông đối với việc có một buổi xem với một người châu Âu. Ngay cả khi ấy ông cũng không chịu làm nếu chưa tham khảo chính cuốn sách, và từ đó biết được ngày, giờ và phút của cuộc gặp, số lượng nhân chứng được phép, và vị trí (so với bốn phương) mà vị Bà-la-môn và tôi phải ngồi. Đến giờ hẹn, chúng tôi ngồi xuống sàn, trên các tấm chiếu, theo lề lối Ấn Độ [249]. Khi mở bọc, cuốn sách lộ ra là một tập lá buông bình thường, các ký tự được khắc trên lá bằng một bút khắc. Tôi phỏng đoán nó rất cổ. Mép lá ngả màu và mòn nhiều, các ký tự đen kịt theo năm tháng. Sách được đặt trước mặt tôi, các mép lá hướng lên, và tôi được bảo cầm bằng hai tay sợi dây buộc đã tháo, sợi dây xuyên qua lỗ đục trên mỗi lá, luồn nó vào giữa bất kỳ hai lá nào tôi muốn, và mở ra tại đó. Tôi làm vậy, rồi nhà chiêm tinh đọc nội dung của trang ấy và các trang tiếp theo. Một trong các nhân chứng ghi chép lại. Sách nói: “Người hỏi không phải là một người Ấn, mà là người ngoại quốc. Ông sinh khi Mặt Trăng ở chòm Sao Thất Nữ (Pleiades), với dấu Sư Tử ở đài thiên (ascendant).” Sau đó là vài chi tiết về các hy sinh cá nhân mà tôi được nói đã làm vì phúc lợi công cộng. Rồi tiếp: “Cùng với một đồng sự, ông tổ chức một hội nhằm truyền bá Triết học Huyền Bí (Brahmagnyanum). Đồng sự này là một phụ nữ, có quyền năng lớn (shakti), thuộc gia đình danh giá, và, như ông, là người ngoại quốc. Dù sinh trưởng cao sang như vậy, Bà cũng từ bỏ tất cả, và trong ba mươi năm đã làm việc theo cùng hướng ấy. Tuy nhiên, nghiệp quả của Bà buộc Bà phải chịu nhiều khổ não và ưu phiền; và Bà bị chính đồng loại của mình (chủng tộc da trắng) căm ghét, cho dù Bà đã làm việc nhọc nhằn vì họ.” Rồi sách nói đến hai người da trắng vốn rất thân thiện, nhưng đã trở mặt, công bố các câu chuyện xấu về Bà, và tìm cách làm công chúng nghi ngờ tính chân thực của phong trào của chúng tôi.
[250]
[250]
“Many phenomena have been shown in connection with the Society,” it went on to say, “and letters received by the Founders from their Teachers have been injudiciously made public: this has been the cause of all the present trouble.” The prophecy then followed that our Society would survive me by many years, and, to my surprise, for the two friends present were not aware of it any more than the astrologer, the book told about a private meeting of myself and others (that at Dewan Bahadur Raghoonath Row’s private house which I have mentioned in the last chapter) held the day before, with the subject of our discussion, and prophesied the issue correctly. “The Society,” said the book, “is now passing through a dark cycle, which began seven months and fourteen days ago, and will last nine months and sixteen days more; making for the whole period seventeen months exactly.”
“Nhiều hiện tượng đã được biểu diễn liên quan đến Hội,” sách nói tiếp, “và các thư do những Vị Thầy gửi cho các nhà Sáng Lập đã bị công bố một cách thiếu khôn ngoan: đây là nguyên nhân của mọi rắc rối hiện tại.” Rồi lời tiên tri rằng Hội của chúng ta sẽ tồn tại nhiều năm sau khi tôi qua đời, và, khiến tôi ngạc nhiên, vì hai người bạn có mặt không biết điều này cũng như nhà chiêm tinh, sách đã kể về một buổi họp riêng tư của tôi và một số người khác (buổi ở tư gia Ông Dewan Bahadur Raghoonath Row mà tôi đã nhắc ở chương trước) diễn ra ngày hôm trước, với chủ đề thảo luận của chúng tôi, và đã tiên đoán kết cục một cách chính xác. “Hội,” sách nói, “hiện đang đi qua một chu kỳ tăm tối, bắt đầu cách đây bảy tháng mười bốn ngày, và sẽ kéo dài thêm chín tháng mười sáu ngày nữa; tổng cộng đúng mười bảy tháng.”
Counting backward from the date of the interview, we come to the time, in 1884, of the attack of the Missionaries upon H.P.B., which goes to the book’s credit; and, tracing forward in the light of events, the prophecy as to the passing away of the Society’s dark cycle and the beginning of a brighter one we find corroborated. Meanwhile, what had happened was my Indian tour of 1885, which proved a very great success, adding seventeen new Branches to our roll, and which certainly was not to be anticipated by either the astrologer or my two Hindu friends who brought him to me. That “dark cycle” of 1885 was a more serious crisis’ than any we have traversed since, even that of the Judge secession, [251] for the Society was not then as impregnable in its organisation, the numerical strength of its membership, or its geographical distribution, as it was when the great blow was struck at its life by its quondam VicePresident across the Atlantic.
Đếm ngược từ ngày cuộc gặp, chúng ta trở về thời điểm, năm 1884, khi các Nhà Truyền giáo tấn công Bà H. P. B., điều này tính vào công của cuốn sách; và, lần theo tương lai dưới ánh sáng sự kiện, chúng ta thấy lời tiên tri về việc chu kỳ tối tăm của Hội chấm dứt và một chu kỳ sáng sủa hơn bắt đầu đã được xác chứng. Trong khi đó, điều đã xảy ra là chuyến công du Ấn Độ năm 1885 của tôi, chuyến đi tỏ ra rất thành công, khiến danh sách của chúng ta tăng thêm mười bảy Chi hội, và điều này chắc chắn chẳng thể được dự đoán trước bởi nhà chiêm tinh hay hai người bạn Ấn của tôi, những người đã đưa ông tới với tôi. “Chu kỳ tăm tối” năm 1885 ấy là một cơn khủng hoảng nghiêm trọng hơn bất cứ khủng hoảng nào chúng ta vượt qua kể từ đó, ngay cả vụ ly khai của Ông Judge, [251] vì lúc ấy Hội chưa vững chắc trong tổ chức, chưa mạnh về số lượng hội viên, hay về phân bố địa lý, như khi đòn chí mạng giáng xuống sinh mệnh của Hội từ phía vị Phó Chủ tịch một thời của Hội ở bên kia Đại Tây Dương.
The question, so often put me as to my belief in astrology, will naturally recur in this connection. I must answer it as I always have, that I have not yet had evidence enough to warrant my saying I either believe or disbelieve. Many facts in the experience of others, some in my own, go towards proving the truth of this alleged science, yet not enough for a cautious man to base thereon a positive belief. I am waiting, most ready to be convinced, yet determined not to say I am unless I have a good case to go with to the jury of sensible men. It seems as if we can never say what there is in astrology until we have learned all there is in thought-transference. Who is to say that when I sat with that Telugu astrologer he may not have clairvoyantly read my history and traced out his sequel in my own mind or my aura? And although I was permitted to examine his time-worn book of palm-leaves, and his readings were verified by the two Telugu friends who took notes of his readings, that leaves open two questions, viz. (1) Did he throw a glamor (hypnotic) over our eyes to make us see what was not on the pages? (2) Was he a cheat who had by hook or by crook found out about the T.S. and its founders, prepared fresh pages of olas, made them look old by discoloring them, and inserted them among [252] the rest? There is not much weight in either of these hypotheses, still one must think of all alternatives and suspend judgment until all the needed proofs are in. The astrologer, or let us say his book, ventured one prophecy which ought to be recalled from time to time as a test of the science. He said that at the time of my death “the Society would have 156 principal Branches, not counting minor ones, and in them will be enrolled 5000 members. Many Branches will rise and expire, many members come and go before then”. I, myself, was to live from this hour (viz., 3rd April, 1885, afternoon) “28 years, 5 months, 6 days, 14 hours,” which would bring us to early morning of September 9, A.D. 1913. Here we have accuracy, beyond dispute, and it only remains for somebody who survives me to enter this prognostic in his commonplace book and write to the then Editor of Theosophist about a thing which, probably, everybody else will have forgotten! I am quite ready to believe that the prophecy will be correct to within a year or two. As to the strength of the Society at that time, it seems as if there is a mistake, for already we have about 400 living charters and more members. However, we shall see.
Câu hỏi, thường được nêu với tôi về niềm tin của tôi đối với chiêm tinh học, tự nhiên lại xuất hiện trong bối cảnh này. Tôi phải trả lời như tôi vẫn luôn, rằng tôi chưa có đủ bằng cớ để có thể nói mình tin hay không tin. Nhiều sự kiện trong kinh nghiệm của người khác, và một ít trong chính kinh nghiệm của tôi, góp phần chứng minh chân lý của khoa học được gọi là này, nhưng vẫn chưa đủ để một người thận trọng lấy đó làm cơ sở cho một niềm tin xác quyết. Tôi đang chờ đợi, rất sẵn lòng để được thuyết phục, nhưng quyết không tuyên bố mình tin trừ khi có một hồ sơ đủ vững để mang ra trước “bồi thẩm đoàn” của những người biết điều. Có vẻ như chúng ta khó mà nói được chiêm tinh học chứa đựng gì cho đến khi chúng ta biết hết những gì có trong sự chuyển tư tưởng (viễn cảm). Ai có thể nói rằng khi tôi ngồi với nhà chiêm tinh Telugu ấy, ông ta đã không đọc một cách thông nhãn lịch sử đời tôi và lần theo hậu truyện của nó trong chính thể trí tôi hoặc trong hào quang của tôi? Và mặc dù tôi được phép xem cuốn sách lá buông đã sờn cũ của ông ta, và các phần ông đọc được hai người bạn Telugu ghi chép lại kiểm chứng, điều đó vẫn để ngỏ hai câu hỏi, tức là: (1) Có phải ông ta đã ném một ảo cảm (thôi miên) lên mắt chúng tôi để khiến chúng tôi thấy những gì không có trên trang sách? (2) Có phải ông ta là kẻ lừa đảo, bằng cách này hay cách khác đã tìm hiểu về T.S. và các nhà sáng lập, rồi chuẩn bị những trang ola mới, làm cho chúng trông cũ bằng cách nhuộm đổi màu, và nhét chúng vào giữa [252] các lá khác? Cả hai giả thuyết này đều không có nhiều sức nặng, tuy vậy ta phải nghĩ đến mọi khả năng và treo phán đoán cho đến khi mọi bằng cớ cần thiết có đủ. Nhà chiêm tinh, hay nói cho đúng là cuốn sách của ông, đã mạnh dạn đưa ra một lời tiên tri mà chúng ta nên thỉnh thoảng nhắc lại như một phép thử cho khoa học này. Ông nói rằng vào lúc tôi qua đời “Hội sẽ có 156 Chi hội chính, chưa kể các chi hội phụ, và trong đó sẽ có 5000 hội viên ghi danh. Nhiều Chi hội sẽ mọc lên rồi tàn, nhiều hội viên đến rồi đi trước lúc ấy.” Về phần tôi, tôi sẽ sống kể từ giờ này (tức là, chiều ngày 3 tháng Tư, 1885) “28 năm, 5 tháng, 6 ngày, 14 giờ,” tức là đến rạng sáng ngày 9 tháng Chín, năm 1913. Ở đây chúng ta có độ chính xác, không thể tranh cãi, và chỉ còn việc để ai đó sống lâu hơn tôi ghi lời dự báo này vào sổ tay và viết cho vị Biên tập Theosophist lúc bấy giờ về một điều mà có lẽ mọi người khác sẽ quên khuấy! Tôi sẵn sàng tin rằng lời tiên tri sẽ đúng trong khoảng một hai năm. Còn về lực lượng của Hội vào lúc ấy, có vẻ như có sự nhầm lẫn, vì hiện nay chúng ta đã có khoảng 400 điều lệ sống và số hội viên nhiều hơn. Dẫu sao, chúng ta sẽ xem.
The interested reader will find much about the books of the Cumæan and other Roman Sibyls, and those of Egypt, in the article above mentioned (May, 1885, Theosophist). It is a historical fact that the Sibylline Books were so accurate in all their fateful prophecies about the Roman state, that for over two [253] centuries they were kept under the strict custody of duumvirs, until Sulla increased the number to fifteen. They were consulted only at times of great national crisis. St. Augustine (De Civitate Dei, lib. xviii, c. 23) defends their veracious character, and the Early Fathers generally held them in reverence, as it is alleged they prophesied the advent, life, and sufferings of Jesus Christ.
Bạn đọc quan tâm sẽ tìm thấy nhiều điều về các sách của nữ tiên Cumæ và các nữ tiên La Mã khác, cũng như của Ai Cập, trong bài viết đã nói trên (Tháng Năm, 1885, Theosophist). Sự thật lịch sử là các Sách Sibylline đã chính xác đến mức trong mọi lời tiên tri hệ trọng liên quan đến quốc gia La Mã, mà suốt hơn hai [253] thế kỷ chúng được giữ dưới sự trông coi nghiêm ngặt của hai vị giám thủ (duumvirs), cho tới khi Sulla tăng số lên mười lăm. Chúng chỉ được tham khảo vào những thời khắc khủng hoảng quốc gia lớn. Thánh Augustine (De Civitate Dei, quyển xviii, chương 23) đã bênh vực tính chân thực của chúng, và các Giáo phụ thời kỳ đầu nhìn chung đều tôn kính chúng, vì người ta nói rằng chúng đã tiên tri về sự đản sinh, đời sống và khổ nạn của Đức Jesus Christ.
Whatever the actual value of the astrologer’s revelations to me on that Good Friday, it is the fact that they cheered us up at a time of gloom, and no doubt helped to give me the courage to go forth on my public tours of that year. Mr. T. Subba Row went with Judge P. Sreenivasrow to consult another astrologer in Madras, who also possessed a nadigrantham, but with most unsatisfactory results, as he tells the public in an article on “Nadigranthams and Their Interpreters “, which he contributed to the Theosophist for July, 1885. He was an extremely enlightened and advanced esotericist, and his views are entitled to the most serious consideration. The astrologer visited failed in every instance to give a correct answer, and what he read or pretended to read from his book proved to be rubbish. The one case therefore offsets the other and leaves us as far as ever from having a satisfactory answer to the question whether the Nadigranthams deserve to be held in the high repute they enjoy throughout India. But then, again, we have the verified prognostics of my astrologer, and still further, the open question of telepathy and clairvoyance. The late Mr. Judge took a hand in the discussion of the question, [254] giving his views in an article (“The Nadigranthams”) in the Theosophist for October, 1885. He contends that my case and that of Mr. Subba Row are not identical, as I seem to have got hold of a genuine nadi, and the other gentleman of a false one and a tricky astrologer. “It is,” he writes, “by no means proved that no nadi is trustworthy, and that at no time could they be relied on... Can, then, books or leaves be made or procured which may be used in the way pretended? I say that they can, and that there are two or more modes of doing it.” He first postulates the astrologer’s having the faculty of prevision or clairvoyance with which” he could have given all the details related quite easily with the aid of a few figures, letters, or verses”. His second is that” it is possible to cast up certain astrological figures to be used on certain days and hours, and for certain classes of questions, from which a large number of replies and predictions can be given that would startle the average hearer, and be true not only to the past but also to the future.... A large number of leaves could be prepared which would enable one to make replies to any kind of question at once “—i.e., at that same sitting. This again I give for what it may be worth, having no great belief in Mr. Judge’s having possessed any very notable predictive power of an occult kind. The one fact that there is throughout the world at this present moment an intense and growing interest in astrology and all the “occult” sciences is sufficient excuse for my having diverged so widely from the episode of the [255] astrologer’s visit to Headquarters, at the time with which our historical narrative is now concerned.
Dù giá trị thực tế của những điều nhà chiêm tinh tiết lộ cho tôi vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ấy ra sao, thì sự thật là chúng đã khiến chúng tôi phấn chấn trong một thời kỳ u ám, và hẳn đã giúp tôi có can đảm lên đường trong các chuyến diễn thuyết công cộng năm đó. Ông T. Subba Row cùng với Thẩm phán P. Sreenivasrow đã đi gặp một nhà chiêm tinh khác ở Madras, người cũng sở hữu một nadigrantham, nhưng với kết quả hết sức không thỏa đáng, như ông đã nói với công chúng trong một bài viết “Nadigranthams và Những Người Giải Đoán Chúng”, đăng trên Theosophist số tháng Bảy, 1885. Ông là một nhà bí truyền học vô cùng sáng suốt và tiến bộ, và các quan điểm của ông đáng được xem xét hết sức nghiêm túc. Vị chiêm tinh được thỉnh đến đã thất bại trong mọi trường hợp khi đưa ra câu trả lời đúng, và những gì ông đọc – hay giả vờ đọc – từ cuốn sách của mình tỏ ra là rác rưởi. Do đó, một trường hợp này đã hóa giải trường hợp kia và để chúng ta vẫn xa mới có được một câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi liệu các Nadigrantham có xứng đáng với danh tiếng cao mà chúng được hưởng khắp Ấn Độ hay không. Nhưng rồi, một lần nữa, chúng ta lại có những lời dự báo đã được kiểm chứng của nhà chiêm tinh của tôi, và hơn nữa, là câu hỏi còn bỏ ngỏ về viễn cảm và thông nhãn. Cố Ông Judge đã góp phần vào cuộc thảo luận về vấn đề này, [254] trình bày quan điểm của mình trong một bài (“Các Nadigranthams”) trên Theosophist số tháng Mười, 1885. Ông cho rằng trường hợp của tôi và của Ông Subba Row không đồng nhất, vì tôi dường như đã gặp được một nadi chân thực, còn vị kia thì gặp phải một nadi giả và một nhà chiêm tinh ma mãnh. “Điều chưa hề được chứng minh,” ông viết, “là không có nadi nào đáng tin, và rằng không bao giờ có thể cậy nhờ chúng... Vậy, có thể tạo ra hoặc kiếm được những cuốn sách hay những lá để dùng theo cách người ta nói hay không? Tôi nói rằng có thể, và có hai hay nhiều cách để làm điều đó.” Trước hết ông giả định nhà chiêm tinh có năng lực dự tri hay thông nhãn nhờ đó “ông ta có thể dễ dàng đưa ra tất cả các chi tiết đã kể chỉ với sự hỗ trợ của vài con số, chữ cái hay câu kệ”. Khả năng thứ hai là “có thể lập các đồ hình chiêm tinh nhất định để sử dụng vào những ngày và giờ nhất định, và cho những nhóm câu hỏi nhất định, từ đó có thể đưa ra một số lượng lớn các câu trả lời và lời tiên tri đủ làm kinh ngạc người nghe trung bình, và đúng không chỉ với quá khứ mà còn với tương lai... Có thể chuẩn bị một số lượng lớn các lá để cho phép người ta đưa ra câu trả lời cho bất kỳ loại câu hỏi nào ngay lập tức” — tức là ngay trong buổi xem đó. Điều này, một lần nữa, tôi kể lại để quý vị cân nhắc, bởi tôi không mấy tin rằng Ông Judge có một năng lực tiên tri đáng kể nào thuộc loại huyền bí. Một sự thật là hiện nay trên khắp thế giới đang có một mối quan tâm mãnh liệt và ngày càng tăng đối với chiêm tinh học và tất cả các “khoa học huyền bí” là đã đủ lý do để tôi rẽ khỏi khá xa câu chuyện về [255] chuyến ghé của nhà chiêm tinh tới Trụ sở vào thời điểm mà câu chuyện lịch sử của chúng ta hiện đang đề cập.
As I had no mind to accept blindly the revelations of the Bhima Grantham—the palm-leaf book in question—and as I had not had time to handle and examine it during the séance with the Telugu Brahmin, I went to Mylapore with Ânanda to hunt him up. I was allowed to examine it as closely as I chose. Any doubt I may have had about the Pandit’s having befooled me with bogus leaves intercalated among the others was set at rest, for every leaf was unquestionably ancient and equally time-worn with the rest. My notes say: “I saw the book, handled and examined it. It contains 300 answers to questions written with an iron stylus on palm olas, is perhaps 500 years old, and written in Telugu. There seems no doubt as to its genuineness.” And yet the wonder but deepens that out of those mere 300 answers, the Pandit should have found a number relating to the history and destiny of our Society. Had these verses been waiting five centuries to be read to the right questioner when he should appear in the year 1885? It seems absurd on the face of it, yet the incidents of the interview have been truthfully reported, and my account will be corroborated, I am sure, by Mr. G. Soobbiah Chetty, now the incumbent of an influential office in the Madras Sea-Customs Bureau. How, then, explain the riddle? First, fraudulent conspiracy between the Pandit and the brothers Chetty who brought him to me. But they were ignorant of facts read, or seemingly read, [256] from the Bhima Grantham; for example, the private meeting at Dewan Bahadur R. Raghoonath Row’s house, the nature of our discussion, and the policy determined upon; then as to the outcome of the events at that crisis, with the fixing of the exact times of their fruition. Secondly (if the Pandit had the faculty of psychic vision), the reading by him of the pictures stored up in the “Astral Light”. Thirdly, his power to compel subservient elementals to cast a glamor over the eyes of the two Telugu witnesses, to compel them to be blind to the actual writing on the leaves turned over, and to read there the totally different sentences about the Society and its Founders which he read out to us. Fourthly (and lastly, for I can form no other hypothesis), instead of his compelling enslaved elementals to cast the glamor over our eyes, it is conceivable that he might have been an ordinary medium, like the famed Govind Chetty, of Kumbakonam, and under the control of elementals or other entities who made him, their passive agent, see what they wished him to see, and not what was on the page before his eyes. In either case it is a very interesting problem.
Vì tôi không định chấp nhận một cách nhắm mắt các mặc khải của Bhima Grantham — cuốn sách lá buông đang nói tới — và vì tôi đã không có thời gian cầm nắm và xem xét nó trong buổi tiếp xúc với vị Bà-la-môn Telugu, tôi đã đến Mylapore cùng Ânanda để tìm ông. Tôi được phép khảo sát nó kỹ đến mức tôi muốn. Mọi hoài nghi tôi có thể có về việc vị Pandit đã đánh lừa tôi bằng cách chen vào những lá giả giữa các lá khác đã được giải tỏa, vì mỗi lá không nghi ngờ gì đều cổ xưa và đều sờn cũ như nhau. Ghi chép của tôi viết: “Tôi đã thấy cuốn sách, cầm và xem xét nó. Nó chứa 300 câu trả lời cho các câu hỏi, được viết bằng bút sắt trên lá buông, có lẽ 500 năm tuổi, và viết bằng tiếng Telugu. Có vẻ không nghi ngờ gì về tính xác thực của nó.” Vậy mà điều kỳ lạ lại càng sâu thêm khi từ chỉ 300 câu trả lời đó, vị Pandit lại tìm thấy được một số câu liên quan tới lịch sử và vận mệnh của Hội chúng ta. Lẽ nào những câu kệ ấy đã chờ đợi năm thế kỷ để được đọc cho đúng người hỏi khi ông ta xuất hiện vào năm 1885? Nghe qua thì có vẻ vô lý, thế nhưng các sự kiện của buổi gặp gỡ đã được thuật lại trung thực, và tôi chắc chắn, tường thuật của tôi sẽ được ông G. Soobbiah Chetty, nay là người đảm nhiệm một chức vụ có ảnh hưởng trong Nha Hải quan Madras, xác nhận. Vậy thì giải thích câu đố này thế nào? Thứ nhất, âm mưu gian dối giữa vị Pandit và hai anh em nhà Chetty đã dẫn ông đến với tôi. Nhưng họ không biết những sự kiện đã được đọc, hay dường như đã được đọc, [256] từ Bhima Grantham; chẳng hạn, buổi họp riêng tại nhà Ông Dewan Bahadur R. Raghoonath Row, nội dung thảo luận của chúng tôi, và chính sách đã quyết định; rồi đến kết cục của các sự kiện trong cơn khủng hoảng ấy, với việc ấn định chính xác thời điểm chúng kết trái. Thứ hai (nếu vị Pandit có năng lực thị kiến thông linh), là việc ông đọc các bức ảnh được lưu trữ trong “Ánh sáng cảm dục”. Thứ ba, quyền năng của ông trong việc buộc các hành khí phụng sự mình phải ném một ảo cảm lên mắt hai nhân chứng Telugu, khiến họ mù với những gì thực sự viết trên các lá được lật, và đọc ra ở đó những câu hoàn toàn khác về Hội và các Nhà Sáng Lập của Hội mà ông đã đọc cho chúng tôi. Thứ tư (và sau cùng, vì tôi không thể nêu thêm giả thuyết nào khác), thay vì ông bắt các hành khí nô dịch tạo ảo cảm lên mắt chúng tôi, có thể hình dung rằng ông chỉ là một đồng tử bình thường, như Govind Chetty lừng danh ở Kumbakonam, và bị các hành khí hay những thực thể khác khống chế, những kẻ khiến ông — người đại diện thụ động — nhìn thấy điều họ muốn ông thấy, chứ không phải những gì có trên trang trước mắt. Dù ở trường hợp nào, đây cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.
The Council decided, April 18th, to finish the re-building of the former “Shrine Room” upstairs, which, in disgust at its defilement by the Coulomb conspirators, I had had demolished on my return from Europe, and to use it as a library, collecting together our several small stores of books. Our modest plan was very soon altered by the rapid accumulation [257] of Sanskrit MSS. and other literature which about this time began. The Adyar Library building was soon projected and built, as we shall see later on.
Hội đồng đã quyết định, ngày 18 tháng Tư, hoàn tất việc xây dựng lại “Phòng Thánh tích” trước đây ở tầng trên, vốn do tôi, trong sự ghê tởm trước việc nó bị những kẻ âm mưu nhà Coulomb làm ô uế, đã cho phá bỏ khi tôi trở về từ châu Âu, và dùng nó làm thư viện, gom các kho sách nhỏ lẻ của chúng tôi lại. Kế hoạch khiêm tốn của chúng tôi đã sớm thay đổi bởi việc tích lũy nhanh chóng [257] các thủ bản Sanskrit và những tài liệu khác bắt đầu vào khoảng thời gian này. Toà nhà Thư viện Adyar chẳng bao lâu được dự thảo và xây dựng, như chúng ta sẽ thấy sau.
Meanwhile our dear H.P.B. and party were on their way to Europe. I heard from them from each port of call, and, May 20th, their arrival at Naples and landing. They found cheap lodgings at Torre del Greco, near Vesuvius, and settled down to bear their exile as best they might.
Trong khi đó, Bà H. P. B. thân yêu của chúng ta và đoàn thì trên đường sang châu Âu. Tôi nhận được thư từ họ ở mỗi cảng tàu ghé, và, ngày 20 tháng Năm, về việc họ tới Naples và lên bờ. Họ tìm được chỗ trọ rẻ ở Torre del Greco, gần Vesuvius, và thu xếp để chịu đựng cảnh lưu đày của mình tốt nhất có thể.
To be able to answer one of Mme. Coulomb’s shocking slanders about H.P.B. having been the mother of illicit offspring at Cairo, I sent for a respectable Tamil woman who had helped nurse H.P.B. throughout her dangerous illnesses of February, and, of course, had had to discover her exact physical state. As might have been expected by all who knew H.P.B.’s character intimately, the ayah affirmed and declared her willingness to go into court and testify that her late mistress had never been a mother. She even went so far as to say that whatever marriage she had contracted must have been a merely nominal one. Adult readers will understand my meaning.
Để có thể trả lời một trong những lời vu khống kinh khủng của Madame Coulomb về việc Bà H. P. B. đã từng là mẹ của đứa con ngoài hôn thú ở Cairo, tôi cho gọi một phụ nữ Tamil có tư cách, người đã giúp chăm sóc Bà H. P. B. trong cơn bệnh hiểm nghèo hồi tháng Hai, và dĩ nhiên, buộc phải biết rõ tình trạng thể xác chính xác của Bà. Như tất cả những ai hiểu thấu tính cách của Bà H. P. B. đều có thể mong đợi, người vú chăm ấy xác nhận và tuyên bố sẵn lòng ra toà làm chứng rằng chủ nhân quá cố của bà chưa từng là một người mẹ. Bà ta thậm chí còn nói rằng bất kỳ cuộc hôn nhân nào mà Bà đã kết ắt hẳn chỉ là trên danh nghĩa. Người đọc trưởng thành sẽ hiểu ý tôi.
At about this time news was received from Paris that our sole surviving French Honorary Fellow Alphonse Cahagnet, was dead. He and the late Baron Du Potét were our only two, and both were distinguished authorities in psychical science. The first book of Cahagnet’s that I read was his Celestial Telegraph, which appeared in its English translation at New York in about the year 1851. It was almost the first [258] of my reading about the clairvoyant faculty and modern ecstatical visions of the world of spirits. Unfortunately I never had the chance of conversing with its honest and enthusiastic author, but he sent me his photograph and that of his wife, the ecstatic “Adéle”, which I keep hanging in my private rooms. Not a visitor has ever guessed that the heavy-bodied peasant woman of the picture was even a clairvoyant at all, let alone that soaring visionary whose soul-flights through space took her to supernal planes, where she was swallowed up in a great blinding light, that drove back the less ethereal clairvoyants whom Cahagnet sometimes set to watching her in her upward progress. Elsewhere, when writing on the subject of clairvoyance, I have quoted from Cahagnet’s book his description of the agony felt by him on finding himself powerless to draw Adéle’s soul back into her body when she felt so merged in the spirit sphere as to declare she should never re-enter the “corpse” that seemed so repugnant to her. He tells us that the body began to even change color like a real corpse, and show the preliminary signs of decomposition; while he, in the greatest distress and fear, vainly brought his strongest will to bear upon her soul to come back, and not leave him to be perhaps tried for murdering the adored wife of his bosom. Poor man! his plight is one that many have, and anyone may, experience. The last resource that he employed was prayer to God, which succeeded. Of course it would in the case of a man of his temperament, for by praying he raised his [259] consciousness and yearning to the celestial levels on which Adéle was functioning, and so got into touch with her as he could not by the mere use of his brain-power. If one sets out to chase a bird, one must get bird’s wings and fly after it; to walk on the ground will be useless.
Vào khoảng thời gian này, có tin từ Paris báo về rằng Hội viên Danh dự người Pháp duy nhất còn sống của chúng ta, Ông Alphonse Cahagnet, đã qua đời. Ông và cố Nam tước Du Potét là hai người duy nhất của chúng ta, và cả hai đều là các nhà thẩm quyền xuất sắc trong khoa học thông linh. Cuốn sách đầu tiên của Cahagnet mà tôi đọc là Celestial Telegraph, xuất bản bản dịch tiếng Anh tại New York vào khoảng năm 1851. Nó gần như là cuốn [258] đầu tiên tôi đọc về năng lực thông nhãn và các thị kiến xuất thần hiện đại về thế giới linh hồn. Tiếc là tôi chưa từng có dịp đàm đạo với tác giả chân thật và nhiệt thành ấy, nhưng ông đã gửi cho tôi bức ảnh của ông và của vợ ông, “Adéle” người xuất thần, mà tôi treo trong phòng riêng. Chưa có vị khách nào từng đoán rằng người phụ nữ nặng nề, đậm người trong bức ảnh lại là một người có thông nhãn, chứ đừng nói là nữ hành giả xuất thần, người có những chuyến “bay” của linh hồn qua không gian đến các cõi siêu thăng, nơi bà bị nuốt trọn trong một ánh sáng chói lòa lớn lao, khiến những nhà thông nhãn kém tinh tế hơn mà Cahagnet đôi khi sắp đặt để theo dõi bà trong hành trình đi lên phải lùi lại. Ở nơi khác, khi viết về đề tài thông nhãn, tôi đã trích từ sách của Cahagnet đoạn miêu tả nỗi thống khổ của ông khi thấy mình bất lực trong việc kéo linh hồn của Adéle trở về thân xác khi bà cảm thấy hòa nhập đến vậy vào cõi linh, đến nỗi tuyên bố rằng bà sẽ không bao giờ quay lại “cái xác” khiến bà ghê sợ. Ông kể rằng cơ thể đã bắt đầu đổi màu như một xác chết thật sự, và lộ các dấu hiệu khởi đầu của phân hủy; còn ông, trong trạng thái muộn phiền và sợ hãi tột độ, đã vô ích huy động ý chí mạnh mẽ nhất của mình để van nài linh hồn bà trở về, chứ đừng để ông có thể bị đem ra xét xử về tội sát hại người vợ yêu dấu của ông. Người đáng thương! Cảnh ngộ của ông là chuyện nhiều người đã, và bất kỳ ai cũng có thể, trải qua. Phương sách cuối cùng ông dùng là cầu nguyện Thượng đế, và điều đó đã thành công. Tất nhiên điều đó sẽ thành công trong trường hợp một người có khí chất như ông, vì khi cầu nguyện ông đã nâng [259] tâm thức và khát vọng của mình lên các tầng trời nơi Adéle đang vận hành, nhờ vậy ông chạm nối được với bà theo cách mà chỉ dùng sức mạnh bộ não thì không thể. Nếu ta định đuổi theo một con chim, ta phải có đôi cánh của chim và bay theo; đi bộ dưới đất sẽ vô ích.
In pursuance of the policy of propaganda adopted by the Council, I left Madras, May 9, for Vellore, in company with Messrs. R. Raghoonath Row, P. Sreenivas Row, C. Ramiah, and L. V. V. Naidu. Addresses were delivered by the Dewan Bahadur in Tamil, and myself in English. The Councillors returned to Madras, but Doraswamy kept on with me. Our next station was Arcot, where we reorganised the local Branch, then in that sort of compulsory pralaya because of the transfer to other stations of active members in Government service, which is so often happening throughout India. We went to Arnee next, where a new Branch was organised; thence to Chittoor, where there was prepared for our delectation much music, many fragrant garlands, and a procession of the 90 boys in the Sanskrit school that our Branch had formed. At 8 p.m. on the 17th we started for Madras and got home the following morning. The results of this short tour were: 1 Branch revived, 1 new one formed, 10 new members admitted, and the T. S. movement put on a healthy footing throughout that district.
Triển khai theo chính sách truyền bá được Hội đồng thông qua, tôi rời Madras ngày 9 tháng Năm để tới Vellore, cùng đi có các ông R. Raghoonath Row, P. Sreenivas Row, C. Ramiah và L. V. V. Naidu. Các bài diễn thuyết do Ông Dewan Bahadur nói bằng tiếng Tamil, còn tôi bằng tiếng Anh. Các Ủy viên Hội đồng trở về Madras, nhưng Doraswamy tiếp tục đi với tôi. Trạm dừng kế tiếp là Arcot, nơi chúng tôi tổ chức lại Chi hội địa phương, khi ấy đang trong tình trạng “Giai kỳ qui nguyên” bắt buộc vì các hội viên năng nổ trong ngạch công vụ thường xuyên bị thuyên chuyển đi nơi khác — điều rất hay xảy ra trên khắp Ấn Độ. Chúng tôi đến Arnee tiếp theo, nơi một Chi hội mới được thành lập; rồi đến Chittoor, nơi có sẵn cho chúng tôi rất nhiều âm nhạc, nhiều vòng hoa thơm ngát, và một cuộc rước gồm 90 em trai của trường Sanskrit do Chi hội chúng ta thành lập. Lúc 8 giờ tối ngày 17 chúng tôi lên đường về Madras và sáng hôm sau về đến nhà. Kết quả của chuyến ngắn này là: 1 Chi hội được phục hồi, 1 Chi hội mới thành lập, 10 hội viên mới được thu nhận, và phong trào T.S. được đặt trên nền tảng lành mạnh khắp khu vực ấy.
Another short tour began on the 21st when I started for Madura, where a lecture was given and two candidates admitted to membership. “But for the Coulomb blight”, says my Diary, “the number would have [260] been from 20 to 30.” Yet the visit stopped the retro grade tendency, and the two men gained being of influential standing, I felt that we had done well. At Trichinopoly my audiences were large, especially that in an inner court of the ancient Sreerangam Temple, where the people massed in thousands. As on the occasion of my visit in 1882, the scene was most picturesque and striking, the dark-skinned multitude and the massive stone walls, huge gateway and carved monolithic columns being lit up by hundreds of torches, and the Brahmin priests with their snowy cloths thrown up into dazzling whiteness in the glare. With this picture vivid in my mind I left at 1.30 that same night for Tanjore. My first public discourse there was given at the Reading Room; my second, in the vast open enclosure of the Temple, standing on the plinth of the colossal Bull, a monster measuring about twelve feet from the ground to its shoulder in the sitting posture. One feels dwarfed in such an environment, and as I stood with the Bull beside me and the lofty pyramid, or Gopuram, in front, towering up towards the sky, its numberless life-sized figures of Indian gods, goddesses, and mythological heroes brought out in high lights and deep shadows by the moonlight, the thought of the strangeness of it all rushed in upon me and gave a peculiar tone to my impromptu discourse. The sense of my American modernity, in contrast with the hoary antiquity of the temple and the race which worship in it, was overpoweringly real. A visit was paid, as usual, to the Tanjore Royal Library, once [261] the richest literary collection in India, and even now extremely important; but it was a not too cheerful experience, for the library is but little used by scholars, since scholarship is so poorly recompensed in these utilitarian days. These repositories of the high thoughts of ancient sages are like so many granaries where the seed-corn of future harvests is kept against the time of sowing.
Một chuyến ngắn khác bắt đầu hôm 21, khi tôi khởi hành đến Madura, nơi tôi có một bài diễn thuyết và hai người xin gia nhập Hội. “Nếu không vì tai ương Coulomb,” Nhật ký của tôi viết, “thì con số [260] này đã từ 20 đến 30.” Tuy nhiên, chuyến thăm đã chặn được xu hướng thoái lui, và vì hai người thu nhận được đều có vị thế ảnh hưởng, tôi cảm thấy chúng tôi đã làm tốt. Ở Trichinopoly, thính giả của tôi rất đông, đặc biệt là trong một sân trong của ngôi đền Sreerangam cổ xưa, nơi người ta tụ tập thành hàng ngàn. Như dịp tôi ghé thăm năm 1882, khung cảnh cực kỳ nên thơ và ấn tượng; đoàn người da sẫm và những bức tường đá đồ sộ, cổng khổng lồ và các cột đá đơn khối chạm khắc được thắp sáng bởi hàng trăm ngọn đuốc, còn các giáo sĩ Bà-la-môn với các tấm vải trắng tuyết của họ thì bừng sáng chói mắt trong ánh đuốc. Với bức tranh ấy sống động trong tâm trí, tôi rời đi lúc 1 giờ 30 cùng đêm đó để đến Tanjore. Bài diễn thuyết công cộng đầu tiên ở đó tôi trình bày tại Phòng Đọc; bài thứ hai, trong khoảng sân rộng mênh mông của ngôi đền, tôi đứng trên bệ của Tượng Bò Đực khổng lồ, một quái vật cao chừng mười hai bộ tính từ mặt đất đến vai khi ở tư thế ngồi. Người ta cảm thấy mình nhỏ bé trong một môi trường như vậy, và khi tôi đứng với Bò Đực bên cạnh và toà tháp kim tự tháp cao vút, hay Gopuram, phía trước vươn lên trời, với vô số tượng lớn cỡ người của các vị thần, nữ thần và anh hùng thần thoại Ấn Độ nổi bật trong những mảng sáng tối sâu đậm dưới ánh trăng, ý nghĩ về sự lạ lùng của tất cả ùa vào khiến bài ứng khẩu của tôi mang một sắc thái đặc biệt. Cảm thức về tính hiện đại kiểu Mỹ của tôi, tương phản với sự cổ kính ngàn đời của ngôi đền và chủng tộc thờ phượng trong đó, trở nên hiện thực đến lạ thường. Tôi ghé thăm, như lệ thường, Thư viện Hoàng gia Tanjore, từng [261] là bộ sưu tập văn hiến phong phú nhất Ấn Độ, và nay vẫn vô cùng quan trọng; nhưng đó không phải là một trải nghiệm quá vui, vì thư viện ít được các học giả lui tới, do học thuật bị đãi ngộ quá kém trong thời buổi thực dụng này. Những kho chứa tư tưởng cao sâu của các hiền triết cổ đại giống như các kho lẫm, nơi hạt giống của những mùa gặt tương lai được cất giữ để chờ lúc gieo.
A little tired and used up by the heat and travel, I laid my straw mat and cotton rugs on the stone platform of the station that night and slept a deep sleep, despite hurrying trains, until 3 a.m., when I left for Kumbakonam, a two-hours’ journey. I was kindly welcomed at the station, and lectured that evening at the porter Town Hall, a fine and large room, to a very large, attentive, and appreciative audience. Kumbakonam, known as “the Cambridge of Southern India”, is a centre of culture and, of course, of religious scepticism—the two going too much together. Naturally I attacked materialistic agnosticism, vindicated our Society’s policy and record of usefulness, and defended H. P. B. as a true and brave friend of India, whose unselfish exertions on its behalf put to shame the majority of modern educated Hindus, who acted as if it were a shame, instead of an honor, to have been born in the land of the Rishis. Whether I did any permanent good is impossible to say, but most assuredly the sleepers were aroused to enthusiasm for the passing moment, and who knows what are the consequences of even a moment’s awakening [262] to the sense of duties neglected and opportunities slipping away? The next day’s audience, in the same hall, were extremely demonstrative as I went on to treat Idols and Idol Worship from the side of psychological science. There were many college men present who had no clear conception of the actual process by which a mere block of stone, metal, or wood, carved into a certain conventional shape, is changed into a sort of psychic dynamo, soaked with human aura and efficacious for the production of psychological and physiological effects upon sensitive worshippers. The process is called in Sanskrit Prana pratishta—the focalising of auric power (prana)—and is intensely interesting to the amateur of mesmerism. Without going into details, it will suffice to say that the image goes through a process which extends over forty days and includes the withdrawing from the image of all innate impurities, and the subsequent imbuing or saturating of it with a purified human magnetism—i.e., aura. Then to fix this supply, as it were, it is customary for the officiating adept, or Chief Brahmin, to prepare, or have engraved on a sheet of copper, a geometrical symbol, called chakram, into which a magic power is imparted by the concentration of the trained Will. [30] This copper-plate is placed under the image when fixed in its place, and there left so long as the temple stands. Now, the wiser and purer the adept-consecrator, [263] the more real, effective, and permanent the infusion of prana into the image; and the more carefully the chakram is prepared and placed, the more lasting its efficacy as a storage-battery of divine power. One sees, from all this, that the good Bishop Heber was more or less silly in saying:
Hơi mệt và rã rời vì nóng nực và di chuyển, tôi trải chiếc chiếu rơm và tấm chăn bông trên bệ đá của nhà ga đêm ấy và ngủ một giấc say, bất chấp tàu xe hối hả, đến 3 giờ sáng, khi tôi lên đường đi Kumbakonam, một chặng hai giờ. Tôi được đón tiếp ân cần ở ga, và tối hôm đó diễn thuyết tại Thị sảnh Porter, một căn phòng đẹp và rộng, trước một thính phòng rất đông, chăm chú và nhiệt thành. Kumbakonam, được mệnh danh là “Cambridge của Nam Ấn Độ”, là một trung tâm văn hoá và, dĩ nhiên, của hoài nghi tôn giáo — hai điều này thường đi kèm nhau quá mức. Tự nhiên tôi công kích thuyết bất khả tri duy vật, minh oan cho đường lối và thành tích hữu ích của Hội chúng ta, và bênh vực Bà H. P. B. như một người bạn chân chính và can đảm của Ấn Độ, mà những nỗ lực vô vị lợi của Bà vì đất nước này đã làm lu mờ đa số người Ấn hiện đại có học, những người hành xử như thể sinh ra ở đất của các vị Rishi là điều đáng hổ thẹn, chứ không phải là vinh dự. Tôi có tạo được điều tốt đẹp lâu dài nào hay không thì không thể nói, nhưng chắc chắn những kẻ đang mê ngủ đã bị đánh thức dậy để hăng hái trong giây lát, và ai biết hậu quả của ngay cả một khoảnh khắc bừng tỉnh [262] trước cảm thức về bổn phận bị bỏ quên và những cơ hội đang trôi qua là gì? Khán giả ngày hôm sau, vẫn ở căn sảnh ấy, tỏ ra rất nhiệt liệt khi tôi trình bày chủ đề Ngẫu tượng và việc Thờ Ngẫu tượng từ phía khoa học tâm lý học. Có nhiều người trường lớp đến dự nhưng họ chưa có khái niệm rõ về quy trình thực sự qua đó một khối đá, kim loại hay gỗ đơn thuần, được khắc theo một hình thức ước lệ nào đó, lại được chuyển hóa thành một dạng “máy phát” tâm linh, thấm đẫm hào quang con người và có hiệu lực tạo ra các hiệu ứng tâm lý và sinh lý đối với những người thờ phụng mẫn cảm. Quy trình ấy trong Sanskrit gọi là Prana pratishta — tức là tụ tiêu quyền năng hào quang (prana) — và vô cùng hấp dẫn đối với người yêu thích thuật thôi miên. Không cần đi vào chi tiết, chỉ cần nói rằng pho tượng phải trải qua một quá trình kéo dài bốn mươi ngày và bao gồm việc rút ra khỏi tượng mọi cấu uế bẩm sinh, rồi sau đó là việc truyền vào, hay bão hoà nó bằng một loại từ lực nhân sinh đã được tinh luyện — tức hào quang. Rồi để “neo” nguồn dự trữ này, thông thường vị chân sư chủ lễ, hay vị Bà-la-môn Trưởng, sẽ chuẩn bị, hoặc cho khắc trên một tấm đồng, một biểu tượng hình học gọi là chakram, trong đó được truyền một quyền năng “phép thuật” nhờ sự tập trung của Ý Chí được rèn luyện. Tấm đồng này được đặt dưới pho tượng khi cố định vào chỗ của nó, và để yên ở đó chừng nào ngôi đền vẫn còn. Nay, vị chân sư làm lễ càng minh triết và thanh khiết, [263] thì sự truyền prana vào pho tượng càng thực, càng hiệu lực và càng bền lâu; và chakram càng được chuẩn bị và đặt để cẩn thận, thì năng lực của nó như một “bình tích điện” quyền năng thiêng liêng càng bền bỉ. Từ tất cả điều này, người ta thấy rằng vị Giám mục Heber đã ít nhiều ngây ngô khi nói:
The Heathen in his blindness Bows down to wood and stone.
Kẻ Ngoại giáo trong mù lòa Quỳ mọp trước gỗ và đá.
In point of fact, neither is the Heathen blind, nor does he bow down to wood and stone: quite the contrary, and the average Missionary is the real blind one, since he knows nothing at all about the Powers, symbols, customs, or ceremonies which he reviles.
Thực ra, kẻ Ngoại giáo chẳng mù lòa, cũng chẳng quỳ mọp trước gỗ và đá: hoàn toàn ngược lại, và nhà Truyền giáo trung bình mới là kẻ mù thực sự, bởi ông ta chẳng biết gì về các Quyền Năng, biểu tượng, phong tục hay nghi lễ mà ông mạt sát.
On to Cuddalore, my last station of this tour, where I lectured on Idols in the Temple, where I was surrounded by them; and on 1st June I got back to Adyar, with a thankful heart for having escaped sunstroke or heat-apoplexy, and, despite the high temperature, having done so much to restore the old kindly feeling between the South Indian people and ourselves.
Tiếp tục đến Cuddalore, trạm cuối của chuyến này, nơi tôi diễn thuyết về Ngẫu tượng ngay trong Đền, nơi tôi được vây quanh bởi chúng; và ngày 1 tháng Sáu tôi đã trở về Adyar, lòng đầy biết ơn vì đã tránh được say nắng hay cảm nắng, và mặc cho nhiệt độ cao, tôi đã làm được nhiều việc để khôi phục tình cảm tốt đẹp xưa giữa người dân Nam Ấn và chúng tôi.
CHAPTER XVIII—CHƯƠNG XVIII
FINAL DEPARTURE OF DAMODAR—CUỘC RA ĐI CUỐI CÙNG CỦA DAMODAR
AN official tour in Northern India having been planned as part of the year’s programme, I sailed for Calcutta in the French steamer “Tibre” on 3rd June. It was a relief most blessed to get to sea and enjoy its pure, cool breezes and its ozone after my recent tour in the South, with its concomitant heat and dust, its crowds, mental anxiety, and physical strain: never did I so gladly go out from land upon the deep blue Bay of Bengal, badly as it had treated me at times. I was in the thick of the fight for the salvation of the Society, my courage and faith rising in proportion to the obstacles; and everyone will understand what must have been the physical and mental effect of this temporary escape from the strain of public work. Life seemed pouring into my body from the physical mother of all terrestrial life, the germ-hatching sea. I could well have cried out with Uhland:
Một chuyến công cán ở Bắc Ấn đã được hoạch định như một phần của chương trình năm, tôi xuống tàu Pháp “Tibre” ngày 3 tháng Sáu đi Calcutta. Được ra biển và tận hưởng làn gió trong lành, mát mẻ và khí ozon của biển cả sau chuyến công du miền Nam vừa qua, với cái nóng bức và bụi bặm kèm theo, đám đông, ưu tư tinh thần và căng thẳng thể xác, quả là một sự giải thoát vô cùng phúc lành: chưa bao giờ tôi vui mừng rời bến ra khơi trên Vịnh Bengal xanh thẳm đến vậy, dù nó đã có lúc đối xử tệ với tôi. Tôi đang ở giữa trận chiến vì sự sống còn của Hội, lòng can đảm và đức tin của tôi tăng theo tỉ lệ thuận với chướng ngại; và ai cũng hiểu hiệu ứng thể chất và tinh thần của việc tạm thời thoát khỏi căng thẳng công việc công cộng này phải là như thế nào. Sự sống như đang tuôn tràn vào thân thể tôi từ người mẹ vật chất của mọi sự sống trần gian, tức biển cả ấp ủ mầm sống. Tôi đã có thể cất tiếng cùng Uhland:
Take, O boatman, thrice thy fee;
Hỡi người lái đò, xin lấy phí ba lần;
Take,—I give it willingly;
Hãy lấy — ta cúng dường vui ý;
For, invisible, to thee,
Vì, dẫu mắt ông không thấy,
Spirits twain have cross’d with me.
Có hai linh hồn đã cùng ta vượt sông.
The weather fine and the sea smooth, I was well rested and refreshed by the time we reached Calcutta, [265] on the 6th, at 5 p.m. About twenty friends met me on landing and gave me cordial welcome. A crowded meeting of the Branch was held on the next evening, and a stream of visitors kept me busy throughout each day. Instead of losing members I began to admit fresh candidates almost at once; but my first public lecturing work was fixed for Darjeeling, so I took train for that mountain-cradled station on the second day. The journey occupies but twenty-five hours, and one has scarcely time to prepare his body for the change from 100° to 60° Fahrenheit before one is there. It is a most delightful little trip, provided one has good weather and is not too much delayed by landslips in the mountains.
Thời tiết quang đãng và biển êm, tôi hồi phục và tươi mới khi chúng tôi đến Calcutta, [265] vào ngày mồng 6, lúc 5 giờ chiều. Khoảng hai mươi người bạn đón tôi khi cập bến và dành cho tôi lời chào mừng nồng hậu. Một buổi họp đông đảo của Chi hội được tổ chức vào tối hôm sau, và một dòng khách thăm khiến tôi bận rộn suốt mỗi ngày. Thay vì mất hội viên tôi bắt đầu thu nhận ứng viên mới gần như ngay lập tức; nhưng công tác diễn thuyết công cộng đầu tiên của tôi được ấn định ở Darjeeling, nên hôm sau nữa tôi lên tàu hoả đến trạm sơn nguyên ẩn mình nơi núi ấy. Chuyến đi chỉ mất hai mươi lăm giờ, và người ta hầu như không có thì giờ chuẩn bị thân thể cho sự đổi từ 100° xuống 60° Fahrenheit trước khi đến nơi. Đó là một chuyến đi nhỏ cực kỳ thú vị, miễn là thời tiết thuận và không bị chậm quá nhiều vì sạt lở ở miền núi.
The whole Darjeeling Branch met me at the station, and with them was that excellent, philanthropical young millionaire, the late Tej Narain, of Bhagalpore, founder of the prosperous Anglo-Sanskrit College that bears his name and prepetuates his memory. He and I were old acquaintances, and the founding of this College, for the accomplishment of which act credit is largely due to Babu Ladli Mohun Ghose, L.M.S., one of our Bhagalpore members, is directly traceable to our Society’s influential appeals to the Hindu heart and conscience. Tej Narain brought Sarat Chandra Dâs (the now famous Founder and Honorary Secretary of the Buddhist Text Society, a C.I.E., and Rai Bahadur for his services to Government and achievements in Philology) to see me, and many others called daily. Sarat Babu is a most interesting [266] man to talk with, if one cares about Tibet and Northern Buddhism, for he knows more about them than any man in India—or outside it, for that matter. He was a teacher in Government service, in charge of a Bhutia and Sikkimese school at Darjeeling, and had learned a good deal of the Tibetan language, when the idea came to him to try the feat, which has baffied so many European explorers, of reaching Lhassa, the mysterious Tibetan capital. In the character of a Pandit and Indian doctor he went and actually succeeded; not only that, but he brought back with him many Tibetan versions of early Buddhistic books and a very complete knowledge of the Tibetans, their Lamas, religious ceremonies, and holy days, not to speak of the geography of Tibet between the Indian frontier and Lhassa, his notes on which had to be collected with the greatest care and preserved with the greatest cunning. For example, as he could not use a surveyor’s chain, he counted distances by telling the beads of his rosary. His two reports to the Indian Government are highly interesting and instructive, the narrative comparing favorably with the best works of the kind by the world’s most famed explorers; and, what is strange for an Oriental, they are free from bombastic exaggeration and extravagant hyperbole—cf. the “Mahavansa”. In conversation, as confidence was established between us, he told me most interesting things about the white and black magic of the “yellow” and “red” Lamas—things which amply support the evidence of the Abbés Huc and Gabet, and of Mme [267] lavatsky as well. But, being a Government servant, he seems to think that if he should tell the public what he told me several times and once Mrs. Besant in my company, his reputation as a scientific observer would be jeopardised and his interests have to suffer: in short, he takes the selfish view of it, and has for many years now been hiding truth because he can’t afford to give it out. He actually lived thirteen months at Teshu Lumpo, in the household of the Tashi Lama, the second in rank in the Lamaic hierarchy; made the journey thence to Lhassa under favorable auspices; saw and talked with the Dalai Lama, or Supreme Pontiff, and brought back manuscripts, printed books, and other souvenirs of his memorable journey. He was good enough to give me one of the soft silken scarfs that the Tashi Lama, at a reception, laid across his hands, after the national custom, when they were held out with joined palms in reverential salutation. I have it at Adyar among our curiosities. Woven into the tissue is a picture of the Lord Buddha, seated, with his two disciples, Sariputra and Moggallana, at his right and left.
Toàn bộ Chi hội Darjeeling ra ga đón tôi, và cùng họ có chàng triệu phú trẻ tuổi giàu lòng nhân ái, cố Tej Narain ở Bhagalpore, người sáng lập Trường Cao đẳng Anh–Sanskrit phồn thịnh mang tên ông và lưu truyền ký ức về ông. Ông ấy và tôi vốn quen biết, và việc sáng lập Trường này — mà công lao thực hiện phần lớn nhờ Babu Ladli Mohun Ghose, L.M.S., một hội viên của chúng ta ở Bhagalpore — là có quan hệ trực tiếp tới những lời kêu gọi có ảnh hưởng của Hội ta đối với trái tim và lương tri Ấn giáo. Tej Narain đưa Sarat Chandra Dâs (nay là vị Sáng lập và Thư ký Danh dự của Hội Văn bản Phật giáo, C.I.E., và là Rai Bahadur vì các công lao với Chính phủ và thành tựu trong Ngữ văn học) đến thăm tôi, và nhiều người khác cũng đến mỗi ngày. Sarat Babu là một [266] người cực kỳ lý thú để đàm đạo, nếu người ta quan tâm đến Tây Tạng và Bắc Tông Phật giáo, vì ông biết về chúng nhiều hơn bất kỳ ai ở Ấn Độ — hay ở ngoài đó, nói cho đúng. Ông là một thầy giáo trong ngạch Chính phủ, phụ trách một trường Bhutia và Sikkim ở Darjeeling, và đã học được kha khá tiếng Tây Tạng, thì nảy ra ý định thử một kỳ công vốn làm nản chí biết bao nhà thám hiểm châu Âu: đến được Lhassa, kinh đô huyền bí của Tây Tạng. Dưới thân phận một Pandit và y sĩ Ấn Độ, ông đã đi và thực sự thành công; không chỉ thế, ông còn mang về nhiều bản Tây Tạng của các sách Phật học sơ kỳ và một hiểu biết rất đầy đủ về người Tây Tạng, các vị Lạt-ma, nghi điển tôn giáo và thánh nhật của họ, chưa kể địa lý Tây Tạng giữa biên giới Ấn Độ và Lhassa, những ghi chép về địa lý mà ông buộc phải gom góp với cực độ cẩn trọng và bảo toàn bằng sự khôn khéo lớn lao. Chẳng hạn, vì không thể dùng xích đo đạc, ông đã đếm cự ly bằng cách lần hạt tràng hạt của mình. Hai bản phúc trình của ông gửi Chính phủ Ấn Độ cực kỳ thú vị và nhiều điều để học hỏi, thiên ký sự sánh được với những tác phẩm hay nhất cùng loại của các nhà thám hiểm lừng danh thế giới; và, điều lạ đối với một người phương Đông, chúng không dùng lời lẽ khoa trương bốc đồng hay cường điệu quá mức — so sánh mà xem, “Mahavansa”. Trong trò chuyện, khi giữa chúng tôi đã có lòng tin, ông kể tôi nghe những điều hết sức thú vị về “phép thuật trắng” và “phép thuật đen” của các Lạt-ma “áo vàng” và “áo đỏ” — những điều hoàn toàn hỗ trợ bằng chứng của các Cha Huc và Gabet, và của Bà [267] Blavatsky nữa. Nhưng, là viên chức Chính phủ, ông có vẻ nghĩ rằng nếu ông công bố những điều ông đã kể tôi nghe nhiều lần và một lần kể Bà Besant khi tôi có mặt, thì danh tiếng của ông như một quan sát viên khoa học sẽ bị nguy, và quyền lợi cá nhân sẽ phải chịu thiệt: nói gọn, ông nắm lấy cách nhìn vị kỷ, và đã nhiều năm nay giấu kín sự thật vì ông không thể kham nổi việc công bố nó. Ông đã sống thực sự mười ba tháng tại Teshu Lumpo, trong tư gia của Đức Tashi Lama, vị đứng thứ hai trong hệ thống phẩm trật Lạt-ma; từ đó lên đường tới Lhassa trong hoàn cảnh thuận lợi; diện kiến và đàm thoại với Đức Dalai Lama, tức Giáo chủ Tối cao, và mang về các thủ bản, sách in và những kỷ vật khác của cuộc hành trình đáng ghi nhớ. Ông tốt bụng tặng tôi một trong những khăn lụa mềm mà Đức Tashi Lama, trong một buổi tiếp kiến, đã đặt băng qua bàn tay ông, theo phong tục dân tộc, khi ông dâng tay với hai lòng bàn tay chắp lại để chào kính. Tôi giữ nó ở Adyar trong số các đồ cổ ngoạn. Dệt trong dải lụa là hình Đức Phật, ngự toạ, với hai đệ tử, Xá-lợi-phất (Sariputra) và Mục-kiền-liên (Moggallana), ở hữu và tả.
Among my frequent visitors was Babu Parbati Charan Roy, one of the best educated of Calcutta University graduates, and then holding a position of influence under Government. Like too many of his class, his feeble spiritual belief had been submerged by Western educational influences, and he was a thorough disbeliever in the future state, though always ready to discuss those questions. I am glad to say [268] that his contact with H.P.B. and our literature eventually worked a complete change in his ideas; he became a member of our Society, and some years later published a book giving the history of his repudiation of his ancestral religion, his return to it, and the peace of mind and joy which this brought him.
Trong số những vị khách thường xuyên có Babu Parbati Charan Roy, một trong những người tốt nghiệp xuất sắc nhất của Đại học Calcutta, và khi ấy giữ một vị trí có ảnh hưởng dưới quyền Chính phủ. Như quá nhiều người cùng lớp, đức tin tinh thần yếu ớt của ông đã bị làn sóng giáo dục Tây phương nhấn chìm, và ông hoàn toàn không tin có kiếp sau, tuy luôn sẵn sàng thảo luận những vấn đề ấy. Tôi vui mừng nói rằng [268] sự tiếp xúc của ông với Bà H. P. B. và văn học của chúng ta rốt cuộc đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của ông; ông gia nhập Hội của chúng ta, và vài năm sau xuất bản một cuốn sách thuật lại lịch sử của việc ông từ bỏ tôn giáo tổ tiên, rồi quay trở lại, và sự bình an tâm trí cùng niềm hoan hỉ mà điều đó mang lại cho ông.
The then young Prince of Nuddea came to see me and spent many hours in my company, seeming happy to be under the influence of one who loved his country and people. His tutor, a brilliant graduate, was another free-thinker and sceptic, so that, for all the religious good he got by it, the Prince might as well have been brought up by one of those disbelieving European tutors who have checked the pious inclinations of their young royal pupils. I could name cases if I chose or it would do the least good, but as it is, the friends of India can only grieve over the too common spectacle of heirs to ancient thrones being led out of the path trodden by their ancestors, and turned into irreligious billiard-players, pleasure-seekers, and toadies to the whites, instead of being encouraged to patronise religious men, learned scholars, and the classical literature of India which, in the good old days, shed lustre on the Courts where its custodians were supported and honored. It is not the fault of the poor boys, but of the europeanising system under whose masterful influence they come—a system perhaps good enough for Western princes, who are not expected to shine as religious exemplars, but bad for Indian chiefs, who are called to rule over millions of unspoilt [269] Asiatic subjects. I once visited a Rajkumar College in Northern India—i.e., a school for the sons of ruling chiefs and nobles—and was taken through the rooms by the Principal, the most liberal-minded European teacher I have met. Being requested to address the lads, I tried to impress on their minds the responsibilities imposed upon them by the fact of their princely birth, and begged them to try to emulate the examples of Ikshvaku, Harischandra, and Dharmaputra, rather than that of some of our contemporary princes, whose hoarded wealth is wasted on flitting pleasures, and whose minds are never given to holy thoughts. I have heard since from one of those boys that my offhand remarks made such an impression on them that they formed a society among themselves, to encourage each other to be good Indian rulers and leave honored names behind them. Admitting, what is more than likely, that for want of following up, the influence was but transitory, yet I think it was a gain to have even planted the seeds of higher ideals in those receptive boyish minds, and that the forming of their society is an indication that the adoption of such a system would be a great blessing to India. We need give no weight to the objection that it would be an evil thing to encourage these future petty sovereigns to fall into gross superstition and idolatry, for that comes from the class of persons who do not know, or, if they know, dare not reveal, that when Hinduism is read with the key of Theosophy it represents no superstition, nor does its idol-worship tend to degrade the lofty [270] conceptions of the Supreme Being which are presented in the Gitâ and the Upanishads. What is desirable is that, not only the Indian princes, but all intelligent Indians, should realise the dignity of the religion imparted to the Aryan race in the present Manvantra, and the real meaning of their religious stories, folklore fables, and carven symbols, which teach, by carefully-chosen object-lessons, the limitless power, wisdom, and justice of the One Divine Reality.
Vị Hoàng tử trẻ Nuddea khi ấy cũng đến thăm tôi và dành nhiều giờ bên tôi, có vẻ hạnh phúc khi được ở trong ảnh hưởng của một người yêu đất nước và dân tộc của ông. Thầy dạy của ông, một cử nhân rực rỡ, lại là một người theo chủ nghĩa tự do và hoài nghi, thành ra, xét về lợi lạc tôn giáo, Hoàng tử chẳng khác nào được nuôi dạy bởi một trong những gia sư châu Âu vô tín, những người đã ngăn cản các khuynh hướng mộ đạo của những học trò vương giả trẻ tuổi của họ. Tôi có thể nêu tên vài trường hợp nếu điều đó có ích dù chỉ chút ít, nhưng như thế, những người bạn của Ấn Độ chỉ còn biết đau lòng trước cảnh tượng quá quen: các người thừa kế ngai vàng cổ xưa bị dẫn ra khỏi con đường mà tổ tiên họ đã đi, và biến thành những kẻ vô đạo ham bi-da, tìm lạc thú, và bợ đỡ người da trắng, thay vì được khuyến khích bảo trợ bậc tôn giả, học giả uyên bác, và văn học cổ điển Ấn Độ, vốn trong thuở vàng son đã toả ánh huy hoàng tại những triều đình nơi những người gìn giữ văn hiến ấy được nuôi dưỡng và trọng vọng. Đó không phải lỗi của các cậu bé tội nghiệp, mà là của hệ thống Âu hoá dưới ảnh hưởng áp đảo của nó — một hệ thống có thể đủ tốt cho các hoàng tử phương Tây, những người không được kỳ vọng toả sáng như các gương mẫu tôn giáo, nhưng lại tệ hại cho các vương hầu Ấn, những người được kêu gọi cai quản hàng triệu thần dân Á Đông [269] chưa bị làm hư hỏng. Tôi từng thăm một Trường Cao đẳng Rajkumar ở Bắc Ấn — tức một trường cho con trai các vương hầu cầm quyền và quý tộc — và được Hiệu trưởng, người thầy châu Âu có tinh thần khai phóng nhất mà tôi gặp, đưa đi thăm các phòng. Được mời nói chuyện với các em, tôi cố thấm vào tâm trí các em những trách nhiệm đặt lên các em do chính sự kiện sinh ra trong hoàng tộc, và khẩn cầu các em nỗ lực noi gương Ikshvaku, Harischandra và Dharmaputra, hơn là một vài vị vương tử đương thời của chúng ta, những người đem của cải chất chứa hoang phí vào thú vui thoáng chốc, và chẳng khi nào hiến dâng tâm trí cho tư tưởng thánh thiện. Sau này tôi nghe từ một trong những cậu bé ấy rằng những lời ứng khẩu của tôi đã gây ấn tượng như thế nào để các em lập ra một hội với nhau, nhằm khuyến khích nhau trở thành những nhà cai trị Ấn Độ tốt và để lại danh thơm. Thừa nhận, điều dễ xảy ra hơn, rằng vì thiếu theo dõi tiếp nối, ảnh hưởng ấy chỉ thoáng qua, nhưng tôi vẫn nghĩ đó là một lợi ích khi gieo được hạt giống những lý tưởng cao hơn vào những tâm hồn thiếu niên đang mở, và việc các em lập hội là một chỉ dấu rằng việc áp dụng một hệ thống như vậy sẽ là một phúc lành lớn cho Ấn Độ. Chúng ta không cần để tâm đến phản đối cho rằng khuyến khích những vương hầu tương lai như vậy sẽ khiến họ sa vào mê tín thô lậu và thờ ngẫu tượng, vì đó là lời đến từ hạng người không biết, hoặc nếu biết cũng không dám tiết lộ, rằng khi Ấn giáo được đọc bằng chiếc chìa khóa của Thông Thiên Học thì nó không chứa mê tín, và việc thờ ngẫu tượng của nó cũng không làm hạ thấp những [270] quan niệm cao cả về Đấng Tối Cao được trình bày trong Gita và các Upanishad. Điều mong muốn là không chỉ các vương hầu Ấn, mà tất cả người Ấn thông tuệ, nên nhận thức phẩm giá của tôn giáo được truyền cho chủng tộc Arya trong Đại kiếp sinh hóa hiện tại, và ý nghĩa đích thực của các truyện tích tôn giáo, huyền thoại dân gian, và các biểu tượng tạc khắc của họ, những thứ dạy, bằng các bài học trực quan được chọn lọc kỹ lưỡng, về quyền năng vô hạn, minh triết vô hạn, và công chính vô hạn của Thực Tại Thiêng Liêng Duy Nhất.
Damodar K. Mavalankar is one of the best-known characters in the early Indian history of the Theosophical Society, and has been frequently mentioned in the course of these memoirs. He left Adyar, while I was away in Burma, for the last time on 23rd February, 1885, for Calcutta, in the s.s. “Clan Graham,” with the intention of going to Tibet via Darjeeling. This was thirty-six days before H. P. B.’s own final departure for Europe. Four persons on this side of the Himâlayas had voices in this matter, of whom three were H. P. B., T. Subba Row, and Maji, of Benares: the chief agent, of course, was H. P. B., Mr. Subba Row having merely some questions to be answered, and Maji some clairvoyant information to give. The name of the fourth party I shall not mention, but merely say that he is equally well known on both sides of the mountains, and makes frequent religious journeys between India and Tibet. Damodar hoped to be allowed to go with him on his return to Lhassa, though his constitution, naturally delicate, had run down from overwork, [271] consumptive tendencies had shown themselves, and he had had some haemorrhage. The most disquieting rumors were circulated, soon after he left Darjeeling, about our dear boy’s having perished in the attempt to cross the mountains. In the first week of July it was reported to me from Chumboi, Sikkim, that his corpse, frozen stark and stiff, had been found in the snows, and his clothing at a little distance. Despite the transparent improbability of his having thrown off his clothing in that climate merely to die, the tale was believed by many, chiefly by those who denied the existence of the White Lodge, and who wished to cast some opprobrium on us for allowing a young fanatic to sacrifice his life in so evidently vain a quest. Well, we bore it, as we did, and ever since have, similar malicious stories, with as much equanimity as we could summon. But at Darjeeling, through the courtesy of Babu Saratchandra Dâs, who interpreted for me, I had a long talk with the chief of the coolies who went with Damodar from Darjeeling through Sikkim, and who brought back his superfluous luggage and his pocket Diary. From this latter important document I am now tracing Damodar from Madras to the time when he sent back the coolies and passed under other protection than ours. The value of his past work and the possibly important part he may be destined to play in the future of this movement of ours, makes me think that it is as well that I should include the chief parts of the Diary in this history. [272]
Damodar K. Mavalankar là một trong những nhân vật được biết đến nhiều nhất trong buổi đầu lịch sử Ấn Độ của Hội Thông Thiên Học, và đã thường xuyên được nhắc tới trong suốt những trang hồi ký này. Anh rời Adyar, khi tôi đang vắng mặt ở Miến Điện, lần cuối cùng vào ngày 23 tháng Hai, 1885, đi Calcutta, trên tàu hơi nước “Clan Graham,” với ý định đi Tây Tạng qua Darjeeling. Việc này diễn ra ba mươi sáu ngày trước khi chính Bà H. P. B. rời đi vĩnh viễn sang châu Âu. Có bốn người ở phía này của dãy Himâlaya có tiếng nói trong việc này, trong đó ba người là Bà H. P. B., T. Subba Row, và Maji, ở Benares: tất nhiên, tác nhân chính là Bà H. P. B., Ông Subba Row chỉ có một vài câu hỏi cần được trả lời, còn Maji thì cung cấp một số thông tin thông nhãn. Tôi sẽ không nêu tên người thứ tư, chỉ xin nói rằng Ông được biết đến như nhau ở cả hai phía của dãy núi, và thường xuyên có những cuộc hành hương tôn giáo giữa Ấn Độ và Tây Tạng. Damodar hy vọng sẽ được phép đi cùng Ông khi Ông trở về Lhassa, dù thể trạng bẩm sinh mảnh mai của anh đã suy sụp vì làm việc quá sức, [271] khuynh hướng lao phổi đã xuất hiện, và anh đã có lần xuất huyết. Những lời đồn đáng lo ngại nhất đã lan truyền chẳng bao lâu sau khi anh rời Darjeeling, nói rằng cậu trai thân yêu của chúng tôi đã bỏ mạng khi tìm cách vượt qua núi. Trong tuần lễ đầu của tháng Bảy, tôi nhận được tin từ Chumboi, Sikkim, rằng xác anh, đông cứng và cứng đờ, đã được tìm thấy giữa tuyết, còn quần áo của anh ở cách đó một quãng. Mặc cho sự phi lý hiển nhiên của việc anh đã tự lột bỏ quần áo trong khí hậu ấy chỉ để chết, câu chuyện vẫn được nhiều người tin, nhất là những người phủ nhận sự hiện hữu của Thánh đoàn, và muốn gieo tiếng xấu cho chúng tôi vì đã để một người trẻ cuồng tín hiến mạng sống mình cho một cuộc tìm kiếm rõ ràng là vô vọng như vậy. Chúng tôi đã chịu đựng điều đó, như từng chịu đựng, và kể từ đó đến nay vẫn chịu đựng những chuyện ác ý tương tự, với sự điềm tĩnh nhiều nhất mà chúng tôi có thể khơi dậy. Nhưng ở Darjeeling, nhờ sự ưu ái của Babu Saratchandra Dâs, người phiên dịch cho tôi, tôi đã có một cuộc trò chuyện dài với người đứng đầu nhóm phu khuân vác đi cùng Damodar từ Darjeeling qua Sikkim, và người đã mang về hành lý thừa cùng Nhật ký bỏ túi của anh. Từ tài liệu quan trọng sau này, tôi nay lần theo dấu Damodar từ Madras cho tới khi anh cho phu khuân vác quay lại và đi vào sự bảo hộ khác ngoài của chúng tôi. Giá trị công việc quá khứ của anh và phần việc có lẽ quan trọng mà anh có thể được định cho đảm nhiệm trong tương lai của phong trào này khiến tôi nghĩ tốt hơn là nên đưa vào đây những phần chính của Nhật ký vào lịch sử này. [272]
DAMODAR’S DIARY
DAMODAR’S DIARY
“February 23rd, 1885.—In the evening embarked on the ‘Clan Grant’ to go to Calcutta. February 24th. —Steamer sailed before 6 in the morning. Did not suffer from sea-sickness. 25th.—Made friends with the Doctor of the ship, who seems to be a very nice man, but to know or care little for philosophy, though he has the capacity if he would only develop it. 27th.—Reached Calcutta at about 4 p.m.; was met at the jetty by Norendro Babu and others, whom I told about my illness and of the necessity for a change.” [Of course, concealing the ultimate purpose of the journey.—O.]
“Ngày 23 tháng Hai, 1885.—Buổi tối lên tàu ‘Clan Grant’ đi Calcutta. Ngày 24 tháng Hai.—Tàu nhổ neo trước 6 giờ sáng. Không bị say sóng. Ngày 25.—Kết bạn với Bác sĩ trên tàu, người có vẻ là một người rất tốt, nhưng biết hay quan tâm rất ít đến triết học, dẫu Ông có khả năng nếu chỉ cần chịu phát triển nó. Ngày 27.—Tới Calcutta vào khoảng 4 giờ chiều; được Norendro Babu và những người khác đón ở bến, tôi kể cho họ về bệnh tình của mình và sự cần thiết phải thay đổi.” [Dĩ nhiên, giấu đi mục đích tối hậu của chuyến đi.—O.]
Here follow entries about his talks with friends, his visit to the local Branch, and his opinion about its activity, which was not too favorable. Then come his notes on his leaving by rail for Berhampore, where we then had about the best Branch in India, under the leadership of Babu Nobin K. Bannerji, President; Babu Dinanath Ganguli, Vice-President; and Babu Satkauri Mukerji, Secretary—three as good colleagues as any man could ask for in any great public movement. After spending three days with them he moved on to Jamalpur, where we had (and still have) another Branch. I note that once in Calcutta and once at Berhampore he was recognised by persons who had seen him in their dreams, an experience that I have often had myself in different lands. The Jamalpur brothers, he says, put to him much more interesting [273] and intelligent questions than those propounded in Calcutta, showing that they had thought deeply about the great problems of life.
Tiếp theo là những ghi chép về các cuộc trò chuyện với bạn bè, chuyến thăm Chi bộ địa phương, và quan điểm của anh về hoạt động của chi bộ này, vốn không mấy thuận lợi. Rồi tới những ghi chú về việc anh rời đi bằng đường sắt tới Berhampore, nơi khi đó chúng tôi có chi bộ tốt nhất ở Ấn Độ, dưới sự lãnh đạo của Babu Nobin K. Bannerji, Chủ tịch; Babu Dinanath Ganguli, Phó Chủ tịch; và Babu Satkauri Mukerji, Tổng thư ký—ba đồng sự tốt như bất kỳ ai có thể cầu trong bất cứ phong trào công cộng lớn nào. Sau khi ở với họ ba ngày, anh đi tiếp đến Jamalpur, nơi chúng tôi (và đến nay vẫn) có một Chi bộ khác. Tôi ghi nhận rằng một lần ở Calcutta và một lần ở Berhampore anh đã được những người từng thấy anh trong mộng nhận ra, một trải nghiệm mà chính tôi thường có ở nhiều xứ sở. Những huynh đệ ở Jamalpur, anh nói, đặt cho anh những câu hỏi [273] thú vị và thông tuệ hơn nhiều so với những câu hỏi ở Calcutta, cho thấy họ đã suy tư sâu xa về những vấn đề lớn của sự sống.
“March 8th.—Reached Benares and went to Maji’s ashram. Had long talks with her both morning and afternoon. She spoke about Subba Row, and told me things which he had only lately spoken to me in private. Also spoke about Bawaji and said things known only to Mme. B. and myself. Said various other startling things.
“Ngày 8 tháng Ba.—Tới Benares và đến ashram của Maji. Trò chuyện dài với Bà cả sáng lẫn chiều. Bà nói về Subba Row, và kể cho tôi những điều mà Ông mới gần đây nói riêng với tôi. Cũng nói về Bawaji và nói những điều chỉ có Bà B. và tôi mới biết. Nói thêm nhiều điều gây kinh ngạc khác.
“March 9th.—Conversations with Maji continued. She spoke about the portraits of the Masters at the Headquarters and told me many surprising things. Four Benares Theosophists called in the evening. Maji’s talk was very interesting and instructive. In the afternoon she told me about Subba Row’s Guru and about himself.
“Ngày 9 tháng Ba.—Tiếp tục đàm đạo với Maji. Bà nói về các chân dung của các Chân sư ở Tổng hành dinh và kể cho tôi nhiều điều đáng kinh ngạc. Bốn người Thông Thiên Học Benares đến vào buổi tối. Lời đàm đạo của Maji rất thú vị và chỉ giáo. Buổi chiều, Bà kể cho tôi về Đạo sư của Subba Row và về chính Ông ấy.
“March 10th.—Commenced to take internally some medicine she prepared for me. Had private talks with her during the day. Mme. B., she says, will not die for a year or more yet. When she does, she will probably reincarnate in Subba Row’s family, and reappear in public life after ten years. [31]
“Ngày 10 tháng Ba.—Bắt đầu uống một thứ thuốc Bà chế cho tôi. Có những cuộc trò chuyện riêng trong ngày. Bà nói, Bà B. sẽ chưa qua đời trong vòng một năm hoặc hơn nữa. Khi qua đời, Bà có lẽ sẽ tái sinh trong gia đình Subba Row, và tái xuất nơi đời sau mười năm.
“March 11th.—Talks continued. In the afternoon attended a meeting of the Benares Branch. The Munsiff of Benares is President. The members are all new, but earnest and intellectual. Later, Maji [274] showed me a portrait of her father which was precipitated after his death.
“Ngày 11 tháng Ba.—Tiếp tục đàm đạo. Buổi chiều dự một cuộc họp của Chi bộ Benares. Vị Munsiff của Benares là Chủ tịch. Các hội viên đều mới, nhưng tha thiết và trí tuệ. Sau đó, Maji [274] cho tôi xem một bức chân dung của thân phụ Bà, được ngưng tụ hiện hình sau khi Ông mất.
“March l2th.—A morning talk with her, and one at noon, entirely private, in her gupha, [32] when she discussed the plans in view and the persons concerned. She tells me startling facts and something about the future. She says that for about a fortnight I am not to go to... [the personage with whom he wished to go to Tibet], but then it will be determined whether I shall proceed further.
“Ngày 12 tháng Ba.—Trò chuyện buổi sáng với Bà, và một cuộc vào buổi trưa, hoàn toàn riêng tư, trong gupha của Bà, khi Bà bàn về các kế hoạch đang xét và những người liên quan. Bà kể cho tôi những sự thật gây kinh ngạc và đôi điều về tương lai. Bà nói rằng khoảng nửa tháng tôi không được đến... [nhân vật mà anh muốn đi Tây Tạng cùng], rồi sau đó sẽ quyết định liệu tôi có nên đi xa hơn.
“March l3th.—Left Benares at 11 a.m. Travelled all day and night. Reached Calcutta the next morning”.
“Ngày 13 tháng Ba.—Rời Benares lúc 11 giờ sáng. Đi suốt ngày và đêm. Sáng hôm sau tới Calcutta”.
He spent the next fortnight in Calcutta, and his Diary records the visits exchanged and conversations held on different occasions.
Anh dành nửa tháng tiếp theo ở Calcutta, và Nhật ký ghi nhận những cuộc thăm viếng qua lại và những lần đàm đạo vào các dịp khác nhau.
“March 30th.—Received a telegram, through... from... that I might now come to Darjeeling and matters would be arranged.”
“Ngày 30 tháng Ba.—Nhận được một bức điện tín, qua... từ... rằng giờ tôi có thể lên Darjeeling và mọi việc sẽ được thu xếp.”
He left town on the 31st and got to Darjeeling on 1st April, where he was cordially welcomed by our members and became the guest of Babu Chhatra Dhar Ghose, F.T.S., one of our excellent colleagues. Three days later a representative of the personage who was leaving for Lhassa came to see him, and told. him to keep himself in readiness, although the day of departure was not yet fixed. Damodar saw the agent several times, and all details were agreed upon. At last, on [275] the 8th, the party arrived, and Damodar received his orders to start, which he did, as the following entry shows.
Anh rời thành phố ngày 31 và tới Darjeeling vào ngày 1 tháng Tư, nơi anh được các hội viên đón chào nồng hậu và trở thành khách của Babu Chhatra Dhar Ghose, F.T.S., một trong những đồng sự xuất sắc của chúng tôi. Ba ngày sau, một đại diện của vị nhân vật sắp rời đi Lhassa đến gặp anh, và bảo anh giữ mình sẵn sàng, dù ngày khởi hành chưa được ấn định. Damodar gặp người đại diện nhiều lần, và mọi chi tiết đều đã thỏa thuận. Sau cùng, vào [275] ngày mồng 8, đoàn đến nơi, và Damodar nhận lệnh lên đường, như mục ghi sau đây cho thấy.
“April l3th.—Left Darjeeling at 10.15 a.m. and reached Runjeet (about 11 miles) in the evening. Halted there.
“Ngày 13 tháng Tư.—Rời Darjeeling lúc 10 giờ 15 sáng và tới Runjeet (khoảng 11 dặm) vào buổi tối. Nghỉ lại đó.
“April 14th.—Left Runjeet about 7 a.m. Took rice (i.e., broke his fast) at Tasding, about one and a half miles from Tasding Bridge. Reached Vecha, about four miles beyond Kalingpong, in the evening at about 6 o’clock. Halted in a cow-shed for the night.
“Ngày 14 tháng Tư.—Rời Runjeet khoảng 7 giờ sáng. Ăn cơm (tức là bữa đầu tiên trong ngày) ở Tasding, cách Cầu Tasding khoảng một dặm rưỡi. Tới Vecha, khoảng bốn dặm sau Kalingpong, vào lúc khoảng 6 giờ chiều. Nghỉ đêm trong một chuồng bò.
“April l5th.—Left Vecha after morning coffee. Took bhât (rice) at Podaon, [33] where I met Babu Opendranath Mukhopadhyaya. Reached Renanga in the evening, where I sent.
“Ngày 15 tháng Tư.—Rời Vecha sau cà phê buổi sáng. Ăn bhât (cơm) tại Podaon, nơi tôi gặp Babu Opendranath Mukhopadhyaya. Tới Renanga vào buổi chiều, tại đó tôi cho phu [của]
. ‘s coolie back with the pony.
. mang ngựa quay về.
“April l6th.—Took bhât instead of coffee the next morning, and went on without stopping to Sanangthay, about a mile beyond Dichbring. Reached there before 5 p.m.
“Ngày 16 tháng Tư.—Sáng hôm sau, thay vì cà phê thì ăn bhât, và đi tiếp không dừng tới Sanangthay, khoảng một dặm sau Dichbring. Tới đó trước 5 giờ chiều.
Stopped in a Bhutia house.
Nghỉ trong một nhà của người Bhutia.
“April l7th.—Left Sanangthay in the morning after taking bhât, and got to Bhashithang in the evening at about 5. It is about two miles from Ranevon, which is on top of a hill at whose foot is this village.
“Ngày 17 tháng Tư.—Rời Sanangthay buổi sáng sau khi ăn bhât, và đến Bhashithang vào buổi chiều lúc khoảng 5 giờ. Chỗ này cách Ranevon khoảng hai dặm; Ranevon ở trên đỉnh đồi, còn làng này ở chân đồi.
“April l8th.—Left Bhashithang in the morning, after bhât. Reached, about 4 p.m., the river Dichoo, at the place called Doomrah, about three miles from, [276] Longboo. After crossing the river there is an ascent for about five miles before reaching the capital of the Sikkim Raja. Stopped for the night by the river.
“Ngày 18 tháng Tư.—Rời Bhashithang buổi sáng, sau khi ăn bhât. Vào khoảng 4 giờ chiều, tới sông Dichoo, ở nơi gọi là Doomrah, cách [276] Longboo khoảng ba dặm. Qua sông xong là có một đoạn dốc lên khoảng năm dặm trước khi đến kinh đô của Raja Sikkim. Nghỉ đêm bên bờ sông.
“April 18th.—Left the river in the early morning, after bhât, and reached Sikkim at noon. Stopped with the... (the personage with whom his journey was to be made). Saw him for an hour in the afternoon. Nothing in particular said. Am to have a talk to-morrow. Had another interview with him at night. He will tell me positively to-morrow about effecting my purpose. He leaves Sikkim the day after to-morrow.
“Ngày 18 tháng Tư.—Rời bờ sông vào sáng sớm, sau khi ăn bhât, và tới Sikkim vào buổi trưa. Nghỉ tại nơi của... (vị nhân vật mà tôi sẽ đồng hành). Gặp Ông một giờ vào buổi chiều. Chẳng nói gì đặc biệt. Sẽ có cuộc trò chuyện vào ngày mai. Lại có một buổi diện kiến khác với Ông vào ban đêm. Ngày mai Ông sẽ nói dứt khoát với tôi về việc thực hiện mục đích của tôi. Ông rời Sikkim ngày kia.
“April 20th.—Anotber talk with him.
“Ngày 20 tháng Tư.—Lại nói chuyện với Ông.
“April 21st.—Saw him again to-day. I wanted to go on to Longboo, but he wants me to remain till tomorrow, when he will be a little more at leisure.
“Ngày 21 tháng Tư.—Hôm nay lại gặp Ông. Tôi muốn đi tiếp đến Longboo, nhưng Ông muốn tôi ở lại tới ngày mai, khi Ông sẽ rảnh hơn một chút.
“April 22nd.—Left Sikkim in the morning at about 10 o’clock. Reached Kabi (about half a mile from Longboo) at 3 p.m. Halted there for the day. The... said he had not yet fully known me, but that I am destined for some important work within the next month or two; that I must probably be a big Tibetan lama reincarnated in Tibet. The Karma is great.
“Ngày 22 tháng Tư.—Rời Sikkim buổi sáng vào khoảng 10 giờ. Tới Kabi (cách Longboo chừng nửa dặm) lúc 3 giờ chiều. Nghỉ lại đó trong ngày. Vị... nói Ông vẫn chưa biết rõ tôi, nhưng rằng tôi được định cho một việc quan trọng nào đó trong vòng một hai tháng nữa; rằng tôi hẳn là một vị đại lama Tây Tạng tái sinh ở Tây Tạng. Nghiệp quả là lớn.
“April 23rd.—Took bhât in the morning, and proceeded on from Kabi alone, sending back my things with the coolies to Darjeeling.”
“Ngày 23 tháng Tư.—Sáng ăn bhât, và từ Kabi đi tiếp một mình, gửi đồ đạc của tôi với phu khuân vác về Darjeeling.”
Here the Diary ends, and this is the last written trace of this devoted, high-minded, enthusiastic young Brahmin, whose record since joining H. P. B. and myself at Bombay is one of unbroken energy and [277] unfaltering zeal in the cause of humanity. A nobler heart never beat in a human breast, and his departure was one of the hardest blows we ever received. As above remarked, he had almost broken down his constitution by incessant official work, and when leaving Adyar had begun to spit blood and show signs of a rapid decline. Yet, with undaunted courage, he undertook the hard journey across the Himâlayas, indifferent to the biting cold, the drifted snow, the lack of shelter and food, intent upon reaching the Guru whom he had first seen in his youth when lying on a sick-bed, of whom he had lost sight for many years, but whom he had recovered soon after joining the Theosophical Society, as his spiritual faculties developed and he was able to seek him in the sukshma œarira. What made him so devotedly attached and unswervingly loyal to H. P. B. was the discovery that this Guru was one of the Adepts behind our movement, the intimate associate of “Upasika,” as he always subsequently called H. P. B. From the chief coolie of his escort I got particulars about him of great interest. After the pony was sent back to Darjeeling, Damodar tried to proceed on foot up the steep acclivities of the mountain track, but his strength soon gave out, and after that the coolies carried him by turns on their backs. To conceal his connection with the Tibetan functionary who had promised his protection and aid Damodar was ordered to go on ahead two-days’ marches and then wait for the other to come up. That the junction should be unwitnessed, [278] the coolies were ordered back to Darjeeling. Damodar would not keep any more clothes than the ascetic costume he was wearing, nor any of the rice, meal, pulse, or other dry provisions with which his friends had supplied him. The most he would do was to let the chief coolie bake him a dozen chapaties, or unleavened pancakes. The last that was seen of him by the coolies was when, with face turned towards the Tibetan frontier, he trudged painfully on and disappeared behind a turning of the road. On their way back the coolies passed the personage who was following after our dear lad; and the jemadar heard subsequently that the junction had been effected, and the caravan proceeded on towards the pass through the mountains.
Nhật ký dừng ở đây, và đây là dấu vết chữ viết cuối cùng của chàng thanh niên Bà-la-môn tận hiến, cao thượng, nhiệt thành này, người mà kể từ khi gia nhập Bà H. P. B. và tôi ở Bombay đã có một hồ sơ hoạt động không ngừng nghỉ [277] và lòng nhiệt tâm không nao núng vì sự nghiệp của nhân loại. Không có trái tim nào cao quý hơn đã đập trong lồng ngực con người, và sự ra đi của anh là một trong những cú sốc nặng nề nhất mà chúng tôi từng nhận. Như đã nói ở trên, anh gần như đã đánh sập thể trạng của mình vì công việc hành chính liên miên, và khi rời Adyar anh đã bắt đầu khạc ra máu và có dấu hiệu suy sụp nhanh chóng. Thế nhưng, với lòng can đảm không nao núng, anh đã dấn mình vào cuộc hành trình gian khổ vượt dãy Himâlaya, không màng giá lạnh cắt da, tuyết vùi, thiếu thốn chỗ trú và thực phẩm, chỉ một lòng tìm đến Đạo sư mà anh đã gặp lần đầu khi còn trẻ, lúc nằm trên giường bệnh, người mà anh đã biệt tăm nhiều năm, nhưng anh đã gặp lại chẳng bao lâu sau khi gia nhập Hội Thông Thiên Học, khi các năng lực tinh thần của anh phát triển và anh có thể tìm đến Ngài trong sukshma œarira. Điều khiến anh gắn bó tận tụy và trung thành không chút lay chuyển với Bà H. P. B. là sự khám phá rằng vị Đạo sư này là một trong các chân sư đứng sau phong trào của chúng ta, bậc thân hữu mật thiết của “Upasika,” tên gọi mà về sau anh luôn dùng để gọi Bà H. P. B. Từ người đầu lĩnh phu khuân vác trong đoàn hộ tống anh, tôi biết được nhiều chi tiết rất đáng quan tâm. Sau khi con ngựa được cho quay lại Darjeeling, Damodar cố gắng đi bộ tiếp lên những con dốc gắt của đường núi, nhưng sức anh mau chóng kiệt, và sau đó các phu thay phiên nhau cõng anh trên lưng. Để che giấu mối liên hệ của anh với viên chức Tây Tạng đã hứa bảo hộ và giúp đỡ, Damodar được lệnh đi trước hai chặng đường rồi chờ người kia đuổi kịp. Để cuộc gặp gỡ không bị ai chứng kiến, [278] phu khuân vác được lệnh quay về Darjeeling. Damodar không chịu giữ lại quần áo nào ngoài y phục khổ hạnh anh đang mặc, cũng không giữ lại gạo, bột, đậu hay các loại lương khô khác mà bạn bè đã tiếp tế cho anh. Tối đa anh chịu để người đầu lĩnh phu nướng cho một tá chapaties, tức bánh dẹt không men. Lần cuối cùng phu còn thấy anh là khi, với mặt hướng về biên giới Tây Tạng, anh gắng sức bước đi và khuất sau một khúc quanh của đường mòn. Trên đường quay về, phu khuân vác đi ngang qua vị nhân vật đang theo sau chàng trai thân yêu của chúng tôi; và viên jemadar sau đó nghe tin rằng cuộc gặp gỡ đã diễn ra, và đoàn đã tiếp tục tiến về phía con đèo băng qua núi.
It is quite possible that Damodar’s rejected clothing may have been found in the snows, for it was agreed that he should receive Tibetan dress, and be supplied with food, shelter, transportation, and all necessaries. The finding of his frozen corpse is quite another matter. That is certainly a lie. A Mâyâ of his body may have been left there to make it appear as if the pilgrim had succumbed; but that he reached his destination safely, and has ever since been under the protection of his Guru, I have reason to believe. So far, however, as intercourse with him in the ordinary way is concerned, he might as well be dead, for he is inaccessible by post, telegraph, or messenger. Though he has written thrice to two persons in India, he has passed out of our reach as effectually as though his body had been [279] dropped into the sea in a shotted hammock, and I have refused the most urgent requests to disclose his place of abode or the possible time of his return. This latter for the good reason that I do not know when, if ever, he will come back to us. That he will, I believe; and I should not be surprised if he came when H.P.B., reincarnated and, like himself, changed beyond all recognition, shall resume the world-work she had to drop on “White Lotus Day” in 1891. It would be too unreasonable to imagine that the Lords of Karma would keep anyone of the best workers of the Theosophical movement idling about on the other planes of existence, when the cry of the suffering world for light and guidance is rising to their celestial abodes. Their chief desire and paramount duty is to help our human race to climb the path to the higher levels, where delusions, born of spiritual ignorance, wither away in the blaze of Wisdom like flowers bitten by a frost.
Hoàn toàn có thể quần áo Damodar bỏ lại đã được tìm thấy trong tuyết, vì đã thống nhất rằng anh sẽ nhận y phục Tây Tạng, và được cung cấp thực phẩm, chỗ ở, phương tiện di chuyển, và mọi thứ cần thiết. Còn chuyện tìm thấy xác anh đông cứng thì lại là chuyện khác hoàn toàn. Điều đó chắc chắn là bịa đặt. Có thể một Mâyâ của thân thể anh đã được để lại ở đó để làm ra vẻ như người lữ hành đã gục ngã; nhưng rằng anh đã tới đích an toàn, và từ đó đến nay vẫn ở dưới sự che chở của Đạo sư của mình, tôi có lý do để tin. Tuy nhiên, xét về việc giao tiếp theo cách thông thường với anh, thì chẳng khác nào anh đã chết, vì không thể liên lạc qua bưu tín, điện báo hay sứ giả. Dẫu anh đã viết ba lần cho hai người ở Ấn Độ, anh đã ra ngoài tầm với của chúng tôi hữu hiệu chẳng khác nào thân xác anh đã được [279] thả xuống biển trong một chiếc võng buộc chì, và tôi đã khước từ những lời nài nỉ thống thiết nhất yêu cầu tiết lộ nơi cư trú hay thời điểm có thể anh trở về. Điều sau này là vì lý do chính đáng rằng tôi không biết khi nào, nếu có, anh sẽ quay về với chúng tôi. Tôi tin rằng anh sẽ về; và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu anh trở về khi Bà H.P.B., tái sinh và, cũng như anh, đã thay đổi đến mức không ai nhận ra, sẽ nối lại công việc vì thế gian mà Bà phải bỏ dở vào “Ngày Hoa Sen Trắng” năm 1891. Thật quá phi lý nếu tưởng tượng rằng các Đấng của Nghiệp quả sẽ để bất cứ ai trong số những người phụng sự xuất sắc nhất của phong trào Thông Thiên Học nhàn rỗi ở các cõi tồn tại khác, khi tiếng kêu của thế giới đang đau khổ đòi hỏi ánh sáng và dẫn dắt đang dâng lên tới chốn thiên cung của Các Ngài. Ước vọng chủ đạo và bổn phận tối thượng của Các Ngài là giúp nhân loại chúng ta leo lên con đường hướng tới các cấp bậc cao hơn, nơi những ảo tưởng, sinh ra từ vô minh tinh thần, héo tàn trong rực lửa của Minh triết như hoa bị sương giá cắn táp.
CHAPTER XIX—CHAPTER XIX
IN NORTHERN INDIA AGAIN—LẠI Ở BẮC ẤN
I WAS loath to exchange the cool, bracing climate of Darjeeling for the hot, vaporous temperature of the Plains, but I had still many hundred miles of journeying before me before my tour should be finished and I could take rest at green Adyar, with its refreshing ocean breezes and its river running just beneath my chamber window. So, after more talks with the Tibetan traveller and my other friends, more conversations, and a public lecture at the Town Hall, I descended the mountain to Siliguri, the junction-place of the Himâlayan Railway and the Northern Bengal and sweltered in a temperature of 100o to a most uncomfortable extent. It suggested to me the change from the outer air on a crisp morning to that of a greenhouse. However, work had to go on all the same, and I organised the Siliguri T. S. that same evening, sat up late talking and answering the metaphysical conundrums they are so fond of putting in this country, and slept on the stone platform of the station as the coolest—say, rather, the least hot—place to be found.
Tôi miễn cưỡng rời khí hậu mát mẻ, hứng khởi của Darjeeling để trở về cái nóng ẩm bức của đồng bằng, nhưng tôi vẫn còn phải đi hàng trăm dặm nữa trước khi chuyến đi của mình kết thúc và tôi có thể nghỉ ngơi ở Adyar xanh mát, với làn gió biển sảng khoái và dòng sông chảy ngay dưới cửa sổ phòng tôi. Thế nên, sau những lần đàm đạo nữa với vị lữ khách Tây Tạng và các bạn hữu, thêm các cuộc chuyện trò, và một bài diễn thuyết công khai tại Tòa Thị chính, tôi xuống núi về Siliguri, nơi giao nhau của Đường sắt Himâlaya và Bắc Bengal, và rã rời trong nền nhiệt 100o một cách hết sức khó chịu. Nó gợi cho tôi cảm giác giống như chuyển từ không khí ngoài trời một buổi sáng lành lạnh vào một nhà kính. Tuy vậy, công việc vẫn cứ phải tiến hành, và tối hôm đó tôi tổ chức Hội T.T.H. Siliguri, thức khuya chuyện trò và trả lời những câu đố siêu hình mà người ta ở đây ưa đặt ra, và ngủ trên bệ đá của nhà ga vì đó là nơi mát nhất—đúng hơn, ít nóng nhất—có thể tìm được.
Saidpur, the next place on the programme, was reached at noon on the 19th (June, 1885), and at 6 p.m. I lectured to a very large gathering on [281] “Theosophy and the Aryan Revival”. There was another lecture on the next day and the admission of several new members as the happy proof that the malign influence of our persecutors had not spread that far. I went next to Rajshahye via Nattore, and I mention the detail merely because the distance from Nattore to my destination had to be made in a palanquin—the most ignoble of all modes of conveyance, I think, to a healthy man. Fancy yourself lying at ease on your back, smoking, reading, or dozing, in a coffin-like box carried by poles on the shoulders of six or eight undersized coolies, in a pouring rain, over a sticky clay road, twenty-eight miles in nine and a half hours; the wretched pole-bearers gasping a droning refrain the whole way, except when they would groan to excite your pity and get bakshish—and say whether I am not right. True, they are trained to it from boyhood, and at the end of such a heavy journey as this would come in to your place on the trot, but still I felt thoroughly ashamed of myself, innocent though I was of any part in the business. “Talk, talk, talk”—says my Diary—”with all the clever men in Rajshahye, including a German Professor of Physics in the local College”; and there were the usual public lectures and admissions into membership. The return transit to Nattore was even worse than the other, for, leaving at 2 p.m., we did not get there until after 2 a.m.! By that day noon we were back in Calcutta, and I went from the Sealdah station straight on to Bhowanipore to see Maji, who had come from Benares [282] on a visit to Nobin K. Bannerji at his family house. I had a three-hours’ talk with her through Nobin, and she told me that Damodar was then at a place four-days’ journey from Darjeeling. This we now see, on referring to his Diary, was not the fact; so it goes to make another point against the accuracy of Maji’s revelations—for which I am sorry. I saw her daily during the fortnight that- I spent in Calcutta, and was always much interested by her discourse. She was always surrounded by a small crowd of inquirers, and her answers displayed erudition and insight. Her attractive manner and sympathetic voice added to her popularity. Finally, there was that glamor of supposed mystical powers which attaches in India to every respectable yogî and yoginî, and which is a survival of the traditions of the olden times. These powers she must have had to some extent, for we have seen that on our first meeting, in 1879, before anything was known in India about H. P. B.’s connection with two certain Adepts, she told me things about them that she could not have learnt from third parties, and in Damodar’s Diary we read how she astonished him with her revelations about Subba Row and others. It was my early enthusiasm about her that mainly caused Nobin, Dinanath, Bihari, and Shama Charan Babus to come to her as disciples, and to do so much to make her known and popular in Bengal and Bihar; so that, naturally enough, I was most anxious for her reputation as a mystic to be fully sustained. If it has not, it is not my fault.
Saidpur, địa điểm kế tiếp trong chương trình, đến nơi vào trưa ngày 19 (tháng Sáu, 1885), và lúc 6 giờ tối tôi diễn thuyết trước một cử tọa rất đông về [281] “Thông Thiên Học và Sự Phục Hưng Arya”. Hôm sau có một bài nữa và lễ tiếp nhận một số hội viên mới—bằng chứng đáng mừng rằng ảnh hưởng độc hại của những kẻ bách hại chúng ta chưa lan tới đó. Kế đó tôi đi Rajshahye qua Nattore, và tôi nhắc chi tiết này chỉ vì quãng đường từ Nattore đến nơi tôi đến phải đi bằng kiệu—tôi cho đó là cách di chuyển thấp kém nhất đối với một người khỏe mạnh. Hãy tưởng tượng bạn nằm ngửa thoải mái, hút thuốc, đọc sách, hay chợp mắt, trong một cỗ hộp như quan tài mang bằng đòn trên vai sáu tám người phu thấp bé, trong cơn mưa xối xả, trên con đường đất sét dính nhớp, hai mươi tám dặm trong chín tiếng rưỡi; những người gánh đòn khốn khổ thở phì phò một điệu ngân nga suốt cả quãng, trừ khi họ rên rỉ để khơi dậy lòng thương hại của bạn hòng kiếm tiền thưởng—và thử nói xem tôi có nói quá không. Đúng là họ được tập luyện từ thuở bé, và sau một hành trình nặng nhọc như thế, họ vẫn có thể chạy nước kiệu vào chỗ bạn, nhưng tôi vẫn cảm thấy xấu hổ vô cùng, dù tôi vô can trong việc này. “Nói, nói, nói”—Nhật ký của tôi ghi vậy—”với tất cả những người thông minh ở Rajshahye, kể cả một Giáo sư Vật lý người Đức trong Trường Đại học địa phương”; và còn có các buổi diễn thuyết công cộng như thường lệ và tiếp nhận hội viên. Chặng quay lại Nattore còn tệ hơn, vì rời đi lúc 2 giờ chiều mà mãi tới sau 2 giờ sáng mới tới nơi! Trưa ngày hôm đó chúng tôi trở lại Calcutta, và tôi từ ga Sealdah đi thẳng tới Bhowanipore để gặp Maji, người đã từ Benares [282] đến thăm Nobin K. Bannerji ở nhà gia tộc của Ông. Tôi có một cuộc trò chuyện ba giờ với Bà qua lời dịch của Nobin, và Bà nói với tôi rằng Damodar lúc ấy ở một nơi cách Darjeeling bốn ngày đường. Nay đối chiếu với Nhật ký của anh, ta thấy điều đó không đúng; vậy là lại có thêm một điểm bất lợi về độ chính xác trong các lời mặc khải của Maji—điều này làm tôi tiếc. Tôi gặp Bà hàng ngày trong suốt nửa tháng ở Calcutta, và lúc nào cũng rất hứng thú bởi lời đàm đạo của Bà. Bà luôn có một đám nhỏ người hỏi han vây quanh, và các câu trả lời của Bà cho thấy học vấn uyên bác và tuệ tri. Cách thức cuốn hút và giọng nói đồng cảm của Bà càng làm tăng cảm tình nơi công chúng. Cuối cùng, có cái ảo cảm về những quyền năng huyền bí được cho là có, vốn ở Ấn Độ gắn liền với bất cứ yogi hay yogini đàng hoàng nào, và là tàn dư của truyền thống thời xưa. Những quyền năng ấy hẳn Bà có phần nào, vì như ta thấy, ngay cuộc gặp đầu tiên của chúng tôi năm 1879, trước khi ở Ấn Độ có ai biết về mối liên hệ của Bà H. P. B. với hai chân sư nhất định, Bà đã nói với tôi những điều về Các Ngài mà Bà không thể biết từ người thứ ba, và trong Nhật ký của Damodar ta đọc thấy Bà khiến anh kinh ngạc với những mặc khải về Subba Row và những người khác. Chính lòng nhiệt thành buổi đầu của tôi đối với Bà là nguyên nhân chủ yếu khiến các Babu Nobin, Dinanath, Bihari, và Shama Charan đến với Bà như các môn đồ, và làm rất nhiều để giới thiệu và khiến Bà được mến chuộng ở Bengal và Bihar; nên, dĩ nhiên, tôi hết sức mong danh tiếng của Bà như một người thần bí được vẹn toàn. Nếu không, thì không phải lỗi ở tôi.
[283]
[283]
The local Committee had me lecturing in all the quarters of Calcutta during my fortnight’s stay. Among other topics given me was a defence or Hinduism against the missionary charge of gross superstition and immorality. It will scarcely be credited by those who have even a superficial knowledge of the ethical teachings of the Aryan sages, that the chief of the Scottish Mission in Calcutta had the effrontery to put in print the assertion that Hinduism tends to make its men liars and its women unchaste; yet he did this, and it fell to me to refute this outrageous calumny. To hear me, the elite of Hindu society were invited, on 3rd July, to the house of the venerable scholar and nobleman, Raja Radhakanta Deb Bahadur, author of the great lexicon, Sabdakalpadruma. I believe every local Indian scholar of note was present, and that I had no great difficulty in proving my case.
Ban Tổ chức địa phương mời tôi diễn thuyết ở khắp các khu của Calcutta trong suốt nửa tháng tôi ở lại. Trong số những chủ đề họ giao cho tôi có một bài biện hộ cho Ấn giáo trước cáo buộc của các nhà truyền giáo về thói mê tín thô lậu và đồi bại. Những ai có chút hiểu biết sơ lược về giáo lý đạo đức của các bậc hiền triết Arya hẳn khó lòng tin được rằng vị đứng đầu Phái Truyền giáo Scotland ở Calcutta lại cả gan cho in lời khẳng định rằng Ấn giáo có khuynh hướng khiến đàn ông thành kẻ dối trá và đàn bà thành kẻ không trinh khiết; vậy mà Ông đã làm thế, và việc bác bỏ lời vu khống trắng trợn này rơi vào tôi. Để nghe tôi nói, giới tinh hoa trí thức Ấn giáo được mời, vào ngày 3 tháng Bảy, tới nhà của học giả và bậc quý tộc khả kính, Raja Radhakanta Deb Bahadur, tác giả bộ tự điển lớn, Sabdakalpadruma. Tôi tin rằng mọi học giả Ấn Độ có tiếng ở địa phương đều có mặt, và tôi không mấy khó khăn trong việc chứng minh lập luận của mình.
So far from encouraging, untruthfulness, dissoluteness of behavior, or any other vice, the Shastras teem with exhortations to noble conduct and the striving after the very highest ideals. Manu (VI, 92) enumeates the following “ten-fold system of virtuous duties”; Contentment; abstention from injury to others, active benevolence, and returning good for evil; resistance to sensual appetites; abstinence from theft or illicit gain; purity, chastity, and cleanliness; correction of the passions; acquisition of knowledge; acquisition of Divine Wisdom; veracity, honesty, and fidelity; freedom from wrath and hatred. A little farther on he says: “Persevere in good actions, subdue thy passions, [284] bestow gifts in a suitable manner, be gentle, bear hardship patiently, associate not with the malignant, and give pain to no sentient being.” Again, he says (II, 239; IV, 178): “Walk in the path of good people, the path in which thy forefathers walked. Take examples of good conduct from all, as nectar is taken from poison, gentleness of speech from a child, prudent conduct from an enemy, and gold from dross.” Again: “Though reduced to penury in consequence of thy righteous dealings, give not thy mind over to unrighteousness.” Then, we find in the Taittiriya, the Mundaka, and the Œandilya Upanishads this injunction: “Speak the truth (Satyam). Truth alone conquers, not falsehood. No religion or morality is higher than truth. Nothing is higher than truth.” It was hence that the Benares royal family took their motto, which, with the late Maharajah’s permission, I adopted as the legend of the Theosophical Society. “Mercy is the might of the righteous,” says the Vishnu Purana (I, 21), an axiom that matches the noble definition of Mercy that Shakespeare put into the mouth of Portia. And how poetical and touching is this sentiment from Hitopadesa: “A good man thinks only for benefiting all and cherishes no feeling of hostility towards anyone, even at the moment of his being destroyed by him; just as the sandal tree sheds perfume on the edge of the axe when it is being felled.” Manu (VI, 47) goes so far as to say: “Being treated cruelly, do not return the cruelty. Give blessing for curses.” Is there anything more noble in any other Scripture?
Trái ngược tuyệt đối với việc dung dưỡng thói bất trung, phóng đãng, hay bất cứ thói xấu nào, các Shastra tràn ngập những lời khuyên nhủ hướng tới hạnh kiểm cao quý và nỗ lực đạt tới các lý tưởng cao thượng nhất. Manu (VI, 92) liệt kê “mười điều hạnh đức” sau: tri túc; không làm tổn hại kẻ khác, bác ái chủ động, và lấy thiện đáp ác; chế ngự các dục lạc xác thân; không trộm cắp hay mưu cầu lợi bất chính; thanh khiết, trinh bạch, và sạch sẽ; điều phục các dục vọng; thủ đắc tri thức; thủ đắc Minh Triết Thiêng Liêng; chân ngôn, lương tín, và trung tín; thoát khỏi phẫn nộ và hận thù. Một đoạn sau đó, Ông nói: “Hãy bền bỉ trong việc lành, chế ngự dục vọng, [284] bố thí đúng chỗ, hòa ái, nhẫn chịu gian lao, chớ giao du với kẻ độc ác, và chớ làm đau bất cứ hữu tình nào.” Lại nữa, Ông nói (II, 239; IV, 178): “Hãy bước trên con đường của người hiền, con đường mà tổ tiên ngươi đã đi. Hãy rút gương hạnh kiểm từ mọi người, như rút cam lộ từ độc dược, lời nói nhu thuận từ trẻ thơ, hành vi thận trọng từ kẻ thù, và vàng từ bã bọt.” Lại nữa: “Dẫu sa vào cảnh nghèo túng vì sự cư xử công chính, chớ để tâm nghiêng về bất nghĩa.” Rồi, trong các Taittiriya, Mundaka, và Chandilya Upanishad, ta gặp lời huấn thị: “Hãy nói sự thật (Satyam). Chỉ có Chân lý là thắng, không phải hư ngụy. Không có tôn giáo hay đạo lý nào cao hơn Chân lý. Không gì cao hơn Chân lý.” Từ đây mà vương thất Benares lấy phương châm của mình, phương châm mà, với sự chấp thuận của cố Quốc vương, tôi đã chọn làm châm ngôn của Hội Thông Thiên Học. “Từ bi là sức mạnh của bậc chính trực,” Vishnu Purana (I, 21) nói vậy, một mệnh đề sánh ngang với định nghĩa cao quý về Lòng Thương xót mà Shakespeare đặt vào miệng Portia. Và lời này trong Hitopadesa thật thi vị và cảm động biết bao: “Người hiền chỉ nghĩ đến việc lợi lạc cho tất cả và không ôm một niệm oán ghét nào đối với bất kỳ ai, ngay cả vào khoảnh khắc bị người ấy hủy diệt; như cây chiên đàn tỏa hương lên lưỡi rìu khi bị đẵn hạ.” Manu (VI, 47) còn đi xa tới mức nói: “Bị xử tệ, chớ lấy tệ đáp tệ. Hãy ban phúc cho lời nguyền rủa.” Ở bất cứ Kinh điển nào khác có điều gì cao quý hơn chăng?
[285]
[285]
So we might go on multiplying similar quotations from the teachings of the Aryan sages, to prove the cruel injustice of those who concur with the Calcutta missionary that Hindu religion is the nurse of vicious tendencies. How can such people ever hope to convert intelligent Hindus to their religion? How far the sympathies of the Indian public went with us may be judged from the fact that, whereas my public audiences ran from 1,500 to 2,000, only a score or so of persons, and the Christians, went to listen to an address, given after my departure by one of the ablest preachers of the missionary party, denunciatory of our views!
Vậy ta có thể tiếp tục nhân lên những trích dẫn tương tự từ giáo huấn của các bậc hiền triết Arya, để chứng minh sự bất công độc ác của những ai đồng tình với nhà truyền giáo ở Calcutta rằng tôn giáo Ấn là chiếc nôi của thói xấu. Những người như thế làm sao có hy vọng cải đạo người Ấn trí thức theo tôn giáo của họ? Cái cách công chúng Ấn Độ ngả về phía chúng tôi có thể đánh giá từ sự thật là, nếu như cử tọa công khai của tôi từ 1.500 đến 2.000 người, thì chỉ có chừng hơn hai chục người, và là các tín đồ Cơ Đốc, tới nghe một bài diễn thuyết, được đọc sau khi tôi rời đi, bởi một trong những nhà giảng đạo tài năng nhất của phe truyền giáo, với nội dung công kích các quan điểm của chúng tôi!
On 7th July I left Calcutta for Bhagalpore, but was intercepted at Nalhati Junction by our dear brothers of Berhampore, and, so to say, compelled to diverge in their direction. Between Azimgunj and Berhampore is the Palace of the Nawab of Murshedabad, an old friend of mine; and he had arranged for me to break journey, spend part of the day with him, and dine at the Palace. I did so, and he and I had a long talk about religious and scientific matters, and parted with expressions of mutual goodwill. My reception by the friends at Berhampore was as usual, most cordial, and my four days there were full of pleasant experiences. With one exception, however; for on the 9th we heard by telegraph from Calcutta on the sudden death of Nobin K. Bannerji, President of this Branch, of whom I have spoken above. He was to have met me at Berhampore on the 9th, but died of an attack of cholera. Among our Indian [286] colleagues not one was more prized and beloved than he, and it is a consolation for me to know that he is likely to soon reappear in the ranks of our workers in a better body than he had in the last incarnation.
Ngày 7 tháng Bảy tôi rời Calcutta đi Bhagalpore, nhưng bị “chặn” ở ga giao Nalhati bởi các huynh đệ thân quý ở Berhampore, và, có thể nói, bị “ép” rẽ theo hướng của họ. Giữa Azimgunj và Berhampore là Cung điện của vị Nawab xứ Murshedabad, một người bạn cũ của tôi; và Ông đã thu xếp để tôi đứt quãng hành trình, dành một phần ngày với Ông, và dùng bữa tối ở Cung. Tôi đã làm vậy, và Ông với tôi trò chuyện dài về các vấn đề tôn giáo và khoa học, và chia tay với những lời bày tỏ thiện ý lẫn nhau. Các bạn ở Berhampore đón tôi như thường lệ, nồng hậu hết mực, và bốn ngày ở đó tràn đầy những trải nghiệm dễ chịu. Tuy có một ngoại lệ; vì vào ngày mồng 9 chúng tôi nhận điện từ Calcutta báo tin đột ngột về sự qua đời của Nobin K. Bannerji, Chủ tịch Chi bộ này, người tôi đã nhắc tới ở trên. Ông vốn sẽ gặp tôi ở Berhampore ngày mồng 9, nhưng đã mất vì một cơn dịch tả. Trong số các đồng sự Ấn Độ của chúng tôi, không ai được quý trọng và yêu mến hơn Ông, và điều an ủi tôi là biết rằng Ông có khả năng sớm tái xuất trong hàng ngũ các cộng tác viên của chúng ta với một thân thể tốt hơn thân xác Ông có trong tiền kiếp vừa rồi.
I reached Bhagalpore, my next station, on the 12th, and became the guest of Tej Narain, whom I have mentioned in my notes on the Darjeeling visit. Here I met Babu Baidyanath Bannerji, my blind patient of Calcutta, whose sight I restored as the reader will probably remember. Well, I found him again blind. His restored sight lasted only six months and then faded out, and the pall of black night again descended upon him. As before, a boy now led him into my presence, and he looked up into my face with that inexpressibly touching expression that one finds in the eyes of the sightless ones. I felt very sorry, and not altogether hopeful of being able to do any good. However, I drew him into the room, kept him standing, and began the same course of manipulation that I had employed so successfully two years before. I touched my finger-points to his closed eyes, sometimes those of one hand, sometimes of both; when it was the former it was the right hand that I held to the eyes, and the left was laid on the nape of the neck. Then I made passes before the eyes and the brow, and, finally, breathed gently on the eyeballs through a glass tube. All the while, of course, I was willing with my whole strength that the sight should be restored. Thus keeping on for a half-hour, I was at last rejoiced to hear him ask: “Is that a table behind you?” It was, [287] and thenceforward and by degrees the blessed light came back into his darkened orbs, until he could at last distinguish every object in the room. Ah, if you could have seen the heavenly smile that spread over his features then! You would have stood there, as I did, amazed at the discovery that you had this sort of divine gift of healing, and that it needed but a few passes of your fingers and a few breathings over a blind man’s eyes to draw him out of midnight gloom into the sunlight of sight, with the whole panorama of surrounding objects opened before him.
Tôi tới Bhagalpore, trạm kế, vào ngày 12, và làm khách của Tej Narain, người tôi đã nhắc tới trong các ghi chép về chuyến thăm Darjeeling. Ở đây tôi gặp Babu Baidyanath Bannerji, bệnh nhân mù của tôi ở Calcutta, người mà, như độc giả hẳn còn nhớ, tôi đã phục hồi thị lực. Vâng, tôi lại thấy Ông mù. Thị lực phục hồi chỉ tồn tại được sáu tháng rồi phai nhạt, và màn đen đêm tối lại phủ xuống Ông. Như trước kia, một cậu bé dắt Ông vào phòng tôi, và Ông ngước lên nhìn mặt tôi với vẻ biểu cảm không thể tả mà người ta thấy trong đôi mắt của những người không thấy ánh sáng. Tôi rất buồn, và không hẳn hy vọng có thể giúp được gì. Dẫu vậy, tôi kéo Ông vào phòng, để Ông đứng, và bắt đầu cùng một liệu trình thôi miên mà tôi đã dùng rất thành công hai năm trước đó. Tôi đặt các đầu ngón tay lên đôi mắt đang nhắm của Ông, lúc thì một tay, lúc thì cả hai; nếu chỉ một tay thì là tay phải đặt lên mắt, còn tay trái đặt ở gáy. Rồi tôi làm những động tác phẩy trước mắt và trán, và sau cùng, thổi nhẹ lên nhãn cầu qua một ống thủy tinh. Suốt thời gian đó, dĩ nhiên, tôi dùng hết ý chí mong thị lực được phục hồi. Sau chừng nửa giờ, tôi mừng rỡ nghe Ông hỏi: “Có phải đó là chiếc bàn phía sau ông không?” Đúng vậy, [287] và từ lúc ấy, từng chút một, ánh sáng diệu kỳ trở lại trong đôi mắt từng bị bóng đêm che phủ của Ông, cho đến khi cuối cùng Ông có thể phân biệt mọi vật trong phòng. A, nếu bạn có thể thấy nụ cười thiên thượng bừng lên trên diện mạo Ông lúc đó! Bạn hẳn sẽ đứng như tôi đã đứng, kinh ngạc trước phát hiện rằng mình có một phẩm ân chữa lành như thế, và rằng chỉ cần vài cái phẩy của ngón tay và vài hơi thở lên mắt của một người mù là có thể đưa Ông từ đêm trường tăm tối trở lại ánh dương, với toàn bộ bức tranh của những vật quanh mình hiện ra trước mắt.
This case of Baidyanath teaches a great scientific fact, viz., that blindness, when due to suspended nerve action, may be removed by mesmeric treatment, provided that the right conditions as to mesmeriser and patient are given; that the sight, thus restored, may fade out after a time, when, presumably, the nerve-stimulus has subsided for lack of renewal; that, even after an interval of two years, the sight may be again restored and after even a very brief treatment. The reader will recollect that when Badrinath (or Baidyanath) Babu was first treated by me at Calcutta and elsewhere, after ten treatments he was able to read fine print with one eye and see a bed of flowers at some distance with the other. On this second occasion, two years later, I made it possible for him, after a bare half-hour’s treatment, to read the smallest type in a newspaper and, of course, to distinguish every object within the range of ordinary vision. It is true—as I learned subsequently—that [288] his sight failed him a second time, but only after twice the number of months that it had before. This made me believe that if I could have had the patient under constant treatment for, say six months, the optic nerves would have been restored to normal function and the cure completed. The lesson to professional healers is that they should never despair if there should be a relapse after a first success. Moreover, they should note that, whereas the confidence of the patient may have been shaken by the loss of sight after the first operation, it can be restored in spite of that, with one-tenth the trouble as before. The sine quâ non is that there shall be no lesion in the nerves, for that makes a break that can never be mended.
Ca của Baidyanath đem lại một sự thật khoa học lớn, đó là: mù lòa, khi do hoạt động thần kinh bị đình trệ, có thể được tháo gỡ bởi trị liệu thôi miên, miễn là hội đủ điều kiện đúng đắn về phía người thôi miên và bệnh nhân; rằng thị lực, một khi phục hồi như vậy, có thể phai nhạt sau một thời gian, khi, phỏng đoán rằng kích thích thần kinh đã suy giảm vì thiếu tái tạo; rằng, ngay cả sau một khoảng cách hai năm, thị lực vẫn có thể phục hồi lần nữa và chỉ sau một trị liệu rất ngắn. Độc giả hẳn còn nhớ rằng khi Badrinath (hay Baidyanath) Babu lần đầu được tôi trị liệu ở Calcutta và nơi khác, sau mười lần trị liệu, Ông có thể đọc chữ nhỏ bằng một mắt và thấy một khóm hoa ở một khoảng cách bằng mắt kia. Ở lần thứ hai này, hai năm sau, tôi khiến Ông, sau vỏn vẹn nửa giờ trị liệu, có thể đọc cỡ chữ nhỏ nhất trên tờ báo và, dĩ nhiên, phân biệt mọi vật trong tầm nhìn thông thường. Sự thật là—như tôi biết sau đó—[288] thị lực của Ông lại suy lần thứ hai, nhưng chỉ sau số tháng gấp đôi so với lần trước. Điều này khiến tôi tin rằng nếu tôi có thể giữ bệnh nhân trong chế độ trị liệu liên tục, giả sử sáu tháng, thì các dây thần kinh thị giác sẽ được phục hồi hoạt động bình thường và sự chữa lành sẽ hoàn tất. Bài học cho những người chữa trị chuyên nghiệp là không bao giờ nên tuyệt vọng nếu có tái phát sau một thành công đầu tiên. Hơn nữa, họ nên lưu ý rằng, dẫu niềm tin của bệnh nhân có thể bị lung lay bởi việc mất thị lực sau ca chữa trị đầu, thì niềm tin đó vẫn có thể được khôi phục bất chấp điều ấy, với công sức chỉ bằng một phần mười lần trước. Điều kiện ắt có là không có tổn thương ở thần kinh, vì như thế là một chỗ đứt không bao giờ có thể hàn gắn.
At Jamalpur, when ‘lying in bed one morning, I had my first experience of an earthquake, and it was curious. It seemed to me as if the house were solid but built on a stratum of bog, or jelly, which was all of a quiver, like the generous paunch of St. Nicholas when he was laughing—if we may believe the famous Christmas poem! While it lasted, my memory recalled sundry stories of historical earthquakes, and I was not sure whether the house would not tumble about my ears; still I thought I might as well take the chances where I was, as to rush outdoors and perhaps drop down some crack.
Ở Jamalpur, khi đang nằm giường một buổi sáng, tôi lần đầu trải nghiệm động đất, và thật là kỳ lạ. Tôi thấy như căn nhà vẫn vững, nhưng xây trên một tầng bùn hoặc thạch, toàn thân rung lên, như chiếc bụng phệ hào phóng của Thánh Nicholas lúc cười—nếu ta tin bài thơ Giáng Sinh nổi tiếng! Khi nó còn đang lắc, trí nhớ tôi chợt hiện về dăm ba câu chuyện về những trận động đất lịch sử, và tôi không chắc ngôi nhà có sập xuống quanh mình hay không; tuy vậy, tôi nghĩ thà ở yên đâu ở đó còn hơn là lao ra cửa và có khi sụp xuống một khe nứt.
Among the topics of discourse given me here by the local Committee was: “Theosophy Not Antagonistic to Hinduism.” On thinking it over, I invented a new plan. Among the members of the Bhagalpore. [289] T.S. was the late Pandit Nityânand Misra, a most excellent man and capable Sanskrit scholar, who had come to Jamalpur with me. So I arranged with him that he should sit beside me at the lecture, I should go on and make my points one by one, should pause after each, and he should then rise, repeat some sloka of Gita without a word of comment, and then sit down, and I would go on to my next stage. Both he and I spoke extemporaneously—i.e., without notes or any defined plan previously agreed upon—and this made all the more interesting and striking his flexibility of mind and thorough familiarity with his national literature. The effect on the audience may be guessed.
Trong số các chủ đề diễn thuyết được Ban địa phương giao cho tôi ở đây có: “Thông Thiên Học Không Đối Kháng Với Ấn giáo.” Nghĩ kỹ, tôi nghĩ ra một cách mới. Trong các hội viên của Hội T.T.H. Bhagalpore [289] có cố Pandit Nityânand Misra, một người rất tốt và là học giả Sanskrit vững vàng, Ông đã đi Jamalpur với tôi. Vậy là tôi bàn với Ông rằng Ông sẽ ngồi cạnh tôi trong buổi diễn thuyết, tôi sẽ trình bày các luận điểm của mình từng điều một, dừng lại sau mỗi điều, và Ông sẽ đứng lên, đọc một sloka của Gita mà không bình luận một lời nào, rồi ngồi xuống, và tôi tiếp sang đoạn tiếp theo. Cả Ông lẫn tôi đều nói ứng khẩu—tức là không có ghi chú hay dàn ý định sẵn—và điều này càng làm cho sự uyển chuyển trong tâm trí của Ông và sự am tường thâm hậu văn hiến dân tộc của Ông trở nên thú vị và ấn tượng. Hiệu quả trên thính giả có thể dễ bề đoán định.
At Bankipur I was kept up to a very late hour, the day of arrival, by visitors, and on retiring I sank into one of those deep sleeps which I can always get when there is nothing else to do, and which brace me up for the wearisome round of a travelling tour. At the College, the next day, I had a very crowded audience, including several hundred students, the ones I most love to address. One of the Professors, an English gentleman, was good enough to preside, and his boys were particularly enthusiastic. The Principal, however, moved by an unreasoning prejudice, refused the hall for the second lecture, and the Committee had to make other arrangements. If these narrow-minded men could only realise how they weaken their personal influence with their pupils by these futile attempts to do us harm; how, in fact, they largely increase their sympathy and their enjoyment of your discourses [290] on the national literature and religion, surely they would not be so tactless as they usually are. Not one of them ever heard a Theosophical lecturer say one word that was opposed to good morals, or that had the slightest tendency to make his or her hearers worse than they are; quite the contrary; yet they go on nourishing hatred against us, and vainly trying to belittle our strong influence in every way by word and action. Poor creatures, they might as well try to pull the stars out of the sky! While they are dreaming their impotent dreams of malice, the influence of Theosophy is travelling the whole earth, like a thrill of electric force that might run around the planet. One has to come to India to realise how a whole community of European people can become steeped in besotted prejudice against us. Their own relatives at home throng Mrs. Besant’s lectures, buy our books, take in our magazines, and join our Branch Societies; but these hold themselves aloof, and use the name of our dear H.P.B. as a word to curse by. More’s the pity, for I am perfectly sure that it would only need the aid of some ardent society man, like the late Samuel Ward, or society woman, like some I know of in our European and American Branches, to bring around nine-tenths of the community. But then we public speakers should have to lecture to them and such few of the higher-class Hindus as they might choose to invite, or to confine our talks to their drawing-rooms where no ordinary Hindu is welcomed. In a word, the color line is drawn across the gateway of almost every [291] Anglo-Indian bungalow, and our obliviousness to this fact is one the strongest causes of our unpopularity. One could see, when Mr. and Mrs. Sinnett and Mr. Hume were introducing us into Anglo-Indian society at Simla, that there were no insuperable obstacles between them and ourselves, and that if we could run in their grooves we might in time become quite friendly. But this we could never do, for that would mean almost cutting ourselves adrift from Hindu society; and so we must go on as hitherto, close to the hearts of the Indians and far away from the other community, our blood relations and nearest of kin in the flesh—of this incarnation. It seems a pity, but we can’t help it; for one reason, that we can neither afford the money that we should have to spend in society, nor the time that would have to be consumed in visiting and going to “functions of sorts” to keep up acquaintances.
Ở Bankipur, ngày đến nơi, tôi phải tiếp khách tới rất khuya, và khi đi ngủ tôi chìm vào một giấc ngủ sâu, thứ tôi luôn có thể tìm được khi chẳng còn việc gì khác để làm, và nó vực tôi dậy cho vòng quay mệt mỏi của một chuyến đi dài. Hôm sau, tại Trường Đại học, tôi có một cử tọa rất đông, gồm vài trăm sinh viên, những người mà tôi thích nhất khi nói chuyện cùng. Một vị Giáo sư, một quý ông người Anh, đã vui lòng chủ tọa, và các học trò của Ông nhiệt thành đặc biệt. Tuy nhiên, vị Hiệu trưởng, bị chi phối bởi một thành kiến vô lý, từ chối cho mượn hội trường cho buổi thứ hai, và Ban Tổ chức phải thu xếp nơi khác. Nếu những người thiển cận ấy có thể hiểu rằng họ làm suy yếu ảnh hưởng cá nhân của mình với học trò bằng những nỗ lực vô ích nhằm làm hại chúng tôi như thế nào; rằng, thực ra, họ còn làm tăng nhiều cảm tình và niềm thích thú của sinh viên khi nghe các bài [290] giảng của bạn về văn học và tôn giáo dân tộc, thì chắc họ đã không vụng về như thường thấy. Chẳng ai trong số họ từng nghe một diễn giả Thông Thiên Học nói một lời đi ngược đạo đức, hay có xu hướng làm cho người nghe trở nên tệ hơn; trái lại hoàn toàn; vậy mà họ vẫn nuôi dưỡng lòng thù ghét chúng tôi, và vô ích tìm cách làm nhẹ uy thế mạnh mẽ của chúng tôi bằng mọi đường lời nói và hành động. Tội nghiệp thay, họ chẳng bằng kéo sao trên trời xuống! Trong khi họ mơ những giấc mơ bất lực về ác ý, ảnh hưởng của Thông Thiên Học đang đi khắp địa cầu, như một luồng điện có thể chạy vòng quanh hành tinh. Người ta phải đến Ấn Độ mới cảm ra được một cộng đồng người Âu có thể bị chìm đắm trong thành kiến ngu muội chống chúng tôi như thế nào. Chính thân quyến của họ ở quê nhà chen chúc nghe bà Besant diễn thuyết, mua sách của chúng tôi, đặt tạp chí của chúng tôi, và gia nhập các Chi bộ của chúng tôi; nhưng họ thì giữ mình tách biệt, và dùng tên người thân yêu H.P.B. của chúng tôi như một lời để nguyền rủa. Càng đáng tiếc, bởi tôi chắc chắn rằng chỉ cần sự trợ sức của một nhà giao tế xã hội hăng say nào đó, như cố Samuel Ward, hay một phụ nữ thượng lưu nào đó, như vài người tôi quen thuộc trong các Chi bộ Âu Mỹ của chúng tôi, là có thể lay chuyển chín phần mười cộng đồng. Nhưng rồi chúng tôi, những người diễn thuyết công chúng, sẽ phải nói chuyện với họ và với số ít người Ấn thuộc tầng lớp cao mà họ chọn để mời, hoặc giới hạn các cuộc chuyện trò trong phòng khách của họ, nơi hầu như không người Ấn nào bình thường được chào đón. Nói gọn lại, đường ranh màu da vạch rõ trước cổng hầu hết [291] các biệt thự Anglo-Ấn, và sự không màng của chúng tôi đến sự thật này là một trong những nguyên nhân mạnh nhất của sự mất cảm tình với chúng tôi. Người ta có thể thấy, khi Ông Bà Sinnett và Ông Hume dẫn dắt chúng tôi vào xã hội Anglo-Ấn ở Simla, rằng không hề có những rào cản không thể vượt giữa họ và chúng tôi, và rằng, nếu chúng tôi sẵn sàng chạy trên những đường ray của họ, thì rồi cũng có thể khá thân thiện. Nhưng đó là điều chúng tôi không thể làm, vì nó có nghĩa là gần như cắt khỏi xã hội Ấn; và thế là chúng tôi phải tiếp tục như trước nay, gần gũi trái tim của người Ấn và xa cách cộng đồng kia, những người cùng huyết thống và gần gũi nhất với chúng tôi trong xác phàm—trong kiếp sống này. Thật có vẻ đáng tiếc, nhưng chúng tôi không thể khác; vì một lẽ, chúng tôi không thể kham nổi tiền bạc phải chi cho xã hội, cũng như thời gian phải tiêu tốn vào việc thăm viếng và đi dự các “buổi tiệc kiểu này hay kiểu kia” để giữ quan hệ.
At Benares, Pandit Bhavâni Shankar Ganesh—then doing duty as one of our Branch Visitors—joined me for the rest of the tour throughout the N.W.P. We took boat on the Ganges to pay a visit to Maji’s ashram, to which she had returned from her Calcutta visit. We were caught in a heavy downpour of rain and well wetted. [34] In the afternoon H.H. the old Maharajah of Benares presided at my lecture at the Town [292] Hall, and the notorious Raja Siva Prasad interpreted; which did not give satisfaction to the better part of the audience, as he indulged in remarks of his own, adverse to my views. At the close, that ripe scholar and ex-professor at the Anglo-Sanskrit College, Babu Pramada Dasa Mitra, made a very dignified and acceptable. speech in moving the vote of thanks. He was my Chairman the next day at a lecture to Indian Youth, in the course of which I gave a summary digest of the Six Schools of Indian Philosophy, and which caused an orthodox Hindu gentleman to call on me next day and say that I had now brought the orthodox community to realise that our Society was not a mere Buddhist propaganda. He said I was to be elected a member of the Sanskrit Club, which held daily sessions to recite and discuss Shastras.
Ở Benares, Pandit Bhavâni Shankar Ganesh—khi ấy đang đảm trách vai trò một trong các Thanh tra Chi bộ của chúng tôi—gia nhập cùng tôi cho phần còn lại của chuyến đi qua toàn bộ Tỉnh Tây Bắc. Chúng tôi đi thuyền trên sông Hằng để thăm ashram của Maji, nơi Bà đã quay về từ chuyến đi Calcutta. Chúng tôi bị một trận mưa lớn xối xả và ướt sũng. Buổi chiều, Quốc vương già của Benares chủ tọa bài diễn thuyết của tôi tại [292] Tòa Thị chính, và vị Raja Siva Prasad nổi tiếng làm thông ngôn; điều này không làm hài lòng phần tốt hơn của cử tọa, vì Ông tự tiện chen lời bình phẩm riêng, bất lợi cho quan điểm của tôi. Cuối buổi, học giả lão luyện và cựu giáo sư tại Trường Cao đẳng Anh-Sanskrit, Babu Pramada Dasa Mitra, đã có một bài phát biểu rất trang nhã và dễ chịu khi đề nghị bỏ phiếu cảm tạ. Hôm sau, Ông chủ tọa buổi nói chuyện của tôi với Thanh niên Ấn Độ, trong đó tôi tóm lược sáu Phái triết học Ấn Độ, và điều này khiến một quý ông Ấn giáo chính thống đến thăm tôi hôm sau và nói rằng giờ đây tôi đã khiến cộng đồng chính thống nhận ra rằng Hội của chúng tôi không phải chỉ là một phong trào truyền bá Phật giáo. Ông nói tôi sẽ được bầu làm hội viên Câu lạc bộ Sanskrit, nơi họp hàng ngày để tụng và thảo luận Shastra.
We next moved on to Mirzapur, at the request of the Maharajah of Durbhunga, then stopping there at one of his many palaces. He sent Col. Jung Bahadur, of Nepal, and Babu Juggul Kissore, his own Political Agent, to meet us at the station and see us housed, and later in the day came and took me for a drive [293] and a three-hours’ talk. We spent two days with him, and before leaving he expressed his great appreciation of our Theosophical movement, which, he said, he felt sure was destined to do immense good to his country. He then handed me a Government Promissory Note for Rs. 1,000, which sum, he said, I might count on his giving us annually. This was done without the slightest preliminary expectation on my part, and I felt very grateful indeed. How he kept his promise will be shown in due time.
Chúng tôi tiếp tục đến Mirzapur, theo lời thỉnh mời của Quốc vương Durbhunga, khi ấy đang dừng chân tại một trong nhiều cung điện của Ông. Ông phái Đại tá Jung Bahadur, của Nepal, và Babu Juggul Kissore, Đặc vụ Chính trị của chính Ông, tới đón chúng tôi ở ga và thu xếp chỗ ở, và muộn hơn trong ngày Ông đến đón tôi đi dạo [293] và trò chuyện ba giờ. Chúng tôi dành hai ngày với Ông, và trước khi chia tay, Ông bày tỏ sự đánh giá cao của mình đối với phong trào Thông Thiên Học, mà Ông nói rằng Ông tin chắc định mệnh là sẽ mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia của Ông. Rồi Ông trao cho tôi một Kỳ phiếu Chính phủ trị giá 1.000 Rs., và nói rằng tôi có thể trông chờ Ông sẽ tặng chúng tôi khoản này hàng năm. Việc này diễn ra hoàn toàn không có mong đợi ban đầu nào từ phía tôi, và tôi thực sự rất biết ơn. Ông đã giữ lời hứa thế nào sẽ được nói rõ đúng lúc.
On to Fyzabad next, where there are almost as many wild monkeys. swarming over the house and shop roofs as there are people in the place. And pestiferous creatures they are: they will dart into your very room and snatch and run off with any fruit, article of dress or toilet, or any other loose and portable object that may be lying about. One tall chap sneaked at night into my servant Babulal’s window, carried off his trousers, leaped across the narrow street to the roofs, called his friends together, and went to biting and tearing the garment, out of sheer mischief.
Tiếp tục tới Fyzabad, nơi có gần như nhiều khỉ hoang leo nhung nhúc trên mái nhà và mái hiên các cửa tiệm như số người trong vùng. Và lũ ấy thật phiền toái: chúng sẽ lao thẳng vào phòng của bạn và chộp rồi chạy với bất cứ thứ gì là trái cây, vật dụng hay đồ trang sức, hay bất kỳ món lặt vặt nào có thể cầm đi được. Một tay cao kều lẻn vào cửa sổ ban đêm của người hầu Babulal của tôi, cuỗm quần tây của anh, nhảy qua con phố hẹp lên mái nhà, gọi đồng bọn kéo đến, và bèn cắn xé cái quần chỉ vì nghịch ngợm.
At my lecture here the very large audience was swelled by the presence of some two or three dozen Europeans—an unusual circumstance. H. H. the Rajah of Ayodhya, the ancient kingdom of Srî Râma, came to call on me, as did also a number of Pandits and a Committee with the usual address and garlands.
Trong buổi diễn thuyết của tôi ở đây, cử tọa rất đông còn có thêm chừng hai ba chục người châu Âu—một chuyện hiếm. Quốc vương Ayodhya, vương quốc cổ của Srî Râma, tới thăm tôi, cũng như một số Pandit và một Ủy ban với lời chào mừng và vòng hoa như thường lệ.
On 29th July I rose at 3 a.m., crossed the swollen Ghogra River in an open boat in a heavy rain-storm, took train, and reached Gorakpur at 7 in the evening.
Ngày 29 tháng Bảy tôi dậy lúc 3 giờ sáng, vượt sông Ghogra đang dâng đầy trong một chiếc thuyền không mui giữa cơn mưa bão, lên tàu, và tới Gorakpur lúc 7 giờ tối.
[294]
[294]
Here, as at all the Northern stations, there were long discussions on the Coulomb-Missionary case, the putting of questions, the showing of letters and papers by me, an invitation of full inquiry, and the re-establishment of confidence and good feeling between us. A tour of this kind seems to acquire a sort of spiritual source as it goes on, which follows and surrounds the lecturer, making him increasingly confident and influential, and more and more able to drive back hostile currents that may be flowing into his vortex. I fancy this has occurred to all the travelling representatives of our Society; they may have felt the power without having stopped to analyse its cause. To get at that, one must look on the next higher plane of consciousness above this one of our everyday world.
Ở đây, như ở tất cả các trạm phía Bắc, diễn ra những cuộc thảo luận dài về vụ Coulomb - Truyền giáo, những câu hỏi được đặt ra, thư từ và giấy tờ do tôi đưa xem, lời mời gọi điều tra đầy đủ, và sự tái lập niềm tin cùng cảm tình giữa đôi bên. Một chuyến đi như thế dường như có được một thứ nguồn lực tinh thần riêng khi nó diễn tiến, nguồn lực này theo sát và bao bọc người diễn giả, khiến người đó ngày càng tự tin và có ảnh hưởng hơn, và ngày càng có khả năng đẩy lùi các dòng đối nghịch có thể đang chảy vào vòng xoáy của mình. Tôi mường tượng điều này đã xảy đến với tất cả các đại diện lưu động của Hội chúng ta; họ có thể đã cảm nhận được sức mạnh ấy mà không dừng lại để phân tích nguyên do của nó. Muốn chạm tới điều đó, người ta phải nhìn lên cõi tâm thức cao hơn cõi đời thường của chúng ta một bậc.