← OLD DIARY LEAVES 5

OLD DIARY LEAVES, Fifth Series (1893-96)

OLD DIARY LEAVES, Fifth Series (1893-96)

by Henry Steel Olcott

MỤC LỤC

MỤC LỤC2

BUDDHA GAYA AND SARNATH (1893)8

CHAPTER II—CHƯƠNG II19

EXTRAORDINARY CASE OF PSYCHOPATHIC HEALING (1893)19

MỘT TRƯỜNG HỢP KỲ LẠ VỀ CHỮA TRỊ BẰNG TÂM LỰC (1893)19

CHAPTER III—CHƯƠNG III27

THE PARLIAMENT OF RELIGIONS—NGHỊ VIỆN CÁC TÔN GIÁO (1893)—(1893)27

CHAPTER IV—CHAPTER IV38

MAX MÜLLER ON ESOTERICISM—MAX MÜLLER VỀ TÍNH BÍ TRUYỀN —(1893)38

CHAPTER V48

WELCOMING MRS. BESANT—ĐÓN CHÀO BÀ BESANT48

CHAPTER VI—CHAPTER VI51

MRS. BESANT’S FIRST INDIAN TOUR—CHUYẾN DIỄN THUYẾT ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN CỦA BÀ BESANT51

CHAPTER VII—CHƯƠNG VII64

THE CONVENTION OF 1893—ĐẠI HỘI NĂM 189364

CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII78

MRS. BESANT’S TOUR IN BENGAL—CHUYẾN DU HÀNH CỦA BÀ BESANT Ở BENGAL78

CHAPTER IX—CHƯƠNG IX91

MRS. BESANT’S TOUR IN THE UNITED PROVINCES—CHUYẾN DU HÀNH CỦA BÀ BESANT Ở CÁC TỈNH HỢP NHẤT91

CHAPTER X—CHƯƠNG X105

MRS. BESANT’S TOUR IN PUNJAB—CHUYẾN DU HÀNH CỦA BÀ BESANT Ở PUNJAB105

CHAPTER XI—CHAPTER XI120

IMPRESSIONS OF MRS. BESANT’S TOUR—NHỮNG ẤN TƯỢNG VỀ CHUYẾN ĐI CỦA BÀ BESANT120

CHAPTER XII—CHƯƠNG XII136

THE JUDGE AFFAIR—VỤ JUDGE136

CHAPTER XIII145

THE JUDGE AFFAIR (Continue)—VỤ JUDGE (Tiếp theo)145

CHAPTER XIV175

CHƯƠNG XIV175

THE FOURTH EUROPEAN CONVENTION175

ĐẠI HỘI CHÂU ÂU LẦN THỨ TƯ175

(1894)175

(1894)175

CHAPTER XV183

CHƯƠNG XV183

AFTER THE CONVENTION183

SAU KỲ ĐẠI HỘI183

CHAPTER XVI188

CHƯƠNG XVI188

THE BUDDHIST BOYCOTTING BILL188

DỰ LUẬT TẨY CHAY PHẬT GIÁO188

(1894)188

(1894)188

CHAPTER XVII195

CHƯƠNG XVII195

AUSTRALASIAN SECTION FORMED195

THÀNH LẬP KHU VỰC ÚC - TÂN TÂY LAN195

CHAPTER XVIII201

CHƯƠNG XVIII201

W. T. STEAD ON H. P. B.201

W. T. STEAD VỀ BÀ H. P. B.201

(1894)201

(1894)201

CHAPTER XIX213

CHƯƠNG XIX213

MR. JUDGE DENOUNCES MRS. BESANT213

ÔNG JUDGE LÊN ÁN BÀ BESANT213

CHAPTER XX224

CHƯƠNG XX224

CONVENTION LECTURES INAUGURATED224

KHAI MẠC CÁC BÀI DIỄN THUYẾT TẠI ĐẠI HỘI224

CHAPTER XXI240

CHƯƠNG XXI240

REPORT OF THE CONVENTION240

BÁO CÁO VỀ ĐẠI HỘI240

(1894)240

(1894)240

CHAPTER XXII255

CHƯƠNG XXII255

THE SOCIETY AT TWENTY255

HỘI Ở TUỔI HAI MƯƠI255

(1895)255

(1895)255

CHAPTER XXIII260

CHƯƠNG XXIII260

THE AMERICAN SECTION SECEDES260

KHU VỰC MỸ LY KHAI260

(1895)260

(1895)260

CHAPTER XXIV270

CHƯƠNG XXIV270

SPAIN, LONDON, AND HOLLAND270

TÂY BAN NHA, LONDON VÀ HÀ LAN270

(1895)270

(1895)270

CHAPTER XXV276

CHƯƠNG XXV276

CHANGING THE CONSTITUTION276

THAY ĐỔI HIẾN CHƯƠNG276

(1895)276

(1895)276

CHAPTER XXVI287

CHƯƠNG XXVI287

MORE DETAILS OF THE SECESSION287

THÊM CHI TIẾT VỀ CUỘC LY KHAI287

(1895)287

(1895)287

CHAPTER XXVII301

CHƯƠNG XXVII301

MRS. MITCHELL AND HYPNOTIC301

BÀ MITCHELL VÀ CÁC THÍ NGHIỆM301

EXPERIMENTS301

THÔI MIÊN301

(1895)301

(1895)301

CHAPTER XXVIII313

CHƯƠNG XXVIII313

FIRST VISIT TO BERLIN313

LẦN ĐẦU TIÊN THĂM BERLIN313

(1895)313

(1895)313

CHAPTER XXIX324

CHƯƠNG XXIX324

PSYCHOMETRY AND ÂKÂSHIC READINGS324

TRẮC TÂM VÀ CÁC BẢN ĐỌC AKASHA324

(1895)324

(1895)324

CHAPTER XXX337

CHƯƠNG XXX337

VIVEKÂNANDA, BOMBAY, PANCHAMAS337

VIVEKÂNANDA, BOMBAY, PANCHAMA337

(1895)337

(1895)337

CHAPTER XXXI347

CHƯƠNG XXXI347

ON ZOROASTRIANISM347

BÀN VỀ BÁI HỎA GIÁO347

(1895)347

(1895)347

CHAPTER XXXII359

CHƯƠNG XXXII359

AMERICAN VISITORS AND THE CONVENTION359

NHỮNG VỊ KHÁCH MỸ VÀ ĐẠI HỘI359

(1895)359

(1895)359

CHAPTER XXXIII372

CHƯƠNG XXXIII372

THE MAHA-BODHI372

MAHA-BODHI372

(1896)372

(1896)372

CHAPTER XXXIV377

CHAPTER XXXIV377

THE HEALING PENTAGON377

NGŨ GIÁC CHỮA LÀNH377

CHAPTER XXXV384

CHAPTER XXXV384

INTERNATIONAL JUGGLERY384

ẢO THUẬT QUỐC TẾ384

(1896)384

(1896)384

CHAPTER XXXVI396

CHAPTER XXXVI396

MR. JUDGE’S DEATH396

SỰ QUA ĐỜI CỦA ÔNG JUDGE396

(1896)396

(1896)396

CHAPTER XXXVII400

CHƯƠNG XXXVII400

A RAJPUT WEDDING400

MỘT ĐÁM CƯỚI RAJPUT400

(1896)400

(1896)400

ENDNOTE411

CHAPTER I

BUDDHA GAYA AND SARNATH (1893)

THE year 1893 now opens up before us, and its events will be found to be very important.

Năm 1893 giờ đây mở ra trước chúng ta, và những biến cố của nó sẽ được thấy là rất quan trọng.

As previously shown, the rumblings of the coming tempest about Mr. Judge were beginning to be heard. Towards the end of last year the arrival of Mr. Walter G. Old of the London staff, with the budget of notes and memoranda which he had taken, enabled me by comparing documents to see the depth and fullness of the treachery which Mr. Judge had long been planning. I find from my Diary of 1893 that the greater part of the first day was spent by Messrs. Keightley, Old, and myself in summarising the evidence in the case; and needless to say, all our hearts were filled with sorrow, for this was almost if not the very first case of downright perfidy in our Society’s history.

Như đã trình bày trước, những tiếng rền báo hiệu cơn bão sắp ập đến quanh Ông Judge đã bắt đầu vang lên. Vào cuối năm trước, sự đến nơi của Ông Walter G. Old trong ê-kíp Luân Đôn, cùng với túi tài liệu ghi chép và sổ tay mà ông đã thu thập, cho phép tôi, bằng cách so sánh các văn bản, thấy được mức độ sâu xa và trọn vẹn của sự phản bội mà Ông Judge đã mưu tính từ lâu. Tôi thấy trong Nhật ký năm 1893 của mình rằng phần lớn ngày đầu tiên được dành cho việc ba chúng tôi—các ông Keightley, Old và tôi—tóm lược các chứng cứ trong vụ việc; và không cần nói, tất cả chúng tôi đều đầy ưu sầu, vì đây gần như, nếu không phải là, trường hợp đầu tiên thật sự bội tín trong lịch sử của Hội Thông Thiên Học chúng ta.

Until now the splendid collection of Japanese Buddhist Scriptures, which I had brought back from Japan in 1889, had been lying on our shelves uncatalogued for lack of expert help; but now Mr. Kawakami, a young priest student of Kyoto, who had [2] come to India to pursue his studies in Sanskrit, stopped with us for some time and very kindly set to work to prepare a list of the books.

Cho đến lúc này, bộ sưu tập uy nghi các Kinh điển Phật giáo Nhật Bản mà tôi mang về từ Nhật vào năm 1889 vẫn còn nằm trên kệ chưa được lập mục lục vì thiếu người am tường; nhưng giờ đây Ông Kawakami, một tăng sinh trẻ của Kyoto, người [2] đã sang Ấn Độ để theo đuổi việc học tiếng Phạn, đã ở lại với chúng tôi một thời gian và rất tử tế bắt tay vào việc lập danh mục các sách.

Our equally valuable collection of Sinhalese Pâli manuscripts, presented to the library by the late Mrs. Ilangakoon, of Matara, for the mere copying of which she paid over Rs. 3,000, is still unexplored though not uncatalogued, but I hope that, some day, I may be able to get a close and scholarly comparison made of the two collections, and to publish the result as a contribution to Buddhistic literature from the Adyar Library.

Bộ sưu tập bản thảo Pâli tiếng Tích Lan cũng quý giá không kém của chúng tôi, do cố Bà Ilangakoon ở Matara hiến tặng cho thư viện, mà chỉ riêng việc sao chép bà đã trả trên Rs. 3.000, vẫn chưa được khảo sát dù đã có mục lục, nhưng tôi hy vọng rằng, một ngày nào đó, tôi có thể cho tiến hành một cuộc đối chiếu cẩn trọng và học thuật giữa hai bộ sưu tập, và công bố kết quả như một đóng góp cho văn học Phật học từ Thư viện Adyar.

Day by day our consultations on the Judge case continued until the 8th of the month, when Mr. S. V. Edge, Mr. Kawakami, and I sailed for Calcutta.

Ngày qua ngày, các cuộc tham vấn về vụ Ông Judge vẫn tiếp diễn cho đến ngày mồng 8 trong tháng, khi Ông S. V. Edge, Ông Kawakami và tôi xuống tàu đi Calcutta.

For the first time in my life I travelled with what Australians would call a “mob” of Bishops; the sees of Colombo, Travancore, and Sydney, and the Canonry of Windsor, together with some smaller fry, being my fellow-passengers. No harm was done however, not even to the ship, for the usual effect of parsons on the weather, so popularly accepted—yet, so unaccountably overlooked by the Astronomer Royal and the compilers of the Nautical Almanac—was not observable on this voyage.

Lần đầu tiên trong đời tôi đi chung với thứ mà người Úc sẽ gọi là một “bầy” Giám mục; giám phận Colombo, Travancore và Sydney, và chức Kinh sĩ của Windsor, cùng với vài vị nhỏ hơn, là bạn đồng hành của tôi. Tuy nhiên chẳng hề hấn gì, ngay cả với con tàu cũng không, vì hiệu ứng thường thấy của giới giáo sĩ lên thời tiết, vốn được quần chúng tin tưởng—thế mà lại bị Nhà Thiên văn Hoàng gia và những người soạn Niên giám Hàng hải không hiểu vì sao bỏ qua—đã không biểu lộ trong chuyến hải hành này.

Though I cultivated no relations with the clergy, I did with some of the other passengers, among them Professor and Dr. (Mrs.) Edmund Buckley, who were returning from long residence in Japan and whom I found charming; there was also Dr. Kennedy, the [3] well-known London physician, whose diploma was cancelled by the Faculty for his adoption of the Mattei system for the treatment of cancer.

Tuy tôi không giao du gì với giới giáo sĩ, tôi có kết thân với một số hành khách khác, trong đó có Giáo sư và Bà Tiến sĩ Edmund Buckley, họ đang trở về sau thời gian dài cư trú ở Nhật và tôi thấy họ thật duyên dáng; cũng có Bác sĩ Kennedy, [3] vị y sĩ Luân Đôn nổi tiếng, người đã bị Hội đồng Y khoa thu hồi văn bằng vì ông tiếp nhận hệ thống Mattei trong điều trị ung thư.

I had the pleasure of again seeing Professor and Dr. Buckley during my tour of last year, 1901, at Chicago where Mr. Buckley holds an important chair at the University of that city.

Tôi lại có dịp gặp Giáo sư và Bà Tiến sĩ Buckley trong chuyến du hành năm ngoái, 1901, tại Chicago nơi Ông Buckley giữ một ghế quan trọng ở Đại học của thành phố ấy.

We reached Calcutta at noon on 12th January, and were warmly received on landing by our kind friends Norendro Nath Sen, Dr. Salzer, S. J. Padshah, Dharmapala, and others. Dr. Salzer took Edge and myself to his house, and we gladly accepted his hospitable invitation to become his guests. If my memory serves me, it was during that visit that Dr. Salzer made that almost incredible cure of the church-yard cough of my Hindu servant boy Muniswami. I don’t know when I have been more convinced of the potentialities of Homoeopathy than in this case. I have often cited the facts in my lecture on “The Divine Art of Healing”. The facts were these: the boy had contracted a very violent cough which had reached the stage of danger, he kept us all awake at night by his violent spasms. Dr. Salzer undertaking, at my request, the case, gave the patient a vial of what looked like plain water, with instructions to take a dose every hour. At the end of twelve hours the cough had entirely disappeared, and from that time to the present there has been no relapse.

Chúng tôi đến Calcutta vào trưa ngày 12 tháng Giêng, và được tiếp đón nồng hậu khi lên bờ bởi những người bạn thân như Norendro Nath Sen, Bác sĩ Salzer, S. J. Padshah, Dharmapala, và những người khác. Bác sĩ Salzer đưa Edge và tôi về nhà ông, và chúng tôi vui lòng nhận lời mời hiếu khách để làm khách của ông. Nếu tôi nhớ không lầm, chính trong chuyến thăm ấy mà Bác sĩ Salzer đã thực hiện ca chữa gần như khó tin đối với cơn ho “nghĩa trang” của cậu bé đầy tớ Ấn giáo Muniswami của tôi. Tôi không nhớ khi nào mình lại bị thuyết phục hơn về những tiềm năng của vi lượng đồng căn như trong trường hợp này. Tôi thường trích dẫn các dữ kiện ấy trong bài diễn thuyết “Nghệ thuật Chữa lành Thiêng liêng” của mình. Sự việc như sau: cậu bé mắc một cơn ho rất dữ dội đã đến mức nguy hiểm, ban đêm cậu làm chúng tôi thức trắng vì những cơn co thắt kịch liệt. Bác sĩ Salzer, theo lời thỉnh cầu của tôi, nhận điều trị ca này, đưa bệnh nhân một lọ trông như nước lã, với chỉ dẫn uống mỗi giờ một liều. Sau mười hai giờ cơn ho hoàn toàn biến mất, và kể từ đó đến nay không hề tái phát.

When the Doctor and I were discussing the case, he said that the percentage of matter in the preparation [4] might be represented by one as a numerator and some nine ciphers preceded by the figure 1 as the denominator.

Khi Bác sĩ và tôi bàn luận về ca này, ông nói rằng tỷ lệ chất [4] trong chế phẩm có thể biểu thị bằng một làm tử số và mẫu số là con số 1 đi trước chín con số 0.

“It is needless to say,” added the Doctor, “that nothing could be more absurd than to suppose that the result which you have witnessed is attributable to the physical action of this infinitesimally small portion of matter. In my opinion, the secret of homoeopathic action lies in the action of the remedy upon the astral body: the phenomenon of cure has just been worked under your very eyes, and, as your ignorant servant knows absolutely nothing of Hahnemann’s system one could not say that it was imagination which was the controlling factor. If, then, the remedy worked a cure, how can you explain it, save on the theory of action on the astral plane which I have just postulated?”

“Không cần phải nói,” Bác sĩ thêm, “rằng chẳng có gì phi lý hơn giả định cho rằng kết quả mà ông đã chứng kiến có thể quy cho tác động vật chất của phần tử chất nhỏ vô cùng này. Theo ý tôi, bí quyết của tác dụng vi lượng đồng căn nằm ở tác động của phương dược lên thể cảm dục: hiện tượng chữa lành vừa mới được thực hiện ngay trước mắt ông, và vì tên đầy tớ ngu dốt của ông hoàn toàn chẳng biết gì về hệ thống của Hahnemann nên không thể nói rằng trí tưởng tượng là yếu tố chi phối. Vậy thì, nếu phương dược đã tạo ra sự chữa lành, ông có thể giải thích thế nào, trừ phi dựa trên thuyết tác động trên cõi cảm dục mà tôi vừa giả định?”

The Doctor’s theory flashed light into the whole obscurity of the homoeopathic problem, enabling us—at any rate, as Theosophists—to reconcile the hitherto incomprehensible sequence of effect and cause in this system of medical practice. Assuredly, the heroic doses of allopathy belonged to the physical plane and, equally certain is it, that the sometimes almost miraculous effects of homoeopathic “high potencies” belong to and can only be comprehended in connection with the plane of astral matter.

Học thuyết của Bác sĩ đã chiếu rọi ánh sáng vào toàn bộ sự mờ mịt của vấn đề vi lượng đồng căn, cho phép chúng ta—ít nhất là với tư cách những Nhà Thông Thiên Học—hòa giải chuỗi hệ quả và nguyên nhân cho đến nay vẫn khó hiểu trong hệ thống y thuật này. Chắc chắn, những liều “anh hùng” của y học chính thống thuộc về cõi hồng trần và, cũng chắc chắn như vậy, rằng đôi khi những hiệu quả gần như phép lạ của các “cao độ” vi lượng đồng căn thuộc về và chỉ có thể được thấu triệt khi liên hệ với cõi chất liệu cảm dục.

I spent a good deal of my time during this visit to Calcutta in trying to promote the schemes of Dharmapala in connection with Buddha Gaya and the other Buddhist shrines; calling on the Viceroy’s Private [5] Secretary, the Chief Secretary to the Government of Bengal, and other officials, who sent me hither and thither so as to shift off their own shoulders the responsibility for action. However, I was too well used to this sort of policy to allow myself to be in the least discouraged or put back. They finally referred me to the Mahant of Buddha Gaya, the holder of the property and the very man whom we wished to oust from the occupancy of the greatest of Buddhist shrines!

Trong chuyến thăm Calcutta này, tôi đã dành khá nhiều thời giờ để cố thúc đẩy các đề án của Dharmapala liên quan đến Buddha Gaya và các thánh tích Phật giáo khác; đến thăm Thư ký [5] riêng của Phó vương, Chánh Thư ký Chính quyền Bengal, và các viên chức khác, những người đã gửi tôi chỗ này chỗ khác để đẩy trách nhiệm hành động khỏi vai họ. Tuy vậy, tôi đã quá quen với kiểu chính sách như thế nên không để mình nản lòng dù chỉ chút ít hay chùn bước. Sau cùng, họ giới thiệu tôi với vị Mahant của Buddha Gaya, người giữ tài sản và chính là kẻ mà chúng tôi muốn loại khỏi việc chiếm dụng đền thờ vĩ đại nhất của Phật giáo!

While in Calcutta I was so fortunate as to make the acquaintance of Dr. P. K. Ray, a Professor at the Presidency College, and a man who has made his name known since that time throughout the Western world of science. At a garden-party at his house I met the Rev. A. M. Bose, M.A., Minister of the Brahmo Samaj, and other distinguished gentlemen and ladies of that society. It was very interesting to find myself for the first time in my fourteen years’ residence in India, in a social world which, while composed of Indians, had almost nothing Indian in its appearance, barring the dark complexions and such slight touch of Indian character as was given by the addition of the Indian sari to the European dress which the Brahmo ladies wore. In their appearance of self-possession, their sense of personal dignity and their intellectual conversation, they made one feel as if in a European social gathering; while the men of the party compared most favourably, for culture, fluency of language, and the air of personal independence, with any that one would meet in Western lands. These very peculiarities [6] and the tone of the whole gathering made one easily comprehend why Brahmoism has taken such slight hold upon the Indian nation. It is distinctly foreign to the Indian national spirit, and much more a reflection of Western than of Indian ideals. As I have said elsewhere, Brahmoism has barely held its ground, while the Arya Samaj, a much later organisation, has spread like wildfire throughout Northern India, formed its hunoreds of branches, founded its great college at Lahore, opened its schools and libraries, built its preaching-halls, evolved its class of lecturers and pushed along the road of success. This is because the late Swami Dayânand was intensely Aryan, an enthusiastic follower of the Vedas, and the lines of his movement were laid in the Indian heart and it had not even a tinge of foreign character about it. Of course, it was just simply a new Indian sect, hence contained in it nothing repugnant to Indian ideals; whereas Brahmoism, in spite of the splendid eloquence and the undoubted learning of its leaders, cannot flourish in the soil of the Indian mind as it might but for its unnational aspect. Theologically speaking it is akin to Western Unitarianism, and in fact the Brahmo Samaj is, at this moment of my writing, engaged in the laudable attempt to raise a fund to perpetuate the memory of the late Rev. S. Fletcher Williams, the respected Unitarian clergyman who has been, for two or three years, preaching in their different churches. For the individual leaders of the Samaj, with whom I have had the good fortune to become acquainted, I have [7] perfect respect, which makes me the more sorry that their movement has not had the success which the personal efforts of its leaders entitled them to expect.

Khi ở Calcutta, tôi may mắn được làm quen với Bác sĩ P. K. Ray, một Giáo sư ở Presidency College, một người mà từ đó đến nay đã khiến tên tuổi mình được biết đến trong thế giới khoa học phương Tây. Tại một dạ yến trong vườn ở nhà ông, tôi gặp Mục sư A. M. Bose, M.A., Mục sư của Brahmo Samaj, và các quý ông quý bà ưu tú khác của hội này. Thật thú vị khi thấy mình lần đầu tiên, trong mười bốn năm cư trú tại Ấn Độ, bước vào một thế giới giao tế mà tuy gồm toàn người Ấn, lại hầu như chẳng có gì Ấn trong diện mạo, ngoại trừ nước da sẫm và chút điểm xuyết tính cách Ấn thể hiện ở chiếc sari Ấn được thêm vào bộ y phục Âu châu mà các bà Brahmo mặc. Ở phong thái tự chủ, cảm quan phẩm giá cá nhân và cuộc đàm đạo trí thức, họ làm người ta có cảm giác như đang ở giữa một buổi tụ họp xã hội Âu châu; còn quý ông thì, về văn hóa, sự lưu loát ngôn từ, và phong thái tự lập, sánh rất thuận lợi với bất kỳ ai có thể gặp ở các xứ phương Tây. Chính những nét dị biệt [6] ấy và không khí chung của buổi gặp gỡ khiến người ta dễ dàng hiểu vì sao Brahmo giáo lại chỉ bén rễ rất ít trong dân tộc Ấn Độ. Nó rõ ràng là ngoại lai với tinh thần dân tộc Ấn, phản chiếu lý tưởng phương Tây nhiều hơn lý tưởng Ấn. Như tôi đã nói nơi khác, Brahmo giáo hầu như chỉ giữ được chỗ đứng, trong khi Arya Samaj, một tổ chức ra đời muộn hơn nhiều, lại lan như lửa rừng khắp Bắc Ấn, lập hàng trăm chi nhánh, sáng lập đại học viện ở Lahore, mở trường học và thư viện, dựng giảng đường, đào tạo đội ngũ diễn giả và tiến lên con đường thành công. Bởi vì cố Swami Dayânand mang đậm tinh thần Arya, một người nhiệt thành theo Veda, và đường lối vận động của Ngài được đặt trong trái tim Ấn Độ, không hề vương chút sắc thái ngoại lai nào. Tất nhiên, về bản chất nó chỉ là một tông phái Ấn mới, do đó không chứa điều gì phản nghịch với lý tưởng Ấn; trái lại, Brahmo giáo, bất chấp hùng biện tuyệt vời và học vấn không thể phủ nhận của các vị lãnh đạo, không thể hưng thịnh trên thổ nhưỡng của tâm trí Ấn như lẽ ra có thể, nếu không vì dáng vẻ thiếu tính dân tộc. Về mặt thần học, nó tương cận với phái Nhất vị thần giáo phương Tây, và trên thực tế Brahmo Samaj, ngay thời điểm tôi viết đây, đang nỗ lực quyên một quỹ để tưởng niệm cố Mục sư S. Fletcher Williams, vị mục sư Nhất vị đáng kính đã, suốt hai hay ba năm, giảng đạo tại các nhà thờ của họ. Với các nhà lãnh đạo cá nhân của Samaj mà tôi may mắn được quen biết, tôi [7] hết mực kính trọng, điều đó càng khiến tôi buồn hơn khi phong trào của họ không đạt được thành công mà nỗ lực cá nhân của những vị lãnh đạo đáng được kỳ vọng.

The restoration of the great temple at Buddha Gaya by the Government of Bengal, at the cost of the former King of Burma, had been largely superintended by Mr. J. D. M. Beglar, formerly a subordinate of General Cunningham. As the work was finished, Dharmapala and I were anxious to enlist his sympathies with us in our own proposed building works at Buddha Gaya and the other great Buddhist shrines, so I managed an interview with him, at which we came to a good understanding, and it was agreed that he should have the title of “Consulting Engineer and Archaeologist” when our plans were ripe. The project never came to anything, I believe, for the Maha-Bodhi scheme was blocked by a bitter and very costly lawsuit between Dharmapala and the Mahant, and sometime subsequently, having become dissatisfied with the former’s management, I severed my connection with the Maha-Bodhi Society and left him to carry it on alone.

Việc trùng tu ngôi đại tự ở Buddha Gaya bởi Chính quyền Bengal, do cựu Quốc vương Miến Điện đài thọ chi phí, phần lớn do Ông J. D. M. Beglar, vốn trước là cấp dưới của Tướng Cunningham, giám sát. Vì công trình đã hoàn tất, Dharmapala và tôi nóng lòng muốn thuyết phục ông ủng hộ các công tác xây dựng mà chúng tôi dự định tại Buddha Gaya và các thánh tích lớn khác, nên tôi thu xếp một buổi gặp, tại đó chúng tôi đạt được sự hiểu biết tốt, và thống nhất rằng khi kế hoạch chín muồi, ông sẽ mang danh hiệu “Kỹ sư và Khảo cổ tư vấn”. Dự án rốt cuộc, tôi tin vậy, đã chẳng đi đến đâu, vì đề án Maha-Bodhi bị chặn lại bởi một vụ kiện tụng cay nghiệt và rất tốn kém giữa Dharmapala và vị Mahant, và ít lâu sau đó, vì bất mãn với cách điều hành của người trước, tôi cắt đứt liên hệ với Hội Maha-Bodhi và để ông ấy tự tiếp tục.

On the 26th of January I attended the first general meeting of the “Buddhist Text Society of India,” with whose development Babu Sarat Chandra Das, C.I.E., has for the past ten years been so honorably associated. From the copy of the programme which lies before me I find that there were three speakers, viz., Sarat Chandra Das, C.I.E., on his literary experiences in Tibet; Mr. Romesh Chandra Dutt, I.C.S., C.I.E., on the works of Kshemendra, the great Kashmirian [8] Poet; and myself on Buddhist Literature. Sarat Babu has tapped the great supply of early Buddhistic literature which exists in Tibet, and which undoubtedly contains the most precious of the books produced in India up to the time of the Muslim invasion, that religious cyclone which swept over Indian Buddhism and left disaster and destruction in its wake—ruined shrines, slaughtered priests, and high mounds of Scriptures given to the flames. The monks, flying for their lives, no doubt took with them to their sanctuary across the border, their most prized literary treasures, some in the original Magadha, some in Sanskrit, and in time they were gathered into the Tibetan religious libraries and shelved alongside of the other precious works on the Buddha Dharma, which had been rendered into Tibetan. As said elsewhere, Sarat Chandra saw many of these primitive volumes in the great Library of the Teshu Lama and was actually permitted to bring some of them back to India with him. In his possession at Darjeeling I have seen them; and this makes me feel confident that when the Great Teachers of the White Lodge see that the auspicious moment has arrived, these long-lost treasures will be rescued from obscurity and brought before the literary world, to enrich us with their contents. Perhaps, also, to upset the fixed belief of the monks of Southern Buddhism, that they are and have all along been in custody of the whole body of the Buddhist Canon. To my mind this idea is an illusion and I have so thought from the beginning of my connection with them. The Buddha [9] did not preach for forty-five years as constantly as history tells us he did, without giving forth infinitely more sermons than the Southern Sangha now possess. That stands to reason; does it not? Then, where must we search for the lost Scriptures save in the places where they were hidden by the fugitive Indian monks and laity, viz., in Tibet and China, whither large numbers found their way in course of time. On the evening of the day of the meeting, Mr. Edge and I left for Delhi.

Ngày 26 tháng Giêng tôi dự phiên họp toàn thể đầu tiên của “Hội Văn Bản Phật giáo Ấn Độ”, mà Babu Sarat Chandra Das, C.I.E., đã trong mười năm qua gắn bó một cách đáng trân trọng. Theo chương trình tôi đang có trước mặt, có ba diễn giả, tức là Sarat Chandra Das, C.I.E., nói về trải nghiệm văn học của ông ở Tây Tạng; Ông Romesh Chandra Dutt, I.C.S., C.I.E., về các tác phẩm của Kshemendra, nhà [8] thi ca Kashmir vĩ đại; và tôi nói về Văn học Phật giáo. Sarat Babu đã gõ vào nguồn trữ lượng lớn lao các văn bản Phật giáo sơ kỳ hiện còn ở Tây Tạng, vốn không nghi ngờ gì chứa những tác phẩm quý báu nhất từng được biên soạn tại Ấn cho đến thời kỳ xâm lăng Hồi giáo, cơn lốc tôn giáo quét qua Phật giáo Ấn Độ và để lại thảm họa, tàn phá trên vệt quét của nó—đền đài hoang tàn, tăng lữ bị sát hại, và những gò cao kinh điển bị thiêu hủy. Các nhà sư, chạy trốn để bảo toàn mạng sống, hẳn đã mang theo đến chốn ẩn náu bên kia biên giới những bảo tàng văn hiến quý nhất của họ, có bản bằng Magadha nguyên thủy, có bản bằng tiếng Phạn, và theo thời gian chúng được tập hợp về các thư viện tôn giáo Tây Tạng và xếp trên kệ bên cạnh những tác phẩm quý khác về Phật Pháp, vốn đã được chuyển dịch sang tiếng Tây Tạng. Như đã nói nơi khác, Sarat Chandra đã trông thấy nhiều quyển nguyên thủy ấy trong Đại Thư Viện của Đức Teshu Lama và thậm chí còn được phép mang một số về Ấn cùng ông. Tôi đã được tận mắt thấy chúng lúc ông ở Darjeeling; điều này khiến tôi tin chắc rằng khi Các Huấn Sư Vĩ Đại của Thánh đoàn thấy thời điểm cát tường đã đến, những kho tàng thất lạc bấy lâu sẽ được vớt khỏi lầm than và đưa ra trước thế giới văn hiến, làm giàu cho chúng ta bằng nội dung của chúng. Có lẽ, cũng đồng thời, làm lung lay tín niệm cố định của các nhà sư Phật giáo Nam truyền rằng họ đang và xưa nay vẫn nắm giữ trọn bộ Kinh Tạng Phật giáo. Theo thiển ý tôi, quan niệm ấy là một ảo tưởng và tôi đã nghĩ thế ngay từ khi bắt đầu gắn bó với họ. Đức Phật [9] đã không thuyết pháp suốt bốn mươi lăm năm, liên tục như sử ghi, mà lại không ban ra vô cùng tận các bài pháp hơn nhiều so với những gì Tăng đoàn Nam truyền hiện có. Lý lẽ hiển nhiên là như vậy; có phải không? Vậy thì, ta phải tìm các Kinh điển thất lạc ở đâu nếu không phải ở những nơi chúng đã được ẩn giấu bởi các nhà sư và cư sĩ Ấn chạy loạn, tức là ở Tây Tạng và Trung Hoa, nơi đông đảo người Ấn theo thời gian đã tìm đến. Vào buổi tối ngày họp, Ông Edge và tôi rời Delhi.

In preparing the evidence against Mr. Judge we had found a very serious feature of the case was a certain common cheap brass seal which I had myself had made at Delhi and given to H.P.B. on my return from the tour of that year, as a mere joke and without the remotest suspicion that the article would ever be used by Mr. Judge as authoritative corroboration of the integrity of his bogus Mahatma messages; in fact, this was as great a piece of effrontery on his part as any that turned up in the preparation of the case against him. It was important to get a certificate from the maker of the seal as to his handiwork. The journey of Mr. Edge and myself from Calcutta to Delhi had this for its object. On searching through Chandni Chauk, the well-known street of jewellers and gem-cutters, we found that our man had died eight months before our visit, but his brother and partner, Allabanda, identified the seal and signed a statement.

Khi chuẩn bị chứng cứ chống lại Ông Judge, chúng tôi phát hiện một chi tiết rất nghiêm trọng của vụ án là một con dấu đồng thau rẻ tiền nào đó mà chính tôi đã đặt làm ở Delhi và tặng H.P.B. sau chuyến du hành năm ấy, như một trò đùa thuần túy và không hề có chút nghi ngờ xa xôi nào rằng món đồ đó sẽ bị Ông Judge dùng như sự xác nhận có thẩm quyền cho tính toàn vẹn của các thông điệp Mahatma giả mạo của ông; thực vậy, đây là một hành vi trơ tráo của ông ta không thua gì bất kỳ điều nào khác phát lộ trong khi chuẩn bị vụ án chống lại ông. Điều quan trọng là phải lấy chứng thực từ người thợ làm con dấu về tác phẩm của ông ta. Chuyến đi của Ông Edge và tôi từ Calcutta đến Delhi nhằm mục đích này. Sau khi tìm kiếm khắp Chandni Chauk, con phố nổi tiếng của thợ kim hoàn và thợ khắc đá quý, chúng tôi phát hiện người thợ của mình đã qua đời tám tháng trước chuyến viếng thăm, nhưng em trai và người cộng tác, Allabanda, đã nhận dạng con dấu và ký một lời xác nhận.

At 9 in the following evening, we left for Allahabad where we commenced a short tour; both Edge and I [10] giving public lectures, receiving visitors, holding conversaziones, and presiding at meetings of members and sympathisers. We moved on to our next station, Bankipur, on the evening of February 2nd, receiving a most affectionate farewell from the members who crowded at the station to see us off. In point of fact, Bankipur has been from the beginning down to the present time a most agreeable station to visit, our Branch there comprising several men of elevated character and unwavering devotion, chief among them being Babu Upendra Narain Singh and Purnendu Narain Sinha, M.A., B.L., a man who is an honor to his nation as well as to our Society; he has been President of the Branch for many years. Our host at Bankipur was Guruprasad Sen, one of the ablest men of Bengal, a strong character full of moral courage and the instinct of leadership. Dharmapala arrived from Calcutta on the same day and we all went to test the famous echoes in a vast empty brick-built granary—one of Warren Hastings’ famine works of 1776. The echo under the empty dome is something weird and appalling; our words were repeated and sent back to us seemingly from the ground under our feet and if we stamped or shuffled our feet, the noises were returned to us from all sides and over and over again, as though an army of phantoms were marching and counter-marching about us. This is one of the real curiosities of India that I am afraid escapes the notice of most foreign visitors. In the afternoon I lectured to a large crowd on Theosophy; [11] the next day, visited Govind Mandir, the temple of Govind Guru, the tenth Guru of the Sikhs; admitted several candidates into membership, and left at 7 p.m. for Gaya which we reached after a run of three hours.

Lúc 9 giờ tối hôm sau, chúng tôi lên đường đi Allahabad nơi chúng tôi bắt đầu một chuyến lưu diễn ngắn; cả Edge và tôi [10] đều diễn thuyết công khai, tiếp khách, mở các buổi đàm đạo, và chủ tọa các cuộc họp của hội viên và người ủng hộ. Tối ngày 2 tháng Hai, chúng tôi chuyển đến trạm kế tiếp, Bankipur, nhận được lời tiễn biệt nồng ấm từ các hội viên chen chúc tại ga để tiễn chúng tôi. Thật ra, Bankipur ngay từ buổi đầu cho đến nay luôn là một trạm ghé vô cùng dễ mến, Chi bộ của chúng tôi ở đó gồm nhiều người có phẩm cách cao và tận tâm không lay chuyển, nổi bật nhất là Babu Upendra Narain Singh và Purnendu Narain Sinha, M.A., B.L., một người làm rạng danh dân tộc cũng như Hội của chúng ta; ông làm Chủ tịch Chi bộ nhiều năm. Chủ nhà của chúng tôi ở Bankipur là Guruprasad Sen, một trong những người tài giỏi nhất của Bengal, một nhân cách mạnh mẽ đầy dũng khí đạo đức và thiên hướng lãnh đạo. Dharmapala từ Calcutta đến trong cùng ngày và tất cả chúng tôi đi thử tiếng dội nổi tiếng trong một kho thóc rộng lớn xây gạch—một trong các công trình cứu đói năm 1776 của Warren Hastings. Tiếng dội dưới vòm trống rỗng ấy quả là kỳ dị và rùng rợn; lời nói của chúng tôi được lặp lại và vọng về dường như từ mặt đất dưới chân, và nếu chúng tôi dậm hay kéo lê chân, âm thanh được trả về từ mọi phía và lặp đi lặp lại, như thể một đạo quân bóng ma đang hành quân và phản công quanh chúng tôi. Đây là một trong những điều kỳ thú thật sự của Ấn Độ mà tôi e là thoát khỏi tầm chú ý của đa số khách ngoại quốc. Buổi chiều, tôi diễn thuyết trước một đám đông lớn về Thông Thiên Học; [11] ngày hôm sau, thăm Govind Mandir, đền của Govind Guru, vị Guru thứ mười của người Sikh; kết nạp một số ứng viên vào Hội, và rời đi lúc 7 giờ tối đến Gaya, chúng tôi tới nơi sau ba tiếng chạy tàu.

At the station we were met by Chandra Joshi Bhikshu who informed us of a violent assault having been made the previous evening by the Mahant’s people on the Buddhist priests whom Dharmapala had placed at Buddha Gaya; one of the poor and inoffensive monks had been brutally beaten. By appointment I went to Buddha Gaya the next day accompanied by Dharmapala, Guruprasad Sen, Bireswar Singh, and others; and after inspecting the premises had an interview with the Mahant on the subject of the transfer of Maha-Bodhi to the Buddhists. Argument and persuasion were wasted upon him; he remained deaf to all my appeals and refused the most liberal offers. On the following morning I called on Mr. MacPherson, the Collector, and Mr. Shuttleworth, Secretary of the Revenue Board; exchanged official letters with the former about my fruitless visit to the Mahant; reported to the High Priest, Sumangala, the facts of the outrage; received many visitors; lectured at the Bar Library, and in the afternoon attended a Police investigation at which the Inspector tried to get the injured priests to name their assailants. But these men of peace, while frankly admitting their knowledge of the assailants, firmly declined to name them as it was against the rules of their ordination for them to help in any way the bringing to punishment of those [12] who had done them personal injury. As the assault was made at night, in the absence of disinterested third parties, the culprits could not be brought to book and went scot free. As the lives of the priests were in danger at the Burmese rest-house at Buddha Gaya, we searched for and hired a house for them in the town. A second lecture was given by me at the same place as before on the subject of “Mind” to a large audience comprising the leading men of Gaya. By the night train, Mr. Edge and I moved on to Benares, leaving Dharmapala behind to see to the settling of the priests in their new quarters.

Tại ga, chúng tôi được Chandra Joshi Bhikshu đón và báo tin về một vụ hành hung dữ dội xảy ra tối hôm trước do người của vị Mahant tấn công các vị sư Phật giáo mà Dharmapala đã bố trí ở Buddha Gaya; một trong những vị sư hiền hòa vô hại ấy đã bị đánh đập tàn bạo. Theo hẹn, hôm sau tôi đi Buddha Gaya cùng Dharmapala, Guruprasad Sen, Bireswar Singh, và những người khác; và sau khi khảo sát khuôn viên đã có cuộc gặp với vị Mahant về việc chuyển giao Maha-Bodhi cho Phật giáo đồ. Lý lẽ và thuyết phục đều vô ích với ông; ông vẫn điếc trước mọi lời khẩn cầu của tôi và khước từ cả những đề nghị hào phóng nhất. Sáng hôm sau, tôi đến thăm Ông MacPherson, viên Collector, và Ông Shuttleworth, Thư ký Hội đồng Thuế vụ; trao đổi thư tín chính thức với người trước về chuyến thăm bất thành đến vị Mahant; báo cáo với Tăng Thống Sumangala về sự việc côn đồ; tiếp nhiều khách; diễn thuyết tại Thư viện Đoàn Luật sư, và buổi chiều dự một cuộc điều tra của Cảnh sát nơi một viên Thanh tra cố gắng yêu cầu các vị sư bị thương nêu tên những kẻ tấn công họ. Nhưng những người mộ đạo yêu chuộng hòa bình này, tuy thẳng thắn thừa nhận biết rõ kẻ tấn công, kiên quyết từ chối nêu tên vì điều đó trái với giới luật thọ giới của họ là không được góp phần, dưới bất kỳ hình thức nào, vào việc đưa những [12] kẻ đã gây tổn hại cá nhân cho họ ra trừng phạt. Vì vụ hành hung xảy ra vào ban đêm, vắng bóng nhân chứng thứ ba khách quan, những kẻ phạm tội không thể bị đưa ra xét xử và đã thoát tội. Vì sinh mạng các vị sư ở nhà khách Miến tại Buddha Gaya bị đe dọa, chúng tôi đã tìm thuê một căn nhà cho họ trong thị trấn. Tôi đã có buổi diễn thuyết thứ hai tại cùng địa điểm như trước về đề tài “Thể trí” trước một thính chúng đông đảo gồm các bậc hào trưởng của Gaya. Bằng chuyến tàu đêm, Ông Edge và tôi đi tiếp đến Benares, để lại Dharmapala ở lại thu xếp chỗ ở mới cho các vị sư.

We reached the Holy City at noon. Not to waste time I drove out that same afternoon to Sarnath—”a ruined tope in a desolation of brick ruins”—which marks the. spot of the ancient “Deer Forest” where the Buddha met his companion ascetics and preached his first great Discourse. My object was to see the spot and enquire about the title, with the hope that if it were vested in Government we might be able to get permission to build a rest-house and Vihara for the use of resident and pilgrim priests and laity travelling to see the great shrines of their religion. To elucidate this point, I called on the Divisional Engineer. The next day I visited the place again accompanied by Messrs. Mokshadadas and Jadub Chander Mitter to photograph this stupa. Three views of it were taken, in one of them our party being photographed at the foot of the ruin. I had the satisfaction of learning that day that the title was in Government, and opened [13] negotiations with a view to obtain its transfer to the Maha-Bodhi Society.

Chúng tôi đến Thánh Thành vào buổi trưa. Không để phí thời gian, tôi chiều hôm đó đi ngay đến Sarnath—“một bảo tháp đổ nát giữa hoang tàn gạch vụn”—đánh dấu nơi “Lộc Uyển” xưa kia nơi Đức Phật gặp các bạn khổ hạnh và thuyết bài Kinh lớn đầu tiên. Mục đích của tôi là xem địa điểm và hỏi về quyền sở hữu, với hy vọng rằng nếu tài sản thuộc Chính quyền, chúng ta có thể xin phép xây một nhà nghỉ và một Vihara cho các vị sư cư trú và người tại gia hành hương đến chiêm bái các thánh tích lớn của tôn giáo họ. Để làm rõ điều này, tôi đến thăm Kỹ sư Khu vực. Ngày hôm sau tôi lại thăm nơi ấy cùng các ông Mokshadadas và Jadub Chander Mitter để chụp ảnh tháp này. Ba góc chụp đã được thực hiện, trong một tấm hình, cả nhóm chúng tôi được chụp ở chân đống phế tích. Hôm đó tôi vui mừng được biết rằng quyền sở hữu thuộc Chính quyền, và tôi đã mở [13] thương thảo nhằm xin chuyển giao cho Hội Maha-Bodhi.

One of the most curious of all the sights of India for travellers is that of the morning bathing in the river Ganges, of the population of Benares. No matter how many times one has seen it, its interest is always fresh, for new elements enter each time into the composition of the panoramic picture. Fancy a vast multitude thronging the steps of the bathing ghâts that stretch from Durga Kund to the Railway Bridge, clad in vivid costumes, carrying and using polished brass lotas; thousands bathing while other thousands emerge from the water to change their clothes on the steps; behind them a background of huge castle-like structures erected for the use of bathers by pious princes at different epochs; some undermined by the rushing resistless river and sunk in at the corners; Brahmins sitting in the full sunglare doing their morning worship; ummoved and imperturbable amid the stream of human beings descending to and ascending from the river. Then there is the burning ghat in all the ghastliness of the open-air cremations of corpses that are going on for hours—all this makes upon the mind an unfading picture. Many the artist who has tried to fix the scene on the canvas, but none—so far as I have seen—who have succeeded in giving one an idea of the whole panorama. This we enjoyed on the morning of the 11th as we lay on the roof of a houseboat and floated lazily down the stream past the swarming multitude.

Một trong những cảnh tượng kỳ lạ nhất của Ấn Độ đối với khách hành hương là cảnh dân chúng Benares tắm sông Hằng vào buổi sáng. Bất kể đã thấy bao lần, hứng thú ấy vẫn luôn mới, vì mỗi lần lại có thêm những yếu tố mới vào bức tranh toàn cảnh. Hãy tưởng tượng một biển người chen kín bậc của các ghat tắm từ Durga Kund đến Cầu Đường sắt, trong y phục rực rỡ, tay mang và dùng những bình lota bằng đồng bóng loáng; hàng ngàn người đang tắm trong khi hàng ngàn khác bước lên bậc thay áo; phía sau họ là phông nền của những tòa kiến trúc như lâu đài đồ sộ do các vương công mộ đạo xưa nay dựng nên cho người tắm; có nơi bị dòng sông cuồn cuộn vô ngăn xói lở làm sụp ở các góc; các Bà-la-môn ngồi phơi mình giữa nắng sớm làm lễ; bất động, điềm nhiên giữa dòng người xuôi xuống và ngược lên khỏi sông. Rồi có cả ghat hỏa táng với mọi vẻ rùng rợn của những đám thiêu xác ngoài trời diễn ra suốt nhiều giờ—tất cả khắc vào tâm trí một bức họa không phai. Nhiều họa sĩ đã cố định cảnh ấy lên toan, nhưng chưa ai—trong số tôi từng thấy—thành công trong việc cho người xem cảm được toàn vẹn bức toàn cảnh. Chúng tôi đã thưởng thức cảnh ấy vào sáng ngày 11 khi nằm trên mái một chiếc thuyền nhà thả mình trôi lười theo dòng qua biển người chen chúc.

[14]

[14]

The next morning I spent at home working at my desk, but in the afternoon lectured in the compound of a cattle hospital (gowshâla) with the sick beasts lying or standing all about me. The lecture was to have been given at the Town Hall, but with a happy incapacity for doing things promptly, sometimes found in India, sometimes, also, in Western countries—notably those occupied by the Latin race who by no possibility do things to-day that can be put off till to-morrow—the preliminary formalities were neglected until the last moment, the public were persuaded that there would be no lecture and went home again, and when the permit actually reached me it found me on an empty packing-box in the cattle-yard going on with my lecture to the small audience who had been got together. This is one of the incidents of the lecturer’s life in India. It brought my Bemires visit to a close and I left at 1 p.m. on the 13th for Muzaffarpur.

Sáng hôm sau, tôi ở nhà làm việc bàn giấy, nhưng buổi chiều diễn thuyết trong khuôn viên một bệnh viện gia súc (gowshâla) với những con vật bệnh nằm hay đứng quanh tôi. Lẽ ra buổi diễn thuyết được tổ chức ở Tòa Thị chính, nhưng với sự khéo... trì hoãn đáng tiếc trong việc làm cho kịp thời thường gặp ở Ấn Độ, đôi khi cũng ở các nước phương Tây—nổi bật là những xứ của chủng tộc La-tinh, những người tuyệt nhiên không làm hôm nay điều có thể để ngày mai—các thủ tục chuẩn bị bị trì hoãn đến phút chót, công chúng bị thuyết phục rằng sẽ không có buổi diễn thuyết nên lại ra về, và khi giấy phép cuối cùng đến tay tôi thì thấy tôi đang ngồi trên một thùng gỗ rỗng trong sân gia súc và tiếp tục diễn thuyết trước số ít thính giả vừa gom lại được. Đây là một trong những chuyện thường ngày trong đời diễn thuyết ở Ấn Độ. Nó khép lại chuyến thăm Bemires của tôi và tôi rời đi lúc 1 giờ chiều ngày 13 đến Muzaffarpur.

CHAPTER II—CHƯƠNG II

EXTRAORDINARY CASE OF PSYCHOPATHIC HEALING (1893)

MỘT TRƯỜNG HỢP KỲ LẠ VỀ CHỮA TRỊ BẰNG TÂM LỰC (1893)

IT was a long, tedious, fatiguing railway journey across country from Benares to Muzaffarpur; involving several changes and night travel. We reached our destination an hour past midnight. The travellers’ bungalow to which we were taken, was excellent, and so we were able to refresh ourselves after our tiresome transit. The next day at 2.30 p.m. I lectured to a very large audience which embraced nearly the entire European community—a most unusual circumstance for, as a rule, the Anglo-Indians stop away from any Theosophical lecture where they would have to mix with the natives of the country. For my part I can see no difference between their antipathy for the dark-skinned men of India, and that of our American whites for the dark-skinned men of Africa. Save this, that the contempt of the white man for the backward races of Africa may seem somewhat natural, since the masses of them are intellectually so inferior; whereas, the similar feeling which the Anglo-Indians have for the [16] Hindus is absolutely inexcusable, their intellectual evolution having, in some respects, gone much higher than ours. In both cases there is, back of all the antipathy, the sense of wrong done to the dark man, and the mere presence of the wronged one is a constant reproach and causes a pricking of conscience.

Đó là một hành trình tàu hỏa dài, mệt mỏi, nhọc nhằn băng ngang xứ từ Benares đến Muzaffarpur; phải đổi tàu nhiều lần và đi đêm. Chúng tôi tới nơi hơn nửa đêm một giờ. Nhà khách lữ hành nơi chúng tôi được đưa đến rất tốt, nhờ vậy chúng tôi có thể hồi sức sau chuyến đi mệt nhoài. Ngày hôm sau lúc 2 giờ 30 chiều tôi diễn thuyết trước một thính chúng rất đông gồm gần như toàn bộ cộng đồng người Âu—một điều rất hiếm vì, thông thường, người Anglo-Ấn tránh xa bất kỳ buổi diễn thuyết Thông Thiên Học nào nơi họ phải hòa lẫn với dân bản xứ. Về phần mình, tôi không thấy khác biệt nào giữa niềm ác cảm của họ đối với người da sẫm của Ấn Độ và ác cảm của người da trắng Mỹ đối với người da sẫm Phi Châu. Chỉ có điểm này, rằng sự khinh miệt của người da trắng đối với những chủng tộc chậm tiến ở Phi có vẻ ít nhiều tự nhiên, bởi vì đa số họ trí lực quá kém; trong khi, cảm xúc tương tự của người Anglo-Ấn đối với [16] người Hindu là hoàn toàn không thể bào chữa, vì tiến hóa trí lực của họ, ở vài phương diện, đã vượt chúng ta rất xa. Trong cả hai trường hợp, đằng sau mọi ác cảm là ý thức về sự bất công đã làm với người da sẫm, và chỉ riêng sự hiện diện của kẻ bị bất công đã là một lời quở trách thường trực và gây day dứt lương tâm.

During that day and the following one, there were the usual receptions of visitors, Branch meetings and profitable conversations and discussions, and at 8 p.m. on the 15th (February) we moved on to Jamalpur, a great railway manufacturing centre. Mr. Edge and I were put up by Mr. Macdonald, F.T.S., a Canadian gentleman married to a half-caste lady. I lectured that evening in the railway company’s public hall, to a large audience, all railway employees and many of them whites or Eurasians. I shall always remember Jamalpur for the insulting tone and vulgar violence of the language used by one of my auditors, a Methodist fanatic, who put questions to me after the lecture; it was the worst experience of this kind I ever had.

Trong ngày hôm ấy và ngày kế, vẫn là những cuộc tiếp khách thường lệ, họp Chi bộ và những cuộc đàm đạo, thảo luận hữu ích, và lúc 8 giờ tối ngày 15 (tháng Hai) chúng tôi tiếp tục đi Jamalpur, một trung tâm chế tạo đường sắt lớn. Ông Edge và tôi được Ông Macdonald, F.T.S., một quý ông Canada kết hôn với một phu nhân lai, cho trọ. Tối hôm ấy, tôi diễn thuyết tại hội trường công cộng của công ty đường sắt, trước một cử tọa đông đảo, toàn nhân viên đường sắt và nhiều người trong họ là người Âu hay lai Âu-Á. Tôi sẽ luôn nhớ Jamalpur vì giọng điệu sỉ nhục và ngôn từ thô lỗ bạo tợn của một thính giả, một kẻ cuồng tín Giám Lý, người đã đặt câu hỏi với tôi sau buổi diễn; đó là trải nghiệm tệ nhất dạng này mà tôi từng có.

The daughter of Mr. Macdonald was an extremely interesting girl, as, in testing her psychic faculties, I found that she was a good psychometer. I made the following experiment with her. Her father and I had been talking about the process known among Hindus as Prâna-pratishthâ, by which the “senseless block of stone, wood or metal” becomes infused with the vital force of the Brahmins who, during a period of forty days, perform the ceremony over the image. I declared that it was very easy to prove that the vital [17] aura could be transfused from a man to an inanimate object. On our host expressing incredulity, I begged him to have brought a half-dozen or a dozen glasses of water, the tumblers to be of the same pattern and with nothing to distinguish one from another; they were to be placed together in the middle of the table; our host was to simply point with his finger to the glass into whose liquid contents I was to transfuse my aura; in other words, do the self-same thing which the Brahmins do to their images during the course of their forty days’ concentration of will-power. The glass being indicated, I was asked how I meant to give the promised proof. I said I should utilise the psychometric power of the young lady of the house; and thereupon asked the host to call her. When she came I asked her to be good enough to pass her hand horizontally and slowly over the glasses of water, and if she felt any influence from one different from that of the others, she was to tell us. Before she was called into the room I had held the chosen glass in the palm of my left hand, encircling the rim with my fingers; then closing my right fist, leaving the thumb projecting, I pointed the latter at the surface of the water, made circular passes with it, breathed upon the water with “mesmeric intent” and concentrated my will-power so as to saturate the glass and its contents with my prâna. All this the young lady was ignorant of, and not a sign was made after she entered the room to indicate the glass with which the experiment was connected. She passed her hand over the glasses, as directed, all being [18] alike inert to her, until she came to the glass which I had mesmerised. Instantly her hand was drawn to that tumbler with the same swiftness and directness as a suspended steel needle exhibits at the approach of the uncovered north pole of the magnet. I explained to my host that if he had brought me a dozen or twenty or fifty small brass or wooden idols from the bazaar, I could have given him the same proof of the reality of Prâna-pratishthâ as he had just then got from the simple experiment with the water-glasses. Ignorant missionaries and their backers who talk so flippantly about the “heathen in their blindness, bowing down to wood and stone,” are, presumably, unaware of the vivification that occurs in the image after it has passed through the mesmerising process. But I have explained this matter fully in a previous chapter and only recur to it now for the information of those who are now getting their first introduction to the psychical science of the people of the East.

Ái nữ của Ông Macdonald là một cô gái hết sức thú vị, vì khi thử các năng lực tâm linh của cô, tôi phát hiện cô là một người trắc tâm tốt. Tôi tiến hành thí nghiệm sau với cô. Cha cô và tôi vừa bàn về nghi thức gọi là Prâna-pratishthâ trong giới Hindu, nhờ đó “khối đá, gỗ hay kim loại vô tri” được thấm nhuần sinh khí của các Bà-la-môn, những người trong vòng bốn mươi ngày cử hành nghi lễ trên pho tượng. Tôi khẳng định rằng rất dễ chứng minh rằng [17] hào quang sinh lực có thể được truyền từ người sang vật vô tri. Khi chủ nhà tỏ vẻ ngờ vực, tôi đề nghị ông cho mang đến nửa tá hay cả chục ly nước, ly cùng kiểu và không có gì phân biệt cái này với cái khác; đặt tất cả ở giữa bàn; chủ nhà chỉ cần dùng ngón tay trỏ vào chiếc ly có phần nước mà tôi sẽ truyền khí lực của mình vào; nói cách khác, làm đúng điều mà các Bà-la-môn làm với tượng của họ trong suốt bốn mươi ngày tập trung ý chí. Khi ly đã được chỉ định, chủ nhà hỏi tôi định đưa chứng cứ thế nào như đã hứa. Tôi nói mình sẽ dùng năng lực trắc tâm của tiểu thư trong nhà; và bèn nhờ chủ nhà gọi cô. Khi cô đến, tôi xin cô vui lòng đưa tay lướt ngang chậm rãi trên các ly nước, và nếu cảm nhận ảnh hưởng nào khác biệt từ một ly so với phần còn lại, xin cho chúng tôi biết. Trước khi cô được gọi vào phòng, tôi đã đặt chiếc ly chọn sẵn lên lòng bàn tay trái, vòng các ngón tay quanh miệng ly; rồi khép chặt tay phải, chừa ngón cái nhô ra, tôi chĩa ngón ấy vào mặt nước, vẽ vòng tròn bằng nó, hà sinh khí lên nước với “ý định thôi miên” và tập trung ý chí để bão hòa chiếc ly và phần nước trong đó bằng prâna của mình. Tất cả điều này cô tiểu thư không hề hay biết, và sau khi cô vào phòng, không có dấu hiệu nào được đưa ra để chỉ chiếc ly liên quan đến thí nghiệm. Cô đưa tay lướt trên các ly như chỉ dẫn, tất cả [18] đều vô cảm với cô, cho đến khi cô đến chiếc ly tôi đã thôi miên. Lập tức tay cô bị hút về chiếc ly ấy nhanh và thẳng như một cây kim thép treo lơ lửng phản ứng khi từ cực bắc của nam châm áp sát. Tôi giải thích với chủ nhà rằng nếu ông mang cho tôi một tá, hay hai chục hay năm chục tượng nhỏ bằng đồng hay gỗ từ chợ, tôi có thể cho ông bằng chứng tương tự về tính hiện thực của Prâna-pratishthâ như ông vừa thấy trong thí nghiệm đơn giản với ly nước. Các nhà truyền giáo ngu dốt và những người ủng hộ họ, những kẻ nói năng khinh bạc về “dân ngoại giáo mù mịt, cúi mình trước gỗ đá”, hẳn là không biết sự sinh động hóa xảy ra trong pho tượng sau khi nó trải qua quá trình thôi miên. Nhưng tôi đã giải thích vấn đề này đầy đủ trong một chương trước và chỉ nhắc lại ở đây để thông tin cho những ai giờ mới lần đầu được giới thiệu với khoa học tâm linh của người phương Đông.

Mr. Edge and I had great pleasure in making the acquaintance of Mr. Elias, a local member of our Society, whose heart was honest and manners most agreeable. He was a half-caste, his father having been an Arab of Cairo, his mother a white lady. Mr. Edge was to have lectured on the 17th, but on that day was attacked by fever, so I had to take on his engagement myself. On the 18th at a T.S. meeting I admitted to membership Mrs. Elias and two of her three grown up daughters—to the great joy of Mr. Elias. In the evening we went to Monghyr, a [19] neighbouring town where I lectured. We returned to Jamalpur in a hackney carriage. On the next morning we left for Bhagalpur. Mr. Edge had a severe attack of fever in the train and went to bed on our arrival.

Ông Edge và tôi rất hân hạnh làm quen với Ông Elias, một hội viên địa phương của Hội chúng ta, người chân thành và phong thái rất dễ mến. Ông là người lai, cha là một người Ả Rập ở Cairo, mẹ là một phu nhân da trắng. Ông Edge lẽ ra diễn thuyết ngày 17, nhưng hôm ấy lên cơn sốt, nên tôi phải nhận diễn thay. Ngày 18, trong một buổi họp T.S., tôi kết nạp Bà Elias và hai trong ba cô con gái đã trưởng thành của bà vào Hội—niềm vui lớn lao cho Ông Elias. Buổi tối chúng tôi đi Monghyr, một [19] thị trấn lân cận nơi tôi diễn thuyết. Chúng tôi quay về Jamalpur bằng xe ngựa thuê. Sáng hôm sau chúng tôi đi Bhagalpur. Ông Edge lên cơn sốt nặng trên tàu và lên giường ngay khi đến nơi.

We had a very warm welcome, as usual at this place, where some remarkable psychopathic cures of disease which I made in 1883, had caused the Bhagalpur public to feel very friendly to me personally. Among these must always be remembered that extraordinary case of Badrinath Bannerji, a local Pleader, whose sight I restored in spite of his having been made blind by what the surgeons of the Calcutta Medical College had officially declared an incurable glaucoma. For the sake of new-comers into our reading circle let me briefly explain that this man was brought to me stone-blind in the year above mentioned; that after ten treatments of less than an hour each I restored his sight so that he could read the small type in a newspaper; that during a second tour of Bengal in 1885 I saw him again, blind; that within half an hour, by simple passes and breathings I brought back his sight; that on my third visit to the town in 1887 I again found him blind and again, after a half-hour’s treatment, restored to him the blessed boon of vision. Now, in commenting upon my first restoration of his sight, in a former chapter of this series, Dr. Brojendranath Bannerji, L.M.S., graduate of the Calcutta Medical College (see Theosophist Supplement, May, 1883), after consulting all available medical history, challenged his professional [20] brethren to point to a similar case; and in Theosophist Supplement for August, 1887, a correspondent, after referring back to Dr. Brojendranath’s surgical report of 1883, says: “After having been pronounced incurably blind by the first ophthalmic surgeons of Calcutta, the patient was made by Colonel Olcott to see to read ordinary type in a book or journal. This sight lasted six months and then gradually faded away. In 1885, when the President saw him again in Bhagalpur, he was totally blind and had been so for eighteen months. In two treatments on the same day his sight was again restored, but again—this time after a whole year, however—was lost. When the President met him for the third time, on the 8th of June, this year, he again restored sigh t to the diseased eyes.” The writer proceeds to say: “It will be curious to watch this unique case, and it is a great pity the patient could not be systematically treated every day for a number of months, until it could be ascertained whether in those two most serious afflictions, glaucoma and atrophy of the optic disk, the transfusion of healthy aura (tejas) into the diseased parts would result in their resumption of normal function.” The writer cites the somewhat parallel case of Babu Ladli Mohun Ghose “to whom also, in the year 1883, Colonel Olcott restored sight in the left eye—a case of hypermetropia. He, too, lost the artificially renewed sight, but after having had it a much longer time; and it was again restored in part, so that the patient could make out letters 1/16 of an inch high”.

Chúng tôi nhận được sự chào đón rất nồng nhiệt như thường lệ ở nơi này, nơi một vài ca chữa trị bằng tâm lực kỳ lạ mà tôi thực hiện năm 1883 đã khiến công chúng Bhagalpur có thiện cảm đặc biệt với cá nhân tôi. Trong số này, luôn phải nhớ đến trường hợp phi thường của Badrinath Bannerji, một luật sư bào chữa địa phương, người mà tôi đã phục hồi thị lực mặc dù ông bị mù do tăng nhãn áp mà các phẫu thuật viên ở Trường Y Calcutta đã chính thức tuyên là bất trị. Để tiện cho những độc giả mới, xin tóm tắt rằng người này được đưa đến với tôi trong tình trạng mù hoàn toàn vào năm kể trên; sau mười lần trị liệu dưới một giờ mỗi lần, tôi đã phục hồi thị lực đến mức ông có thể đọc chữ nhỏ trên báo; trong chuyến du hành thứ hai ở Bengal năm 1885, tôi lại gặp ông, mù; trong vòng nửa giờ, chỉ bằng các thủ pháp và hơi thở, tôi mang ánh sáng trở lại cho ông; trong chuyến thứ ba đến thị trấn năm 1887, tôi lại thấy ông mù và lại, sau nửa giờ điều trị, trao lại cho ông ân phúc của thị giác. Nay, khi bình luận về lần phục hồi thị lực đầu tiên của ông, trong một chương trước của bộ này, Bác sĩ Brojendranath Bannerji, L.M.S., tốt nghiệp Trường Y Calcutta (xem Phụ san Theosophist, tháng 5, 1883), sau khi khảo sát mọi y văn sẵn có, đã thách thức các đồng nghiệp [20] chỉ ra một ca tương tự; và trong Phụ san Theosophist tháng 8, 1887, một cộng tác viên, sau khi dẫn chiếu báo cáo phẫu thuật của Bác sĩ Brojendranath năm 1883, viết: “Sau khi đã bị những nhà nhãn khoa hàng đầu Calcutta tuyên là mù bất trị, bệnh nhân đã được Đại tá Olcott cho thấy lại để đọc được chữ thường trong sách báo. Thị lực này kéo dài sáu tháng rồi dần tiêu mất. Năm 1885, khi Chủ tịch gặp lại ông ở Bhagalpur, ông hoàn toàn mù và đã như vậy mười tám tháng. Sau hai lần trị liệu trong cùng một ngày, thị lực của ông lại được hồi phục, nhưng rồi—lần này sau một năm tròn—lại mất. Khi Chủ tịch gặp ông lần thứ ba, vào ngày 8 tháng Sáu năm nay, ông lại phục hồi thị lực cho đôi mắt bệnh.” Tác giả tiếp: “Sẽ thật đáng chú ý khi theo dõi trường hợp độc nhất vô nhị này, và thật đáng tiếc là bệnh nhân không thể được điều trị có hệ thống mỗi ngày trong vài tháng, để có thể xác minh liệu, trong hai chứng khổ nạn trầm trọng nhất là tăng nhãn áp và teo đĩa thị, việc truyền hào quang khỏe mạnh (tejas) vào phần tổn thương có dẫn đến việc tái lập chức năng bình thường hay không.” Tác giả dẫn ra trường hợp tương tự phần nào của Babu Ladli Mohun Ghose “mà với ông này, vào năm 1883, Đại tá Olcott cũng đã phục hồi thị lực ở mắt trái—một trường hợp viễn thị. Ông này cũng mất thị lực được phục hồi nhân tạo ấy, nhưng sau thời gian dài hơn nhiều; và nó lại được trả lại một phần, sao cho bệnh nhân có thể phân biệt được các chữ cao 1/16 inch”.

[21]

[21]

The above observation by the writer in the Theosophist was very timely and sensible, for here is what I found on seeing Badrinath Babu for the fourth time, in 1893. The revived vision given by the treatment of 1883 lasted six months; after the second treatment, in 1885, it lasted eighteen months; and after the third treatment, viz., that of 1887, it lasted about five years. Badrinath had become blind again only about a twelve-month before I came to Bhagalpur in the course of my tour of 1893. Does it not seem as though we had now come upon a problem of the deepest scientific interest in the department of practical psychology? Assuredly it is one possessing the deepest interest to every practitioner of the healing art along either one of its psychopathic lines. The case may be stated thus: In the nervous system of A there exists a temporary stoppage of nerve vibration, which if allowed to take its course ends in complete and fatal paralysis: no drugs restore the vibration, no electric or galvanic current can give more than a temporary stimulus. But who is to determine the questions as to when the incurable or irremediable stage of paralysis is reached? The facts connected with the two cases of blindness above mentioned prove as clearly as anything could, that when all other methods have failed, when the most learned surgeons have exhausted their science and unconditionally acknowledge defeat, there is still an all-potent agent in Nature which can effect a cure and thus teach professional men not to prematurely confess defeat. This curative agent is the human nerve aura, and [22] the cure is effected by filling the void in A’s system with the strong current of B, a healthy man, who has learnt to concentrate his will and compel his vital current.to flow through the exhausted nerves of the patient. The very first treatment of Badrinath gave him back his sight; then, for lack of a fresh stimulation of the weakened optic nerves, the induced vibration stops, the enfeebled nerve, like a watch run down, becomes inactive and blindness returns. Now, in the case of Badrinath, there were four experimental observations, the first three with intervals of two years, the fourth after an interval of six; in the interval between the first and the second he enjoyed clear sight half a year, between the second and the third it stayed with him three times as long, and between the third and the fourth, five whole years, that is to say, ten times as long as at first. It would seem then as if the Theosophist’s writer was quite justified in saying that it would be interesting “to watch this unique case... until it could be ascertained whether... the transfusion of healthy aura into the patient’s nerves would cause their resumption of normal function”. I wish that cases like these might multiply, until the accumulation of proof that the psychopathic power exists should compel even the most ignorant dogmatist of the most influential Medical College to confess that there are laws of Nature which even a Medical Faculty is ignorant of. If I have recurred to this case from time to time, it is because I think it transcendently important, and as good a key as any to unlock one or more of the masked doors in Nature.

Nhận xét trên đây của tác giả trên Theosophist rất kịp thời và sáng suốt, bởi vì đây là điều tôi phát hiện khi gặp Badrinath Babu lần thứ tư vào năm 1893. Thị lực phục hồi nhờ điều trị năm 1883 kéo dài sáu tháng; sau lần điều trị thứ hai, năm 1885, nó kéo dài mười tám tháng; và sau lần điều trị thứ ba, tức năm 1887, nó kéo dài khoảng năm năm. Badrinath chỉ mới mù trở lại khoảng mười hai tháng trước khi tôi đến Bhagalpur trong chuyến du hành năm 1893. Chẳng phải dường như chúng ta đã chạm đến một vấn đề có ý nghĩa khoa học sâu sắc nhất trong lĩnh vực tâm lý học thực nghiệm sao? Chắc chắn đây là vấn đề có ý nghĩa sâu xa đối với mọi nhà thực hành y thuật chữa lành theo một trong các đường hướng bằng tâm lực. Trường hợp có thể được trình bày như sau: Trong hệ thần kinh của A có một sự đình chỉ tạm thời của rung động thần kinh, mà nếu để diễn tiến sẽ kết thúc trong liệt hoàn toàn và chí tử: không dược phẩm nào khôi phục được rung động, không dòng điện hay điện thế nào cho hơn một kích thích tạm bợ. Nhưng ai có thể xác quyết khi nào giai đoạn liệt không thể chữa hay không thể cải hồi đã đến? Những dữ kiện liên quan đến hai ca mù nêu trên chứng tỏ rõ ràng hết mức có thể rằng khi mọi phương pháp khác đều thất bại, khi những phẫu thuật viên học vấn uyên thâm nhất đã tận dụng hết tri thức và vô điều kiện thừa nhận thất bại, vẫn còn một tác nhân toàn năng trong Tự nhiên có thể tạo nên sự chữa lành và qua đó dạy cho giới chuyên môn đừng vội thú nhận thất bại. Tác nhân chữa lành này là hào quang thần kinh của con người, và [22] sự chữa lành diễn ra bằng cách lấp đầy chỗ trống trong hệ của A bằng dòng sinh lực mạnh của B, một người khỏe mạnh, người đã học cách tập trung ý chí và buộc dòng sinh lực của mình chảy qua những dây thần kinh kiệt quệ của bệnh nhân. Ngay lần điều trị đầu tiên cho Badrinath đã trả lại cho ông thị lực; rồi, do thiếu kích thích mới cho những dây thần kinh thị giác suy yếu, rung động cảm ứng ngừng lại, dây thần kinh suy nhược, như một chiếc đồng hồ hết cót, trở nên bất hoạt và mù lòa quay lại. Nay, trong trường hợp của Badrinath, có bốn quan sát thực nghiệm, ba lần đầu cách nhau hai năm, lần thứ tư sau sáu năm; trong khoảng giữa lần thứ nhất và thứ hai, ông hưởng thị lực trong nửa năm, giữa lần thứ hai và thứ ba nó kéo dài gấp ba lần, và giữa lần thứ ba và thứ tư, tròn năm năm, tức là dài gấp mười lần so với lần đầu. Vậy dường như tác giả Theosophist hoàn toàn có lý khi nói rằng sẽ thú vị “theo dõi trường hợp độc nhất này... cho đến khi có thể xác quyết liệu... việc truyền hào quang khỏe mạnh vào dây thần kinh bệnh nhân có khiến chúng tái lập chức năng bình thường hay không”. Tôi mong rằng những ca như thế này có thể gia tăng, cho đến khi tích lũy chứng cứ rằng năng lực chữa bệnh bằng tâm lực hiện hữu buộc ngay cả kẻ giáo điều ngu dốt nhất của những Trường Y danh giá nhất cũng phải thừa nhận rằng có những định luật của Tự nhiên mà ngay cả một Giới Y khoa cũng chưa biết. Nếu tôi đã nhiều lần trở lại trường hợp này, ấy là vì tôi cho nó trọng yếu vượt bậc, và là một chiếc chìa khóa tốt như bất kỳ chiếc nào để mở một hay nhiều cánh cửa che giấu trong Tự nhiên.

[23]

[23]

But now to resume our narrative: Mr. Edge’s fever raged all day and he was put in the professional charge of a kavirâj, a native medical practitioner, who follows the ancient Aryan systems of those two great medical writers, Sushruta and Charaka. As he seemed to be in for a prolonged siege of fever, his part of our tour had to be temporarily abandoned and I had to leave him in good hands, with our one servant to wait on him, and go on alone to Nilphamari. Despite my arrival at 4 a.m., our Branch members were at the station to meet me. But before I could go to bed I had to ride on an elephant to the town, where I was put up in a rest-house made of a bamboo frame, with a grass thatch, and walls made of bamboo chicks or screens; the whole giving the traveller about as much protection from cold wind, damp air, and rain as a bird-cage. As I had brought no servant with me I found myself in an uncomfortable plight. Nothing had been prepared for me to eat or drink, no servant would be available until the next afternoon, and nobody knew how to get anything for my comfort, though most willing. However, travellers get used to most things and I had too many visitors and too much Society work to attend to to think of personal discomfort. At 6 p.m., in a pelting rain, I went to the school-house and lectured on a very high theme—which had been specially given me ten minutes before I went on the platform!

Nhưng giờ đây trở lại câu chuyện: cơn sốt của Ông Edge hoành hành suốt ngày và ông được giao cho một kavirâj, một thầy thuốc bản địa, người theo các hệ thống Arya cổ đại của hai y gia vĩ đại, Sushruta và Charaka. Vì xem ra ông sẽ phải đương đầu với một cơn sốt kéo dài, phần việc của ông trong chuyến lưu diễn tạm thời phải bỏ dở và tôi phải để ông trong tay tốt, cùng với một gia nhân ở lại chăm sóc, còn tôi một mình đi tiếp đến Nilphamari. Dù tôi đến lúc 4 giờ sáng, các hội viên Chi bộ của chúng tôi vẫn có mặt ở ga để đón. Nhưng trước khi có thể đi ngủ, tôi phải cưỡi voi vào thị trấn, nơi tôi được xếp chỗ trong một nhà nghỉ làm bằng khung tre, mái lợp cỏ, và tường làm bằng mành tre; tất cả cho người lữ hành chừng ấy bảo hộ trước gió lạnh, ẩm thấp, mưa gió chẳng hơn gì một chiếc lồng chim. Vì tôi không mang theo gia nhân nào nên ở vào thế khá bất tiện. Chẳng có gì được chuẩn bị để ăn uống, sẽ không có người hầu cho đến chiều hôm sau, và chẳng ai biết lo liệu điều gì cho tôi dù hết sức sẵn lòng. Dẫu sao, người đi đây đi đó rồi cũng quen với hầu hết mọi chuyện và tôi có quá nhiều khách cùng quá nhiều công việc Hội phải chu toàn nên chẳng bận tâm đến khó chịu cá nhân. Lúc 6 giờ tối, giữa cơn mưa như trút, tôi đến nhà trường và diễn thuyết về một đề tài rất cao—mà được đặc biệt giao cho tôi mười phút trước khi bước lên diễn đàn!

CHAPTER III—CHƯƠNG III

THE PARLIAMENT OF RELIGIONS—NGHỊ VIỆN CÁC TÔN GIÁO (1893)—(1893)

WHEN it became known, in 1892, that I wished to retire from office, five offers were made me by kind friends to give me a home and support during the rest of my life; among them the Rajah of Pakur, then a stranger to me personally. From Bhagalpur my itinerary of the present tour took me to Rajmahal, where I stopped for the day and lectured, and thence to Pakur, this gentleman’s place, where I was cordially welcomed by him and his Dewan, Babu Patiram. I slept at the station and lectured at the Rajah’s High School, but I had so many engagements booked that I had to hurry away at 5.30 a.m., on the 27th (February), to Berhampur (Bengal), the seat of that once super-excellent Branch, led by Babu Dina Nath Ganguly, Government Pleader, and his colleagues, Satcori Mukerji, Kali Prasanna Mukerji, Nafar Das Roy, and others whose names are so well known in our Indian history and who got their inspiration originally, in 1882, from their then leader, the late Nobin Krishna Bannerji, one of the strongest and most devoted men [25] we ever had in the Society. On the present occasion I was to preside at the celebration of the Eleventh Anniversary of the Branch, an event to which I looked forward with pleasure. It is one of the delights of one’s inspection tours to meet with Branches which are full of enthusiasm and anxious to do their uttermost to help on the movement; this compensates for the depression one feels when in contact with other groups whose interest is intellectual and fervor not yet aroused.

Khi vào năm 1892 người ta hay tin tôi muốn lui khỏi chức vụ, đã có năm lời đề nghị từ những người bạn tốt bụng mời tôi về sống và chu cấp cho tôi suốt phần đời còn lại; trong số đó có cả Quốc vương Pakur, khi ấy còn là người xa lạ với cá nhân tôi. Từ Bhagalpur, lịch trình chuyến lưu diễn hiện tại đưa tôi đến Rajmahal, nơi tôi dừng một ngày và diễn thuyết, rồi đến Pakur, chốn của vị quốc vương này, nơi tôi được Ngài và viên Dewan, Babu Patiram, đón tiếp ân cần. Tôi ngủ tại ga và diễn thuyết ở Trường Trung học của Quốc vương, nhưng tôi có quá nhiều cam kết đã định nên phải vội đi lúc 5 giờ 30 sáng, ngày 27 (tháng Hai), tới Berhampur (Bengal), trụ sở của Chi bộ một thời ưu tú bậc nhất, do Babu Dina Nath Ganguly, Biện lý Chính phủ, và các đồng sự như Satcori Mukerji, Kali Prasanna Mukerji, Nafar Das Roy, và những người khác mà tên tuổi rất quen thuộc trong lịch sử Ấn Độ của chúng ta, lãnh đạo; những người đã nhận cảm hứng ban đầu, vào năm 1882, từ người đứng đầu khi ấy, cố Nobin Krishna Bannerji, một trong những người mạnh mẽ và tận tụy nhất [25] mà chúng ta từng có trong Hội. Lần này, tôi sẽ chủ tọa lễ Kỷ niệm Lần thứ Mười một của Chi bộ, một sự kiện mà tôi trông đợi với hân hoan. Một trong những niềm vui của các chuyến thị sát là gặp những Chi bộ tràn đầy nhiệt huyết và khát khao làm hết sức để thúc đẩy phong trào; điều này bù đắp cho nỗi chán nản khi tiếp xúc với những nhóm khác mà sự quan tâm mới ở mức trí thức và chưa bừng lửa nhiệt thành.

In India, it is, as I have often remarked, wonderful how much of the power for good and usefulness in a Branch depends upon having one strong man for leader. Let him be ordered by Government to another station and the ashes of indifference soon cover over the live coals of activity which his example had kept flaming. Only this very morning I have read in a Madras paper that the “Theosophical enthusiasm” in a certain large town was dying out since the departure of the gentleman who had headed the group at its formation and had led it from good deed to good deed until now, making it one of the most influential centres in the Empire. This is unpleasant and yet nothing to be surprised at, since human society, the world over, is composed of masses and classes led by a few strong personalities. The more one mixes with public men and parties the plainer is this fact perceived. Our own movement has afforded ample proofs, and of a character that really were surprising: the Judge secession, for instance, a movement based on no more substantial foundation than falsehood and vulgar [26] ambition. As for the phase it now presents, that is beyond words to express; a fall into intellectual slavery that must be seen to be believed—and of people who were in search of the Higher Self, of that supreme wisdom which makes man a God in power after self-development, and the condition of which latter is the bursting of all trammels of servility, the rising inch by inch by struggle and self-reliance. Can the reader see, then, what it means to become an Adept, or wonder that such an evolution is so rare that the existence of such beings is to most men a mere intellectual surmise? Let us, then, prize those who show any quality of leadership in this great sociological movement, and make the most of them while they are fit and ready to work.

Ở Ấn Độ, như tôi thường nhận xét, thật đáng kinh ngạc biết bao khi sức mạnh tạo điều lành và hữu ích của một Chi bộ tùy thuộc vào việc có một người mạnh mẽ làm thủ lĩnh. Hãy để ông ấy bị Chính quyền điều đến trạm khác, và tro nguội của hờ hững sẽ sớm phủ kín những than hồng hoạt động mà gương mẫu của ông từng giữ cho bùng cháy. Ngay sáng nay tôi vừa đọc trên một tờ báo Madras rằng “nhiệt huyết Thông Thiên Học” ở một thành phố lớn nào đó đang lụi tàn kể từ khi vị quân tử đã đứng đầu nhóm lúc thành lập và đã dẫn dắt họ từ thành tựu này đến thành tựu khác rời đi, biến nơi ấy thành một trong những trung tâm có ảnh hưởng nhất trong Đế quốc. Điều này khó chịu nhưng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì xã hội loài người, ở đâu cũng vậy, gồm quần chúng và tầng lớp được dẫn dắt bởi một số ít nhân cách mạnh. Càng hòa mình với người của công chúng và các đảng phái, người ta càng thấy rõ điều này. Chính phong trào của chúng ta đã cung cấp bằng chứng dồi dào, và theo cách thực sự khiến người ta phải ngạc nhiên: như vụ ly khai của Ông Judge, chẳng hạn, một phong trào dựa trên nền tảng nào hơn ngoài dối trá và [26] dã tâm thô tục. Còn như diện mạo mà nó nay phô bày, thì thật không còn lời để diễn tả; một sự sa vào nô lệ trí thức đến mức phải tận mắt chứng kiến mới tin—và của những con người từng đi tìm Chân Ngã, tìm thứ minh triết tối thượng biến con người thành một vị Thần trong quyền năng sau khi tự tu dưỡng, và điều kiện cho sự tu dưỡng ấy là bẻ gãy mọi gông cùm của sự nô lệ, là vươn mình từng tấc một bằng nỗ lực và tự cậy. Vậy độc giả có thể thấy ý nghĩa của việc trở thành một Chân sư là gì, hay còn ngạc nhiên rằng một tiến hóa như thế hiếm hoi đến độ sự tồn tại của những bậc ấy đối với đa số người chỉ là một suy đoán trí thức? Vậy thì, chúng ta hãy trân trọng những ai có phẩm chất lãnh đạo nào đó trong phong trào xã hội học lớn lao này, và tận dụng họ khi họ còn thích hợp và sẵn lòng làm việc.

Berhampur was reached at 1 p.m., on the same day, and a most kind and brotherly address was read to me. The Branch public function came off at 7.30 the next morning, and Mr. Edge rejoining me during the day, we both lectured at the Theatre Hall in the evening to a large audience of both nationalities. The next morning I opened the T.S. Library and Reading Room and had the pleasure of announcing that that philanthrophic lady, Maharani Surnomoyee, whom the late Queen Victoria so much respected and who was affectionately called by her compatriots the Lady Burdett Coutts of India, had given Rs. 300 towards the Library. My lecture that evening was on “Occultism, True and False” and, whether drawn by curiosity or not, to know something about that subject or only to see me, I cannot say, but there was scarcely a resident European [27] absent. My visit ended with this function and on the next morning Mr. Edge and I left for Calcutta, where Dr. Salzer had his usual welcome ready for us.

Berhampur được đến vào lúc 1 giờ trưa cùng ngày, và một diễn từ thân ái, huynh đệ được đọc chào mừng tôi. Lễ công của Chi bộ diễn ra lúc 7 giờ 30 sáng hôm sau, và Ông Edge nhập đoàn lại với tôi trong ngày, cả hai chúng tôi đều diễn thuyết tại Nhà Hát vào buổi tối trước một thính chúng đông đảo của cả hai quốc tịch. Sáng hôm sau, tôi khai trương Thư viện và Phòng Đọc T.S. và có niềm vui thông báo rằng vị ái nữ hào hiệp, Maharani Surnomoyee, người mà cố Nữ hoàng Victoria hết sức kính trọng và được đồng bào trìu mến gọi là Lady Burdett Coutts của Ấn Độ, đã tặng Rs. 300 cho Thư viện. Bài diễn thuyết của tôi tối hôm ấy là về “Huyền bí học: Chân và Giả” và, bất kể họ bị tò mò lôi cuốn [27] muốn biết điều gì đó về đề tài ấy hay chỉ muốn gặp tôi, tôi không dám chắc, nhưng hầu như không vắng một người Âu cư trú nào. Chuyến thăm của tôi kết thúc với buổi lễ này và sáng hôm sau Ông Edge cùng tôi rời Calcutta, nơi Bác sĩ Salzer đã sẵn sàng chào đón chúng tôi như lệ thường.

A strong fever attacked Mr. Edge and made him very ill during the next few days, but was finally broken up by Dr. Salzer with the 30th Dilution of Natrum Muriaticum (sea salt), in which the proportion of matter is indicated by 1 as the numerator, and about 100 ciphers as denominator! Not much from the allopathic point of view, yet it cured him, and what more could a bolus as large as an egg accomplish?

Một cơn sốt nặng tấn công Ông Edge khiến ông lâm bệnh trầm trọng mấy ngày kế tiếp, nhưng cuối cùng được Bác sĩ Salzer dập tắt bằng lần pha loãng thứ 30 của Natrum Muriaticum (muối biển), trong đó tỉ lệ chất liệu được biểu thị bằng 1 ở tử số và chừng 100 con số 0 ở mẫu số! Nhìn từ quan điểm y khoa chính thống thì chẳng là bao, vậy mà nó đã chữa được ông ta; một viên thuốc to bằng quả trứng còn làm gì hơn được thế?

The Doctor and I bought tickets to a double wedding of Salvationists—”Captains” Satgun (Claydon) and Bala Bati (Bellamy) and Atmaran (Mottershead) and Nur Jahan (Knight), to be united in Salvation Matrimony under the Army Flag, Thursday, March 9th, at 7 p.m. in the Bow Bazaar Barracks. Four “Captains”—two of each sex—married by “Staff Captain Santoshan,” with the “United Staff and Field Force to the front”. This was the eccentric, not to say crazy, aspect of the affair, and no wonder it drew a packed and paying audience. But Dr. Salzer and I both lost sight of the outward farce and came away deeply impressed with the deadly earnestness of these people. Let anybody jeer as he may at the Salvationists, yet it cannot be denied that they are zealous, bold, and self-sacrificing to a degree in their work. I, for my part, have always respected them for their motives, and regard the Salvation Army as one of the most powerful agencies of our times for the restraint [28] of vice and the reformation of the submerged criminal class in Western lands. India affords them no such field for their exertions, for criminality and vice do not prevail there to the same extent. A nation evolved in such an intellectual atmosphere as the Hindus would not be satisfied with such branlike religious teaching as the Salvationists impart.

Bác sĩ và tôi mua vé dự một đám cưới đôi của những người thuộc Quân đội Cứu Thế—“Đại úy” Satgun (Claydon) và Bala Bati (Bellamy) cùng Atmaran (Mottershead) và Nur Jahan (Knight), sẽ thành hôn trong “Hôn lễ Cứu Thế” dưới Quân kỳ, vào thứ Năm, ngày 9 tháng Ba, lúc 7 giờ tối tại Doanh trại Bow Bazaar. Bốn “Đại úy”—hai nam, hai nữ—do “Đại úy Tham mưu Santoshan” cử hành hôn lễ, với “Bộ Tham mưu và Lực lượng Tiền phương Hợp nhất tiến lên phía trước”. Đó là khía cạnh lập dị, không nói là điên rồ, của sự việc, và chẳng lạ gì nó đã thu hút một khán giả chật kín có mua vé. Nhưng Bác sĩ Salzer và tôi đều không để ý đến trò khôi hài bề ngoài ấy và ra về với ấn tượng sâu sắc về sự nghiêm cẩn đến chết người của những người này. Ai muốn chế giễu Quân đội Cứu Thế thì cứ việc, nhưng không thể phủ nhận họ rất nhiệt tâm, dũng cảm, và hy sinh hết mực trong công việc của mình. Phần tôi, tôi luôn tôn trọng động cơ của họ, và nhìn nhận Quân đội Cứu Thế là một trong những cơ quan mạnh mẽ nhất thời đại chúng ta nhằm kìm hãm [28] tệ ác và cải hoá tầng lớp tội phạm bị dìm sâu trong xã hội ở các xứ phương Tây. Ấn Độ không tạo cho họ một địa hạt như thế để phát huy, vì tội phạm và trụy lạc không phổ biến ở đó đến mức ấy. Một dân tộc trưởng thành trong bầu không khí trí thức như người Ấn sẽ không bằng lòng với thứ giáo huấn tôn giáo nhạt như cám mà những người Cứu Thế truyền dạy.

A very large and demonstrative audience listened to my lecture at Albert Hall on “Occultism,” on the evening of the 11th, and the next day I sailed for Madras in the British India steamer “Malda”. I found on board, the Surgeon, Pilot, Purser, Mail Agent, and other officers of the French steamer “Niemen” on which Mr. Keightley and Mr. Cooper-Oakley had been wrecked off the coast of Ceylon shortly before. From all I could gather from them, I did not derive a very respectful impression as to the management of the vessel at the time of the catastrophe: I was glad not to have been aboard.

Một thính chúng rất đông và tỏ bày nhiệt liệt đã nghe bài diễn thuyết của tôi tại Albert Hall về “Huyền bí học”, vào tối ngày 11, và hôm sau tôi xuống tàu “Malda” của hãng British India đi Madras. Trên tàu tôi gặp Bác sĩ tàu, Hoa tiêu, Quản lý hàng, Đại lý bưu chính, và các sĩ quan khác của chiếc tàu Pháp “Niemen” mà Ông Keightley và Ông Cooper-Oakley đã bị đắm ngoài khơi Tích Lan ít lâu trước đó. Qua tất cả những gì tôi thu thập từ họ, tôi không có ấn tượng mấy tốt đẹp về cách điều khiển con tàu lúc xảy ra tai hoạ: tôi mừng là mình đã không ở trên tàu ấy.

From Calcutta to Madras is a run of less than four days, so we reached home on the 16th at daybreak, and my first task was to hunt through our old papers for historical bits for]. Then, by way of a change, came an attack of gout in my feet, a legacy left me by some ancestor who probably was more fond of old claret and burgundy than of vegetable food. But this did not hinder our beginning again the discussion of the Judge affair. Mr. Edge, who had been detained by illness, came on by another steamer five days later. I sent him to Poona [29] to lay the evidence before our respected colleague, Judge Khandalavala, and take his opinion, which was that the case should be proceeded with.

Từ Calcutta đến Madras là một chặng chưa đầy bốn ngày, nên chúng tôi về đến nhà vào rạng sáng ngày 16, và việc đầu tiên của tôi là lục tìm trong các giấy tờ cũ để kiếm những mẩu sử liệu cho]. Rồi, như một thay đổi, tôi bị một cơn gút ở bàn chân, di sản từ một tổ tiên nào đó hẳn ưa chuộng vang claret và burgundy cũ hơn là thức ăn thực vật. Nhưng điều này không cản trở chúng tôi bắt đầu lại việc thảo luận vụ Judge. Ông Edge, người bị bệnh giữ lại, đi chuyến tàu khác đến sau năm ngày. Tôi sai ông đến Poona [29] để trình bày chứng cứ trước người đồng nghiệp đáng kính của chúng tôi, Thẩm phán Khandalavala, và xin ý kiến của ông, rằng vụ này nên được tiến hành.

At the last Convention Mr. Walter G. Old gave some very instructive experiments in thought-reading, and now again, in the presence of fifty or sixty visitors, he made others. In his case it did not seem like mere “muscle-reading,” but the perception of the agent’s thought. Writers upon these interesting psychical experiments have not made the mention they deserve of a series of demonstrations of the thought-reading power which were made at Yale University in the year 1873 or 1874 in the Sheffield School of Science, under the direction of Professor W.H. Brewer. The percipient was a young American named Brown, whom I met and once tested myself. It must be confessed that one of his feats excels any that have since been recorded by experimenters. At the Sheffield School a wire was carried from the cellar to the amphitheatre in the top story, with enough slack there to reach across the room. The thought transmitter, i.e., the person whose thought was to be read, was stationed at the cellar end of the wire and Brown held the other end upstairs. The gentleman formulated the thought, if my memory serves me—it is now nearly thirty years ago—that Brown should make a mark on a blackboard and then lay the piece of chalk in a certain place. Under the observation of the committee of scientists the latter held the end of the wire against his forehead, was seized with a nervous shivering, ran hither and thither, still [30] holding the wire, and finally went to the blackboard and did what was mentally ordered by the “agent”. Where is the muscle-reading here? Professor Brewer published a report of the experiments at the time and it was widely copied and commented upon in the press. Of course, even this wonderful test is far less important than the multitudinous feats of thought-transference that are recorded in the literature of clairvoyance, but for materialistic sceptics it is more satisfactory as having been made in a School of Science under the direction of University Professors, and with the substantial wire as a pièce de conviction. It is a comfort to such to have a wire to hang one’s ideas upon to ripen in the sun of common sense! Yet, what had the wire to do with the thing after all; is metallic wire a conductor of thought? What would Marconi say?

Tại Đại hội lần trước, Ông Walter G. Old đã có những thí nghiệm rất bổ ích về đọc ý nghĩ, và lần này nữa, trước năm mươi hay sáu mươi khách, ông lại làm những thí nghiệm khác. Trong trường hợp của ông, điều đó không giống như chỉ là “đọc bằng cơ bắp”, mà là tri nhận tư tưởng của “tác nhân”. Những người viết về các thí nghiệm thông linh thú vị này chưa nhắc đến một chuỗi trình diễn đáng được ghi nhận về năng lực đọc ý nghĩ đã được thực hiện tại Đại học Yale vào năm 1873 hay 1874 ở Trường Khoa học Sheffield, dưới sự điều phối của Giáo sư W. H. Brewer. Người tri nhận là một thanh niên Mỹ tên Brown, mà tôi có gặp và một lần tự mình thử nghiệm. Phải thú nhận rằng một kì tích của anh vượt trội bất cứ điều nào về sau được các nhà thực nghiệm ghi lại. Ở Trường Sheffield, một sợi dây dẫn được kéo từ tầng hầm lên giảng đường hình bán nguyệt trên tầng cao nhất, chừa một đoạn chùng đủ vắt ngang phòng. Người truyền tư tưởng, tức là người có tư tưởng sẽ được đọc, đứng ở đầu dây phía tầng hầm, còn Brown cầm đầu kia trên lầu. Vị ấy hình thành ý tưởng—nếu tôi nhớ không lầm, nay đã gần ba mươi năm—rằng Brown phải vẽ một dấu trên bảng đen rồi đặt viên phấn vào một chỗ nhất định. Dưới sự quan sát của uỷ ban các nhà khoa học, người sau—tức Brown—áp đầu sợi dây vào trán, run rẩy thần kinh, chạy đi chạy lại khắp nơi, vẫn [30] cầm sợi dây, và rốt cuộc đến bảng đen làm đúng điều đã được “tác nhân” ra lệnh bằng ý niệm. “Đọc bằng cơ bắp” ở đâu trong việc này? Giáo sư Brewer đã công bố một bản tường trình về các thí nghiệm lúc bấy giờ và nó được báo chí rộng rãi sao chép, bình luận. Dĩ nhiên, ngay cả phép thử tuyệt diệu này cũng kém quan trọng hơn vô số kì tích chuyển tư tưởng được ghi chép trong văn liệu về thông nhãn, nhưng đối với những kẻ hoài nghi duy vật, nó thỏa đáng hơn vì được tiến hành ở một Trường Khoa học dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Đại học, và có sợi dây hữu hình như một vật chứng. Thật là một điều an ủi cho họ khi có một sợi dây để “treo” các ý nghĩ lên cho chín muồi dưới mặt trời của lương tri thông thường! Thế nhưng, sau cùng thì sợi dây dính dáng gì đến chuyện ấy; dây kim loại có dẫn tư tưởng chăng? Marconi sẽ nói gì?

On the 28th I had a letter from Mrs. Besant telling me that she would be able to come out to India, which of course gave us all great pleasure.

Ngày 28, tôi nhận được thư của Bà Besant cho biết Bà sẽ có thể sang Ấn, điều này dĩ nhiên đem lại cho tất cả chúng tôi niềm vui lớn.

A chance seemed to offer itself at this time to acquire the Mahâ-Bodhi stupa and some 3,000 bîgas of adjacent land by purchase from the Tikari Rajah’s estate, the presumed owners of the fee. The Honorary Pleader of the Mahâ-Bodhi Society at Gaya, Mr. Nund Kissore Lal, conveyed this idea to me in a telegram and I at once communicated with Dharmapala. A wealthy Burman was said to be ready to give Rs. 1.00.000 if the shrine could be bought—so I was told by Dharmapala. Private negotiations were accordingly entered into and all was proceeding peacefully until the Government [31] of Bengal, or in other words, Mr. Cotton—whose son was engaged as counsel for the stubborn Mahant of Buddha Gaya—came to know of it. The next thing we learnt was that a peremptory order had been given to the European Manager of the Tikari Raj under the Court of Wards, that he should not sell the piece of property in question to the Buddhists on any consideration. This seemed to me an impertinent and unjust meddling in a perfectly blameless business transaction, and I could not help suspecting the motive which prompted the order. However, that chance was lost and the monstrous injustice of debarring the Buddhists of the world from owning their most sacred and most famous shrine was continued. Worse than that, the Saivite Mahant had allowed Buddhist images to be defiled, and had smeared some with forehead caste-marks as though they were Hindu idols: this after the Buddhists began to bestir themselves to regain possession of the shrine and to cover an empty pretext that Buddha Gaya was a Hindu place of worship. As I went farther and farther in the case I became thoroughly disgusted with the view it presented of religious hypocrisy masking private greed.

Một cơ hội dường như tự mở ra vào lúc này để thâu mua tháp Mahâ-Bodhi và chừng 3.000 bîga đất kề cận bằng cách mua lại từ điền trang của Tiểu vương Tikari, những người được cho là chủ sở đắc gốc. Luật sư danh dự của Hội Mahâ-Bodhi tại Gaya, Ông Nund Kissore Lal, đã báo ý này cho tôi bằng điện tín và tôi lập tức liên lạc với Dharmapala. Theo lời Dharmapala, có một người Miến giàu có sẵn lòng tặng Rs. 1.00.000 nếu có thể mua được thánh tích. Vậy nên các cuộc thương lượng riêng được mở ra, và mọi việc đang tiến hành êm thắm thì Chính quyền [31] Bengal, hay nói cách khác, Ông Cotton—người có con trai nhận làm luật sư cho vị Mahant ương bướng của Bồ-đề Đạo tràng—hay tin. Điều kế tiếp chúng tôi biết là một mệnh lệnh dứt khoát được ban cho Viên Quản lý người Âu của điền trang Tikari Raj thuộc quyền Tòa Giám hộ (Court of Wards), rằng ông ta không được bán bất cứ giá nào mảnh bất động sản nói trên cho người Phật tử. Điều này đối với tôi là một sự can thiệp xấc xược và bất công vào một giao dịch thương mại hoàn toàn vô can, và tôi không thể không nghi ngờ động cơ thúc đẩy lệnh ấy. Tuy nhiên, cơ hội đó đã mất và sự bất công tày trời là ngăn cấm Phật tử trên toàn thế giới sở hữu thánh tích thiêng liêng và nổi tiếng nhất của mình vẫn tiếp diễn. Tệ hơn nữa, vị Mahant phái thờ Shiva đã để cho các tượng Phật bị xúc phạm, thậm chí bôi lên một số tượng những dấu hiệu giai cấp trên trán như thể đó là các thần tượng Ấn giáo: việc này xảy ra sau khi Phật tử bắt đầu chuyển mình để giành lại thánh tích, và nhằm nguỵ tạo một cớ rỗng tuếch rằng Bồ-đề Đạo tràng là nơi thờ phụng của Ấn giáo. Càng đi sâu vào vụ việc, tôi càng hết sức chán ghét bức tranh nó phơi ra về sự đạo đức giả khoác mặt nạ tham lam cá nhân.

Meanwhile both Dharmapala and his legal adviser wrote so encouragingly that I determined to go over to Burma and see what the chances were for securing the purchase money. On reaching Rangoon, on the 11th of April, it did not take long to convince me that nothing was to be hoped for in that matter: the whole body of middlemen—Burmese merchants—in the rice [32] trade were just then in the grip of a European syndicate, and were in a way to lose all their savings. So, after stopping with our dear friend Mr. Moung Hpo Myin twenty-four hours, I sailed for Calcutta in the S.S. “Canara”. After a three days’ run, I got there on the 15th and with Dharmapala went over the whole Mahâ-Bodhi question. Thence, by train the next evening to Bankipur, where our Gaya attorney met me at the house of Mr. Guruprasad Sen, the great lawyer, editor, and politician. Together we threshed out the case, agreed upon a course, and on the following day I returned to Calcutta. That same night I slept on board the P. & O. S.S. “Bengal,” which left for Madras early on the following morning. I reached home on the 25th after an absence of only sixteen days.

Trong khi đó, cả Dharmapala lẫn cố vấn pháp lí của ông đều viết thư hết sức khích lệ, đến nỗi tôi quyết định sang Miến Điện xem cơ may gây quĩ thâu mua ra sao. Đến Rangoon ngày 11 tháng Tư, chẳng mấy chốc tôi nhận ra chẳng thể trông mong gì: toàn bộ giới trung gian—các thương nhân Miến Điện—trong ngành buôn gạo [32] khi ấy đang bị một nhóm tài phiệt Âu châu siết chặt, và có chiều hướng mất sạch tiền dành dụm. Vậy nên, sau khi dừng chân đúng hai mươi bốn giờ với người bạn thân mến của chúng tôi là Ông Moung Hpo Myin, tôi xuống tàu “Canara” đi Calcutta. Sau ba ngày đường, tôi đến nơi vào ngày 15 và cùng với Dharmapala rà soát lại toàn bộ vấn đề Mahâ-Bodhi. Từ đó, tối hôm sau tôi đi tàu hoả đến Bankipur, nơi luật sư của chúng tôi ở Gaya đón tôi tại nhà Ông Guruprasad Sen, một vị luật gia, chủ bút và chính khách lớn. Chúng tôi cùng xem xét kĩ lưỡng vụ việc, thống nhất đường hướng, và hôm sau tôi trở lại Calcutta. Đêm ấy tôi ngủ trên tàu “Bengal” của hãng P. & O., con tàu rời bến Madras sớm hôm sau. Tôi về đến nhà ngày 25 sau khi vắng mặt chỉ mười sáu ngày.

When we first settled at Adyar some of our leading Indian members urged us to buy the next estate to us on the western side, so as to have residential conveniences for friends when they came to town. It was a large mansion, originally the residence of Lord Elphinstone when he was Governor of Madras, and around it a park of over an hundred acres. The price asked was very moderate and the money could then have been raised, for that was in the days when the worship of H. P. B. was active and there was always the off-chance of seeing phenomena. But the scheme did not recommend itself to my practical instinct and I refused. The property lay empty for some more years, but at last was bought by the Brotherhood of St. Patrick and made into an orphanage for boys, since which time the [33] work has been carried on usefully and philanthrophically. Some of the Celtic Fathers came to see us shortly after my return from tour, and as I was American and could talk the brogue and sing Irish songs, we became great friends. From time to time the priests and their advanced pupils come over to read in the Western Section of the Library and are always welcome: How marked the contrast with most of the Protestant missionaries in our neighborhood who seem to prefer to keep aloof and silently condemn us instead of showing any good will. The fact is, they are bitterly disappointed over the failure of the Scottish Mission to crush us by the help of the odoriferous Coulombs, and it is galling, no doubt, to see the Society growing stronger and stronger and more and more influential Poor things! “O, Colonel Olcott,” said a nice Protestant missionary lady to me once, after I had spent an evening with her and her husband, “why do they say such horrid things about you?” “Do they?” I answered. “Yes they do, and I think it a shame.” “What do they say?” I asked. “O, I dare not tell you, but they are horrid.” “Well,” said I, “do you believe them, now that you have seen me?” “Certainly not in the least.” “Then why worry yourself over childish slanders that do not convince even you, one of their own party? Let them go on; it amuses them, and I don’t mind in the least.”

Khi chúng tôi mới định cư ở Adyar, vài hội viên Ấn Độ chủ chốt đã khuyên chúng tôi nên mua luôn khu điền trang bên cạnh phía tây, để có nơi ăn ở cho bạn bè mỗi khi họ vào thành. Đó là một dinh thự lớn, nguyên là tư dinh của Lord Elphinstone khi Ông làm Thống đốc Madras, và quanh đó là một công viên trên một trăm mẫu. Giá chào rất phải chăng và lúc ấy có thể xoay xở được, vì đó là thời người ta còn sùng bái H. P. B. và lúc nào cũng có cơ may bất chợt được chứng kiến hiện tượng. Nhưng đề án ấy không hợp với bản năng thực tiễn của tôi nên tôi từ chối. Khu đất bỏ trống thêm vài năm nữa, sau cùng được Huynh đoàn Thánh Patrick mua lại và mở thành cô nhi viện cho các bé trai, từ đó [33] công việc được tiến hành hữu ích và mang tinh thần bác ái. Vài vị Linh phụ (người Celt) sang thăm chúng tôi ít lâu sau khi tôi đi công cán về, và vì tôi là người Mỹ, có thể nói giọng Ireland và hát các bài ca Ireland, nên chúng tôi trở thành bạn thân. Thỉnh thoảng các linh mục và học viên cao lớp của họ sang đọc sách ở Khu Tây phương của Thư viện và lúc nào cũng được hoan nghênh: Thật là một tương phản rõ rệt với đa số các giáo sĩ Tin Lành ở gần chúng tôi, những người dường như thích đứng cách biệt và âm thầm lên án chúng tôi thay vì tỏ chút thiện chí nào. Sự thật là họ thất vọng cay đắng vì vụ Hội Truyền giáo Scotland không đè bẹp được chúng tôi nhờ sự giúp sức của cặp vợ chồng Coulomb nặng mùi, và ắt là rất nhức nhối khi thấy Hội càng ngày càng mạnh và càng có ảnh hưởng. Tội nghiệp! “Ô, Đại tá Olcott,” một quý bà giáo sĩ Tin Lành dễ mến từng nói với tôi, sau một buổi tối tôi ở chơi với bà và chồng, “sao họ lại nói những điều khủng khiếp như thế về ông?” “Họ nói à?” tôi đáp. “Vâng, và tôi cho là đáng xấu hổ.” “Họ nói gì?” tôi hỏi. “Ô, tôi chẳng dám kể, nhưng thật kinh tởm.” “Thế,” tôi nói, “bà có tin không, sau khi đã gặp tôi rồi?” “Dĩ nhiên là chẳng tin chút nào.” “Vậy thì sao còn bận lòng về những lời vu cáo trẻ con chẳng thuyết phục nổi ngay cả bà, người cùng phe với họ? Hãy để họ tiếp tục; điều ấy làm họ vui, còn tôi thì chẳng bận tâm chút nào.”

Our second anniversary of White Lotus Day (May 8th) was celebrated at Adyar, Mr. Old and I delivering addresses and extracts being read as usual from the [34] Gita and The Light of Asia. Mr. Old then went up to my “Gulistan” cottage for a change, and I devoted the greater part of my time to an over-hauling of.old documents in search of material for my DIARY LEAVES.

Kỉ niệm ngày Hoa Sen Trắng lần thứ hai của chúng tôi (8 tháng Năm) được cử hành tại Adyar, Ông Old và tôi diễn thuyết và như thường lệ các trích đoạn được đọc từ [34] Gita và Ánh Sáng Á Châu. Sau đó Ông Old lên nghỉ ở căn lều “Gulistan” của tôi, và tôi dành phần lớn thời gian để soát lại các tài liệu cũ nhằm tìm chất liệu cho DIARY LEAVES của mình.

On the 15th of May I went to the Bank of Madras with Mr. V. Cooppooswamy Iyer, one of my co-trustees, and transferred the Government securities in my name to our joint account, thus relieving my mind of a great burden, for now in case of my death, the interests of the Society could not be compromised.

Ngày 15 tháng Năm, tôi đến Ngân hàng Madras cùng Ông V. Cooppooswamy Iyer, một trong các đồng uỷ thác, và chuyển các chứng khoán Chính phủ đứng tên tôi sang tài khoản chung, nhờ vậy tôi vơi đi một gánh nặng lớn trong lòng, vì giờ đây, nếu tôi có mệnh hệ nào, lợi ích của Hội cũng không thể bị tổn hại.

From New York I received by that week’s foreign mail a draft for £38 for author’s copyright on Isis Unveiled, the first payment that either H. P. B. or I had had since leaving New York, though several editions had been issued. The money came just in good time for me to help our colleagues at Madrid, Paris, Stockholm, Amsterdam, and in India to meet some of their heavy expenses for Theosophical publications. I may add that it was also the last payment, for since that time not another dollar has been sent me by our very honorable publisher! I mention this for the information of colleagues to whom I would have gladly given further aid.

Từ New York, tôi nhận bằng chuyến thư ngoại quốc tuần ấy một hối phiếu 38 bảng Anh tiền nhuận bút tác giả cho Isis Unveiled, khoản chi trả đầu tiên mà H. P. B. hoặc tôi nhận được kể từ khi rời New York, mặc dù đã in ra vài ấn bản. Số tiền đến thật đúng lúc để tôi giúp các đồng nghiệp ở Madrid, Paris, Stockholm, Amsterdam, và tại Ấn Độ trang trải một số chi phí nặng cho các ấn phẩm Thông Thiên Học. Tôi xin nói thêm rằng đó cũng là khoản chi trả cuối cùng, vì từ đó đến nay nhà xuất bản rất “đáng kính” của chúng tôi không gởi cho tôi thêm một đồng nào! Tôi nêu điều này để các đồng nghiệp hiểu, những người mà tôi rất sẵn lòng còn hỗ trợ nhiều hơn nữa.

In the course of my writing of] I had now come to the problem of the authorship of Isis Unveiled, and was greatly puzzled to arrive at the reasonable explanation. There were so many points to consider that I gave them much auxious thought. What my conclusions were may be read in Chapters XII, XIII, and XIV, of the first volume, and the case [35] is so thoroughly argued that I must refer the reader to the book itself. One thing is certain, so far as I am concerned, I got my Theosophical education while helping her to write it.

Trong quá trình viết của] tôi, tôi đã đến bài toán về tác quyền của Isis Unveiled, và rất bối rối khi phải đi đến một lời giải thích hợp lí. Có quá nhiều điểm cần xem xét nên tôi đã nghĩ ngợi rất ưu tư. Kết luận của tôi thế nào có thể đọc trong Chương XII, XIII và XIV của tập thứ nhất, và vụ việc [35] được biện luận thấu đáo đến mức tôi phải xin dẫn người đọc về chính quyển sách. Có một điều chắc chắn, ít nhất đối với phần tôi, là tôi đã được học Thông Thiên Học khi giúp Bà viết quyển sách ấy.

As the World’s Parliament of Religions was to meet at Chicago in the following September, and as it had been arranged that our Society should participate in it, I deputed the Vice-President, Mr. Judge, to represent me officially, and appointed Mrs. Besant special delegate to speak there on behalf of the whole Society. How great a success it was for us and how powerfully it stimulated public interest in our views will be recollected by all our older members. Theosophy was presented most thoroughly both before the whole Parliament, an audience of 3,000 people, and at meetings of our own for the holding of which special halls were kindly given us. A profound impression was created by the discourses of Professor G. N. Chakravarti and Mrs. Besant, who is said to have risen to unusual heights of eloquence, so exhilarating were the influences of the gathering. Besides these who represented our Society especially, Messrs. Vivekananda, V. R. Gandhi, Dharmapala, representatives of the Hindu Vedanta, Jainism, and Buddhism respectively, captivated the public, who had only heard of the Indian people through the malicious reports of interested missionaries, and were now astounded to see before them and hear men who represented the ideal of spirituality and human perfectibility as taught in their respective sacred writings. Said one Chicago editor: “We have been [36] for years spending millions of dollars in sending missionaries to convert these men, and have had very little success; they have sent over a few men, and have converted everybody.” From a report which Mrs. Besant made to a London paper I cite the following concluding paragraph:

Vì Nghị viện Tôn giáo Thế giới sẽ nhóm họp tại Chicago vào tháng Chín kế đó, và vì đã sắp đặt cho Hội chúng ta tham dự, tôi uỷ nhiệm Phó Chủ tịch, Ông Judge, làm đại diện chính thức của tôi, và cắt cử Bà Besant làm đặc phái viên phát biểu ở đó thay mặt toàn Hội. Cuộc vận động đó đã thành công lớn cho chúng ta và đã kích thích mạnh mẽ sự quan tâm của công chúng đối với các quan điểm của chúng ta như thế nào, hẳn tất cả các hội viên kì cựu đều còn nhớ. Thông Thiên Học được trình bày một cách rất đầy đủ cả trước toàn thể Nghị viện, một thính chúng 3.000 người, lẫn tại các cuộc họp riêng của chúng ta mà Ban tổ chức đã tử tế dành riêng hội trường. Một ấn tượng sâu xa được tạo ra bởi các bài diễn thuyết của Giáo sư G. N. Chakravarti và Bà Besant, người được nói là đã đạt đến những đỉnh cao hùng biện lạ thường, vì không khí hội tụ phấn khởi vô cùng. Ngoài những vị đại diện đặc biệt cho Hội chúng ta, các ông Vivekananda, V. R. Gandhi, Dharmapala, đại diện lần lượt cho Ấn giáo Vedanta, Kì-na giáo, và Phật giáo, đã chinh phục công chúng, những người trước đây chỉ nghe nói về người Ấn qua những bản tin ác ý của các giáo sĩ hữu lợi, và nay sửng sốt khi thấy trước mặt và lắng nghe những con người đại diện cho lí tưởng về tính tinh thần và khả tính hoàn thiện của con người như được dạy trong các thánh thư tương ứng của họ. Một chủ bút Chicago nói: “Bấy [36] lâu nay chúng ta đã tiêu tốn hàng triệu đô-la để phái giáo sĩ đi cải đạo những người này, mà thành công rất ít; họ chỉ cử qua vài người, và đã cải đạo tất cả mọi người.” Từ một bản tường trình của Bà Besant gởi một tờ báo London, tôi trích đoạn kết như sau:

“The Theosophical Congress, as said one of the leading Chicago papers, was a rival of the Parliament itself in the interest it excited. The plan of the Department of Religion was a good one. Each body strong enough to hold one, had a congress of its own on one or more days, fixed by the committee; in addition to this, chosen speakers occupied one session in presenting the views of their body to the Parliament. The Theosophical Society was given two days for its congress, the evening of the second day being devoted to the presentation of Theosophy before the Parliament. The hall originally granted to it seated about 300 people, but it was so densely packed before the first meeting opened, that the managers gave us another hall seating about 1,200. This was promptly filled, and at each succeeding session the crowds grew, filling passages and packing every inch of room, until at our fifth session two adjoining halls were offered us, and we held two overflow meetings in addition to our regular session. The sixth session was the presentation of Theosophy to the Parliament, and some 3,000 people gathered in a huge hall. So intense was the interest shown that the management most generously offered us the use of the great hall for an additional meeting [37] on the following night, and it was packed with eager listeners. In addition to the Indian and Sinhalese delegates above named, the Theosophical Society sent from its European Section Annie Besant, Miss F. H. Müller, and Mrs. Cooper-Oakley; the American Section was represented by its General Secretary, Wm. Q. Judge, Dr. Jerome Anderson of San Francisco, Mr. George E. Wright and Mrs. Thirds, of Chicago, and Claude F. Wright of New York; the Australasian Branches delegated Mrs. Cooper-Oakley, who had been working among them for ten months, and who came direct from Australia to Chicago. Between the interest excited by the speakers and the far deeper interest excited by the subjects dealt with, the meetings were rendered thus successful.”

“Đại hội Thông Thiên Học, như một trong các tờ báo hàng đầu ở Chicago nói, là một đối thủ xứng đáng của chính Nghị viện về mức độ quan tâm mà nó khơi dậy. Sơ đồ của Ban Tôn giáo rất hay. Mỗi đoàn thể đủ mạnh để tổ chức thì có một đại hội riêng trong một hay nhiều ngày do uỷ ban ấn định; ngoài ra, các diễn giả được chọn sẽ dành một phiên để trình bày quan điểm của đoàn thể mình trước Nghị viện. Hội Thông Thiên Học được dành hai ngày cho đại hội của mình, tối ngày thứ hai dành để trình bày Thông Thiên Học trước Nghị viện. Hội trường ban đầu dành cho chúng tôi chứa chừng 300 người, nhưng nó chật ních trước cả khi phiên đầu mở ra, đến nỗi ban quản trị đã cho chúng tôi một hội trường khác chứa độ 1.200. Hội trường này lập tức đầy kín, và ở mỗi phiên kế tiếp đám đông tăng lên, lấp kín cả lối đi và nhồi nhét từng tấc đất, đến nỗi ở phiên thứ năm, hai hội trường kề nhau được dành thêm cho chúng tôi, và chúng tôi tổ chức hai cuộc họp tràn bên cạnh phiên chính thức. Phiên thứ sáu là phần trình bày Thông Thiên Học trước Nghị viện, và chừng 3.000 người đã đến trong một đại sảnh. Mức độ quan tâm quá mãnh liệt đến nỗi ban quản trị rất rộng rãi đề nghị cho chúng tôi dùng đại sảnh để họp thêm [37] vào đêm hôm sau, và đại sảnh lại chật kín những người nghe háo hức. Ngoài các đại diện Ấn Độ và Tích Lan đã kể, Hội Thông Thiên Học từ Khu vực Châu Âu cử Annie Besant, Cô F. H. Müller, và Bà Cooper-Oakley; Khu vực Hoa Kì do Tổng Thư kí Wm. Q. Judge, Bác sĩ Jerome Anderson ở San Francisco, Ông George E. Wright và Bà Thirds ở Chicago, và Claude F. Wright ở New York đại diện; Các Chi hội Úc Châu cử Bà Cooper-Oakley, người đã làm việc với họ trong mười tháng, và đi thẳng từ Úc đến Chicago. Nhờ sự quan tâm do các diễn giả khơi dậy và mối quan tâm sâu hơn nữa do các chủ đề được đề cập đến, các buổi họp đã đạt được thành công như thế.”

CHAPTER IV—CHAPTER IV

MAX MÜLLER ON ESOTERICISM—MAX MÜLLER VỀ TÍNH BÍ TRUYỀN —(1893)

IN the compilation of my DIARY LEAVES I have now come to the point where I must discuss the date of the first teaching by H. P. B. of the theory of reincarnation. In the first volume of my O. D. L. I enter fully into the subject (vide Chapter XVII), citing passage after passage from her writings and mine to show that we—I, at any rate—were not then in possession of this most important key to the whole system of Eastern philosophy. Of course, it is no concern of mine why we were not taught it, and when I say “we” I mean myself and the personality whose physical body was functioning as the chief amanuensis of the Great Teachers. I do not believe that the mystery of the incongruity of the New York teachings of 1875 and the later Indian ones can be explained, at least to the satisfaction of those who attack the problem from the standing point of literary criticism: to those who have the power to lift the veil and study the question from the inside, this difficulty vanishes. But students limited to the physical plane, cannot be expected to [39] receive as final the explanations of advanced pupils of the White Lodge. The conclusion to which I long ago came was that it must just be left as a mystery.

Trong việc biên soạn DIARY LEAVES của tôi, nay tôi đã đến điểm phải bàn về thời điểm lần đầu tiên H. P. B. dạy thuyết tái sinh. Trong tập thứ nhất của O. D. L., tôi đã bàn kĩ về đề tài này (xem Chương XVII), trích dẫn hết đoạn này đến đoạn khác từ trước tác của Bà và của tôi để chỉ ra rằng chúng tôi—ít nhất là tôi—khi ấy chưa có trong tay chìa khoá hệ trọng bậc nhất của toàn bộ hệ thống triết lí Đông phương này. Dĩ nhiên, vì sao chúng tôi không được dạy điều ấy thì không thuộc mối bận tâm của tôi, và khi tôi nói “chúng tôi” là tôi muốn nói về bản thân tôi và phàm ngã mà thể xác đang hoạt động như người chép chính của các Vị Đại Đạo sư. Tôi không tin bí ẩn về sự bất tương ưng giữa giáo lí New York năm 1875 và giáo lí Ấn Độ về sau có thể được giải thích—ít ra là để thoả mãn những ai công kích vấn đề từ lập trường phê bình văn bản; đối với những người có năng lực vén màn và khảo cứu vấn đề từ bên trong, thì khó khăn này biến mất. Nhưng các môn sinh bị giới hạn trong cõi hồng trần không thể [39] được trông đợi là sẽ coi lời giải thích của các môn sinh cao cấp của Thánh đoàn là lời cuối cùng. Kết luận mà tôi đi đến đã lâu là phải để nó như một điều bí ẩn.

On the 7th of June documentary proof came to me that a certain “Dr. A. Martinez” who headed the newly formed group at Buenos Aires, and procured from me a charter under false representations, was the expelled “Dr. Alberto de Das” of Spain. His South American pseudonym was in reality the surname of a respected lady medium and clairvoyant whom he had got under his hypnotic influence. In our March number [Fourth Series] I give some interesting details about this picturesque confidence-man, whose latest public appearance has been at Washington, D.C., under the name of “Dr. Sarak”; and by the last American mail I have received the information that he had actually persuaded a credulous group—including two or three of our own members—to pay him $500 for a charter from the “Esoteric Lodge of the Grand Masters of Thibet”! To what absurd lengths will not human credulity go. My correspondent writes that the exposé in the March Theosophist had “blocked Count Sarak’s little game. The little company had already been initiated…in a back room where Sarak had set up an altar, and ranged around the pictures of his masters (a villainous set of faces) before which he performed in a white robe.”

Ngày 7 tháng Sáu, bằng chứng tài liệu đến tay tôi cho thấy một “Bác sĩ A. Martinez” nào đó, người đứng đầu nhóm mới thành lập tại Buenos Aires và đã thâu được từ tôi một bản hiến chương bằng mạo xưng, chính là “Bác sĩ Alberto de Das” bị khai trừ ở Tây Ban Nha. Bí danh Nam Mĩ của y thực ra là họ của một nữ đồng tử và người thông nhãn đáng kính mà y đã đặt dưới ảnh hưởng thôi miên. Trong số tháng Ba của chúng tôi [Fourth Series] tôi có nêu vài chi tiết lí thú về tay bịp bợm màu mè này, kẻ gần đây xuất hiện công khai tại Washington, D.C., dưới tên “Bác sĩ Sarak”; và bằng bưu chính Mĩ mới nhất tôi nhận được tin rằng y đã thực sự thuyết phục một nhóm cả tin—trong đó có hai hay ba hội viên của chính chúng ta—trả cho y 500 đô-la để lấy một bản hiến chương từ “Tịnh xá Bí Truyền của các Đại Tôn sư xứ Tây Tạng”! Lòng cả tin của con người có thể đi tới những cực đoan lố bịch nào nữa. Người thông tín của tôi viết rằng bài lật tẩy trong số tháng Ba của Theosophist đã “chặn đứng trò vặt của Bá tước Sarak. Nhóm nhỏ ấy đã được điểm đạo…trong một căn phòng sau nơi Sarak lập một bàn thờ, và treo quanh là ảnh các ‘sư phụ’ của y (một lũ mặt mũi gian ác), trước các ảnh đó y làm lễ trong áo choàng trắng.”

The next step taken by this person was an astral attack on a certain lady who had taken part in exposing him. Our correspondent says: “She had a severe [40] blow or shock in the region of the solar plexus, and she would not go to bed alone at night, so a companion who was quite psychic stayed all night with her, and this lady plainly saw Sarak’s astral attempting to do some devilment. For a day and night Miss—fought off his influence.” Of course these statements must be taken for what they may be worth, but it is certainly true that this is the third or fourth case reported to me by the victims, where ladies have been persecuted and terrorised on the astral plane by men who had the power to function there and whose assaults were prompted by a spirit of revenge or lust. Some strange confidences are made to me in my travels and I feel it my duty to warn the reader that such things are possible, and that their safety can only be assured by their summoning to their aid all the will-power of which they are capable, on the lines laid down by Mr. Leadbeater, Mrs. Besant, and all other experts in these subjects. If my readers care to see what horrible risks are run by those who rashly cross the threshold between the physical and the astral planes, let them read the literature ready to hand, including the works of Des Mousseaux, Sinistrari, Eliphas Levi, Francis Barrett, H. P. B., and our own more recent writers. During my long foreign tours of 1900 and 1901 three cases of such combats on the astral plane came to my notice, and quite recently one of my dearest and most valued lady colleagues has reported to me her own similar experiences.

Bước kế tiếp của kẻ này là tấn công trên cõi cảm dục nhắm vào một phu nhân đã tham gia việc lật tẩy y. Người thông tín của chúng tôi viết: “Bà ấy bị một [40] cú va đập hay chấn động nặng vùng tùng thái dương, và bà không dám đi ngủ một mình vào ban đêm, nên một người bạn nữ có khả năng thông linh ở lại với bà suốt đêm, và vị này đã nhìn thấy rõ ràng thể cảm dục của Sarak toan làm điều ma quái. Suốt một ngày một đêm Cô — đã chống đỡ ảnh hưởng của y.” Dĩ nhiên, những lời này phải được xét theo giá trị của chúng, nhưng sự thật là đây là vụ thứ ba hay thứ tư nạn nhân tự báo cho tôi biết, nơi các phu nhân bị bức hại và khủng bố trên cõi cảm dục bởi những kẻ có khả năng hoạt động ở đó và có những cuộc công kích do thù hằn hoặc dâm dục xúi giục. Nhiều điều tâm sự lạ lùng được thổ lộ với tôi trong các chuyến đi, và tôi thấy bổn phận phải cảnh báo độc giả rằng những điều như vậy là có thể, và rằng sự an toàn của họ chỉ có thể được bảo đảm bằng cách triệu tập tất cả ý chí mình có thể có, theo những đường lối mà Ông Leadbeater, Bà Besant, và mọi nhà am tường khác về các đề tài này đã vạch ra. Nếu độc giả muốn thấy những rủi ro khủng khiếp mà người ta gánh lấy khi liều lĩnh vượt ngưỡng giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục, hãy đọc văn liệu sẵn có, gồm tác phẩm của Des Mousseaux, Sinistrari, Eliphas Levi, Francis Barrett, H. P. B., và các cây bút gần đây của chính chúng ta. Trong những chuyến đi nước ngoài dài ngày của tôi vào năm 1900 và 1901, có ba trường hợp những cuộc giao chiến như vậy trên cõi cảm dục đến tai tôi, và mới đây một nữ đồng nghiệp thân thiết và đáng quý nhất của tôi cũng báo cho tôi hay kinh nghiệm tương tự của chính bà.

It appears from my Diary for 1893, that my time was fully taken up during the greater part of the [41] month of June, in hunting up materials for this historical retrospect. On the 21st of that month however I had word from Dharmapala to the effect that “two Burmese millionaires” would “advance the Rs. 1,00,000 to buy Buddha Gaya”; but my recent inquiries at Rangoon inclined me to receive the assertion with several grains of salt. My caution was warranted for a month later, I received from Moulmein, one of these two rich Buddhists an offer of the Rs. 1,00,000, if I “would buy the property for him,” that is, in his name and not that of the Mahâ-Bodhi Society.

Theo Nhật kí năm 1893 của tôi, phần lớn thời gian của tôi [41] trong tháng Sáu được dành trọn để săn lùng tư liệu cho bản lược thuật lịch sử này. Tuy nhiên, ngày 21 tháng ấy, tôi nhận được tin từ Dharmapala cho biết “hai nhà triệu phú người Miến” sẽ “ứng trước Rs. 1,00,000 để mua Bồ-đề Đạo tràng”; nhưng những dò hỏi gần đây của tôi ở Rangoon khiến tôi đón nhận khẳng quyết ấy với đôi phần dè dặt. Sự thận trọng của tôi có cơ sở, vì một tháng sau, tôi nhận từ Moulmein thư của một trong hai Phật tử phú gia kia đề nghị cấp Rs. 1,00,000 nếu tôi “mua bất động sản ấy giùm ông ta,” tức là mua đứng tên ông ta chứ không phải tên Hội Mahâ-Bodhi.

The famous letter of the late Professor Max Müller denying the existence of any esoteric meaning in either the Buddhistic or Brahmanic Scriptures was received by me at Adyar on the 4th of July of the year under review. I have referred to it more than once in my writings but, now that the eminent Orientalist is dead and gone and can write no more on the subject, I think I had better quote from his letter (written at Constantinople, June 10th, 1893) his unmistakable condemnation of the views of all believers in an esoteric interpretation. Professor Müller says:

Bức thư nổi tiếng của Cố Giáo sư Max Müller phủ nhận sự hiện hữu của bất cứ ý nghĩa bí truyền nào trong Kinh điển Phật giáo hay Phệ-đà giáo được tôi nhận tại Adyar ngày 4 tháng Bảy của năm đang nói đến. Tôi đã nhắc đến nó hơn một lần trong trước tác của mình, nhưng nay vì nhà Đông phương học lừng danh đã qua đời và không thể viết gì thêm về đề tài này, tôi nghĩ tốt hơn trích bức thư của ông (viết tại Constantinople, ngày 10 tháng Sáu, 1893) để nêu rõ ràng sự phủ bác không thể lầm lẫn của ông đối với quan điểm của mọi tín nhân vào sự giải thích bí truyền. Giáo sư Müller viết:

“Now with regard to your letter,—I can quite understand your feelings for Madame Blavatsky, particularly after her death, and I have tried to say, as little as possible of what might pain her friends. But I felt it my duty to protest against what seemed to me a lowering of a beautiful religion. Her name and prestige were doing, I thought, real mischief among people who were honestly striving for higher [42] religious views, and who were quite willing to recognise all that was true and beautiful and good in other religions. Madame Blavatsky seems to me to have had the same temperament, but she was either deceived by others or carried away by her own imaginations.

“Còn về thư của ông,—Tôi hoàn toàn hiểu cảm tình của ông dành cho Madame Blavatsky, nhất là sau khi bà mất, và tôi đã cố nói càng ít càng tốt những điều có thể làm đau lòng bạn bè của bà. Nhưng tôi thấy bổn phận phải phản kháng điều theo tôi là làm hạ thấp một tôn giáo đẹp đẽ. Tên tuổi và uy tín của bà, tôi nghĩ, đang gây tác hại thực sự giữa những người đang thành tâm vươn tới những quan điểm [42] tôn giáo cao hơn, và sẵn lòng nhìn nhận tất cả những gì chân thật, cao đẹp và thiện hảo trong các tôn giáo khác. Madame Blavatsky theo tôi dường như có cùng một khí chất, nhưng bà hoặc bị người khác dối gạt, hoặc bị những tưởng tượng của chính bà cuốn đi.

“There is nothing esoteric in Buddhism—Buddhism is the very opposite of esoteric—it is a religion for the people at large, for the poor, the suffering, the ill-treated. Buddha protests against the very idea of keeping anything secret. There was much more of that esoteric teaching in Brahmanism. There was the system of caste, which deprived the Œhudras, at least, of many religious privileges. But I do say that even in Brahmanism there is no such thing as an esoteric interpretation of the Shâstras. The Shâstras had but one meaning, and all who had been properly prepared by education, had access to them. There are some artificial poems which are so written as to admit of two interpretations. They are very wonderful, but they have nothing to do with philosophical doctrines. Again there are, as among the Sufis, erotic poems in Sanskrit which are explained as celebrating the love and union between the soul and God. But all this is perfectly well known. There is no mystery about it. Again, it is true that the Vedânta Sutras, for instance, admit of an Advaita and a Visishtadvaita interpretation, and the same applies to the Upanishads. But all this is open and nothing is kept secret from those who have passed through the proper education. Besides, in our time all MSS. are accessible, and the most important [43] Shâstras [1] and their commentaries have been printed; Where is there room for Esoteric doctrine? No living Pandit or Mahatma knows more than what is contained in MSS. though I am quite aware that their oral instruction, which they freely extend even to Europeans, is very helpful towards a right understanding of the Sanskrit texts and commentaries... You can really do a good work if you can persuade the people in India, whether Buddhists or Brahmans, to study their own religion in a reverent spirit, to keep what is good and to discard openly what is effete, antiquated, and objectionable. If all religions would do that, we should soon have but one religion, and we should no longer call each other unbelievers and Giaurs and commit atrocities like those in Bulgaria in which the Christians were quite as bad as the Mahomedans. Nothing can be more useful than the publication of the old texts—critically edited and trustworthy translations. My ‘Sacred Books of the East’ have opened people’s eyes in many places. I found that at Constantinople. I am sorry to say I cannot continue the series. We [44] have lost £3,000, and neither the University of Oxford nor the India Office will vote more money, still, someone will come hereafter and continue the work.”

“Phật giáo không có gì là bí truyền—Phật giáo đối nghịch hẳn với bí truyền—đó là một tôn giáo cho quảng đại quần chúng, cho người nghèo, kẻ khổ đau, và người bị đối xử tệ. Đức Phật phản đối ngay từ ý tưởng giữ kín bất cứ điều gì. Ở Phệ-đà giáo thì có nhiều hơn về loại giáo huấn bí truyền ấy. Có chế độ giai cấp, khiến ít nhất là tầng lớp Sudra bị tước đoạt nhiều đặc quyền tôn giáo. Nhưng tôi quả quyết rằng ngay trong Phệ-đà giáo cũng không có cái gọi là sự giải thích bí truyền về các Shastra. Các Shastra chỉ có một nghĩa, và tất cả những ai đã được chuẩn bị đúng đắn nhờ giáo dục đều tiếp cận được. Có vài bài thơ công phu được viết sao cho chịu hai lối giải thích. Chúng rất kì diệu, nhưng chẳng dính dáng gì đến các học thuyết triết học. Lại nữa, như trong giới Sufi, có những bài thơ tình bằng Phạn ngữ được giải thích như ca tụng tình yêu và sự hợp nhất giữa linh hồn và Thượng đế. Nhưng tất cả điều này đều đã quá quen biết. Không có chút huyền bí nào ở đây. Lại nữa, đúng là các Kinh điển Vedânta, chẳng hạn, chịu cả lối giải thích Bất nhị (Advaita) lẫn Hữu chủng bất nhị (Visishtadvaita), và điều tương tự áp dụng cho các Áo nghĩa thư (Upanishad). Nhưng tất cả điều này đều công khai và chẳng có gì bị giấu kín với ai đã đi qua nền giáo dục thích đáng. Hơn nữa, trong thời đại chúng ta, mọi bản thảo đều có thể tiếp cận, và các [43] Shastra quan trọng nhất cùng các bản chú giải của chúng đã được in ấn; Còn chỗ nào cho Giáo lí Bí truyền? Không một Pandit hay Mahatma nào còn sống biết nhiều hơn những gì nằm trong các bản thảo, dù tôi hoàn toàn ý thức rằng sự giảng dẫn khẩu truyền của họ, mà họ rộng rãi chia sẻ ngay cả cho người Âu, rất hữu ích cho sự hiểu đúng các văn bản và chú giải Phạn ngữ... Ông thật sự có thể làm một việc tốt nếu ông thuyết phục được người dân Ấn Độ, dù Phật tử hay Bà-la-môn, học tôn giáo của chính họ bằng tâm cung kính, giữ lại cái hay, và công khai loại bỏ cái đã mục nát, lỗi thời, và đáng chê trách. Nếu tất cả các tôn giáo đều làm như vậy, chúng ta sẽ sớm chỉ còn một tôn giáo, và sẽ không còn gọi nhau là kẻ vô tín và kẻ ngoại đạo để rồi gây ra những cảnh tàn bạo như ở Bulgaria, nơi người Ki-tô chẳng kém gì người Hồi. Không gì hữu ích hơn là việc công bố các văn bản cổ—được hiệu khảo cẩn thận và dịch thuật đáng tin cậy. Bộ ‘Sacred Books of the East’ của tôi đã mở mắt cho nhiều nơi. Tôi nhận thấy điều ấy ở Constantinople. Tôi tiếc là không thể tiếp tục bộ sách. Chúng tôi [44] đã lỗ 3.000 bảng, và cả Đại học Oxford lẫn Nha Ấn Độ đều không duyệt thêm kinh phí, tuy vậy, rồi ai đó sẽ đến sau và tiếp tục công việc.”

I think the best thing to be done is to leave Professor Müller’s views on Esotericism to be dealt with by the “living Pandits” themselves. We can only regret that the illustrious Western scholar should never have been able to visit India and to discuss this important question with able Indian Pandits who know that man’s consciousness is able to grasp the ultimate truth by functioning on a plane higher than that of which the dictionary, grammar, and encyclopaedia are milestones by which a man’s progress towards the attainment of knowledge is marked.

Theo tôi, tốt nhất là để các vị Pandit đương thời tự đối đáp với quan điểm của Giáo sư Müller về Tính bí truyền. Chúng ta chỉ có thể lấy làm tiếc là nhà học giả Tây phương trứ danh ấy đã không bao giờ có dịp sang Ấn Độ để bàn bạc vấn đề trọng yếu này với các Pandit Ấn có khả năng biết rằng tâm thức con người có thể nắm bắt chân lí tối hậu khi hoạt động trên một cõi cao hơn, cõi mà ở đó từ điển, ngữ pháp và bách khoa chỉ là những mốc dặm đánh dấu bước tiến của một người trên con đường đạt đến tri thức.

Mr. Judge and his party were guilty of a bitter injustice towards Mrs. Besant, and in his case, was added the sin of a base ingratitude. No one who had ever heard her defending absent friends who have been maligned, can have the slightest doubt that, with her, loyalty to those she loves or respects is an over mastering impulse. I have heard her publicly defending H. P. B. when she rose to great heights of eloquence. Being herself trustful and scrupulously honest, she did not believe it possible that Mr. Judge was not the mouthpiece of the Masters that he claimed to be, but, on the contrary, was deceiving her and others with cold cynicism. I recall these incidents when reading my Diary entry of July 25th (1893) where I note the receipt by that day’s foreign mail of angry letters from her to Messrs. Edge and Old, formerly members of the London [45] staff, but then transferred to that of Adyar. These young men had taken exception to some puerile views and misstatements of fact recently made by Mr. Judge, and their letters to friends in London had caused a great sensation and aroused in the minds of the Judge party the bitterest resentment. Mrs. Besant was then at Home, and under the influence of the pervading sentiment among her friends—who, at the same time were Judge’s—she read the letters in question; to myself she wrote in plaintive terms about their alleged defection and said that America would cut off my money-supplies if I kept the young men here. It was a sorry business that such a noble soul as she should have wasted sympathy over so ignoble a person. Messrs. Old and Edge do not seem to have been much influenced by her letters, for in the Theosophist for July of that year will be found their answer to and criticism upon Mr. Judge and his utterances, in an article entitled “Theosophic Freethought,” which will repay the trouble of perusal.

Ông Judge và phe nhóm của ông đã phạm một điều bất công cay nghiệt đối với Bà Besant, và riêng trường hợp của ông còn kèm theo tội bạc bẽo vô ơn. Ai đã từng nghe Bà bênh vực những người bạn vắng mặt bị vu báng sẽ không chút nghi ngờ rằng nơi Bà, lòng trung thành với những ai Bà yêu kính là một xung lực chế ngự. Tôi từng nghe Bà công khai bênh vực H. P. B. khi Bà cất lời hùng biện đến những đỉnh cao. Bản thân Bà vốn tin người và vô cùng liêm chính, Bà không tin nổi khả năng Ông Judge không phải là phát ngôn của các Chân sư như ông ta tự xưng, mà trái lại là đang lừa dối Bà và người khác với một vẻ lạnh lùng khinh bạc. Tôi nhớ lại các tình tiết ấy khi đọc mục Nhật kí đề ngày 25 tháng Bảy (1893), nơi tôi ghi nhận đã nhận qua chuyến thư ngoại quốc hôm đó những lá thư giận dữ của Bà gởi cho các Ông Edge và Old, những người trước thuộc ban [45] thư kí London, nay chuyển sang Adyar. Hai thanh niên này đã bác bỏ vài quan điểm ấu trĩ và những sai lệch sự thật gần đây của Ông Judge, và thư của họ gởi bạn bè ở London đã gây chấn động lớn và khơi dậy sự oán hận cay độc nhất trong phe Judge. Bà Besant khi ấy ở nhà, và dưới ảnh hưởng của bầu tâm lí bao trùm trong bạn bè Bà—đồng thời cũng là bạn của Judge—Bà đã đọc những lá thư nọ; riêng tôi, Bà viết với giọng ai oán về sự bị cho là phản bội của họ và nói rằng nước Mĩ sẽ cắt đứt nguồn tài chính của tôi nếu tôi giữ hai thanh niên này lại đây. Thật là chuyện đau lòng khi một tâm hồn cao quý như Bà lại lãng phí cảm thông cho một con người hèn mọn đến vậy. Các Ông Old và Edge dường như không mấy bị ảnh hưởng bởi thư của Bà, vì trong Theosophist số tháng Bảy năm đó sẽ thấy đăng bài trả lời và phê bình Ông Judge và các phát ngôn của ông, nhan đề “Tư tưởng Tự do Thông Thiên Học,” đáng công nhọc lòng đọc.

My Diary now brings us to one of the most painful episodes in our Society’s history, the defalcations and suicide of the then Treasurer and Recording Secretary, Mr. S. E. Gopalacharlu. It is not a pleasant thing to dwell on, and yet, being historical, I cannot gloss it over. He was a contributor to the Theosophist and to a few foreign periodicals, a member of the E.S.T., and while being quite an exemplary character, in the estimation of the public, he also enjoyed the confidence and esteem of his Theosophic colleagues. As Treasurer of the Society he had in his charge the money belonging [46] to several funds, the contents of which were kept in the Government Postal Savings Bank, and the pass-books were in his official name. Among these funds was one called the H. P. B. Memorial, containing nearly 4,000 rupees. At a certain time it was decided that this money should be transferred to the Indian Section account, and he was notified accordingly. Instead of handing over the money, however, he committed suicide and a subsequent examination of his books showed that he had been systematically defrauding the Society. To myself, as President; he had rendered false accounts and shown the pass-books of the Savings Bank in which the entries were falsified. In this way he had also deceived the official auditors who made the usual financial report to the Convention of 1892. His colleagues had been also deceived about his private life which we found had been the opposite of blameless. Besides robbing us he had obtained his wife’s valuable jewels by false representations, had pawned them, and spent the proceeds in dissipation. He had also embezzled and spent the hard-earned savings of a relative; In a written statement discovered after his death, he declared his intention to kill himself with a dose of poison obtained at a designated shop, and wished us all to understand that he had deliberately cheated and robbed us, to procure the means of enjoying life as much as possible while the chance lasted. A more cynical, heartless and selfish dying message could not be imagined. His defalcations amounted to nearly Rs. 9,000, a very small sum in dollars and pounds but a large one to [47] poor people like ourselves. On hearing the news Mrs. Besant, then in London, showed her characteristic unselfishness. She had just received a small legacy of £ 50, and this sum she cabled me. Miss Etta Müller, Mr. Keightley, and other generous friends started a subscription and ultimately the losses were all made good. Some of that class of people who are always wise after the fact, and always saying what ought to have been done, ventured the opinion that if we had only suspected Gopalacharlu’s honesty we might have adopted precautions to prevent his stealing our money. But that is the very point, we did not suspect him; quite the contrary, for, as above stated, there was nothing in his life or conversation to make us withhold our full confidence. How often the thing happens that a man who has been a shining light of probity, perhaps a friend or relative of our own, suddenly gives way to a stress of temptation at a critical moment and enters the downward path. In my annual address at that year’s Convention I said:

Nhật kí của tôi giờ dẫn ta đến một trong những tình tiết đau đớn nhất trong lịch sử Hội chúng ta, đó là vụ biển thủ và tự vẫn của vị Thủ quĩ kiêm Thư kí ghi biên bản đương nhiệm, Ông S. E. Gopalacharlu. Đây không phải chuyện dễ chịu để nhắc lại, nhưng vì mang tính sử liệu nên tôi không thể làm ngơ. Ông là một cây bút của Theosophist và vài tạp chí ngoại quốc, là hội viên E.S.T., và với tư cách là một nhân vật hết sức mô phạm trong quan điểm công chúng, ông cũng chiếm được niềm tin và lòng quí trọng của các đồng nghiệp Thông Thiên Học. Là Thủ quĩ của Hội, ông trông coi tiền bạc của [46] vài quĩ, được gửi trong Ngân hàng Bưu điện Tiết kiệm của Chính phủ, và các sổ tiết kiệm đứng tên chức vụ của ông. Trong số đó có một quĩ gọi là Tưởng niệm H. P. B., có gần 4.000 ru-pi. Đến một thời điểm, quyết định được đưa ra chuyển tiền này sang tài khoản Khu vực Ấn Độ, và ông được thông báo theo đó. Thay vì giao tiền, ông tự tử, và cuộc khám xét sổ sách sau đó cho thấy ông đã có hệ thống lừa đảo Hội. Với riêng tôi, trong tư cách Chủ tịch, ông đã nộp các bản quyết toán giả và trình các sổ tiết kiệm trong đó các bút toán bị sửa trá. Bằng cách này, ông cũng đã đánh lừa các kiểm toán viên chính thức vốn làm báo cáo tài chính thường lệ cho Đại hội năm 1892. Các đồng liêu cũng bị lừa về đời tư của ông mà chúng tôi nhận ra là trái ngược hẳn với điều không tì vết. Ngoài việc ăn cắp của chúng tôi, ông còn lừa vợ để lấy đồ nữ trang giá trị, đem cầm, và nướng số tiền ấy vào ăn chơi trác táng. Ông cũng đã biển thủ và tiêu xài số tiền dành dụm khó nhọc của một thân nhân. Trong một bản tường trình viết tay phát hiện sau khi ông chết, ông tuyên bố ý định tự sát bằng một liều thuốc độc mua ở một cửa hiệu được ghi rõ, và muốn chúng tôi hiểu rằng ông đã cố ý gian lận và cướp đoạt của chúng tôi để có phương tiện hưởng lạc nhiều nhất có thể khi còn dịp. Không thể hình dung một lời trăn trối nào cợt nhả, vô tâm và ích kỉ hơn. Số biển thủ của ông gần 9.000 ru-pi, một khoản rất nhỏ nếu tính bằng đô-la hay bảng, nhưng là khoản lớn đối với [47] những người nghèo như chúng tôi. Hay tin, Bà Besant khi ấy ở London, đã biểu lộ đức vô kỉ đặc sắc của Bà. Vừa nhận được một khoản thừa kế nhỏ 50 bảng, Bà liền điện chuyển cho tôi. Cô Etta Müller, Ông Keightley, và những bạn bè hào hiệp khác mở cuộc lạc quyên, và rốt cuộc mọi khoản thất thoát đều được bù đắp. Một số người thuộc loại lúc nào cũng khôn ngoan sau sự đã rồi, và luôn bảo phải làm thế này thế nọ, đã buông lời rằng giá như chúng tôi nghi ngờ tính trung thực của Gopalacharlu, hẳn chúng tôi đã có thể đề phòng để ông ta không ăn cắp tiền của chúng tôi. Nhưng chính là điểm đó, chúng tôi đã không nghi ngờ ông ta; hoàn toàn trái lại, như đã nói, không có gì trong đời sống hay lời ăn tiếng nói của ông khiến chúng tôi không đặt trọn niềm tin. Bao lần xảy ra chuyện một người bấy lâu là ngọn đèn sáng của sự liêm chính, có thể là bạn hay thân nhân của chính ta, bỗng chốc gục ngã trước cơn cám dỗ vào lúc then chốt và bước xuống dốc. Trong diễn văn thường niên tại Đại hội năm ấy, tôi nói:

“Every year we read in the press of all civilised countries, of similar and far worse offences by trusted officers of the soundest banks and the most carefully managed public companies and private business houses. The fact is that the world’s vast business is transacted on the basis of mutual confidence. In Sir Henry Maine’s Ancient Laws, pp. 306-307, we read that, as regards the multiplicity and astounding complication and success of great frauds, [48] “‘The very character of these frauds shows clearly that before they became possible the moral obligations of which they are the breach, must have been more than proportionally developed. It is the confidence reposed in and deserved by the many which affords facilities for the bad faith of the few, so that, if colossal examples of dishonesty occur, there is no surer conclusion than that scrupulous honesty is displayed in the average of the transactions which, in the particular case, have supplied the delinquent with his opportunity.’”

“Mỗi năm chúng ta đều đọc trên báo chí ở mọi nước văn minh, về những tội lỗi tương tự và còn tệ hơn thế do các viên chức đáng tin của những ngân hàng vững mạnh nhất và các công ty công tư được quản trị cẩn trọng nhất phạm phải. Sự thật là khối lượng công việc đồ sộ của thế gian được tiến hành trên nền tảng tín nhiệm lẫn nhau. Trong Ancient Laws của Sir Henry Maine, trang 306-307, chúng ta đọc rằng, về sự đa dạng và mức độ kì dị [48] và thành công của những vụ gian lận lớn, ‘Chính tính chất của những vụ gian lận này cho thấy rõ ràng rằng trước khi chúng trở nên khả hữu, các nghĩa vụ đạo đức mà chúng vi phạm hẳn đã phát triển hơn nhiều phần tương xứng. Chính niềm tin được đặt vào và được xứng đáng bởi số đông đã tạo điều kiện cho lòng thất tín của thiểu số, đến mức nếu có những ví dụ gian dối khổng lồ thì không có kết luận nào vững chắc hơn là sự lương thiện khắt khe đang được biểu hiện trong bình quân các giao dịch vốn đã cung cấp cơ hội cho kẻ phạm pháp trong trường hợp cụ thể.’”

There is no reason in the world why the Theosophical Society should expect to be more exempt than any other, from these misfortunes. Those of us who are its managers have just to do the best we can to protect its interests and then let the law of Karma work out its effects.

Không có lí do gì trên đời này để Hội Thông Thiên Học trông mong mình miễn trừ trước các bất hạnh ấy hơn các đoàn thể khác. Những người trong chúng ta quản trị Hội chỉ biết làm hết sức để bảo vệ quyền lợi của Hội, rồi để định luật Nghiệp quả vận hành theo hệ quả của nó.

I will mention an incident of this period, not because of its own special importance, but for the sake of its general bearing upon the subject of the secessions and periods of unrest through which we have passed at different times. In the year under review, two of our Parsi members of Bombay, who had been among our most active men, suddenly seceded and began a course of bitter newspaper attacks upon the Society. As they had been until then enthusiastic members, both of the society and of the Eastern School, their conduct was quite incomprehensible. But on the 14th of September I received from a mutual friend at Bombay, a letter written him by one of the seceders, saying that the reports and scheming of a certain person, a crony of [49] the late Treasurer, had driven him and his friend out of the Society. Now the point to observe is this: that there is nothing whatever in the management of the Society, the prosecution of its work or its treatment of its members, that affords a valid excuse for deserting and denouncing us; such faults and mistakes as there may be among the officers, are venial and as a general rule our work is well done and unselfishly. But in this body of ours as in all others in history there are a few individuals moved by ambition or personal spite, who plot to create trouble for the pleasure it gives them to make their neighbors suffer: jealousy and envy are most commonly the active motives. What happened in this Bombay case has happened in others, and when one comes to study to the bottom the great Judge secession, one finds these passions, with vanity added; the springs of conduct.

Tôi sẽ kể một tình tiết của giai đoạn này, không phải vì bản thân nó đặc biệt quan trọng, mà vì ý nghĩa chung của nó đối với đề tài các vụ li khai và những thời kì bất ổn mà chúng ta đã trải qua trong những thời điểm khác nhau. Trong năm đang bàn, hai hội viên Parsi của chúng ta ở Bombay, vốn là những người năng nổ bậc nhất, thình lình li khai và mở một chiến dịch công kích Hội gay gắt trên báo chí. Vì đến lúc đó họ vẫn là hội viên nhiệt thành của cả Hội lẫn Trường Đông phương, nên cách hành xử của họ hoàn toàn khó hiểu. Nhưng ngày 14 tháng Chín, tôi nhận được từ một bạn chung ở Bombay bức thư do một trong hai người li khai kia viết cho ông, nói rằng những lời đồn và mưu kế của một người nào đó, bạn thân của [49] vị Thủ quĩ quá cố, đã xô đẩy ông và bạn ông ra khỏi Hội. Nay điểm cần quan sát là: không có gì trong việc quản trị Hội, trong việc tiến hành công việc hay đối xử với hội viên, có thể cung cấp một cớ chính đáng để bỏ Hội và lên án chúng ta; những lỗi lầm và sai sót nào có trong hàng ngũ chức sắc cũng chỉ là tiểu tiết, và nhìn chung công việc của chúng ta được làm tốt và vô tư. Nhưng trong đoàn thể của chúng ta như trong mọi đoàn thể khác trong lịch sử vẫn có vài cá nhân bị thúc đẩy bởi tham vọng hoặc ác ý cá nhân, mưu toan tạo rắc rối vì khoái cảm được thấy láng giềng mình khổ sở: ghen tị và đố kị là động lực hoạt động thông thường nhất. Điều đã xảy ra trong vụ Bombay này cũng xảy ra ở những vụ khác, và khi ta nghiên cứu đến tận cùng vụ li khai lớn của Judge, ta thấy chính các đam mê ấy, cộng thêm hư danh, là nguồn suối của hành vi.

CHAPTER V

WELCOMING MRS. BESANT—ĐÓN CHÀO BÀ BESANT

(1893)

HAVING been suffering from nervous debility, a reaction from the excitement which I had been passing through, I went for a change to my cottage in the mountains for three weeks, and then sailed for Colombo, to arrange with the Buddhists for the reception of Mrs. Besant and for her lectures. I reached there on the 30th of October, and from that time onward had my hands full with a variety of business, such as inspecting schools, meeting committees, consulting with the High Priest, and explaining who Mrs. Besant was and what had been her public services. She and Countess Wachtmeister arrived on the 9th of November, late in the evening. From 2 to 8 p.m. a thousand people, including 200 of our boy pupils and 125 girls, had waited patiently for them and then dispersed. They landed at about 9 o’clock the next morning. At our headquarters, three engrossed addresses were read to them in the presence of a large crowd, and at the Sanghamitta School, where they were to be the guests of Mrs. Higgins, another address was read by the [51] prize girl of the school. Mr. R. C. Dutt, C.I.E., the respected Hindu publicist and historian, and other passengers breakfasted with us, and altogether a charming impression was made on our ladies by their reception in the Island. At 2 p.m. we took train for Kandy. We were escorted from the station to our lodgings by a great torchlight procession and the whole Buddhist population of the town lined the streets and made noisy demonstrations of welcome. At 8.30 p.m. Mrs. Besant lectured in the Town Hall on the subject of “The World’s Great Needs”. The large audience was deeply impressed and excited to enthusiasm by her eloquence, frankness of speech, and sympathy for the views and aspirations of the Sinhalese people. The next morning was devoted to a drive around the lake, visits to temples and a prize distribution at our local High School. We returned to Colombo by the 10.40 a.m. train and were given a garden party at the Sanghamitta School. Mrs. Besant lectured in the evening at the Public Hall to a packed audience. H. E. the Governor and Lady Havelock, H. E. the Commander-in-Chief, and most of the influential Europeans and other inhabitants of the town were present. The audience listened with the closest attention to the lecture, and the applause at the end was vehement. There was great disappointment because of the impossibility of her giving a second lecture. The impression made upon the Buddhists maybe gauged from a remark that was overheard as the audience were passing out. “There is not much use,” said [52] an enthusiastic Sinhalese man, with his eyes sparkling, “in our getting the priests to preach Bana to us when we can hear lectures like that”; and really the remark was justified, for I doubt if the basic Buddhist doctrine of Karma was ever more clearly or attractively expounded in the Island before. With these two lectures the great Indian tour of Mrs. Besant, 1893-4, was inaugurated and the success which crowned them was but a foretaste of that which followed her throughout.

Vì bị suy nhược thần kinh, một phản ứng sau những kích động mà tôi đã đi qua, tôi lên núi nghỉ ở căn lều của mình ba tuần, rồi xuống tàu đi Colombo để thu xếp với Phật tử việc đón tiếp Bà Besant và cho các bài diễn thuyết của Bà. Tôi đến nơi ngày 30 tháng Mười, và từ đó tay tôi kín mít với đủ việc, như thanh tra các trường, họp ban trị sự, tham khảo với Hoà thượng, và giải thích Bà Besant là ai và công nghiệp công khai của Bà là gì. Bà và Nữ Bá tước Wachtmeister đến vào tối ngày 9 tháng Mười Một, khá muộn. Từ 2 giờ đến 8 giờ tối, một ngàn người, gồm 200 học sinh trai của chúng tôi và 125 nữ sinh, đã nhẫn nại chờ đợi họ rồi giải tán. Họ lên bờ vào khoảng 9 giờ sáng hôm sau. Tại trụ sở của chúng tôi, ba diễn văn chào mừng được đọc trước một đám đông lớn, và tại Trường Sanghamitta, nơi họ là khách của Bà Higgins, một diễn văn khác được đọc bởi [51] nữ sinh đoạt giải của trường. Ông R. C. Dutt, C.I.E., nhà lí luận và sử gia Ấn giáo đáng kính, và các hành khách khác ăn sáng với chúng tôi, và chung cuộc, ấn tượng về sự tiếp đón nơi Đảo đối với các quý bà của chúng tôi thật là duyên dáng. Lúc 2 giờ trưa, chúng tôi lên tàu lửa đi Kandy. Từ ga về chỗ ở, chúng tôi được rước bằng một cuộc rước đuốc lớn, và toàn thể dân chúng Phật tử của thị trấn xếp hàng dọc đường, hân hoan náo nhiệt đón mừng. Lúc 8 giờ 30 tối, Bà Besant diễn thuyết tại Toà Thị chính về “Những Nhu Cầu Lớn của Thế giới”. Thính chúng đông đảo đã bị ấn tượng sâu đậm và phấn khích trước tài hùng biện, lời lẽ thẳng thắn, và lòng đồng cảm của Bà đối với quan điểm và khát vọng của người Tích Lan. Sáng hôm sau dành cho chuyến xe vòng quanh hồ, thăm chùa và phát thưởng tại Trường Trung học địa phương của chúng tôi. Chúng tôi trở về Colombo bằng chuyến tàu 10 giờ 40 và được đãi một dạ yến trong vườn tại Trường Sanghamitta. Buổi tối, Bà Besant diễn thuyết tại Hội trường Công cộng trước một thính chúng chật ních. Ngài Toàn quyền và Phu nhân Havelock, Ngài Tổng tư lệnh, và hầu hết các nhân vật Âu châu có thế lực cùng các cư dân khác của thành phố đều có mặt. Thính chúng chăm chú nghe bài diễn thuyết, và tràng pháo tay kết thúc thật nồng nhiệt. Mọi người rất thất vọng vì không thể sắp xếp một bài diễn thuyết thứ hai. Ấn tượng của Phật tử có thể đo bằng câu nói người ta tình cờ nghe thấy khi khán giả ra về. “Không còn ích lợi mấy,” một người Tích Lan nhiệt thành nói, [52] mắt long lanh, “cho việc chúng ta mời chư Tăng thuyết Bana cho mình khi chúng ta có thể nghe những bài diễn thuyết như thế này”; và quả thật lời ấy có lí, vì tôi ngờ rằng giáo lí căn bản về Nghiệp trong Phật giáo chưa bao giờ được trình bày rõ ràng hay hấp dẫn hơn thế tại Đảo trước đây. Với hai bài diễn thuyết này, chuyến diễn thuyết lớn của Bà Besant tại Ấn Độ, 1893-4, được khai màn, và sự thành công rực rỡ ấy chỉ là điềm báo cho thành công nối tiếp Bà suốt hành trình.

On the 12th we went from Colombo to Galle by train. At all the principal stations the children of our Buddhist schools cheered her with their piping voices and swarmed like bees outside the door of her carriage. Flowers they brought—loose, in bouquets, and in wreaths. At Ambalangoda the children read an address to her, and at one or two other stations where the train made but brief stops, written addresses were handed in to her along with the tribute of flowers. Reaching Galle at 3 p.m. we had an enthusiastic reception at our Mahinda College, from the 200 or more pupils, and Mrs. Besant lectured to a very large mixed audience of Europeans and Sinhalese. In the evening, at our quarters, there was a display of fireworks and an exhibition of that weird and striking devil-dancing for which Ceylon is famous. We drove around Galle the next day; at 3 p.m. I lectured by request on “The Aims and Work of the Maha-Bodhi Society”; at 8.30 p.m. Mrs. Besant lectured in the great dining-hall of the Oriental Hotel. This closed our visit at Galle.

Ngày 12, chúng tôi đi tàu từ Colombo đến Galle. Tại các ga chính, học sinh các trường Phật giáo reo hò mừng Bà bằng những giọng véo von và ùa như ong bên ngoài cửa toa của Bà. Các em mang hoa—hoa lẻ, hoa bó, và vòng hoa. Ở Ambalangoda, các em đọc một diễn văn chào mừng, và ở một hai ga khác nơi tàu chỉ dừng ngắn, các diễn văn viết sẵn được trao tận tay Bà cùng với muôn hoa. Đến Galle lúc 3 giờ chiều, chúng tôi được đón tiếp nồng hậu tại Trường Cao đẳng Mahinda của chúng tôi, với hơn 200 học sinh, và Bà Besant diễn thuyết trước một thính chúng đông đảo gồm cả người Âu và người Tích Lan. Buổi tối, tại chỗ ở của chúng tôi, có trình diễn pháo hoa và một tiết mục múa quỷ kì dị, ấn tượng—điều làm nên danh tiếng cho Tích Lan. Hôm sau chúng tôi đi xe vòng quanh Galle; lúc 3 giờ chiều, theo lời thỉnh cầu, tôi diễn thuyết về “Mục đích và Công cuộc của Hội Maha-Bodhi”; lúc 8 giờ 30 tối, Bà Besant diễn thuyết tại đại sảnh ăn của Khách sạn Oriental. Thế là kết thúc chuyến thăm Galle.

[53]

[53]

We rose on the morning of the 14th at 4.30 a.m. and took the train an hour later for Colombo. At Panadure, often miscalled Pantura—the place where occurred the famous controversy between Megittuwatte, the Buddhist champion, and the Reverend Silva, a missionary, in which the latter was completely worsted—we had arranged to stop over one train to enable the citizens to present an address to Mrs. Besant and to hear her lecture. Our local Branch there has a fine large school building, and in that the meeting was held and addresses were given by Mrs. Besant and myself. The journey was then continued and we reached Colombo at 5 p.m. On the following day I took the ladies to pay their respects to the High Priest Sumangala, after which Mrs. Besant laid the corner-stone of a new school building that Mrs. Higgins was planning to build on a piece of land given her for the purpose by Mr. Peter de Abrew. This was the last public act of Mrs. Besant during her present visit to the Island, for the next day we crossed over to Tuticorin to take up the Indian tour proper.

Chúng tôi dậy lúc 4 giờ 30 sáng ngày 14 và một giờ sau lên tàu đi Colombo. Tại Panadure, thường bị gọi sai là Pantura—nơi từng diễn ra cuộc tranh biện nổi tiếng giữa nhà vô địch Phật giáo Megittuwatte và Mục sư Silva, một giáo sĩ, trong đó vị sau bị khuất phục hoàn toàn—chúng tôi sắp xếp dừng lại một chuyến tàu để người dân có thể dâng diễn văn chào mừng Bà Besant và nghe Bà diễn thuyết. Chi hội địa phương của chúng tôi ở đó có một toà nhà trường lớn và đẹp, và cuộc họp được tổ chức tại đó, với các bài diễn văn của Bà Besant và của tôi. Chuyến đi được tiếp tục và chúng tôi đến Colombo lúc 5 giờ chiều. Hôm sau, tôi đưa các quý bà đến vấn an Hoà thượng Sumangala, sau đó Bà Besant đặt viên đá đầu tiên cho một toà nhà trường mới mà Bà Higgins dự định xây trên một mảnh đất do Ông Peter de Abrew hiến tặng. Đây là hành động công khai cuối cùng của Bà Besant trong chuyến thăm Đảo lần này, vì ngày hôm sau chúng tôi qua Tuticorin để bắt đầu phần chính của chuyến diễn thuyết tại Ấn Độ.

CHAPTER VI—CHAPTER VI

MRS. BESANT’S FIRST INDIAN TOUR—CHUYẾN DIỄN THUYẾT ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN CỦA BÀ BESANT

(1893)