CHAPTER XXV—CHƯƠNG XXV
ESTABLISHING A BUDDHIST FLAG—DỰNG LÁ CỜ PHẬT GIÁO
THE American Consul sent me, on 5th February, a gentleman’s visiting-card, which rolled back the panorama of my life, twenty-odd years, to the period of the American War of the Rebellion. It was that of a Mr. Miller, of Sacramento, who had been one of the clerks under me when I was attached to the War Department. A greater contrast between myself as I was then and now could not be imagined; and it was with a feeling of real pleasure that I called on my friend and his wife at their hotel, and, in the exchange of reminiscences about persons and things, the magic of memory brought up in my mind the long-hidden pictures of those awful days when our nation was fighting for its existence, and my hair was turning grey with the load of responsibility which was cast upon me by my official position. The chance of his voyage around the world having brought him to Colombo was grasped by our leading Buddhists to get from Mr. Miller, at first-hand, some details about my public record and private character at home, to serve as weapons of defence against the hostile parties in the Eastern pulpit and Press, who trod as near to the line of actionable slander as they dared, in their attacks [363] upon our Society and its Founders. A great calamity impended, however, over the head of my friend, for within the next week his wife died at the hotel, and the Consul and I followed her remains to the grave.
Ngày 5 tháng Hai, Lãnh sự Hoa Kỳ gửi cho tôi một tấm danh thiếp của một vị, khiến cuộn phim đời tôi như lùi lại hơn hai mươi năm, về thời Nội chiến Hoa Kỳ. Đó là của Ông Miller, ở Sacramento, người từng là một trong các thư ký dưới quyền tôi khi tôi làm việc tại Bộ Chiến tranh. Khó có thể tưởng tượng một đối sánh tương phản lớn hơn giữa con người tôi khi đó và bây giờ; và tôi đã thật sự vui khi đến thăm bạn tôi và phu nhân ở khách sạn của họ, để trong cuộc đối thoại ôn cố tri tân về người và việc, phép màu của ký ức dâng lên trong tôi những bức họa lâu ngày ẩn khuất về những ngày khủng khiếp khi quốc gia chúng tôi chiến đấu vì sự tồn tại của mình, và mái tóc tôi bạc đi vì gánh nặng trách nhiệm do chức vụ đặt lên vai. Dịp may của chuyến du hành vòng quanh thế giới đưa ông đến Colombo được các vị Phật tử lãnh đạo của chúng ta nắm lấy để hỏi Ông Miller, từ nguồn đầu tay, vài chi tiết về hồ sơ công vụ và tư cách cá nhân của tôi tại quê nhà, hầu làm khí giới tự vệ trước những phe phái thù nghịch trong giáo đường và báo chí phương Đông, những kẻ đã đi sát đến ranh giới có thể bị kiện vì phỉ báng trong các đợt công kích [363] nhắm vào Hội của chúng ta và các vị Sáng lập. Tuy nhiên, một tai ương lớn treo lơ lửng trên đầu người bạn tôi, vì trong tuần kế tiếp, phu nhân ông qua đời tại khách sạn, và Lãnh sự cùng tôi đưa linh cữu bà đến nơi an táng.
It was at this time that our Colombo colleagues had the happy thought of devising a flag which could be adopted by all Buddhist nations as the universal symbol of their faith, thus serving the same purpose as that of the cross does for all Christians. It was a splendid idea, and I saw in a moment its far-reaching potentialities as an agent in that scheme of Buddhistic unity which I have clung to from the beginning of my connection with Buddhism. With the many points of dissemblance between Northern and Southern Buddhism, the work of unification was a formidable one; yet still, in view of the other fundamental features of agreement, the task was not hopeless. My Buddhist Catechism was already circulated in Japan in two translations, and now this flag came as a powerful reinforcement. Our Colombo brothers had hit upon the quite original and unique idea of blending in the flag the six colors alleged to have been exhibited in the aura of the Buddha, viz., sapphire-blue, golden-yellow, crimson, white, scarlet, and a hue composed of the others blended. [38] The adoption of this model avoided all possible causes of dispute among Buddhists, as all, without distinction, accept the same tradition as to the Buddha’s personal appearance and that of his aura: [364] moreover, the flag would have no political meaning whatever, but be strictly religious. As the Colombo Committee had sketched the flag, it was of the inconvenient shape of a ship’s long, streaming pennant, which would be quite unsuitable for carrying in processions or fixing in rooms. My suggestion that it should be made of the usual shape and size of national flags was adopted, and when we had had a sample made, it was unanimously approved of. Accepted by the chief priests as orthodox, it at once found favor, and, on the Buddha’s Birthday of that year, was hoisted on almost every temple and decent dwelling-house in the Island. From Ceylon it has since found its way throughout the Buddhist world. I was much interested to learn, some years later, from the Tibetan Ambassador to the Viceroy, whom I met at Darjeeling, that the colors were the same as those in the flag of the Dalai Lama.
Chính vào thời điểm này, các đồng sự Colombo của chúng ta nảy ra ý nghĩ thật đẹp: thiết kế một lá cờ có thể được các quốc gia Phật giáo đồng loạt chấp nhận như biểu tượng phổ quát của đức tin họ, giống như thánh giá đối với các tín đồ Cơ Đốc. Ý tưởng tuyệt vời, và tôi lập tức nhìn ra tiềm năng sâu rộng của nó như một tác nhân trong đề án nhất thể Phật giáo mà tôi đã ôm ấp từ buổi đầu gắn bó với Phật giáo. Với muôn nẻo sai khác giữa Bắc tông và Nam tông, công việc thống nhất quả là một nỗ lực khó nhằn; thế nhưng, xét đến các điểm đồng nền tảng khác, thì nhiệm vụ không đến nỗi tuyệt vọng. Sách Giáo Lý Vấn Đáp Phật giáo của tôi đã được lưu hành ở Nhật qua hai bản dịch, và nay lá cờ này đến như một sự tiếp ứng đầy sức mạnh. Các huynh đệ Colombo của chúng ta đã nảy ra ý tưởng độc đáo có một không hai: hòa phối trên lá cờ sáu màu được truyền rằng từng hiển hiện trong hào quang của Đức Phật, tức lam ngọc, vàng kim, đỏ thẫm, trắng, đỏ sậm, và một sắc do các màu kia hòa trộn. Việc chọn mẫu này tránh mọi nguyên cớ bất hòa giữa Phật tử, vì tất cả, không phân biệt, đều tiếp nhận truyền thuyết chung về dung nhan Đức Phật và hào quang của Ngài: [364] hơn nữa, lá cờ không mang bất cứ ý nghĩa chính trị nào, mà hoàn toàn thuộc về tôn giáo. Theo phác thảo của Ủy ban Colombo, cờ có hình dạng dài như một dải cờ đuôi nheo trên tàu, vốn rất bất tiện để rước kiệu hoặc treo trong phòng. Đề nghị của tôi là làm nó theo kích cỡ và hình dạng thông thường của quốc kỳ đã được chấp thuận, và sau khi làm một mẫu, tất cả đều tán đồng. Được chư Tăng thừa nhận là hợp chánh pháp, lá cờ lập tức được ưa chuộng, và vào Ngày Đản Sinh của Đức Phật năm ấy, đã tung bay trên hầu hết các ngôi chùa và những tư gia tươm tất trên đảo. Từ Tích Lan, lá cờ đã lan khắp thế giới Phật giáo. Vài năm sau, tôi rất hứng thú khi được vị Đại sứ Tây Tạng bên cạnh Phó vương, người tôi gặp ở Darjeeling, cho hay rằng các màu ấy cũng chính là màu trong lá cờ của Đạt-lai Lạt-ma.
The importance of the service thus rendered to the Buddhist nations may perhaps be measured with that of giving, say, to the Christians the Cross symbol or to the Moslems the Crescent. The Buddhist flag, moreover, is one of the prettiest in the world, the stripes being placed vertically in the order above written, and the sequence of the hues making true chromatic harmonies.
Tầm vóc của công trình như thế đối với các quốc gia Phật giáo có lẽ có thể đem so với việc, thí dụ, ban cho Kitô hữu biểu tượng Thánh Giá, hay cho người Hồi giáo Lưỡi Liềm. Hơn nữa, lá cờ Phật giáo là một trong những lá cờ đẹp nhất thế giới, các sọc được đặt theo chiều dọc theo thứ tự kể trên, và sự kế tiếp các sắc màu tạo nên những hòa âm màu sắc đích thực.
In pursuance of the policy of unity, I held a Convention in Colombo on 14th February (1885) to agree upon a line of action as regards the tour I had come to make in the interests of education and religion. Sumangala, Megittuwatte, and personal representatives [365] of Wimelasara and Ambagahawatte were present, and we were able to come to a perfectly unanimous conclusion. Waskaduwe Subhuti, who was unavoidably absent, called on me the next day, and was, as usual, extravagantly liberal in promises and compliments.
Tiếp nối chính sách nhất thể, tôi triệu tập một Đại hội ở Colombo ngày 14 tháng Hai (1885) để thống nhất đường hướng cho chuyến lưu diễn tôi đến thực hiện vì sự nghiệp giáo dục và tôn giáo. Sumangala, Megittuwatte và đại diện đích thân của Wimelasara và Ambagahawatte có mặt, và chúng tôi đã đi đến một quyết nghị hoàn toàn nhất trí. Waskaduwe Subhuti vì việc khẩn nên vắng mặt, hôm sau đến thăm tôi, vẫn như thường lệ, hết lời hứa hẹn và tán dương.
On the 20th, in company with Messrs. Leadbeater, W. d’Abrew, Dharmapala, and my veteran Buddhist servant “Bob,” I started in my travelling-cart for Negombo. But man proposes and God disposes, it is said, and I had my first and only serious attack of malarial fever since coming to the East. I could only lecture once, when we retraced our steps, and during the next fortnight Leadbeater had to do my work, while I lay abed and drank nasty herbal decoctions given me by a native doctor, that were enough to make a horse sick. I was out again on 5th March and took the platform at a place called Ratmalana. The tour in the Negombo district was resumed, and we visited the stations on our list, whose names may be judged from these few specimens: Pamankada, Hunupitiya, Naranpitiya, Wilawalla, Mokallangamuwa—which I commend to the managers of American “spelling bees” as good practice.
Ngày 20, cùng với các ông Leadbeater, W. d’Abrew, Dharmapala, và người gia bộc Phật tử kỳ cựu “Bob” của tôi, tôi khởi hành bằng cỗ xe hành trình về Negombo. Nhưng người tính không bằng trời tính, và tôi bị một cơn sốt rét nặng—lần đầu và cũng là lần duy nhất kể từ khi qua Đông phương. Tôi chỉ diễn giảng được một lần, rồi phải quay về, và suốt nửa tháng sau Leadbeater phải làm phần việc của tôi, trong khi tôi nằm liệt giường uống các thang thuốc thảo dược khó ngửi do một thầy thuốc bản địa cho, đủ để làm một con ngựa cũng phải lảo đảo. Ngày 5 tháng Ba tôi lại ra ngoài và diễn thuyết tại một nơi gọi là Ratmalana. Cuộc lưu diễn ở vùng Negombo được nối lại, và chúng tôi đến các trạm trong danh sách, tên gọi của chúng có thể hình dung qua vài mẫu: Pamankada, Hunupitiya, Naranpitiya, Wilawalla, Mokallangamuwa—mà tôi xin gửi tới các nhà tổ chức cuộc thi đánh vần ở Mỹ như một bài tập hay ho.
Returning from one of these outstations to Colombo, we held a bumper meeting at the Colombo Society’s Headquarters, and broached the scheme of placing small earthen collecting-pots at private houses, into which the family and their friends should drop as many coppers as they felt they could afford in aid of the Buddhist National Fund. The packed audience [366] responded fervently to Leadbeater’s and my appeals, and fifty names were given in by persons who were willing to take pots. Our zealous brothers of the Colombo Society, accordingly, had a number of these money-pots made at a pottery, and, putting them into a cart, went through the streets of Colombo and distributed them. They would stop from time to time, call the neighbors around, make them a stirring address, and give pots to all who asked for them. Within the next twelvemonth a sum of about Rs. 1,000 was thus collected, if my memory serves me.
Trở về từ một trạm ngoại vi về Colombo, chúng tôi tổ chức một cuộc họp chật kín người tại Trụ sở của Hội Colombo, và đưa ra đề án đặt những hũ đất nhỏ quyên góp tại tư gia, để gia chủ và thân hữu bỏ vào đó bao nhiêu đồng xu đồng tùy khả năng nhằm góp cho Quỹ Quốc Gia Phật giáo. Cử tọa [366] chen chật kín nhà đã đáp lời thiết tha của Leadbeater và tôi, và năm mươi người ghi danh sẵn sàng nhận hũ. Các huynh đệ nhiệt tâm của Hội Colombo liền đặt làm một số hũ tại lò gốm, rồi cho lên xe đi khắp phố phường Colombo phân phát. Họ dừng lại từng chỗ, gọi hàng xóm quây quần, nói đôi lời khích lệ, và trao hũ cho ai xin. Trong mười hai tháng tiếp theo, nếu tôi nhớ đúng, đã thu được khoảng 1.000 Rs. theo cách ấy.
The cocoanut palm has been the theme of hundreds of poets, for it is one of the most beautiful objects of the vegetable kingdom. But to see it as we saw it on the night of 23rd March, at Ooloombalana, on the estate of Messrs. Pedalis de Silva and R. A. Mirando, was to take into the memory a picture that could never fade. The stars shone silvery in the azure sky, and in the extensive cocoanut grove many bonfires had been built to protect the fruit from the depredations of thieves. The effect of these lights upon the enamelled surfaces of the huge fronds was marvellously artistic. Their lower surfaces were brought out into high relief, and, standing at the foot of a tree and looking upward, one could see the great circle of starstudded sky that was opened out by the outspringing footstalks, while, as the wind shook the fronds, their spiky points would wave up and down and bend sidewise and back again, so that the hard, smooth, emerald-hued upper surfaces would glint and sparkle in the yellow [367] glare of the fires. It was one of the most entrancing pictures I ever saw in my life. Our pitched cart with its white tent-top, the white oxen, our camp-fire, and our group of persons, were vividly lighted up, and I could not but fancy what an exquisite painting Salvator Rosa would have made of the quiet scene.
Cây dừa đã là đề tài của hàng trăm thi nhân, vì đó là một trong những tạo vật đẹp nhất của giới thực vật. Nhưng được thấy nó như chúng tôi thấy vào đêm 23 tháng Ba, tại Ooloombalana, trên đồn điền của các ông Pedalis de Silva và R. A. Mirando, là đem vào ký ức một bức họa không bao giờ phai. Trời đêm sao bạc lấp lánh trên nền xanh lam, và giữa rừng dừa bạt ngàn, nhiều đống lửa được nhóm để bảo vệ trái khỏi tay đạo chích. Hiệu ứng của những quầng lửa ấy trên bề mặt như tráng men của các tàu lá lớn thật vô cùng mỹ thuật. Mặt dưới của chúng nổi bật lên với độ tương phản cao, và nếu đứng ngay gốc cây ngước nhìn, người ta sẽ thấy một vòng tròn trời đêm đầy sao mở ra bởi những cuống lá tỏa rộng, còn khi gió lay tàu lá, những chóp lá nhọn sẽ chao lên chao xuống, nghiêng sang bên rồi bật lại, khiến những mặt trên trơn láng như ngọc lục bảo ánh lên lấp lánh trong [367] quầng vàng của lửa. Đó là một trong những bức tranh mê đắm nhất tôi từng thấy trong đời. Cỗ xe bạt của chúng tôi với mái bạt trắng, đôi bò trắng, đống lửa trại, và nhóm người của chúng tôi rực sáng lửa, và tôi không khỏi hình dung nếu Salvator Rosa vẽ cảnh tĩnh này thì sẽ mỹ tuyệt đến nhường nào.
We entered the village of Madampe with a great procession that had come to meet us, and made noise enough with their barbaric tom-toms and horns to frighten away all the pisâchas within the circuit of five miles. Of course, our public lecture was attended by a huge crowd, who displayed much enthusiasm. Leadbeater, who is now working in America, will doubtless be entertained by these notes of our associated tourings. I doubt, however, his recalling with pleasure the trip from Madampe to Mahavena, in a country cart without springs, over a fearfully rough road, on which we got, as Horace Greeley did over a Kansas railroad, more exercise to the mile than was good for the soul. Every bone in our bodies was shaken up so as to make us painfully conscious of its anatomical position, while, as for poor Leadbeater, he suffered agony with his weak back. However, we came out of the experience alive, and that was something.
Chúng tôi vào làng Madampe giữa một đoàn rước lớn đến nghênh đón, và họ làm ầm ĩ đủ để khiến mọi loài pisacha trong vòng năm dặm phải hoảng sợ, với trống tom-tom và tù và bản xứ. Dĩ nhiên, buổi diễn giảng công cộng của chúng tôi hút về một đám đông khổng lồ, rất nhiệt thành. Ông Leadbeater, nay đang làm việc ở Mỹ, hẳn sẽ thấy thú vị với những ghi chép này về những chuyến đồng hành của chúng tôi. Tuy nhiên, tôi e ông khó mà nhớ với lạc thú chuyến đi từ Madampe đến Mahavena, bằng cỗ xe thôn quê không nhíp, trên con đường gồ ghề khủng khiếp, nơi mà như Horace Greeley từng nói về một tuyến đường sắt Kansas, người ta được “tập thể dục” theo dặm nhiều hơn mức tốt cho… linh hồn. Mỗi khúc xương trong người chúng tôi đều bị xốc đến mức cảm thấy rõ vị trí giải phẫu của nó, còn tội nghiệp Leadbeater thì vì lưng yếu nên đau đớn khôn xiết. Dù thế, chúng tôi rốt cuộc vẫn toàn mạng, thế cũng là điều may.
At one village, which I shall not name, we found the Buddhist killers of animals for food and drinkers and vendors of arrack—a pretty mess indeed—quite after the Indian Christian model. Well, it may be safely said that I walked into them in my discourse, citing the Silas to show what a real Buddhist should [368] be, and pointing to what they were. The very head man whose hospitality was offered us was an arrackrenter, and fish-catching and selling was the order of the day. In defining Nirvana and the Path towards it, I gave them one and all to understand, on the authority of Lord Buddha Himself, that if they imagined that they could get to Nirvana with a jug of arrack in one hand and a string of fish in the other, they were mightily mistaken: they had better go over to the Christians at once if they believed that, for fishing and arrack-drinking put a man quite outside the pale of Buddhism!
Tại một làng—xin không nêu tên—chúng tôi bắt gặp những Phật tử sát sinh làm thực phẩm và uống, buôn rượu arrack—một tình cảnh tệ hại—y hệt như mẫu hình Kitô hữu Ấn Độ. Tôi có thể nói chắc là trong bài nói chuyện, tôi đã đi thẳng vào họ, dẫn Giới để chỉ ra một Phật tử chân chính phải [368] là thế nào, và chỉ ra họ đang là thế nào. Ngay vị trưởng làng thết đãi chúng tôi là người cho thuê rượu arrack, còn chuyện bắt cá và bán cá thì là việc thường ngày. Khi giảng giải về Niết-bàn và Con Đường đi tới đó, tôi nói cho tất thảy hiểu—dựa thẩm quyền của chính Đức Phật—rằng nếu họ tưởng có thể đến Niết-bàn với một bình arrack nơi tay này và một xâu cá ở tay kia, thì họ lầm to: nếu tin thế thì tốt hơn là đi theo Kitô hữu ngay, vì bắt cá và uống arrack đặt một người ra ngoài phạm vi của Phật giáo!
On 7th April we closed the tour and started back for Colombo, but in the night our driver, having fallen asleep, dropped from his seat, and the bulls drew the heavy cart over his foot, so my servant “Bob,” who was up to any emergency, took his place and brought us at 3 a.m. to the house of our good friend Hendrik Aracchi, where we stopped until 9 o’clock the next morning and then proceeded on towards home. We got to the Headquarters at 3 p.m., and I went at once to my desk to deal with arrears of work.
Ngày 7 tháng Tư, chúng tôi kết thúc chuyến lưu diễn và lên đường về Colombo, nhưng trong đêm, người đánh xe ngủ gật, rơi khỏi ghế, và đôi bò kéo cỗ xe nặng cán qua bàn chân anh ta, nên người gia bộc “Bob” của tôi—vốn xoay xở được trong mọi tình huống—lên thay tay cầm cương và đưa chúng tôi lúc 3 giờ sáng đến nhà người bạn tốt Hendrik Aracchi, nơi chúng tôi nghỉ đến 9 giờ sáng hôm sau rồi tiếp tục lên đường. Chúng tôi về đến Trụ sở lúc 3 giờ chiều, và tôi lập tức ngồi vào bàn xử lý đống việc tồn.
Sunday, 11th April, being the Sinhalese New Year’s Day, Leadbeater and I and others went to Kelanie temple, a very sacred shrine, a few miles from Colombo, to offer flowers and address the multitude. It was an animated scene indeed, what with the crowds of worshippers, the flower offerings before the images of Lord Buddha, the babel of chattering voices, the drawling intonations of the Five Precepts by the priests, and the [369] full roar of repetitions by the people, the thousands of little lamps alight around the Bo trees, dagobas, and buildings, and the general stir and bustle. Buddhist “worship” is simplicity itself. The pilgrim, carrying flowers of the lotus, lily, champak, and other sweet-smelling plants and trees, doffs his sandals at the threshold of the house of statues, holds his joined palms to his forehead, lays the flowers on a marble slab before the image, bends his body reverentially, pronounces a phrase or two of the sacred teachings, and then quietly retires to give place to the next comer. That is all, and what could be simpler or more unobjectionable? The image is not worshipped; the devotee offers his fragrant blooms to the ideal of the world-savior, Gautama Buddha, whom he professes to follow in the Eightfold Path (Aryastanga Marga) which He traced out for all men, and whom he holds enshrined in his heart of hearts. The Buddhist monk is no mediator, his prayers can do nobody good save himself, and then only as practically worked into his daily life, thought, and conversation. The Tathâgata was a man who, through countless rebirths, had at last reached the goal of Wisdom and Divine Powers, and who had preached the doctrine that Nirvana was attainable by all men who would profit by His discoveries and walk in the path of good and wise men. No infallibility had He claimed, no dogma enforced on assumed authority of divine inspiration. He had taught in the Kalama Sutta, on the contrary, as I have above noted, that one should believe nothing taught by a sage, written in a [370] book, handed down by tradition, or supposedly proved by analogy, unless the thing taught was supported by human experience. Full of compassion for all beings, moved to heartbreaking by the volume of human woe, He had voluntarily taken rebirth after rebirth to learn more and more, develop more and more His insight, and gradually fit Himself to be the Leader of ignorant mankind out of the quagmire of Ignorance on to the firm ground of Truth. One has only to mix with such a crowd as we saw at Kelanie to realise how deep is the devotion and love for the Buddha in the hearts of His followers of to-day, ignorant, and petty, and backward in civilisation as they may be.
Chủ nhật, ngày 11 tháng Tư, là Tết của người Sinhala, Leadbeater, tôi và những người khác đến đền Kelanie, một ngôi thánh tích rất linh thiêng, cách Colombo vài dặm, để dâng hoa và thuyết pháp trước quần chúng. Quang cảnh hết sức sinh động, nào đoàn người chiêm bái, nào những mâm hoa dâng trước tượng Đức Phật, nào muôn tiếng ồn ào xôn xao, nào điệu tụng Ngũ Giới đều đều của chư Tăng, và [369] âm ba vang dội của muôn miệng dân chúng hòa tụng, nào muôn ngọn đèn nhỏ thắp quanh các cây Bồ-đề, bảo tháp và các tòa nhà, cùng bao xao động rộn ràng. Sự “thờ phụng” của Phật tử đơn sơ đến cùng. Người hành hương mang theo hoa sen, hoa huệ, hoa chiêm-bặc và những đóa hương thơm khác, bỏ dép nơi thềm nhà tượng, chắp tay trước trán, đặt hoa trên bàn đá trước tượng, cúi người cung kính, đọc vài câu lời dạy thiêng, rồi lặng lẽ lui ra nhường chỗ cho người kế tiếp. Thế là hết, và còn có gì đơn sơ hay đáng chê trách hơn? Tượng không phải là đối tượng thờ lạy; người tín đồ dâng hương hoa lên lý tưởng về bậc cứu thế gian—Đức Phật Cồ-đàm—Đấng mà họ nguyện theo con Đường Tám Nhánh (Aryastanga Marga) mà Ngài đã vạch cho muôn loài, và Đấng mà họ tôn thờ trong tận cùng tâm khảm. Vị Tăng Phật giáo không phải là kẻ trung giới, lời cầu nguyện của ông không thể mang lợi ích cho ai ngoài chính mình, và cho mình cũng chỉ khi được thể hiện trong đời sống, tư tưởng, ngôn từ hằng ngày. Đấng Như Lai là một con người, qua vô số lần tái sinh, sau cùng đạt đến Đích của Trí tuệ và Quyền năng thiêng liêng, và Ngài đã thuyết dạy rằng Niết-bàn có thể đạt được bởi mọi người nếu biết lợi dụng những khám phá của Ngài và đi trên con đường của người lành kẻ trí. Ngài không tự phong bất khả sai lầm, không áp đặt tín điều dựa vào cái gọi là linh cảm thiêng liêng. Trái lại, trong Kinh Kalama, như tôi đã nói ở trên, Ngài dạy rằng chớ tin điều gì do bậc hiền triết dạy, chép trong [370] sách, truyền lại bởi tập tục, hay tưởng như chứng minh bằng suy luận tương tự, nếu điều được dạy không được kinh nghiệm nhân loại chứng thực. Tràn đầy bi mẫn với muôn loài, tan nát cõi lòng trước khối lượng khổ đau của nhân gian, Ngài tự nguyện thọ sinh hết lần này đến lần khác để học thêm nữa, khai mở tri kiến thêm nữa, và dần dần tự trang bị để dẫn dắt nhân loại u tối ra khỏi vũng lầy Vô minh, bước lên mảnh đất rắn chắc của Chân lý. Chỉ cần hòa mình vào một biển người như đám đông chúng tôi thấy ở Kelanie là có thể nhận ra lòng sùng kính và tình yêu dành cho Đức Phật sâu đến nhường nào trong tâm các đệ tử Ngài ngày nay, dẫu họ có thể còn ngu dốt, nhỏ nhen và chậm tiến trong văn minh.
The next important public work that I had to take up was the reorganisation, on a stronger basis, of the Buddhist Defence Committee, a body which—as may be remembered—we formed in 1884, when I was leaving for London, to represent certain grievances of the Ceylon Buddhists to Lord Derby, the Conlonial Secretary. The results of the Colombo Riots of that year, when a peaceable Buddhist procession was murderously attacked by Roman Catholics, showed the necessity for some permanent committee which should be the channel through which the community might transmit their petitions to Government and secure redress for grievances. Until then, the Sinhalese had had no organisation of a national character, and, consequently, no semblance of public opinion that carried any weight. To the Theosophical Society is due the state of affairs now prevalent, viz., a Committee [371] of Defence and a popular newspaper, circulating throughout the Island and even reaching those who live in the most distant countries as merchants, servants, or in other bread-winning capacities. The remodelled Committee, formed on 18th April, 1885, had the High Priest Sumangala as Honorary President and the most influential laics as active members. I was elected an Honorary Member, and have had frequent occasion to assist with counsel and otherwise my co-religionists. The remaining few days of my stay in the Island were taken up with business in Colombo, and on the 26th I sailed for Madras on the “Chindwara”, on board which comfortable ship I found in the Captain and other officers old “shipmates” of former voyages in Indian waters. During the tour I lectured thirty-two, and Leadbeater twenty-nine, times; tours were made among the villages of the Western and North-Western Provinces; several hundred rupees were collected for the National Fund; a new Sinhalese edition of 5,000 copies of the Buddhist Catechism and 2,000 of Mr. Leadbeater’s Sisya Bodhya, or elementary Catechism, were published; the accounts of the Colombo Buddhist Theosophical Society, and of our vernacular paper, the Sandaresa, were overhauled and audited; subscriptions amounting to Rs. 3,000 were collected towards the cost of Headquarters’ buildings; the Defence Committee was permanently organised; and, last but not least, the Buddhist Flag was devised, improved, and adopted. A fair show of work, one would say. I returned alone, as it was [372] arranged that Mr. Leadbeater should stay as my local representative and take the general supervision of Buddhist (secular) affairs.
Công việc công khai quan trọng kế tiếp mà tôi phải đảm đương là tái tổ chức, trên một nền tảng vững chắc hơn, Ủy ban Bảo vệ Phật giáo, một tổ chức mà—như hẳn quý vị còn nhớ—chúng tôi đã thành lập vào năm 1884, khi tôi sắp đi Luân Đôn, để trình bày lên Lord Derby, Bộ trưởng Thuộc địa, những khiếu nại nhất định của Phật tử Tích Lan. Hậu quả của các Cuộc bạo loạn Colombo trong năm đó, khi một đoàn rước Phật giáo hiền hòa bị những người Công giáo La Mã tấn công tàn bạo, cho thấy sự cần thiết phải có một ủy ban thường trực làm kênh qua đó cộng đồng có thể chuyển các thỉnh nguyện lên Chính phủ và bảo đảm việc giải oan cho những uất ức. Cho đến khi ấy, người Sinhala không hề có một tổ chức mang tầm vóc quốc gia, và, do đó, không có một hình thức dư luận công chúng nào đủ sức nặng. Tình trạng nay đang thịnh hành là nhờ ở Hội Thông Thiên Học, tức là, một Ủy ban [371] Bảo vệ và một tờ báo phổ thông, lưu hành khắp đảo và thậm chí đến với những người sống nơi phương trời xa xôi nhất với tư cách là thương nhân, gia nhân, hoặc trong các nghề mưu sinh khác. Ủy ban được cải tổ, thành lập ngày 18 tháng Tư năm 1885, có Đại Tăng Thống Sumangala làm Hội trưởng Danh dự và các cư sĩ có ảnh hưởng nhất làm thành viên hoạt động. Tôi được bầu làm Hội viên Danh dự, và đã thường xuyên có dịp trợ giúp các đồng đạo của mình bằng lời khuyên cũng như bằng những cách khác. Vài ngày còn lại trong thời gian tôi lưu lại trên đảo là bận rộn công việc ở Colombo, và ngày 26 tôi lên tàu đi Madras trên chiếc “Chindwara”, một con tàu rất tiện nghi, trên đó tôi gặp nơi vị Thuyền trưởng và các sĩ quan khác những “bạn tàu” cũ của các chuyến hải hành trước đây trên vùng biển Ấn Độ. Trong chuyến đi này tôi diễn thuyết ba mươi hai lần, còn Leadbeater hai mươi chín lần; chúng tôi thực hiện các chuyến đi về các làng thuộc các Tỉnh Tây và Tây-Bắc; quyên góp được vài trăm rupee cho Quỹ Quốc gia; xuất bản một ấn bản mới bằng tiếng Sinhala với 5.000 bản của Giáo lý vấn đáp Phật giáo và 2.000 bản tác phẩm Sisya Bodhya của Ông Leadbeater, tức Giáo lý vấn đáp sơ lược; sổ sách của Hội Phật giáo Thông Thiên Học Colombo và của tờ báo bản ngữ Sandaresa được rà soát và kiểm toán; nhận được các khoản quyên góp lên đến 3.000 rupee cho chi phí xây dựng các tòa nhà của Trụ sở; Ủy ban Bảo vệ được tổ chức một cách lâu dài; và, sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, Lá cờ Phật giáo được thiết kế, hoàn thiện và chấp thuận. Một khối lượng công việc khá đáng kể, có thể nói vậy. Tôi trở về một mình, vì đã [372] thu xếp để Ông Leadbeater ở lại làm đại diện địa phương của tôi và đảm nhiệm việc giám sát chung những công việc (thế sự) của Phật giáo.
I found all well on reaching home on 5th May, and dropped at once into work. T. Subba Row came to see me on the next day, and we had a long talk about H. P. B. and the project of her return to India. For some reason his feelings towards her had entirely changed; he was now positively inimical, and protested that she should not be recalled for another year or two, so as to give time for the public animosity to subside, and avoid the scandal that would be caused by the Missionaries setting on again the Coulombs to sue her for libel. His views were shared by only a few of our members, however, the great majority inclining towards her return as soon as her health should be sufficiently restored to permit it. Subba Row came again a few days later, bringing with him a letter from one of our Indian members, in which was found, on opening it, a postscript in blue pencil, in the K. H. handwriting.
Về đến nhà ngày 5 tháng Năm, tôi thấy mọi sự đều ổn và lập tức bắt tay vào công việc. T. Subba Row đến gặp tôi hôm sau, và chúng tôi có một cuộc trò chuyện dài về Bà H. P. B. và kế hoạch đưa Bà trở lại Ấn Độ. Vì một lý do nào đó, cảm tình của ông đối với Bà đã hoàn toàn đổi khác; ông nay trở nên công khai đối nghịch, và khẳng kháng rằng không nên triệu hồi Bà về trong một hoặc hai năm nữa, để có thời gian cho sự thù địch của công chúng lắng xuống, và tránh vụ tai tiếng sẽ xảy ra nếu các Giáo sĩ lại xúi giục nhà Coulomb kiện Bà vì tội phỉ báng. Tuy nhiên, quan điểm của ông chỉ được một số ít hội viên chúng tôi chia sẻ, còn đa số đều thiên về việc mời Bà trở về ngay khi sức khỏe đủ hồi phục để cho phép. Vài ngày sau Subba Row lại đến, mang theo một bức thư của một hội viên Ấn Độ của chúng ta, trong đó, khi mở ra, thấy có một tái bút viết bằng bút chì xanh, theo nét chữ của Chân sư KH.
After showing me it, he re-mailed it to his correspondent, asking him if the blue writing was in the letter before it left him. His reply came in due course and—to me at least—was unsatisfactory. At about this time some man in Northern India was advertising widely in the papers that he had been allowed to photograph Mahatma K. H. in the Tibetan Borderland, and that he would sell copies at two rupees each. Of course, we knew that it must be an impudent swindle and did not send for a copy, but one was sent me by a [373] friend, and it was far worse than even we had expected. Instead of the Master’s Christlike face, this was the picture of a brutalised Dugpa lama, with his paraphernalia of human leg-bone pipe, drinking-cup made of a skull, coarse red dress, peaked red cap, and heavy rosaries. It was like a personal insult to me, who had seen the real Personage face to face, talked with him, and seen the spiritual radiance which lights up the countenances of the Wise Ones. No doubt the scoundrelly speculator made a good thing of his photograph, and much good may the money have done him!
Sau khi cho tôi xem, ông gửi lại bức thư cho người nhận, hỏi xem dòng chữ màu xanh ấy có nằm trong thư trước khi rời tay ông không. Hồi âm đến đúng kỳ và—ít nhất là với tôi—không thỏa đáng. Cùng thời gian này, một người nào đó ở Bắc Ấn lan truyền quảng cáo trên báo rằng ông ta đã được phép chụp ảnh Chân sư KH ở vùng biên giới Tây Tạng, và rằng ông ta sẽ bán mỗi tấm với giá hai rupee. Dĩ nhiên, chúng tôi biết đó hẳn là một trò lừa trơ tráo nên không đặt mua, nhưng một tấm đã được một [373] người bạn gửi cho tôi, và nó tệ hại hơn nhiều so với dự liệu của chúng tôi. Thay vì gương mặt nhuốm sắc Đức Christ của Bậc Thầy, đây là bức chân dung một vị lạt-ma Dugpa với vẻ thô bạo, đủ bộ đồ hành nghề như ống sáo làm từ xương ống chân người, chén uống bằng sọ người, áo đỏ thô, mũ đỏ nhọn, và tràng hạt nặng. Với tôi, người đã diện kiến trực tiếp Ngài, chuyện trò với Ngài, và thấy được quang huy tinh thần chiếu rọi trên dung nhan các Bậc Minh Triết, thì đó như một sự xúc phạm cá nhân. Không nghi ngờ gì, tay đầu cơ đê tiện ấy đã kiếm được khối tiền từ bức ảnh, và xin chúc cho số tiền ấy đã làm được điều gì tốt lành cho hắn!
On the 24th several of us attended the wedding of one of our younger Madrassi members, Mr. Ramanjulu Naidu, and were much amused by the performances of a buffoon, who, with a simple bit of betel-leaf held by his two hands to his lips, imitated the singing and whistling of various birds, and, by breathing through his nose, the sounds of brass and stringed instruments. He also caricatured cleverly a missionary trying to preach in Tamil, a European scolding his servant, and some types of Hindu character that one meets from time to time in social intercourse.
Ngày 24, vài người chúng tôi dự đám cưới của một hội viên trẻ người Madrassi, Ông Ramanjulu Naidu, và rất thích thú với màn trình diễn của một anh hề, người chỉ với một mẩu lá trầu kẹp giữa hai tay đặt lên môi, đã mô phỏng tiếng hót và tiếng huýt của nhiều loài chim, và bằng cách thở qua mũi, tái tạo âm thanh của các nhạc cụ dây và đồng. Anh cũng nhại rất khéo một nhà truyền giáo cố gắng giảng đạo bằng tiếng Tamil, một người châu Âu mắng gia nhân, và vài kiểu mẫu tính cách Ấn mà người ta vẫn gặp đây đó trong giao tiếp xã hội.
A most sad case of the suicide of a young lad, the son of beloved European friends of ours, was reported to me in this month. He was only about twelve or fourteen years of age, had a happy and luxurious home, and parents who loved him dearly; his father was in a position to ensure him just such a career in life as he might have preferred. But suddenly, without provocation, he shot himself dead in his own room.
Trong tháng này, một trường hợp vô cùng thương tâm về việc một thiếu niên tự sát, con trai của những người bạn Âu châu thân quý của chúng tôi, được báo cho tôi hay. Em chỉ khoảng mười hai hay mười bốn tuổi, có một mái nhà hạnh phúc và sung túc, và cha mẹ hết mực yêu thương; người cha lại ở vào vị thế có thể bảo đảm cho em một sự nghiệp đời phù hợp với sở nguyện. Thế nhưng bỗng nhiên, không do khiêu khích, em đã nổ súng tự kết liễu trong phòng riêng.
[374]
[374]
This was not all; his brother had done the same, at about the same age, in the same house, a year or two before. The two events seem to have been related, and it is an interesting problem what peculiar Karma could have made it necessary that these two bright, affectionate lads should have taken their own lives at the same age, and thus have wrenched with a double agony the hearts of their noble parents. Can anyone imagine my happiness in hearing from the dear mother that, but for the support and consolation of Theosophy, she should in all probability have gone mad? The complete realisation of the truth of the theory of Karma dried her unavailing tears and calmed her affrighted soul. How admirably has Mr. Fullerton stated the case for the beneficent and consolatory working out of karmic results, in his pamphlet, Theosophy in Practice, and Consolations of Theosophy! If these parents suffered, it was no accident, no “mysterious Providence” that caused it, but they themselves: of what they had sown long before, they now reaped the harvest.
Chưa hết; anh trai em cũng đã làm điều tương tự, ở độ tuổi cỡ ấy, trong cùng ngôi nhà, một hai năm trước đó. Hai biến cố xem ra có liên đới, và đây là một vấn đề thú vị: nghiệp quả đặc dị nào đã khiến điều cần thiết là hai thiếu niên sáng láng, giàu tình thương ấy phải tự kết liễu đời mình ở cùng độ tuổi, và như thế đã xoáy thêm nỗi đau gấp đôi vào trái tim của đấng song thân cao thượng? Ai có thể hình dung niềm hạnh phúc của tôi khi nghe người mẹ yêu dấu nói rằng, nếu không nhờ sự nâng đỡ và niềm an ủi của Thông Thiên Học, Bà rất có thể đã phát điên? Sự thể nhập trọn vẹn chân lý của học thuyết Nghiệp quả đã làm khô những giọt lệ vô ích của Bà và trấn tĩnh linh hồn đang kinh hãi. Ông Fullerton đã trình bày thật tuyệt diệu về sự vận hành đầy lợi ích và an ủi của kết quả nghiệp quả, trong tập sách mỏng Thông Thiên Học trong Thực hành, và Những Niềm An Ủi của Thông Thiên Học! Nếu cha mẹ ấy chịu khổ, thì đó không phải là ngẫu nhiên, không phải là một “Quan phòng huyền nhiệm” gây ra, mà chính là do họ: điều họ đã gieo từ lâu, giờ họ gặt hái.
“The father, in some past time, when himself a father, had made life bitter to his children, or had been unsympathetic to those dependent on him, and had then formed a record which had to be expiated later on. Then the conditions were reversed, and the iron which he had driven into the souls of the helpless is now driven into his own. The pain is hard to bear, yet he knows that thus only can atonement be made, the debt to Justice be wiped out, the future freed from [375] anxiety and sorrow. And so he becomes reconciled to an expiation which is reassuring, and is consoled at the thought that he has but brought upon himself what he deserved, etc.”
“Người cha, vào một thời quá vãng, khi chính ông là một người cha, đã làm cho đời sống của con mình trở nên cay đắng, hoặc đã vô cảm với những người phụ thuộc nơi ông, và khi ấy đã tạo nên một ghi nhận phải được chuộc trả về sau. Rồi điều kiện bị đảo ngược, và cây đinh sắt mà ông đã đóng vào linh hồn của kẻ bất lực nay được đóng vào chính linh hồn ông. Nỗi đau thật khó chịu đựng, thế nhưng ông biết rằng chỉ bằng cách ấy mới có thể chu toàn sự đền bù, xóa sạch món nợ đối với Công chính, giải phóng tương lai khỏi [375] ưu tư và sầu khổ. Và thế là ông đành lòng với một sự đền tội vừa mang tính trấn an, vừa được an ủi khi nghĩ rằng ông chỉ đang chuốc lấy cho mình điều mình đáng chịu, v.v.”
This would explain why these two entities, self-doomed by self-generated Karmas to suicide in boyhood, had drifted into this particular family circle to take birth. The antecedent karmic tie between them brought it about that one should first, rush into Kamaloka, and then hypnotically draw his companion culprit along the same dark path. As for the present mother of them, if there was ever a woman and mother more lovable, I have never seen her. But that she had done something in a past life to draw upon herself the suffering resulting from such a tragedy is plain enough, if we live in a world of balanced cause and effect, and are not the sport of devils and astral tramps.
Điều này có thể giải thích vì sao hai thực thể ấy, do nghiệp quả tự chuốc mà phải tự sát khi còn niên thiếu, lại trôi dạt vào vòng gia đình đặc thù này để đầu thai. Mối liên hệ nghiệp quả tiền sinh giữa họ khiến cho một người trước hết lao vào Kamaloka, rồi thôi miên kéo người bạn đồng phạm của mình bước theo cùng lối mòn u ám ấy. Còn về người mẹ hiện tại của họ, nếu từng có một người phụ nữ và người mẹ nào đáng mến hơn, tôi chưa từng gặp. Nhưng hẳn là trong một kiếp trước Bà đã làm điều gì đó khiến Bà phải gánh chịu nỗi khổ do thảm kịch như thế mang lại—điều ấy quá hiển nhiên, nếu chúng ta sống trong một thế giới có nhân có quả cân bằng, và không phải là trò đùa của ma quỷ và những kẻ lang thang ở cõi cảm dục.
In an earlier chapter I have noted a peculiar case of family Karma that came under my notice in Northern India. Two sons of a respectable and healthy family had each been stricken with paralysis on attaining his twelfth year. When I saw them, one was fourteen, the other twelve years old; and although I had cured some two hundred paralytics by my curative passes I could do nothing for these poor lads: evidently it was their Karma to suffer in this way, and their cases were incurable.
Trong một chương sớm hơn, tôi đã ghi lại một trường hợp đặc dị về Nghiệp gia đình mà tôi biết ở Bắc Ấn. Hai con trai của một gia đình đàng hoàng và khỏe mạnh đều bị bại liệt mỗi khi đến tuổi mười hai. Khi tôi gặp họ, một em mười bốn, em kia mười hai; và dù tôi đã chữa khỏi cho chừng hai trăm người bại liệt bằng các thủ pháp truyền sinh lực, tôi không thể làm gì cho hai em tội nghiệp này: hiển nhiên nghiệp quả của các em là phải chịu khổ theo cách ấy, và các trường hợp này bất khả cứu.
The book of Adolphe d’ Assier on the state of man after death [39] pleased me so much that I asked and, [376] in due course, obtained his permission to bring out an English edition with annotations of my own. I began the task on 27th May (1886), and, with intervals of other duties attended to, finished it on June 24th. It was published in a neat form by Mr. Redway, and had a gratifying success. To my mind, it is one of the most useful books of reference in our occult literature, especially so because of the author’s having been a Comtist, and having led us, as it were, past the tomb, into the shadowland. That he deserts us midway through the gloom, matters not; he has at least disposed of the objectors in his old party who refused to stir one step beyond the sill of the door of the sepulchre.
Tập sách của Adolphe d’Assier về tình trạng con người sau khi chết khiến tôi hài lòng đến mức tôi đã ngỏ lời và, [376] đến kỳ hạn, được phép của ông để cho ra mắt một bản dịch tiếng Anh có kèm những chú giải của chính tôi. Tôi khởi sự công việc vào ngày 27 tháng Năm (1886), và, xen kẽ với những bổn phận khác, hoàn tất ngày 24 tháng Sáu. Ông Redway xuất bản tác phẩm với một hình thức trang nhã, và nó gặt hái thành công đáng mừng. Theo quan điểm của tôi, đây là một trong những sách tham khảo hữu ích nhất trong văn liệu huyền bí của chúng ta, đặc biệt vì tác giả vốn là người theo học thuyết Comte, và đã đưa chúng ta, như thể, đi qua khỏi mồ, tiến vào vùng đất bóng tối. Việc ông bỏ rơi chúng ta giữa đường trong miền u ám ấy không có gì hại; ít ra ông đã loại bỏ được những kẻ phản đối trong phe cũ của mình, những người nhất quyết không chịu bước quá ngưỡng cửa của ngôi mộ.
On 6th June the Council met and approved of my plan for the organisation of an American Board of Control to have charge of our movement in the United States of America. Shortly after, however, a quarrel sprang up between Mr. Judge and Dr. Coues, the latter wanting to be appointed President for life of the American Section—an anomaly, since a Society can have but one head if it be really an entity, or corporate body. He wrote H. P. B. and myself the most fantastical, self-adulatory letters, in which gross flattery was mingled with boasting and peppered with covert threats. He explained to us how he played upon the American public, now exciting its curiosity and wonder, anon destroying its hopes of ever solving the mystery which he was hiding from the profane. In short, he gave me the impression that he was a most dangerous and undesirable man to have dealings with; and when [377] he had brought things to a certain point, I got the Council to agree to dissolve the American Board of Control and replace it by a sectional form of organisation, based on purely republican lines, and having in itself the elements of stability. How well the scheme worked, under Mr. Judge’s direction, is now a matter of history. Dr. Coues was ultimately expelled from our membership.
Ngày 6 tháng Sáu, Hội đồng họp và chuẩn y kế hoạch của tôi về việc tổ chức một Hội đồng Kiểm soát Hoa Kỳ để phụ trách phong trào của chúng ta tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, xảy ra một cuộc xung đột giữa Ông Judge và Bác sĩ Coues, người sau muốn được bổ nhiệm làm Hội trưởng trọn đời của Khu vực Hoa Kỳ—một điều bất cập, vì một Hội, nếu thật sự là một thực thể, một pháp nhân, thì chỉ có thể có một vị đứng đầu. Ông viết cho Bà H. P. B. và cho tôi những bức thư kỳ quặc nhất, tự ca tụng bản thân đến quá đáng, trong đó nịnh bợ lộ liễu được pha trộn với khoe khoang và rắc thêm những lời hăm dọa che đậy. Ông giải thích cho chúng tôi cách ông chơi đùa với công chúng Mỹ, khi thì khơi dậy tò mò và kinh ngạc, khi thì phá tan hy vọng của họ về việc giải quyết bí ẩn mà ông đang che giấu trước phàm nhân. Nói gọn, ông tạo cho tôi ấn tượng rằng ông là một người hết sức nguy hiểm và không đáng tin để cộng tác; và khi [377] ông đã đẩy sự việc đến một mức nào đó, tôi khiến Hội đồng đồng ý giải tán Hội đồng Kiểm soát Hoa Kỳ và thay thế bằng một hình thức tổ chức theo lối phân bộ, dựa trên nguyên tắc cộng hòa thuần túy, tự thân có các yếu tố ổn định. Mô hình ấy, dưới sự điều hành của Ông Judge, đã vận hành tốt như thế nào, thì nay đã là chuyện của lịch sử. Bác sĩ Coues rốt cuộc bị khai trừ khỏi hàng ngũ hội viên của chúng tôi.
A letter came to me from Bombay, from Tookaram Tatya, which gave us all a great surprise. On the first page he writes feelingly about the disappearance of Damodar and of our not knowing whether he was dead or alive. On the second page, left blank, I found a long message from Mahatma K. H., or at any rate in his familiar script, giving me full information in answer to Tookaram’s plaint. Damodar, it said, was alive and safe; he had tried to pass through a terrible ordeal of initiation, but had failed through physical weakness; he would, however, ultimately succeed. The time had come for us all to realise that there was an inexorable law of Karma and act accordingly. The tone of the message was admirable, and I felt rejoiced to see its stern reminder of our personal accountability: it seemed the harbinger of better days, the knell of sham holiness, of which there had been too much. I re-posted the letter to Tookaram, and asked what he knew about it, as Subba Row had in the previous instance. He answered in a letter, received on the 17th of that month, expressing his real joy over the occurrence, and telling me how other [378] leading men of ours shared his feelings. As H. P. B. was in Europe and Damodar in Tibet, this phenomenon could not be attributed to them by even their most dishonest critics.
Một bức thư gửi cho tôi từ Bombay, của Tookaram Tatya, đã đem đến cho tất cả chúng tôi một sự ngạc nhiên lớn. Ở trang đầu, ông viết với cảm xúc chân thành về việc Damodar biến mất và việc chúng tôi không biết anh ta còn sống hay đã chết. Ở trang thứ hai, để trống, tôi thấy một thông điệp dài của Chân sư KH, hoặc ít ra theo đúng nét chữ quen thuộc của Ngài, cho tôi đầy đủ thông tin để đáp lại lời than thở của Tookaram. Thông điệp nói, Damodar còn sống và an toàn; anh đã cố vượt qua một thử thách kinh khủng của điểm đạo, nhưng đã thất bại do yếu đuối thể chất; tuy nhiên, rốt cuộc anh sẽ thành công. Đã đến lúc tất cả chúng ta phải nhận ra rằng có một định luật nghiệp quả không thể cưỡng, và hành xử tương ứng. Giọng điệu của thông điệp rất đáng khâm phục, và tôi vui mừng trước lời nhắc nhở nghiêm khắc về trách nhiệm cá nhân của chúng ta: nó tựa như điềm báo những ngày tốt lành hơn, tiếng chuông báo tử cho thứ đạo đức giả, vốn đã quá nhiều. Tôi gửi lại bức thư cho Tookaram, hỏi ông biết gì về hiện tượng ấy, như Subba Row đã làm trong trường hợp trước. Ông hồi thư, đến ngày 17 trong tháng, bày tỏ niềm hân hoan chân thực trước biến cố, và cho tôi biết các [378] vị lãnh đạo khác của chúng ta cũng chia sẻ tâm tình ấy. Vì Bà H. P. B. đang ở châu Âu và Damodar ở Tây Tạng, nên ngay cả những nhà phê bình bất lương nhất cũng không thể quy hiện tượng này cho hai người ấy.
The news from Europe was now cheering. At the head of our movement in France we had a gifted and extremely able man, M. Louis Dramard, who, most unfortunately for us, went into a rapid consumption a little later, and died just when a field for unlimited usefulness was opening before him. Had he lived, we should have had, within the next five years, a very large following among the higher class of French Socialists, of whom Bernard Malon and Dramard, pure altruists, were types. Even as it is, we have members in the National Assembly—or had, at all events, three years ago, when I was last in Paris. The fact is, this pollen of Theosophy has been wafted all over the world, and fructified thought-seeds in thousands of brains that the world does not suspect of such affinities. When Tennyson died, a copy of The Voice of the Silence lay by his bedside on the night-table, and more than one royal personage has our books on the shelves of his private library. And why not? Thoughts are things, and great thoughts more potent than the most absolute monarch on earth: before their majesty even he had to bow in reverence. Cry out, then, O warders on the walls of our citadel! for the wind will waft your call to the ears of those whose clairaudient sense is waiting to hear it, and whose hour of Karma has struck.
Tin tức từ châu Âu giờ thật phấn khởi. Đứng đầu phong trào của chúng ta tại Pháp là một người tài hoa và cực kỳ xuất chúng, Ông Louis Dramard, người, thật bất hạnh cho chúng ta, sau đó mắc lao phổi rất nhanh và qua đời đúng lúc một cánh đồng cho khả năng hữu ích vô hạn đang mở ra trước ông. Nếu ông sống, trong năm năm kế tiếp hẳn chúng ta đã có một lực lượng rất đông đảo trong hàng ngũ những nhà Xã hội chủ nghĩa Pháp thuộc tầng lớp trên, mà Bernard Malon và Dramard, với tấm lòng vị tha thuần khiết, là những điển hình. Ngay cả như hiện thời, chúng ta có hội viên trong Quốc hội—hoặc ít ra là có, cách đây ba năm, khi tôi đến Paris lần cuối. Sự thật là, phấn hoa của Thông Thiên Học đã được gió cuốn đi khắp thế giới, và làm nẩy mầm những hạt giống tư tưởng trong hàng nghìn bộ óc mà người đời chẳng ngờ có mối đồng cảm như vậy. Khi Tennyson qua đời, một cuốn Tiếng Nói của Im Lặng nằm trên bàn đầu giường cạnh ông, và hơn một vị vương giả đã có sách của chúng ta trên kệ thư viện riêng. Và vì sao lại không? Tư tưởng là sự vật, và những tư tưởng lớn còn hùng lực hơn vị quân chủ chuyên chế nhất trên mặt đất: ngay trước oai nghi của chúng, chính nhà vua cũng phải cúi mình kính cẩn. Hãy kêu lên, hỡi những người canh giữ trên tường lũy thành của chúng ta! vì ngọn gió sẽ đưa tiếng gọi của các bạn tới tai những ai có năng lực thông nhĩ đang chờ nghe, và giờ nghiệp quả của họ đã điểm.
[379]
[379]
A letter from H. P. B., about the writing of The Secret Doctrine, that I have just come across, is so suggestive that I shall use it in, this place. She says:
Một bức thư của Bà H. P. B., nói về việc biên soạn Giáo Lý Bí Nhiệm, mà tôi vừa tình cờ tìm thấy, gợi mở nhiều điều đến mức tôi muốn trích lại vào đây. Bà viết:
“Sinnett has left, after stopping with me three weeks, and Mrs.... remains for ten days more. She is very kind, and copies for me The Secret Doctrine. The enormous (volume) of Introductory Stanzas, the first chapter on the Archaic Period and Cosmogony, with numberless appendices, is ready; but how to send it to Adyar? Suppose it is lost! I do not remember one word of it, and so we would be cooked! Well, old boy, Z. has read it through twice and begun again for the third time. He has not found one part to be corrected in the English, and he is amazed, he says, at the ‘gigantic erudition and the soundness of reasoning in its showing of the esotericism of the Bible and its incessant parallels with the Vedas, Brahmanas, etc.’ This is a little more wonderful yet than Isis. Then you corrected, and Wilder suggested. Now, I am absolutely alone, with my arm-chair and inkstand before me, and no books to speak of. I wrote a whole section and the interpretation of a whole stanza (about 40 pages), without any books around me, and without stopping, for about four hours, simply listening. This is no humbug, old boy, anyhow.”
“Sinnett đã rời đi, sau khi ở với tôi ba tuần, và Bà... còn lưu lại thêm mười ngày. Bà ấy rất tử tế, và chép lại cho tôi Giáo Lý Bí Nhiệm. Khối (tập) khổng lồ các Tiền kệ dẫn nhập, chương đầu về Thời kỳ Cổ sơ và Vũ trụ luận, với vô số phụ lục, đã sẵn sàng; nhưng làm sao gửi đến Adyar? Giả thử nó bị thất lạc! Tôi không nhớ một chữ nào trong đó, và thế là chúng ta đi đời! Vâng, anh bạn già, Z. đã đọc trọn hai lần và bắt đầu lần thứ ba. Ông ấy không thấy chỗ nào cần sửa tiếng Anh, và ông kinh ngạc, ông nói, trước ‘học vấn khổng lồ và tính hợp lý vững vàng trong việc trình bày tính huyền bí của Kinh Thánh và những đối chiếu không dứt của nó với Veda, Brahmana, v.v.’ Điều này còn kỳ diệu hơn Isis. Khi ấy anh có sửa, và Wilder có gợi ý. Giờ đây, tôi hoàn toàn chỉ có một mình, với chiếc ghế bành và nghiên mực trước mặt, không có sách vở gì đáng kể. Tôi đã viết cả một phần và giải thích trọn một bài kệ (khoảng 40 trang), không có sách chung quanh, và không dừng lại, trong khoảng bốn giờ, chỉ việc lắng nghe. Dù thế nào, đây không phải trò bịp, anh bạn già à.”
Now for a coincidence. As I write, among the exchanges laid on my table is the copy of The Banner of Light for February 25th (1899), in which appears an article entitled, “Was Talmage Inspired?” and apparently from the pen of the editor. It. says:[380] “Many of our readers will remember a poem published some months ago in The Banner, entitled, ‘The Stage of Life,’ by Madge York. This poem was received, laboriously spelled out word by word, on the Ouija board, by a gentleman, who, though not widely known in spiritualistic circles, has been singularly blessed in his own medial powers. A year ago last summer the editor was informed by this gentleman that he had received another most remarkable communication on the Ouija board, of many pages in length, concerning occupations in spirit-life. He and a friend sat several evenings to receive it, one transferring the words to paper, and the other furnishing the power with which the intelligence guided the pointer to the letters. Oftentimes a word was spelled over and over again in order that there might be no mistake. Being uncertain regarding many historical characters referred to, the gentleman sat up nearly the whole of one night verifying by the encyclopaedia names and statements given. In every instance he found them absolutely correct.
Và đây là một sự trùng hợp. Khi tôi đang viết, trong số các tờ báo gửi trao đổi đặt trên bàn tôi có bản The Banner of Light ngày 25 tháng Hai (1899), trong đó có một bài báo nhan đề “Mục sư Talmage có được linh cảm không?” dường như do chính tổng biên tập chấp bút. Bài viết nói: [380] “Nhiều độc giả của chúng tôi hẳn còn nhớ một bài thơ đăng vài tháng trước trên The Banner, nhan đề ‘Sân khấu của Đời sống,’ của Madge York. Bài thơ này được nhận, đánh vần vất vả từng chữ một, trên bảng Ouija, bởi một quý ông, tuy không nổi tiếng lắm trong giới thần linh học, nhưng lại được ban cho những năng lực trung gian đặc sắc của riêng mình. Mùa hè năm ngoái trước nữa, tổng biên tập được chính quý ông này cho hay rằng ông đã nhận được một thông điệp đặc biệt đáng chú ý khác trên bảng Ouija, dài nhiều trang, nói về các sinh kế trong đời sống tinh thần. Ông và một người bạn đã ngồi vài buổi tối để nhận, một người chuyển các chữ lên giấy, người kia cung cấp năng lực để ‘trí thông minh’ dẫn con trỏ đến các mẫu tự. Nhiều khi một từ được đánh vần đi đánh vần lại nhiều lần để khỏi sai sót. Do chưa chắc chắn về nhiều nhân vật lịch sử được nhắc đến, quý ông đã thức gần trọn một đêm đối chiếu tên tuổi và những khẳng định đưa ra bằng bách khoa toàn thư. Trong mọi trường hợp ông đều thấy hoàn toàn chính xác.
“While the communication was received in response to queries and a personal desire for knowledge, he yet felt that the information was given for the benefit of others as well as himself, and fully intended some time to share it with the world. He hesitated to do so because of the assurance that the message was not quite completed. In the meantime he read it to many friends. About a year and a half ago he took it to a typewriter in New York and had it copied. Lawyers, merchants, [381] and prominent business men read the document, or heard it read, and speculated as to its source.
“Dù thông điệp được nhận là đáp lại những câu hỏi và mong muốn riêng được hiểu biết, ông ấy vẫn cảm thấy rằng thông tin đó được ban cho vì lợi ích của người khác cũng như của chính ông, và ông đã dự định sẽ chia sẻ nó với thế giới vào một lúc nào đó. Ông do dự vì có lời khẳng định rằng thông điệp vẫn chưa hoàn tất. Trong thời gian chờ đợi, ông đã đọc cho nhiều bạn bè nghe. Cách đây độ một năm rưỡi, ông mang bản ấy đến một người đánh máy ở New York và cho đánh lại. Luật sư, thương gia, [381] và những nhân vật kinh doanh nổi bật đã đọc tài liệu, hoặc nghe đọc, và bàn cãi về nguồn gốc của nó.
“We now come to the strange part of our narrative. On January 22, 1899, Rev. T. De Witt Talmage delivered from his pulpit in Washington, D.C., a sermon entitled, ‘What Are Our Departed Friends Doing Now?’ taking his text from Ezekiel i: ‘Now it came to pass in the thirtieth year, in the fourth month, as I was among the captives by the river of Chebar, that the heavens were opened.’
“Giờ chúng tôi xin đến phần kỳ lạ của câu chuyện. Ngày 22 tháng Giêng, 1899, Mục sư T. De Witt Talmage giảng tại tòa giảng của ông ở Washington, D.C., một bài thuyết ‘Những người thân đã khuất của chúng ta hiện đang làm gì?’, lấy đoạn văn từ Ê-xê-chi-ên 1: ‘Vả trong năm thứ ba mươi, trong tháng thứ tư, khi ta ở giữa các phu tù tại gần sông Kê-ba, thì các từng trời mở ra.’
“This sermon was reported by the Washington Post, copied by The Progressive Thinker last week, and will appear in the next issue of The Banner of Light. Excepting the introduction, certain other embellishments, and an orthodox coloring given by the brain through which it passed, the sermon is identical with the communication received on the Ouija board two years previously by our friend. Whole paragraphs are the same, without the variation of a word.
“Bài giảng này được Washington Post tường thuật, tuần trước The Progressive Thinker đã đăng lại, và sẽ xuất hiện trong số kế tiếp của The Banner of Light. Ngoại trừ phần dẫn nhập, vài tô điểm khác, và sắc thái chính thống do bộ não chuyển tải, thì bài giảng ấy giống hệt thông điệp nhận trên bảng Ouija hai năm trước đó bởi người bạn của chúng ta. Cả những đoạn dài đều giống nhau, không sai một chữ.
“From whence came the inspiration? The gentleman tells us he did not request the name of the intelligence who gave him such rich spiritual food. He does not care to have his name published at present, but he will communicate by letter with any who wish to verify the above, and will furnish them with the names and addresses of the typewriter and others who will cheerfully testify.”
“Linh cảm đến từ đâu? Vị quý ông nói với chúng tôi rằng ông đã không hỏi tên của ‘trí thông minh’ trao cho ông ‘thực phẩm tinh thần’ phong phú như thế. Ông không muốn nêu tên mình lúc này, nhưng sẽ sẵn lòng thư từ với bất kỳ ai muốn kiểm chứng điều kể trên, và sẽ cung cấp tên và địa chỉ của người đánh máy và những người khác sẵn lòng làm chứng.”
Every experienced occultist who reads this must see the bearing the case has upon the whole question of H. P. B.’s alleged plagiarisms. In the most merciless [382] and savage manner her books have been dissected by her evil-wishers, and on the strength of their containing a large number of citations from other authors without giving credit, she has been charged with wilful and dishonorable plagiarism. Some of these traducers have, themselves, been Spiritualists of many years’ experience with mediums and their phenomena, who ought, therefore, to have known that we have not yet learnt the secret of thought-currents on the several planes of mentality. Not one of them is able to explain the simultaneous or almost simultaneous discovery of scientific truths by students far removed from each other and not in mutual communication, or the putting of the same ideas into books issued at about the same time in different parts of the world. [40] Presumably, not one of H. P. B.’s cruel critics would venture to say that Mr. Talmage had plagiarised his sermon from an unpublished mediumistic message two years after it [383]was received by the medium, read by his friends, and, so far as appears, never brought to Mr. Talmage’s notice. If, therefore, he is to be given the benefit of the doubt, why should less kindness be used in the case of H. P. B.? One can see, from the instance under notice, that H. P. B. may not have been guilty of a single conscious plagiarism in the writing of either of her greater books, but that she may have spiritually drawn them direct, or received them at second hand spiritually, from that great storehouse of human thought and mental products, the Astral Light, where, as drops are merged in the ocean, personal begetters of thought are lost in the totality of the Infinite Mind, save to those most advanced Intelligences who can count the sand-grains and the ocean-drops and pick out the atoms in their respective vortices. In her letter to me H. P. B. cites the fact of Mr. Z. having sat with her for hours while she was transcribing what was spoken to her clairaudient sense by a Master, invisible to him but seen by herself. The reader will find in the second volume of this Series (p. 466) my description of her method of writing from the dictation of an invisible Teacher as I myself saw it at Ootacamund. This very same thing I saw unnumbered times while she was writing Isis Unveiled: I have described it exactly as it occurred, [41] and quoted her own description of the process in a letter to her sister; it agrees perfectly with what she writes me as having occurred at Ostende. Shall we call this phenomenon plagiarism, then, or [384] shall we not modestly confess our ignorance of that most awe-inspiring fact of the transmission of thought-vibrations from man to man physical, man to man spiritual, and man spiritual to man physical; its laws, its limitations, and its potentialities?
Mọi nhà huyền bí học dày dạn kinh nghiệm đọc điều này hẳn sẽ thấy ý nghĩa của trường hợp ấy đối với toàn bộ vấn đề về những cáo buộc đạo văn đối với Bà H. P. B. Các sách của Bà đã bị mổ xẻ một cách [382] tàn nhẫn và cay độc nhất bởi những kẻ ác ý, và dựa vào việc chúng chứa đựng nhiều trích dẫn từ các tác giả khác mà không ghi nguồn, Bà bị buộc tội đạo văn cố ý và bất lương. Một số kẻ vu khống đó, bản thân họ là những Nhà thần linh học đã có nhiều năm kinh nghiệm với các đồng tử và hiện tượng của họ, lẽ ra do vậy phải biết rằng chúng ta vẫn chưa học được bí quyết của các dòng tư tưởng trên những bình diện trí năng khác nhau. Không ai trong số họ giải thích được sự trùng hợp—cùng thời hoặc gần như cùng thời—về việc khám phá ra những chân lý khoa học bởi các học giả ở cách xa nhau và không hề liên lạc, hoặc việc cùng đưa những ý tưởng giống nhau vào các cuốn sách xuất bản gần như cùng lúc ở những miền khác nhau trên thế giới. Có lẽ không một ai trong số những nhà phê bình độc ác của Bà H. P. B. sẽ dám nói rằng Ông Talmage đã đạo văn bài giảng của mình từ một thông điệp trung gian chưa hề xuất bản hai năm sau khi nó [383]was được nhận bởi nhà trung gian, được bạn bè ông đọc, và, theo như bề ngoài, chưa bao giờ đến được sự chú ý của Ông Talmage. Nếu như vậy, ông ta được hưởng lợi ích của sự hoài nghi, thì vì sao lại dành ít thiện ý hơn trong trường hợp của Bà H. P. B.? Có thể thấy, từ trường hợp này, rằng Bà H. P. B. có thể đã không hề phạm một hành vi đạo văn có ý thức nào trong việc soạn thảo hai tác phẩm lớn của Bà, mà có thể Bà đã thu nhận chúng một cách tinh thần trực tiếp, hoặc tiếp nhận gián tiếp bằng con đường tinh thần, từ kho tàng vĩ đại chứa đựng tư tưởng nhân loại và các sản phẩm trí năng—Ánh sáng Cảm dục—nơi đó, như các giọt nước hòa vào đại dương, kẻ sinh thành ra tư tưởng bị tan biến trong toàn thể của Trí Vô Tận, trừ đối với những Trí tuệ Tiến hóa cao nhất, những vị có thể đếm hạt cát và giọt biển, và nhận ra các nguyên tử trong những xoáy lốc riêng của chúng. Trong bức thư gửi tôi, Bà H. P. B. viện dẫn thực tế là Ông Z. đã ngồi với Bà hàng giờ trong khi Bà chép lại những gì được xướng đến năng lực thông nhĩ của Bà bởi một Vị Thầy, vô hình đối với ông nhưng hiện thân trước mắt Bà. Độc giả sẽ thấy trong tập hai của Bộ sách này (tr. 466) mô tả của tôi về phương pháp viết từ sự đọc chính tả của một Vị Thầy vô hình như chính mắt tôi đã thấy tại Ootacamund. Tôi cũng đã thấy y như thế vô số lần khi Bà viết Isis Unveiled: tôi đã mô tả chính xác như nó diễn ra, và trích lại lời Bà mô tả tiến trình ấy trong một bức thư gửi cho em gái; nó hoàn toàn khớp với những gì Bà viết cho tôi về việc đã xảy ra tại Ostende. Vậy chúng ta nên gọi hiện tượng này là đạo văn, hay [384] nên khiêm tốn thú nhận sự bất tri của mình về sự kiện khiến người ta phải kinh sợ: sự truyền dẫn các rung động tư tưởng—giữa người thể xác với người thể xác, giữa người thể xác với người tinh thần, và từ người tinh thần tới người thể xác; các định luật của nó, những giới hạn của nó, và các tiềm năng của nó?
CHAPTER XXVI—CHƯƠNG XXVI
FOUNDING THE ADYAR LIBRARY—THÀNH LẬP THƯ VIỆN ADYAR
IT had been originally intended to erect a separate kiosk to contain the pictures of the two Mahatma patrons painted by Schmiechen, but as the building of the Library and Convention Hall proceeded, it became evident that it would be better in every way to house them in a special annex to the Library, which was done. The superbly carved screen which H. P. B. had had made to go in her own big room, was of just the right size to serve as a partition in the arch between the Library and Picture Room, and was finished in due course and set up in its place. The black and white marble flooring-tiles which were in the verandhas when we bought the property, were now taken up and utilised for paving the Library and its approach, while new tiles were presented by Mr. C. Ramiah, of Madras, for the floor of the Picture Annex. Building operations were being pushed as energetically as possible, under the professional superintendence of the good Mr. C. Sambiah; our aim being to have everything finished in time for the next Convention. The want of money hampered us greatly, but somehow it all came out right in the long run, as it always does.
Vốn định ban đầu sẽ dựng một ki-ốt riêng để trưng bày các bức chân dung hai vị Chân sư bảo trợ do Schmiechen vẽ, nhưng khi công trình xây dựng Thư viện và Đại sảnh Đại hội tiến triển, hiển nhiên là sẽ tốt hơn về mọi mặt nếu đặt chúng trong một khu phụ đặc biệt nối liền với Thư viện, và thế là đã làm như vậy. Tấm bình phong chạm khắc tuyệt đẹp mà Bà H. P. B. đã cho làm để đặt trong phòng lớn của chính Bà vừa đúng cỡ để làm vách ngăn trong vòm giữa Thư viện và Phòng Tranh, và đã được hoàn thành đúng kỳ rồi dựng vào vị trí. Các viên gạch lát nền cẩm thạch đen trắng ở hàng hiên khi chúng tôi mua bất động sản, nay được bóc lên và dùng để lát Thư viện và lối vào; trong khi gạch mới do Ông C. Ramiah ở Madras tặng để lát nền Khu phụ dành cho Tranh. Hoạt động xây dựng được thúc đẩy mạnh mẽ hết mức có thể, dưới sự giám sát chuyên môn của Ông C. Sambiah tốt bụng; mục tiêu của chúng tôi là hoàn tất mọi thứ kịp cho Đại hội kỳ tới. Thiếu tiền đã gây trở ngại lớn, nhưng rồi bằng cách nào đó, về lâu dài mọi việc đều xuôi xẻ như thường lệ.
[386]
[386]
On 17th May I left for the lovely hill station of Bangalore, at the invitation of a number of influential men, to come and lecture and form a Branch of the Society. A century ago the Battle of Seringapatam crushed the power of Tippoo Sultan, the warlike ruler of Mysore, and under the protection of the British brought the old Hindu dynasty to the throne. Since then the affairs of this State have been so well administered that it has been made one of the most prosperous and progressive in the Empire. Its advancement, within the past fifteen years especially, under the management of Sir K. Seshadri Iyer, thc Dewan (Prime Minister), has been astounding; its wealth increasing by leaps and bounds, its taxation lightened, its mineral resources opened up, and its education policy for both sexes made a model to copy after. When it is stated that the Dewan has been an avowed member of our Society since the time of the visit I am now mentioning, it will be seen that we have reason for a just pride in seeing how the welfare of people is promoted under the rule of a statesman who practises Theosophical principles. [42]
Ngày 17 tháng Năm, tôi rời đi đến trạm nghỉ dưỡng cao nguyên tuyệt đẹp Bangalore, theo lời mời của một số nhân vật có ảnh hưởng, để đến diễn thuyết và thành lập một Chi bộ của Hội. Một thế kỷ trước, Trận Seringapatam đã đè bẹp quyền lực của Tipu Sultan, vị quân chủ hiếu chiến của Mysore, và dưới sự bảo hộ của người Anh, đưa dòng dõi Hindu cổ xưa trở lại ngai vàng. Kể từ đó, công việc nước nhà của Tiểu bang này được trị lý tốt đến mức nó đã trở thành một trong những nơi phồn vinh và tiến bộ nhất trong Đế quốc. Sự phát triển của nó, đặc biệt trong mười lăm năm vừa qua, dưới sự điều hành của Sir K. Seshadri Iyer, vị Dewan (Thủ tướng), thật đáng kinh ngạc; của cải tăng vọt, thuế khóa giảm nhẹ, tài nguyên khoáng sản được khai mở, và chính sách giáo dục cho cả hai giới trở thành mẫu mực để noi theo. Khi nói rằng vị Dewan từ thời kỳ chuyến thăm mà tôi đang kể đây đã công khai gia nhập Hội của chúng ta, thì sẽ thấy rằng chúng ta có lý do chính đáng để tự hào khi thấy phúc lợi của dân chúng được thăng tiến dưới sự trị quốc của một vị quốc vụ có thực hành các nguyên tắc Thông Thiên Học.
I was received on arrival at Bangalore by a large number of people, who escorted me to a fine house in the Cantonment, where the customary address was read and then handed to me in a carved sandalwood box, having inside the cover a silver plate appropriately inscribed.
Khi đến Bangalore, tôi được một đoàn người đông đảo đón tiếp, đưa tôi về một ngôi nhà đẹp trong Khu Doanh trại, nơi bài diễn văn chào mừng theo lệ được đọc và trao cho tôi trong một hộp gỗ đàn hương chạm khắc, bên trong nắp có gắn một tấm bạc khắc chữ thích hợp.
Drives through the wide tree-bordered avenues to points of interest, visits to important personages, receipts [387] of their return visits, private and public discussions on philosophy, metaphysics, and science, filled in the time between my hours of reception and made the visit a charming one throughout. On the day after my arrival I had a two-hours’ talk with the Dewan upon Yoga, Advaita, and Theosophy, and found him one of the most enlightened and attractive men I had ever met. He consented to take the chair at my first lecture on the 20th. It was given at the Central College, in a great pillared hall with galleries, which was packed to overflowing. A crowd equally as large stood outside the building. The subject given me was “Theosophy and the T. S.,” and certainly I never faced a more enthusiastic assemblage. The Dewan’s remarks went right to the point, and were both lucid and benevolent. One result of the meeting was to send me a stream of visitors the next day and to cause thirteen persons to enter the Society. Nine more offered themselves the next day, and on the third day there were twenty-eight names on the roll. My second lecture was on “Brahma Vidya,” and the audience was a large one, although, to prevent such an uncomfortable crowding as before, the Committee sold tickets of admission. The next evening there was a lecture on “Mesmerism,” with experimental demonstrations for the instruction of the new members only; and earlier in the day one to school-boys, of whom hundreds were present.
Những chuyến xe dọc theo các đại lộ rợp bóng cây đến các nơi đáng chú ý, thăm viếng các nhân vật quan trọng, [387] nhận lại các cuộc thăm hỏi, những cuộc đàm đạo riêng và công khai về triết học, siêu hình, và khoa học, lấp đầy thời gian giữa các giờ tiếp khách của tôi và khiến chuyến thăm trở nên thú vị trọn vẹn. Ngày hôm sau khi đến nơi, tôi có một cuộc trò chuyện kéo dài hai giờ với vị Dewan về Yoga, Advaita, và Thông Thiên Học, và thấy ông là một trong những người sáng suốt và hấp dẫn nhất mà tôi từng gặp. Ông vui lòng chủ tọa buổi diễn thuyết đầu tiên của tôi vào ngày 20. Buổi ấy diễn ra tại Trường Cao đẳng Trung ương, trong một đại sảnh có hàng cột lớn và có tầng lửng, chật cứng người. Một đám đông đông không kém đứng bên ngoài tòa nhà. Đề tài được giao là “Thông Thiên Học và T. S.”, và quả thật tôi chưa từng đối mặt với một cử tọa nào nhiệt thành hơn. Lời phát biểu của vị Dewan đi thẳng vào trọng tâm, vừa sáng rõ vừa nhân ái. Một kết quả của buổi họp là hôm sau có một dòng người đến thăm tôi và mười ba người gia nhập Hội. Chín người nữa nạp đơn hôm sau nữa, và đến ngày thứ ba đã có hai mươi tám tên trên sổ. Buổi diễn thuyết thứ hai của tôi là về “Brahma Vidya”, và khán phòng vẫn đông, dù để tránh cảnh chen chúc khó chịu như trước, Ban Tổ chức đã bán vé vào cửa. Tối tiếp theo có một buổi thuyết trình về “Thôi miên”, kèm các màn biểu diễn minh họa dành riêng cho hội viên mới; và sớm hơn trong ngày có một buổi nói chuyện cho các nam sinh, với hàng trăm em dự.
Bangalore City spreads over a large area, and is divided into two parts—the Cantonment, where Europeans and the highest officials live; and the City [388] proper, the more ancient quarter. My third lecture was given there, upon the distinctly Hindu subject of “Vayuloka and Its Inhabitants,” the term being almost the equivalent of the Purgatory of the Roman Catholics. The popular beliefs in India about this post-sepulchral state of existence are very interesting and, on the whole, identical. The student of this branch of folklore and occultism will profit much by reading D’Assier’s excellent work on the state of man after death. [43] At the time of my Bangalore visit I was engaged in compiling information about Vayuloka, and some of the matter in my lecture had been obtained from two Mysorean gentlemen of the place. The natural term of the soul’s sojourn in this purgatorial region, this half-way house between earth and Swarga, people greatly differ about: in Mysore they fix it at from ten to sixteen days, and the ceremony of Shraddha takes place only after that. Soldiers killed in battle pass on at once to Swarga—a belief singularly like that of the Scandinavians and other ancient nations of Europe; but their rulers have to pay a heavy karmic penalty if their cause was not just. Suicide and the victims of accident have to linger in Vayuloka as many years as they would have lingered on earth had they lived out their natural life-times. The Mysoreans say that after the Vayuloka, the transitive state, come Naraka and Swarga—hell and heaven—and the soul cut adrift from its earth-anchorage, so to express it, is drawn to the one [389] or the other state according to the preponderating attractions which it has created in itself. After it has exhausted all the effects of the Karma of its last preceding incarnation it comes again into earth-life, obedient to its unexhausted trishna; and so the wheel of birth and death keeps on revolving, ever revolving, until the extinction of desire gives release. I am giving here an outline of the popular belief in this hilly state and, to a great extent, a,mong primitive people, as it was told me during the delightful visit I am now describing.
Thành phố Bangalore trải dài trên một vùng rộng lớn, và chia làm hai phần—Khu Doanh trại, nơi người châu Âu và các quan chức cao cấp cư trú; và Khu [388] nội thành, khu cổ hơn. Buổi diễn thuyết thứ ba của tôi diễn ra ở đó, với đề tài thuần Hindu là “Vayuloka và Cư dân của nó”, thuật ngữ này hầu như tương đương với Luyện ngục của người Công giáo La Mã. Những tín niệm phổ biến ở Ấn về trạng thái tồn tại sau khi chôn cất này rất đáng chú ý và, nói chung, tương đồng. Sinh viên nghiên cứu ngành văn hóa dân gian và huyền bí của nhánh này sẽ thu được nhiều lợi ích nếu đọc tác phẩm xuất sắc của D’Assier về tình trạng con người sau khi chết. Vào thời điểm tôi đến Bangalore, tôi đang biên soạn tư liệu về Vayuloka, và một phần nội dung bài diễn thuyết của tôi được lấy từ hai quý ông người Mysore ở địa phương. Thời hạn tự nhiên của sự lưu trú của linh hồn trong miền luyện tội này, nơi dừng chân giữa đường giữa trần thế và Swarga, người ta nói rất khác nhau: ở Mysore họ định từ mười đến mười sáu ngày, và nghi lễ Shraddha chỉ cử hành sau đó. Quân nhân tử trận lập tức thăng sang Swarga—một tín niệm kỳ lạ nhưng tương đồng với tín niệm của người Scandinavia và nhiều dân tộc cổ châu Âu; nhưng các nhà cai trị của họ phải chịu một hình phạt nghiệp quả nặng nề nếu cuộc chiến không chính nghĩa. Người tự sát và nạn nhân tai nạn phải nấn ná trong Vayuloka số năm đúng bằng số năm lẽ ra họ còn sống ở trần gian nếu sống hết tuổi thọ tự nhiên. Người Mysore nói rằng sau Vayuloka, trạng thái chuyển tiếp, là đến Naraka và Swarga—địa ngục và thiên đàng—và linh hồn khi cắt neo khỏi trần gian, nói vậy, được lôi cuốn tới một [389] trong hai trạng thái ấy tùy theo những hấp lực trội hơn mà chính nó đã tạo nên trong mình. Sau khi tiêu trọn hiệu ứng của Nghiệp quả của kiếp trước liền kề, nó lại trở vào đời sống trần gian, tùy theo trishna chưa cạn kiệt; và thế là bánh xe sinh tử xoay mãi, xoay mãi, cho đến khi diệt tận dục vọng thì mới được giải thoát. Tôi đang phác thảo ở đây tín niệm phổ biến tại tiểu bang miền đồi này và, ở mức độ lớn, giữa các nhóm người sơ khai, như đã được kể với tôi trong chuyến thăm thú vị tôi đang thuật lại.
At the house of Sir K. Seshadri Iyer, the Dewan, I was having a most interesting talk about Vedanta with him and his Guru, a venerable and learned Brahman pandit, when the harmonious spiritual atmosphere that we were engendering about us was suddenly thrown into turbulence and confusion by an inrush of the aura of political cunning and selfishness in the person of the late Sir T. Madhava Row, K.C.S.I., ex-Dewan of Baroda. The whole life of this gifted statesman had been devoted to worldly affairs, and what he liked best was to realise the schemes for increase of wealth, industrial progress, and mental shrewdness, which his fertile brain planned, and which he did his best to put into operation within the several States of which he had been Prime Minister, viz., Travancore, Indore, Baroda. His model was the British administrative policy, and his success had always been remarkable: at London, as at Simla, Bombay and Madras, he was persona grata. A man [390] like this would not be expected to care for the philosophical and metaphysical excursions along the higher levels of Indian thought, and so, when he joined our little party in the Dewan’s drawing-room, Advaita flew out of the window when Mr. World-wisdom came by the door. To say that we were satisfied would not be true, we were quite the contrary, but there was nothing for us but to let him lead the conversation along his own “practical” level. Now, whether because of my boldness in uttering heterodox and unworldly opinions, or because my experience in the management of public affairs at home had taught me how to meet such minds as his, I can’t say, but the fact is that I had no better friend in India in a certain way than Sir T. Madhava Row, wide apart as we were on religious points. Shortly before his death he organised a public subscription to get my bust modelled by Mr. Havell, Director of the Madras School of Arts—a pretty good sign of his friendly regard. But on the occasion under notice he—as my Diary records—disputed with me in favor of giving Hindus what he called “a belly education,” and drawing them away from their ancestral philosophies which, he contended, had only reduced them to political national subjection. Poor man! he died rich but scarcely happy, I fear, for he once offered Mme. Blavatsky to give the Society Rs. 100,000 and devote the rest of his life to its work if she would “show him some miracles going to prove the existence and survival of the soul”. How many, alas! are ready to barter wealth for spiritual knowledge, [391] if it can be conveyed to them without interfering with their business engagements.
Tại tư dinh của Sir K. Seshadri Iyer, vị Dewan, tôi đang có một cuộc đàm đạo hết sức thú vị về Vedanta với ông và vị Guru của ông—một vị Bà-la-môn học giả đáng kính và uyên bác—thì bầu khí tinh thần hài hòa mà chúng tôi đang tạo ra chung quanh bỗng chốc bị xáo trộn và rối loạn bởi một luồng tràn vào của khí vị mánh khóe chính trị và vị kỷ, nơi con người của Sir T. Madhava Row quá cố, K.C.S.I., cựu Dewan của Baroda. Cả cuộc đời của vị quốc vụ tài hoa này dành trọn cho chuyện thế sự, và điều ông thích nhất là hiện thực hóa những kế hoạch nhằm gia tăng của cải, thúc đẩy công nghệ, và mài sắc trí xảo mà bộ óc phong phú của ông đã vạch ra, và ông cố hết sức để đưa vào vận hành trong các Tiểu bang nơi ông làm Thủ tướng, tức Travancore, Indore, Baroda. Mẫu mực của ông là chính sách trị quốc của người Anh, và ông luôn gặt hái thành công nổi bật: tại Luân Đôn, cũng như tại Simla, Bombay và Madras, ông đều được trọng vọng. Một người [390] như thế không thể trông mong là sẽ mặn mà với các cuộc du hành triết học và siêu hình nơi những bình nguyên cao của tư tưởng Ấn Độ; và vì vậy, khi ông gia nhập nhóm nhỏ của chúng tôi trong phòng khách của vị Dewan, thì Advaita bay qua cửa sổ ngay khi Ông Thực tế-đời đã bước qua cửa. Nói rằng chúng tôi hài lòng thì không đúng, trái lại là đằng khác, nhưng chúng tôi không còn lựa chọn nào ngoài việc để ông dẫn dắt câu chuyện đi theo “bình diện” thực dụng của ông. Giờ thì, có thể vì sự bạo dạn của tôi khi nói ra những quan điểm dị thuyết và phi thế tục, hoặc vì kinh nghiệm điều hành công việc công ở quê nhà đã dạy tôi cách đối đáp với những đầu óc như ông, tôi không biết, nhưng sự thật là tôi không có người bạn nào ở Ấn tốt hơn Sir T. Madhava Row theo một nghĩa nào đó, dù đôi bờ cách biệt về mặt tôn giáo. Trước khi mất không lâu, ông đã đứng ra tổ chức một cuộc quyên góp công để tạo điều kiện cho Ông Havell, Giám đốc Trường Mỹ thuật Madras, nặn tượng bán thân của tôi—ấy là dấu hiệu khá rõ ràng về thiện cảm của ông. Nhưng trong dịp đang nói tới, như Nhật ký của tôi ghi lại, ông đã tranh luận với tôi và cổ xúy cho việc ban cho người Hindu cái ông gọi là “một nền giáo dục no bụng”, và kéo họ xa khỏi các triết lý tổ tiên của mình, vốn, ông cho là, chỉ khiến họ lâm vào cảnh nô lệ chính trị. Tội nghiệp thay! ông chết giàu có nhưng tôi e là không mấy hạnh phúc, vì ông từng đề nghị với Bà Blavatsky rằng ông sẽ tặng Hội 100.000 rupee và dành phần đời còn lại cho công việc của Hội nếu Bà chịu “cho ông thấy vài phép lạ chứng minh sự hiện hữu và tồn tại của linh hồn”. Than ôi, biết bao người sẵn lòng đánh đổi tiền của lấy tri thức tinh thần, [391] miễn là nó được trao cho họ mà không cản trở những bận rộn thương trường.
Lectures, nightly, to an ever-increasing group of new members, at my lodgings and publicly on general subjects, together with visits and drives, took up all my time. I was interested much in a lecture, given by special request, of the “Queen’s Own Sappers and Miners,” in the schoolroom of their battalion, this being my first experience of an address to an exclusively military audience. I was most kindly received and treated by the Committee throughout, and, of course, garlanded on leaving.
Những buổi diễn thuyết, đêm nào cũng vậy, trước một nhóm hội viên mới ngày càng đông, tại nơi tôi tạm trú và công khai về các đề tài đại cương, cùng với các cuộc thăm viếng và dạo xe, đã ngốn trọn thời giờ của tôi. Tôi đặc biệt thích thú một buổi diễn thuyết, theo lời mời đặc biệt, dành cho “Queen’s Own Sappers and Miners,” tại phòng học của tiểu đoàn họ, đây là lần đầu tiên tôi trải nghiệm một bài nói chuyện trước thính giả hoàn toàn là quân nhân. Tôi được Ban Tổ chức tiếp đón và đối đãi hết sức tử tế, và dĩ nhiên, được choàng hoa khi ra về.
The Dewan of Mysore joined our Society on 1st August, as many of his principal colleagues had previously done, and I was able to form two large Branches in the city and the cantonment before returning to Madras, after farewell addresses from Committees of both, on my departure—at 7 p.m. on 1st August. This visit was one of the pleasantest I ever made, and after the laspse of thirteen years I am happy to say the friendships then formed are still alive.
Vị Dewan của Mysore gia nhập Hội của chúng ta vào ngày 1 tháng Tám, cũng như trước đó nhiều cộng sự chính yếu của ông, và tôi đã có thể thành lập hai Chi bộ lớn trong nội thành và khu doanh trại trước khi trở lại Madras, sau khi nhận những bài diễn văn tiễn biệt từ Ban Tổ chức của cả hai bên, lúc tôi khởi hành—7 giờ tối ngày 1 tháng Tám. Chuyến thăm này là một trong những chuyến vui vẻ nhất tôi từng có, và sau mười ba năm, tôi hân hoan nói rằng các tình bằng hữu khi ấy nay vẫn còn bền chặt.
I got to Adyar on my birthday (August 2), and spent its hours, as usual, at my desk until far into the night.
Tôi về đến Adyar đúng ngày sinh nhật của mình (2 tháng Tám), và dành cả ngày, như lệ thường, bên bàn làm việc đến tận khuya.
When H. P. B. left us for Europe, she particularly requested me to shift over my own quarters in the Riverside bungalow to her new room which Coulomb had built for her in 1884, while we were abroad and he and his cara sposa were still in charge of the housekeeping. I did so, but when the rainy season came there was not a spot in the chamber where I could [392] keep my bed dry, the terraced roof leaking like a sieve. So I had to tear down and rebuild, and while I was about it, I extended the northern end and opened windows at the east and west sides, so as to give H. P. B. a chance for currents of air and pretty views of the river when she should come back to her beloved Indian home. Poor thing! she never had the chance to enjoy it again, and so I am sleeping in the room where she lay twice dying in 1885, with some of her own furniture, pictures, and knick-knacks about me as perpetual reminders of her dear old self. As usual, she mixed up the Society’s practical business when she put her finger into the pie. The Overland mail of August 12th brought me the consoling news that (of course without the shadow of constitutional authority) she had cabled our people in New York to dissolve the American Board of Control—to pacify Coues, I presume—and she also offered to turn over her share of the Theosophist to Judge and make him her successor (one of two or three dozens). What a pity that one cannot collect into one letter-file the many similar offers she made to men and women from first to last! To offer anyone the successorship was as liberal and practical as to offer him a farm in the moon, for she never could have a real successor, for the excellent reason that nobody was ever likely to be born just like her and so fill her place. At the same time the case of Mrs. Besant has proved that it is possible for another to create as commanding a place as hers was, and to do as much as she to spread Theosophy throughout [393] the world. Still, “there is one glory of the Sun and another glory of the Moon, and another glory of the stars,” and so, while there can be no more than one H. P. B. Sun nor one Annie Besant Moon, there are places in our sky for hosts of stars, which certainly differ from each other in glory. If Judge had only realised that!
Khi Bà H. P. B. rời chúng tôi qua châu Âu, Bà đặc biệt dặn tôi dời chỗ ở của mình ở căn nhà bờ sông sang phòng mới của Bà mà Coulomb đã xây cho Bà năm 1884, khi chúng tôi ở nước ngoài và ông ta cùng cara sposa của mình còn đảm trách việc nội trợ. Tôi đã làm vậy, nhưng khi mùa mưa đến thì không có chỗ nào trong phòng mà tôi có thể [392] giữ giường nằm khô ráo, mái bằng dột như cái rây. Thế là tôi phải phá đi và xây lại, và sẵn tiện, tôi kéo dài đầu bắc và mở cửa sổ ở hướng đông và tây, để cho Bà H. P. B. có cơ hội đón gió và ngắm cảnh đẹp dòng sông khi Bà trở lại mái nhà Ấn Độ thân yêu. Tội nghiệp! Bà không bao giờ có dịp tận hưởng nơi ấy nữa, và thế là tôi đang ngủ trong căn phòng nơi Bà hai lần nằm hấp hối vào năm 1885, với vài món đồ đạc, tranh ảnh, và vật kỷ niệm của chính Bà quanh tôi như những gợi nhớ thường trực về bóng hình thân mến của Bà. Như thường lệ, Bà đã làm rối việc hành chính của Hội khi đặt ngón tay vào chiếc bánh. Bưu điện đường bộ ngày 12 tháng Tám mang đến cho tôi tin tức “an ủi” rằng (dĩ nhiên là không hề có bóng dáng thẩm quyền theo Hiến chương) Bà đã đánh điện cho mọi người chúng ta ở New York giải tán Hội đồng Kiểm soát Hoa Kỳ—tôi đoán để xoa dịu Coues—và Bà cũng đề nghị chuyển phần sở hữu của mình trong tờ The Theosophist cho Judge và đặt ông làm người kế vị Bà (một trong hai ba chục người). Tiếc thay, người ta không thể gom vào một tập hồ sơ tất cả những đề nghị tương tự mà từ đầu đến cuối Bà đã đưa ra cho nam phụ lão ấu! Đề nghị trao cho ai đó địa vị kế vị cũng “hào phóng và thực tế” chẳng khác gì đề nghị tặng ông ta một nông trại trên mặt trăng, vì Bà không bao giờ có thể có một người kế vị thực sự, đơn giản vì khó ai sinh ra giống hệt Bà đến mức có thể thay thế vị trí của Bà. Đồng thời, trường hợp của Bà Besant đã chứng minh rằng có thể có người khác tạo dựng một vị thế lẫy lừng chẳng kém Bà, và làm được chừng ấy để truyền bá Thông Thiên Học [393] khắp thế giới. Tuy nhiên, “vì có vinh quang của Mặt Trời và vinh quang của Mặt Trăng, và vinh quang của các ngôi sao,” nên trong khi không thể có hơn một Mặt Trời H. P. B. và một Mặt Trăng Annie Besant, thì bầu trời của chúng ta còn chỗ cho muôn tinh tú, mà hẳn nhiên mỗi ngôi sao khác nhau về vinh quang. Giá như Judge hiểu được điều đó!
Work tumbled in upon me on my return, as Oakley went away for a change and recuperation, and I had to take over the whole editorial work.
Công việc dồn dập ập đến khi tôi trở về, vì Oakley đi nghỉ để đổi khí hậu và phục hồi, còn tôi phải đảm đương toàn bộ công việc biên tập.
Among the clever Hindus whose languid patriotism had been stirred up by contact with us was the late R. Sivasankara Pandiyaji, an assistant teacher in Pachiappah’s College. He was an eloquent and intense man, with a clarion voice and the capacity for great enthusiasm, so that, when he turned his nervous force into the channel of work, he moved with power. He founded the Hindu Theological High School at Madras, and gathered into it hundreds of boys. His leisure was employed in compiling readers, tracts, and leaflets, full of high moral teachings culled from the Hindu Scriptures, and he trained a number of children of both sexes to recite Sanskrit slokas in a charming manner. His lectures and their recitations at several of our annual gatherings are remembered with pleasure. His first exhibition of the children to me was made at the time above specified.
Trong số những người Hindu thông minh có lòng ái quốc uể oải được khơi lên khi tiếp xúc với chúng tôi có cố nhân R. Sivasankara Pandiyaji, một trợ giáo ở Trường Cao đẳng Pachiappah. Ông là người hùng biện và mãnh liệt, với giọng vang như kèn và khả năng hứng khởi cực độ, nên khi đổ lực thần kinh của mình vào kênh công việc, ông chuyển động với uy lực. Ông sáng lập Trường Trung học Thần học Hindu tại Madras, và tập hợp vào đó hàng trăm thiếu niên. Thì giờ rỗi ông dùng để biên soạn sách đọc, truyền đơn, và tờ rơi, đầy những lời giáo huấn đạo đức cao đẹp trích từ Kinh điển Hindu, và ông rèn luyện nhiều thiếu nhi của cả hai giới ngâm tụng các sloka tiếng Sanskrit một cách duyên dáng. Các bài giảng của ông và phần ngâm tụng của các em trong vài kỳ Đại hội thường niên của chúng ta vẫn còn được nhớ đến với niềm vui. Lần đầu ông cho tôi xem các em biểu diễn là đúng vào thời điểm nói trên.
The growth of the library making it expedient that the Oriental and Western books should be kept separate, I fitted up H. P. B.’s first bedroom at Adyar—the large one upstairs where many recorded phenomena [394] occurred—as the Western Section, and we moved the books into it in September, put in a huge table, and utilised the place for Council meetings as well. As fate would have it, the room could only be got ready by the 7th of the month, despite my desperate attempts to hurry on the carpenters; so, when I was struck by the coincidence, I myself carried in Isis Unveiled as the first book and put it on its shelf. H. P. B., as the readers of Mr. Sinnett’s Incidents may recollect, being born in the seventh month of the year, went by the name of Sedmitchka, she who is connected with the number Seven. Moreover, she was married on 7th July (1848), reached America on 7th July (1873), and died in the seventh month of the seventeenth year of our Theosophical collaboration; and when it is seen that the number seven has played and is playing a similar important part in the history of my own life, we find ourselves in a pretty tangle of fateful numerical relationships.
Sự phát triển của thư viện khiến cho việc tách riêng sách Đông phương và Tây phương trở nên cần thiết, tôi bèn bố trí phòng ngủ đầu tiên của Bà H. P. B. tại Adyar—căn phòng lớn ở lầu trên nơi đã diễn ra nhiều hiện tượng được ghi lại—làm Khu Tây phương, và tháng Chín chúng tôi chuyển sách vào đó, đặt một chiếc bàn lớn, và dùng nơi ấy làm nơi nhóm họp Hội đồng nữa. Trớ trêu thay, căn phòng chỉ có thể [394] hoàn tất vào ngày mùng 7 trong tháng, mặc cho tôi thúc hối thợ mộc ráo riết; thế nên, khi chợt thấy sự trùng hợp, chính tay tôi mang Isis Unveiled vào như cuốn sách đầu tiên và đặt lên kệ. Bà H. P. B., như độc giả của cuốn Incidents của Ông Sinnett hẳn còn nhớ, do sinh vào tháng bảy, nên được gọi bằng tên Sedmitchka, người gắn với con số Bảy. Hơn nữa, Bà kết hôn ngày 7 tháng Bảy (1848), đến Mỹ ngày 7 tháng Bảy (1873), và qua đời vào tháng bảy của năm thứ mười bảy trong sự cộng tác Thông Thiên Học giữa chúng tôi; và khi thấy rằng con số bảy đã đóng và đang đóng một vai trò quan trọng tương tự trong lịch sử đời tôi, thì chúng ta thấy mình rơi vào một mạng lưới khá rối rắm của những mối tương quan định mệnh bằng con số.
We saw a good deal of T. Subba Row at Headquarters at this period, and enjoyed many opportunities to profit by his instructive occult teachings. I have a Diary note to the effect that he told us that fully “one-third of his life is passed in a world of which his own mother has no idea”. How few parents do know what are the nightly occupations of the entities to whom they have furnished the present facility for reincarnation! And how few of the entities themselves bring back recollections of those transcorporeal activities!
Chúng tôi gặp gỡ T. Subba Row khá nhiều tại Trụ sở vào thời kỳ này, và có nhiều dịp hưởng lợi từ những giáo huấn huyền bí đầy khai mở của ông. Tôi có một ghi chép Nhật ký rằng ông cho chúng tôi hay rằng “có đến một phần ba đời ông trôi qua trong một thế giới mà ngay chính mẹ ông cũng chẳng hề hay biết”. Biết bao bậc cha mẹ hiểu gì về những hoạt động đêm đêm của các thực thể mà họ đã tạo điều kiện hiện diện để tái sinh! Và biết bao ít ỏi số các thực thể ấy mang trở lại những ký ức về các hoạt động siêu thân xác đó!
CHAPTER XXVII—CHƯƠNG XXVII
THE OPENING CEREMONY—LỄ KHAI TRƯƠNG
THERE was much building to do in 1886, and the sound of the hammer and trowel was heard almost throughout the year. Besides the rebuilding of H. P. B.’s bedroom upstairs, which M. Coulomb had made as rain-proof as a sieve, and the conversion of her first large bedroom into a library for Western literature, we had the work of building the Oriental library to push on with great despatch, so as to have it ready for opening during the Convention. To avoid the encroachment of pillars on our limited floor-space, we had ordered steel girders out from England, and when they were fixed in place, suffered a spasm of anxiety on finding that the weight of the brick terrace caused a deflection of? in. The span of 27 ft. was a long one, and, in our inexperience, we feared that the terrace might come down by the run someday and perhaps kill somebody, or, what was almost worse, crush the priceless portraits of the Masters into ruin. I think either of us would have consented to death rather than that. But the girders sank to their bearings at last, and the work was hurried on as fast as we could push it. By the end of September, seeing that the library [396] would certainly be ready in time, a circular was sent around inviting learned men to contribute poems in Sanskrit, Pali, and Zend for the occasion, and asking our colleagues throughout India and Ceylon to arrange for the priests of their several ancient religions to come and take part in the opening ceremonies, which I meant to be of a character to show the eclectic attitude of the Society towards the various religions of the world. In the literary department there was plenty to do, the editing of the Theosophist being supplemented with the preparation of a handy monograph on Psychometry and Thought-Transference, cataloguing the Western library books, preparing a new edition of the Buddhist Catechism, and other things. Besides which there were lectures to give.
Năm 1886 có rất nhiều việc xây dựng phải làm, và tiếng búa cùng bay thợ gần như vang lên suốt cả năm. Ngoài việc xây lại phòng ngủ trên lầu của Bà H. P. B., vốn đã bị bà M. Coulomb làm cho “chống mưa” chẳng khác nào một cái rây, và chuyển đổi căn phòng ngủ lớn đầu tiên của Bà thành một thư viện dành cho văn chương Tây phương, chúng tôi còn phải khẩn trương đẩy nhanh công trình xây dựng thư viện Đông phương để kịp mở cửa trong dịp Đại hội. Để tránh các cột ăn lấn vào diện tích sàn vốn hạn chế, chúng tôi đã đặt mua các dầm thép từ Anh quốc, và khi chúng được lắp vào vị trí, chúng tôi đã có một phen lo sốt vó khi thấy sức nặng của sân thượng xây gạch làm võng xuống? in. Nhịp dầm dài 27 ft. là một nhịp rất dài, và do non kinh nghiệm, chúng tôi sợ rằng một ngày nào đó sân thượng có thể đổ sụp bất ngờ và có lẽ giết chết ai đó, hoặc—gần như còn tệ hơn—nghiền nát các bức chân dung vô giá của các Chân sư. Tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều thà chết còn hơn để điều đó xảy ra. Nhưng rốt cuộc các dầm cũng lún xuống đúng bệ đỡ của chúng, và công việc được thúc đẩy nhanh hết mức chúng tôi có thể. Vào cuối tháng Chín, thấy rằng thư viện [396] chắc chắn sẽ kịp sẵn sàng đúng hạn, chúng tôi gửi một thông tri mời các bậc học giả góp các thi phẩm bằng Sanskrit, Pali và Zend cho dịp này, và đề nghị các đồng sự của chúng tôi khắp Ấn Độ và Tích Lan thu xếp để các vị tế sư của những tôn giáo cổ xưa khác nhau của họ đến tham dự các nghi lễ khai mở, mà tôi dự định mang tính cách thể hiện thái độ chiết trung của Hội đối với các tôn giáo khác nhau trên thế giới. Ở mảng văn chương có rất nhiều việc phải làm: ngoài việc biên tập tờ Theosophist còn kèm theo việc soạn một chuyên khảo tiện dụng về Thuật trắc tâm và Truyền tư tưởng, lập mục lục sách thư viện Tây phương, chuẩn bị một ấn bản mới của Sách Giáo lý Phật giáo vấn đáp, và các việc khác. Ngoài ra còn có các bài thuyết giảng phải thực hiện.
We were all rejoiced by the arrival, on 3rd October, on a visit, of Prince Harisinhji and his family, for, as my readers know, he has always been beloved at Headquarters for his sweet character and loyal friendliness. He has worn as well as any man who has joined us from the beginning. Among Indian princes he is the best as man and friend whom I have met, and if all were like him, religion would be on a far better footing in India than it is in these degenerate days. He stopped with us four weeks, occupying the Riverside bungalow and having his meals prepared by his own servants.
Chúng tôi đều rất vui mừng khi ngày 3 tháng Mười, Hoàng thân Harisinhji và gia quyến đến thăm, vì, như độc giả của tôi biết, Ngài luôn được yêu mến tại Tổng hành dinh bởi tính tình hiền hòa và tình bạn thủy chung. Ngài giữ phẩm hạnh bền vững chẳng kém ai đã gia nhập cùng chúng tôi từ buổi đầu. Trong số các vương công Ấn, xét như một con người và một người bạn, Ngài là người tốt nhất mà tôi từng gặp; nếu tất cả đều như Ngài, tôn giáo ở Ấn Độ hẳn đã ở một vị thế tốt đẹp hơn nhiều so với những ngày suy đồi này. Ngài lưu lại với chúng tôi bốn tuần, ở khu nhà nhỏ ven sông và dùng bữa do gia nhân của chính Ngài nấu nướng.
Just before the Prince left Adyar, his sweet wife, the worthy type of the noble Rajput race, gave us a considerable sum of money in her son’s name, for the [397] erection of a stone gateway of ancient design. Circumstances of one kind and another baffled all our attempts to carry out the idea until quite recently, when we brought from a ruined temple in Southern India the ponderous sculptured pillars and cross-beam which are being erected on the entrance avenue in our grounds. The Princess, her son and elder daughter having died meanwhile, their three names were cut in the crossbeam; and the structure, already 2,000 years old, as surmised, will for ages stand as a tribute of affection to their memory. [44]
Ngay trước khi Hoàng thân rời Adyar, người vợ hiền của Ngài, một mẫu người xứng đáng của giống dân cao quý Rajput, đã tặng chúng tôi một khoản tiền đáng kể nhân danh con trai bà để [397] dựng một cổng đá theo kiểu cổ. Những hoàn cảnh này nọ đã làm hỏng mọi cố gắng của chúng tôi trong việc thực hiện ý tưởng ấy cho đến rất gần đây, khi chúng tôi mang từ một đền đài đổ nát ở miền Nam Ấn về những trụ chạm khắc nặng nề cùng xà ngang, hiện đang được dựng lên dọc lối vào trong khuôn viên của chúng tôi. Công nương, con trai và con gái lớn của bà đã qua đời trong khoảng thời gian đó, tên của ba người được khắc trên xà ngang; và cấu trúc này, được ước đoán đã 2.000 năm tuổi, sẽ đứng đó suốt nhiều thế kỷ như một cống lễ của tình thương đối với ký ức về họ.
The Overland mail brought me, about this time, a most cordial letter from a Christian Bishop, blessing our Society for what it was doing to stem the tide of scepticism and strengthen the religious spirit; he wished to become a member, and asked permission and directions for forming a T. S. Branch! Fancy that: a Bishop, and his letter stamped with the Episcopal seal. That was something brand new in our experience, for the clergy had for the most part been denouncing us in the pulpit and classifying us as sons of Belial. True, he was black, a fullblooded negro, as his photograph too plainly showed, yet a Bishop, all the same; orthodox, consecrated in the Episcopal or American section of the Anglican Church. His diocese, Haïti. What good results might have followed for our cause it is hard to say, if the Island had not been upset shortly [398] afterward by one of those political revolutions which are so common in Haïti and the South American states.
Đúng vào thời điểm này, thư đường bộ Overland gửi đến cho tôi một lá thư vô cùng thân ái từ một vị Giám mục Kitô giáo, ban phúc cho Hội của chúng tôi vì những gì đang làm để ngăn làn sóng hoài nghi và củng cố tinh thần tôn giáo; Ngài mong được trở thành hội viên, và xin phép cũng như chỉ dẫn để thành lập một Chi bộ T. S.! Hãy tưởng tượng điều đó: một Giám mục, và lá thư đóng dấu ấn Giám mục. Đó quả là điều hoàn toàn mới lạ trong trải nghiệm của chúng tôi, vì đa phần giáo sĩ đã công kích chúng tôi trên tòa giảng và xếp chúng tôi vào hạng con cái của Belial. Thực vậy, Ngài là người da đen, một người Phi châu thuần huyết, như tấm ảnh cho thấy quá rõ, nhưng dẫu sao vẫn là một Giám mục; chính thống, được phong chức trong phân bộ Episcopal, tức phân bộ Hoa Kỳ của Giáo hội Anh giáo. Giáo phận của Ngài: Haïti. Những kết quả tốt đẹp nào có thể đến với sự nghiệp của chúng ta thì khó nói, nếu hòn đảo ấy không bị chao đảo chẳng bao lâu [398] sau đó bởi một trong những cuộc cách mạng chính trị vốn thường xuyên xảy ra ở Haïti và các quốc gia Nam Mỹ.
In November I had by the same mail letters from Dr. Elliott Coues and Mr. Richard Harte, of New York, announcing the collapse of the Society in the United States; the former attributing it to my refusing to play the autocrat, or let him do so, and the latter to Coues having tried to “boss” everybody! My Diary note on them is that “Perhaps both are wrong and the T. S. is not collapsed over there,” the reasonableness of which events have proved.
Vào tháng Mười Một, cùng một chuyến thư, tôi nhận thư từ Bác sĩ Elliott Coues và ông Richard Harte ở New York, báo tin sự sụp đổ của Hội tại Hoa Kỳ; người trước quy cho việc đó là do tôi không chịu đóng vai độc đoán, hay để ông ta làm như vậy, còn người sau thì do Coues đã cố “chỉ huy” tất cả mọi người! Ghi chú trong Nhật ký của tôi về hai điều này là: “Có lẽ cả hai đều sai và T. S. không sụp đổ ở đó”, điều mà về sau sự kiện đã chứng minh là hợp lý.
A flying visit was made between 19th and 22nd November to Cuddapah, where I lectured and formed the Cuddapah T. S.
Trong các ngày từ 19 đến 22 tháng Mười Một, tôi có một chuyến ghé thăm chớp nhoáng đến Cuddapah, nơi tôi thuyết giảng và thành lập Chi bộ T. S. Cuddapah.
By the first week of December Sanskrit poems for the Library opening had been received from Benares, Bengal, Bombay, and Madras Pandits; and Sanskrit and Pali verses from the most learned Buddhist priests of Ceylon. About the same time I received from H. P. B., for reading and revision by T. Subba Row and myself, the MS. of Vol. I of The Secret Doctrine; but in his then captious mood the former refused to do more than read it, saying that it was so full of mistakes that if he touched it he should have to rewrite it altogether! This was mere pique, but did good, for when I reported his remark to H. P. B. she was greatly distressed, and set to work and went over the MS. most carefully, correcting many errors due to slipshod literary methods, and with the help of European [399] friends making the book what it is now. It must be said of her that she was always most eager to have mistakes pointed out, and most ready to correct them. Especially was that the case with such of 4er writings as were not dictated to her, psychically, by the unseen Helpers who presided over the production of her two great books, Isis and The Secret Doctrine, which will be the Jachin and Boaz of her perpetual monument, a wonder to coming generations. [45]
Đến tuần đầu tháng Mười Hai, các thi phẩm bằng tiếng Sanskrit cho lễ khai mở Thư viện đã được gửi đến từ các Pandit ở Benares, Bengal, Bombay và Madras; và các bài kệ Sanskrit và Pali từ những vị sư Phật giáo uyên bác nhất ở Tích Lan. Vào khoảng thời gian đó, tôi nhận được từ Bà H. P. B., để tôi và T. Subba Row đọc và nhuận xét, bản thảo Tập I của Giáo Lý Bí Nhiệm; nhưng trong tâm trạng bẳn gắt khi đó, ông sau chỉ chịu đọc mà không chịu làm gì hơn, nói rằng sách đầy những lỗi đến mức nếu ông đụng vào thì sẽ phải viết lại toàn bộ! Đó chỉ là sự hờn dỗi, nhưng lại hóa hay, vì khi tôi thuật lại lời ông cho Bà H. P. B. thì Bà vô cùng buồn phiền, bèn bắt tay vào lục soát rất kỹ bản thảo, sửa rất nhiều lỗi do lối làm việc văn chương cẩu thả, và với sự giúp đỡ của các [399] bằng hữu Âu châu, đã khiến cuốn sách thành ra như hiện nay. Phải công bằng mà nói về Bà rằng Bà luôn sốt sắng muốn được chỉ ra các sai lầm, và rất sẵn sàng sửa chúng. Điều này nhất là đúng với những trước tác của Bà không do các Đấng Trợ giúp vô hình—những vị giám hộ quá trình thai nghén hai cuốn sách lớn của Bà, Isis Lột Mặt Nạ và Giáo Lý Bí Nhiệm—truyền cho bằng phương cách tâm linh; hai cuốn ấy sẽ là Jachin và Boaz của đài tưởng niệm vĩnh hằng của Bà, một điều kỳ diệu cho các thế hệ mai sau.
The last touches to the Library were being given up to 22nd December, the lovely carved screen which has been the admiration of all visitors was set in place on the 19th, the Picture Room marble floor laid on the same and following day, that of the Library on the 22nd, and then the work was done. The first Delegates arrived on the 21st, and on the same evening I wrote my address for the opening Library ceremony. By [400] every train more Delegates came from Bengal, the North-Western and Central Provinces, Bombay, Madras, and Ceylon, until the buildings were full to overflowing. As usual, I wrote my Annual Report on the evening of the 26th, and on the 27th at the fixed time the Convention organised and disposed of its work. This year’s session was made memorable by a course of four lectures on the Bhagavad-Gîtâ, by T. Subba Row, which charmed his hearers and, in book form, are now among the most precious treasures of our Theosophical literature. They were a foretaste of the intellectual character which has been stamped upon our Adyar annual meetings by the discourses of Mrs. Besant. On the afternoon of the 27th the Buddhist priest, Medankara, of Ceylon, lectured in Pali, and—a fact which proves the close connection between Pali and Sanskrit—his remarks were interpreted to us in English by the late Adyar Library Pandit Bhashyacharya, who did not know Pali, but understood the speaker perfectly from his own deep knowledge of Sanskrit. A word must be said about this Medankara. He was of the Ramanya Nikâya, a young man, truly holy in his life and aims to a degree that I have never seen equalled among the bhikkus of Ceylon. A part of each year it was his custom to retire into the forest and spend the time in meditation, subsisting on berries and such other food as came in his way. Almost alone among the monks, he believed in the existence of our Masters, and his strongest yearning was to go to Tibet in search of them. He would have started in that very year had I not [401] dissuaded him and used all my personal influence with him. He reluctantly went back to Ceylon, but so far from abandoning his project, sent me several urgent requests that I would let him go to the Himâlayas and help him on. But alas! it was not his karma like Damodar’s to seek and find the Teacher, for death soon caught him away from our sight, perhaps that he might soon reincarnate in a body better adapted to the accomplishment of his heart’s wish.
Những khâu hoàn thiện cuối cùng cho Thư viện được tiến hành cho đến ngày 22 tháng Mười Hai, tấm bình phong chạm khắc tuyệt mỹ, vốn làm say mê tất cả khách ghé thăm, được đặt vào vị trí ngày 19, sàn đá cẩm thạch của Phòng Tranh được lát trong ngày hôm đó và hôm sau, sàn của Thư viện thì ngày 22, và thế là công việc hoàn tất. Các Đại biểu đầu tiên đến vào ngày 21, và ngay tối hôm đó tôi soạn bài diễn văn cho lễ khai mở Thư viện. Với [400] mỗi chuyến tàu, càng nhiều Đại biểu từ Bengal, các Tỉnh Tây Bắc và Trung Ấn, Bombay, Madras và Tích Lan kéo đến, đến nỗi các tòa nhà đầy chật đến tràn. Như thường lệ, tối ngày 26 tôi viết Báo cáo Hằng niên, và ngày 27, vào giờ định trước, Đại hội nhóm họp và xử lý công việc. Kỳ họp năm nay trở nên đáng nhớ bởi khóa bốn bài thuyết giảng về Bhagavad-Gîtâ của T. Subba Row, làm say đắm thính giả và, khi in thành sách, nay là một trong những bảo vật quý giá nhất của văn hiến Thông Thiên Học của chúng ta. Đó là phần nếm trước cho phẩm chất trí tuệ đã được in dấu lên các kỳ họp thường niên ở Adyar của chúng ta bởi những bài diễn giảng của Bà Besant. Chiều ngày 27, vị sư Phật giáo Medankara, người Tích Lan, thuyết giảng bằng tiếng Pali, và—một thực tế chứng tỏ mối liên hệ gần gũi giữa Pali và Sanskrit—những nhận xét của ông được chuyển nghĩa cho chúng tôi bằng tiếng Anh bởi cố Pandit Thư viện Adyar Bhashyacharya, người không biết Pali, nhưng hiểu hoàn toàn diễn giả nhờ sự uyên thâm của chính ông về Sanskrit. Cần nói một lời về vị Medankara này. Ông thuộc phái Ramanya Nikâya, một thanh niên chân tu, đời sống và chí hướng thánh thiện đến mức tôi chưa từng thấy được sánh kịp nơi các vị bhikku ở Tích Lan. Một phần mỗi năm ông có thói quen lui vào rừng, dành thời gian tham thiền, sống bằng trái dại và những thức ăn tình cờ có được. Hầu như đơn độc giữa chư Tăng, ông tin vào sự hiện hữu của các Chân sư, và nguyện ước mãnh liệt nhất của ông là đi Tây Tạng tìm gặp Các Ngài. Ông đã có thể khởi hành ngay trong năm đó nếu tôi [401] không can gián và dùng hết ảnh hưởng cá nhân với ông. Ông miễn cưỡng trở về Tích Lan, nhưng thay vì từ bỏ dự định, ông gửi cho tôi nhiều lời thỉnh cầu khẩn thiết xin tôi cho phép ông đi Himalaya và giúp ông trên đường. Nhưng than ôi! đó không phải là nghiệp quả của ông như của Damodar để tìm gặp một bậc Thầy, vì cái chết sớm mang ông đi khuất mắt chúng tôi, có lẽ để ông sớm tái sinh trong một thân thể thích hợp hơn cho việc hoàn thành tâm nguyện.
The Library opening on the 28th was a complete success. Brahmin, Buddhist, and Parsi priests and a Muslim Maulvi participated. The scene was most impressive to a thoughtful mind.
Lễ khai mở Thư viện vào ngày 28 đã thành công trọn vẹn. Các tế sư Bà-la-môn, Phật giáo, Parsi và một vị Maulvi Hồi giáo cùng tham dự. Khung cảnh gây ấn tượng sâu xa đối với một tâm trí biết suy tư.
However tinged with sectarian inclinations some of my colleagues may have been and are, even my ill-wishers must do me the justice to say that I have stubbornly opposed all attempts to put forth ex cathedra teachings. In fact, it has been my passion to uphold the platform of tolerance on which H. P. B. and I laid the foundations of the Society in the beginning, and I grasped the chance, which the opening of the Adyar Library offered, to put that idea before the world in a way that could not be misunderstood. Such a thing had never been seen in India as the religious teachers of the antipathetic sects of the East uniting in a ceremony like this; but, for that matter, India had never, before the uprising of the Theosophical Society, seen men of all the castes and Indian sects meeting together to celebrate the anniversaries of a religio-scientific body of foreign inception. We [402] have been “making history” in a very real sense ever since we had that momentous drawing-room meeting in New York, when the idea of our Society was first broached by myself and supported by H. P. B., Judge, and others. And now these chapters are collected in book form to serve as a contribution to the history of our movement, it is well for us to recall the incident of the official opening of the Adyar Library on 28th December, 1886. As stated, priests of Advaita and Visishthadvaita Hinduism, of Southern Buddhism, of Zoroastrianism, and of Islam were in attendance, and, as they were called, mounted the speaker’s platform, and with ceremonies appropriate to their several religions, invoked blessings and prosperity on the enterprise. The crowded audience of Asiatics and Europeans showed the deepest interest in the proceedings. Each group of priests, after finishing its part of the programme, left the platform and gave place to the next, we laymen sitting there and watching the events whose like had never been seen or even dreamt of in India before. It was one of the happiest days of my life. A Pandit from Mysore invoked the favor of Ganapati, the god of occult research, and of Sarasvati, the Indian Pallas-Athene, or Minerva, patroness of learning; some boys from one of our Sanskrit schools chanted benedictory verses in the classical language of the Vedas; two Parsi Mobeds offered a prayer to Ahura Mazda and lit the fire of sandalwood in a silver brazier; the saintly Medankara and a colleague intoned the Jayamangalam [403] in Pali; and a Muslim Maulvi from Hyderabad, with strong, clear voice, recited a prayer from the Koran. Then followed my official discourse, of which the following extracts are made from the report of the Madras Mail:
Cho dù một số đồng sự của tôi có thể đã và đang nhuốm màu khuynh hướng giáo phái thế nào đi nữa, ngay cả những người không thiện cảm với tôi cũng phải công bằng mà nói rằng tôi đã kiên quyết phản đối mọi nỗ lực đưa ra các giáo huấn theo kiểu ex cathedra. Thực tế, niềm đam mê của tôi là bảo vệ diễn đàn bao dung mà Bà H. P. B. và tôi đặt nền tảng cho Hội ngay từ thuở ban đầu, và tôi chộp lấy cơ hội mà lễ khai mở Thư viện Adyar đem lại để trình bày ý tưởng đó trước thế giới theo một cách không thể bị hiểu lầm. Ở Ấn Độ, chưa từng có điều gì như việc các bậc giáo thọ của những giáo phái căm ghét nhau ở phương Đông lại hợp nhất trong một nghi lễ như thế này; nhưng, nhìn cho cùng, Ấn Độ trước khi Hội Thông Thiên Học trỗi dậy, cũng chưa từng thấy việc những người thuộc mọi đẳng cấp và mọi giáo phái Ấn độp nhau [402] tụ họp mừng kỷ niệm một đoàn thể tôn giáo–khoa học có nguồn gốc ngoại quốc. Chúng tôi đã “làm nên lịch sử” theo nghĩa rất thực từ dạo chúng tôi có buổi họp khách tại phòng khách ở New York hôm ấy, khi ý tưởng về Hội lần đầu được tôi nêu ra và được Bà H. P. B., Judge và những người khác ủng hộ. Và nay khi những chương sách này được tập hợp in thành sách để góp phần cho lịch sử phong trào của chúng ta, thật thích hợp để nhắc nhớ biến cố lễ khai mở chính thức Thư viện Adyar ngày 28 tháng Mười Hai, 1886. Như đã nói, các tế sư của Ấn giáo Advaita và Visishthadvaita, của Phật giáo miền Nam, của Bái Hỏa giáo, và của Hồi giáo đều hiện diện, và theo lượt được mời, bước lên diễn đàn, bằng những nghi thức tương ứng với tôn giáo của họ, cầu phúc và thịnh vượng cho sự nghiệp này. Cử tọa đông đảo người Á và Âu bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đối với diễn tiến sự kiện. Mỗi nhóm tế sư, sau khi hoàn thành phần của mình trong chương trình, rời diễn đàn nhường chỗ cho nhóm kế tiếp, chúng tôi, những người thế tục, ngồi đó và chứng kiến những sự việc chưa từng thấy hay thậm chí chưa từng được mơ đến ở Ấn Độ trước kia. Đó là một trong những ngày hạnh phúc nhất đời tôi. Một vị Pandit từ Mysore cầu khẩn ân huệ của Ganapati, vị thần của nghiên cứu huyền bí, và của Sarasvati, nữ thần Ấn Độ tương ứng với Pallas-Athene hay Minerva, vị nữ thần bảo trợ học vấn; vài cậu học sinh từ một trong các trường Sanskrit của chúng tôi xướng những câu kệ chúc phúc bằng ngôn ngữ cổ điển của Veda; hai vị Mobed Parsi dâng lời nguyện lên Ahura Mazda và thắp lửa gỗ trầm trong một lư hương bạc; vị thánh tăng Medankara và một đồng sự xướng tụng bài Jayamangalam [403] bằng tiếng Pali; và một vị Maulvi Hồi giáo từ Hyderabad, với giọng khỏe và vang, đọc một lời cầu nguyện trích từ Kinh Koran. Sau đó là diễn văn chính thức của tôi, dưới đây trích từ bản tường thuật của tờ Madras Mail:
“We are met together, Ladies and Gentlemen, upon an occasion that is likely to possess an historical interest in the world of modern culture. The foundation of a Library of such a character as this is among the rarest of events, if, indeed, it be not unique in modern times. We need not enumerate the great libraries of Western cities, with their millions of volumes, for they are, rather, huge storehouses of books; not the collections of Oriental literature at the India Office, and in the Royal and National Museums of Europe; nor even the famed Saraswati Mahal, of Tanjore: all these have a character different from our Adyar Library, and do not compete with it. Ours has a definite purpose behind it, a specific line of utility marked out for it from the beginning. It is to be an adjunct to the work of the Theosophical Society; a means of helping to effect the object for which the Society was founded, and which is clearly stated in its constitution. Of the three declared aims of our Society—
“Thưa quý Bà và quý Ông, chúng ta cùng nhóm họp hôm nay trong một dịp có lẽ sẽ mang ý nghĩa lịch sử trong thế giới văn hóa hiện đại. Việc sáng lập một Thư viện mang phẩm chất như thế này là một biến cố hiếm có, nếu như không nói là độc nhất vô nhị trong thời cận đại. Chúng ta không cần liệt kê các thư viện vĩ đại ở các đô thị Tây phương với hàng triệu cuốn sách, bởi chúng đúng hơn là những kho chứa khổng lồ của sách vở; cũng không phải là các bộ sưu tập văn chương Đông phương ở India Office, và trong các Viện Bảo tàng Hoàng gia và Quốc gia tại châu Âu; thậm chí không phải cả tàng thư nổi tiếng Saraswati Mahal ở Tanjore: tất cả những nơi đó đều có tính chất khác với Thư viện Adyar của chúng ta, và không cạnh tranh với nó. Thư viện của chúng ta có một mục đích xác định đứng đằng sau, một đường hướng công ích rõ rệt được vạch ra từ lúc khởi đầu. Nó sẽ là một phụ trợ cho công việc của Hội Thông Thiên Học; một phương tiện giúp thực hiện mục tiêu vì đó Hội được sáng lập, và điều này đã ghi rõ trong điều lệ của Hội. Trong ba tôn chỉ đã công bố của Hội chúng ta—
“The first is: ‘To form a nucleus of the Universal Brotherhood of Humanity, without distinction of race, creed, or color.’
“Tôn chỉ thứ nhất là: ‘Hình thành một hạt nhân của Tình Huynh đệ Phổ quát của Nhân loại, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng hay màu da.’
“The second: ‘To promote the study of Aryan and other Eastern literatures, religions, and sciences. ‘ [404] “The first is the indispensable antecedent to the second, as the latter is the logical consequence of the former. It would be impracticable to bring about any friendly co-operation by the learned of the several ancient faiths and races for the study of comparative religion and archaic philosophy and science, without first getting them to consent to work in mutual kindliness; and, on the other hand, the establishment of this fraternal spirit would naturally stimulate research into the records of the past, to discover, if possible, the basis of religious thought and human aspiration. Strife comes of mutual misunderstanding and prejudice, as unity results from the discovery of basic truth. Our Society is an agency of peace and enlightenment, and in founding this Library is but carrying out its policy of universal goodwill. We want, not so much number of books, as books of a useful sort for our purposes. We wish to make it a monument of ancestral learning, but of the kind that is of most practical use to the world. We do not desire to crowd our shelves with tons of profitless casuistical speculations, but to gather together the best religious, moral, practical, and philosophical teachings of the ancient sages. We aim to collect whatever can be found in the literature of yore upon the laws of nature, the principles of science, the rules and processes of useful arts. Some Aryaphiles are thoroughly convinced that the forefathers had rummaged through the whole domain of human thought, had formulated all philosophical problems, sounded all depths and scaled all heights of human nature, and discovered [405] most, if not all, hidden properties of plants and minerals and laws of vitality: we wish to know how much of this is true. There are some so ignorant of the facts as to affirm their disbelief in the learning of the ancients and the value of the contents of the old books. To them, the dawn of human wisdom is just breaking, and in the Western sky. Two centuries ago—as Flammarion tells us—the Jesuits, Schillers, and Bayers proposed to have the stars and constellations rechristened with Christian instead of Pagan names: the Sun was to be called Christ; the Moon, Mary Virgin; Saturn, Adam; Jupiter, Moses; etc., etc.: the orbs would have shone none the less brightly, and sectarianism would have been gratified! In something of the same spirit, some of our improved Aryans seem disposed to obliterate the good old orbs of knowledge and set up new ones—putting out Vyasa, Manu, Sankara, Kapila, and Patanjali, the Aryan luminaries; and lighting up Comte, Haeckel, Huxley, Spencer, and Mill. It would not be so reprehensible if they would be content to see all great and shining lights
“Tôn chỉ thứ hai: ‘Thúc đẩy việc nghiên cứu các văn chương, tôn giáo và khoa học Arya và các truyền thống Đông phương khác.’ [404] “Tôn chỉ thứ nhất là điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho tôn chỉ thứ hai, và tôn chỉ sau là hệ quả lôgic của tôn chỉ trước. Sẽ là bất khả thi nếu muốn gắn kết bất kỳ sự cộng tác thân thiện nào giữa các bậc học giả của những đức tin và chủng tộc cổ xưa cho việc nghiên cứu tôn giáo so sánh, triết học và khoa học cổ điển, nếu trước hết không khiến họ đồng ý làm việc trong tình thân ái; và ngược lại, sự thiết lập tinh thần huynh đệ này tự nhiên sẽ kích thích việc khảo cứu hồ sơ của quá khứ, để khám phá, nếu có thể, nền tảng của tư tưởng tôn giáo và khát vọng nhân sinh. Tranh chấp sinh ra từ hiểu lầm và thành kiến, còn hợp nhất đến từ khám phá chân lý căn bản. Hội của chúng ta là một cơ quan của hòa bình và khai minh, và khi sáng lập Thư viện này, chỉ là đang thực thi chính sách thiện chí phổ quát của mình. Chúng ta không cần nhiều số lượng sách, mà cần những cuốn sách hữu ích cho mục đích của chúng ta. Chúng ta muốn làm cho nó trở thành một đài kỷ niệm cho học thuật tổ tiên, nhưng là thứ học thuật hữu ích nhất cho thế giới. Chúng ta không mong chất đầy kệ sách bằng hàng tấn suy luận ngụy biện vô bổ, mà muốn thu thập tinh hoa giáo huấn tôn giáo, luân lý, thực hành và triết học của các bậc hiền triết cổ. Chúng ta nhắm thu góp những gì có thể tìm thấy trong văn chương xưa về các định luật của tự nhiên, các nguyên lý của khoa học, các quy tắc và quy trình của những nghệ thuật hữu ích. Một số người ái mộ Arya tin chắc rằng tiền nhân đã cày xới toàn bộ cõi vực tư tưởng nhân loại, đã đặt ra mọi vấn đề triết học, đã dò hết đáy và leo tới đỉnh cao của bản tính con người, và đã khám phá [405] hầu hết, nếu không phải tất cả, những tính chất ẩn tàng của thảo mộc và khoáng vật, cũng như các định luật của sinh lực: chúng ta muốn biết điều ấy đúng đến đâu. Có những kẻ vô tri đến mức dám khẳng định họ không tin vào học vấn của người xưa và giá trị của nội dung các cuốn sách cổ. Đối với họ, bình minh của trí tuệ nhân loại mới vừa ló rạng, và là ở bầu trời Tây phương. Hai thế kỷ trước—như Flammarion cho biết—các tu sĩ Dòng Tên Jesuit, Schiller và Bayer từng đề nghị đặt lại tên các vì sao và chòm sao bằng các tên Kitô giáo thay vì ngoại giáo: Mặt Trời sẽ gọi là Christ; Mặt Trăng, Đức Trinh nữ Mary; Sao Thổ, Adam; Sao Mộc, Moses; v.v.: các thiên thể vẫn sẽ tỏa sáng chẳng kém rực rỡ, và chủ nghĩa giáo phái sẽ được vuốt ve! Cũng với tinh thần phần nào tương tự, một số người Arya “cải tiến” của chúng ta dường như muốn xóa bỏ những vì tinh tú tri thức xưa và dựng lên những vì sao mới—dập tắt Vyasa, Manu, Sankara, Kapila và Patanjali, những tinh tú Arya; và thắp lên Comte, Haeckel, Huxley, Spencer và Mill. Điều đó đã chẳng đáng chê trách đến thế nếu họ chịu dừng lại ở chỗ nhìn thấy tất cả những ánh sao lớn và rạng ngời
... admitted to that equal sky.
... được thừa nhận trong cùng một bầu trời.
We are all for progress and reform, no doubt, but it is yet to be proved that it is a good plan to throw away a valuable patrimony to clutch at a foreign legacy. For my part, I cannot help thinking that if our clever graduates knew as much about Sanskrit, Zend, and Pali literature as they do of English, the Rishis would have more, and modern biologists less, [406] reverence. Upon that impression, at any rate, this Adyar Library is being founded.
Tất cả chúng ta, hẳn rồi, đều ủng hộ tiến bộ và cải cách, nhưng vẫn còn phải chứng minh rằng vứt bỏ một gia sản quý báu để chộp lấy một di sản ngoại lai là một kế sách tốt. Phần tôi, tôi không khỏi nghĩ rằng nếu các tân khoa xuất chúng của chúng ta biết về văn chương Sanskrit, Zend và Pali nhiều như họ biết về tiếng Anh, thì các bậc Rishi hẳn được tôn kính hơn, và các nhà sinh vật học hiện đại [406] được tôn kính ít hơn. Dựa trên ấn tượng đó, dù sao đi nữa, Thư viện Adyar này đang được sáng lập.
“With the combined labor of Eastern and Western scholars, we hope to bring to light and publish much valuable knowledge now stored away in the ancient languages, or, if rendered into Asiatic vernaculars, still beyond the reach of the thousands of earnest students who are only familiar with the Greek and Latin classics and their European derivative tongues. There is a widespread conviction that many excellent secrets of chemistry, metallurgy, medicine, industrial arts, meteorology, agriculture, animal breeding and training, architecture, engineering, botany, mineralogy, astrology, etc., known to former generations, have been forgotten, but may be recovered from their literary remains. Some go so far as to affirm that the old sages had a comprehensive knowledge of the law of human development, based upon experimental research. I confess that I am one of such, and that I am more and more persuaded that the outcome of modern biological research will be the verification of the Secret or Esoteric Philosophy. This firm conviction has made me so anxious to begin as soon as possible, while we are in health and strength, the gathering together of the present Library, and it shall not be my fault if it does not achieve its object within the lifetime of the majority of the present audience. If the ancient books are as valuable as some allege, the sooner we prove it the better; if they are not, we cannot discover the fact too speedily. That intellectual marvel of our times, [407] Sir William Jones; had a better opinion of the merit of Sanskrit literature than our improved Aryans, it would appear. ‘I can venture to affirm,’ says he, in his Discourse before the Asiatic Society, delivered at Calcutta, February 20th; 1794-’I can venture to affirm, without meaning to pluck a leaf from the never-fading laurels of our immortal Newton, that the whole of his theology, and part of his philosophy, may be found in the Vedas, and even in the works of the Sufis. The most subtle spirit, which he suspected to pervade natural bodies, and, lying concealed in them, to cause attraction and repulsion; the emission, reflection, and refraction of light; electricity, calefaction, sensation, and muscular motion, is described by the Hindus as a fifth element, endued with those very powers; and the Vedas abound with allusions to a force universally attractive, which they chiefly ascribe to the Sun, thence called Aditya, or the Attractor.’ Of Sri Shankara’s commentary upon the Vedanta, he says that ‘it is not possible to speak with too much applause of so excellent a work; and I am confident in asserting that, until an accurate translation of it shall appear in some European language, the general history of philosophy must remain incomplete’; and he further affirms that ‘one correct version of any celebrated Hindu book would be of greater value than all the dissertations or essays that could be composed on the same subject’.
“Với lao lực kết hợp của các học giả Đông và Tây, chúng ta hy vọng đưa ra ánh sáng và xuất bản nhiều tri thức quý giá hiện còn cất giữ trong những ngôn ngữ cổ, hoặc nếu đã chuyển sang các tiếng bản xứ Á châu, thì vẫn nằm ngoài tầm với của hàng nghìn đạo sinh nghiêm túc vốn chỉ quen thuộc với các cổ điển Hy–La và các ngôn ngữ phái sinh Âu châu. Có một xác tín lan rộng rằng nhiều bí quyết tuyệt diệu về hóa học, luyện kim, y phương, các nghệ thuật công nghiệp, khí tượng, nông nghiệp, chăn nuôi và huấn luyện động vật, kiến trúc, công trình, thực vật học, khoáng vật học, chiêm tinh, v.v., vốn được biết đến bởi các thế hệ trước, nay đã bị quên lãng, nhưng có thể phục hồi từ những tàn thư họ để lại. Có người còn đi xa đến mức khẳng định rằng các hiền triết xưa có một tri thức bao quát về định luật phát triển của con người, dựa trên khảo cứu thực nghiệm. Tôi thú nhận rằng tôi thuộc về số người ấy, và tôi ngày càng tin chắc rằng kết quả của nghiên cứu sinh học hiện đại sẽ là sự kiểm chứng Cho Triết Học Mật Điển. Chính niềm xác tín vững chắc này đã khiến tôi nóng lòng muốn bắt đầu sớm nhất có thể, khi chúng ta còn khỏe mạnh và sung sức, việc gom góp Thư viện hiện tại, và nếu công trình này không đạt mục đích trong thời gian sống của đa số cử tọa hôm nay, thì lỗi không ở tôi. Nếu những cuốn sách cổ xưa quý giá như có người khẳng định, càng sớm chứng minh điều đó càng tốt; nếu không phải, thì chúng ta càng sớm khám phá ra thực tế càng hay. Nhà kỳ tài trí tuệ của thời đại chúng ta, [407] ngài William Jones, có vẻ đánh giá văn chương Sanskrit cao hơn những người Arya “cải tiến” của chúng ta. ‘Tôi dám khẳng định,’ Ngài nói trong bài Diễn văn trước Hội Á châu, đọc tại Calcutta, ngày 20 tháng Hai, 1794—‘Tôi dám khẳng định, mà không hề có ý định bứt một chiếc lá khỏi vòng nguyệt quế bất hủ của Newton bất tử của chúng ta, rằng toàn bộ thần học của ông, và một phần triết học của ông, có thể tìm thấy trong Veda, và thậm chí trong các tác phẩm của các nhà Sufi. Cái tinh thần vi tế nhất mà ông nghi ngờ là thấm nhuần các thể tự nhiên, và, ẩn tàng trong chúng, gây ra hấp dẫn và bài xạ; sự phát xạ, phản xạ và khúc xạ ánh sáng; điện năng, phát nhiệt, cảm giác và vận động cơ bắp, được người Hindu mô tả như một nguyên tố thứ năm, được phú cho chính những năng lực ấy; và Veda đầy rẫy những ám chỉ đến một lực hấp dẫn phổ quát, mà họ chủ yếu gán cho Mặt Trời, vì thế gọi là Aditya, hay Đấng Hấp Dẫn.’ Về chú giải của Sri Shankara đối với Vedanta, Ngài nói rằng ‘không thể nào tán dương quá mức một tác phẩm tuyệt vời đến thế; và tôi dám quả quyết rằng, cho đến khi có một bản dịch chính xác của nó xuất hiện bằng một ngôn ngữ Âu châu nào đó, lịch sử triết học tổng quát sẽ vẫn chưa hoàn chỉnh’; và Ngài còn khẳng định rằng ‘một bản dịch chính xác duy nhất của bất kỳ cuốn sách Hindu trứ danh nào cũng sẽ có giá trị lớn hơn tất cả các khảo luận hay tiểu luận được soạn trên cùng chủ đề ấy’.
“An entire Upanishad is devoted to a description of the internal parts of the body—an enumeration of [408] the nerves, veins, and arteries; a description of the heart, spleen, and liver, and of pre-natal development of the embryo. If you will consult the most recent medical authorities, you will find the very remarkable fact—one recently brought to my notice by a medical member of our Society—that the course of the sushumna, or spinal tube, which, according to the Aryan books, connects the various chakrams, or psychic evolutionary centres in the human body, can be traced from the brain to the os coccyx: in fact, my friend has kindly shown me a section of it under a strong lens. Who knows, then, what strange biological and psychical discoveries may be waiting to crown the intelligent researches of the modern anatomist and physiologist who is not above consulting the Aryan text-books? ‘There are not in any language (save the ancient Hebrew),’ says Sir William Jones, more ‘pious and sublime addresses to the Being of beings, more splendid enumerations of his attributes, or more beautiful descriptions of his visible works, than in Arabic, Persian, and Sanskrit.’ But the theme is inexhaustible, and I must resist the temptation to collate the many accessible testimonies of some of the greatest scholars of our own time to the richness, value, and interest of the ancient books of Asia. In Europe and America these profound students and thinkers are working patiently, in sympathetic collaboration with colleagues, Asiatic and European, in India, Ceylon, Burma, Japan, China, Egypt, Assyria, and other Eastern countries.
“Một bộ Upanishad trọn vẹn dành để mô tả các phần nội tạng của cơ thể—liệt kê [408] các dây thần kinh, tĩnh mạch và động mạch; mô tả tim, lách và gan, và sự phát triển tiền sản của thai nhi. Nếu quý vị tham khảo các y thư mới nhất, quý vị sẽ thấy một sự kiện rất đáng chú ý—gần đây được một hội viên bác sĩ của Hội chúng tôi cho tôi hay—rằng đường đi của sushumna, hay ống sống, vốn theo các sách Arya, nối các chakram, hay các trung tâm tiến hóa tâm linh trong thân người, có thể lần theo từ não bộ đến xương cụt: thực vậy, người bạn của tôi đã tử tế chỉ cho tôi xem một tiêu bản cắt dọc của nó dưới kính phóng đại mạnh. Vậy ai biết được những khám phá sinh học và tâm linh lạ lùng nào đang chờ đón để đội triều vinh quang lên những khảo cứu minh triết của nhà giải phẫu và sinh lý học hiện đại, người không xem nhẹ các giáo trình Arya? ‘Không có trong bất kỳ ngôn ngữ nào (trừ tiếng Hebrew cổ),’ ngài William Jones nói, ‘lại có những lời khấn nguyện mộ đạo và siêu phàm gửi lên Đấng của muôn đấng, những liệt kê rực rỡ các thuộc tính của Ngài, hay những mô tả đẹp đẽ hơn về các công trình hiển hiện của Ngài, so với tiếng Ả Rập, Ba Tư và Sanskrit.’ Nhưng chủ đề này là bất tận, và tôi phải cưỡng lại cám dỗ được đối chiếu những lời chứng dễ tiếp cận của không ít những học giả vĩ đại nhất trong thời đại chúng ta về sự phong phú, giá trị và thú vị của các sách cổ Á châu. Tại châu Âu và châu Mỹ, các học giả và tư tưởng gia thâm hậu ấy đang nhẫn nại làm việc, trong sự cộng tác đầy đồng cảm với các đồng nghiệp, cả Á lẫn Âu, ở Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Nhật Bản, Trung Hoa, Ai Cập, Assyria và các xứ Đông phương khác.
[409]
[409]
“You will observe, Ladies and Gentlemen, from what precedes, that the Library we are now founding is neither meant to be a mere repository of books, nor a training school for human parrots who, like some modern Pandits, mechanically learn their thousands of verses and lacs of lines without being able to explain, or perhaps even understand, the meaning; nor an agency to promote the particular interests of some one faith or sectarian subdivision of the same; or as a vehicle for the vain display of literary proficiency. Its object is to help to revive Oriental literature; to re-establish the dignity of the true Pandit, Mobed, Bhikshu, and Maulvi; to win the regard of educated men, especially that of the rising generation for the sages of old, their teachings, their wisdom, their noble example; to assist, as far as may be, in bringing about a more intimate relation, a better mutual appreciation, between the literary workers of the two hemispheres. Our means are small, but sincere motive and patient industry may offset that in time, and we trust to deserve public confidence. As an example of one branch of the work we have mapped out for ourselves, I beg to ask your present acceptance of copies of a catechetical synthesis of that branch of Hindu religious philosophy known as the Dwaita Doctrine of Sri Madhwacharya.
“Quý Bà và quý Ông sẽ nhận ra, từ những điều vừa trình bày, rằng Thư viện chúng ta đang sáng lập không nhằm là một kho chứa sách đơn thuần, cũng không là một trường huấn luyện cho những con két loài người, những kẻ như một số Pandit hiện đại, học vẹt hàng nghìn câu và hàng trăm nghìn dòng mà không thể giải thích, thậm chí có lẽ không hiểu, ý nghĩa; cũng không là một cơ quan để thúc đẩy lợi ích riêng của một đức tin nào đó hay một phân phái giáo phái nào của cùng đức tin; hay làm chiếc xe cho việc phô trương phù phiếm tri thức văn chương. Mục đích của nó là góp sức phục hưng văn chương Đông phương; khôi phục phẩm giá của vị Pandit, Mobed, Bhikshu và Maulvi đích thực; giành lại sự kính trọng của giới trí thức, nhất là của thế hệ đang lên, đối với các hiền triết xưa, giáo huấn của các Ngài, minh triết của các Ngài, tấm gương cao quý của các Ngài; hỗ trợ, trong khả năng, việc tạo lập một mối liên hệ thân tình hơn, một sự tương kính tốt đẹp hơn, giữa những người làm việc văn hiến của hai bán cầu. Phương tiện của chúng ta khiêm tốn, nhưng động cơ chân thành và sự cần lao nhẫn nại có thể bù đắp điều đó theo thời gian, và chúng ta trông cậy xứng đáng nhận được lòng tin của công chúng. Như một ví dụ cho một nhánh công việc mà chúng tôi đã hoạch định cho mình, cho phép tôi xin quý vị vui lòng nhận các bản in của một bản tổng hợp vấn đáp về nhánh triết học tôn giáo Ấn giáo được biết đến như Giáo lý Dwaita của Sri Madhwacharya.
The compiler, our learned and respected townsman M.R.Ry. P. Sreenivas Row, intends to follow this up with similar works upon the other two great religious schools of the Vishishthadwaita and Adwaita, founded respectively by Sri Ramanuja Acharya and [410] Sri Sankaracharya. The Buddhist Catechism—of copies of which, in the name of Mrs; Ilangakoon, a worthy Buddhist lady of Ceylon, I also ask your acceptance—will be succeeded, as my time shall permit, by catechisms of the Zoroastrian and Mahomedan faiths, written from the standing-points of followers of those religions respectively.
Soạn giả, vị đồng hương học vấn uyên thâm và đáng kính của chúng ta, M.R.Ry. P. Sreenivas Row, dự định tiếp nối với các công trình tương tự về hai tông phái tôn giáo lớn khác là Vishishthadwaita và Adwaita, do Sri Ramanuja Acharya và [410] Sri Sankaracharya sáng lập. Sách Giáo lý Phật giáo vấn đáp—mà thay mặt Bà Ilangakoon, một phu nhân Phật tử khả kính ở Tích Lan, tôi cũng kính mời quý vị nhận lấy vài bản—sẽ được nối tiếp, tùy thời giờ cho phép của tôi, bằng các sách vấn đáp về Bái Hỏa giáo và Hồi giáo, được viết từ lập trường của chính những người theo các tôn giáo ấy.
“On behalf of the subscribers to the Library Fund, and of the General Council of the Theosophical Society, I now invoke upon this undertaking the blessing of all Divine powers and of all other lovers of truth, I dedicate it to the service of mankind, and I now declare it founded and duly opened.”
“Thay mặt các ân nhân đóng góp vào Quỹ Thư viện, và thay mặt Tổng Hội đồng của Hội Thông Thiên Học, giờ đây tôi khẩn cầu cho công trình này được ban phúc bởi mọi quyền năng Thiêng liêng và tất cả những ai yêu chân lý, tôi hiến dâng nó cho sự phụng sự nhân loại, và tôi nay tuyên bố nó được sáng lập và chính thức khai mở.”
The reader will see in this inauguration discourse the groundwork laid for that Oriental Institute which it is our hope to bring into existence at Adyar in the fulness of time. The work is, in point of fact, already half done. We have (a) in the Headquarters property buildings and grounds that leave but little. to be desired; (b) five dwelling-houses in the Indian style for the free use of Library Pandits; (c) a large bathing-tank for castemen; (d) large permanent outdoor brick dining-floors for use at any time; (e) large wells of pure, sweet water; (f) two libraries of Oriental and Western books, with shelf-room for 10,000 more; (g) a superb meeting and lecture-hall and commodious classrooms; (h) bedrooms for European staff officers; (i) a tidal river under the house windows which cools the air, the blue sea a half-mile off in full sight, from which fresh breezes blow towards us daily, and groves of cocoanut palm, [411] mango, banyan, and coniferous trees to give shady walks and retreats to those who incline towards meditation; (j) towards the £20,000 capital, without which it would be childish for me to float the scheme, we have Rs. 25,000 of Permanent Fund invested; the possible proceeds of the White Bequest, which within the next few years may (so thinks the executor, Mr. Barnes) give us some £8,000 but which cannot now be counted as an asset; and the capital, stock, and income of the Theosophist and other belongings which have been bequeathed to the Society. Little as these may seem at first sight, yet no one can deny that the prospects of the Adyar Oriental Institute are infinitely better than they were on that opening day in 1886, when the Library’s carven doors were swung open for the first time, and my inaugural address was delivered before that mixed audience of people of many races and various creeds. Any day, some enlightened and philanthropic friend may send me what is lacking to start the Institute on a sound financial footing; in fact, I am sure of it.
Độc giả sẽ thấy trong bài diễn văn khai mạc này nền tảng được đặt cho Viện Đông phương mà chúng tôi hy vọng sẽ cho ra đời tại Adyar khi thời gian chín muồi. Xét về thực tế, công việc đã làm được một nửa. Chúng tôi có (a) trong khu bất động sản của Tổng hành dinh, các tòa nhà và khuôn viên hầu như chẳng còn gì để mong muốn thêm; (b) năm nhà ở kiểu Ấn Độ để các Pandit Thư viện sử dụng miễn phí; (c) một bể tắm lớn cho người thuộc các đẳng cấp; (d) những nền gạch ăn uống ngoài trời, quy mô lớn, có thể dùng bất cứ lúc nào; (e) những giếng lớn nước trong và ngọt; (f) hai thư viện sách Đông phương và Tây phương, với đủ chỗ kệ cho thêm 10.000 cuốn; (g) một phòng họp và giảng đường tuyệt mỹ cùng các phòng học rộng rãi; (h) các phòng ngủ cho các viên chức Âu châu; (i) một dòng sông thủy triều ngay dưới cửa sổ, làm mát không khí, biển xanh cách nửa dặm ngay trước mắt, từ đó mỗi ngày gió trong lành thổi về, và các lùm dừa, [411] xoài, đa, tùng bách tạo những lối đi rợp mát và chốn yên tĩnh cho những ai thiên về tham thiền; (j) đối với số vốn £20.000, nếu không có thì thật trẻ con nếu tôi đem công cuộc ra mắt nước, chúng tôi đã có Rs. 25.000 của Quỹ Thường Trực đã đầu tư; khoản thu có thể có từ Di tặng White, mà trong vài năm tới (theo ý người thi hành di chúc, ông Barnes) có thể đem lại cho chúng tôi khoảng £8.000, nhưng hiện chưa thể tính là tài sản; và vốn, cổ phần, cùng thu nhập của tờ Theosophist và các tài sản khác đã được di chúc để lại cho Hội. Dù những thứ này nhìn qua có vẻ ít ỏi, song không ai có thể phủ nhận rằng triển vọng của Viện Đông phương Adyar tốt hơn gấp bội so với ngày khai mở năm 1886, khi các cánh cửa chạm khắc của Thư viện lần đầu tiên mở ra, và diễn văn khai mạc của tôi được trình bày trước cử tọa pha tạp nhiều chủng tộc và tín ngưỡng. Bất cứ ngày nào, một bằng hữu sáng suốt và bác ái cũng có thể gửi cho tôi phần còn thiếu để khởi động Viện trên nền móng tài chính vững chắc; thực ra, tôi tin chắc điều đó.
Most of the Delegates stayed over for T. Subba Row’s fourth and last lecture on the Gîtâ, on the morning of the 30th, which was a masterpiece of literary and oratorical ability; after which the crowd melted away, and when the year 1886 closed, the house was restored to its normal quiet. Thus ended the eleventh annual chapter of the Society’s history.
Phần lớn các Đại biểu ở lại nghe bài thuyết giảng thứ tư và cuối cùng của T. Subba Row về Gîtâ, sáng ngày 30, một kiệt tác về văn chương và hùng biện; sau đó đám đông dần tan, và khi năm 1886 khép lại, ngôi nhà trở về sự yên tĩnh thường ngày. Thế là chấm dứt chương thứ mười một trong lịch sử hằng niên của Hội.
CHAPTER XXVIII—CHƯƠNG XXVIII
MORE TOURING IN CEYLON AND WESTERN INDIA—THÊM NHỮNG CHUYẾN DU HÀNH Ở TÍCH LAN VÀ TÂY ẤN
WE now cross the threshold of 1887, one of the busiest and most fruitful periods of our history. The year’s programme was sketched out in Executive Council on 9th January, and on the 22nd I sailed for Colombo, where I arrived on the 24th. The leaders of the Ramanya Nikâya at once took me to Piyâgale to assist in celebrating the first anniversary of the death of their chief priest, Ambagahawatte, whose cremation was recently described in this history. I addressed the large crowd present, and, later, privately met in consultation the whole body of priests of the Ramanya. I warned them solemnly against allowing themselves, on the strength of their deceased leader’s reputation, to cultivate self-righteousness and its concomitant, hypocrisy; I had observed, I told them, the symptoms of sectarianism and narrow-mindedness showing themselves, which I deprecated as diametrically opposed to the spirit of the Lord Buddha’s teaching. The warning was needed, and, I fancy, it would do no harm if it were repeated at the present day.
Chúng ta giờ bước qua ngưỡng cửa của năm 1887, một trong những giai đoạn bận rộn và phong nhiêu nhất trong lịch sử của chúng ta. Chương trình năm được phác thảo tại Hội đồng Chấp hành ngày 9 tháng Giêng, và ngày 22 tôi lên tàu đi Colombo, đến nơi ngày 24. Lãnh đạo phái Ramanya Nikâya lập tức đưa tôi đến Piyâgale để cùng cử hành lễ giỗ đầu của vị thượng tọa lãnh đạo của họ, Ambagahawatte, người có lễ hỏa táng đã được mô tả gần đây trong tập sử này. Tôi diễn thuyết trước đám đông lớn hiện diện, và sau đó, riêng rẽ, tôi hội ý với toàn thể chư tăng của phái Ramanya. Tôi trang nghiêm cảnh báo họ chớ để mình, dựa vào thanh danh của vị lãnh đạo quá cố, mà nuôi dưỡng sự công chính tự đắc và kẻ đồng hành của nó là giả hình; tôi bảo rằng tôi đã nhận ra những dấu hiệu của giáo phái chủ nghĩa và hẹp hòi bộc lộ, và tôi lên án điều đó như hoàn toàn trái ngược tinh thần giáo huấn của Đức Phật. Lời cảnh báo là cần thiết, và, tôi nghĩ, lặp lại vào ngày nay cũng không thừa.
[413]
[413]
On the 27th I started for Badulla, a thriving station in the Uva District, situate about 4,000 ft. above sea-level, and possessed of a climate thoroughly renovating to European constitutions which have become debilitated by too long residence in the tropical lowlands. The railway from Colombo, via Kandy and Nanu Oya, which now runs to Bandarawela through some of the finest and most picturesque scenery in the world, had then been carried only as far as Nanu Oya, in the heart of the richest planting country, and so I was taken on the rest of the way in a special mail-coach. From the driver’s seat we enjoyed the exquisite treat of the landscape views that opened out before the eye at every bend of the post-road. We stopped for the night at “Wilson’s Bungalow,” a Government rest-house, which we were glad enough to reach, for the road after dark was dangerous enough at any time by reason of its short curves and precipices, but now made much more so by the fact of our driver’s being half drunk. I don’t think I ever had a more anxious time than then, between nightfall and our arrival at the rest-house; I must have invented a half-dozen different ways of leaping or climbing over coach and driver towards the land-side, in case our bibulous Automedon should chance to drive his team over the brink of the chasm. All this was, however, soon forgotten with the appearance of a hot supper and a blazing wood fire, which the sharp, frosty air of the plateau made most grateful. And, by the way, nothing is more delightful and suggestive of home to the dweller in the Tropics, than the [414] sense of shivering one gets at the hill-stations and the longing for a big fire in one’s room. One can have this experience after a few hours’ climbing travel from the steaming plains to Simla, Mussoorie, Darjeeling, Ootacamund, or Kodaikanal: he can mount from India to Europe, so to say, within five hours.
Ngày 27 tôi khởi hành đi Badulla, một trạm thị tứ phát đạt ở Quận Uva, tọa lạc ở độ cao khoảng 4.000 ft. so với mực nước biển, có khí hậu rất tốt để hồi phục cho những cơ địa Âu châu đã suy yếu do cư trú quá lâu ở vùng đất thấp nhiệt đới. Tuyến đường sắt từ Colombo, qua Kandy và Nanu Oya, nay đã chạy đến Bandarawela, xuyên qua một số cảnh quan hùng vĩ và nên thơ nhất thế giới, bấy giờ mới chỉ tới Nanu Oya, ở trung tâm vùng trồng trọt trù phú nhất, nên phần đường còn lại tôi được đưa đi bằng xe thư đặc biệt. Từ ghế xà ích chúng tôi tận hưởng mỹ vị tinh tế của các bức tranh phong cảnh mở ra trước mắt ở mỗi khúc cua đường trạm. Chúng tôi dừng đêm tại “Wilson’s Bungalow,” một nhà nghỉ của Chính phủ, mà chúng tôi rất mừng được tới nơi, vì con đường sau hoàng hôn vốn đã nguy hiểm bởi những khúc cua gắt và vực sâu, nay lại càng nguy hơn do người đánh xe say sưa quá nửa. Tôi không nghĩ mình từng trải qua thời khắc nào lo lắng hơn, từ lúc trời sụp tối cho tới khi đến nhà nghỉ; hẳn tôi đã nghĩ ra nửa tá cách khác nhau để nhảy hoặc trèo qua xe và xà ích về phía bên núi, phòng khi ông xà ích say mèm này lỡ đưa cả đội ngựa lao xuống bờ vực. Tất cả những điều đó, tuy vậy, nhanh chóng bị xóa nhòa khi bữa tối nóng hổi dọn ra và lửa củi bập bùng, vốn vô cùng dễ chịu trong khí lạnh buốt như sương của cao nguyên. Nhân đây, không gì thú vị và gợi nhớ quê nhà cho người cư trú ở xứ Nhiệt đới cho bằng [414] cảm giác rùng mình có được tại các trạm vùng cao và nỗi khao khát có một ngọn lửa lớn trong phòng mình. Người ta có thể cảm nghiệm điều này chỉ sau vài giờ xe leo dốc từ những cánh đồng bỏng hơi đến Simla, Mussoorie, Darjeeling, Ootacamund hay Kodaikanal: nói cách khác, chỉ trong năm giờ, anh ta có thể từ Ấn Độ leo lên châu Âu.
Our coach started at 6.45 the next morning, the air fresh, the sun shining, the landscapes like pictures freshly painted on the slopes and valleys and peaks about us. At the seven-mile-post from Badulla one party of friends met and escorted us, at the four-milepost another, and we entered town in a far-stretching procession of all the Buddhist notables of the place. We were lodged in comfortable quarters and given every necessary thing; the new Buddhist flag waved everywhere in the breeze, and a “Welcome” arch and escutcheon stood before our door. At 4 p.m. I lectured in the Sapragamuva Divali, and, later, offered flowers to the image of the Buddha in the temple Mutyânangané, a shrine said to be 2,000 years old. Here occurred a striking incident. W. D. M. Appuhami, a Vedarrachi, or native doctor, had a remarkably clever son of ten years, who was showing much precocity in picking up Sanskrit from his father’s books, and whose young mind had a strong religious bent. The parents, especially the mother—a gentle, sweet-eyed woman—being also full of religious fervor, wished to consecrate their child to the ascetic life of the pansala, or vihare, and so brought him to me at the time of my flower-puja, and gave him into my hands to do with him what [415] I liked. So, taking the little chap into my arms, I thrice held him out towards the old statue of the Buddha, each time repeating the familiar ascription: Namo, Tassa, Bhagavatto, Arahatto, Samma Sambudhassa; Then, returning him to the parents, I told them what to do to accomplish their object. To anticipate events somewhat, the boy did enter the Sangha, and I saw him at Galle in 1893 when there with Mrs. Besant and the Countess Wachtmeister.
Sáng hôm sau, 6 giờ 45, xe chúng tôi khởi hành, không khí mát lạnh, mặt trời rực rỡ, phong cảnh như những bức họa mới vẽ phủ trên sườn đồi, thung lũng và các đỉnh quanh ta. Ở mốc bảy dặm tính từ Badulla, một nhóm thân hữu ra đón và hộ tống chúng tôi, ở mốc bốn dặm một nhóm khác nữa, và chúng tôi vào thị trấn trong một đoàn rước dài dằng dặc của tất cả các vị chức sắc Phật giáo nơi đây. Chúng tôi được sắp xếp chỗ ở thoải mái và chu cấp mọi thứ cần thiết; lá cờ Phật giáo mới tung bay khắp nơi trong gió, và một cổng vòm “Nhiệt liệt chào mừng” cùng huy hiệu dựng trước cửa chúng tôi. Lúc 4 giờ chiều, tôi thuyết giảng tại Sapragamuva Divali, và sau đó dâng hoa lên tượng Phật trong chùa Mutyânangané, một thánh tích được nói là 2.000 năm tuổi. Tại đây xảy ra một sự kiện ấn tượng. W. D. M. Appuhami, một Vedarrachi, tức thầy thuốc bản địa, có một con trai 10 tuổi tài trí khác thường, tỏ ra sớm thông minh trong việc học lỏm Sanskrit từ sách của cha, và tâm trí non trẻ lại có xu hướng tôn giáo mạnh mẽ. Cha mẹ em, nhất là người mẹ—một phụ nữ dịu hiền, đôi mắt đằm thắm—cũng chan chứa lòng mộ đạo, muốn hiến dâng con mình cho đời sống khổ hạnh của pansala, hay vihare, nên đã đưa em đến gặp tôi vào dịp tôi hành lễ dâng hoa, và trao con trai vào tay tôi để tôi [415] định liệu theo ý. Thế là, bồng cậu bé lên, tôi ba lần nâng em hướng về pho tượng cổ của Đức Phật, mỗi lần đều đọc câu tán dương quen thuộc: Namo, Tassa, Bhagavatto, Arahatto, Samma Sambudhassa; Rồi trả em lại cho cha mẹ, tôi bảo họ phải làm gì để hoàn thành ý nguyện. Nói lướt trước sự kiện đôi chút, cậu bé đã xuất gia vào Tăng đoàn, và tôi gặp lại em ở Galle năm 1893 khi đi với Bà Besant và Nữ bá tước Wachtmeister.
The next day I had started for Colombo on my return; that night slept again at the Wilson Bungalow; rose at 3, to go on to Nanu Oya; took train for Kandy and reached there at 2 p.m., only to fall into the toils of a Committee who had got up a big perahçra, or procession, which took me (blushing with shamefacedness under the wondering gaze of European loiterers, and feeling every inch a fool) through the streets to my lodgings, with rattle of drum, screech of pipe, clang of cymbals, and contortions of devil-dancers—whose antics were made familiar to Londoners at the India-Ceylon Exhibition at Earl’s Court three years ago. In fact, those very dancers had all danced before me in perahçras at one or another place in Ceylon during past years. At Kandy I gave various lectures to adults and children, held meetings of the local T. S. Branch, and went on to Colombo on 3rd February.
Ngày hôm sau tôi khởi hành về lại Colombo; tối đó lại ngủ tại Wilson’s Bungalow; dậy lúc 3 giờ để đi tiếp đến Nanu Oya; bắt tàu đi Kandy và đến nơi lúc 2 giờ chiều, nhưng lại sa vào tay một Ủy ban đã tổ chức một perahçra lớn, tức đám rước, đưa tôi (đỏ mặt vì thẹn dưới ánh nhìn tò mò của các du khách Âu, và cảm thấy mình thật ngớ ngẩn) đi qua phố đến chỗ trọ, với tiếng trống rộn ràng, tiếng sáo the thé, tiếng chũm chọe chát chúa, và điệu bộ quái dị của các vũ công trừ tà—những màn trình diễn về sau quen thuộc với dân London tại Triển lãm Ấn Độ–Tích Lan ở Earl’s Court ba năm sau. Thực tế, chính những vũ công ấy đều đã từng nhảy múa trước tôi trong các perahçra ở chỗ này chỗ khác tại Tích Lan những năm trước. Ở Kandy, tôi thuyết giảng nhiều buổi cho người lớn và thiếu nhi, họp Chi bộ T. S. địa phương, rồi đi Colombo ngày 3 tháng Hai.
I had the pleasure of presenting to the High Priest, Sumangala, Captain Fiéron of the French Navy and two others, on behalf of my dear old friend, Captain Courmes, of the same service. Sumangala is always [416] glad and much interested to see Europeans who have given attention to Buddhism, and always thanks me for bringing them to the College. Captain Fiérona was well versed in the principles of the religion, and long conversation was held between the visitors and the High Priest, through myself as interpreter, with the results of which both parties were apparently much delighted.
Tôi có niềm vui giới thiệu với Đại Trưởng lão Sumangala thuyền trưởng Fiéron của Hải quân Pháp và hai người nữa, thay mặt cho người bạn già thân mến của tôi, thuyền trưởng Courmes của cùng binh chủng. Ngài Sumangala luôn [416] vui mừng và rất quan tâm khi gặp người Âu nào đã chú ý tìm hiểu Phật giáo, và luôn cảm ơn tôi vì đã đưa họ đến Trường. Thuyền trưởng Fiéron am tường các nguyên lý của tôn giáo, và một cuộc đàm đạo dài đã diễn ra giữa các vị khách và Đại Trưởng lão, do tôi làm thông ngôn; cả đôi bên xem ra đều rất hài lòng với kết quả.
Among the lectures delivered in and about Colombo this time was one to the lepers, who had sent a very urgent request to me to visit them and give them the Pancha Sila and a religious discourse as to their meaning. This unhappy class are segregated at Colombo on a grassy, palm-embellished islet a few miles from town, where Government has commodious buildings for their occupancy and medical treatment. They themselves have built a little preaching-hall in which Buddhist religious emblems are kept, and are overjoyed when they can get any Buddhist to come and teach them something about their religion. It is a frightful experience, however, to face such an audience and see the distortions and mutilations caused in the human body by this pest of mankind. I had to shut my eyes a moment and brace myself up to the revolting sights before me, before beginning the Sila ceremony with the solemnly resounding Pali words of the opening sentence. Then, again, some extra interest was given to the occasion by the thought that perhaps one might get infected with the microbes of the awful disease, as Father Damien had and others. Of course, it was [417] but a remote chance at best, yet it was one, just as it depends on one’s Karma whether the bullet of Private X of tHe enemy’s regiment in front of one’s position shall find its billet in one’s body for elsewhere; and until our doctors know more of the cause and cure of leprosy, such precautionary reflections are excusable. Well, the afflicted ones at Leper Island were very grateful for the visit and forgot the mutilations of their hands and their necessarily unlovely appearance, when they joined their palms together in front of their foreheads, and sent after me towards the flower-festooned barge their mournful cry of Sadhu! Sadhu!
Trong các bài thuyết giảng tại Colombo và vùng phụ cận lần này có một buổi dành cho những người phong cùi, những người đã khẩn khoản thỉnh cầu tôi đến thăm và trao Pancha Sila cùng một bài thuyết giáo về ý nghĩa của chúng. Tầng lớp bất hạnh này được cách ly tại Colombo trên một cù lao cỏ xanh, rợp dừa, cách thị trấn vài dặm, nơi Chính quyền có các tòa nhà tiện nghi cho họ trú ngụ và điều trị y tế. Tự họ xây một giảng đường nhỏ, trong đó có lưu giữ các pháp khí Phật giáo, và họ vô cùng vui sướng khi có vị Phật tử nào chịu đến dạy họ điều gì đó về tôn giáo của mình. Tuy nhiên, đối diện với một cử tọa như thế quả thực là một trải nghiệm kinh hoàng khi phải chứng kiến những biến dạng và tàn phế mà tai ương của nhân loại này gây ra cho thân người. Tôi đã phải nhắm mắt một lúc và trấn tĩnh mình trước những cảnh tượng lợm người ấy, trước khi bắt đầu nghi thức Sila bằng những lời Pali mở đầu trầm hùng. Lại nữa, dịp này có phần đặc biệt vì ý nghĩ rằng có lẽ người ta có thể bị nhiễm vi trùng của căn bệnh khủng khiếp, như cố Linh mục Damien và những người khác từng gặp. Tất nhiên, [417] đó dẫu sao cũng là một khả năng rất xa, nhưng vẫn là một khả năng, hệt như chuyện tùy theo nghiệp quả của một người mà viên đạn của Binh nhì X thuộc tiểu đoàn địch trước mặt có tìm trúng chỗ trú trong thân thể người ấy hay không; và cho đến khi các thầy thuốc của chúng ta biết rõ hơn về nguyên nhân và cách trị bệnh phong, những suy tính phòng ngừa như thế là có thể thông cảm được. Dù sao thì, những người khốn khổ ở Đảo Người Cùi đã vô cùng biết ơn chuyến thăm, và họ dường như quên đi bàn tay tàn phế và vẻ ngoài tất yếu khó coi của mình, khi họ chắp tay trước trán và đưa theo sau tôi, về phía chiếc thuyền kết hoa, tiếng kêu sầu thảm: Sadhu! Sadhu!
The same evening I found myself in quite a different scene, when, at our Colombo Headquarters, we held the annual elections for officers of the Branch, and all, of every caste, sat together at the usual dinner.
Ngay tối đó, tôi lại thấy mình trong một khung cảnh hoàn toàn khác, khi tại Tổng hành dinh Colombo của chúng tôi, chúng tôi tiến hành bầu cử hằng năm các chức viên của Chi bộ, và mọi người, thuộc mọi đẳng cấp, cùng ngồi dùng bữa như thường lệ.
To Galle my programme took me next, and thither I went by coach on the 7th. Outside the town the late Mr. Simon Perera, President of our Branch, and the other chief Buddhists, met me, and we entered Galle in procession. During the week I spent there, I was, as usual, kept busy with lectures to adults, talks to youth, arbitrating in quarrels between rival societies, seeing Bulatgama—H. P. B.’s “Father-in-God” of l880—and doing other things that came my way. I was pleased with a visit made me by Cornelis Appu, my first paralytic patient of 1883, the predecessor of thousands who came after him. His paralysis had not returned after my treatment of him, and his gratitude [418] was correspondingly fervent. But all my patients did not have such good luck.
Galle là chặng kế tiếp trong chương trình của tôi, và tôi đến đó bằng xe ngày mồng 7. Bên ngoài thị trấn, cố ông Simon Perera, Chủ tịch Chi bộ của chúng tôi, và các Phật tử lãnh đạo khác đón tôi, và chúng tôi vào Galle trong một đám rước. Trong tuần lễ tôi ở đó, như thường lệ, tôi bận bịu thuyết giảng cho người lớn, chuyện trò với thanh thiếu niên, phân xử những xung đột giữa các hội đoàn kình địch, gặp Bulatgama—“Cha linh hướng” của H. P. B. năm 1880—và làm những việc khác đến tay. Tôi vui khi được ông Cornelis Appu đến thăm, bệnh nhân liệt đầu tiên của tôi năm 1883, người mở đầu cho hàng nghìn người đến sau. Bệnh liệt của ông không tái phát sau khi tôi điều trị, và lòng biết ơn [418] của ông vì thế càng nồng hậu. Nhưng không phải mọi bệnh nhân của tôi đều may mắn như vậy.
On my return to Colombo I began compiling the epitome of Buddhist morals, since widely known under the title of The Golden Rules of Buddhism. It is incredible how ignorant the Ceylon Buddhists were of the merits of their own religion, and how incapable of defending it from unscrupulous Missionaries who were then much more than now—though too much even now—in the habit of reviling their neighbour’s faith in the hope of advancing the interests of their own. To meet this want the little monograph in question was compiled.
Khi trở lại Colombo, tôi bắt tay biên soạn bản toát yếu đạo đức Phật giáo, về sau được biết rộng rãi dưới nhan đề Những Quy Tắc Vàng của Phật giáo. Thật khó tin là các Phật tử Tích Lan lại dốt nát đến thế về những ưu điểm của chính tôn giáo của mình, và bất lực đến mức không thể tự vệ trước những nhà Truyền giáo thiếu lương tâm vốn—bấy giờ hơn cả bây giờ, tuy ngay nay vẫn còn quá mức—thường xuyên phỉ báng đức tin của người khác với hy vọng làm lợi cho đạo của mình. Để đáp ứng nhu cầu ấy, cuốn chuyên luận nhỏ nói trên đã được biên soạn.
It is not a pleasant thing to say aught against the dead, but the dead and the living are alike in the eye of the historian who but records events and leaves Karma to work out its own adjustments. At the time in question I had every reason to be dissatisfied with the behavior of Megittuwatte, the orator, the champion of Buddhism at the famous intellectual tournament at Panadure which proved a terrifice blow to Missionary work. He was a man of mixed characteristics and motives. He had helped me to raise the Sinhalese National Buddhistic Fund in the Western Province, and when the Trust Deed was being drafted had given us no end of bother. His aim seemed to have been to get the absolute control of the money, regardless of the rights of all who had also helped in the raising of the funds; and at this time, four years later, his vindictiveness and combativeness burst out afresh. He attacked the Colombo Branch, asked why they had not [419] opened schools throughout the Province, and raved away as though a lac or two or three had been collected instead of a beggarly Rs. 4,000, the interest on which would be only Rs. 400, and of that only one half, under the terms of the Trust, could be used for aiding Buddhist schools. From having been my enthusiastic panegyrist, he had now turned to the other side, and, always a specious and silvery-tongued man, had begun to drag the amiable High Priest into his way of thinking, and to make inevitable a breach between us, which to Sinhalese Buddhism at that time would have been very harmful. He had asked me to lecture at his temple at Kotahena on the 18th, which I did to a great crowd; but one may guess my feeling of anger and disgust when I learnt that the fiery discourse in Sinhalese, with which he followed my lecture, was a venomous attack on the Colombo B. T. S. and myself. Sumangala was present and seemed shaken in his friendship for me, but joined with Megittuwatte in asking me to lecture on the following evening at the same place. The next morning, while thinking how I could escape from the trap that was being fixed for me to walk into, I learnt that a steamer of the British India line would sail that forenoon for Bombay, so I got my things quickly packed, called a carriage, bought my ticket, and by 11.30 a.m. was on the wide ocean, sailing away from the wily fowler who had spread his net for a bird too old to be caught so very easily. I left my parting compliments for him, with a message that he might lecture in my place! [420] During the nineteen years of close intercourse between Sumangala and myself, this was the only time when there was even a small chance of a breach being made in our friendship. Megittuwatte did his best to crush our brave little group of hard workers in the Colombo Branch. He even started a small paper, in which, for months, he exhausted his armory of invectives, but all to no purpose. The only result was to weaken his influence, lessen his popularity, and expose himself as a selfish, uncharitable, and pugnacious man, while actually strengthening our hold on the public sympathy.
Không phải là điều dễ chịu khi nói điều gì bất lợi về người đã khuất, nhưng trong con mắt của nhà sử học, kẻ chỉ ghi chép sự kiện và để Nghiệp quả tự vận hành những điều chỉnh của chính nó, thì người chết và người sống như nhau. Vào thời điểm nói đến, tôi có đủ mọi lý do để bất bình với cách cư xử của Megittuwatte, nhà hùng biện, người bênh vực Phật giáo tại cuộc tỉ thí trí tuệ lừng danh ở Panadure, vốn đã giáng một đòn dữ dội vào công cuộc truyền giáo. Ông là một người có phẩm tính và động cơ pha tạp. Ông đã giúp tôi gây Quỹ Phật giáo Quốc gia Sinhala (Sinhalese National Buddhistic Fund) ở Miền Tây, và khi soạn thảo Khế ước Tín thác, ông đã khiến chúng tôi phiền toái khôn cùng. Mục đích của ông dường như là đoạt quyền kiểm soát tuyệt đối số tiền, bất kể quyền lợi của tất cả những ai cũng đã góp phần gây quỹ; và vào lúc này, bốn năm sau, tính thù hằn và hiếu chiến của ông lại bùng phát. Ông công kích Chi bộ Colombo, hỏi tại sao họ chưa [419] mở trường khắp Tỉnh, và đay nghiến như thể đã quyên được một hai ba lac thay vì vẻn vẹn Rs. 4.000 đáng tội nghiệp, mà tiền lãi chỉ là Rs. 400, và trong số đó, theo điều khoản của Tín thác, chỉ một nửa có thể dùng để giúp các trường Phật giáo. Từ chỗ từng là người tán dương nhiệt thành tôi, ông đã đổi hẳn phe, và, với cái lối nói năng khéo léo, bóng bẩy vốn có, ông bắt đầu lôi kéo vị Đại Tăng khả ái theo cách nghĩ của mình, và làm cho chỗ rạn nứt giữa chúng tôi trở nên khó tránh khỏi, điều mà vào thời ấy sẽ rất tai hại cho Phật giáo người Sinhala. Ông từng mời tôi thuyết giảng tại chùa của ông ở Kotahena vào ngày 18, và tôi đã làm vậy trước một đám đông lớn; nhưng hẳn ai cũng đoán được nỗi giận dữ và ghê tởm của tôi khi biết rằng bài diễn văn bốc lửa bằng tiếng Sinhala mà ông nói sau bài giảng của tôi là một cuộc công kích độc địa nhắm vào B. T. S. Colombo và bản thân tôi. Sumangala có mặt và có vẻ lung lay trong tình bằng hữu với tôi, nhưng lại cùng Megittuwatte mời tôi thuyết giảng tối hôm sau tại cùng nơi ấy. Sáng hôm sau, đang nghĩ cách làm sao thoát khỏi cái bẫy đang giăng sẵn để tôi bước vào, tôi hay tin có một tàu hơi nước của tuyến British India sẽ nhổ neo trưa hôm đó đi Bombay, thế là tôi vội thu xếp đồ đạc, gọi xe, mua vé, và đến 11 giờ 30 sáng tôi đã ở trên đại dương mênh mông, rời xa người thợ săn ranh mãnh đã giăng lưới, nhưng cho một con chim quá già đời để dễ mắc bẫy như thế. Tôi để lại lời chào từ biệt cho ông ta, kèm thông điệp rằng ông có thể thuyết giảng thay tôi! [420] Suốt mười chín năm giao hảo thắm thiết giữa Sumangala và tôi, đây là lần duy nhất mà ngay cả một cơ may nhỏ cho một vết rạn trong tình bạn của chúng tôi cũng đã xuất hiện. Megittuwatte đã làm hết sức để đè bẹp nhóm nhỏ can trường gồm những người làm việc cật lực của chúng tôi ở Chi bộ Colombo. Ông thậm chí lập một tờ báo nhỏ, trong đó suốt nhiều tháng ông đã cạn kiệt cả kho từ ngữ mạt sát, nhưng rốt cuộc cũng chỉ vô ích. Kết quả duy nhất là làm suy yếu ảnh hưởng của ông, giảm bớt tính được lòng dân, và phơi bày ông như một kẻ vị kỷ, thiếu bác ái và hiếu chiến, trong khi thực tế lại làm cho chúng tôi nắm vững hơn nữa cảm tình của quần chúng.
Reaching Bombay on the fifth day, I was kindly welcomed by our colleagues and put up in the Society’s rooms, from the windows of which I had one of the prettiest panoramas of land and sea imaginable. The large audience which greeted me at our old lecturing place, Framji Cowasji Hall, showed that our removal to Madras had not destroyed our hold on the affections of the Bombay public. After a week there I went on to Bhaunagar, the very misnamed “Model Native State” of Sir Edwin Arnold, which, with much that was fair-seeming on the outside, had more or less moral rottenness, I fear, inside.1 [46]Sir Edwin was treated with lavish hospitality, and having revisited the East predisposed to see everything rose-colored, he did not lift the lids of the gorgeous caskets in India and Ceylon and see the foul linen so often kept within. During [421] the minority of the late Maharajah many public works had been carried through by the agents of Government, and so Bhaunagar is called a progressive State, and we may let it pass at that. My host and friend on this occasion was, of course, the Maharajah’s cousin, Prince Harisinhji, F.T.S., and my visit to him was a most pleasant episode.
Đến Bombay vào ngày thứ năm, tôi được các đồng sự niềm nở tiếp đón và thu xếp ở tại phòng của Hội, từ cửa sổ có thể nhìn ra một trong những bức toàn cảnh đất liền và biển khơi đẹp nhất có thể tưởng tượng. Khán giả đông đảo chào đón tôi tại nơi thuyết giảng cũ, Framji Cowasji Hall, cho thấy việc chúng tôi dời về Madras không làm suy giảm tình mến mộ của công chúng Bombay dành cho chúng tôi. Sau một tuần ở đó, tôi đi tiếp đến Bhaunagar, “Bang Kiểu Mẫu của Thổ dân” bị đặt nhầm tên của Sir Edwin Arnold, nơi mà, tuy bề ngoài coi bộ rất đẹp, thì bên trong, tôi e rằng, ít nhiều lại mục ruỗng về đạo đức.1Sir Edwin đã được tiếp đãi xa hoa, và khi trở lại thăm phương Đông, vốn sẵn khuynh hướng nhìn mọi thứ bằng sắc hồng, Ông đã không nhấc nắp những chiếc hòm rực rỡ ở Ấn Độ và Tích Lan để thấy những tấm áo dơ bẩn thường được giấu bên trong. Trong [421] thời kỳ vị thành niên của vị Maharajah quá cố, nhiều công trình công đã được hoàn thành bởi các đại diện của Chính phủ, và vì thế Bhaunagar được gọi là một Bang tân tiến, và chúng ta có thể tạm chấp nhận như vậy. Chủ nhà và là bạn tôi trong dịp này dĩ nhiên là người anh em họ của Maharajah, Hoàng tử Harisinhji, F.T.S., và chuyến thăm ông quả là một đoạn đời vô cùng dễ mến.
I exchanged visits with most of the high officials of the State, had an audience and long talk with the Maharajah, and also paid my respects to the late ex-Dewan Udaiyashankar Gouriashankar, C.S.I., then an octogenarian and nominal sanyasi. I say nominal because, while officially retired from the world and clad in the red-yellow cloths of the Indian ascetic, and wearing a large string of beads around his neck, he still clung to his immense fortune, and his three anterooms were crowded with the same worldly-looking courtiers as one sees in the apartments of all native prime ministers. I tried to get him to promise to devote large sums to religious purposes, but he always changed the conversation, and I finally took my leave with a different opinion of his sanctity from that which Sir Edwin gives in his book of travels, and has expressed elsewhere. It is the rule, not the exception, throughout India, that retired Government pensioners who, throughout a long official career have been immersed in worldly interests, assume the externals of piety when the goal of their incarnation comes within sight; but I have my own opinion about their having any real “change of heart” and inward purification.
Tôi đã trao đổi thăm viếng với hầu hết các quan chức cao cấp của Bang, yết kiến và trò chuyện lâu với Maharajah, và cũng đến vấn an vị cựu Dewan Udaiyashankar Gouriashankar, C.S.I., lúc ấy đã ngoại bát tuần và là một vị sannyasi trên danh nghĩa. Tôi nói “trên danh nghĩa” vì, tuy chính thức đã lui khỏi thế tục và khoác y phục vàng-đỏ của bậc khổ hạnh Ấn Độ, đeo một tràng hạt lớn quanh cổ, ông vẫn bám chặt vào gia tài đồ sộ của mình, và ba phòng ngoài của ông chật ních những cận thần có dáng dấp đời thường giống hệt như người ta thấy trong phòng ốc của mọi tể tướng bản xứ. Tôi cố gắng thuyết phục ông hứa dành những khoản lớn cho các mục đích tôn giáo, nhưng ông luôn lái câu chuyện sang hướng khác, và sau cùng tôi cáo từ với một quan niệm khác về sự thánh thiện của ông so với điều Sir Edwin nêu trong sách du ký và ở nơi khác. Khắp Ấn Độ, điều này là thông lệ chứ không phải ngoại lệ: các hưu quan của Chính phủ, những người suốt một sự nghiệp dài đắm mình trong lợi lộc thế gian, thường khoác lấy vẻ ngoài của mộ đạo khi đích đến của lần lâm phàm đã lộ rõ trước mắt; nhưng tôi có ý kiến riêng về việc họ có thực sự “đổi lòng” và thanh lọc nội tâm hay không.
[422]
[422]
I had the pleasure while at Bhaunagar of being joined by Mr. E. T. Sturdy, of New Zealand, who has since then played a prominent part in our Society’s affairs. He accompanied Prince Harisinhji and myself to Junagad, the next Native State on our programme. In the Hindu Dewan of this Muslim State, Mr. Haridas Viharidas, I found one of the ablest, most energetic, and high-minded men I had met in India: in nervous activity and clearness of judgment he was of the Western rather than the Oriental type. Everything possible he did for us. Among other things he took us to see a very fine collection of Indian lions and other animals in the Nawab’s Sirkar Bagh, and what was still better, to see the world-famous rock at Girnar on which the Emperor Dharmasoka had had inscribed, two thousand years ago, one of his noble Edicts. By request, this being a Muslim State, I lectured on “Islam,” the Nawab’s brother-in-law occupying the chair. The next day, in the High School, by request of the Hindu community, I lectured on Theosophy, as from the Hindu point of view. The Dewan Sahib was chairman, and kindly headed a subscription for the Adyar Library with the sum of Rs. 200. He also arranged for me a Durbar of the strange religious sect founded by the Swami Narayan a few years before. It differs from all other Indian sects in its Head being a family man and dressing in layman’s clothes. Under him are a great body of ascetics, who wear the red-yellow cloths of the ordinary sanyasi, and another group or class of householders, [423] who attend to all the business affairs of the fraternity—a sort of lay brothers, so to say. Though but a young sect it had amassed a good deal of wealth, I was told, and the richness of the temple where the Durbar was held, especially its floor of pure Italian marble skilfully matched and laid, and its gilt railing behind which were the cloths, wooden sandals, and staff of the late Swamiji, confirmed that impression. I asked the presiding functionary to tell me what signs of spiritual power the Founder had given, and was told that he had healed some diseases and done certain phenomena beyond the power of ordinary persons. It then appeared to me as plain as day what H. P. B. and I might have done in India for our own enrichment and glorification if we had displayed our respective gifts—hers of phenomena, mine of healing—and played upon the ever-ready credulity of the masses by the falsehood of a special divine mission.
Khi ở Bhaunagar, tôi hân hạnh được ông E. T. Sturdy, người New Zealand, nhập đoàn; từ đó về sau, ông giữ vai trò nổi bật trong các công việc của Hội chúng ta. Ông đi cùng Hoàng tử Harisinhji và tôi đến Junagad, Bang bản xứ kế tiếp trong chương trình. Ở vị Dewan theo Ấn giáo của Bang Hồi giáo này, ông Haridas Viharidas, tôi thấy một trong những người mẫn tuệ, năng động và cao thượng nhất mà tôi từng gặp ở Ấn Độ: về hoạt năng thần kinh và sự sáng sủa trong phán đoán, ông thuộc kiểu phương Tây hơn là phương Đông. Ông làm mọi điều có thể cho chúng tôi. Trong những việc khác, ông đưa chúng tôi đi xem một bộ sưu tập rất đẹp các loài sư tử Ấn và thú vật khác ở Sirkar Bagh của vị Nawab, và còn tốt hơn nữa, là xem tảng đá lừng danh thế giới ở Girnar, trên đó, hai ngàn năm trước, Hoàng đế Dharmasoka đã khắc một trong những Chiếu chỉ cao quý của Ngài. Theo thỉnh cầu, vì đây là một Bang Hồi giáo, tôi đã thuyết giảng về “Hồi giáo”, em rể của vị Nawab chủ tọa. Hôm sau, tại Trường Trung học, theo lời thỉnh cầu của cộng đồng Ấn giáo, tôi thuyết giảng về Thông Thiên Học từ quan điểm của Ấn giáo. Dewan Sahib làm chủ tọa, và tử tế đứng đầu danh sách quyên góp cho Thư viện Adyar với số tiền Rs. 200. Ông cũng thu xếp cho tôi một buổi Durbar của giáo phái tôn giáo lạ lùng do Swami Narayan sáng lập vài năm trước. Giáo phái này khác với mọi giáo phái Ấn Độ khác ở chỗ Giáo chủ là người gia thất và mặc áo quần cư sĩ. Dưới Giáo chủ là một cộng đồng lớn các bậc khổ hạnh, khoác y phục vàng-đỏ như các sannyasi thường thấy, và một nhóm hay một hạng khác gồm các gia chủ [423] chuyên đảm trách mọi việc kinh doanh của giáo đoàn—có thể nói là một loại cư sĩ phụng sự. Tuy chỉ là giáo phái trẻ, song, như tôi được biết, họ đã tích lũy được khá nhiều của cải, và sự giàu sang của ngôi đền nơi tổ chức Durbar, nhất là sàn lát bằng đá cẩm thạch Ý nguyên chất được ghép khéo léo, cùng lan can mạ vàng, phía sau là y phục, guốc gỗ và cây trượng của cố Swamiji, đã củng cố ấn tượng đó. Tôi hỏi vị chức sự chủ tọa hãy cho biết những dấu hiệu quyền năng tinh thần mà Đấng Sáng lập đã bày tỏ, và được cho hay rằng Ngài từng trị được một số bệnh tật và làm ra những hiện tượng vượt ngoài năng lực người thường. Lúc ấy tôi thấy rõ như ban ngày rằng H. P. B. và tôi có thể đã làm gì ở Ấn Độ cho sự làm giàu và vinh hiển của chính mình nếu chúng tôi phô bày những sở trường tương ứng—nàng là hiện tượng, tôi là trị bệnh—và lợi dụng sự cả tin sẵn sàng của quần chúng bằng lời dối trá về một sứ mệnh thiêng liêng đặc biệt.
We left for Bhaunagar again on the 15th (March), and visited other places of interest there. The grand carved doors of the Adyar Library, on which are represented the Ten Avatâras of Vishnu, were the gift of Harisinhji, and at Bhaunagar were awaiting my inspection before shipment. Imagine my surprise on finding that each avatâra panel was flanked by tiny medallions in which were carved emblems which the native artisan thought would be most acceptable to the European taste. There they were, a silent sermon for our edification; on one, a pistol; on another, a corkscrew; on a third, a soda-water bottle; on a fourth, [424] a padlock, etc.! And the innocent carver could not understand in the least the expression of horror that came into my face when I saw these artistic monstrosities. His own look of blank astonishment was too much for my gravity, and I exploded in laughter, giving him, no doubt, a suspicion that I was not altogether sane. The doors were not shipped until the offensive symbols had been cut out and replaced with lotus buds, as they now stand. On the 18th Mr. Sturdy left me for Ceylon to attend to some Society business there, and on the next day I went on with Harisinhji to his private estate at Varal. We reached the confines of the village after dusk, and a torchlight procession, with Brahmanic chants, floral showers and wreaths, escorted me to the Prince’s house. Then followed sixteen days of sweet rest and friendly intercourse; by day working at correspondence and inspecting the farms and fruit-gardens, in the evening sitting together on Indian carpets laid on the grass, the air perfumed with floral scents, my friend and I smoking, his beloved wife talking to us in her soft, musical tones, and the household servants and feudal retainers grouped in the background to listen to the music and songs of the Prince’s sitar player; above us the stars and the azure sky of the Indian night. On the evening of the 25th there came a troupe of Brahmin jugglers and comedians, whose performances were most skilful. There were plate-spinning on sticks, with bodily twists and contortions; dancing on naked sword-blades with the bare feet, and on wooden sandal-soles, which [425] had no peg or strap for the toes to catch hold of; balancing of a goglet (Indian decanter) of black glass on the head, and the working of it forward to the nose, backward to the nape of the neck, and sidewise to the temples, and many other feats of skill, all wonderful. I supposed this was the last of them, but the next evening, as we sat out in the starlight, there suddenly rose the cry, “Hari! Hari! Mahade-e-va!” at the bottom of the garden, and I saw striding towards us a tall, majestic figure made up like the familiar picture of Siva himself as the Yogî—matted locks, staff, tiger-skin mantle and all, a most impressive surprise. He came to an appointed spot near us, and then we had a sort of mystery play enacted, Siva doing a number of âsanas, or yogic posturings, and other gods performing their respective parts, with as finished skill as our best actors could have done on our prepared stage. At—to me—jarring note was the buffoonery of a sort of clown, personating a Bania retail merchant haggling with customers, exceedingly well done, yet quite inharmonious with the religious play of the gods led by the mighty Siva. The next day this latter actor gave us a small proof of his yogic training by burying his head in the ground and keeping it there some time, the loose earth having been thrown in and pressed about his head by an attendant.
Chúng tôi trở lại Bhaunagar vào ngày 15 (tháng Ba), và thăm những nơi khác đáng quan tâm ở đó. Cánh cửa chạm khắc tuyệt đẹp của Thư viện Adyar, trên đó chạm khắc Mười Đấng Hoá Thân của Vishnu, là lễ vật của Harisinhji, và đang chờ tôi duyệt trước khi gửi đi từ Bhaunagar. Hãy tưởng tượng nỗi ngạc nhiên của tôi khi thấy rằng mỗi tấm phù điêu avatâra lại được kèm đôi bên bởi những huy hiệu nhỏ xíu chạm các biểu tượng mà người thợ bản xứ nghĩ rằng sẽ làm vừa lòng khẩu vị Âu châu nhất. Chúng hiện ra đó, một bài giảng thầm lặng cho sự giác ngộ của chúng tôi: trên tấm này là khẩu súng lục; trên tấm kia là đồ khui nút chai; trên tấm thứ ba là chai nước soda; trên tấm thứ tư [424] là ổ khóa, v.v.! Và người thợ chạm khắc chất phác hoàn toàn không hiểu nổi vẻ kinh hoàng hiện lên trên mặt tôi khi tôi nhìn thấy những quái tượng nghệ thuật ấy. Vẻ bàng hoàng của ông quá sức chịu đựng đối với tôi, và tôi bật cười lớn, chắc hẳn khiến ông ngờ rằng tôi không thật sự bình thường. Cửa chỉ được gửi đi sau khi những biểu tượng phản cảm đã bị đục bỏ và thay bằng nụ sen, như hiện nay. Ngày 18, ông Sturdy rời tôi đi Tích Lan để lo một vài việc của Hội ở đó, và hôm sau tôi cùng Harisinhji đi đến trang trại tư của ông ở Varal. Chúng tôi đến ranh làng lúc chạng vạng, và một cuộc rước đuốc, với những bài tụng Bà-la-môn, mưa hoa và vòng hoa, hộ tống tôi đến nhà của Hoàng tử. Rồi là mười sáu ngày nghỉ ngơi dịu êm và giao hảo thân tình; ban ngày làm thư từ và đi xem ruộng vườn, buổi tối chúng tôi ngồi cùng nhau trên thảm Ấn trải trên cỏ, không khí thơm mùi hoa cỏ, tôi và bạn tôi hút thuốc, người vợ yêu quý của ông trò chuyện với chúng tôi bằng giọng nói êm ái du dương, gia nhân trong nhà và đám thuộc hạ phong kiến đứng nhóm phía sau để nghe nhạc và ca khúc của người chơi đàn sitar của Hoàng tử; trên đầu là sao và bầu trời xanh thẫm của đêm Ấn. Chiều 25, có một tốp ảo thuật gia và kép hài Bà-la-môn đến, tiết mục của họ rất điêu luyện. Có trò quay đĩa trên gậy, kèm những cú vặn người uốn mình; nhảy múa trên lưỡi gươm trần bằng đôi chân trần, và trên đế guốc gỗ [425] không có chốt hay quai để ngón chân bấu víu; giữ thăng bằng một chiếc goglet (bình rượu kiểu Ấn) bằng thủy tinh đen trên đầu, rồi đưa nó tiến lên mũi, lùi về gáy, và nghiêng sang thái dương, và nhiều tuyệt kỹ khác, tất cả đều kỳ diệu. Tôi tưởng thế là hết, nhưng tối hôm sau, khi chúng tôi ngồi ngoài trời dưới sao, bỗng vang lên ở cuối vườn tiếng kêu “Hari! Hari! Mahade-e-va!” và tôi trông thấy một dáng người cao lớn, uy nghi tiến lại phía chúng tôi, y phục giống hệt bức họa quen thuộc về chính Siva như một Yogî—tóc bện bùi nhùi, gậy, áo choàng da hổ và tất cả—một màn gây ấn tượng mạnh. Ông đến một chỗ đã định gần chúng tôi, và rồi chúng tôi xem một thứ kịch huyền nhiệm được diễn, Siva thực hiện một số âsana, tức các tư thế yoga, và các thần khác đảm phần của họ, với sự khéo léo hoàn chỉnh như những diễn viên giỏi nhất của chúng tôi trên sân khấu đã dàn dựng. Một nốt chói tai—đối với tôi—là trò hề của một nhân vật kiểu hề chèo, đóng vai một lái buôn bán lẻ Bania cò kè mặc cả với khách, diễn cực hay, nhưng hoàn toàn lạc điệu với vở kịch tôn giáo của chư thần do Siva hùng mạnh dẫn đầu. Hôm sau, diễn viên vào vai vị thần này đã cho chúng tôi xem một chứng nghiệm nhỏ về rèn luyện yoga, bằng cách chôn đầu mình xuống đất và giữ như thế một lúc, đất tơi được người phụ tá vun bù và nện quanh đầu ông.
My visit reached its close at last, and on 5th April the Prince and I left Varal for Limbdi, the enlightened ruler of which State had invited me to pay him a visit.
Chuyến thăm của tôi rốt cuộc cũng đến hồi kết, và ngày 5 tháng Tư, Hoàng tử và tôi rời Varal đến Limbdi, vị quân chủ khai minh của Bang này đã mời tôi đến thăm.
CHAPTER XXIX—CHAPTER XXIX
THUGS—THE PRINCE OF WALES IN DANGER—THUGS—THÁI TỬ XỨ WALES LÂM NGUY
BOTH Nature and the Prince gave us a warm welcome to Limbdi, our next station, for the mercury stood at 102° Fahr. in the shade, and Thâkur Saheb Jaswantsinhji Fatehsinhji did everything to show his pleasure in our visit. Limbdi is a small Kâthiâwâr State of the second class (its area is 344 sq. miles), whose rulers are of the Jhala Râjput caste—that is to say, hereditary warriors and possessed of the usual vices and virtues of the class, the former active in the olden time of fighting and struggles, the latter now developing rapidly under the changed conditions of to-day. Among the Râjput Princes of Kâthiâwâr there are, however, some who do not throw great credit upon their stock—drinking, gambling, and amusement filling up the round of their years. But the Limbdi Thâkur is an honor to his family and his people, well educated, kindly, an enlightened ruler, and deeply interested in the profounder quesions of thought. He and Harisinhji were schoolfellows, I believe, at Rajkumar College, where the reigning cricket favorite, Ranjitsinhji, and all the young Chiefs of Kâthiâwâr have been and are educated under the eye of the Government.
Cả Tự nhiên lẫn vị Thân vương đều cho chúng tôi một màn chào đón nồng nhiệt ở Limbdi, trạm kế tiếp của chúng tôi, vì nhiệt kế chỉ 102° Fahr. trong bóng râm, và Thâkur Saheb Jaswantsinhji Fatehsinhji đã làm mọi điều có thể để bày tỏ niềm hân hoan trước chuyến thăm của chúng tôi. Limbdi là một Bang nhỏ hạng nhì của Kâthiâwâr (diện tích 344 dặm vuông), các vị quân chủ thuộc đẳng cấp Râjput Jhala—nghĩa là chiến sĩ theo dòng, và có đủ các thói xấu và đức hạnh thường thấy của hạng này: cái trước vốn năng nổ trong thời loạn tranh xưa, cái sau nay phát triển nhanh chóng theo điều kiện thay đổi của thời nay. Tuy nhiên, trong giới Vương hầu Râjput của Kâthiâwâr vẫn có một số vị không làm vẻ vang cho dòng tộc—rượu chè, cờ bạc, và tiêu khiển chiếm trọn vòng năm tháng của họ. Nhưng Thâkur xứ Limbdi là niềm vinh dự của gia đình và thần dân ông, học vấn tốt, nhân hậu, là một vị quân chủ khai minh, và rất quan tâm đến các vấn đề tư tưởng thâm sâu. Tôi tin rằng ông và Harisinhji là bạn học ở Trường Rajkumar, nơi ngôi sao cricket đương thời, Ranjitsinhji, và tất cả các Tiểu vương trẻ của Kâthiâwâr đã và đang được giáo dục dưới con mắt của Chính phủ.
[427]
[427]
His Private Secretary, Mr. Khimchund, F.T.S., and other gentlemen met us on arrival at the station, and conducted us to the place assigned for our entertainment. The Dewan, Harilal, called in the morning, and the Prince received us at the Palace at 1.30 p.m. We had a long and friendly talk together about Theosophy and Hindu religion, in which His Highness is greatly interested. He showed us in his fine library a shelf, where I saw Isis Unveiled, the volume of my lectures, and other Theosophical literature, all bearing marks of having been much handled. The Palace, a new construction, is a handsome building, and in the Durbar, or reception-room, we had the opportunity to admire, if we so chose, a large gold and silver framed gâdi, or throne-seat, with a pair of carved, silver-mounted arm-chairs with lion-head ornaments, for visiting dignitaries to occupy on occasions of ceremony. Considering that the State has a population of only some 50,000, and an annual revenue of, say, £25,000 to £30,000, it seemed to me that so much display was rather unnecessary; yet that is the Râjput character, and there is nothing to be said by outsiders, save this—which I have said before—that if the commercial travellers for the great jewelry houses of Bombay and Calcutta were less glib as talkers and less cunning in playing off the vanities of Indian ruling princes against each other, there would be fewer of such costly toys as these thrones, chairs, and sofas in Indian palaces, and less financial embarrassment felt when paying the bills. There seems no remedy save the [428] interference of the Paramount Power, and yet it is hard to see how even that can be resorted to without invading the private rights of both buyers and sellers. It would be possible to create some sort of a safeguard about the young Princes in one way, viz., by educating them at the Rajkumar College as sensibly and practically as the Royal Princes of Great Britain have been educated, so that they might at least begin their rule with characters well grounded in the homely virtues, and not, as at present, spoilt in boy-hood by sycophantic flattery, and left to be the prey of tradesmen who bribe the durbaris and charge the exorbitant commissions in the bill. I beg pardon for having been led into this digression, but the sight of the costly seats in the Palace of Limbdi brought up before me the recollection of this great evil as I have seen it exhibited throughout India. The poor victimised Rajahs, Thakurs, Nawabs, and Maharajahs of this country are sponged upon by whites to an extent that nobody would believe who had not seen it himself and got the facts at first hand. This, however, is not at all apropos of our host, the Thakur Saheb, whose sweet hospitality calls for my most kind and friendly remarks. Each day of our visit he came and took Prince Harsinhji and myself out for a drive and to show us the sights. One day he took us to see his Guru, a Sanyasi, whose feet he worshipped in the Eastern fashion, by prostrations and the placing of the teacher’s feet on his own head. We all sat on the carpet cross-legged, and for a couple of hours or so discussed religious questions. It was a picturesque [429] scene, and would have made the subject of an excellent photograph.
Thư ký riêng của ông, ông Khimchund, F.T.S., và các quý ông khác đón chúng tôi khi tàu đến ga, và đưa về nơi đã chuẩn bị cho chúng tôi trú ngụ. Dewan, Harilal, đến thăm vào buổi sáng, và Thân vương tiếp chúng tôi tại Cung điện lúc 1 giờ 30 chiều. Chúng tôi trò chuyện thân tình dài lâu về Thông Thiên Học và tôn giáo Ấn, lĩnh vực mà Đức Thân vương quan tâm sâu sắc. Ngài cho chúng tôi xem trong thư viện đẹp của mình một kệ sách, nơi tôi thấy Isis Unveiled, tập sách các bài thuyết giảng của tôi, và các thư tịch Thông Thiên Học khác, tất cả đều mang dấu vết được tra cứu nhiều. Cung điện, công trình mới xây, là một tòa nhà đẹp, và tại Durbar, tức phòng tiếp tân, chúng tôi có dịp chiêm ngưỡng, nếu muốn, một chiếc gâdi, tức ngai tòa, đóng khung vàng bạc lớn, cùng một đôi ghế bành trang trí đầu sư tử, chạm khắc và bọc bạc, dành cho các bậc tôn khách ngồi trong các lễ nghi. Xét rằng Bang chỉ có dân số khoảng 50.000, và thu nhập hàng năm độ £25.000 đến £30.000, tôi cho rằng phô trương đến thế là không cần thiết; nhưng đó là tính cách Râjput, và người ngoài không có gì để nói, ngoại trừ điều này—điều mà tôi từng nói rồi—rằng nếu các tay chào hàng của những hãng kim hoàn lớn ở Bombay và Calcutta bớt dẻo miệng và bớt khéo khích động lòng hư danh của các vương công Ấn Độ đối địch nhau, thì sẽ ít đi những món đồ chơi đắt đỏ như các ngai, ghế và trường kỷ này trong các cung điện Ấn, và ít đi cảnh lúng túng tài chính khi phải trả hóa đơn. Hình như không có phương thuốc nào ngoài [428] sự can thiệp của Quyền lực Tối thượng, thế nhưng khó mà thấy được ngay cả điều đó có thể thi hành ra sao mà không xâm phạm quyền riêng của cả người mua lẫn người bán. Có thể tạo một vành đai bảo vệ quanh các Tiểu vương trẻ theo một cách, tức là giáo dục họ ở Trường Rajkumar một cách sáng suốt và thực tiễn như các Vương tử của Đại Anh đã được giáo dục, để ít nhất khi bắt đầu trị vì, họ có nhân cách vững trên các đức hạnh thường nhật, chứ không, như hiện thời, đã hỏng từ thuở thiếu niên bởi thói nịnh bợ, và bị mặc cho trở thành mồi ngon của bọn lái buôn hối lộ đám durbaris và thu các khoản hoa hồng cắt cổ trong hóa đơn. Xin thứ lỗi vì tôi đã bị cuốn vào chỗ lạc đề này, nhưng cảnh tượng những chiếc ghế ngự đắt giá trong Cung điện Limbdi đã khiến tôi hồi tưởng đại họa này theo đúng như tôi từng thấy nó diễn ra khắp Ấn Độ. Những ông Rajah, Thakur, Nawab và Maharajah tội nghiệp ở xứ này bị người da trắng vắt kiệt đến mức không ai tin nổi nếu chưa tận mắt chứng kiến và nắm được sự việc từ nguồn cận kề. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không hề ám chỉ đến vị chủ nhà của chúng tôi, Thakur Saheb, người có lòng hiếu khách dịu ngọt đáng được tôi bày tỏ lời cảm kích chân thành và thân ái nhất. Mỗi ngày trong chuyến thăm, Ngài đến đưa Hoàng tử Harsinhji và tôi đi dạo và xem các thắng cảnh. Một ngày, Ngài đưa chúng tôi đến yết kiến vị Guru của Ngài, một Sanyasi, và Ngài bái lễ đôi chân thầy theo nghi thức phương Đông, bằng cách phủ phục và đặt chân của thầy lên đầu mình. Chúng tôi đều ngồi trên thảm, xếp bằng, và suốt độ hai giờ bàn luận các vấn đề tôn giáo. Đó là một cảnh tượng [429] rất nên thơ, và có thể là đề tài cho một bức ảnh tuyệt hảo.
One day, at the Prince’s request, I lectured in the palace Durbar Hall on Mesmerism, and as my friend Mr. L. V. V. Naidu, who was with me as volunteer Private Secretary, is, fortunately, very susceptible to my influence, I was able to show some interesting scientific experiments. His Highness, after the usual evening drive, returned with us to our bungalow, and spent another hour in talk about Mesmerism and Hypnotism, with illustrative experiments on my friend. After we had called at the Palace (on 8th April) to say farewell, the Prince sent to our lodgings a present of Rs. 500 for the Adyar Library, with a very kind and too complimentary letter to myself.
Một hôm, theo lời thỉnh cầu của Thân vương, tôi thuyết giảng về Thôi miên (Mesmerism) trong Đại sảnh Durbar của cung, và vì người bạn tôi, ông L. V. V. Naidu, đang đi theo tôi với tư cách Thư ký riêng thiện nguyện, may mắn là rất nhạy với ảnh hưởng của tôi, nên tôi có thể trình diễn một số thí nghiệm khoa học thú vị. Sau cuộc dạo xe như thường lệ vào buổi tối, Đức Thân vương trở lại bungalow với chúng tôi, và dành thêm một giờ nữa đàm đạo về Thôi miên và Thuật thôi miên, kèm những thí nghiệm minh họa trên người bạn tôi. Sau khi chúng tôi vào cung (ngày 8 tháng Tư) để từ tạ, Thân vương sai gửi đến chỗ ở của chúng tôi món quà Rs. 500 cho Thư viện Adyar, cùng một bức thư rất tử tế và quá lời khen tặng gửi riêng tôi.
From Limbdi we went on to Baroda, the grand capital city of the Gaikwar Maharajah, where we were received as State guests and lodged sumptuously. The new Palace is one of the finest buildings in India, and compares favorably with European palaces which are not fortresses. The Gaikwar is one of the premier feudatories of the British Government, and, at the same time, one of the most intellectual and best educated. My only complaint against him is that he was so thoroughly anglicised by his English tutor as to have got out of touch with his ancestral religion. In my various discussions with him at Baroda, Calcutta, and Ootacamund, he has always posed as agnostic, and shown a decided scepticism about the existence of spiritual powers in man. I have had talks by the hour, [430] most interesting yet unsatisfactory, because of his ignorance of the facts now proven by modern psychical research. His manners are most courteous, and there is an entire absence of that reserve and hauteur one somehow expects to see in Asiatic Princes.
Từ Limbdi chúng tôi đi tiếp đến Baroda, đô thành tráng lệ của Gaikwar Maharajah, nơi chúng tôi được đón tiếp như quốc khách và thu xếp chỗ ở xa hoa. Cung điện mới là một trong những công trình đẹp nhất ở Ấn Độ, và có thể so sánh thuận lợi với các cung điện châu Âu không có tính phòng thủ. Vị Gaikwar là một trong những chư hầu hàng đầu của Chính phủ Anh, đồng thời cũng là một trong những người uyên bác và được giáo dục tốt nhất. Lời chê duy nhất của tôi đối với Ngài là Ngài đã bị “Anh hóa” quá kỹ bởi thầy dạy người Anh đến nỗi không còn hòa nhịp với tôn giáo tổ tiên. Trong các cuộc bàn luận khác nhau với Ngài ở Baroda, Calcutta và Ootacamund, Ngài luôn đứng ở lập trường bất khả tri, và tỏ ra hoài nghi rõ rệt về sự tồn tại của các năng lực tinh thần ở con người. Tôi đã trò chuyện hàng giờ [430], rất thú vị nhưng không thỏa dạ, vì Ngài chưa biết đến các sự kiện nay đã được chứng minh bởi nghiên cứu hiện tượng tâm linh hiện đại. Tác phong Ngài rất nhã nhặn, hoàn toàn không có cái vẻ xa cách và kiêu kỳ mà người ta mặc nhiên chờ đợi nơi các Vương hầu Á châu.
A much more congenial spirit to me is Mr. Manibhai Jasbhai, then Naib Dewan (Under-Secretary of State, as one might say), a man of the highest character and most brilliant acquirements. When H. P. B. and I first came to Bombay, in 1879, he was Dewan of Kutch, and from the beginning showed a real interest in our work and in ourselves personally. Naturally one of my first visits was to the house of my old friend, in company with my other old and dear friend J. S. Gadgil, Judge of the Baroda Varishta (High) Court. The next day I lectured at the College to students, but many adults, including H. E. the Dewan Saheb, Mr. Cursetji, Chief Justice, Judge Gadgil, Mr. Manibhai and others, were present. After the lecture the Dewan Saheb took me for a drive, and later he and several other notables of the State spent a couple of hours at my quarters in conversation, about Mesmerism among other things; and as the rumor of my Limbdi experiments on “Doraswamy” had reached town, I was asked to repeat them for the instruction of the company present.
Một tâm hồn hợp duyên với tôi hơn nhiều là ông Manibhai Jasbhai, lúc này là Naib Dewan (tạm nói là Thứ trưởng), một người có nhân cách cao cả và học vấn rực rỡ. Khi H. P. B. và tôi mới đến Bombay năm 1879, ông là Dewan của Kutch, và ngay từ đầu đã bày tỏ mối quan tâm thực sự đến công việc của chúng tôi và bản thân chúng tôi. Tự nhiên, một trong những chuyến thăm đầu tiên của tôi là đến nhà người bạn cũ, cùng với người bạn cũ thân quý khác của tôi là J. S. Gadgil, Thẩm phán Tòa Varishta (Thượng) của Baroda. Ngày hôm sau, tôi thuyết giảng tại Trường Cao đẳng cho sinh viên, nhưng cũng có nhiều vị trưởng thượng, gồm cả Đức Dewan Saheb, ông Cursetji, Chánh án, Thẩm phán Gadgil, ông Manibhai và những người khác, đến dự. Sau bài giảng, Dewan Saheb đưa tôi đi xe dạo, và sau đó Ngài cùng một số nhân vật tiếng tăm khác của Bang dành vài giờ tại chỗ ở của tôi đàm đạo, trong đó có nói về Thôi miên; và vì lời đồn về những thí nghiệm ở Limbdi của tôi trên “Doraswamy” đã đến tai trong thành, nên tôi được đề nghị lặp lại để chỉ giáo cho những người có mặt.
On the following day the Dewan Saheb headed a subscription in aid of the Adyar Library, with the gift of Rs. 200, and Messrs. Gadgil and Manibhai [431] followed suit. I was very ill that day from having eaten some bad plantains and milk for breakfast, but I determined to stick to my programme, despite the friendly protests of Mr. Gadgil and others; so at 3.25 p.m. we took train for Surat, which we reached at 8, and were put up at the travellers’ bungalow on the banks of the River Tapti. During my stay the Surat T. S. (an efflorescence of the Sanatana Dharma Sabha) was formed with that most respected, unselfish, and pious Mr. Navtamram Ootamram Trivedi as President. Under his fostering care the Branch has been ever since one of the best on our roll, and, with the accession of Dr. Edal Behram; Surat has been one of the strong centres of our movement in India. Among others who acquired membership during my visit occur the notable names of the popular Guzerati poet, Vijiashankar Kavi, and Dr. Nariman, the Civil Surgeon, a learned Parsi gentleman.
Hôm sau, Dewan Saheb đứng đầu danh sách quyên tặng giúp Thư viện Adyar với khoản Rs. 200, và các ông Gadgil và Manibhai [431] tiếp bước. Hôm đó tôi bị bệnh nặng vì bữa sáng ăn phải chuối và sữa hỏng, nhưng tôi quyết làm tròn chương trình, bất chấp lời can gián thân tình của ông Gadgil và người khác; thế nên 3 giờ 25 chiều chúng tôi lên tàu đi Surat, đến nơi lúc 8 giờ, và được thu xếp ở tại nhà khách trên bờ sông Tapti. Trong thời gian lưu lại, Chi bộ T. S. Surat (một nhánh nở rộ của Sanatana Dharma Sabha) được thành lập với vị đáng kính nhất, vị tha và mộ đạo là ông Navtamram Ootamram Trivedi làm Hội trưởng. Dưới sự dưỡng dục của ông, Chi bộ này từ đó đến nay luôn là một trong những chi bộ tốt nhất trong danh sách chúng ta, và với sự gia nhập của bác sĩ Edal Behram, Surat đã trở thành một trong những trung tâm mạnh của phong trào chúng ta ở Ấn. Trong số những người gia nhập trong chuyến thăm của tôi có những tên tuổi đáng kể như nhà thơ Guzerati được mến mộ Vijiashankar Kavi, và bác sĩ Nariman, phẫu y của chính quyền, một quý ông Parsi uyên bác.
We reached Bombay on the 17th, and from thence, two days later, went on to Poona, that great centre of progressive ideas and intellectual culture. Lectures were given at Heerabagh and the Albert Edward Institute to large audiences, after which we returned to Bombay and I took up the task of preparing the programme for my projected tour through Northern India—the Central and North-Western Provinces, Punjab, Behar, and Bengal. It was printed for circulation, and from the copy now before me I cite a passage or two as of general interest, viz.: it says that “by strict economy the tour expenses have been so [432] reduced that the share payable by each Branch will not exceed Rs. 17.... If I rupee (Is. 4d.) per diem be also given, this will cover every expense for fuel, milk, and food required at the station and bought elsewhere. Col. Olcott particularly notifies Branches to pay no more than this on his account to anybody for anything. This caution is suggested by the wasteful generosity often hitherto indulged in by his friends, as well as by impositions practised upon them in his name. The travelling expense account covers every item for tongas, bullock dâks, steamboat fares, meals at railway stations, extra luggage charges, porterage, etc., etc.” It was most disagreable for me to seem to wish to interfere with the hospitable impulses of my affectionate colleagues and friends, but I really could not stand by quietly and see sometimes hundreds of rupees thrown away on my visit, when the merest trifle would have satisfied all my necessities. Anyhow the precaution was a good one, for the 10,000 miles of my tour of 1887 were made at the cost of less than £100, everything included. I was much amused, on arriving at a certain station in Bengal, to see how literally the following paragraph in the printed Programme Notes had been complied with:
Chúng tôi đến Bombay ngày 17, và từ đó, hai ngày sau, đi Poona, trung tâm lớn của tư tưởng tân tiến và văn hóa trí thức. Các bài thuyết giảng được thực hiện tại Heerabagh và Viện Albert Edward trước những thính giả đông đảo, sau đó chúng tôi trở lại Bombay và tôi bắt tay vào việc soạn chương trình cho chuyến du hành dự kiến qua Bắc Ấn—Trung và Bắc Tây Bộ, Punjab, Behar và Bengal. Chương trình được in để lưu hành, và từ bản hiện có trước mặt, tôi trích một vài đoạn có tính phổ quát, như sau: “nhờ tiết kiệm nghiêm ngặt, chi phí chuyến đi đã được [432] giảm xuống sao cho phần chia cho mỗi Chi bộ sẽ không vượt quá Rs. 17.... Nếu 1 rupee (Is. 4d.) mỗi ngày cũng được cấp, thì khoản này sẽ trang trải toàn bộ chi dùng cho nhiên liệu, sữa và thực phẩm cần thiết tại ga và mua ở nơi khác. Đại tá Olcott đặc biệt báo cho các Chi bộ không trả quá số này thay cho ông, cho bất cứ ai, về bất cứ việc gì. Lời thận trọng này được gợi ý bởi tấm lòng hiếu khách phóng túng mà bạn bè ông thường dành trước nay, cũng như do những sự lợi dụng đã từng giáng xuống họ nhân danh ông. Bản kê chi phí đi đường bao trùm mọi khoản cho xe tonga, trạm bò kéo, vé tàu thủy, bữa ăn ở các ga, cước hành lý quá cước, tiền khuân vác, v.v., v.v.” Quả là rất khó cho tôi khi dường như muốn can dự vào sự hiếu khách của những đồng sự và bạn hữu thân thiết, nhưng tôi thực sự không thể khoanh tay đứng nhìn đôi khi hàng trăm rupee bị phung phí trong chuyến thăm của tôi, trong khi chút ít là quá đủ cho mọi nhu cầu của tôi. Dù sao thì sự phòng bị này cũng là tốt, vì 10.000 dặm của chuyến du hành năm 1887 của tôi đã được thực hiện với chi phí chưa đến £100, tính cả mọi khoản. Tôi đã rất buồn cười, khi đến một ga nào đó ở Bengal, thấy rằng đoạn sau đây trong Ghi chú Chương trình in sẵn đã được chấp hành theo nghĩa đen như thế nào:
“Branches will kindly have ready upon Col. Olcott’s arrival the following articles, the cost of which may be deducted from the per-diem allowance, viz.: 2 large earthen water-pots; firewood; 1 seer of milk; 1 loaf bread; 1 seer sugar. Also one Mohammedan coolie to assist in the kitchen.”
“Các Chi bộ vui lòng chuẩn bị sẵn sàng vào lúc Đại tá Olcott đến những vật phẩm sau, chi phí có thể khấu trừ từ khoản cấp mỗi ngày, tức: 2 vò nước đất lớn; củi; 1 seer sữa; 1 ổ bánh mì; 1 seer đường. Cũng xin có một phu Hồi giáo phụ bếp.”
[433]
[433]
Before the greeting salutations were fairly over, one of the Reception Committee took me aside and showed me that the articles I required had all been brought—to the station platform! A queer place for me to set up my kitchen, to be sure.
Trước khi những lời chào mừng vừa mới xong, một thành viên Ban Tiếp đón đã kéo tôi ra riêng và cho biết rằng các món tôi yêu cầu đều đã được mang đến—ngay trên sân ga! Quả là một chỗ kỳ khôi để tôi dựng bếp núc.
It must not be inferred from what precedes, however, that an outsider could travel so cheaply in India, for in my case there were no hotel bills to pay, I travelled second class everywhere, I was a vegetarian, and my food cost less than a pet dog’s would in England or France.
Tuy nhiên, từ những điều vừa kể không nên suy luận rằng một người ngoài có thể du hành rẻ đến thế ở Ấn, vì trường hợp của tôi không phải trả tiền khách sạn, tôi đi hạng nhì ở khắp nơi, tôi ăn chay, và chi phí ăn uống của tôi ít hơn cả suất dành cho chó cưng ở Anh hay Pháp.
I note an entry in my Diary for April 25, 1887, to the effect that “very bad news is received to-day from Ostende about my dear ‘chum’s’ health. The physicians report H. P. B. as lying between death and life. But she will not die yet”. She didn’t.
Tôi ghi trong Nhật ký ngày 25 tháng Tư, 1887, rằng “hôm nay nhận tin rất xấu từ Ostende về sức khỏe ‘bạn chí cốt’ thân yêu của tôi. Các y sĩ báo rằng H. P. B. đang nằm giữa ranh giới tử sinh. Nhưng Bà sẽ chưa chết đâu”. Bà không chết.
With K. M. Shroff, Dr. Rây, and Tookaram Tatya I paid a visit to the Bai Sakerbai Hospital for Animals, one of the worthiest charities in all India. The initiative of this benefaction was either made by our colleague Mr. Shroff, or he was the one who made it the great success it is. Mr. Shroff went into the great bazaar of Bombay, got the shetts or headmen of the different classes of traders to call them together separately, addressed them upon their duties as Hindus to care for the brute creation, and actually persuaded them to self-impose a tax on their trade returns for the upkeep of such a Hospital: the headmen agreeing in each case to be responsible for the collection of the tax. In this way an annual income of some Rs. 30,000—if I [434] rightly remember—was assured. He then persuaded the high-minded, philanthropic wife of Sir Dinshah Maneckji Petit, Bai Sakerbai, to give a suitable piece of land and, I think, necessary buildings. The Hospital being thus founded, Mr. Shroff set other forces to work, and got the Bombay Government to take the wise step of attaching the Hospital to the Veterinary College, thus at once affording to the students the best possible chance for professional training, and giving the sick animals every necessary medical and surgical help. If a monument should ever be erected to Mr. Shroff he ought to be represented, as Srî Krishna is, leaning against a cow. For infinitely smaller services than this, hosts of men have been decorated by the Government of India.
Cùng với K. M. Shroff, bác sĩ Rây, và Tookaram Tatya, tôi đi thăm Bệnh viện Thú vật Bai Sakerbai, một trong những cơ sở từ thiện đáng quý nhất ở cả Ấn Độ. Ý tưởng khởi xướng việc làm phúc này hoặc do đồng sự của chúng ta, ông Shroff, nêu lên, hoặc chính ông là người đưa nó đến thành công lớn như nay. Ông Shroff vào khu đại bazaar của Bombay, mời các shett, tức các trưởng phường của những nhóm thương gia khác nhau, lần lượt triệu tập đồng nghiệp của họ, diễn thuyết về bổn phận của người Ấn trong việc chăm sóc loài thú, và thực sự đã thuyết phục họ tự áp dụng một khoản thu trên doanh mãi để duy trì Bệnh viện: các trưởng phường mỗi nhóm đồng ý chịu trách nhiệm thu khoản thu này. Bằng cách đó, một khoản thu nhập thường niên khoảng Rs. 30.000—nếu tôi [434] nhớ đúng—được bảo đảm. Rồi ông thuyết phục người vợ giàu lòng nhân ái và bác ái của Sir Dinshah Maneckji Petit, bà Bai Sakerbai, hiến một khu đất thích hợp và, tôi nghĩ, cả các tòa nhà cần thiết. Bệnh viện được thành lập như vậy, ông Shroff vận động các lực lượng khác, và khiến Chính phủ Bombay đi một bước khôn ngoan là gắn Bệnh viện với Trường Thú y, vừa tạo cho sinh viên cơ hội tốt nhất để đào luyện chuyên môn, vừa giúp cho các con vật bệnh được chăm lo y học và phẫu thuật cần thiết. Nếu một ngày nào đó người ta dựng tượng ông Shroff, thì ông nên được khắc họa, như Srî Krishna, đang tựa mình bên một con bò. Vì những công lao nhỏ hơn vô hạn so với việc này, cả khối người đã được Chính phủ Ấn Độ ban tặng huy chương.
On 27th April I started for the North, my first objective point being Nagpur, in the Central Provinces. I was alone with Babula, my servant, Prince Harisinhji having left me in Guzerat, and L. V. V. Naidu at Bombay. It was the hot season and travelling was about the most unpleasant thing to do, the mercury standing even at midnight at about 100° Fahr. Some friends tried to persuade me not to incur the risk of heat-apoplexy, often so fatal to Europeans, but I was quite willing to take the chances, and so held to my programme. At Nagpur I was kept busy day and evening with conversaziones, initiations, visits, Branch formation, and public lectures to packed crowds, with the heat of a furnace, almost, to bear. We got at this station one of our most important members, [435] Mr. C. Narainswamy Naidu, the leading Pleader of the Central Provinces, whose activity in Society matters, including the Adyar Conventions, up to the time of his death, everybody knows. No good scheme for promoting its interests went unhelped by him, no call was made in vain. At the close of my lecture in the native theatre, Nagpur, on “Chitragupta,” Mr. Narainswamy threw over my shoulders—as Indian Princes do to guests—a red Kashmir shawl, handsomely gold-embroidered. A number of European officials showed a considerable interest in Theosophy, attended the lectures, and some of them joined the Society. To Hoshangabad next, a day’s train journey, with the heat at 106°, and nothing to suggest the need of a blanket or overcoat. Elsewhere I have described the beauty of a moonlight scene on the steps of the great bathing-ghât on the bank of the sacred Nerbudda River, the silvery splendor of the massive stone staircase, the white-domed temples, and the river flowing along between its history-crammed banks. The night of my arrival I received two addresses on the platform of the ghât, the company sitting on Oriental carpets and the whole picture an Asiatic one. There was not even one European costume to mar its effect, as I wore my Indian muslin dress because of the oppressive heat. I lectured at the same place the next evening on the necessity for promoting the study of Sanskrit. On the third evening the Branch celebrated its Anniversary, Brahmin Pandits reciting benedictory slokas, after which the Branch members distributed wheat to [436] beggars after the ancient custom. The evening’s proceedings closed with another lecture by myself. Each morning, before sunrise, I enjoyed the luxury of a swim in the sacred stream. On the 5th May I went on to Jubbulpore, the home of my old friend, Nivaran Chandra Mukerji, and his family, all most interested in the work and welfare of our Society.
Ngày 27 tháng Tư, tôi khởi hành đi miền Bắc, đích đến đầu tiên là Nagpur, thuộc Trung Ấn. Tôi chỉ đi một mình với Babula, người hầu, Hoàng tử Harisinhji đã chia tay tôi ở Guzerat, còn L. V. V. Naidu ở lại Bombay. Đó là mùa nóng và đi lại là việc hầu như khó chịu nhất, nhiệt kế ngay lúc nửa đêm cũng khoảng 100° Fahr. Một số bạn hữu cố thuyết phục tôi đừng liều nguy cơ cảm nắng, điều thường chí tử với người Âu, nhưng tôi sẵn lòng chấp nhận rủi ro, và vì vậy vẫn giữ chương trình. Ở Nagpur, tôi bận rộn suốt ngày lẫn tối với những buổi đàm đạo, lễ gia nhập, thăm viếng, thành lập Chi bộ, và các bài thuyết giảng công khai trước những đám đông chật kín, phải chịu đựng cái nóng như trong lò lửa. Tại ga này, chúng ta thu nhận được một hội viên rất trọng yếu [435], ông C. Narainswamy Naidu, vị luật sư biện hộ hàng đầu của Trung Ấn, người có hoạt động cho công việc của Hội, kể cả các Đại hội Adyar, cho đến khi ông qua đời, ai ai cũng biết. Không một đề án hay ho nào nhằm xúc tiến lợi ích của Hội mà ông không góp sức, không một lời kêu gọi nào bị ông làm ngơ. Kết thúc bài thuyết giảng của tôi tại nhà hát bản xứ ở Nagpur, về “Chitragupta”, ông Narainswamy khoác lên vai tôi—như các Vương công Ấn thường làm với khách quý—một chiếc khăn choàng Kashmir đỏ, thêu chỉ vàng rất đẹp. Một số viên chức Âu cũng tỏ sự quan tâm đáng kể đến Thông Thiên Học, dự thính các bài giảng, và vài vị gia nhập Hội. Tiếp đến Hoshangabad, một ngày đường tàu, nhiệt độ 106°, chẳng có gì gợi ý cần đến mền hay áo khoác. Ở nơi khác, tôi đã tả vẻ đẹp của cảnh trăng trên những bậc thềm của bến tắm lớn bên dòng sông thiêng Nerbudda, vẻ tráng lệ bạc trắng của bậc thang đá đồ sộ, những đền mái vòm trắng, và dòng sông lững lờ chảy giữa hai bờ chở nặng lịch sử. Đêm tôi đến, tôi nhận hai bài diễn văn chào mừng trên thềm bến, quan khách ngồi trên thảm phương Đông và toàn cảnh quả là thuần Á. Không có lấy một y phục Âu châu nào làm hỏng hiệu quả mỹ thuật, vì tôi mặc y phục muslin Ấn Độ do nóng nực đè nặng. Tối hôm sau, tôi thuyết giảng tại cùng nơi ấy về sự cần thiết xúc tiến việc học Sanskrit. Đến tối thứ ba, Chi bộ mừng Lễ Kỷ niệm, các Pandit Bà-la-môn tụng các sloka chúc phúc, sau đó hội viên Chi bộ phát lúa mì cho [436] người hành khất theo phong tục cổ. Buổi lễ kết thúc bằng một bài giảng nữa của tôi. Mỗi sáng, trước khi mặt trời mọc, tôi hưởng thú vui tắm sông thiêng. Ngày 5 tháng Năm, tôi đi tiếp đến Jubbulpore, quê nhà của người bạn cũ Nivaran Chandra Mukerji, và gia quyến ông, tất cả đều rất quan tâm đến công việc và sự hưng thịnh của Hội chúng ta.
A notable incident of my visit to this station was a call at the Prison, where I saw some of the very Thugs, Dacoits, and Prisoners described in Col. Meadows Taylor’s thrilling Indian tales. One old man told me he had “only killed one man,” thus seeming to imply that he was a very pattern of moderation. He showed me how they handle the roomal (handkerchief) in strangling—a very simple and efficacious process. Shall I describe it? Perhaps not, lest it might suggest to some ripened yet not actually developed assasin the easiest, quietest, least brutal way of disposing of a troublesome witness or other chosen victim. Doubtless the thing has been described in print before, but that is not my fault; let every one look to his own Karma. I saw at another prison once an old Thug who had killed many men, and who, at the request of the Heir Apparent, had practically shown him how to do the trick, by putting the roomal about the Royal neck and giving a preliminary twist. I was told by a Jail Officer that on seeing a strange fire of ferocity flame up in the Thug’s eyes at that moment, he stopped the experiment on the instant. Had he not, the Prince might have had his neck broken, for the skilful Thug [437] kills his man by a single twist of the roomal, before his body has time to fall to the ground.
Một sự kiện đáng nhớ trong chuyến thăm ga này là tôi vào Nhà Lao, nơi tôi gặp vài tên Thug, bọn Dacoit và các tù phạm đã được mô tả trong những truyện Ấn gay cấn của Đại tá Meadows Taylor. Một lão già bảo tôi rằng ông “chỉ giết một người”, như thể ám chỉ rằng ông là khuôn mẫu của sự điều độ. Ông chỉ cho tôi cách họ dùng chiếc roomal (khăn tay) để siết cổ—một cách thức rất đơn giản và hữu hiệu. Tôi có nên mô tả không? Có lẽ không, kẻo gợi ý cho một kẻ sát nhân đã chín muồi nhưng chưa bộc phát cách dễ nhất, êm nhất, ít dã man nhất để trừ khử một nhân chứng khó chịu hay nạn nhân đã nhằm sẵn. Chắc chắn điều ấy đã từng được mô tả trên giấy in, nhưng đó không phải lỗi của tôi; mỗi người hãy tùy theo Nghiệp quả của mình. Ở một nhà lao khác, tôi từng thấy một lão Thug đã giết nhiều người, và theo thỉnh cầu của vị Thái tử, lão đã thực hành cho Ngài xem cách ra tay, bằng cách quàng chiếc roomal quanh cổ Ngài và xoắn thử một cái. Viên chức Nhà lao kể tôi nghe rằng khi trông thấy ánh lửa hung tợn kỳ dị bùng lên trong mắt gã Thug lúc ấy, ông lập tức chấm dứt cuộc diễn tập. Nếu không, có thể cổ vị Thái tử đã gãy, vì tên Thug [437] lão luyện giết người chỉ bằng một cú vặn roomal, trước khi thân thể kịp ngã xuống đất.
Thuggee is now practically extinct in India, but it was a fearful pest while it lasted. The Thugs were hereditary assassins, ostensibly cultivators, and, in fact, they did work their farms during a portion of the year, after which they would start out on their expeditions of pillage and murder, followed by the blessings of their families, the approval of their tainted neighbors, and the protection of native rulers, who shared with them the fruit of their spoils, and gave them refuge when danger threatened. From father to son, generation after generation, the tradition of the glory of their calling was handed down, and the training of their youth was most carefully attended to. In the History of the Thugs (Nattali & Bond, London, 1851) the author says:
Nạn Thuggee nay hầu như diệt sạch ở Ấn Độ, nhưng khi còn tồn tại, nó là một tai ương khủng khiếp. Bọn Thug là những kẻ sát nhân cha truyền con nối, bề ngoài là nông phu, và thực sự họ cũng canh tác ruộng trong một phần năm tháng, rồi lại lên đường cho những chuyến đi cướp bóc và giết người, được gia đình chúc phúc, hàng xóm ô nhiễm ủng hộ, và chư tiểu vương bản xứ che chở—những kẻ chia phần chiến lợi phẩm với họ và cho họ tị nạn lúc nguy nan. Từ cha đến con, hết thế hệ này qua thế hệ khác, truyền thống về “vinh quang” của nghề nghiệp này được trao tay, và việc rèn luyện tuổi trẻ được chăm chút kỹ lưỡng. Trong Lịch sử bọn Thug (Nattali & Bond, London, 1851), tác giả nói:
“The children of Thugs, during their more tender years, are, it appears, kept in ignorance of the occupation of their fathers. After a time they are permitted to accompany them; but a veil is thrown over the darker scenes of the drama. To the novice, indeed, the expedition presents nothing but an aspect of pleasure. He is mounted on a pony; and being, by the laws of the Thugs, entitled to his share of the booty, he receives a portion of it in presents suited to his years—the delight attending the acquisition being unalloyed by any consciousness of the means by which it has been obtained. The truth reveals itself by degrees. In a short time the tyro becomes aware that his presents are the fruits of robbery.
“Có vẻ như những đứa trẻ của bọn Thug, trong những năm non dại, được giữ trong tình trạng không biết gì về nghề nghiệp của cha chúng. Một thời gian sau chúng được phép đi theo; nhưng một bức màn được che phủ lên những cảnh tối ám của vở kịch. Đối với tay tập sự, thực vậy, cuộc viễn hành không có gì khác ngoài khuôn mặt dễ chịu. Nó được cho cưỡi ngựa con; và vì theo luật của bọn Thug, nó được quyền hưởng phần chiến lợi phẩm, nó nhận một phần dưới dạng quà tùy theo tuổi của nó—niềm vui của sự được tặng quà ấy không hề bị vẩn đục bởi chút ý thức nào về phương tiện để có được nó. Sự thật dần dần hé lộ. Chẳng bao lâu kẻ non nớt nhận ra rằng các món quà của mình là quả của ăn cướp.
[438]
[438]
After a while, he has reason to suspect that robbery is aggravated by a fouler crime; at length, suspicion passes into certainty; and, finally, the pupil is permitted to witness the exercise of the fearful handicraft which he is destined to pursue. The moral contamination is now complete; but it is long before the disciple is entrusted with the performance of the last atrocity. He passes through a long course of preparatory study... before being elevated to the dignity of a strangler.”
Một lúc sau, nó có cơ nghi rằng nạn ăn cướp còn bị làm nhơ bởi một tội ác đê tiện hơn; sau rốt, ngờ vực hóa thành chắc chắn; và cuối cùng, gã môn đồ được phép chứng kiến việc hành nghề khủng khiếp mà y sẽ phải theo đuổi. Sự ô nhiễm đạo lý nay đã hoàn tất; nhưng còn lâu lắm tay đệ tử mới được giao phó thực hành mối ác cuối cùng. Y phải trải qua một khóa huấn luyện dự bị dài... trước khi được nâng lên tước vị của một kẻ siết cổ.”
The book from which the above is taken is doubtless out of print, but one can get a graphic account of Thuggee, that most detestable of crimes, by reading Meadows Taylor’s Confessions of a Thug, which is procurable almost anywhere. My reader will understand with what painful interest and loathing I gazed at the conscienceless assassins before me in the Jubbulpore Prison, wondering how ‘many times each had inveigled unsuspecting travellers to their doom, and broken their spines with a twist of his fatal noose. From the conquest of Mysore in 1799 to l808 the practice counted its victims by hundreds annually, some of the more audacious villains had been concerned in above two hundred murders, and it has been computed that a Thug of fifty years has slain at the very least ten victims a year during the twenty-five years of his active work. Here is a nice problem in Karma for the metaphysical Theosophist to work out. Whose the greater crime, the father strangler who delibrately corrupts his son and destroys his moral sense, or the child whose murderous arm has been trained to destroy life?
Cuốn sách vừa trích hẳn nay đã tuyệt bản, nhưng người ta có thể đọc một tường thuật sống động về Thuggee, cái tội ác đáng ghê tởm bậc nhất, trong tác phẩm Confessions of a Thug của Meadows Taylor, vốn có thể tìm thấy hầu như ở bất cứ đâu. Bạn đọc sẽ hiểu tâm trạng vừa đau xót vừa ghê tởm của tôi khi nhìn đám sát nhân vô lương tâm trước mặt trong Nhà lao Jubbulpore, tự hỏi mỗi tên đã bao lần nhử nạn nhân nhẹ dạ đến chỗ tận số, và bẻ gãy xương sống họ bằng cú xoắn của chiếc thòng lọng tử thần. Từ cuộc chinh phục Mysore năm 1799 đến 1808, tập tục này đã đếm nạn nhân hàng năm bằng hàng trăm, một vài tên táo tợn hơn dính líu đến trên hai trăm vụ giết người, và người ta ước tính rằng một tên Thug năm mươi tuổi đã sát hại ít nhất mười mạng mỗi năm trong suốt hai mươi lăm năm “hành nghề” tích cực. Đây là một bài toán thú vị về Nghiệp quả cho nhà Thông Thiên Học chuyên về siêu hình học giải thử. Tội nào lớn hơn: người cha siết cổ, kẻ cố ý làm bại hoại con mình và hủy hoại lương tri của nó, hay đứa con mà cánh tay giết người đã được rèn luyện để đoạt mạng sống?