AS mentioned before, the crossing from Colombo to Tuticorin by the small steamers running there, is, in bad weather, one of the most disagreeable experiences in sea-travel. This time, however, we sailed in sunshine and made the transit without inconvenience. On arrival at Tuticorin we were met by a deputation of Hindu friends with an address of welcome to Mrs. Besant and the usual gifts of flowers. A crowd gathering, she was induced to make an impromptu address on the platform at the railway station before the train left for Tinnevelly. If my friend, Mr. Alan Leo, or any other astrologer, chooses to test his science by comparing his calculations with the results of the Indian tour thus commenced, I may tell them that Mrs. Besant put her foot on Indian soil for the first time at the hour of 10.24 a.m. on 16th November, 1893. The aspect of the heavens, however their calculations may come out, must have been very auspicious, for success followed her throughout her whole journey in India. We left for Tinnevelly at [55] 4 p.m. in a smart shower, had a rousing reception on arrival and were put up in a large, comfortable bungalow. The next morning we drove to Palamcottah, the busiest centre of Missionary effort in Southern India, and where they are favored with the presence of no less than three bishops of the Roman Catholic and Protestant Churches. Our rooms were crowded with visitors throughout the day but Mrs. Besant took some time for herself to dispose of a large amount of accumulated correspondence. In the evening she lectured splendidly on the great subject of “Life after Death,” to a very large audience.
Như đã nói trước, việc vượt biển từ Colombo sang Tuticorin bằng những chiếc tàu chạy hơi nước nhỏ nơi ấy, trong thời tiết xấu, là một trong những trải nghiệm khó chịu nhất của hành trình đường biển. Lần này, tuy nhiên, chúng tôi lênh đênh trong nắng đẹp và vượt qua mà không gặp trở ngại. Khi đến Tuticorin, chúng tôi được một phái đoàn bạn bè Ấn Độ giáo ra đón, đọc lời chào mừng Bà Besant và tặng những vòng hoa như thường lệ. Một đám đông tụ họp, và Bà được khích lệ nói một bài ứng khẩu ngay trên sân ga trước khi tàu khởi hành đi Tinnevelly. Nếu bạn tôi, Ông Alan Leo, hay bất kỳ nhà chiêm tinh nào muốn thử nghiệm khoa học của mình bằng cách so sánh tính toán với kết quả của chuyến du hành Ấn Độ vừa mở đầu này, tôi xin nói rằng Bà Besant đặt chân lên đất Ấn lần đầu vào lúc 10 giờ 24 sáng ngày 16 tháng 11 năm 1893. Dẫu các phép tính của họ có cho ra sao, thì diện mạo bầu trời hẳn phải hết sức cát tường, vì thành công theo sát Bà suốt cả hành trình ở Ấn. Chúng tôi rời Tinnevelly lúc [55] 4 giờ chiều giữa một trận mưa rào, được đón tiếp nồng nhiệt khi tới nơi và được bố trí ở một ngôi bungalow lớn, tiện nghi. Sáng hôm sau, chúng tôi đi Palamcottah, trung tâm bận rộn nhất của nỗ lực truyền giáo ở Nam Ấn, nơi họ may mắn có đến ba giám mục của hai Giáo hội Công giáo La Mã và Tin Lành hiện diện. Phòng của chúng tôi suốt ngày chật kín khách, nhưng Bà Besant vẫn dành thời giờ riêng để xử lý một lượng lớn thư từ tồn đọng. Buổi tối, Bà thuyết giảng tuyệt vời về chủ đề lớn “Sự sống sau cái chết” trước một thính chúng rất đông.
On the following day we drove to the great temple and visited the cocoanut tree which the Ceylon Buddhist Committee and I had planted in October, 1881, and which the Missionaries had falsely reported to have been torn up by the Brahmins on our departure after that memorable visit. We found it at this time a full-grown tree, a permanent monument to our success in creating a tie of brotherly sympathy between the people of the two races and two religions. While at the temple the great collection of rich jewels used in decorating the idols on important occasions, was exhibited to us, and the state elephant was made to salute us in the usual way by raising his trunk and trumpeting: the temple band at the same time making as much noise as it could. At the house of my old friend V. Coopooswamy Iyer, alas! just deceased (in 1902), we were hospitably entertained and Mrs. Besant saw for the first time the native dance called kolattam [56] —a very innocent and not in the least exhilarating performance, in which a number of young women walk slowly around in a circle, swaying their bodies to right and left and keeping time to the music by striking together the sticks which they hold in their hands. Mrs. Besant’s lecture that evening was on the subject of “Materialism,” which, in my opinion, brings out as fully as any she has ever treated, the extent of her intellectual resources. Naturally it would be so for, after leading the materialistic party for twelve years with Mr. Bradlaugh and viewing the subject from every point of view, nobody could be more competent than she to explain the insufficiency of the materialistic hypothesis when tested by the larger knowledge of Nature which one acquires by study of the Eastern Philosophy and by experience on the higher levels of human consciousness. The eagerness to see and talk with her was so great that, although we were to leave Tinnevelly in the middle of the day, she had to hold an improvised durbar on the next morning (Sunday, November 19), and at the close of it eleven persons joined our Society, of whom five were materialists whose beliefs had been quite upset by Mrs. Besant’s lecture of the previous evening.
Ngày kế tiếp, chúng tôi đi thăm ngôi đền lớn và ghé cây dừa mà Ủy ban Phật giáo Tích Lan và tôi đã trồng vào tháng 10 năm 1881, cái cây mà các nhà truyền giáo đã vu cáo là bị các Bà-la-môn nhổ lên khi chúng tôi rời đi sau chuyến thăm đáng nhớ ấy. Lần này chúng tôi thấy nó đã thành cây trưởng thành, một đài kỷ niệm bền vững cho thành công của chúng tôi trong việc tạo một mối dây cảm thông huynh đệ giữa dân hai chủng tộc và hai tôn giáo. Ở đền, bộ sưu tập lớn các châu báu quý dùng để trang sức cho tượng thần vào những dịp trọng thể được trưng bày cho chúng tôi xem, và voi nhà được lệnh chào chúng tôi theo lệ bằng cách giương vòi và rống vang; đồng thời ban nhạc của đền cố gắng tạo ra càng nhiều âm thanh càng tốt. Tại nhà người bạn cũ của tôi là V. Coopooswamy Iyer, than ôi! vừa tạ thế (năm 1902), chúng tôi được tiếp đãi nồng hậu, và lần đầu tiên Bà Besant xem điệu vũ bản địa gọi là kolattam [56] —một màn biểu diễn rất vô hại và chẳng mảy may gây kích động, trong đó một nhóm phụ nữ trẻ đi chậm vòng quanh thành vòng tròn, lắc người sang phải sang trái và giữ nhịp theo âm nhạc bằng cách gõ vào nhau những que cầm trong tay. Bài giảng của Bà Besant tối hôm ấy là về “Chủ nghĩa duy vật”, theo ý tôi, bài này phô bày trọn vẹn không thua bất cứ bài nào Bà từng trình bày, bề rộng tài nguyên trí tuệ của Bà. Lẽ tự nhiên là vậy, vì sau mười hai năm lãnh đạo nhóm duy vật cùng với Ông Bradlaugh và nhìn vấn đề từ mọi góc độ, chẳng ai thích hợp hơn Bà để giải minh sự bất cập của giả thuyết duy vật khi đem thử bằng tri thức lớn hơn về Tự Nhiên mà người ta đạt được nhờ học hỏi Triết học Đông phương và nhờ kinh nghiệm trên những bình diện tâm thức con người cao hơn. Sự nôn nóng muốn gặp và đàm đạo với Bà lớn đến mức, mặc dù chúng tôi phải rời Tinnevelly giữa ngày, Bà vẫn phải tổ chức một buổi hội kiến ứng biến vào sáng hôm sau (Chủ nhật, 19 tháng 11), và kết thúc buổi ấy có mười một người gia nhập Hội của chúng ta, trong đó có năm người theo duy vật, những kẻ có niềm tin đã bị bài giảng tối trước của Bà Besant làm đảo lộn hoàn toàn.
We left for Madura at 1.35 p.m., and arrived there at 7.30. The Rajah of Ramnad having kindly given the local Committee the use of his splendid house opposite the great tank, we were duly installed there. On the following day we were taken to the Meenakshi Temple and were shown its wonders by the Chief Priest himself.
Chúng tôi rời đi Madura lúc 1 giờ 35 chiều, và đến nơi lúc 7 giờ 30. Quốc vương Ramnad đã tử tế cho Ủy ban địa phương sử dụng ngôi nhà lộng lẫy của mình đối diện hồ lớn, chúng tôi được đưa vào đó đúng nghi lễ. Ngày hôm sau, chúng tôi được đưa đến Đền Meenakshi và chính Đại Tư tế dẫn chúng tôi xem những kỳ quan của đền.
[57]
[57]
I took the pains to point out to Mrs. Besant that panel in the wall-paintings around the inner tank which depicts the savage cruelties inflicted on the wretched Jain Diagambaras, who refused to be converted to Hinduism in the time of Kûna or Kubja Pandya, King of Madura, twenty-one centuries before Christ. There is an amusing feature of this religious episode of Southern India, which I have not mentioned before when alluding to this same picture. In the Hâlasya Mâhâtmya, [2] a Saivite religious work, we are told that it was agreed between the Saivite sannyâsi, a youthful wonder-worker famed for his conversions, of heretics, and the principal Digambaras, that samples of their respective sacred books should be put to the test of ordeals by fire and water to determine which of them was the most sacred. The story runs that palm-leaf manuscripts of both parties being thrown into a hot fire, that of the Digambaras was consumed, but the other was not. Then, for the water test, specimens were thrown into the neighboring river and while the Buddhistic writings floated down stream and so on towards the sea, those of the Saivite sannyâsi went against the current as easily as though they had been propelled by diminutive steam engines! Of course, if we may accept the report of the Saivite historian, the superior holiness of the Hindu books was thus miraculously proven. After that, nothing could have been more natural than that [58] the victors should cure the recalcitrance of the vanquished by various benevolent punishments, such as the impaling of them on great, long, sharp spikes which transpierced the body throughout its whole length and came out at the top of the head or close up to the neck, or cutting off their heads and grinding them to pulp in the peculiar Indian oil-mill, duplicates of which have been seen by every visitor to India who has passed through the cocoanut-bearing districts. For how many thousand years the same pattern of mill may have been known in India no one can tell, but certainly the mills which one sees now do not differ in the least from that which was used in those far-distant centuries.
Tôi đã cẩn thận chỉ cho Bà Besant bức bích họa trên tường quanh hồ trong mô tả những cảnh tàn bạo dã man giáng lên những người Jain Digambara khốn khổ, những người đã từ chối cải đạo sang Ấn giáo vào thời Kûna hay Kubja Pandya, Vua Madura, hai mươi mốt thế kỷ trước Công nguyên. Có một nét thú vị trong giai thoại tôn giáo này của Nam Ấn mà trước đây tôi chưa từng nhắc khi nói đến chính bức hình ấy. Trong Hâlasya Mâhâtmya, một tác phẩm tôn giáo của phái Saivite, chúng ta được kể rằng đã có sự thoả thuận giữa một vị ẩn sĩ Saivite, một bậc kỳ đồng trẻ tuổi nổi danh nhờ việc cải hóa dị giáo đồ, và những vị Digambara chủ chốt, rằng đem mẫu các sách thánh của mỗi bên chịu thử nghiệm bằng lửa và nước để định xem cuốn nào thiêng hơn. Truyện kể rằng khi những bản chép lá cọ của cả hai bên bị ném vào lửa đỏ, bản của Digambara bị thiêu hủy, còn bản kia thì không. Rồi, đến phép thử nước, các bản chép được ném xuống con sông gần đó, và trong khi các trước tác mang màu sắc Phật giáo trôi xuôi về phía biển, thì sách của vị ẩn sĩ Saivite lại trôi ngược dòng nhẹ như thể được đẩy bằng những động cơ nhỏ xíu! Tất nhiên, nếu chấp nhận tường trình của sử gia Saivite, thì tính linh thiêng trổi vượt của sách Ấn giáo đã được chứng nghiệm một cách huyền diệu. Sau đó, chẳng còn gì tự nhiên hơn việc [58] kẻ chiến thắng chữa trị sự bướng bỉnh của kẻ bại trận bằng các hình phạt “nhân từ” khác nhau, như đóng cọc họ trên những cọc lớn, dài, nhọn, xuyên suốt thân thể rồi ló ra ở đỉnh đầu hoặc sát cổ, hoặc chặt đầu họ và nghiền nát trong kiểu cối xay dầu đặc thù của Ấn Độ, thứ mà ai từng đến Ấn và đi qua các vùng trồng dừa đều thấy vô số bản sao. Không ai có thể nói kiểu cối ấy đã được biết ở Ấn Độ bao nhiêu nghìn năm, nhưng chắc chắn những cối mà ta thấy nay không khác mảy may so với thứ đã dùng trong những thế kỷ xa xưa ấy.
How pitiful it is, after all, that mankind have ever been so prone to receive as authoritative the teachings of their priests and books on the mere strength of psychical phenomena which may be manifested by the most corrupt and unspiritual men or women. Even in our day of progress in scientific discovery it seems impossible to prevent this deification of psychics who may pretend to supernatural relationships. After traversing many countries I find a great wave of psychism rushing over the world, an evil omen for the chances of true spiritual progress. Until phenomenalism has been relegated to its proper subordinate place we cannot hope much for the uplifting of mankind from the lower to the higher planes of knowledge.
Xét cho cùng, thật đáng thương biết bao khi nhân loại xưa nay luôn có khuynh hướng tiếp nhận như thẩm quyền tối hậu những giáo huấn của các giáo sĩ và kinh sách, chỉ dựa trên sức mạnh của các hiện tượng tâm linh vốn có thể được phô diễn bởi những người nam hay nữ đồi bại nhất và ít tinh thần nhất. Ngay trong thời đại tiến bộ khoa học của chúng ta, dường như không thể ngăn chặn sự thần thánh hóa những người có năng lực thông linh vốn có thể giả vờ có liên hệ siêu nhiên. Sau khi đi qua nhiều quốc gia, tôi nhận thấy một làn sóng thông linh lớn đang tràn qua thế giới, một điềm xấu cho cơ hội tiến bộ tinh thần chân chính. Cho đến khi chủ trương chạy theo hiện tượng bị xếp vào vị trí phụ đúng mức của nó, chúng ta không thể kỳ vọng nhiều vào việc nâng con người từ những bình diện hiểu biết thấp lên cao.
Mrs. Besant gave two lectures the next day, one at 7.30 a.m., on “Karma,” the other at 6 p.m., on “The Evidence in Favor of the Existence of Mahatmas”.
Ngày hôm sau, Bà Besant thuyết giảng hai bài, một lúc 7 giờ 30 sáng về “Nghiệp quả,” bài kia lúc 6 giờ chiều về “Những chứng cứ ủng hộ sự hiện hữu của các Mahatma”.
[59]
[59]
The public interest throughout India on this subject has always been acute; for, although every child knows that the Shâstras, especially the teachings of Patanjali, affirm the fact that man can develop the Siddhis and make himself what is properly called a Mahatma, and their books and traditions teem with allusions to their existence, yet at this period of our residence in India, despite the reports about H. P. B.’s phenomena, and the testimony of eye-witnesses who had seen these Teachers, the Hindus in general could not yet believe that such men were in close relations with us white people from the West and taking part in the spread of the Theosophical movement.
Mối quan tâm của công chúng trên khắp Ấn Độ về chủ đề này xưa nay luôn gay gắt; vì tuy trẻ con nào cũng biết rằng các Shâstra, đặc biệt là giáo huấn của Patanjali, khẳng định rằng con người có thể phát triển các Siddhi và trở thành thứ mà đúng nghĩa gọi là một Mahatma, và rằng kinh sách cùng truyền thống của họ đầy rẫy những ám chỉ về sự hiện hữu của các vị ấy, thế nhưng ở thời điểm cư trú này của chúng tôi tại Ấn, bất chấp những tường thuật về các hiện tượng của Bà H. P. B., và lời chứng của những nhân chứng mắt thấy các Vị Thầy này, người Ấn nói chung vẫn chưa thể tin rằng những bậc như vậy đang có liên hệ gần gũi với chúng tôi—những người da trắng phương Tây—và tham gia vào việc truyền bá phong trào Thông Thiên Học.
On the next day there was no public function but a meeting of Theosophists was held at Mr. P. Narayana Iyer’s house, where we dined in the native fashion off plantain leaves, sitting on the floor and using our fingers instead of knives or forks. At about noon on that day we left for Trichinopoly, arriving at 6.20 p.m. The Prince of Pudukottah, an F.T.S., met us at the station and took us to a small bungalow—not his own but hired for the occasion—which was somewhat thickly populated with some of those small creatures which Nature seems to have evolved to teach man to cultivate patience and forbearance. It rained heavily all the next day and Mrs. Besant and I made good use of the time in writing letters, but Countess Wachtmeister was unable to do anything, being laid up with a bad cold. At 6 p.m. Mrs. Besant lectured on “India, Past and Present,” in a style so eloquent and pathetic [60] that it made the whole audience weep. Having myself lectured on the subject before, I was so moved by her discourse that I could hardly command my voice for closing the meeting. We idled at home the next morning, but in the afternoon the Prince came and took us to his house for a visit, after which he drove us to the Town Hall where Mrs. Besant lectured in her usual style. There was a great crowd and vociferous applause. The next morning at 7.30 I myself lectured to the College boys at the Town Hall and about noon we left for Tanjore, arriving at 2.20 p.m. Mrs. Besant lectured at the palace of, I think, the old Chola Dynasty, in the Durbar Hall, a great apartment with many pillars highly decorated, entirely open on one side to the courtyard; her subject being “India’s Mission”. Our rooms were crowded with visitors the next day, among them several from other towns who had come to hear the lecture. Mrs. Besant and the Countess were admitted to personal audiences with the surviving Ranees of the Tanjore Royal family who, like all the living representatives of extinct Indian Dynasties, are pensioners of the British Government. The Princesses being purdanashin, i.e., secluded from public gaze and cut off from all intercourse with male visitors, our ladies only were admitted to their presence; I had to remain outside the purdah and speak with the Queen through drawn curtains. At the conclusion of the audience each of us received a present of a gold-embroidered shawl; mine being brought me and laid over my shoulders by a young prince who, at the same [61] time, gave me flowers and betel-nut (pan supâri) according to custom. Mrs. Besant’s lecture on that day, Sunday, the 26th, was on “Theosophy and Science”. On Monday we visited the great Temple, saw the colossal stone figure of a sitting bull, the emblem of Siva, and then went to the famous library, collected by a former Rajah of Tanjore, which, even after the pillaging it has suffered from at various times, still contains 23,000 palm-leaf and 12,000 paper MSS. and 7,000 bound volumes. In her lecture that afternoon Mrs. Besant again discoursed upon the “Insufficiency of Materialism,” about which the note written in my Diary is that it was “the grandest argument I ever heard”. So the reader may understand how the lecturer rose higher and higher each time that she developed this comprehensive theme. The very prevalence of materialistic tendencies which she found spreading in India under the prevailing system of collegiate education, seemed to stimulate her more and more to do her best to stem the tide.
Hôm sau không có buổi công khai nào, nhưng có một cuộc họp của các hội viên Thông Thiên Học tại nhà Ông P. Narayana Iyer, nơi chúng tôi dùng bữa theo lối bản xứ trên lá chuối, ngồi dưới sàn và dùng tay thay vì dao nĩa. Khoảng trưa hôm đó, chúng tôi rời Trichinopoly, đến nơi lúc 6 giờ 20 chiều. Thân vương Pudukottah, một F.T.S., đón chúng tôi ở ga và đưa đến một bungalow nhỏ—không phải nhà của Ngài mà thuê cho dịp này—và nơi đó có phần đông đúc những sinh vật nhỏ bé mà Tự Nhiên dường như đã tiến hóa để dạy con người tập kiên nhẫn và nhường nhịn. Hôm sau mưa nặng hạt suốt ngày, Bà Besant và tôi tận dụng thời gian để viết thư, còn Bá tước phu nhân Wachtmeister không làm được gì vì bị cảm nặng phải nằm nghỉ. Lúc 6 giờ chiều, Bà Besant thuyết giảng về “Ấn Độ, Quá khứ và Hiện tại,” với một phong cách hùng biện và bi cảm đến [60] mức làm cả thính phòng rơi lệ. Chính tôi từng thuyết về đề tài này trước đó, vậy mà bị bài diễn thuyết của Bà làm xúc động đến nỗi tôi khó mà giữ giọng để tuyên bố bế mạc. Sáng hôm sau chúng tôi ở nhà, nhưng buổi chiều, Thân vương đến đưa chúng tôi đến thăm dinh, sau đó đưa đến Tòa Thị chính nơi Bà Besant thuyết giảng “như thường lệ”. Đám đông rất lớn và vỗ tay rầm rộ. Sáng hôm sau lúc 7 giờ 30 chính tôi thuyết giảng cho các sinh viên ở Tòa Thị chính, và khoảng giữa trưa chúng tôi rời đi Tanjore, tới nơi 2 giờ 20 chiều. Bà Besant thuyết giảng tại cung điện—tôi nghĩ thuộc triều đại Chola xưa—trong Durbar Hall, một gian phòng lớn có nhiều cột trang hoàng tinh xảo, hoàn toàn mở một phía ra sân; đề tài là “Sứ mệnh của Ấn Độ”. Phòng của chúng tôi ngày hôm sau chật kín khách, trong đó có vài người từ thành phố khác đến để nghe thuyết giảng. Bà Besant và Bá tước phu nhân được yết kiến riêng các Vương phi sống sót của Hoàng tộc Tanjore, những người, như tất cả hậu duệ sống của các vương triều Ấn đã diệt, là những người nhận bổng lộc của Chính phủ Anh. Các Công chúa là purdanashin, tức ẩn mặt khỏi ánh nhìn công chúng và cắt đứt mọi giao tiếp với khách nam, nên chỉ các quý bà của chúng tôi được vào diện kiến; tôi phải đứng ngoài màn purdah và nói chuyện với Nữ hoàng qua rèm kéo. Kết thúc buổi yết kiến, mỗi chúng tôi nhận một món quà là khăn choàng thêu kim tuyến; của tôi do một vị hoàng tử trẻ [61] đích thân mang đến, khoác lên vai tôi, đồng thời tặng hoa và cau trầu (pan supâri) theo tục lệ. Bài giảng của Bà Besant hôm đó, Chủ nhật, ngày 26, là “Thông Thiên Học và Khoa học”. Thứ Hai, chúng tôi thăm ngôi Đền lớn, xem pho tượng bò ngồi bằng đá khổng lồ, biểu tượng của Siva, rồi đến thư viện danh tiếng do một vị Rajah Tanjore xưa sưu tập, nơi này dù từng bị cướp phá nhiều lần, vẫn còn 23.000 bản thảo lá cọ, 12.000 bản thảo giấy và 7.000 tập sách đóng bìa. Trong bài giảng chiều hôm đó, Bà Besant lại diễn thuyết về “Sự bất cập của chủ nghĩa duy vật,” và ghi chú tôi viết trong Nhật ký là “lập luận hùng vĩ nhất tôi từng nghe”. Thế nên độc giả có thể hiểu người diễn thuyết đã thăng hoa lần lượt cao hơn mỗi khi triển khai chủ đề bao quát này. Chính sự lan rộng của khuynh hướng duy vật mà Bà thấy đang tràn ở Ấn dưới hệ thống giáo dục đại học hiện hành, dường như càng kích thích Bà nỗ lực hết mình để ngăn dòng.
Before leaving for Kumbakonam the next morning at 9.45, I lectured to the boys of Tanjore and formed one of those local Boys’ Aryan Leagues with which, during those years, I studded India while making my tours. For I have always felt from the time of my first coming to the country that, if we wanted to create a permanent religious revival, here or in any other country, we must lay its foundation in the enlistment of the sympathy of the rising generation. This was the idea behind my educational movement among the [62] Ceylon Buddhists, the results of which have fully realised my anticipations. I have ever found the boys of India most responsive to kindly appeals to their innate religious instincts, and it is no exaggeration to say that if I could have devoted my whole time to this movement I could have organised a monster movement among the Indian youth. Wherever I felt I could do so I got the elders of a community to subscribe for a library for boys and my usual plan was to ask the boys themselves, at one of these public meetings, to look around them and tell me whom they wished appointed as members of an Advisory Committee; pledged to assist them as much as possible in forming their library, securing and furnishing their meeting room and holding themselves ready to advise when asked, but never to interfere with the liberty of the boys to regulate their own Society affairs. Such a policy as this is calculated, I think, to develop manliness and self-reliance among the youth and awaken a warm interest in their intellectual and spiritual welfare among their elders.
Trước khi rời đi Kumbakonam vào sáng hôm sau lúc 9 giờ 45, tôi thuyết giảng cho các em trai ở Tanjore và thành lập một trong những Liên đoàn Arya dành cho thiếu niên địa phương mà trong những năm ấy tôi đã gieo khắp Ấn Độ trong những chuyến đi của mình. Bởi từ khi mới đến xứ sở này, tôi luôn cảm thấy rằng, nếu chúng ta muốn tạo một phong trào phục hưng tôn giáo bền vững, ở đây hay ở bất kỳ quốc gia nào khác, chúng ta phải đặt nền tảng bằng cách huy động cảm tình của thế hệ đang lớn. Đây chính là tư tưởng đứng sau phong trào giáo dục của tôi giữa [62] người Phật tử Tích Lan, kết quả của nó đã hoàn toàn đáp ứng dự liệu của tôi. Tôi luôn thấy các em trai ở Ấn rất đáp ứng với những lời kêu gọi thân tình đánh thức các bản năng tôn giáo bẩm sinh của các em, và không hề quá lời khi nói rằng nếu tôi có thể hiến trọn thời gian cho phong trào này, tôi đã có thể tổ chức một phong trào khổng lồ trong giới thanh thiếu niên Ấn. Ở bất cứ nơi đâu tôi thấy có thể, tôi mời các bậc trưởng thượng trong cộng đồng góp tiền mua một thư viện cho thiếu niên, và kế hoạch thường lệ của tôi là mời chính các em, trong một buổi họp công khai, nhìn quanh và cho tôi biết các em muốn chỉ định ai làm thành viên Ủy ban Cố vấn; những người cam kết trợ giúp tối đa việc lập thư viện, kiếm tìm và trang bị phòng họp, và sẵn sàng cho ý kiến khi được hỏi, nhưng không bao giờ can thiệp vào quyền tự do của các em trong việc điều hành công việc của chính Hội. Một chính sách như vậy, tôi nghĩ, sẽ bồi dưỡng nam tính và tự lực nơi thanh thiếu niên và đánh thức mối quan tâm nồng ấm của bậc trưởng thượng với phúc lợi tri thức và tinh thần của các em.
We were cordially welcomed on our arrival at Kumbakonam at 11.30, and towards the evening Mrs. Besant lectured to the usual multitude on “Theosophy and Modern Progress”. The College of Kumbakonam has done as much as any other educational institution in India to foster rationalistic tendencies among the young men of the community. The Professors—distinguished graduates of the Madras University and, so far as I have known them, men of great intellectual culture—have given the tone of materialistic [63] thinking to their classes; so that there is no place in India where it is more important that lectures by able Western Theosophists should be frequently given than here. Needless to say Mrs. Besant’s discourse fulfilled all the requirements of the situation. The chair was occupied by that true patriot, accomplished scholar, and universally respected retired Government servant, Dewan Bahadur Raghoonath Row. Since his retirement this gentleman has transferred his residence from Madras to Kumbakonam, and in his family mansion is passing the evening of his days in comfort and tranquillity of mind. Among Indian statesmen none has enjoyed more thoroughly than he, the confidence of the public, for his career as Minister (Dewan) of large native states and Revenue Officer of various large districts in British India, was untainted by the least suspicion of corruption or malfeasance.
Chúng tôi được đón tiếp nồng hậu khi đến Kumbakonam lúc 11 giờ 30, và về chiều, Bà Besant thuyết giảng trước đám đông như thường lệ về “Thông Thiên Học và Tiến bộ Hiện đại”. Trường Cao đẳng Kumbakonam đã đóng góp nhiều như bất kỳ cơ sở giáo dục nào khác ở Ấn trong việc nuôi dưỡng khuynh hướng duy lý trong thanh niên. Các Giáo sư—những người tốt nghiệp ưu tú của Đại học Madras và, theo như tôi biết, là những người có văn hóa trí thức cao—đã thổi vào lớp học mình [63] sắc thái tư duy duy vật; đến nỗi không nơi nào ở Ấn quan trọng hơn nơi đây để thường xuyên có các bài thuyết giảng của những nhà Thông Thiên Học phương Tây giỏi giang. Không cần nói cũng biết bài thuyết giảng của Bà Besant đã đáp ứng toàn bộ yêu cầu của hoàn cảnh. Chủ tọa là vị ái quốc chân chính, học giả toàn tài, và là viên chức Chính phủ về hưu được kính trọng rộng rãi, Dewan Bahadur Raghoonath Row. Từ khi nghỉ hưu, vị này dời cư từ Madras về Kumbakonam, và trong tòa nhà gia tộc, ông đang sống những ngày xế chiều êm ấm, tâm trí thanh thản. Giữa các chính khách Ấn, không ai được lòng công chúng sâu như ông, vì sự nghiệp của ông với tư cách là Tể tướng (Dewan) của những bang bản xứ lớn và Viên chức Thu thuế các quận lớn của Ấn Độ thuộc Anh, không hề bị vấy bẩn bởi chút nghi ngờ tham ô hay lạm quyền.
Our party visited a most curious person the next day, a naked ascetic who has been persistently silent during the last thirty years. Throughout this whole period one family have maintained him in a small hut in their garden. He eats only when forced to by his friends, and not always then, for it is a common thing for him to fast seven or eight or ten days at a time. He has a divergent strabismus and is ceaselessly fumbling with his hands. Whatever he may do on the astral plane he certainly, on this one, is little better than a hibernating animal, and as we stood looking at him I could not help comparing his case with that of Mrs. Besant who, with all the religious fervor he could [64] possibly feel and as lofty aspirations for spiritual knowledge as he could entertain, was willingly putting her body to the greatest possible strain in travelling about the world, to increase religious knowledge and stimulate mankind to lift themselves up to the plane of a higher ideal than that of the work-a-day world.
Ngày hôm sau, đoàn chúng tôi đến thăm một người hết sức lạ lùng, một ẩn sĩ lõa thể đã kiên trì giữ im lặng suốt ba mươi năm qua. Trong suốt thời gian này, một gia đình chu cấp cho ông trong một túp lều nhỏ trong vườn của họ. Ông chỉ ăn khi bị bạn bè ép, và không phải lúc nào cũng vậy, vì việc ông nhịn bảy, tám hay mười ngày liền là chuyện thường. Ông bị chứng lác phân kỳ và đôi tay luôn mân mê không ngừng. Dù ông có thể làm gì trên cõi cảm dục, thì chắc chắn trên cõi này, ông chẳng hơn con vật ngủ đông là mấy; và khi chúng tôi đứng nhìn ông, tôi không thể không đem trường hợp của ông so với của Bà Besant, người với tất cả nhiệt thành tôn giáo [64] mà ông có thể có và với những hoài bão cao cả đối với tri thức tinh thần như ông có thể ấp ủ, lại đang sẵn lòng dồn xác thân mình đến mức căng thẳng tối đa trong những chuyến du hành vòng quanh thế giới, để tăng trưởng tri thức tôn giáo và kích động nhân loại tự nâng mình lên bình diện một lý tưởng cao hơn đời sống mưu sinh thường nhật.
In the afternoon Mrs. Besant lectured on “Adepts as Facts and Ideals,” and later in the evening the results of her two discourses were seen in the applications made to me by seven candidates for membership. On Thursday, the 30th, the last day of our visit, Mrs. Besant lectured at 7.30 a.m. in Porter Hall, on “Materialism,” and at 4 p.m., at the Vaishnava Temple, to three thousand people, on “Hinduism and Theosophy”. We left for Trichinopoly Junction at 6.52 p.m., and found at the station on arrival very comfortable rooms awaiting us. Early the next morning, on trollies and with porters carrying the luggage, we crossed a breach in the railway, just made by floods, and got to Erode at 5 p.m. At Karur, an intermediate station, our local members met us with supplies of tea, milk, fruits, and flowers. At most of the principal stations throughout India the railway companies have comfortable accommodations for travellers, including restaurants and bath-rooms; so that one does not fare badly when his itinerary causes him to stop at such places. It was so at Erode and, after an experience of hastily-procured bungalows, sometimes comfortless and sometimes uncleanly, we appreciated what we found at Erode and gladly occupied the clean beds.
Buổi chiều, Bà Besant thuyết giảng về “Các Chân sư như Sự kiện và Lý tưởng,” và sau đó vào buổi tối, kết quả của hai bài thuyết giảng của Bà hiển hiện qua bảy đơn xin gia nhập gửi đến tôi. Thứ Năm, ngày 30, ngày cuối của chuyến thăm, Bà Besant thuyết giảng lúc 7 giờ 30 sáng ở Porter Hall về “Chủ nghĩa duy vật,” và lúc 4 giờ chiều tại Đền Vaishnava trước ba nghìn người, về “Ấn giáo và Thông Thiên Học”. Chúng tôi rời ga Trichinopoly Junction lúc 6 giờ 52 chiều, và khi đến nơi, thấy những phòng rất tiện nghi chờ sẵn. Sáng sớm hôm sau, bằng xe đẩy tay và có phu khuân hành lý, chúng tôi vượt qua một đoạn đường sắt vừa bị lũ cuốn, và đến Erode lúc 5 giờ chiều. Ở Karur, một ga trung gian, các hội viên địa phương đón chúng tôi với trà, sữa, trái cây và hoa. Tại hầu hết các nhà ga chính khắp Ấn, các công ty đường sắt có chỗ nghỉ tiện nghi cho khách, gồm nhà hàng và buồng tắm; nên khi lộ trình buộc phải dừng ở những nơi như vậy, người ta cũng không đến nỗi cực. Ở Erode cũng thế, và sau những trải nghiệm tìm vội bungalow, lúc thì thiếu tiện nghi, lúc thì nhếch nhác, chúng tôi rất trân trọng những gì tìm thấy ở Erode và vui vẻ chiếm những chiếc giường sạch sẽ.
[65]
[65]
The lecture that evening was given in a schoolhouse and in the audience were members of our Society who had come from towns not included in our programme, to enjoy the pleasure of hearing our great speaker. The next day we moved on to Coimbatore and got there at 9.35 a.m. There was a tremendous rush to see us and we were swept off to our quarters in a jubilant procession in which Hindu and foreign music were alternately played by two bands. A nephew of the Countess W., a Nilgiri tea-planter, embraced the occasion to come and see his aunt for the first time in years. At 4 p.m. we visited a Hindu club and had music and refreshments. Two hours later Mrs. Besant lectured in the Town Hall on “Theosophy and Its Teachings”. The crowd was enormous, and the police with great difficulty cleared the compound and secured us comparative quiet. The whole Anglo-Indian community of the place, including the Collector, the highest civilian officer of Government in a Revenue District, attended. Later in the evening there was a meeting of our members. At 8 o’clock, the next morning, Sunday, December 3rd, Mrs. Besant gave her great lecture on “Materialism” and I admitted to membership several candidates. We left at 2.30 for Bangalore, travelling all night, changing trains at Jalarpet, and reaching our destination at 6 a.m. on Monday, very tired and dusty. We had nice receptions at the station and house, a large, spacious and well-furnished mansion. Bangalore is the great source of supply of European fruits to South Indian stations, its [66] climate and elevation of between two thousand and three thousand feet above sea-level being favorable to their culture. A great variety of luscious apples, figs, strawberries, black-caps, oranges, prunes, and bananas were brought us, and at no place visited did we receive a more hearty welcome. Mrs. Besant’s lecture was given in Mayo Hall, to a packed audience of the most cultured portion of the population, on “Theosophy and Ethics”. It was a splendid effort and provoked a storm of applause. Early in the day we drove around the big tank, now full after the recent rains.
Bài giảng tối hôm ấy diễn ra tại một trường học, và trong thính phòng có các hội viên của Hội từ những thành phố không nằm trong chương trình của chúng tôi đến để hưởng thú được nghe vị diễn giả lớn của chúng tôi. Hôm sau, chúng tôi đi tiếp đến Coimbatore, tới nơi lúc 9 giờ 35 sáng. Có một cuộc chen lấn ồ ạt để gặp chúng tôi, và chúng tôi được rước về nơi ở trong một cuộc rước tưng bừng, với hai ban nhạc chơi luân phiên—Ân giáo và ngoại quốc. Một người cháu trai của Bá tước phu nhân W., chủ đồn trà ở Nilgiri, nhân dịp này đến thăm cô mình lần đầu sau nhiều năm. Lúc 4 giờ chiều, chúng tôi thăm một câu lạc bộ Ấn giáo và có âm nhạc cùng giải khát. Hai giờ sau, Bà Besant thuyết giảng ở Tòa Thị chính về “Thông Thiên Học và Giáo lý của nó”. Đám đông khổng lồ, và lực lượng cảnh sát vất vả dọn sân và đảm bảo cho chúng tôi một sự yên tĩnh tương đối. Toàn bộ cộng đồng Anglo-Ấn tại nơi này, gồm cả Viên Tổng Đốc thu thuế (Collector), viên chức dân sự cao cấp nhất của Chính phủ trong một quận tài chính, đều tham dự. Tối đến có một cuộc họp của các hội viên chúng tôi. Lúc 8 giờ sáng hôm sau, Chủ nhật, 3 tháng 12, Bà Besant giảng bài lớn về “Chủ nghĩa duy vật” và tôi thu nhận mấy hội viên mới. Chúng tôi rời đi lúc 2 giờ 30 đến Bangalore, đi suốt đêm, đổi tàu ở Jalarpet, và tới nơi lúc 6 giờ sáng thứ Hai, rất mệt và phủ bụi. Chúng tôi được đón tiếp niềm nở ở ga và tại nhà, một dinh cơ lớn, thoáng và bày biện sang trọng. Bangalore là nguồn cung cấp lớn trái cây Âu châu cho các ga ở Nam Ấn, [66] khí hậu và cao độ từ hai đến ba nghìn foot so với mực nước biển thuận lợi cho việc canh tác. Nhiều loại trái thơm ngon như táo, sung, dâu, phúc bồn tử đen, cam, mận khô và chuối được đem đến cho chúng tôi, và không nơi nào chúng tôi đến mà nhận được sự chào đón nồng hậu hơn. Bài giảng của Bà Besant diễn ra tại Mayo Hall, trước một cử tọa chật kín gồm bộ phận có văn hóa cao nhất của dân cư, về “Thông Thiên Học và Đạo đức”. Đó là một nỗ lực tuyệt vời và gây nên cơn bão vỗ tay. Sớm trong ngày, chúng tôi đi xe vòng quanh hồ lớn, nay đã đầy nước sau những cơn mưa gần đây.
Warned by the size of her audiences, which not even the largest hall in Bangalore could accommodate, the Committee arranged for Mrs. Besant to speak out of doors the next morning. She spoke from a platform just large enough to accommodate us two, and as the weather was fine, a great concourse of people attended. The scene was so picturesque that the Committee had it photographed and a copy can be seen by visitors to Adyar. After the lecture she inspected two girls’ schools established by Rao Bahadur A. Narainswamy Mudaliar, a wealthy and public-spirited citizen. From 12 to 2 she received visitors and at 4 p.m. held a conversazione at the Bangalore Club, where she answered, in her inimitable style, a multitude of questions on philosophy and science. We finished the day with a visit to the Maharajah’s Palace. An excellent group photograph was taken at the Club, the second during the day, and a third, in which the group was exclusively composed of ourselves and the [67] members of the local Branch, was taken the next morning. At 4.30 p.m. on that day Mrs. Besant addressed a gathering of several thousand people in the large Crystal Palace in Lal Bagh, a lovely garden. It was a splendid picture for an artist. Her subject was “Theosophy and Science”. The late Dewan, Sir K. Sheshâdri Iyer, one of the greatest statesmen India has produced in modern times, returned thanks on behalf of the audience in an address broken by sobs which were caused by the pathos of her peroration: In the evening I admitted eighteen persons into membership. The next morning H.E. the Dewan called with other high officials of the State, who vied with each other in assurances of personal regard and affection for one who had shown as great a love as any Hindu could for their native country. Eleven more candidates were admitted by me, and at 3 p.m. we left by train for Bellary, a journey which took us all night.
Được cảnh báo bởi quy mô thính chúng, mà ngay cả hội trường lớn nhất Bangalore cũng không chứa nổi, Ủy ban sắp xếp cho Bà Besant diễn thuyết ngoài trời vào sáng hôm sau. Bà nói từ một bục chỉ vừa đủ cho hai chúng tôi đứng, và vì thời tiết đẹp, một đám đông lớn đã đến nghe. Khung cảnh rất nên họa, nên Ủy ban đã cho chụp hình lại và khách đến Adyar có thể xem một bản. Sau bài giảng, Bà đi thị sát hai trường nữ sinh do Rao Bahadur A. Narainswamy Mudaliar, một công dân giàu có và giàu tinh thần công ích, sáng lập. Từ 12 đến 2 giờ, Bà tiếp khách và lúc 4 giờ chiều tổ chức một buổi đàm đạo tại Câu lạc bộ Bangalore, nơi Bà, bằng phong cách vô song, trả lời vô số câu hỏi về triết học và khoa học. Chúng tôi kết thúc ngày bằng chuyến thăm Cung điện của Maharajah. Một tấm ảnh nhóm tuyệt hảo được chụp tại Câu lạc bộ, là tấm thứ hai trong ngày, và tấm thứ ba, chỉ gồm chúng tôi và [67] các hội viên của Chi bộ địa phương, được chụp vào sáng hôm sau. Lúc 4 giờ 30 chiều hôm đó, Bà Besant diễn thuyết trước vài nghìn người trong Cung Thủy Tinh lớn ở Lal Bagh, một khu vườn tuyệt mỹ. Đó là một bức tranh lộng lẫy cho họa sĩ. Đề tài là “Thông Thiên Học và Khoa học”. Vị cựu Dewan, Ngài K. Sheshâdri Iyer, một trong những chính khách vĩ đại nhất Ấn Độ sản sinh trong thời hiện đại, đã thay mặt khán giả bày tỏ lời cảm tạ bằng một bài nói bị đứt quãng bởi những tiếng nức nở, do bị kết từ bi cảm trong phần kết bài giảng của Bà làm xúc động: Buổi tối, tôi thu nhận mười tám người vào Hội. Sáng hôm sau, Ngài Dewan đến thăm cùng các quan chức cấp cao của Nhà nước, và họ thi nhau bày tỏ lòng quý trọng và mến yêu dành cho một người đã thể hiện tình yêu đối với quê hương của họ không kém bất kỳ người Ấn nào. Tôi thu nhận thêm mười một ứng viên nữa, và lúc 3 giờ chiều, chúng tôi lên tàu đi Bellary, một hành trình kéo dài suốt đêm.
At 10 o’clock, when we were all sound asleep, we were aroused at Penukonda station by our local Branch members, with a welcome accentuated with flowers, a supply of milk, and other refreshments. We reached Guntakul Junction at 7 a.m. and Bellary at 10. At the Junction, committees from Bellary, Gooty, and elsewhere greeted us, and Pandit Bhavani Shankar paid his respects to the ladies. At Bellary the Hon. A. Sabhapathy Mudaliar, F.T.S., read the address of welcome to Mrs. Besant and gave it to her in one of those carved sandalwood boxes for which Mysore is famous. A long procession with music took us to [68] the splendid house provided for us We were waited upon by many visitors throughout the afternoon and at 6.30 p.m. the “Theosophy and Materialism” lecture was given with an eloquence which Mrs. Besant had not previously attained. I lectured to boys at 7.30 the next morning and aided them to form a society and choose their officers. Among the throng of visitors who came to see her during the day, Mrs. Besant was waited upon by a number of Hindu ladies, who gave her every mark of affection and respect. She lectured magnificently that evening on “Death and Life after Death,” in fact, as she became more and more steeped in the tide of love which surrounded her as she moved on from place to place, she seemed on each successive occasion to be aroused to greater fervor.
Lúc 10 giờ, khi chúng tôi đang ngủ say, chúng tôi bị đánh thức ở ga Penukonda bởi các hội viên Chi bộ địa phương, với lời chào mừng kèm hoa, sữa và nhiều đồ tiếp đãi khác. Chúng tôi đến ga Guntakul Junction lúc 7 giờ sáng và Bellary lúc 10 giờ. Tại Junction, các ủy ban từ Bellary, Gooty và nơi khác chào đón chúng tôi, và Pandit Bhavani Shankar đến chào hai quý bà. Ở Bellary, Ngài A. Sabhapathy Mudaliar, F.T.S., đọc lời chào mừng Bà Besant và trao tặng Bà một trong những chiếc hộp gỗ đàn hương chạm trổ nổi tiếng của Mysore. Một đoàn rước dài với âm nhạc đưa chúng tôi đến [68] ngôi nhà lộng lẫy dành cho chúng tôi. Nhiều khách đến thăm suốt buổi chiều, và lúc 6 giờ 30, bài giảng “Thông Thiên Học và Chủ nghĩa duy vật” được trình bày với một mức độ hùng biện mà trước đó Bà Besant chưa từng đạt tới. Sáng hôm sau lúc 7 giờ 30, tôi giảng cho các em trai và giúp các em lập hội, bầu ban chức trách. Trong số đông khách đến gặp Bà trong ngày, có nhiều quý bà Ấn giáo, họ dành cho Bà mọi dấu hiệu của tình thân và sự tôn kính. Buổi tối, Bà thuyết giảng tuyệt hay về “Cái chết và Sự sống sau cái chết,” thật vậy, khi Bà càng ngày càng được tắm trong dòng thác ái mộ vây quanh Bà, từ nơi này qua nơi khác, thì dường như mỗi lần Bà đều bừng dậy một nhiệt lực lớn hơn.
The next day, Sunday, was a busy one. At 7.45 a.m. we were photographed; at 8 the lecture on “India and Modern Progress” was given; at 1, three Hindu ladies were admitted to membership; at 3, more than a dozen men; at 4 there was a garden party at Mr. Sabhapathy’s; later, we visited the Sanmarga Sabha, and in the evening there were more admissions into membership. After dinner we went to the station and slept there so as to be ready for an early train the next morning for Hyderabad, the Capital of the Nizam. We reached that picturesque city—one which, more than any other in India, offers a suitable framing for the tales of the Arabian Nights—at 8 p.m.: a breakdown of an engine beyond Raichur, having caused a detention of an hour. On arrival we were received by [69] Mr. Dorabji Dasabhoy, a venerable Parsi member, with Mr. Bezonji, another Parsi, and many other colleagues. We were housed at Bashir Bagh, a splendid palace of the late Sir Asman Jah, ex-Prime Minister of the Nizam. Among the other articles of luxury in the three gorgeous sitting-rooms, was an entire parlor suite of pure crystal, upholstered in costly satin, which had cost, I am afraid to say how many thousand rupees. The rooms were crowded with expensive articles of furniture, big and little, to such an extent that I told the ladies it looked more than anything else like a toy palace. The psychological effect of all this useless luxury, on myself, was oppressive, after having lived outside the world of fashion so many years and been accustomed to such simplicity of surroundings. It was a positive rest to retire to the plainly furnished room given me as an office.
Hôm sau, Chủ nhật, là một ngày bận rộn. Lúc 7 giờ 45 sáng, chúng tôi chụp ảnh; lúc 8 giờ, bài giảng “Ấn Độ và Tiến bộ Hiện đại” được trình bày; lúc 1 giờ, ba quý bà Ấn giáo được thu nhận; lúc 3 giờ, hơn mười vị nam nhân; lúc 4 giờ có tiệc vườn tại nhà Ông Sabhapathy; sau đó, chúng tôi thăm Sanmarga Sabha, và tối đến có thêm lễ thu nhận hội viên. Sau bữa tối, chúng tôi ra ga và ngủ tại đó để sẵn sàng cho chuyến tàu sớm hôm sau đi Hyderabad, Thủ phủ của Nizam. Chúng tôi đến thành phố hữu tình ấy—nơi, hơn bất kỳ nơi nào khác ở Ấn, xứng đáng làm khung cho những truyện Nghìn Lẻ Một Đêm—lúc 8 giờ tối: một chiếc đầu máy hỏng ở ngoài Raichur khiến chúng tôi bị chậm một giờ. Khi đến nơi, chúng tôi được [69] Ông Dorabji Dasabhoy, một hội viên Parsi cao niên đáng kính, cùng Ông Bezonji, một Parsi khác, và nhiều đồng sự khác ra đón. Chúng tôi được bố trí ở Bashir Bagh, một cung điện tráng lệ của cố Sir Asman Jah, cựu Thủ tướng của Nizam. Trong những thứ xa xỉ trong ba phòng khách lộng lẫy, có một bộ salon hoàn toàn bằng pha lê tinh khiết, bọc sa-tanh đắt tiền, mà tôi ngại nói nó tốn bao nhiêu nghìn rupee. Các phòng chật kín những món đồ nội thất đắt tiền, lớn nhỏ, đến mức tôi nói với các quý bà rằng nó giống hơn hết một cung điện đồ chơi. Tác động tâm lý của tất cả sự xa xỉ vô dụng này đối với riêng tôi thật nặng nề, sau bao năm sống ngoài thế giới hào nhoáng và quen với sự đơn sơ. Thật sự thấy thư thái khi lui về căn phòng bày biện giản dị dành cho tôi làm văn phòng.
CHAPTER VII—CHƯƠNG VII
THE CONVENTION OF 1893—ĐẠI HỘI NĂM 1893
(1893)—(1893)
HYDERABAD, the Territory of the Nizam, is the largest of the Protected States of India, nominally enjoying an independent sovereignty and having about as much as an Arab horse who is ridden on a curb bit. Its ruler, the Nizam, a title which means “Regulator of the State,” like all the other Protected Princes whose ancestors were kings, is allowed to do as he pleases until he pleases to do something which seems to jeopardise the welfare of his subjects and the stability of his State, when the military curb is tightened a little and the ruler is made to understand the difference between “protection” and “independence”. The territory covers an area of nearly 100,000 square miles, with a population of about ten or twelve millions. The government is Muhammedan but the majority of the people are Hindus. It was erected into a separate kingdom in 1512 by a Turkish adventurer, and in 1687 became a province of the Mogul empire. After passing through many exciting and military changes, in which, at times, the English and French participated, peace and [71] stability were finally secured by the military power of the East India Company, and since 1857 the State has been under the protection of the British authorities. The capital town, Hyderabad, to which our tour had now brought us, has a population of about a quarter of a million, mostly Muhammedans. Its walled area is crowded with buildings, among them some fine mosques and palaces surrounded by gardens of remarkable beauty. In the neighborhood there are large water tanks, one of which is twenty miles in circuit. Many of the streets are narrow and crowded with little shops in which, after the Eastern fashion, amidst squalid surroundings, are displayed goods of the richest and often the most artistic description. The Nizam maintains a small standing army, some of the regiments composed of Arabs and other wild warlike people, looking as though they had just been transplanted from the desert: a parade of these troops with the accompaniment of camels and elephants in the procession, is a most picturesque spectacle. I have been in no town in India which shows so little trace of a veneering of Western civilisation over Eastern picturesqueness: at the same time I have seen none in which I should care less to reside, for one can feel in its atmosphere the preponderance of influences of the physical, over those of the spiritual plane.
HYDERABAD, Lãnh thổ của Nizam, là bang lớn nhất trong các Quốc gia được Bảo hộ của Ấn Độ, trên danh nghĩa được hưởng chủ quyền độc lập, và có mức độc lập chừng như một con ngựa Ả Rập bị điều khiển bằng hàm thiếc. Vị quân chủ của bang, Nizam—tước hiệu có nghĩa là “Người Điều hành Quốc gia”—cũng như tất cả các Vị Thân vương được Bảo hộ khác mà tổ tiên từng là vua, được phép làm theo ý mình cho đến khi ý muốn ấy dường như làm phương hại đến phúc lợi thần dân và sự ổn định của bang; khi ấy chiếc hàm thiếc quân sự lại siết chặt đôi chút và vị quân chủ được cho hiểu sự khác nhau giữa “được bảo hộ” và “độc lập”. Lãnh thổ này bao trùm diện tích gần 100.000 dặm vuông, dân số khoảng mười đến mười hai triệu. Chính quyền là Hồi giáo nhưng đa số dân là Ấn giáo. Bang được dựng thành vương quốc riêng năm 1512 bởi một kẻ phiêu lưu Thổ Nhĩ Kỳ, và năm 1687 trở thành một tỉnh của đế quốc Môgul. Sau khi trải qua nhiều biến động quân sự và ly kỳ, trong đó đôi khi người Anh và người Pháp cũng tham dự, hòa bình và [71] ổn định cuối cùng được bảo đảm bởi sức mạnh quân sự của Công ty Đông Ấn, và từ năm 1857, Bang đặt dưới sự bảo hộ của nhà chức trách Anh quốc. Thủ phủ Hyderabad, nơi hành trình đưa chúng tôi tới lúc này, có dân số khoảng một phần tư triệu, phần lớn là Hồi giáo. Khu vực có tường thành chật kín công trình, trong đó có vài đền thờ Hồi giáo và cung điện đẹp, được bao quanh bởi những khu vườn đẹp lạ thường. Ở vùng phụ cận có những hồ chứa nước lớn, một hồ chu vi đến hai mươi dặm. Nhiều con phố hẹp và chen chúc những cửa tiệm nhỏ nơi, theo lối phương Đông, giữa cảnh bẩn thỉu nhếch nhác, người ta bày bán những món hàng giàu sang và thường rất nghệ thuật. Nizam duy trì một đạo quân thường trực nhỏ, vài trung đoàn gồm các chiến binh Ả Rập và các sắc dân hiếu chiến khác, trông như vừa được đem từ sa mạc tới: một cuộc duyệt binh với lạc đà và voi đi kèm trong đoàn rước là một cảnh tượng cực kỳ ngoạn mục. Tôi chưa thấy thành phố nào ở Ấn cho thấy ít dấu vết “lớp sơn” văn minh Tây phương phủ lên vẻ đẹp phương Đông như nơi đây; đồng thời tôi cũng chưa thấy nơi nào mình ít muốn cư trú hơn, vì có thể cảm được trong bầu không khí ấy sự lấn lướt của các ảnh hưởng thuộc bình diện vật chất so với những ảnh hưởng thuộc bình diện tinh thần.
On the morning after our arrival Mr. Dorabji drove with us through the city and took us to pay our respects to that good lady, the daughter of the late P. Iyaloo Naidu, whom the Society has every reason to hold in [72] honor. When I made the contract for the purchase of the Adyar property, it was Mr. Iyaloo Naidu who bought it of the former owner for me, and his widowed daughter who generously loaned a part of the purchase-money on the most liberal terms as regards interest. At 5.45 p.m. Mrs. Besant gave her first lecture at a public hall called Bashir Bagh, on “Theosophy versus Modern Science”. Her audience was mainly composed of Hindus and Europeans, Muhammedans as a rule not caring for lectures of our sort, nor being much in the habit of general reading. The next morning was devoted to the reception of visitors and to our usual desk-work. In the afternoon the lecture on “Death and Life after Death” was given at Secunderabad, the European civil and military suburb of the capital. The British Resident, Mr. Plowden, and the commanding Major-General Stewart, with their respective families, and many more Europeans, were present in the very large audience. The speaker treated her subject eclectically and with wise moderation, giving great satisfaction to all. On the next morning, Thursday, December 13th, we three—Mrs. Besant, Countess Wachtmeister, and myself—were photographed together and subsequently with a group of our local colleagues, in the palace garden. A T. S. meeting was held later and various candidates were admitted to membership. Our party visited a Sanskrit school at the palace of a Hindu Rajah, and on our way home called at the spacious house of Mr. Dorabji, who showed us every hospitality. In the evening at 5 p.m.
Sáng hôm sau khi đến nơi, Ông Dorabji đưa chúng tôi đi qua thành và dẫn đến thăm vị phu nhân đáng kính, con gái của cố P. Iyaloo Naidu, người mà Hội có mọi lý do để giữ trong [72] lòng tôn vinh. Khi tôi ký hợp đồng mua khu đất Adyar, chính Ông Iyaloo Naidu đã thay tôi mua lại của chủ cũ, và vị góa phụ là con gái của ông đã quảng đại cho vay một phần tiền mua với các điều kiện cực kỳ ưu đãi về lãi suất. Lúc 5 giờ 45 chiều, Bà Besant thuyết giảng đầu tiên tại một hội trường công cộng gọi là Bashir Bagh, về “Thông Thiên Học đối kháng Khoa học Hiện đại”. Cử tọa chủ yếu gồm người Ấn giáo và người Âu; người Hồi thường không quan tâm đến những bài thuyết loại này, cũng không mấy có thói quen đọc sách phổ thông. Buổi sáng hôm sau dành cho tiếp khách và công việc bàn giấy thường lệ của chúng tôi. Buổi chiều, bài giảng “Cái chết và Sự sống sau cái chết” được trình bày tại Secunderabad, khu ngoại ô dân sự và quân sự của thủ đô dành cho người Âu. Khâm sai Anh, Ông Plowden, và Thiếu tướng Stewart, Tư lệnh, cùng gia quyến của họ, và nhiều người Âu khác, đều có mặt trong một thính chúng rất đông. Người diễn giả trình bày đề tài một cách tổng hợp và chừng mực khôn ngoan, làm vừa lòng tất cả. Sáng hôm sau, thứ Năm, 13 tháng 12, ba chúng tôi—Bà Besant, Bá tước phu nhân Wachtmeister, và tôi—chụp ảnh chung, và sau đó chụp với một nhóm đồng sự địa phương trong vườn cung điện. Một cuộc họp của Hội T. S. diễn ra sau đó và nhiều ứng viên được thu nhận. Đoàn chúng tôi thăm một trường Sanskrit tại dinh của một vị Rajah Ấn, và trên đường về ghé thăm tòa nhà rộng rãi của Ông Dorabji, người đã tiếp đãi chúng tôi hết lòng. Buổi tối lúc 5 giờ,
[73]
[73]
Mrs. Besant lectured at Bashir Bagh on the subject “Is Man a Soul”. I never heard more strenuous applause than that which followed it. We left at 8 p.m. for Rajahmundry, a coast port on the Bay of Bengal. Many people thronged to see us off and we were quite loaded down with gifts of fruits and flowers.
Bà Besant thuyết giảng ở Bashir Bagh về chủ đề “Con người có phải là Linh hồn không”. Tôi chưa từng nghe tiếng vỗ tay nào rộn rã hơn thế. Chúng tôi lên đường lúc 8 giờ tối đi Rajahmundry, một cảng trên Vịnh Bengal. Rất nhiều người chen chúc đến tiễn và chúng tôi gần như bị “chất” đầy quà trái cây và hoa.
As I was sitting inside the railway carriage, a couple of Hindu gentlemen brought a person to introduce to me. He was a Hindu, but was dressed in a European suit so begrimed with oil and black stains that I knew in a moment he must be either an engine driver or an assistant; to make doubt impossible, he was wiping his oil hands with a bunch of cotton-waste. His sponsors presented him to me as a Brahmin quite familiar with Sanskrit literature and the person himself corroborated this and said he had looked forward to a meeting with me with great pleasure because of what I had done for his country. He then made me an offer which amused us all greatly: he said that he was the engine-driver in charge of this train and would regulate the speed to suit our pleasure; if we wanted to go fast or slow I had only to say so! Fancy the making of an offer of this sort, by the driver of a mail train in Great Britain, France, or Germany.
Khi tôi đang ngồi trong toa tàu, hai quý ông Ấn dẫn đến một người để giới thiệu với tôi. Anh ta là người Ấn, nhưng mặc một bộ Âu phục dơ dầu mỡ và đen nhẻm đến mức tôi biết ngay anh hẳn là lái đầu máy hoặc trợ thủ; để khỏi còn nghi ngờ, anh đang lau đôi tay dính dầu bằng một mớ bông phế. Hai người bảo trợ giới thiệu anh là một Bà-la-môn khá am tường văn học Sanskrit, và chính anh xác nhận điều đó, nói rằng anh mong được gặp tôi từ lâu, vì những gì tôi đã làm cho xứ sở của anh. Rồi anh đưa ra một đề nghị khiến chúng tôi ai nấy đều bật cười: anh nói anh là lái đầu máy phụ trách đoàn tàu này và sẽ điều chỉnh tốc độ tùy ý chúng tôi; nếu chúng tôi muốn đi nhanh hay chậm, tôi chỉ việc nói! Hãy thử tưởng tượng một đề nghị như vậy từ lái tàu của một chuyến tàu thư ở Anh, Pháp hay Đức.
We travelled all that night and all the next day until 8 p.m., when we reached our destination. A most picturesque-looking multitude, lit up by torches and fireworks, had gathered to await our arrival. One address was read to us in a pandal (palm-thatched shed) on the bank of the Godavery river, and another [74] en route through the city to our stopping-place, by representatives of the Vaishya (mercantile) community. The torch-lights borne at both sides of the procession threw into high relief the artistic and turbaned figures of the multitude and the fronts of the buildings; the whole forming a picture impossible to match in any Western country in these artistically degenerate days, when all the pretty costumes of the olden time have disappeared and are replaced by the vulgarly ugly dress of modern civilization. It is something really saddening to one with the least cultivated artistic sense to see this deadly monotony of ugly clothing in all the countries of the world, outside Asia.
Chúng tôi đi suốt đêm ấy và trọn ngày hôm sau cho đến 8 giờ tối mới đến nơi. Một đám đông đầy màu sắc, rực rỡ đuốc lửa và pháo hoa, đã tụ tập để chờ chúng tôi. Một bài chào mừng được đọc cho chúng tôi trong một pandal (nhà rạp lợp lá cọ) bên bờ sông Godavery, và một bài khác [74] trên đường qua thành đến nơi ở, do đại diện cộng đồng Vaishya (thương nhân) đọc. Ánh đuốc cầm hai bên đoàn rước làm nổi bật những dáng vẻ nghệ sĩ và khăn vấn của đám đông, cùng mặt tiền các tòa nhà; tất cả tạo một bức tranh không thể sánh ở bất kỳ nước phương Tây nào trong những ngày suy đồi về nghệ thuật này, khi mọi y phục đẹp đẽ thời xưa đã biến mất và bị thay thế bởi lối ăn mặc xấu xí tầm thường của văn minh hiện đại. Thật sự khiến người có chút cảm quan thẩm mỹ buồn lòng khi thấy cảnh đơn điệu chết người của y phục xấu xí ở khắp các xứ sở ngoài châu Á.
On Saturday the 16th, at 7.30 a.m., Mrs. Besant lectured at Museum Hall on “Theosophy and Science,” after which visitors thronged in upon her. I admitted fifteen candidates to membership and formed a new Branch of Vaishyas under the title of “The Gautama T.S.” At 6.30 p.m. her second lecture of the day was devoted to “The Inadequacy of Materialism”. On the next morning at 7.30 there was an address to students, by her, and I raised a fund for a Boys’ Library after she had finished her discourse. During the day members and inquirers were received at Amiruddeen’s Bungalow, our stopping-place. At 6.30 p.m. Mrs. Besant lectured on “Reincarnation in its Bearing on Social Problems,” after which we were escorted by a torchlight procession to the house-boat on which we were to continue our journey parallel, to the Coromandel Coast. We left on the morning of the 18th [75] for Bezwada where we arrived at 1.30 and stopped until 7.30 p.m. Bezwada is a small place and it was rather amusing, after the monster audiences which we had faced hitherto, to see Mrs. Besant giving a magnificent lecture on the subject of “Pilgrimages of the Soul,” in a lawyer’s office to an auditory numbering about seventy-five people. At the hour above-named we continued our journey, going by paddle-boat through two locks and across the Krishna river to what was then the terminus of the East Coast Railway. The great bridge, a noble engineering work which now spans that historic stream, was then in course of construction. We entered the train at the point above mentioned and travelled all night, the next day, and following night, reaching home, Adyar, on the morning of 20th December. Many friends met us at the station with handsome garlands and Adyar looked so charming that it is no wonder that it provoked the admiration of the ladies. For that matter, when is it not charming? Its beauties continually grow on one and from the terrace of the house, in whatever direction the eye turns, it sees nought but pictures of beauty.
Thứ Bảy, ngày 16, lúc 7 giờ 30 sáng, Bà Besant thuyết giảng tại Museum Hall về “Thông Thiên Học và Khoa học,” sau đó khách kéo đến thăm Bà tấp nập. Tôi thu nhận mười lăm ứng viên và thành lập một Chi bộ mới của cộng đồng Vaishya với danh xưng “The Gautama T.S.”. Lúc 6 giờ 30 chiều, bài giảng thứ hai trong ngày của Bà dành cho “Sự bất cập của chủ nghĩa duy vật”. Sáng hôm sau lúc 7 giờ 30, Bà có một bài nói chuyện với sinh viên, và sau khi Bà kết thúc, tôi gây quỹ cho một Thư viện Thiếu niên. Trong ngày, các hội viên và người tìm hiểu được tiếp tại Bungalow của Amiruddeen, nơi chúng tôi lưu trú. Lúc 6 giờ 30 tối, Bà Besant thuyết giảng về “Luân hồi và Tác động của nó lên các Vấn đề Xã hội,” sau đó chúng tôi được rước bằng đoàn rước đuốc đến thuyền nhà, nơi từ đó chúng tôi sẽ tiếp tục hành trình song song với bờ biển Coromandel. Chúng tôi rời đi vào sáng ngày 18 [75] hướng đến Bezwada, đến nơi lúc 1 giờ 30 và dừng lại đến 7 giờ 30 tối. Bezwada là một nơi nhỏ, và thật thú vị, sau những thính chúng khổng lồ mà chúng tôi đối mặt bấy lâu, khi thấy Bà Besant trình bày một bài thuyết giảng tuyệt vời về “Những cuộc hành hương của Linh hồn” trong văn phòng của một luật sư, trước khoảng bảy mươi lăm người nghe. Vào giờ kể trên, chúng tôi tiếp tục hành trình, đi bằng tàu bánh guồng qua hai âu thuyền và vượt sông Krishna đến điểm khi ấy là ga cuối của tuyến Đường sắt Miền Đông. Cây cầu lớn, một công trình kỹ thuật trác tuyệt bắc qua dòng sông lịch sử đó, khi ấy còn đang thi công. Chúng tôi lên tàu tại điểm nói trên và đi suốt đêm, cả ngày hôm sau và đêm kế tiếp, về đến nhà—Adyar—vào sáng ngày 20 tháng 12. Nhiều bạn bè đón chúng tôi ở ga với những tràng hoa đẹp, và Adyar hiện ra đẹp đến mức khiến các quý bà phải trầm trồ. Nói cho đúng, Adyar lúc nào chẳng đẹp? Vẻ đẹp của nó cứ lớn dần trong mắt người ta, và từ sân thượng tòa nhà, nhìn về hướng nào, mắt cũng chỉ thấy những bức tranh mỹ lệ.
The time being short before it would be necessary for Mrs. Besant to give all her attention to the preparation of her Convention Lectures, we proceeded at once to discuss with Mr. Sturdy, Countess Wachtmeister, and Messrs. Edge and Old, the points in the case of Mr. Judge as presented in the mass of documents which I had got together out of the Society’s archives. The case, even on that ex parte view, was convincing enough [76] as to his guilt in a long-continued and deliberate scheme to deceive his colleagues and the public about his alleged intimacy with the Masters and his holding of a brief, as we might say, from them, to convey messages and express their wishes with respect to the private conduct of members and the management of the Society. And yet it was made much stronger when we came to compare facts with Mrs. Besant, for it then became as clear as day that he had been playing a double game of deception, and telling her one thing and myself the opposite. In fact, the further we went into the inquiry, the blacker became the case, and a point was finally reached where no further doubt as to his culpability was possible. As Mrs. Besant said at the Convention of 1894, in a review of the circumstances—referring to these very conferences between us before [above noted: “I looked into the mass of evidence which was in the hands of Colonel Olcott, but which, taken by itself, while arousing the gravest suspicion, was not sufficiently clear, definite, and conclusive to justify Colonel Olcott, or Mr. Keightley, the Secretary of the Indian Section, in taking action which would commit the Society. But it happened that within my knowledge there were other facts unknown both to Colonel Olcott and Mr. Keightley, which made the evidence which was in their hands complete and so rendered it, to my mind at least, convincing. What I knew by myself was not enough for public action, and what they knew themselves was not enough for certain action, though that was [77] stronger than mine; but all put together made so strong a body of evidence that it became a duty to the Society that it should be placed before it, and that Mr. Judge, as its Vice-President, should be given an opportunity of definitely meeting the charges if he could, so that an end might be put to a position so painful to all concerned, and so dangerous to the reputation and the honor of the Society.”
Vì thời gian gấp trước khi Bà Besant phải dồn tâm trí chuẩn bị các Bài thuyết trình ở Đại hội, chúng tôi lập tức bàn bạc với Ông Sturdy, Bá tước phu nhân Wachtmeister, và các Ông Edge cùng Old, về những điểm trong vụ Ông Judge được trình bày trong khối tài liệu mà tôi đã thu thập từ văn khố của Hội. Vụ việc, dù chỉ nhìn từ một phía như thế, đã đủ sức thuyết phục [76] về tội lỗi của ông ta trong một kế hoạch cố ý kéo dài nhằm lừa dối các đồng sự và công chúng về mối thân quen được ông ta nói là có với các Chân sư, và về việc ông ta “nắm quyền ủy nhiệm”, có thể nói vậy, từ Các Ngài để truyền đạt thông điệp và bày tỏ ý muốn của Các Ngài liên quan đến hành vi cá nhân của hội viên và việc điều hành Hội. Và rồi vụ việc càng trở nên nặng nề hơn khi chúng tôi so chiếu sự kiện với Bà Besant, vì lúc đó sự thật sáng như ban ngày rằng ông ta đã chơi trò hai mang lừa dối, nói với Bà một đằng và với tôi một nẻo. Thực vậy, càng đi sâu vào điều tra, hồ sơ càng đen tối, và rốt cuộc đến một điểm không thể còn hoài nghi gì về lỗi lầm của ông nữa. Như Bà Besant nói ở Đại hội 1894, khi điểm lại tình huống—ám chỉ chính những buổi hội ý giữa chúng tôi trước đó [như đã nêu ở trên: “Tôi xem xét khối bằng chứng trong tay Đại tá Olcott, nhưng tự thân nó, dù gây nên mối nghi ngờ rất nghiêm trọng, cũng chưa đủ rõ, dứt khoát và có sức thuyết phục để biện minh cho Đại tá Olcott, hay Ông Keightley, Thư ký của Khu vực Ấn Độ, tiến hành những biện pháp có thể ràng buộc Hội. Nhưng tình cờ trong phạm vi hiểu biết riêng của tôi có những sự kiện khác mà cả Đại tá Olcott lẫn Ông Keightley đều không biết, khiến bằng chứng trong tay họ trở nên trọn vẹn và vì thế, chí ít là trong suy nghĩ của tôi, có sức thuyết phục. Điều tôi tự biết thì chưa đủ cho hành động công khai, và điều họ tự biết thì chưa đủ cho hành động dứt khoát, dù cái đó [77] còn mạnh hơn của tôi; nhưng gộp tất cả lại thì tạo nên một khối bằng chứng hùng mạnh đến mức trở thành một bổn phận đối với Hội là phải trình nó ra trước Hội, và Ông Judge, với tư cách Phó Chủ tịch của Hội, phải được trao cơ hội để đối mặt một cách dứt khoát với các cáo buộc nếu ông có thể, để chấm dứt một tình trạng vừa đau lòng cho tất cả những người liên can, vừa nguy hại cho thanh danh và danh dự của Hội.”
Having reached this point we were all of the opinion that Mr. Judge’s connection with the Society should cease, both as General Secretary of the American Section and as Vice-President of the whole Society. He was, moreover, President of the Aryan Branch, T.S., of New York, which had full right of jurisdiction in questions of the private conduct of its members. My official responsibility in such private cases does not become active until the case reaches me on appeal from the decision of the General Secretary of a Section, to whose notice it comes officially through the officers of the Branch itself. But with the cases of misconduct on the part of a General Secretary or a Vice-President I have very much to do and am called upon to act as the terms of our Constitution provide. The step which Mrs. Besant took when the whole case lay before us, was one of which I strongly disapproved, as I regarded it unwarrantable on her part. That she was led into it through her then intense personal friendship for our delinquent colleague did not seem to me to excuse her action: she not only wrote to Mr. Judge, as I did myself, advising him to resign office—a fully warranted [78] proceeding on her part—but, and here is where the irregularity comes in, she sent him a copy of every piece of documentary evidence on which the case rested, these documents being strictly in my custody and only usable with my knowledge and consent. Mrs. Besant’s motive was of the highest, that of helping a beloved friend in great difficulty, to see all the cards held by the prosecution. Is it not inconceivable that after her having given this supreme proof of her personal friendship to him, Mr. Judge should have turned upon her later, when he found that two of our three Sections were in favor of his expulsion, and have done all he possibly could to destroy her influence, blacken her character (for instance, by the charge of her using black magic to harm him) and discredit her as a teacher? Our line of action having been made clear to us, the matter rested for the moment until Mr. Judge’s reply as to his proposed resignation should be received.
Đã đi đến điểm này, tất cả chúng tôi đều đồng ý rằng mối liên hệ của Ông Judge với Hội nên chấm dứt, cả trên cương vị Tổng Thư ký Khu vực Hoa Kỳ lẫn Phó Chủ tịch toàn Hội. Vả lại, ông còn là Chủ tịch Chi bộ Aryan, T.S., ở New York, chi bộ có đầy đủ quyền tài phán trong những vấn đề về hành vi cá nhân của hội viên. Trách nhiệm chức vụ của tôi trong những vụ riêng tư như thế chỉ phát sinh khi vụ việc đến tay tôi theo đường kháng cáo từ quyết định của Tổng Thư ký một Khu vực, sau khi vụ ấy chính thức đến với ông qua các chức sắc của Chi bộ. Nhưng với các trường hợp lầm lỗi của một Tổng Thư ký hay một Phó Chủ tịch, tôi có rất nhiều điều phải làm và được kêu gọi hành động theo các điều khoản của Hiến chương chúng ta. Biện pháp mà Bà Besant đã tiến hành khi toàn bộ hồ sơ nằm trước mặt chúng tôi là điều tôi kiên quyết không tán đồng, vì tôi cho là không chính đáng về phía Bà. Việc Bà bị dẫn dắt đến đó do tình bạn cá nhân mãnh liệt khi ấy dành cho đồng sự lầm lỗi của chúng ta không khiến tôi thấy hành động ấy được biện minh: Bà không chỉ viết cho Ông Judge như chính tôi làm, khuyên ông từ chức—[78] một việc hoàn toàn chính đáng về phía Bà—mà, và đây là chỗ bất thường, Bà đã gửi cho ông một bản sao của từng mảnh bằng chứng tài liệu mà vụ việc dựa vào, những tài liệu này do tôi giữ nghiêm ngặt và chỉ được dùng với sự biết và cho phép của tôi. Động cơ của Bà là tối thượng: giúp một người bạn yêu quý trong cơn bĩ cực, để ông thấy tất cả các “quân bài” bên công tố. Thử hỏi có thể tưởng tượng được chăng rằng sau khi Bà đã trao bằng cớ tột bực của tình bạn cá nhân như vậy cho ông, Ông Judge lại có thể quay sang chống Bà về sau, khi ông nhận thấy hai trong ba Khu vực của chúng ta nghiêng về việc trục xuất ông, và đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại ảnh hưởng của Bà, bôi đen thanh danh Bà (chẳng hạn, bằng cáo buộc rằng Bà dùng hắc thuật để hại ông) và làm cho Bà mất uy tín như một giảng sư? Lộ trình hành động của chúng tôi đã rõ, sự việc tạm dừng ở đó cho đến khi nhận được trả lời của Ông Judge về đề nghị từ chức.
The Headquarters buildings now began rapidly filling up with delegates arriving from all parts of India. On the 21st (December) Mrs. Besant gave a public lecture at Victoria Town Hall on “The Dangers of Materialism,” to a vast and enthusiastic audience. On that day I received from Mrs. Higgins, of Colombo, her resignation of the Principalship of the Sanghamitta Girls’ School at Maradana, Colombo, in con-sequence of a disagreement between herself and the Executive Committee of the Women’s Educational Society of Ceylon. It may be remembered that, on [79] arrival in the Island and her election as Principal, I inducted her into office at a public meeting of the Women’s Society and made them pledge her that she should not be interfered with in her management of the institution. I did this because the women of Ceylon had never been associated together in any public work before, and as their domestic relations and house customs differed diametrically with those of Western women, I knew that it would be impossible for Mrs. Higgins to get on with these associated Sinhalese ladies unless she were given freedom of action. All had gone well for a time but, during my prolonged absence from the Island, their former wise policy was gradually changed and the result was this rupture.
Các tòa nhà Trụ sở lúc này bắt đầu nhanh chóng chật kín các đại biểu đến từ khắp Ấn Độ. Ngày 21 (tháng Mười Hai), Bà Besant thuyết giảng công khai tại Tòa Thị chính Victoria về “Những Hiểm họa của Chủ nghĩa duy vật,” trước một thính chúng đồ sộ và nồng nhiệt. Ngày hôm ấy, tôi nhận thư của Bà Higgins, ở Colombo, xin từ chức Hiệu trưởng Trường Nữ Sanghamitta tại Maradana, Colombo, do bất đồng giữa Bà và Ủy ban Chấp hành của Hội Nữ giới Giáo dục Tích Lan. Hẳn còn nhớ rằng, khi Bà đến Đảo và được bầu làm Hiệu trưởng, tôi đã làm lễ nhậm chức cho Bà trong một cuộc họp công khai của Hội Phụ nữ và khiến họ cam kết rằng Bà sẽ không bị can thiệp trong việc điều hành nhà trường. Tôi làm thế bởi phụ nữ Tích Lan trước đó chưa từng cùng nhau tham gia bất kỳ công việc công cộng nào, và vì quan hệ gia đình cùng sinh hoạt gia nội của họ khác hẳn với phụ nữ phương Tây, tôi biết rằng Bà Higgins sẽ không thể hòa hợp với các bà người Sinhala khi cùng làm việc, trừ phi Bà được tự do hành động. Mọi việc vẫn yên ổn một thời, nhưng trong thời gian tôi vắng mặt khỏi Đảo lâu ngày, chính sách khôn ngoan trước đây dần dần thay đổi và kết quả là sự rạn nứt này.
On the 23rd, Mrs. Besant held a conversazione in the Convention Hall at Headquarters, among her audience being several of the most influential leaders of Hindu society. It will be easily imagined what ability must have been displayed in the questions upon the most difficult problems of philosophy, metaphysics, science, and religion by men of such a high grade of intelligence as Sir Muttuswamy Iyer, a Judge of Her Majesty’s High Court,of Judicature, the Hon. V. Bashyam Iyengar, the leader of the native Bar, since knighted by the queen and raised to the Bench of the same Court, Hon. S. Subramania Iyer, to whom the same honors have also been given, Dewan Bahadur R. Raghoonath Row, one of the highest financial officers in Madras, and men of that stamp. I have attended many of these question-meetings and held [80] many myself in various countries, but have never heard these imposing themes so ably handled as I have in India. They are naturally skilled metaphysicians and logicians, an heredity behind them of an hundred generations having developed the acutest intelligence within these lines. And yet, among ten thousand high-class Brahmins one could hardly meet a single person capable of inventing the simplest of the ingenious contrivances for which patents are granted yearly in the United States and European Countries. These are the men who are lumped together in the mass of the population of India as “ignorant heathen” by returned Missionaries, when they go around begging for more money to carry on their hopeless religious propaganda.
Ngày 23, Bà Besant tổ chức một buổi đàm đạo tại Hội trường Đại hội ở Trụ sở, trong thính chúng có mặt mấy vị thủ lĩnh có ảnh hưởng nhất của xã hội Ấn giáo. Dễ hình dung được mức độ tài năng đã được phô diễn qua những câu hỏi về các vấn đề khó khăn nhất của triết học, siêu hình học, khoa học và tôn giáo, do những bậc trí giả như Ngài Muttuswamy Iyer, một Thẩm phán của Tòa Thượng thẩm thuộc hệ thống tư pháp của Nữ hoàng, Ngài V. Bashyam Iyengar, lãnh tụ của giới luật sư bản xứ, người sau đó được Nữ hoàng phong tước hiệp sĩ và cất nhắc vào ghế Thẩm phán của cùng Tòa, Ngài S. Subramania Iyer, người cũng được ban những vinh dự tương tự, Dewan Bahadur R. Raghoonath Row, một trong những quan chức tài chính cao cấp nhất ở Madras, và những bậc cùng hạng. Tôi đã dự rất nhiều những buổi vấn đáp như thế và tự mình chủ trì [80] nhiều buổi ở các nước khác nhau, nhưng chưa từng nghe những chủ đề uy nghi như vậy được xử lý tài tình như tôi đã nghe ở Ấn Độ. Họ vốn là những nhà siêu hình học và luận lý học thiện nghệ một cách tự nhiên, với di truyền của trăm thế hệ phía sau đã mài giũa trí tuệ sắc bén tột độ trên những đường hướng này. Thế mà, giữa mười ngàn Bà-la-môn thượng lưu, khó lòng gặp được một người có thể phát minh ra những dụng kế tinh xảo đơn giản nhất mà mỗi năm các nước Hoa Kỳ và Âu châu vẫn cấp bằng sáng chế. Ấy thế mà khi các giáo sĩ truyền giáo hồi hương đi khắp nơi xin tiền để tiếp tục cuộc vận động tôn giáo vô vọng của họ, họ gộp những bậc này chung vào khối dân cư Ấn Độ và gọi là “dân ngoại giáo ngu muội”.
On the next day I went to the station to receive Miss Henrietta Müller, the renowned woman-suffragist, coming from Bombay for the Convention. She was, then, quite full of a scheme for taking our Bombay Branch under a sort of tutelage and installing as its Manageress a Swedish-American lady member of our Society; she proposing to take rooms for her and the Branch in a desirable quarter of Bombay. Her idea was that the lady in question should receive European and other inquirers and help the Branch to launch out into a more active propaganda than they had hitherto made. It turned out, however, that they were not willing to be dry-nursed.
Ngày hôm sau, tôi ra ga đón Cô Henrietta Müller, nhà hoạt động quyền bầu cử cho phụ nữ lừng danh, từ Bombay đến dự Đại hội. Bấy giờ, Bà đang ấp ủ một đề án đặt Chi bộ Bombay của chúng ta dưới một dạng giám hộ nào đó và bổ nhiệm một nữ hội viên người Thụy Điển – Mỹ của Hội làm Nữ quản lý; Bà dự định thuê phòng cho bà ấy và cho Chi bộ ở một khu vực thuận tiện của Bombay. Ý của Bà là vị nữ hội viên ấy sẽ tiếp những người Âu và các người tìm hiểu khác, và giúp Chi bộ triển khai một hoạt động truyền bá tích cực hơn trước nay. Tuy nhiên, hóa ra họ không muốn bị nuông chiều giữ tay.
Daily the delegates arrived by battalions, all the rooms in the house were crowded, and Mrs. Besant’s [81] daily conversaziones were attended by large gatherings. She would sit on the floor, cross-legged, in the Hindu fashion, along with the others, on great carpets that I had had spread, and answer the hardest questions with a readiness and lucidity that was charming. The Convention met, of course, on the 27th as usual, at noon; but, at 8 a.m., Mrs. Besant gave the first of her course of four grand lectures on “The Building of the Cosmos,” the theme this morning being on the agency of sound, i.e., vibration, in the outworking of the grand scheme.
Mỗi ngày các đại biểu kéo đến từng đoàn, mọi phòng trong nhà đều chật ních, và các buổi đàm đạo [81] hằng ngày của Bà Besant quy tụ rất đông người dự. Bà thường ngồi dưới sàn, xếp bằng theo lối Ấn, cùng với mọi người, trên những tấm thảm lớn mà tôi đã cho trải sẵn, và trả lời những câu hỏi hóc búa nhất với sự nhanh nhạy và sáng rõ thật duyên dáng. Dĩ nhiên Đại hội nhóm vào ngày 27 như thường lệ, vào đúng ngọ; nhưng lúc 8 giờ sáng, Bà Besant khai giảng bài đầu tiên trong loạt bốn bài thuyết giảng lớn về “Sự Kiến Tạo Vũ trụ”, chủ đề sáng hôm ấy là tác lực của âm thanh, tức là rung động, trong tiến trình biểu hiện của đại đồ án.
Among the features touched upon in my Annual Address were the relationship of the E.S.T. to the Society, the activities of the year, a notice of the Chicago Theosophical Congress, a sketch of Mrs. Besant’s first Indian tour, the Gopalacharlu defalcation, my work for Buddhism in Ceylon and in connection with the acquirement of Buddha Gaya and the other usual matters. The year 1893 was one of exceptional activity and the results supremely important. In Europe, the United States, Australasia, India, Ceylon, and Burma, very extensive tours were made, scores of lectures delivered, forty-eight new Branches chartered, the Chicago Congress held, new Indian centre formed, and such like activity kept up in many countries through-out the twelve months. I laid great stress upon the question of the future direction of the Theosophical movement after my death, because as the Society swells every year and invades more and more previously unreached countries it is a growing question as to [82] what shall happen when the original and only President it has had shall be removed in the course of nature, and whatever successor may be chosen must come into the management under totally different conditions. I think that, as nearly ten years have come and gone since then, and the number of our charters issued has increased from 352 at the close of 1893 to 656 at the close of 1901, and will probably reach the figure of 700 by the end of the current year, I had better include in this historical narrative the opposing views of myself and of my respected colleague, Mr. Vice-President Sinnett, although his have been somewhat modified since that time and he has brought his own Branch, the London Lodge, within the European, now re-christened British Section. I quote from my address as follows:
Những điểm được tôi đề cập trong Diễn văn Thường niên gồm mối liên hệ của E.S.T. với Hội, các hoạt động trong năm, bản tin về Đại hội Thông Thiên Học Chicago, phác lược chuyến du hành Ấn Độ đầu tiên của Bà Besant, vụ tham ô của Gopalacharlu, công việc của tôi cho Phật giáo tại Tích Lan và liên quan đến việc giành được Buddha Gaya và các vấn đề thường lệ khác. Năm 1893 là một năm hoạt động đặc biệt sôi nổi và kết quả cực kỳ quan trọng. Ở châu Âu, Hoa Kỳ, Úc – Tân Tây Lan, Ấn Độ, Tích Lan và Miến Điện, đã có những chuyến đi rất rộng, hàng chục bài thuyết giảng được trình bày, bốn mươi tám Chi bộ mới được cấp điều lệ, Đại hội Chicago được tổ chức, một trung tâm Ấn Độ mới được thành lập, và những hoạt động tương tự được duy trì tại nhiều nước suốt mười hai tháng. Tôi nhấn mạnh nhiều vào câu hỏi về hướng đi tương lai của phong trào Thông Thiên Học sau khi tôi qua đời, vì khi Hội lớn dần lên mỗi năm và tiến vào ngày càng nhiều quốc gia trước đây chưa từng chạm tới thì câu hỏi ngày một lớn dần là [82] điều gì sẽ xảy ra khi vị Chủ tịch đầu tiên và duy nhất từ trước đến nay, theo lẽ tự nhiên, rời khỏi cõi đời, và bất kỳ người kế nhiệm nào được chọn cũng phải bước vào công việc quản trị trong những điều kiện hoàn toàn khác. Tôi nghĩ rằng, vì đã gần mười năm trôi qua từ dạo đó, và số điều lệ đã cấp của chúng ta tăng từ 352 vào cuối năm 1893 lên 656 vào cuối năm 1901, và có lẽ sẽ đạt con số 700 vào cuối năm hiện tại, tốt hơn là tôi nên đưa vào biên niên sử này những quan điểm đối lập của chính tôi và của vị cộng sự mà tôi kính trọng, Ngài Phó Chủ tịch Sinnett, tuy rằng những quan điểm của Ông kể từ đó đã phần nào thay đổi và Ông đã đưa Chi bộ riêng của mình, London Lodge, vào Khu bộ Âu châu, nay đổi tên thành Khu bộ Anh. Tôi trích từ bài diễn văn của mình như sau:
“Results yearly prove the wisdom of the plan of dividing the Society into Sections, and I hope in time to be able to extend it over the whole world. Australasia and New Zealand are almost ripe for it, and in time. I hope to find some competent person with the requisite leisure to re-organise the Buddhist Section in Ceylon. But for the formation of the American and European Sections, the tie between Headquarters and those distant parts of the world must have been ruptured before now. My endeavor has been from the first to build up a federal league on the basis of our Three Declared Objects which, while giving all members and Branches the greatest latitude of opinion and choice of work, should yet be a compact working entity, with [83] the welding together of its units by the bond of a strong common tie of mutual interest and clearly defined corporate policy. The chief Executive has already become in great part, and must ultimately be entirely, the mere official pivot of the wheel, the central unit of its life, the representative of its federative charter, the umpire in all intersectional disputes, the wielder of the Council’s authority. As I gave autonomy to each Section as it came into being, so I mean to treat each future one, believing that our common interests will best be guarded by local administrators. I abhor the very semblance of autocratic interference, but I equally detest that principle of nullification which drives people to try to subvert constitutions under which they have prospered and which have proved in practice well fitted to promote the general well-being. This feeling has made me resent at times what seemed attempts to make the Society responsible for special authorities, ideas, and dogmas which, however good in themselves, were foreign to the views of some of our members, and hence an invasion of their personal rights of conscience under our Constitution. As the official guardian of that instrument, my duty requires this of me, and I hope never to fail in it.
“Kết quả hằng năm chứng minh sự minh triết của kế hoạch chia Hội thành các Khu bộ, và tôi hy vọng đến lúc có thể mở rộng nó ra khắp thế giới. Úc – Tân Tây Lan gần như đã chín muồi cho việc ấy, và đến lúc, tôi hy vọng sẽ tìm được một người đủ năng lực và có thì giờ cần thiết để tổ chức lại Khu bộ Phật giáo ở Tích Lan. Nếu không có việc lập ra Khu bộ Hoa Kỳ và Khu bộ Âu châu, thì mối dây liên hệ giữa Trụ sở và những vùng xa ấy trên thế giới hẳn đã bị đứt đoạn từ lâu. Nỗ lực của tôi ngay từ đầu là xây dựng một liên đoàn theo mô hình liên bang dựa trên Ba Mục đích Đã Công Bố của chúng ta, sao cho, trong khi dành cho mọi hội viên và Chi bộ quyền tự do lớn nhất về ý kiến và chọn lựa công việc, nó vẫn là một thực thể làm việc chặt chẽ, với [83] sự hàn gắn các đơn vị của mình bằng mối dây chung mạnh mẽ của lợi ích hỗ tương và đường lối chính sách đoàn thể được xác định rõ ràng. Vị Hành pháp trưởng đã trở thành phần lớn, và cuối cùng ắt phải hoàn toàn trở thành, chiếc trục công vụ của bánh xe, đơn vị trung tâm của sự sống nó, đại diện cho điều lệ liên hiệp của nó, trọng tài trong mọi tranh chấp liên khu bộ, người nắm quyền uy của Hội đồng. Khi tôi trao quyền tự trị cho mỗi Khu bộ ngay khi nó thành hình, thì tôi cũng định đối đãi như vậy với mọi Khu bộ tương lai, tin rằng quyền lợi chung của chúng ta sẽ được bảo vệ tốt nhất bởi những nhà quản trị địa phương. Tôi ghê tởm ngay cả dáng vẻ của sự can thiệp độc đoán, nhưng tôi cũng ghét không kém cái nguyên tắc phủ vô hiệu khiến người ta cố gắng lật đổ những hiến chế dưới đó họ đã phát triển và đã chứng tỏ trong thực hành là rất thích hợp để thúc đẩy phúc lợi chung. Cảm thức này đã khiến tôi đôi lúc bất bình trước những điều xem ra là nỗ lực biến Hội chịu trách nhiệm cho những thẩm quyền đặc thù, quan niệm và giáo điều mà, dù tự thân tốt đẹp, lại xa lạ với quan điểm của một số hội viên chúng ta, và do đó là sự xâm phạm quyền lương tâm cá nhân của họ theo Điều lệ của chúng ta. Là người hộ trì chính thức văn kiện ấy, bổn phận buộc tôi phải làm vậy, và tôi hy vọng không bao giờ thất trách.
“My respected colleague, Mr. A. P. Sinnett, and a few others hold views quite different from my own upon the subject of T.S. solidarity. They think that, after my death: ‘No successor should be elected as head of the Society all over the world, but it should drift into an organisation which would be much better [84] adapted to the proportions the Society has now assumed... Control of the Presidential sort, as regards the Society as a whole, is an idea, in fact, that only be-longs to the infancy of such an organisation. Now that the movement has firmly taken root, it does not require that kind of nursing... At any given moment when the system... would be carried out—supposing that moment ever to arrive—the Presidents of the then existing, or chartered Lodges, would be the Parliament of the Society, and might have the opportunity of coming together in a conference once a year, at some time and place fixed by the General Secretary. Then it would be publicly notified that any bodies of people who, since the last period, had formed themselves into a Theosophical Lodge, could communicate with the General Council, and, if found to understand the ideas of our Society, be then and there recognised as having formed a new Lodge. Then the President of such a Lodge would take his place in the sectional Parliament or Council. The functions of the General Secretary would, of course, be reduced almost to a nullity, but the Presidents of Lodges could freely communicate amongst themselves, and if, from time to time, any co-operative action became desirable, could agree upon it.”
“Vị cộng sự mà tôi kính trọng, Ngài A. P. Sinnett, cùng một vài người khác giữ những quan điểm khá khác với tôi về vấn đề tính liên đới của T.S. Họ cho rằng, sau khi tôi qua đời: ‘Không nên bầu người kế vị làm người đứng đầu Hội trên toàn thế giới, mà Hội nên chuyển hóa dần thành một tổ chức sẽ [84] thích ứng tốt hơn với tầm vóc mà Hội nay đã đạt được... Kiểu kiểm soát theo lối Tổng thống, xét đối với toàn Hội, thực ra chỉ thuộc thời ấu trĩ của một tổ chức như thế. Nay phong trào đã bén rễ vững vàng, nó không cần kiểu nuôi dưỡng ấy... Ở bất cứ thời điểm nào khi hệ thống... sẽ được thực thi—giả sử thời điểm ấy có đến—thì các Chủ tịch của những Chi bộ đương thời, hay đã được cấp điều lệ, sẽ là Nghị viện của Hội, và có thể họp mặt trong một hội nghị mỗi năm một lần, vào một thời gian và địa điểm do Tổng Thư ký ấn định. Khi ấy sẽ có thông báo công khai rằng bất kỳ đoàn thể nào gồm những người, kể từ kỳ trước, đã tự kết thành một Chi bộ Thông Thiên Học, đều có thể liên lạc với Hội đồng Tổng, và nếu cho thấy họ hiểu các ý tưởng của Hội chúng ta, thì ngay tại đó sẽ được công nhận là đã lập thành một Chi bộ mới. Khi ấy Chủ tịch của Chi bộ như vậy sẽ giữ vị trí trong Nghị viện hay Hội đồng Khu bộ. Dĩ nhiên, các chức năng của Tổng Thư ký sẽ gần như bị giảm xuống mức vô hiệu, nhưng các Chủ tịch Chi bộ có thể tự do liên lạc với nhau, và nếu, đôi khi, cần có hành động hiệp lực nào, thì có thể thỏa thuận với nhau.’”
“While unconvinced of the superiority of this plan over the one in vogue, I have deemed it my duty to quote a few passages from a semi-private letter, that the views of a small group of able friends may be recorded at this stage of affairs. For my part, I cannot [85] see how a world-covering movement like ours could possibly be kept advancing without some official thread to string the beads of Sections and Branches upon, and without one general and various local central offices, from which official circulars and other documents should issue, a propaganda be directed, the results of Sectional and general conferences be communicated, and information of general interest be disseminated; one at which disputes might be decided and archives kept. The plan proposed seems to me one of segregation into units called Branches, of the fostering of exclusiveness, of the abandonment of the propagandist work whose fruits are the spread of the movement, of the destruction of the sense of moral responsibility to the Society as a whole, for industrious and altruistic work, of the sweeping away of our present constitutional limits; which keep the movement strictly within the lines of our Three Declared Objects, and of the rupture of the common tie of fraternity which makes every member feel a family interest in all that the Society does in every quarter of the globe. However, the plan is laid before you for your information and such consideration as it may deserve.”
“Trong khi chưa bị thuyết phục rằng kế hoạch này ưu việt hơn kế hoạch đang hành dụng, tôi vẫn coi là bổn phận trích dẫn vài đoạn từ một bức thư bán riêng tư, để quan điểm của một nhóm nhỏ bằng hữu xuất sắc được ghi nhận ở giai đoạn công việc hiện tại. Phần tôi, tôi không [85] thấy làm sao một phong trào phủ khắp thế giới như của chúng ta có thể được duy trì tiến bước nếu không có một sợi dây chính thức để xâu các hạt là những Khu bộ và Chi bộ, và nếu không có một văn phòng trung ương chung cùng nhiều văn phòng trung ương địa phương, nơi từ đó các thông tri và văn kiện chính thức khác được phát hành, công tác truyền bá được chỉ đạo, kết quả của các hội nghị toàn Khu bộ và toàn Hội được thông báo, và những tin tức có quan tâm chung được phổ biến; một nơi để các tranh chấp có thể được phân xử và lưu trữ hồ sơ. Kế hoạch được đề xuất đối với tôi có vẻ là một kế hoạch phân lập thành các đơn vị gọi là Chi bộ, dung dưỡng tính biệt lập, từ bỏ công tác truyền bá mà thành quả của nó là sự lan tỏa phong trào, tiêu hủy cảm thức trách nhiệm đạo đức đối với toàn Hội cho công việc cần cù và vị tha, quét sạch những giới hạn hiến định hiện nay của chúng ta; những giới hạn giữ cho phong trào nằm nghiêm ngặt trong đường hướng của Ba Mục đích Đã Công Bố, và cắt đứt mối dây huynh đệ chung khiến mỗi hội viên cảm thấy lợi ích gia đình trong mọi điều Hội làm ở mọi góc của địa cầu. Dù sao, kế hoạch được đặt trước quý vị để quý vị nắm thông tin và dành cho nó sự cân nhắc mà nó đáng được.”
The ten years of additional experience has only confirmed me in the opinion I then expressed, and I am now satisfied that the Society will incur the risk of being divided up into fragmentary societies equal to the number of Sections that may exist at the time of my death, if the present excellent and very practical scheme of administration should be abandoned. I [86] cannot see for one moment how it could be dispensed with, and to my mind, the only real problem is to find a person for President who will administer his office with strict impartiality as between nations, sects, and political systems. He must live at Adyar, develop the library, keep up The Theosophist, push on the educational work, now so prosperous, in Ceylon and Southern India, and be ready to visit all parts of the world as occasion shall require, to weave the outlying Sections into the great golden web of brotherhood whose centre and nucleus is at Adyar.
Mười năm kinh nghiệm bổ sung chỉ củng cố nơi tôi ý kiến mà khi ấy tôi đã bày tỏ, và giờ đây tôi tin chắc rằng Hội sẽ phải gánh rủi ro bị chia nhỏ thành những hội rời rạc bằng với số Khu bộ có thể tồn tại vào lúc tôi qua đời, nếu kế hoạch quản trị hiện nay, vốn tuyệt hảo và rất thực tế, bị từ bỏ. Tôi [86] không thấy một khoảnh khắc nào có thể bãi bỏ nó, và theo thiển ý tôi, vấn đề thực sự duy nhất là tìm một người làm Chủ tịch sẽ điều hành chức vụ của mình với sự vô tư nghiêm ngặt giữa các quốc gia, tông phái và hệ thống chính trị. Ông phải sống ở Adyar, phát triển thư viện, duy trì The Theosophist, thúc đẩy công tác giáo dục—nay rất phồn thịnh—ở Tích Lan và Nam Ấn, và sẵn sàng đi thăm mọi nơi trên thế giới khi thời thế đòi hỏi, để dệt những Khu bộ xa xôi vào tấm lưới vàng của tình huynh đệ có trung tâm và hạt nhân ở Adyar.
Over four hundred delegates were fed at the Brahmin kitchens at the headquarters on the opening day and the Convention was the largest ever held up to that time. On the second day the Annual Group photograph was taken, after which Mrs. Besant gave her second lecture on Fire as one of the elements in the building of the Kosmos. At noon the Society’s Convention re-assembled, and after the close of the session the Convention of the Indian Section followed. At 5 p.m. the Eighteenth Anniversary of the Society was celebrated in Victoria Town Hall before a monster audience. The speakers on the occasion were Messrs. Raghoonath Row, N. D. Khandalavala, Purunendu Narayana Sinha, the Countess Wachtmeister, Mrs. Besant, and myself. The morning lecture on the 29th was on “Yoga” and that on the 30th, the last of the course, on “Symbolism”. The sessions of the Society and the Indian Section closed on the 29th. At 5.30 p.m. the late Mr. Sivasankara Pandiyaji lectured and [87] Mrs. Besant kindly gave an extra lecture in the evening at 8.30 on “Karma,” a superb argument. The house began rapidly emptying after the morning lecture of the 30th. Mrs. Besant, Miss Müller and I went to a reception by Hindu ladies and gentlemen at the house of Rajah T. Rama Row, in Triplicane, where Mrs. Besant answered, with inspiration, questions about the use of Temples, Vedic Fire, Mantrams and the symbology of the Puranic story of the churning of the ocean by the Suras and Asuras. By the morning of the 31st the house was nearly empty. Mr. Sturdy, Miss Müller, and others left, and Mrs. Besant, the Countess, and I indulged ourselves with the pleasure of a drive along the superb Marina.
Hơn bốn trăm đại biểu được thết đãi tại các bếp của người Bà-la-môn ở Trụ sở vào ngày khai mạc và đó là Đại hội lớn nhất từng tổ chức cho tới thời điểm ấy. Ngày thứ hai chụp Ảnh Nhóm Thường niên, sau đó Bà Besant trình bày bài thuyết giảng thứ hai về Lửa như một trong các nguyên tố trong công cuộc kiến tạo Vũ trụ. Đến trưa, Đại hội của Hội lại tái nhóm, và sau khi bế mạc phiên họp thì Đại hội của Khu bộ Ấn Độ nối tiếp. Lúc 5 giờ chiều, Kỷ niệm Lần thứ Mười tám của Hội được cử hành tại Victoria Town Hall trước một thính đường khổng lồ. Diễn giả hôm ấy là các Ông Raghoonath Row, N. D. Khandalavala, Purunendu Narayana Sinha, Bá tước phu nhân Wachtmeister, Bà Besant và tôi. Bài thuyết giảng buổi sáng ngày 29 là về “Yoga” và ngày 30, bài cuối của loạt, về “Biểu tượng học”. Các phiên họp của Hội và của Khu bộ Ấn Độ kết thúc vào ngày 29. Lúc 5 giờ 30 chiều, cố Ông Sivasankara Pandiyaji thuyết giảng và [87] buổi tối 8 giờ 30, Bà Besant vui lòng thuyết giảng thêm về “Nghiệp”, một lập luận tuyệt diệu. Nhà bắt đầu vắng nhanh sau buổi thuyết giảng sáng ngày 30. Bà Besant, Cô Müller và tôi dự một buổi tiếp tân của các quý bà và quý ông Ấn giáo tại tư dinh của Rajah T. Rama Row ở Triplicane, nơi Bà Besant, đầy cảm hứng, trả lời những câu hỏi về công dụng của Đền, Hỏa Vệ Đà, mantram và biểu tượng học của tích Puranic về chuyện các Sura và Asura khuấy biển. Sáng ngày 31, nhà gần như trống. Ông Sturdy, Cô Müller và những người khác rời đi, còn Bà Besant, Bá tước phu nhân và tôi thì tự thưởng cho mình thú vui dạo xe dọc bãi biển Marina tráng lệ.
CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII
MRS. BESANT’S TOUR IN BENGAL—CHUYẾN DU HÀNH CỦA BÀ BESANT Ở BENGAL
(1894)
ON New Year’s day, at 4.30 p.m., Mrs. Besant lectured in the open air from a temporary platform on the Esplanade, Madras, to some six thousand people, on “India”. It was a most eloquent address and immensely applauded. Our headquarters being at a distance of over five miles from the Town Hall, is not easy to reach for those who have no money to pay for vehicles; or rather I should say, it was not at the time of which I write: since then an electric tram line has been opened as far as Royapettah, which brings such visitors within three miles. The immense audience, largely composed of the class above mentioned, is thus accounted for.
Vào ngày đầu năm mới, lúc 4 giờ 30 chiều, Bà Besant thuyết giảng ngoài trời từ một bục tạm tại Esplanade, Madras, trước chừng sáu ngàn người, về đề tài “Ấn Độ”. Đó là một bài diễn thuyết cực kỳ hùng biện và được hoan nghênh nồng nhiệt. Trụ sở của chúng ta ở cách Tòa Thị chính hơn năm dặm, nên không dễ đến đối với những ai không có tiền trả xe cộ; hay đúng hơn, tôi nên nói, vào thời điểm tôi đang chép: từ đó đến nay một tuyến xe điện đã mở đến tận Royapettah, đưa khách đường xa đến trong phạm vi ba dặm. Khối thính chúng khổng lồ, phần lớn thuộc hạng vừa nói trên, vì thế được giải thích.
At five o’clock the next day, a party consisting of Mrs. Besant, the late Mrs. Batchelor, Messrs. Edge, Bhavani Shankar, P. D. Khan and myself left in two canal-boats and with three servants, for a picnic to Mahabalipuram, the site of the ruins of the rock-cut temple city so famous in the history of Indian Archæology. We slept aboard the boats, reached the place [89] at 8 a.m. the following morning (Wednesday the 3rd), had early breakfast (Choda Hazri) at the fine Government Rest House and then visited the ruins. A Western person, especially an American, who is accustomed to nothing but the newest of things, is profoundly impressed by the sight of these temples, huge cars and elephants and other figures of life-size, carved out of the living rock, and especially when they have been brought to partial ruin by the action of the elements or the violence of man through many centuries, the sense of their antiquity becomes overpowering. Gradually the sea has encroached upon that part of the coast, so that what was once a stretch of arable fields and a collection of numberless dwellings is now but too near the point where, alike many another city throughout the world, they will be engulfed by Ocean and nought preserved of them but their names in history. Returning to the Rest House, we had luncheon and I then began writing one of the chapters of my “Old Diary Leaves,” while Mrs. Besant went with the rest of the party to see other ruins. At 4.30 p.m, we re-embarked and journeyed homeward all night. The primitiveness and discomfort of our boats were an amusing feature of the excursion. There being no deck in the hold we stretched our blankets on the bottom-planking between the boat’s ribs, each of us lying on the slant. There was a half-ruinous roof overhead and for protection against the weather curtains of gunny-cloth so dirty and dilapidated as to be fit for a conspicuous place in historical Rag Fair. However, with easy consciences and [90] somewhat weary bodies, all minor troubles were forgotten; so we slept straight through the night, as we were poled over the shallow water of the Buckingham Canal, reaching Adyar at 11 on Thursday morning. That being Foreign Mail day we all had enough to do until it was time to go into town for Mrs. Besant to give her last lecture in Madras during the present tour, in Victoria Town Hall; her subject was: “The Insufficiency of Materialism”.
Vào lúc 5 giờ chiều hôm sau, một nhóm gồm Bà Besant, cố Bà Batchelor, các Ông Edge, Bhavani Shankar, P. D. Khan và tôi, cùng ba gia nhân, khởi hành trên hai chiếc thuyền kênh để đi dã ngoại đến Mahabalipuram, nơi phế tích của thành phố đền đục đá nổi tiếng trong lịch sử Khảo cổ học Ấn Độ. Chúng tôi ngủ trên thuyền, tới nơi [89] lúc 8 giờ sáng hôm sau (thứ Tư mồng 3), dùng bữa sáng sớm (Choda Hazri) tại Nhà Nghỉ Chính phủ khang trang rồi đi thăm phế tích. Một người phương Tây, nhất là người Mỹ, vốn quen chỉ với những thứ mới nhất, sẽ bị ấn tượng sâu sắc khi thấy những ngôi đền, những cỗ xe và voi khổng lồ cùng các tượng khác kích thước như thật, được đục ngay trên đá gốc; nhất là khi chúng bị tàn phá một phần bởi tác động của các yếu tố tự nhiên và bạo lực của con người suốt nhiều thế kỷ, cảm thức về cổ xưa của chúng trở nên áp đảo. Dần dần biển đã lấn vào dải bờ ấy, đến nỗi nơi từng là cánh đồng canh tác và là tụ cư của vô số nhà cửa nay đã quá gần điểm mà, như bao thành phố khác trên thế giới, chúng sẽ bị Đại dương nuốt chửng và chẳng còn gì ngoài tên gọi trong sử sách. Trở về Nhà Nghỉ, chúng tôi dùng bữa trưa và rồi tôi bắt đầu viết một chương trong “Old Diary Leaves” của mình, còn Bà Besant cùng các bạn đi xem những phế tích khác. Lúc 4 giờ 30 chiều, chúng tôi lên thuyền trở lại và đi suốt đêm về nhà. Tính nguyên sơ và bất tiện của thuyền bè là một nét thú vị của chuyến đi. Vì khoang thuyền không có sàn, chúng tôi trải chăn trên những tấm ván đáy giữa các sườn thuyền, ai nấy nằm trên dốc nghiêng. Phía trên là mái che nửa sụp và để tránh mưa gió thì có rèm bằng vải bố đay bẩn thỉu và tả tơi đến mức xứng đáng có chỗ nổi bật ở một Chợ Rách lịch sử. Tuy nhiên, với lương tâm thanh thản và [90] thân xác đôi phần mỏi mệt, mọi phiền toái nhỏ đều quên bẵng; thế là chúng tôi ngủ thẳng một mạch suốt đêm, trong lúc thuyền được đẩy sào qua làn nước nông của Kênh Buckingham, tới Adyar lúc 11 giờ sáng thứ Năm. Do là ngày Thư Ngoại quốc, tất cả chúng tôi đều bận rộn cho đến giờ vào phố để Bà Besant thuyết giảng bài cuối cùng ở Madras trong chuyến này, tại Victoria Town Hall; đề tài là: “Sự Bất Cập của Chủ nghĩa Duy vật”.
On Friday afternoon I escorted Mrs. Besant and Mrs. Batchelor to the house of Dewan Bahadur Ragoonath Row, where a question meeting of Hindu ladies was held. The next day, on receipt of a cable from Ceylon, I notified the two Buddhist Bhikshus of the Râmanya Nikâya, who had attended the Convention, that they were recalled, and sent them off. On Sunday, the 7th, with Mrs. Besant, Countess C. W. and Bhavani, I sailed for Calcutta in the P. & O. steamer “Peshawar”.
Chiều thứ Sáu, tôi tháp tùng Bà Besant và Bà Batchelor đến nhà của Dewan Bahadur Ragoonath Row, nơi diễn ra một buổi vấn đáp của các quý bà Ấn giáo. Hôm sau, nhận được điện từ Tích Lan, tôi thông báo cho hai vị Tỳ kheo thuộc Râmanya Nikâya, những vị đã dự Đại hội, rằng các Ngài được triệu hồi, và tôi đã tiễn các Ngài lên đường. Chủ nhật mồng 7, cùng với Bà Besant, Bá tước C. W. và Bhavani, tôi lên tàu hơi nước “Peshawar” của hãng P. & O. đi Calcutta.
Leaving the party to receive the farewell greetings of friends and settle themselves in their cabins, let me go back a little and redeem a promise made in my chapter IV, in the issue of The Theosophist for November, 1901. As will be remembered, it was therein stated that just before daybreak on the 10th of February, 1892, I received clairaudiently a very important message from my Guru telling me, among other things, that a messenger from him would be coming and I must hold myself in readiness to go and meet him. Nothing more than this was said, neither [91] the name of the person nor the time of his or her arrival being indicated. In the absence of exact information, I jumped to the conclusion that the most likely person to be sent would be Damodar who, after a residence of seven years in Tibet would, presumably, and judging from his state of psychical development when he left us, be ready to carry out the Master’s order in cooperation with myself. This surmise was communicated by me to the few friends whom I had told about the message, and I kept a travelling-bag packed a full year-and-a-half, so as to be ready to start at a moment’s notice for Darjeeling, the hill station from which Damodar went to Tibet and where he had left his box of clothes. Nothing more having been heard of the matter I had, naturally, come to think that I had, perhaps, been deceived as to the terms of the message and, finally, the preliminary arrangements for the projected tour of Mrs. Besant had driven the matter entirely out of my mind. So things remained until the early morning after our arrival at our third Indian station, viz., Trichinopoly, when the familiar voice again spoke as I lay in that state between sleeping and waking, and said: “This is the messenger whom I told you to be ready to go and meet: now do your duty.” The surprise and delight were such as to drag me at once into the state of waking physical consciousness and I rejoiced to think that I had once more received proof of the possibility of getting trustworthy communications from my Teacher at times when I could not suspect them of being the result of [92] auto-suggestion. The development of Mrs. Besant’s relations with our work in India have been, moreover, what, to me, is the best possible evidence that she is, indeed, the agent selected to fructify the seeds which had been planted by H. P. B. and myself during the previous fifteen years. She has swept away all vestiges of the mistrust as to our mission in India, such as was entertained by the great body of orthodox Brahmins, who looked on my colleague and myself as in fact secret agents for a Buddhist propaganda and the would-be destroyers of Hinduism.
Tạm để nhóm lại nhận lời tiễn biệt của bằng hữu và thu xếp trong cabin, cho phép tôi quay lại một chút và giữ lời hứa trong chương IV của tôi, số The Theosophist tháng 11 năm 1901. Như đã nhớ, trong đó nói rằng ngay trước bình minh ngày 10 tháng Hai năm 1892, tôi đã nhận được theo lối thông nhĩ một thông điệp rất quan trọng từ Đạo sư của tôi, cho biết, trong những điều khác, sẽ có một sứ giả từ Ngài đến và tôi phải sẵn sàng lên đường đi gặp. Không nói gì hơn, cũng không cho biết [91] tên người hay thời điểm người ấy đến. Thiếu thông tin chính xác, tôi đã nhảy đến kết luận rằng người có nhiều khả năng được cử đến nhất sẽ là Damodar, người sau bảy năm sống ở Tây Tạng, suy theo mức độ phát triển tâm linh của ông khi rời chúng tôi, hẳn đã sẵn sàng để thực thi mệnh lệnh của Chân sư trong sự phối hợp với tôi. Tôi đã nói phỏng đoán này với vài người bạn mà tôi kể về thông điệp, và tôi luôn để sẵn một túi hành lý cả năm rưỡi trời, để có thể lên đường tức khắc đến Darjeeling, trạm sơn cước nơi Damodar đi Tây Tạng và nơi ông để lại rương áo quần. Vì không nghe thêm gì về việc ấy nên tự nhiên tôi nghĩ có lẽ mình đã bị lầm về các điều khoản của thông điệp, và rốt cuộc, những sắp xếp sơ bộ cho chuyến du hành dự kiến của Bà Besant đã khiến việc ấy hoàn toàn trôi khỏi tâm trí tôi. Mọi chuyện vẫn như thế cho đến sáng sớm sau khi chúng tôi đến trạm Ấn Độ thứ ba, tức Trichinopoly, khi giọng quen thuộc lại cất lên lúc tôi đang ở trạng thái giao giữa ngủ và thức, và nói: “Đây là sứ giả mà Ta đã bảo con phải sẵn sàng lên đường gặp: giờ hãy làm bổn phận của con.” Niềm kinh ngạc và hân hoan mạnh đến nỗi kéo tôi lập tức về trạng thái tỉnh thức trên cõi vật chất, và tôi mừng rỡ nghĩ rằng mình một lần nữa nhận được bằng chứng về khả năng lĩnh những thông tri đáng tin cậy từ Vị Thầy của mình vào những lúc tôi không thể nghi ngờ chúng là kết quả của [92] sự tự ám thị. Sự phát triển mối liên hệ của Bà Besant với công việc của chúng ta ở Ấn Độ, hơn nữa, theo tôi, là bằng chứng tốt nhất rằng quả thật Bà là tác viên được chọn để làm kết quả những hạt giống mà H. P. B. và tôi đã gieo suốt mười lăm năm trước đó. Bà đã quét sạch mọi tàn dư của sự ngờ vực đối với sứ mệnh của chúng ta ở Ấn Độ, kiểu như đã được đại đa số Bà-la-môn chính thống ôm giữ, những người xem đồng nghiệp của tôi và tôi như là gián điệp bí mật làm công cho một cuộc vận động Phật giáo và là những kẻ muốn hủy diệt Ấn giáo.
The horoscope of Mrs. Besant, cast by Sepharial (Mr. Old), then a resident at our headquarters and a member of my staff, was published in The Theosophist for January, 1894, viz., when she was making her first Indian tour. It appears from that that she was born when the sign Aries 1° 40/ was rising, and Mr. Old gives a very lucid analysis of the character of a person born under such circumstances. But, as every student of astrology knows, a horoscope, to be worth anything, must analyse the combined influences of the various planets which modify the peculiar charac-teristics of the natal sign. Proceeding according to this method, Sepharial traces out, so to say, these focal influences and forms the following deduction:
Lá số của Bà Besant, do Sepharial (Ông Old) lập, khi ấy đang cư trú tại Trụ sở của chúng ta và là một thành viên trong ban của tôi, được đăng trên The Theosophist số tháng 1 năm 1894, tức lúc Bà đang thực hiện chuyến du hành Ấn Độ đầu tiên. Từ đó cho thấy Bà sinh khi dấu hiệu Bạch Dương 1°40’ mọc, và Ông Old đưa ra một phân tích rất sáng sủa về tính cách của người sinh dưới hoàn cảnh như vậy. Nhưng, như mọi học viên chiêm tinh đều biết, một lá số, để đáng giá, phải phân tích các ảnh hưởng hợp lưu của những hành tinh khác nhau vốn biến cải đặc tính riêng của dấu hiệu sinh. Theo phương pháp này, Sepharial lần theo, có thể nói vậy, các ảnh hưởng hội tụ và rút ra kết luận sau:
“The remarkable features in the present horoscope are the presence of no less than six of the eight planets in cardinal signs, and the presence of cardinal signs of the angles of the figure. The latter circumstance [93] confers upon the subject a reputation which will outlast life; a fame which will be widespread in proportion to the concurrence of other significations in the horoscope. And in this case we find the circumstance amply confirmed by the singular feature first mentioned. The majority of the planets being in cardinal signs denotes activity, aptitude, business capacity of the foremost order, nimbleness, ambition, perseverance. It gives a tendency to reforms and active administrations; makes the native fond of politics, foremost in his village, town, or even country, in social affairs and matters relating to the government of the people. It gives great executive ability; the power to overcome obstacles and to cut out a line of life for oneself; courting responsibility, active in the pursuit of one’s objects, capable of command and leadership; yet often impetuous, forcing one’s own way regardless of existing law and order; quick to anger but soon pacified; eager in intellect, acute in perception, apprehensive; fond of debate.
“Những nét đặc thù đáng chú ý trong lá số hiện tại là có đến sáu trong số tám hành tinh nằm trong các dấu hiệu chủ yếu, và có mặt các dấu hiệu chủ yếu ở các góc của đồ hình. Hoàn cảnh sau [93] ban cho đương số một danh tiếng sẽ vượt quá một đời người; một tiếng tăm sẽ lan rộng tùy tương ứng với sự cộng hợp của các chỉ thị khác trong lá số. Và trong trường hợp này, ta thấy hoàn cảnh ấy được xác nhận đầy đủ bởi nét dị thường đầu tiên vừa nêu. Đa số hành tinh thuộc các dấu hiệu chủ yếu biểu thị tính năng động, thích ứng, năng lực làm ăn bậc nhất, lanh lợi, tham vọng, bền chí. Nó tạo khuynh hướng cải cách và quản trị năng động; khiến đương số ưa chính trị, nổi trội trong làng xóm, thị trấn, hay thậm chí quốc gia, trong các sinh hoạt xã hội và các vấn đề liên quan đến việc quản trị dân chúng. Nó ban năng lực điều hành lớn; khả năng vượt chướng ngại và tự mở lối sống cho mình; thích gánh trách nhiệm, năng nổ theo đuổi mục tiêu, có khả năng chỉ huy và lãnh đạo; nhưng cũng thường hấp tấp, tự mở đường bất chấp luật lệ và trật tự hiện hữu; dễ nổi nóng nhưng chóng nguôi; trí tuệ hiếu kỳ, nhạy bén tri nhận, dễ nắm bắt; ưa tranh biện.
“The cardinal signs produce the most active workers of the world, the best business men and the most useful persons in the executive departments of social life.
“Các dấu hiệu chủ yếu sinh ra những người làm việc năng nổ nhất thế giới, những nhà kinh doanh giỏi nhất và những nhân vật hữu ích nhất trong các bộ phận điều hành của đời sống xã hội.
“Three planets are in aerial signs and three in watery signs, hence the native lives equally in the mental and emotional aspects of her nature. The physical and purely spiritual are subordinate.
“Ba hành tinh ở các dấu hiệu hành khí và ba ở các dấu hiệu hành thủy, do đó đương số sống cân bằng trong hai phương diện tinh thần và cảm xúc của bản tính mình. Phần thể xác và thuần túy tinh thần ở hàng thứ yếu.
“If enquiry be made as to the astrological cause of Annie Besant’s oratorical powers, it will be seen that Mercury is in Libra, a ‘sign of voice’ as we [94] technically term it, and Venus, the ruler of the 2nd House (governing language), is conjoined to Mercury, which confers singular eloquence and poesy of expression.”
“Nếu hỏi nguyên nhân chiêm tinh nào giải thích năng lực hùng biện của Annie Besant, sẽ thấy rằng Thủy tinh ở Thiên Bình, một ‘dấu hiệu của tiếng nói’ như [94] thuật ngữ chuyên môn của chúng tôi, và Kim tinh, chủ tinh của Cung 2 (chi phối ngôn ngữ), đồng vị với Thủy tinh, điều này ban cho tài hùng biện đặc biệt và chất thơ trong diễn đạt.”
In his concluding paragraph Sepharial says: “It may be asked if there are similar signs of sympathy between this horoscope and that of H. P. Blavatsky such as were seen to exist in the case of Colonel Olcott. To this we can answer, Yes. If reference be made to the horoscope of H. P. B., [3] it will be seen that the Ascendant is in close conjunction with the Moon in the present case and near to the place of Jupiter; while at the same time the Sun in the latter is on the place of the Moon in H. P. B.’s horoscope, a sure sign of sympathy between persons who are destined to meet one another.” He calls attention to the curious coincidence that Madame Blavatsky sailed for India in the 47th year of her age, and that in this identical year Mrs. Besant also came to India to continue in the same work.
Trong đoạn kết, Sepharial viết: “Có thể hỏi liệu giữa lá số này và lá số của H. P. Blavatsky có những chỉ thị đồng cảm tương tự như đã thấy trong trường hợp Đại tá Olcott không. Với điều này, chúng tôi có thể trả lời, Có. Nếu đối chiếu lá số của H. P. B., sẽ thấy Điểm Mọc trong trường hợp hiện tại ở gần như đồng độ với Mặt Trăng và gần vị trí của Mộc tinh; đồng thời Mặt Trời trong lá số này lại ở ngay vị trí của Mặt Trăng trong lá số của H. P. B., một dấu hiệu chắc chắn của sự đồng cảm giữa những người được định là sẽ gặp nhau.” Ông lưu ý đến sự trùng hợp lạ lùng rằng Bà Blavatsky lên tàu sang Ấn Độ vào năm thứ 47 của đời mình, và chính trong năm ấy Bà Besant cũng đến Ấn Độ để tiếp tục cùng một công việc.
Let us now return to our party on board the “Peshawar”. During the voyage from Madras to Calcutta we were favoured with very fine weather and a smooth sea. On the day after our sailing, by general request, Mrs. Besant lectured in the saloon on the subject of “Theosophy,” the Captain presiding. A pleasant incident of the voyage was the meeting on board of one of our New Zealand members, the Hon. William McCullough, a Member of the Legislative [95] Council and a very intelligent and sympathetic gentleman. We anchored at Saugor, at the mouth of the Hooghly, on the evening of Tuesday, January 9th, and continued the voyage at 10.30 the next morning on the flood tide. This precaution has always to be taken by Captains of vessels bound for Calcutta for it is a most treacherous river, the ebb tide running very swiftly and various shoals and sandbanks lying concealed below the surface ready to engulf any vessel which barely touches their inward edges. Quite frequently it happens that ships which have just grazed the edge of the treacherous sandbank have been forced by the current against it so that they were hopelessly stuck fast and within a few minutes have turned over and been swallowed up. At the very time that I write the Calcutta public are barely recovering from their horror at the wreck of the “Deepdale,” which touched a shoal and within two minutes had disappeared from sight. So that one may say that it is quite within the range of possibilities that a traveller who has come safely through the tempests of the Bay of Biscay, the Red Sea and the Indian Ocean, may be wrecked in this sacred, but remorseless, stream within eight hours’ sail of his destined port.
Giờ hãy trở lại với nhóm của chúng ta trên tàu “Peshawar”. Trong hải trình từ Madras đến Calcutta, thời tiết rất đẹp và biển êm. Ngày hôm sau khi khởi hành, theo đề nghị chung, Bà Besant thuyết giảng trong khoang lớn về đề tài “Thông Thiên Học”, với Thuyền trưởng chủ tọa. Một việc thú vị của chuyến đi là gặp trên tàu một hội viên Tân Tây Lan của chúng ta, Ngài William McCullough, Nghị viên Thượng viện và là một quý ông rất thông tuệ, đồng cảm. Chúng tôi thả neo ở Saugor, cửa sông Hooghly, vào tối thứ Ba, ngày 9 tháng Giêng, và tiếp tục [95] hải trình lúc 10 giờ 30 sáng hôm sau theo nước lớn. Sự thận trọng này luôn phải được các Thuyền trưởng tàu đi Calcutta giữ gìn, vì đó là một con sông tráo trở, nước ròng chảy rất xiết và nhiều cù lao cùng bãi cát ngầm ẩn bên dưới sẵn sàng nuốt chửng bất kỳ con tàu nào vừa chạm vào mép trong của chúng. Không hiếm khi xảy ra việc những con tàu vừa xẹt mép bãi cát nguy hiểm đã bị dòng nước đẩy áp sát vào, đến nỗi chúng mắc kẹt tuyệt vọng và chỉ trong ít phút là lật úp và chìm nghỉm. Ngay lúc tôi viết đây, công chúng Calcutta vẫn chưa qua khỏi kinh hoàng trước vụ đắm tàu “Deepdale”, con tàu chạm phải một bãi ngầm và trong vòng hai phút đã biến mất khỏi tầm mắt. Vậy có thể nói, hoàn toàn nằm trong khả hữu rằng một lữ khách đã vượt qua an toàn những cơn bão của Vịnh Biscay, Biển Đỏ và Ấn Độ Dương, lại có thể đắm tàu trên dòng sông linh thiêng mà vô tình kia trong vòng tám giờ đường thủy trước khi đến cảng đích.
We reached Calcutta after 6 p.m. when it was dark. Several hundred of the best people of the metropolis, including Sir Romesh Chunder Mitter, ex-Justice of the High Court, Hon. Rash Behary Ghose, of the Viceroy’s Council, and the Hon. Norendronath Sen waiting for us on the jetty. There were numberless [96] flags, arches of greenary, gifts of flowers and enthusiastic people. We were driven to a nice house which had been engaged for our temporary occupancy. From 8 to 10 the next morning and in the afternoon Mrs. Besant received visitors and in the evening lectured to an audience of 5,000 on “India’s Place Among the Nations”. The Town Hall was crammed and the enthusiasm was wonderful. I was much interested with the testimony of three persons who came to me separately and told me what they had seen and felt during the speaker’s lecture. The first one said that “he had heard a tinkling of silvery bells and smelt a peculiarly delicious perfume, like a combination of oriental spices, which had seemed to flow from her and fill the hall”; the second had seen about her a bright and shining light; the third had not only seen this but in that radiance the figure of a majestic, bearded and turbaned Personage, whose aura seemed to blend with that of the speaker in vibrations each one of which sent a thrill through her nervous system.
Chúng tôi đến Calcutta sau 6 giờ tối khi trời đã tối. Vài trăm nhân vật thượng lưu của đô thành, gồm Ngài Romesh Chunder Mitter, cựu Thẩm phán Tòa Thượng thẩm, Ngài Rash Behary Ghose, Ủy viên Hội đồng Phó vương, và Ngài Norendronath Sen, đón chúng tôi ở cầu tàu. Có vô số [96] cờ xí, vòm lá xanh, tặng vật hoa và người người hân hoan. Chúng tôi được đưa về một căn nhà khang trang đã được thuê sẵn để tạm trú. Từ 8 đến 10 giờ sáng hôm sau và buổi chiều, Bà Besant tiếp khách và buổi tối thuyết giảng trước 5.000 người về “Vị thế của Ấn Độ giữa các quốc gia”. Tòa Thị chính chật kín người và sự nhiệt thành thật tuyệt diệu. Tôi rất hứng thú với lời kể của ba người đến gặp tôi riêng rẽ và thuật lại điều họ đã thấy và cảm trong lúc diễn giả thuyết giảng. Người thứ nhất nói “anh ta nghe tiếng leng keng của chuông bạc và ngửi thấy một hương thơm lạ lùng tuyệt diệu, như sự phối hợp của gia vị phương Đông, dường như tỏa ra từ Bà và tràn ngập khán phòng”; người thứ hai thấy quanh Bà một quầng sáng tươi sáng rực rỡ; người thứ ba không chỉ thấy thế mà trong hào quang ấy còn thấy hình ảnh một Vị uy nghi, râu rậm và đội khăn xếp, mà hào quang như hòa cùng hào quang của diễn giả trong những rung động, mỗi rung động gửi một luồng rùng mình xuyên qua hệ thần kinh của bà.
There were the usual two receptions on Friday, and between them A. B., the Countess and I, submitted to the usual photographing; after 6 p.m. Mrs. Besant gave a splendid discourse on “Pantheism,” at the great mansion of Sir Romesh Chunder to an audience of a most select character. At 5 o’clock the next morning the two ladies and I drove to the Sacred River and saw a young Yogi, standing in the water, do some wonderful phenomena of the Hatha Yoga. I can’t say that we were very much edified with the [97] performance, nor with any of the other Hatha Yoga physiological wonders such, as for instance, the deliberate swallowing, inch by inch, of a dhoti the lower cloth worn by every unwesternized Hindu, which wraps about him two or three times and covers him from the waist to the ankles. In this feat it is first wet and then swallowed until only the end is left hanging out of the mouth; after which it is slowly and carefully pulled out again. Another bit of what I must call tomfoolery is the introduction into one nostril of a rather thick rope of twisted strips of thin cotton cloth, brought together at one end and worked into a short bit of string, which is forced up the nostril, and then brought out through the other nostril.
Như thường lệ có hai buổi tiếp tân vào thứ Sáu, và giữa chúng, A. B., Bá tước phu nhân và tôi cùng chụp ảnh như lệ thường; sau 6 giờ tối, Bà Besant diễn một bài tuyệt vời về “Thuyết Phiếm thần”, tại dinh thự nguy nga của Ngài Romesh Chunder trước một thính chúng chọn lọc bậc nhất. Lúc 5 giờ sáng hôm sau, hai bà và tôi đi ra Sông Thiêng và xem một chàng Yogi trẻ, đứng trong nước, biểu diễn vài hiện tượng lạ của Hatha Yoga. Tôi không thể nói rằng chúng tôi được [97] khai mở bao nhiêu bởi màn trình diễn này, cũng như bởi những phép mầu sinh lý khác của Hatha Yoga, chẳng hạn, nuốt từ từ, từng tấc một, một chiếc dhoti—tấm khố dưới mà mọi người Ấn chưa Âu hóa đều mặc, quấn quanh mình hai ba vòng, che từ eo đến mắt cá. Trong màn này, trước hết nó được nhúng ướt rồi nuốt vào cho tới khi chỉ còn đầu mút thả ngoài miệng; sau đó lại từ từ, cẩn thận, kéo ra. Một trò khôi hài khác là luồn vào một lỗ mũi một dây khá dày bằng dải vải bông mỏng bện xoắn, túm ở một đầu và se thành sợi dây ngắn, luồn mạnh vào lỗ mũi, rồi kéo ra ở lỗ mũi bên kia.
This seems incredible, yet I have seen it done myself as well as the “dhoti” performance. The object in view in all the series of exploits is, firstly, to make the Yogi’s will, by constant training and concentration upon a given point, strong enough to convert the bodily functions from involuntary to voluntary.
Chuyện này nghe như không thể tin, vậy mà chính tôi đã thấy làm được cũng như trò “dhoti”. Mục tiêu của cả loạt kỳ công này trước hết là làm cho ý chí của Yogi, nhờ huấn luyện thường xuyên và tập trung vào một điểm định sẵn, mạnh đến mức chuyển hóa các chức năng thân xác từ vô thức sang hữu thức.
In the cases referred to there is the second object of cleansing the nasal passages, stomach and other internal cavities from accumulations of the previous twenty-four hours. This same training of the will brings, virtually, all the processes of the body under control, and after living long in India one comes to the point where not even the most sensational feats of the practitioner of the Lower Yoga, such as the abstention from food or drink for weeks, the allowing of oneself to be buried for a month or more and then [98] resuscitating oneself, the sleeping on a bed of sharp spikes, self-levitation, the walking on water, the holding of an arm vertically for years until it loses its flexibility and becomes like a wooden stake, the exposure of oneself without harm to the “five fires,” are able to astonish him. And yet what a terrible waste of time, and how ridiculously unprofitable, so far as one’s spiritual advancement is concerned, is all this physiological training. At 3 p.m. Mrs. Besant lectured on “Theosophy and Hinduism” at the Star Theatre to the usual overflowing audience. She then revised copy until 11 p.m., after which she wrote letters and then allowed her poor tired body to have some sleep. On Sunday the ladies and I attended a reception of Brahmos, i.e., members of the Brahmo Samaj, at the house of Dr. P. K. Ray, a Professor in the Calcutta University and a man of scientific renown. In the evening Mrs. Besant lectured to another multitude at the Town Hall, but first held a reception at the house of the Hon. Mr. Ghose.
Trong các trường hợp vừa nói còn có mục tiêu thứ hai là tẩy sạch các xoang mũi, dạ dày và những khoang nội tạng khác khỏi các tích tụ của hai mươi bốn giờ trước đó. Cũng sự rèn luyện ý chí ấy hầu như đem mọi tiến trình của thân xác vào vòng kiểm soát, và sau khi sống lâu ở Ấn Độ, người ta tới điểm mà ngay cả những kỳ công giật gân nhất của người tu Hạ Yoga, như nhịn ăn nhịn uống hàng tuần, để cho chôn sống một tháng hoặc hơn rồi [98] tự làm sống lại, ngủ trên giường đinh nhọn, tự thăng không, đi trên mặt nước, giữ một cánh tay giơ thẳng nhiều năm cho đến khi nó mất dẻo dai và hóa như cọc gỗ, phơi mình không hề hấn gì dưới “năm ngọn lửa”, cũng không còn làm họ ngạc nhiên. Thế mà biết bao lãng phí thời gian khủng khiếp, và thật nực cười là vô ích xét về mặt tiến bộ tinh thần của một người, là cả khóa rèn luyện sinh lý ấy. Lúc 3 giờ chiều, Bà Besant thuyết giảng về “Thông Thiên Học và Ấn giáo” tại Nhà hát Star trước thính đường như thường lệ là chật tràn. Sau đó Bà duyệt bản thảo đến 11 giờ đêm, rồi viết thư và mới cho thân xác mệt mỏi được ngủ chút đỉnh. Chủ nhật, các quý bà và tôi dự một buổi tiếp của các Brahmo, tức hội viên Brahmo Samaj, tại nhà Tiến sĩ P. K. Ray, một Giáo sư Đại học Calcutta và là một nhà khoa học danh tiếng. Buổi tối, Bà Besant thuyết giảng trước một đám đông khác tại Tòa Thị chính, nhưng trước đó có một buổi tiếp tân tại nhà Ngài Ghose.
At 11 p.m. we left for Berhampore. This is an out-of-the-way station but the welcome that awaits any one connected with theosophic propaganda amply compensates for the trouble of getting there. After a night in the train we reached Azimgunge at about 9 a.m. From the railway station, the terminus of the short branch road from Nalhati Junction on the E.I.R., Mrs. Besant was carried in a tomjon, an uncovered arm-chair attached to poles which rest upon the bearers’ shoulders, with an accompaniment of fluttering flags [99] and gaudily dressed mace-bearers, supplied by the local Jain branch of the T. S. We crossed the river in a house-boat and found an elegant carriage with blooded horses awaiting us which took us, at a smart trot, over the smooth road to our place of destination: our imposing turnout had been kindly supplied by H. H. the Maharanee Surnomoyee. We were very comfortably housed and most hospitably catered for. After a very interesting talk with the branch members we visited their reading Room and a Boys’ Moral Training Society. The next morning there was the usual conversazione, after which we were left at liberty to catch up the arrears of our heavy correspondence and my literary work. At 6.30 p.m. Mrs. Besant lectured on “India, Past, Present and Future”. Addresses were read to her by our Branch, the Hindu public of Berhampore (the old Brahmapuri) and the orthodox pandits, of whom twenty-five attended the lecture. The next morning, after the conference with Mrs. Besant, we were favoured with some remarkable juggling (or necromantic?) feats by a pupil of the late famous master of Djinns, Hasan Khan, about whom I have often written in The Theosophist. His name is—if he be still alive—Pertab Chandra Ghose, of Chunta P.O., Pergunnah Sarail, in the Tipperah District of Bengal. I give the address for the benefit of whom it may concern, but warn Western curiosity-seekers that it will be useless to write him in any of their languages. Among his other wonders was the following: he took from us three watches, tied them up in paper and a bit [100] of cloth; attached to it a ticket with the name of R. N. Sen, one of the witnesses, written on it; then gave it into Mrs. Besant’s own hands and asked her to throw it into the house-well. She did so and we saw it drop into the water with a great splash and sink out of sight. Presently he reproduced the watches, one done up in a separate package with the ticket on it, the other two loose; all perfectly dry. He then suddenly produced and handed us a box of sweets of a peculiar kind which are made in a village more than two hundred miles away from Berhampore. Like his master, Hasan Khan, he pretended that these wonders were done with the help of certain elementals, or Djinns, over whom he has control. The lecture that evening was on “Theosophy and Modern Science”.
Lúc 11 giờ đêm, chúng tôi đi Berhampore. Đây là một ga xa xôi hẻo lánh nhưng sự tiếp đón dành cho bất cứ ai liên hệ với công tác truyền bá thông thiên học cũng đủ bù đắp cho mọi nhọc nhằn đường xá. Sau một đêm trên tàu, chúng tôi đến Azimgunge vào khoảng 9 giờ sáng. Từ ga xe lửa, chặng cuối của tuyến nhánh ngắn từ ga trung chuyển Nalhati trên tuyến E.I.R., Bà Besant được rước bằng một chiếc tomjon, một ghế tay vịn không mui gắn vào đòn khiêng đặt trên vai phu gánh, kèm theo cờ phấp phới [99] và những người cầm chùy ăn vận sặc sỡ, do Chi bộ Kỳ-na giáo địa phương thuộc Hội T. S. cung cấp. Chúng tôi qua sông bằng thuyền nhà và thấy một cỗ xe sang cùng đôi ngựa thuần chủng đón sẵn; xe đưa chúng tôi nước đại trên con đường phẳng phiu đến nơi cần đến: lễ xe oai nghi này là do H. H. Maharanee Surnomoyee ưu ái cung cấp. Chỗ ở rất tiện nghi và việc khoản đãi vô cùng trọng hậu. Sau một cuộc chuyện trò rất thú vị với hội viên Chi bộ, chúng tôi thăm Phòng Đọc và một Hội Rèn luyện Đạo đức Thiếu niên. Sáng hôm sau, có buổi đàm đạo như thường lệ, sau đó chúng tôi được thong thả để gỡ đống thư từ tồn đọng và công việc trước tác của tôi. Lúc 6 giờ 30 chiều, Bà Besant thuyết giảng về “Ấn Độ: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”. Các bản Chúc từ được đọc gửi Bà bởi Chi bộ của chúng ta, công chúng Ấn giáo Berhampore (Brahmapuri xưa) và các vị pandit chính thống, trong đó hai mươi lăm vị dự thính. Sáng hôm sau, sau buổi thảo luận với Bà Besant, chúng tôi được thưởng lãm vài tiết mục ảo thuật (hay thuật phù thủy?) đặc sắc của một học trò của cố danh sư điều khiển Djinn, Hasan Khan, về người mà tôi đã nhiều lần viết trong The Theosophist. Tên anh ta là—nếu anh vẫn còn sống—Pertab Chandra Ghose, bưu cục Chunta, tổng Sarail, quận Tipperah, Bengal. Tôi nêu địa chỉ này để ai cần thì biết, nhưng cảnh báo những người tò mò phương Tây rằng vô ích khi viết thư cho anh ta bằng bất kỳ ngôn ngữ nào của họ. Trong những kỳ công khác của mình có màn sau: anh ta lấy của chúng tôi ba chiếc đồng hồ, gói trong giấy và một mảnh [100] vải; gắn vào đó một thẻ có ghi tên R. N. Sen, một nhân chứng; rồi trao tận tay Bà Besant và xin Bà ném xuống giếng trong nhà. Bà làm thế và chúng tôi thấy gói rơi tõm xuống nước, bắn tung tóe, rồi chìm khuất. Chẳng bao lâu sau, anh ta hoàn xuất ba chiếc đồng hồ, một chiếc được gói riêng có dán thẻ vào, hai chiếc kia rời; tất cả đều khô ráo. Rồi anh ta đột nhiên xuất hiện và trao cho chúng tôi một hộp bánh kẹo loại đặc chế chỉ làm ở một ngôi làng cách Berhampore hơn hai trăm dặm. Cũng như thầy mình, Hasan Khan, anh ta khẳng định các kỳ công này được làm với sự trợ giúp của các tinh linh (Djinn) mà anh ta chế ngự. Bài thuyết giảng tối hôm đó là “Thông Thiên Học và Khoa học Hiện đại”.
From 7.30 to9 a.m. the next morning visitors were received; at 9 we visited Ranee Anarkali’s Tol, i.e., a Sanskrit school, where an address in that language was read to Mrs. Besant; then we had a drive and after that, desk-work during the rest of the morning. In the afternoon the students of Berhampore College came with an address, and at 7 p.m. our sweet orator lectured on “Reincarnation and Karma”. At 9 p.m. our busy day ended up with a special performance of the famous Indian drama, “Prahlada Charita,” given for us, and songs of welcome and farewell to Mrs. Besant were chanted. As it is not in the least likely that she has preserved her copy of the verses, and as they are likely to entertain our Western friends, I will give them as recited, First we have:
Sáng hôm sau từ 7 giờ 30 đến 9 giờ, Bà tiếp khách; lúc 9 giờ, chúng tôi thăm Tol của Ranee Anarkali, tức là một trường Sanskrit, nơi một bản chúc từ bằng tiếng ấy được đọc kính tặng Bà Besant; sau đó chúng tôi đi dạo và dành phần còn lại của buổi sáng cho công việc bàn giấy. Buổi chiều, sinh viên Trường Cao đẳng Berhampore đến đọc bản chúc từ, và lúc 7 giờ tối, nữ diễn giả khả ái của chúng tôi thuyết giảng về “Tái sinh và Nghiệp”. Lúc 9 giờ đêm, một ngày bận rộn của chúng tôi khép lại với suất diễn đặc biệt vở kịch Ấn Độ lừng danh “Prahlada Charita” dành riêng cho chúng tôi, và những bài ca đón mừng và tiễn biệt dành cho Bà Besant được xướng lên. Vì khó có khả năng Bà còn giữ bản chép các câu hát, và vì chúng có thể làm bằng hữu phương Tây của chúng ta hứng thú, tôi xin ghi lại như đã xướng; trước hết là:
[101]
[101]
THE SONG OF WELCOME
BÀI CA ĐÓN MỪNG
“Welcome sister, the ever unfortunate mother India takes you to her bosom. Now she has nothing precious of which she can make a present to you; but she is ready to receive you with Shamit (sacrificial fuel), Kushahan (a seat made of sacrificial grass), Padya (water for washing the feet with), Arghya (respectful oblation) and sweet words.
“Chào mừng chị, người mẹ Ấn Độ luôn lận đận ôm đón chị vào lòng. Nay Mẹ chẳng có vật quý gì để có thể dâng tặng chị; nhưng Mẹ sẵn sàng đón nhận chị bằng Shamit (củi tế), Kushahan (tọa cụ bằng cỏ tế), Padya (nước rửa chân) Arghya (lễ cúng kính trọng) và lời êm dịu.
“What has brought you sister, here? India is now lifeless. Here is now no chanting of the Vedas, no Tapobana (garden for practising religious austerities), no twice-born, no uttering of Mantras (mystical incantation) Now the cry of the famine-stricken people rends the sky.
“Cớ chi đưa chị về đây? Ấn Độ giờ như đã chết. Không còn tụng niệm Veda, không còn Tapobana (vườn tu khổ hạnh), không còn bậc “hai lần sinh”, không còn trì tụng mantram (bùa chú huyền nhiệm). Nay tiếng kêu của người đói khát xé toang bầu trời.
“We, the inhabitants of Berhampore, give a garland of flowers round your neck; please take it, simple sister, with your characteristic affability.
“Chúng tôi, dân cư Berhampore, xin choàng lên cổ chị một vòng hoa; xin chị đón nhận, người chị dịu hiền, với đức hòa nhã vốn có của chị.
“You are now a learned daughter of mother India, you are honoured throughout the world and your reputation is world-wide. We are glad to see you.”
“Nay chị là người con gái uyên bác của Mẹ Ấn Độ, chị được trọng vọng khắp hoàn cầu và thanh danh chị lan khắp thế giới. Chúng tôi mừng vui khôn xiết khi được thấy chị.”
And then:
Và tiếp theo:
THE FAREWELL SONG
BÀI CA TIỄN BIỆT
“You have sacrificed, sister, all you had for the sake of your mother with the simple hope of infusing life into fallen India.
“Chị đã hy sinh, chị ơi, tất cả những gì chị có vì Mẹ, với hy vọng đơn sơ là thổi sinh khí vào nước Ấn suy sụp.
“You have seen the condition of India with your own eyes; the sons of India look sullen [102] and gloomy. None has an iota of happiness here; the heart of every one is heavy with feelings of miseries.
“Chị đã tận mắt thấy cảnh ngộ Ấn Độ; con dân Ấn nhìn u [102] ám và buồn rầu. Chẳng ai có lấy một mảy may hạnh phúc; tim người nào cũng nặng trĩu niềm u khổ.
“Sing, sister, the song of India’s miseries in your own country. The minds of famishing people can have no inclination to God.
“Hãy hát lên, chị ơi, bài ca về nỗi khổ của Ấn Độ nơi quê hương chị. Lòng người đói lả nào còn hướng được về Trời.
“Sing the song of India’s glories with fresh energies; we would console our heavy hearts hearing that song from far beyond the ocean.
“Hãy hát lên bài ca về vinh quang Ấn Độ với sức lực mới; chúng tôi sẽ vơi nặng trái tim khi nghe khúc ca ấy vọng từ bên kia đại dương.
“Farewell sister, go to your own country with the blessings of 200 millions of people and distribute there with sound health the treasures of Aryan religion.
“Tiễn chị, xin chị mang về quê nhà phúc lành của hai trăm triệu con người và phân phát nơi đó bằng sức khỏe dồi dào kho tàng tôn giáo Arya.
“The parting is embittering; do not fail, sister, to come here again with the remembrance of your fallen brothers.”
“Ly biệt đắng cay; xin đừng quên, chị ơi, trở lại chốn này, nhớ về những người anh em sa sút của chị.”
The next day, Friday the 19th, was our last at Berhampore and all its hours were fully occupied; in fact, to judge from my experience, very few idle hours fall to the lot of the theosophical propagandist. At 7 in the morning Mrs. Besant lectured on “Theosophy and Hinduism”; at 9 we three drove to Cossim Bazar Palace to pay our respects to the venerable Maharanee Surnomoyee, M. I. O. C. I.; then there were some admissions of members; then breakfast, after which there came an address from the students of the Berhampore College, our last public function in the place. We then left by carriages for Murshidabad, where we stopped at the Palace of the Nawab, my old friend, to make him a short call. His welcome [103] was, as usual, most cordial and he expressed his regret that we could give him only a short half-hour. Leaving him we then moved on to Azimgunge and so, by the branch road to Nalhati and from thence on all night towards Bankipore, Behar.
Ngày hôm sau, thứ Sáu 19, là ngày cuối cùng của chúng tôi ở Berhampore và mọi giờ phút đều kín lịch; thực vậy, theo kinh nghiệm của tôi, rất ít giờ nhàn hạ rơi vào phần của người truyền bá thông thiên học. Lúc 7 giờ sáng, Bà Besant thuyết giảng về “Thông Thiên Học và Ấn giáo”; 9 giờ, ba chúng tôi đi Cossim Bazar Palace chào vấn vị lão bà đáng kính Maharanee Surnomoyee, M.I.O.C.I.; sau đó là mấy vụ kết nạp hội viên; rồi điểm tâm, tiếp theo là bản chúc từ của sinh viên Trường Cao đẳng Berhampore, hoạt động công chúng cuối cùng của chúng tôi tại nơi này. Chúng tôi rồi lên xe đi Murshidabad, nơi dừng lại ở Dinh của Nawab, người bạn cũ của tôi, để ghé thăm ngắn. Ngài tiếp [103] nồng hậu như thường lệ và tỏ tiếc rằng chúng tôi chỉ dành được cho Ngài chừng nửa giờ. Từ biệt Ngài, chúng tôi lên đường đi Azimgunge, rồi theo tuyến nhánh về Nalhati và từ đó đi suốt đêm về Bankipore, Behar.
CHAPTER IX—CHƯƠNG IX
MRS. BESANT’S TOUR IN THE UNITED PROVINCES—CHUYẾN DU HÀNH CỦA BÀ BESANT Ở CÁC TỈNH HỢP NHẤT
(1894)—(1894)
AS already stated, Bankipore is one of the most sympathetic places in India to visit, by reason of the cultivated intelligence and heartfelt earnestness of our local colleagues. Mrs. Besant was quite prepared then, from what I had told her, to anticipate a pleasant and profitable visit at that station, and was not disappointed. The Committee had obtained from the agent of the Maharajah of Durbhanga the use of his local palace, one of a number that he owns in different parts of India; and there we were put up. I took the ladies to the echoing dome described in a previous chapter and they, with their poetical and mystical natures, were much impressed by that never-to-be-forgotten series of reverberations that come after the raising of the voice or the shuffling of a foot on the ground; if ever there was a place to which Tom Hood’s famous verse would apply it is this.
Như đã nói, Bankipore là một trong những nơi đáng cảm mến nhất ở Ấn Độ để ghé thăm, bởi trí thức trau luyện và lòng thành tha thiết của các đồng sự địa phương của chúng ta. Từ điều tôi đã kể, Bà Besant hoàn toàn sẵn sàng chờ đợi một chuyến thăm thú vui tươi và hữu ích tại trạm này, và Bà đã không thất vọng. Ủy ban đã xin được từ đại diện của Maharajah xứ Durbhanga quyền sử dụng cung điện địa phương của Ngài, một trong nhiều cung điện Ngài sở hữu tại các nơi khác nhau ở Ấn Độ; và chúng tôi được bố trí ở đó. Tôi đưa các bà đến mái vòm vọng âm đã mô tả trong một chương trước, và với tâm hồn thơ mộng và huyền nhiệm, họ rất ấn tượng với chuỗi ngân vang không thể quên được vọng lại sau khi cất tiếng hay chỉ khẽ lướt chân trên nền; nếu có nơi nào mà câu thơ nổi tiếng của Tom Hood ứng hợp thì chính là nơi này.
“And over all there hung a shade of fear,
“Và trên tất cả phủ một màn sợ hãi,
And sense of mystery the spirit daunted,
Và cảm thức huyền linh khiến hồn kinh hãi,
[105]
[105]
And said, as plain as whisper in the ear,
Và nói, như tiếng thì thầm bên tai,
The place is haunted.”
Chốn này có ma.”
If anyone doubts it let him pay a visit to this deserted grain-bin of Warren Hastings, at night, with a single lamp, and repeat sentences, sotto voce, as he tramps around the circumference of the floor.
Nếu ai còn nghi, xin đến thăm kho thóc bỏ hoang của Warren Hastings này vào ban đêm, cầm một ngọn đèn lẻ loi, và lẩm nhẩm vài câu khi rảo bước quanh chu vi nền nhà.
At 6.30 p.m. Mrs. Besant lectured in the College Hall to a packed audience. The Principal introduced us and moved the vote of thanks at the close. It always fills my heart with joy to see the enthusiastic way in which the boys of our Indian Colleges receive theosophical lectures: their capacity for emotional manifestations exceeds that of almost any Western audience, certainly more than any Northern one. Engrossed Addresses were presented to us in purple velvet cases richly embroidered in gold. As we were only going to spend two days in the station, the Committee had arranged for Mrs. Besant to give two lectures on the next day, Sunday the 21st, one at 2 and the other at 6.30 p.m.: the subjects were respectively, “The Evidences of Theosophy,” and “Theosophy and Hinduism”. At a public meeting called for the purpose I formed a Hindu boys’ society. There was a conversazione in the evening and after that, at 9.30, a visit to Professor James’ house. On Monday morning we left Bankipore at 7 a.m. and reached Benares at 12.30, changing trains at Moghalsarai. For one who has known of the intimate friendships between Madame Blavatsky and myself and Mrs. Besant and Upendranath Basu, Gyanendra Nath Chakravarti and some others, [106] it is hard to realise that we were once strangers, but in point of fact I introduced Upendra Babu to Mrs. B. on that morning at the junction named.
Lúc 6 giờ 30 chiều, Bà Besant thuyết giảng tại Hội trường Trường Cao đẳng trước một khán phòng chật kín. Ông Hiệu trưởng giới thiệu chúng tôi và sau đó đề nghị biểu quyết lời cảm ơn. Mỗi lần thấy các nam sinh của các Trường Cao đẳng Ấn Độ đón nhận những bài thuyết giảng thông thiên học đầy nhiệt tình, lòng tôi lại tràn vui: khả năng biểu lộ cảm xúc của họ vượt quá hầu như mọi thính chúng phương Tây, chắc chắn hơn bất kỳ thính chúng phương Bắc nào. Các Bản Chúc từ mỹ thuật được dâng tặng chúng tôi trong các hộp nhung tím thêu chỉ vàng lộng lẫy. Vì chúng tôi chỉ lưu lại ga này hai ngày, Ủy ban đã sắp xếp để Bà Besant trình bày hai bài thuyết giảng vào ngày hôm sau, Chủ nhật 21, một vào lúc 2 giờ và một lúc 6 giờ 30 chiều: đề tài lần lượt là “Những Chứng cứ của Thông Thiên Học” và “Thông Thiên Học và Ấn giáo”. Tại một cuộc họp công cộng triệu tập cho mục đích ấy, tôi thành lập một hội nam sinh Ấn giáo. Buổi tối có một buổi đàm đạo và sau đó, 9 giờ 30, chúng tôi thăm nhà Giáo sư James. Sáng thứ Hai, chúng tôi rời Bankipore lúc 7 giờ sáng và đến Benares lúc 12 giờ 30, đổi tàu ở Moghalsarai. Với người biết tình bạn thâm giao giữa Bà Blavatsky và tôi, và giữa Bà Besant với Upendranath Basu, Gyanendra Nath Chakravarti và vài vị khác, [106] thật khó mà hình dung rằng có lúc chúng tôi từng xa lạ, nhưng thực tế là tôi đã giới thiệu Upendra Babu với Bà B. sáng hôm ấy tại ga nối chuyến nói trên.
On arrival at Benares we were driven to the large house of that generous friend, Babu Kally Kissen Tagore. In the afternoon the Society held a special meeting at which Mrs. Besant was presented with a richly illuminated Address contained in an engraved Benares brass cylinder. In the evening she went with some friends for a sail on the Ganges by moonlight. She, with the Countess Wachtmeister, Bhavani, Upendranath and myself, went to visit H.P.B.’s old acquaintance of 1879, “Majji,” the Yogini who lived for many years, and until her death, at an ashram of her own on the bank of the Ganges. We drove to the Ganges bridge and from thence proceeded onward in a house-boat. At 4 p.m. Mrs. Besant lectured to an open-air crowd from the steps of the Town Hall, for the first time on the new subject of “From Atheism to Hinduism”: needless to say, it was an excellent discourse and received with enthusiasm. On the Wednesday morning, early, our whole party, sitting on the roof of a house-boat, were rowed slowly along the Ganges front of the city and saw the multitudes bathing. The magnificence and impressiveness of this sight have been described by me in a previous chapter. At 3 p.m. we met the leading pandits of Benares for discussion. We found that they disapproved of education for Hindu girls in general, especially for the virgin widows, of whom there are so many hundreds of thousands in [107] Indian society; on the other hand, they expressed their unqualified approbation of my Sanskrit libraries and schools and societies for Hindu boys. It was amusing to see the contrast between the appearance and views of Annie Besant, the champion, for so many years, of the uplifting and education of women, and the hard, stony conservatism of those fossilised pandits who lived in the nineteenth century but thought within the lines of the Aryan doctrines of the earliest centuries of our era.
Khi đến Benares, chúng tôi được đưa về ngôi nhà lớn của người bạn hào hiệp đó, Babu Kally Kissen Tagore. Buổi chiều, Hội tổ chức một phiên họp đặc biệt, trong đó Bà Besant được trao tặng một Bức Trình Bày viết tay trang hoàng lộng lẫy, đặt trong một ống trụ bằng đồng khắc chạm kiểu Benares. Buổi tối, Bà cùng vài người bạn đi thuyền dạo trên sông Hằng dưới ánh trăng. Bà, cùng Nữ bá tước Wachtmeister, Bhavani, Upendranath và tôi, đi thăm “Majji,” vị Yogini quen biết cũ của H.P.B. từ năm 1879, người đã sống nhiều năm, cho đến lúc viên tịch, trong một ashram của chính bà bên bờ sông Hằng. Chúng tôi đi xe tới cây cầu bắc qua sông Hằng và từ đó tiếp tục lên một nhà thuyền. Lúc 4 giờ chiều, Bà Besant diễn thuyết cho một cử tọa ngoài trời từ các bậc thềm của Tòa Thị chính, lần đầu tiên về đề tài mới “Từ Vô thần đến Ấn giáo”: khỏi phải nói, đó là một bài diễn từ tuyệt hảo và được đón nhận nồng nhiệt. Sáng thứ Tư, từ sớm, cả đoàn chúng tôi, ngồi trên mái nhà thuyền, được chèo chậm rãi dọc theo mặt tiền sông Hằng của thành phố và trông thấy đoàn người đông đảo đang tắm. Vẻ tráng lệ và ấn tượng của cảnh tượng này đã được tôi tả trong một chương trước. Lúc 3 giờ chiều, chúng tôi gặp các bậc pandit hàng đầu của Benares để đàm luận. Chúng tôi nhận ra rằng họ không tán thành việc giáo dục nói chung cho các thiếu nữ Ấn giáo, đặc biệt là đối với các góa phụ đồng trinh, vốn có hàng trăm ngàn người trong xã hội Ấn Độ [107]; mặt khác, họ bày tỏ sự tán thành trọn vẹn đối với các thư viện Sanskrit, trường học và hội đoàn dành cho các thiếu niên Ấn giáo của tôi. Thật khôi hài khi thấy sự tương phản giữa phong thái và quan điểm của Annie Besant, vị chiến sĩ, trong suốt bao năm, cho việc nâng cao và giáo dục phụ nữ, và chủ nghĩa bảo thủ cứng rắn, tê liệt của những vị pandit cổ lỗ sĩ ấy, sống ở thế kỷ mười chín nhưng tư tưởng vẫn giam trong khuôn khổ học thuyết Arya của những thế kỷ sớm nhất trong kỷ nguyên của chúng ta.
The lecture at the Town Hall that evening was given under circumstances of greater discomfort than any previous one of this tour. The arrangements for the admission and distribution of the audience were so faulty that, not only the hearers but the speaker, were wedged together in a stifling mass; the space which, by dint of great pushing and crowding was secured for our party on the platform, was not bigger than that occupied by an ordinary writing-table, and Mrs. Besant had to deliver her discourse from a fixed spot at the edge of the topmost step leading to the dais, about as big as the top of a man’s hat. Yet, by dint of a stiffening of her body and an occasional friendly clutch by me at her dress to keep her from falling forward, she managed to get through her discourse with great acceptability. But really, this was too much for good nature, and so Upendra Babu, as President of our local Branch, issued, on the next morning, the following handbill: “In consequence of the great crowd we had at Mrs. Besant’s lecture [108] last evening, gentlemen are requested to bring with them their invitation cards or procure admission tickets for to-morrow’s lecture, from Babu Jadab Chandra Mittra, or at the gate of the Town Hall, between 4 and 5.30 p.m.”
Buổi diễn thuyết tại Tòa Thị chính tối hôm ấy diễn ra trong những điều kiện khó chịu hơn bất cứ buổi nào trước đó của chuyến đi. Việc thu xếp việc vào cửa và sắp đặt khán giả kém đến mức không chỉ người nghe mà cả người nói đều bị nêm chặt trong một khối ngột ngạt; khoảng trống mà, nhờ chen lấn mạnh mẽ mới giữ được cho nhóm chúng tôi trên bục, không lớn hơn chỗ đặt một bàn viết thường, và Bà Besant buộc phải trình bày bài diễn thuyết từ một vị trí cố định ở mép bậc cao nhất dẫn lên khán đài, chỗ ấy to chừng bằng chóp một chiếc mũ đàn ông. Thế mà, nhờ giữ thân mình thật cứng và đôi khi tôi phải nhẹ nhàng nắm lấy vạt áo Bà để đỡ Bà khỏi chúi về phía trước, Bà đã vượt qua trọn bài diễn thuyết một cách rất được lòng người nghe. Nhưng thật sự, điều này quá sức chịu đựng của tấm lòng tốt, nên Upendra Babu, với tư cách là Hội trưởng Chi bộ địa phương của chúng tôi, đã phát hành vào sáng hôm sau tờ thông báo sau đây: “Do lượng khán giả quá đông tại buổi diễn thuyết của Bà Besant [108] tối qua, kính đề nghị quý ông mang theo thiệp mời hoặc đến lấy vé vào cửa cho buổi diễn thuyết ngày mai, tại Babu Jadab Chandra Mittra, hoặc tại cổng Tòa Thị chính, từ 4 đến 5 giờ 30 chiều.”
On Thursday, the 25th, we drove to Saranath, the site of the Deer Park where the Buddha gave his first great missionary discourse to the companions of his austerities who had deserted him when he, fainting from exhaustion, had accepted from the herdsman’s daughter the gift of fresh milk, because they thought that he had failed in his ascetic training. The stupa as it stands there now, a ruin, is yet one of the most interesting places in the world for the student of religion to visit. And surely that was a memorable party which stood under its shadow that morning: Annie Besant, the destined resuscitator of Hindu philosophy in India, and I, who for thirteen years had been working in concert with the Buddhist nations of Ceylon, Burma, Chittagong and Japan, to revive the Arya Dharma of which the Tathagata had spoken the keynote on this very spot twenty-four centuries ago. Students of psychometry know of the existence in man of the faculty of what is called “conscious clairvoyance,” that is, the employment of a more or less developed psychical vision during the waking state. They will understand, therefore, that it would be quite possible for either of us in that group who was endowed with this transcendental perceptive faculty, to have seen, by exercising it, the Akasic pictures which were focussed in and about [109] that spot. This actually happened, and one who was present interested me beyond all expression by describing to me a scene in which an orange-robed Bhikshu of saintly appearance was addressing a gathering a little to the north of where the stupa now stands. We returned to town greatly pleased with our excursion. At 2 p.m. we went to the house of myold friend, Mokshada Das, where, from 5.30 to 7 p.m. a delightful question-meeting was held. On the next day we did much letter-writing and received many visitors. In the evening the promised lecture was given on the subject of “Hypnotism and Mesmerism in the Light of Theosophy”, after which I admitted three candidates into membership. This closed our visit to Benares and on the next day we moved on to Allahabad. Several friends accompanied us to Moghalsarai and Upendra Babu went all the way. Mr. E.T. Sturdy and all the other Allahabad theosophists met us at the station, where Professor Chakravarti was introduced to Mrs. Besant and took us to his and the adjacent house, to put up.
Vào thứ Năm, ngày 25, chúng tôi đi Saranath, nơi có Lộc Uyển, nơi Đức Phật đã ban bài pháp môn truyền giáo vĩ đại đầu tiên cho các bạn đồng tu khổ hạnh của Ngài—những người đã bỏ Ngài mà đi khi họ cho rằng Ngài đã thất bại trong hạnh khổ tu, bởi Ngài đã nhận chén sữa tươi do con gái một người chăn bò dâng cúng khi Ngài kiệt sức đến lả đi. Ngôi tháp (stupa) nay chỉ còn phế tích, song vẫn là một trong những nơi thú vị bậc nhất trên thế giới đáng để các đạo sinh tôn giáo đến viếng. Và hẳn nhiên đó là một đoàn viếng thăm đáng ghi nhớ, đã đứng dưới bóng nó buổi sáng hôm ấy: Annie Besant, người được tiền định sẽ phục hưng triết học Ấn giáo ở Ấn Độ, và tôi, người suốt mười ba năm đã chung sức với các quốc gia Phật giáo Ceylon, Miến Điện, Chittagong và Nhật Bản để phục hưng Arya Dharma, mà tại chính nơi này hai mươi bốn thế kỷ trước, Đấng Như Lai đã cất lên chủ âm. Những đạo sinh của Thuật trắc tâm biết về sự tồn tại trong con người của năng lực được gọi là “thông nhãn hữu thức”, tức là việc sử dụng thị kiến tâm linh phát triển hơn kém trong khi tỉnh thức. Do đó, họ sẽ hiểu rằng hoàn toàn có thể để bất kỳ ai trong nhóm chúng tôi, nếu được phú bẩm năng lực tri giác siêu nghiệm này, bằng cách vận dụng nó, thấy được các bức họa Akasic được tập trung trong và quanh [109] nơi ấy. Điều này quả thực đã xảy ra, và một người có mặt đã khiến tôi hứng thú tột cùng khi tả lại cho tôi một cảnh tượng, trong đó một vị Tỳ-kheo (Bhikshu) khoác y áo màu cam, dung mạo thánh thiện, đang nói với một nhóm người ở phía bắc một chút so với chỗ tháp hiện đứng. Chúng tôi trở về thành phố với tâm trạng vô cùng mãn nguyện vì cuộc du ngoạn. Lúc 2 giờ chiều, chúng tôi đến nhà người bạn cũ của tôi, Mokshada Das, nơi từ 5 giờ 30 đến 7 giờ tối diễn ra một buổi vấn đáp thú vị. Ngày hôm sau chúng tôi viết rất nhiều thư và tiếp nhiều khách viếng. Buổi tối, bài diễn thuyết đã hứa về đề tài “Thôi miên và Phép Mesmer dưới ánh sáng của Thông Thiên Học” được thực hiện, sau đó tôi kết nạp ba thỉnh viên vào Hội. Như thế là khép lại chuyến thăm Benares và hôm sau chúng tôi lên đường đi Allahabad. Vài người bạn tiễn chúng tôi đến Moghalsarai và Upendra Babu đi cùng suốt chặng. Ông E.T. Sturdy và toàn thể các hội viên Thông Thiên Học Allahabad đón chúng tôi tại ga, nơi Giáo sư Chakravarti được giới thiệu với Bà Besant và đưa chúng tôi về nhà ông và căn nhà liền kề để nghỉ ngơi.
Once in twelve years there is an enormous assemblage of pilgrims at Allahabad, the ancient sacred Prayag, who come to encamp themselves on the alluvial plain at the confluence of the two sacred rivers, Jumna and Ganges: they bathe in the streams, recite prayers, make ceremonies and go away in the conviction that their sins have been washed away. Not even the largest European or American cities have seen such gatherings, for we have it from the estimates of the Government [110] itself that provision has to be made for the surveillance, sanitation, policing and feeding of more than two million people; to be accurate, 23 lakhs—2,300,000. As we happened to arrive at the very time when this meeting, or as the name is, in the vernacular, this Magh Mela, was being held, we were, of course, taken to see it. We visited it on three separate days. One of our active members happening to be detailed for duty in connection with the event, he kindly procured us two elephants to ride upon and accompanied us himself in the capacity of cicerone. A.B., Chakravarti, our friend Suraj Narain, and I, mounted the first elephant, but the Countess positively refused to mount hers; she would give no reasons except that she didn’t choose and rather than do it she would return to the house and let the Fair go. It was such a great pity that she should lose this most unique of spectacles that Suraj Narain finally commandeered an ekka, a little, two-wheeled, quaint-looking pony-cart, the shafts of which meet together over the horse’s saddle and hook into some sort of iron contrivance which holds them in place; the wheels are about as small as those of a modern trotting-sulky; the passenger sits on a little cushioned board, perhaps 2½ feet square, and is sheltered from the sun by a canopy supported at the four corners by sticks of bamboo: altogether as quaint a vehicle as can be found in any western Museum. This being arranged, we moved on over the plain, observing and enjoying all the novel sights that could be seen from our elevated position on elephant-back. The sagacious [111] beasts stepped with the greatest precaution through the masses of people who were crowded up to their very legs. It was almost as though they were wading through a stream of human beings. On every side, to great distances, stretched the swarthy multitude; the river banks were crowded with bathers; streams of people moved hither and thither to visit the camps of notabilities—rajahs and maharajahs, zemindars and talukdars, declaiming teachers of various sects, hatha yogis by the score, making a public show of their austere practices, some smeared with ashes and streaked with saffron caste-marks, some with their long dishevelled locks, supplemented with chignons of vegetable fibre built up into high dusty cones, like exaggerated rats’ nests, on top of their heads, some lying on beds of spikes, some sitting in the different asans prescribed by Patanjali, some decorating their bodies after their baths, some with eyes closed as if in meditation, etc.,—but, with very few exceptions, each having spread on the ground before him a cloth on which the pious pilgrims could cast their alms of copper coin: pious humbugs, in short. But what struck me as the greatest humbug of all was the ostentatious self-exhibitions of gorgeously dressed gurus and family priests of Indian princes, riding on richly caparisoned elephants, in gaudy howdahs and with a flutter of flags of cloths of gold or silver or banners of bright-coloured silks, all gleaming and sparkling in the sun as the elephants of these trans-parently pretentious humbugs of spiritual guides (?) moved through the mighty sea of pilgrims, [112] seeing and being seen of all men. After we had had our fill of the show and had stamped into our astral brain a gallery of mind pictures that could never fade, we turned our elephants back towards our point of departure, threading our way cautiously through the thronging crowds. At the third visit we stood on the bank of the Jumna just in front of the Fort, looking across the stream and on to the plain at the mighty spectacle. Streams of people kept moving past us in both directions, types of many different races presenting themselves to view from moment to moment. Having seen many Indian crowds before, this Magh Mela only astonished me by the enormity of the multitude it had attracted; but to our ladies everything was novel; they not only saw but scrutinized, and the Countess suddenly recalled me from my species of reverie by saying to Mrs. Besant: “What a wonderful crowd. See, there is not one single drunken person, not one booth for the sake of liquor, not one fight. Every man’s and woman’s face wears the expression of innocent enjoyment, and one feels as though the common sentiment of religious devotion was animating them all. Where else in the world, in any nation or town, have you ever seen so orderly and self-respecting a crowd as this?” Let the reader try to figure to himself that majestic spectacle before us of the plain covered with a multitude so vast as this, of brown-skinned people with their heads covered with white turbans, patches of colour being made here and there by groups wearing turbans of blue, yellow or red. If I should live fifty [113] years more, I should never forget the impression made upon me by those elephant-riding gurus with their gaudy flags and richly dressed disciples crowding about them in the howdahs: it was such a travesty of religion.
Cứ mười hai năm một lần, tại Allahabad—thánh địa cổ Prayag—lại có một đoàn hành hương khổng lồ tụ hội, họ đến dựng trại trên bãi bồi nơi ngã hợp của hai dòng sông thiêng Jumna và Ganges: họ tắm sông, tụng kinh, làm lễ rồi ra về với niềm xác tín rằng tội lỗi của mình đã được rửa sạch. Ngay cả những thành phố lớn nhất của châu Âu hay Mỹ cũng chưa từng chứng kiến những cuộc tụ hội như thế, bởi theo ước tính của Chính phủ [110] thì phải chuẩn bị phương án giám sát, vệ sinh, trị an và cung ứng lương thực cho hơn hai triệu người; chính xác là 23 lakh—2.300.000. Tình cờ chúng tôi đến đúng thời điểm cuộc hội này, hay theo tiếng địa phương là Magh Mela, đang diễn ra, nên dĩ nhiên chúng tôi được đưa đi xem. Chúng tôi thăm nơi này suốt ba ngày riêng biệt. Một hội viên năng nổ của chúng tôi tình cờ được phân công phục vụ sự kiện, nên đã tử tế sắp xếp cho chúng tôi hai con voi để cưỡi và đích thân đi kèm làm hướng dẫn. A.B., Chakravarti, người bạn Suraj Narain và tôi cưỡi con voi thứ nhất, còn Nữ bá tước nhất quyết từ chối cưỡi con của bà; bà không đưa lý do nào khác ngoài việc bà không muốn, và thà quay về nhà mà bỏ qua Hội chợ còn hơn. Thật đáng tiếc khi bà lỡ mất một cảnh tượng độc nhất vô nhị như vậy, nên cuối cùng Suraj Narain xoay sở được một chiếc ekka—một cỗ xe ngựa con hai bánh nhỏ, dáng dấp rất lạ, càng xe chụm lại phía trên yên ngựa và móc vào một cơ cấu sắt nào đó giữ cho chúng cố định; bánh xe nhỏ xấp xỉ bánh của loại sulky đua hiện đại; hành khách ngồi trên một tấm ván đệm nhỏ, chừng 2½ foot vuông, và được che nắng bằng một mái che căng ở bốn góc bằng các cọc tre: quả là một cỗ xe kỳ thú ngang ngửa với bất kỳ thứ gì có thể thấy trong một Viện Bảo tàng phương Tây. Thu xếp ổn thỏa, chúng tôi tiến vào bãi, vừa đi vừa quan sát và thưởng thức mọi cảnh lạ có thể thấy từ vị trí cao trên lưng voi. Những con vật khôn ngoan [111] bước đi hết sức thận trọng xuyên qua đám đông chen chúc sát tận chân chúng. Cứ như thể chúng đang lội qua một dòng người. Khắp bốn phía, xa tít tắp, là biển người ngăm đen; bờ sông chật kín người tắm; dòng người không ngừng xuôi ngược đến thăm các trại của các bậc danh tiếng—raja và maharaja, zamindar và talukdar, những giáo sĩ thuộc đủ giáo phái đang hùng biện, hàng chục hatha yogi phô trương công phu khổ hạnh của mình trước công chúng, kẻ thì bôi tro và kẻ thì vạch dấu sắc safran theo đẳng cấp, kẻ để tóc dài rối bời, lại chụm thêm búi tóc bằng sợi thực vật dựng thành những chóp bụi mờ cao vút, như những ổ chuột phóng đại trên đỉnh đầu, kẻ nằm trên giường gai, kẻ ngồi trong những asana do Patanjali quy định, kẻ đang trang điểm thân thể sau khi tắm, kẻ nhắm mắt như thể đang thiền định, v.v.—nhưng, trừ rất ít ngoại lệ, trước mặt mỗi người đều trải sẵn một tấm vải để những người hành hương mộ đạo có thể thả vào đó những đồng xu bằng đồng: nói gọn lại là những kẻ giả mộ đạo. Song điều khiến tôi thấy giả dối bậc nhất là những màn phô trương lộ liễu của các ông thầy tâm linh và tăng lữ gia đình của các vương công Ấn Độ, vận y phục lộng lẫy, cưỡi trên những con voi trang sức rực rỡ, trong những bành voi sặc sỡ với cờ phướn bằng gấm vàng bạc hay lụa màu rực rỡ, lấp lánh trong nắng khi những con voi chở các vị “đạo sư” khoe khoang đến trong suốt ấy (?) di chuyển giữa biển người hành hương mênh mông, [112] để cho thiên hạ được thấy và thấy thiên hạ. Sau khi đã xem thỏa thích và khắc vào bộ não cảm dục của chúng tôi một phòng tranh những bức họa tâm trí chẳng thể phai mờ, chúng tôi quay voi trở lại điểm xuất phát, thận trọng len lỏi qua làn sóng người đang chen chúc. Ở lần viếng thứ ba, chúng tôi đứng trên bờ sông Jumna ngay trước pháo đài, nhìn qua dòng nước ra bãi bồi, thưởng lãm quang cảnh hùng vĩ. Dòng người không ngớt xuôi ngược trước mặt chúng tôi theo cả hai chiều, những diện mạo thuộc nhiều chủng tộc khác nhau nối nhau hiện ra từng khoảnh khắc. Đã từng thấy nhiều đám đông Ấn Độ trước đó, Magh Mela này chỉ khiến tôi kinh ngạc vì số lượng khổng lồ người nó thu hút; nhưng với các bà trong đoàn, mọi thứ đều là mới lạ; họ không chỉ nhìn mà còn quan sát kỹ, và Nữ bá tước bỗng kéo tôi từ cơn mộng du nào đó bằng câu nói với Bà Besant: “Thật là một đám đông tuyệt diệu. Kìa, không có một người say rượu nào, không một quầy rượu, không một cuộc ẩu đả. Trên gương mặt mỗi người đàn ông và phụ nữ là nét vui thú vô tư, và người ta có cảm giác như một tâm cảm tôn giáo chung đang thấm nhuần họ tất thảy. Ở đâu trên thế giới, ở bất kỳ quốc gia hay thành phố nào, chị từng thấy một đám đông trật tự và tự trọng như thế này chưa?” Hãy để độc giả tự hình dung trước mắt mình cảnh tượng oai nghiêm ấy: bãi bồi phủ kín một biển người khổng lồ như thế, da nâu, đầu quấn khăn trắng, điểm xuyết đây đó những mảng màu do các nhóm đội khăn xanh, vàng hay đỏ. Dẫu tôi sống thêm năm mươi [113] năm nữa, tôi cũng chẳng thể quên ấn tượng mà những ông thầy cưỡi voi cùng cờ phướn lòe loẹt và các đồ đệ vận y phục sang trọng quây quanh họ trong bành voi đã gây cho tôi: đó quả là một sự nhại báng tôn giáo.
At about sundown on the day of the first visit, January 28th, we were taken for a row on the Jumna and later in the evening there was a T.S. meeting held at which I admitted two candidates to membership. On the 29th there was office work during the day and a conversazione in the evening. At 6.30 on the next evening Mrs. Besant lectured at Mayo Hall on the “Insufficiency of Materialism”. What its effect on the great audience was may be guessed from the entry in my Diary, that it was “the best and most fervent discourse she had yet given on the subject”. On the 31st I finished writing my O.D.L. for the March Theosophist, and at 6.30 p.m., at Lowther Castle, Mrs. Besant addressed a large class of college boys who were being taught Theosophy by Professor Chakravarti and other elders. There was a conversazione at the same place on the following evening. On the 2nd of February, in the evening, Mrs. Besant lectured at the Railway Theatre on “Death and Life After Death,” to a most unsympathetic audience. It had been pouring all day and the audience was small. For Countess Wachtmeister, at least, the day had its bright memories for she met, for the first time in twenty years, her elder brother, General the Marquis de Bourbel, of the Royal Engineers, whose services had been loaned to the Kashmir Durbar for the building [114] of a Railway in that State. On the 3rd we visited the Kayastha Patshala, a long-established and successful school for the education of students belonging to the Kayastha or writer caste of Hindus. The next two days were principally devoted to the visits to the Magh Mela, and on the 6th we left at 9 p.m. for the world-famed city of Agra.
Vào khoảng lúc mặt trời lặn trong ngày thăm viếng đầu tiên, 28 tháng Giêng, chúng tôi được đưa đi chèo thuyền trên sông Jumna và muộn hơn trong buổi tối có một cuộc họp của Hội Thông Thiên Học, tại đó tôi kết nạp hai thỉnh viên. Ngày 29 có công việc văn phòng ban ngày và buổi đàm thoại buổi tối. Lúc 6 giờ 30 tối hôm sau, Bà Besant diễn thuyết tại Mayo Hall về “Sự bất cập của chủ nghĩa duy vật”. Tác động của nó với cử tọa đông đảo thế nào có thể đoán được qua dòng bút tích trong Nhật ký của tôi, rằng đó là “bài diễn từ hay nhất và nhiệt thành nhất mà Bà từng trình bày về đề tài này”. Ngày 31, tôi hoàn tất bài O.D.L. cho số Theosophist tháng Ba, và lúc 6 giờ 30 tối, ở Lowther Castle, Bà Besant nói chuyện với một lớp đông các nam sinh đại học đang được Giáo sư Chakravarti và các bậc niên trưởng khác giảng dạy Thông Thiên Học. Tối hôm sau cũng ở nơi ấy có một buổi đàm thoại. Ngày 2 tháng Hai, buổi tối, Bà Besant thuyết giảng tại Nhà hát Đường sắt về “Cái chết và Sự sống sau cái chết,” trước một cử tọa rất thiếu thiện cảm. Trời mưa tầm tã suốt cả ngày và khán giả rất thưa. Riêng với Nữ bá tước Wachtmeister, ít nhất, ngày hôm đó vẫn có những kỷ niệm tươi sáng khi bà gặp, lần đầu trong hai mươi năm, người anh trai, Đại tướng Hầu tước de Bourbel thuộc Binh chủng Công binh Hoàng gia, người được điều chuyển phục vụ cho Chính quyền Kashmir để xây dựng [114] một tuyến Đường sắt trong Tiểu bang ấy. Ngày 3, chúng tôi đến thăm Kayastha Patshala, một trường học lâu đời và thành công dành để giáo dục sinh viên thuộc giai cấp Kayastha hay giai cấp thư lại của người Ấn. Hai ngày tiếp theo chủ yếu dành cho các chuyến thăm Magh Mela, và ngày mồng 6 chúng tôi rời đi lúc 9 giờ tối đến thành phố danh tiếng thế giới Agra.
On arriving at Agra, on the 7th, much behind time because of the crowding of the road with extra traffic connected with the transport of pilgrims to and from the great Mela, we were cordially received by my old friend, Lala Baijnath, a most earnest, scholarly and independent man, who took us to his house and entertained us most hospitably. Mrs. Arnold, a cousin of Miss Emily Kislingbury of London, (H. P. B’s and my New York guest), came with her husband from Aligarh to see Mrs. Besant, and attended the conversazione she held that evening. On the next day the ladies saw, for the first time, that architectural wonder of the world, the Taj Mahal, so often described as “a poem in marble”. Having seen it before, I was able to arrange for them an artistic surprise, by getting them to close their eyes and let me lead them through the arch of the entrance tower at one side of the gardens, and keeping them a little within the shadow, had them open their eyes and gaze on the picture of enchantment before them. The Taj is situated in a spacious garden of trees and flower-beds arranged with the finest taste of the landscape-gardener. From the place where [115] we stood stretched a long succession of narrow and shallow tanks of water, down the centre of which runs a single line of water-jets. This vista is broken at a distance of, perhaps, two hundred yards, by a large, raised, stone platform, stretching between the side-walks, from which visitors can have a comprehensive view of the landscape picture. Beyond it the water basins continue until they end at the raised promenade which runs all around the plinth on which stands the incomparable marble tomb of the Emperor Shah Jehan’s favorite Queen, Mumtaz Mahal, and of himself; its exquisite forms relieved against the sapphire background of the cloudless Indian sky. Every traveller of cultivated taste brings away the same impression. But when we walked down the avenue and came to the mausoleum, the Countess and I noticed that Mrs. Besant seemed oppressed by a sense of sadness; she looked listlessly but with mournful eyes, at the marble pile. When we asked her the reason for her sadness, she said that she was almost overcome with the sense of the bloodshed that had occurred in past times in and around the fort, whose towering, embattled walls stood before us on the other side of the river, and then, behind all the beauty of this peerless building, she felt the wretchedness and almost heard the groans of the poor coolies by whose enforced labour it had been built. One of the most ruthless acts of cruelty in history is reported to the discredit of Shah Jehan: it is said that the design of the tomb was made by a great Italian architect whom he had called from his faraway [116] land to superintend the building. When it was finished and its beauty was exposed to the gaze of men, this bloody tyrant cast him into prison and had his eyes burnt out so that he might never duplicate a work of such perfection. One cannot get an adequate idea of the Taj from any of the photographs, pictures or carved models that have found their way to all parts of the world: it must be seen in its enframing garden and under the light of an Indian sun, or in the moonlight of a warm Indian evening, to know what it is really like.
Tới Agra ngày mồng 7, trễ giờ rất nhiều vì đường sá quá đông do lưu lượng vận chuyển thêm gắn với việc đưa rước hành hương từ Đại hội Mela, chúng tôi được người bạn cũ Lala Baijnath—một người hết sức nghiêm cẩn, học vấn uyên thâm và độc lập—đón tiếp nồng hậu, đưa về nhà ông và đãi đằng vô cùng trọng hậu. Bà Arnold, chị em họ của cô Emily Kislingbury ở London (khách của H. P. B. và tôi ở New York), cùng chồng đi từ Aligarh đến thăm Bà Besant và dự buổi đàm thoại do Bà tổ chức tối hôm ấy. Ngày hôm sau, các bà lần đầu được thấy kỳ quan kiến trúc của thế giới, Taj Mahal, thường được tả như “một bài thơ bằng cẩm thạch”. Vì tôi đã từng thấy trước đó, nên có thể sắp đặt cho họ một màn ngạc nhiên nghệ thuật: bảo họ nhắm mắt và để tôi dẫn qua vòm cổng của tháp lối vào ở một bên khu vườn, rồi giữ họ đứng trong bóng râm một chút, sau đó bảo họ mở mắt chiêm ngưỡng bức tranh huyền hoặc trước mặt. Taj tọa lạc trong một khu vườn rộng rãi, cây cối và bồn hoa được sắp đặt theo khiếu thẩm mỹ tinh tế nhất của người thiết kế cảnh quan. Từ nơi [115] chúng tôi đứng trải ra một chuỗi dài những hồ nước hẹp và nông, giữa mỗi hồ có một dãy vòi phun nước. Trục nhìn này bị ngắt quãng ở khoảng cách chừng hai trăm yard bởi một sân thượng đá lớn và cao, bắc ngang giữa hai lối đi, từ đó du khách có thể có một cái nhìn bao quát về bức tranh phong cảnh. Bên kia là những bể nước tiếp nối đến tận lối đi cao chạy quanh bệ đài nơi đặt lăng mộ bằng cẩm thạch vô song của Hoàng đế Shah Jehan và Hoàng hậu sủng ái Mumtaz Mahal, và của chính ông; những đường nét tuyệt mỹ của nó nổi bật trên nền lam ngọc của bầu trời Ấn Độ không gợn mây. Mọi khách lữ hành có gu thẩm mỹ đều mang về cùng một ấn tượng. Tuy nhiên, khi chúng tôi đi dọc đại lộ và đến lăng, Nữ bá tước và tôi nhận thấy Bà Besant dường như bị đè nặng bởi một cảm thức u sầu; Bà nhìn dãy cẩm thạch thờ ơ nhưng đôi mắt u uất. Khi hỏi lý do nỗi buồn ấy, Bà nói rằng Bà gần như bị choáng ngợp bởi cảm giác về máu đã đổ xưa kia trong và quanh pháo đài, với những bức tường răng cưa cao sừng sững phía bên kia sông, và rằng sau tất cả vẻ đẹp của tòa công trình vô song này, Bà cảm thấy nỗi khốn cùng và gần như nghe được tiếng rên của những người phu khốn khổ—những người bị cưỡng bức lao dịch để xây nó. Một trong những hành vi tàn bạo nhất trong lịch sử được kể là do Shah Jehan gây nên: người ta nói rằng thiết kế lăng mộ do một kiến trúc sư người Ý vĩ đại thực hiện, người mà ông đã mời từ miền đất xa xôi của mình đến để giám sát việc xây dựng. Khi công trình hoàn tất và vẻ đẹp của nó được phơi bày trước mắt người đời, bạo chúa đẫm máu này đã quẳng ông vào ngục và cho chọc mù mắt để ông không bao giờ có thể tái tạo một tác phẩm hoàn mỹ như vậy. Không thể có một ý niệm đầy đủ về Taj từ bất kỳ bức ảnh, bức họa hay mô hình chạm khắc nào đã tới khắp nơi trên thế giới: phải thấy nó trong khu vườn bao bọc và dưới ánh mặt trời Ấn Độ, hoặc trong ánh trăng của một đêm Ấn Độ ấm áp, mới biết nó thực sự như thế nào.
Of course we were photographed at Agra as elsewhere, and after this incident of the morning of the 9th, the Countess and Mr. Sven Ryden, one of our Swedish members, went to see the Emperor Akbar’s tomb at Secundra--the sepulchre of the greatest of all the Emperors of Hindustan, a sovereign who was tolerant of all forms of religious belief, diminished the cruel and oppressive taxes laid on his Hindu subjects by his predecessors, reformed the administration of the revenue, promoted commerce and improved the roads of the Empire, encouraged learning and literature, instituted schools in all parts of his dominions, was worthy of kingship and was one of those whose names are preserved in history. I have stood by the tombs of many kings in different countries and usually came away filled with disgust and honest indignation at the lies about their character written by sycophants, upon the marble. Especially I felt this at St. Peter’s Rome, where I saw the magnificent monuments of popes and [117] kings who, if justice had been done, would have had their carcases thrown to the dogs: men—
Dĩ nhiên chúng tôi cũng chụp ảnh ở Agra như ở những nơi khác, và sau câu chuyện vui buổi sáng ngày mồng 9, Nữ bá tước và ông Sven Ryden, một hội viên người Thụy Điển của chúng tôi, đi xem lăng mộ Hoàng đế Akbar ở Secundra—nơi yên nghỉ của vị hoàng đế vĩ đại nhất của Hindustan, một nhà quân chủ khoan dung với mọi hình thức tín ngưỡng, đã giảm thuế khóa tàn ác và áp bức mà các bậc tiền nhiệm áp đặt lên thần dân Ấn giáo, cải tổ nền tài chính, thúc đẩy thương mại và cải thiện đường sá của Đế quốc, cổ vũ học thuật và văn chương, thiết lập trường học khắp cõi, xứng đáng là minh quân và là một trong những người có tên tuổi còn lưu trong sử sách. Tôi đã đứng bên mộ của nhiều vị vua ở nhiều nước và thường ra về với niềm ghê tởm và phẫn nộ chân thành trước những điều dối trá về phẩm hạnh của họ được các kẻ nịnh bợ khắc trên cẩm thạch. Đặc biệt tôi có cảm giác ấy ở Thánh đường Thánh Phêrô tại Roma, nơi tôi thấy những đài kỷ niệm nguy nga của các giáo hoàng và [117] các vua—những kẻ, nếu công lý được thực thi, thân xác họ hẳn đã bị quăng cho chó gặm: những người—
“Whose game was empires, and whose stakes were thrones,
“Chơi trò đế quốc, đặt cược là ngai vàng,
Whose table earth—whose dice were human bones.”
Bàn chơi là Trái Đất—xúc xắc là xương người.”
Besides these moral dwarfs, the figures of Akbar and Asoka, Emperors of India, tower majestic.
So với những kẻ lùn về đạo đức ấy, hình tượng Akbar và Asoka, các Hoàng đế Ấn Độ, vươn lên sừng sững.
Mrs. Besant’s lecture that evening was on the “Evolution of Man,” a tribute, possibly, to Lala Baijnath’s scientific and philosophical taste. At the close I formed the “Agra Hindu Students’ Association” and got up a subscription for their library. On our return to the house our host read to Mrs. Besant and myself part of the MS. of an Advaita Catechism he was composing. We found it excellent: which is saying a great deal, for, confessedly this is a literary task of great difficulty. There is something so subtle, so metaphysical in the doctrine of Shankarâchârya that it is a most troublesome affair to compress it into a series of questions and answers which the average person, especially the young student, can comprehend. As I think I have explained before, the success of the First Edition of the Buddhist Catechism, in 1880, gave me the idea of publishing a similar synthetical work on each of the Eastern religions: my plan covering both Zoroastrianism and Islam, in addition to the three great schools of Indian thought. Of these, the Dwaita and Visishtadwaita Catechisms have been published, and even one of the Shin-shu school of Japanese [118] Buddhism; a Parsi gentleman has made an attempt at one of his religion but, although I have had my notes ready for years I have never had time, amid my official duties, to prepare the digest of Islam. The Advaita has never been brought to the point of readi-ness for publication, so far as I know, although I have made two or three bargains with different Indian writers to complete it. I was, then, naturally very pleased to find that Lala Baijnath had so intuitively grasped the right theory of treatment, and I hope that, in time, his work may be published.
Bài diễn thuyết của Bà Besant tối hôm đó nói về “Sự tiến hóa của Con người,” có lẽ như một lời tri ân đối với gu khoa học và triết học của Lala Baijnath. Kết thúc, tôi thành lập “Hội Sinh viên Ấn giáo Agra” và quyên góp cho thư viện của họ. Trở về nhà, chủ nhà đọc cho Bà Besant và tôi nghe một phần bản thảo Sách giáo lý vấn đáp Advaita do ông soạn. Chúng tôi thấy nó xuất sắc: và nói vậy là đã nói rất nhiều, vì rõ ràng đây là một công việc văn học vô cùng khó. Học thuyết của Shankarâchârya vi diệu, siêu hình đến mức thật nhọc nhằn để cô đọng thành một chuỗi hỏi-đáp sao cho người bình thường, đặc biệt là học sinh trẻ, có thể hiểu. Như tôi nghĩ mình đã giải thích trước đây, thành công của Ấn bản đầu tiên Sách giáo lý vấn đáp Phật giáo năm 1880 đã gợi cho tôi ý định xuất bản một tác phẩm tổng hợp tương tự về mỗi tôn giáo phương Đông: kế hoạch của tôi bao gồm cả Bái Hỏa giáo và Hồi giáo, ngoài ba trường phái lớn của tư tưởng Ấn Độ. Trong số đó, Sách giáo lý vấn đáp Dwaita và Visishtadwaita đã được xuất bản, và thậm chí còn có một bản của tông Shin-shu thuộc Phật giáo Nhật Bản [118]; một quý ông Parsi đã thử viết một bản cho tôn giáo của mình, nhưng dù tôi đã có sẵn ghi chú suốt nhiều năm, tôi vẫn chưa có thời gian, giữa bộn bề công vụ, để soạn bản tóm lược về Hồi giáo. Advaita thì, theo tôi biết, chưa bao giờ được đưa đến độ sẵn sàng để xuất bản, dù tôi đã hai ba lần ký thỏa thuận với các tác giả Ấn Độ khác nhau để hoàn tất. Do đó, tôi rất mừng khi thấy Lala Baijnath đã trực giác nắm được cách thức xử lý đúng đắn, và tôi hy vọng rằng đến lúc, công trình của ông sẽ được công bố.
Early on the morning of the 10th we left Agra for Muttra, the holy place so intimately associated with the memory of Shri Krishna. It is only a three hours’ ride, so we reached there in ample time for the second breakfast, which is as fixed an “institution” in India as it is in France. We were accommodated in a nice cottage belonging to H. H. the Maharajah of Bhurtpore. In the afternoon our friends took the Countess and myself in a rowboat past the whole river front of the city—a most picturesque panorama. We saw the place where Shri Krishna is said to have performed the sraddha ceremony for his uncle, and the high tower which marks the spot where the wives of Kamsa burnt themselves in suttee. In the evening Mrs. Besant lectured in the Garrison Theatre on “Death and Life After Death,” to an audience composed mainly of English soldiers. Later, I broached to the Indian gentlemen present the idea of a boys’ society and opened a subscription, which was continued at a meeting on [119] the next day and the society formed; after which Mrs. Besant gave a lecture which was translated into the vernacular, there not being enough English-speaking Hindus present to relieve her of that necessity. I, who had passed through the same ordeal more than an hundred times, could well sympathise with her; the more so as I was now a mere auditor and not the player of the leading part. Indeed, I felt sorry to see this gifted daughter of Minerva, from whose mouth leaps the crystal stream of heart-moving eloquence, when left to take her own gait, forced to give her discourse sentence by sentence, and each time wait for her words to be mutilated in the vernacular to bring them within the comprehension of this Indian audience. On the next morning we left for Delhi, the old capital of the Moghul Empire. We reached our destination at 5 p.m. and at 6 Mrs. Besant was standing before a huge audience in the Town Hall lecturing on that subject which invariably stirs the heart of the Hindu to its depths, “India, Past, Present and Future”. It made a deep and lasting impression. Later, and when we were all more than ready for it, we had dinner in native fashion at the house of our friend and colleague, Dr. Hem Chundra Sen, who has carried on his broad shoulders, from the first, the foundation of the local Theosophical Branch which I laid at the time of my first visit to this place. On the next morning he took us for a drive to the Kutub Minar, a description of which will be reserved for our next chapter.
Sáng sớm ngày mồng 10, chúng tôi rời Agra đi Muttra, thánh địa gắn bó mật thiết với ký ức về Shri Krishna. Chỉ mất ba giờ tàu, nên chúng tôi đến nơi kịp bữa điểm tâm thứ hai—một “thể chế” cố định ở Ấn Độ cũng như ở Pháp. Chúng tôi được sắp xếp ở trong một căn nhà xinh xắn thuộc về Đức Maharajah xứ Bhurtpore. Buổi chiều, bạn bè đưa Nữ bá tước và tôi đi thuyền dọc theo toàn bộ mặt tiền sông của thành phố—một bức toàn cảnh cực kỳ nên thơ. Chúng tôi thấy nơi được nói là Shri Krishna đã làm lễ śrāddha cho chú của Ngài, và tòa tháp cao đánh dấu chỗ các vợ của Kamsa tự thiêu theo chồng (suttee). Buổi tối, Bà Besant diễn thuyết tại Nhà hát Đồn trú về “Cái chết và Sự sống sau cái chết,” trước một cử tọa chủ yếu là lính Anh. Sau đó, tôi trình bày với các quý ông Ấn có mặt về ý tưởng lập một hội thiếu niên và mở đầu một cuộc quyên góp, được tiếp tục tại một cuộc họp vào [119] ngày hôm sau và hội được thành lập; sau đó Bà Besant có bài diễn thuyết được dịch sang tiếng bản xứ, vì không có đủ người Ấn nói tiếng Anh để Bà khỏi phải chịu phiền toái đó. Tôi, người đã trải qua cùng thử thách ấy hơn một trăm lần, hoàn toàn có thể đồng cảm với Bà; càng hơn nữa vì lúc này tôi chỉ là khán giả chứ không phải người đóng vai chính. Quả thực, tôi thấy tiếc khi chứng kiến người con ưu tú của Minerva này—từ miệng Bà, khi được để mặc đi nước bước riêng, tuôn ra một dòng suối pha lê hùng biện lay động lòng người—lại bị buộc phải trình bày bài nói chuyện câu nọ nối câu kia, và mỗi lần đều phải đợi để lời mình bị “cắt xén” trong tiếng bản xứ sao cho vừa tầm lĩnh hội của cử tọa Ấn Độ này. Sáng hôm sau chúng tôi đi Delhi, kinh đô cũ của Đế quốc Moghul. Chúng tôi đến nơi lúc 5 giờ chiều và 6 giờ, Bà Besant đã đứng trước một cử tọa khổng lồ tại Tòa Thị chính, diễn thuyết về đề tài luôn lay động trái tim người Ấn đến tận đáy sâu: “Ấn Độ: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”. Nó để lại một ấn tượng sâu xa và lâu bền. Muộn hơn, khi tất cả chúng tôi đều đã quá giờ cơm, chúng tôi dùng bữa theo lối bản xứ tại nhà người bạn và đồng sự, bác sĩ Hem Chundra Sen, người đã gánh vác trên đôi vai rộng lớn của mình, ngay từ đầu, nền móng của Chi bộ địa phương Thông Thiên Học mà tôi đặt từ chuyến thăm đầu tiên nơi này. Sáng hôm sau, ông chở chúng tôi đi tham quan Kutub Minar, phần mô tả xin để dành cho chương kế tiếp.
CHAPTER X—CHƯƠNG X
MRS. BESANT’S TOUR IN PUNJAB—CHUYẾN DU HÀNH CỦA BÀ BESANT Ở PUNJAB
(1894)—(1894)