← OLD DIARY LEAVES 5

[129]

THERE are few spots on the earth’s surface around which cluster so many memories of human strife and struggle, of wasted valour and triumphant savagery, of the conquest and destruction of kingdoms and the birth of new empires, as Delhi. For 45 miles around the fields are cumbered with heaps of splendid ruins, cities reduced to dust, palaces destroyed, tombs of conquerors eaten into by the tooth of time, and here and there, like jewels lying on a heap of rubbish, marble mosques and tombs of exquisite design standing as shining tokens of the high water-mark attained in art by successful soldier-chiefs who left behind them, in their triumphant progress towards a throne, a sea of blood and the moans of dying populations whom they had first despoiled of their last coin and then slaughtered. One who can read the records of the imperishable âkâsha and bring up before him the living pictures of past epochs must feel, if he has the least sympathy for the sufferings of his race, a crushing sense of sadness as he casts his mental gaze around him and contemplates [121] the tragedies of the past. But we do not have to evoke the pictures of the astral light to know something about the tragical events of the Province; the pages of history which record them are, one might almost say, of the colour of blood. During the first eleven, centuries of our Era there was a succession of Hindu dynasties; in the 12th began that of the Moslem invaders: Mohammed of Ghor, Kutub-ud-din, Altamsh, Queen Raziyâ, Jalâl-ud-din, Alâ-ud-din, Tughlak, Firoz Shâh, succeeding each other and each destroying, decimating, restoring, constructing and re-peopling. War was the normal state of things, peace the occasional. In December, 1398, during the reign of Mohammed Tughlak, the hordes of Timûr reached Delhi. The king fled to Gujarât, the army suffered a defeat beneath the walls, and Timûr, entering the city gave it over for five days to plunder and massacre. As the “Imperial Gazetteer of India” tells us, “Dead bodies choked the streets; and when at last even the Mughal appetite for carnage was satiated, the host retired dragging with them into slavery large numbers both, of men and women.” In the 18th century the Persian invader, Nâdir Shâh, entered the city in triumph, and re-enacted the massacre of Timûr. For fifty-eight days the victor plundered rich and poor alike; “when the last farthing had been exacted, he left the city with a booty estimated at £9,000,000.” (op.cit., Vol. IV, pp. 192-3.)

HIẾM có nơi nào trên bề mặt địa cầu quy tụ dày đặc đến vậy những ký ức về tranh chấp và giằng co của loài người, về dũng cảm bị phung phí và man rợ chiến thắng, về chinh phục và hủy diệt các vương quốc và khai sinh các đế chế mới, như Delhi. Trong vòng 45 dặm, đồng ruộng chất đầy những đống hoang tàn tráng lệ, các đô thị hóa thành tro bụi, cung điện bị phá hủy, lăng mộ của các kẻ chinh phục bị răng thời gian đục khoét, và đây đó, như những món ngọc nằm trên đống rác, là các đền thờ và lăng tẩm cẩm thạch với thiết kế tuyệt mỹ, đứng như chứng tích sáng ngời về mực nước đỉnh cao nghệ thuật mà những thủ lãnh binh nghiệp thành công đã đạt đến, những kẻ để lại sau lưng, trên đường tiến tới ngai vàng, một biển máu và tiếng rên siết của những thần dân hấp hối sau khi bị chúng cướp đến đồng xu cuối cùng rồi đem giết. Ai có thể đọc được những ký lục bất hoại của âkâsha và làm hiện lên trước mắt mình những bức tranh sinh động của các thời đại đã qua hẳn phải cảm thấy, nếu người ấy có chút cảm thông nào với nỗi khổ của đồng loại mình, một cảm giác buồn thương đè nặng khi phóng tầm mắt trong tâm thức nhìn quanh và chiêm ngưỡng [121] những bi kịch quá khứ. Nhưng ta không cần phải triệu vời những bức họa của ánh sáng cảm dục để biết đôi điều về biến cố bi thương của Tỉnh; các trang sử ghi chép về chúng, có thể nói, nhuốm màu máu. Trong mười một thế kỷ đầu của Kỷ nguyên, nối nhau là những triều đại Ấn giáo; đến thế kỷ 12 bắt đầu thời của các đạo quân xâm lăng Hồi giáo: Mohammed xứ Ghor, Kutub-ud-din, Altamsh, Nữ hoàng Raziyâ, Jalâl-ud-din, Alâ-ud-din, Tughlak, Firoz Shâh, kế vị nhau và triều nào cũng phá—giết—xây—lập lại dân cư. Chiến tranh là trạng thái bình thường, hòa bình là ngoại lệ. Tháng Chạp năm 1398, dưới triều Mohammed Tughlak, đoàn quân Timûr tiến đến Delhi. Vua chạy sang Gujarât, đạo quân thì thất bại dưới chân tường thành, và Timûr, tràn vào thành, thả cho cướp bóc và tàn sát suốt năm ngày. Như “Niên giám Đế quốc Ấn Độ” thuật lại, “Thây người chất nghẽn đường; và khi cuối cùng ngay cả cái dạ tham tàn của người Mughal cũng đã no đủ máu, đoàn quân rút đi, lôi theo vào kiếp nô lệ vô số cả nam lẫn nữ.” Sang thế kỷ 18, kẻ xâm lăng Ba Tư, Nâdir Shâh, tiến vào thành trong khúc khải hoàn và tái diễn cuộc tàn sát của Timûr. Trong năm mươi tám ngày, kẻ chiến thắng cướp bóc cả giàu lẫn nghèo; “khi đồng xu cuối cùng cũng bị vét sạch, hắn rời thành với chiến lợi phẩm ước tính 9.000.000 bảng.” (sđd., Tập IV, tr. 192–3.)

In the last chapter the reader was brought, with our travelling party, under the kind guidance of Dr. [122] Hem Chandra Sen, to the foot of the Kutub Minar. This is a splendid minaret, or rather a Tower of Victory, erected in the 12th century by Kutub-ud-din, Viceroy of the Sultan Shâhab-ud-din who, on the death of his master, proclaimed himself an independent sovereign, and became the founder of the Slave dynasty. To him old Delhi owes most of its grandest ruins. The huge column in question is about two hundred and forty feet in height, forty-eight feet in diameter at the base and about nine feet at the summit. The shaft consists of five stories, enclosing a spiral staircase, and is crowned by a now broken cupola, which fell during an earthquake in 1803. At the junction of each storey with the one above it there is a boldly-projecting balcony; the material is red sandstone except at the top where thirty-six feet of the tower are built of white marble. Up to this point the surface is fluted, in the lower storey the flutes being alternately angular and circular; in the second, circular, and in the third angular only. Between the stories are richly-sculptured raised belts containing inscriptions in Arabic. The most superficial observer must be struck by the exquisite grace and symmetry of this enduring monument of the Sultan Kutub. Dr. Fergusson, the most celebrated of writers on Indian and Eastern architecture, says: [4]

Ở chương trước, độc giả đã theo cùng đoàn du hành của chúng tôi, dưới sự hướng dẫn tận tình của Bác sĩ [122] Hem Chandra Sen, tới chân tháp Kutub Minar. Đây là một tháp kỷ niệm tuyệt diệu, đúng hơn là một Tháp Chiến Thắng, dựng vào thế kỷ 12 bởi Kutub-ud-din, Phó vương của Quốc vương Shâhab-ud-din, người sau khi chủ băng hà đã tự xưng đế độc lập, trở thành vị sáng lập triều đại Nô lệ. Delhi cổ kính mang ơn ông về phần lớn di tích hùng vĩ của mình. Cột tháp này cao chừng hai trăm bốn mươi foot, đường kính chân tháp khoảng bốn mươi tám foot và đỉnh chừng chín foot. Thân tháp gồm năm tầng, bên trong là cầu thang xoắn, và chóp tháp đội một vòm nay đã vỡ, sập trong trận động đất năm 1803. Nơi tiếp giáp mỗi tầng với tầng trên đều có một ban công đua ra bạo dạn; vật liệu là sa thạch đỏ ngoại trừ phần đỉnh, nơi ba mươi sáu foot tháp được xây bằng cẩm thạch trắng. Tới điểm này, bề mặt được khía rãnh, ở tầng dưới cùng thì các rãnh luân phiên góc cạnh và tròn; ở tầng hai là rãnh tròn, và ở tầng ba chỉ còn rãnh góc. Giữa các tầng là những dải nổi chạm trổ tinh xảo chứa các dòng bố cáo bằng Ả Rập. Ngay cả người quan sát hời hợt nhất cũng phải bị chinh phục bởi vẻ duyên dáng tuyệt mỹ và sự cân xứng của công trình bền vững này của Quốc vương Kutub. Tiến sĩ Fergusson, học giả danh tiếng nhất về kiến trúc Ấn Độ và phương Đông, nói:

“It is probably not too much to assert that the Kutub Minar is the most beautiful example of its class known to exist anywhere. The rival that will occur at once to most people is the campanile at Florence, [123] built by Giotto.” But he adds, “beautiful though it is, it wants that poetry of design and exquisite finish of detail which marks every moulding of the Minar.” There is a difference of opinion between Dr. Fergusson and Sir William Hunter, Editor of the Imperial Gazetteer of India, as to the original purpose of the monument, the latter saying that it “was doubtless as a Muazzam’s tower, whence the call to evening and morning prayer might be heard throughout the whole city”; while the other authority affirms that “the tower must not be looked at as if erected for the same purposes as those usually attached to mosques elsewhere. It was not designed as a place from which the muëddin should call the prayers, though its lower gallery may have been used for that purpose also, but as a Tower of Victory—a Jaya Stambha, in fact—an emblem of conquest, which the Hindus could only too easily understand and appreciate.”

“Có lẽ không quá lời khi khẳng định Kutub Minar là mẫu mực tuyệt đẹp nhất còn tồn tại ở bất cứ đâu trong loại hình của nó. Đối thủ sánh ngang thoáng hiện trong tâm trí nhiều người có lẽ là tháp chuông ở Florence, [123] do Giotto xây.” Nhưng ông bổ sung, “dẫu đẹp là thế, nó vẫn thiếu cái chất thơ trong thiết kế và sự tinh xảo tuyệt luân nơi từng đường gờ phào mà Minar phô diễn.” Có sự bất đồng giữa Tiến sĩ Fergusson và Ngài William Hunter, Chủ biên Niên giám Đế quốc Ấn Độ, về mục đích nguyên thủy của công trình, vị sau nói rằng nó “hẳn là một tháp của người xướng gọi cầu nguyện buổi sáng và tối, sao cho lời gọi có thể vang khắp thành phố”; trong khi vị kia quả quyết “tháp này không thể được nhìn như thể dựng nên với cùng mục đích như những gì thường gắn liền với đền thờ ở nơi khác. Nó không được thiết kế như một nơi để người xướng gọi cầu nguyện cất tiếng, dù là ban công thấp có thể cũng được dùng như thế, mà là một Tháp Chiến Thắng—thực vậy, một Jaya Stambha—một biểu tượng của chinh phục, điều mà người Ấn có thể dễ dàng hiểu và thấu cảm.”

Around a great court in which the column stands are the ruins of a mosque, also built by the Afghan conqueror, largely of carved fragments torn from Hindu temples, but put together in the forms of what we call Saracenic architecture. Fergusson says that it “is, without exception, the most exquisite specimen of its class”. Bishop Heber, who once viewed the landscape from the same spot where Mrs. Besant and the rest of us now stood, thus describes what he saw: “A very awful scene of desolation, ruins after ruins, tombs after tombs, fragments of brickwork, freestone, granite and marble, scattered everywhere over a soil [124] naturally rocky and barren, without cultivation, except in one or two small spots, and without a single tree.” But as I am neither a newspaper nor an architectural expert, I shall not dwell upon the details of the rise and fall of empires around this historical spot. Suffice it to say that the first was that of the earliest Aryan immigrants into India, at least 2000 B.C., who called their capital Indraprastha, which is referred to in the Mahâbhârata, and the last, that of the British Raj. The thing that most struck me was that the exquisite mosques, tombs, palaces and towers, which met our eyes, should have been erected by conquerors whose military cruelties were inconceivably brutal. I cannot, however, leave the subject without a brief mention of the iron pillar to which the recent discoveries of Dr. J. C. Bose and others, as to the diseases of metals, lend additional interest. This column of malleable iron without alloy, which has stood in the open air, exposed to all the vicissitudes of the north Indian climate through fourteen centuries, is without rust or any sign of decomposition. From base to capital it is forty-three feet high, with a diameter at the bottom of sixteen inches and at the top of twelve inches, some twenty feet of the base being under ground; the capital is three and a half feet high, sharply and clearly wrought into the Persian form, and affords a most striking proof of the fact that in that far-distant age the Hindus achieved results in metal-working which have never been paralleled in the Western countries up to a very late date. Well may Fergusson say that “it opens our [125] eyes to an unsuspected state of affairs. It is equally startling to find that, after an exposure to wind and rain for fourteen centuries, it is unrusted, and the capital and inscription are as clear and as sharp now as when put up”. One would naturally suspect that the ancients had the secret of some anticorrosive alloy, but General Cunningham, in India, and Dr. Percy, of the London School of Mines, had portions analysed and the substance was found to be pure iron without alloy. Madame Blavatsky touches upon this subject, as upon so many others, in that most useful repository, Isis Unveiled. In Vol. I, pp. 210-11, she hints that the ancients, who had excelled in skill as metallurgists and lapidaries from an unknown antiquity, were acquainted with the workings of “that subtle power, which ancient philosophers called the ‘world’s soul’. In the East only and on the boundless tracts of unexplored Africa will the student of psychology find abundant food for his truth-hungering soul.” The reason, she says, is obvious. Nature’s finer forces can hardly be evoked in populous neighborhoods where manufactories and industrial works of various other sorts abound, poisoning the atmosphere with their chemical emanations, and the evil is increased by the outgoing auric currents of unspiritual multitudes. She tells us that “Nature is as dependent as a human being upon conditions, before she can work and her mighty breathing, so to say, can be as easily interfered with, impeded and arrested, and the correlation of her forces destroyed in a given spot, as though she were a man.” Not only [126] climate, but also occult influences daily felt not only modify the physio-psychological nature of man, but even alter the constitution of so-called inorganic matter in a degree not fairly realized by European science. Thus the London Medical and Surgical Journal advises surgeons not to carry lancets to Calcutta, because it has been found by personal experience “that English steel could not bear the atmosphere of India”; so a bunch of English or American keys “will be completely covered with rust twenty-four hours after having been brought to Egypt; while objects made of native steel in those countries remain unoxidized”. The fact is that we have many things to learn in regard to metallurgy, among them the secret of the tempering of tools of iron, copper and bronze to the degree of perfection possessed by the ancients. Our archæologists are just beginning to turn over some of the oldest leaves in the world’s history. On this very day of writing I have read in the periodical called Science Siftings, that Professor Flinders Petrie, probably the most renowned archæologist of the day, says that “the astounding feature about the recent Egyptian discoveries is that they entirely upset all the notions about Egyptian art which have hitherto obtained. Instead of the Egyptian art we know being but the beginnings, the initial strivings of a people to express themselves, that art is now shown to be debased and to have degenerated from an infinitely superior form many generations earlier. Some of the early, almost pre-historic, drawings are beautiful and perfect in design. The [127] detail in the figures on some of the earliest sketches is wonderful in its fineness, beauty and accuracy. Moreover, the writing on even the earliest forms is perfect. This would show that a state of high civilization existed in Egypt some centuries before the date often assigned to the creation of the world”. But exactly what Flinders Petrie is discovering now was discovered by Mariette Bey before him, as will be seen on referring to Isis Unveiled, I, 6. The mystery of the iron column at the Kutub Minar gives almost the irresistible conviction that its forgers of the 5th century had the secret of so controlling the pulsations of the ether, or world-soul, within it, as to preserve it from the chemical changes which attack all steel of modern manufacture. “This ancient steel,” exclaims that famous American orator, Wendell Phillips, “is the greatest triump of metallurgy, and metallurgy is the glory of chemistry.”

Quanh một sân lớn nơi cột tháp tọa lạc là phế tích của một ngôi đền Hồi giáo, cũng do vị chinh phục Afghan dựng nên, phần lớn bằng những mảnh chạm khắc giật từ các đền Hindu, nhưng được ráp theo hình thức mà ta gọi là kiểu kiến trúc Hồi giáo. Fergusson nói rằng đó “là, tuyệt không ngoại lệ, mẫu tuyệt mỹ nhất trong loại hình của nó”. Giám mục Heber, người từng nhìn ngắm phong cảnh từ đúng nơi mà giờ đây Bà Besant và chúng tôi đang đứng, tả lại những gì ông thấy như sau: “Một cảnh hoang tàn gây kinh sợ, phế tích nối phế tích, mộ phần tiếp mộ phần, mảnh vỡ gạch đá, sa thạch, đá hoa cương và cẩm thạch vương vãi khắp nơi trên một vùng đất [124] vốn sỏi đá và cằn cỗi, không canh tác, trừ một hai mảnh nhỏ, và không một bóng cây.” Nhưng vì tôi không phải là ký giả hay chuyên gia kiến trúc, tôi sẽ không sa đà vào chi tiết về sự hưng vong của các đế chế quanh nơi lịch sử này. Chỉ xin nói rằng triều đại sớm nhất là của những người Arya đầu tiên nhập cư vào Ấn Độ, ít nhất 2000 năm trước Công nguyên, những người đã đặt tên kinh đô là Indraprastha—được nhắc đến trong Mahâbhârata—và cuối cùng là thời của Anh trị. Điều khiến tôi ấn tượng nhất là việc những đền thờ, lăng mộ, cung điện và tháp tuyệt mỹ trước mắt chúng tôi lại do chính những kẻ chinh phục dựng nên—những kẻ có những hành vi tàn bạo trong binh nghiệp không sao tưởng nổi. Tuy nhiên, tôi không thể bỏ qua đề tài mà không nhắc sơ về cột sắt—nơi những phát hiện gần đây của Tiến sĩ J. C. Bose và những người khác về “bệnh lý” của kim loại, mang đến mối quan tâm mới. Cột sắt rèn không hợp kim này đứng phơi giữa trời, chịu mọi khắc nghiệt của khí hậu Bắc Ấn suốt mười bốn thế kỷ, không hề rỉ sét hay có dấu hiệu phân hủy. Từ chân tới đỉnh, nó cao bốn mươi ba foot, đường kính ở đáy là mười sáu inch và ở đầu là mười hai inch, chừng hai mươi foot phần chân chôn dưới đất; phần đầu cột cao ba foot rưỡi, được rèn sắc sảo và rõ nét theo dạng Ba Tư, và là bằng chứng ấn tượng cho thấy vào thời xa xưa ấy người Ấn đã đạt tới những thành tựu luyện kim chưa hề có đối sánh ở các quốc gia phương Tây cho tới mốc rất muộn. Fergusson hẳn đã nói rất đúng khi rằng “nó mở [125] mắt chúng ta trước một thực trạng không ngờ. Cũng gây sửng sốt không kém khi thấy rằng sau mười bốn thế kỷ phơi mưa nắng, nó vẫn không rỉ, và phần đầu lẫn minh văn rõ ràng, sắc nét như khi vừa dựng.” Tự nhiên người ta sẽ nghi ngờ rằng người xưa hẳn nắm bí quyết về một hợp kim chống ăn mòn nào đó, nhưng Tướng Cunningham ở Ấn Độ và Tiến sĩ Percy của Trường Mỏ London đã lấy mẫu phân tích và thấy chất liệu là sắt tinh khiết không hợp kim. Bà Blavatsky có bàn đến đề tài này, cũng như nhiều đề tài khác, trong kho tàng cực kỳ hữu dụng ấy—Isis Unveiled. Ở Tập I, tr. 210–11, Bà gợi ý rằng người cổ đại—những bậc đã siêu quần trong luyện kim và trau ngọc từ thời vô thủy—am tường việc vận dụng “mãnh lực vi tế” mà các triết gia cổ gọi là “linh hồn thế giới”. Ở phương Đông và trên các vùng đất mênh mông còn chưa được khai phá của châu Phi, đạo sinh tâm lý học sẽ tìm thấy dư thừa chất liệu cho linh hồn đói khát chân lý của mình. Lý do, Bà nói, thật rõ ràng. Các lực linh diệu của Tự Nhiên khó lòng được triệu gọi ở những xóm phường đông đúc nơi các nhà máy và vô số cơ sở công nghệ khác nhau nhan nhản, đầu độc không khí bằng các khí thải hóa học, và cái xấu ấy còn bị tăng cường bởi các dòng hào quang phóng xuất từ đám đông vô minh tinh thần. Bà nói với chúng ta rằng “Tự Nhiên cũng lệ thuộc vào các điều kiện như con người, trước khi có thể tác động, và hơi thở hùng vĩ của Nàng, nói vậy, dễ dàng bị can thiệp, cản trở và đình chỉ, và sự tương quan của các lực Nàng bị phá vỡ ở một vùng nhất định, như thể Nàng là một con người vậy.” Không chỉ [126] khí hậu, mà cả các ảnh hưởng huyền linh hàng ngày được cảm thụ không chỉ làm biến cải bản tính sinh lý–tâm linh của con người mà còn thay đổi cả cấu trúc của cái gọi là vật chất vô cơ ở một mức độ mà khoa học Âu châu chưa thấu triệt. Chẳng hạn, Tạp chí Y khoa và Ngoại khoa London khuyên các bác sĩ không nên mang dao trích huyết sang Calcutta, vì người ta thấy qua kinh nghiệm rằng “thép Anh không chịu nổi khí hậu Ấn Độ”; tương tự, một chùm chìa khóa Anh hay Mỹ “sẽ bị phủ đầy rỉ chỉ sau hai mươi bốn giờ đem đến Ai Cập; trong khi các vật dụng làm bằng thép bản xứ ở những xứ ấy lại không bị ăn mòn”. Sự thật là chúng ta còn nhiều điều phải học trong luyện kim, trong đó có bí quyết tôi luyện các dụng cụ bằng sắt, đồng và đồng thiếc đến độ hoàn hảo mà cổ nhân đã sở đắc. Các nhà khảo cổ của chúng ta mới chỉ bắt đầu giở những trang cổ nhất trong sử biên niên của thế giới. Ngay hôm nay, khi viết những dòng này, tôi vừa đọc trên tạp chí Science Siftings rằng Giáo sư Flinders Petrie—có lẽ là nhà khảo cổ danh tiếng nhất thời nay—nói rằng “điều gây kinh ngạc về những phát hiện Ai Cập gần đây là chúng hoàn toàn lật nhào mọi quan niệm từ trước đến nay về nghệ thuật Ai Cập. Nghệ thuật Ai Cập mà ta biết, thay vì mới ở giai đoạn phôi thai, là những cố gắng ban đầu của một dân tộc nhằm tự biểu đạt, thì nay được chứng minh là suy đồi và đã thoái hóa so với một hình thái cực kỳ ưu việt hơn từ hàng bao thế hệ trước. Một số bức vẽ thời kỳ rất sớm, gần như tiền sử, đẹp và hoàn hảo trong thiết kế. [127] Chi tiết trong các hình người ở một số phác thảo sớm nhất thật kỳ diệu ở độ tinh xảo, đẹp và chính xác. Hơn nữa, văn tự ngay cả ở những dạng sớm nhất cũng hoàn mỹ. Điều này cho thấy một trình độ văn minh cao đã tồn tại ở Ai Cập nhiều thế kỷ trước thời điểm thường được gán cho ngày tạo dựng thế giới.” Nhưng chính xác những gì Flinders Petrie đang khám phá bây giờ đã được Mariette Bey phát hiện trước ông, như sẽ thấy khi tham chiếu Isis Unveiled, I, 6. Sự nhiệm mầu của cột sắt ở Kutub Minar gần như buộc ta đến xác tín rằng những người thợ rèn thế kỷ 5 đã nắm bí quyết điều khiển các nhịp động của dĩ thái—hay linh hồn thế giới—trong đó, để bảo toàn nó khỏi các biến đổi hóa học tấn công mọi loại thép của nền công nghệ hiện đại. “Thứ thép cổ này,” nhà hùng biện Mỹ nổi tiếng Wendell Phillips thốt lên, “là khúc khải hoàn lớn nhất của luyện kim, và luyện kim là vinh quang của hóa học.”

Of course, the walls of the topmost chamber in the Kutub Minar are covered with names and inscriptions of various sorts left by visitors; so, as there was a vacant space just over the entrance door, I wrote there the name of our Society, after which we came away and returned to the city.

Dĩ nhiên, tường của gian trên cùng ở Kutub Minar chi chít tên và bút tích các hạng do khách để lại; nhân có một khoảng trống ngay trên cửa ra vào, tôi viết tên Hội của chúng ta ở đó, rồi chúng tôi rời đi quay về thành phố.

That evening, Feb. 13th, Mrs. Besant lectured again at the Town Hall on the subject of “Theosophy and Science”. She treated the subject more satisfactorily than ever, as she went more into details in making her scientific points. The fact is that the latest discoveries of science are really fascinating for the student of [128] Theosophy, because every step in advance is made in the direction of the domain of ancient occult science. The latest announcement that I have seen is that someone has constructed a machine so delicate that he is able to prove the actual relationship between colour and sound, a subject which, I need scarcely remind our older members, has been often discussed by the writers of our Society. There is really but one step between the latest advance in wireless telegraphy and the phenomenon of thought-transference. We, old Theosophists, are like people standing on a rocky cliff and watching the waves dashing against its foot; the waves, in our case, are the assaults of the impotent critics of the Ancient Wisdom, that living rock of philosophy which stands firm and unshaken from age to age amid the fugitive changes of dogmatic theology. A quarter of a century has not weakened the position taken up at the beginning by our Founders but, on the contrary, we have yearly become stronger and stronger as sectarian barriers have been undermined by the advancement of science.

Tối hôm ấy, 13 tháng Hai, Bà Besant lại diễn thuyết tại Tòa Thị chính về “Thông Thiên Học và Khoa học”. Bà triển khai đề tài thỏa đáng hơn bao giờ hết, vì đi sâu vào chi tiết khi đưa ra các luận điểm khoa học. Sự thật là những phát hiện mới nhất của khoa học thực sự cuốn hút đối với đạo sinh của [128] Thông Thiên Học, vì mỗi bước tiến đều hướng về miền của khoa học huyền linh cổ đại. Tuyên bố mới nhất mà tôi được đọc là có người đã chế tạo được một cỗ máy tinh nhạy đến mức chứng minh được mối tương quan thực sự giữa màu sắc và âm thanh—một đề tài mà, tôi không cần nhắc các hội viên kỳ cựu của chúng ta, đã từng được các tác giả của Hội bàn luận nhiều lần. Quả thật, chỉ còn một bước giữa bước tiến mới nhất của điện tín vô tuyến và hiện tượng truyền tư tưởng. Chúng tôi, những người Thông Thiên Học kỳ cựu, như đứng trên vách đá nhìn sóng vỗ vào chân vách; sóng, trong trường hợp của chúng ta, là những cuộc công kích bất lực của các nhà chỉ trích Minh Triết Ngàn Đời—tảng đá sống của triết học—vẫn đứng vững, bất động qua các thời đại giữa những biến thiên chóng vánh của thần học giáo điều. Một phần tư thế kỷ đã không làm suy yếu vị thế mà các vị Sáng lập chúng ta đã chọn ở buổi đầu; trái lại, năm này qua năm khác chúng ta càng mạnh hơn khi các bức tường giáo phái bị xói mòn bởi tiến bộ của khoa học.

On the morning of the 14th, visitors were received and a question-meeting was conducted by Mrs. Besant; at 3.30 p.m. we left for Meerut, a short journey. Pandit Rama Prasad, M.A., President of the local Branch, and author of Nature’s Finer Forces, [5] with some fifteen others, met us at the station and we were comfortably housed.

Sáng ngày 14, tiếp khách và một buổi vấn đáp do Bà Besant chủ trì; lúc 3 giờ 30 chiều chúng tôi rời đi Meerut, một chặng ngắn. Pandit Rama Prasad, M.A., Hội trưởng Chi bộ địa phương và là tác giả của Nature’s Finer Forces, cùng chừng mười lăm người đón chúng tôi ở ga và sắp đặt chỗ ở rất tiện nghi.

[129]

[129]

The next morning, after a question-meeting, I drove for several hours about the town with Babu P. C. Ghose, hunting for the house in which H. P. B. was entertained in the year 1856, or thereabouts, when on her way to Tibet; but I could not find it, as the gentleman who had been her host at that time was dead, and I could not find his son who could have served me as guide. There was a great rush at Mrs. Besant’s lecture that evening on “Theosophy, Karma and Reincarnation,” and a vivid interest was displayed by the audience. Later, I formed a Hindu Students’ Society.

Sáng hôm sau, sau một buổi vấn đáp, tôi cùng Babu P. C. Ghose đi xe suốt vài giờ khắp phố xá, dò tìm căn nhà nơi H. P. B. từng được tiếp đón vào khoảng năm 1856, khi bà trên đường đi Tây Tạng; nhưng tôi không tìm ra, vì vị chủ nhà ngày ấy đã qua đời, và tôi cũng không tìm được người con trai—người có thể đưa tôi đến nơi. Buổi tối hôm đó, buổi diễn thuyết của Bà Besant về “Thông Thiên Học, Nghiệp quả và Tái sinh” thu hút một đám đông lớn và cử tọa bộc lộ mối quan tâm sôi nổi. Muộn hơn, tôi thành lập một Hội Sinh viên Ấn giáo.

There was a question-meeting on the morning of the 16th, after which we breakfasted on Hindu food at a member’s house. There we met Pandit Nundkissore, the owner of the famous copy of the Bîhmagrantham about which so many interesting things have been written in back numbers of this magazine. I think I have mentioned before that one of the most interesting facts about these “Indian sibylline books” is that no horoscopes can be found there of persons not born in India, so neither of us foreigners could get any information about ourselves. But how surpassingly wonderful it is that natives of India, whom the keeper of the books has never seen or heard of before, can come there, show their horoscopes, and then be referred to the volume in which they will find recorded their history and that of their families, sometimes to the extent of hundreds of minor details, and prophecies about their future. A heavy rain [130] fell that evening but Mrs. Besant had a good audience to hear her discourse on “Death and After,” which subject she handled after a new and excellent fashion.

Sáng ngày 16 có một buổi vấn đáp, sau đó chúng tôi dùng bữa sáng theo món Ấn tại nhà một hội viên. Ở đó chúng tôi gặp Pandit Nundkissore, chủ nhân của bản Bîhmagrantham nổi tiếng mà về đó đã có nhiều bài viết thú vị đăng trong các số trước của tạp chí này. Tôi nghĩ mình đã từng nhắc rằng một trong những điều thú vị nhất về những “bộ sách sấm Ấn Độ” này là không có lá số nào của những người không sinh ở Ấn Độ, nên cả hai người ngoại quốc chúng tôi đều không thể được cung cấp thông tin gì về bản thân. Nhưng kỳ diệu biết bao khi người bản xứ Ấn Độ—những người mà thủ thư giữ sách chưa từng gặp hay nghe đến trước đó—có thể đến đó, đưa lá số của mình, rồi được dẫn đến tập sách nơi họ sẽ tìm thấy những ghi chép về lịch sử đời mình và gia đình, đôi khi chi tiết đến hàng trăm tiểu tiết, cùng những lời tiên tri về tương lai. Một trận mưa lớn [130] đổ xuống tối hôm đó, nhưng Bà Besant vẫn có một cử tọa tốt để nghe bài nói chuyện của Bà về “Cái chết và Sau đó,” đề tài mà Bà trình bày theo một lối mới mẻ, xuất sắc.

We left for Umballa the next day in the afternoon after a conversation-meeting and the admission of numerous members. Under the energetic management of our ever-zealous friend, Rai B. K. Lahiri and other members, the local Branch had acquired a commodious and well-ventilated meeting hall, where we held conversation-meetings and Society business was transacted. Owing to the exigencies of our tour programme we had to refuse invitations to visit the native states of Patiala and Jhind. After a short stay at this place we left for Ludhiana the next morning, the 19th, and reached there at 11.30 a.m. We were taken in procession with music, around the bazaars, under the escort of a big crowd. At 5 p.m. Mrs. Besant came before a multitude who were in such a state of excitement that they could not be reduced to silence and so, after a few moments of vain attempt to make herself heard, she was obliged to give it up. The crowds of Northern India, by reason of their racial types, especially their stature and costume, make a much more picturesque ensemble than those of the South. Not only was the lecturing place filled, but the adjacent buildings and the walls of the enclosures were covered. An Urdu translation was made of the fragment of her lecture which she had given and then we came away.

Hôm sau, chúng tôi rời đi Umballa vào buổi chiều sau một buổi đàm thoại và kết nạp nhiều hội viên. Dưới sự điều hành năng nổ của người bạn luôn nhiệt thành của chúng tôi, Rai B. K. Lahiri, và các hội viên khác, Chi bộ địa phương đã tậu được một hội trường họp rộng rãi, thoáng mát, nơi chúng tôi tổ chức các buổi đàm thoại và xử lý công việc Hội. Do yêu cầu của lịch trình du hành, chúng tôi đành từ chối lời mời thăm hai bang bản xứ Patiala và Jhind. Sau một thời gian ngắn ở đây, sáng hôm sau, ngày 19, chúng tôi đi Ludhiana và tới nơi lúc 11 giờ 30 phút sáng. Chúng tôi được rước đi vòng quanh các khu chợ, có nhạc đi kèm, dưới sự hộ tống của một đám đông lớn. Lúc 5 giờ chiều, Bà Besant xuất hiện trước một đoàn người đông đến độ không thể giữ trật tự, và vì thế, sau vài phút cố gắng vô ích để cất tiếng, Bà đành bỏ dở. Đám đông Bắc Ấn, do đặc trưng chủng loại, nhất là tầm vóc và y phục, tạo nên một tổng thể ngoạn mục hơn nhiều so với miền Nam. Không chỉ nơi diễn thuyết chật kín người, mà cả các tòa nhà kế cận lẫn tường bao quanh đều đầy ắp. Một bản dịch Urdu đã được thực hiện cho phần đầu bài diễn thuyết mà Bà kịp nói, rồi chúng tôi ra về.

[131]

[131]

A conversation-meeting and correspondence took up the next morning, but in the afternoon the lecture of the day before was repeated at the same place, but under different conditions, for this time the committee issued tickets of admission and had a sufficient number of police sepoys in attendance to preserve order, so that the speaker could be heard, and all passed off well. We moved on to Jullundur at 1 o’clock the next day, after holding a morning conversazione and having our tiffin. At our destination we were taken from the station through the town in a procession with a band of musicians and a multitudinous body-guard. Mrs. Besant lectured to an audience of two thousand persons from a platform erected on the open ground, for lack of a hall large enough to hold all who wanted to hear her. A considerable number of Europeans were present, some, I must say, so ill-bred as to make us feel ashamed of our race. One particularly offensive person—a planter, I believe—had so little sense of propriety as to sit smoking into the faces of our ladies, with a huge audience of Hindus looking on. On various occasions I have seen such exhibitions of vulgarity, and once—at Dumraon—I remember a planter sitting through my lecture with a basket of soda-water in bottles, ice and a bottle of whisky, fuddling himself more and more every minute. On the evening of the Jullundur lecture it was decided that the Countess Wachtmeister should at once go to San Francisco, to attend the Annual Convention of the American Section and attempt to uncover the traps that Judge was going [132] to spring on that occasion. What she actually did there may be learned by consulting the Official Report of that Convention issued by the American Section.

Một buổi đàm đạo và trao đổi thư từ diễn ra vào sáng hôm sau, nhưng đến chiều, bài thuyết giảng của ngày hôm trước được lặp lại ở cùng nơi, song trong những điều kiện khác, vì lần này ủy ban đã phát vé vào cửa và bố trí đủ lính sepoy cảnh sát túc trực để giữ trật tự, nhờ vậy thính giả có thể nghe được diễn giả, và mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Chúng ta lên đường đến Jullundur lúc 1 giờ chiều ngày hôm sau, sau khi tổ chức một buổi conversazione buổi sáng và dùng bữa trưa. Tới nơi, chúng ta được rước từ ga qua thị trấn trong một đoàn rước có ban nhạc và một đội cận vệ đông đảo. Bà Besant thuyết giảng trước hai nghìn người từ một bục dựng trên khoảng đất trống, vì không có hội trường nào đủ lớn để chứa hết những ai muốn nghe Bà. Có khá nhiều người Âu hiện diện, mà tôi phải nói rằng, một số người cư xử thô lỗ đến nỗi khiến chúng ta cảm thấy hổ thẹn cho chủng tộc của mình. Đặc biệt có một kẻ thô tục—tôi tin là một chủ đồn điền—đã thiếu ý thức đến mức ngồi phì phèo thuốc lá vào mặt các bà trong đoàn chúng ta, trước sự chứng kiến của một khán giả đông đảo người Ấn. Nhiều lần tôi đã thấy những màn phô trương thô lậu như vậy, và một lần—ở Dumraon—tôi nhớ có một chủ đồn ngồi suốt buổi thuyết giảng của tôi với cả một giỏ nước xô-đa trong chai, đá và một chai whisky, mỗi phút lại tự làm mình chếnh choáng hơn. Tối hôm có buổi thuyết giảng ở Jullundur, quyết định rằng Bá tước phu nhân Wachtmeister phải lập tức đi San Francisco để dự Đại Hội Thường Niên của Bộ phận Hoa Kỳ và tìm cách vạch trần những chiếc bẫy mà Judge đang [132] định giăng ra vào dịp ấy. Những gì Bà thực sự làm ở đó có thể biết được bằng cách tham khảo Báo cáo Chính thức của Đại Hội ấy do Bộ phận Hoa Kỳ phát hành.

Our next objective point was Kapurthala, the capital of the Native State of that name. H. H. the Maharajah sent his carriages to meet us at the railway and we were driven thirteen miles through a flat and rather uninteresting country, and, on arrival, were put up in the richly decorated guest-house. All native princes of all grades have such buildings for the accommodation of guests, and almost invariably they are furnished with more or less taste—sometimes very bad—in the European style. Some ruling princes go so far as to have horses, elephants and an armed body-guard in attendance on the guest, and all hosts try to set before the visitor what they think is the most acceptable food, and drink—especially that—and, I am sorry to say, the use made of it is too often such as to impress the inhabitants of the Native State with a very poor idea of the self-restraint of the white race. The present and former Dewans of Kapurthala, Messrs. Mathura Das and Ramjus, son and father, and Sirdar Bhaktar Singh, C.I.E., the most active of the State officers, came and talked Hinduism with us. Although these men were all keen politicians, and of necessity, obliged to be ever on the alert in their official dealings with the British Resident, yet, when they came to see us they put aside every consideration of all other things and eagerly threw themselves into the discussion of religious problems. This is the side of Hindu character too [133] little comprehended by foreigners, yet the solid foundation on which the national character, temperament and ideals are built. Our party had an audience with the Maharajah, who speaks English and French, a rare accomplishment in India, and who is almost equally well-known in London and Paris. He took us for a drive through the town and in the evening presided at Mrs. Besant’s lecture on “Ancient Aryan and Modern Civilization,” in a splendid Durbar Hall, profusely decorated and a fine place for public functions. I was struck with the appearance of the officers of State, who sat before us in rich and picturesque dresses and followed the speaker’s eloquent discourse with close attention. We took leave of our audience on the next day and Mrs. Besant was invited into the interior of the Palace to see the Maharani. Just before our getting into the carriages to depart, an officer of the State presented to each of us, with the compliments of his master, a handsome Kashmir shawl. The Countess left us at Kartarpur, where we took train to the famed city of Amritsar, the chief town of the Sikhs. On our arrival we were driven to the Golden Temple, that lovely architectural creation, which, with its gold-plated domes that sparkle in sunlight and moonlight, stands at the centre of a great tank, and is reached and surrounded by a pure white marble causeway with handsome forged iron railings; this visit completed, we drove to the house that Miss Müller had taken for her temporary occupancy and passed the night there. That evening Mrs. Besant lectured to a [134] packed audience in the theatre, on “Hinduism and Theosophy”.

Mục tiêu kế tiếp của chúng ta là Kapurthala, thủ phủ của Tiểu bang Bản xứ mang tên đó. H. H. vị Maharajah cho xe ngựa đến đón chúng ta ở ga và chúng ta được đưa đi mười ba dặm qua một vùng đồng bằng khá tẻ nhạt, và, khi đến nơi, được sắp xếp nghỉ trong nhà khách trang hoàng lộng lẫy. Tất cả các vương công bản xứ ở mọi cấp đều có những tòa nhà như vậy để tiếp khách, và hầu như luôn được bài trí ít nhiều theo phong cách châu Âu—đôi khi rất tệ. Một số vương công cầm quyền thậm chí còn cho ngựa, voi và một đội cận vệ vũ trang túc trực phục dịch khách, và mọi chủ nhà đều cố gắng dọn ra trước khách những món mà họ cho là dễ được ưa thích nhất, và đồ uống—nhất là thứ ấy—và tôi rất tiếc phải nói rằng việc người ta dùng chúng quá thường xuyên theo cách dễ khiến cư dân Tiểu bang Bản xứ có ấn tượng rất kém về sự tự chế của người da trắng. Đương kim và cựu Dewan của Kapurthala, các ông Mathura Das và Ramjus, con và cha, và Sirdar Bhaktar Singh, C.I.E., viên chức năng nổ nhất của Tiểu bang, đến và đàm đạo với chúng ta về Ấn giáo. Dù những người này đều là các chính khách sắc sảo, và vì lẽ tất yếu, buộc phải luôn cảnh giác trong các giao dịch chính thức với viên Đại diện Anh, thế nhưng, khi đến thăm chúng ta, họ gác qua một bên mọi mối bận tâm khác và hăm hở dấn thân vào cuộc luận bàn các vấn đề tôn giáo. Đây là khía cạnh của tính cách người Ấn [133] mà người ngoại quốc hiểu quá ít, thế nhưng lại là nền tảng vững chắc trên đó tính cách, khí chất và lý tưởng dân tộc được xây dựng. Đoàn chúng ta được yết kiến vị Maharajah, người nói tiếng Anh và tiếng Pháp, một năng lực hiếm có ở Ấn Độ, và hầu như nổi tiếng như nhau ở London và Paris. Ngài đưa chúng ta dạo qua thị trấn và buổi tối chủ tọa bài thuyết giảng của Bà Besant về “Nền Văn minh Arya Cổ đại và Hiện đại,” tại một Đại sảnh Durbar tráng lệ, trang hoàng phong phú và là nơi lý tưởng cho các cuộc sinh hoạt công cộng. Tôi ấn tượng trước diện mạo của các quan chức trong triều, những người ngồi trước mặt chúng ta trong các y phục lộng lẫy và duyên dáng, chăm chú theo dõi bài diễn thuyết hùng biện của diễn giả. Ngày hôm sau, chúng ta từ biệt cử tọa và Bà Besant được mời vào nội cung để gặp vị Maharani. Ngay trước lúc chúng ta lên xe ra về, một viên chức của Tiểu bang thay mặt chủ nhân dâng tặng mỗi người chúng ta một chiếc khăn choàng Kashmir đẹp. Bá tước phu nhân chia tay chúng ta ở Kartarpur, nơi chúng ta lên tàu đến thành phố nổi tiếng Amritsar, thị trấn chính của người Sikh. Tới nơi, chúng ta được đưa thẳng đến Đền Vàng, kiệt tác kiến trúc đáng yêu, với những mái vòm dát vàng lấp lánh trong nắng và trăng, tọa lạc giữa trung tâm một hồ lớn, được tiếp cận và bao quanh bởi một lối đi lát đá cẩm thạch trắng tinh với lan can sắt rèn đẹp đẽ; thăm viếng xong, chúng ta đến căn nhà mà cô Müller thuê để tạm trú và nghỉ đêm ở đó. Tối hôm ấy Bà Besant thuyết giảng trước một [134] khán phòng chật kín trong nhà hát, về “Ấn giáo và Thông Thiên Học”.

The next morning (the 24th) we left for Lahore and arrived at 10 a.m. A large delegation received us at the station and the Committee, by consent of the Maharajah of Kapurthala, lodged us in the spacious bungalow that he owns there. The Indian National Congress had held its Annual Convention at Lahore during the Christmas holidays and the huge circular pandal, or thatched shed, erected for its use, was still standing; so Mrs. Besant lectured there to an audience of five thousand people. It says much for the penetrating quality of her voice that it reached the outermost circle of hearers. In conversation with her one would never think such a thing possible, for she speaks, usually, in a low, sweet tone, sometimes so low as to be heard with difficulty by a person somewhat deaf. Her subject was “Theosophy and Modern Progress”. At 9 p.m. there was a conversation-meeting at the Town Hall—a fine room, brilliantly lighted. The next morning at 8 we drove to the Arya Samaj Mandir, where Mrs. Besant distributed prizes to a girls’ school, one of the useful institutions founded by the late Swami Dayânand’s followers. After this Mrs. Besant held a reception and we breakfasted with Mr. Justice P. C. Chatterji, a very cultured and enlightened man, very sympathetic to our work: he is the author of some valuable monographs on the Indian history of Buddhism. At 4 p.m. Mrs. Besant gave another splendid lecture at the Congress Pandal [135] to an audience as large as the one of the day before. Our work began at 9 the next morning and continued unremittingly until late at night. From 11 to 2 Mrs. B. held a durbar, after which she and I were photographed; at 4.30 we visited the house of Rai Bishambar Nath; at 5.30 she lectured on “Pantheism” to three thousand people; then went to the head-quarters of the Sanâtana Dharma Sabhâ, the representative of the orthodox portion of the Hindu community, received a complimentary address and gave an excellent one in return, which our old associate, Pandit Gopinath, interpreted. By this time she was completely worn out by fatigue, so I took up the running, holding a meeting from 9 to 10.30 p.m. at which I took into membership three of the most influential men of Lahore, one of them Mr. Durga Prasad, President of the Arya Samaj. The next day we were travelling towards Bareilly, and all the following night.

Sáng ngày hôm sau (24), chúng ta rời đi Lahore và đến nơi lúc 10 giờ sáng. Một phái đoàn lớn đón chúng ta tại ga và Ủy ban, với sự đồng ý của Maharajah Kapurthala, bố trí cho chúng ta ở trong căn bungalow rộng rãi mà Ngài sở hữu tại đó. Đại hội Quốc dân Ấn Độ vừa họp Đại Hội Thường Niên tại Lahore trong kỳ nghỉ Giáng sinh và cái pandal tròn khổng lồ, tức nhà rạp lợp tranh, dựng lên cho dịp ấy vẫn còn đó; vì vậy Bà Besant thuyết giảng ở đó trước năm nghìn người. Điều ấy nói lên rất nhiều về độ xuyên thấu của giọng nói Bà, khi nó vươn tới được vòng ngoài cùng của thính giả. Trò chuyện với Bà thì khó ai nghĩ điều ấy có thể, vì Bà thường nói với giọng nhỏ, êm, đôi lúc nhỏ đến nỗi người hơi nặng tai sẽ khó nghe. Đề tài của Bà là “Thông Thiên Học và Tiến bộ Hiện đại”. Lúc 9 giờ tối có một buổi đàm đạo tại Tòa Thị Chính—một căn phòng đẹp, chiếu sáng rực rỡ. Sáng hôm sau lúc 8 giờ, chúng ta đi đến Arya Samaj Mandir, nơi Bà Besant phát thưởng cho một trường nữ, một trong những cơ sở hữu ích do các môn đồ của cố Swami Dayânand sáng lập. Sau đó Bà Besant tổ chức tiếp tân và chúng ta dùng điểm tâm với Ông Thẩm phán P. C. Chatterji, một người rất có học thức và khai sáng, rất cảm thông với công việc của chúng ta: Ông là tác giả một số chuyên khảo giá trị về lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Lúc 4 giờ chiều, Bà Besant có một bài thuyết giảng tuyệt vời nữa tại Pandal của Đại hội [135] trước một cử tọa đông đảo như hôm trước. Công việc của chúng ta bắt đầu lúc 9 giờ sáng hôm sau và tiếp diễn miệt mài cho đến khuya. Từ 11 giờ đến 2 giờ, Bà B. mở một buổi durbar, sau đó Bà và tôi chụp ảnh; lúc 4 giờ 30 chúng ta thăm nhà của Rai Bishambar Nath; lúc 5 giờ 30 Bà thuyết giảng về “Thuyết Phiếm thần” trước ba nghìn người; sau đó đến tổng hành dinh của Sanâtana Dharma Sabhâ, đại diện cho bộ phận chính thống của cộng đồng Ấn giáo, nhận một diễn văn tán dương và đáp lại bằng một bài rất xuất sắc, do người bạn cũ của chúng ta, Pandit Gopinath, chuyển dịch. Lúc này Bà đã kiệt sức hoàn toàn vì mệt, nên tôi đảm đương tiếp, tổ chức một buổi họp từ 9 giờ đến 10 giờ 30 tối, tại đó tôi kết nạp ba vị có ảnh hưởng nhất của Lahore vào hội viên, trong đó có Ông Durga Prasad, Chủ tịch Arya Samaj. Ngày hôm sau chúng ta lên đường về Bareilly, và suốt đêm kế tiếp.

We reached Bareilly at 7.30 a.m. and had for our host Babu Priya Nath Banerjee, who showed us every kindness. It rained all day heavily but just before lecture time it cleared up and Mrs. Besant had a good audience in the Town Hall, where she spoke on the subject of “Theosophy and Religion”. A disagreeable incident of the day was the receipt from London of letters which indicated, rather too clearly, that Mr. Judge had gained a pretty strong influence over the minds of some of our most important colleagues, among them some of Mrs. Besant’s closest friends. Fortunately, however, this mood did not last when [136] the crisis came with Judge’s secession and my consequent decision that the secessionists had expelled themselves from the Society.

Chúng ta đến Bareilly lúc 7 giờ 30 sáng và được Ông Babu Priya Nath Banerjee làm chủ nhà, Ông tận tình chu đáo với chúng ta. Trời mưa to suốt ngày nhưng ngay trước giờ thuyết giảng trời quang và Bà Besant có một cử tọa đông trong Tòa Thị Chính, nơi Bà nói về “Thông Thiên Học và Tôn giáo”. Một sự cố khó chịu trong ngày là nhận được từ London những bức thư cho thấy, hơi quá rõ, rằng Ông Judge đã chiếm được ảnh hưởng khá mạnh lên tư duy của vài đồng sự quan trọng nhất của chúng ta, trong đó có một số bạn thân nhất của Bà Besant. May thay, tâm trạng ấy đã không kéo dài khi [136] khủng hoảng nổ ra với việc Judge ly khai và quyết định hệ quả của tôi rằng những người ly khai đã tự khai trừ khỏi Hội.

The next day (March 1st) visitors were received and a conversation-meeting was held. Among the callers was a young Army officer whose father was Political Resident at Jeypore in 1879, when H. P. B. and I visited it under the amusing circumstances which I have previously described, during our memorable tour, and who was good enough to give us the use of elephants to visit the deserted capital, Amber, which stands in solitary splendor with its polished white palaces sparkling in the sun. At 5.30 p.m. she gave a lecture on “Man and His Destiny,” so magnificent that in my Diary I call it “a Kohinoor among diamonds”. Let the reader fancy what an intellectual banquet I enjoyed throughout this whole tour with this divinely gifted speaker.

Ngày hôm sau (mồng 1 tháng Ba) tiếp khách và tổ chức một buổi đàm đạo. Trong số người đến có một sĩ quan trẻ trong Quân đội, cha của anh ta là Đại diện Chính trị tại Jeypore năm 1879, khi H. P. B. và tôi ghé thăm nơi đó trong những hoàn cảnh thú vị mà tôi đã kể trước đây, trong chuyến du hành đáng ghi nhớ của chúng tôi, và ông đã tốt bụng cho chúng tôi dùng voi để đến thăm thủ đô bỏ hoang, Amber, nơi sừng sững một mình lộng lẫy với những cung điện trắng bóng loáng lấp lánh dưới nắng. Lúc 5 giờ 30 chiều, Bà thuyết giảng về “Con người và Định mệnh của Y,” một bài tuyệt diệu đến nỗi trong Nhật ký tôi gọi đó là “một viên Kohinoor giữa muôn kim cương”. Xin độc giả hình dung bữa tiệc tinh thần tôi đã thưởng thức suốt cả chuyến đi này với vị diễn giả được Trời phú tài năng tuyệt diệu.

The next day we went to Lucknow, arriving early in the morning. Messrs.G. N. Chakravarti and Pyare Lal joined our party and with Babu Upendranath Basu, who had been with us throughout the major part of the Northern tour, but had not taken so active a part in our work as to have called for notice in the present narrative, surrounded her with that sympathetic, vivifying atmosphere which her overstrained nervous system so much needed. They took her off to Pyare Lal’s house for breakfast and she spent the day with them. Mr. E. T. Sturdy, F.T.S., formerly of New Zealand, but now here pursuing a course of [137] yogic exercises, passed the time with me in discussing the gravity of the situation caused by Mr. Judge’s plot. We agreed that it was best that I should leave Mrs. Besant in charge of her Hindu friends, return to Adyar to prepare the papers in the Judge case, and rejoin her at Poona, she meanwhile visiting Cawnpore and Nagpur. She lectured that evening in the “Baradari,” or Pleasure House of the former king of Oudh, which is situated in a splendid garden called the Kaiserbagh. The building and its encircling verandahs were closely packed by the audience. Her subject was “Man, His Nature and His Powers” and it was handled most ably and eloquently. In pursuance of the agreement between Mr. Sturdy, Mrs. Besant and myself, I left for Adyar at noon on the 3rd, the two seeing me off. March being the hottest month of the hot season in Northern India, I had to go through a severe ordeal on my journey. After passing Cawnpore the heat became terrific, a hot wind rising to a gale and carrying with it fine particles of sand from the desert plain through which we were passing, blew across our track and filled the railway carriage with dust which not only penetrated into every cranny and fold of my bedding, but made my brain become so surcharged with blood that, to prevent heat apoplexy, I kept it constantly wet with water from the washroom. The consequence was that I caught cold and my voice became hoarse. This [138] experience was continued throughout the next day, and more or less on the following one, but finally on the 6th I reached Madras at 8 a.m. and never found my home more attractive and comfortable.

Ngày hôm sau chúng ta đi Lucknow, tới nơi vào sáng sớm. Các Ông G. N. Chakravarti và Pyare Lal nhập đoàn với chúng ta, và cùng với Ông Babu Upendranath Basu, người đã đồng hành với chúng ta phần lớn chặng Bắc Ấn nhưng chưa tham gia tích cực đến mức đáng được nhắc tới trong tường thuật này, họ đã bao bọc Bà trong bầu không khí cảm thông, sinh động mà hệ thần kinh bị căng thẳng quá độ của Bà rất cần. Họ đưa Bà đến nhà Ông Pyare Lal dùng điểm tâm và Bà dành cả ngày với họ. Ông E. T. Sturdy, F.T.S., trước đây ở New Zealand, nhưng nay đang ở đây theo một khóa [137] luyện tập yogic, ở bên tôi bàn bạc về mức độ nghiêm trọng của tình hình do âm mưu của Ông Judge gây ra. Chúng tôi đồng ý rằng tốt nhất là tôi nên để Bà Besant trong vòng tay chăm sóc của các bạn Ấn của Bà, trở về Adyar để chuẩn bị hồ sơ vụ Judge, và gặp lại Bà ở Poona, trong khi đó Bà sẽ ghé Cawnpore và Nagpur. Tối hôm ấy Bà thuyết giảng tại “Baradari,” hay “Nhà Hưởng Lạc” của vị vua Oudh trước kia, toạ lạc trong khu vườn tráng lệ gọi là Kaiserbagh. Tòa nhà và những hàng hiên bao quanh chen kín người nghe. Đề tài là “Con người, Bản tính và Quyền năng của Y” và được triển khai hết sức tài tình và hùng biện. Theo thỏa thuận giữa Ông Sturdy, Bà Besant và tôi, tôi rời Adyar lúc trưa ngày mồng 3, cả hai người tiễn tôi đi. Tháng Ba là tháng nóng nhất của mùa nóng ở Bắc Ấn, tôi phải trải qua một thử thách khắc nghiệt trên đường. Sau khi qua Cawnpore, sức nóng trở nên kinh khủng, gió nóng nổi lên thành bão và mang theo những hạt cát mịn từ vùng sa mạc chúng ta đang đi qua, thổi ngang đường tàu và làm đầy bụi trong toa, bụi không chỉ len vào mọi kẽ nhỏ và nếp gấp của bộ đồ nằm của tôi, mà còn khiến não tôi xung huyết đến nỗi, để tránh say nắng, tôi phải liên tục thấm ướt đầu bằng nước ở phòng rửa. Hậu quả là tôi bị cảm và giọng trở nên khàn. Trải nghiệm này [138] kéo dài suốt ngày hôm sau, và ít nhiều trong ngày tiếp theo nữa, nhưng cuối cùng đến ngày mồng 6 tôi đến Madras lúc 8 giờ sáng và chưa bao giờ thấy nhà mình quyến rũ và dễ chịu đến thế.

CHAPTER XI—CHAPTER XI

IMPRESSIONS OF MRS. BESANT’S TOUR—NHỮNG ẤN TƯỢNG VỀ CHUYẾN ĐI CỦA BÀ BESANT

(1894)—(1894)

ONE must have been at Adyar and seen the beauties of our property to make allowance for my constant expressions of joy at returning there from distant travels. It is a place that never palls upon one; to residents as well as visitors, fresh beauties are always revealing themselves. From Lucknow to Madras is a stretch of 1,501 miles, and what that means in the hot season need not be told to one who has lived in India. But no sooner had I got settled into my home than I had a disagreeable experience. Mrs. Besant telegraphed me a request to rectify the bad impression made by an editorial notice of our tour, which appeared in the Theosophist for March, 1894 (p. 390). It must be confessed that the tone of it was objectionable, and all the more so because the article was written by either Mr. Edge or Mr. Old, who were in editorial charge during my absence, and who had been too long connected with Mrs. Besant in the relationship of junior students to an elder to warrant the magisterial air which they assumed. They said: “Her advocacy [140] of Hinduism, pure and simple, may be considered by some as not being in line with that which was expected of her as an exponent of Theosophy while lecturing under the auspices of the Indian Section of the Theosophical Society, and it is quite true that, however gratified the Hindus may be with the tributes paid to their traditions, literature and creed, the Muhammadans, Sufis, Parsis and Buddhists cannot feel them-selves to have been as warmly included in Mrs. Besant’s professions. It must be candidly confessed that her lectures are not, as reported, in harmony with the broad eclecticism of the T.S., and on that account have been a source of disappointment to many of our most earnest members. To one but recently convinced of the beauties and truth of the Hindu faith we must, perhaps, excuse much of that exclusive fervour which would be out of place on any representative Theosophical platform; but that Mrs. Besant is whole-hearted in all that she undertakes is well-known, and if any doubt existed as to her belief in the form as well as the spirit of Hinduism, the following statement would put aside all doubt in the matter: Mrs. Besant, as becomes a devout Hindu, bathed daily in the sacred Ganges at Allahabad during the Kumbha Mela. To her English friends, indeed, it would appear as something convincing in itself to see her in Hindu female attire, shoeless, lotah in hand, proceeding to the great water-fair upon the Ganges!” That the story was not true and that our young men took it over from some other publication without previous [141] enquiry, made their offence all the greater. Nor was it true that Mrs. Besant failed to make herself agreeable to the followers of other religions besides Hinduism; while her recent discourses upon the world’s great religions in which she has made a masterly presentment of the basis and spirit of each, have stamped her as, perhaps, the most eclectic religious lecturer of modern times. I contributed to the April (1894) number of our magazine an article on “Annie Besant’s Indian Tour,” in which I vindicated her impartiality and did justice to her splendid expositions of Theosophy as the basis of all religions, Hinduism included, and as to her right to hold and expound whatever might be her private views on her own responsibility, I remarked as follows:

Muốn lượng thứ cho việc tôi cứ luôn hân hoan tỏ bày niềm vui khi trở về đó sau những chuyến đi xa, thì phải từng ở Adyar và chiêm ngưỡng vẻ đẹp cơ ngơi của chúng ta. Đó là một nơi không bao giờ làm ai chán; đối với người cư trú cũng như khách ghé thăm, những vẻ đẹp mới luôn tự bộc lộ. Từ Lucknow đến Madras là quãng đường 1.501 dặm, và điều ấy có nghĩa thế nào trong mùa nóng thì không cần nói với người từng sống ở Ấn. Nhưng vừa yên chỗ tại nhà, tôi liền gặp một trải nghiệm khó chịu. Bà Besant điện cho tôi đề nghị sửa lại ấn tượng xấu do một bài xã luận về chuyến đi của chúng ta, đăng trên Theosophist số tháng Ba, 1894 (tr. 390), gây ra. Phải thú nhận rằng giọng điệu của bài đó thật đáng chê, và càng đáng chê hơn vì bài do hoặc Ông Edge hoặc Ông Old viết, hai người phụ trách biên tập trong thời gian tôi vắng mặt, và họ đã gắn bó với Bà Besant quá lâu trong vị thế môn sinh đàn em đối với bậc đàn chị nên không có lý do gì để khoác lên mình cái giọng quyền uy như vậy. Họ viết: “Việc Bà bênh vực [140] Ấn giáo, thuần túy và giản dị, có thể bị một số người xem là không phù hợp với điều được kỳ vọng nơi Bà với tư cách một người diễn giải Thông Thiên Học khi thuyết giảng dưới sự bảo trợ của Bộ phận Ấn Độ thuộc Hội Thông Thiên Học, và quả thật là, cho dù người Ấn có hài lòng đến đâu với những lời tán dương dành cho truyền thống, văn học và tín ngưỡng của họ, thì những người Muhammadan, Sufi, Parsi và Phật tử không thể cảm thấy mình được Bà Besant bao gồm một cách nồng ấm như vậy trong những điều Bà bày tỏ. Cần thẳng thắn thừa nhận rằng các bài thuyết giảng của Bà, như từng được tường thuật, không hài hòa với chủ trương chiết trung rộng mở của T.S., và vì thế đã khiến nhiều hội viên nhiệt tâm nhất của chúng ta thất vọng. Với một người mới chỉ gần đây được thuyết phục về vẻ đẹp và chân lý của đức tin Ấn giáo, chúng ta có lẽ cần tha thứ phần nào cho ngọn lửa nhiệt thành mang tính độc tôn ấy, vốn sẽ không thích hợp trên bất kỳ diễn đàn Thông Thiên Học đại diện nào; nhưng ai cũng biết rằng Bà Besant hết lòng trong mọi việc Bà đảm nhận, và nếu có tồn tại chút nghi ngờ nào về việc Bà tin vào hình thức cũng như tinh thần của Ấn giáo, thì tuyên bố sau đây sẽ xóa bỏ hết thảy nghi ngờ: Bà Besant, đúng như một người Ấn giáo mộ đạo, đã tắm hằng ngày trong dòng Hằng hà linh thiêng ở Allahabad suốt kỳ Kumbha Mela. Với các bạn hữu người Anh của Bà, hẳn chỉ riêng việc thấy Bà trong y phục nữ Ấn, đi chân trần, cầm bình lotah, đi đến hội chợ nước lớn trên sông Hằng, đã đủ sức thuyết phục!” Việc câu chuyện đó không đúng sự thực và hai chàng trai trẻ của chúng ta đã chép lại nó từ một ấn phẩm nào đó khác mà không [141] hề dò hỏi trước, càng làm cho lỗi lầm của họ thêm trầm trọng. Cũng không đúng là Bà Besant đã không làm cho những người theo các tôn giáo khác ngoài Ấn giáo hài lòng; trong khi những bài thuyết giảng gần đây về các tôn giáo lớn của thế giới, trong đó Bà đã trình bày một cách bậc thầy nền tảng và tinh thần của mỗi tôn giáo, đã đóng dấu nơi Bà vị thế có lẽ là diễn giả tôn giáo chiết trung nhất của thời đại chúng ta. Tôi đã đóng góp cho số tháng Tư (1894) của tạp chí chúng ta một bài mang tên “Chuyến Đi Ấn Độ của Annie Besant,” trong đó tôi minh oan cho sự vô tư của Bà và làm công bằng với những bản trình bày tuyệt vời của Bà về Thông Thiên Học như là nền tảng của mọi tôn giáo, kể cả Ấn giáo, và về quyền của Bà được giữ và trình bày bất cứ quan điểm riêng nào theo trách nhiệm của chính mình, tôi nhận xét như sau:

“My duties as manager of the journey and chairman at all ‘Annabai’s’ lectures, together with the constant demands on my attention of the current local business of the Theosophical Society, prevented my writing for my Magazine even the briefest narrative of events. My willing coadjutors, Messrs. Edge and Old, were thus compelled to gather what facts they could from current Indian papers, and it is not to be wondered at that they got in this way some very incorrect and misleading ideas as to what Annabai said and did.

“Nhiệm vụ của tôi với vai trò quản lý chuyến đi và chủ tọa mọi buổi thuyết giảng của ‘Annabai’, cùng với những đòi hỏi liên tục về sự chú ý của tôi đối với công việc địa phương thường nhật của Hội Thông Thiên Học, đã khiến tôi không thể viết cho Tạp chí của mình dù chỉ là một tường thuật ngắn nhất về các sự kiện. Hai cộng sự sẵn lòng của tôi, các Ông Edge và Old, buộc phải nhặt nhạnh những gì có thể từ các tờ báo Ấn Độ hiện hành, và không có gì lạ khi họ nhờ thế mà có được một số ý tưởng rất sai và gây hiểu lầm về những điều Annabai đã nói và làm.

“In justice to them (my editorial assistants) I must say that the papers that we happened to see on our travels were full of most palpable errors, and nobody could have gleaned from them a true idea of what her lectures really contained. As regards the [142] question of her keeping within the constitutional limits of our Society’s policy, I do not see how there can be two opinions. True, she had declared herself virtually a Hindu in religion almost from the beginning of the Indian part of her tour. What of that? If she had chosen to declare herself a Mussalman, a Jew, a Christian, nobody could have ventured to call her to account. What could be more clear than our printed declaration that ‘no person’s religious opinions are asked upon his joining, nor is interference with them permitted’? And should Annie Besant be denied the liberty which is enjoyed as an acknowledged right by the humblest member? In all my fifteen years of public speaking and writing, and all of H. P. B.’s writing and private conversation, did we even try to conceal the fact of our being Buddhists; and yet have we ever failed to do all we could to help people of all other religions to find their hidden ideals and to live up to them? Neither charge can be laid against us, and I, who have listened to A. B.’s discourses from first to last, with the sole exceptions of those at Nagpur, when I was temporarily absent from her on special business, declare that she said nothing about, or in defence of, her religious views that was not perfectly proper and perfectly constitutional. Her theme was ever Theosophy, and she ever declared herself a thorough-going Theosophist. While she showed that Theosophy was more fully and clearly taught, as she believed and as H. P. B. proved, in the Aryan Scriptures than elsewhere, she also said that it was equally the [143] indwelling soul of every religion the world had ever known. Those who heard her splendid lectures on ‘Theosophy and Religion,’ ‘Pantheism,’ ‘Theosophy and Modern Science,’ ‘The Evidences of Theosophy,’ ‘The Evolution of Man,’ and ‘Man, His Nature, and Powers,’ will bear me out in saying that she did ample justice to all the chief religions. She took no brief from us to conceal her private views on religion, and if anything of the kind had been compulsorily accepted by her, I should not have accompanied her on the journey; I do not enjoy the company of muzzled slaves. Dr. Salzer and other colleagues in the Society have publicly protested against the T.S. having been made responsible for Mrs. Besant’s Hinduism: but the fact is that, in introducing her to her audiences, it was almost my invariable custom to warn the public that, under our constitution, the Society represents no one religion, and is not in the least degree responsible for the utterances of any of its officers or members upon questions of religion, politics, social reform, or any others about which people take sides. Unfortunately, the reporters had come there only to report what A. B. might say, and with few exceptions made no mention at all of my prefatory word of caution. But the audiences heard me, and that suffices. After sending the above to the printers, I received a copy of the Indian Mirror for March, in which A. B.’s last lecture in Calcutta was reported. The subject was ‘Theosophy and Modern Progress,’ and by good luck my introductory remarks were published. I quote [144] what follows: ‘I wish again to impress upon your minds the fact that the Theosophical Society is a neutral body as regards religious opinion, that it has no creed to enforce, and that it is not responsible for the opinions of its members. What each person—he or she—is, it does not concern itself about, nor is the Society bound to accept their opinions, etc., etc.’”

“Công bằng mà nói (với các trợ lý biên tập của tôi) thì các tờ báo mà chúng ta tình cờ đọc trong chuyến đi chứa đầy những sai sót rõ mồn một, và chẳng ai có thể rút ra từ chúng một ý niệm đúng đắn về nội dung thật sự của các bài thuyết giảng của Bà. Về [142] vấn đề Bà có tuân thủ trong các giới hạn hiến định của chủ trương của Hội chúng ta hay không, tôi không thấy có thể có hai ý kiến. Đúng là ngay từ đầu phần chuyến đi ở Ấn, Bà thực chất đã tuyên bố mình là một người Ấn giáo. Nhưng thì sao? Nếu Bà chọn tự xưng là một người Mussalman, một người Do Thái, một tín đồ Cơ Đốc, thì chẳng ai có thể mạo muội gọi Bà ra chịu trách nhiệm. Còn điều gì rõ ràng hơn tuyên ngôn in sẵn của chúng ta rằng ‘khi gia nhập, không ai bị hỏi về quan điểm tôn giáo của mình, và cũng không cho phép can thiệp vào chúng’? Và lẽ nào Annie Besant lại bị từ chối cái tự do vốn được thừa nhận như một quyền của hội viên khiêm tốn nhất? Suốt mười lăm năm thuyết giảng và viết lách trước công chúng của tôi, và suốt những năm viết lách và trò chuyện riêng tư của H. P. B., liệu chúng tôi có bao giờ cố che giấu việc mình là Phật tử; và thế nhưng, chúng tôi có bao giờ không làm hết sức để giúp người của mọi tôn giáo khác tìm ra lý tưởng tiềm ẩn của mình và sống xứng với chúng? Không thể gán hai cáo buộc ấy cho chúng tôi, và tôi, người đã lắng nghe các bài diễn thuyết của A. B. từ đầu đến cuối, chỉ trừ những bài ở Nagpur, khi tôi tạm xa Bà vì việc đặc biệt, xin tuyên bố rằng Bà không nói điều gì về, hay để biện hộ cho, quan điểm tôn giáo của mình vượt ra ngoài những gì hoàn toàn thích đáng và hoàn toàn phù hợp với Hiến chương. Đề tài của Bà luôn là Thông Thiên Học, và Bà luôn tự xưng là một người Thông Thiên Học triệt để. Trong khi cho thấy, theo niềm tin của Bà và như H. P. B. đã chứng minh, rằng Thông Thiên Học được dạy đầy đủ và minh bạch hơn trong Thánh thư Arya so với nơi khác, Bà cũng nói rằng nó cũng là [143] linh hồn tiềm tại của mọi tôn giáo mà thế giới từng biết. Những ai đã nghe các bài thuyết giảng tuyệt vời của Bà về ‘Thông Thiên Học và Tôn giáo,’ ‘Thuyết Phiếm thần,’ ‘Thông Thiên Học và Khoa học Hiện đại,’ ‘Những Chứng cứ của Thông Thiên Học,’ ‘Sự Tiến hóa của Con người,’ và ‘Con người, Bản tính và Quyền năng của Y’ sẽ đồng ý với tôi rằng Bà đã làm đầy đủ công bằng cho mọi tôn giáo chủ yếu. Bà không nhận từ chúng ta ủy thác nào buộc phải che giấu quan điểm riêng về tôn giáo, và nếu có điều gì như thế từng được áp đặt lên Bà, tôi đã không tháp tùng Bà trong chuyến đi; tôi không thích đồng hành với những nô lệ bị bịt miệng. Bác sĩ Salzer và các đồng sự khác trong Hội đã công khai phản đối việc T.S. bị làm cho chịu trách nhiệm về Ấn giáo của Bà Besant: nhưng thực tế là, khi giới thiệu Bà với các cử tọa, tôi hầu như theo thói quen đã cảnh báo công chúng rằng, theo Hiến chương của chúng ta, Hội không đại diện cho bất kỳ tôn giáo nào, và không ở mức độ nào chịu trách nhiệm về những lời của bất kỳ chức viên hay hội viên nào về các câu hỏi tôn giáo, chính trị, cải cách xã hội, hay bất cứ vấn đề nào khác mà người ta thường chia phe. Tiếc rằng, các ký giả đến đó chỉ để ghi lời A. B., và ngoại trừ vài trường hợp, hầu như không hề nhắc đến lời dẫn nhập cảnh báo của tôi. Nhưng cử tọa đã nghe tôi, thế là đủ. Sau khi gửi bài trên cho nhà in, tôi nhận được số tháng Ba của tờ Indian Mirror, trong đó bài thuyết giảng cuối cùng của A. B. ở Calcutta được tường thuật. Đề tài là ‘Thông Thiên Học và Tiến bộ Hiện đại,’ và may mắn là lời dẫn nhập của tôi được đăng. Tôi xin trích [144] đoạn sau: ‘Tôi muốn một lần nữa nhấn mạnh với quý vị rằng Hội Thông Thiên Học là một tổ chức trung lập về quan điểm tôn giáo, rằng Hội không có tín điều để áp đặt, và rằng Hội không chịu trách nhiệm về quan điểm của hội viên. Hội không quan tâm đến việc mỗi người—nam hay nữ—là gì, cũng như không buộc mình phải chấp nhận quan điểm của họ, v.v., v.v.’”

My flying visit to Adyar being made for the purpose of searching through our records for documentary evidence in the case of Judge, I had a busy time of it during the five days of my stay. The result arrived at was the getting together of a large number of Judge’s private letters to H. P. B. and myself in which he complains of his absolute inability to get into touch with the Masters and begs us to intervene on his behalf. Of course, this proved, beyond the shadow of a doubt, the falsity of the pretensions he had been making to his American colleagues and others, that he had been allied with those Personages for many years and was doing what he did under their instructions and with their approval. I need not go into the saddening details now, since the evidence was all summarised in my Annual Address of that year, and the original documents are still in my safe custody for anyone to read who may be entitled to do so. [6]

Chuyến bay về Adyar của tôi nhằm mục đích rà soát hồ sơ để tìm bằng chứng tư liệu trong vụ Judge, nên tôi đã có một quãng năm ngày rất bận rộn. Kết quả là tập hợp được một số lớn thư riêng của Judge gửi H. P. B. và tôi, trong đó ông ta than thở về sự bất lực tuyệt đối trong việc kết nối với các Bậc Thầy và nài nỉ chúng tôi can thiệp giùm. Dĩ nhiên, điều này chứng minh, vượt lên mọi hoài nghi, sự giả dối của các lời ông ta từng rêu rao với các đồng sự ở Mỹ và những người khác, rằng ông đã liên kết với các Vị ấy nhiều năm và những gì ông làm là theo chỉ dẫn và với sự chấp thuận của Các Ngài. Tôi không cần đi vào chi tiết buồn bã lúc này, vì toàn bộ bằng chứng đã được tóm lược trong Diễn văn Thường niên năm ấy của tôi, và các tài liệu gốc hiện vẫn do tôi lưu giữ an toàn để bất cứ ai có quyền đều có thể đọc.

My work finished, I left home on the 11th (March) and at midnight on the 12th met Mrs. Besant and [145] Messrs. Sturdy and Bhavanishankar at Dhond Junction, whence we went on to Poona together; many friends met us at the station and our veteran colleague, Judge Khandalvala, took us to his house, which is a sort of ideal home. On the evening of the 13th Mrs. Besant lectured under a shamiana—a canvas canopy raised on poles—on “Theosophy and Religion”; besides which, of course, her hours throughout the day were well filled up with reception of visitors and the answering of numberless questions. On the 14th in the cool of the morning, she addressed a large gathering of students and adults in the Theatre, on “Education”. To my right, on the platform, sat the famous Ramabai, once so admired as an eloquent and learned lecturer on Vedânta, but not a Christian Missionary, whose speciality is the conversion of Indian widows under the pretext, as her chief Indian backers told me, of giving them a good non-Christian education. All India knows how indignantly her scheme was denounced by the late Mr. Justice M. G. Ranade, of the Bombay High Court, and other Hindu gentlemen whose names had been used on her prospectus, and left there until the conversion of a Hindu child-widow gave them such a shock as to make them repudiate all further connection with her Poona Widows’ Home. I must say that I was painfully struck by the change in her appearance from what she was when H. P. B. and I met her fifteen years before at Bareilly. She was then a slim, graceful girl with an unworldly face, her dark eyes beaming with intelligence and her [146] appearance almost fairy-like, when she stood before the audience pouring forth a stream of eloquent exposition and vindication of the Vedânta; able even to lecture fluently in Sanskrit as well as in Hindi and Gujarati: now she sat beside me a stout woman with a hard, uncompromising sort of expression on her face, the air—as I think I have elsewhere expressed it—of a hardworking American lodging-house keeper.

Xong việc, tôi rời nhà ngày 11 (tháng Ba) và lúc nửa đêm ngày 12 gặp Bà Besant và [145] các Ông Sturdy và Bhavanishankar tại Ga giao Dhond, từ đó chúng tôi cùng đi tiếp đến Poona; nhiều bạn hữu đón chúng tôi ở ga và vị đồng sự lão thành của chúng ta, Thẩm phán Khandalvala, đưa chúng tôi về nhà Ông, một ngôi nhà gần như lý tưởng. Tối ngày 13, Bà Besant thuyết giảng dưới một chiếc shamiana—mái vòm bạt căng trên cột—về “Thông Thiên Học và Tôn giáo”; ngoài ra, dĩ nhiên, suốt ban ngày Bà kín lịch tiếp khách và trả lời vô số câu hỏi. Sáng sớm ngày 14, lúc không khí còn mát, Bà nói chuyện trước một cử tọa đông đảo sinh viên và người lớn trong Nhà hát, về “Giáo dục”. Bên phải tôi, trên bục, ngồi Ramabai nổi tiếng, người một thuở được ngưỡng mộ như một nữ diễn giả hùng biện và uyên bác về Vedânta, nhưng nay là một nhà truyền giáo Cơ Đốc, chuyên môn của Bà là cải đạo các quả phụ Ấn dưới danh nghĩa, như các nhà bảo trợ Ấn chính của Bà nói với tôi, là dạy cho họ một nền giáo dục tốt không mang màu sắc phi Cơ Đốc. Cả Ấn Độ đều biết Dự án của Bà đã bị cố Thẩm phán M. G. Ranade, của Tòa Thượng thẩm Bombay, và các quý ông Ấn khác—những người có tên được dùng trong bản cáo bạch của Bà—lên án phẫn nộ như thế nào, và tên của họ vẫn để đó cho đến khi việc cải đạo một cô góa trẻ người Ấn khiến họ bị sốc đến nỗi họ đoạn tuyệt mọi liên hệ với Ngôi nhà Quả phụ Poona của Bà. Tôi phải nói rằng tôi đau lòng trước sự thay đổi ở diện mạo của Bà so với khi H. P. B. và tôi gặp Bà mười lăm năm trước tại Bareilly. Lúc ấy, Bà là một thiếu nữ mảnh mai, duyên dáng với gương mặt phi thế tục, đôi mắt đen sáng rực trí tuệ và [146] dung mạo gần như tiên nữ khi đứng trước khán giả tuôn ra một dòng thuyết minh hùng biện và biện hộ cho Vedânta; có thể diễn giảng lưu loát bằng Sanskrit cũng như Hindi và Gujarati: còn nay Bà ngồi bên tôi như một người đàn bà đẫy đà với nét mặt cứng rắn, khắc nghiệt, phong thái—như tôi đã nói ở nơi khác—của một bà chủ nhà trọ người Mỹ chăm chỉ làm ăn.

In the course of that day we visited that renowned Indian religio-political society, the Sarvajnik Sabhâ, whose officers received Mrs. Besant with every token of profound respect. At their request she allowed herself to be specially photographed for them and in excellent taste replied to the address which they presented to her. She and I were also photographed for the local Branch, and early in the evening, before nightfall, she lectured, in the open air, in the Hirabagh compound, on the subject of “Karma and Reincarnation”. In no part of India is a public speaker confronted by more highly-educated and intellectual audiences than in Poona. At 10.30 that night we left for Bombay, arriving there at 6 a.m. on the 15th.

Trong ngày đó, chúng ta thăm hội sở của hội tôn giáo-chính trị Ấn nổi tiếng, Sarvajnik Sabhâ, nơi các viên chức đón tiếp Bà Besant với mọi biểu hiện tôn trọng sâu sắc. Theo thỉnh cầu của họ, Bà đồng ý chụp một bức ảnh riêng tặng họ và, rất tinh tế, đáp từ bài diễn văn mà họ trình Bà. Bà và tôi cũng chụp ảnh cho Chi bộ địa phương, và đầu buổi tối, trước lúc trời tối hẳn, Bà thuyết giảng ngoài trời, trong khuôn viên Hirabagh, về “Nghiệp và Luân hồi”. Ở Ấn Độ, không nơi nào một diễn giả công chúng lại đối diện với những cử tọa có học thức và trí tuệ hơn Poona. Lúc 10 giờ 30 tối, chúng ta rời Poona đi Bombay, đến nơi lúc 6 giờ sáng ngày 15.

The memorable tour of 1894-3 was now drawing to a close, but I was glad to see that our dear friend was showing but little sign of physical exhaustion; as for her mentality, that, of course, became brighter and brighter as her wonder-working brain was exercised. We were only in Bombay for the day as we were booked to be in Surat the next morning, but we were not [147] left idle. At 9 a.m. we received addresses from the Bombay Branch and both replied. She lectured at 5.30 p.m. in the Novelty Theatre, to a crowded house, on “The Insufficiency of Materialism”. A host of reporters were present, none of whom gave a fair idea of her discourse. In fact, that was our experience throughout India, with but very few exceptions: they seemed unable to grasp her ideas and stumbled at the simplest Sanskrit words. At 10 p.m., after dinner, we left for Surat.

Chuyến đi đáng nhớ năm 1894-3 lúc này đã gần đến hồi kết, nhưng tôi mừng khi thấy người bạn thân yêu của chúng ta hầu như chưa lộ dấu hiệu kiệt sức thân xác; còn về trí tuệ, dĩ nhiên nó càng lúc càng rực sáng khi bộ óc kỳ diệu của Bà được vận dụng. Chúng ta chỉ ở Bombay trong ngày vì đã định sẽ có mặt ở Surat vào sáng hôm sau, nhưng chúng ta không [147] bị bỏ mặc nhàn rỗi. Lúc 9 giờ sáng, chúng ta nhận các diễn văn từ Chi bộ Bombay và cả hai cùng đáp từ. Bà thuyết giảng lúc 5 giờ 30 chiều ở Nhà hát Novelty, một khán phòng chật kín, về “Sự Bất túc của Chủ nghĩa Duy vật”. Rất đông ký giả hiện diện, nhưng không ai truyền đạt được công bằng nội dung bài thuyết giảng của Bà. Thực ra, đó là trải nghiệm của chúng ta trên khắp Ấn Độ, trừ rất ít ngoại lệ: dường như họ không nắm bắt được ý tưởng của Bà và vấp ngay ở những từ Sanskrit đơn giản nhất. Lúc 10 giờ đêm, sau bữa tối, chúng ta rời đi Surat.

Arriving there at 9 the next morning, we drove straight to the Girls’ School established by our Branch, where Mrs. Besant gave out the prizes and made an address: I also spoke and headed a subscription for the benefit of the school. We were put up in a handsome guest-house of the Borah community. A conversation-meeting was held at 2 p.m., and at 5.30 Mrs. Besant lectured in the Town Hall to a very large audience, on that most interesting and important subject, “The Evolution of Man”. We dined in Hindu fashion at the Hindu Club, and during the afternoon were, of course, photographed. The picture that was taken of me represents me as seated in a chair, looking down at a group of dear little Parsi children at my feet. It makes me laugh every time I look at it, for it reminds one of a great white-haired ogre, engaged in picking out the child he means to have cooked for his lunch!

Đến nơi lúc 9 giờ sáng hôm sau, chúng ta đi thẳng đến Trường Nữ do Chi bộ chúng ta lập, nơi Bà Besant phát phần thưởng và có một bài nói chuyện: tôi cũng phát biểu và đứng ra khởi xướng quyên góp cho nhà trường. Chúng ta ở trong một nhà khách đẹp của cộng đồng Borah. Lúc 2 giờ chiều có một buổi đàm đạo, và lúc 5 giờ 30 Bà Besant thuyết giảng ở Tòa Thị Chính trước một cử tọa rất đông, về đề tài thú vị và quan trọng bậc nhất, “Sự Tiến hóa của Con người”. Chúng ta dùng bữa theo lối Ấn tại Câu lạc bộ Ấn, và trong buổi chiều, dĩ nhiên, chúng ta chụp ảnh. Bức ảnh chụp tôi cho thấy tôi ngồi trên ghế, nhìn xuống một nhóm những bé gái Parsi yêu quý dưới chân. Mỗi lần nhìn tôi đều bật cười, vì nó khiến người ta liên tưởng đến một gã khổng lồ tóc trắng, đang lựa đứa trẻ mà gã định cho vào nồi để ăn trưa!

At 4 a.m. on the 17th we left Surat for Baroda, and reached there at 7. My dear old friend, Diwan [148] Manibhai Jasbhai, and other functionaries met us at the station. We were the guests of H. H. the Gaekwar and were lodged in one of his handsome houses. From 2 to 4 p.m. there was a conversation-meeting, then followed a visit to the Palace for a talk with the Maharajah Gaekwar which, as usual, he made extremely interesting by the pertinence and intelligence of his interrogatories. At 5 Mrs. Besant lectured on “Theosophy and its Teachings”; at 10 we left for Bombay, many friends seeing us off and Diwan Manibhai presenting Mrs. Besant with a pair of shawls.

Lúc 4 giờ sáng ngày 17, chúng ta rời Surat đi Baroda, và đến nơi lúc 7 giờ. Người bạn già thân quý của tôi, Diwan [148] Manibhai Jasbhai, và các chức dịch khác đón chúng ta tại ga. Chúng ta là khách của H. H. Gaekwar và được bố trí ở trong một căn nhà đẹp của Ngài. Từ 2 đến 4 giờ chiều có một buổi đàm đạo, sau đó là một cuộc viếng thăm Cung điện để đàm thoại với Maharajah Gaekwar và, như thường lệ, Ngài làm cho cuộc chuyện trò trở nên cực kỳ thú vị bằng những câu hỏi sắc sảo và thông tuệ. Lúc 5 giờ, Bà Besant thuyết giảng về “Thông Thiên Học và Giáo huấn của nó”; lúc 10 giờ, chúng ta rời đi Bombay, nhiều bạn hữu tiễn chúng ta và Diwan Manibhai tặng Bà Besant một cặp khăn choàng.

We arrived at what the inhabitants are fond of calling Urbs primus in Indis, at 7 o’clock on Sunday morning. Our reception rooms were thronged with visitors, among them several old friends—like Prince Harisinghji [7] and daughters, Pandit Shamji Krishnavarma, Mr. K. R. Cama, the respected leader of the educated Parsi community, his daughter and Miss Maneckji, his sister-in-law, one of the founders of the flourishing Victoria Girls’ School. Mrs. Besant’s lecture was given in the Novelty Theatre to an immense audience: her subject being “Theosophy and the Religions of India”. Its reception by the mixed multitude of all sects was ample proof of the baselessness of the insinuation against her sectarian impartiality to which allusion has been made above.

Chúng ta đến nơi mà cư dân ưa gọi là Urbs primus in Indis, lúc 7 giờ sáng Chủ nhật. Phòng tiếp tân của chúng ta chật ních khách thăm, trong đó có vài người bạn cũ—như Hoàng thân Harisinghji và các ái nữ, Pandit Shamji Krishnavarma, Ông K. R. Cama, vị lãnh đạo đáng kính của cộng đồng Parsi có học, ái nữ của Ông và cô Maneckji, em dâu của Ông, một trong những người sáng lập Trường Nữ Victoria đang hưng thịnh. Bài thuyết giảng của Bà Besant được tổ chức tại Nhà hát Novelty trước một cử tọa đông nghẹt: đề tài là “Thông Thiên Học và các Tôn giáo Ấn Độ”. Sự đón nhận bài giảng bởi đám đông hỗn hợp thuộc mọi giáo phái là bằng chứng dư dả cho sự vô căn cứ của lời ám chỉ về sự thiên lệch giáo phái của Bà mà chúng tôi đã nói tới ở trên.

[149]

[149]

As the hours of her stay in India became numbered she was increasingly pestered with requests for interviews, often to answer questions of minor importance. Her good nature was such that she did her very best to gratify all, but there is a limit to all human endurance, and so some had to be refused. We went to her steamer with her luggage and arranged with the Chief Steward about facilities for her servant’s cooking her Hindu food for her. In the afternoon she lectured grandly in the Novelty Theatre on “Modern Progress”. At 9 p.m., after dining with our esteemed friends and colleagues, Mr. and Mrs. Gostling, she lectured on “Theosophy” in their drawing-room to an invited audience of 150 Europeans, among whom were some old acquaintances of H. P. B.’s and mine of 1879; among them some who had not withstood the ravages of time as well as myself. On the 20th (March) the local Branch held a farewell meeting and Mrs. Besant and I addressed the members. We then drove to the palatial family residence of the late Morarji Goculdas, where Mrs. Besant was garlanded and a costly sari of silk was placed around her shoulders; we then drove to the Docks and she embarked on the “Peninsular,” attended by a throng of warm friends who expressed their sorrow at her departure. I met on board our old Simla friend, Mr. A. O. Hume, and his daughter, Mrs. Ross Scott, all three T. S. members and friends of H. P. B. At 5 p.m. the ship sailed and bore away [150] dear Annie Besant and with her the heart of all India. So ended her first and most memorable and epoch-making visit to the land of the Aryas. I may, in closing the episode, reproduce in this connection portions of the account of her Indian tour which appeared in the Theosophist for April, 1894, and has above been quoted from.

Khi thời khắc ở lại Ấn Độ của Bà càng đếm ngược, Bà càng bị nài nỉ xin phỏng vấn, thường để trả lời những câu hỏi vụn vặt. Tốt tính là thế, Bà đã làm hết sức để chiều lòng tất cả, nhưng sức chịu đựng của con người có giới hạn, nên cũng phải từ chối vài trường hợp. Chúng ta đưa hành lý của Bà lên tàu và thu xếp với Trưởng quản gia về việc tạo điều kiện cho người hầu của Bà nấu đồ ăn Ấn cho Bà. Buổi chiều Bà thuyết giảng tuyệt vời ở Nhà hát Novelty về “Tiến bộ Hiện đại”. Lúc 9 giờ tối, sau khi dùng bữa với những người bạn và đồng sự quý mến của chúng ta, Ông bà Gostling, Bà thuyết giảng về “Thông Thiên Học” trong phòng khách nhà họ trước 150 khách Âu được mời, trong đó có vài người quen cũ của H. P. B. và của tôi từ năm 1879; một số người trong họ không chống chọi với sự tàn phá của thời gian tốt như tôi. Ngày 20 (tháng Ba), Chi bộ địa phương tổ chức buổi chia tay và Bà Besant cùng tôi diễn thuyết trước hội viên. Chúng ta sau đó đi đến dinh thự nguy nga của gia đình cố Morarji Goculdas, nơi Bà Besant được quàng vòng hoa và một tấm sari tơ lụa quý được khoác lên vai; chúng ta sau đó ra Bến tàu và Bà lên tàu “Peninsular,” giữa vòng bạn bè nồng hậu bày tỏ nỗi buồn khi Bà rời đi. Trên tàu, tôi gặp lại người bạn Simla cũ của chúng ta, Ông A. O. Hume, và con gái ông, Bà Ross Scott, cả ba đều là hội viên T. S. và bạn hữu của H. P. B. Lúc 5 giờ chiều, tàu nhổ neo và mang theo [150] Annie Besant thân yêu và cùng với Bà là trái tim của cả Ấn Độ. Thế là khép lại chuyến thăm đầu tiên, đáng nhớ nhất và mang tính khai mở kỷ nguyên của Bà đến vùng đất của người Arya. Tôi có thể, để kết lại câu chuyện, trích đăng ở đây một phần bài tường thuật về chuyến đi Ấn Độ của Bà xuất hiện trong Theosophist số tháng Tư, 1894, đã được dẫn ở trên.

“As regards the southern half of the tour, something was said in my Annual Address to the Convention, and I need not enlarge. In fact, as regards the entire tour it may be said that there was a monotony of exciting arrivals at and departures from stations; of generous, even lavish, hospitalities; of smotherings under flowers and sprinklings with rose-water; of loving addresses presented in tasteful caskets by Reception Committees; of chanted Sanskrit slokas, full of Eastern compliment and hyperbole, from both orthodox and heterodox pandits; of organisations by me of Hindu religious and ethical societies among schoolboys and undergraduates; of visits to sacred shrines and holy ascetics; of morning conversazioni when, for two hours, or even three sometimes, at a stretch, Annie Besant would answer, off-hand, the most difficult and abstruse questions in science, philosophy, symbolism, and metaphysics; of grand orations daily to overpacked and sweltering audiences which found no halls big enough to hold them, and so overflowed into the surrounding compounds or streets, sometimes by hundreds and thousands, and had to be driven away by the police; of processions in palankeens, by night [151] with torches, by day and night sometimes with bands of Hindu musicians, choirs of female singers and groups of bayaderes, making national music and dance, as though ours were a religious progress; of presents of Kashmir shawls by hosts and magnates who could afford to comply with the ancient custom of thus honoring scholars, that has come down from remotest antiquity; of rides on elephants through crowds of pilgrims; of floatings in quaint boats down sacred rivers, past holy cities like Benares, Prayâg and Muttra, to see the bathing multitudes and the waterside temples, houses, mosques, and tombs of dead potentates, sages, and ascetics; of formal meetings with pandits for discussions; of receptions at private houses, where we were made acquainted with the most educated and most influential personages of the great cities; this for five months on end; a rushing up and down and across the Great Indian Peninsula, a conscientious filling of engagements and strict keeping to the advertised programme; a series of meetings and partings with beloved old colleagues and new acquaintanceships formed with the later comers. Over all, through all, and lingering with me like the strain of a sweet symphony dying in the distance, the recollection of the most splendid series of discourses I ever listened to in my life, and of intimate companionship during these sunny months with one of the purest, most high-minded, most intellectual and spiritually elevated women of our generation, or of any previous age, of whom I have read in history.

“Về nửa phía Nam của chuyến đi, tôi đã đề cập đôi điều trong Diễn văn Thường niên đọc trước Đại hội, và tôi không cần nói thêm. Thực vậy, về toàn bộ chuyến đi có thể nói rằng có một sự đơn điệu của những cuộc đến và đi đầy phấn khích tại các nhà ga; của lòng hiếu khách hào phóng, thậm chí xa hoa; của những lần bị phủ ngập trong hoa và những lần rảy nước hoa hồng; của những diễn văn ân tình được trình trong các hộp đựng tinh tế bởi các Ủy ban Tiếp đón; của những bài tụng đọc sloka Sanskrit, đầy những lời tán dương phương Đông và lối nói cường điệu, từ cả các pandit chính thống lẫn bất chính thống; của những lần tôi tổ chức các hội tôn giáo và đạo đức Ấn trong giới học sinh và sinh viên; của những chuyến viếng thăm các thánh tích và các đạo sĩ thánh hạnh; của những buổi conversazioni buổi sáng khi, suốt hai giờ, thậm chí đôi khi ba giờ liên tiếp, Annie Besant ứng khẩu trả lời những câu hỏi khó và uyên áo nhất về khoa học, triết học, biểu tượng học và siêu hình học; của những bài diễn thuyết hùng vĩ mỗi ngày trước những cử tọa chen chúc và nóng bức, không có hội trường nào đủ lớn để chứa họ, và thế là tràn ra các khuôn viên hoặc đường phố xung quanh, đôi khi hàng trăm hàng nghìn người, và phải nhờ cảnh sát giải tán; của những đoàn rước bằng võng kiệu, [151] ban đêm có đuốc, ban ngày và đôi khi cả ngày lẫn đêm có dàn nhạc Ấn, bè hát nữ và những nhóm vũ nữ đền, tấu nhạc dân tộc và múa, như thể chúng tôi đang cử hành một cuộc rước tôn giáo; của những món quà là khăn choàng Kashmir do các chủ nhà và các vị danh gia phú quý tặng để tuân theo truyền thống cổ xưa tôn vinh học giả, truyền thống đã được lưu giữ từ thời cổ xa; của những chuyến cưỡi voi xuyên qua đám đông hành hương; của những cuộc dạo thuyền kỳ thú xuôi dòng các con sông linh thiêng, qua những thành phố thánh như Benares, Prayâg và Muttra, để ngắm đoàn người tắm và những đền đài, nhà cửa, thánh đường, lăng mộ của các bậc quân vương, hiền triết và đạo sĩ đã khuất, nằm bên bờ; của những cuộc gặp mặt chính thức với các pandit để đàm đạo; của những cuộc tiếp đãi tại tư gia, nơi chúng tôi được quen biết với những nhân vật học thức và có ảnh hưởng nhất của các đại đô thị; chuỗi sự kiện như vậy suốt năm tháng liền; những chuyến ngược xuôi khắp Bán đảo Ấn Độ rộng lớn, việc chu toàn lương tâm các cuộc hẹn và nghiêm cẩn bám sát chương trình thông báo; một chuỗi những cuộc tương phùng và chia tay với các đồng sự thân yêu cũ và những tình bằng hữu mới hình thành với những người đến sau. Bao trùm lên tất cả, xuyên suốt tất cả, và còn đọng lại trong tôi như một điệu nhạc trầm bổng tuyệt mỹ dần tan trong cõi xa, là ký ức về chuỗi bài diễn thuyết tráng lệ nhất mà tôi từng được nghe trong đời, và về tình bạn chí thân suốt những tháng ngày nắng ấm này với một trong những phụ nữ trong thế hệ chúng ta, hay trong bất kỳ thời đại nào trước đó mà tôi đọc trong lịch sử, thanh khiết nhất, cao thượng nhất, trí tuệ nhất và thăng hoa tinh thần nhất.

[152]

[152]

“Unlike as H. P. B. and I were in many respects, we were akin more ways than Annabai and myself can ever be. My praise of her is not tinged with blind partiality. She is religious fervor and devotion personified, the ideal female devotee who in time evolves into the saint and martyr. With the modern Hindu practising his corrupted form of faith, she compares as Madame Guyon with her ‘Spiritual Torrents,’ does with the ignorant Christian peasant of Russia or Bulgaria. Her Hinduism is the lofty spiritual concept of the Bhagavad-Gîtâ; a splendid, perhaps unattainable, ideal. This may seem incredible to her old Secularist friends, yet one needs but read her Auto-biography to see how true it must be. She passed out of Christianity with bleeding heart and agony of regret; she stayed Secularist because that was the normal reaction to be expected in a mind so great as hers. Yet all those years she was but in a state, one might say, of spiritual suspended animation, existing as a flower may under the stone which presses it into the ground. Like the flower burgeoning out when the pressure is removed and sunlight can be drunk in, so she burst out of the iron cage of Materialistic Atheism the momen t her Karma brought her within the sphere of the Eastern Wisdom and of its transcriber, H. P. B. As the lark sings in soaring, so Annabai’s heart is filled with the overwhelming joy of finding in the Secret Doctrine of Aryan philosophy all her intellect had ever craved, and in the Aryan religion even a greater field for devotion than she ever yearned for in the days of her youth.

“Dù H. P. B. và tôi khác nhau trên nhiều phương diện, chúng tôi tương đồng ở nhiều khía cạnh hơn so với tôi và Annabai có thể có. Lời khen của tôi dành cho Bà không bị nhuốm bởi sự thiên vị mù quáng. Bà là hiện thân của nhiệt thành tôn giáo và sùng tín, là mẫu nữ tín đồ lý tưởng, người theo thời gian sẽ trở thành thánh nhân và liệt nữ. So với người Ấn giáo hiện đại thực hành một dạng đức tin đã bị suy đồi, Bà sánh như Madame Guyon với “Những Dòng Lũ Tâm Linh” sánh với người nông dân Cơ Đốc mộc mạc ở Nga hay Bulgaria. Ấn giáo của Bà là quan niệm tinh thần cao vời của Bhagavad-Gîtâ; một lý tưởng huy hoàng, có lẽ không thể đạt. Điều này có thể dường như khó tin với những người bạn Cựu thế tục của Bà, nhưng chỉ cần đọc Tự truyện của Bà là thấy điều đó hẳn đúng. Bà rời bỏ Cơ Đốc giáo với con tim rướm máu và niềm luyến tiếc khôn nguôi; Bà trụ lại với chủ nghĩa Thế tục vì đó là phản ứng bình thường đối với một trí tuệ lớn như Bà. Thế nhưng suốt những năm ấy, Bà chỉ ở trong một trạng thái có thể gọi là đình treo tinh thần, tồn tại như một bông hoa nằm dưới tảng đá đang ép nó xuống đất. Như bông hoa bừng nở khi sức nặng được dỡ đi và có thể uống ánh mặt trời, Bà bùng nở ra khỏi chiếc lồng sắt của Chủ nghĩa Vật chất Vô thần ngay khi Nghiệp của Bà đưa Bà vào quỹ đạo của Minh triết phương Đông và của người chuyển chép nó, H. P. B. Như chim sơn ca vừa bay vút vừa hót, lòng Annabai tràn ngập niềm hoan lạc áp đảo khi tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm của triết học Arya tất cả những gì trí tuệ của Bà từng khao khát, và trong tôn giáo Arya một cánh đồng cho lòng sùng tín còn rộng lớn hơn những gì Bà từng hằng ước trong thời thiếu nữ.

[153]

[153]

H. P. B. and I had none of this love of worship in our constitutions, though, I believe that, as regards the actual sentiment of religion, we were not more deficient than others. Of two paths which Shrî Krishna says must be followed in the seeking after Mukti, that of knowledge and that of devotion, H. P. B. and I, in this incarnation at least, have trodden the former; Annabai has trodden the one, but is now by preference treading the other; and, but for her controlling impulse of self-effacement and her sense of the duty she owes to the sin-burdened and ignorant masses, she would, I think, retire to some quiet spot where she might commune with the Self and more speedily gain liberation. A more consistently religious woman I never met, nor one whose life is a more joyful self-sacrifice. My blessings attend her wherever she goes!

H. P. B. và tôi không có trong thiên tính của mình tình yêu phụng thờ ấy, tuy tôi tin rằng, xét về cảm thức tôn giáo đích thực, chúng tôi không thua kém ai. Trong hai con đường mà Thượng đế Shrî Krishna nói phải theo để tìm cầu Giải thoát, con đường trí huệ và con đường sùng mộ, thì H. P. B. và tôi, ít nhất trong hóa thân này, đã bước theo con đường thứ nhất; Annabai đã bước theo cả hai, nhưng nay thiên về con đường sau; và nếu không phải vì thôi thúc kiểm soát chính mình đến mức xóa nhòa bản ngã và ý thức về bổn phận Bà mắc nợ những quần chúng tội lỗi và vô tri, tôi nghĩ Bà sẽ lui về một nơi yên tĩnh nào đó để có thể chiêm ngưỡng Tự Ngã và sớm đạt giải thoát hơn. Tôi chưa gặp người phụ nữ nào có đời sống nhất quán tôn giáo hơn, cũng chưa ai có một cuộc đời là sự tự hiến hân hoan như Bà. Phúc lành của tôi theo Bà mọi nẻo đường!

“If there was monotony in other things throughout the tour, there certainly was not as regards our lodging-places. At one station we would be quartered by the local committee in a palace, borrowed for the occasion from the local agent of some absentee rajah, at the next in a bug-haunted, uncleanly, mud-floored and mud-walled travellers’ bungalow, perhaps one where the wood of the doors had been eaten out by white ants or become so warped as to defy the tight shutting of them. The charpoys (bed-cots) were sometimes so soiled and full of animal life that we all preferred sleeping on the floor on mats; no hardship for either A. B. or myself, or, for that matter, for our dear companion, the [154] self-forgetting, loyal and humble-minded hard-worker for Theosophy, Countess Wachtmeister, although she usually resorted to her deck-chair, which she carried with her against such emergencies. Several times we put up at railway stations where the journey had to be broken to take another railway line; but in India that is no great hardship. To people of our simple tastes, it was pleasanter than to have to sleep in palaces full of costliest furniture, for one could not help grieving over the human misery with which the latter contrasted, and over the post-mortem fate of the owner, who was slaking his soul-thirst with the salt water of such empty splendor. Yet, let me say that, whatever the temporary habitation in which our friends lodged our party, it was given up to us in love, and the sense of that made us as happy in the most gorgeous koti as in the most humble bungalow. Our every wish was anticipated, our every imaginary want provided for; and if the memory of Annie, her lectures, talks, and sisterliness, is sweet to the members of the local Branches who entertained us, so, likewise, does she carry away a heart full of fraternal affection for the Hindu, Parsî, and Mussalman brothers she has left behind—but not forever.

“Nếu có sự đơn điệu trong những điều khác suốt chuyến đi, thì hẳn không phải về nơi ăn chốn ở của chúng ta. Ở một nhà ga, chúng ta được ủy ban địa phương bố trí ở một cung điện, mượn tạm từ người đại diện địa phương của một ông rajah vắng mặt, còn ở nhà ga kế đó thì là một căn nhà khách bẩn thỉu, đầy bọ, nền đất và tường đất, có lẽ nơi gỗ cửa đã bị mối ăn rỗng hoặc cong vênh đến mức không thể khép kín. Những chiếc charpoy (giường cũi) đôi khi bẩn đến mức và đầy sinh linh đến nỗi tất cả chúng ta đều thích nằm sàn trên những tấm chiếu; không phải là cực khổ gì đối với A. B. hay tôi, hay, xét cho cùng, đối với người bạn thân yêu của chúng ta, [154] người làm việc cho Thông Thiên Học một cách vô tư, trung thành và khiêm nhường, Bá tước phu nhân Wachtmeister, dù Bà thường chọn dùng ghế xếp boong tàu của mình, thứ mà Bà mang theo cho những tình huống như vậy. Vài lần chúng ta nghỉ tại các nhà ga nơi cần chuyển tuyến; nhưng ở Ấn Độ đó không phải là cực nhọc lớn. Với những người có thị hiếu đơn sơ như chúng ta, như vậy còn dễ chịu hơn là phải ngủ trong những tòa cung điện đầy đồ đạc đắt tiền, vì người ta khó tránh khỏi nỗi bi ai về cảnh khổ của con người mà khung cảnh đó tương phản, và về hậu vận sau khi chết của chủ nhân, kẻ đang giải khát linh hồn mình bằng nước mặn của sự xa hoa rỗng tuếch. Tuy nhiên, xin nói rằng, bất kể nơi trú ngụ tạm thời nào mà bạn hữu dành cho đoàn chúng ta, thì nơi ấy được trao tặng bằng tình thương, và cảm thức đó khiến chúng ta hạnh phúc như nhau ở cả tòa koti nguy nga lẫn căn bungalow mộc mạc nhất. Mọi ước muốn của chúng ta đều được đoán biết trước, mọi nhu cầu tưởng tượng đều được liệu lo; và nếu ký ức về Annie, về các bài thuyết giảng, các buổi trò chuyện và tình tỷ muội của Bà là điều ngọt ngào với hội viên các Chi bộ địa phương từng tiếp đãi chúng ta, thì cũng vậy, Bà mang theo một con tim đầy ắp tình huynh đệ dành cho những người Ấn, Parsî, và Mussalman mà Bà đã để lại—nhưng không phải mãi mãi.

“She and the Countess Wachtmeister landed at Colombo on the 10th November, 1893, from the P. and O. Steamer, Kaiser-i-Hind, and were welcomed at our local Headquarters with a triumphal arch, a hall charmingly decorated with flowers, addresses and a gathering of Sinhalese Buddhists, including our [155] own local members and their families. The next move was to the Sanghamitta School, where Mrs. Higgins gave us warmest welcome and unstinted hospitality during our stay. Public lectures were given at Kandy, Colombo, Galle and Panadura. [8] We crossed to India on November 15th, [landing on Indian soil at Tuticorin on the 16th] visited thirteen stations before reaching Madras, and stopped at Adyar until January 7th, 1894, when we sailed for Calcutta. Up to this time Annabai had given forty-eight lectures and addresses, including those with which she favored the Convention.

“Bà và Bá tước phu nhân Wachtmeister cập bến Colombo ngày 10 tháng Mười Một, 1893, từ tàu P. and O. có tên Kaiser-i-Hind, và được chào đón tại Trụ sở địa phương của chúng ta với một cổng khải hoàn, một hội trường trang trí hoa mỹ, những diễn văn và một cuộc tụ họp của các Phật tử Tích Lan, bao gồm [155] chính hội viên địa phương của chúng ta và gia đình họ. Chặng kế tiếp là Trường Sanghamitta, nơi Bà Higgins chào đón nồng hậu và tiếp đãi vô tư suốt thời gian chúng ta ở lại. Các bài thuyết giảng công cộng được tổ chức tại Kandy, Colombo, Galle và Panadura. Chúng ta qua Ấn Độ ngày 15 tháng Mười Một, [đặt chân lên đất Ấn tại Tuticorin ngày 16] ghé 13 nhà ga trước khi đến Madras, và ở lại Adyar đến tận 7 tháng Giêng, 1894, khi chúng ta đi Calcutta. Tính đến thời điểm này Annabai đã có bốn mươi tám bài thuyết giảng và diễn văn, kể cả những bài đọc trước Đại hội.

“At Calcutta she scored the greatest triumph, we were told, that any public speaker had had in the Metropolis. The Town Hall was packed to suffocation with a sitting and standing audience of 5,000, yet so complete was her command over their feelings that when she sank her voice to a half-tone of pathetic recitative, they listened in absolute silence to catch every word, until at the fitting moment their suppressed feeling found vent in torrents of applause. The description applies to each of her Calcutta addresses, and the comments of the local press and that of the whole Presidency prove the depth and permanency of the impression she made on the people—the high and the low, the educated and the uneducated. Her progress through Bengal and Behar was almost a [156] royal one in its exhibitions of popular fervor. She could not drive through the streets or enter a lecturing hall without having to pass through crowds who had gathered just to gaze at the champion of their hoary faith, the declared student of the old Aryan wisdom, and to salute her reverentially with joined palms held in front of their foreheads, as they have been taught to salute the Brahman and the true ascetic, from the earliest times to the present day. At Berhampur there was a great gathering of Nuddea and other pandits to greet her, and in their joint address to her in Sanskrit, they ingeniously paraphrased her married name into the honorific title of ‘Annavasanti,’ which means ‘the Giver of Nourishment to the whole world’. In this connection it may mean ‘the Dispenser of spiritual food’; and nothing could be more appropriate. Annapûrna is a name of Durgâ, the wife of Siva, and she is most fervently worshipped at Benares.

“Tại Calcutta, Bà đạt được thắng lợi lớn nhất, theo lời chúng tôi được biết, mà bất kỳ diễn giả công chúng nào từng có ở Thủ phủ. Tòa Thị Chính chật cứng đến ngộp thở với năm nghìn người ngồi và đứng, thế mà Bà làm chủ trọn vẹn cảm xúc của họ đến mức khi Bà hạ giọng xuống nửa cung trong một đoạn ngâm đầy thống thiết, họ lắng nghe trong im phăng phắc để bắt lấy từng lời, cho đến khi vào khoảnh khắc thích đáng, cảm xúc bị dồn nén của họ vỡ òa thành những tràng pháo tay như thác đổ. Mô tả này áp dụng cho từng bài thuyết giảng ở Calcutta của Bà, và bình luận của báo chí địa phương và khắp toàn quyền Bengal chứng tỏ chiều sâu và tính bền vững của ấn tượng mà Bà đã gây nên nơi người dân—từ cao đến thấp, từ có học đến chưa có học. Hành trình của Bà xuyên qua Bengal và Behar gần như là một cuộc [156] khải hoàn theo nghĩa những phô diễn nhiệt tình quần chúng. Bà không thể đi qua đường phố hay bước vào một giảng đường mà lại không phải băng qua đám đông tụ tập chỉ để chiêm ngưỡng người bênh vực cho đức tin xưa cũ của họ, vị nữ học giả công khai theo đuổi minh triết cổ Arya, và để chắp tay trước trán kính cẩn chào Bà, như họ đã được dạy phải chào các vị Bà-la-môn và chân tu từ thuở xưa cho đến nay. Ở Berhampur có một cuộc tụ họp lớn của các pandit Nuddea và nơi khác để chào đón Bà, và trong diễn văn chung bằng Sanskrit gửi Bà, họ dí dỏm chuyển nghĩa tên họ của Bà thành tước hiệu tôn vinh ‘Annavasanti,’ nghĩa là ‘Đấng Ban Phát Dưỡng nuôi cho cả thế gian’. Trong bối cảnh này có thể hiểu là ‘Đấng Phân phát dưỡng nuôi tinh thần’; và không gì thích đáng hơn. Annapûrna là một danh hiệu của Durgâ, phu nhân của Siva, và Bà được sùng bái nhiệt thành tại Benares.

“Mrs. Besant accepted visits for discussions with or special addresses to the heterodox Brahmo Samâjists of Calcutta, and the heterodox Arya Samâjists and orthodox Sanâtana Dharma Sabhâ of Lahore, and by the eclecticism of her sentiments abated much of their baseless prejudice against our Society, and sowed in their hearts the seeds of kindlier interest.

“Bà Besant nhận lời các cuộc thăm viếng để đàm đạo với, hoặc diễn thuyết đặc biệt cho, các Brahmo Samâjist bất chính thống ở Calcutta, các Arya Samâjist bất chính thống và Sanâtana Dharma Sabhâ chính thống ở Lahore, và bằng tính chiết trung trong tư tưởng của mình, Bà đã làm giảm đi rất nhiều định kiến vô căn cứ của họ đối với Hội chúng ta, và gieo vào tim họ hạt giống của một mối quan tâm thiện cảm hơn.

“Various attempts were made to ‘draw’ her on the burning social questions of the day in India, but she wisely, and with my entire concurrence, refused to give out the crude opinions she would alone be able to express before becoming familiar with men and [157] parties, and the nature of their disputes. At the Arya Samaj meeting at Lahore, however, she distributed the prizes to the girls of the Samaj school, and very strongly expressed her sympathy with every attempt to restore the standard of female education which prevailed in ancient Aryavarta. This same sentiment she gave utterance to in a number of her public discourses, in fact always in her lectures on ‘India, Past and Present’. Her idea was, however, that in all matters of reform the lead should be taken by the Brahmins, and naturally would be if the caste could by any means be purified and brought back to its former status as the pure spiritual and moral exemplars as well as teachers of the nation. Her hope for the revival of the Aryan standards of moral and religious ideal lay in the beginning of the work of self-redemption in individual Brahmin families, here and there, and the consequent creation of new family foci into which might be drawn some of the souls of ancient sages and moral heroes who might now be seeking proper bodies in which to reincarnate themselves. This process, she admitted, must take long, very long, yet the result could never be hoped for unless a beginning was made, and the present was as auspicious an hour for that as any other in the future could be.

“Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để ‘gài’ Bà vào những vấn đề xã hội nóng bỏng của thời ấy ở Ấn Độ, nhưng Bà khôn ngoan, và được tôi hoàn toàn tán đồng, đã từ chối đưa ra những ý kiến còn non nớt mà Bà chỉ có thể nói nếu chưa kịp quen thuộc với người và phe phái, và với bản chất các tranh chấp của họ. Tuy nhiên, tại buổi họp Arya Samaj ở Lahore, Bà đã phát thưởng cho các nữ sinh của trường Samaj, và bày tỏ rất mạnh mẽ sự đồng cảm của mình với mọi nỗ lực khôi phục tiêu chuẩn giáo dục nữ giới từng thịnh hành ở Aryavarta cổ xưa. Chính tình cảm này Bà đã bày tỏ trong một số bài diễn thuyết công cộng của mình, trên thực tế là luôn luôn trong các bài giảng về ‘Ấn Độ, Quá khứ và Hiện tại’. Tuy nhiên, quan điểm của Bà là trong mọi vấn đề cải cách, giới Bà-la-môn nên là lực lượng tiên phong, và lẽ tự nhiên là sẽ như vậy nếu bằng cách nào đó giai cấp này được thanh lọc và đưa trở lại vị thế xưa như là các mẫu mực thuần khiết về tinh thần và đạo đức cũng như là các bậc thầy của quốc gia. Niềm hy vọng của Bà về việc phục hưng các tiêu chuẩn đạo đức và tôn giáo Arya đặt trên sự khởi đầu công cuộc tự giải thoát trong từng gia đình Bà-la-môn riêng rẽ, tại nơi này nơi khác, và hệ quả là tạo ra các tâm điểm gia đình mới để từ đó có thể thu hút một số linh hồn của các bậc hiền triết và anh hùng đạo đức cổ xưa nay đang tìm thân xác xứng hợp để tái nhập thể. Tiến trình này, Bà thừa nhận, hẳn sẽ kéo dài, rất dài, tuy nhiên kết quả không thể hy vọng có được nếu không có một khởi đầu, và hiện tại là một thời khắc tốt lành cho việc ấy như bất kỳ thời khắc nào khác trong tương lai có thể có.”

“One striking feature of A.B.’s tour was the daily conversazione above referred to, and memorable for the number of ‘assistants,’ the wide scope and profundity of their questions, and the manner of holding the meetings. Annabai almost always sat on a mat [158] or rug on the floor in Hindu fashion, and the visitors did likewise. It was, in fact, the only practicable way, for since often an hundred or two hundred persons were present, and no such number of seats were available, the choice was between all standing huddled together during the time of the meetings, or just sitting down in the national fashion, as the custom is in all gatherings of Indians unspoilt by Western influence.” Thus ends one chapter of the world’s history.

“Một nét nổi bật trong chuyến du hành của A.B. là buổi đàm thoại hằng ngày vừa được nhắc đến, đáng ghi nhớ bởi số lượng ‘người tham dự’, phạm vi rộng và chiều sâu của các câu hỏi, cùng cách thức tổ chức các buổi họp. Annabai hầu như luôn ngồi trên một tấm chiếu [158] hay tấm thảm trên sàn theo kiểu Ấn, và khách khứa cũng làm như vậy. Thực ra đó là cách duy nhất khả dĩ, vì thường có tới một trăm hay hai trăm người hiện diện, mà không có sẵn chừng ấy ghế ngồi; lựa chọn khi ấy là hoặc tất cả đứng chen chúc suốt thời gian buổi họp, hoặc ngồi xuống theo lối dân tộc, như tục lệ trong mọi cuộc tụ họp của người Ấn chưa bị ảnh hưởng phương Tây làm hư hại.” Thế là một chương của lịch sử thế gian khép lại.

CHAPTER XII—CHƯƠNG XII

THE JUDGE AFFAIR—VỤ JUDGE

(1894)—(1894)

THE Judge affair was now approaching a crisis and something had to be done to relieve the strain and clear up the situation. On the 6th of February of the year under review, while we were at Allahabad, Mrs. Besant, as the result of the understanding at which we and our leading colleagues had arrived, handed me a formal demand that the accusations against Judge “with reference to certain letters and in the alleged writings of the Mahatmas,” should be dealt with by a committee as provided by Art. VI, Secs. 2, 3, and 4, of the then existing Rules: these provided for a trial of the President and Vice-President in the case of serious charges against their character having been made. A copy of Mrs. Besant’s demand for an investigation was at once sent to Mr. Judge without the expression of any opinion as to the validity or otherwise of the accusations. No specific charges having then been filed, this was merely a preliminary measure. From a motive of delicacy no question was asked him as to his guilt or innocence but in the exercise of my [160] discretion I gave Mr. Judge the option of resigning his office or submitting the case to investigation. The implication being, of course, that if guilty he would wish to quietly retire, or if innocent, to be brought before the committee, and thus set at rest, once and for all, the injurious rumors afloat. I naturally expected to get from the accused a letter of explanation, but instead of that he cabled a denial of his guilt and thus forced me to convene the committee and formally try the charges. Actuated by the feeling of an old friendship I wished to spare him the shame of publicity, but, by a strange error of judgment, and miscalculating the extent to which his strong personal influence on some of my most prominent colleagues would carry them in his interests, he, like the gambler, risked all upon the throw of the dice, and so brought his karmic punishment upon his own head. [9] My first step was to issue an Executive Notice on the 27th of April, ordering a Judicial Committee to meet at [161] London on the 27th of June; my next, to serve official notices, with copies of detailed charges and specifications, then drafted by Mrs. Besant as Accuser, and to make my arrangements to leave India in time for the meeting of the Committee. The foregoing facts with some necessary comments were embodied in the Executive Notice referred to and I added the following cautionary paragraph:

Vụ Judge khi ấy đang tiến tới khủng hoảng và cần phải làm điều gì đó để giảm bớt căng thẳng và làm sáng tỏ tình hình. Vào ngày 6 tháng Hai của năm đang được xét, khi chúng tôi ở Allahabad, Bà Besant, theo sự hiểu thuận mà chúng tôi và các đồng sự chủ chốt đã đạt tới, đã trao cho tôi một yêu cầu chính thức rằng những cáo buộc nhắm vào Judge “liên quan đến một số thư và những chữ viết bị cho là của các Mahatma,” phải được một ủy ban xử lý theo quy định tại Điều VI, các Khoản 2, 3 và 4 của Điều lệ khi ấy còn hiệu lực: các điều khoản này dự liệu việc xét xử Chủ tịch và Phó Chủ tịch trong trường hợp có những cáo buộc nghiêm trọng nhằm vào tư cách của họ. Một bản sao yêu cầu điều tra của Bà Besant lập tức được gửi cho Ông Judge mà không kèm theo bất kỳ ý kiến nào về giá trị hay không giá trị của các cáo buộc. Do khi ấy chưa nộp các bản buộc tội cụ thể, đây chỉ là một biện pháp sơ bộ. Vì tế nhị nên không hỏi Ông về chuyện có tội hay vô tội, nhưng trong việc thi hành [160] quyền tùy nghi của mình, tôi cho Ông Judge lựa chọn hoặc từ chức, hoặc đưa vụ việc ra điều tra. Hàm ý, dĩ nhiên, là nếu có tội thì Ông sẽ muốn lặng lẽ rút lui, còn nếu vô tội thì nên ra trước ủy ban, và nhờ vậy dứt điểm, một lần và mãi mãi, những đồn đoán tai hại đang lan truyền. Tôi tự nhiên trông đợi nhận được từ người bị cáo một lá thư giải trình, nhưng thay vì thế Ông đã điện tín phủ nhận tội lỗi, qua đó buộc tôi phải triệu tập ủy ban và chính thức xét xử các cáo buộc. Vì tình bằng hữu lâu năm, tôi mong muốn cứu Ông khỏi nỗi hổ thẹn của việc phơi bày trước công chúng, nhưng, do một sai lầm phán đoán lạ lùng, và đánh giá sai mức độ mà ảnh hưởng cá nhân mạnh mẽ của Ông đối với một số đồng sự nổi bật của tôi sẽ đẩy họ đứng về phía Ông đến đâu, Ông, như con bạc, đã đánh cược tất cả vào một canh bạc, và nhờ thế mà sự trừng phạt nghiệp quả đã giáng lên chính đầu Ông. Bước đầu tiên của tôi là ban hành một Thông tri Hành chính ngày 27 tháng Tư, lệnh cho một Ủy ban Tư pháp nhóm họp tại [161] Luân Đôn vào ngày 27 tháng Sáu; kế đến, tống đạt các thông báo chính thức, kèm theo các bản cáo buộc chi tiết và những điều quy định, khi ấy do Bà Besant – với tư cách Người tố cáo – soạn thảo, và thu xếp để rời Ấn Độ kịp dự cuộc họp của Ủy ban. Những sự kiện kể trên cùng vài lời bình cần thiết đã được ghi vào Thông tri Hành chính nói trên và tôi thêm đoạn cảnh báo sau:

“To correct misapprehensions the undersigned has to state that in the opinion of eminent counsel (members of the Society) the trial of the charges against Mr. Judge does not involve the question of the existence or non-existence of the Mahatmas or their connection with the Society.”

“Để chỉnh ngộ những ngộ nhận, người ký tên dưới đây cần nói rõ rằng theo ý kiến của các luật gia danh tiếng (những hội viên của Hội), việc xét xử các cáo buộc nhằm vào Ông Judge không kéo theo vấn đề về sự hiện hữu hay không hiện hữu của các Mahatma hoặc mối liên hệ của Các Ngài với Hội.”

After Mrs. Besant’s departure I remained a couple of days at Bombay, engaging my passage to London via Marseilles and then left for home. Reaching Madras on the 24th (March) my hands were full of official business until I had to leave. On my day of arrival a committee of two Japanese gentlemen, who were charged with the collection of data about the cotton-spinning industry, called and spent some hours with me. I think I have mentioned elsewhere how admirably organised these Japanese travelling committees are, the members invariably representing the theoretical and practical sides of the subject under inquiry. After an intercourse with the Japanese extending over the space of thirteen years, my admiration for their national policy of administration and the brilliancy of their individual capabilities in the fields [162] of industrial development have increased with the lapse of time. I am always more than glad to give such help as I can to further their wishes to get information in India.

Sau khi Bà Besant rời đi, tôi nán lại Bombay dăm ba ngày, lo đặt vé đi Luân Đôn qua Marseille rồi lên đường về nhà. Đến Madras ngày 24 (tháng Ba) tôi bận ngập đầu với công vụ cho tới lúc phải khởi hành. Ngay ngày đến nơi, một ủy ban gồm hai quý ông người Nhật, được giao thu thập dữ liệu về ngành kéo sợi bông, đã đến thăm và trò chuyện với tôi mấy tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ mình đã nói ở chỗ khác rằng các ủy ban công cán của người Nhật được tổ chức tuyệt hảo thế nào; các thành viên luôn luôn đại diện cả hai phương diện lý thuyết và thực hành của đề tài khảo cứu. Sau một mối giao hảo với người Nhật kéo dài mười ba năm, sự ngưỡng mộ của tôi đối với quốc sách hành chính của họ và sự xuất sắc cá nhân của họ trong lĩnh vực [162] phát triển công nghiệp càng tăng theo năm tháng. Tôi luôn vui lòng, hơn cả vui lòng, góp phần giúp đỡ trong khả năng của mình hầu đáp ứng mong muốn của họ được thu thập thông tin tại Ấn Độ.

On the 26th Dharmapala visited me on his way from America to Calcutta, via Japan, China, Siam, and Ceylon. With him were a young Japanese student named Shakyu and two priests. They stopped overnight with me and left the next day on the SS. “Manora”. On the 30th I wrote for the Theosophist an obituary notice of one of the most charming men I have ever met, the Rt. Rev. Paul Bigandet, Bishop of Ava and Vicar Apostolic, who died at about that time at the age of eighty-two, carrying with him the love and reverence of Christian and Buddhist alike. My personal acquaintance with him began during a visit to Rangoon in 1885: my second visit to him was in 1890. The impression which he made upon me is described in an obituary notice; although I have mentioned the thing elsewhere, yet I think it best, in this connection, to quote what I then wrote:

Ngày 26, Dharmapala ghé thăm tôi trên đường từ Mỹ về Calcutta, qua Nhật, Trung Hoa, Xiêm và Tích Lan. Cùng đi có một sinh viên Nhật trẻ tên Shakyu và hai vị tăng. Họ nghỉ lại qua đêm với tôi và hôm sau xuống tàu SS. “Manora”. Ngày 30 tôi viết cho tờ Theosophist một cáo phó về một trong những người khả ái nhất mà tôi từng gặp, Đức Cha Paul Bigandet, Giám mục Ava và Đại diện Tông tòa, người vừa tạ thế vào khoảng thời gian đó, thọ 82 tuổi, mang theo mình tình thương mến và sự kính trọng của cả Kitô hữu lẫn Phật tử. Tôi quen biết riêng với Ngài bắt đầu trong một chuyến thăm Rangoon năm 1885; lần thứ hai tôi đến thăm Ngài là năm 1890. Ấn tượng Ngài để lại nơi tôi được thuật trong một bài cáo phó; dẫu tôi đã nhắc chuyện này ở nơi khác, tôi vẫn nghĩ tốt nhất, trong mạch văn này, trích lại điều tôi đã viết khi ấy:

“His first greeting to me was enough to win a younger man’s heart: blending as it did the polished courtesy of the high-born gentleman with the self-respect of a conscientious priest. Our talk opened with some appreciative remarks of his about my Buddhist Catechism, which he said he knew by heart and which gave a very full idea of Southern Buddhism. He was anxious that I should enlarge it in the department of Buddhist [163] doctrine. In return I urged him to write another work on Buddhism, as his Legend of Gaudama was out of print, and I felt sure the whole reading public would eagerly welcome another Buddhistic treatise written in the same loving spirit of tolerance. The good Bishop shook his head, pressed my hand kindly, and said: ‘No, it cannot be done. My work is finished, and I must only think of the future life.’ In vain I reiterated my importunity, even offering to myself pay the salary of a short-hand writer, who should write from dictation and live with him until it was finished. His answer was the same: ‘Too late; some younger man—why not yourself—must do it: I am tired.’ I kissed his hand on leaving; but he laid it on my head in blessing, and folding me in his paternal embrace, bade me farewell. Shall not we, who are not of his church, rather believe that he has passed into the Great Light which encompasseth all the petty barriers called human creeds, and shines through them all, but is limited by none?”

“Lời chào đầu tiên của Ngài dành cho tôi cũng đủ để chinh phục trái tim một người trẻ: kết hợp như thế phép lịch sự tinh luyện của một quý ông thượng lưu với sự tự trọng của một linh mục tận tâm. Câu chuyện của chúng tôi mở đầu bằng mấy lời Ngài tán thưởng về sách Sách giáo khoa Phật giáo của tôi, mà Ngài nói rằng Ngài đã thuộc lòng và qua đó có được một ý niệm rất đầy đủ về Phật giáo Nam truyền. Ngài mong tôi mở rộng sách ở phần giáo [163] lý Phật giáo. Đáp lại, tôi khuyên Ngài viết một tác phẩm khác về Phật giáo, vì cuốn Truyền thuyết về Gaudama của Ngài đã hết sách, và tôi tin chắc rằng toàn thể công chúng độc giả sẽ hăm hở đón một trước tác Phật học khác được viết trong cùng tinh thần yêu thương khoan dung ấy. Đức Cha hiền hậu lắc đầu, ân cần nắm tay tôi, và nói: ‘Không, không thể được. Công việc của tôi đã xong, và tôi chỉ nên nghĩ đến đời sau.’ Tôi khẩn khoản nài nỉ vô ích, thậm chí tự nguyện trả tiền công cho một người tốc ký, người sẽ ghi chép theo lời đọc và sống cùng Ngài cho đến khi tác phẩm hoàn tất. Câu trả lời vẫn như cũ: ‘Quá trễ rồi; một người trẻ – sao không phải chính anh – phải làm việc ấy: tôi mệt mỏi rồi.’ Khi rời đi, tôi hôn tay Ngài; nhưng Ngài đặt tay lên đầu tôi ban phước, và ôm tôi trong vòng tay phụ thân, chúc tôi tạm biệt. Chẳng phải chúng ta, những người không thuộc Giáo hội của Ngài, nên tin rằng Ngài đã đi vào Đại Quang Minh bao trùm mọi ranh giới nhỏ nhoi mang tên những tín điều của loài người, và tỏa chiếu qua tất cả, nhưng không bị giới hạn bởi điều nào chăng?”

The disabilities and miseries of the poor Pariahs had long been tugging at my heart-strings and on the 10th of May of the year in question, I inspected a piece of ground in the village of Urur, quite near our Headquarters, where I had definitely determined to open a school for them at my own expense. A Committee of Pariahs called on me the following day and we agreed upon conditions that should govern the system of instruction that I thought it best to give them. I told the Committee that I would not consent [164] to attempting to carry the pupils beyond the elementary stage of education, my desire being to give them such better chance of getting on in life as even a partially educated man has over the illiterate: it was made clear in the discussion that even the acquired ability to read, write, and cipher would be a more distinct gain than the setting aside of a small fund in the Savings Bank, for with their literary acquisitions and the mental training they must go through, they could soon earn enough more than they could without the education, to create the Savings Bank funds themselves. The Committee were won over to my view, a suitable man of their community was nominated to me for Manager, and I promised to start the school as soon as possible.

Những thiệt thòi và khổ lụy của người Pariah nghèo đã từ lâu giằng xé tim tôi, và ngày 10 tháng Năm của năm đang nói đến, tôi đi xem một mảnh đất ở làng Urur, rất gần Trụ sở Trung ương của chúng tôi, nơi tôi đã quyết định dứt khoát sẽ mở một trường học cho họ bằng tiền túi. Một Ủy ban người Pariah đến gặp tôi hôm sau và chúng tôi thỏa thuận các điều kiện sẽ chi phối hệ thống giảng dạy mà tôi nghĩ là tốt nhất cho họ. Tôi nói với Ủy ban rằng tôi sẽ không chấp thuận [164] việc cố gắng đưa học trò vượt quá bậc sơ đẳng, điều tôi mong muốn là cho họ một cơ hội khá hơn để tự lập trong đời, như lợi thế mà ngay cả một người học chưa trọn vẹn cũng có được so với kẻ mù chữ: trong cuộc bàn luận, chúng tôi làm rõ rằng chỉ riêng khả năng đọc, viết và làm toán đạt được cũng là một lợi ích rõ rệt hơn hẳn so với việc dành dụm một khoản nhỏ trong Ngân hàng Tiết kiệm, vì với vốn văn hóa ấy và sự rèn luyện trí lực mà họ phải trải qua, họ sẽ sớm kiếm thêm được nhiều hơn so với khi không có học, để tự tạo lập các khoản gửi tiết kiệm ấy. Ủy ban đã bị thuyết phục theo quan điểm của tôi, một người thích hợp trong cộng đồng của họ được giới thiệu cho tôi làm Quản lý, và tôi hứa sẽ mở trường càng sớm càng tốt.

The editing and publishing of a book of Mrs. Besant’s first Convention Lectures in India, and an unusually heavy correspondence, occupied my time pretty fully throughout April and May; besides which I presided at the third anniversary of White Lotus Day and wrote several chapters of] in advance, to leave with Mr. Edge, who was put in charge of Headquarters during my absence. By the 14th of May everything had been got in order and I left for Tuticorin and Colombo to begin my voyage to Europe. But, before reaching the latter port I had to pass through the most disagreeable experience of my life in the way of sea travel. The ship rolled full 40° and dashed everything about that was not fastened. I was flung from side to side in my cabin with my luggage and finally was obliged to take refuge on the deck. The [165] Indian coolies going over to work on Ceylon plantations, some hundreds of them, were all lumped together like a tin of worms for bait. However, we reached Colombo the next morning at 8 o’clock and Dr. English, then connected with Mrs. Higgins’ Musæus School for Buddhist Girls, came off to see me and in the afternoon I landed and went to the old Sanghamitta School building in the Maradana Ward, where I was accommodated with bed and board.

Việc biên tập và xuất bản một cuốn sách gồm các bài thuyết giảng tại Đại hội lần đầu ở Ấn Độ của Bà Besant, cùng một khối thư từ bất thường, chiếm trọn thời gian của tôi suốt tháng Tư và Năm; ngoài ra, tôi chủ tọa lễ kỷ niệm lần thứ ba Ngày Hoa Sen Trắng và viết trước vài chương của] để lại cho Ông Edge, người được giao trông coi Trụ sở Trung ương trong thời gian tôi vắng mặt. Đến ngày 14 tháng Năm, mọi thứ đã được sắp đặt ổn thỏa và tôi đi Tuticorin rồi Colombo để bắt đầu chuyến hải hành sang châu Âu. Nhưng trước khi đến cảng sau, tôi phải trải qua kinh nghiệm khó chịu nhất đời mình về đường biển. Con tàu lắc ngang đủ 40° và hất văng mọi thứ không được buộc chặt. Tôi bị quăng từ bên này sang bên kia trong ca-bin cùng với hành lý và cuối cùng buộc phải lên boong trú tránh. Đám [165] lao công Ấn Độ sang làm việc tại các đồn điền ở Tích Lan, vài trăm người, bị dồn lại với nhau như một hộp giun làm mồi câu. Tuy nhiên, sáng hôm sau 8 giờ chúng tôi cập Colombo; Bác sĩ English, khi ấy đang làm việc tại Trường Nữ Phật giáo Musæus của Bà Higgins, ra tàu gặp tôi và buổi chiều tôi lên bờ, đến tòa nhà cũ của Trường Sanghamitta ở khu Maradana, nơi tôi được sắp xếp chỗ ăn ở.

At that time there was an acute quarrel between Mrs. Higgins and the Women’s Educational Society, some of whose members were making her life a burden by interfering with her system of management. This was quite contrary to the understanding and agreement come to when I inducted her into the post of Lady Superintendent of Sanghamitta School, on her arrival from America. The fact is that the Sinhalese women, had never before been united in public work and the friction between them and Mrs. H. had, as I have previously stated, led to her organising a school of her own, while the backers of the Sinhalese women were disposed to run an opposition Buddhist girls’ school and have open war between the two. My task on this occasion was to try to devise a basis of settlement of the quarrel and my time during the next few days was pretty well occupied with these details. The business was finally arranged on the 23rd, Mrs. Higgins to keep her boarders and continue her new school and the Sanghamitta School to be kept up for day scholars. This happy conclusion being arrived at, I bade [166] good-bye to all friends and that night slept aboard the “Peshawar”.

Khi đó đang có một cuộc cãi vã gay gắt giữa Bà Higgins và Hội Giáo dục Phụ nữ, một số thành viên trong đó làm cho đời sống của bà trở nên gánh nặng bằng cách can thiệp vào hệ thống quản lý của bà. Điều này hoàn toàn trái với sự hiểu thuận và thỏa thuận đạt được khi tôi đặt bà vào chức Nữ Giám thị của Trường Sanghamitta, lúc bà mới từ Mỹ tới. Sự thật là phụ nữ Tích Lan trước đó chưa từng liên hiệp trong công việc công ích, và sự cọ xát giữa họ và Bà H., như tôi đã nói trước đây, đã dẫn đến việc bà tổ chức một trường riêng, trong khi những người hậu thuẫn cho phụ nữ Tích Lan lại khuynh hướng mở một trường nữ Phật giáo đối lập và công khai tuyên chiến giữa hai bên. Nhiệm vụ của tôi lần này là cố gắng nghĩ ra một nền tảng để dàn xếp tranh chấp và những ngày tiếp theo của tôi khá bận rộn với các chi tiết này. Công việc rốt cuộc được thu xếp vào ngày 23, theo đó Bà Higgins giữ lại các nữ sinh nội trú và tiếp tục trường mới của bà, còn Trường Sanghamitta sẽ duy trì cho học sinh ban ngày. Đi đến kết luận tốt đẹp này rồi, tôi [166] chào tạm biệt mọi người bạn và đêm đó ngủ trên tàu “Peshawar”.

We sailed at 8 a.m. on the 24th of May and the voyage was uneventful throughout; there being a monotony of fine weather with interludes of torture by heat in the Red Sea and the usual interesting breaks of the journey by calls at Aden, Suez, and Port Said. On the 11th of June we reached Marseilles where I was greeted by my good friends Dr. and Mme. Pascal, who took me to see the venerable scholar and mystic, Baron Spedalieri. We passed a couple of hours with him in agreeable and improving conversation and at 6.45 p.m. I left for Paris by the “Rapide” train. I had a wretched night, what with crowding of the compartment, dust, etc., but my troubles were over at 9 a.m. the next morning when I got to Paris. Commandant D. A. Courmes welcomed me at the station and escorted me to the Hotel d’Angleterre where I found Mrs. Besant and Miss Müller installed, and met M. and Mme. Arnould and other French members of the Society. With Miss Müller I called that afternoon on Lady Caithness, Duchesse de Pomar, F.T.S., at whose palace one could see Theosophy set in a gilt frame. One could hardly fail to contrast its environment here of marble steps and thick Eastern carpets, and gilt furniture and priceless girandoles and regal luxury in general, with the impression it had made on me in so many homes of the poor in different countries: the frame was different but the Theosophy the same. The next morning I called on the great [167] sinologist, De Rosny, of the Sorbonne, who showed a real enthusiasm for me as though we had been colleagues for years. He implored me to stop over at least one day to meet the company of savants whom he would collect together at the rooms of the Sociétè d’Ethnographie; but I had, regretfully, to refuse as I could not spare the time. At 3 p.m. I presided at Mrs. Besant’s lecture (in French) at Lady Caithness’ palace, where the gilded chairs were all filled by a brilliant company of society people, who were, or pretended to be, interested in knowing what this Theosophy was all about. At 9 that evening Mrs. Besant, Miss Müller, and I left for London.

Chúng tôi nhổ neo lúc 8 giờ sáng ngày 24 tháng Năm và suốt chuyến đi không có gì đáng kể; chỉ đơn điệu thời tiết đẹp xen kẽ những khoảng bị tra tấn vì nóng trên Hồng Hải và những chặng dừng chân thường thấy thú vị ở Aden, Suez và Port Said. Ngày 11 tháng Sáu chúng tôi đến Marseille, nơi tôi được đôi bạn thân là Bác sĩ và Phu nhân Pascal đón tiếp, và các vị đưa tôi đến thăm nhà bác học khả kính kiêm nhà huyền học, Nam tước Spedalieri. Chúng tôi chuyện trò với ông đôi giờ trong bầu không khí dễ chịu và đầy trí ích, và lúc 6 giờ 45 chiều tôi lên tàu nhanh “Rapide” đi Paris. Tôi trải một đêm khốn khổ, nào là chen chúc trong toa, nào là bụi bặm, v.v., nhưng tới 9 giờ sáng hôm sau đến Paris thì mọi phiền toái cũng chấm dứt. Chỉ huy D. A. Courmes đón tôi ở ga và đưa tôi đến Khách sạn d’Angleterre, nơi tôi gặp Bà Besant và Cô Müller đã ở sẵn, cùng gặp Ông Bà Arnould và các hội viên Pháp khác của Hội. Chiều hôm đó, cùng Cô Müller, tôi đến thăm Lady Caithness, Nữ Công tước de Pomar, F.T.S., tại cung điện của bà – nơi người ta có thể thấy Thông Thiên Học được đặt trong một khung mạ vàng. Khó mà không đối chiếu môi trường ở đây – bậc thềm cẩm thạch, thảm dày phương Đông, đồ đạc mạ vàng, chân đèn vô giá và nói chung là xa hoa vương giả – với ấn tượng mà Thông Thiên Học đã gây cho tôi nơi biết bao mái nhà nghèo ở các xứ sở khác nhau: khung thì khác, nhưng Thông Thiên Học vẫn là một. Sáng hôm sau tôi thăm nhà [167] Hán học lớn, De Rosny, thuộc Sorbonne, người bày tỏ một sự nhiệt thành thật sự đối với tôi như thể chúng tôi đã là đồng nghiệp từ nhiều năm. Ông khẩn khoản tôi nán lại ít nhất một ngày để gặp nhóm học giả mà ông sẽ tập hợp tại phòng của Société d’Ethnographie; nhưng tiếc thay tôi buộc phải từ chối vì không thể thu xếp thời gian. Lúc 3 giờ chiều, tôi chủ tọa buổi thuyết giảng (bằng tiếng Pháp) của Bà Besant tại cung điện của Lady Caithness, nơi những chiếc ghế mạ vàng đều đã được một cử tọa lộng lẫy giới thượng lưu lấp kín, những người quan tâm – hay giả bộ quan tâm – muốn biết rốt cuộc Thông Thiên Học là điều chi. Đến 9 giờ tối hôm ấy, Bà Besant, Cô Müller và tôi lên đường đi Luân Đôn.

The night transit between Paris and London is almost always disagreeable, especially if the weather in the Channel is bad. After a wearisome, sleepless night, we reached London at 6 a.m. on the 14th and went with Miss Müller to her house in Portland Place. Mrs. Elin White, of Seattle, now Mrs. Salzer, of Calcutta, who was stopping with Miss Müller, proved to be a charming acquaintance and we entered into a friendship which has survived to the present time. That evening I accompanied the ladies to a meeting of the Blavatsky Lodge at which I presided and was kindly welcomed—an agreeable surprise, for there had been so strong a pro-Judge feeling among the leaders of that Lodge that I could not help being sensible of the lack of cordiality which had been shown me for some time past. I mention this because of the sudden and radical change which followed on the development [168] of Mr. Judge’s tactics before the abortive Judicial Committee.

Chuyến hành trình đêm giữa Paris và Luân Đôn hầu như luôn khó chịu, đặc biệt khi thời tiết trên Eo biển xấu. Sau một đêm nhọc mệt không ngủ, chúng tôi đến Luân Đôn lúc 6 giờ sáng ngày 14 và cùng về nhà Cô Müller ở Portland Place. Bà Elin White, từ Seattle, nay là Bà Salzer, ở Calcutta, đang tá túc với Cô Müller, tỏ ra là một người quen thú vị và chúng tôi kết tình bạn đến nay vẫn bền. Tối hôm đó, tôi cùng các bà đến dự họp Chi bộ Blavatsky, tại đó tôi chủ tọa và được tiếp đón thân tình – một bất ngờ dễ chịu, vì trong giới lãnh đạo của Chi bộ ấy từng có xu hướng ủng hộ Judge rất mạnh đến nỗi tôi không thể không cảm thấy sự thiếu mặn mà đã được bộc lộ với tôi một thời gian. Tôi nhắc điều này vì sự thay đổi đột ngột và tận căn đã xảy ra sau khi [168] những chiến thuật của Ông Judge được triển khai trước Ủy ban Tư pháp bất thành.

Of late years London has outvied Paris in the production of spectacular pieces at “Olympia” and “Earl’s Court”; the high-water mark of “La Belle aux Bois” and “Le Roi Carrotte” of the Parisian record having been reached and passed under the direction of the two Kiralfys. In company with Mrs. White and, subsequently, with Mrs Cooper-Oakley and other ladies, I had the delight of seeing the spectacular production of “Constantinople,” and can never forget the transcendently fine effect of combinations of color and movement on the vast stage where a thousand artists appeared at one and the same time. In comparison with it, I am quite sure that the most gorgeous Eastern pageant would appear tame.

Những năm gần đây, Luân Đôn đã vượt Paris trong việc dàn dựng các vở diễn hoành tráng tại “Olympia” và “Earl’s Court”; đỉnh cao của “La Belle aux Bois” và “Le Roi Carrotte” trong kỷ lục Paris đã được chạm tới và vượt qua dưới bàn tay dàn dựng của hai anh em Kiralfy. Cùng với Bà White và, sau đó, với Bà Cooper-Oakley và các quý bà khác, tôi được mãn nhãn xem vở diễn hoành tráng “Constantinople”, và không bao giờ quên được hiệu quả siêu phàm của những tổ hợp màu sắc và chuyển động trên sân khấu mênh mông nơi một nghìn nghệ sĩ xuất hiện cùng một lúc. So với nó, tôi tin chắc rằng ngay cả một cuộc diễn hành phương Đông lộng lẫy nhất cũng sẽ hóa nhợt nhạt.

One delight of this visit to London was the chance afforded for visiting my ever dear friend, C. C. Massey, with whom I spent some delightful hours on the 17th. On the 20th I left for Berlin via Harwich and the Hook of Holland. At the station, on arrival, I found my old friend, Dr. Hübbe-Schleiden, who met me with a most affectionate welcome and took me to his house in Steglitz, a suburb of the German Capital. There, with Dr. Göring, a great enthusiast for education and an ardent friend of Dr. Hübbe-Schleiden’s, I sat up until 1 a.m. talking about things of mutual interest. The object of my visit to Germany was to reconstruct the old Society which was founded in 1884, at Elberfeld by Dr. Hübbe-Schleiden, the late Mme. Gebhard and [169] others, under the name of the Deutsche Theosophische Vereinigung. For hundreds of years there has been in Germany, a vast body of intellectual power of the higher order, enough to supply the world with working mental force, and it is only a question of how to get at it so as to turn it into the channel of Theosophical work, first within the limits of that country and then extending it to others. My friends at Berlin made me see that our Theosophical movement would have had a far better chance of speedy expansion but for the reaction in public opinion from the extreme enthusiasm for mysticism which characterised the seventeenth and eighteenth centuries: things had then been carried to such farcical extremes that reaction was inevitable, so we must wait with patience until the turning-point is again passed and the pendulum swings towards spiritual ideals once more. At present Germany is a great industrial workshop, and German brain-power is being strained to enable the nation to gain first place in the savage competition that exists between the manufacturers of different nationalities. Much of the scientific research of the day is enlisted in the interest of commerce, as one can see in the announcement of important industrial discoveries from time to time. This is not to say that the pursuit of knowledge for its own sake and the unflagging devotion of gifted men to its acquirement is any less than before, but the trend of thought is more along the line of physics than on the higher level where Theosophy is to be studied. During the days, and for that matter, the nights, of my Berlin [170] visit, discussion on the situation and its outlook went on.constantly between us all, resulting finally in a meeting in Berlin on the evening of the 29th of June, at which forty persons were present, and in the forming of the new Deutsche Theosophische Gesellschaft, with Dr. Hugo Göring as President and Herr Benedict Hubo as Secretary. This business disposed of, I left on July 4th for London, via Hook of Holland, and reached my destination the same evening, becoming Miss Müller’s guest at 17 Avenue Road, the house adjoining our European headquarters which she had taken over from Miss Cooper and kept for a time in order to accommodate the overflow from the other house.

Một niềm vui khác của chuyến thăm Luân Đôn này là dịp được đến thăm người bạn muôn phần thân yêu của tôi, C. C. Massey; tôi đã có vài giờ chuyện trò thú vị với Ông ngày 17. Ngày 20 tôi đi Berlin qua Harwich và Hook of Holland. Tại nhà ga, khi đến nơi, tôi gặp người bạn cũ, Bác sĩ Hübbe-Schleiden, Ông đón tôi bằng một sự chào mừng thắm thiết và đưa tôi về nhà Ông ở Steglitz, ngoại ô Thủ đô Đức. Ở đó, cùng với Bác sĩ Göring, một người rất nhiệt tâm với giáo dục và là bạn chí thiết của Bác sĩ Hübbe-Schleiden, tôi thức đến 1 giờ sáng bàn luận về các vấn đề cùng quan tâm. Mục đích chuyến đi Đức của tôi là tái lập Hội cũ vốn sáng lập từ năm 1884 tại Elberfeld bởi Bác sĩ Hübbe-Schleiden, Cố Nương Gebhard và [169] những vị khác, dưới tên Deutsche Theosophische Vereinigung. Hàng trăm năm qua, tại Đức có một nguồn lực trí tuệ bao la ở bậc cao, đủ để cung cấp cho thế giới một lực lượng trí năng làm việc, và vấn đề chỉ là làm sao tiếp cận để hướng nó vào dòng chảy công tác Thông Thiên Học, trước hết trong phạm vi quốc gia đó rồi sau đó mở rộng ra các xứ khác. Bằng hữu ở Berlin khiến tôi thấy rằng phong trào Thông Thiên Học của chúng ta lẽ ra đã có cơ hội mở rộng mau lẹ tốt đẹp hơn nhiều nếu không vì phản ứng dư luận từ cơn sốt nhiệt thành thái quá dành cho thần bí học vốn đặc trưng cho thế kỷ XVII và XVIII: khi mọi sự bị đẩy đến mức khôi hài thì phản ứng là điều tất yếu, vậy nên chúng ta phải nhẫn nại chờ đến lúc điểm ngoặt lại được vượt qua và con lắc đong đưa về phía các lý tưởng tinh thần một lần nữa. Lúc này Đức là một xưởng công nghiệp lớn, và trí lực Đức bị căng ra để giúp quốc gia giành vị trí số một trong cuộc cạnh tranh dữ dội giữa những nhà công nghiệp các quốc tịch. Nhiều cuộc nghiên cứu khoa học của thời đại được huy động phục vụ thương mại, như người ta có thể thấy qua những thông báo về các phát minh công nghiệp quan trọng thi thoảng xuất hiện. Điều này không có nghĩa là việc theo đuổi tri thức vì bản thân nó và sự tận tụy bền bỉ của những người tài cho việc thủ đắc tri thức giảm sút so với trước, nhưng xu thế tư duy đi nhiều hơn theo tuyến vật lý học thay vì ở tầng cao hơn – nơi Thông Thiên Học được khảo cứu. Trong những ngày, và nói cho đúng, cả những đêm ở Berlin [170], sự thảo luận về tình hình và triển vọng đã diễn ra không ngớt giữa chúng tôi, rốt cuộc dẫn đến một cuộc họp ở Berlin tối ngày 29 tháng Sáu, với bốn mươi người hiện diện, và dẫn đến việc thành lập Deutsche Theosophische Gesellschaft mới, với Bác sĩ Hugo Göring làm Chủ tịch và Ông Benedict Hubo làm Thư ký. Xong việc này, ngày 4 tháng Bảy tôi rời đi Luân Đôn qua Hook of Holland, đến nơi tối cùng ngày, và làm khách của Cô Müller tại số 17 Avenue Road, ngôi nhà liền kề Trụ sở châu Âu của chúng tôi mà cô đã nhận lại từ Cô Cooper và một thời gian giữ lại để đón phần “tràn” từ ngôi nhà kia.

CHAPTER XIII

THE JUDGE AFFAIR (Continue)—VỤ JUDGE (Tiếp theo)

(1894)

(1894)

AMONG the intellectual and scholarly men who have, since the beginning, belonged to the Society, a noted personage was the late Mr. C. Carter Blake, a zoologist and, I believe, a pupil and colleague of the late Professor Owen. In the course of his investigations of spiritualistic phenomena he became intimately acquainted with my dear friend, Miss Emily Kislingbury, at that time Secretary of the British National Association of Spiritualists and, by her intellectual and moral endowments, fully qualified for the post. What she sought in Spiritualism was not mere phenomena but such proofs of the existence of the soul as would form an impregnable basis for religious belief. The superficial studies of her colleagues and their quenchless thirst for mere mediumistic wonders did not give her what she sought, so, as I have reported in one of my earlier chapters, she came to New York to see the mysterious author of Isis Unveiled and was our guest [172] at the New York “Lamasery” for several weeks. On her return to London her broadened convictions of spiritual philosophy brought her more closely under the influence of Dr. Blake, and he, being a member of the Society of Jesus and acting under the orders of Father Galwey, brought him upon the scene, and the two together persuaded Miss Kislingbury that the truest ideal of Theosophy existed in Roman Catholic dogma! Finally convinced of the truth of this assertion, she, being a woman of supreme moral courage and transparent honesty, resigned her secretaryship and was received into the bosom of the Church. But meanwhile the first Branch of our Society, the “British Theosophical Society,” had, as above reported, been formed, and perhaps my readers will remember that Dr. Carter Blake showed the cloven foot at the original meeting for organisation (June 27, 1878), trying to persuade our friends to postpone the organisation because, as he alleged, we belonged, to the school of black magic. For this I expelled him and he remained for years an outsider, but was finally re-admitted at the request of H. P. B., as a repentant friend. This by way of preface to the fact that on the 4th of July, of the year we are now reviewing, I called on him and found him in a deplorable state, physically speaking. At that time I did not know the grave fact that Judge had written him a letter in the K. H. script, but by a marvellous temporary forgetfulness of the part he was playing, had signed it with his own name instead of with the initials “K. H.” If I had had that document [173] in my possession, the fate of Mr. Judge would have been instantly settled as regards his connection with the Society. On the evening of the same day Mrs. Besant gave a splendid lecture at the Blavatsky Lodge, on “Symbolism, Idols, and Ideals,” the quality of which may easily be inferred.

TRONG số những người trí thức và học giả đã là hội viên của Hội ngay từ thủa đầu, có một nhân vật đáng chú ý là Cố Ông C. Carter Blake, nhà động vật học và, theo tôi tin, là học trò kiêm đồng sự của Cố Giáo sư Owen. Trong quá trình khảo cứu các hiện tượng thông linh, Ông trở nên thân tình với người bạn quý mến của tôi, Cô Emily Kislingbury, khi ấy là Thư ký của Hội Quốc gia Thần linh học Anh, và nhờ phẩm chất trí tuệ lẫn đạo đức, Cô rất xứng đáng với cương vị đó. Điều Cô tìm trong Thần linh học không phải chỉ là hiện tượng, mà là những bằng chứng về sự tồn tại của linh hồn đủ để làm nền tảng bất khả công phá cho đức tin tôn giáo. Những khảo cứu hời hợt của đồng nghiệp và cơn khát không nguôi với các kỳ tích đồng tử không cho Cô điều Cô kiếm tìm, nên, như tôi đã thuật trong một chương trước, Cô sang New York gặp tác giả bí ẩn của Isis Unveiled và là khách của chúng tôi [172] tại “Lạt-ma viện” New York trong vài tuần. Khi về Luân Đôn, những xác tín mở rộng của Cô về triết học tinh thần khiến cô chịu ảnh hưởng sâu hơn của Bác sĩ Blake, và Ông này, vốn là thành viên của Dòng Tên và hành động theo lệnh của Cha Galwey, đã đưa Ngài ấy vào cuộc, và cả hai cùng thuyết phục Cô Kislingbury rằng lý tưởng chân thực nhất của Thông Thiên Học nằm trong tín điều của Giáo hội La Mã! Sau cùng bị thuyết phục về chân lý của khẳng định này, Cô – một phụ nữ có dũng khí đạo đức phi thường và sự lương trực trong suốt – từ chức Thư ký và được đón nhận vào lòng Giáo hội. Nhưng trong khi đó, Chi bộ đầu tiên của Hội chúng ta, “Hội Thông Thiên Học Anh quốc,” như đã tường, đã được thành lập; và có lẽ độc giả còn nhớ rằng Bác sĩ Carter Blake đã lộ rõ bộ mặt ngay tại cuộc họp khởi sự tổ chức (ngày 27 tháng Sáu, 1878), tìm cách thuyết phục bằng hữu của chúng ta hoãn việc tổ chức vì, theo Ông ta, chúng ta thuộc về trường phái hắc thuật. Vì vậy tôi đã khai trừ Ông và Ông trở thành người ngoài trong nhiều năm, nhưng rốt cuộc được tái thâu nhận theo lời thỉnh cầu của H. P. B., như một người bạn đã hối cải. Xin nói vậy để dẫn nhập tới sự kiện rằng vào ngày 4 tháng Bảy của năm chúng ta đang xét, tôi đến thăm Ông và thấy Ông trong tình trạng thảm hại, nói về mặt thể chất. Khi ấy tôi chưa biết sự việc nghiêm trọng là Judge đã viết cho Ông một lá thư bằng bút tích K. H., nhưng nhờ một cơn lãng quên lạ lùng tạm thời đối với vai mình đang đóng, Ông lại ký bằng tên chính mình thay vì bằng các chữ cái “K. H.” Nếu tôi có tài liệu ấy [173] trong tay, số phận của Ông Judge hẳn đã được quyết định ngay tức thì về mối liên hệ của Ông với Hội. Tối cùng ngày, Bà Besant thuyết một bài tuyệt hảo tại Chi bộ Blavatsky, về “Biểu tượng, Ngẫu tượng và Lý tưởng,” và chỉ cần nêu thế cũng có thể suy ra phẩm chất của bài.

On the following day the General Council met to begin the discussion of the merits of the case against Mr. Judge. There being at the time only three Sections in existence, the Council consisted of myself, Messrs. Keightley and Mead, representing the Indian and European Sections, and Mr. Judge, who, of course, did not vote: Mr. Keightley was appointed Secretary. An adjourned meeting was held on the 7th, when the President read a letter from Mr. Judge, stating that he had never been elected Vice-President of the T.S., was therefore not Vice-President, and consequently not amenable to trial by the “Judicial Committee” which, under the then existing Rules, was provided for in case the President or Vice-President of the Society should be found guilty of official misfeasance or malfeasance. Other points were raised by him which are so important as bearing upon the constitution and neutrality of the Society that I cannot permit myself to gloss them over with a mere summary notice; they will stand out for all time in our Society history as landmarks not to be for a moment lost sight of, so I will just reproduce here the official Report of the Council meeting, and that of its equal, the meeting of the Judicial Committee, into which it is embodied.

Ngày hôm sau, Tổng Hội đồng nhóm họp để bắt đầu thảo luận giá trị của vụ việc chống lại Ông Judge. Khi ấy mới chỉ có ba Miền (Section) tồn tại, nên Hội đồng gồm tôi, các Ông Keightley và Mead, đại diện cho Miền Ấn và Miền châu Âu, và Ông Judge, dĩ nhiên, không bỏ phiếu; Ông Keightley được cử làm Thư ký. Một phiên họp hoãn lại được tổ chức ngày 7, khi Chủ tịch đọc một lá thư từ Ông Judge, nói rằng Ông chưa bao giờ được bầu làm Phó Chủ tịch T.S., vì thế không phải là Phó Chủ tịch, và hệ quả là không thể bị xét xử bởi “Ủy ban Tư pháp” vốn, theo Điều lệ khi ấy, được lập ra trong trường hợp Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch của Hội bị phát hiện phạm sai phạm hay lạm phạm chức vụ. Ông còn nêu những điểm khác mà hệ quả đối với hiến chế và tính trung lập của Hội quan trọng đến mức tôi không thể tự cho phép mình lướt qua bằng một bản tóm lược sơ sài; những điểm ấy sẽ nổi bật trong lịch sử của Hội chúng ta như những mốc không bao giờ được lãng quên, vì vậy tôi sẽ chép lại ở đây Biên bản chính thức của phiên họp Hội đồng, và của cuộc họp đồng cấp với nó, là cuộc họp của Ủy ban Tư pháp, trong đó các điểm ấy được ghi nhận.

[174]

[174]

The documents were issued by me in an Executive Notice, dated at London, 21st July, 1894 (Theosophist, September, 1894), as follows:

Các tài liệu này được tôi ban hành trong một Thông tri Hành chính, đề ngày tại Luân Đôn, 21 tháng Bảy, 1894 (Theosophist, Tháng Chín, 1894), như sau:

MINUTES OF A JUDICIAL COMMITTEE OF

BIÊN BẢN CỦA MỘT ỦY BAN TƯ PHÁP

THE THEOSOPHICAL SOCIETY

CỦA HỘI THÔNG THIÊN HỌC

HELD AT 19 AVENUE ROAD, LONDON, ON JULY 10TH, 1894

HỌP TẠI 19 AVENUE ROAD, LUÂN ĐÔN, NGÀY 10 THÁNG BẢY, 1894

To enquire into certain charges against the

Để điều tra một số cáo buộc nhằm vào

Vice-President

Phó Chủ tịch

“Present: Colonel Olcott, President-Founder, in the chair; the General Secretaries of the Indian and European Sections (Mr. B. Keightley and Mr. G. R. S. Mead); delegates of the Indian Section (Mr. A. P. Sinnett and Mr. Sturdy); delegates of the European Section (Mr. H. Burrows and Mr. Kingsland); delegates of the American Section (Dr. Buck and Dr. Archibald Keightley); special delegates of Mr. Judge (Mr. Oliver Firth and Mr. E. T. Hargrove).

“Hiện diện: Đại tá Olcott, Chủ tịch-Sáng lập, chủ tọa; các Tổng Thư ký của Miền Ấn và Miền châu Âu (Ông B. Keightley và Ông G. R. S. Mead); đại biểu của Miền Ấn (Ông A. P. Sinnett và Ông Sturdy); đại biểu của Miền châu Âu (Ông H. Burrows và Ông Kingsland); đại biểu của Miền châu Mỹ (Bác sĩ Buck và Bác sĩ Archibald Keightley); các đại biểu đặc biệt của Ông Judge (Ông Oliver Firth và Ông E. T. Hargrove).

“Mrs. Besant and Mr. Judge were also present.

“Bà Besant và Ông Judge cũng có mặt.

“A letter was read by the Chairman from the General Secretary of the American Section, stating that the Executive Committee of that Section claims that one of the delegates of that Section should have an additional vote on the Committee, in view of the fact that the General Secretary himself would not vote, or that an extra delegate be appointed.

“Một lá thư được Chủ tọa đọc lên từ Tổng Thư ký Miền châu Mỹ, nêu rằng Ủy ban Chấp hành của Miền đó yêu cầu một trong số các đại biểu của Miền được thêm một lá phiếu trong Ủy ban, do Tổng Thư ký tự thân sẽ không bỏ phiếu, hoặc là chỉ định thêm một đại biểu.

[175]

[175]

“Resolved: that a substitute be admitted to sit on the Committee in the place of the General Secretary.

“Nghị quyết: rằng một người thay thế được chấp thuận tham gia Ủy ban thay cho Tổng Thư ký.

“Mr. James M. Pryse was nominated by the other American delegates and took his seat.

“Ông James M. Pryse được các đại biểu châu Mỹ khác đề cử và đã vào ghế.

“The Chairman then declared the Committee to be duly constituted and read the following address.

“Chủ tọa tuyên bố Ủy ban đã được lập theo đúng thể thức và đọc diễn từ sau đây.

“ADDRESSES OF THE PRESIDENT-FOUNDER

“DIỄN TỪ CỦA CHỦ TỊCH-SÁNG LẬP

“GENTLEMEN AND BROTHERS,

“THƯA CÁC NGÀI VÀ CÁC HUYNH ĐỆ,

“We have met together to-day as a Judicial Committee, under the provisions of Section 3 of Article VI of the Revised Rules, to consider and dispose of certain charges of misconduct, preferred by Mrs. Besant against the Vice-President of the Society, and dated March 24th, 1894.

“Hôm nay chúng ta họp với tư cách là một Ủy ban Tư pháp, theo quy định tại Khoản 3 Điều VI của Điều lệ Sửa đổi, để xem xét và giải quyết một số cáo buộc về hành vi sai trái, do Bà Besant đưa ra nhằm vào Phó Chủ tịch của Hội, đề ngày 24 tháng Ba, 1894.

“Section 2 of Article VI says that ‘the President may be deprived of office at any time, for cause shown by a three-fourths vote of Judicial Committee herein, after provided for [in Section 3], before which he shall be given full opportunity to disprove any charges brought against him’; Section 3 provides that the Judicial Committee shall be composed of (a) members of the General Council ex-officio, (b) two additional members nominated by each Section of the Society, and (c) two members chosen by the accused. Under the present organization of the Society, this Committee, will, therefore, comprise the President-Founder, the General Secretaries of the Indian and European [176] Sections, two additional delegates each from the Indian, European and American Sections, and two nominees of Mr. Judge; eleven in all—the accused, of course, being debarred from sitting as a judge either as General Secretary of the American Section or as Vice-President.

“Khoản 2 Điều VI nói rằng ‘Chủ tịch có thể bị bãi nhiệm bất cứ lúc nào, nếu có lý do được trình bày bởi một lá phiếu ba phần tư của Ủy ban Tư pháp được quy định dưới đây [tại Khoản 3], trước đó Người sẽ được cho đầy đủ cơ hội để bác bỏ mọi cáo buộc chống lại mình’; Khoản 3 quy định rằng Ủy ban Tư pháp sẽ bao gồm (a) các thành viên của Tổng Hội đồng đương nhiên, (b) hai thành viên bổ sung do mỗi Miền của Hội đề cử, và (c) hai thành viên do người bị cáo chọn. Theo cơ cấu hiện tại của Hội, Ủy ban này, vì vậy, sẽ bao gồm Chủ tịch-Sáng lập, các Tổng Thư ký của các Miền Ấn và châu Âu [176], hai đại biểu bổ sung cho mỗi Miền Ấn, châu Âu và châu Mỹ, và hai người do Ông Judge đề cử; tổng cộng mười một người – người bị cáo, dĩ nhiên, bị loại khỏi vị trí thẩm phán dù với tư cách Tổng Thư ký của Miền châu Mỹ hay với tư cách Phó Chủ tịch.

“Section 4 of Article VI. declares that the same procedure shall apply, mutatis mutandis, to the cases of the Vice-President and President; thus making the former, as well as the latter, amenable to the jurisdiction of the Judicial Committee for offences charged against him. Under this clause, the Vice-President is now arraigned.

“Khoản 4 Điều VI tuyên bố rằng trình tự thủ tục tương tự sẽ được áp dụng, với những điều chỉnh cần thiết, cho các trường hợp của Phó Chủ tịch và Chủ tịch; nhờ đó khiến Phó Chủ tịch, cũng như Chủ tịch, phải chịu thẩm quyền của Ủy ban Tư pháp về các tội danh bị cáo buộc. Theo điều khoản này, Phó Chủ tịch hiện bị truy tố.

“In compliance with the Revised Rules, copies of the charges brought by the accuser have been duly supplied to the accused, and the members of the General Council, and the Sections and the accused have nominated their delegates respectively. I also suspended the Vice-President from office pending the disposal of the charges by this Committee.

“Tuân thủ Điều lệ Sửa đổi, các bản sao cáo buộc do người tố cáo đưa ra đã được cấp phát đúng thủ tục cho người bị cáo và các thành viên của Tổng Hội đồng, và các Miền cùng người bị cáo đã đề cử đại biểu của mình theo thể thức. Tôi cũng đã đình chỉ chức vụ của Phó Chủ tịch trong khi chờ Ủy ban này giải quyết các cáo buộc.

“Upon receipt of a preliminary letter from myself, of date February 7th, 1894, from Agra, India, Mr. Judge, erroneously taking it to be the first step in the official enquiry into the charges, from my omission to mark the letter ‘Private,’ naturally misconceived it to be a breach of the Constitution, and vehemently protested in a public circular addressed to ‘the members of the Theosophical Society,’ and of which 5,000 copies were distributed to them, to all parts of the world. The name of the accuser not being mentioned, the [177] wrong impression prevailed that I was the author of the charges, and at the same time intended to sit as Chairman of the tribunal that was to investigate them. I regret this circumstance as having caused bad feeling throughout the Society against its Chief Executive, who has been the personal friend of the accused for many years, has ever appreciated as they deserved, his eminent services and unflagging devotion to the Society and the whole movement, and whose constant motive has been to be brotherly and act justly to all his colleagues, of every race, religion and sex.

“Ngay khi nhận được một lá thư sơ bộ từ chính tôi, đề ngày 7 tháng Hai, 1894, từ Agra, Ấn Độ, Ông Judge, do nhầm tưởng đây là bước đầu của cuộc điều tra chính thức về các cáo buộc, vì tôi sơ suất không ghi ‘Riêng tư’ trên thư, đã tự nhiên hiểu sai rằng đó là một hành vi vi phạm Hiến chế, và đã kịch liệt phản đối bằng một thông tri công khai gửi tới ‘các hội viên của Hội Thông Thiên Học,’ với 5.000 bản được phát tán khắp thế giới. Tên người tố cáo không được nêu, [177] nên nảy sinh ấn tượng sai rằng tôi là tác giả của các cáo buộc, đồng thời có ý định ngồi ghế Chủ tọa của tòa thẩm tra chúng. Tôi lấy làm tiếc về sự việc này vì đã gây ra những ác cảm trong Hội đối với vị Tổng Trị sự, người vốn là bạn riêng của bị cáo suốt nhiều năm, luôn biết đánh giá đúng như đáng về công lao xuất sắc và sự tận tụy không mệt mỏi của Ông đối với Hội và toàn bộ phong trào, và người mà động cơ thường trực là giữ tình huynh đệ và hành xử công chính với mọi đồng sự, thuộc mọi chủng tộc, tôn giáo và giới tính.

“Three very important protests have been made by the accused and submitted to me, to wit:

“Ba sự phản kháng hết sức quan trọng đã được người bị cáo đưa ra và trình lên tôi, đó là:

“1. That he was never legally Vice-President of the T. S. That an election to said office of Vice-President has always been necessary, and is so yet.

“1. Rằng Ông chưa bao giờ là Phó Chủ tịch hợp pháp của T.S. Rằng việc bầu vào chức vụ Phó Chủ tịch là điều cần thiết từ trước đến nay, và hiện vẫn là như vậy.

“That he has never been elected to the office.

“Rằng Ông chưa bao giờ được bầu vào chức vụ này.

“That the title has been conferred on him by courtesy, and has been tacitly assumed to be legal by himself and others, in ignorance of the facts of the case.

“Rằng tước vị ấy được ban cho Ông một cách xã giao, và đã được chính Ông cùng những người khác ngầm xem là hợp lệ do không biết rõ thực tế.

“The legitimate inference from which would be:

“Suy luận hợp lệ từ đó sẽ là:

“That not being Vice-President, de jure, he is not amenable to the jurisdiction of a Judicial Committee, which can only try the highest two of the Society.

“Rằng vì không phải là Phó Chủ tịch, theo pháp lý, nên Ông không thuộc thẩm quyền của một Ủy ban Tư pháp, vốn chỉ có thể xét xử hai chức vụ cao nhất của Hội.

“2. That, even if he were Vice-President, this tribunal could only try charges which imply on his part acts of misfeasance or malfeasance as such official; whereas the pending charges accuse him of acts which are not those of an official, but of a simple member; hence only triable by his own Branch or Lodge (vide [178] Section 3 of Article XIII), at a special meeting called to consider the facts.

“2. Rằng, ngay cả nếu Ông là Phó Chủ tịch, thì cơ quan tài phán này cũng chỉ có thể xét xử những cáo buộc hàm ý các hành vi sai phạm hay lạm phạm chức vụ của Ông với tư cách chính thức; trong khi đó các cáo buộc hiện hành quy kết Ông những hành vi không phải của một viên chức, mà là của một hội viên thường; vì thế chỉ có thể bị xét xử bởi Chi bộ hay Hội quán của chính Ông (xem [178] Khoản 3 Điều XIII), tại một cuộc họp đặc biệt triệu tập để xem xét sự việc.

“3. That the principal charge against him cannot be tried without breach of the constitutional neutrality of the Society in matters of private belief as to religious and other questions, and especially as to belief in the ‘existence, names, powers, functions or methods of “Mahâtmâs” or “Masters”‘: that to deliberate and decide, either pro or con, in this matter would be to violate the law, affirm a dogma, and ‘offend the religious feelings’ of Fellows of the Society, who, to the number of many hundreds, hold decided opinions concerning the existence of Mahâtmâs and their interest in our work.

“3. Rằng cáo buộc chủ yếu chống Ông không thể bị đem ra xét xử mà không xâm phạm tính trung lập hiến định của Hội trong các vấn đề niềm tin riêng tư về tôn giáo và những vấn đề khác, và đặc biệt là niềm tin về ‘sự hiện hữu, tên gọi, quyền năng, chức năng hay phương pháp của “Mahâtmâs” hay “Masters”‘: rằng việc nghị bàn và quyết định, dù thuận hay chống, trong vấn đề này sẽ vi phạm luật, xác lập một giáo điều, và ‘xúc phạm tình cảm tôn giáo’ của những Hội viên, mà có đến hàng trăm người, giữ những quan điểm dứt khoát liên quan đến sự hiện hữu của các Mahatma và mối quan tâm của Các Ngài đến công việc của chúng ta.

“These points will presently be considered seriatim.

“Những điểm này sẽ sớm được xem xét lần lượt.

“At the recent (eighth) annual meeting of the American Section T.S. at San Francisco, in the first session of April 22nd, the following, with other resolutions, was unanimously adopted, to wit:

“Tại Đại hội thường niên lần thứ tám gần đây của Miền châu Mỹ T.S. ở San Francisco, trong phiên họp đầu tiên ngày 22 tháng Tư, các Nghị quyết sau đây, cùng các nghị quyết khác, đã được nhất trí thông qua, như sau:

“Resolved: that this Convention, after careful deliberation, finds that the suspension of the Vice-President is without the slightest warrant in the Constitution and altogether transcends the discretionary power given the President by the Constitution and is therefore null and void.

“Nghị quyết: rằng Đại hội này, sau khi cân nhắc kỹ, nhận thấy việc đình chỉ chức vụ Phó Chủ tịch là không có chút cơ sở nào trong Hiến chế và hoàn toàn vượt quá thẩm quyền tùy nghi dành cho Chủ tịch theo Hiến chế, vì vậy vô hiệu lực.

“I now return to Mr. Judge’s protests:

“Nay tôi trở lại các phản kháng của Ông Judge:

“That he practised deception in sending false messages, orders and letters, as if sent and written by ‘Masters’; and in statements to me about a certain Rosicrucian jewel of H. P. B.’s:

“Rằng Ông đã dùng mưu dối trá khi gửi những thông điệp, chỉ thị và thư giả như thể được gửi và viết bởi các ‘Chân sư’; và trong những lời nói với tôi về một bảo vật Thập tự Hoa Hồng của H. P. B.:

[179]

[179]

“That he was untruthful in various other instances enumerated.

“Rằng Ông đã không trung thực trong nhiều trường hợp khác được liệt kê.

“Are these solely acts done in his private capacity; or may they or either of them be laid against him as wrong-doing by the Vice-President? This is a grave question, both in its present bearings and as establishing a precedent for future contingencies. We must not make a mistake in coming to a decision.

“Những việc đó chỉ là các hành vi làm trong tư cách cá nhân; hay chúng, hay một trong số chúng, có thể bị quy là hành vi sai trái của Phó Chủ tịch? Đây là một câu hỏi hệ trọng, cả ở hệ quả trước mắt lẫn như một tiền lệ cho những tình huống tương lai. Chúng ta không được phép mắc sai lầm khi đi đến quyết định.

“In summoning Mr. Judge before this tribunal, I was moved by the thought that the alleged evil acts might be separated into (a) strictly private acts, viz., the alleged untruthfulness and deception, and (b) the alleged circulation of deceptive imitations of what are supposed to be Mahâtmic writings, with intent to deceive; which communications, owing to his high official rank among us, carried a weight they would not have had if given out by a simple member. This seemed to me a far more heinous offence than simple falsehood or any other act of an individual, and to amount to a debasement of his office, if proven. The minutes of the General Council meeting of July 7th, which will presently be read for your information, will show you how this question was discussed by us, and what conclusion was reached. To make this document complete in itself, however, I will say that, in the Council’s opinion, the point raised by Mr. Judge appeared valid, and that the charges are not cognizable by this Judicial Committee. The issue is now open to your consideration, and you must decide as to your judicial competency.

“Khi triệu Ông Judge ra trước cơ quan tài phán này, tôi bị thôi thúc bởi ý nghĩ rằng những hành vi bị cáo buộc có thể được phân tách thành (a) các hành vi thuần túy riêng tư, tức là sự không trung thực và mưu dối bị cáo buộc, và (b) việc bị cáo buộc đã phổ biến những bản mô phỏng đánh lừa của các văn bản được cho là của các ‘bút tích Mahatma’, với ý đồ lừa dối; mà các thông điệp ấy, do phẩm trật chức vụ cao của Ông trong chúng ta, đã mang một trọng lượng mà chúng sẽ không có nếu do một hội viên thường công bố. Điều này đối với tôi dường như là một tội nặng nề hơn nhiều so với sự dối trá đơn thuần hay bất kỳ hành vi nào khác của một cá nhân, và, nếu được chứng minh, cấu thành sự làm hoen ố chức vụ của Ông. Biên bản phiên họp Tổng Hội đồng ngày 7 tháng Bảy, sẽ ngay đây được đọc để các vị tường, sẽ chỉ cho các vị thấy chúng tôi đã thảo luận vấn đề này thế nào, và đã đi đến kết luận gì. Tuy nhiên, để văn bản này tự thân được trọn, tôi xin nói rằng, theo ý kiến của Hội đồng, điểm Ông Judge nêu ra có vẻ xác đáng, và rằng các cáo buộc ấy không thuộc thẩm quyền xét xử của Ủy ban Tư pháp này. Vấn đề nay được mở ra để các vị xem xét, và các vị phải quyết định về thẩm quyền tài phán của mình.

[180]

[180]

“1. As to his legal status as Vice-President. At the Adyar Convention of the whole Society in December, 1888, exercising the full executive power I then held, I appointed Mr. Judge Vice-President in open Convention, the choice was approved by the Delegates assembled, and the name inserted in the published Official List of officers, since which time it has not been withdrawn. At the Convention of 1890, a new set of Rules having come into force and an election for Vice-President being in order, Mr. Bertram Keightley moved and I supported the nomination of Mr. Judge, and he was duly elected. It now appears that official notice was not sent him to this effect, but nevertheless his name was duly published in the Official List, as it had been previously. You all know that he attended the Chicago Parliament of Religions as Vice-President and my accredited representative and substitute; his name is so printed in his Report of the Theosophical Congress, and the Official Report of the San Francisco Convention of our American Section contains the Financial Statement of the Theosophic Congress Fund, which is signed by him as Vice-President, Theosophical Society.

“1. Về địa vị hợp pháp của Ông với tư cách Phó Chủ tịch. Tại Đại hội toàn Hội ở Adyar vào tháng Mười Hai, 1888, khi đang nắm đầy đủ quyền hành pháp, tôi đã bổ nhiệm Ông Judge làm Phó Chủ tịch giữa Đại hội, sự lựa chọn được các Đại biểu nhóm họp tán thành, và tên Ông được ghi vào Danh sách Chính thức đã công bố về nhân sự, từ đó đến nay chưa bị rút. Tại Đại hội năm 1890, một bộ Điều lệ mới có hiệu lực và cuộc bầu chọn Phó Chủ tịch đến kỳ, Ông Bertram Keightley đề cử và tôi ủng hộ Ông Judge, và Ông đã được bầu hợp lệ. Nay người ta phát hiện rằng không có thông báo chính thức gửi Ông về việc này, nhưng dẫu vậy tên Ông vẫn được đăng trong Danh sách Chính thức, như trước đó. Các vị đều biết rằng Ông đã tham dự Quốc hội Tôn giáo Chicago với tư cách Phó Chủ tịch và đại diện, kiêm người thay thế được ủy quyền của tôi; tên Ông được in như vậy trong Bản Tường trình của Ông về Đại hội Thông Thiên Học, và Bản Tường trình Chính thức của Đại hội San Francisco thuộc Miền châu Mỹ của chúng ta có mục Báo cáo Tài chính của Quỹ Đại hội Thông Thiên Học, được chính Ông ký tên với tư cách Phó Chủ tịch, Hội Thông Thiên Học.

“From the above facts it is evident that W. Q. Judge is, and since December, 1888, has continuously been, de jure as well as de facto Vice-President of the Theosophical Society. The facts having been laid before the General Council in its session of the 7th instant, my ruling has been ratified; and is now also concurred in by Mr. Judge. He is, therefore, triable by this tribunal for ‘cause shown’.

“Xét các dữ kiện trên, rõ ràng W. Q. Judge là, và từ tháng Mười Hai, 1888 đến nay vẫn liên tục là, theo pháp lý cũng như trên thực tế, Phó Chủ tịch của Hội Thông Thiên Học. Các dữ kiện này đã được trình trước Tổng Hội đồng trong phiên họp ngày mồng 7 vừa qua, phán quyết của tôi đã được chuẩn y; và nay cũng được Ông Judge thừa nhận. Vì thế, Ông có thể bị cơ quan tài phán này xét xử vì ‘lý do đã chứng’.

[181]

[181]

“2. The second point raised by the accused is more important. If the acts alleged were done by him at all—which remains as yet sub judice—and he did them as a private person, he cannot be tried by any other tribunal than the Aryan Lodge, T. S., of which he is a Fellow and President. Nothing can possibly be clearer than that. Now, what are the alleged offences?

“2. Điểm thứ hai do người bị cáo nêu ra quan trọng hơn. Nếu các hành vi bị cáo buộc là do Ông thực hiện – điều này vẫn còn đang thuộc diện xét xử – và Ông làm như thế trong tư cách cá nhân, thì Ông không thể bị xét xử bởi cơ quan tài phán nào khác ngoài Chi bộ Arya, T.S., mà Ông là Hội viên và là Chủ tịch. Không điều gì có thể rõ ràng hơn thế. Vậy những tội danh bị cáo buộc là gì?

“3. Does our proposed enquiry into the alleged circulation of fictitious writings of those known to us as ‘Mahâtmâs’ carry with it a breach of the religious neutrality guaranteed us in the T.S. Constitution, and would a decision of the charge, in either way, hurt the feelings of members? The affirmative view has been taken and warmly advocated by the Convention of the American Section, by individual branches and groups of ‘Theosophical Workers,’ by the General Secretaries of the European and Indian Sections in a recently issued joint circular, by many private members of the Society, and by the accused. As I conceived it, the present issue is not at all whether Mahâtmâs exist or the contrary, or whether they have or have not recognizable handwritings, and have or have not authorized Mr. Judge to put forth documents in their name. I believed, when issuing the call, that the question might be discussed without entering into investigations that would compromise our corporate neutrality. The charges as formulated and laid before me by Mrs. Besant could, in my opinion, have been tried without doing this. And I must refer to my official record to prove that I would have been the last [182] to help in violating a Constitution of which I am, it may be said, the father, and which I have continually defended at all times and in all circumstances. On now meeting Mr. Judge in London, however, and being made acquainted with his intended line of defence, I find that by beginning the enquiry we should be placed in this dilemma, viz., we should either have to deny him the common justice of listening to his statements and examining his proofs (which would be monstrous in even a common court of law, much more in a Brotherhood like ours, based on lines of ideal justice), or be plunged into the very abyss we wish to escape from. Mr. Judge’s defence is that he is not guilty of the acts charged; that Mahâtmâs exist, are related to our Society, and in personal connection with himself; and he avers his readiness to bring many witnesses and documentary proofs to support his statements. You will at once see whither this would lead us. The moment we entered into these questions we should violate the most vital spirit of our federal compact, its neutrality in matters of belief. Nobody, for example, knows better than myself the fact of the existence of the Masters, yet I would resign my office unhesitatingly if the Constitution were amended so as to erect such a belief into a dogma: every one in our membership is as free to disbelieve and deny their existence as I am to believe and affirm it. For the above reason, then, I declare as my opinion that this enquiry must go no farther; we may not break our own laws for any consideration whatsoever. It is furthermore my opinion that [183] such an enquiry, begun by whatsoever official body within our membership, cannot proceed if a similar line of defence be declared. If, perchance, a guilty person should at any time go scot-free in consequence of this ruling, we cannot help it; the Constitution is our palladium, and we must make it the symbol of justice or expect our Society to disintegrate.

“3. Việc chúng ta dự kiến điều tra việc bị cáo buộc phổ biến những văn bản giả mạo của những vị mà chúng ta biết là ‘Mahatma’ có kéo theo sự vi phạm tính trung lập tôn giáo được bảo đảm cho chúng ta trong Hiến chế T.S., và liệu một quyết định về cáo buộc này, theo hướng nào đi nữa, có làm tổn thương tình cảm của hội viên không? Quan điểm khẳng định đã được Đại hội Miền châu Mỹ nhận lấy và nhiệt liệt biện hộ, bởi các Chi bộ riêng lẻ và những nhóm “Người Phụng sự Thông Thiên Học”, bởi các Tổng Thư ký của Miền châu Âu và Miền Ấn trong một thông tri chung mới ban hành, bởi nhiều hội viên, và bởi người bị cáo. Theo cách tôi hình dung, vấn đề hiện nay hoàn toàn không phải là liệu các Chân sư có hiện hữu hay không, hay liệu Các Ngài có hay không có những bút tích có thể nhận ra, và có hay không ủy quyền cho Ông Judge công bố những tài liệu nhân danh Các Ngài. Tôi tin, khi ban hành giấy mời, rằng vấn đề có thể được thảo luận mà không cần đi vào những điều tra có thể làm tổn hại tính trung lập tập thể của chúng ta. Những cáo buộc được bà Besant soạn thảo và đệ trình lên tôi có thể, theo ý tôi, được xét xử mà không vi phạm điều này. Và tôi phải viện dẫn hồ sơ chính thức của mình để chứng minh rằng tôi hẳn là người sau cùng [182] có thể góp phần vào việc vi phạm một Hiến chế mà có thể nói tôi là người khai sinh, và mà tôi đã luôn luôn bảo vệ vào mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, khi nay gặp Ông Judge ở Luân Đôn và được biết đường lối biện hộ mà Ông định theo đuổi, tôi nhận thấy rằng, ngay khi bắt đầu cuộc điều tra, chúng ta sẽ bị đặt vào thế tiến thoái lưỡng nan, tức là, hoặc chúng ta phải từ chối dành cho Ông sự công chính thông thường là lắng nghe trình bày và khảo xét chứng cứ của Ông (điều vốn đã ghê gớm ngay trong một tòa án thông thường, huống hồ trong một Đoàn huynh đệ như chúng ta, đặt nền trên những tiêu chuẩn công lý lý tưởng), hoặc chúng ta sẽ bị ném vào chính vực sâu mà chúng ta muốn tránh. Sự biện hộ của Ông Judge là Ông không phạm những hành vi bị cáo buộc; rằng các Chân sư hiện hữu, liên hệ với Hội chúng ta, và có giao kết cá nhân với chính Ông; và Ông khẳng định sẵn sàng đưa nhiều nhân chứng và tài liệu để hậu thuẫn cho những lời mình nói. Các vị sẽ thấy ngay điều này dẫn chúng ta tới đâu. Ngay khoảnh khắc chúng ta bước vào những vấn đề ấy, chúng ta sẽ vi phạm linh hồn sinh động nhất của thỏa ước liên bang của chúng ta, tức là tính trung lập trong các vấn đề niềm tin. Không ai, thí dụ, biết rõ hơn tôi về sự hiện hữu của các Chân sư, vậy mà tôi sẽ không ngần ngại từ chức nếu Hiến chế bị sửa để nâng một tín điều như thế thành giáo điều: mọi người trong hàng ngũ hội viên của chúng ta đều tự do không kém gì tôi trong việc không tin và phủ nhận sự hiện hữu của Các Ngài, như tôi tự do tin và khẳng nhận. Vì lý do nói trên, tôi tuyên bố ý kiến của tôi là cuộc điều tra này không được đi xa hơn nữa; chúng ta không được phá luật của chính mình vì bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, theo ý kiến của tôi, [183] một cuộc điều tra như thế, dù do bất kỳ cơ quan chính thức nào trong hàng ngũ chúng ta khởi động, cũng không thể tiếp tục nếu một đường lối biện hộ tương tự được tuyên bố. Nếu, lỡ như, một người có tội nào đó vào lúc nào đấy thoát tội vì hệ quả của phán quyết này, chúng ta cũng đành chịu; Hiến chế là bảo chứng của chúng ta, và chúng ta phải làm cho nó thành biểu tượng của công lý, bằng không thì hãy chờ Hội chúng ta tự rã.

“Candour compels me to add that, despite what I thought some preliminary quibbling and unfair tactics, Mr. Judge has travelled hither from America to meet his accusers before this Committee, and announced his readiness to have the charges investigated and decided on their merits by any competent tribunal.

“Thẳng thắn buộc tôi phải thêm rằng, bất chấp điều tôi cho là vài sự ngụy biện ban đầu và thủ thuật không công bằng, Ông Judge đã vượt biển từ Mỹ sang để gặp những người buộc tội Ông trước Ủy ban này, và tuyên bố sẵn sàng để các cáo buộc được điều tra và quyết nghị dựa trên chính giá trị của chúng bởi bất kỳ cơ quan tài phán có thẩm quyền nào.

“Having disposed of the several protests of Mr. Judge, I shall now briefly refer to the condemnatory Resolutions of the San Francisco Convention, and merely to say that there was no warrant for their hasty declaration that my suspension of the Vice-President, pending the disposal of the charges, was unconstitutional, null and void. As above noted, Section 4 of Article VI of our Constitution provides that the same rules of procedure shall apply to the case of the Vice-President as to that of the President; and, inasmuch as my functions vest in the Vice-President, and I am suspended from office until any charges against my official character are disposed of, so, likewise, must the Vice-President be suspended from his official status until the charges against him are disposed of; re-instatement to follow acquittal or the abandonment of the prosecution.

“Sau khi giải quyết các phản kháng của Ông Judge, giờ tôi sẽ ngắn gọn đề cập các Nghị quyết lên án của Đại hội San Francisco, chỉ để nói rằng không có cơ sở nào cho tuyên bố vội vã của họ rằng việc tôi đình chỉ Phó Chủ tịch trong khi chờ giải quyết các cáo buộc là trái Hiến chế, vô hiệu lực. Như đã nêu, Khoản 4 Điều VI của Hiến chế chúng ta quy định rằng cùng một trình tự thủ tục sẽ áp dụng cho trường hợp của Phó Chủ tịch cũng như của Chủ tịch; và vì các chức năng của tôi được ủy thác cho Phó Chủ tịch, và tôi bị đình chức cho đến khi các cáo buộc nhằm vào tư cách chức vụ của tôi được giải quyết, thì tương tự, Phó Chủ tịch cũng phải bị đình chức vị thế chính thức cho tới khi các cáo buộc nhằm vào Ông được giải quyết; việc phục chức sẽ theo sau sự trắng án hoặc việc từ bỏ truy tố.

[184]

[184]

“It having been made evident to me that Mr. Judge cannot be tried on the present accusations without breaking through the lines of our Constitution, I have no right to keep him further suspended, and so I hereby cancel my notice of suspension, dated February 7th, 1894, and restore him to the rank of Vice-President.

“Vì đã hiển nhiên rằng Ông Judge không thể bị xét xử về những cáo buộc hiện tại mà không phá vỡ những ranh giới của Hiến chế chúng ta, tôi không có quyền giữ Ông trong tình trạng bị đình chức nữa, và do đó, tôi hủy bỏ thông báo đình chức đề ngày 7 tháng Hai, 1894, và phục hồi Ông vào địa vị Phó Chủ tịch.

“In conclusion, Gentlemen and Brothers, it remains for me to express my regret for any inconvenience I may have caused you by the convocation of this Judicial Committee, and to cordially thank Mr. Sturdy who has come from India, Dr. Buck, who has come from Cincinnati, and the rest of you who have come from distant points in the United Kingdom, to render this loyal service. I had no means of anticipating this present issue, since the line of defence was not within my knowledge. The meeting was worth holding for several reasons. In the first place, because we have come to the point of an official declaration that it is not lawful to affirm that belief in Mahâtmâs is a dogma of the Society, or communications really, or presumably, from them, authoritative and infallible. Equally clear is it that the circulation of fictitious communications from them is not an act for which, under our rules, an officer or member can be impeached and tried. The inference then is, that testimony as to intercourse with Mahâtmâs, and writings alleged to come from them, must be judged upon their intrinsic merits alone; and that the witnesses are solely responsible for their statements. Thirdly, the successorship to the Presidency is again open (vide Gen. Council [185] Report of July 7th, 1894), and at my death or at any time sooner, liberty of choice may be exercised in favour of the best available member of the Society.

“Kết lại, Thưa các Ngài và các Huynh đệ, còn lại việc tôi bày tỏ lời tiếc vì những phiền toái tôi có thể đã gây ra cho các vị do việc triệu tập Ủy ban Tư pháp này, và chân thành cảm ơn Ông Sturdy đã lặn lội từ Ấn sang, Bác sĩ Buck từ Cincinnati, và các vị khác đã đến từ những nơi xa trên quần đảo này, để thực hiện nghĩa vụ trung thành này. Tôi không có cách nào để dự liệu diễn biến hiện nay, vì đường lối biện hộ chưa hề nằm trong tri kiến của tôi. Cuộc họp này đáng để tổ chức vì nhiều lẽ. Thứ nhất, bởi chúng ta đã đạt đến điểm tuyên ngôn chính thức rằng không hợp pháp để khẳng định rằng niềm tin nơi các Chân sư là một giáo điều của Hội, hay rằng những thông điệp thực sự, hay có thể, đến từ Các Ngài, là có thẩm quyền và vô ngộ. Tương tự, rõ ràng là việc phổ biến những thông điệp giả mạo nhân danh Các Ngài không phải là một hành vi mà theo điều lệ, một viên chức hay hội viên có thể bị luận tội và xét xử. Suy ra thì, các chứng từ về sự giao tiếp với các Chân sư, và những văn bản được cho là đến từ Các Ngài, phải được thẩm định trên chính giá trị nội tại của chúng; và các nhân chứng tự thân chịu trách nhiệm về lời mình nói. Thứ ba, vấn đề kế nhiệm chức Chủ tịch lại được mở (xem Báo cáo của Tổng Hội đồng [185] ngày 7 tháng 7, 1894), và vào lúc tôi tạ thế hay ở bất kỳ thời điểm sớm hơn nào, quyền tự do lựa chọn có thể được thực thi để ưu ái dành cho hội viên xuất sắc nhất còn có thể chọn trong Hội.”

“I now bring my remarks to a close by giving voice to the sentiment which I believe to actuate the true Theosophist, viz., that the same justice should be given and the same mercy shown to every man and woman on our membership registers. There must be no distinctions of persons, no paraded self-righteousness, no seeking for revenge. We are all—as I personally believe—equally under the operation of Karma, which punishes and rewards; all equally need the loving forebearance of those who have mounted higher than ourselves in the scale of human perfectibility.

“Tôi nay xin kết lại lời nhận định của mình bằng cách cất tiếng nói cho tâm tình mà tôi tin là thúc động người Thông Thiên Học chân chính, tức là, cùng một lẽ công bằng phải được dành cho, và cùng một lòng khoan dung phải được tỏ ra với, mọi người nam và nữ có tên trong sổ hội viên của chúng ta. Không được có sự phân biệt đối xử, không phô trương sự tự cho mình là công chính, không truy cầu báo thù. Chúng ta đều—như cá nhân tôi tin—bình đẳng ở dưới sự vận hành của nghiệp quả, vốn trừng phạt và thưởng phạt; tất cả đều bình đẳng cần đến lòng nhẫn nại đầy tình thương của những người đã bước cao hơn chúng ta trên thang bậc của khả năng nên hoàn thiện nơi con người.

“H. S. OLCOTT, P. T. S.”

“H. S. OLCOTT, P. T. S.”

____

____

Mr. G. R. S. Mead reported that certain Minutes of Proceedings by the General Council of the Theosophical Society were communicated to the present Committee for its information, and they were read accordingly, as follows:

Ông G. R. S. Mead báo cáo rằng một số Biên bản Diễn tiến của Tổng Hội đồng của Hội Thông Thiên Học đã được chuyển đến Uỷ ban hiện thời này để tham khảo, và đã được đọc theo đó, như sau:

MINUTES OF THE GENERAL COUNCIL

BIÊN BẢN CỦA TỔNG HỘI ĐỒNG

MEETING

PHIÊN HỌP

HELD AT 19 AVENUE ROAD, LONDON, JULY 7TH, 1894

TIẾN HÀNH TẠI SỐ 19 ĐẠI LỘ AVENUE ROAD, LONDON, NGÀY 7 THÁNG 7, 1894

“Present: President, Colonel H. S. Olcott, Bertram Keightley, George R. S. Mead, and William Q. Judge.

“Hiện diện: Chủ tịch, Đại tá H. S. Olcott, Bertram Keightley, George R. S. Mead, và William Q. Judge.

“Colonel Olcott called the meeting to order, and Bertram Keightley was appointed Secretary.

“Đại tá Olcott tuyên bố khai mạc phiên họp, và chỉ định Bertram Keightley làm Thư ký.

[186]

[186]

“Council was informed that the meeting was called to consider certain points brought up by William Q. Judge, and other matters, to wit:

“Hội đồng được thông báo rằng phiên họp được triệu tập để xem xét một số điểm do William Q. Judge nêu lên, và các việc khác, tức là:

“The President read a letter from William Q. Judge stating that in his opinion he was never elected Vice-President of the T.S., and was not, therefore, Vice-President of the T.S.; whereupon the President informed the Council that at the General Convention at Adyar, in 1888, he then, exercising the prerogatives which he then held, appointed William Q. Judge as Vice-President of the T.S.; and the name was then announced in the official list of officers of that year. That subsequently, at the General Convention in 1890, the last one of such General Conventions, said nomination was unanimously confirmed by vote on motion of Bertram Keightley, supported by H. S. Olcott; hence, that although the official report of the Convention seems to be defective in that it did not record the fact, and that Mr. Judge was thereby misled, the truth is as stated. The President then declared that W. Q. Judge was and is Vice-President de facto and de jure of the Theosophical Society.

“Chủ tịch đọc một bức thư của William Q. Judge nêu rằng theo ý kiến của ông, ông chưa bao giờ được bầu làm Phó Chủ tịch của Hội T.T.H., và vì vậy không phải là Phó Chủ tịch của Hội T.T.H.; sau đó Chủ tịch thông tin cho Hội đồng rằng tại Đại hội Đồng ở Adyar, năm 1888, khi ấy, nhân thi hành đặc quyền mà ông đang nắm, ông đã bổ nhiệm William Q. Judge làm Phó Chủ tịch của Hội T.T.H.; và tên tuổi khi ấy đã được công bố trong danh sách chính thức các viên chức của năm đó. Rằng sau đó, tại Đại hội Đồng năm 1890, là đại hội đồng cuối cùng thuộc loại này, sự đề cử nói trên đã được phê chuẩn nhất trí bằng biểu quyết theo đề nghị của Bertram Keightley, có H. S. Olcott hỗ trợ; do đó, mặc dù bản tường trình chính thức của Đại hội có vẻ khiếm khuyết ở chỗ không ghi lại sự kiện này, và vì thế ông Judge đã bị hiểu lầm, thì sự thật vẫn như đã nêu. Chủ tịch liền tuyên bố rằng W. Q. Judge đã và đang là Phó Chủ tịch trên thực tế và theo pháp lý của Hội Thông Thiên Học.

“Another point then raised by Mr. Judge was then taken into consideration, to wit: That even if Vice-President, he, Mr. Judge, was not amenable to an enquiry by the Judicial Committee into certain alleged offences with respect to the misuse of the Mahâtmâs’ names and handwriting, since if guilty the offence would be one by him as a private individual, and not in his official capacity; he contended that, under our

“Một điểm khác do ông Judge nêu ra sau đó được đem ra xem xét, tức là: Cho dù là Phó Chủ tịch đi nữa thì ông, ông Judge, cũng không phải chịu sự điều tra của Uỷ ban Tư pháp về một số cáo buộc liên quan đến việc lạm dụng tên tuổi và bút tích của các Chân sư, vì nếu có tội thì tội đó là do ông với tư cách cá nhân, chứ không phải trong tư cách chức vụ; ông lập luận rằng, theo Hiến chương của chúng ta

[187]

[187]

Constitution, the President and Vice-President could only be tried as such by such Committee, for official misconduct—that is misfeasances and malfeasances. An opinion of Council in New York which he had taken from Mr. M. H. Phelps, F.T.S., was then read by him in support of this contention. The matter was then debated. Bertram Keightley moved and G. R. S. Mead seconded:

Chủ tịch và Phó Chủ tịch chỉ có thể bị Uỷ ban này xét xử trong tư cách ấy vì những sai phạm công vụ—nghĩa là sai phạm và lạm quyền. Một ý kiến của luật sư ở New York mà ông đã xin từ ông M. H. Phelps, F.T.S., sau đó được ông đọc để ủng hộ lập luận này. Vấn đề được thảo luận. Bertram Keightley đề nghị và G. R. S. Mead phụ hoà:

“That the Council, having heard the arguments on the point raised by William Q. Judge, it declares that the point is well taken; that the acts alleged concern him as an individual; and that consequently the Judicial Committee has no jurisdiction in the premises to try him as Vice-President upon the charges as alleged.

“Rằng, sau khi nghe các lập luận về điểm do William Q. Judge nêu, Hội đồng tuyên bố điểm đó là xác đáng; rằng các hành vi bị cáo buộc liên quan đến ông ấy như một cá nhân; và hệ quả là Uỷ ban Tư pháp không có thẩm quyền trong vấn đề này để xét xử ông ấy với tư cách Phó Chủ tịch về các cáo buộc đã nêu.

“The President concurred. Mr. Judge did not vote. The motion was declared carried.

“Chủ tịch tán đồng. Ông Judge không bỏ phiếu. Kiến nghị được tuyên bố thông qua.

“On Mr. Mead’s motion, it was then voted that the above record shall be laid before the Judicial Committee, Mr. Judge did not vote.

“Theo đề nghị của ông Mead, sau đó biểu quyết rằng biên bản trên sẽ được trình lên Uỷ ban Tư pháp, ông Judge không bỏ phiếu.

“The President then laid before the Council another question mooted by Mr. Judge, to wit: That his election as successor to the President, which was made upon the announcement of the President’s resignation, became ipso facto annulled upon the President’s resumption of his office as President. On motion, the Council declared the point well taken, and ordered the decision to be entered on the minutes. Mr. Judge did not vote.

“Chủ tịch sau đó trình trước Hội đồng một câu hỏi khác do ông Judge nêu, tức là: Việc ông được bầu làm người kế nhiệm Chủ tịch, vốn được tiến hành sau khi công bố việc Chủ tịch từ nhiệm, đã đương nhiên bị huỷ bỏ khi Chủ tịch trở lại đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch. Theo kiến nghị, Hội đồng tuyên bố điểm này là xác đáng, và yêu cầu ghi quyết định vào biên bản. Ông Judge không bỏ phiếu.

“The President called attention to the resolution of the American Convention of 1894, declared that [188] his action in suspending the Vice-President, pending the settlement of the charges against him, was ‘without the slightest warrant in the Constitution and altogether transcends the discretionary power given the President by the Constitution, and is therefore null and void’. Upon deliberation and consideration of Sections 3 and 4, Article VI. of the General Rules, the Council decided (Mr. Judge not voting) that the President’s action was warranted under the then existing circumstances, and that the said resolutions of protest are without force.

“Chủ tịch lưu ý đến nghị quyết của Đại hội Mỹ năm 1894, tuyên bố rằng [188] hành vi của ông khi đình chỉ Phó Chủ tịch trong khi chờ giải quyết các cáo buộc chống ông này, là ‘hoàn toàn không có một chút căn cứ nào trong Hiến chương và hoàn toàn vượt quá quyền tuỳ nghi mà Hiến chương trao cho Chủ tịch, vì vậy vô hiệu’. Sau khi suy xét và cân nhắc các Khoản 3 và 4, Điều VI của Quy tắc Tổng quát, Hội đồng quyết định (ông Judge không bỏ phiếu) rằng hành vi của Chủ tịch là có căn cứ trong hoàn cảnh khi đó, và rằng các nghị quyết phản đối nói trên không có hiệu lực.

“On motion (Mr. Judge not voting) the Council then requested the President to convene the Judicial Committee at the London Headquarters, on Tuesday, July 10th, 1894, at 10 a.m.

“Theo kiến nghị (ông Judge không bỏ phiếu), Hội đồng sau đó yêu cầu Chủ tịch triệu tập Uỷ ban Tư pháp tại Trụ sở London, vào thứ Ba, ngày 10 tháng 7, 1894, lúc 10 giờ sáng.

“The Council then adjourned at call of President.”

“Sau đó Hội đồng hoãn họp, chờ theo lời triệu tập của Chủ tịch.”

____

____

The following Resolutions were then adopted by the Judicial Committee:

Các Nghị quyết sau đây sau đó được Uỷ ban Tư pháp thông qua:

Resolved: that the President be requested to lay before the Committee the charges against Mr. Judge referred to in his address.

Quyết nghị: rằng đề nghị Chủ tịch trình bày trước Uỷ ban các cáo buộc chống lại ông Judge, như đã được nêu trong bài diễn văn của ông.

The charges were laid before the Committee accordingly.

Các cáo buộc theo đó được trình bày trước Uỷ ban.

After deliberation, it was

Sau khi cân nhắc, đã

Resolved: that although it has been ascertained that the member bringing the charges and Mr. Judge are both ready to go on with the enquiry, the Committee considers, nevertheless, that the charges are not such as relate to the conduct of the Vice-President in [189] his official capacity, and therefore are not subject to its jurisdiction.

Quyết nghị: rằng mặc dù đã xác minh rằng cả người đưa ra cáo buộc lẫn ông Judge đều sẵn sàng tiến hành cuộc điều tra, Uỷ ban vẫn cho rằng các cáo buộc đó không liên quan đến hành vi của Phó Chủ tịch trong [189] tư cách chính thức của ông, vì vậy không thuộc thẩm quyền xét xử của Uỷ ban.

On the question whether the charges did or did not involve a declaration of the existence and power of the Mahâtmâs, the Committee deliberated, and it was Resolved: that the Committee is also of opinion that a statement by them as to the truth or otherwise of at least one of the charges as formulated against Mr. Judge would involve a declaration on their part as to the existence or non-existence of the Mahâtmâs, and it would be a violation of the spirit of neutrality and the unsectarian nature and Constitution of the Society.

Về câu hỏi liệu các cáo buộc có hay không liên quan đến một tuyên bố về sự hiện hữu và quyền năng của các Chân sư, Uỷ ban đã cân nhắc, và đã Quyết nghị: rằng Uỷ ban cũng cho rằng một tuyên bố của họ về sự thật hay không của ít nhất một trong các cáo buộc được lập thành văn bản chống lại ông Judge sẽ kéo theo việc họ phải tuyên bố về sự hiện hữu hay không hiện hữu của các Chân sư, và như vậy sẽ vi phạm tinh thần trung lập và bản chất phi giáo phái cũng như Hiến chương của Hội.

Four members abstained from voting on this resolution.

Bốn thành viên kiêng bỏ phiếu đối với nghị quyết này.

I t was also further

Cũng đã thêm

Resolved: that the President’s address be adopted.

Quyết nghị: rằng chấp nhận bài diễn văn của Chủ tịch.

Resolved: that the General Council be requested to print and circulate the Minutes of the Proceedings.

Quyết nghị: rằng đề nghị Tổng Hội đồng in và phát hành Biên bản Diễn tiến.

A question being raised as to whether the charges should be included in the printed report,

Do có câu hỏi đặt ra rằng liệu các cáo buộc có nên đưa vào bản báo cáo in hay không,

Mr. Burrows moved and Mr. Sturdy seconded a resolution that if the Proceedings were printed at all the charges should be included; but on being put to the vote the resolution was not carried.

Ông Burrows đề nghị và ông Sturdy phụ hoà một nghị quyết rằng nếu Biên bản Diễn tiến được in thì phải kèm cả các cáo buộc; nhưng khi đưa ra biểu quyết, nghị quyết này không được chấp thuận.

The Minutes having been read and confirmed, the Committee dissolved.

Sau khi Biên bản được đọc và xác nhận, Uỷ ban giải tán.

H. S. OLCOTT, P.T.S.,

H. S. OLCOTT, P.T.S.,

President of the Council.

Chủ tịch Hội đồng.

AN APPENDIX

MỘT PHỤ LỤC

STATEMENT BY ANNIE BESANT

TUYÊN BỐ CỦA ANNIE BESANT

Read for the Information of Members at the

Đọc để Thông Tin cho Hội viên tại

Third Session of the European Convention of the T.S., July 12th, 1894

Phiên họp Thứ Ba của Đại hội Châu Âu của Hội T.T.H., ngày 12 tháng 7 năm 1894

I speak to you to-night as the representative of the T.S. in Europe, and as the matter I have to lay before you concerns the deepest interests of the Society, I pray you to lay aside all prejudice and feeling, to judge by Theosophical standards and not by the lower standards of the world, and to give your help now in one of the gravest crises in which our movement has found itself. There has been much talk of Committees and Juries of Honour. We come to you, our brothers, to tell you what is in our hearts.

Tối nay tôi nói với quý vị với tư cách đại diện của Hội T.T.H. tại châu Âu, và vì vấn đề tôi phải trình bày liên quan đến những lợi ích sâu xa nhất của Hội, tôi cầu xin quý vị gác qua mọi thiên kiến và cảm xúc, xét đoán theo chuẩn mực Thông Thiên Học chứ không theo các chuẩn thấp hơn của thế gian, và giúp chúng tôi lúc này trong một trong những cơn khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà phong trào của chúng ta từng gặp. Đã có nhiều lời bàn về các Uỷ ban và các Bồi thẩm đoàn Danh dự. Chúng tôi đến với quý vị, những huynh đệ của chúng tôi, để nói những gì trong lòng mình.

I am going to put before you the exact position of affairs on the matter which has been filling our hearts all day. Mr. Judge and I have agreed to lay two statements before you, and to ask your counsel upon them.

Tôi sắp trình bày trước quý vị tình trạng sự việc chính xác về vấn đề đã lấp đầy tâm can chúng ta suốt cả ngày. Ông Judge và tôi đã đồng ý đặt trước quý vị hai bản tuyên bố, và xin lời khuyên của quý vị về những điều ấy.

For some years past persons inspired largely by personal hatred for Mr. Judge, and persons inspired [191] by hatred for the Theosophical Society and for all that it represents, have circulated a mass of accusations against him, ranging from simple untruthfulness to deliberate and systematic forgery of the handwritings of Those Who to some of us are most sacred. The charges were not in a form that it was possible to meet, a general denial could not stop them, and explanation to irresponsible accusers was at once futile and undignified.

Trong vài năm qua, những người bị thúc đẩy phần lớn bởi thù hằn cá nhân với ông Judge, và những người bị thúc đẩy [191] bởi sự thù ghét đối với Hội Thông Thiên Học và tất cả những gì Hội đại diện, đã tung ra hàng loạt cáo buộc chống ông, từ sự không nói thật đơn thuần đến sự giả mạo cố ý và có hệ thống bút tích của Những Đấng vốn đối với một số chúng tôi là thiêng liêng nhất. Các cáo buộc không ở trong một hình thức có thể đối đáp, một sự phủ nhận chung không thể chặn đứng chúng, và việc giải thích với những kẻ buộc tội vô trách nhiệm thì đồng thời vừa vô ích vừa thiếu phẩm cách.

Mr. Judge’s election as the future President of the Society increased the difficulties of the situation, and the charges themselves were repeated with growing definiteness and insistence, until they found expression in an article in The Theosophist signed by Messrs. Old and Edge. At last, the situation became so strained that it was declared by many of the most earnest members of the Indian Section that, if Mr. Judge became President with those charges hanging over him unexplained, the Indian Section would secede from the T.S. Representation to this effect was made to me, and I was asked, as well known in the world and the T.S. and as a close friend and colleague of Mr. Judge, to intervene in the matter.

Việc ông Judge được bầu làm Chủ tịch tương lai của Hội làm gia tăng khó khăn của tình thế, và bản thân các cáo buộc đã được lặp lại với mức độ xác định và khăng khăng gia tăng, cho đến khi chúng được thể hiện trong một bài viết trên tờ The Theosophist do các ông Old và Edge ký tên. Sau cùng, tình hình trở nên căng thẳng đến mức nhiều hội viên chí thành nhất của Khu bộ Ấn Độ tuyên bố rằng, nếu ông Judge trở thành Chủ tịch trong khi các cáo buộc đó vẫn treo lơ lửng trên đầu ông mà không được giải minh, thì Khu bộ Ấn Độ sẽ ly khai khỏi Hội T.T.H. Về điều này đã có người đến gặp tôi, và tôi được đề nghị, vì được biết tiếng trong thế gian và trong Hội T.T.H. và là bạn thân cũng như cộng sự gần gũi của ông Judge, đứng ra can thiệp.

I hold strongly that, whatever may be the faults of a private member, they are no concern of mine, and it is no part of my duty, as a humble servant of the Lords of Compassion, to drag my brother’s faults into public view, nor to arraign him before any tribunal. His faults and mine will find their inevitable harvest of suffering, and I am content to leave them to the

Tôi chủ trương mạnh mẽ rằng, dù một hội viên thường có thể có lỗi gì, thì đó không thuộc sự quan tâm của tôi, và không thuộc phận sự của tôi, với tư cách một người đầy tớ khiêm nhường của các Đấng Từ Bi, là lôi lỗi lầm của huynh đệ mình ra trước công luận, cũng không phải là đem ông ra trước bất kỳ toà án nào. Lỗi lầm của ông ấy và của tôi sẽ gặt lấy mùa gặt tất yếu của khổ đau, và tôi cam lòng để mặc chúng cho

[192]

[192]

Great Law, which judges unerringly and knits to every wrong its necessary sequence of pain.

Đại Định luật, vốn phán xét không sai chạy và nối liền với mỗi điều sai trái chuỗi hệ quả tất yếu của đau đớn.

But where the honour of the Society was concerned, in the person of its now second official and (as he then was thought to be) its President-elect, it was right to do what I could to put an end to the growing friction and suspicion, both for the sake of the Society and for that of Mr. Judge; and I agreed to intervene, privately, believing that many of the charges were false, dictated and circulated malevolently, that others were much exaggerated and were largely susceptible of explanation, and that what might remain of valid complaint might be put an end to without public controversy. Under the promise that nothing should be done further in the matter until my intervention had failed, I wrote to Mr. Judge. The promise of silence was broken by persons who knew some of the things complained of, and before any answer could be received by me from Mr. Judge, distorted versions of what had occurred were circulated far and wide. This placed Mr. Judge in a most unfair position, and he found my name used against him in connection with charges which he knew to be grossly exaggerated, where not entirely untrue.

Nhưng khi danh dự của Hội bị liên luỵ, nơi con người của viên chức đứng thứ hai hiện nay của Hội và (như khi đó người ta nghĩ) là Chủ tịch-đắc cử, thì là đúng khi làm những gì tôi có thể để chấm dứt ma sát và ngờ vực đang gia tăng, vì lợi ích của Hội và vì lợi ích của ông Judge; và tôi đã đồng ý can thiệp, một cách riêng tư, vì tin rằng nhiều cáo buộc là sai, do ác ý mà bịa đặt và truyền bá, rằng những cáo buộc khác bị thổi phồng nhiều và phần lớn có thể giải thích, và rằng phần còn lại nào của khiếu nại có cơ sở thì có thể chấm dứt mà không cần tranh cãi công khai. Với lời hứa rằng sẽ không làm gì thêm trong vấn đề này cho đến khi sự can thiệp của tôi thất bại, tôi đã viết cho ông Judge. Lời hứa im lặng đã bị những người biết một số điều bị phàn nàn phá vỡ, và trước khi tôi nhận được bất kỳ hồi âm nào từ ông Judge, những bản tường thuật bị bóp méo về những gì đã xảy ra đã lan truyền khắp nơi. Điều này đặt ông Judge vào một vị thế hết sức bất công, và ông thấy tên tôi bị dùng để chống lại ông trong liên hệ với những cáo buộc mà ông biết là bị thổi phồng trầm trọng, nếu không nói là hoàn toàn không đúng.

Not only so, but I found that a public Committee of Enquiry was to be insisted on, and I saw that the proceedings would be directed in a spirit of animosity, add that the aim was to inflict punishment for wrongs believed to have been done, rather than to prevent future harm to the Society. I did my utmost to prevent a public Committee of Enquiry of an official [193] character. I failed, and the Committee was decided on. And then I made what many of Mr. Judge’s friends think was a mistake. I offered to take on myself the onus of formulating the charges against him. I am not concerned to defend myself on this, nor to trouble you with my reasons for taking so painful a decision; in this decision, for which I alone am responsible, I meant to act for the best, but it is very possible I made a mistake—for I have made many mistakes in judgment in my life, and my vision is not always clear in these matters of strife and controversy which are abhorrent to me.

Không những thế, tôi còn thấy rằng một Uỷ ban Điều tra công khai sẽ bị khăng khăng đòi hỏi, và tôi thấy rằng các thủ tục sẽ được điều khiển trong tinh thần thù hằn, và rằng mục đích là trừng phạt những lỗi lầm bị cho là đã phạm, hơn là ngăn ngừa tổn hại trong tương lai cho Hội. Tôi đã làm hết sức mình để ngăn một Uỷ ban Điều tra công khai mang tính [193] chính thức. Tôi thất bại, và Uỷ ban đã được quyết định thành lập. Và rồi tôi đã làm một điều mà nhiều bạn hữu của ông Judge cho là sai lầm. Tôi đề nghị tự mình gánh lấy trách nhiệm lập thành văn bản các cáo buộc chống ông. Tôi không quan tâm tự bào chữa về điểm này, cũng không muốn làm phiền quý vị với các lý do khiến tôi đưa ra quyết định đau lòng như vậy; trong quyết định này, mà chỉ mình tôi chịu trách nhiệm, tôi đã muốn hành động vì điều tốt nhất, nhưng rất có thể tôi đã phạm sai—vì trong đời, tôi đã phạm nhiều sai lầm trong phán đoán, và thị kiến của tôi không phải lúc nào cũng sáng suốt trong những chuyện tranh chấp và tranh luận, vốn làm tôi chán ghét.

In due course I formulated the charges, and drew up the written statement of evidence in support of them. They came in due course before the Judicial Committee, as you heard this morning. That Committee decided that they alleged private, not official, wrong-doing, and therefore could not be tried by a Committee that could deal only with a President or Vice-President as such. I was admitted to the General Council of the T.S. when this point was argued, and I was convinced by that argument that the point was rightly taken. I so stated when asked by the General Council, and again when asked by the Judicial Committee. And this put an end to the charges so far as that Committee was concerned.

Đúng kỳ hạn, tôi lập thành văn bản các cáo buộc, và soạn bản tường trình bằng văn bản các bằng chứng ủng hộ chúng. Chúng rồi đây đã được trình trước Uỷ ban Tư pháp, như quý vị đã nghe sáng nay. Uỷ ban đó quyết định rằng chúng cáo buộc sai trái ở bình diện cá nhân, không phải công vụ, vì vậy không thể được xét bởi một Uỷ ban chỉ có thể xử một Chủ tịch hay Phó Chủ tịch trong tư cách chức vụ của họ. Tôi được mời tham dự Tổng Hội đồng của Hội T.T.H. khi điểm này được tranh luận, và tôi bị thuyết phục bởi lập luận đó rằng điểm này là xác đáng. Tôi đã nói như vậy khi được Tổng Hội đồng hỏi, và một lần nữa khi Uỷ ban Tư pháp hỏi. Và điều này đã chấm dứt các cáo buộc trong phạm vi Uỷ ban đó.

As this left the main issue undecided, and left Mr. Judge under the stigma of unproved and unrebutted charges, it was suggested by Mr. Herbert Burrows that the charges should be laid before a Committee [194] of Honour. At the moment this was rejected by Mr. Judge, but he wrote to me on the following day, asking me to agree with him in nominating such a Committee. I have agreed to this, but with very great reluctance, for the reason mentioned above: that I feel it no part of my duty to attack any private member of the T.S., and I think such an attack would prove a most unfortunate precedent. But as the proceedings which were commenced against Mr. Judge as an official have proved abortive, it does not seem fair that I—responsible for those proceedings, by taking part in them—should refuse him the Committee he asks for.

Vì điều này để lại vấn đề chính chưa được quyết định, và để ông Judge dưới vết nhơ của các cáo buộc không được chứng minh cũng không bị bác bỏ, ông Herbert Burrows đề nghị rằng các cáo buộc nên được đưa ra trước một Uỷ ban [194] Danh dự. Tức thì điều này bị ông Judge bác bỏ, nhưng hôm sau ông viết cho tôi, xin tôi đồng ý với ông cùng chỉ định một Uỷ ban như vậy. Tôi đã đồng ý, nhưng với rất nhiều miễn cưỡng, vì lý do đã nói ở trên: rằng tôi thấy không thuộc phận sự của tôi là tấn công bất kỳ hội viên thường nào của Hội T.T.H., và tôi nghĩ một cuộc tấn công như vậy sẽ mở ra một tiền lệ hết sức bất hạnh. Nhưng vì những thủ tục khởi tố ông Judge trong tư cách công vụ đã tỏ ra bất thành, thì có vẻ không công bằng nếu tôi—người chịu trách nhiệm cho những thủ tục đó, bởi đã tham gia vào—lại từ chối Uỷ ban mà chính ông yêu cầu.

But there is another way; which I now take, and which, if you approve it, will put an end to this matter; and as no theosophist should desire to inflict penalty for the past—even if he thinks wrong has been done—but only to help forward right in the future, it may, I venture to hope, be accepted.

Tuy nhiên, có một con đường khác; mà tôi nay chọn, và nếu quý vị đồng thuận, sẽ chấm dứt việc này; và vì không một người Thông Thiên Học nào nên mong trừng phạt cho quá khứ—dù cho họ nghĩ rằng đã có điều sai trái xảy ra—mà chỉ nên giúp đẩy tới điều đúng trong tương lai, nên tôi mạo muội hy vọng, nó sẽ được chấp nhận.

And now I must reduce these charges to their proper proportions, as they have been enormously exaggerated, and it is due to Mr. Judge that I should say publicly what from the beginning I have said privately. The President stated them very accurately in his address to the Judicial Committee: the vital charge is that Mr. Judge has issued letters and messages in the script recognizable as that adopted by a Master with whom H. P. B. was closely connected, [10] and that these letters [195] and messages were neither written nor precipitated directly by the Master in whose writing they appear; as leading up to this there are subsidiary charges of deception, but these would certainly never have been made the basis of any action save for their connection with the main point.

Và nay tôi phải đưa các cáo buộc này về đúng tỉ lệ của chúng, vì chúng đã bị thổi phồng quá đáng, và điều cần làm đối với ông Judge là tôi phải công khai nói điều mà ngay từ đầu tôi đã nói riêng tư. Chủ tịch đã nêu chúng rất chính xác trong bài diễn văn trước Uỷ ban Tư pháp: cáo buộc cốt lõi là ông Judge đã phát hành thư và thông điệp bằng nét chữ có thể nhận ra là nét chữ được một Vị Chân sư, với Người mà H. P. B. gắn bó mật thiết, dùng, và rằng những bức thư [195] và thông điệp đó không do vị Chân sư, trong bút tích của Người, trực tiếp viết hay trực tiếp ngưng tụ; dẫn đến điều này là những cáo buộc phụ về lừa dối, nhưng chắc chắn những điều ấy sẽ không bao giờ được làm cơ sở cho bất kỳ hành động nào nếu không vì liên hệ của chúng với điểm chính.

Further, I wish it, to be distinctly understood that I do not charge and have not charged Mr. Judge with forgery in the ordinary sense of the term, but with giving a misleading material form to messages received psychically from the Master in various ways, without acquainting the recipients with this fact.

Hơn nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi không và chưa từng cáo buộc ông Judge tội giả mạo theo nghĩa thông thường của từ này, mà là việc ông đã trao hình thức vật chất dễ gây hiểu lầm cho các thông điệp được tiếp nhận một cách thông linh từ Vị Chân sư bằng nhiều cách khác nhau, mà không cho người nhận biết điều này.

I regard Mr. Judge as an Occultist, possessed of considerable knowledge and animated by a deep and unswerving devotion to the Theosophical Society. I believe that he has often received direct messages, from the, Masters and from Their chelas, guiding and helping him in his work. I believe that he has sometimes received messages for other people in one or other of the ways that I will mention in a moment, but not by direct writing by the Master nor by his direct precipitation; and that Mr. Judge has then believed himself to be justified in writing down in the script adopted by H. P. B. for communications from the Master, the message psychically received, and in giving it to the person for whom it was intended, leaving that person to wrongly assume that it was a direct precipitation or writing by the Master himself—that is, that it was done through Mr. Judge, but done by the Master.

Tôi xem ông Judge là một nhà huyền bí học, có tri thức đáng kể và được thúc đẩy bởi một sự tận hiến sâu xa và bền bỉ đối với Hội Thông Thiên Học. Tôi tin rằng ông thường nhận trực tiếp các thông điệp từ các Chân sư và từ các đệ tử của Các Ngài, để dẫn dắt và trợ giúp ông trong công việc của mình. Tôi tin rằng đôi khi ông nhận những thông điệp cho người khác theo một hay các cách mà lát nữa tôi sẽ nói, nhưng không phải bằng cách Vị Chân sư trực tiếp viết hay trực tiếp ngưng tụ; và rằng ông Judge đã cho rằng mình được phép viết bằng nét chữ mà H. P. B. chọn dùng cho các thông điệp từ Vị Chân sư, nội dung thông điệp được tiếp nhận thông linh, rồi trao nó cho người được nhắm tới, để người đó lầm tưởng rằng đó là một sự ngưng tụ trực tiếp hay do chính Vị Chân sư trực tiếp viết—tức là, nó được thực hiện qua ông Judge, nhưng do Vị Chân sư làm.

[196]

[196]

Now personally I hold that this method is illegitimate and that no one should simulate a recognized writing which is regarded as authoritative when it is authentic. And by authentic I mean directly written or precipitated by the Master himself. If a message is consciously written, it should be so stated: if automatically written, it should be so stated. At least so it seems to me. It is important that the very small part generally played by the Masters in these phenomena should be understood, so that people may not receive messages as authoritative merely on the ground of their being in a particular script, Except in the very rarest instances, the Masters do not personally write letters or directly precipitate communications. Messages may be sent by them to those with whom they can communicate by external voice, or astral vision, or physic word, or mental impression, or in other ways. If a person gets a message which he believes to be from the Master, for communication to anyone else, he is bound in honour not to add to that message any extraneous circumstances which will add weight to it in the recipient’s eyes. I believe that Mr. Judge wrote with his own hand, consciously or automatically, I do not know, in the script adopted as that of the Master, messages which he received from the Master or from Chelas; and I know that, in my own case, I believed that the messages he gave me in the well-known script were messages directly precipitated or directly written by the Master. When I publicly said that I have received since H. P. Blavatsky’s death, [197] letters in the writing H. P. Blavatsky had been accused of forging, I referred to letters given to me by Mr. Judge, and as they were in the well-known script, I never dreamt of challenging their source. I know now that they were not written or precipitated by the Master, and that they were done by Mr. Judge, but I also believe that the gist of these messages was psychically received, and that Mr. Judge’s error lay in giving them to me in a script written by himself and not saying that he had done so. I feel bound to refer to these letters thus explicitly, because having been myself mistaken, I in turn misled the public.

Còn cá nhân tôi cho rằng phương pháp này là bất chính và rằng không ai được phép mô phỏng một nét chữ đã được thừa nhận là có tính thẩm quyền khi nó là chân thực. Và “chân thực” theo tôi nghĩa là do chính Vị Chân sư trực tiếp viết hoặc trực tiếp ngưng tụ. Nếu một thông điệp được viết một cách có ý thức, cần nói rõ như thế: nếu được viết tự động, cần nói rõ như thế. Ít nhất, theo tôi là vậy. Điều quan trọng là phải hiểu phần rất nhỏ mà các Chân sư thường tham gia vào những hiện tượng này, để người ta đừng nhận các thông điệp như có thẩm quyền chỉ vì chúng ở một nét chữ đặc biệt. Ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi nhất, các Chân sư không đích thân viết thư hay trực tiếp ngưng tụ các thông điệp. Các thông điệp có thể được Các Ngài gửi cho những ai mà Các Ngài có thể giao tiếp bằng tiếng nói bên ngoài, hay thị kiến cảm dục, hay lời thông linh, hay ấn tượng trí tuệ, hay các cách khác. Nếu một người nhận được một thông điệp mà người ấy tin là từ Vị Chân sư, để truyền đạt cho bất kỳ ai khác, thì người ấy buộc phải giữ danh dự mà không thêm vào thông điệp đó bất kỳ tình tiết ngoại lai nào sẽ làm tăng trọng lượng của nó trong mắt người nhận. Tôi tin rằng ông Judge đã viết bằng chính tay mình, một cách có ý thức hoặc tự động, tôi không biết, bằng nét chữ được dùng như nét chữ của Vị Chân sư, những thông điệp mà ông nhận từ Vị Chân sư hay từ các đệ tử; và tôi biết rằng, trong trường hợp của riêng tôi, tôi đã tin rằng các thông điệp ông đưa tôi bằng nét chữ quen thuộc ấy là các thông điệp do chính Vị Chân sư trực tiếp ngưng tụ hoặc trực tiếp viết. Khi tôi công khai nói rằng tôi đã nhận, kể từ sau khi H. P. Blavatsky qua đời, [197] những bức thư bằng nét chữ mà H. P. Blavatsky từng bị cáo buộc là đã giả mạo, tôi ám chỉ các bức thư do ông Judge đưa cho tôi, và vì chúng ở nét chữ quen thuộc, tôi đã không hề nghĩ đến chuyện đặt vấn đề về nguồn gốc của chúng. Nay tôi biết rằng chúng không do Vị Chân sư viết hay ngưng tụ, và rằng chúng được thực hiện bởi ông Judge, nhưng tôi cũng tin rằng cốt lõi các thông điệp ấy đã được tiếp nhận một cách thông linh, và rằng sai lầm của ông Judge là ở chỗ đưa chúng cho tôi bằng nét chữ do chính ông viết mà không nói rằng ông đã làm như thế. Tôi thấy buộc phải đề cập đến những bức thư này một cách minh bạch như vậy, vì khi bản thân tôi bị lầm, tôi lại đã làm công chúng lầm theo.

It should be generally understood inside and outside the Theosophical Society, that letters and messages may be written or may be precipitated in any script, without thereby gaining any valid authority. Scripts may be produced by automatic or deliberate writing with the hand, or by precipitation, by many agencies from the White and Black Adepts down to semi-conscious Elementals, and those who afford the necessary conditions can be thus used. The source of messages can only be decided by direct spiritual knowledge or, intellectually, by the nature of their contents, and each person must use his own powers and act on his own responsibility, in acccepting or rejecting them. Thus I rejected a number of letters, real precipitations, brought me by an American, not an F.T.S., as substantiating his claim to be H. P. B.’s successor. Any good medium may be used for precipitating messages by any of the varied entities in the occult world; and [198] the outcome of these proceedings will be, I hope, to put an end to the craze for receiving letters and messages, which are more likely to be subhuman or human in their origin than superhuman, and to throw people back on the evolution of their own spiritual nature, by which alone they can be safely guided through the mazes of the superphysical world.

Cần phải được hiểu rộng rãi, cả trong và ngoài Hội Thông Thiên Học, rằng thư từ và thông điệp có thể được viết hoặc được ngưng tụ bằng bất kỳ nét chữ nào, mà không vì thế có được bất kỳ thẩm quyền hợp lệ nào. Các nét chữ có thể được tạo ra bởi viết tự động hay viết có chủ ý bằng tay, hoặc bằng ngưng tụ, bởi nhiều tác nhân từ các chân sư phái Trắng và phái Hắc cho đến các hành khí bán ý thức, và những ai cung ứng các điều kiện cần thiết đều có thể bị như thế mà sử dụng. Nguồn của các thông điệp chỉ có thể được quyết định bằng tri thức tinh thần trực tiếp hoặc, theo trí năng, bằng bản chất nội dung của chúng, và mỗi người phải dùng năng lực của chính mình và hành xử trên trách nhiệm của chính mình, khi chấp nhận hay bác bỏ chúng. Vì thế tôi đã bác một số thư, là những sự ngưng tụ thật, do một người Mỹ, không phải là hội viên Hội T.T.H., mang đến cho tôi để chứng thực yêu sách của ông ta là người kế vị H. P. B. Bất kỳ đồng cốt giỏi nào cũng có thể được dùng để ngưng tụ các thông điệp bởi bất kỳ trong muôn vàn thực thể thuộc thế giới huyền linh; và [198] kết quả của các thủ tục này sẽ là, tôi hy vọng, chấm dứt cơn cuồng tín nhận thư và nhận thông điệp, vốn nhiều khả năng có nguồn gốc là cận nhân loại hay nhân loại hơn là siêu nhân loại, và đưa người ta trở về với việc phát triển bản tính tinh thần của chính mình, nhờ đó họ mới có thể được dẫn dắt một cách an toàn qua mê lộ của thế giới siêu hình.

If you, representatives of the T.S., consider that the publication of this statement followed by that which Mr. Judge will make, would put an end to this distressing business, and by making a clear understanding, get rid at least of the mass of seething suspicions in which we have been living, and if you can accept it, I propose that this should take the place of the Committee of Honour, putting you, our brothers, in the place of the Committee. I have made the frankest explanation I can; I know how enwrapped in difficulty are these phenomena which are connected with forces obscure in their working to most; therefore, how few are able to judge of them accurately, while those through whom they play are always unable to control them. And I trust that these explanations may put an end to some at least of the troubles of the last two years, and leave us to go on with our work for the world, each in his own way. For any pain that I have given my brother, in trying to do a most repellent task, I ask his pardon, as also for any mistakes that I may have made.

Nếu quý vị, những đại diện của Hội T.T.H., xét rằng việc công bố bản tuyên bố này rồi theo sau là bản tuyên bố mà ông Judge sẽ đưa ra, sẽ chấm dứt vụ việc đau lòng này, và bằng cách tạo nên một sự hiểu biết rõ ràng, ít nhất loại bỏ được khối nghi kỵ sục sôi mà chúng ta đã sống trong đó, và nếu quý vị có thể chấp nhận, tôi đề nghị rằng điều này sẽ thay thế cho Uỷ ban Danh dự, đặt quý vị, những huynh đệ của chúng tôi, vào vị trí của Uỷ ban. Tôi đã đưa ra lời giải thích thẳng thắn nhất có thể; tôi biết những hiện tượng liên quan đến các lực huyền bí vốn tối tăm trong cách vận hành đối với đa số người là trùm kín trong khó khăn ra sao; bởi vậy, có rất ít người có thể phán đoán chúng một cách chính xác, trong khi những ai là khí cụ để chúng vận hành thì luôn không thể kiểm soát được chúng. Và tôi tin rằng những giải thích này có thể chấm dứt ít nhất một phần những rắc rối của hai năm vừa qua, và để chúng ta tiếp tục công việc cho thế gian, mỗi người theo cách của mình. Với mọi nỗi đau tôi đã gây cho huynh đệ mình, trong nỗ lực làm một việc cực kỳ đáng ghét, tôi xin ông thứ lỗi, cũng như xin thứ lỗi cho mọi sai lầm nào tôi có thể đã phạm.

ANNIE BESANT

ANNIE BESANT

[199]

[199]

(The above statements as to precipitated, written and other communications have been long ago made by both H. P. Blavatsky and Mr. Judge, in Lucifer, The Path, and elsewhere, both publicly and privately.—A.B.

(Những tuyên bố nêu trên về các truyền đạt được ngưng tụ, được viết và các loại truyền đạt khác đã từng được cả H. P. Blavatsky và ông Judge đưa ra từ lâu, trên các tạp chí Lucifer, The Path, và nơi khác, cả công khai lẫn riêng tư.—A.B.

Note by Colonel Olcott: I cannot allow Mrs. Besant to take upon herself the entire responsibility for formulating the charges against Mr. Judge, since I myself requested her to do it. The tacit endorsement of the charges by persistence in a policy of silence, was an injustice to the Vice-President, since it gave him no chance to make his defence; while, at the same time, the widely-current suspicions were thereby augmented, to the injury of the Society. So, to bring the whole matter to light, I, with others, asked Mrs. Besant to assume the task of drafting and signing the charges. —H. S. O.)

Lời ghi của Đại tá Olcott: Tôi không thể để bà Besant gánh hết trách nhiệm về việc lập thành văn bản các cáo buộc chống ông Judge, vì chính tôi đã yêu cầu bà làm việc đó. Sự tán thành mặc nhiên các cáo buộc bằng cách kiên trì theo một chính sách im lặng là bất công với Phó Chủ tịch, vì nó không cho ông cơ hội để tự bào chữa; đồng thời, những ngờ vực đang lan rộng bởi vậy lại càng gia tăng, gây tổn hại cho Hội. Vậy nên, để đưa toàn bộ sự việc ra ánh sáng, tôi, cùng với những người khác, đã yêu cầu bà Besant đảm đương việc thảo và ký các cáo buộc. —H. S. O.)

____

____

STATEMENT BY MR. JUDGE

TUYÊN BỐ CỦA ÔNG JUDGE

Since March last, charges have been going round the world against me, to which the name of Annie Besant has been attached, without her consent, as she now says, that I have been guilty of forging the names and handwritings of the Mahâtmâs and of misusing the said names and handwritings. The charge has also arisen that I suppressed the name of Annie Besant as mover in the matter from fear of the same. All [200] this has been causing great trouble and working injury to all concerned, that is, to all our members. It is now, time that this should be put an end to, once for all, if possible.

Kể từ tháng Ba vừa qua, các cáo buộc đã lan truyền khắp thế giới chống lại tôi, với cái tên Annie Besant gắn với chúng, mà không có sự đồng ý của bà, như bà nay nói, rằng tôi đã phạm tội giả mạo tên tuổi và bút tích của các Chân sư và lạm dụng các tên tuổi và bút tích đó. Cũng phát sinh cáo buộc rằng tôi đã giấu tên Annie Besant như là người khởi xướng vụ việc vì sợ bà. Tất cả [200] những điều này đã gây ra rắc rối lớn và gây tổn hại cho mọi người dính líu, tức là, cho tất cả hội viên của chúng ta. Nay là lúc phải chấm dứt việc này, một lần cho xong, nếu có thể.

I now state as follows:

Nay tôi tuyên bố như sau:

1. I left the name of Annie Besant out of my published circular by request of my friends in the T.S. then near me, so as to save her and leave it to others to put her name to the charge. It now appears that if I had so put her name it would have run counter to her present statement.

1. Tôi bỏ tên Annie Besant ra khỏi thông tri công bố của tôi theo yêu cầu của các bạn hữu của tôi trong Hội T.T.H. khi ấy đang ở gần tôi, để bảo vệ bà và để dành cho người khác đưa tên bà vào cáo buộc. Nay có vẻ như nếu tôi đã đưa tên bà vào thì điều đó sẽ đi ngược với tuyên bố hiện tại của bà.

2. I repeat my denial of the said rumoured charges of forging the said names and handwritings of the Mahâtmâs or of misusing the same.

2. Tôi nhắc lại việc tôi phủ nhận những cáo buộc đồn đại nói trên về việc giả mạo các tên tuổi và bút tích của các Chân sư hay lạm dụng những thứ đó.

3. I admit that I have received and delivered messages from the Mahâtmâs and assert their genuineness.

3. Tôi thừa nhận rằng tôi đã nhận và chuyển các thông điệp từ các Chân sư và khẳng định tính chân thực của chúng.

4. I say that I have heard and do hear from the Mahâtmâs, and that I am an agent of the Mahâtmâs; but I deny that I have ever sought to induce that belief in others, and this is the first time to my knowledge that I have ever made the claim now made I am pressed into the place where I must make it. My desire and effort have been to distract attention from such an idea as related to me. But I have no desire to make the claim, which I repudiate, that I am the only channel for communication with Masters; and it is my opinion that such communication is open to any human being who, by endeavouring to serve mankind, affords the necessary conditions.

4. Tôi nói rằng tôi đã nghe và đang nghe từ các Chân sư, và rằng tôi là một tác nhân của các Chân sư; nhưng tôi phủ nhận rằng tôi từng tìm cách gây ra niềm tin đó nơi người khác, và đây là lần đầu tiên theo tôi biết, tôi đã từng đưa ra một tuyên bố như hiện nay—tôi bị dồn vào chỗ buộc phải nói. Nguyện vọng và nỗ lực của tôi là làm cho người ta đừng chú ý đến ý niệm đó khi liên hệ với tôi. Nhưng tôi không hề muốn đưa ra yêu sách, mà tôi bác bỏ, rằng tôi là kênh duy nhất cho việc truyền thông với các Chân sư; và theo ý kiến của tôi, sự liên lạc như vậy mở ra cho bất kỳ con người nào, người mà bằng nỗ lực phụng sự nhân loại, tạo được các điều kiện cần thiết.

[201]

[201]

5. Whatever messages from the Mahâtmâs have been delivered by me as such—and they are extremely few—I now declare were and are genuine messages from the Mahâtmâs so far as my knowledge extends; they were obtained through me, but as to how they were obtained or produced I cannot state. But I can now again say, as I have said publicly before, and as was said by H. P. Blavatsky so often that I have always thought it common knowledge among studious theosophists, that precipitation of words or messages is of no consequence and constitutes no proof of connection with Mahâtmâs; it is only phenomenal and not of the slightest value.

5. Bất cứ thông điệp nào từ các Chân sư đã được tôi chuyển đi như thế—và chúng cực kỳ ít—tôi nay tuyên bố là những thông điệp chân thực từ các Chân sư trong phạm vi hiểu biết của tôi; chúng được đạt tới qua tôi, nhưng còn việc chúng đã được tiếp nhận hay tạo ra như thế nào thì tôi không thể nói. Tuy nhiên, tôi có thể một lần nữa nói bây giờ, như tôi đã nói công khai trước đây, và như H. P. Blavatsky đã nói quá thường đến nỗi tôi vẫn nghĩ nó là tri thức phổ biến giữa những người Thông Thiên Học chịu khó học hỏi, rằng sự ngưng tụ các chữ hay thông điệp là không quan trọng và không cấu thành bằng chứng cho mối liên lạc với các Chân sư; đó chỉ là hiện tượng và không có chút giá trị nào.

6. So far as methods are concerned for the reception and delivery of messages from the Masters, they are many. My own methods may disagree from the views of others, and I acknowledge their right to criticize them if they choose; but I deny the right of anyone to say that they know or can prove the non-genuineness of such messages, to or through me unless they are able to see on that plane. I can only say that I have done my best to report—in the few instances when I have done it at all—correctly and truthfully such messages as I think I have received for transmission, and never to my knowledge have I tried therewith to deceive any person or persons whatever.

6. Về các phương pháp được dùng để tiếp nhận và chuyển đi các thông điệp từ Các Bậc Thầy, có nhiều phương pháp. Các phương pháp của riêng tôi có thể không phù hợp với quan điểm của người khác, và tôi công nhận quyền của họ được phê phán chúng nếu họ muốn; nhưng tôi phủ nhận quyền của bất kỳ ai được tuyên bố rằng họ biết hay có thể chứng minh sự không chân thực của những thông điệp như vậy, đến với tôi hay qua tôi, trừ khi họ có khả năng thấy trên cõi ấy. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi đã làm hết sức để thuật lại—trong số rất ít trường hợp tôi đã làm điều đó—một cách chính xác và chân thật những thông điệp mà tôi cho là mình đã nhận để chuyển đạt, và không bao giờ theo tôi biết, tôi đã cố gắng dùng những điều đó để lừa dối bất kỳ người nào.

7. And I say that in 1893 the Master sent me a message in which he thanked me for all my work and exertions in the Theosophical field, and expressed satisfaction therewith, ending with sage advice to [202] guard me against the failings and follies of my lower nature; that message Mrs. Besant unreservedly admits.

7. Và tôi nói rằng vào năm 1893, Vị Thầy đã gửi cho tôi một thông điệp trong đó Ngài cảm ơn tôi vì toàn bộ công việc và nỗ lực của tôi trên cánh đồng Thông Thiên Học, và bày tỏ sự hài lòng về những điều ấy, kết thúc bằng lời khuyên khôn ngoan [202] để bảo tôi phòng ngừa những khiếm khuyết và dại dột của bản tính thấp kém của mình; bà Besant thừa nhận vô điều kiện thông điệp đó.

8. Lastly, and only because of absurd statements made and circulated, I willingly say that which I never denied, that I am a human being, full of error, liable to mistake, not infallible, but just the same as any other human being like to myself, or of the class of human beings like to myself, or of the class of human beings to which I belong. And I freely, fully and sincerely forgive anyone who may be thought to have injured or tried to injure me.

8. Cuối cùng, và chỉ vì những lời đồn vô lý đã được tung ra và truyền bá, tôi sẵn lòng nói điều mà tôi chưa bao giờ chối, rằng tôi là một con người, đầy lỗi lầm, dễ sai sót, không phải không sai, mà chỉ giống như bất kỳ con người nào khác giống như tôi, hay thuộc hạng người giống như tôi, hay thuộc hạng người mà tôi thuộc về. Và tôi tự do, đầy đủ và chân thành tha thứ cho bất cứ ai có thể được cho là đã làm hại hay cố làm hại tôi.

WILLIAM Q. JUDGE

WILLIAM Q. JUDGE

____

____

Having heard the above statements, the following resolution was moved by Mr. Bertram Keightley, seconded by, Dr. Buck and carried nem con:

Sau khi nghe các tuyên bố nói trên, nghị quyết sau được ông Bertram Keightley đề xuất, được bác sĩ Buck phụ hoà và được thông qua không ai phản đối:

Resolved: that this meeting accepts with pleasure the adjustment arrived at by Annie Besant and William Q. Judge as a final settlement of matters pending hitherto between them as prosecutor and defendant, with the hope that it may be thus buried and forgotten, and

Quyết nghị: rằng phiên họp này vui mừng chấp nhận sự hoà giải đạt được giữa Annie Besant và William Q. Judge như một sự dàn xếp cuối cùng cho các việc còn treo giữa họ cho đến nay với tư cách công tố và bị cáo, với hy vọng rằng nó sẽ nhờ đó được chôn vùi và quên lãng, và

Resolved that we will join hands with them to further the cause of genuine, Brotherhood in which we all believe.

Quyết nghị rằng chúng ta sẽ nắm tay nhau với họ để thúc đẩy sự nghiệp của Tình huynh đệ đích thực, điều mà tất cả chúng ta đều tin.

____

____

The following important results have come out of the above enquiry: “(a) The absolute neutrality of [203] the Theosophical Society in all matters of personal belief, and, the perfect right of private judgment in religious, mystical, and other questions have been authoritatively and permanently declared by Executive affirmation, endorsement by the General Council, and confirmation by a Judicial Committee organized under the provisions of the Society’s Revised Rules, and composed of Delegates chosen by the existing three Sections as possessing their respect and confidence; (b) The authoritative and dogmatic value of statements as to the existence of Mahâtmâs, their relations with and messages to private persons, or through them to third parties, the Society or the general public, is denied; all such statements, messages or teachings are to be taken at their intrinsic value and the recipients left to form and declare, if they choose, their own opinions with respect to their genuineness: the Society, as a body, maintaining its constitutional neutrality in the premises.

Những kết quả quan trọng sau đây đã nảy sinh từ cuộc điều tra nói trên: “(a) Tính trung lập tuyệt đối của [203] Hội Thông Thiên Học trong mọi vấn đề thuộc niềm tin cá nhân, và quyền phán đoán riêng tư hoàn toàn về các vấn đề tôn giáo, huyền nhiệm, và các vấn đề khác đã được tuyên bố có thẩm quyền và vĩnh viễn bởi sự khẳng định của Ban Chấp hành, được Tổng Hội đồng tán thành, và được một Uỷ ban Tư pháp—được tổ chức theo các điều khoản của Quy tắc Sửa đổi của Hội và gồm các Đại biểu do ba Khu bộ hiện hữu chọn, vì được họ kính trọng và tín nhiệm—xác nhận; (b) Giá trị mang tính thẩm quyền và giáo điều của các tuyên bố về sự hiện hữu của các Chân sư, mối liên hệ của Các Ngài với và các thông điệp của Các Ngài gửi cho người riêng hay qua họ cho người thứ ba, cho Hội hay cho công chúng nói chung, bị phủ nhận; mọi tuyên bố, thông điệp hay giáo huấn như vậy đều phải được xét theo giá trị nội tại của chúng và để người nhận tự hình thành và, nếu họ muốn, tự tuyên bố ý kiến của mình về tính chân thực của chúng: Hội, với tư cách một đoàn thể, duy trì tính trung lập theo Hiến chương trong vấn đề này.

“As to the disposal of the charges against the Vice-President, the report of the Judicial Committee gives all necessary information: the public statements of Mrs. Besant and Mr. Judge contained in the Appendix showing how the case stands. No final decision has been reached, since the defence of Mr. Judge precluded an enquiry into the facts, and it would not be constitutional for one to be made by any Committee, Council, or Branch of the Society. To undertake it would be a dangerous precedent, one which would furnish an excuse to try a member for holding to the dogmas of [204] the sect to which he might belong. Generally speaking, the elementary principles of tolerance and brotherliness which are professed by all true Theosophists, teach us to exercise towards each other a generous charity and forgiveness for displays of those human imperfections which we all equally share.”

“Về việc xử lý các cáo buộc chống Phó Chủ tịch, báo cáo của Uỷ ban Tư pháp đã cung cấp mọi thông tin cần thiết: các tuyên bố công khai của bà Besant và ông Judge nằm trong Phụ lục cho thấy tình trạng vụ việc. Chưa đạt được một quyết định cuối cùng nào, vì phần bào chữa của ông Judge đã ngăn cản một cuộc điều tra vào các sự kiện, và sẽ không hợp hiến khi tiến hành điều đó bởi bất kỳ Uỷ ban, Hội đồng, hay Chi bộ nào của Hội. Đảm nhận việc này sẽ là một tiền lệ nguy hiểm, thứ sẽ cung cấp cớ để xét xử một hội viên vì người đó bám vào giáo điều của [204] giáo phái mà người đó thuộc về. Nói chung, những nguyên lý sơ đẳng về khoan dung và tình huynh đệ mà mọi người Thông Thiên Học chân chính đều tuyên xưng, dạy chúng ta phải thực hành đối với nhau lòng bao dung rộng rãi và sự tha thứ đối với những bộc lộ của các bất toàn thuộc về con người mà tất cả chúng ta đều cùng chia sẻ.”

In view of my long and intimate acquaintance with Mr. Judge, all this revision of events is most disagreeable and I write without a shade of animosity, but since 1894 over 300 new Branches have been formed by us and our thousands of new colleagues are entitled to know the essential facts about the Great Secession of Mr. Judge.

Xét đến thời gian quen biết lâu dài và thân tình của tôi với ông Judge, tất cả việc duyệt lại các biến cố này là hết sức khó chịu và tôi viết không một mảy may ác cảm, nhưng kể từ năm 1894 hơn 300 Chi bộ mới đã được chúng ta thành lập và hàng ngàn đồng sự mới của chúng ta có quyền biết những sự kiện cốt yếu về Cuộc Ly Khai Lớn của ông Judge.

Further consideration of this matter must be postponed until next month. [11]

Việc xem xét thêm vấn đề này phải hoãn lại đến tháng sau.

H. S. OLCOTT

H. S. OLCOTT