← Old Diary Leaves 3

CHAPTER XXX—CHAPTER XXX

CHAPTER XXX—CHAPTER XXX

H. P. B. FOUNDS “LUCIFER”—H. P. B. SÁNG LẬP “LUCIFER”

THE disturbing factor in our Indian Branch formation is, as above noticed, the constant transfer of Government servants from one station to another. This makes it always impossible to forecast the term of a Branch’s activity, as that depends upon the length of stay at the station of the one, two, or three leading sprits who caused the Branch to come into being, lead its members in Theosophical work, and make it seem to their colleagues that without them the Branch must collapse. For this reason it is always wise, where possible, to put residents of the town, such as pleaders, merchants, doctors, or teachers, not in Government service, into the offices of President and Secretary, when the cleverer or more enthusiastic Government employé is likely to be transferred within the next few months. But, if the system of transfers sometimes causes the temporary collapse of Branches, it also tends to the resuscitation of collapsed Branches or the formation of new ones by the transfer of these precious Theosophical workers to stations where their help is most needed. So moves on this ponderous Indian official machine, and, concomitantly, the Theosophical movement in India surges ahead, ever broadening and [440] strengthening, ever settling down upon the strong foundations which we have laid for it in the Indian heart.

Yếu tố gây xáo trộn trong việc thành lập các Chi bộ Ấn Độ của chúng ta là, như đã nói, sự luân chuyển không ngừng các công chức từ nơi này sang nơi khác. Điều đó khiến luôn luôn không thể dự đoán được thời hạn hoạt động của một Chi bộ, vì điều này tùy thuộc vào thời gian lưu nhiệm tại trạm của một, hai, hay ba linh hồn chủ lực, những người làm cho Chi bộ ra đời, dẫn dắt hội viên trong công việc Thông Thiên Học, và khiến cho đồng liêu cảm thấy rằng nếu thiếu họ, Chi bộ ắt sụp đổ. Vì lý do này, khôn ngoan nhất là, ở đâu có thể, hãy đặt cư dân tại chỗ—như các luật sư, thương gia, y sĩ hoặc giáo viên không thuộc biên chế chính phủ—vào các chức Trưởng Chi bộ và Thư ký, khi mà nhân viên chính phủ, tuy giỏi hơn hoặc nhiệt thành hơn, có khả năng sẽ bị chuyển đi trong vài tháng tới. Tuy thế, nếu chế độ luân chuyển đôi lúc khiến các Chi bộ tạm thời lụi tàn, thì nó cũng góp phần phục sinh các Chi bộ đã lụi hoặc thành lập các chi mới khi chuyển giao những người làm việc Thông Thiên Học quý báu ấy đến các trạm đang rất cần sự trợ giúp của họ. Cỗ máy hành chính Ấn Độ đồ sộ vẫn chuyển động như vậy, và song hành, phong trào Thông Thiên Học ở Ấn trào dâng về trước, luôn mở rộng và [440] vững mạnh, luôn an cư trên những nền tảng vững chắc mà chúng tôi đã đặt cho nó trong trái tim Ấn Độ.

The foregoing remarks are apropos of the languishing states in which I found the Nagpur T.S. and the Sanskrit School, for whose upkeep I had raised a generous sum at a public meeting two years previously. Several of our best working members had been transferred.

Những nhận xét trên đây nhằm nói đến tình trạng èo uột mà tôi thấy ở Chi bộ T. S. Nagpur và Trường Sanskrit, nơi vì sự duy trì mà hai năm trước tôi đã gây được một khoản dồi dào trong một cuộc mít-tinh công cộng. Vài hội viên làm việc giỏi nhất của chúng tôi đã bị thuyên chuyển.

I reached Benares again on May 9th (1887), and was most kindly received at the station and put up in a garden-house of Babu B. S. Bhattacharji, of Gaya, a candidate for membership in our Sociery. I stopped here three full days, visited the late venerable Swami Bhaskarananda, whose welcome to me was most cordial, and Mâji, the Yogînî. One lecture at the Town Hall on “The Book of Chitragupta” was my only public appearance this time, and on the 12th I went on to Allahabad—now like a banquet-hall deserted, after the departure of the Sinnetts, in whose house had been the old local focus of the moment. Without them and without H.P.B. the town seemed empty. In fact, this tearing away of H.P.B. from me was constantly brought up in my mind by visiting the stations where she and I had been together, having our first Indian experiences and dreaming over dreams for the revival of Eastern learning and religion. One would need to have been so closely joined to her as I was in this world-work, to realise what it must have been to me to go over the old ground and see the old faces of friends.[441] Ahi! Ahi! a Lanoo, these meetings and partings are fraught with sorrow. But you and I know how many ages we have worked together under the guidance of the One; how many more of like relationships lie before us. Vale, Salve!

Tôi đến Benares lần nữa vào ngày 9 tháng Năm (1887), và được nghênh đón rất tử tế ở ga, rồi đưa về ở một nhà vườn của Babu B. S. Bhattacharji ở Gaya, một ứng viên xin gia nhập Hội chúng ta. Tôi dừng lại đây trọn ba ngày, thăm viếng vị đại đức khả kính quá cố Swami Bhaskarananda, Ngài đón tiếp tôi hết sức nồng hậu, và Mâji, vị Yogînî. Một bài thuyết giảng tại Tòa Thị chính về “The Book of Chitragupta” là lần xuất hiện công cộng duy nhất của tôi lần này, và ngày 12 tôi đi tiếp đến Allahabad—nay như một đại sảnh yến tiệc bỏ hoang sau khi vợ chồng Sinnett rời đi, nơi từng là tiêu điểm địa phương của phong trào. Không có họ và không có H. P. B., thị trấn dường như trống vắng. Thực vậy, việc bị xé rời H. P. B. ra khỏi tôi cứ liên tục trỗi dậy trong tâm trí khi tôi ghé thăm những trạm nơi nàng và tôi từng cùng nhau trải nghiệm những điều đầu tiên ở Ấn, cùng nhau mơ về những giấc mộng phục hưng học thuật và tôn giáo phương Đông. Chỉ có người nào gắn kết với nàng trong công việc thế gian như tôi mới thấu được cảm nghiệm của tôi khi đi lại trên đất cũ và gặp lại gương mặt cũ của bằng hữu. [441] Ahi! Ahi! hỡi Lanoo, những cuộc gặp rồi chia này chất chứa sầu muộn. Nhưng anh và tôi biết đã bao kỷ nguyên chúng ta làm việc bên nhau dưới sự hướng dẫn của Đấng Duy Nhất; và còn bao mối tương duyên như thế đang chờ phía trước. Từ biệt, Xin chào!

The heat? Awful, wilting, metal-melting. I went to see my friend the Swami Madhavdas, the compiler of Sayings of Grecian Sages, and had an agreeable talk with that good Sage. My rooms were thronged daily with conundrum-asking young metaphysicians and amateur agnostics, whose ardor was not damped by the rise of the mercury. On the 15th I lectured at the Kyastha Patshâla on “The Other World,” but in so weak a condition of body that I had to sit during the last half of the discourse. This was the immediate result of dysenteric symptoms brought on by indigestible food, aggravated by the intense, debilitating heat. The next day I was worse, and felt so used up that my friends begged me to stay quite a few days; but I could not afford to waste time with so long an itinerary before me, so I went on to Cawnpore, arrived there at 5 p.m., and was most affectionately welcomed. They put me up at the large bungalow of H. H. the Maharajah of Burdwan, where Damodar and I stopped in 1883, and at which occurred the convincing phenomenon of the introduction into my locked tin office-box of a letter from one of the Masters, which was described in an earlier chapter. Dr. Mahendranath Ganguli, F.T.S., finding me so weak, strongly recommended my taking chicken broth, which, after some [442] hesitation, I did, thus breaking the vegetarian course of diet which I had been following for several years. The effect was instantaneous, my physical strength poured into me in full force, and by the next day I was quite recovered. From that time on I did not return to vegetable diet until about two years ago, when I did so on the advice of the French clairvoyant, Mme. Mongruel (queerly appropriate name for the occasion!), with the happiest results. A Hindu banquet to forty Bengali gentlemen, given in my honor by Babu Nilmadab Banerji on the same day, and a second lecture on the next, followed, and at midnight I took train for Aligarh, where three days were spent profitably in the usual way. Next came Bulandshahr. I was here publicly insulted by a boorish civilian, my first experience of the kind in India. This man was a bigoted cad wholly ignorant of Indian literature, correspondingly intolerant, and devoid of good breeding. However, I settled him, to the satisfaction of my audience. The weather was now so hot and the audiences so uncomfortably large, that we held our meetings out of doors whenever possible, carpets and mats being spread on the grass, and chairs placed for the more important personages, durbar fashion, in parallel lines facing each other. Meerut and then Hardwar, the pilgrimage resort at the head waters of the sacred Ganges, came next. A great Sanskrit Revival Convention was sitting, at the latter place, at the call of the aged Dewan Ramjas, retired Prime Minister of Kapurthala State, whose idea was to organise a large and [443] strictly national Society of Sanskrit Pandits, to work together for the revival of the ancient religion and literature. By request, I addressed the Convention, or “Bharata Dharma Maha Mandal,” and when my address was finished, Resolutions of thanks to myself and of confidence in the Theosophical Society were adopted by acclamation. This was a good point to score, for, owing to my open profession of Buddhism, and H.P.B.’s, the Society had always been looked at askance as, perhaps, secretly hostile to Hinduism, and, possibly, a Buddhistic agency of propaganda, though not the least cause had been given for so un just a misrepresentation of our policy as a Society. The fact is, eclecticism in religion is the least conceivable attitude of mind to sectarians, whatsoever form of religion they may follow [47], and our Society is to-day in Burma, and to a much less extent in Ceylon, suspected of ultra-Hinduism because of Mrs. Besant’s bold avowal of her religious preferences, as it was fifteen years ago, of being exclusively Buddhistic, because of its two Founders and Damodar having taken the Five Precepts from Dharmarama Terunnanse at Galle, in 1880, in presence of a great multitude of excited Buddhists. But time scatters all illusions, and the truth at the end prevails.

Nóng ư? Khủng khiếp, héo rũ, đến mức làm chảy cả kim loại. Tôi đến thăm người bạn tôi, Swami Madhavdas, người sưu tập và biên soạn “Lời dạy của các Hiền triết Hy Lạp”, và có một cuộc trò chuyện thú vị với bậc Hiền triết khả kính ấy. Phòng tôi ngày nào cũng đông nghẹt các nhà siêu hình trẻ mê đố mẹo và những tay bất khả tri nghiệp dư, lòng nhiệt thành của họ chẳng hề nguội đi dù cột thủy ngân cứ tăng. Ngày 15, tôi diễn thuyết tại Kyastha Patshâla về “Cõi Khác”, nhưng thân thể yếu quá nên nửa phần cuối buổi nói chuyện tôi phải ngồi. Đó là hệ quả trực tiếp của những triệu chứng lỵ do thức ăn khó tiêu gây nên, lại còn bị tình trạng nóng gay gắt làm kiệt lực, càng thêm trầm trọng. Hôm sau tôi còn tệ hơn, cảm thấy kiệt quệ đến mức bạn bè nài nỉ tôi ở lại vài ngày; nhưng với lịch trình dài dằng dặc trước mắt, tôi không thể phung phí thời gian, nên tôi đi tiếp đến Cawnpore, tới nơi lúc 5 giờ chiều, và được đón tiếp ân cần hết mực. Họ sắp xếp cho tôi ở căn nhà lớn kiểu bungalow của Đức Maharajah xứ Burdwan, nơi Damodar và tôi từng dừng chân năm 1883, và tại đó đã xảy ra hiện tượng xác thực: có một lá thư của một trong các Chân sư được đưa vào chiếc hòm thiếc văn phòng khóa kín của tôi, chuyện ấy đã được thuật lại trong một chương trước. Bác sĩ Mahendranath Ganguli, hội viên Hội Thông Thiên Học, thấy tôi quá yếu, đã tha thiết khuyên tôi dùng nước hầm gà, và sau một chút [442] do dự, tôi đã làm theo, như thế là phá vỡ chế độ ăn chay mà tôi đã giữ suốt nhiều năm. Hiệu quả tức thì, sức lực thể xác như đổ ập vào tôi, và hôm sau tôi đã bình phục hẳn. Từ lúc đó, tôi không trở lại ăn chay cho đến khoảng hai năm trước đây, khi tôi làm vậy theo lời khuyên của nhà thông nhãn người Pháp, Bà Mongruel (một cái tên thật kỳ lạ mà lại hợp cảnh!), và kết quả thì rất mĩ mãn. Một yến tiệc Ấn giáo khoản đãi bốn mươi quý ông người Bengal để vinh danh tôi, do Babu Nilmadab Banerji chủ trì ngay hôm đó, cùng với một buổi diễn thuyết thứ hai vào ngày hôm sau; nửa đêm tôi lên tàu đi Aligarh, nơi tôi dành ba ngày theo lệ thường một cách hữu ích. Kế đến là Bulandshahr. Tại đây tôi bị một viên chức người Âu thô lỗ công khai xúc phạm, lần đầu tôi gặp chuyện như vậy ở Ấn Độ. Người này là một kẻ cố chấp, hoàn toàn dốt đặc về văn học Ấn Độ, đâm ra bất dung, lại thiếu hẳn phép lịch sự. Tuy nhiên, tôi đã dàn xếp ổn thỏa, khiến thính chúng hài lòng. Thời tiết lúc này quá nóng và cử tọa đông đến mức khó chịu, nên khi có thể, chúng tôi tổ chức các buổi họp ngoài trời, trải thảm và chiếu trên bãi cỏ, đặt ghế cho các vị chức sắc quan trọng, theo lối thiết triều, thành những hàng song song đối mặt nhau. Sau Meerut là Hardwar, nơi hành hương ở thượng nguồn sông Hằng thiêng liêng. Tại nơi sau cùng này có Đại Hội Phục Hưng Sanskrit đang nhóm họp, do cụ Dewan Ramjas, cựu Thủ tướng Tiểu bang Kapurthala, đứng ra triệu tập; ý định của cụ là tổ chức một [443] Hội các học giả Sanskrit thật lớn và mang tính quốc gia thuần túy, để cùng nhau làm sống dậy tôn giáo và văn học cổ xưa. Theo lời thỉnh cầu, tôi đã diễn thuyết trước Đại hội, tức “Bharata Dharma Maha Mandal”, và khi bài diễn thuyết kết thúc, các Nghị quyết cám ơn tôi và bày tỏ tín nhiệm đối với Hội Thông Thiên Học đã được nhất loạt thông qua. Đây là một điểm rất đáng kể, vì do tôi công khai xưng là người theo Phật giáo, và H.P.B. cũng vậy, nên từ lâu Hội vẫn bị nhìn bằng nửa con mắt, xem như có lẽ ngấm ngầm thù địch với Ấn giáo, và có thể là một cơ quan tuyên truyền Phật giáo, tuy Hội chưa từng cho một lý do nhỏ nào để biện minh cho sự xuyên tạc vô công bằng như thế đối với đường lối của chúng ta với tư cách một Hội. Sự thật là, tinh thần dung hợp trong tôn giáo là điều khó hình dung nhất đối với những người bè phái, bất luận họ theo hình thái tôn giáo nào; và ngày nay Hội của chúng ta ở Miến Điện, và ít hơn nhiều ở Tích Lan, lại bị nghi là quá Ấn giáo vì lời xác quyết táo bạo của Bà Besant về ưa thích tôn giáo của Bà, cũng như mười lăm năm trước đây bị xem là thuần túy Phật giáo vì hai vị Sáng lập và Damodar đã thọ Năm Giới từ Dharmarama Terunnanse tại Galle, năm 1880, trước sự chứng kiến của một đám đông Phật tử xúc động. Nhưng thời gian rồi cũng xua tan mọi ảo tưởng, và rốt cuộc chân lý sẽ thắng.

[444]

[444]

It is worth the while of an Anglo-Indian to visit Hardwar for the sake of the view of the grand scenery and the bathing in the clear cold current of the rushing Ganges. I mingled with the throng of bathing pilgrims daily, in the water, to my great refreshment. On 1st June, the great bathing day, I could compare the crowd to nothing else than bees swarming, and the noise to a prolonged roar of a storm-blast. The Police, under an European director, were very rough to the poor pilgrims, pushing and knocking them about like a mob of cattle. But so it is everywhere, in whatsoever direction one looks, harshness the rule, gentleness and patience the exception.

Đáng cho một người Anh-Ấn đến thăm Hardwar để được chiêm ngưỡng phong cảnh hùng vĩ và tắm mình trong dòng chảy trong lạnh của con sông Hằng đang cuồn cuộn. Hằng ngày tôi hòa vào đám đông người hành hương đang tắm, xuống nước, và cảm thấy sảng khoái vô cùng. Ngày 1 tháng Sáu, ngày đại lễ tắm, tôi chỉ có thể ví đám đông như đàn ong vỡ tổ, còn tiếng ồn thì như tiếng gào của một cơn bão kéo dài. Cảnh sát, dưới quyền một viên chỉ huy người Âu, rất thô bạo với những người hành hương nghèo, xô đẩy và quát nạt họ như một bầy gia súc. Nhưng ở đâu cũng vậy, nhìn theo hướng nào cũng thế, sự thô bạo là lẽ thường, còn dịu dàng và nhẫn nại là ngoại lệ.

On the last morning of my visit I strolled up the paved way leading from the bathing-ghât towards the mountain, and was greatly shocked at something I saw. Squatting on the pavement was a group of three, an elderly Hindu woman, a young man—apparently her son—and a Brahmin. Between them, some human bones and ashes done up in a dirty cotton cloth. A chaffering, like what I heard once at an Irish fair for a pig, was going on, the angry voices raised, offers and refusals—on the one part, humble faith; on the other, priestly greed. The issue was as to how much the priestly shark should have for throwing the bones and ashes into the swift-slipping water. A glance at the man’s face was enough to fill me with disgust and indignation, and I felt the greatest inclination to pitch him into the river with the bones tied about his neck. This is one of the depths to which [445]the sublime religion of the Rishis has sunk in the hands of the degraded scum who officiate in so many temples, defiling the sanctuary of the gods by their moral effluvia. The more honor to those who keep the faith of their forefathers as, consciously, custodians of a great treasure, and square their lives of usefulness with their religious professions.

Sáng cuối cùng của chuyến viếng thăm, tôi dạo bước trên con đường lát đá dẫn từ ghât tắm lên phía núi, và đã bị sốc nặng trước một cảnh tượng bắt gặp. Ngồi chồm hỗm trên lối đi là một nhóm ba người: một phụ nữ Ấn Độ lớn tuổi, một thanh niên—có vẻ là con bà—và một vị Bà-la-môn. Ở giữa họ là mấy khúc xương người và tro được gói trong một mảnh vải bông bẩn thỉu. Một cuộc mặc cả đang diễn ra, y như tôi từng nghe ở một hội chợ Ireland khi người ta trả giá một con heo; giọng giận dữ cất lên, rao và khước từ—một bên là đức tin khiêm nhường; bên kia là lòng tham của giới tăng lữ. Vấn đề là con kền kền áo tu ấy đòi bao nhiêu để ném xương và tro xuống dòng nước trôi xiết. Chỉ một cái liếc nhìn khuôn mặt hắn cũng đủ làm tôi kinh tởm và phẫn nộ, và tôi thấy mình muốn ném hắn xuống sông với mớ xương buộc quanh cổ. Đây là một trong những vực sâu mà [445] tôn giáo siêu việt của các Rishi đã sa xuống trong tay bọn cặn bã suy đồi, những kẻ làm lễ trong bao ngôi đền, làm ô uế thánh đường của chư thần bằng uế khí đạo đức của chúng. Những ai giữ được đức tin của tổ tiên mình với ý thức mình là những người gìn giữ một kho tàng vĩ đại, và sống một đời hữu ích phù hợp với lời xưng tín tôn giáo của mình, lại càng đáng trân trọng.

Lahore next, where H. H. the late Maharajah of Kashmir had placed his palace—a dilapidated building—at my disposal, and where a company of soldiers could have been given quarters. The energetic Pandit Gopinath, F.T.S., had arranged all the details of my visit, and kept me busy with crowds of visitors and daily lectures in the several quarters of the city. This was the capital of Runjit Singh, the warrior king of the Sikhs, surnamed the Lion of the North. A great man was he and a great soldier, but not a lovable character—rather a man of iron. Every good work on psychology tells the story of the burial of the Hatha Yogî, Haridas, for six weeks, in a tomb specially built in the Maharajah’s garden, his subsequent exhumation and resuscitation, and his dismissal by the king with costly presents. On this occasion, as during my previous visits to Lahore, I searched after elderly men who had been eye-witnesses to the marvel of Yoga, and found one in an old Sikh Sirdar, whose account agreed, in the chief particulars, with those of Dr. Macgregor and Sir Claude Wade. In fact, there can be no question whatever as to the prime fact that this man had, by Yoga, acquired the power of suspending animation to [446] the limit of at least forty days, and could suffer him self to be tied up in a bag and kept all that time in a sepulchre, without the chance of eating, drinking, or even breathing, and with guards keeping watch over it day and night to prevent the possibility of trickery. He was no saint, was Haridas, as I have explained in previous notices of the case, but yet he could do this wonderful thing; and I should be glad if every student of occult science could realise that strictly moral attributes are by no means indispensable for the psychical phenomena exhibited by spiritual mediums, mesmerisers, hypnotisers, healers of the sick, clairvoyants, prophets of sorts, and other possessors of abnormal faculties which pertain to the astral body and function on the astral plane. Think, for one moment, of the worthless characters of many of these surprise-workers, in our day as at previous epochs, and the truth will be seen. At the same time, the reader must not run off with the idea that all disease-curing, clairvoyance, and seership is confined to the lower self; far from it, for the Adept acquires all the Siddhis, and can thus have access to all repositories of knowledge, and work manifold wonders for the good of mankind. But He takes no fees, creates no scandals, does no wrong to a living being; He is our benefactor, our Teacher, our Elder Brother, our exemplar; a sacred radiance broods over Him, He is a light of the race.

Kế đến là Lahore, nơi Đức Maharajah quá cố xứ Kashmir đã nhường cung điện của Ngài—một tòa nhà xiêu vẹo—cho tôi sử dụng, và ở đó có thể sắp xếp chỗ ở cho cả một đại đội lính. Vị Pandit năng nổ Gopinath, hội viên Hội Thông Thiên Học, đã thu xếp mọi chi tiết cho chuyến viếng thăm của tôi, và khiến tôi bận bịu với đoàn khách thăm viếng và các buổi diễn thuyết hằng ngày ở nhiều khu vực của thành phố. Đây là kinh đô của Runjit Singh, vị vua chiến binh của người Sikh, mệnh danh là Sư tử phương Bắc. Ông là một con người vĩ đại và một chiến binh lớn, nhưng không phải là người dễ mến—đúng hơn là một người sắt đá. Mọi công trình nghiêm túc về tâm lý học đều thuật câu chuyện chôn sống vị Hatha Yogî, Haridas, suốt sáu tuần lễ, trong một ngôi mộ xây riêng trong vườn của Maharajah, rồi khai quật và làm sống lại ông ta, sau đó nhà vua tặng quà cáp hậu hĩnh và cho về. Lần này, cũng như trong các chuyến đến Lahore trước, tôi tìm những bậc cao niên từng là nhân chứng tận mắt của phép Yoga kỳ diệu ấy, và gặp một vị Sirdar Sikh già, người đã kể lại theo những điểm chính phù hợp với lời tường trình của Bác sĩ Macgregor và Ngài Claude Wade. Thật vậy, không thể có chút hoài nghi nào về sự kiện căn bản rằng người này, nhờ Yoga, đã đạt được năng lực đình chỉ sinh hoạt sinh lý [446] ít nhất trong bốn mươi ngày, và có thể để cho người ta trói lại bỏ vào bao, giữ suốt thời gian đó trong một hầm mộ, không thể ăn, uống, hay thậm chí thở, lại có lính gác canh ngày đêm để ngăn mọi khả năng gian trá. Haridas không phải bậc thánh, như tôi đã giải thích trong các bài ghi chép trước đây về vụ việc, thế nhưng ông vẫn có thể làm điều kỳ diệu ấy; và tôi sẽ rất mừng nếu mỗi đạo sinh của khoa học huyền bí hiểu rằng những phẩm chất đạo đức nghiêm cẩn hoàn toàn không phải là điều kiện tất yếu cho các hiện tượng tâm linh được biểu hiện bởi các đồng tử (trung gian), những người thôi miên, những người gây thôi miên, người chữa bệnh, nhà thông nhãn, các loại tiên tri, và những kẻ sở hữu các năng lực khác thường thuộc về thể cảm dục và vận dụng trên cõi cảm dục. Hãy nghĩ một chút về tư cách vô giá trị của nhiều kẻ làm trò gây ngạc nhiên trong thời đại chúng ta cũng như trước kia, là sẽ thấy rõ sự thật. Đồng thời, độc giả chớ vội nghĩ rằng mọi việc chữa bệnh, thông nhãn và thị kiến đều chỉ thuộc phàm ngã; hoàn toàn không phải vậy, vì Chân sư đắc đủ các Siddhi, do đó Ngài có thể tiếp cận mọi kho tàng tri thức, và làm muôn vàn điều kỳ diệu vì lợi ích nhân loại. Nhưng Ngài không nhận thù lao, không gây điều tiếng, không làm hại một sinh linh nào; Ngài là ân nhân của chúng ta, là Huấn Sư của chúng ta, là Huynh Trưởng của chúng ta, là gương mẫu của chúng ta; một quầng sáng thiêng liêng bao phủ Ngài, Ngài là ánh sáng của giống dân.

The outcome of my visit was the formation of a Branch under the name of the Lahore Theosophical Society, and I then went on to Moradabad. Here I [447] found, as District Judge, our old friend Ross Scott, C.S., our fellow-passenger on the ill-fated “Speke Hall,” and ever our brave colleague who had stood up for us through good report and evil report, despite the whole force of Anglo-Indian prejudice. On this occasion he most willingly took the chair at my lecture, and spoke most kindly of the movement and of ourselves.

Kết quả chuyến đi của tôi là thành lập một Chi bộ mang tên Hội Thông Thiên Học Lahore, sau đó tôi đi tiếp đến Moradabad. Tại đây tôi [447] gặp lại ông bạn cũ Ross Scott, Thẩm phán Quận, người từng cùng chúng tôi đi trên con tàu xấu số “Speke Hall”, và luôn là đồng chí can đảm, đứng về phía chúng tôi bất chấp dư luận thuận nghịch, mặc cho cả sức mạnh của thành kiến Anh-Ấn. Lần này, ông vui lòng chủ tọa buổi diễn thuyết của tôi, và nói những lời rất tốt đẹp về phong trào cũng như về chúng tôi.

Next on to Bareilly for lectures, receptions, and inspections of our own Sanskrit School and another, both flourishing. While I was here the monsoon broke and the mercury dropped from 98° to 82°, and life was again bearable. At Bara-Banki, the home of Pandit Purmeshwari Das, there was much interest shown in our work. I saw here a real curiosity in the shape of a dwarf, 32 inches high, perfectly formed 23 years of age, a clever fellow, and a salaried office messenger or chuprassi.

Tiếp đó là Bareilly để diễn thuyết, đón tiếp và thanh tra Trường Sanskrit của chính chúng tôi cùng một trường khác, cả hai đều phát triển thịnh vượng. Khi tôi còn ở đây thì mùa mưa đến và cột thủy ngân hạ từ 98° xuống 82°, và cuộc sống trở lại có thể chịu đựng được. Ở Bara-Banki, quê của Pandit Purmeshwari Das, người ta tỏ ra rất quan tâm đến công việc của chúng tôi. Tại đây tôi thấy một điều thật hi hữu: một người lùn cao 32 inch, thân thể hoàn chỉnh, 23 tuổi, lanh lợi, và là một liên lạc viên văn phòng ăn lương, tức chuprassi.

With the rains came swarms of bugs and all sorts of insects, which had been brought to life by the kindly moisture in the ground. I found this out beyond mistake at Fyzabad, where, the Museum Hall becoming uncomfortably crowded, we adjourned to a lawn outside. A table with two sheltered candles being placed for me, and the audience accommodated with chairs and carpets, I began my (extempore) lecture on “Chitragupta,” and managed to go on for a quarter of an hour, but by that time I was surrounded by a swarm of evil-smelling bugs, attracted by the lights, and was forced to stop. It would have amused anyone to have seen me standing there, with [448] my figure lighted up by the candles, going ahead with my discourse as best I could; bugs crawling up the legs of my pyjamas, crawling up the sleeves of my Indian chapkan, slipping down my neck, getting into my eyes, ears, nose, and mouth; I, shaking my garments and hunting after them in my neck, stamping my feet, and brushing them out of my hair; and the smell—well, think of that of the potato-bug, that malodorous pest, to touch which is to have one’s fingers tainted. That was my predicament at Fyzabad, and one can imagine that it was not conducive to extemporaneous religious discourse. At last I had to give it up in despair, so, to put as good a face on my discomfiture as possible, I said: “Gentlemen: It is a law of physics that two bodies cannot simultaneously occupy the same space. We have, it seems, intruded upon a meeting of the National Bug Congress. The Delegates from the four quarters are, as you see, crowding me from the four quarters, so I close my speech and move an adjournment. “The next evening I lectured inside the building, great open pans of water being placed on the floor, into which the bugs, under some mysterious attraction, fell, and I was able to get through my lecture more or less comfortably. While at Fyzabad I was driven to the beautiful park and bathing-ghât, at the site where Srî Rama, the Avatâr, is said to have made his last appearance on earth, and which possesses, on that account, a character of great sacredness.

Mưa đến kéo theo từng đàn bọ và đủ thứ côn trùng, được đánh thức dậy bởi độ ẩm nhân hậu trong lòng đất. Tôi thấy điều này rõ không thể lầm ở Fyzabad, nơi Hội trường Bảo tàng trở nên quá đông đúc khó chịu, nên chúng tôi chuyển ra bãi cỏ ngoài trời. Một cái bàn với hai ngọn nến đặt trong chụp chắn gió dành cho tôi, khán giả có ghế và thảm, tôi bắt đầu bài diễn thuyết (ứng khẩu) về “Chitragupta”, và cố gắng nói được khoảng mười lăm phút, nhưng đến lúc ấy tôi đã bị một bầy bọ hôi vây kín, do ánh sáng hấp dẫn, và buộc phải dừng lại. Hẳn ai cũng sẽ bật cười nếu thấy tôi đứng đó, [448] thân hình được hai ngọn nến rọi sáng, cố gắng diễn thuyết trong điều kiện tốt nhất có thể; bọ bò lên ống quần pyjama, bò vào tay áo chiếc chapkan Ấn Độ của tôi, trườn xuống cổ, chui vào mắt, tai, mũi, miệng; còn tôi thì vừa lắc quần áo vừa lùng sục chúng ở cổ, giậm chân, phủi chúng khỏi tóc; và mùi hôi—hãy hình dung mùi bọ khoai tây, thứ gây hại hôi hám mà chỉ chạm vào là ngón tay đã ám mùi. Ấy là cảnh ngộ của tôi ở Fyzabad, và có thể tưởng tượng điều đó chẳng hề thuận tiện cho một bài diễn thuyết tôn giáo ứng khẩu. Cuối cùng tôi đành thúc thủ, nên để giữ thể diện cho thất bại của mình, tôi nói: “Thưa quý vị: Vật lý có một định luật rằng hai vật thể không thể đồng thời chiếm cùng một chỗ trong không gian. Xem ra chúng ta đã xâm phạm một phiên họp của Đại Hội Bọ Quốc gia. Các Đại biểu từ bốn phương đang, như quý vị thấy, dồn tôi từ cả bốn phương, nên tôi xin kết thúc bài nói chuyện và đề nghị hoãn lại.” Tối hôm sau tôi diễn thuyết trong nhà, đặt những chậu nước lớn trên sàn, bọ vì một sức hút bí ẩn nào đó rơi vào trong, và tôi có thể hoàn tất buổi diễn thuyết một cách tạm ổn. Khi ở Fyzabad, tôi được chở đến công viên đẹp và ghât tắm, tại nơi mà người ta nói rằng Srî Rama, Đấng Hoá Thân, đã hiện ra lần cuối trên trần thế, và vì cớ ấy, nơi này mang phẩm tính thiêng liêng đặc biệt.

All this district was Indian classical ground. From Fyzabad I travelled towards Gorakhpur, crossing the [449] Gogra River from Ayodhya, Rama’s ancient capital, by a steam ferry. What would Rama and his Court have thought of that!

Cả vùng này là đất cổ điển Ấn Độ. Từ Fyzabad, tôi đi về phía Gorakhpur, băng qua [449] sông Gogra từ Ayodhya, kinh đô cổ của Rama, bằng một chiếc phà chạy hơi nước. Không biết Rama và triều đình của Ngài sẽ nghĩ sao về chuyện này!

Bankipur and Durbhunga followed after Chupra, which was next after Gorakhpur. At Chupra among my foreign letters I received one from H. P. B. which distressed me much. She had consented to start a new magazine with capital subscribed by London friends of hers, while she was still editor and half proprietor of the Theosophist—a most unusual and un-businesslike proceeding Besides other causes, among them the persuasion of English friends, a reason which strongly moved her to this was that Mr. Cooper-Oakley, her own appointee as Managing Editor, had more or less sided with T. Subba Row in a dispute which had sprung up between him and H. P. B. on the question whether the “principles” which go to the make-up of a human being were seven or five in number. Subba Row had replied in our pages to an article of hers on the subject, and her letters to me about it were most bitter and denunciatory of Cooper-Oakley, whom she, without reasonable cause, charged with treachery. It was one of those resistless impulses which carried her away sometimes into extreme measures. She wanted me to take away his editorial authority, and even sent me a foolish document, like a power-of-attorney, empowering me to send him to Coventry, so to say, and not allow any galley-proof to pass to the printer until initialed by myself. Of course, I remonstrated strongly against her thus, without [450] precedent, setting up a rival competing magazine to hurt as much as possible the circulation and influence of our old-established organ, on the title-page of which her name still appeared. But it was useless to protest; she said she was determined to have a magazine in which she could say what she pleased, and in due time Lucifer appeared as her personal organ, and I got on as well as I could without her. Meanwhile, a lively interchange of letters went on between us. She was at strife then, more or less, with Mr. Sinnett, and before this was settled, a number of seceders from his London Lodge organised as the Blavatsky Lodge, and met at her house in Lansdowne Road, where her sparkling personality and vast knowledge of occult things always ensured full meetings.

Bankipur và Durbhunga tiếp nối sau Chupra, nơi tôi đến ngay sau Gorakhpur. Ở Chupra, trong số thư từ ngoại quốc, tôi nhận được một lá thư của H. P. B. khiến tôi rất buồn. Bà đã đồng ý khởi sự một tạp chí mới bằng vốn do bạn bè ở Luân Đôn của Bà góp, trong khi Bà vẫn còn là biên tập và đồng sở hữu tờ The Theosophist—một việc làm rất khác thường và thiếu tính thương nghiệp. Ngoài các nguyên do khác, trong đó có sự thuyết phục của bạn bè người Anh, một lý do thôi thúc mạnh mẽ Bà là vì ông Cooper-Oakley, người do chính Bà bổ nhiệm làm Quản lý biên tập, đã ít nhiều đứng về phía T. Subba Row trong một tranh luận nảy sinh giữa ông này và H. P. B. về việc các “nguyên khí” cấu thành con người là bảy hay năm. Subba Row đã hồi đáp trên báo của chúng ta đối với một bài của Bà về đề tài đó, và những lá thư của Bà gửi tôi về chuyện này đầy cay độc và mạt sát Cooper-Oakley, người mà Bà, không có lý do chính đáng, buộc tội phản trắc. Đó là một trong những xung lực không cưỡng nổi đôi khi cuốn Bà vào những biện pháp cực đoan. Bà muốn tôi tước bỏ quyền hạn biên tập của ông ấy, thậm chí còn gửi cho tôi một văn bản ngớ ngẩn, như một giấy ủy quyền, trao cho tôi quyền “đày ải” ông ta theo kiểu tẩy chay, và không cho phép bất kỳ bản in thử nào chuyển đến nhà in nếu chưa có chữ ký tắt của chính tôi. Dĩ nhiên, tôi đã mạnh mẽ phản đối việc Bà, [450] không theo tiền lệ nào, lập một tạp chí đối đầu để làm hại tối đa số phát hành và ảnh hưởng của cơ quan ngôn luận lâu đời của chúng ta, mà trên trang nhan đề vẫn còn in tên Bà. Nhưng phản đối cũng vô ích; Bà nói Bà quyết phải có một tạp chí trong đó Bà có thể nói điều Bà muốn, và rồi Lucifer xuất hiện như cơ quan riêng của Bà, còn tôi thì xoay xở hết mức có thể khi vắng Bà. Trong lúc ấy, giữa chúng tôi có một trao đổi thư từ rất sôi nổi. Khi đó Bà cũng đang ít nhiều xung đột với Ông Sinnett, và trước khi việc này được dàn xếp, một số người ly khai khỏi Hội quán London của ông ấy đã tổ chức thành Blavatsky Lodge, và nhóm họp tại nhà Bà ở đường Lansdowne, nơi mà nhân cách lấp lánh và kiến thức bao la về huyền môn của Bà luôn bảo đảm các buổi họp đông đủ.

The Maharajah of Durbhunga, whose guest I was at Bankipore and his own capital, who was a member of our Society and professedly my warm friend, drove me out and spent hours in discussions with me, but on my leaving, neither came to bid me farewell nor sent me a rupee on account of his voluntarily offered yearly subscription towards the Society’s expenses, nor even for my travelling expenses—a discourtesy that no Branch, however poor, had ever paid me. I have never said a word about it before, but I believe the cause of his sudden disaffection was his discovery that I would not do a certain act of sorcery for him, one that many Indian Rajas have had tried for them. If I am mistaken, then his behavior after this was perfectly inexplicable.

Maharajah xứ Durbhunga, người mà tôi làm khách ở Bankipore và tại kinh đô của ông, là hội viên của Hội chúng ta và công khai là bạn thân của tôi, đã đích thân đưa tôi đi chơi và dành hàng giờ thảo luận với tôi, nhưng khi tôi rời đi, ông chẳng đến tiễn, cũng không gửi cho tôi một đồng rupee nào trong khoản niên liễm mà ông tự nguyện đóng góp cho các chi phí của Hội, thậm chí cả tiền lộ phí cho tôi cũng không—một sự thất nhã mà chưa từng có Chi bộ nào, dù nghèo đến đâu, đối xử với tôi. Tôi chưa từng nói một lời nào về chuyện này trước đây, nhưng tôi tin rằng nguyên do sự đổi thay đột ngột của ông là vì ông phát hiện ra tôi sẽ không làm cho ông một việc phù thuật nào đó, điều mà nhiều Raja Ấn Độ đã từng nhờ người thi hành cho họ. Nếu tôi lầm, vậy thì ứng xử của ông sau đó hoàn toàn không thể hiểu nổi.

[451]

[451]

Jamalpur, a new town built up by the Railway Company, and where it has very extensive machine-shops and a great many houses and cottages for its employees, which it rents to them at fixed cheap rates, was my next objective point. I was enabled to get through a lot of my correspondence here, the office duties of our members giving me the necessary leisure. We celebrated the fourth anniversary of the local Branch, and I, after lecturing twice, proceeded on to Monghyr, where a new Branch was organised. I then came to Bhagalpore, the home of my blind patient, “Babu Badrinath Banerji, about whose most strange recoveries under my mesmeric treatment, and relapses into blindness, I have written elsewhere. These relapses were sad enough, yet the enjoyment of a whole year’s eyesight after one day’s treatment was not so bad a bargain after all. Badrinath Babu profited by my healing passes, in the restoration of his sight for the third time, and when I left the station was quite able to get about without help and to read the papers of the day.

Jamalpur, một thị trấn mới do Công ty Đường sắt xây dựng, nơi có các xưởng máy rất lớn và rất nhiều nhà ở cùng biệt thự cho nhân viên thuê với mức rẻ cố định, là điểm đến kế tiếp của tôi. Tại đây, tôi giải quyết được rất nhiều thư từ, vì công vụ của các hội viên đã cho tôi khoảng thời gian rảnh rỗi cần thiết. Chúng tôi kỷ niệm năm thứ tư của Chi bộ địa phương, và tôi, sau khi diễn thuyết hai lần, đi tiếp đến Monghyr, nơi một Chi bộ mới được thành lập. Rồi tôi đến Bhagalpore, quê của bệnh nhân mù của tôi, “Babu Badrinath Banerji”, người mà về những lần hồi phục kỳ lạ nhờ trị liệu thôi miên của tôi, rồi lại tái mù, tôi đã viết ở nơi khác. Những lần tái mù thật đáng buồn, nhưng được hưởng trọn một năm ánh sáng sau chỉ một ngày trị liệu suy cho cùng cũng không phải là món hời tệ. Badrinath Babu lại được hưởng lợi từ những lượt vuốt truyền lực chữa trị của tôi, khôi phục thị lực lần thứ ba, và lúc tôi rời ga thì ông đã có thể tự đi lại không cần trợ giúp và đọc được các tờ báo trong ngày.

A gratifying incident occurred after an address of mine at the Taj Naraen College, to the Boys’ Moral Society. Besides the Hindu students there were many Muslim ones, so I framed my discourse on “Man and his Duties” so as to make it applicable to the followers of the Prophet as well as to the others. On my resuming my seat a handsome Muslim Maulvi rose, and in a most eloquent discourse thanked me for my references to the moral code of Islam.

Một tình huống đáng mừng xảy ra sau bài diễn văn của tôi tại Trường Cao đẳng Taj Naraen, trước Hội Đạo đức Thiếu niên. Ngoài sinh viên Ấn giáo còn có nhiều sinh viên Hồi giáo, nên tôi cấu trúc bài diễn thuyết “Con người và Bổn phận” sao cho thích hợp cả với các tín đồ của Đấng Tiên tri cũng như những người khác. Khi tôi trở lại chỗ ngồi, một vị Maulvi Hồi giáo khôi ngô đứng dậy, và bằng một bài diễn văn hùng hồn, đã cảm ơn tôi vì những nhận xét của tôi về bộ quy tắc đạo đức của Hồi giáo.

[452]

[452]

Berhampore, seat of an old, active, ever-staunch Branch which has played so noted a part in our early Indian history, gave me a royal welcome. I was the guest of Dr. Ram Das Sen, the Orientalist, so well known in Western lands, and after the usual publicand private meetings, I left for Murshedabad, where my friend the Nawab had bidden me to visit him at his Palace. I stopped overnight with him, lectured on “Islam” to a very uncomfortably packed house, took his Dewan into membership, and then returned to Calcutta once more. So ended this long circuit of my ten thousand mile Indian Journey of 1887.

Berhampore, nơi đặt một Chi bộ xưa, năng nổ và trước sau như một, vốn đã đóng vai trò lừng lẫy trong buổi đầu lịch sử Ấn Độ của chúng ta, đã đón chào tôi như bậc thượng khách. Tôi là khách của Bác sĩ Ram Das Sen, nhà Đông phương học rất nổi danh ở phương Tây, và sau những buổi họp công khai và riêng tư như lệ thường, tôi đi Murshedabad, nơi người bạn tôi là vị Nawab mời tôi đến thăm ông tại cung điện. Tôi nghỉ qua đêm cùng ông, diễn thuyết về “Hồi giáo” trước một hội trường chật ních đến khó chịu, kết nạp vị Dewan của ông vào Hội, rồi trở lại Calcutta lần nữa. Thế là kết thúc vòng hành trình dài mười nghìn dặm ở Ấn Độ năm 1887 của tôi.

ENDNOTE

[1] See Annual Address of the President, T. S., to the 21st Annual Convention, at Adyar, December, 1897.

[1] Xem Diễn văn Thường niên của Chủ tịch, T. S., tại Đại hội Thường niên lần thứ 21, ở Adyar, tháng 12, 1897.

[2] The Prince has died since the above was written.

[2] Hoàng thân đã qua đời kể từ khi những dòng trên được viết.

[3] Our good friend has since died.

[3] Người bạn tốt của chúng ta đã qua đời kể từ đó.

[4] The character of Mr. Podmore has been just recently drawn by the veteran Editor of Light (see issue of November 27th, 1897), in a way that will show how little chance off fair treatment H. P. B. had at the hands of his S. P. R. Committee. “Patient, unspeakably painstaking, with a wonderful eye for a crevice, and an equally wonderful wrist for jerking an incident off the rails, and putting an up-train on the down line... Mr. Podmore is an enthusiastic unbeliever. He starts with a vehement assumption against all things spiritual, and strictly attends to business as one whose business is to detect crevices, and stuff them up with anything that comes to hand; and if there is nothing substantial to stuff them up with, he jams in an unfailing supply of innuendos, assertions, and assumptions. But a passage, towards the end of the book [under review] gives us the key to it all... ‘We are bound to assume abnormality somewhere, and, of the two, it may be easier to suppose the medium abnormally dishonest than to credit him with abnormal psychic powers.’ “

[4] Tính cách của ông Podmore vừa mới đây đã được vị Tổng biên tập kỳ cựu của báo Light phác họa (xem số ra ngày 27 tháng 11, 1897), theo cách cho thấy H. P. B. có rất ít cơ hội được đối xử công bằng trong tay Ủy ban S. P. R. của ông. “Kiên nhẫn, tận tụy đến không thể tả, với con mắt tuyệt vời chuyên tìm kiếm các kẽ hở, và một cổ tay cũng tuyệt vời không kém để giật một sự kiện trật khỏi đường ray và đặt một đoàn tàu xuôi vào tuyến ngược… Ông Podmore là một người vô tín cuồng nhiệt. Ông khởi đi bằng một giả định kịch liệt chống lại mọi điều thuộc tinh thần, và nghiêm túc làm công việc của mình như một người mà công việc là phát hiện các kẽ hở và nhét chúng lại bằng bất cứ thứ gì vớ được; và nếu không có gì vững chắc để nhét vào, ông sẽ dồn vào một nguồn dự trữ bất tận những lời bóng gió, những khẳng định và các giả định. Nhưng một đoạn, gần cuối cuốn sách [được điểm], cho ta chiếc chìa khóa của tất cả… ‘Chúng ta buộc phải giả định có sự bất thường đâu đó, và, giữa hai khả năng, có lẽ dễ hơn nếu cho rằng đồng tử bất thường ở chỗ không trung thực, hơn là tin rằng y có các quyền năng tâm linh bất thường.’”

[5] See OLD DIARY LEAVES, “The True History of the Theosophical Society,” London, New York, and Madras, 1895 [First Series].

[5] Xem OLD DIARY LEAVES, “Lịch sử chân thực của Hội Thông Thiên Học,” London, New York và Madras, 1895 [Tập Thứ Nhất].

[6] The Portuguese held the seaboard for 153 years; the Dutch, from A.D. 1658 to 1795, when the British expelled them and made themselves a present of the sovereignty. “In the interests of Christianity and civilisation,” of course!

[6] Người Bồ Đào Nha nắm giữ vùng duyên hải trong 153 năm; người Hà Lan, từ năm 1658 đến 1795 sau Công nguyên, khi người Anh trục xuất họ và tự tặng cho mình chủ quyền. “Vì lợi ích của Cơ Đốc giáo và văn minh,” tất nhiên rồi!

[7] The title of the Queen’s Advocate under the New Code.

[7] Chức danh của Queen’s Advocate theo Bộ luật Mới.

[8] As above shown, this fact was not known to the Buddhists.

[8] Như đã cho thấy phía trên, sự kiện này không được những người Phật tử biết đến.

[9] Writing from memory, without notes, and so many thousand miles away from London, I beg the indulgence of Sir William Crookes for any minor inaccuracies that may have crept into my narrative of the incidents of fourteen years ago.

[9] Viết theo trí nhớ, không có ghi chép, và cách London hàng ngàn dặm, tôi xin ngài William Crookes lượng thứ cho mọi sai sót nhỏ có thể đã len vào tường thuật của tôi về những biến cố mười bốn năm trước.

[10] Vol. xiii, pp. 61 and 391: art. “My Hypnotic Research in France,” q.v.

[10] Tập xiii, tr. 61 và 391: bài “Những nghiên cứu thôi miên của tôi ở Pháp”, xem thêm.

[11] Conflict between Religion and Science, p. 142.

[11] Conflict between Religion and Science, tr. 142.

[12] Baron Spedalieri was the other

[12] Nam tước Spedalieri là người kia.

[13] Second Report on H. P. B.’s Phenomena to the S. P. R., pp. 383-4.

[13] “Báo cáo Thứ hai về các hiện tượng của H. P. B. gửi S. P. R.,” tr. 383–384.

[14] James Fenimore Cooper, by Thomas R, Lounsbury, London, 1884. Kegan Paul, Trench & Co.

[14] James Fenimore Cooper, của Thomas R. Lounsbury, London, 1884. Kegan Paul, Trench & Co.

[15] Cf. also my article on the death of H. P. B. in Theosophist for August, 1891.

[15] Xem thêm bài của tôi về cái chết của H. P. B. trên Theosophist số tháng 8, 1891.

[16] Editor, Indian Mirror, Honorary Magistrate, Calcutta; now a Member of the Legislative Council

[16] Tổng biên tập, Indian Mirror, Thẩm phán Danh dự, Calcutta; nay là Nghị viên Hội đồng Lập pháp.

[17] M.A. (Cantab.); now Registrar, Madras University.

[17] M.A. (Cantab.); nay là Chánh Văn phòng (Registrar), Đại học Madras.

[18] District Registrar, Madura.

[18] Đăng ký viên Quận, Madura.

[19] Judge.

[19] Thẩm phán.

[20] Formerly Professor of Mathematics, Allahabad; now Inspector of Schools.

[20] Trước đây là Giáo sư Toán học, Allahabad; nay là Giám sát các Trường học.

[21] Deputy Collector and Magistrate.

[21] Phó Quận trưởng kiêm Thẩm phán.

[22] B.A., B.L., Pleader, High Court, Madras.

[22] Cử nhân Văn khoa, Cử nhân Luật, Luật sư biện hộ, Tối cao Pháp viện Madras.

[23] Judge.

[23] Thẩm phán.

[24] Deputy Collector (Ret.).

[24] Phó Quận trưởng (nghỉ hưu).

[25] Deputy Collector, Madras, formerly Prime Minister, Indore.

[25] Phó Quận trưởng, Madras, trước đây là Thủ tướng, Indore.

[26] Since knighted by H. M. Government, and now a Justice of the High Court, Madras.

[26] Kể từ đó đã được Chính phủ Bệ Hạ phong tước hiệp sĩ, và nay là Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, Madras.

[27] Up to the close of 1902 we had issued 714 charters.

[27] Cho đến cuối năm 1902 chúng tôi đã cấp 714 điều lệ (charter).

[28] This same charity has been extended to W. Q. Judge, whose guilt was much more capable of proof. One might almost fancy the author of these lines had poor H. P. B. in mind when writing them:

[28] Cũng sự bao dung này đã được mở rộng cho W. Q. Judge, người có tội lỗi dễ chứng minh hơn nhiều. Người ta hầu như có thể tưởng tác giả những câu sau đây đã nghĩ đến H. P. B. tội nghiệp khi viết chúng:

“ A thousand blacker names, worse calumnies,

“ Ngàn tên đen tối hơn, lời vu báng tệ hơn,

All wit can think and pregnant spite devise.

Mọi mưu trí nghĩ ra và oán độc thai nghén.

Strike home, gash deep, no lies nor slander spare;

Đánh thẳng, rạch sâu, chớ nương tay lời dối trá vu khống;

A wound, though cured, yet leaves behind a scar.”

Một vết thương, dẫu lành, vẫn để lại sẹo sau cùng.”

[29] For a full description of Shway Dagohn (Dagôn) Payah, see Shway Yeo’s The Burman, p. 193, and many other books on Burma

[29] Để có mô tả đầy đủ về Shway Dagohn (Dagôn) Payah, xem Shway Yeo, The Burman, tr. 193, và nhiều sách khác về Miến Điện.

[30] Vide the standard Western books on Magic for an explanation of the occult connection between geometrical signs and the Powers of the Elementary kingdoms.

[30] Xem các sách chuẩn phương Tây về Huyền thuật để có giải thích về mối liên hệ huyền bí giữa các dấu hiệu hình học và các Quyền Năng của những giới hành khí.

[31] As neither of these prophecies has been fulfilled, we must discount all of Maji’s revelations to Damodar. At one visit I myself paid her, she predicted that H. P. B. would die within two years of that time and at sea. Neither of these proved true.

[31] Vì cả hai lời tiên tri này đều không được ứng nghiệm, chúng ta phải khấu trừ toàn bộ các “mặc khải” của Maji với Damodar. Trong một lần tôi tự mình đến thăm bà, bà đã tiên đoán rằng H. P. B. sẽ chết trong vòng hai năm kể từ lúc đó và trên biển. Cả hai điều đều không thành sự thật.

[32] A cave such as Yogis excavate for themselves to live in. The one at Maji’s was used by her father, a Yogî.

[32] Một hang động kiểu các Yogî tự đào để ở. Cái ở chỗ Maji do cha bà, một Yogî, sử dụng.

[33] Some of the names of places are almost illegible, Damodar having written his Diary in soft pencil, which in the course of time has got rubbed.

[33] Một vài tên địa danh gần như không đọc được, vì Damodar đã viết Nhật ký của mình bằng bút chì mềm, nên theo thời gian đã bị mờ.

[34] By an interesting coincidence, just after the above had been sent to the printer, I read in the Indian Mirror of a very recent date the following obituary notice of this remarkable woman:“We are much concerned to hear of the passing away from this worldly plane of the venerable lady, known to the numerous visitors to the holy banks of the Baruna at Benares, and to the wide circle of her admirers, as Majee, the Mother. In every respect the deceased lady was a remarkable personality. She was a Sanskrit scholar, and something of an adept in occult studies. She was easily accessible, and all those who had the privilege of close acquaintance with her, literally worshipped her as a divinity. Majee was one of the few who thoroughly believed in, ands testified to, the mission of the late Madame Blavatsky, and bore testimony to the existence of the Great Teachers who have done so much for the propagation of Theosophical truths in the world.”

[34] Trùng hợp thú vị là ngay sau khi những dòng trên được gửi tới nhà in, tôi đọc được trong Indian Mirror một cáo phó rất gần đây về người phụ nữ phi thường này: “Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi nghe tin sự ra đi khỏi cõi đời này của vị phu nhân đáng kính, người nổi tiếng với đông đảo khách hành hương đến bờ sông thiêng Baruna ở Benares, và trong vòng rộng những người ngưỡng mộ bà, với tên Majee, Người Mẹ. Về mọi phương diện, người quá cố là một nhân cách phi thường. Bà là một học giả Sanskrit và phần nào là một adept trong các nghiên cứu huyền bí. Bà dễ tiếp cận, và tất cả những ai có đặc ân quen biết gần gũi với bà đều gần như thờ phụng bà như một vị thần. Majee là một trong số ít người hoàn toàn tin vào, và làm chứng cho, sứ mệnh của cố Madame Blavatsky, và đã làm chứng về sự hiện hữu của các Vị Thầy Vĩ Đại, những Người đã góp phần rất lớn cho việc truyền bá các chân lý Thông Thiên Học trên thế giới.”

Maji was a Guzerati Brâhmini by caste, but spoke other Indian languages, including Sanskrit, fluently. She was a thorough Vedantin, and of a very cheerful temperament.

Maji thuộc giai cấp Bà-la-môn Guzerati, nhưng nói trôi chảy các ngôn ngữ Ấn khác, kể cả Sanskrit. Bà là một nhà Vedanta chân chính, và có khí chất rất vui tươi.

[35] Previously to the building of the picture-annex of the Adyar Library.

[35] Trước khi xây dựng khu phụ trưng bày tranh của Thư viện Adyar.

[36] Since the above was published (1899) a great change for the better has occurred. Our movement has quadrupled its strength in France.

[36] Kể từ khi điều trên được công bố (1899) đã có một thay đổi lớn theo hướng tốt hơn. Phong trào của chúng ta đã tăng gấp bốn lần sức mạnh ở Pháp.

[37] See the issue for May, 1886, p. 494.

[37] Xem số ra tháng 5, 1886, tr. 494.

[38] In Pali the names of the colors are Nila, Pita, Lohita, Avadata, Mangasta, and Prabhasvara.

[38] Trong tiếng Pali, tên các màu là Nila, Pita, Lohita, Avadata, Mangasta và Prabhasvara.

[39] L’ Humanitté Posthume.

[39] L’Humanité Posthume.

[40] Just while I am writing, the current issue of the Bombay Gazette publishes the following paragraph:

[40] Đúng lúc tôi đang viết, số hiện hành của Bombay Gazette đăng đoạn sau:

“It is a singular fact (says a correspondent) that at the time of the publication of Kipling’s first ‘Jungle Book,’ Mr. Fred Whishaw actually had a Jungle Book of his own ready for publication. The coincidence was complete, for Mr. Whishaw had used the names of animals and animal expressions in much the same manner as Kipling had done. Suddenly the latter’s ‘Jungle Book’ was announced, and albeit this incident happened several years ago, Mr. Whishaw cannot be persuaded to place his own work upon the market. It is among the most singular of literary coincidences. He has the manuscript still.”

“Có một thực tế kỳ lạ (một cộng tác viên nói) là vào lúc xuất bản cuốn ‘Sách Rừng’ (Jungle Book) đầu tiên của Kipling, ông Fred Whishaw thực ra đã có một cuốn Sách Rừng của riêng mình sẵn sàng cho việc xuất bản. Sự trùng hợp là trọn vẹn, vì ông Whishaw đã dùng tên loài vật và các cách diễn đạt thuộc loài vật gần như giống hệt cách Kipling đã làm. Đột ngột ‘Sách Rừng’ của người sau được thông báo, và dẫu sự kiện này xảy ra đã nhiều năm, ông Whishaw không thể bị thuyết phục đưa tác phẩm của mình ra thị trường. Đây là một trong những trùng hợp văn chương lạ lùng nhất. Ông vẫn còn giữ bản thảo.”

Which plagiarised from the other? Again: In 1842 Dr. J. R. Buchanan, then of Louisville, Ky. and Mr. J. B. W. S. Gardner, of Roche Court, Rants, England, acting independently of one another, announced their discovery of the power to suspend or excite cerebral organs by mesmeric action. Which plagiarised!

Ai đạo văn của ai? Lại nữa: Năm 1842, Tiến sĩ J. R. Buchanan, khi ấy ở Louisville, Ky., và ông J. B. W. S. Gardner, ở Roche Court, Rants, Anh quốc, hoạt động độc lập với nhau, đã công bố khám phá của họ về quyền năng đình chỉ hay kích thích các cơ quan não bằng tác dụng thôi miên. Ai đạo văn của ai!

[41] Cf.], vol. i, p. 242.

[41] Xem, tập i, tr. 242.

[42] This, eminent man has died subsequently.

[42] Vị nhân sĩ lỗi lạc này đã qua đời sau đó.

[43] Posthumous Humanity, English Trans., London, 1887, George Redway.

[43] Posthumous Humanity, bản dịch tiếng Anh, London, 1887, George Redway.

[44] While this book has been going through the press, the Prince Harisinhji, who was present at the Convention in Benares, lost his life from an accident on the morning of January 2, 1903.

[44] Khi cuốn sách này đang in, Hoàng thân Harisinhji, người có mặt tại Đại hội ở Benares, đã mất mạng vì một tai nạn vào sáng ngày 2 tháng 1, 1903.

[45] I think she would have felt deeply mortified if she had lived to read the scathing and complete exposure of Keely’s fraudulent demonstrations of his “Inter-Etheric Force,” in her own magazine, The Theosophical Review, for May (1899), after what she had written about it in The Secret Doctrine (i, 556-566, first ed.). She knew nothing personally about Keely, taking her impressions and facts at second hand from a friend at Philadelphia—a shareholder in Keely’s original company, and from Mrs. Bloomfield Moore, his enthusiastic disciple and backer; but she did know a great deal about the etheric and other forces and their potentialities, and had often proved, experimentally, her ability to handle them; so, without stopping to test Keely’s theories or verify Mrs. Moore’s alleged facts, she flew off at a tangent into a most instructive essay on cosmic forces, and by her unguarded half-endorsement of the now proven charlatan, exposed one more large joint in her armour to the shafts of her sneering enemies. But what does it matter; after all? She was just H. P. B., and strode along with us, a giantess in various aspects, though perhaps a gobemouche when accepting unchallenged the statements of those who had too easily won her confidence.

[45] Tôi nghĩ bà hẳn đã cảm thấy bị tổn thương sâu sắc nếu bà còn sống để đọc bài bóc trần thấu đáo và đanh thép về các màn trình diễn gian dối của Keely về “Lực Liên–Dĩ thái” của ông ta, đăng trên chính tạp chí của bà, The Theosophical Review, số tháng 5 (1899), sau những gì bà đã viết về nó trong The Secret Doctrine (i, 556–566, ấn bản đầu). Bà không biết gì cá nhân về Keely, nhận ấn tượng và dữ kiện gián tiếp từ một người bạn ở Philadelphia—một cổ đông trong công ty đầu tiên của Keely, và từ bà Bloomfield Moore, đệ tử nhiệt thành và người hậu thuẫn của ông; nhưng bà biết rất nhiều về dĩ thái và các lực khác cùng các tiềm năng của chúng, và đã nhiều lần chứng minh, bằng thực nghiệm, khả năng của mình trong việc xử lý chúng; vì vậy, không dừng lại để kiểm nghiệm các thuyết của Keely hay thẩm định các “sự kiện” do bà Moore nêu, bà đã lao theo một đường chéo vào một bài tiểu luận cực kỳ bổ ích về các lực vũ trụ, và bằng sự bán–tán thành thiếu dè dặt đối với kẻ nay đã bị chứng minh là lang băm, bà để lộ thêm một mảng lớn trong “bộ giáp” của mình cho những mũi tên của các kẻ giễu cợt bà. Nhưng sau cùng thì có sao đâu? Bà chỉ là H. P. B., và đã sải bước cùng chúng tôi, như một người đàn bà khổng lồ trên nhiều phương diện, dù có lẽ dễ cả tin khi tiếp nhận không kiểm chứng các lời tường thuật của những ai quá dễ giành được lòng tin của bà.

[46] Of late years things have greatly improved, I am happy to say.

[46] Những năm gần đây mọi sự đã cải thiện rất nhiều, tôi mừng được nói vậy.

[47] It almost seems as if they thought divine truth to be an inverted pyramid, of which the base, spreading upward and outward, receives the whole religious influx, and the apex—the discharge-point—rests upon their particular altar. Outside the pyramid, nothing, save untruth.

[47] Hình như họ nghĩ rằng chân lý thiêng liêng là một kim tự tháp lộn ngược, trong đó đáy, phình ra hướng lên trên và ra ngoài, đón nhận toàn bộ dòng tuôn tôn giáo, còn đỉnh—điểm xả—tựa trên bàn thờ riêng của họ. Bên ngoài kim tự tháp, chẳng có gì, ngoại trừ điều bất chân.