← OLD DIARY LEAVES 4

OLD DIARY LEAVES, Vol. IV

OLD DIARY LEAVES, Vol. IV

by Henry Steel Olcott

MỤC LỤC

MỤC LỤC3

CHAPTER I—CHƯƠNG I7

TOURING IN INDIA—ĐI LƯU DIỄN Ở ẤN ĐỘ7

CHAPTER II—CHƯƠNG II24

THE FEARS OF H. P. B.—NHỮNG NỖI LO SỢ CỦA H. P. B.24

CHAPTER III—CHƯƠNG III37

SCIENTIFIC AND OTHERWISE—KHOA HỌC VÀ NHỮNG MẶT KHÁC37

CHAPTER IV—CHƯƠNG IV50

FORMATION OF THE ESOTERIC SECTION—SỰ THÀNH LẬP BAN NỘI MÔN50

CHAPTER V—CHƯƠNG V65

THE CONVENTION OF 1888—ĐẠI HỘI NĂM 188865

CHAPTER VI—CHƯƠNG VI81

VISIT TO JAPAN—THĂM NHẬT BẢN81

CHAPTER VII—CHƯƠNG VII95

SUCCESSFUL CRUSADE IN JAPAN—CHIẾN DỊCH THÀNH CÔNG Ở NHẬT BẢN95

CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII112

FURTHER TRIUMPHS IN JAPAN—NHỮNG THẮNG LỢI TIẾP NỐI Ở NHẬT BẢN112

CHAPTER IX—CHƯƠNG IX129

RETURN TO CEYLON—TRỞ VỀ TÍCH LAN129

CHAPTER X—CHAPTER X145

A VISIT TO EUROPE—MỘT CHUYẾN THĂM CHÂU ÂU145

CHAPTER XI—CHƯƠNG XI163

TRAVELS AND LECTURES IN THE BRITISH ISLES—DU HÀNH VÀ DIỄN THUYẾT Ở CÁC ĐẢO ANH163

CHAPTER XII—CHƯƠNG XII182

TELLS OF THE WORK AND DEATH OF C. F. POWELL, F.T.S.—KỂ VỀ CÔNG TÁC VÀ CÁI CHẾT CỦA C. F. POWELL, F.T.S.182

CHAPTER XIII—CHƯƠNG XIII196

DEATH OF SUBBA RAO—SUBBA RAO TỪ TRẦN196

CHAPTER XIV—CHƯƠNG XIV211

19 AVENUE ROAD, AND OTHER MATTERS—19 AVENUE ROAD, VÀ NHỮNG VIỆC KHÁC211

CHAPTER XV—CHƯƠNG XV224

BURMESE VISIT AND BISHOP BIGANDET—CHUYẾN THĂM MIẾN ĐIỆN VÀ GIÁM MỤC BIGANDET224

CHAPTER XVI—CHƯƠNG XVI240

AUSTRALIA AND THE HARTMANN BEQUEST—AUSTRALIA VÀ DI SẢN HARTMANN240

CHAPTER XVII—CHƯƠNG XVII253

FROM THE ANTIPODES TO AVENUE ROAD—TỪ NAM BÁN CẦU VỀ AVENUE ROAD253

CHAPTER XVIII—CHƯƠNG XVIII265

THE FIRST CONVENTION IN EUROPE—ĐẠI HỘI ĐẦU TIÊN Ở CHÂU ÂU265

CHAPTER XIX—CHƯƠNG XIX278

HYPNOTIC EXPERIMENTS IN PARIS (1891)—CÁC THÍ NGHIỆM THÔI MIÊN Ở PARIS (1891)278

CHAPTER XX—CHAPTER XX291

A DISQUISITION ON HYPNOTISM—A DISQUISITION ON HYPNOTISM291

CHAPTER XXI—CHƯƠNG XXI302

EXPERIMENTS WITH DR. BERNHEIM—CÁC THÍ NGHIỆM VỚI BÁC SĨ BERNHEIM302

CHAPTER XXII—CHƯƠNG XXII314

MRS. BESANT BIDS ADIEU TO THE SECULARISTS—BÀ BESANT GIÃ BIỆT NHỮNG NGƯỜI THẾ TỤC314

CHAPTER XXIII—CHƯƠNG XXIII331

FROM STOCKHOLM TO KYOTO—TỪ STOCKHOLM ĐẾN KYOTO331

CHAPTER XXIV—CHƯƠNG XXIV346

THE BUDDHIST PLATFORM SUCCESSFULLY INAUGURATED—CƯƠNG LĨNH PHẬT GIÁO ĐƯỢC KHAI XƯỚNG THÀNH CÔNG346

CHAPTER XXV—CHƯƠNG XXV366

NOTICE OF RESIGNATION, AND WHAT IT LED TO—THÔNG BÁO TỪ CHỨC, VÀ NHỮNG HỆ QUẢ366

CHAPTER XXVI—CHƯƠNG XXVI375

MEDIUMS, MENDACITY, AND OTHER MATTERS—ĐỒNG TỬ, SỰ DỐI TRÁ, VÀ NHỮNG VIỆC KHÁC375

CHAPTER XXVII—CHƯƠNG XXVII388

BUDDHIST CEREMONY AT DARJEELING—NGHI LỄ PHẬT GIÁO TẠI DARJEELING388

CHAPTER XXVIII—CHƯƠNG XXVIII402

TO MEET THE AMBASSADOR OF THE DALAI LAMA—ĐI GẶP ĐẠI SỨ CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LAMA402

CHAPTER XXIX—CHƯƠNG XXIX416

THE CAVES AND JUNGLES OF HINDUSTAN IN FICTION AND REALITY—NHỮNG HANG ĐỘNG VÀ RỪNG RẬM Ở ẤN ĐỘ TRONG HƯ CẤU VÀ HIỆN THỰC416

CHAPTER XXX—CHƯƠNG XXX432

FORESHADOWINGS OF THE JUDGE CONTROVERSY [36] —NHỮNG DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC CỦA CUỘC TRANH CÃI VỀ JUDGE432

ENDNOTE443

EDITOR’S PREFACE TO FIRST EDITION—LỜI TỰA CỦA BAN BIÊN TẬP CHO ẤN BẢN THỨ NHẤT

IT is six years since the Third Series of OLD DIARY LEAVES appeared in book form, and it is nine years since the contents of the present volume were published in the pages of the Theosophist. The author passed over in 1907, and, as all who knew him well are aware, the publication of the whole of this “true history of the Theosophical Society” was a matter that lay near his heart. There still remains sufficient material to fill one, if not two, additional volumes, and it is hoped this will appear in due course, for the longer the lapse of time that separates the present membership of the Theosophical Society from its early history, the more important it is that the facts should be placed on record. For the earlier part of the story, relating to America and India, there was no living authority so well able to bear witness to the facts as the late Co-Founder of the Society. In this present volume, however, we traverse a period when, owing to the world-wide spread of the organisation, the touch of the President with the whole of the Society was not so close, and maybe there are those well qualified to write of the development of different Sections, who could effectively supplement the present history so far as their own [vi] country is concerned. But such sectional or national histories remain to be written, and in meantime the record of Colonel Olcott is here to read—”and inwardly digest”.

Đã sáu năm kể từ khi Bộ Ba của NHỮNG TRANG NHẬT KÝ XƯA xuất hiện dưới dạng sách, và đã chín năm kể từ khi nội dung của tập này được đăng trên các trang của tạp chí Theosophist. Tác giả viên tịch năm 1907, và như tất cả những ai hiểu rõ Ông đều biết, việc xuất bản trọn vẹn “lịch sử chân thật của Hội Thông Thiên Học” là điều Ông hằng canh cánh. Vẫn còn đủ tư liệu để lấp đầy một, nếu không muốn nói là hai, tập bổ sung nữa, và hy vọng rằng điều đó sẽ ra mắt đúng thời, bởi càng lùi xa về thời gian so với buổi đầu của Hội Thông Thiên Học, việc xác lập các sự kiện vào hồ sơ lại càng trở nên quan trọng. Về phần đầu của câu chuyện, liên quan đến nước Mỹ và Ấn Độ, không ai đương thời có uy tín sống động hơn vị Đồng Sáng Lập quá cố của Hội để làm nhân chứng cho các sự kiện. Tuy nhiên, trong tập này, chúng ta đi qua một giai đoạn mà, do tổ chức đã lan rộng khắp thế giới, sự tiếp xúc của Vị Hội Trưởng với toàn bộ Hội không còn mật thiết như trước, và có lẽ có những vị có đủ tư cách để viết về những bước phát triển của các Phân bộ khác nhau, có thể bổ trợ hữu hiệu cho phần lịch sử hiện tại, chí ít là đối với đất nước của riêng họ [vi]. Nhưng những lịch sử phân bộ hay quốc gia như vậy còn đang chờ được viết, và trong khi chờ đợi, biên niên ký của Đại tá Olcott có sẵn ở đây để đọc—“và nghiền ngẫm thâm trầm”.

The volume before us deals with some five years during which the writer travelled all round the world, visiting Japan twice, Europe twice, Ceylon several times; Australia, America, Burma each once, besides, making long lecturing tours in India. These were years which saw the advent of Mrs. Besant—the present President—to the Theosophical Society, and witnessed the death of Madame Blavatsky, and of her learned Hindu colleague, T. Subba Row. Work on behalf of Buddhst Unity occupied much of the writer’s time and energy in his Eastern travels, while, in the West, he devoted a good deal of attention to the study of hypnotism, both in Paris and Nancy. Many useful notes on this subject are embodied in these pages.

Tập sách trước mắt chúng ta bàn về chừng năm năm, trong đó tác giả đi vòng quanh thế giới, thăm Nhật Bản hai lần, Âu châu hai lần, Tích Lan nhiều lần; Úc, Mỹ, Miến mỗi nơi một lần, ngoài ra còn thực hiện những chuyến diễn thuyết dài ngày ở Ấn Độ. Đó là những năm chứng kiến sự đến với Hội Thông Thiên Học của Bà Besant—vị Hội Trưởng hiện nay—và chứng kiến sự qua đời của Bà Blavatsky, cùng vị đồng sự Ấn giáo uyên bác của Bà là T. Subba Row. Công việc vì Sự Hợp Nhất Phật giáo chiếm phần lớn thời gian và tâm lực của tác giả trong các chuyến Đông du, trong khi ở phương Tây, Ông dành khá nhiều chú ý cho việc nghiên cứu thôi miên, cả ở Paris lẫn Nancy. Nhiều ghi chú hữu ích về chủ đề này được kết nhập trong các trang sách này.

No revision of the “Leaves” as they originally appeared has been attempted. The Editor’s work is confined to one or two explanatory notes, and the correction of typographical and a few other obvious errors.

Không có việc hiệu đính nào đối với các “Trang” như chúng nguyên thủy xuất hiện đã được tiến hành. Công việc của Ban Biên tập chỉ giới hạn ở một hai chú thích giải thích, và sửa chữa lỗi in ấn cùng một vài sai sót hiển nhiên khác.

CHAPTER I—CHƯƠNG I

TOURING IN INDIA—ĐI LƯU DIỄN Ở ẤN ĐỘ

(1887)

(1887)

AMONG my visitors of the next few days was that very learned Sanskrit teacher and author, Pandit Jibbananda Vidyasagara, son of the greatest of Bengali Pandits of his day, the late Taranatba Tarkavachaspati, author of the Sanskrit Lexicon, known to old member of our Society as the one who gave me the sacred thread of the Brahmin, his own gotra and mantra, thus adopting me, so far as possible under the caste rules. His son asked me to partake of food at his house the following day, which I did with pleasure. This is, I believe, a case without precedent, as I was a declared Buddhist, and was asked to sacrifice nothing in the way of religious belief as a condition of the receipt of this distinguished mark of esteem and gratitude of the Brahmins for my services in India towards the Hindu revival.

Trong số các vị khách đến thăm tôi vài ngày kế tiếp có nhà giáo và tác giả Sanskrit uyên bác, Pandit Jibbananda Vidyasagara, con trai của vị Pandit Bengali lỗi lạc nhất thời bấy giờ, quá cố Taranatba Tarkavachaspati, tác giả Tự điển Sanskrit, vốn quen thuộc với những hội viên kỳ cựu của Hội chúng ta như người đã trao cho tôi sợi dây thiêng của Bà-la-môn, chính gotra và mantra của Ông, qua đó nhận tôi làm đệ tử, trong phạm vi có thể theo luật của giai cấp. Con trai Ông mời tôi đến nhà thọ trai vào ngày hôm sau, và tôi vui lòng nhận lời. Tôi tin rằng đây là một trường hợp chưa từng có, vì tôi là một Phật tử công khai, và không bị yêu cầu hy sinh bất cứ điều gì về mặt tín ngưỡng như điều kiện để nhận dấu hiệu tôn kính và tri ân đặc biệt này của giới Bà-la-môn đối với những phụng sự của tôi tại Ấn Độ cho cuộc phục hưng Ấn giáo.

One of my staunchest Indian friends from the beginning until now is the Honorable Maharajah Sir Jotendro Mohan Tagore, whose guest H.P.B., I, and other Theosophists have been. He is a highly educated [2] and thoughtful man, a great lover of religious discussions. In common with all Hindus, he loves the ancient ideal of the spiritual life, in theory, admits its vast superiority over the life of the world. I remember a talk we had one day, during a later visit to, Calcutta, about this very subject, and the good-natured laugh I had at his expense. He had asked me in great seriousness if I could not tell him the most effectual way to reach this high level while still living. “Of course,” I replied, “there is one way that can be tried by you, with a fair certainty of gaining your object.” “What is it? Do tell me,” he unsuspectingly asked. “Well, drive home in that splendid carriage of yours; go up to your marble reception-room, where the silver lustres, the paintings, the mosaics, and other things make it a real princely apartment; call your’ lawyers and dispose of your property by gift, keeping back not so much as one jewel; then send to the bazaar and buy the orange cloths, the staff, and the water-pot of a sanyâsi, bid farewell to your family, change your name, and go out in the world as a pauper ascetic; stick to this long enough, as the Buddha did, as Dayânand Saraswati and thousands more have in our own times, and you will find ample recompense for your self-denial and your spiritual striving.” A smile came over his refined features as he found how easily he had allowed himself to be entrapped, and he showed no annoyance when I laughed at his dilemma. But I told him, with that affectionate frankness which our long personal friendship permitted, that unless he was [3] brave enough to try the sovereign remedy for world-troubles which the Sages had prescribed, and which the experience of hundreds of generations had verified, he had better not think of treading, the Higher Path: the Buddha had said in the Dhammapada: “One is the road that leads to wealth, another the road that leads to Nirvana”; and more familiar to the Christian world is that story in St. Matthew of the rich young man who put to the Christ the very same question as my friend had just put to me, and got the same answer, with the result that “when the young man heard that saying, he went away sorrowful: for he had great possessions”. Moreover, I told my valued friend that if I were in his place I should not run away from my wealth, but should stop and put it to the helping of the world, by which he would get further along the Path than by any amount of asceticism he might attempt. For unless, as the Hindu Shastras declare, he could come to look on gold as no more excellent than clay, the vivid recollection of his relinquished splendor would haunt him always: though he plunged into the heart of the forest, or shut himself up in a Himalayan cavern, or descended to the bottom of the sea, the very air about him would vibrate with the tinkle and chink of gold and silver coin. It is good proof of the innate sweetness of the Prince’s, character that he has borne me no ill-will for my sharp frankness. In fact, these millionaires and princes get so much sickening sycophancy that, as a rule, they relish instead of resenting plain advice which has no [4] ulterior motive. But sometimes they think you a fool to pretend to despise the idol of their lifelong worship!

Một trong những người bạn Ấn Độ kiên định nhất của tôi từ thuở ban đầu cho đến nay là Ngài Maharajah Jotendro Mohan Tagore khả kính, khách chủ của H. P. B., của tôi, và của các nhà Thông Thiên Học khác. Ngài là một người [2] học vấn cao và tư tưởng sâu, rất yêu thích các cuộc đàm đạo tôn giáo. Như mọi người Ấn khác, Ngài yêu lý tưởng cổ xưa về đời sống tinh thần, về mặt lý thuyết, công nhận rõ ràng sự trổi vượt bao la của nó so với đời sống thế tục. Tôi nhớ một cuộc chuyện trò chúng tôi có vào một ngày, trong một lần thăm viếng Calcutta muộn hơn, về chính chủ đề này, và tiếng cười thiện ý mà tôi đã bật ra vì Ngài. Ngài đã rất nghiêm túc hỏi tôi liệu tôi có thể chỉ cho Ngài con đường hiệu nghiệm nhất để đạt tới cảnh giới cao cả ấy ngay khi còn tại thế hay không. “Dĩ nhiên,” tôi đáp, “có một cách mà Ngài có thể thử, với khả năng khá chắc sẽ đạt mục đích.” “Đó là gì? Xin hãy nói cho tôi,” Ngài vô tư hỏi. “Vậy thì, hãy đánh xe về nhà trong cỗ xe lộng lẫy của Ngài; bước lên phòng tiếp khách bằng cẩm thạch, nơi những chùm đèn bạc, các bức họa, tranh ghép, và các thứ khác biến nó thành một thư phòng vương giả thực thụ; gọi các luật sư của Ngài đến và phân phát tài sản bằng quà tặng, không giữ lại dù chỉ một món trang sức; rồi cho người ra chợ mua tấm y màu cam, cây gậy và bình nước của một sanyâsi, từ biệt gia đình, đổi tên, và ra đi vào đời như một khất sĩ bần hàn; kiên trì với điều ấy đủ lâu, như Đức Phật đã làm, như Dayânand Saraswati và hàng ngàn người nữa đã làm ngay trong thời của chúng ta, thì Ngài sẽ tìm thấy phần thưởng xứng đáng cho sự hy sinh tự thân và nỗ lực tinh thần của mình.” Một nụ cười thoáng hiện trên những nét mặt thanh tú của Ngài khi Ngài nhận ra mình đã dễ dàng để cho bị “giăng bẫy” thế nào, và Ngài không hề tỏ vẻ khó chịu khi tôi cười tình huống nan giải của Ngài. Nhưng tôi nói với Ngài, bằng sự thẳng thắn thân tình mà tình bằng hữu lâu năm cho phép, rằng trừ phi Ngài [3] đủ can đảm để thử phương dược tối thượng chữa mọi nỗi khổ trần thế mà các Hiền triết đã kê đơn, và kinh nghiệm của hàng trăm thế hệ đã xác nhận, thì tốt hơn Ngài đừng nghĩ đến việc bước lên Con Đường Cao Cả: Đức Phật đã nói trong Kinh Pháp Cú: “Một đường dẫn đến phú quý, một đường dẫn đến Niết-bàn”; và quen thuộc hơn với thế giới Kitô giáo là câu chuyện trong Phúc Âm theo Thánh Matthew về chàng thanh niên giàu có nêu ra với Đức Christ đúng câu hỏi mà bạn tôi vừa hỏi tôi, và nhận cùng một câu trả lời, với kết cục là “khi người thanh niên nghe điều ấy, chàng buồn rầu bỏ đi: vì chàng có nhiều của cải”. Hơn nữa, tôi nói với vị thân hữu quý trọng rằng nếu tôi ở vào địa vị của Ngài, tôi sẽ không bỏ chạy khỏi sự giàu sang, mà sẽ ở lại để dùng nó giúp đời; bằng cách ấy Ngài sẽ tiến xa hơn trên Đường Đạo hơn bất kỳ mức độ khổ hạnh nào mà Ngài có thể thử. Vì trừ phi, như các Kinh điển Ấn giáo tuyên bố, Ngài có thể xem vàng chẳng hơn gì đất sét, thì ký ức sống động về huy hoàng đã buông bỏ sẽ ám ảnh Ngài mãi: dẫu Ngài có lặn vào tim rừng sâu, hay khóa mình trong hang động Hi Mã Lạp Sơn, hay dìm xuống đáy biển, thì bầu không khí quanh Ngài vẫn sẽ rung lên tiếng leng keng của vàng bạc châu báu. Đó là bằng chứng tốt đẹp về bản tính hiền hậu tiềm sinh của vị Vương tôn rằng Ngài không hề mang ác cảm với tôi vì sự thẳng thắn sắc sảo ấy. Thực vậy, các nhà đại phú và vương giả thường phải chịu đựng quá nhiều sự nịnh bợ đến phát chán, nên nói chung, họ thích [4] chứ không giận những lời khuyên thẳng thắn, không mang ý đồ hậu vận. Nhưng đôi khi họ lại nghĩ bạn là kẻ ngốc khi tỏ ra khinh chê thần tượng thờ phụng suốt đời của họ!

On the 23rd (July) I again lectured to an over-flowing audience in the Calcutta Town Hall—whose bad acoustic qualities entitle it to be called “Orators’ Despair”—on the theme of “Social Reform on Aryan Lines”. Two more lectures were given the next day, and on the 26th I left for Darjeeling, that peerless Himalayan station whose name now recalls the awful catastrophe with which it has recently been visited as the result of a cloud burst, cyclone, and earthquake. At the time of my visit, however, it was in the height of its picturesqueness and beauty, and I had a most enjoyable time. With my host, Babu Chhatra Dhar Ghose, local manager of the Burdwan Maharajah’s estates, and President of our local T. S. Branch, I made a return call on that wonderful explorer of Tibet, Sarat Chandra Das, C.I.E., Rai Bahadur, Tibetan Interpreter to Government, etc., etc., who showed me the priceless MSS. and printed books he had brought back from Lhasa, and introduced me to a venerable Lama-Pandit, with whose help he was compiling for Government a Tibetan-English Lexicon, which, when finished, will be his chief literary monument. At the house of my old friend, Babu Srinath Chatterji, Secretary of our Branch, we met Gyen-Shapa, a Tibetan Lama-Ascetic, who has long practised Yoga and developed certain of the siddhis. Srinath Babu had seen him that very morning, while “sitting [5] in dhârana,” i.e., meditating, rise from the ground and remain, self-supported; in the air. I visited him twice more, and, with Srinath as interpreter, managed to get a good deal of interesting information from him about Tibetan lamaseries and lamas. There is, in almost all lamaseries, a school of Yoga under an adept teacher, and the feat of self-levitation is not uncommon among them. The height to which one can rise in the air depends upon his natural temperament in part, and largely on the length of practical training. His own Teacher could rise as high as the walls of the lamasery, and several of his fellow-pupils could levitate themselves higher than himself. A strict discipline, physical and moral, must be followed, and great attention is paid to diet. Such phenomena are performed in private, vulgar display being strictly forbidden. Needless to say, the curiosity of casual travellers, and especially of the beef-eating, peg-drinking European explorer, is not gratified: search as they may, they would never see a real adept, to know him as such, as the cases of Rockhill, Captain Bower, the Due d’Orleans, and Mr. Knight [1]1 sufficiently attest.

Ngày 23 (tháng Bảy) tôi lại diễn thuyết trước một cử tọa chật kín ở Tòa Thị chính Calcutta—mà chất lượng âm học tồi đến mức xứng được gọi là “Nỗi Tuyệt Vọng của Các Diễn Giả”—về chủ đề “Cải cách Xã hội theo đường hướng Arya”. Hôm sau tôi nói thêm hai buổi, và ngày 26 tôi lên đường đi Darjeeling, trạm nghỉ Hi Mã Lạp Sơn vô song, mà cái tên nay gợi lại thảm họa khủng khiếp vừa giáng xuống nơi ấy do vỡ mây, cuồng phong và địa chấn. Tuy vậy, vào thời điểm tôi ghé thăm, nơi ấy đang ở độ đẹp đẽ nên thơ nhất, và tôi có những ngày vô cùng thú vị. Cùng với chủ nhà của tôi, Babu Chhatra Dhar Ghose, quản lý địa phương các điền trang của Maharajah Burdwan, và là Hội trưởng Chi bộ T.S. địa phương của chúng ta, tôi đến đáp lễ vị lữ khách kỳ tài xứ Tây Tạng, Sarat Chandra Das, C.I.E., Rai Bahadur, Phiên dịch tiếng Tây Tạng cho Chính phủ, v.v..., người đã cho tôi xem các bản thảo và sách in vô giá mà Ông mang về từ Lhasa, và giới thiệu tôi với một Lạt-ma–Pandit khả kính, cùng vị ấy Ông đang biên soạn cho Chính phủ một Tự điển Tây Tạng–Anh, khi hoàn thành sẽ là công trình văn học chính của Ông. Tại nhà người bạn cũ của tôi, Babu Srinath Chatterji, Thư ký Chi bộ của chúng ta, chúng tôi gặp Gyen-Shapa, một Lạt-ma khất sĩ Tây Tạng, người đã lâu tu tập Yoga và phát triển một số siddhi. Chính Srinath Babu đã thấy ông ta sáng hôm đó, khi đang “ngồi [5] trong dhârana”, tức là tham thiền, mà từ mặt đất nổi lên và lơ lửng tự thân trong không khí. Tôi đến thăm ông ấy thêm hai lần nữa, và, với Srinath làm thông dịch, đã thu thập được khá nhiều thông tin thú vị về các tu viện và các Lạt-ma Tây Tạng. Ở hầu hết các tu viện đều có một trường Yoga dưới sự chỉ dạy của một chân sư, và công phu tự thăng không không phải là hiếm. Độ cao mà người ta có thể nâng mình lên phụ thuộc phần nào vào khí chất tự nhiên, và phần lớn vào thời lượng rèn luyện thực hành. Thầy của ông ta có thể nổi lên cao bằng các bức tường của tu viện, và một số đồng môn của ông ta có thể thăng không cao hơn chính ông. Một kỷ luật nghiêm khắc, cả về thân lẫn về đức, phải được tuân thủ, và rất chú trọng đến trai nghi. Những hiện tượng như vậy được thực hành kín đáo, phô trương thô thiển bị nghiêm cấm. Nói cũng thừa rằng tính tò mò của khách bộ hành tình cờ, nhất là của những nhà thám hiểm Âu châu ăn thịt bò và nốc rượu mạnh, sẽ chẳng bao giờ được thỏa mãn: dẫu lùng kiếm thế nào, họ cũng sẽ chẳng bao giờ thấy một chân sư đích thực để nhận biết Ngài là ai, như các trường hợp của Rockhill, Đại úy Bower, Công tước xứ Orléans, và ông Knight1 đã đủ làm chứng.

Sarat Babu’s Narrative of a Journey to Lhasa in 1881-82 is one of the most interesting books of travel I have ever read It teems with accounts of dangers faced, obstacles surmounted, life imperilled, new peoples met, and plans and projects fully achieved, yet is free from bombast and vain boasting; in this, resembling that [6] peerless book of Nansen’s, Farthest North [2] Leaving his home at Darjeeling, November 7th, 1881, he crossed the Himalayas by the Kangla Chhen pass on the 30th of November, after undergoing great hardships, and reached Tashi-Lhunpo, the capital of the Tashi Lama [3] (whose Master of Ceremonies one of our own revered Mahatmas is). After living here several months, he managed to get permission to visit Lhasa, was received by the Dalai Lama, collected a large number of the most important Buddhist works, and, surmounting innumerable obstacles on the return journey to the Sikkim frontier, reached his home on 27th December, 1882. I noticed in the shape of his head a peculiarity which struck me in Stanley, the African explorer, viz., a marked fulness of the temples over the articulations of the jaw bones, a sign to physiognomists of hardiness of constitution, the power of resisting disease. Sarat Babu’s whole body conveys the impression of physical toughness, and the reading of his Report to Government after meeting him, fully corroborated my first [7] impressions in this respect. His thorough mastery of the Tibetan tongue, helped by his semi-Mongolian type of face, enabled him to travel to Tashi-Lhunpo and Lhasa in the character of a Tibetan Doctor. I had ample proof of his fluency myself when he served me as interpreter in my talk with the learned Lama-Pandit and with the head cooly, who had taken our beloved Damodar from Darjeeling to the distant station in Sikkim, where he was to meet with the high functionary who had promised to take him safely to the place where our Mahatma was to take charge of him as resident pupil.

Tường thuật của Sarat Babu về một Chuyến đi Lhasa năm 1881–82 là một trong những sách du hành thú vị nhất mà tôi từng đọc. Sách đầy ắp chuyện đối mặt hiểm nguy, vượt chướng ngại, liều mình, gặp gỡ những dân tộc mới, và những kế hoạch, dự án được hoàn tất trọn vẹn, vậy mà không chút khoa trương hay khoe khoang; về điểm này, nó giống với [6] cuốn sách vô song của Nansen, Cực Bắc Xa Nhất. Rời nhà ở Darjeeling ngày 7 tháng 11 năm 1881, Ông vượt dãy Hi Mã qua đèo Kangla Chhen ngày 30 tháng 11, sau khi chịu đựng nhiều gian khổ, và tới Tashi-Lhunpo, kinh đô của Tashi Lama (mà một trong các vị Chủ lễ của Ngài là một trong các Chân sư khả kính của chúng ta). Sau khi lưu ngụ ở đây mấy tháng, Ông xoay sở để được phép thăm Lhasa, được Dalai Lama tiếp kiến, sưu tập một số lượng lớn các tác phẩm Phật học quan trọng nhất, và, sau khi vượt qua muôn vàn trở ngại trên đường trở về biên giới Sikkim, Ông về tới nhà ngày 27 tháng 12 năm 1882. Tôi nhận thấy ở hình dạng đầu của Ông một đặc điểm cũng gây ấn tượng với tôi nơi Stanley, nhà thám hiểm châu Phi, đó là phần thái dương nổi rõ ở vùng khớp xương hàm, dấu hiệu với các nhà tướng mạo học về cơ địa bền bỉ, sức đề kháng bệnh tật. Thân hình của Sarat Babu toát ra cảm giác dẻo dai, và khi đọc Bản tường trình của Ông gửi Chính phủ sau khi gặp Ông, tôi càng [7] xác nhận ấn tượng ban đầu này. Nhờ hoàn toàn tinh thông tiếng Tây Tạng, lại được hỗ trợ bởi nét mặt bán Mông Cổ, Ông có thể đi tới Tashi-Lhunpo và Lhasa trong vai một Lương y Tây Tạng. Tôi đã có bằng chứng dồi dào về khả năng lưu loát của Ông khi Ông làm thông dịch cho tôi trong cuộc trò chuyện với vị Lạt-ma–Pandit uyên bác và với người phu khuân vác trưởng, người đã đưa người thân yêu của chúng ta là Damodar từ Darjeeling đến trạm xa ở Sikkim, nơi y sẽ gặp chức sắc cao cấp đã hứa đưa y đến nơi an toàn để vị Chân sư của chúng ta tiếp nhận y làm môn sinh cư trú.

On 1st August I left delightful Darjeeling and its bracing air, and plunged down the mountain by steam tram to the terminus station of Siliguri, where the mercury stood so high as to make the contrast very trying. I lodged and bad my meals at the station that evening and the next two days, and enjoyed the novel experience of lecturing on “Theosophy and Religion” to a good audience on the railway platform! I then proceeded towards Noakhally, in the Gangetic Delta; but was stopped at Khulna, where I had to wait for the boat. Being a perfect stranger in those parts I had anticipated a quiet and uneventful evening, but a clerk who had read my name on my portmanteau, having spread the news, my room at the dâk bungalow was soon crowded with educated Bengalis, who stopped until 10 o’clock to talk philosophy, after which they went home to dine, and left me free to do the same. Rising at 4 the next morning, I left by the [8] boat for Barisâl, and after a pleasant sail down the: river Bairab, which reminds one of the low-banked rivers of Ceylon, I got there at 5 p.m. and was put up at the dâk bungalow. Again I was caught by some local Hindu gentlemen, and pressed to give a lecture at 7 p.m. in the large schoolhouse. It only needed the sending around of tom-tom beaters and criers to collect a crowd, as I found on entering the hall, where fully a thousand people had gathered. My discourse was interpreted into Bengali by a Calcutta graduate named Aswini Kumar Dutt, with a fluency and fire that amazed me. I have always ranked him among the three or four very best interpreters I have had in India.

Ngày 1 tháng Tám tôi rời Darjeeling dễ mến và luồng không khí mát rượi ấy, lao xuống núi bằng xe lửa hơi nước đến ga cuối Siliguri, nơi thủy ngân trong nhiệt kế lên cao khiến sự tương phản trở nên rất thử thách. Tối hôm đó và hai ngày kế tiếp, tôi trọ và dùng bữa ở nhà ga, và có một trải nghiệm mới lạ là diễn thuyết về “Thông Thiên Học và Tôn giáo” cho một cử tọa khá đông ngay trên sân ga! Rồi tôi tiếp tục theo hướng Noakhally, ở châu thổ sông Hằng; nhưng bị kẹt tại Khulna, nơi tôi phải chờ tàu. Là người xa lạ hoàn toàn ở vùng ấy, tôi tưởng sẽ có một buổi tối yên ả không chuyện gì xảy ra, nhưng một người thư ký thấy tên tôi trên chiếc rương và loan tin, thế là phòng tôi tại dâk bungalow nhanh chóng chật kín các trí thức Bengali, họ ở lại đến 10 giờ để đàm đạo triết học, rồi về nhà dùng bữa, để tôi cũng được rảnh rang mà ăn. Sáng hôm sau, tôi dậy lúc 4 giờ, rời đi [8] bằng thuyền đến Barisâl, và sau một chuyến xuôi dòng dễ chịu trên sông Bairab, con sông gợi nhớ những sông bờ thấp ở Tích Lan, tôi đến nơi lúc 5 giờ chiều và vào trọ tại dâk bungalow. Một lần nữa, tôi bị các quý ông Ấn giáo địa phương “bắt cóc”, và được khẩn khoản mời diễn thuyết lúc 7 giờ tối tại ngôi trường lớn. Chỉ cần cho người đánh trống và rao đi loan báo là đủ để gom được một đám đông, như tôi thấy khi bước vào hội trường, nơi có tới cả ngàn người đã tụ hội. Bài diễn thuyết của tôi được thông dịch sang tiếng Bengali bởi một cử nhân Calcutta tên là Aswini Kumar Dutt, với sự lưu loát và nhiệt huyết làm tôi kinh ngạc. Tôi luôn xếp ông vào hạng ba bốn người thông dịch hay nhất mà tôi có tại Ấn Độ.

The Noakhally boat failing to arrive, I was obliged to stop over at Barisâl. My rooms were crowded all day with inquirers, and I had to give a second lecture the next evening to an audience quite as large as the first one. It was on emerging from the hall, and while standing in the verandah, that I heard the reverberations of that mysterious phenomenon called the “Barisâl Gun”. Not one of the explanations thus far put forth by scientific men seems to explain the wonderful noises. Elsewhere [4] have discussed at sufficient length the Barisâl Gun, and the several scientific and quasi-scientific attempts at explanation. I think their palpable insufficiency was shown. For the benefit of later subscribers, it may be briefly stated that the “Gun” sounds are identical as to loudness [9] and vibratory quality with those of a cannot-shot. They have the same peculiarity of suddenness of explosion without any premonitory rumbling to prepare the listener for what is to come. In my case the first explosion came so suddenly and so loud thought that I thought a gun had been fired in the village, and within a few hundred yards of me. My first supposition was that an 8 o’clock gun was habitually fired there as at other stations where there are military cantonments, but on looking at my watch I found 8.45, so that could not be the case. Presently a second report came, and then, at short intervals, five more, making seven in all. Upon asking what this all meant I was, for the first time in my life, told about the “Barisâl Gun”. Bearing in mind the physical peculiarity of the sounds, the reader will be amused to learn that the following explanations have been gravely offered: the action of the tide (on the beach of the Bay of Bengal, 65 miles away); the surf; the crumbling of river banks (alluvial and only a few feet high); the crash of falling cliffs (non-existent); the impact of wind in caves or hill corners (non-existent anywhere near Barisâl); echoes reverberating from rock boards (“in the mind’s eye, Horatio”); the escape of steam puffs from submarine volcanoes; electrical detonations. Even the explosion of fireworks at local weddings has been mentioned, but not the bursting of soda-water bottles—a last hint which is respectfully offered without charge to materialistic scientific guesser. While it is easy to say what the phenomenon is not, [10] it is not at all easy to say what it is, but I am best satisfied with the theory that the Barisâl Gun is due to the action of elementals, and has some relation to an event or events which probably occurred in that vicinity long ago, certainly beyond the memory of the present generation, for old men told me that they had been hearing them ever since their boyhood. Sometimes they occur in the rainy season, sometimes not, as in the present case, when the day had been sunshiny, and the atmosphere seemed too clear and the stars too bright to tempt one to adopt the theory of an electric disturbance. I noted the fact that I heard seven distinct explosions at regular intervals, and that the number was said to be unusual; which to my mind, as an occultist, seemed to mark a purpose on the part of some controlling Intelligence to give me a friendly salute. And no more guns were heard that night, nor the next day or night, nor so long as I was in the place. I tried two or three times to have a serious talk with H. P. B. about the matter, but each time something happened to interrupt our conversation. She once said it was an exhibition of the power of the “Sons of Fohat,” and referred me to The Secret Doctrine, but her ideas seemed to me so vague that I at last put the subject aside, and there it lies ready for the study of Mr. Leadbeater and his fellow-students of the Finer Forces of Nature. A couple of years or so ago, the matter was referred to in Nature by Dr. Francis Darwin, who asked for information. I sent him the back numbers of the Theosophist in question, [11] “but have heard nothing, from him since. Perhaps he was shocked by the other contents of our heterodox publication.

Do tàu đi Noakhally không đến, tôi buộc phải lưu lại Barisâl. Phòng tôi suốt ngày đông nghẹt người tìm hiểu, và tối hôm sau tôi phải diễn thuyết lần thứ hai cho một cử tọa đông không kém buổi đầu. Chính khi bước ra khỏi hội trường, đang đứng ở hiên, tôi nghe thấy những tiếng dội của hiện tượng bí ẩn gọi là “Barisâl Gun”. Không một lời giải thích nào mà các nhà khoa học đã đưa ra cho đến nay dường như có thể giải minh những âm thanh kỳ diệu đó. Ở nơi khác tôi đã bàn đủ dài về Barisâl Gun, và những nỗ lực giải thích khoa học và bán khoa học khác nhau. Tôi nghĩ sự thiếu thuyết phục hiển nhiên của họ đã được chỉ ra. Để tiện cho độc giả đến sau, có thể nói ngắn gọn rằng các tiếng “Súng” có độ lớn [9] và phẩm chất rung động y hệt tiếng đại bác. Chúng có cùng đặc tính nổ bất chợt, không có bất kỳ tiếng ì ầm báo trước nào để chuẩn bị cho người nghe điều sắp đến. Với trường hợp của tôi, phát nổ đầu tiên đến đột ngột và vang đến nỗi tôi tưởng có khẩu pháo nào đó bắn trong làng, cách tôi chỉ vài trăm thước. Suy đoán đầu tiên của tôi là ở đây hẳn có lệ bắn súng 8 giờ như những trạm có doanh trại quân sự khác, nhưng xem đồng hồ thì đã 8 giờ 45, vậy nên không phải. Chẳng mấy chốc phát thứ hai vang lên, rồi, với quãng nghỉ ngắn, thêm năm phát nữa, tổng cộng bảy. Hỏi ra chuyện gì vậy, lần đầu tiên trong đời tôi nghe nói về “Barisâl Gun”. Ghi nhớ những đặc điểm vật lý của âm thanh, độc giả sẽ bật cười khi biết rằng người ta đã nghiêm túc đưa ra các lời giải thích sau đây: tác động của thủy triều (trên bãi biển Vịnh Bengal, cách 65 dặm); sóng vỗ; sạt lở bờ sông (chỉ là phù sa, cao vài bộ); vách đá sụp đổ (không hề tồn tại); gió dồn trong hang động hay góc núi (không hề có quanh Barisâl); tiếng vọng dội lại từ vách đá (“trong con mắt tâm, hỡi Horatio”); hơi nước phụt ra từ núi lửa dưới biển; tiếng nổ điện. Thậm chí có người nhắc đến pháo bông trong các đám cưới địa phương, nhưng không ai nói tới chuyện vỡ chai sô-đa—một gợi ý cuối cùng tôi kính cẩn dâng tặng miễn phí cho các nhà đoán mò khoa học duy vật. Trong khi dễ nói hiện tượng ấy không phải là gì, [10] thì lại rất khó nói nó là gì; nhưng tôi thỏa lòng nhất với thuyết cho rằng Barisâl Gun là do tác động của các hành khí, và có liên hệ nào đó với một sự kiện hay nhiều sự kiện có lẽ đã xảy ra trong vùng ấy từ lâu, chắc chắn là vượt quá ký ức của thế hệ hiện tại, vì các cụ già nói với tôi rằng họ đã nghe thấy nó từ thuở thiếu thời. Đôi khi chúng xảy ra vào mùa mưa, đôi khi không, như trường hợp này, khi cả ngày trời nắng, bầu khí dường như quá trong và sao quá sáng để có thể viện đến thuyết nhiễu động điện. Tôi ghi nhận rằng tôi nghe bảy tiếng nổ rõ rệt ở những quãng đều nhau, và rằng con số ấy được nói là bất thường; điều này, theo trực giác của một nhà huyền học, dường như biểu lộ một dụng ý từ phía một Trí tuệ kiểm soát nào đó muốn dành cho tôi một loạt chào mừng thân hữu. Và đêm ấy không nghe thêm tiếng súng nào nữa, cũng không nghe vào ngày hôm sau hay đêm sau đó, hay suốt thời gian tôi còn ở nơi này. Tôi đã hai ba lần cố gắng để có một cuộc nói chuyện nghiêm túc với H. P. B. về việc này, nhưng lần nào cũng có chuyện cản trở khiến câu chuyện đứt đoạn. Có lần Bà nói đó là một phô diễn năng lực của “những Con của Fohat”, và chỉ tôi đọc Giáo Lý Bí Nhiệm, nhưng ý tưởng của Bà đối với tôi có vẻ quá mơ hồ, nên rốt cuộc tôi gác chủ đề sang bên, và để đó sẵn chờ ông Leadbeater và các bạn học của ông về Những Lực Vi Tế của Tự Nhiên nghiên cứu. Cách đây chừng dăm năm, vấn đề được nhắc đến trên tạp chí Nature bởi Tiến sĩ Francis Darwin, người đã hỏi thông tin. Tôi gửi cho ông các số báo Theosophist liên quan, [11] nhưng từ đó chẳng nghe gì ở ông. Có lẽ ông bị sốc bởi những nội dung “dị giáo” khác của ấn phẩm chúng tôi.

The Noakhally boat still not arriving, I was able to form a local Branch with excellent members under the name of the Barisâl T.S. It finally transpired that the missing boat had been disabled and was lying up for repairs, so I had to give up my Noakhally visit for the present and return to Khulna, whence I continued on to Calcutta, reaching there on the 12th. The next morning I took boat for Midnapur, but my visit was cut short by the steamer grounding in the canal and having to wait for the next tide, so the two lectures on the programme had to be given at one public meeting. I spoke on “The Spiritual Life” and “Karma,” and I was kept on my legs two hours and a half. A special discourse to Hindu boys was given on the next morning, and at 8 p.m. I left by the same steamer for Calcutta. On the 17th I lectured at the Oriental Institute, and the same evening sailed by the “Euphrates” for Chittagong. She proved to be as buoyant as a cork, and rolled so badly that we had scarcely a moment of quiet. We reached our destined port on the third day and a grand reception was given me. The principal native gentlemen came aboard to welcome me, and the jetty presented a very gay appearance with the picturesquely dressed crowd that had come to cheer their white friend. On the 21st, at 7 a.m., I lectured to 1,500 people on [12] “Theosophy,” and at 5 p.m., to as large a crowd, on “Body, Mind, and Soul”. There was a third lecture on the 22nd and some admissions to membership. The next day I went by country rowing-boat to Pahartali, an island village 16 miles distant, the inhabitants all Buddhists, of the race of Maghs. The house assigned to me was a hut of bamboo frame and matting sides, the roof thatched with grass. The Mahamuni T.S. was formed the next day, with Babu Krishna Chandra Chowdry, a well-known leader and reformer of that community, as Secretary and Treasurer. The Maghs are the descendants of Arakanese fathers and Bengali mothers, the country having been conquered by an invading army from Arakan, who remained there and settled down. My lecture at Pahartali was given in a shamiana, or open pavilion, which has great advantages in tropical climates, where as much air as possible is indispensable for comfort. Many people present, I was told, had come in from distances of 30 and 40miles to hear what I had to say about their religion. There is a gigantic image of the Buddha in the local temple, which has a royal diadem on its head, a feature I had never seen in any of my travels in Buddhist countries. True, one sees crowned images of the Bodhisattva, i.e., the entity who finally evolved up to the Buddhahood, in the Kapilavastu birth, but never of the perfected World-Savior. I, myself, have an artistically modelled brass statuette of the Bodhisattva as King of the Tusita heaven, sitting in Padmasan, which was given me by the Tibetan Envoy to the [13] Indian Government, who was here some years ago, and who had received it from the Dalai Lama himself. There is a copper plate beneath the figure, on which the conventional symbol of the Diamond Throne is engraved, and behind it, in the hollow of the image, a roll of Tibetan paper on which the Dalai Lama wrote with his own hand some prayer-charms or mantrams for the protection of the handsome young envoy from all harm from evil-wishers. This figure wears many jewels, on head, neck, breast, upper arm, wrist, waist, and ankles—huge ones in the old Indian style. The hair is built up in a towering mass with pendent locks hanging over the shoulders and down to the upper arm. The hands are laid together in the lap, and support a flowery ornamented vase or statuette, showing the “Three Gems” of Buddhist symbology. Altogether it is a precious curio for our little museum at Adyar.

Tàu Noakhally vẫn chưa đến, tôi lập được một Chi bộ địa phương với những hội viên ưu tú, lấy tên là Barisâl T.S. Rốt cuộc hóa ra con tàu bị hỏng và đang nằm chờ sửa chữa, nên lúc này tôi đành bỏ chuyến đi Noakhally và quay về Khulna, từ đó tiếp tục đến Calcutta, tới nơi ngày 12. Sáng hôm sau tôi đi thuyền tới Midnapur, nhưng chuyến thăm bị rút ngắn vì tàu hơi nước mắc cạn trong kênh phải đợi con nước kế, nên hai bài diễn thuyết trong chương trình phải gộp lại nói trong một buổi công cộng. Tôi thuyết về “Đời sống Tinh thần” và “Nghiệp quả,” và bị giữ đứng suốt hai tiếng rưỡi. Sáng hôm sau có một bài nói riêng cho các nam sinh Ấn giáo, và lúc 8 giờ tối tôi đi bằng con tàu hơi nước ấy về Calcutta. Ngày 17 tôi diễn thuyết tại Viện Đông Phương, và tối cùng ngày lên tàu “Euphrates” đi Chittagong. Con tàu lắc như cái nút chai, nên chúng tôi hầu như không có một phút yên. Ngày thứ ba chúng tôi tới cảng định đến và tôi được đón tiếp long trọng. Các vị hào mục bản xứ lên tàu nghênh tiếp tôi, và cầu tàu rực rỡ với đám đông ăn vận sặc sỡ đến reo mừng người bạn da trắng của họ. Ngày 21, lúc 7 giờ sáng, tôi thuyết cho 1.500 người về [12] “Thông Thiên Học,” và lúc 5 giờ chiều, cũng cho đám đông lớn như vậy, về “Thân, Trí, và Linh hồn”. Buổi thứ ba diễn ra ngày 22 và có vài người gia nhập Hội. Hôm sau tôi đi bằng thuyền chèo bản địa tới Pahartali, một làng trên đảo cách 16 dặm, dân cư đều là Phật tử, thuộc chủng Magh. Căn nhà dành cho tôi là một túp lều khung tre vách phên, mái lợp cỏ. Chi bộ Mahamuni T.S. được lập hôm sau, với Babu Krishna Chandra Chowdry, một nhà lãnh đạo và cải cách nổi tiếng của cộng đồng ấy, làm Thư ký kiêm Thủ quỹ. Người Magh là hậu duệ của cha người Arakan và mẹ người Bengali; đất nước này từng bị một đạo quân xâm lược từ Arakan chinh phạt, họ ở lại và an cư nơi đây. Bài diễn thuyết của tôi tại Pahartali được đọc dưới một shamiana, tức một nhà bạt mở, vốn rất tiện ở xứ nhiệt đới, nơi càng nhiều gió càng dễ chịu. Tôi được cho biết nhiều người tới dự đã đi từ quãng cách 30–40 dặm để nghe điều tôi nói về tôn giáo của họ. Trong chùa địa phương có một tượng Đức Phật khổng lồ, trên đầu đội vương miện, một đặc điểm tôi chưa từng thấy trong các chuyến du hành ở xứ Phật giáo. Thật ra, người ta có thể thấy tượng đội vương miện của Bồ-tát, tức thực thể rốt cuộc tiến hóa đến quả vị Phật, trong tiền thân Kapilavastu, nhưng chưa bao giờ là của Đấng Cứu Thế hoàn mãn. Bản thân tôi có một tượng đồng nhỏ tạo hình rất nghệ thuật của Bồ-tát như là Vua cõi trời Tusita, ngồi kiết già (Padmasan), do Đặc sứ Tây Tạng [13] bên Chính phủ Ấn tặng tôi trong chuyến Ngài đến đây mấy năm trước, mà Ngài đã nhận tượng ấy từ chính Dalai Lama. Có một tấm kim loại đồng dưới chân tượng, trên đó khắc biểu tượng quy ước của Kim Cương Tọa, và phía sau, trong khoang rỗng của tượng, là một cuộn giấy Tây Tạng trên đó Dalai Lama đã tự tay viết vài bùa nguyện hay mantram để che chở cho chàng đặc sứ trẻ tuấn tú khỏi mọi hãm hại của kẻ ác tâm. Tượng đội nhiều châu báu—trên đầu, cổ, ngực, bắp tay, cổ tay, thắt lưng và cổ chân—những món to bản theo lối Ấn xưa. Mái tóc được bới cao, những lọn rủ qua vai xuống đến bắp tay. Hai tay đặt chồng trong lòng, đỡ một bình hoa văn tinh xảo hay một tiểu tượng, thể hiện “Ba Viên Ngọc” trong biểu tượng học Phật giáo. Tóm lại, đó là một cổ vật quý cho bảo tàng nhỏ của chúng ta ở Adyar.

As Noakhally could not be reached by boat from Barisâl, and as the earnest friends there had well deserved an official visit, I went thither from the other side of the Delta, driving in an open spring-cart through a heavy rain, through a tiger-infested country part of the way, and going on thence all night in a common springless ox-cart, so shore in the body that to sleep I had to stick my legs out in front as far as my knees. At 4 a.m. we got to Mahajan’s Haut, where we took a heavy country boat up the river, in which I had twenty-eight hours for sleeping and resting before reaching Noakhally at 11 a.m. on the 27th.

Vì không thể đến Noakhally bằng thuyền từ Barisâl, và vì các bạn hữu hăng hái ở đó rất xứng đáng có một chuyến thăm chính thức, tôi đi đến nơi ấy từ phía kia của châu thổ, ngồi xe lò xo mui trần giữa cơn mưa nặng hạt, đi qua một quãng đường có hổ rình rập, và tiếp tục cả đêm trên một xe bò bản địa không nhíp, thân xe hẹp đến mức muốn ngủ tôi phải duỗi chân thẳng ra phía trước đến tận đầu gối. Lúc 4 giờ sáng chúng tôi tới Mahajan’s Haut, nơi chúng tôi xuống một chiếc thuyền bản địa hạng nặng xuôi dòng, tôi có hai mươi tám giờ để ngủ và nghỉ trước khi đến Noakhally lúc 11 giờ sáng ngày 27.

[14]

[14]

My reception was extremely cordial, and I was most hospitably entertained. At 3 p.m. I received and replied to addresses in Bengali and English at the T.S. Hall, a neat structure in bamboo poles and chicks, or screens, and thatched roof, which had cost the Branch Rs. 600. A lecture was given at 4.30 under the chairmanship of the local (European) Magistrate, in the Native Theatre, and in the evening a representation was given of that touching old Indian drama, Prahlad Charita, by amateurs who displayed real histrionic talent. But my self-possession was sorely tried by a Prelude composed in my honor, which embodied a striking incongruity. The curtain rose upon a forest scene, in which was seen an ancient Rishi (Bharata Rishi) sitting in deep meditation beneath a tree. Anon are heard joy-songs, and from the two sides enter a number of Chelas, who cluster about the Yogî and recall him to consciousness. Asked why they are singing so joyously, he is told that “Colonel Olcott, the friend of the Aryan religion, has come to the place”. The Yogî answers that this is the fulfilment of ancient prophecy and the dawn of a brighter day for India. He then rises, takes a flower-wreath from the hand of a disciple (sishya), comes forward to the footlights, and beckoning to me to approach, throws the garland over my neck, uttering a blessing at the same time. The, comical anachronism involved seemed to have struck no one but myself and the European Magistrate sitting beside me. But the intention to show the national love for myself was so evident that the inclination to [15] laugh was overcome by a feeling of gratitude for this friendly ceremony.

Tôi được đón tiếp hết sức nồng hậu, và được đãi ngộ rất chu đáo. Lúc 3 giờ chiều tôi nhận và đáp từ các diễn văn Bengali và Anh tại Hội quán T.S., một kiến trúc xinh xắn bằng cột tre và phên, mái lợp rơm, mà Chi bộ đã tốn 600 rupee để dựng. Một bài diễn thuyết lúc 4 giờ 30 dưới quyền chủ tọa của vị Thẩm phán (Âu châu) địa phương, tại Nhà hát Bản địa, và buổi tối là vở diễn vở kịch cảm động cổ Ấn, Prahlad Charita, do những nghệ sĩ không chuyên biểu diễn mà tài nghệ lại rất xuất sắc. Tuy nhiên, sự bình thản của tôi đã bị thử thách nặng vì một Khúc Dạo Đầu soạn để vinh danh tôi, chứa đựng một sự bất nhất đậm nét. Màn mở ra cảnh rừng, nơi một vị Rishi cổ (Bharata Rishi) ngồi nhập định sâu dưới gốc cây. Chợt vang khúc ca hoan hỉ, và từ hai cánh gà bước ra một số đệ tử, họ quây quần quanh vị Du-già và đưa Ngài trở lại ý thức. Hỏi vì sao họ ca hát vui tươi như vậy, Ngài được biết rằng “Đại tá Olcott, bạn của tôn giáo Arya, đã đến nơi này”. Vị Du-già đáp rằng ấy là sự ứng nghiệm của lời sấm cổ và là bình minh của một ngày sáng hơn cho Ấn Độ. Rồi Ngài đứng dậy, nhận vòng hoa từ tay một môn sinh (sishya), bước ra sát đèn sân khấu, ngoắc tôi tiến lại, choàng vòng qua cổ tôi, đồng thời ban phúc. Sự “lệch thời” khôi hài dường như chỉ mỗi tôi và vị Thẩm phán Âu châu ngồi cạnh để ý. Nhưng dụng ý bày tỏ tình cảm dân tộc dành cho tôi hiển nhiên quá rõ, nên khuynh hướng [15] bật cười đã nhường chỗ cho niềm tri ân đối với nghi lễ thân ái này.

Another lecture was given on the next day and my rooms were crowded with inquirers, of whom a number, including Nobin Chandra Sen, the great Bengali poet, joined the Society. At night I embarked on the steamer at Taktakally after a drive of 6 miles, and on the 29th got to Barisâl, slept on the Khulna-Barisâl boat, spent the next day on the river, took train for Calcutta, and got there at 5 a.m. on the 31st.

Hôm sau có thêm một bài diễn thuyết và phòng tôi chật người hỏi han, trong số đó có nhiều người, kể cả Nobin Chandra Sen, nhà thơ Bengali lớn, gia nhập Hội. Đêm đến tôi lên tàu ở Taktakally sau khi đi xe 6 dặm, và ngày 29 đến Barisâl, ngủ trên tàu Khulna–Barisâl, cả ngày hôm sau trên sông, rồi đi tàu hỏa về Calcutta, tới nơi lúc 5 giờ sáng ngày 31.

On 1st September there was a meeting of the Ladies’ T.S. at the house of Mr. Janaki Nath Ghosal, a very well-known and influential Calcutta gentleman, whose wife I have spoken of elsewhere as one of the loveliest and most intellectual women of modern India. Miss Anna Ballard, the American journalist, then living at Calcutta, accompanied me.

Ngày 1 tháng Chín có cuộc họp của Chi bộ Phụ nữ T.S. tại nhà ông Janaki Nath Ghosal, một vị nổi tiếng và có ảnh hưởng ở Calcutta, người mà người vợ của Ông, tôi đã nói ở nơi khác, là một trong những phụ nữ đoan trang và thông tuệ bậc nhất của Ấn Độ hiện đại. Cô Anna Ballard, nữ ký giả Mỹ, lúc ấy đang sống ở Calcutta, đi cùng tôi.

One morning I went with my host, our long-tried, faithful colleague, Babu Norendronath Sen, to the Esplanade to see him feed his pets. I have often seen people in the public gardens of Paris feeding the birds, but Norendro Babu feeds every morning the cows, crows, mynas, and other birds, the fishes in the ponds, and the ants which swarm in the grass of the wide Esplanade. The animals and birds all seem to know his carriage, and gather together to his usual feeding-ground, and the fishes swim towards him in the pond. This thing has been going on for years, quietly and unostentatiously, unheralded by the reporter, unnoticed by the crowd. One could hardly find a [16] stronger example of the tender compassion sometimes felt by men towards the lower creatures.

Một buổi sáng, tôi cùng chủ nhà của mình, đồng sự trung kiên lâu năm của chúng ta, Babu Norendronath Sen, ra Esplanade xem Ông cho “thú cưng” ăn. Tôi đã nhiều lần thấy người ta cho chim ăn ở các vườn công cộng Paris, nhưng Norendro Babu mỗi sáng đều cho bò, quạ, sáo và các loài chim khác ăn, cho cá trong ao và cho lũ kiến bò trong thảm cỏ rộng trên Esplanade ăn. Muông thú và chim dường như đều biết cỗ xe của Ông, và tụ về chỗ Ông thường cho ăn, cá cũng bơi lại gần Ông trong ao. Việc này cứ thế diễn ra nhiều năm, âm thầm và khiêm nhường, không phóng viên loan tin, chẳng ai chú ý. Khó mà tìm [16] một minh họa cảm động hơn về lòng trắc ẩn dịu dàng đôi khi con người dành cho loài dưới mình.

My long tour was now nearing its close, the only portion to be covered being the Coromandel Coast. On 4th September I sailed in the B. I. steamer “Khandalla” for Bimlipatam, and after stops at Gopalpur and Calingapatam, got there on the evening of the 8th. Landing on the 9th, I found the Maharajah of Vizianagram’s landau waiting for me and drove to his capital, where the Dewan, P. Jagannathraz, gave me hospitality. The next day I was kindly received at the Palace by His Highness, who put a gilt garland around my neck and engaged in a long discussion on religious matters. He presided at my lectures on that day and the next, and kept me talking with him privately in his library from 3 until 8 p.m. on the question of the existence of the soul, about which he seemed rather skeptical. Before my departure from Vizianagram, he sent me a generous present for the Headquarters expense account, and wished me every success for our movement. His carriage took me to the seaport of Vizagapatam, a distance of 36 miles. My host there was Mr. Jaggarow, son of the late A. V. Nursingrow, F.R.A.S., F.R.G.S., the owner of a very fine, well-equipped astronomical observatory, which since his death has been given to the Government of India, and is now one of the chief meteorological and astronomical stations. At his house I assisted at an alchemical experiment by a native doctor named Bulushu Soobbiah,

Chuyến lưu diễn dài của tôi nay sắp kết thúc, phần duyên nợ còn lại chỉ là Duyên hải Coromandel. Ngày 4 tháng Chín tôi xuống tàu B.I. “Khandalla” đi Bimlipatam, và sau khi ghé Gopalpur và Calingapatam, tới nơi tối ngày 8. Lên bờ ngày 9, tôi thấy xe landau của Maharajah Vizianagram chờ sẵn và tôi đi đến thủ phủ của Ngài, nơi ông Dewan, P. Jagannathraz, chiêu đãi tôi. Hôm sau tôi được thân ái tiếp tại Cung điện bởi Đức Ngài, Ngài tròng vòng hoa mạ vàng lên cổ tôi và trao đổi dài lâu về các vấn đề tôn giáo. Ngài chủ tọa các bài diễn thuyết của tôi trong ngày hôm đó và hôm sau, và giữ tôi lại nói chuyện riêng trong thư viện của Ngài từ 3 giờ đến 8 giờ tối về vấn đề sự tồn tại của linh hồn, điều mà Ngài dường như còn hoài nghi. Trước khi tôi rời Vizianagram, Ngài gửi tặng một khoản hào phóng cho quỹ chi tiêu của Trụ sở, và chúc mọi thành tựu cho phong trào của chúng ta. Xe của Ngài đưa tôi ra hải cảng Vizagapatam, cách 36 dặm. Chủ nhà của tôi ở đó là ông Jaggarow, con trai cố A. V. Nursingrow, F.R.A.S., F.R.G.S., chủ nhân một đài thiên văn rất đẹp và trang bị tốt, mà sau khi Ông qua đời đã được hiến cho Chính phủ Ấn, và nay là một trong những trạm khí tượng và thiên văn trọng yếu. Tại nhà Ông, tôi chứng kiến một thực nghiệm giả kim của một lương y bản địa tên Bulushu Soobbiah,

[17] who claimed to be able to reduce beaten silver to a white powder, for use as a medicine. Not having any silver ready, we decided to experiment on tin. The process was as follows: He made on a piece of canvas a layer of margosa leaves, half an inch thick; on that was a layer of the same thickness of saffron; on this the tin was placed, and the whole was then rolled into a sort of sausage and tied around with stout twine. This was burnt for two hours in a heap of dried cow-dung fuel, four cubits in circumference and one cubit high. Upon taking out the “sausage” we found that some of the tin was calcined, but most of it only melted. The alchemist said that the fuel was not of good quality, else all the tin would have been calcined.

[17] người tuyên bố có thể chuyển bạc dát mỏng thành bột trắng, dùng làm dược liệu. Vì không có sẵn bạc, chúng tôi quyết định thử với thiếc. Quy trình như sau: Ông ta trải trên một mảnh vải một lớp lá neem dày nửa tấc; trên đó là một lớp nghệ dày chừng ấy; đặt thiếc lên, rồi cuộn cả lại thành một thứ như “xúc xích” và buộc chặt bằng dây đay to. Cuộn này được đốt trong hai giờ trong một đống phân bò khô làm chất đốt, chu vi bốn thước, cao một thước. Khi lấy “xúc xích” ra, chúng tôi thấy một phần thiếc đã bị nung hóa (calcined), nhưng phần lớn chỉ chảy ra. Nhà giả kim nói rằng chất đốt không tốt, nếu không tất cả thiếc đã phải bị nung hóa.

Rajah Gajapati Row, a well-known figure in the Madras Presidency, lives at Vizagapatam, and we exchanged friendly visits.

Rajah Gajapati Row, một nhân vật nổi tiếng ở Phủ Madras, sống tại Vizagapatam, và chúng tôi có đến thăm hữu nghị lẫn nhau.

The two lectures I gave in this place attracted very large audiences, including an unusually large number of Europeans, who seldom attend Hindu meetings of the sort on account of the marked antipathy of the two races. On my way from the shore to the offing to board the “Ethiopia,” on which I had booked my passage to Cocanâda, I had a narrow escape from what might have been a tragic accident. The surf Tan very high, and three big rollers had to be crossed in the masulah boat in which I was. These boats are famous for surf work along the Indian coast, being not nailed or pinned, but tied together with coir (cocoanut fibre) yarn and caulked in the seams.

Hai bài diễn thuyết tôi đọc tại nơi này thu hút những cử tọa rất đông, trong đó có số người Âu châu nhiều khác thường, những người vốn hiếm khi dự các cuộc họp Ấn giáo như vậy bởi sự antipathy rõ rệt giữa hai chủng tộc. Trên đường từ bờ vào ngoài khơi để lên tàu “Ethiopia,” tôi đã đặt chỗ đi Cocanâda, tôi suýt gặp một tai nạn có thể bi thảm. Sóng lừng dâng rất cao, và có ba con dồn lớn phải vượt trong chiếc thuyền masulah mà tôi ngồi. Những chiếc thuyền này nổi tiếng với việc vượt sóng dọc bờ biển Ấn, vì chúng không ghép bằng đinh hay chốt, mà buộc bằng sợi xơ dừa (coir) và được chèn kín các đường ghép.

[18]

[18]

Ordinarily they are very safe, and I have made many trips in them between ship and shore. But this time, after we had passed the first roller and were atop of the second, the boat’s prow was lifted so high up and the roller slipped from under her so quickly that she came down on the water with a tremendous blow, and one of the planks split from the cutwater to the bilge and the water began to pour in. All the rowers but one were, flung into the bottom and lay there in a mess together. I shouted to them to pick themselves up and go back to their oars, tore the calico covers off the stern cushions and made them stuff them into the crack, set half the men to bailing while the other half tugged desperately to get the boat’s head around, did my best with the steering oar, put a safety-belt on Babula, and had him tie the handle of my cashbox to the boat, so that if she foundered there would be a rather better chance of recovering it and the Society’s rupees inside, which were my chief concern just then. We finally got the boat around, rode over the roller a second time, and, by dint of very great exertions, just managed to beach her, half full of water. Another boat being soon procured, I started again, and this time reached the steamer without mishap. What made the accident most serious of all was that the sea swarmed with sharks, of which I saw some on our way out to the vessel.

Thông thường chúng rất an toàn, và tôi đã nhiều lần đi bằng chúng giữa tàu và bờ. Nhưng lần này, sau khi vượt qua con dồn đầu và đang ở đỉnh con thứ hai, mũi thuyền bị hất lên quá cao và con dồn tuột khỏi thuyền quá nhanh khiến nó rơi xuống mặt nước với một cú nện khủng khiếp, một tấm ván lườn nứt toác từ sống mũi đến tận đáy, và nước bắt đầu ồ vào. Tất cả tay chèo trừ một người bị hất nhào xuống đáy, nằm lăn lóc một đám. Tôi quát họ gượng dậy trở về vị trí chèo, xé vỏ bọc calico của các đệm đuôi thuyền và bắt họ nhét vào khe nứt, phân nửa người thì tát nước, nửa kia ghì chèo xoay mũi thuyền, tôi cố hết sức với mái lái, đeo đai an toàn cho Babula và bảo nó buộc quai hòm tiền của tôi vào thuyền, để nếu thuyền chìm thì còn có cơ may khôi phục lại hòm và số rupee của Hội bên trong, vốn là mối bận tâm chính của tôi lúc ấy. Rốt cuộc chúng tôi xoay được thuyền lại, cưỡi qua con dồn lần thứ hai, và bằng một nỗ lực cực lớn, chỉ vừa kịp đưa thuyền cập bãi, nửa thuyền đầy nước. Chẳng bao lâu có thuyền khác, tôi lại lên đường, và lần này đến tàu an toàn. Điều khiến tai nạn càng nguy hiểm hơn cả là biển đầy rẫy cá mập, mà tôi thấy dăm con trên đường ra tàu.

Cocanâda, the birthplace of T. Subba Row, was reached the next morning, and after the usual lectures, receptions, and admissions to membership, I continued [19] my journey southward by canal, landing at Rajah-mundry, where I found a deep interest in our movement to prevail. During my stay of four days in the place, crushing audiences attended my lectures, in spite of the fact that the committee charged for admission, in the hope of avoiding the great rush of the first day. A large and strong Branch was formed, with one of the best men in India as President.

Cocanâda, nơi sinh của T. Subba Row, được cập bến vào sáng hôm sau, và sau những buổi diễn thuyết, tiếp tân, và kết nạp như thường lệ, tôi tiếp tục [19] hành trình xuống miền Nam theo kênh, lên bờ tại Rajahmundry, nơi tôi nhận thấy phong trào của chúng ta đang được quan tâm sâu. Suốt bốn ngày ở nơi đây, cử tọa đông nghẹt dự các buổi diễn thuyết của tôi, bất chấp việc Ban Tổ chức thu tiền vào cửa với hy vọng tránh cảnh chen lấn dữ dội trong ngày đầu. Một Chi bộ lớn và mạnh được thành lập, với một trong những người ưu tú nhất Ấn Độ làm Hội trưởng.

On the 24th I left by special boat for Bezwada, and spent the whole day and half the next slowly moving down the Godavery Canal. Friends intercepted me at Ellore, the beginning of the Krishna Canal, and induced me to lecture and to form a new Branch, under the name of the “Gupta Vidya T. S.” Bezwada was reached on the 28th, and stopping there two days I organised a Branch, after which I moved on by bullock-cart to Guntur, an important place, the scene of much missionary activity. Among my callers after my first lecture was the Rev. Mr. S., a Presbyterian missionary, whose case was a very hard one. For two years past he and his wife had been persecuted by the other missionaries, their pay stopped, and every effort made to drive them out of India, because, on discovering that the senior missionary had been behaving immorally with some of the women converts, they had tried their best to have him tried and removed. The policy of expediency, however, prevailed over that of justice, and these two honest Christian workers had been reduced to the direst straits. He had worked at carpentering and other odd jobs and she had done [20] sewing, but there were days when they had to go hungry. The Hindu community held the worthy couple in respect and told me these facts, so I had my cook prepare a good dinner for them, and sent it over and invited myself to come and help eat it. They received me with affectionate kindness as a compatriot and sympathiser, and Mrs. S. expressed the wish that I might leave the error of my beliefs and join them as a missionary; a proposal which made me laugh, and make them the counter-proposal that they should disconnect themselves from a party where such iniquities could prevail, and join me as earnest Theosophists!

Ngày 24 tôi rời đi bằng thuyền riêng đến Bezwada, và dành trọn ngày và nửa hôm sau để xuôi chầm chậm Kênh Godavery. Bằng hữu đón tôi tại Ellore, điểm đầu của Kênh Krishna, và mời tôi diễn thuyết cũng như lập một Chi bộ mới mang tên “Gupta Vidya T.S.”. Bezwada tới ngày 28, dừng lại hai ngày tôi tổ chức một Chi bộ, sau đó đi tiếp bằng xe bò đến Guntur, một nơi quan trọng, có nhiều hoạt động truyền giáo. Sau bài thuyết đầu, một trong những vị đến thăm tôi là Mục sư S., một nhà truyền giáo phái Trưởng Lão, với một hoàn cảnh rất éo le. Hai năm qua, ông và vợ bị các nhà truyền giáo khác bức hại, cắt lương, và tìm mọi cách tống họ ra khỏi Ấn Độ, vì khi phát hiện vị mục sư cao niên có hành vi vô đạo với một số phụ nữ tân tòng, họ đã kiên quyết đòi truy tố và bãi chức ông ta. Nhưng chính sách “dễ dãi” lại thắng “công chính,” và hai người Công giáo lương thiện này bị đẩy vào túng quẫn. Ông đã làm mộc và các việc vặt, bà may vá, nhưng có những ngày họ phải nhịn đói. Cộng đồng Ấn giáo kính trọng cặp vợ chồng đáng mến ấy và kể cho tôi nghe, vậy nên tôi bảo bếp nấu một bữa ăn ngon gửi sang, và còn xin được sang chung vui. Họ đón tiếp tôi với lòng thương mến như một đồng bào và người đồng cảm, và bà S. bày tỏ mong muốn tôi bỏ những “lầm tưởng” của mình để gia nhập họ làm nhà truyền giáo; lời mời khiến tôi bật cười, và tôi đáp lại bằng đề nghị rằng họ nên tách khỏi một phe nhóm nơi những điều bất chính như vậy có thể hoành hành, và tham gia với tôi như những nhà Thông Thiên Học nhiệt thành!

On 3rd October I presided at the anniversary of our local Branch’s Sanskrit School, which was established by the good Mr. C. Sambiah Chetty, and had then 193 pupils, who had gained the unusual proportion of 97 and 82½ per cent of passes, as against the average of 75 per cent. The same day I left for Bezwada by bullock-cart, and thence went on by special boat on the canal to Masulipatam, where I arrived on the 5th. My reception here was enthusiastic. The boat was bedecked with flowers, I landed under a leaf-pandal or canopy, there were ornamental arches, complimentary addresses, and jubilation generally. That evening I lectured to 3,000 people, among whom were all the local padris (missionaries), and to another monster audience on the next day, after which I formed the Masulipatam T. S. On the 7th I was honored with visits by the Revs. Stone, Clarke, and Peel, of the Church of England Mission, and enjoyed a friendly [21] talk of three hours with them. An address to Hindu boys about their religion closed my public labors, and my last night at Masulipatam was spent on my mats on the stone quay, where I slept the sweet sleep of the weary. On the 8th I embarked on the B. I. coaster “Umballa,” got caught in the tail of a cyclone, and had a nasty wet and comfortless time of it. But the next morning we were off Madras Harbor, and I had hoped that my troubles were over for the year, but the sea was so rough that we could not enter, and had to steam off and on the whole day, in sight of our haven, yet unable to reach it. The next morning, however, I got ashore, and with a feeling of immense relief saw once more our lovely Adyar, on the 262nd day from that on which the tour began. Whom should I find there but Mr. Alexander Fullerton, of New York, who had come to help me as Private Secretary. How that scheme prospered will be seen in the next chapter. Meanwhile, the reader who has followed me throughout my journeyings will appreciate the significance of the entry of October 11th in my Diary—”Blessed rest”.

Ngày 3 tháng Mười tôi chủ tọa lễ kỷ niệm của Trường Sanskrit thuộc Chi bộ địa phương của chúng ta, do ông C. Sambiah Chetty lập nên, khi đó có 193 học sinh, đã đạt tỷ lệ đỗ bất thường là 97 và 82½ phần trăm, so với mức trung bình 75 phần trăm. Ngày ấy tôi rời Bezwada bằng xe bò, và từ đó đi thuyền riêng theo kênh tới Masulipatam, đến nơi ngày mồng 5. Ở đây tôi được đón tiếp nồng nhiệt. Thuyền được trang hoàng bằng hoa, tôi cập bờ dưới một mái mandap lá, có cổng vòm trang trí, diễn văn chào mừng, và niềm hân hoan nói chung. Tối ấy tôi diễn thuyết cho 3.000 người, trong đó có tất cả các vị padris (nhà truyền giáo) địa phương, và hôm sau cho một cử tọa “khổng lồ” nữa, sau đó tôi lập Chi bộ Masulipatam T.S. Ngày 7, tôi vinh hạnh được các Mục sư Stone, Clarke, và Peel của Hội Truyền giáo Anh giáo đến thăm, và có một cuộc [21] đàm đạo thân ái suốt ba giờ với họ. Một bài nói chuyện với nam sinh Ấn giáo về tôn giáo của các em khép lại các công việc công cộng của tôi, và đêm cuối ở Masulipatam tôi trải chiếu ngủ trên bến đá, một giấc ngủ ngọt lành của người mệt mỏi. Ngày mồng 8 tôi lên tàu duyên hải B.I. “Umballa,” vướng vào cái đuôi của một cơn lốc xoáy, và có một khoảng thời gian ướt át và khó chịu. Nhưng sáng hôm sau chúng tôi đã ở ngoài khơi Cảng Madras, và tôi đã hy vọng rằng gian truân của năm nay thế là hết, nhưng biển động quá mạnh khiến chúng tôi không thể vào bờ, đành chạy tới chạy lui suốt ngày, bến đỗ ở ngay trước mắt mà không thể chạm tới. Tuy vậy sáng hôm sau tôi cũng lên bờ, và với cảm giác nhẹ nhõm khôn tả, tôi lại thấy Adyar thân yêu của chúng ta, vào ngày thứ 262 kể từ ngày chuyến lưu diễn khởi hành. Và ai đang ở đó nếu không phải là ông Alexander Fullerton, đến từ New York, người đã đến giúp tôi làm Thư ký riêng. Chuyện kế hoạch ấy tiến triển ra sao sẽ thấy trong chương kế. Trong khi ấy, độc giả đã theo chân tôi suốt các nẻo hành trình hẳn sẽ thấm thía ý nghĩa của dòng ghi ngày 11 tháng Mười trong Nhật ký của tôi—“Phúc thay được nghỉ ngơi”.

CHAPTER II—CHƯƠNG II

THE FEARS OF H. P. B.—NHỮNG NỖI LO SỢ CỦA H. P. B.

(1887)

(1887)

THOSE who follow me through all these incidents of past years are virtually watching the building up of the structure of the Theosophical Society, course by course, from its foundation-stone to its finials; the slow but sure erection of the modern temple of Theosophy. They know, as outsiders do not, who were its architects and builders, and what it would have been without them.

Những ai theo chân tôi qua tất cả các biến cố của những năm qua thực ra đang chứng kiến việc dựng xây cấu trúc của Hội Thông Thiên Học, từng hàng lớp, từ viên đá móng đến đỉnh tháp; công trình chậm rãi nhưng vững chắc của ngôi đền Thông Thiên Học hiện đại. Họ biết, điều mà người ngoài không biết, ai là kiến trúc sư và người xây dựng của nó, và nó sẽ thành ra thế nào nếu thiếu họ.

When I look through my papers of those days of stress and storm, and read the letters written me from exile by Madame Blavatsky, the solemn feeling comes over me that the binding mortar of its blocks was stiffened by the blood of her heart, and in her anguish were they laid. She was the Teacher, I the pupil; she the misunderstood and insulted messenger of the Great Ones, I the practical brain to plan, the right hand to work out the practical details. Under the Hindu classification, she would be the teaching Brahmin, I the fighting Kshattriya; under the Buddhist one, she would be the Bhikshu, I the working Dyâkya or [23] Laic. It is painful beyond words to read her correspondence from Europe, and see how she suffered from various causes, fretting and worrying too often over mares’ nests. Out of the sorest grievances I select the defection of T. Subba Row; the admission into the Theosophist by the Sub-Editor (whom she had herself appointed) of articles which she considered antagonistic to the trans-Himalayan teachings; the refusal of Subba Row to edit the Secret Doctrine MSS., contrary to his original promise, although she had had it type-copied at a cost of £80 and sent me for that purpose; his wholesale condemnation of it; the personal quarrels of various European colleagues; the war between Mr. Judge and Doctor Coues in America; the threatened renewal of persecution against her if she returned t6 India, as we begged her to do; her lack of time for writing for a great Russian review; from which she derived the money for her support [5] and the consequent necessity for depending upon the liberality of some London friends; and, lastly, the discovery of the black treachery of two Western women whom she had regarded as her friends. She unravelled plots to oust us, to turn me away from Adyar and put another in my place, and to use her as the centre of a new Society to be formed in Europe, and again and again warned me to be on my guard. Undoubtedly there was some [24] such scheme latent in the minds of some, but it never came to aught, for two reasons, viz., (1) she refused point-blank to lead any Society that did not recognise Adyar as its central head; and (2) I was not the sort of person to be easily driven away from a post where I had been put on guard by the Masters, and by them bidden to hold it to the end of my life. She begs me, on the score of the “real, more than fraternal affection” she has for me, her “internal, not external, loyalty” to me as her “colleague, chum, and co-worker in Master’s work,” to break up the Indian part of the conspiracy. In another letter she writes: “I love you: more than anyone on earth save Master, my friendship and brotherly affection for you are eternal; and if you believe me capable of going back on you, let alone the T. S., then—you are a—.” Her use of the word “eternal” has a deeper meaning than appears on the surface, as those who have traced back the mutual relations of us two in past lives (both men in them all) will understand. Suffice it to say that this is not the first time that we have been closely associated in the evolutionary paths of our two entities. One day, in despair on the discovery of a case of treachery which had nearly cost her the friendship of some of our ablest colleagues, she writes that here is one more case going to prove that we two ought to place absolute trust in no third party whomsoever, but to stick together all the stronger as each new case of disloyalty shows itself.

Khi giở lại giấy tờ của tôi vào những ngày phong ba bão táp ấy, và đọc những lá thư Bà Blavatsky viết cho tôi từ nơi lưu đày, một cảm thức trang nghiêm trùm kín tôi rằng hồ vữa gắn kết các khối đá đã được làm cứng bởi máu trái tim của Bà, và chính trong nỗi khổ đau của Bà mà chúng được đặt nên. Bà là vị huấn sư, tôi là môn sinh; Bà là sứ giả bị hiểu lầm và bị lăng mạ của Các Đấng Cao Cả, tôi là khối óc thực hành để hoạch định, là cánh tay phải để xử lý các chi tiết công việc. Theo phân loại Ấn giáo, Bà là vị Bà-la-môn giảng dạy, tôi là người Kshattriya chiến đấu; theo phân loại Phật giáo, Bà là vị Bhikshu, tôi là người thợ Dyâkya hay [23] cư sĩ. Thật đau đớn ngoài lời để đọc thư từ của Bà ở Âu châu, và thấy Bà khổ vì muôn duyên cớ, băn khoăn và phiền muộn quá thường vì những “tổ kiến ngựa”. Trong số những mối phiền lớn nhất, tôi chọn việc T. Subba Row thoái lui; Phó Biên tập (do chính Bà bổ nhiệm) đưa vào tạp chí Theosophist những bài mà Bà xem là nghịch với giáo lý siêu–Hy Mã Lạp Sơn; Subba Row từ chối hiệu đính bản thảo Giáo Lý Bí Nhiệm, trái với lời hứa ban đầu, dẫu Bà đã cho đánh máy sao với chi phí 80 bảng và gửi cho tôi để mục đích ấy; ông ta phủ nhận toàn bộ tác phẩm; chuyện bè nhóm cá nhân của vài đồng sự Âu châu; cuộc chiến giữa ông Judge và Bác sĩ Coues ở Mỹ; lời hăm dọa tái khởi bách hại Bà nếu Bà trở về Ấn, như chúng tôi khẩn thỉnh Bà làm; việc Bà thiếu thời giờ viết cho một tạp chí Nga lớn, từ đó Bà có tiền sinh hoạt, và hệ quả là cần phải nhờ cậy sự giúp đỡ của vài thân hữu ở London; và sau hết là phát giác sự phản trắc đen tối của hai phụ nữ phương Tây mà Bà từng xem là bạn. Bà đã gỡ mối những âm mưu nhằm lật đổ chúng tôi, đuổi tôi khỏi Adyar và đặt người khác vào chỗ tôi, và dùng Bà làm trung tâm cho một Hội mới lập ở Âu châu, và Bà đã nhiều lần cảnh báo tôi phải cảnh giác. Chẳng hồ nghi gì có [24] một kế hoạch như vậy manh nha trong tâm trí ai đó, nhưng nó chẳng bao giờ thành vì hai nguyên do: (1) Bà thẳng thừng từ chối lãnh đạo bất kỳ Hội nào không thừa nhận Adyar là trung tâm đầu não; và (2) tôi không phải hạng người dễ bị đẩy ra khỏi vị trí nơi tôi đã được các Chân sư đặt làm người canh giữ, và được Các Ngài dặn phải giữ đến cuối đời. Bà nài tôi, nhân “tình cảm thực sự, hơn cả huynh đệ” mà Bà dành cho tôi, “sự trung thành nội tâm, không phải bề ngoài” của Bà với tôi như “đồng sự, bằng hữu, và cộng tác viên trong công việc của Chân sư,” rằng tôi hãy phá vỡ phần Ấn Độ của âm mưu ấy. Ở một lá thư khác Bà viết: “Tôi thương anh hơn mọi người trên đời, ngoại trừ Chân sư; tình bằng hữu và tình huynh đệ của tôi dành cho anh là vĩnh cửu; và nếu anh cho rằng tôi có thể quay lưng với anh, chứ chưa nói đến với T.S., thì—anh là một kẻ—.” Việc Bà dùng chữ “vĩnh cửu” có một ý nghĩa sâu xa hơn bề mặt, như những ai đã lần theo mối duyên tương giao của hai chúng tôi trong các kiếp trước (cả hai đều là nam nhân trong tất cả) sẽ hiểu. Chỉ cần nói rằng đây không phải lần đầu chúng tôi gắn bó khít khao trên những nẻo tiến hóa của hai thực thể chúng tôi. Một ngày kia, trong cơn tuyệt vọng khi phát giác một vụ phản trắc suýt nữa khiến Bà mất tình thân của một số đồng sự ưu tú của chúng ta, Bà viết rằng đây là thêm một trường hợp nữa chứng minh rằng hai chúng ta không nên đặt lòng tin tuyệt đối vào bất kỳ bên thứ ba nào, mà hãy càng bền chặt bên nhau mỗi khi một trường hợp bất trung mới lộ diện.

In answer to my protest against her taking up the editorship of the projected new magazine, Lucifer, [25] while still nominally editor of the Theosophist, [6] she assures me most earnestly that it shall never be allowed to hurt our Magazine, but will be rather a “supplement to it,” and sent me a joint note from the founders of the Theosophical Publishing Company that the scheme “emanated from members of the London Lodge who wish to see the movement active in England, Europe, and the West generally,” and circulate the teachings which had been given them. She wrote me that to start Lucifer and publish The Secret Doctrine, a Theosophical Publishing Company, with a subscribed capital of £1,500, had been formed and registered. As, regarded her return to India, she had no heart for it if Subba Row was to be her enemy, so much had she loved and respected him; and, besides, it had been reported to her through third parties that if she returned the Government would send her to prison on some paltry pretext. This was the sheerest nonsense, but she did not realise it, so positive had been the correspondents (not Hindus, of course) of her informants. So there she was, hoping and yearning to be allowed to come back to, as she writes, at least die in, India, [7] yet unable to get out of her London engagements, torn by conflicting emotions, made almost wild by the tone of my letters, which were sometimes very harsh—as I, too, had enough to drive a more nervous man crazy—and suffering [26] from mortal diseases which made life a burden. Yet through all, like the faithful sentinel of Pompeii, she stuck to her duty, passed many of the twenty-four hours at her desk, reconciled enemies, made new friends enthusiastic, and, little by little, poured into receptive minds the sublime teachings of which she was the channel. Ah! cruel world, when shall you have another Helena Petrovna to martyrise!

Đáp lại lời phản đối của tôi về việc Bà nhận đảm nhiệm vai trò chủ bút cho tạp chí mới dự kiến, Lucifer, [25] trong khi vẫn trên danh nghĩa là chủ bút của Theosophist, Bà hết sức quả quyết trấn an tôi rằng sẽ không bao giờ để tạp chí ấy gây tổn hại cho Tạp chí của chúng ta, trái lại sẽ là một “phụ trương của nó”, và Bà gửi tôi một bức thư chung từ các sáng lập viên của Công ty Xuất bản Thông Thiên Học rằng kế hoạch ấy “xuất lộ từ các thành viên của Chi hội Luân Đôn, những người muốn thấy phong trào hoạt động tích cực ở Anh, châu Âu, và nói chung là phương Tây”, và lưu hành các giáo lý đã được truyền cho họ. Bà viết cho tôi rằng, để khởi động Lucifer và xuất bản Giáo Lý Bí Nhiệm, một Công ty Xuất bản Thông Thiên Học với vốn đăng ký 1.500 bảng đã được thành lập và đăng ký. Còn về việc trở lại Ấn Độ, Bà không còn lòng dạ nào nếu Subba Row sẽ là kẻ thù của Bà, vì Bà đã thương mến và kính trọng ông ấy quá nhiều; hơn nữa, Bà còn được báo qua bên thứ ba rằng nếu Bà trở về thì Chính phủ sẽ tống giam Bà với một cái cớ vụn vặt nào đó. Đấy là điều vô nghĩa trắng trợn, nhưng Bà đã không nhận ra, vì những người thông tín của kẻ báo tin (dĩ nhiên không phải người Hindu) đã quả quyết đến thế. Thành ra Bà ở đó, vừa hy vọng vừa khát khao được cho phép trở lại, như Bà viết, ít nhất là chết trên đất Ấn Độ, nhưng không thể thoát ra khỏi các cam kết ở Luân Đôn, bị giằng xé bởi các cảm xúc xung đột, gần như phát cuồng vì giọng điệu thư từ của tôi, vốn đôi khi rất gay gắt—vì chính tôi cũng có đủ chuyện để khiến một người yếu thần kinh hơn phát điên—và đang chịu đựng [26] những căn bệnh chí tử khiến đời sống trở thành gánh nặng. Ấy vậy mà xuyên qua tất cả, như người lính gác trung tín của Pompeii, Bà bám chặt bổn phận, dành nhiều giờ trong hai mươi bốn giờ bên bàn làm việc, hòa giải thù thành bạn, kết thêm những người bạn mới nhiệt thành, và, từng chút một, rót vào những tâm trí có khả năng tiếp nhận các giáo lý siêu việt mà Bà là kênh truyền. Ôi! thế gian tàn nhẫn, bao giờ ngươi mới lại có một Helena Petrovna nữa để hành hình!

One very sore trouble at this time was an internal agitation within the body of the London Lodge, two factions having sprung up, under the leading of some of our strongest people. An energetic group, sharing the views of the Founders as to the necessity for carrying on a vigorous public propaganda, clustered about H. P. B., while what might be called the conservative party held aloof. The uneasiness kept H. P. B. in a state of nervous excitement, which is reflected in her letters to me. Finally, a party of fourteen of the younger persons joined to form the since world-famous Blavatsky Lodge, the choice of the title being meant as a public protest of loyalty to her whose name had been so tarnished in the Coulomb-Missionary plot. Writing on 25th May (1887) from Maycot, she says: “We have fourteen of the best of the members who have now formed a new Lodge and, my protests notwithstanding, have called it the Blavatsky Lodge of the T. S.”; and later, she writes: “The Blavatsky Lodge (for which please send a charter, as it is already announced in the papers) met last night, the 7th July, at T.’s beautiful villa.”

Một rắc rối rất nhức nhối vào lúc này là sự xáo động nội bộ trong Chi hội Luân Đôn, khi hai phe hình thành dưới sự dẫn dắt của một số người mạnh mẽ nhất của chúng ta. Một nhóm năng nổ, chia sẻ quan điểm của các Sáng lập viên về sự cần thiết phải tiến hành một công cuộc tuyên truyền công khai mạnh mẽ, thì quây quần quanh H. P. B., trong khi phe có thể gọi là bảo thủ lại đứng ngoài. Sự bất an khiến H. P. B. ở trong trạng thái kích động thần kinh, điều này phản ánh trong các lá thư Bà gửi cho tôi. Sau cùng, một nhóm mười bốn người trẻ hợp lại thành Chi hội Blavatsky, nay đã nổi tiếng khắp thế giới, và việc chọn tên ấy là một sự phản kháng công khai, bày tỏ lòng trung thành với người mà tên tuổi đã bị hoen ố trong âm mưu Coulomb–Nhà truyền giáo. Viết ngày 25 tháng Năm (1887) từ Maycot, Bà nói: “Chúng tôi có mười bốn người trong số những hội viên xuất sắc nhất, nay đã lập thành một Chi hội mới và, bất chấp sự phản đối của tôi, đã gọi tên là Chi hội Blavatsky của Hội Thông Thiên Học (T.S.)”; và sau đó, Bà viết: “Chi hội Blavatsky (xin vui lòng gửi bằng khoán, vì nó đã được thông báo trên báo chí) đã nhóm họp tối qua, ngày 7 tháng Bảy, tại biệt thự tuyệt đẹp của ông T.”

[27]

[27]

But we must return to Mr. Alexander Fullerton, whose arrival at Adyar was noticed at the end of the last chapter. I had never seen him before—in the body—but knew him for one of the best and most honorable and unselfish men in the “Aryan” Branch of our Society. We had grown so rapidly and the volunteer staff at Headquarters was so small, and duty so imperiously required me to devote the greater part of each year to travel, that I could not help letting our foreign correspondence fall into arrears. All constitutional authority then centring at Adyar, it was reasonably expected that from thence teachings would flow out to our distant groups of sympathisers. In point of fact, however, there was nothing of the kind; we received them as members, credited their fees, issued their charters and diplomas, and then had to leave them to swim for themselves. Our literature was then very scanty, our travelling lecturers few: there was no Annie Besant nor Lilian Edger to fire their hearts with zeal and enrapture their ears with “word-perfect” discourses. I needed, above all, a Private Secretary, and, through Mr. Judge, this came to the knowledge of my compatriots, and Mr. Fullerton offered his services free of cost. He had been at Adyar six days when I arrived from my long northern tour, and I found him in a most uncomfortable state of mind. Instead of Adyar giving him the “blessed rest” it did me, it drove him frantic with its monotonous calm. He was like the naval engineer who cannot sleep when his engine stops, and he declared that if he [28] should stop there another month he should fear for his mental balance. It was a queer case for me, for while my dear colleague felt wretched away from the roar of New York streets, I was happiest when my long journeyings ended and I could have the absolute peace of Adyar. However, one man cannot feel for the other, and he is wise who acts accordingly. Mr. Fullerton stayed with me until the 13th, and then departed for Bombay and the mail steamer homeward, after an experience of nine days of our silence and our Spartan fare; for he was a Philadelphian, and I doubt if any native of that town of fat living and peerless house-keeping can be long content to domicile elsewhere, however resigned he may force himself to seem. It was I who urged him strongly to return to New York and help Judge build up our American movement, for I foresaw the utter hopelessness of his trying to fit into our Indian frame. I feared the worst might happen, and he was too valuable a worker to waste. He had been appointed a Delegate from American Branches to our Convention, so he left with us an official greeting and Report to read for him. In it he says: “I much regret that my sudden departure from India, necessitated by the state of my health, obliges me to leave in the hands of the Secretary a report which I should otherwise offer in person. Having come to India to place my services as Private Secretary at the disposal of the President, I was commissioned to act as delegate... After a stay at Adyar of little more than a week, my steadily increasing ill-health [29] compelled me to reluctantly abandon my post and to leave India” (Report 12th Convention, T.S., 1888.) It did not strike either of us then, as it does me now, that he was permitted to come to India just for him to get in touch with us, to take a plunge, as it were, into its all-potent aura so as to impregnate him with the occult influence, and then hurried back to work, as he has ever since then worked, with quenchless ardor and loyalty for the Great Idea; even when most of those he then followed as leaders fell off and became foes, he was “faithful found among the faithless”. Surely the ways of the Unseen Ones are inscrutable.

Nhưng chúng ta phải trở lại với Ông Alexander Fullerton, người mà việc đến Adyar đã được nhắc đến ở cuối chương trước. Tôi chưa từng gặp ông trước đây—trong xác thân—nhưng biết ông là một trong những người tốt nhất, lương thiện và vị tha nhất trong Chi hội “Arya” của Hội chúng ta. Chúng ta đã phát triển quá nhanh, đội ngũ thiện nguyện tại Trụ sở chính lại quá ít, và bổn phận đòi hỏi khắt khe tôi phải dành phần lớn mỗi năm cho các chuyến đi, nên tôi không thể tránh để cho thư từ nước ngoài của chúng ta bị tồn đọng. Khi mọi quyền uy theo hiến chương đều tập trung ở Adyar, người ta có lý để kỳ vọng rằng từ đó giáo lý sẽ tuôn chảy về các nhóm cảm tình viên xa xôi của chúng ta. Tuy nhiên, trên thực tế, không hề có chuyện như vậy; chúng ta tiếp nhận họ làm hội viên, ghi thu hội phí, cấp bằng khoán và văn bằng, rồi phải để họ tự bơi lấy. Tài liệu của chúng ta khi ấy rất ít ỏi, các giảng viên lưu động thì ít: chưa có Bà Annie Besant hay Cô Lilian Edger để thổi bùng nhiệt tâm trong tim họ và làm mê say tai họ bằng những bài diễn thuyết “chuẩn từng chữ”. Trên hết, tôi cần một Thư ký riêng, và, thông qua Ông Judge, việc này đến tai các đồng hương của tôi, và Ông Fullerton tình nguyện phục vụ không thù lao. Ông đã ở Adyar sáu ngày khi tôi trở về sau chuyến du hành dài ngày ở phương bắc, và tôi thấy ông ở trong một tâm trạng hết sức khó chịu. Thay vì Adyar đem lại cho ông “sự nghỉ ngơi phúc lành” như với tôi, nó lại làm ông phát điên với sự bình lặng đơn điệu. Ông giống như vị kỹ sư hải quân không thể ngủ khi máy của mình ngừng, và ông quả quyết rằng nếu [28] phải ở đó thêm một tháng nữa, ông sẽ sợ cho thăng bằng tinh thần của mình. Với tôi, đó là một trường hợp lạ, vì trong khi người đồng nghiệp thân mến cảm thấy khổ sở khi xa tiếng ầm ào của đường phố New York, thì tôi hạnh phúc nhất khi những chuyến đi dài kết thúc và tôi có được sự bình yên tuyệt đối của Adyar. Tuy nhiên, một người không thể cảm nhận thay cho người khác, và ai khôn ngoan thì hành động theo lẽ đó. Ông Fullerton ở với tôi đến ngày 13, rồi đi Bombay để lên tàu bưu chính về nước, sau khi trải qua chín ngày với sự tĩnh lặng và khẩu phần khắc khổ kiểu Sparta của chúng tôi; vì ông là người Philadelphia, và tôi hoài nghi liệu có người bản xứ nào của thành phố có lối sống dư dật và nữ công gia chánh vô song ấy có thể bằng lòng ở nơi khác lâu dài không, cho dù có gắng tỏ ra cam chịu đến mấy. Chính tôi đã tha thiết thúc giục ông quay về New York để giúp Judge xây dựng phong trào của chúng ta tại Mỹ, vì tôi thấy trước sự vô vọng hoàn toàn nếu ông cố gắng lắp mình vào khuôn khổ Ấn Độ của chúng ta. Tôi e điều tệ hại nhất có thể xảy ra, và ông là một người làm việc quá quý để uổng phí. Ông được bổ nhiệm làm Đại biểu từ các Chi hội Mỹ đến Đại hội của chúng ta, nên ông để lại với chúng ta một lời chào chính thức và một Bản báo cáo để đọc thay ông. Trong đó ông nói: “Tôi rất tiếc rằng việc tôi đột ngột rời Ấn Độ, do tình trạng sức khỏe chi phối, buộc tôi phải để Bản báo cáo trong tay Thư ký, đáng lẽ tôi sẽ trình bày trực tiếp. Đã đến Ấn Độ để đặt dịch vụ của tôi làm Thư ký riêng theo sự định liệu của Chủ tịch, tôi được ủy nhiệm làm đại biểu... Sau khi ở Adyar vừa hơn một tuần, tình trạng sức khỏe ngày càng suy giảm [29] buộc tôi phải miễn cưỡng bỏ nhiệm sở và rời Ấn Độ” (Báo cáo Đại hội lần thứ 12, T.S., 1888). Khi ấy, cả hai chúng tôi đều không nghĩ, như bây giờ tôi nhận ra, rằng ông được cho phép đến Ấn Độ chỉ để ông kết nối với chúng ta, như thể nhảy một cú vào hào quang đầy năng lực của nơi này để thấm nhuần nơi ông ảnh hưởng huyền bí, rồi vội vã quay lại làm việc—như từ đó đến nay ông đã làm—với nhiệt huyết không tắt và lòng trung thành với Đại Tư tưởng; ngay cả khi đa số những người mà ông khi ấy xem là lãnh tụ lần lượt rớt rơi và hóa thành đối nghịch, ông vẫn “giữ lòng trung tín giữa đám bất tín”. Quả thật, đường lối của các Đấng Vô Hình khó dò khôn lường.

The regular weekly meeting of the Executive Council was held on the Sunday after my return, and, after a peaceful session, adjourned without a row, contrary to the expectations of some, as the strained relations of H. P. B. with two of the members made the more timid ones very nervous. I felt the strain at once, but managed things so as to prevent the hatching of mischief. Mr. Oakley having declared that he knew the Police had special orders to watch us and were keeping us under close espionage, I at once took up the gauntlet, and said I should call on the Police Commissioner the next day and bring him to breakfast. I had to laugh when a Hindu colleague carne to me after the adjournment, laid his hands on my shoulders, and said: “You always bring peace!” and fell to sobbing. “Capital idea,” I exclaimed; “I shall adopt this as my motto—Ubi sum ibi pax!”—a good one for a P.T.S., it would seem.

Cuộc họp định kỳ hằng tuần của Hội đồng Chấp hành được tổ chức vào Chủ nhật sau khi tôi trở về, và, sau một phiên họp êm thấm, đã giải tán không có cãi vã, trái với kỳ vọng của một số người, vì mối quan hệ căng thẳng của H. P. B. với hai thành viên làm cho những người nhút nhát hơn rất bồn chồn. Tôi cảm nhận sức ép ngay, nhưng xoay xở để ngăn chặn việc nở ra điều bất hảo. Ông Oakley tuyên bố rằng Ông biết Cảnh sát có lệnh đặc biệt theo dõi chúng ta và đang giám sát chặt, tôi lập tức nhận lời thách thức và nói rằng hôm sau tôi sẽ đến thăm Ủy viên Cảnh sát và mời ông ấy đến ăn sáng. Tôi phải bật cười khi một đồng nghiệp Hindu đến với tôi sau khi bế mạc, đặt tay lên vai tôi và nói: “Ngài luôn đem lại hòa bình!” rồi òa lên nức nở. “Ý tưởng tuyệt vời,” tôi kêu lên; “Tôi sẽ chọn câu này làm phương châm—Ubi sum ibi pax!”—xem ra là một câu hay cho một P.T.S.

[30]

[30]

As promised, I did bring Colonel Weldon, Inspector General of Police, to breakfast a couple of days later, and had to almost force him to look at our books, including our Membership Roll. He said he had no such special orders as I spoke of, and he was perfectly satisfied that our Society had no political character whatever. We were not under suspicion, and somebody had been telling me an untruth. But I determined not to stop there. From our landing in India, eight years before, neither H. P. B. nor I had, save while at Simla, even left a card at a Government House, nor curried favor. It now seemed to me that perhaps we had made a mistake, and by keeping aloof from Europeans had made possible the spread among Hindus of such stupid rumors as the above: I would call on the Governor. So, a little later, I was granted an audience by Lord Connemara, and we spent an hour in friendly talk about Theosophy and our Society. He expressed a wish to read some of our literature, so I sent him some. The next day came an invitation to a dance at Government House, and since then I have been on the “Government House List,” i.e., am recognised as “respectable,” and receive the official cards regularly to all the important functions. To keep myself en évidence, I always show myself there for a half-hour at least, and so the last vestige of constraint between the Government and ourselves has disappeared.

Đúng như hứa, vài ngày sau tôi đưa Đại tá Weldon, Tổng Thanh tra Cảnh sát, đến ăn sáng, và gần như phải ép ông xem sổ sách của chúng tôi, kể cả Sổ danh bộ Hội viên. Ông nói ông không hề có những lệnh đặc biệt như tôi nói, và ông hoàn toàn hài lòng rằng Hội của chúng ta không có tính chất chính trị chút nào. Chúng ta không bị nghi ngờ, và ai đó đã nói dối tôi. Nhưng tôi quyết định không dừng ở đó. Từ khi chúng ta đặt chân lên Ấn Độ, tám năm trước, trừ khi ở Simla, cả H. P. B. lẫn tôi đều chưa từng, thậm chí gửi danh thiếp đến Dinh Thống đốc, cũng chẳng cầu cạnh. Nay dường như tôi thấy có thể chúng ta đã sai, và việc giữ khoảng cách với người Âu đã làm cho những lời đồn ngu ngốc như trên lan truyền trong giới Hindu: tôi sẽ đến yết kiến Thống đốc. Thế là, chẳng bao lâu, tôi được Lord Connemara cho diện kiến, và chúng tôi dành một giờ trò chuyện thân tình về Thông Thiên Học và Hội của chúng ta. Ông bày tỏ mong muốn đọc một số tài liệu của chúng ta, nên tôi gửi ông một ít. Hôm sau có thiệp mời dự dạ vũ tại Dinh Thống đốc, và từ đó tôi có tên trong “Danh sách Dinh Thống đốc”, tức là được công nhận là “đáng kính”, và đều đặn nhận thiệp mời chính thức đến tất cả các sự kiện quan trọng. Để mình luôn hiện diện dễ thấy, tôi luôn ghé qua đó ít nhất nửa giờ, và như thế, dấu vết gượng gạo cuối cùng giữa Chính phủ và chúng ta đã biến mất.

One of H. P. B.’s groundless worries was that, as she was the registered Editor and half owner of the Theosophist, it was possible for her to be put into an extremely [31] awkward position if her Sub-Editor should take it into his head to insert, while I happened to be one my travels, some paragraph of a seditious character. He being irresponsible, the whole legal responsibility would fall on her shoulders, and if a criminal case were instituted it would prevent her from returning to India. She begged me to put my name on the cover as Editor, and to make the corresponding change in the registry. So I did this latter on 1st November (1887), and thus relieved her of her anxiety.

Một nỗi lo vô căn cứ của H. P. B. là, vì Bà là Chủ bút đăng bộ và đồng sở hữu một nửa Theosophist, nên rất có thể Bà bị đặt vào một tình thế [31] cực kỳ khó xử nếu Phó Chủ bút nổi hứng chèn vào, trong khi tôi đang đi xa, một đoạn văn có tính kích động chống chính quyền. Vì ông ta không chịu trách nhiệm, nên toàn bộ trách nhiệm pháp lý sẽ đổ lên vai Bà, và nếu có khởi tố hình sự, điều đó sẽ ngăn Bà trở lại Ấn Độ. Bà nài tôi đặt tên tôi trên bìa với tư cách Chủ bút, và tiến hành thay đổi tương ứng trong việc đăng ký. Vì vậy, tôi đã làm việc sau vào ngày 1 tháng Mười Một (1887), và như thế giải tỏa nỗi lo cho Bà.

Repairs and constructions, the buying of books for the Library, and other domestic matters took up a good deal of my time. We have excellent chances at Madras for buying books at nominal prices, as there are many book sales throughout the year; some of the large British booksellers get rid of their surplus stock in this way, and there are always sales of private libraries being held. I have bought books worth £25 for less than the same number of rupees, and I do not think I have had to pay even as much as a rupee each on the average for the several thousand volumes I have put on the shelves of the Adyar Library. As for our 3,000 or so of old palm-leaf MSS., we have got them for nothing or next to nothing by the kind help of our South Indian members.

Sửa chữa và xây dựng, mua sách cho Thư viện, và các việc nội bộ khác chiếm khá nhiều thời gian của tôi. Ở Madras, chúng tôi có cơ hội tuyệt hảo để mua sách với giá tượng trưng, vì quanh năm có nhiều cuộc bán sách; một số nhà sách lớn của Anh giải tỏa hàng tồn theo cách này, và luôn có các cuộc bán thanh lý thư viện tư nhân. Tôi đã mua những cuốn sách trị giá 25 bảng với giá thấp hơn số rupee tương đương, và tôi không nghĩ mình phải trả trung bình đến một rupee cho mỗi quyển trong số vài ngàn tập mà tôi đã xếp lên kệ Thư viện Adyar. Còn khoảng 3.000 bản thảo lá cọ cổ, chúng tôi có được miễn phí hoặc gần như miễn phí nhờ sự giúp đỡ tử tế của các hội viên Nam Ấn của chúng ta.

About this time the learned Pandit N. Bhashyacharya, whom I had appointed Pandit of the Adyar Library, made a visit of inspection to the Government Oriental Library in Madras. He reported that there were 4,000 MSS there, but prophesied that within a [32] very few years our collection would surpass it. It has not even yet (in 1899) got so far as to do that as regards numbers, but we have more rare and valuable ancient works, and our collection is said to be, on the whole, a better one. In the Government Library there are hundreds of MSS. of books which are now available in print, such as Râmâyana and Mahâbhârata, and consequently the olas are of comparatively little antiquarian value. When we realise the White Bequest, we shall easily double the size of our collection, and within a short time. Meanwhile, the Library is rapidly and steadily growing; and when we are in a position to organise our contemplated staff of Pandits, copyists, and translators, the collection will be quite big enough to keep them busy. As soon as may be, I hope to begin the regular issue of texts and translations of ancient classics, for gift and exchange with other libraries and learned societies, gifts to poor Pandits and Orientalists, and sale to regular subscribers. What a pity that Mr. White could not have lived to see how much good his bequest will do!

Vào khoảng thời gian này, vị Pandit uyên bác N. Bhashyacharya, người tôi đã bổ nhiệm làm Pandit của Thư viện Adyar, đã thực hiện một chuyến thị sát Thư viện Đông phương của Chính phủ ở Madras. Ông báo cáo rằng ở đó có 4.000 bản thảo, nhưng tiên đoán rằng trong vòng [32] rất ít năm nữa, bộ sưu tập của chúng ta sẽ vượt qua. Tính đến nay (năm 1899) điều đó vẫn chưa xảy ra về mặt số lượng, nhưng chúng ta có nhiều tác phẩm cổ quý hiếm và giá trị hơn, và bộ sưu tập của chúng ta, xét toàn cục, được cho là tốt hơn. Tại Thư viện của Chính phủ có hàng trăm bản thảo của các sách nay đã có bản in, như Râmâyana và Mahâbhârata, nên những lá cọ này có giá trị khảo cổ tương đối thấp. Khi chúng ta nhận được Khoản Di tặng White, chúng ta sẽ dễ dàng nhân đôi quy mô bộ sưu tập, và trong thời gian ngắn. Trong khi đó, Thư viện đang phát triển nhanh chóng và bền bỉ; và khi chúng ta có thể tổ chức đội ngũ Pandit, người chép và dịch giả như dự định, bộ sưu tập sẽ đủ lớn để giữ cho họ luôn bận rộn. Ngay khi có thể, tôi hy vọng bắt đầu phát hành định kỳ các bản văn và bản dịch các tác phẩm cổ điển, để biếu tặng và trao đổi với các thư viện và hội học thuật khác, tặng các Pandit và các nhà Đông phương học nghèo, và bán cho các thuê bao thường xuyên. Tiếc thay, Ông White đã không sống để thấy di tặng của ông đem lại bao điều tốt đẹp!

On 24th November Pandit Bhashyacharya and I left for Bangalore to fulfil engagements for lectures. He spoke once in Telugu, once in Tamil, and, on the 30th, lectured an hour and a half in Sanskrit as fluently as if it were his own vernacular. This was to an association of Sanskrit. Pandits especially, but a large audience of Hindus listened to him with the closest attention. I gave several lectures in English, admitted many candidates to membership, presided at the [33] Anniversary celebration of our local Branch, and received daily roomfuls of inquirers. On 2nd December I was back again at Adyar, and resumed the usual round. My little compilation of Golden Rules of Buddhism, which I sent to the High Priest Sumangala for official approval, was now given to the printer and published, as also was Pandit Bhashyacharya’s Visishtadvaita Catechism.

Ngày 24 tháng Mười Một, Pandit Bhashyacharya và tôi rời đi Bangalore để hoàn tất các cam kết thuyết giảng. Ông nói một lần bằng tiếng Telugu, một lần bằng tiếng Tamil, và ngày 30, thuyết giảng trong một giờ rưỡi bằng tiếng Sanskrit lưu loát như thể đó là tiếng mẹ đẻ của ông. Bài giảng này dành cho một hội các Pandit Sanskrit, nhưng một thính chúng đông đảo người Hindu cũng lắng nghe ông hết sức chăm chú. Tôi có vài bài giảng bằng tiếng Anh, thu nhận nhiều ứng viên xin gia nhập, chủ tọa [33] Lễ kỷ niệm thành lập Chi hội địa phương của chúng ta, và mỗi ngày tiếp đầy phòng những người đến hỏi thăm. Ngày 2 tháng Mười Hai, tôi trở về Adyar, và tiếp tục vòng quay thường lệ. Tuyển tập nhỏ Những Quy tắc Vàng của Phật giáo của tôi, mà tôi đã gửi lên Tăng Thống Sumangala để xin phê chuẩn chính thức, nay được đưa cho nhà in và xuất bản, cũng như sách Vấn đáp Visishtadvaita của Pandit Bhashyacharya.

At a Government House function on 12th December I met the Hon. George N. Curzon, eldest son of the Earl of Scarsdale, who was on one of his long journeys to the East, and who seemed greatly interested in us and our ideas. He came over the next day to see our Library, and we had another long talk on Theosophical matters, to our mutual satisfaction apparently. I formed a very high opinion of his character and abilities; and now that he is back in India as Baron Curzon of Kedleston, in the post of Viceroy, this estimate has been amply borne out by his speeches and actions. Certainly, he bids fair to be the best Governor-General we have ever had, taking him all in all. When his appointment was announced in London I wrote him a friendly note of congratulation, and was very glad to learn in response that he kept a pleasant recollection of his visit and our discussions. Since I have been in India—say, twenty years—we have had no one to compare with him, in my opinion. He would make a splendid Theosophist. Let us hope he will when he retires from politics.

Tại một buổi tiếp tân ở Dinh Thống đốc ngày 12 tháng Mười Hai, tôi gặp Ngài George N. Curzon, trưởng nam của Bá tước Scarsdale, người đang trên một chuyến du hành dài ngày sang phương Đông và tỏ ra rất quan tâm đến chúng ta và các ý niệm của chúng ta. Hôm sau ông sang thăm Thư viện của chúng ta, và chúng tôi lại có một cuộc chuyện trò dài về các vấn đề Thông Thiên Học, dường như đem lại sự hài lòng cho cả hai. Tôi hình thành một đánh giá rất cao về tính cách và năng lực của ông; và bây giờ khi ông trở lại Ấn Độ với tước Nam tước Curzon xứ Kedleston, trong cương vị Phó vương, sự đánh giá này đã được các bài diễn văn và hành động của ông xác chứng dồi dào. Chắc chắn ông có triển vọng trở thành vị Toàn quyền tốt nhất mà chúng ta từng có, xét toàn diện. Khi việc bổ nhiệm ông được công bố ở Luân Đôn, tôi viết cho ông một bức thư thân tình chúc mừng, và rất mừng khi được biết trong thư hồi âm rằng ông vẫn lưu giữ ký ức dễ chịu về chuyến thăm và các cuộc thảo luận của chúng tôi. Từ khi tôi ở Ấn Độ—nói là hai mươi năm—chúng ta chưa có ai sánh được với ông, theo ý tôi. Ông ấy sẽ là một nhà Thông Thiên Học tuyệt vời. Hãy hy vọng rằng ông sẽ trở thành như vậy khi ông rời chính trường.

[34]

[34]

Among the events of the month was a flying visit, from London of Mrs. Cooper Oakley to her husband, and her departure on the 21st. On the same day the carpenters, finished the shelving in the Library and we began to transfer the books there. The first one placed on the shelves was Isis Unveiled, as being the pioneer of all our Theosophical literature.

Trong các sự kiện của tháng có chuyến thăm chớp nhoáng từ Luân Đôn của Bà Cooper Oakley với chồng, và bà lên đường ngày 21. Cũng trong ngày ấy, thợ mộc hoàn tất kệ sách trong Thư viện và chúng tôi bắt đầu chuyển sách vào đó. Cuốn sách đầu tiên đặt lên kệ là Isis Unveiled, vì đây là tác phẩm tiên phong của toàn bộ văn hiến Thông Thiên Học của chúng ta.

The delegates to the Convention now began arriving, and soon the whole of our house-room was occupied, It is always a strange sight to European friends to see the place filled at night by camping Indian Delegates. Each brings his sleeping-mat and rug and his pillow, and makes his choice of his share of floor-area to spread them on. By 10 o’clock every corner is occupied, the lights are reduced to a minimum, and the snorers make music for the rest. I have in mind two or three of these trombone-players who are entitled to the championship medal. At times when sitting at my desk upstairs in our vast house, I have heard such a row downstairs that I thought there must be quarrelling, and have gone down to suppress it; but it has proved to be only our champions, lying on their backs with open mouths, and doing their best to break up that Adyar silence which was so uncomfortable to Mr. Fullerton!

Các đại biểu dự Đại hội bắt đầu đến, và chẳng mấy chốc tất cả các phòng trong nhà chúng ta đều kín chỗ. Với bạn bè châu Âu, cảnh tượng mỗi đêm nơi đây chật kín các Đại biểu Ấn Độ cắm trại luôn là một cảnh lạ. Mỗi người mang theo chiếu, chăn và gối, rồi chọn phần diện tích sàn của mình để trải ra. Đến 10 giờ, mọi góc đều có người, đèn đóm hạ xuống tối thiểu, và những người ngáy thì “tấu nhạc” cho phần còn lại. Tôi nghĩ đến hai ba “tay thổi kèn trombone” trong số họ đáng được huy chương vô địch. Đôi khi khi ngồi ở bàn làm việc trên lầu trong ngôi nhà rộng mênh mông của chúng ta, tôi nghe phía dưới ồn đến mức tưởng có tranh cãi, và xuống để ngăn, nhưng hóa ra chỉ là các nhà vô địch ấy, nằm ngửa miệng há, và cố sức phá vỡ sự tĩnh mịch Adyar vốn khiến Ông Fullerton khó chịu đến thế!

The Maharajah of Durbhunga (F.T.S.) played us a scurvy trick by telegraphing an offer to give us Rs. 25,000 in one lump sum instead of his usual donation of Rs. 1,000 per annum, as the larger sum, if put at 4 per cent interest, would yield us that amount in [35] perpetuity. But he never paid either it or even the yearly thousand thereafter! Yet his public charities amounted to an: enormous sum during the course of his life. What was his reason for his faithlessness towards us he never explained.

Maharajah xứ Durbhunga (F.T.S.) chơi chúng tôi một vố tệ khi điện báo đề nghị tặng chúng tôi một khoản 25.000 Rs. một lần thay vì khoản hiến tặng thường niên 1.000 Rs., vì số tiền lớn hơn, nếu gửi lấy lãi 4% thì sẽ cho chúng tôi khoản [35] ấy vĩnh viễn. Nhưng ông chẳng trả khoản nào, thậm chí cả khoản nghìn hàng năm về sau cũng không! Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện công khai của ông trong cuộc đời lên đến một con số khổng lồ. Lý do ông thất tín với chúng ta, ông chưa từng giải thích.

The autumn monsoon rains should, by good rights, be over by the second week in December, but this year (1887) they altered their programme. On the 25th it rained heavily all day, the next day “this fearful storm continues and upsets our calculations sadly,” on the third the river ran bank-full and the grounds were flooded. This caused the greatest inconvenience to the Delegates, who had to go to some distance from the house for their meals and bathing, yet nevertheless we had sixty-seven at the opening. Leadbeater and Dharmapala arrived from Ceylon on the 29th, and the Convention went off very well. A very large Crowd attended the Anniversary celebration in town on the 28th. Before the adjournment of the Convention, 127 Delegates had registered. The Indian National Congress, a political body, met in Madras this year; and as most of its leading men ‘were members of our Society, their absence from Adyar injuriously affected the numerical strength at our Convention. By the last day of the year all had gone, and so closed a fruitful and important chapter of our history. During the twelve month we had published 28 books, pamphlets, and magazines, added 25 new Branches, and largely increased our membership. On the 31st of December, after deducting 4 charters as lapsed, we had 133 [36] living Branch charters, geographically distributed as follows:

Theo lẽ thường, mưa gió mùa mùa thu phải chấm dứt trước tuần thứ hai của tháng Mười Hai, nhưng năm (1887) này, chúng lại đổi “chương trình”. Ngày 25 mưa lớn suốt ngày, hôm sau “cơn bão khủng khiếp này tiếp diễn và làm rối mọi tính toán của chúng tôi”, ngày thứ ba sông dâng đầy bờ và khuôn viên bị ngập. Điều này gây bất tiện lớn cho các Đại biểu, những người phải đi một quãng xa khỏi nhà để dùng bữa và tắm rửa, tuy vậy chúng tôi vẫn có sáu mươi bảy người trong phiên khai mạc. Leadbeater và Dharmapala đến từ Ceylon ngày 29, và Đại hội diễn ra rất tốt. Một đám đông rất lớn dự Lễ kỷ niệm ở thành phố ngày 28. Trước khi bế mạc, đã có 127 Đại biểu đăng ký. Đại hội Toàn quốc Ấn Độ, một tổ chức chính trị, năm đó nhóm họp ở Madras; và vì đa số các nhân vật lãnh đạo của họ là hội viên của chúng ta, việc họ vắng mặt tại Adyar đã ảnh hưởng bất lợi đến lực lượng tham dự Đại hội của chúng ta. Đến ngày cuối cùng của năm, mọi người đã rời đi, và như thế khép lại một chương quan trọng và đầy hoa trái trong lịch sử của chúng ta. Trong mười hai tháng, chúng ta đã xuất bản 28 sách, tập san và tạp chí, thêm 25 Chi hội mới, và tăng mạnh hội viên. Ngày 31 tháng Mười Hai, sau khi trừ 4 bằng khoán đã hết hiệu lực, chúng ta có 133 [36] bằng khoán Chi hội còn hiệu lực, phân bố địa lý như sau:

India 96; Burma 3; Ceylon 8; England 2; Scotland 1; Ireland 1; France 1; Germany 1; U.S.A. 13 (7 newly formed); Greece 1; Holland 1; Russia 1; West Indies 2; Africa l; Australia 1. These figures show how wide-spread our influence had become, how many seed-beds of thought had been established. In the President’s annual address was given a historical résumé and explanation of the original constitution of the Society and its modification to keep pace with its expansion from one small group at New York to a world-covering body, with Branches to be counted by scores and members by thousands. It concludes with these words, which, for the benefit of new members, may profitably be quoted here:

India 96; Burma 3; Ceylon 8; England 2; Scotland 1; Ireland 1; France 1; Germany 1; U.S.A. 13 (7 newly formed); Greece 1; Holland 1; Russia 1; West Indies 2; Africa l; Australia 1. Những con số này cho thấy ảnh hưởng của chúng ta đã lan rộng đến mức nào, bao nhiêu vườn ươm tư tưởng đã được lập nên. Trong diễn văn hằng năm của Chủ tịch có trình bày một bản tóm lược lịch sử và giải thích về hiến chế nguyên thủy của Hội, cũng như việc sửa đổi để theo kịp sự mở rộng từ một nhóm nhỏ ở New York thành một cơ cấu phủ khắp thế giới, với các Chi hội tính bằng hàng chục và hội viên bằng hàng nghìn. Diễn văn kết thúc bằng những lời này, điều có thể hữu ích trích lại đây vì lợi ích của hội viên mới:

“This is a Society without means, without patronage, with social prejudice arrayed against it, and vested interests its natural foes; a Society which appeals to no sectarian loyalty, holds out no worldly inducement, but the reverse, to those who join its ranks; a Society professedly devoted to the study and propagation of philosophy, the declared foe of vice and censor of selfish indulgence; teaching the highest moral ideal, affirming the essential unity of religions, and the necessary supremacy of truth over all; yet we see it within the short space of ten years spreading over a good portion of the earth’s surface, having chartered 137 Branches, of which only 4 have lapsed, and with men of all the old religions its enthusiastic [37] adherents. Whether the Society has been riding on the crest of a wave of thought, caused by the general upheaval of old prejudices, or itself has been a strong power behind the wave, it is not for us to say; but the pregnant fact is that it exists and is a social force of the day, with a prospect of a prolonged and useful career. It is—it must be—due to the breadth of its platform and the judiciousness of its policy of tolerance and brotherly good will towards all.”

“Đây là một Hội không có phương tiện, không có người đỡ đầu, với thành kiến xã hội chống lại nó, và các quyền lợi cài cắm là kẻ thù tự nhiên; một Hội không kêu gọi lòng trung thành bè phái, không đưa ra bổng lộc trần gian, trái lại, với những ai vào hàng ngũ của nó; một Hội công khai tận hiến cho việc nghiên cứu và truyền bá triết lý, tuyên bố là kẻ thù của thói xấu và là người phê bình lối hoang phí vị kỷ; dạy lý tưởng đạo đức cao nhất, khẳng định sự hợp nhất cốt yếu của các tôn giáo, và sự tối thượng tất yếu của chân lý trên tất cả; vậy mà chúng ta thấy trong khoảng thời gian ngắn mười năm nó lan rộng khắp một phần tốt đẹp của bề mặt địa cầu, đã cấp bằng khoán cho 137 Chi hội, trong đó chỉ 4 Chi hội đã hết hiệu lực, và với những người của mọi tôn giáo cổ xưa là những [37] người ủng hộ nhiệt thành của nó. Dù rằng Hội đã cưỡi trên đỉnh của một làn sóng tư tưởng do sự bùng dậy chung của những định kiến cũ, hay chính nó là một sức mạnh lớn sau làn sóng, không phải là điều để chúng ta nói; nhưng sự kiện hàm súc là nó tồn tại và là một lực lượng xã hội của thời đại, với viễn cảnh của một sự nghiệp dài lâu và hữu ích. Điều đó là—và hẳn là—do bề rộng của nền tảng và sự khôn ngoan trong chính sách khoan dung và thiện chí huynh đệ đối với tất cả.”

Twelve years have come and gone since then, yet the impetus behind us has never slackened, the vital force within the Society never been spent; disasters have not wrecked us, secessions not weakened us, the fountain of ancient wisdom has not ceased to flow. Hands across the seas and around the globe, brothers! for in union is our hope and our power to do good.

Mười hai năm đã trôi qua từ đó, nhưng xung lực đằng sau chúng ta chưa bao giờ chùng lại, sinh lực trong Hội chưa từng cạn kiệt; tai ương không làm đắm chìm chúng ta, những cuộc ly khai không làm yếu chúng ta, nguồn suối minh triết cổ xưa chưa từng ngưng tuôn. Nắm tay vượt biển và vòng quanh địa cầu, các huynh đệ! vì trong hợp nhất là hy vọng và năng lực làm điều thiện của chúng ta.

CHAPTER III—CHƯƠNG III

SCIENTIFIC AND OTHERWISE—KHOA HỌC VÀ NHỮNG MẶT KHÁC

(1888)

(1888)

WE cross a threshold of time and enter the Society’s thirteenth year, which will be found as full of incidents as either of its predecessors. For we have made history rapidly. Not with a blare of trumpets or waving of banners have we moved on, but impelled by a divine force for the arousing of thought and the moulding of opinions, a force as silent as irresistible.

Chúng ta bước qua một ngưỡng thời gian và tiến vào năm thứ mười ba của Hội, năm mà sẽ thấy đầy dẫy sự kiện như bất kỳ năm tiền nhiệm nào. Vì chúng ta đã làm nên lịch sử với nhịp đi nhanh chóng. Không phải với tiếng kèn ầm ĩ hay cờ phấp phới mà chúng ta tiến bước, mà là được thúc đẩy bởi một lực thiêng liêng để khơi dậy tư tưởng và uốn nắn quan điểm, một lực thầm lặng mà không thể cưỡng.

In the January Theosophist of the year 1888 appeared a notable report on certain meteorological observations made in Baroda State according to the system laid down by the ancient Rishis, as found in that classic of Astrology, the Brihat Samhita, which was very important. It was made by that excellent gentleman and staunch Theosophist, Mr. Janardhan Sakharam Gadgil, F.T.S., a graduate of Bombay University, and a Justice of the Baroda High Court, and Rao Sahib Bhogilal Pravalabhadas, Director of Vernacular Education of that State, with the help of Joshi Uttamram Dullabharam and his pupils. Judge Gadgil’s object was to test the ancient system of weather forecasts in [39] comparison with those made from day to day by the Government Weather Bureau, using the most improved instruments and the accessory of the electric telegraph to gather in the daily minutes of many scattered observers. The results were, on the whole, highly gratifying, and may be tabulated thus:

Trong số Theosophist tháng Giêng năm 1888 có đăng một báo cáo đáng chú ý về một số quan trắc khí tượng được thực hiện tại bang Baroda theo hệ thống do các Rishi cổ xưa đề ra, như được tìm thấy trong tác phẩm kinh điển của Chiêm tinh học, Brihat Samhita, điều này rất quan trọng. Báo cáo do vị quân tử đáng mến và người Thông Thiên Học kiên định, Ông Janardhan Sakharam Gadgil, F.T.S., cử nhân Đại học Bombay và Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Baroda, cùng Rao Sahib Bhogilal Pravalabhadas, Giám đốc Giáo dục Bản ngữ của bang này, với sự trợ giúp của Joshi Uttamram Dullabharam và các học trò, thực hiện. Mục đích của Thẩm phán Gadgil là kiểm nghiệm hệ thống dự báo thời tiết cổ xưa [39] so sánh với các dự báo mỗi ngày của Cục Khí tượng Chính phủ, vốn sử dụng những dụng cụ tối tân nhất và có sự hỗ trợ của điện tín để thu thập biên bản hằng ngày của nhiều người quan sát rải rác. Kết quả, nhìn chung, rất đáng phấn khởi, và có thể lập bảng như sau:

Rain predictions, exactly fulfilled on the day........ 30

Dự báo mưa, trúng chính xác vào đúng ngày........ 30

Ditto, but with a shifting of dates............. 10

Cũng vậy, nhưng lệch ngày............. 10

Days on which rain fell but was not predicted........ 11

Những ngày có mưa nhưng không dự báo........ 11

Rainfalls when the dates were not accurately determined,

Những lần mưa khi ngày tháng không xác định chuẩn xác,

owing to Mr. Gadgil’s absence from home........ 7

do Ông Gadgil vắng nhà........ 7

Total 58

Tổng cộng 58

To understand this, it must be remembered that the Hindu almanac-makers issue their predictions in the previous autumn, and derive them from patient observations of astronomical positions at that time, the results of which stellar aspects are calculated with great accuracy according to a theory quite unknown, I believe, to our Western astronomers and meteorologists. The ancient theory is that clouds are positive and negative, male and female; that the latter become fecundated by conjunction with the former, and that they will shed rain six and a half months later (vide Brihat Samhita, chap. xxi, shloka 7). It is there quaintly affirmed that “if pregnant clouds appear when the moon is in a certain Asterism, the delivery of rain will Occur 195 days after, when the moon will be in the same Asterism”. By close observation, therefore, of the number and places of clouds on the days beginning from the first of the bright half of the lunar month [40] Margasirsha (November-December), the Indian almanac-makers safely predict the days and quantities of rain-fall during the next monsoon season, a half-year later. Judge Gadgil printed tables of dates and measured rainfalls which go to support the claim of the Rishi rules to be regarded as strictly scientific. The late Professor Kero Laxman Chhatre, the great Poona astronomer, wrote that the predictions were wonderful in his sight. The facts accumulated prove, in Judge Gadgil’s opinion, that “although the sun is the chief cause of the evaporation of water, the moon is the potent factor in causing watery vapor to assume the form of pregnant clouds which, at their maturity, are to fall in the form of rain, and to fructify the earth”. [8] He specifies several other points of importance which [41] are also supported by his results, and the reader wilt do well to consult the number of the Theosophist indicated. I have recalled these researches by our fellow-members in 1888 as being most timely in the present year of drought and famine (1899), and as an indication of the wide field of scientific research which opens out before the educated man who applies himself to study the palm-leaf MSS. in our Adyar Library. The nett result of two years’ comparison of the almanac prognostics with those of the Government Weather Bureau showed them to be of equal accuracy, while, as regards the cost of statistical collection, the comparison is, of course, very greatly in favor of the Indian system. Let us hope that this field may soon be properly explored.

Để hiểu điều này, cần nhớ rằng các nhà làm lịch Hindu đưa ra dự báo từ mùa thu năm trước, và rút chúng từ việc quan sát kiên nhẫn các vị trí thiên văn vào lúc ấy, các hệ quả của những tương quan sao được tính toán rất chính xác theo một lý thuyết mà, tôi tin, vốn hoàn toàn không biết đến trong giới thiên văn và khí tượng phương Tây của chúng ta. Lý thuyết cổ xưa là mây mang điện dương và âm, đực và cái; rằng mây cái thụ thai khi kết hợp với mây đực, và rằng chúng sẽ trút mưa sau sáu tháng rưỡi (xem Brihat Samhita, chương xxi, kệ 7). Ở đó có lời khẳng định thú vị rằng “nếu mây mang thai xuất hiện khi mặt trăng ở một Chòm sao nhất định, thì sự ‘sinh nở’ của mưa sẽ xảy ra sau 195 ngày, khi mặt trăng ở cùng Chòm sao ấy”. Bằng sự quan sát kỹ lưỡng, vì vậy, về số lượng và vị trí của mây trong những ngày bắt đầu từ ngày đầu nửa sáng của tháng âm lịch [40] Margasirsha (tháng Mười Một–Mười Hai), các nhà làm lịch Ấn Độ dự báo chắc chắn các ngày và lượng mưa trong mùa gió mùa tiếp theo, nửa năm sau. Thẩm phán Gadgil in các bảng ngày tháng và lượng mưa đo được để ủng hộ cho yêu sách rằng các quy tắc của các Rishi đáng được xem là nghiêm ngặt khoa học. Cố Giáo sư Kero Laxman Chhatre, nhà thiên văn vĩ đại của Poona, viết rằng các dự báo khiến ông kinh ngạc. Các sự kiện tích lũy chứng tỏ, theo ý Ông Gadgil, rằng “tuy mặt trời là nguyên nhân chính của sự bốc hơi nước, mặt trăng là yếu tố hữu hiệu khiến hơi nước ngưng tụ thành những đám mây thụ thai, và khi đến kỳ chín muồi, chúng sẽ rơi xuống thành mưa, làm cho đất đai trù phú”. Ông nêu ra một số điểm quan trọng khác [41] cũng được kết quả của ông hỗ trợ, và độc giả nên tham khảo số Theosophist đã nêu. Tôi nhắc lại các khảo cứu của các bạn đồng hội vào năm 1888 vì chúng rất đúng thời trong năm hạn hán và đói kém hiện nay (1899), và như một chỉ dấu về cánh đồng nghiên cứu khoa học rộng lớn mở ra trước mắt người trí thức biết chuyên tâm khảo cứu các bản thảo lá cọ trong Thư viện Adyar của chúng ta. Kết quả ròng của hai năm so sánh giữa các dự báo của lịch với dự báo của Cục Khí tượng Chính phủ cho thấy chúng chính xác ngang nhau, trong khi, xét về chi phí thu thập thống kê, so sánh này dĩ nhiên rất nghiêng về hệ thống Ấn Độ. Chúng ta hãy hy vọng cánh đồng này sớm được khai thác đúng mức.

I note that on 5th January I sent Professor Charcot, of La Salpétriére, a copy of the Tamil translation of that libidinous work Kama Shastra, that he might observe what it says about the effect upon the procreative function of pressure upon certain points in the limbs. In vol. lx of the International Scientific Series I had [42] read what the authors of the book (Animal Magnetism, by MM. Binet and Fêrê) say about this very thing, which is credited to Dr. Chambard, of France, as a new discovery. [9] I wanted Charcot and his pupils to know that the fact had been familiar to Indian physiologists for ages. Almost by return post Dr Charcot thanked me warmly for bringing the fact to his notice, and said I had made une vraie trouvaille—a genuine find. I wish I could impress on the minds of all students of mesmerism, hypnotism, and spiritualism the gravity of the danger they run in making any experiments upon subjects of the other sex without the presence of responsible witnesses. While the French doctors say that the physiological excitement in question is aroused by pressure on the “erogenic” zones only when the subject is in the state of full somnambulism, the Hindu love-manual makes no such assertion, but lets us understand that it can be caused when the [43] subject is fully awake. How many unhappy victims have there not been who were perfectly innocent of wrongdoing, but who have unwittingly pressed upon the spot in the arm whose nerves react so as to throw the neuropathic subject into a frenzy of desire!

Tôi ghi nhận rằng ngày 5 tháng Giêng tôi gửi cho Giáo sư Charcot, ở La Salpétriére, một bản dịch tiếng Tamil của tác phẩm dâm tính Kama Shastra, để ông có thể xem những gì sách nói về tác động lên chức năng sinh sản do việc ấn vào những điểm nhất định trên chi thể. Trong tập lx của Tủ sách Khoa học Quốc tế, tôi [42] đã đọc điều các tác giả của cuốn (Animal Magnetism, bởi MM. Binet và Fêrê) nói về chính điều này, được quy cho Bác sĩ Chambard của Pháp như một phát hiện mới. Tôi muốn Charcot và học trò của ông biết rằng sự kiện ấy đã quen thuộc với các nhà sinh lý học Ấn Độ từ bao đời. Gần như hồi âm ngay, Bác sĩ Charcot cảm ơn tôi nồng hậu vì đã lưu ý ông điều ấy, và nói rằng tôi đã có “một phát hiện thật sự”. Tôi ước gì mình có thể khắc sâu vào tâm trí tất cả những người học về thôi miên, thôi miên giấc ngủ và thần linh học, tầm quan trọng nghiêm trọng của hiểm nguy mà họ gặp phải khi làm bất kỳ thí nghiệm nào trên đối tượng khác giới mà không có sự hiện diện của các nhân chứng có trách nhiệm. Trong khi các bác sĩ Pháp nói rằng sự kích thích sinh lý nói trên chỉ được khơi dậy bởi việc ấn vào các “vùng kích dục” khi đối tượng ở trong trạng thái mộng du hoàn toàn, thì sách ái thuật Ấn Độ không khẳng định như vậy, mà cho thấy rằng điều đó có thể xảy ra khi [43] đối tượng hoàn toàn tỉnh táo. Không biết đã có bao nhiêu nạn nhân bất hạnh, hoàn toàn vô tội, nhưng vô tình ấn lên điểm trên cánh tay mà dây thần kinh phản ứng khiến người bệnh thần kinh rơi vào cơn bốc đồng dục vọng!

Things were growing more and more unpleasant at Adyar on account of the friction between’ H. P. B. and T. Subba Row and certain of his Anglo-Indian backers. They even went so far as to threaten withdrawal from the Society and the publication of a rival magazine if H. P. B. did not treat them better. In fact, Subba Row and one of his friends did resign that year, but I gave myself no uneasiness about the projected magazine, for the basis of success—persevering effort and unselfish zeal for Theosophy—were not among the strong points of their characters.

Tại Adyar, mọi chuyện ngày càng khó chịu vì ma sát giữa H. P. B. với T. Subba Row và một số người Anh–Ấn hậu thuẫn ông. Họ thậm chí còn đe dọa rút khỏi Hội và cho ra một tạp chí đối thủ nếu H. P. B. không đối đãi họ tốt hơn. Thực tế, Subba Row và một trong các bạn của ông đã từ nhiệm trong năm đó, nhưng tôi không bận tâm về tạp chí dự kiến, vì nền tảng của thành công—nỗ lực bền bỉ và nhiệt tâm vô vị kỷ vì Thông Thiên Học—không nằm trong những điểm mạnh của tính cách họ.

The Governor’s Annual Levee, to which I was invited, was a gorgeous spectacle, the vivid coloring and sparkling glitter of the robes and turbans of the Oriental magnates and of the uniforms of British officers producing a strong effect upon the eye in the Banqueting Hall of Government House, with its milk-white walls and lofty columns in polished white stucco that rival Parian marble in beauty.

Lễ Chầu Hằng Năm của Thống đốc, mà tôi được mời dự, là một cảnh tượng lộng lẫy, với sắc màu rực rỡ và ánh lấp lánh của áo mão, khăn đội đầu của các vị quyền quý Á Đông và các bộ quân phục của sĩ quan Anh gây ấn tượng mạnh cho mắt người xem ở Đại Sảnh Yến Tiệc của Dinh Thống đốc, với các bức tường trắng sữa và những cột cao bằng thạch cao trắng bóng loáng đẹp chẳng kém cẩm thạch Paros.

I note that one of our Council members received from Meerut about that time a copy of his horoscope, as found in the Nadi Granthams of a great astrologer of that place. This was the second case of the kind which tame under my notice, and it is certainly enough to stagger anybody’s faith to be told that a stranger [44] can walk into the Brahmin astrologer’s house, give him no proper clue to his identity, and within the next few minutes have one of those mysterious old books placed in his own hands, opened at a page where he may read for himself the particulars of his present birth, the name, caste, and quality of his father, and the chief incidents of his own life. Yet this is alleged to be true, and, if I may believe friends whose social and official positions entitle them to credence, they have had this very experience with the Meerut astrologer. I saw him personally once at that station and saw his collection of books, but he could find nothing in any of them about me, nor about Mrs. Besant (I think it was) who was with me. I then learned a thing not previously known to the public, viz., that the Grantham contains only the horoscopes of persons born in India, and within that portion of it known as Bhârata Varsha, i.e., between the Himâlayas and the Vindya Range. I should have been glad to have had it otherwise, as it would have been a pleasure to have reported to my Western scientific friends the fact that the outline sketch of my life had been found recorded in an ancient work written centuries before the date of my birth. Others have had that experience, so I leave to them the duty of bearing testimony. Meanwhile, if the reader will refer to the Theosophist for December, 1887, and the article on “Bhrigu Sanhita,” he will see a very instructive narrative of Babu Kedar Nath Chatterjee’s experience with the Meerut astrologer above mentioned. It is worth [45] while giving place to some extracts. From a relative of his, die author had learnt of his having got from the Meerut man a copy of his horoscope, taken from the ancient work in question, in which were given so many minute details of his past life as to amaze them both. Babu Kedar Nath accordingly determined to see whether he would have a like good fortune, and with this object went to Meerut and hunted up the astrologer. On his way he collected from seventeen friends their “Janma Lugnas” and “Rasi Chakras,” together with a brief account of their lives written in English (of which the astrologer is ignorant), on separate pieces of paper. The Janma Lugnas and Rasi Chakras were, however, written in Devanagari characters, which he could read, but which would give him no clue to the identity of the parties concerned, since they were but the statements of the stars and constellations under which certain individuals were born, and would only serve to guide him as to the book in which to hunt up the horoscopes under corresponding astronomical signs. With this preface we will now allow Babu Kedar Nath to describe what happened to him, after he had handed the Devanagari memoranda of his seventeen friends to the astrologer, one by one, and been shown that each person’s horoscope was actually recorded in the pages of his mysterious book:

Tôi ghi rằng một thành viên Hội đồng của chúng ta nhận được từ Meerut vào thời gian đó một bản lá số của ông, như tìm thấy trong Nadi Grantham của một vị chiêm tinh lừng danh nơi ấy. Đây là trường hợp thứ hai thuộc loại này rơi vào tầm chú ý của tôi, và quả thật đủ làm lung lay niềm tin của bất cứ ai khi được nói rằng một người lạ [44] có thể bước vào nhà của vị chiêm tinh Bà-la-môn, không cho ông ta manh mối nào đúng đắn về thân phận của mình, và trong vòng vài phút có một trong những cuốn sách cổ bí ẩn kia được đặt vào tay mình, mở đúng trang nơi ông có thể tự đọc những chi tiết về kiếp sinh hiện tại, tên, giai cấp và phẩm chất của thân phụ, và các sự kiện chính của chính đời ông. Vậy mà điều này được quả quyết là đúng, và nếu tôi tin những người bạn có địa vị xã hội và công vụ đáng tin, họ đã trải nghiệm chính điều này với vị chiêm tinh ở Meerut. Tôi từng gặp ông ta một lần tại nhà ga ấy và xem tập sách của ông, nhưng ông ta không tìm được gì trong bất cứ cuốn nào về tôi, cũng như về Bà Besant (tôi nghĩ là vậy) người đi cùng tôi. Khi đó tôi biết một điều trước đây công chúng không biết, là Grantham chỉ chứa lá số của những người sinh ra ở Ấn Độ, và trong phần đất được gọi là Bhârata Varsha, tức là giữa dãy Himâlaya và dãy Vindya. Tôi sẽ rất vui nếu sự thể khác đi, vì sẽ là một niềm hân hạnh để báo với các bạn khoa học phương Tây của tôi rằng phác thảo đời tôi đã được tìm thấy ghi lại trong một tác phẩm cổ viết hàng thế kỷ trước ngày sinh của tôi. Những người khác đã có trải nghiệm ấy, nên tôi để phần chứng thực cho họ. Trong khi đó, nếu độc giả tham khảo Theosophist số tháng Mười Hai, 1887, và bài “Bhrigu Sanhita”, sẽ thấy một tường thuật rất bổ ích về trải nghiệm của Babu Kedar Nath Chatterjee với vị chiêm tinh Meerut nêu trên. Điều này đáng để [45] dành chỗ trích dẫn vài đoạn. Từ một người bà con, tác giả được biết ông này đã lấy được từ người ở Meerut một bản lá số của mình, rút từ tác phẩm cổ nói trên, trong đó có quá nhiều chi tiết tỉ mỉ về đời quá khứ của mình đến mức làm cả hai kinh ngạc. Do đó, Babu Kedar Nath quyết định xem liệu mình có được may mắn tương tự, và với mục đích ấy ông đến Meerut tìm vị chiêm tinh. Trên đường đi, ông thu thập từ mười bảy người bạn “Janma Lugna” và “Rasi Chakra” của họ, cùng với một bản tóm tắt cuộc đời viết bằng tiếng Anh (thứ tiếng mà vị chiêm tinh không biết), trên những mảnh giấy riêng rẽ. Tuy nhiên, các Janma Lugna và Rasi Chakra lại được viết bằng chữ Devanagari, mà ông có thể đọc, nhưng không cho ông một manh mối nào về căn cước người liên hệ, vì chúng chỉ là các trình bày về các sao và chòm sao dưới đó một số cá nhân sinh ra, và chỉ giúp ông định hướng quyển sách nào để tra cứu các lá số tương ứng với các dấu hiệu thiên văn. Với lời dẫn nhập này, giờ chúng ta dành chỗ cho Babu Kedar Nath mô tả điều xảy đến với ông, sau khi ông lần lượt trao các tờ Devanagari của mười bảy người bạn cho vị chiêm tinh, và được cho thấy rằng lá số của mỗi người thật sự được ghi lại trong các trang của cuốn sách bí ẩn của ông ấy:

“I had,” he says, “lost my own horoscope, prepared by my parents at my birth; and consequently I did not know the date and time of my birth. One morning I simply asked him: ‘Who am I?’ He [46] ascertained the correct time of the day with the help of my watch, drew a Rasi Chakra appertaining to the time of my query, and, according to certain rules of astrology, drew a Rasi Chakra of the time of my birth, Then, without reference to the Sanhita, he told me, from his personal knowledge of the science, some of the incidents of my past life. Some of his conjectures turned out to be correct, others were wrong. He then retired to his library, and after about fifteen or twenty minutes he brought out a book as usual, and I myself found my horoscope in it after a search of about ten minutes. I allowed the Pandit to read the whole of it, and it took him about three hours to finish it. I cannot now describe my feeling at that time; I thought indeed that I was in a state of dream. The horoscope proceeded, reminding me of the past events of my life from year to year; some of them I had nearly forgotten, and I sometimes had to task my memory to recall them to mind. I cannot imagine a greater wonder than going to a stranger, who, when you ask him who you are, gives you a book which contains minute details of your life from your birth to death. I assert that there is nothing in my horoscope which is not an actual fact, or which has not happened with reference to that portion of the horoscope which deals with my past life,...

“Tôi đã,” ông nói, “làm mất lá số của chính mình, vốn được cha mẹ lập lúc tôi sinh; vì vậy tôi không biết ngày giờ sinh của mình. Một buổi sáng tôi đơn giản hỏi ông ta: ‘Tôi là ai?’ Ông [46] xác định giờ chính xác trong ngày với sự giúp đỡ của chiếc đồng hồ của tôi, vẽ một Rasi Chakra tương ứng với thời điểm câu hỏi của tôi, và, theo các quy tắc chiêm tinh nhất định, vẽ một Rasi Chakra của thời điểm tôi sinh. Rồi, không tra cứu Sanhita, ông nói với tôi, từ kiến thức cá nhân của ông về khoa này, một số sự kiện trong đời quá khứ của tôi. Một số phỏng đoán của ông hóa ra đúng, số khác thì sai. Rồi ông lui vào thư viện, và sau khoảng mười lăm hay hai mươi phút, như thường lệ ông lấy ra một cuốn sách, và chính tôi tự tìm thấy lá số của mình trong đó sau khoảng mười phút lục tra. Tôi để cho vị Pandit đọc toàn bộ, và ông mất khoảng ba giờ để đọc xong. Lúc đó tôi không thể diễn tả cảm giác của mình; tôi thật sự nghĩ rằng mình đang mơ. Lá số đi tiếp, nhắc tôi về những sự kiện quá khứ của đời tôi năm này qua năm khác; có những điều tôi suýt quên, và đôi lúc tôi phải cố nhớ lại. Tôi không thể hình dung một điều kỳ diệu nào lớn hơn việc đến gặp một người xa lạ, người mà khi bạn hỏi ông ta bạn là ai, ông ta đưa bạn một cuốn sách chứa đựng chi tiết tỉ mỉ đời bạn từ sinh đến tử. Tôi khẳng định rằng chẳng có gì trong lá số của tôi không phải là sự thật, hay là điều chưa từng xảy ra với phần lá số nói về đời quá khứ của tôi,...

“I shall now give a brief account of the contents of my horoscope, and make quotations here and there from it for a better elucidation, though by so doing I [47] shall have to make my private life known to the public. My horoscope, like numerous others that I then saw and have since then seen, is divided into three parts, and is a dialogue between Sukracharya, the disciple, and Bhrigu Deva, the preceptor.

“Tôi sẽ nay đưa một tóm lược nội dung lá số của mình, và trích dẫn đây đó [47] để minh giải rõ hơn, dù vì làm vậy tôi sẽ phải đem đời tư của mình ra trước công chúng. Lá số của tôi, cũng như vô số lá số khác mà khi đó tôi thấy và từ đó đến nay tôi thấy, được chia làm ba phần, và ở dạng đối thoại giữa Sukracharya, người đệ tử, và Bhrigu Deva, vị thầy.

“The first part consists of (1) some of the chief events of my present life, (2) the chief characteristic of my body and mind, (3) a brief account of the members of my family, (4) the lines on the palm of my right hand, with their effects.

“Phần thứ nhất gồm (1) một số sự kiện chính của đời hiện tại của tôi, (2) đặc trưng chính của thân và tâm tôi, (3) một tóm tắt về các thành viên gia đình, (4) các đường trên lòng bàn tay phải của tôi, cùng tác dụng của chúng.

“The second part consists of (1) a brief account of the previous birth, (2) some of the principal acts done in the previous life which have produced some of the grand results in the present life.

“Phần thứ hai gồm (1) một tóm tắt về kiếp trước, (2) một số hành động chủ yếu đã làm trong kiếp trước dẫn đến một số kết quả lớn trong kiếp hiện tại.

“The third part consists of (1) a detailed account of my life from birth to death, (2) a brief account of the lives of my parents from year to year during my infancy, (3) a brief account of the other members of my family, (4) the diseases, dangers, and misfortunes that I shall be subjected to from year to year, (5) recipes to cure those diseases, and advice about warding off the dangers and misfortunes, (6) various Prayaschittas or atonements for removing some of the principal events of the present life which are the results of some of the misdeeds done in the previous life, (7) elaborate description of the manner in which these Prayaschittas should be performed and the various Mantras, (8) how I shall be born in the next life to come. Besides the above there are many other things in the third part.

“Phần thứ ba gồm (1) một tường thuật chi tiết đời tôi từ sinh đến tử, (2) một tóm tắt về đời cha mẹ tôi từ năm này qua năm khác trong thời thơ ấu của tôi, (3) một tóm tắt về các thành viên khác trong gia đình, (4) những bệnh tật, nguy hiểm và bất hạnh mà tôi sẽ gánh chịu từng năm, (5) phương dược chữa các bệnh ấy, và lời khuyên về cách tránh các hiểm họa và bất hạnh, (6) các Prayaschitta hay sự sám hối khác nhau để loại trừ một số sự kiện chính của đời hiện tại vốn là hậu quả của một số ác hạnh đã làm trong kiếp trước, (7) mô tả tỉ mỉ cách thức thực hiện các Prayaschitta này và các Mantra khác nhau, (8) tôi sẽ sinh ở kiếp tới như thế nào. Ngoài ra còn nhiều điều khác trong phần thứ ba.

[48]

[48]

“My horoscope, of course in manuscript, consists of 77 pages of bigger size than royal octavo. I have all along been speaking only of the twelve parts of my entire horoscope. This part which: I have in my possession is called the Tainibhavan—or that part relating to the body alone. There are other parts or Bhavans, called the Dhanabhavan (relating to wealth), the Dharmabhavan (relating to religion), the Pitribhavan (relating to a father), and so forth. These different Bhavans give a detailed account of the subjects of which they treat. But it is a matter of regret that the Pandit has got a few only of the other Bhavans. He has not even got the entire number of the Tainibhavan parts of all the horoscopes, and he had in several cases to refuse to give copies, for he had not the originals.”

“Lá số của tôi, dĩ nhiên là thủ bản, gồm 77 trang lớn hơn khổ royal octavo. Đến giờ tôi chỉ nói về mười hai phần của toàn bộ lá số của tôi. Phần này mà tôi có trong tay gọi là Tainibhavan—hay phần liên quan riêng đến thân thể. Còn những phần khác hay Bhavan, gọi là Dhanabhavan (liên quan đến của cải), Dharmabhavan (liên quan đến tôn giáo), Pitribhavan (liên quan đến cha), v.v. Những Bhavan khác nhau này cho một tường thuật chi tiết về các đề mục mà chúng bàn đến. Nhưng thật đáng tiếc là vị Pandit chỉ có một ít trong số các Bhavan khác. Ông thậm chí không có trọn bộ các phần Tainibhavan của mọi lá số, và trong nhiều trường hợp ông buộc phải từ chối sao chép, vì ông không có bản gốc.”

The long tour of 1887 left same effects of a very disagreeable nature an me, which showed themselves in an impoverishment of the blood and, an outbreak of boils, of which one took on a carbuncular character and laid me up for a while. But our kind friends, General and Mrs. Morgan, hospitably urged me to visit them at Oatacamund, which I did, and in that magical mountain air my health was soon re-established. I gratefully recall the kind attentions shown me by many European friends, even of mere acquaintances, up to that time, and am sorry that I am not at liberty to record their names in this narrative in token of my remembrance. Telegrams were sent me from all aver India, and sympathetic paragraphs appeared in the [49] Hindu papers. To add to my pleasure, I had an attack of gouty rheumatism in one foot, and this puzzled me more than a little, for my paternal ancestral stack passed on to me no such taint of blood. But eight years later, at Paris, the mystery was solved for me by Madame Mangruel, the well-known somnambule or clairvoyant, who advised me to abstain from meat eating, as that was the cause of my misery. I followed her prescription, and all gouty symptoms have disappeared. The disease was, then, not hereditary, but induced by the meat diet, and disappeared on my changing to a non-flesh dietary. The hint should not be lost by any reader who has not tried this remedy.

Chuyến du hành dài năm 1887 để lại trên người tôi một số hệ quả rất khó chịu, biểu hiện thành sự thiếu máu và bộc phát mụn nhọt, trong đó có một cái hóa thành nhọt hình “củ” khiến tôi nằm bẹp một thời gian. Nhưng những người bạn tốt của chúng tôi, Tướng và Bà Morgan, nồng hậu mời tôi lên thăm họ ở Ootacamund, tôi đã đi, và với không khí núi diệu kỳ ấy, sức khỏe tôi chóng được phục hồi. Tôi biết ơn nhớ lại những ân cần mà nhiều bạn bè châu Âu, kể cả nhiều người chỉ là chỗ sơ giao, đã dành cho tôi đến lúc ấy, và tiếc rằng tôi không được phép ghi lại tên của họ trong ký sự này để tỏ lòng tưởng nhớ. Điện tín gửi đến tôi từ khắp Ấn Độ, và các đoạn văn chia sẻ cảm tình xuất hiện trên [49] báo Hindu. Để thêm vào niềm vui của tôi, tôi lại bị cơn thấp khớp gout ở một bàn chân, điều này làm tôi bối rối chẳng ít, vì gia hệ bên nội truyền cho tôi không hề có vết tì như vậy. Nhưng tám năm sau, ở Paris, điều bí ẩn được Bà Mangruel, vị somnambule hay nhà thông nhãn nổi tiếng, giải đáp cho tôi: bà khuyên tôi kiêng ăn thịt, vì đó là nguyên nhân nỗi khổ của tôi. Tôi làm theo, và mọi triệu chứng gout đều biến mất. Vậy bệnh không phải di truyền, mà do chế độ ăn thịt gây ra, và biến mất khi tôi chuyển sang chế độ không ăn thịt. Gợi ý này không nên bị bỏ qua bởi bất kỳ độc giả nào chưa thử phương cách này.

Portents of a coming storm in our European groups, stirred up or intensified by; H. P. B., begin to show themselves, and Judge complains of our neglecting him. Just then Dr. Coues was working hard for the notoriety he craved, and Judge was opposing him. In view of the very important bearing it has on the ethics of the secession move of June 1895, the text of same of Judge’s letters may as well be given:

Điềm báo của một cơn bão đang đến trong các nhóm châu Âu của chúng ta, được khơi lên hay làm trầm trọng thêm bởi H. P. B., bắt đầu lộ ra, và Judge phàn nàn rằng chúng ta lơ là ông. Vừa khi ấy, Bác sĩ Coues đang làm hết sức cho sự lừng danh mà ông khao khát, và Judge thì chống lại ông ta. Xét tầm hệ trọng của nó đối với đạo lý đằng sau cuộc ly khai tháng Sáu 1895, có lẽ nên ghi lại nguyên văn vài lá thư của Judge:

“(New York) June 8, 1888, certain matters are occurring here which need attention and action... His (Coues’) policy is to place himself at the head of some wonderful unknown thing through which (save the mark!) communications are alleged to come from the Masters. He also in a large sense wishes to pull the T. S. away from your jurisdiction and make himself the Grand Mogul of it in this country... I know that.’. policy is to retain complete control in you, and my [50] desire is to keep the American Section as a dependency of the General Council in India; hence you are the President. It was never my intention to dissever, but to bind, and the form of our Constitution clearly shows that. That’s why no President is elected or permitted here... So I would recommend that you call the Council and consider our Constitution, which ought long ago to have been done—and decide that we are in affiliation and subordination to India, and that we are recognised as part of the General Council, with power to have a Secretary as an (official) channel, but not to have a yearly President, but only a chairman at each Convention. I cannot work this thing here properly without your co-operation.”

“(New York) ngày 8 tháng Sáu, 1888, vài việc đang xảy ra ở đây cần được chú ý và hành động... Chính sách của (Coues) là tự đặt mình lên đầu một điều kỳ diệu chưa biết nào đó mà qua đó (xin thưa!) các thông điệp được cho là đến từ các Chân sư. Ông cũng trên quy mô lớn muốn kéo Hội Thông Thiên Học rời khỏi quyền quản trị của ông, và khiến mình thành Đại Đế của nó ở xứ này... Tôi biết rằng chính sách của ông là giữ quyền kiểm soát trọn vẹn trong tay ông, và mong muốn của tôi là giữ cho Phân bộ Hoa Kỳ như một thuộc thể của Hội đồng Tổng quát ở Ấn Độ; do đó ông là Chủ tịch. Tôi chưa từng có ý cắt lìa, mà là gắn kết, và hình thức Hiến chương của chúng ta cho thấy rõ điều đó. Đó là lý do vì sao ở đây không bầu hay cho phép có Chủ tịch... Vì vậy, tôi khuyên ông triệu tập Hội đồng và xem xét Hiến chương của chúng ta, điều lẽ ra từ lâu phải làm—và quyết định rằng chúng tôi liên đới và ở vị trí phụ thuộc Ấn Độ, và rằng chúng tôi được công nhận là một bộ phận của Hội đồng Tổng quát, với quyền có một vị Thư ký như một kênh (chính thức), nhưng không có Chủ tịch hàng năm, mà chỉ có một chủ tọa ở mỗi Đại hội. Tôi không thể vận hành việc này ở đây cho đúng nếu không có sự hợp tác của ông.”

“I am always striving to keep your name at the top, for until your death you must be at the head.” (Letter of May, 21, 1888.)

“Tôi luôn cố gắng giữ tên ông ở ngôi cao nhất, vì cho đến khi ông qua đời, ông phải ở vị trí đứng đầu.” (Thư ngày 21 tháng Năm, 1888.)

“Until you two die it is folly for others to whistle against the wind. Masters and Federation!” (Letter of June 15, 1888.)

“Chừng nào hai vị còn sống thì thật là dại dột cho kẻ khác khi thổi sáo ngược gió. Các Chân sư và Liên đoàn!” (Thư ngày 15 tháng Sáu, 1888.)

Alas! for the shortsightedness of men who leave behind them documentary proofs like the above, when setting themselves to the building up of a new structure of falsehood, fraud, and treachery in which to house new idols. No wonder the Secessionists adopted the policy of boycotting my name and falsifying history. To have mentioned me at all would have provoked too much inquiry. Alas! poor Judge.

Than ôi! cho sự thiển cận của những ai để lại sau lưng mình các bằng chứng văn tự như trên, khi bắt tay xây một cấu trúc mới của dối trá, gian lận và phản trắc để đặt những thần tượng mới vào đó. Không lạ gì phe ly khai đã chọn chính sách tẩy chay tên tôi và xuyên tạc lịch sử. Đả động đến tôi một chút thôi cũng sẽ khơi quá nhiều truy vấn. Than ôi! tội nghiệp Judge.

In March the Burmese edition of the Buddhist Catechism appeared at Rangoon, making the seventh [51] language in which it had thus far been published, viz., English, French, German, Sinhalese, Japanese, Arabic, and Burmese. In April a Japanese friend wrote me from Kyoto that my Golden Rules of Buddhism had been translated into their language and published.

Tháng Ba, bản tiếng Miến Điện của Sách giáo lý Phật giáo hỏi–đáp ra mắt tại Rangoon, trở thành ngôn ngữ thứ bảy [51] mà đến nay tác phẩm được xuất bản, tức là Anh, Pháp, Đức, Sinhala, Nhật, Ả Rập và Miến Điện. Tháng Tư, một người bạn Nhật Bản viết cho tôi từ Kyoto rằng Những Quy tắc Vàng của Phật giáo của tôi đã được dịch sang tiếng của họ và xuất bản.

At a garden-party at Government House on the 21st of April, the Gaekwar of Baroda introduced me to the Maharajah of Mysore, who asked me to his garden-party of the next week. Thus began our friendly acquaintance, which lasted until his death. On 6th May, by his special invitation, I privately lectured to the above two Princes and their staffs at the Mysore Maharajah’s house, on the subject given me of “The Effect of Hindu Religion on Hindus”. For a full hour after the lecture I answered questions put me by the Princes, the Gaekwar chiefly playing the part of spokesman, as the Mysore ruler had an impediment in his speech. This experience was not quite equal to that of Talma, who “played to a pitful of kings,” but it was a rather unusual incident for me, and a very pleasant one, for the discussion was animated, and the questions and answers were followed with the closest attention by the intelligent, and in some cases eminent, men composing the two suites.

Tại một buổi dạ yến trong vườn ở Phủ Toàn quyền vào ngày 21 tháng Tư, Gaekwar xứ Baroda giới thiệu tôi với Maharajah xứ Mysore, người mời tôi dự dạ yến vườn của Ngài vào tuần sau. Thế là bắt đầu mối thân tình của chúng tôi, kéo dài cho đến khi Ngài qua đời. Vào ngày 6 tháng Năm, theo lời mời đặc biệt của Ngài, tôi đã diễn thuyết riêng cho hai vị Vương công nói trên cùng đoàn tùy tùng của các Ngài tại dinh của Maharajah xứ Mysore, theo đề tài được giao: “Ảnh hưởng của Tôn giáo Ấn Độ giáo lên người Ấn”. Suốt một giờ sau bài nói, tôi trả lời các câu hỏi do các Vương công nêu ra, trong đó Gaekwar chủ yếu đóng vai người phát ngôn, vì vị thống trị xứ Mysore có trở ngại về lời nói. Trải nghiệm này không hoàn toàn sánh được với của Talma, người “diễn trước một hầm ghế toàn là vua chúa,” nhưng với tôi, đó là một việc khá khác thường và rất thú vị, vì cuộc trao đổi sinh động, và những câu hỏi cùng đáp lời được những người thông tuệ, và trong vài trường hợp là những vị lỗi lạc, trong hai đoàn tùy tùng theo dõi với sự chăm chú cao độ.

The Anglo-Indian community were so kind during my illness that I gladly consented to lecture for their special benefit at the Breeks School, under very influential patronage. The subject given me was “The Noble Army of Ghosts and Their Mansions”: in short, a discourse upon other World Order in which [52] the Summerland theory of the Spiritualists was compared with the Eastern idea of Kamaloka. There was a large audience, and the proceeds went to a local charity. A second lecture followed.

Cộng đồng người Anh-Ấn đã rất tử tế với tôi trong cơn bệnh, nên tôi vui lòng nhận lời diễn thuyết để dành riêng cho ích lợi của họ tại Trường Breeks, dưới sự bảo trợ đầy ảnh hưởng. Đề tài trao cho tôi là “Đạo quân Cao quý của Hồn ma và Dinh thự của họ”: nói ngắn, một khảo luận về trật tự của Thế giới bên kia, trong đó [52] thuyết Cõi Mùa Hè của các nhà thần linh học được so sánh với quan niệm phương Đông về Kamaloka. Thính phòng đông đảo, và tiền thu được trao cho một tổ chức từ thiện địa phương. Một bài nói thứ hai tiếp theo.

During this visit to Ootacamund, I bought, on Mrs. Morgan’s advice, the piece of land on which I built, as a hot-weather retreat for H. P. B., myself, and other European workers at Adyar, the cottage since known as “Gulistan”—the Rose Garden. She, poor friend! never had the chance to use it, but I have and others, and a more delightful sanatorium it would be hard to find.

Trong chuyến thăm Ootacamund này, theo lời khuyên của Bà Morgan, tôi đã mua mảnh đất nơi tôi xây dựng, như một nơi tránh nóng cho H. P. B., cho tôi, và các công tác viên Âu châu khác ở Adyar, căn nhà nhỏ từ đó được biết với tên “Gulistan”—Khu Vườn Hồng. Bà, người bạn tội nghiệp! chẳng bao giờ có dịp dùng đến, nhưng tôi và những người khác thì có, và thật khó tìm được một nơi tĩnh dưỡng nào thú vị hơn.

An instructive experiment was made by Mr. Archer, R. A., at my request, which is worth reporting. We discussed the theory of “visualising,” in connection with the real or pretended method ascribed to William ‘Blake, the Irish painter-mystic, who, it is alleged, would paint a portrait after a single sitting; he having the faculty of visualising his sitter in the pose desired, and thus being able to paint from the astral phantom as if it were the living flesh. Mr. Archer had never tried it, but said he would if I would pose for fifteen minutes. I took my place and he steadfastly looked at me, now and again closing his eyes to fix the image the better upon his sensorium, after which I was dismissed and asked to return after three days. When I went again to his studio he had sketched in my portrait, and we were both greatly interested to see how he had retained parts of the face and lost others. As an experiment, it was valuable in its suggestiveness.

Một thí nghiệm bổ ích do Ông Archer, R.A., thực hiện theo đề nghị của tôi, đáng để ghi lại. Chúng tôi bàn về thuyết “hình dung” liên hệ với phương pháp thực hoặc bị cho là thực gán cho William Blake, họa sĩ-thần bí người Ireland, người được nói là chỉ cần một lần ngồi mẫu đã vẽ xong một bức chân dung; ông có khả năng hình dung người ngồi mẫu trong tư thế mong muốn, và do đó có thể vẽ từ bóng hình cảm dục như thể đó là xác sống. Ông Archer chưa bao giờ thử cách ấy, nhưng nói ông sẽ làm nếu tôi chịu ngồi mẫu mười lăm phút. Tôi vào chỗ ngồi và ông chăm chú nhìn tôi, thỉnh thoảng khép mắt lại để khắc sâu hình ảnh hơn vào trung khu cảm giác của mình, sau đó tôi được cho lui và được hẹn ba ngày sau quay lại. Khi tôi đến xưởng vẽ lần nữa, ông đã phác chân dung của tôi, và cả hai chúng tôi đều rất hứng thú khi thấy một số phần trên khuôn mặt được ông lưu giữ rất rõ, còn những phần khác thì mất. Như một thí nghiệm, nó có giá trị ở tính gợi mở.

[53]

[53]

Mr. Archer finished the portrait, and it is now at our London Headquarters.

Ông Archer hoàn thiện bức chân dung, và hiện nay nó ở Trụ sở Chính của chúng ta tại London.

At appointed interviews with the Baroda and Mysore Princes, the maintenance of the Adyar Oriental Library and the holding of an Inter-State Sanskrit Convention, for the purpose of putting the movement for a revival of Sanskrit literature on a broad and sensible basis, were discussed. His Highness the Gaekwar asked me to draft a plan for a Technological College at Baroda, for the endowment of which he was ready to set aside ten lakhs of rupees, and I did so. The Mysore Maharajah has since established a Sanskrit Department in his own State, the Gaekwar has introduced Sanskrit and Technological instruction into his, and the Inter-State Sanskrit Convention has been held at Hardwar, and is known as the Bhârata Mahâ Mandala. So seeds are dropped, and some fall on stony ground, but others strike root in fertile soil and bring forth their special harvests.

Trong các buổi gặp đã hẹn với hai Vương công Baroda và Mysore, chúng tôi bàn về việc duy trì Thư viện Đông phương Adyar và tổ chức một Đại hội Sanskrit Liên bang, nhằm đặt phong trào phục hưng văn học Sanskrit trên một nền tảng rộng rãi và hợp lý. Điện hạ Gaekwar yêu cầu tôi thảo một kế hoạch cho một Trường Cao đẳng Kỹ thuật ở Baroda, và Ngài sẵn sàng dành ra mười lakh rupee làm quỹ, và tôi đã làm. Từ đó, Maharajah xứ Mysore đã lập một Khoa Sanskrit trong bang của Ngài, Gaekwar đã đưa vào giáo dục Sanskrit và Kỹ thuật trong bang của Ngài, và Đại hội Sanskrit Liên bang đã được tổ chức tại Hardwar, được biết với tên Bhârata Mahâ Mandala. Hạt giống được gieo vãi, có hạt rơi trên đất sỏi đá, nhưng những hạt khác bén rễ trên đất phì nhiêu và sinh ra mùa gặt riêng của chúng.

My health having been, entirely restored; I left Ootacamund on 31st May, and after a short tour to Coimbatore, Pollachi, Udamalpet, and Palghat, where lectures were given and two new Branches were formed, returned to Adyar and plunged into routine work, literary and official.

Sức khỏe đã hoàn toàn hồi phục; tôi rời Ootacamund ngày 31 tháng Năm, và sau một chuyến đi ngắn đến Coimbatore, Pollachi, Udamalpet và Palghat, nơi có các bài nói được thực hiện và hai Chi bộ mới được thành lập, tôi trở về Adyar và lao ngay vào công việc thường nhật, văn chương và hành chính.

The last week in June brought me a vexatious letter from H. P. B., indicative of a storm of trouble that was raging in and about her, the consideration of which had better be deferred until our next chapter.

Tuần cuối tháng Sáu mang đến cho tôi một lá thư gây phiền muộn của H. P. B., báo hiệu một cơn bão rắc rối đang nổi lên trong và quanh Bà, mà xét nên hoãn việc bàn đến cho tới chương sau.

CHAPTER IV—CHƯƠNG IV

FORMATION OF THE ESOTERIC SECTION—SỰ THÀNH LẬP BAN NỘI MÔN

(1888)

(1888)

IT was remarked at the end of the last chapter that we were now about to review some disagreeable incidents of the year in which H. P.B. was a conspicuous factor; If she had been just an ordinary person hidden behind the screen of domesticity; this history of the development of the Theosophical movement might have been written without bringing her on the stage: or if the truth had been told about her by friend and foe, I might have left her to be dealt with by her Karma, showing, of course, what great part she had played in it, and to how great a credit she was entitled. But she has snared the fate of all public characters of mark in human affairs, having been absurdly flattered and worshipped by one party, and mercilessly wronged by the other. Unless, then, her most intimate friend and colleague, the surviving builder-up of the movement, had cast aside the reserve he had all along maintained, and would have preferred to preserve; the real personage would never have been understood by her contemporaries, nor justice done to her really [55] grand character. That, she was great in the sense of the thorough altruism of her public work is unquestionable: in her times of exaltation self was drowned in the yearning to spread knowledge and do her Master’s bidding. She never sold her rich store of occult knowledge for money, nor bartered instruction for personal advantage. She valued her life as nothing as balanced against service, and would have given it as joyfully as any religious martyr if the occasion had seemed to demand the sacrifice. These tendencies and characteristic traits she had brought over with her from the long line of incarnations in which she (and, in some, we) had been engaged in like service; they were the aspects of her individuality, high, noble, ideally loyal, worthy, not of being worshipped—for no human being ought to be made the cause of slavish adoration—but of aspiration to be like it. Her personality is quite another affair, and afforded a strong background to throw out her interior brightness into stronger relief. In the matter under present discussion, for instance, the front she presents to me in her letters is unlovely to a degree: language violent, passion raging, scorn and satire poorly covered by a skin of soft talk; a disposition to break through the “red tape” of the Society’s mild constitution, and to rule or ruin as I might decide to ratify or disavow her arbitrary and utterly unconstitutional acts; a sniffing at the Council and Councillors, whom she did not choose to have stand in her way, a sharp and slashing criticism of certain of her European co-workers, especially of [56] the one most prominent in that part of the movement, whose initials she parenthesised after the word “Satan,” and an appeal that I should not let our many years of associated work be lost in the breaking up of the T. S. into two unrelated bodies, the Eastern and the Western Theosophical Societies. In short, she writes like a mad person and in the tone of a hyper-excited hysterical woman, fighting for her good name against the black maliciousness of the, Missionary-Coulomb-Hodgson assault, and for her life against a number of physical ailments which three years later carried her off. Yet, ill in body and upset in mind as she may have been, she was still a mighty factor for me to deal with, and forced me to choose which line of policy I should follow. The first count in her indictment against me (for, of course, more suo, it was all my fault) was that I had decided against her favorite in an arbitration I had held at Paris, that year, between two opposing parties among the French Theosophists; it was, she writes me, “no mistake, but a crime perpetrated by you against Theosophy (doubly underscored), in full knowledge of what X. is and fear of Y. “Olcott, my friend, you are—but I do not want to hurt your feelings, and will not say to you what you are. If you do not feel and realise it yourself, then all I can say will be useless. As for P., [10] you have put yourself entirely in his hands, and you have sacrificed Theosophy, and even the honor of the T. S. in France, out of fear of that wretched little——.” Encouraging [57] praises, these, for a poor fellow who was struggling with all his might to steer the ship on its course, keeping clear of the shoals and rocks which wreck so many societies, and are doubly dangerous to vessels manned by cranky crews. She had hatched out a new section, with herself elected as “President,” taken a commodious house, and had a signboard ready to pave painted on it either “European Headquarters of the T. S.” or “Western Theosophical Society”. Seeming to suspect that I might not like it very much to have the whole machinery of the Society upset to gratify her whim, and remembering of old that the more she threatened the more stubborn it made me, she writes: “Now look here, Olcott. It is very painful, most painful, for me to have to put to you what the French call marché en main, and to have you choose. You will say again that you ‘hate threats,’ and these will only make you more stubborn. But this is no threat at all, but a fait accompli. It remains with you to either ratify it or to go against it, and declare war to me and my Esotericists. If, recognising the utmost necessity of the step, you submit to the inexorable evolution of things, nothing will be changed. Adyar and Europe will remain allies, and, to all appearance, the latter will seem to be subject to the former. If you do not ratify it—well, then there will be two Theosophical Societies, the old Indian and the new European, entirely independent of each other.” Hobson’s choice, in a word! After this, one need not be astonished to see her saying: “I write in all calmness and after full deliberation, [58] your having granted the Charter to P. having only precipitated matters!”

Ở cuối chương trước có nhận xét rằng giờ đây chúng ta sắp duyệt lại vài biến cố khó chịu trong năm mà H. P. B. là một yếu tố nổi bật; Nếu Bà chỉ là một người thường ẩn sau bức màn gia thất; lịch sử phát triển của phong trào Thông Thiên Học có thể đã được viết mà không phải đưa Bà ra sân khấu: hoặc nếu sự thật về Bà được bạn và thù kể lại đúng mức, tôi hẳn đã để Mặc pháp xử lý Bà, dĩ nhiên vẫn chỉ rõ phần lớn lao Bà đã đóng góp trong đó, và Bà xứng đáng bao công trạng đến dường nào. Nhưng Bà đã mắc chung số phận của mọi nhân vật công chúng có tầm, bị một phe tâng bốc và sùng bái đến lố bịch, và bị phe kia vu oan tàn nhẫn. Vậy thì, nếu người bạn thân thiết nhất và cộng sự của Bà, người còn sống và gây dựng phong trào, không gạt bỏ sự dè giữ mà suốt thời gian đã giữ, và hẳn còn muốn giữ; thì con người thật sẽ chẳng bao giờ được những người đương thời hiểu đúng, cũng chẳng công bằng được dành cho [55] tính cách thật sự trác việt của Bà. Rằng Bà vĩ đại theo nghĩa vị tha trọn vẹn của công cuộc công khai của Bà là điều không thể tranh cãi: trong những thời khắc thăng hoa, cái tôi bị dìm khuất trong khát vọng truyền bá tri thức và làm theo lệnh dạy của Thầy. Bà chưa bao giờ bán kho tàng tri thức huyền bí phong phú của mình lấy tiền, cũng không đổi chác sự chỉ giáo để lấy lợi riêng. Bà xem nhẹ mạng sống của mình khi đặt lên bàn cân với phụng sự, và Bà hẳn đã hiến nó với niềm hoan hỷ như bất kỳ vị tử đạo tôn giáo nào nếu hoàn cảnh dường như đòi hỏi sự hiến tế ấy. Những khuynh hướng và phẩm chất đặc trưng này Bà mang theo từ một chuỗi dài lâm phàm trong đó Bà (và trong vài kiếp, cả chúng tôi) đã cùng dấn thân vào một công cuộc như thế; đó là các phương diện của cá tính Bà: cao thượng, cao quý, trung thành lý tưởng, xứng đáng—không phải để được sùng bái—vì không một con người nào nên bị biến thành nguyên nhân cho sự tôn thờ nô lệ—mà là để khơi dậy khát vọng nên giống như thế. Còn phàm ngã của Bà lại là một chuyện khác, và tạo nên một nền hậu cảnh đậm để làm bật ánh sáng nội tại của Bà lên mạnh mẽ hơn. Trong sự việc đang bàn, chẳng hạn, bề mặt Bà phô ra với tôi qua thư từ là khó ưa đến mức: ngôn từ kịch liệt, cơn giận cuộn sôi, khinh miệt và mỉa mai chỉ che đậy hời hợt bằng một lớp nói năng mềm mỏng; một khuynh hướng muốn xé toang “thủ tục dây đỏ” của bản hiến chương ôn hòa của Hội, và hoặc cai trị hoặc phá hỏng, tùy theo tôi quyết định phê chuẩn hay khước từ những hành vi độc đoán và hoàn toàn trái hiến chương của Bà; ngoảnh mũi vào Hội đồng và các Hội viên Hội đồng, những người Bà không muốn để cản đường, một sự phê bình gay gắt và chém to khoét sâu đối với vài cộng sự viên Âu châu của Bà, đặc biệt là [56] người nổi bật nhất trong phần phong trào ấy, kẻ có hai chữ cái viết tắt được Bà đặt trong ngoặc sau chữ “Satan”, và một lời khẩn cầu rằng tôi chớ để nhiều năm làm việc chung của chúng tôi bị vô hiệu trong việc xé đôi Hội Thông Thiên Học thành hai cơ thể không liên hệ với nhau: Hội Thông Thiên Học phương Đông và Hội Thông Thiên Học phương Tây. Tóm lại, Bà viết như một người điên và với giọng của một phụ nữ bị kích động quá mức vì chứng loạn thần kinh, chiến đấu cho thanh danh của mình chống lại sự độc ác đen tối của cuộc công kích từ phe Truyền giáo–Coulomb–Hodgson, và cho sinh mệnh mình trước một số chứng bệnh thể xác mà ba năm sau đó đã đem Bà đi. Tuy vậy, dù thân bệnh và tâm xáo trộn đến đâu, Bà vẫn là một yếu tố hùng mạnh mà tôi phải đương đầu, và buộc tôi phải chọn đường lối chính sách cần theo. Tội danh đầu tiên trong bản cáo trạng của Bà chống lại tôi (vì dĩ nhiên, theo thói quen của Bà, tất cả đều là lỗi của tôi) là tôi đã quyết định chống lại người được Bà ưu ái trong một vụ phân xử mà tôi đã tiến hành ở Paris, năm đó, giữa hai phe đối nghịch trong giới Thông Thiên Học Pháp; đó, Bà viết cho tôi, “không phải sai lầm, mà là một tội ác do ông phạm chống lại Thông Thiên Học (gạch đôi), trong khi ông biết rõ X. là gì và sợ Y. ‘Olcott, bạn của tôi, ông là—nhưng tôi không muốn làm tổn thương cảm xúc của ông, và sẽ không nói cho ông biết ông là cái gì. Nếu ông không tự cảm thấy và nhận ra, thì mọi điều tôi có thể nói sẽ vô ích. Còn đối với P., ông đã hoàn toàn đặt mình vào tay y, và ông đã hy sinh Thông Thiên Học, và cả danh dự của Hội Thông Thiên Học ở Pháp nữa, chỉ vì sợ cái tên nhãi nheo nhẻo đáng thương ấy——.” Những lời ngợi khen khích lệ [57] này dành cho một người khốn khổ đang gắng sức hết mình lèo lái con tàu theo hải trình, tránh xa những bãi cạn và ghềnh đá nơi bao hội đoàn bị đắm, và càng nguy hiểm gấp đôi cho những con tàu do những thủy thủ lẩm cẩm điều khiển. Bà đã ấp nở một chi bộ mới, tự bầu mình làm “Chủ tịch”, thuê một căn nhà rộng rãi, và đã sẵn một tấm biển hiệu để sơn lên đó hoặc “Trụ sở Châu Âu của Hội Thông Thiên Học” hoặc “Hội Thông Thiên Học Tây phương”. Có vẻ như dự đoán rằng tôi có thể không mấy thích thú khi toàn bộ guồng máy của Hội bị đảo lộn để thỏa ý Bà, và nhớ rằng càng bị hăm dọa thì càng làm tôi cố chấp hơn, Bà viết: “Giờ thì nghe đây, Olcott. Thật đau lòng, rất đau lòng, cho tôi khi phải đặt trước ông cái mà người Pháp gọi là marché en main, và để ông chọn. Ông sẽ lại nói rằng ông ‘ghét những lời đe dọa,’ và chúng chỉ làm ông bướng bỉnh hơn. Nhưng đây nào phải đe dọa, mà là một fait accompli. Việc còn lại ở ông: hoặc phê chuẩn nó, hoặc đi ngược lại và tuyên chiến với tôi và những người Nội môn của tôi. Nếu, nhận ra sự cần kíp tột độ của bước đi này, ông khuất phục trước tiến trình không thể cưỡng của sự việc, thì chẳng có gì thay đổi. Adyar và châu Âu sẽ tiếp tục là đồng minh, và, bề ngoài, nơi sau sẽ có vẻ như lệ thuộc nơi trước. Nếu ông không phê chuẩn—thì, sẽ có hai Hội Thông Thiên Học, một cũ ở Ấn Độ và một mới ở châu Âu, hoàn toàn độc lập với nhau.” Nói gọn lại, một lựa chọn bắt buộc! Sau đó, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi thấy Bà nói: “Tôi viết trong toàn sự điềm tĩnh và sau khi đã cân nhắc đầy đủ, [58] việc ông cấp Hiến chương cho P. chỉ làm cho sự việc mau đến điểm chín thôi!”

This stand-and-deliver ultimatum naturally frightened the “mild Hindu” members of our Executive Council to fits, and involved another visit to Europe in 1889. The Paris arbitration above referred to occurred during my European visit of 1888, which kept me there, from 26th August to 22nd October, and was made, at the entreaty of the Executive Council, as the tone of H. P. B.’s letters had alarmed them for the stability of the movement in the West. The tour should, by rights, have been mentioned before the incidents of the threatened split above alluded to, but H. P. B.’s letter lying nearest to hand, and the trouble being continuous through the two successive years, I took it up first.

Tối hậu thư kiểu chặn đường này tự nhiên làm các thành viên “người Ấn ôn hòa” trong Hội đồng Điều hành của chúng tôi hồn xiêu phách lạc, và kéo theo một chuyến đi nữa sang châu Âu vào năm 1889. Vụ phân xử ở Paris được nhắc trên xảy ra trong chuyến công du châu Âu của tôi năm 1888, giữ chân tôi ở đó từ ngày 26 tháng Tám đến ngày 22 tháng Mười, và được thực hiện theo lời khẩn khoản của Hội đồng Điều hành, vì giọng điệu thư từ của H. P. B. đã khiến họ lo ngại cho sự vững bền của phong trào ở phương Tây. Theo lẽ phải, chuyến đi đó đã phải được nhắc đến trước các biến cố về cuộc chia rẽ bị đe dọa vừa nói, nhưng vì lá thư của H. P. B. nằm gần tay nhất, và rắc rối kéo dài trong hai năm liên tiếp, nên tôi nhắc đến trước.

The Paris imbroglio sprang out of a disturbance in the” Isis” Branch, founded by the late regretted M. Louis Dramard. After his decease, a hypersensitive young man named Gaboriau, who showed an excessive, enthusiasm for Theosophy, but small executive faculty, and who had been taken up as a protégé by H. P. B., was spending a small patrimony, just inherited, on Theosophical publications, and trying to lead the Isis T. S. along its difficult path. In doing this he had become involved in disputes, in which H. P. B. had taken his side, and made a bad mess for me by giving him, in her real character of Co-Founder and her assumed one of my representative, with full discretionary powers, a charter of a sweeping and unprecedented [59] character, which practically let him do as he pleased. This was, of course, protested against by some of his soberer colleagues, recriminations arose, and an appeal was made to me. After my arrival in London a circular was issued to each registered French member appointing a time and place of meeting in Paris, and on 17th September my formal decision was read before the assembly. The impossibility of reorganising the Isis T. S. being evident, a new charter was granted to a new Branch, the “Hermes,” and the now lamented M. Arthur Arnould, the well-known author, was elected President; M. Eugene Nus, the historian, and George Caminade d’Angers, Vice-Presidents; Gerard Encausse, Corresponding Secretary; and C. Dubourg and Julien Lejay, Secretaries. A large roll of members was inscribed and the young Branch began its career. My action in this affair was taken according to my best judgment, after hearing all that was to be said and seeing everybody concerned; I believe it to have been the best under existing circumstances, though it threw M. Gaboriau out of the active running, caused him and some of his few followers to denounce me unqualifiedly, and led to a pitched battle, as one might say, between H. P. B. and myself on my return to London. The sequel is above shown in her revolutionary action with respect to the reorganisation at London.

Vụ rối ren ở Paris nảy sinh từ một xáo trộn trong Chi bộ “Isis”, do cố M. Louis Dramard sáng lập. Sau khi ông qua đời, một thanh niên quá mẫn cảm tên là Gaboriau, người biểu lộ một nhiệt tình thái quá đối với Thông Thiên Học nhưng năng lực điều hành ít ỏi, và người đã được H. P. B. đỡ đầu làm môn đồ, đang tiêu tán một số gia sản nhỏ mới thừa hưởng vào các ấn phẩm Thông Thiên Học, và cố gắng dẫn dắt Chi bộ Isis theo con đường khó khăn của nó. Khi làm vậy, y đã vướng vào tranh chấp, trong đó H. P. B. đứng về phía y, và gây cho tôi một rắc rối tệ hại khi trao cho y, với tư cách thật sự là Đồng Sáng lập và tư cách tự nhận là đại diện của tôi, với toàn quyền tùy nghi, một hiến chương mang tính bao trùm và chưa từng có [59], thực tế cho phép y muốn làm gì thì làm. Dĩ nhiên điều này bị vài đồng sự chín chắn hơn của y phản đối, lời qua tiếng lại phát sinh, và có một lời thỉnh cầu gửi đến tôi. Sau khi tôi đến London, một thông tri được phát cho mỗi hội viên người Pháp đã đăng ký, ấn định thời gian và địa điểm họp tại Paris, và vào ngày 17 tháng Chín, quyết định chính thức của tôi được đọc trước đại hội. Vì rõ là không thể tổ chức lại Chi bộ Isis, một hiến chương mới được cấp cho một Chi bộ mới, “Hermes”, và cố M. Arthur Arnould, nhà văn nổi tiếng, được bầu làm Chủ tịch; M. Eugene Nus, sử gia, và George Caminade d’Angers, làm Phó Chủ tịch; Gerard Encausse làm Thư ký Thông tín; và C. Dubourg cùng Julien Lejay làm Thư ký hành chính. Một danh sách hội viên dài được ghi và Chi bộ trẻ bắt đầu hành trình. Hành động của tôi trong việc này được tiến hành theo sự phán đoán tốt nhất của tôi, sau khi đã nghe hết những điều cần nghe và gặp tất cả những người có liên quan; tôi tin đó là điều tốt nhất trong hoàn cảnh hiện hữu, dù nó khiến M. Gaboriau bị loại khỏi đường đua tích cực, khiến y và một số ít người theo y lên án tôi không nương tay, và dẫn đến, có thể nói, một trận quyết đấu giữa H. P. B. và tôi khi tôi trở lại London. Hậu quả đã được cho thấy ở trên trong động thái cách mạng của Bà liên quan đến việc tổ chức lại tại London.

It was during this tour that I made the acquaintance of Professor F. Max Müller, and visited him at Oxford, where he was good enough to have me meet Sir William [60] W. Hunter, K.C.S.I., and the world-famous Prof. E. B. Tylor, the anthropologist. Professor Müller was so kind as to say that the Oriental reprinting, translation, and publishing portion of the Society’s work was “noble, and there could be no two opinions about it, nor were there among Orientalists”. But as for our far more cherished activities, the discovery and spread of ancient views on the existence of Siddhas, and of the siddhis in man, he was utterly incredulous. “We know all about Sanskrit and Sanskrit literature,” he said, “and have found no evidence anywhere of the pretended esoteric meaning which your Theosophists profess to have discovered in the Vedas, the Upanishads, and other Indian Scriptures: there is nothing of the kind, I assure you. Why will you sacrifice all the good opinion which scholars have of your legitimate work for Sanskrit revival to pander to the superstitious belief of the Hindus in such follies?” We sat alone in his fine library-room, well lighted by windows looking out on one of those emerald, velvety lawns so peculiar to moist England; the walls of the chamber covered with bookcases filled with the best works of ancient and modern writers, two marble statuettes of the Buddha sitting in meditation, placed to the right and left of the fireplace, but on the hearth (Buddhists take notice), and the grand old scholar, author, discoverer, controversialist, teacher, courtier, seated at his large morocco-covered mahogany writing-table, with the light of one window shining full in his face and another beyond the edge of the table bringing [61] out his aristocratic profile in sharp relief. How the picture of that temple of high-thinking comes back to my memory out of the latency of the âkasa! I see this greatest pupil of that pioneer genius, E. Burnouf, sitting there and giving me his authoritative advice to turn from the evil course of Theosophy into the hard and rocky path of official scholarship, and be happy to lie down in a thistle-bed prepared by Orientalists for their common use. As he warmed with his subject, the blood rose to his head and suffused his delicate skin, his fine nostrils dilated, and his eyes sparkled. I sat facing the fireplace, at the nearer end of the table, where I could read the emotions in his face as they arose, listening with the respect to which so aged and so illustrious a scholar was entitled. When he had finished, I quietly said that his conclusions as to these occult things were at variance with the beliefs of every orthodox Pandit, from one end of India to the other; that the Gupta Vidya was a recognised element in Hindu religious philosophy, as, of course, he knew; and that what most drew the educated Indians into sympathy with us was the very fact that we believed exactly what they had believed from time immemorial on these subjects. Moreover, I would venture to declare to the Professor that I had had the clearest evidence at first hand that the Siddhas, or Mahatmas, live and work for humanity to-day as they ever have; and that the claims of Patanjali as to the siddhis and the possibility of developing them were, to my certain knowledge, true. The Professor, finding me so [62] self-opinionated and indisposed to desert my colors, said we had better change the subject. We did, but not for long, for he came back to it, and we finally agreed to disagree, parting in all courtesy, and, on my own part, with regret that so great a mind could not have taken in that splendid teaching of the Sages about man and his powers, which is of all in the world the most satisfying to the reason and most consoling to the heart.

Chính trong chuyến đi này tôi làm quen với Giáo sư F. Max Müller, và đến thăm ông ở Oxford, nơi ông tử tế sắp cho tôi gặp Ngài William [60] W. Hunter, K.C.S.I., và Giáo sư E. B. Tylor, nhà nhân học trứ danh thế giới. Giáo sư Müller tử tế nói rằng phần công việc của Hội là in lại, dịch thuật và xuất bản các trước tác Đông phương là “cao quý, và không thể có hai luồng ý kiến về điều đó, và trong giới Đông phương học cũng không hề có.” Nhưng còn đối với những hoạt động mà chúng tôi trân quý hơn nhiều—việc phát hiện và truyền bá những quan kiến cổ xưa về sự hiện hữu của các Siddha, và về các siddhi trong con người—thì ông hoàn toàn không tin. “Chúng tôi biết hết về Sanskrit và văn học Sanskrit,” ông nói, “và chẳng tìm thấy dấu vết đâu về cái gọi là ý nghĩa nội môn mà các ông Thông Thiên Học của các ông nhận là đã khám phá ra trong các Veda, Upanishad, và các Thánh điển Ấn Độ khác: không hề có thứ gì như thế, tôi cam đoan với ông. Tại sao ông lại chịu hy sinh toàn bộ thiện cảm mà giới học giả dành cho công trình chính đáng của ông về phục hưng Sanskrit chỉ để chiều theo niềm tin mê tín của người Ấn vào những điều hão huyền ấy?” Chúng tôi ngồi riêng trong thư phòng đẹp đẽ của ông, đón ánh sáng chan hòa từ các khung cửa sổ nhìn ra một trong những thảm cỏ xanh ngọc mềm mượt đặc thù của xứ Anh ẩm ướt; tường phòng phủ kín tủ sách chứa các tác phẩm hay nhất của cổ kim, hai tượng cẩm thạch nhỏ Đức Phật ngồi tham thiền đặt hai bên lò sưởi, nhưng đặt ngay trên bệ lò (chư Phật tử xin lưu ý), và bậc học giả lớn tuổi, tác giả, nhà phát hiện, nhà biện luận, nhà giáo, người thân triều, ngồi bên bàn viết gỗ gụ phủ da morocco lớn, ánh sáng từ một cửa sổ chiếu thẳng lên mặt ông và một cửa sổ khác khuất sau mép bàn khiến [61] sống mũi quý tộc của ông hiện lên sắc nét. Ôi bức họa về ngôi đền của tư tưởng cao vợi ấy làm sao mà hiện về trong ký ức tôi từ tiềm thức của akasa! Tôi nhìn thấy môn sinh lớn nhất của thiên tài tiên phong E. Burnouf ngồi đó và trao cho tôi lời khuyên đầy uy tín là quay khỏi con đường “tà đạo” của Thông Thiên Học bước vào lối mòn gập ghềnh của học thuật chính thống, và hài lòng nằm xuống trên một luống kế chuẩn bị sẵn bởi giới Đông phương học cho họ dùng chung. Khi ông càng nói càng hứng, máu dồn lên và nhuộm hồng làn da mịn, lỗ mũi thanh tú nở ra, và mắt ông lấp lánh. Tôi ngồi đối diện lò sưởi, ở đầu gần của chiếc bàn, nơi tôi có thể đọc được những xúc cảm thoáng hiện trên mặt ông, lắng nghe với sự kính trọng mà một học giả cao niên và lừng lẫy như thế xứng đáng nhận. Khi ông dứt lời, tôi bình thản nói rằng những kết luận của ông về các điều huyền bí này trái ngược với niềm tin của mọi Pandit chính thống, từ đầu này sang đầu kia Ấn Độ; rằng Gupta Vidya là một yếu tố được công nhận trong triết lý tôn giáo Ấn Độ, như dĩ nhiên ông biết; và rằng điều kéo giới trí thức Ấn Độ đến cảm tình với chúng tôi nhất chính là việc chúng tôi tin đúng những gì họ đã tin từ thời vô thủy về những chủ đề này. Hơn nữa, tôi cả gan bày tỏ với Giáo sư rằng tôi đã có bằng chứng rõ ràng nhất, từ chính kinh nghiệm trực tiếp, rằng các Siddha, hay các Chân sư, vẫn sống và làm việc vì nhân loại ngày nay như họ đã từng; và rằng những xác quyết của Patanjali về các siddhi và khả năng tu dưỡng chúng là, theo hiểu biết chắc chắn của tôi, đúng sự thật. Giáo sư, thấy tôi [62] cố chấp và bất xả kỳ kỳ, không chịu rời bỏ lá cờ của mình, nói rằng tốt hơn là chúng tôi nên đổi đề tài. Chúng tôi đã đổi, nhưng chẳng được bao lâu, vì ông lại quay về điều đó, và rốt cuộc chúng tôi đồng ý là bất đồng, chia tay trong toàn lễ nghĩa, và, về phần tôi, trong niềm tiếc nuối rằng một trí tuệ lớn như thế lại không thể lĩnh hội giáo lý trác việt của các Bậc Hiền triết về con người và các năng lực của y—giáo lý, hơn hết thảy trên đời, thỏa đáng nhất đối với lý trí và an ủi nhất đối với trái tim.

The tour of 1888 took me to London, Liverpool, Cambridge, Glasgow, Paris, and Bologna. I called two Conventions at London of the British Branches, organised and chartered a British Section of the T. S., and issued an order in Council forming an Esoteric Section, with Madame Blavatsky as its responsible head. It was thus worded:

Chuyến đi năm 1888 đưa tôi đến London, Liverpool, Cambridge, Glasgow, Paris và Bologna. Tôi triệu tập hai Đại hội tại London của các Chi bộ Anh quốc, tổ chức và cấp hiến chương cho một Khu vực Anh của Hội, và ban hành một lệnh nhân danh Hội đồng lập ra một Ban Nội Môn, với Bà Blavatsky là người chịu trách nhiệm đứng đầu. Lệnh ấy được soạn như sau:

“LONDON, 9th October, 1888.

“LONDON, ngày 9 tháng 10, 1888.

“THE ESOTERIC SECTION OF THE THEOSOPHICAL SOCIETY.

“BAN NỘI MÔN CỦA HỘI THÔNG THIÊN HỌC.

“I. To promote the esoteric interests of the Theosophical Society by the deeper study of esoteric philosophy, there is hereby organised a body, to be known as the ‘Esoteric Section of the Theosophical Society.’

“I. Để thúc đẩy các lợi ích nội môn của Hội Thông Thiên Học bằng sự học hỏi sâu hơn triết lý nội môn, nay tổ chức một cơ cấu mang tên ‘Ban Nội Môn của Hội Thông Thiên Học.’

“II. The constitution and sole direction of the same is vested in Madame H. P. Blavatsky, as its head; she is solely responsible to the members for results; and the section has no official or corporate connection with the Exoteric Society, save in the person of the President-Founder.

“II. Hiến chương và quyền điều hành duy nhất của cơ cấu này được giao cho Bà H. P. Blavatsky, với tư cách người đứng đầu; Bà một mình chịu trách nhiệm trước hội viên về các kết quả; và Ban này không có liên hệ chính thức hay pháp nhân nào với Hội Ngoại môn, ngoại trừ qua nhân thân của vị Chủ tịch–Sáng lập.

[63]

[63]

“Persons wishing to join the Section, and willing to abide by its rules, should communicate directly with Madame H. P. Blavatsky, 17 Lansdowne Road, Holland Park, London, W.

“Những ai muốn gia nhập Ban, và sẵn sàng tuân thủ các quy luật của Ban, nên liên lạc trực tiếp với Bà H. P. Blavatsky, 17 Lansdowne Road, Holland Park, London, W.

“(Sd.) H. S. OLCOTT,

“(Ký tên) H. S. OLCOTT,

President in Council.

Chủ tịch, nhân danh Hội đồng.

“Attest:

“Xác nhận:

“H. P. BLAVATSKY,

“H. P. BLAVATSKY,

“Corresponding Secretary.”

“Thư ký Thông tín.”

This was the beginning of the E. S. T. movement, now so very important an one as carried on by Mrs. Besant, the chosen successor of H. P. B. The reason for my throwing the whole responsibility for results upon H. P. B. was that she had already made one failure in this direction at Adyar in 1884, when she, with T. Subba Row, Oakley, Damodar, and others, tried to organise a secret class, or group, whose members were to have been brought more closely into relations with the Masters, but which failed, and I did not care to be responsible for the fulfilment of any special engagements she might make with the new set of students she was now gathering about her, in her disturbed state of mind. I helped her write some of her instructions, and did all I could to make the way easy for her, but that was all. Later, when I found that those who entered the E. S. were satisfied with what they were getting, I took a more decided stand in the matter, and now have nothing but praise to express for the way in which the present head of the school is dealing with her army of voluntarily enrolled students.

Đó là khởi đầu của phong trào Ban Nội Môn, nay trở nên rất trọng yếu dưới sự điều hành của Bà Besant, người được chọn làm kế vị của H. P. B. Lý do tôi đặt toàn bộ trách nhiệm về kết quả lên vai H. P. B. là vì trước đó Bà đã một lần thất bại theo hướng này tại Adyar năm 1884, khi Bà cùng T. Subba Row, Oakley, Damodar, và những người khác, cố gắng tổ chức một lớp hay nhóm bí mật, mà hội viên sẽ được đưa vào mối liên hệ mật thiết hơn với các Chân sư, nhưng đã thất bại, và tôi không muốn phải chịu trách nhiệm cho việc thực hiện bất kỳ cam kết đặc biệt nào mà Bà có thể đưa ra với nhóm môn sinh mới Bà đang quy tụ quanh mình trong trạng thái tinh thần xáo trộn. Tôi giúp Bà viết một số chỉ dẫn, và làm mọi điều có thể để giúp Bà thuận lợi, nhưng chỉ thế thôi. Về sau, khi tôi thấy những người gia nhập Ban Nội Môn hài lòng với những gì họ nhận được, tôi đã có lập trường quả quyết hơn trong việc này, và nay chỉ có lời ngợi khen dành cho cách mà người đứng đầu hiện tại của trường đang dìu dắt đạo binh môn sinh tự nguyện ghi danh của mình.

[64]

[64]

At the same time, it must never be forgotten that the E. S. T. is not the T. S.; nor that its rules are binding only upon members belonging to that special school; nor that it would be a violation of the T. S. constitution for it to interfere with their rights of private judgment; nor that the President-Founder is compelled to guarantee to every individual member, of whatsoever religion, race, sex, or color, his or her personal liberty of belief and speech.

Đồng thời, không bao giờ được quên rằng Ban Nội Môn không phải là Hội Thông Thiên Học; rằng các quy tắc của Ban chỉ ràng buộc những hội viên thuộc về ngôi trường đặc biệt ấy; rằng can thiệp vào quyền phán đoán riêng của hội viên sẽ là một vi phạm hiến chương của Hội; và rằng Chủ tịch–Sáng lập buộc phải bảo đảm cho mỗi hội viên, bất kể tôn giáo, chủng tộc, giới tính hay màu da, quyền tự do niềm tin và ngôn luận cá nhân của họ.

Nearly all the persons engaged in the Paris quarrel were to blame, they having given way to personal jealousies, obliterated the landmarks of the Society, fallen into a strife for supremacy, with mutual abuse, oral and printed. I first tried to get the dissentients to work harmoniously under the old charter, and, this failing, offered the two parties, M. Gaboriau’s and M. Arnould’s, a charter each, on the most liberal conditions; but Gaboriau would not or could not form a Branch without the others, and so the one charter for the Hermes Branch was the result. The thanks of the Society were officially given to Madame the Countess d’Adhèmar, F.T.S., for throwing open her drawing-rooms for meetings during my stay, and doing all else within her power to promote the reorganisation of our affairs at the French capital.

Hầu như mọi người can dự vào cuộc cãi vã ở Paris đều có lỗi, vì họ đã buông mình theo ghen tị cá nhân, xóa nhòa các mốc giới của Hội, sa vào cuộc tranh giành quyền uy, kèm theo mạt sát lẫn nhau, bằng lời và bằng chữ in. Tôi trước hết tìm cách khiến các bên bất đồng làm việc hòa hợp dưới hiến chương cũ, và khi việc đó không thành, tôi đề nghị cho hai phe—phe của M. Gaboriau và phe của M. Arnould—mỗi phe một hiến chương, với những điều kiện rộng rãi nhất; nhưng Gaboriau hoặc không muốn hoặc không thể lập Chi bộ nếu không có những người kia, và thế là kết quả chỉ là một hiến chương cho Chi bộ Hermes. Hội đã trân trọng cảm ơn chính thức Bà Bá tước d’Adhèmar, F.T.S., vì đã mở phòng khách phục vụ các cuộc họp trong thời gian tôi lưu lại, và làm mọi điều khác trong khả năng để thúc đẩy việc tái tổ chức công việc của chúng ta tại thủ đô Pháp.

My tour realised the objects in view, H. P. B. being pacified, our affairs in Great Britain put in order, and the E. S. started; but, as was above made plain, the calm was not destined to last, and a second visit to Europe had to be made in l889, after my return [65] from Japan. Yet the strife between us two was always on the outside, and as regards questions of management and policy; interiorly, we were linked together in an unity of purpose and ideals that not even death has broken asunder. To refute the many falsehoods spread by third parties who wanted to breed dissension between us, or give the impression that the Society was on the point of splitting—a belief held by many, my Executive Council included, on the strength of H. P. B.’s hysterical letters—she and I issued the following joint note:

Chuyến đi của tôi đạt được những mục tiêu đề ra, H. P. B. được làm yên, công việc của chúng ta ở Anh được chỉnh đốn, và Ban Nội Môn được khởi động; nhưng, như đã nói rõ ở trên, sự bình yên ấy không kéo dài, và một chuyến đi thứ hai sang châu Âu phải được thực hiện vào năm 1889, sau khi tôi trở về [65] từ Nhật Bản. Tuy vậy, sự đối nghịch giữa chúng tôi luôn chỉ ở bề ngoài và liên quan đến các vấn đề quản trị và đường hướng; còn bên trong, chúng tôi gắn bó với nhau trong một hợp nhất về mục đích và lý tưởng mà ngay cả cái chết cũng không chia lìa. Để bác bỏ nhiều lời dối trá do người ngoài gieo rắc với ý đồ gây chia rẽ giữa chúng tôi, hoặc tạo ấn tượng rằng Hội đang trên bờ tan rã—một niềm tin được nhiều người giữ, kể cả Hội đồng Điều hành của tôi, dựa trên những bức thư mang tính cuồng loạn của H. P. B.—Bà và tôi đã phát hành tờ thông tri chung sau:

“To dispel a misconception that has been engendered by mischief-makers, we, the undersigned Founders of the Theosophical Society, declare that there is no enmity, rivalry, strife, or even coldness between us, nor ever was; nor any weakening of our joint devotion to the Masters or to our work, with the execution of which they have honored us. Widely dissimilar in temperament and mental characteristics, and differing sometimes in views as to methods of propagandism, we are yet of absolutely one mind as to that work. As we have been from the first, so are we now united in purpose and zeal, and ready to sacrifice all, even life, for the promotion of Theosophical knowledge, to the saving of mankind from the miseries which spring from ignorance.

“Để xua tan một hiểu lầm do những kẻ xấu bụng gây nên, chúng tôi, những người ký tên dưới đây là các Đồng Sáng lập của Hội Thông Thiên Học, tuyên bố rằng giữa chúng tôi không hề có thù nghịch, ganh đua, tranh chấp, hay thậm chí lạnh nhạt; cũng như chưa bao giờ có; cũng chẳng hề có sự suy giảm trong lòng sùng kính chung của chúng tôi đối với các Chân sư hay đối với công việc của chúng tôi, mà Các Ngài đã ban vinh hạnh cho chúng tôi được thi hành. Khác nhau sâu xa về khí chất và đặc tính tâm trí, và đôi khi bất đồng về phương cách truyền bá, song chúng tôi tuyệt đối đồng tâm về công việc ấy. Cũng như từ buổi đầu, đến nay chúng tôi vẫn hiệp nhất trong mục đích và nhiệt thành, và sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả sinh mệnh, để quảng bá tri thức Thông Thiên Học, hầu cứu nhân loại khỏi những khổ đau sinh từ vô minh.

“H. P. BLAVATSKY. H. S. OLCOTT.

“H. P. BLAVATSKY. H. S. OLCOTT.

“LONDON, October, 1888.”

“LONDON, tháng Mười, 1888.”

On my way overland to Naples to take the P. and O. “Arcadia” for the return voyage, I stopped a [66] Bologna to see Count Mattei, the inventor of “Electro-Homoeopathy,” and decide whether it would be worth while for Tookaram Tatya to try it in our Bombay Charitable Dispensary. I was prompted to this by what I saw of the results of the application of one of the Mattei “electricities” as a lotion to the hand of a poor fellow, which had been terribly crushed in some machinery: in one night the pain had been much assuaged. The experimenter was “Major” Tucker, of the Salvation Army, who had implicit faith in the Mattei system. Signor Venturoli, now Count Venturoli-Mattei, the discoverer’s adopted son and heir, kindly took me to Rioli, the station on the road to Florence, near which stands “Rochetta,” the picturesque but ill-planned castle of Count Mattei, and I spent the day with him in interesting discussion. He was then a strong giant of a man, despite his eighty-four years, and vehement to a degree in his denunciation of orthodox doctors and their remedies. In his bedroom— in one of the turrets, if my memory serves—was a scathing caricature on them, done in fresco on the groined ceiling. He was justifiably proud of the numberless cures wrought by his Electro-Homoepathy, for I have heard too many stories about them at first hand to doubt its efficacy. When it comes to the “electrical” part of the matter, however, the case is quite a different affair. My belief is that, if the true name were given to the system, it would be “sun-bathed” or “chromopathic” medicine. I may be wrong, but, from all I can hear and infer from the [67] behavior of the medicines, I am persuaded that the words “blue-electricity,” or green, yellow, red, or others, mean simply distilled water which has been exposed to the magical action of the sunlight, passed through panes or lenses of glass of those several colors; that in the Mattei system we are dealing, in reality, with Chromopathy. Of course it does not matter a pin, save as a trade secret, whether the concealed agency be solar or herbal; the prime fact is that the medicines cure, and human suffering is diminished. Nothing that the Count said warranted me to adopt this opinion, but on the face of it his electrical nomenclature is ridiculous from the scientific point of view, and one of his most successful and loyal disciples, an English doctor, whose diploma was cancelled by the Faculty because of his professional heresy, confessed to me his concurrence in my views. The Mattei pills and powders may be, as alleged by his opponents, the ordinary homoeopathic remedies mixed together, on the off-change that some one of them will cure the patient, or they may not; perhaps they are common remedies exposed to chromopathic influence, or possibly mesmerized to imbue them with a healing vital aura; this does not much matter; the fact is they effect cures by thousands, and the sale of the medicines is, I believe, fast enriching my genial friend of 1888, Count Venturoli Mattei.

Trên đường bộ đến Naples để xuống tàu “Arcadia” của hãng P. and O. cho chuyến về, tôi dừng [66] ở Bologna để thăm Bá tước Mattei, người phát minh “Electro-Homoeopathy”, và quyết định xem có đáng để Tookaram Tatya thử nghiệm nó tại Nhà Thuốc Từ thiện Bombay của chúng ta hay không. Tôi được thúc đẩy bởi điều mắt thấy về kết quả áp dụng một loại “điện khí” Mattei làm thuốc xoa cho bàn tay của một người xấu số, bàn tay bị nghiền nát khủng khiếp trong máy móc: chỉ sau một đêm cơn đau đã dịu đi rất nhiều. Người thực nghiệm là “Thiếu tá” Tucker, thuộc Đội quân Cứu thế, người đặt niềm tin tuyệt đối vào hệ thống Mattei. Ngài Venturoli, nay là Bá tước Venturoli–Mattei, người con nuôi và là người thừa kế của nhà phát kiến, tử tế đưa tôi đến Rioli, ga trên đường tới Florence, gần nơi có “Rochetta”, tòa lâu đài nên thơ nhưng thiết kế dở của Bá tước Mattei, và tôi đã dành trọn một ngày với ông trong những bàn luận thú vị. Khi ấy ông là một người vạm vỡ cường tráng, dẫu đã tám mươi tư tuổi, và cực kỳ kịch liệt trong lời công kích các thầy thuốc chính thống và phương dược của họ. Trong phòng ngủ của ông—ở một tháp canh, nếu trí nhớ tôi đúng—có một bức hí họa phê phán họ gay gắt, vẽ fresco trên trần vòm. Ông có quyền tự hào về vô số ca chữa lành do Electro-Homoeopathy mang lại, vì tôi đã nghe quá nhiều câu chuyện trực tiếp để còn hoài nghi về hiệu lực của nó. Tuy nhiên, khi nói đến phần “điện khí” của vấn đề, thì đó lại là một chuyện khác hẳn. Tôi tin rằng, nếu gọi đúng tên cho hệ thống ấy, sẽ là y học “tắm nắng” hay “sắc quang trị liệu”. Có thể tôi sai, nhưng căn cứ vào tất cả những gì tôi nghe được và suy ra từ [67] cách các dược phẩm hành xử, tôi tin rằng các chữ “điện xanh dương”, hay xanh lục, vàng, đỏ, hay những màu khác, đơn giản là chỉ nước cất đã được phơi dưới tác dụng nhiệm mầu của ánh mặt trời, đi qua các tấm kính hoặc thấu kính có những màu sắc tương ứng; rằng trong hệ thống Mattei, thực chất chúng ta đang xử với Sắc quang trị liệu. Dĩ nhiên, điều đó chẳng hề quan trọng, trừ như một bí quyết thương mại, rằng tác dụng ẩn giấu ấy là mặt trời hay thảo dược; điều cốt yếu là các dược phẩm chữa lành, và nỗi thống khổ của con người được giảm nhẹ. Không điều gì Bá tước nói khiến tôi phải chấp nhận ý kiến này, nhưng nhìn bề ngoài thì danh xưng “điện” của ông thật nực cười về mặt khoa học, và một trong những môn đồ trung thành và thành công nhất của ông, một bác sĩ người Anh, người đã bị Hội đồng Y khoa tước bằng vì dị giáo nghề nghiệp, đã thổ lộ với tôi rằng ông đồng tình với quan điểm của tôi. Các viên và bột Mattei có thể là, như đối thủ của ông cáo buộc, các phương dược đồng căn thông thường trộn lại với nhau, theo lối phải trái đều giữ—rằng một trong số chúng sẽ chữa được bệnh nhân—hoặc có thể không; có lẽ chúng là các phương dược thông thường đã được phơi dưới tác động sắc quang, hoặc có thể đã được thôi miên để thấm nhuần cho chúng một hào quang sinh lực chữa lành; điều này không mấy quan trọng; thực tế là chúng chữa khỏi bệnh hàng ngàn ca, và việc bán dược phẩm, tôi tin, đang mau chóng làm giàu cho người bạn hòa nhã của tôi năm 1888, Bá tước Venturoli Mattei.

As I was to pass through Rome, I halted there a day, not to pretend to see the city, but only to enter Saint Peter’s and thus lay my hand, as it were, on [68] the heart of Christendom to test the vibrations. The experience was a curious one. As I looked around me at the statues of kings, emperors, and pontiffs, with their usually false epitaphs, I seemed to feel the karmic current of their unholy alliances, offensive and defensive. What horrors, what injustice, what selfish pacts, what conspiracies to wrong and dominate the helpless victims of ruthless power and self-delusion, what rivers of blood set flowing in the name of God, but for the greed of tyrants! Who, with an open mind, could stand in that monstrous cathedral and not shudder at the thought of what it represented in world-history, the Walhalla of scourges of humanity? I stayed there for hours, walking about, speaking to no guide, asking no questions, simply psychometrising the place, and following the mental clues in all directions, that I might indelibly impress the pictures on my memory. The next morning I left for Naples, and on the following day embarked. As the “Arcadia” did not sail until 10 p.m., we had from her deck the chance to see the lovely panorama of the illuminated city mirrored in the glassy waters of the bay—a fairy scene.

Vì tôi sẽ đi ngang Rome, tôi dừng lại đó một ngày, không phải để làm ra vẻ đi xem thành phố, mà chỉ để vào Thánh Đường Thánh Phêrô và như muốn đặt tay mình, theo lối nói, lên [68] trái tim của Kitô giáo để thử rung động. Trải nghiệm đó thật lạ lùng. Khi tôi nhìn quanh thấy tượng các vua, hoàng đế và giáo hoàng, cùng các bia mộ thường là ngụy tạo, tôi như cảm được dòng Karma của những liên minh bất chính, công thủ tương trợ, của họ. Biết bao kinh hoàng, bất công, những giao ước vị kỷ, những âm mưu áp bức và thống trị các nạn nhân bất lực của quyền lực tàn nhẫn và tự mê, biết bao dòng sông máu tuôn đổ nhân danh Thượng đế, nhưng thực ra vì lòng tham của bạo chúa! Ai—với một tâm trí mở—có thể đứng trong ngôi đại thánh đường khổng lồ ấy mà không rùng mình khi nghĩ về những gì nó đại diện trong lịch sử thế giới, một Walhalla của những kẻ quất roi nhân loại? Tôi ở đó nhiều giờ, đi qua đi lại, không nói với hướng dẫn nào, không hỏi một câu, chỉ đơn giản là trắc tâm nơi chốn, và lần theo những mối nối tinh thần theo mọi hướng, để khắc ghi bất phai những bức họa vào ký ức. Sáng hôm sau tôi rời đến Naples, và hôm sau xuống tàu. Vì “Arcadia” mãi 10 giờ đêm mới nhổ neo, chúng tôi có dịp từ boong tàu ngắm bức tranh toàn cảnh tuyệt đẹp của thành phố rực sáng soi bóng trong làn nước phẳng lặng của vịnh—một cảnh tiên.

The homeward voyage proved most interesting, as a great desire to know something about Theosophy, the Society, and occult sciences generally, was shown by the passengers of both saloons. Among them was that gracious student of mystical subjects, the Countess of Jersey, whom I found one of the most high-minded, pleasantest acquaintances I ever made. Doubtless, as a consequence of her example, the whole first saloon [69] fell to talking about Psychometry, Thought-transference, Clairvoyance, Palmistry, Astrology, and similar topics of the Borderland group; and practical experiments were made to test the correctness of theories. On the fourth day out I received an invitation in writing from Lord Jersey, Sir Samuel W. Baker, the African explorer, and other notables, on behalf of the saloon passengers, and with the captain’s consent, to lecture on “Theosophy,” which I gladly did. The vote of thanks was offered by Sir Samuel in a beautifully worded short speech, which was very gratifying. Three days later there was another call upon me, and I took, by request, the subject of “Psychometry”. This set many to making experiments, and I myself made some that were instructive. A certain lady brought from her cabin a half dozen letters from persons of widely different characters, each enclosed in a plain envelope, so that the experimenter might get no clue whatsoever to the sex or character of the writer—a clever precaution. I made her sit in an easy-chair, and passed the letters one by one over her head to her forehead, where I bade her hold them and answer my questions. She was not to stop and think what the answer ought to be, but just to say the first thing that came to her mind. I asked her: “Is the writer a man Or a woman? Answer quickly, please.” Then I asked: “Is he (or she) old or young? Tall or short? Stout or thin? Healthy or ill? Hot-tempered or calm? Frank or deceitful? Generous or miserly? Worthy or unworthy of trust as a friend? Do you [70] like this person?” etc., etc., never putting a leading question or doing anything to confuse the spontaneous thought of the subject. Now, at first blush, it is perfectly plain that the closest scrutiny of a blank envelope—unless its shape were an unusual one and associated with a certain correspondent—would reveal nothing as to the sex, age, complexion, form, or mental or moral characteristics of the writer of the enclosed letter. The first lady experimenter proved herself devoid of the psychometric faculty, but another lady who next submitted herself to the test was successful in five out of seven cases—as subsequently verified on opening the covers; and the first lady’s brother, an army officer and a rather flippant critic of the science, found to his amazement that he could psychometrise. The rumor of these instructive experiments running through the ship, caused the invitation to make my second lecture on the subject of Professor Buchanan’s discovery. A well-known Member of Parliament gave very correct delineations in two cases submitted to him for psychometric reading. The scientific and practical value of the possession of this sense is evident, inasmuch as it arms a person with a super-refined faculty of feeling the true character and motive of a correspondent, or of one with whom one is talking, or whom one meets in the world, whatever mask may be used in the letter or put on the face of the individual. Then again, the developed psychometer ought naturally to be intuitive for learning the sense of an author and reading the meaning of a public lecturer, despite his, perhaps,

Chuyến hải hành hồi hương hóa ra hết sức thú vị, vì một khát vọng lớn muốn hiểu đôi điều về Thông Thiên Học, về Hội, và các khoa học huyền bí nói chung được bộc lộ bởi hành khách ở cả hai hạng. Trong số đó có vị phu nhân thanh nhã, một học giả của các chủ đề thần bí, Bà Bá tước xứ Jersey, mà tôi thấy là một trong những người cao thượng và thú vị nhất tôi từng kết giao. Chắc hẳn là do ảnh hưởng gương mẫu của Bà, toàn bộ khoang hạng nhất [69] đổ xô bàn luận về Trắc tâm, Truyền tư tưởng, Thông nhãn, Xem chỉ tay, Chiêm tinh học, và các đề tài tương tự thuộc nhóm Cận biên; và các thí nghiệm thực hành được tiến hành để kiểm nghiệm sự đúng đắn của các thuyết. Vào ngày thứ tư kể từ lúc xuất phát, tôi nhận được một lời mời bằng văn bản từ Ngài Jersey, Ngài Samuel W. Baker, nhà thám hiểm châu Phi, và các vị danh tiếng khác, thay mặt hành khách hạng nhất, và với sự đồng ý của thuyền trưởng, mời tôi diễn thuyết về “Thông Thiên Học,” điều mà tôi vui lòng thực hiện. Lời cám ơn được Ngài Samuel thay mặt dâng lên bằng một bài diễn từ ngắn mà lời lẽ thật mỹ diệu, khiến tôi rất cảm kích. Ba ngày sau lại có lời mời, và theo đề nghị, tôi chọn đề tài “Trắc tâm”. Điều này khiến nhiều người bắt tay làm thí nghiệm, và chính tôi cũng làm vài thí nghiệm đầy tính hướng dẫn. Một vị phu nhân mang từ cabin của mình ra nửa chục bức thư của những người có tính cách rất khác nhau, mỗi thư đặt trong một phong bì trơn, để người làm thí nghiệm không thể lấy một manh mối nào về giới tính hay tính cách của người viết—một sự phòng bị khéo léo. Tôi đặt bà ngồi vào một ghế bành, và lần lượt đưa các phong thư qua đỉnh đầu bà lên trán, nơi tôi bảo bà giữ chúng và trả lời câu hỏi của tôi. Bà không được ngừng lại để nghĩ xem câu trả lời “nên” là gì, mà chỉ nói ra điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí. Tôi hỏi bà: “Người viết là đàn ông hay đàn bà? Xin trả lời nhanh.” Rồi tôi hỏi: “Ông (hoặc bà) ấy già hay trẻ? Cao hay thấp? Béo hay gầy? Khỏe mạnh hay đau ốm? Nóng nảy hay điềm tĩnh? Thẳng thắn hay dối trá? Rộng lượng hay keo kiệt? Đáng tin cậy hay không xứng đáng tin cậy như một người bạn? Bà [70] có thích người này không?” v.v..., không bao giờ đặt câu hỏi dẫn dắt hay làm bất cứ điều gì có thể làm rối loạn dòng ý nghĩ tự phát của đối tượng. Rõ ràng ngay thoạt nhìn, sự xem xét kỹ lưỡng nhất một phong bì trơn—trừ khi hình dạng nó khác thường và gắn với một người viết thư nào đó—cũng không thể hé lộ điều gì về giới tính, tuổi tác, màu da, vóc dáng, hay đặc tính tâm trí hoặc luân lý của người viết bức thư bên trong. Vị phu nhân thí nghiệm đầu tiên tỏ ra không có năng khiếu trắc tâm, nhưng vị phu nhân thứ hai tiếp theo lại thành công trong năm trên bảy trường hợp—điều này được kiểm chứng sau khi mở phong bì; và anh trai của vị phu nhân đầu, một sĩ quan lục quân và là người chỉ trích khá bông đùa đối với khoa này, kinh ngạc khi thấy chính mình có thể trắc tâm. Tin đồn về các thí nghiệm hữu ích này lan khắp tàu, khiến tôi được mời trình bày một bài nói thứ hai về đề tài phát hiện của Giáo sư Buchanan. Một Nghị sĩ Quốc hội nổi tiếng đã đưa ra hai bản phác họa rất đúng trong hai trường hợp được đề nghị nhờ ông đọc theo lối trắc tâm. Giá trị khoa học và thực tiễn của việc sở hữu giác quan này là hiển nhiên, vì nó trang bị cho một người một năng lực siêu tinh tế để cảm nhận đúng tính cách và động cơ của người viết thư cho mình, hay của người đối thoại, hay của kẻ gặp gỡ ngoài đời, bất kể chiếc mặt nạ có thể dùng trong văn thư hay đeo trên gương mặt. Lại nữa, người có năng lực trắc tâm phát triển tự nhiên sẽ trực giác hơn trong việc nắm bắt ý của tác giả và đọc ra nghĩa của một diễn giả công cộng, bất chấp có thể là

[71] clumsy way of putting things. It makes one instantaneously responsive to appeals to the higher nature, and guarded against being carried away by the sophistries of those who would deceive and cajole one with evil designs. [11]

[71] cách trình bày vụng về. Nó khiến ta tức thì đáp ứng trước những lời kêu gọi hướng đến bản tính cao hơn, và được đề phòng khỏi bị lôi cuốn bởi những ngụy biện của kẻ muốn gạt gẫm và phỉnh nịnh ta bằng ý đồ xấu.

The “Arcadia” landed her passengers at Bombay on 10th November, and our party, which comprised, besides myself, Mr. and Mrs. Charles Johnston, Baroness Kroummess, Mr. E. D. Fawcett, and Mr. Richard Harte, all members of the Society, were warmly welcomed by our friends of the Bombay Branch. Mrs. Johnston is the daughter of Madame Vera Jelihovsky, H. P. B.’s sister, and was married from her aunt’s home, 17 Lansdowne Road, W., to the brilliant young Sanskritist and Indian Civilian in question, during the summer of 1888. Her mother being away in Russia, I represented her and the rest of the family at the civil marriage at the registrar’s office. Her husband was now coming out with us to take up his appointment in the Bengal Civil Service. The whole party were present at the Convention of that year, and were photographed in the annual group picture.

“Arcadia” đưa hành khách vào bờ tại Bombay ngày 10 tháng Mười Một, và đoàn của chúng tôi, ngoài tôi ra, gồm ông bà Charles Johnston, Nữ Nam tước Kroummess, ông E. D. Fawcett, và ông Richard Harte, tất cả đều là hội viên Hội, được các bạn hữu của Chi bộ Bombay nồng nhiệt nghênh đón. Bà Johnston là con gái của Bà Vera Jelihovsky, chị gái của H. P. B., và được gả từ nhà của cô mình, số 17 Lansdowne Road, W., cho vị học giả Sanskrit trẻ tuổi lỗi lạc và viên chức Ấn Độ được nói đến, trong mùa hè năm 1888. Mẹ Bà đi Nga, tôi đại diện cho Bà và phần còn lại của gia đình trong lễ thành hôn dân sự tại văn phòng hộ tịch. Chồng Bà nay đi cùng chúng tôi để nhận nhiệm vụ ở Ngạch Công vụ Bengal. Cả đoàn đều dự Đại hội năm ấy, và được chụp trong bức ảnh nhóm thường niên.