OLD DIARY LEAVES, Sixth Series (1896-98)
by Henry Steel Olcott
MỤC LỤC
INSPECTING SCHOOLS IN CEYLON (1896)6
CHAPTER II—CHƯƠNG II18
MADAME MONGRUEL’S CLAIRVOYANCE—NĂNG LỰC THÔNG NHÃN CỦA BÀ MONGRUEL18
(1896)—(1896)18
CHAPTER III—CHƯƠNG III30
SEERESSES OR MEDIUMS—NHỮNG NỮ TIÊN TRI HOẶC ĐỒNG TỬ30
(1896)—(1896)30
CHAPTER IV—CHƯƠNG IV37
REVISION OF T. S. RULES—DUYỆT LẠI CÁC QUY LUẬT CỦA HỘI T.S.37
CHAPTER V—CHƯƠNG V45
PARSI ARCHÆOLOGICAL RESEARCH—NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ CỦA PARSI45
(1896)—(1896)45
CHAPTER VI—CHƯƠNG VI59
PROPHECIES ABOUT THE SOCIETY—NHỮNG LỜI TIÊN TRI VỀ HỘI59
A ROYAL GIFT—MỘT TẶNG VẬT VƯƠNG GIẢ59
(1896)—(1896)59
CHAPTER VII—CHƯƠNG VII71
A HISTORICAL RETROSPECT—MỘT HỒI CỐ LỊCH SỬ71
(1896)—(1896)71
CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII83
THE FUNCTION OF ADYAR—CHỨC NĂNG CỦA ADYAR83
(1897)—(1897)83
CHAPTER IX—CHAPTER IX99
CURIOUS COINCIDENCES—CÁC SỰ TRÙNG HỢP KỲ LẠ99
(1897)—(1897)99
CHAPTER X—CHAPTER X112
A BUDDHIST TRIPLE ENTENTE—MỘT ĐỒNG THUẬN TAM PHÂN CỦA PHẬT GIÁO112
(1897)—(1897)112
CHAPTER XI—CHƯƠNG XI130
WORK IN CEYLON—CÔNG TÁC TẠI TÍCH LAN130
(1897)—(1897)130
CHAPTER XII—CHAPTER XII142
KRAKATOA CATASTROPHE—THẢM HỌA KRAKATOA142
(1897)—(1897)142
CHAPTER XIII—CHAPTER XIII150
AUSTRALIAN TOUR—DU HÀNH ÚC150
(1897)—(1897)150
CHAPTER XIV—CHƯƠNG XIV160
THE VALUE OF SOCIAL FUNCTIONS—GIÁ TRỊ CỦA CÁC SINH HOẠT XÃ HỘI160
(1897)—(1897)160
CHAPTER XV—CHƯƠNG XV169
NEW ZEALAND TOUR—CHUYẾN DU NEW ZEALAND169
(1897)—(1897)169
CHAPTER XVI—CHƯƠNG XVI179
“THEOSOPHY APPLIED”—“THÔNG THIÊN HỌC ỨNG DỤNG”179
(1897)—(1897)179
CHAPTER XVII—CHƯƠNG XVII191
THE PHENOMENAL GROWTH OF THE T.S.—SỰ TĂNG TRƯỞNG PHI THƯỜNG CỦA T.S.191
(1897)—(1897)191
CHAPTER XVIII—CHƯƠNG XVIII200
INDIAN TOUR—CHUYẾN DU HÀNH ẤN ĐỘ200
(1898)—(1898)200
CHAPTER XIX—CHƯƠNG XIX209
TO ALLAHABAD AND LAHORE—ĐẾN ALLAHABAD VÀ LAHORE209
(1898)—(1898)209
CHAPTER XX—CHƯƠNG XX220
RETURNING HOME—TRỞ VỀ NHÀ220
(1898)—(1898)220
CHAPTER XXI—CHƯƠNG XXI229
MAGIC: BLACK AND WHITE—HUYỀN THUẬT: HẮC VÀ CHÁNH229
(1898)—(1898)229
CHAPTER XXII—CHƯƠNG XXII244
THE GREAT CARVED DOORS—NHỮNG CÁNH CỬA CHẠM KHẮC VĨ ĐẠI244
(1898)—(1898)244
CHAPTER XXIII—CHƯƠNG XXIII252
THE SOUTH INDIAN PARIAH—NGƯỜI PARIAH NAM ẤN252
(1898)—(1898)252
CHAPTER XXIV—CHƯƠNG XXIV262
MATERIALISM AND PSYCHOLOGY—CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ TÂM LÝ HỌC262
(1898)—(1898)262
CHAPTER XXV—CHƯƠNG XXV271
THE HERALDIC COCKS—NHỮNG CON GÀ TRỐNG HUY HIỆU271
(1898)—(1898)271
ENDNOTE279
CHAPTER I
INSPECTING SCHOOLS IN CEYLON (1896)
ALL good things must come to an end and the grand Rajput wedding at Varal was no exception. On the 19th of April Prince Liluba, the Heir Apparent of Morvi, left and the bride’s presents and dowry were displayed in a large temporary structure. The presents alone were worth thirty thousand rupees and made a splendid display, as may be imagined from what I said in the preceding chapter. The wedding guests and hangers-on having departed, Harisinhji and I were left alone. He had a somewhat extensive library and I took advantage of the occasion to read, among other things, Max Nordau’s Degeneracy, which gave me the impression that the author was fully persuaded in his own mind that he was the only person in the world who could not be classified as a degenerate. Still, his book is full of sage deductions from observed facts and should be read along with the books of the great hypnotists of [2] Salpétriére and Nancy by all who have to do with persons of hysteric temperament. I left Varal for Surat via Sihor on the 24th, in what discomfort will be imagined when I say that the thermometer was registering 108 to 110 degrees (F.) in the shade. The top of one’s head became burning hot from the heat rays reflected from the roof of the railway carriage.
Mọi điều tốt đẹp rồi cũng đến hồi kết thúc, và đám cưới Rajput linh đình ở Varal cũng không ngoại lệ. Ngày 19 tháng Tư, Hoàng tử Liluba, người thừa kế hiển nhiên của Morvi, rời đi, và quà cưới cùng của hồi môn của cô dâu được trưng bày trong một kiến trúc tạm lớn. Riêng quà tặng đã trị giá ba mươi nghìn rupia và tạo nên một cảnh phô bày lộng lẫy, hẳn có thể hình dung từ những điều tôi đã nói trong chương trước. Khi khách khứa và những người ăn theo đã tản đi, chỉ còn lại Harisinhji và tôi. Ông có một thư viện khá rộng, và tôi nhân dịp này đọc, ngoài những thứ khác, tác phẩm “Thoái hóa” của Max Nordau, khiến tôi có ấn tượng rằng tác giả tin chắc trong thâm tâm rằng ông là người duy nhất trên đời không thể bị xếp vào hạng thoái hóa. Dẫu vậy, sách của ông đầy những suy luận khôn ngoan dựa trên các sự kiện quan sát được và nên được đọc cùng với sách của các nhà thôi miên lớn ở [2] Salpétriére và Nancy đối với tất cả những ai có công việc liên quan đến người có tính khí cuồng loạn. Ngày 24, tôi rời Varal đi Surat qua Sihor, trong cảnh khó chịu có thể hình dung khi tôi nói rằng nhiệt kế chỉ 108 đến 110 độ (F.) trong bóng râm. Đỉnh đầu người ta trở nên bỏng rát vì tia nóng phản chiếu từ mái toa tàu.
At something past midnight I reached Surat, the home of that universally beloved and respected colleague, Dr. Edal Behram, and of that other high-minded friend, Mr. Narotamram Uttamram Trivedi. I was taken by the doctor to his house, or, as he wished me to consider it, my house where, in his company and that of his amiable wife and nice children, I enjoyed myself very much. The weather continued very hot the next day but still I had many calls and in the evening addressed a meeting of our local Branch, of which Mr. Narotamram was President. The next day was also devoted to visitors and I got through a large amount of deskwork. That evening a large audience gathered to hear me lecture on the subject of education for boys, but mainly of adults for, strange as it may seen, the Missionaries had influence enough to prevent the boys in their schools from attending the lecture! Under the circumstances, therefore, the formation of a boys’ society was impracticable. On [3] the next day, Monday, I visited a girls’ school established by our Branch, and also saw there a considerable number of boys from the boys’ school which had also been started by our devoted members. In the evening I lectured on “India’s Place among the Nations,” and at about midnight left for Bombay.
Hơn nửa đêm tôi đến Surat, quê nhà của người đồng nghiệp được mọi người yêu kính và tôn trọng, Bác sĩ Edal Behram, và của người bạn cao thượng kia, Ông Narotamram Uttamram Trivedi. Bác sĩ đưa tôi về nhà ông, hay như ông muốn tôi xem, là nhà của tôi, nơi tôi vui thú vô cùng với ông và với người vợ hiền cùng những đứa con ngoan. Hôm sau thời tiết vẫn rất nóng, nhưng tôi vẫn có nhiều người ghé thăm, và buổi tối tôi nói chuyện tại cuộc họp của Chi bộ địa phương của chúng tôi, nơi Ông Narotamram làm Chủ tịch. Ngày kế tiếp cũng dành cho khách, và tôi xử lý xong một khối lượng lớn công việc bàn giấy. Tối hôm đó, một cử tọa đông đảo tụ họp nghe tôi thuyết giảng về giáo dục cho thiếu niên, nhưng chủ yếu là cho người lớn, vì lạ lùng thay, các Nhà truyền giáo đã đủ ảnh hưởng để ngăn học sinh trong trường của họ dự buổi thuyết giảng! Do vậy, việc lập một hội thiếu niên là bất khả thi trong hoàn cảnh ấy. Ngày hôm sau, thứ Hai, tôi thăm một trường nữ do Chi bộ chúng tôi lập, và cũng gặp ở đó một số khá đông các em trai từ trường nam cũng do các hội viên tận tụy của chúng tôi khởi xướng. Buổi tối tôi diễn thuyết về “Vị trí của Ấn Độ giữa các quốc gia”, và tầm nửa đêm rời đi Bombay. [3]
Reaching there in the morning I was busy with visitors and conferences with our members and Parsi friends, bought my steamer ticket for Colombo, and at 6 p.m. lectured in Novelty Theatre to an overflowing audience, on the education of boys, which, as above noted, was the principal theme of my discourses throughout this short tour. Dewan Bahadur Manibhai Jasbhai, late Dewan of Baroda and, when H.P.B. and I first made his acquaintance in the early days, Dewan of Cutch, called on me and presided at my lecture. On the 29th I cleared off arrears of correspondence and attended a farewell reception given me at our Branch rooms.
Đến nơi vào buổi sáng, tôi bận rộn tiếp khách và hội đàm với các hội viên và bạn bè Parsi, mua vé tàu thủy đi Colombo, và lúc 6 giờ chiều diễn thuyết tại Nhà hát Novelty trước một cử tọa chật kín, về giáo dục thiếu niên, chủ đề chính của các bài nói chuyện suốt chuyến công du ngắn này, như đã nêu ở trên. Dewan Bahadur Manibhai Jasbhai, nguyên Dewan của Baroda và, khi H.P.B. và tôi mới quen biết ông thuở đầu, là Dewan của Cutch, đến thăm tôi và chủ tọa buổi diễn thuyết của tôi. Ngày 29, tôi giải quyết các công văn tồn đọng và dự buổi tiễn biệt do Chi bộ tổ chức tại phòng sinh hoạt của chúng tôi.
The conferences above recorded between certain leaders of the Parsi community and myself resulted in an agreement that, as I was going to Europe on Society business, I should also obtain, on their behalf, the opinions of certain noted scholars and archræologists about the best way to promote the interests of Zoroastrian research. On the occasion of the meeting above mentioned, I received my [4] credentials from Mr. K. R. Cama and Dr. Jivanji J. Modi. The latter gentleman introduced me to the famous M. Menard, of the Institute, Dr. Mills, my compatriot, a noted Zendist, and that greatest of living archæologists, Professor Flinders Petrie. In his letter to the latter gentleman Dr. Jivanji says that he will be glad if he will exchange views with me on the subject and make any definite practicable suggestions. Needless to say it was almost pleasant anticipation to be thus brought into personal relations with so erudite and respected an archæologist as the one in question.
Những cuộc hội đàm đã ghi ở trên giữa vài vị lãnh đạo cộng đồng Parsi với tôi đưa đến thỏa thuận rằng, vì tôi sắp sang châu Âu lo việc của Hội, tôi cũng sẽ thay mặt họ xin ý kiến của một số học giả và nhà khảo cổ danh tiếng về phương cách tốt nhất để thúc đẩy lợi ích của nghiên cứu Bái hỏa giáo. Trong dịp họp mặt đã nhắc, tôi nhận [4] giấy ủy nhiệm từ Ông K. R. Cama và Bác sĩ Jivanji J. Modi. Vị sau giới thiệu tôi với ngài M. Menard trứ danh của Viện Hàn lâm, với Bác sĩ Mills, đồng hương của tôi, một nhà Zend học nổi tiếng, và với nhà khảo cổ vĩ đại nhất còn sống, Giáo sư Flinders Petrie. Trong thư gửi vị sau, Bác sĩ Jivanji nói ông sẽ rất vui nếu ông ấy trao đổi quan điểm với tôi về chủ đề này và đưa ra bất cứ đề nghị khả thi cụ thể nào. Khỏi cần nói cũng thấy, việc được đưa vào mối quan hệ cá nhân với một nhà khảo cổ uyên bác và được kính trọng như vậy là một điều dự liệu đầy thú vị.
The next morning I exchanged farewells at our rooms, and then embarked at Victoria docks on the steamer “Rosetta” at about noon. We were at sea the rest of that day, the next and the next, and reached Colombo at 2.30 p.m. on the third day. I was met, of course, and then taken to the house of Dharmapala’s father, that good man and esteemed friend who is one of the most sincere Buddhists of my acquaintance. He has a fine mansion and extensive grounds at Kolupitiya, and if his son is “Anagarika,” the Homeless one, it is of his own choice.
Sáng hôm sau, tôi từ biệt tại phòng sinh hoạt của chúng tôi, rồi khoảng trưa lên tàu “Rosetta” tại bến Victoria. Chúng tôi lênh đênh trên biển suốt ngày hôm đó, ngày kế, và ngày kế nữa, rồi đến Colombo lúc 2 giờ 30 chiều ngày thứ ba. Tất nhiên tôi được đón, rồi đưa đến nhà của thân phụ Dharmapala, người nhân hậu và là bạn quý, một trong những Phật tử chân thành nhất mà tôi từng biết. Ông có một dinh thự đẹp và khu đất rộng ở Kolupitiya, và nếu con trai ông là “Anagarika”, “kẻ Không Nhà”, thì đó là do chính y lựa chọn.
Thus shifts our story from clime to clime and country to country; the Ariadne thread of memory leading me through all the maze of the crowded scenes of my official experience in the past. [5] My first duty on the morning after my arrival was to pay my customary visit of salutation to my friend the High Priest Sumangala, whom I found at his college in the accustomed reception room, with the usual swarm of pupil priests blocking up the doors and windows to catch any scraps of conversation between their master and his visitors. It has often happened that when I had something of a confidential nature about the work to discuss with Sumangala—through an interpreter, for he does not know English and but a few words of French—I have asked him to dismiss the crowd of eavesdroppers. It is the custom in the Orient for juniors to stand, in the presence of their elders, only by permission seating themselves even on the floor; but Sumangala has invariably caused a chair to be placed for me, usually a lower one than the ordinary, for he knows well enough that our Western kneejoints are not lubricated like those of Orientals so as to fold together the two halves of the leg, clasp-knife fashion. On the occasions of my returns to the Island he gets me to tell him about my travels, and especially rejoices when I am able to say that I have been asked to lecture on Buddhism. He is a good man and very learned but, at the same time, so susceptible to the criticisms of his people, that I am never sure of not finding him temporarily upset by some doubt created in his [6] mind as to my orthodoxy in Buddhism; it is never anything very serious, and I can always dispel it by getting him to compare the state of Sinhalese Buddhism to-day with what it was when he and I first met in 1880. From the College I went to the Fort, as it is called, the business quarter of the banks and foreign mercantile houses clustered about the head of the Harbor and near the old Dutch fort, built when the Hollanders were masters of the Island. Thence I went to our Ananda College, now a prosperous and very successful educational institution, but which was founded by Mr. Leadbeater in 1885 as an English High School, when he was working with me in Ceylon. I also went to the Sanghamitta Girls’ School, and finished the day with a dinner at Mrs. Higgins’, with whom the aged Mrs. Pickett of Australia was then working.
Câu chuyện của chúng ta cứ thế chuyển dịch từ miền khí hậu này sang miền khác, từ nước này sang nước khác; sợi chỉ Ariadne của ký ức dẫn tôi xuyên qua mê cung những cảnh chen chúc của kinh nghiệm công vụ trong quá khứ. [5] Bổn phận đầu tiên của tôi vào sáng hôm sau khi đến nơi là viếng thăm chào hỏi theo lệ vị bằng hữu của tôi, vị Tăng Thống Sumangala, tôi gặp Ngài tại trường của Ngài, trong phòng tiếp tân quen thuộc, với một đám đông chú tiểu vây kín cửa sổ cửa ra vào để vồ vập lấy từng mẩu trò chuyện giữa bậc thầy và khách viếng. Nhiều lần, khi tôi có điều cơ mật cần bàn về công việc với Sumangala—thông qua thông dịch viên, vì Ngài không biết tiếng Anh và chỉ vài từ tiếng Pháp—tôi đã xin Ngài giải tán đám người nghe lỏm. Ở phương Đông có tục người trẻ đứng trước bậc trưởng thượng, chỉ được phép mới được ngồi, dù là ngồi dưới sàn; nhưng Sumangala luôn cho đặt ghế cho tôi, thường là ghế thấp hơn thường lệ, vì Ngài hiểu rõ khớp gối người phương Tây chúng ta không được “bôi trơn” như người phương Đông để có thể gập đôi cẳng chân theo kiểu dao gấp. Mỗi lần tôi trở lại Đảo, Ngài lại hỏi tôi kể chuyện hành trình, và đặc biệt hoan hỉ khi tôi cho hay rằng tôi được mời thuyết giảng về Phật giáo. Ngài là người tốt và rất uyên bác, nhưng đồng thời lại rất nhạy với lời phê bình của đồng bào, nên tôi không bao giờ yên tâm rằng sẽ không gặp cảnh Ngài tạm thời bị dao động bởi một nghi ngờ nào đó nảy sinh trong [6] tâm trí về “chính thống” Phật giáo của tôi; song chẳng bao giờ là việc gì quá nghiêm trọng, và tôi luôn xua tan nó bằng cách nhắc Ngài so sánh tình trạng Phật giáo Tích Lan ngày nay với khi Ngài và tôi lần đầu gặp nhau vào năm 1880. Từ trường học, tôi đi đến Khu Fort, như người ta gọi, khu thương mại của các ngân hàng và hãng ngoại quốc quần tụ quanh đầu Cảng và gần pháo đài Hà Lan cổ, xây từ thời người Hòa Lan làm chủ Đảo. Từ đó tôi đến Trường Ananda của chúng tôi, nay là một cơ sở giáo dục thịnh đạt và rất thành công, vốn do Ông Leadbeater sáng lập năm 1885 như một Trường Trung học tiếng Anh, khi ông đang làm việc với tôi ở Ceylon. Tôi cũng ghé Trường Nữ Sanghamitta, và kết thúc ngày bằng bữa tối tại nhà Bà Higgins, nơi cụ bà Pickett từ Úc lúc ấy đang cộng tác.
Early the next morning I left for Beruela, thus beginning the tour which had been sketched out for me. I inspected our boys’ school in which we had sixty pupils, and thence by afternoon train to Ambalangoda. Here a crowd welcomed me at the station and a hundred and fifty Buddhist boys escorted me in procession to the large school building which had been erected for us by liberal Buddhist friends. The room was uncomfortably crowded, but I distributed prizes and made an address upon [7] the state of education in Ceylon. Three other gentlemen followed me, and after the adjournment I was taken to the breezy and cool rest house by the seashore, where I had a good meal and refreshing sleep. These travellers’ bungalows along the seashore of Ceylon are the most comfortable that I have ever seen in the tropics; the rooms are large, the ceilings lofty, the floors paved with large tiles, and the ocean breeze circulates freely through the venetians that give upon the broad verandahs. I remember perfectly how charmed H.P.B. and I were the first time that we passed a night at one of these bungalows: we should have been glad to have spent the whole hot season there, for back of the house was a sandy beach and sheltered pools fenced in from the ocean by rocks, where the water was so clear and limpid as to invite one to step in and refresh himself from the burden of the tropical heat. At the time of which I write we had four schools at Ambalangoda, two for boys and two for girls, an aggregate of 860 children, and buildings that were highly creditable to the local promoters of Buddhist education. Here was no flash-in-the-pan, like that first famous school that was opened at Galle in the first flush of excitement caused by our visit, which began with a register of over five hundred pupils and, before the year was out, dwindled away to [8] almost nothing, because the rich and wily Missionaries suddenly abolished their school fees and baited their traps with free education for Buddhist children. The people at Ambalangoda were in dead earnest, and had had sixteen years since the Galle episode in which to get to realise what the undertaking of an educational movement implied in the way of self-sacrifice and courageous persistence. In the afternoon of that day I moved on by train to Galle, where I was taken to our Mahinda College, another of our great Buddhist schools, where the boys greeted me with cheers aud fireworks and I made them the inevitable address before I could betake me to bed.
Sớm hôm sau tôi rời đi Beruela, mở đầu chuyến công du đã được phác thảo. Tôi thị sát trường nam của chúng tôi với sáu mươi học sinh, rồi chiều đi tàu đến Ambalangoda. Ở đây, một đám đông đón tôi tại ga và một trăm năm mươi thiếu niên Phật giáo rước tôi thành hàng đến tòa nhà trường học lớn được các bằng hữu Phật tử hào phóng xây cho chúng tôi. Phòng học chật chội đến khó chịu, nhưng tôi phát phần thưởng và diễn thuyết về [7] tình hình giáo dục ở Ceylon. Ba quý ông khác nối tiếp tôi, và sau khi bế mạc, tôi được đưa về lữ quán thoáng gió mát mẻ bên bờ biển, nơi tôi có một bữa ăn ngon và giấc ngủ sảng khoái. Những nhà khách dọc bờ biển Ceylon là nơi tiện nghi nhất mà tôi từng thấy ở vùng nhiệt đới; phòng rộng, trần cao, sàn lót gạch lớn, và gió biển tự do lùa qua các cửa chớp mở ra hiên rộng. Tôi còn nhớ như in H.P.B. và tôi đã say mê thế nào lần đầu tiên qua đêm ở một lữ quán như vậy: chúng tôi đã ước được ở suốt mùa nóng tại đó, vì phía sau nhà là bãi cát và những vũng nước kín đáo được đá chắn với biển, nơi nước trong veo và lấp lánh mời gọi người ta bước vào để giải nhiệt khỏi gánh nặng nóng bức nhiệt đới. Vào thời điểm tôi đang viết, chúng tôi có bốn trường ở Ambalangoda, hai trường nam và hai trường nữ, tổng cộng 860 thiếu nhi, và các tòa nhà rất đáng ngợi khen đối với những người địa phương cổ vũ giáo dục Phật giáo. Ở đây không có kiểu “chớp lóe rồi tắt” như ngôi trường danh tiếng đầu tiên mở ở Galle trong cơn phấn khích ban đầu do chuyến thăm của chúng tôi gây ra, khởi đầu với sổ đăng ký hơn năm trăm học sinh và, trước khi hết năm, suy giảm đến [8] gần như chẳng còn gì, bởi vì các Nhà truyền giáo giàu có và mưu mẹo đột ngột bãi bỏ học phí và rắc mồi dụ bằng giáo dục miễn phí cho trẻ em Phật giáo. Người ở Ambalangoda thì hết sức nghiêm túc, và đã có mười sáu năm kể từ biến cố Galle để thấm thía rằng gánh vác một phong trào giáo dục đòi hỏi hy sinh bản thân và kiên trì dũng cảm ra sao. Chiều hôm ấy, tôi đi tàu đến Galle, nơi tôi được đưa đến Trường Cao đẳng Mahinda của chúng tôi, một trong những trường Phật giáo lớn khác, ở đó các em trai chào đón tôi bằng tiếng reo hò và pháo hoa, và tôi đọc bài nói chuyện “bất khả kháng” trước khi có thể đi ngủ.
On the next morning (May 7th) I inspected our schools at Dangedera North and Dangedera South, also at Miripenna and Habaraduwa, all suburbs of Galle. I was very much pleased with all; they occupied substantial buildings and showed signs of good management. Returning to town, I lectured at the college at 5 p.m., to the general public, and started a subscription towards a College Fund, getting over two thousand rupees subscribed on the spot. By the next morning’s train I went to Ahangama to inspect two schools of 221 and 259 pupils respectively. They were also excellent. Of the former I had laid the corner-stone in 1888, eight years previously. By the noon train I returned to [9] Colombo and reached the hospitable house of Mr. Don Carolis at 6 p.m.
Sáng hôm sau (ngày 7 tháng Năm) tôi thị sát các trường của chúng tôi ở Dangedera Bắc và Dangedera Nam, cũng như ở Miripenna và Habaraduwa, đều là ngoại ô của Galle. Tôi rất hài lòng về tất cả; chúng ở trong những tòa nhà kiên cố và cho thấy dấu hiệu quản trị tốt. Trở về thị trấn, lúc 5 giờ chiều tôi diễn thuyết tại trường cho công chúng, và khởi xướng một đợt quyên góp vào Quỹ Trường, nhận được hơn hai nghìn rupia ngay tại chỗ. Sáng hôm sau tôi đi tàu đến Ahangama để thị sát hai trường có 221 và 259 học sinh. Chúng cũng xuất sắc. Đối với trường thứ nhất, tôi đã đặt viên đá đầu tiên vào năm 1888, tám năm trước. Trưa tôi quay lại [9] Colombo và đến nhà hiếu khách của Ông Don Carolis lúc 6 giờ chiều.
My next move was towards Kandy, the old hill-capital of the native sovereigns, and one of the prettiest places in the Orient. After the four hours’ journey by rail I reached there and was put up at our local college building, where, at 2.30 p.m., I held a public meeting and raised a subscription of Rs. 530 for the benefit of the college. My destination the next day was Katagastota where there was a grand procession, in which three huge elephants, one from the Dalada Maligawa, or Tooth Relic Temple, figured. I lectured to a large crowd in the big school building put up by Mr. Ranaraja and raised a few hundred rupees for the Education Fund. The same afternoon I went on to Matale, where that old veteran nobleman and connecting-link between the times of the Kandyan kings and the British Raj, Mr. W. Dulewe, the Adigar, met me and took me under his wing. I found a boys’ school prospering greatly and, at the meeting which I addressed, a subscription for the proposed girls’ school was started with every appearance of good feeling and popular interest.
Lộ trình kế tiếp của tôi là Kandy, cố đô miền núi của các quân vương bản địa và là một trong những nơi đẹp nhất phương Đông. Sau bốn giờ đi tàu, tôi tới nơi và được bố trí ở ngay tòa nhà trường địa phương của chúng tôi, nơi lúc 2 giờ 30 chiều tôi tổ chức một cuộc họp công cộng và quyên góp được 530 rupia cho lợi ích của trường. Đích đến hôm sau của tôi là Katagastota, nơi có một đoàn rước hoành tráng, với ba con voi khổng lồ, một con đến từ Dalada Maligawa, tức Đền Xá Lợi Răng. Tôi diễn thuyết trước một đám đông lớn trong tòa nhà trường rộng do Ông Ranaraja dựng lên và quyên góp được vài trăm rupia cho Quỹ Giáo dục. Chiều cùng ngày tôi đi tiếp đến Matale, nơi vị quý tộc lão thành và là mắt xích nối thời các vua Kandyan với thời British Raj, Ông W. Dulewe, Adigar, đón tôi và che chở tôi. Tôi thấy một trường nam thịnh đạt, và tại cuộc họp tôi nói chuyện, một đợt quyên góp cho trường nữ dự kiến được khởi động với bầu không khí thiện cảm và quan tâm của quần chúng.
The turn of Rattota, where we had a girls’ school, came the next morning. Its chief promoter and patron was a Dr. Goonesekara. Dulewe, Adigar, went with me and Mr. D. J. Jayatilleke went as [10] interpreter. A little Sinhalese boy prodigy was brought to me to the rest house and delivered a lecture in Sinhalese on the celebrated verse, Sabbapapassa akaranam, etc. A breath of Europe came to me that day on the arrival of a German Doctor and his wife at the rest house and we passed a vary agreeable evening in talk. The lady was a friend of my dear and always respected friend Baron Oskar von Hoffmann, of Leipzig. To Wattegama to inspect our boys’ and girls’ schools, the next morning, thence by carriage, a charming mountain drive of seven miles over a good road, to Panuela. In this small and retired village, the Mistress of our prosperous Girls’ School had earned the marked distinction of getting from the Government Inspector of Schools a certificate of 100 per cent at the last examination; every girl in the school was found perfect in every subject. This is as well as Mrs. Courtright did this year with one of the fine Panchama Schools under her charge—the one at the village of Urur where 116 pupils were presented—and 14 per cent better than the average-of passes throughout the whole Madras Presidency. I believe also that this is the only case where every child presented for examination passed “perfect”. The average of her four schools was 95 per cent. This shows what can be done with Oriental children in the lower standards by careful [11] training. From this place I returned to Kandy to sleep.
Đến lượt Rattota, nơi chúng tôi có một trường nữ, vào sáng hôm sau. Người cổ vũ và bảo trợ chính là một Bác sĩ Goonesekara. Dulewe, Adigar, đi cùng tôi và Ông D. J. Jayatilleke làm [10] thông dịch. Một cậu bé thần đồng Tích Lan được đưa đến gặp tôi tại lữ quán và đọc một bài thuyết giảng bằng tiếng Sinhalese về bài kệ trứ danh, Sabbapapassa akaranam, v.v. Một làn gió Âu châu thoảng đến với tôi hôm đó khi một Bác sĩ người Đức và vợ đến lữ quán, và chúng tôi có một buổi tối rất dễ chịu chuyện trò. Phu nhân là bạn của người bạn yêu quý và luôn được tôi kính trọng, Nam tước Oskar von Hoffmann, ở Leipzig. Sáng hôm sau đi Wattegama để thị sát các trường nam và nữ của chúng tôi, rồi bằng xe ngựa, một chuyến đi núi duyên dáng bảy dặm đường tốt, đến Panuela. Tại ngôi làng nhỏ và hẻo lánh này, Cô Hiệu trưởng Trường Nữ của chúng tôi, một trường thịnh đạt, đã được vinh dự nổi bật khi nhận chứng chỉ 100 phần trăm từ Thanh tra Trường của Chính phủ trong kỳ thi vừa rồi; mọi nữ sinh trong trường đều đạt tuyệt đối ở mọi môn. Thành tích này cũng ngang với kết quả năm nay của Bà Courtright tại một trong các Trường Panchama xuất sắc dưới quyền bà—trường ở làng Urur nơi có 116 học sinh dự thi—và cao hơn bình quân đỗ của toàn vùng Phủ Madras đến 14 phần trăm. Tôi cũng tin đây là trường hợp duy nhất mọi em dự thi đều đỗ “tuyệt đối”. Bình quân của bốn trường bà phụ trách là 95 phần trăm. Điều này cho thấy có thể làm được gì với trẻ em phương Đông ở các trình độ thấp bằng sự [11] rèn luyện cẩn thận. Từ đây tôi quay về Kandy nghỉ đêm.
Of course, the reader understands perfectly well that the block of educational [about which I am writing is not, properly speaking, an activity of the Theosophical Society as such, but merely an undertaking by the Ceylon Branches, which are composed of Buddhists, to conduct the educational campaign which I suggested to them in 1880, when H. P. B. and I and the Committee of the Bombay Theosophical Society first came to the Island. All the same, it is one of the most important and successful results of our movement as achieved by our Buddhist colleagues: and which as has frequently been explained, is to be classified along with the active movement for the nationalising of Indian education, led by Mrs. Besant and which has culminated in the foundation of the Central Hindu College. My present memoirs are, of course, only my personal recollections of the different phases of official work through which I have passed, and as such are as much autobiographical as officially historical. There was a time when the whole movement centred in the personal activities of the two Founders, but it has now expanded over such a vast field that neither I nor any other of the prominent workers can hope to do more than to record what passes under his own personal observation. With [12] this parenthetical remark let me pass on to my next station in the Ceylon school-inspecting tour under notice.
Tất nhiên, độc giả hiểu rõ rằng khối công cuộc giáo dục [about which I am writing is not, properly speaking, an activity of the Theosophical Society as such, mà chỉ là một nỗ lực của các Chi bộ Ceylon, vốn gồm các Phật tử, nhằm tiến hành chiến dịch giáo dục mà tôi đã gợi ý với họ năm 1880, khi H. P. B., tôi và Ủy ban của Hội Thông Thiên Học Bombay lần đầu đến Đảo. Dù vậy, đây là một trong những kết quả quan trọng và thành công nhất của phong trào của chúng ta do các đồng sự Phật tử đạt được: và như đã nhiều lần giải thích, phải được xếp cùng với phong trào tích cực nhằm quốc gia hóa nền giáo dục Ấn Độ, do Bà Besant lãnh đạo và đã kết tinh trong việc thành lập Trường Cao đẳng Trung ương Ấn giáo. Những hồi ký hiện tại của tôi, dĩ nhiên, chỉ là hồi ức cá nhân về các giai đoạn khác nhau của công vụ mà tôi đã trải qua, và như vậy vừa mang tính tự thuật vừa là lịch sử công vụ. Đã có thời cả phong trào xoay quanh các hoạt động cá nhân của hai vị Đồng Sáng lập, nhưng nay nó đã mở rộng trên một bình diện mênh mông đến mức chẳng tôi, cũng chẳng bất kỳ ai trong các nhà hoạt động nổi bật, có thể hy vọng làm nhiều hơn việc ghi lại những điều đi qua trước mắt mình. Với [12] lời nói chen ngang này, xin chuyển sang trạm kế tiếp trong chuyến thanh tra trường học ở Ceylon đang được thuật lại.
I went on to Gompola by the next morning’s train and found a school building unnecessarily big, which had been erected by the late Muhandiram at a cost of several thousand rupees. This was the same enthusiastic gentleman who, in 1880, when H. P. B. and I visited this place, removed the horses from our carriage, got ropes and helped drag us in the carriage from the station to his house. There was a large and interesting meeting at their school-house and much enthusiasm shown at the conclusion of my remarks. In the afternoon I went on to Nawalapitiya, a well-known Kandyan village, the centre of a rich planting district. Our school-house was in a lovely situation on a hill. It was started four months before my visit under such popular auspices that it had pretty well emptied the Christian school of its pupils. On Thursday the 14th (May) I took train for Hatton, a mountain town, the railway station for Adam’s Peak. We were here in a grand hilly country with beautiful landscapes on all sides. Our local school of sixty pupils was founded by the lamented C. F. Powell, who made so deep an impression within his short connection with our Headquarters, on both the Sinhalese and South Indian Hindus. The local Committee informed me with [13] pride that not a single Buddhist boy was now in the Christian school. The founders and supporters of the Buddhist school were low-country men, and I am glad to say that, at that stage of the movement in Ceylon, the Buddhist educational work in the Kandyan district was almost entirely done by the same class of persons. The fact is, that under the Kandyan kings, the Feudal system prevailed to such an extent that the nation was divided into, practically, the two classes of nobles and slaves; education was not at all general, even among the nobility; the monasteries were endowed by the Crown and a sufficient support being guaranteed in their revenues from the lands granted them by the Crown, the Bhikkus were lazy and there was very little religious spirit existing in the “Mountain Kingdom”.
Sáng hôm sau tôi đi Gompola bằng tàu hỏa và thấy một tòa nhà trường học quá mức cần thiết, do cố Muhandiram xây với chi phí vài nghìn rupia. Đây chính là vị nhiệt thành đã, vào năm 1880, khi H. P. B. và tôi thăm nơi này, tháo ngựa khỏi xe chúng tôi, lấy dây và cùng kéo chúng tôi trên xe từ ga về nhà ông. Có một cuộc họp đông đảo và thú vị tại nhà trường của họ và nhiều nhiệt tình được bộc lộ khi tôi kết thúc bài nói chuyện. Buổi chiều tôi đi tiếp đến Nawalapitiya, một ngôi làng Kandyan nổi tiếng, trung tâm của vùng đồn điền trù phú. Trường của chúng tôi tọa lạc ở vị trí rất đẹp trên một ngọn đồi. Trường khởi động bốn tháng trước chuyến thăm của tôi trong bầu khí quy mô quần chúng đến mức hầu như rút sạch học sinh của trường Cơ Đốc. Thứ Năm ngày 14 (tháng Năm) tôi đi tàu đến Hatton, một thị trấn miền núi, ga tàu vào Núi Adam. Nơi đây là vùng đồi núi hùng vĩ với phong cảnh đẹp bốn phía. Trường địa phương của chúng tôi với sáu mươi học sinh do C. F. Powell quá cố sáng lập, người chỉ trong thời gian ngắn gắn bó với Trụ sở Trung ương của chúng tôi đã để lại ấn tượng sâu đậm với cả người Tích Lan lẫn người Ấn Nam. Ủy ban địa phương báo cho tôi [13] với niềm tự hào rằng không còn một em trai Phật giáo nào ở trường Cơ Đốc. Những người sáng lập và ủng hộ trường Phật giáo là dân miền hạ, và tôi mừng nói rằng, ở giai đoạn đó của phong trào tại Ceylon, công việc giáo dục Phật giáo ở vùng Kandyan hầu như hoàn toàn do cùng tầng lớp người ấy đảm trách. Thực tế là, dưới thời các vua Kandyan, chế độ phong kiến thịnh hành đến mức quốc gia hầu như chia thành hai hạng quý tộc và nô lệ; giáo dục không hề phổ cập, ngay cả trong giới quý tộc; các tự viện được triều đình ban cấp và vì có bảo đảm yên ổn sinh kế từ nguồn thu đất đai triều đình cấp cho họ, các vị Tỳ-kheo hóa ra lười biếng, và tinh thần tôn giáo trong “Vương quốc Núi” còn rất ít.
At the same time, an insufferable pride prevailed among the upper class, and I have often been shocked to see the contemptuous way in which they treated the usually excellent merchants and others who came from the low country to do business in that part of the Island. It got so at last that I expected no help whatever from the Kandyan chiefs, and I always felt uneasy to receive from or make visits to them in company with the Colombo and Galle people whose earnestness had gained all my esteem and for whom I felt great friendship. I [14] remember the case of one individual of the Willala caste, i.e., the land-holder or cultivator class, who held an office under the British Government. He occupied a spacious ancestral bungalow and always made a great show of courtesy in receiving me. On the occasion in question I was accompanied on my visit by the President and one or two other officers of one of our largest Ceylon Branches. I was received with distinction and they were put off with a short nod each. My American blood grew hot at that (for I hadn’t the smallest respect for the man’s character) and I had to put myself under powerful restraint to prevent my catching him by the coat collar and flinging him across the room. But, of course, I have met with individuals of the old Kandyan nobility who won my friendly regards by their gentlemanly behavior all around. One of these was the veteran Adigar above spoken of. Our College, formerly High School, at Kandy is now large and prosperous and there is much activity here and there throughout the Kandyan country, but, viewing the Ceylon movement as a whole, one cannot in justice deny that more than 90 per cent. of the credit for the successful direction of the movement which has gathered some thirty thousand Buddhist children under Buddhist school teachers in Buddhist schools, is due to our colleagues in the Maritime Provinces. [15] Returning to Kandy I visited the schools in the suburban villages of Peredeniya and Ampitiya, two in each place. At the latter village I raised a subscription towards building a girls’ school-house and then visited our boys’ and girls’ schools in the town of Kandy—all in one day. My programme took me the next day to Kadunnawa to see a girls’ school in the morning, after which there was a lecture in a Temple Preaching Hall (Banamaduwa); in the afternoon to Gardaladeniya where we had a mixed school. At Rambukkana we were treated to a specimen of barbaric pomp in a long procession headed by two huge elephants, and after them a company of a dozen male devil-dancers, dressed in fantastic costume, with frightful masks and a network of beaded bands crossing their chests. As we moved through the woods the sounds of the barbaric music, the squeak, roll, and clatter, all combined to make a cacophony bad enough to drive all the wood elves and hamadryads out of their sylvan retreats. From that place I went on to Curunegala, where the old Muhandiram had built for us a large L-shaped school-house; then on to Veyangoda and to the neighboring village of Pattallagedera, where the children of the boys’ and girls’ schools were got together to hear me. After that another girls’ school was opened. A ride by bullock cart without springs is not a joy for ever, but I had one of five [16] miles on the next morning to open a boys’ school, and then by train back to Colombo, thus closing my Northern tour.
Đồng thời, một thứ kiêu hãnh không chịu nổi lan tràn trong tầng lớp thượng lưu, và tôi thường bị sốc khi thấy cách họ đối xử khinh miệt với những thương nhân và những người khác, thường là xuất sắc, đến từ miền hạ để buôn bán ở vùng này của Đảo. Rốt cuộc tôi không còn trông mong chút giúp đỡ nào từ các thủ lĩnh Kandyan, và tôi luôn cảm thấy không yên khi nhận hay đi thăm họ cùng với những người ở Colombo và Galle, những người mà lòng nhiệt thành đã khiến tôi hết mực kính trọng và dành nhiều thân tình. Tôi [14] nhớ trường hợp một người thuộc đẳng cấp Willala, tức tầng lớp địa chủ hay canh tác, giữ một chức vụ trong Chính phủ Anh. Ông ta ở trong căn nhà tổ rộng rãi và luôn tỏ ra rất lịch thiệp khi tiếp tôi. Lần ấy, tôi đi cùng vị Chủ tịch và một, hai viên chức khác của một trong những Chi bộ lớn nhất của chúng tôi ở Ceylon. Tôi được đón tiếp long trọng, còn họ chỉ được một cái gật đầu ngắn ngủi mỗi người. Dòng máu Mỹ trong tôi sôi lên (vì tôi chẳng mảy may tôn trọng nhân cách của ông ta), và tôi phải dằn mình ghê gớm để khỏi túm cổ áo mà quẳng ông ta qua phòng. Nhưng dĩ nhiên, tôi cũng đã gặp những vị thuộc hàng quý tộc Kandyan xưa nay đã chinh phục cảm tình của tôi bởi cách cư xử tao nhã với tất cả. Một trong số đó là vị Adigar lão thành đã nói trên. Trường Cao đẳng của chúng tôi, trước kia là Trường Trung học, ở Kandy nay lớn mạnh và thịnh đạt, và nơi nơi trong vùng Kandyan có nhiều hoạt động, nhưng nếu nhìn tổng thể phong trào tại Ceylon, công bằng mà nói, không thể phủ nhận rằng hơn 90 phần trăm công lao định hướng thành công phong trào, quy tụ khoảng ba mươi nghìn thiếu nhi Phật giáo dưới sự dạy dỗ của giáo viên Phật giáo trong các trường Phật giáo, thuộc về các đồng sự của chúng tôi ở các Tỉnh Duyên hải. [15] Trở lại Kandy, tôi thăm các trường ở các làng ngoại ô Peredeniya và Ampitiya, mỗi nơi hai trường. Ở làng sau, tôi quyên góp được một khoản để xây một tòa nhà trường nữ, rồi thăm các trường nam và nữ của chúng tôi trong thị trấn Kandy—tất cả trong một ngày. Chương trình hôm sau đưa tôi đến Kadunnawa thăm một trường nữ vào buổi sáng, sau đó là một bài nói chuyện tại một Giảng đường chùa (Banamaduwa); buổi chiều đến Gardaladeniya nơi chúng tôi có một trường hỗn hợp. Ở Rambukkana, chúng tôi được chứng kiến một cảnh huy hoàng kiểu “dã man”: một đoàn rước dài dẫn đầu bởi hai con voi khổng lồ, theo sau là một tốp khoảng mười hai nam vũ công trừ tà, mặc y phục kỳ dị, đeo mặt nạ khủng khiếp và một mạng lưới dây đeo nạm hạt bắt chéo ngực. Khi chúng tôi băng qua rừng, âm thanh của thứ âm nhạc hoang dã ấy, tiếng rít, tiếng gõ lạch cạch, tất cả hòa lại thành một thứ tạp âm đủ tồi tệ để xua hết các thần rừng và các hamadryad khỏi nơi ẩn cư lâm thẳm của họ. Từ đó tôi đi Curunegala, nơi vị Muhandiram già đã xây cho chúng tôi một ngôi trường hình chữ L rộng lớn; rồi đi Veyangoda và làng kế cận Pattallagedera, nơi học sinh các trường nam và nữ được tập hợp lại nghe tôi. Sau đó, một trường nữ khác được mở. Một chuyến xe bò không nhíp chẳng phải là niềm vui bất tận, nhưng sáng hôm sau tôi có một chuyến như thế dài năm [16] dặm để khai giảng một trường nam, rồi đi tàu trở lại Colombo, khép lại chuyến công du phía Bắc.
My third visit to the Leper Colony at Hendala, near Colombo, was made on Wednesday, May 20th. As I have described the dreadful spectacle of a colony of these poor victims of one of the greatest pests of humanity, I shall not repeat myself now. By request I gave them the Pancha Sila and a lecture showing the operation of the Law of Karma in their case. One cannot but feel compassion for these human outcasts and a prompting to do something, however little, to give them momentary pleasure, but really it is one of the most distressing of imaginable experiences and I am not at all anxious to repeat the visit.
Lần thứ ba tôi thăm Trại cùi Hendala, gần Colombo, là vào thứ Tư, ngày 20 tháng Năm. Vì tôi đã mô tả cảnh tượng hãi hùng của một thuộc địa những nạn nhân đáng thương của một trong những tai ương lớn của nhân loại, tôi sẽ không lặp lại nữa. Theo yêu cầu, tôi truyền Ngũ Giới cho họ và giảng một bài cho thấy sự vận hành của Luật Nghiệp trong trường hợp của họ. Người ta không khỏi cảm thương những kẻ bị xã hội ruồng bỏ này và thôi thúc làm điều gì đó, dù rất nhỏ, để đem lại cho họ chút niềm vui chốc lát, nhưng thực sự đây là một trong những trải nghiệm khổ tâm nhất có thể tưởng tượng, và tôi không hề nóng lòng muốn lặp lại chuyến thăm.
On the afternoon of that day I presided at a meeting at Ananda College, gave out the prizes and made a long address. I was followed by the Hon. Mr. Ramanathan, the then recognised leader of the Hindu community, and by a Dr. Pinto. After this I attended a meeting of the Maha-Bodhi Society, at which I read a paper on the situation of affairs and offered my resignation of the position of Honorary General Adviser, for the reason that, as I explained, Mr. Dharmapala did not seem disposed to take my advice when given. Since that time I have had no responsibility whatever for the management of that [17] Society, nor done anything to secure the considerable success which Dharmapala has achieved with the help of his friends.
Chiều hôm đó, tôi chủ tọa một cuộc họp tại Trường Ananda, phát phần thưởng và đọc một bài diễn văn dài. Sau tôi là Ngài Ramanathan, khi ấy được nhìn nhận là lãnh tụ của cộng đồng Ấn giáo, và một Bác sĩ Pinto. Sau đó, tôi dự một cuộc họp của Hội Maha-Bodhi, tại đó tôi đọc bản trình bày về tình hình và đệ đơn xin từ nhiệm cương vị Cố vấn Tổng quát Danh dự, vì như tôi giải thích, Ông Dharmapala dường như không sẵn sàng nghe lời khuyên của tôi khi đã được nêu ra. Từ đó đến nay, tôi hoàn toàn không còn chịu trách nhiệm nào về việc điều hành [17] Hội, cũng như không làm gì để góp phần vào những thành công đáng kể mà Dharmapala đã đạt được với sự trợ giúp của các bằng hữu ông.
Visits to Nedimale and Kirulapane schools followed the next day, and on the following one to Moritumulle and Indepette. The school at this latter place had an interesting history. The local school of the Government had been turned over to the Wesleyans by a sympathetic head of the Education Department. This was regarded as an injustice by our people, and, on their behalf a vigorous protest was sent in by Mr. Buultjens, our then Manager of Buddhist Schools, but the Government turned a deaf ear to us. Thereupon, a public meeting was called, and resolutions adopted to build a school-house of their own and remove their children to it. When I addressed the meeting on the occasion of my visit I had 123 boys and girls before me, of whom 105 gave me, as Guru, betel and tobacco leaves, 4,200 of the former and 105 of the latter. The next day at Colombo, the Buddhist Defence Committee referred to me for decision a question as to the Buddhist Registrarship which they wanted laid before the Secretary of State for the Colonies. At an adjourned meeting I gave them drafts of such papers as they were to sign and send on to the Colonial Office.
Ngày hôm sau là các chuyến thăm đến trường ở Nedimale và Kirulapane, và hôm kế là đến Moritumulle và Indepette. Trường ở nơi sau có một lịch sử thú vị. Trường địa phương của Chính phủ đã bị giao cho Hội Wesleyan bởi một vị lãnh đạo có cảm tình với họ trong Nha Giáo dục. Điều này bị đồng bào chúng tôi xem là bất công, và thay mặt họ, một bản kháng nghị mạnh mẽ đã được Ông Buultjens, lúc ấy là Quản lý các Trường Phật giáo của chúng tôi, gửi đi, nhưng Chính phủ làm ngơ. Thế là một cuộc họp công khai được triệu tập, và thông qua nghị quyết xây cho mình một tòa nhà trường và chuyển con em đến đó. Khi tôi diễn thuyết tại cuộc họp nhân chuyến thăm, có 123 em trai và gái trước mặt tôi, trong đó 105 em dâng cho tôi, như bậc Guru, lá trầu và lá thuốc, 4.200 lá trầu và 105 lá thuốc. Ngày hôm sau tại Colombo, Ủy ban Bảo vệ Phật giáo chuyển đến tôi quyết định về một vấn đề liên quan đến chức vụ viên đăng ký (Registrar) Phật giáo mà họ muốn trình lên Bộ trưởng Thuộc địa. Tại một cuộc họp hoãn lại, tôi đưa cho họ dự thảo các văn kiện cần ký và gửi lên Nha Thuộc địa.
[18] This was my last official act during the present Ceylon tour, as on the morrow, the 25th May, I embarked for Marseilles on the Messageries steamer “Saghalien”.
[18] Đây là công vụ cuối cùng của tôi trong chuyến công du Ceylon lần này, vì ngày mai, 25 tháng Năm, tôi lên tàu Messageries “Saghalien” đi Marseilles.
CHAPTER II—CHƯƠNG II
MADAME MONGRUEL’S CLAIRVOYANCE—NĂNG LỰC THÔNG NHÃN CỦA BÀ MONGRUEL
(1896)—(1896)
FROM Colombo until we got under the lee of Cape Guardafui the weather was rough and the sea very uneasy. We had a large Siamese Royal party on board, comprising H. R. H. Prince Bhanurangsi, Commander-in-Chief of the Siamese Army and brother of the King, two of the King’s sons, three little princes, and Prince Bhanurangsi’s staff. One of the little chaps who spoke English quite well, and was a sweet little fellow, hung around me a good deal and it was he who made the list of personages in the party and a pencil sketch of himself which I have pasted in my Diary. All who have made the voyage in question know what an unspeakable relief it is to get away from the buffetings of the monsoon and come into the smooth water at the mouth of the Red Sea, when one can write and walk the deck without running the risk of being flung against the bulwarks. We reached Aden on [20] the 1st of June and thence crossed over to Djibouti. I have good reason to remember the date because in that same night I learned by telepathy of the death of my dear sister, Mrs. Mitchell, and noted it in the Diary: the sequel will be told presently.
Từ Colombo cho đến khi chúng tôi vào khuất gió mũi Guardafui, thời tiết dở dở và biển động rất khó chịu. Trên tàu có một đoàn hoàng gia Xiêm đông người, gồm Đức Ông Hoàng thân Bhanurangsi, Tổng tư lệnh Lục quân Xiêm và là em của Nhà vua, hai hoàng tử, ba tiểu hoàng tử, và đoàn tùy tùng của Hoàng thân Bhanurangsi. Một cậu bé nói tiếng Anh khá tốt, lại rất dễ thương, quấn quýt bên tôi khá nhiều, và chính cậu đã ghi danh sách các nhân vật trong đoàn cùng một bức phác họa bằng bút chì hình cậu, mà tôi đã dán vào Nhật ký của mình. Ai từng làm cuộc hải trình ấy đều biết nhẹ nhõm dường nào khi thoát khỏi bão gió mùa quăng quật mà đi vào vùng nước êm ở cửa Biển Đỏ, nơi người ta có thể viết lách và đi lại trên boong mà không lo bị hất vào lan can. Ngày 1 tháng Sáu chúng tôi đến Aden [20] và từ đó vượt qua Djibouti. Tôi có lý do chính đáng để nhớ ngày này vì ngay trong đêm ấy, tôi biết bằng viễn cảm về cái chết của người chị yêu quý của tôi, Bà Mitchell, và ghi nó vào Nhật ký: phần tiếp sẽ kể sau.
Some of us passengers went ashore at Djibouti and found it a sandy desolation, baking under a fierce sun, with a few wretched shops—where I could not even buy a boot lace that I wanted—and a poor apology for a hotel restaurant, the food and cooking at which made us sorry that we had not stayed aboard the ship. Towering above the shanties above mentioned was the residence of the Governor, a great barn-like building, with no architectural pretentions whatever, and the verandahs closed in by lattice-work for lack of trees, to temper the heat. The only happy ones in our party were the stamp-collectors, who bought liberally the stamps of the French Government that could be had at the post office and, which sales it almost seemed to me, were the only source of revenue.
Một số hành khách trong chúng tôi lên bờ ở Djibouti và thấy nơi đó là một cảnh hoang mạc cát, nung dưới nắng gắt, với vài cửa hiệu tồi tàn—đến mức tôi không mua nổi một dây giày mình cần—và một thứ nhà hàng khách sạn nghèo nàn, đồ ăn và cách nấu ở đó khiến chúng tôi ân hận vì đã không ở lại trên tàu. Nổi bật lên trên những túp lều kể trên là dinh của vị Toàn quyền, một tòa nhà như cái kho lớn, hoàn toàn không có chút dụng ý kiến trúc nào, hiên thì che bằng chấn song vì chẳng có cây cối để làm dịu bớt cái nóng. Những người duy nhất trong đoàn chúng tôi cảm thấy hân hoan là các nhà sưu tập tem, họ mua thoải mái tem của Chính phủ Pháp tại bưu điện, và tôi có cảm tưởng việc bán tem dường như là nguồn thu duy nhất ở đó.
The passage up the Red Sea was smooth and pleasant; we reached Suez and entered the Canal at 5 p.m. on the 6th of June. At Port Said, the next day, we were detained only a few hours for coaling and then got out on to the Mediterranean, where we found delightfully cool weather and a calm sea awaiting us. In Mr. and Mrs. John Campbell, [21] of Soorabaya, Dutch East Indies, I made two charming acquaintances. The husband was Scotch, of course, the lady Dutch; and I know no more delightful persons to meet than educated Dutch ladies. The weather being so fine, we had the opportunity of thoroughly enjoying the passage through the Straits of Messina and the view of the ever picturesque volcano, Stromboli. On the 11th we ran into the mistral, that cold and dreaded wind-current from the North, which gives the people along the Mediterranean so much discomfort. As it took us abeam it made the ship pitch like mad and it was very disagreeable on deck.
Chuyến đi lên Biển Đỏ êm ái và dễ chịu; chúng tôi tới Suez và vào Kênh đào lúc 5 giờ chiều ngày 6 tháng Sáu. Ở Port Said hôm sau, chúng tôi chỉ bị giữ lại vài giờ để tiếp than, rồi ra Địa Trung Hải, nơi trời mát mẻ dễ chịu và biển lặng đợi sẵn. Với Ông và Bà John Campbell, [21] ở Soorabaya, Đông Ấn Hà Lan, tôi kết thêm hai tình thân thật thú vị. Chồng là người Scotland, dĩ nhiên, còn phu nhân là người Hà Lan; và theo tôi, không ai đáng gặp gỡ hơn những phụ nữ Hà Lan có giáo dục. Trời đẹp như thế, chúng tôi có dịp tận hưởng trọn vẹn cảnh vượt qua eo biển Messina và ngắm núi lửa Stromboli luôn luôn nên thơ. Ngày 11, chúng tôi gặp gió mistral, dòng gió lạnh và đáng sợ từ phương Bắc gây bao bất tiện cho dân vùng Địa Trung Hải. Vì thổi ngang mạn, nó làm tàu chúi ngóc điên cuồng, và ở trên boong thì thật khó chịu.
On the 12th—eighteen days from Colombo—we reached Marseilles, but were incontinently ordered into Quarantine at that distressful, rock-cut naval basin of Frioul because, forsooth, cholera was bad in Egypt when we passed through the Canal. We were released the next day and crossed over to our moorings in the splendid basin of Marseilles. I had instructed my correspondents in Western countries to address me, poste-restante at Marseilles, and among the letters which awaited me was one from a nephew giving particulars about my sister’s death. It occurred at the time when I got the warning aboard ship between Aden and Djibouti. There was great sympathy between us and this was not the first incarnation in which we had been [22] associated together. Her daughter has told me since how, at the last hour, she lay muttering to herself about me; and of course nothing could be more natural than that she should come to tell me of her departure.
Ngày 12—mười tám ngày kể từ lúc rời Colombo—chúng tôi đến Marseilles, nhưng lập tức bị đẩy vào Khu Cách ly tại cái bể hải quân đẽo vào đá thật khốn khổ ở Frioul chỉ vì, nào hay, khi chúng tôi qua Kênh đào thì dịch tả đang hoành hành ở Ai Cập. Hôm sau chúng tôi được thả và cập vào nơi neo đậu trong bể cảng tráng lệ của Marseilles. Tôi đã dặn các thân hữu ở các nước phương Tây gửi thư cho tôi theo dịch vụ poste-restante tại Marseilles, và trong số thư chờ tôi có một bức của cháu trai báo chi tiết về cái chết của chị tôi. Nó xảy ra đúng vào thời điểm tôi nhận tín hiệu báo trước trên tàu giữa Aden và Djibouti. Giữa chúng tôi có mối đồng cảm sâu xa, và đây không phải là kiếp sống đầu tiên chúng tôi [22] gắn bó với nhau. Con gái chị sau này kể với tôi rằng những giờ cuối, chị cứ lẩm bẩm về tôi; và dĩ nhiên, chẳng gì tự nhiên hơn việc chị đến báo tôi hay tin chị ra đi.
Commandant Courmes and Dr. Pascal, who was then living at Toulon, met me on arrival and the former took me to see Baron Spedalieri and afterwards to Toulon by train. It was a group of earnest seekers after Truth who had gathered around Courmes to form a local Branch of our Society, and I passed the next few days with them very agreeably. Though there was nothing Theosophical about it, yet the incident I am about to relate was interesting to me from the artistic point of view. Commandant Courmes and I had gone to hear the music of a fine military band; the streets were full of people, all dressed, of course, in the Western fashion, and as we stood on the curb chatting together there passed an Oriental, a Mussalman, dressed in his national garb. As he passed between us and a brilliantly lighted shop window on the other side of the street, he made such a vivid contrast with the throng of people about him that I keep the impression to this day. The crowd, all dressed in dark colors and with their clothes cut in our ungainly fashion without a single line of grace or a single bit of color to relieve the monotony, represented the audiences that [23] confront a public speaker in Western countries, whereas he, this stray follower of Islam, in his Eastern garb, so artistic and so radiant, recalled to my mind the crowds of Asiatics among whom I had been living for so many years. Shway Yeo (the Hon. Mr. Scott), the writer on Burma, says that a Burmese audience, clad in their bright silken cloths and white jackets look like “a bed of tulips moved by a breeze.” How many times I have wished that Western friends whom I knew to be possessed of a cultivated feeling for Art, could travel with me throughout the East and see what picturesque multitudes gather in front of a speaker and in their mass appeal to his artistic imagination!
Chỉ huy Courmes và Bác sĩ Pascal, khi đó sống ở Toulon, đón tôi khi tàu cập bến, và vị trước đưa tôi đến thăm Nam tước Spedalieri rồi sau đó bằng tàu lửa đi Toulon. Đó là một nhóm những người khao khát đi tìm Chân lý đã tụ lại quanh Courmes lập một Chi bộ địa phương của Hội chúng ta, và tôi đã trải qua vài ngày kế tiếp với họ rất thú vị. Tuy không dính dáng gì đến Thông Thiên học, nhưng câu chuyện tôi sắp kể khiến tôi quan tâm từ góc độ nghệ thuật. Chỉ huy Courmes và tôi đi nghe một ban quân nhạc trình diễn; đường phố đông nghịt người, tất nhiên ai nấy đều mặc theo kiểu phương Tây, và đang khi chúng tôi đứng trên vỉa hè chuyện trò, một người phương Đông, tín đồ Hồi giáo, đi ngang, vận y phục dân tộc. Khi ông đi qua giữa chúng tôi và một cửa hiệu rực sáng phía bên kia đường, ông tạo nên một tương phản sống động đến mức ấn tượng vẫn còn in đậm trong tôi tới hôm nay. Đám đông quanh ông, tất cả mặc sắc tối và trang phục cắt may theo kiểu vụng về, không lấy một đường nét thanh nhã hay một mảng màu nào để đỡ đơn điệu, giống như cử tọa [23] mà một diễn giả công chúng đối diện ở các nước phương Tây, trong khi ông, người tín đồ Hồi giáo lạc lõng này, với áo quần phương Đông vừa giàu chất nghệ thuật vừa rực rỡ, lại khiến tôi nhớ đến những đoàn người Á châu giữa lòng họ tôi đã sống suốt bao năm qua. Shway Yeo (Ngài Scott), nhà viết về Miến Điện, nói rằng một cử tọa người Miến, trong những tấm lụa rực rỡ và áo khoác trắng, trông như “một luống hoa tulip lay động trong gió.” Biết bao lần tôi ước những bạn phương Tây mà tôi biết có cảm quan nghệ thuật tinh tế có thể đi khắp phương Đông với tôi để thấy những đoàn người duyên dáng tập hợp trước mặt một diễn giả và, trong tổng thể, đánh thức mạnh mẽ tưởng tượng nghệ thuật nơi ông!
I have stated above that one important business that had been confided to me was that of consulting the leading authorities of Paris and London upon the subject of Zoroastrian research. On Tuesday, June 23rd, I returned a call made by the Rev. Dr. Mills, the Orientalist, one of the gentlemen to whom Dr. Jivanji had given me letters, and we had a long friendly talk on the subject of Zend literature and the Parsi religion. Dr. Mills I found to be an American, a New Yorker, a graduate of my own University and a member of my own College society, so that we had many points of sympathy in common. He was not at all hopeful about the possibility of discovering other fragments of the sacred writings [24] than those which the Parsis had saved out of the wreck of their country and religion, after the Muhammadan conquest of Persia and the flight of the historical band of faithful Zoroastrians to India.
Tôi đã nói ở trên rằng một việc hệ trọng được phó thác cho tôi là tham vấn các nhà thẩm quyền hàng đầu ở Paris và London về nghiên cứu Bái hỏa giáo. Thứ Ba, ngày 23 tháng Sáu, tôi đến đáp lễ Reverand Bác sĩ Mills, nhà Đông phương học, một trong những vị mà Bác sĩ Jivanji đã trao thư giới thiệu cho tôi, và chúng tôi có một cuộc chuyện trò dài thân thiện về văn hiến Zend và tôn giáo Parsi. Tôi biết Bác sĩ Mills là người Mỹ, người New York, tốt nghiệp từ chính Đại học của tôi và là hội viên hội sinh viên cùng trường của tôi, nên chúng tôi có nhiều mối đồng cảm chung. Ông không mấy hy vọng vào khả năng phát hiện thêm những mảnh rời của thánh điển [24] ngoài những gì người Parsi đã cứu vớt từ đống hoang tàn của đất nước và tôn giáo họ, sau cuộc xâm lăng của Hồi giáo vào Ba Tư và khi đoàn người Zoroastrian trung tín lịch sử chạy sang Ấn Độ.
Pending my forming relations with the other correspondents of Dr. Jivanji, two bits of occult experience, of which one was both interesting and important, and the other a comedy, came in my way. The former was a visit to the famous Madame Mongruel, the Seeress whose name is now familiar to all of our members, the other an interview with Mlle. Couëdon, a young woman who was then greatly talked about as the pretended mouthpiece of the Angel Gabriel who, through her, as alleged, was predicting all sorts of dire calamities for unhappy France. She and her family had been so pestered with visitors as to have become very reluctant to admit fresh acquaintances, but an exception was made in my favor, thanks to a card of introduction given me by an editor of the Gaulois. I found the young woman living with her parents in a small flat in the Rue de Paradis—surely an appropriate name under the circumstances. There was nothing at all extraordinary about her appearance, she seemed as little like an angelic agent as any other girl in Paris. Motioning me to a chair, she took another one opposite, shut her eyes and presently began her inspired utterances. There was [25] something comical about them, for the final syllables of all the lines of her verses—she spoke nothing but rhyme—were alliterative; over and over and over again she would make these terminal words rhyme with each other. I could not get myself impressed with the idea that she was speaking for any entity, hierarchical or otherwise, save her comely little self: and certainly, on reading my notes of her predictions, after the lapse of so many years, I cannot say that my faith in her as a prophetess is enhanced. She told me, or rather Gabriel is supposed to have told me, that the Theosophical Society would break up soon; that I should retire after being betrayed by some colleagues; and that I should die suddenly and prematurely, at a time not specified!
Trong lúc tôi còn đang tạo liên hệ với những người được Bác sĩ Jivanji giới thiệu khác, tôi gặp hai trải nghiệm huyền môn, trong đó một vừa thú vị vừa quan trọng, còn trải nghiệm kia thì như một vở hài. Trải nghiệm trước là chuyến thăm Bà Madame Mongruel lừng danh, nữ thông nhãn mà tên tuổi giờ đây đã quen thuộc với tất cả hội viên chúng ta; trải nghiệm kia là buổi gặp gỡ Cô Couëdon, một thiếu nữ khi ấy đang rất được đồn đãi như là chiếc miệng mượn danh của Thiên thần Gabriel, qua đó, theo lời đồn, vị này đang phán truyền đủ loại thảm họa cho nước Pháp bất hạnh. Cô và gia đình bị khách khứa quấy quả đến mức rất ngại đón người mới, nhưng đã nể ngoại lệ đối với tôi nhờ tấm danh thiếp giới thiệu của một biên tập viên tờ Gaulois. Tôi gặp thiếu nữ sống cùng cha mẹ trong một căn hộ nhỏ trên đường Rue de Paradis—tên phố thật hợp cảnh. Ở cô chẳng có gì lạ thường về dung mạo, cô dường như chẳng giống chút nào một sứ giả thiên giới hơn bất kỳ cô gái Paris nào khác. Ra hiệu mời tôi ngồi, cô kéo một chiếc ghế đối diện, nhắm mắt và liền sau đó bắt đầu tuôn lời “linh cảm”. Có [25] điều gì đó khôi hài trong những lời ấy, vì âm tiết cuối của mọi câu thơ—cô không nói gì ngoài vần điệu—đều điệp âm; đi đi lại lại, hết lần này đến lần khác, những từ chót của câu đều vần với nhau. Tôi không thể tự thuyết phục mình rằng cô đang nói thay cho bất kỳ thực thể nào, thuộc đẳng trật nào, ngoại trừ chính cô gái xinh xắn ấy: và chắc chắn, khi đọc lại ghi chép dự ngôn của cô sau nhiều năm, tôi không thể nói rằng niềm tin của tôi vào cô như một nữ tiên tri được củng cố. Cô bảo tôi, hay đúng hơn Gabriel được coi là bảo tôi, rằng Hội Thông Thiên Học chẳng bao lâu nữa sẽ tan rã; rằng tôi sẽ rút lui sau khi bị một số đồng nghiệp phản bội; và rằng tôi sẽ chết đột ngột và yểu mệnh, vào một thời điểm không nói rõ!
The visit to Madame Mongruel was a much more important affair. Up to the 22nd of June, 1896, I had no knowledge whatever of her existence, but on the day in question, as I was correcting proof at the Hotel Gibraltar, the card was brought me of M. Desormeaux, of the editorial staff of the Gaulois who, on being admitted, told me that he wished to make an experiment in the interests of the public and came to ask me to help him in the capacity of an expert. It appeared that some months before that date a caravan of exploration, under the direction of the Marquis de Mores, a well-known explorer, [26] had started from Tunisian territory for the interior of that part of Africa, some said with a political object in view. At the time of our interview a rumor of his assassination was current in Paris, but not generally believed for there were no definite facts to support it: M. Desormeaux himself, an old acquaintance of the Marquis, did not believe him dead. It had occurred to him to try to find among the noted clairvoyants of Paris at least one who could give some definite information on the subject. Naturally, I was glad to accede to his invitation and so, taking a cab, we began our quest. My guide visited the house of a famous clairvoyant whose name came first on his list, but she was not at home. He then ordered the coachman to drive us to No.6 Chaussée d’Antin, where Madame Jeanne Mongruel lived. What we got from her can be read at length in the article entitled “A French Seeress,” in The Theosophist for December, 1896, but as the séance was one of the most important in the modern history of clairvoyance, and as this book will have a multitude of readers who may never see our magazine, I think it is important to take it over into this narrative so as to make sure of its preservation in convenient form for reference. For the benefit of the general public, then, I will say that Madame Mongruel had been known in Paris half a century for her predictions that Prince Louis Bounaparte, [27] then an exile in London, would one day return, gain the supreme power and be crowned Emperor of the French. Many other accurate prophecies were recorded to her credit, and so M. Desormeaux’s hope that she might be able to tell him something about Mores was not very unreasonable. Instead of telling the story in my own language, the better plan will be to quote a verbatim translation of the article of its editorial representative which appeared in the Gaulois of June 23, 1896, to which the reader is referred. It says:
Chuyến thăm Bà Mongruel là việc quan trọng hơn nhiều. Cho đến ngày 22 tháng Sáu năm 1896, tôi hoàn toàn không hề biết về sự hiện hữu của bà, nhưng hôm đó, khi tôi đang sửa bản in ở Khách sạn Gibraltar, có tấm danh thiếp của Ông Desormeaux, biên tập viên tờ Gaulois, được mang đến, và khi được mời vào, ông nói rằng ông muốn thực hiện một thí nghiệm vì lợi ích công chúng và đến nhờ tôi giúp với tư cách một người am hiểu. Thì ra mấy tháng trước đó, một đoàn thám hiểm do Hầu tước de Mores chỉ huy, một nhà thám hiểm lừng danh, [26] đã khởi hành từ lãnh thổ Tunisia tiến vào nội địa vùng châu Phi ấy, có người nói với một mục đích chính trị. Tại thời điểm chúng tôi gặp nhau, Paris đang lan tin đồn Hầu tước bị ám sát, nhưng chưa được tin rộng rãi vì chưa có dữ kiện rõ ràng: chính Ông Desormeaux, người quen cũ của Hầu tước, cũng không tin ông đã chết. Ông nghĩ đến việc thử tìm trong số những nhà thông nhãn tiếng tăm ở Paris ít nhất một người có thể cho biết điều gì đó xác thực về việc này. Dĩ nhiên, tôi vui lòng nhận lời, thế là chúng tôi gọi xe ngựa, bắt đầu cuộc tìm kiếm. Người dẫn đường của tôi ghé nhà một nhà thông nhãn trứ danh đứng đầu danh sách của ông, nhưng bà không có nhà. Ông bèn bảo phu xe đưa chúng tôi đến số 6 đại lộ Chaussée d’Antin, nơi Bà Jeanne Mongruel cư ngụ. Những gì chúng tôi thu nhận ở đó có thể đọc đầy đủ trong bài viết nhan đề “Một nữ thông nhãn Pháp” trên tờ The Theosophist số tháng 12 năm 1896, nhưng vì buổi cầu đồng ấy là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử cận đại của thông nhãn, và vì cuốn sách này sẽ có vô số độc giả có thể chẳng bao giờ đọc tạp chí của chúng tôi, tôi nghĩ điều quan trọng là đưa nó vào bản tường thuật này để bảo đảm được lưu giữ trong hình thức thuận tiện cho tra cứu. Vì lợi ích của công chúng, tôi xin nói rằng Bà Mongruel đã nổi tiếng ở Paris suốt nửa thế kỷ vì lời dự ngôn rằng Hoàng tử Louis Bonaparte, [27] khi ấy còn sống lưu vong ở London, một ngày kia sẽ trở lại, giành quyền tối thượng và đội vương miện Hoàng đế nước Pháp. Nhiều lời tiên đoán chính xác khác cũng được ghi công cho bà, nên hy vọng của Ông Desormeaux rằng bà có thể nói cho ông biết điều gì đó về Mores không phải là vô lý. Thay vì kể câu chuyện bằng ngôn từ của riêng tôi, cách hay hơn là trích dịch nguyên văn bài viết của vị đại diện biên tập đăng trên tờ Gaulois ngày 23 tháng Sáu năm 1896, để độc giả tham khảo. Bài viết như sau:
“Madame Mongruel lives at No.6 Chausée d’Antin on the fourth floor. Last evening, at 9 o’clock, Colonel Olcott and I rang at the door of the apartment. A little maid with a lively expression of countenance opened and showed us into a drawing-room where her mistress received us. [A personal description of myself then follows.—O.] I have with me a certain article which had belonged to the Marquis de Mores, [1] but I wish it clearly understood in this connection, that the name of the Marquis was never pronounced, either by Colonel Olcott or myself throughout the sitting. Madame Mongruel had the idea that we came to consult her about the case of [28] Mlle. Couëdon. [2] I left her under this illusion, whilst seeming to mildly deny it.
“Bà Mongruel sống ở số 6 đại lộ Chaussée d’Antin, trên tầng bốn. Tối hôm qua, lúc 9 giờ, Đại tá Olcott và tôi bấm chuông trước cửa căn hộ. Một cô hầu bé nhỏ với ánh mắt lanh lợi mở cửa và đưa chúng tôi vào phòng khách nơi bà chủ tiếp chúng tôi. [Sau đó là một mô tả cá nhân về bản thân tôi.—O.] Tôi mang theo một vật đã từng thuộc về Hầu tước de Mores, nhưng tôi muốn nói rõ trong trường hợp này rằng tên của Hầu tước không hề được nhắc tới, dù bởi Đại tá Olcott hay tôi, suốt buổi ngồi đồng. Bà Mongruel tưởng rằng chúng tôi đến để hỏi ý kiến bà về trường hợp của [28] Cô Couëdon. Tôi để bà ở trong nhận định ấy, đồng thời dường như nhẹ nhàng phủ nhận.
“In an armchair Madame Mongruel seats herself; facing her, is Colonel Olcott. The usual mesmeric passes are made and the subject falls asleep. [3] I place the article that had belonged to the Marquis in her hand and Madame Mongruel at once begins speaking and gives me the moving consultation which I transcribe accurately from my notes:
“Bà Mongruel ngồi vào một chiếc ghế bành; đối diện bà là Đại tá Olcott. Những động tác thôi miên thường thấy được thực hiện và đối tượng chìm vào giấc thôi miên. Tôi đặt vật đã từng thuộc về Hầu tước vào tay bà, và lập tức Bà Mongruel bắt đầu nói và cho tôi bài tham vấn đầy xúc động mà tôi chép lại chính xác từ ghi chép của mình:
“‘How strange this is! About him I see very well, very distinctly, three beings. What are their names?... Ah! how queer; Alen Senemenek... Very curious, this, but they are not living; they belong to the other world: they are very far away and yet at the same time are about you. With their cups in their hands, they drink together. Yet it is very puzzling. What in the world does it mean? These three men show me in the far distance a man stretched out, wounded, dead!’ [29] “‘By whom wounded? was asked. ‘Strange,’ she muttered, ‘these are not Frenchman, they are blacks, men of color. Ah! There is one man there, not a Frenchman, he speaks English; who is this man? He has had a terrific wound between his eyes; another in the chest. He has a wound made by a cutting weapon; not a poniard, but a sort of lance (sagaie), a curious arm, very slim and sharp.’
“‘Thật lạ lùng! Về ông ấy tôi thấy rất rõ, rất rành rẽ, ba sinh linh. Tên họ là gì?... À! kỳ lạ quá; Alen Senemenek... Rất khác thường, nhưng họ không phải người sống; họ thuộc về cõi khác: họ ở rất xa và đồng thời ở ngay quanh bạn. Tay cầm chén, họ cùng uống. Thế mà thật khó hiểu. Nghĩa là sao nhỉ? Ba người này cho tôi thấy ở rất xa có một người nằm sóng soài, bị thương, chết!’ [29] “‘Bị ai làm bị thương?’—có người hỏi. ‘Lạ lùng,’ bà lầm bầm, ‘họ không phải người Pháp, họ là người da đen, người da màu. À! Có một người ở đó, không phải người Pháp, y nói tiếng Anh; người này là ai? Y bị một vết thương kinh khủng giữa hai mắt; một vết khác ở ngực. Y chịu một vết thương do đao bén; không phải gươm găm, mà là một loại lao (sagaie), một vũ khí kỳ lạ, rất mảnh và sắc.’
“‘Where are you?’ was asked. ‘In the desert. How very hot it is! But there is one man who seems to me to be of the body-guard; it is as though he were selected to bring about the final catastrophe, but he is not the only one to strike. Another began it; there is a frightful conspiracy, and this is an ambuscade.’
“‘Bà đang ở đâu?’—có người hỏi. ‘Giữa sa mạc. Nóng khiếp! Nhưng có một người dường như là thuộc vệ sĩ thân cận; như thể y được chọn để gây ra thảm kịch cuối cùng, nhưng y không phải người duy nhất ra tay. Một người khác bắt đầu; có một âm mưu kinh khủng, và đây là một cuộc phục kích.’
“‘But he (the leader of the expedition) is a brave, valiant, audacious fellow, of an honest nature, but with a strange sort of brain. He is led, urged on in a most singular way. A strange influence seems to drag him on; he acts as if under the influence of a superior will which is not of our plane. It has forced him forward and yet not protected him. Around him lying are black men, and I see one person give the fatal signal; he is white, tall and young.’
“‘Nhưng ông ấy (người chỉ huy đoàn thám hiểm) là một tay quả cảm, dũng liệt, can trường, bản chất lương thiện, nhưng có một thứ đầu óc lạ lùng. Ông ấy bị dẫn dắt, bị thúc đẩy theo một cách rất kỳ. Một ảnh hưởng lạ như kéo ông đi; ông hành động như dưới ảnh hưởng của một ý chí cao hơn không thuộc cõi chúng ta. Nó đã thúc ông tiến lên mà lại không che chở ông. Quanh ông là người da đen đang nằm, và tôi thấy một người phát hiệu lệnh chí tử; y là người da trắng, cao và trẻ.’
“‘Why is he (the Marquis being meant) killed?’
“‘Vì sao ông ấy (ám chỉ Hầu tước) bị giết?’
“‘Why is he killed?... It is very strange: his boldness ought to have made them all fall [30] back. He was doomed to die. There was a conspiracy. These three beings (above mentioned) are black chiefs. I see the party entering into a gorge, between two small hills; a man is in there in ambush. The fatal blow was given from there... I see five, six, seven wounds (on the body of the Marquis, she means). Beside him are men lying prostrate, blacks whom he has killed; they were in front, but there are also some who fell with him; I see five, five whites. There is a hole like an oven, that is the place where he seems to be kept (the Marquis). The face has turned black, but the body has kept its color; the wounds seem red: it is something frightful to look at. He fell forward with his face to the ground, it was the blow in the chest that caused it. Besides this, there are several other wounds;...
“‘Vì sao ông ấy bị giết?... Thật lạ: lòng quả cảm của ông đáng lẽ đã khiến tất cả phải khiếp lùi. Ông bị định mệnh an bài phải chết. Có một âm mưu. Ba người này (đã nói trên) là các tù trưởng da đen. Tôi thấy đoàn đi vào một hẻm núi, giữa hai gò nhỏ; có một người phục trong đó. Đòn chí mạng được giáng ra từ đó... Tôi thấy năm, sáu, bảy vết thương (trên thân Hầu tước, ý bà là vậy). Bên ông có những người nằm sóng soài, người da đen bị ông hạ; họ ở phía trước, nhưng cũng có một số ngã xuống cùng ông; tôi thấy năm, năm người da trắng. Có một cái hốc như lò, đó là nơi ông ấy (Hầu tước) dường như đang bị giữ. Khuôn mặt đã thâm đen, nhưng thân mình còn giữ màu; các vết thương đỏ au: nhìn mà khiếp. Ông đổ sấp mặt xuống đất khi ngã, chính là vì nhát đâm ở ngực. Ngoài ra còn mấy vết thương khác;...
“‘What a handsome forehead! With his brave air, rash, like one inspired, he moves forward with the self-possession of a conqueror; he believes that he will attain his object; he is as though sustained by a star; he has faith in himself, he marches forward without fear. Even when struck, he does not believe that he will die.’
“‘Ôi trán đẹp biết bao! Với phong thái hiên ngang, liều lĩnh, như người được linh cảm, ông tiến lên với sự tự chủ của kẻ chinh phục; ông tin chắc sẽ đạt mục đích; như thể được một ngôi sao nâng đỡ; tin vào chính mình, ông cứ tiến tới không sợ. Ngay cả khi bị đánh, ông cũng không tin rằng mình sẽ chết.’
“‘What a fine nature! uncommon, daring, admirably organised. What a brave heart! and what a noble mission! But the surprise was well organised.
“‘Một bản tính cao đẹp biết bao! khác thường, táo bạo, cấu tạo tuyệt diệu. Một trái tim quả cảm! và một sứ mệnh cao cả! Nhưng cú tập kích được tổ chức khéo léo.
[31] It occurred when passing out of the gorge. At first there was a fair fight; but when they passed out of the narrow passage, he fell into the ambush.’
[31] Nó xảy ra khi ra khỏi hẻm. Lúc đầu là một trận giáp lá cà công bằng; nhưng khi họ ra khỏi lối hẹp, ông rơi vào ổ phục kích.’
“‘What is his name?’ asked Colonel Olcott. The clairvoyant murmured Mor. Mor. Mor. Mor. ‘Ah! it is queer,’ said she, ‘but it is his mouth which speaks.’
“‘Tên ông là gì?’—Đại tá Olcott hỏi. Nhà thông nhãn thì thầm Mor. Mor. Mor. Mor. ‘À! thật lạ,’ bà nói, ‘nhưng đó là miệng ông ấy đang nói.’”
“At this moment, could it have been an illusion? I hear the voice of Mores and turn pale, ‘What is the matter?’ asked the Colonel of me. ‘Nothing,’ said I. Madame Mongruel continued.
“Ngay lúc này, liệu đó có phải là một ảo ảnh? Tôi nghe tiếng gọi của Mores và tái mặt. ‘Có chuyện gì vậy?’ Đại tá hỏi tôi. ‘Không có gì,’ tôi đáp. Bà Mongruel nói tiếp.
“Mor, Mor.
“Mor, Mor.
“‘I hear this sonorous vibration,’ said she, ‘I cannot fix it. It is a being stooping over him who cries out. I thought it was his own voice but it is not. I see him stagger....
“‘Tôi nghe rung âm ngân vang này,’ Bà nói, ‘tôi không chốt được nó. Có một hữu thể đang khom người trên y và kêu lên. Tôi tưởng là tiếng của chính y nhưng không phải. Tôi thấy y lảo đảo....
“‘O! two black men are about him, they are hacking him but he is already dead. It is a traitor.’
“‘Ô! có hai người đàn ông da đen quanh y, họ đang chém xả nhưng y đã chết rồi. Đó là một kẻ phản trắc.’
“‘What is his name?’
“‘Hắn tên gì?’
“‘I do not dare to tell, I am afraid.’
“‘Tôi không dám nói, tôi sợ.’
“‘Fear nothing, we will protect you,’ said the Colonel.
“‘Đừng sợ, chúng tôi sẽ bảo vệ bà,’ Đại tá nói.
“‘Yes it was a seeming friend; he travelled with him; only I do not see this man as now living; he was also killed, but it was he who pronounced the name. It is shocking! He was beside him, he gave the signal by a gunshot in the air and [32] the other struck at the moment when he came out of the pass. That blow was given by a powerful hand.’
“‘Vâng, đó là một người bạn bề ngoài; hắn đã đi cùng y; chỉ có điều tôi không thấy người này còn sống bây giờ; hắn cũng đã bị giết, nhưng chính hắn là người đã xướng tên. Thật kinh khủng! Hắn ở bên cạnh y, hắn đã phát tín hiệu bằng một phát súng lên trời và [32] kẻ khác ra tay đúng lúc y đi ra khỏi hẻm núi. Đòn đó là do một bàn tay khỏe mạnh giáng xuống.’
“‘What a horrible combat! What atrocious butchery! Oh! (shuddering), it is frightful. Where he is now is not a tomb nor a mausoleum. But they have shoved him into some place shaped like a furnace. The earth is of the color of pottery, reddish and very hard; the body is still in tact.’
“‘Thật là một cuộc giao chiến rùng rợn! Một cuộc tàn sát ghê tởm! Ôi! (rùng mình), thật kinh sợ. Nơi y đang ở bây giờ không phải là một mộ phần cũng không phải là một lăng mộ. Mà họ đã đẩy y vào một chỗ giống như cái lò. Đất có màu gốm, đỏ sậm và rất cứng; thi thể vẫn còn nguyên vẹn.’
“‘What is there in his hand?’
“‘Trong tay y có gì?’
“‘The hand is large. The middle finger very long, the mount of Venus prominent, the line of life broken off very young, before the fortieth year. [4]
“‘Bàn tay to. Ngón giữa rất dài, gò Kim tinh nổi rõ, đường sinh mệnh đứt rất sớm, trước tuổi bốn mươi.
“‘It is hard for me to see it. One hand is clenched, the other holds a weapon, the thumb is short and large at the end, the little finger is small and thin for a hand of that size. The ring-finger of the right hand is wounded; cut by a steel blade. I do not see the thumb. At the place where he was wounded in the chest I see a lady’s portrait, pierced by the blow of the lance; it is still on the corpse. It has not been taken away...; she is (now) about 30 years of age. [5] [33] “‘But the other cries: Mores!
“‘Tôi khó nhìn cho rõ. Một tay nắm chặt, tay kia cầm một thứ vũ khí, ngón cái ngắn và to ở đầu, ngón út nhỏ và mảnh so với bàn tay cỡ đó. Ngón nhẫn của tay phải bị thương; bị lưỡi thép cắt. Tôi không thấy ngón cái. Ở chỗ y bị thương nơi ngực, tôi thấy một bức chân dung của một phụ nữ, bị mũi giáo xuyên thủng; nó vẫn còn trên thi thể. Chưa bị lấy đi...; hiện giờ nàng chừng 30 tuổi. [33] “‘Nhưng kẻ kia kêu: Mores!
“‘There is in his mouth atone as if this cry were uttered with ferocious joy, as if to say bravo! Mores has fallen. It is a cry of dreadful hatred...
“‘Trong miệng hắn có một âm điệu như thể tiếng kêu ấy được phát ra với nỗi hả hê hung bạo, như thể nói bravo! Mores đã gục ngã. Đó là một tiếng kêu của mối thù hận khủng khiếp...
“‘He who killed him was not a native of that country, he was of the crowd of people who assassinated him... The man who was at his side had a hatred which does not seem to have been personal; the conspiracy was not on his private account [6]... The first shot was fired (in the air) as a signal and then the weapon was hurled from the ambuscade. He who wished to assassinate was the second to fall. There are some who get away, I would like to find them but I can do no more, I am tired. I see one in particular with very brown hair, whitish skin, of the Italian or Spanish type, his great suppleness of body enables him to escape.
“‘Kẻ giết y không phải là người bản xứ của xứ sở đó, hắn thuộc đám người đã ám sát y... Người ở bên cạnh y mang một mối thù hận xem ra không có tính cá nhân; âm mưu ấy không phải vì chuyện riêng tư của hắn... Phát súng đầu tiên bắn (lên trời) làm tín hiệu rồi vũ khí được phóng ra từ chỗ phục kích. Kẻ muốn ám sát là người thứ hai ngã xuống. Có vài kẻ đã thoát, tôi muốn tìm họ nhưng tôi không thể làm hơn, tôi đã mệt. Tôi thấy đặc biệt một kẻ tóc nâu rất đậm, da hơi trắng, thuộc kiểu Ý hoặc Tây Ban Nha, thân thể cực kỳ mềm dẻo giúp hắn chạy thoát.
“‘He (the Marquis) was struck by two enemies, one very tall, I mean one who has a high aim, the [34] other very contemptible, a wretch, pursuing a personal vengeance.
“‘Y (Ngài Hầu tước) bị đánh bởi hai kẻ thù, một kẻ rất cao, ý tôi là kẻ có nhắm tầm cao, kẻ [34] kia thì rất đê tiện, đồ vô lại, theo đuổi một mối oán thù cá nhân.
“‘Ah! it is frightful—horrible. Wake me, I beseech you! I can do no more.’
“‘A! thật kinh khủng—khủng khiếp. Hãy đánh thức tôi, tôi cầu xin quý vị! Tôi không thể chịu đựng hơn.’
“‘Colonel Olcott makes the transverse passes, awakens Madame Mongruel, who is then stupefied to learn that we have been questioning her about the Marquis de Mores,... What credence should be given in this case I should be very loth to say. When the details of the assassination of the Marquis de Mores become known, it will be easy to compare them with this consultation. It will then be time to pronounce the verdict.”
“‘Đại tá Olcott làm các động tác vuốt tay ngang người, đánh thức Bà Mongruel, rồi Bà sững sờ khi biết rằng chúng tôi đã hỏi Bà về Hầu tước de Mores,... Nên tin cậy đến mức nào trong trường hợp này, tôi thực rất miễn cưỡng để nói. Khi các chi tiết về vụ ám sát Hầu tước de Mores được biết, sẽ dễ dàng so sánh chúng với buổi tham vấn này. Khi đó mới là lúc đưa ra phán quyết.”
The time of corroboration came soon enough. On the tenth day after this account appeared in the Gaulois, the Figaro printed a long telegram from its correspondent at Tunis announcing the arrival of a caravan at Douz, which had been sent out to search for the lost explorer, bringing the corpses of the Marquis de Mores and his interpreter, Abd-el-Hack. From this account I take the following particulars corroborative of the clairvoyant revelations of Madame Mongruel at the séance of the 22nd June: 1. the Marquis was not living but dead when we consulted her; 2. eight Tunisian servants of the Marquis were killed with him in the massacre at El Ouatia; 3. the bodies were covered with numerous wounds, especially that of the Marquis, whose chest [35] was literally riddled with lance wounds; 4. the natives who lifted him from the sand said that “the white man was a brave who had embraced death face to face”; 5. the bodies were in a state of remarkable preservation; 6. add to this that she gave us his name without either of us having pronounced it; and 7. that the heat in the desert at the time was intense
Thời điểm kiểm chứng đã đến khá sớm. Vào ngày thứ mười sau khi bài tường thuật này xuất hiện trên tờ Gaulois, tờ Figaro đăng một bức điện dài của thông tín viên tại Tunis loan báo một đoàn lữ hành đã tới Douz, đoàn này được phái đi tìm nhà thám hiểm mất tích, mang về các thi thể của Hầu tước de Mores và người thông ngôn của ông, Abd-el-Hack. Từ bản tường thuật ấy, tôi ghi nhận các chi tiết sau, xác nhận những mặc khải thông nhãn của Bà Mongruel tại buổi gọi hồn ngày 22 tháng Sáu: 1. khi chúng tôi tham vấn Bà, Hầu tước không còn sống mà đã chết; 2. tám gia nhân người Tunis của Hầu tước bị giết cùng ông trong vụ thảm sát tại El Ouatia; 3. các thi thể bị phủ dày thương tích, đặc biệt là thi thể của Hầu tước, ngực [35] của ông hầu như bị đâm rỗ bằng những vết thương do giáo; 4. người bản xứ khi nhấc ông lên khỏi cát đã nói rằng “người da trắng ấy là một dũng sĩ, đã đối mặt ôm lấy cái chết”; 5. các thi thể ở trong tình trạng bảo tồn đáng kinh ngạc; 6. thêm nữa, Bà đã cho chúng tôi biết tên ông mà không ai trong chúng tôi nêu ra; và 7. sức nóng nơi sa mạc lúc bấy giờ thật dữ dội
CHAPTER III—CHƯƠNG III
SEERESSES OR MEDIUMS—NHỮNG NỮ TIÊN TRI HOẶC ĐỒNG TỬ
(1896)—(1896)
IN the foregoing narrative are all the features of an undoubted case of clairvoyant perception. Bear in mind that, at the time of the séance with Madame Mongruel, nothing whatever of a definite character was known in Europe as to the fate of the ill-starred Marquis de Mores; nor did anything appear in any paper before the 3rd of July, when the Tunisian telegram was printed in the Figaro: add to this that M. Desormeaux did not believe that there had been a tragedy, and that I, for my part, had neither known of the existence of the Marquis nor cared what might or might not have happened to him. There is no ground, therefore, for any theory of thought-transference between the Seeress and ourselves. Yet her perceptions of the event that had transpired out in the African Desert were as clear as though she had seen them reflected in one of the mirrors that hung in her consulting-room. The sash [37] which had been worn by the lost man was efficacious in putting her sur la piste—on the trail. If this is not an instructive fact for the student of clairvoyance, and if it does not make easier of comprehension the revelations that we have been having lately in Theosophical books, then I am mistaken.
TRONG câu chuyện vừa thuật có đầy đủ các đặc điểm của một trường hợp cảm tri thông nhãn không thể hồ nghi. Hãy ghi nhớ rằng, vào lúc buổi gọi hồn với Bà Mongruel diễn ra, tại châu Âu hoàn toàn chưa có gì xác thực được biết về số phận của vị Hầu tước bạc mệnh de Mores; cũng không có gì xuất hiện trên bất kỳ tờ báo nào trước ngày 3 tháng Bảy, khi bức điện từ Tunis đăng trên tờ Figaro: thêm rằng ông Desormeaux không tin là đã có một bi kịch xảy ra, còn phần tôi, tôi chẳng hề biết đến sự tồn tại của vị Hầu tước ấy cũng chẳng bận tâm điều gì có thể hay không thể đã xảy đến với ông ta. Do đó, không có cơ sở nào cho bất kỳ giả thuyết truyền tư tưởng nào giữa Nữ tiên tri và chúng tôi. Thế mà, tri kiến của Bà về biến cố đã xảy ra nơi Sa mạc Phi châu lại rõ ràng như thể Bà nhìn thấy chúng phản chiếu trong một tấm gương treo trong phòng tư vấn của Bà. Dải thắt lưng [37] mà người mất tích đã mang theo đã hữu hiệu giúp Bà lần ra manh mối. Nếu điều này không phải là một sự kiện có tính giáo huấn cho đạo sinh về thông nhãn, và nếu nó không giúp dễ hiểu hơn những mặc khải mà gần đây chúng ta được đọc trong các sách Thông Thiên Học, thì hẳn là tôi đã lầm.
What a curious coincidence it is that the two Napoleons who have occupied the throne of France should have had their future grandeur prophesied by clairvoyants, the Great Napoleon by Mlle. Le Normand, the Little one by Madame Mongruel. As regards the Le Normand prophecies the reader will do well, if he can, to read the article in The Theosophist for December, 1896. One point is made in that article, on the authority of Delaage, in his Sommeil Magnetique (Paris, 1857); it relates to the question of the continuous, or infallible, lucidity of clairvoyants. He says: “Those ignorant mesmerisers who fancy that they create clairvoyance in their lucid subjects are entirely mistaken; no power in the world can make clairvoyant a subject who has not the congenital predisposition for it: all that the magnetiser does is to help remove from the inner eye some of the obstacles to clear sight offered by the activity of the bodily senses... There does not exist in Paris a serious magnetiser who dare say that he has met with a single subject who [38] has continuous lucidity.” Furthermore our author affirms that the number of lucid somnambules is not very great, and often the faculty appears at very rare intervals; moreover, that, most frequently, the failure of a clairvoyant to satisfy consultants is due to this fact, viz., that the poor visionary cannot throw herself or himself at will into the condition of lucidity.
Thật là một sự trùng hợp lạ lùng khi cả hai vị Napoleon đã ngồi trên ngai vàng nước Pháp đều được các nhà thông nhãn tiên tri về sự hiển đạt tương lai của họ: Napoleon Vĩ Đại bởi cô Le Normand, vị kia bởi Bà Mongruel. Về các lời tiên tri của Le Normand, độc giả nên—nếu có thể—đọc bài viết trên tờ The Theosophist số tháng Mười Hai, 1896. Một điểm được nêu trong bài viết ấy, dựa theo thẩm quyền của Delaage, trong tác phẩm Sommeil Magnetique (Paris, 1857); nó liên hệ đến câu hỏi về sự minh mẫn liên tục, hay bất khả sai, của người thông nhãn. Ông nói: “Những nhà thôi miên thiếu hiểu biết, tưởng rằng họ tạo ra thông nhãn nơi các chủ thể sáng suốt của họ, hoàn toàn lầm lẫn; không một quyền năng nào trên đời có thể làm cho một người trở nên thông nhãn nếu người đó không có thiên tư bẩm sinh cho việc ấy: tất cả những gì người dùng từ lực thôi miên làm là giúp gỡ bỏ khỏi con mắt bên trong một phần những chướng ngại đối với cái nhìn sáng tỏ vốn do hoạt động của các giác quan thân xác gây ra... Không tồn tại ở Paris một nhà thôi miên nghiêm túc nào dám nói rằng ông ta đã gặp một chủ thể [38] có linh thị liên tục.” Hơn nữa, tác giả của chúng ta khẳng định rằng số người mộng du có linh thị không nhiều, và thường thì khả năng này chỉ xuất hiện vào những khoảng thời gian rất hiếm hoi; thêm nữa, phần nhiều sự thất bại của một người thông nhãn trong việc làm thỏa mãn người tham vấn là do thực tế này, tức là kẻ khốn khổ có thị kiến không thể tự ý đưa mình vào trạng thái linh thị theo ý muốn.
Remember that this super-physical state is due to a very delicate and exceptional condition of the nerves of the brain which the slightest cause is sufficient to upset. How many times have I been pained to see the mental tortures inflicted upon, these psychics by ignorant and brutal, though perhaps well-disposed, visitors. Let us suppose that the consultant wishes information about the writer of a certain letter which may have been handled by a dozen different persons, each of whom has impregnated the document with his own aura, some possibly so coarse and strong as to drown out for the moment that of the writer of the letter. If the consultant be ill-bred, he may put insulting questions and show insulting suspicions, provoked by his own ignorance; another, carried away by a blind enthusiasm, may cause his thought-pictures to rush past the clairvoyant’s vision like a scud of clouds swept before a tempest. A third may so strongly desire that the Seeress’ revelation may [39] confirm his wishes as to obsess, take possession of and mould the thought of the sleeper. A fourth may be a man who comes fresh from a scene of debauchery, and the libidinous pictures floating around him may horrify the virtuous sensitive and make her loathe his presence. Finally, not to enumerate the many causes operative of a destruction of clairvoyant vision, the enquirer may be one of those conceited and prejudiced committee men, who have figured so often in the history of psychical research and come with smiling features and outward courtesy, but underneath having the determination to prove the lucid victim a dishonest trickster, to confuse and trip her up, and to make white as black as his suspicious nature wishes it to be.
Hãy nhớ rằng trạng thái siêu-vật-chất này do một điều kiện rất tinh tế và ngoại lệ của các dây thần kinh bộ não gây nên, mà chỉ một nguyên cớ nhỏ cũng đủ làm nó rối loạn. Không biết bao lần tôi đã đau lòng khi thấy những cực hình tinh thần giáng lên những người có năng lực ngoại cảm bởi các vị khách thiếu hiểu biết và thô bạo, dẫu có thể là thiện chí. Giả sử người tham vấn muốn biết tin tức về người viết một bức thư nào đó, vốn có thể đã qua tay cả chục người, mỗi người lại thấm vào văn kiện này hào quang của riêng mình, có khi thô và mạnh đến mức át đi trong chốc lát hào quang của chính người viết thư. Nếu người tham vấn vô lễ, y có thể đặt câu hỏi xúc phạm và phô bày những ngờ vực xúc phạm, do chính sự ngu dốt của y kích phát; một người khác, bị cuốn theo bởi nhiệt tình mù quáng, có thể khiến những bức tranh tư tưởng của mình ào ạt lao qua trước thị kiến của nhà thông nhãn như những dải mây bị bão cuốn. Người thứ ba có thể mong mỏi mãnh liệt đến mức mặc khải của Nữ tiên tri [39] xác nhận ước muốn của y đến nỗi ám nhiễm, chiếm lĩnh và nắn khuôn tư tưởng của người đang ngủ. Người thứ tư có thể vừa đến từ một cảnh truỵ lạc, và những hình ảnh dâm dật lảng vảng quanh y có thể làm kinh hãi người mẫn cảm đức hạnh và khiến nàng ghê tởm sự hiện diện của y. Sau cùng, chưa kể ra hết nhiều nguyên nhân có hiệu lực làm hủy phá thị kiến thông nhãn, người chất vấn có thể là một trong những kẻ ở ủy ban vừa tự phụ vừa thành kiến, vốn đã xuất hiện nhiều lần trong lịch sử nghiên cứu các hiện tượng tâm linh, họ đến với gương mặt tươi cười và lễ độ bề ngoài, nhưng bên trong là quyết tâm chứng minh nạn nhân linh thị là kẻ lừa đảo bất lương, làm rối, làm sụp bẫy nàng, và biến trắng thành đen theo đúng cái bản chất đa nghi của họ.
On the day of the Mongruel interview Dr. Baraduc had me to his house to dinner and M. Jules Bois and two other gentlemen to meet me. On the following day I was honored with a visit from that most interesting savant, Colonel De Rochas. My introductory visit to M. Menant, of the Institute, occurred on the 25th of June. This venerable man, whose fame as an Orientalist extended throughout the whole world of scholarship, received me with every possible courtesy, expressed his warm interest in the Parsi community of Bombay, and invited his gifted wife and still more gifted daughter to take part in the conversation. Like Dr. Mills, he was [40] sceptical as to the possibility of recovering lost Zoroastrian scriptures; at the same time admitting that there was just a remote possibility of some being found in libraries in Muhammadan countries not yet examined by Western Zendic students: the chance, however, he thought remote. In the letter which he addressed me under date of August 24th, 1896, he says: “If there is still something more needed it is rather, as I have told you verbally, in purely archreological discoveries that one might, perhaps, meet with new documents. In pursuance of this idea I have put you in relations with M. Blanc, who has a special knowledge of the Central Asian provinces, where explorations might throw great light upon this important problem of Zoroastrian history.”
Vào ngày có buổi đàm luận với Bà Mongruel, Bác sĩ Baraduc mời tôi đến nhà dùng bữa và mời M. Jules Bois cùng hai quý ông khác đến gặp tôi. Ngày hôm sau, tôi hân hạnh được vị học giả thú vị bậc nhất, Đại tá De Rochas, đến thăm. Chuyến thăm đầu tiên của tôi đến M. Menant, Viện sĩ, diễn ra vào ngày 25 tháng Sáu. Vị lão trượng khả kính này, mà danh tiếng như một nhà Đông phương học vang xa khắp thế giới học thuật, tiếp tôi với mọi lễ độ có thể có, bày tỏ mối quan tâm nồng nhiệt đến cộng đồng Parsi ở Bombay, và mời người vợ tài hoa cùng cô con gái còn tài hoa hơn của ông cùng tham gia câu chuyện. Giống như Bác sĩ Mills, ông [40] hoài nghi về khả năng khôi phục những kinh điển Zoroastrian thất lạc; đồng thời thừa nhận rằng chỉ có một khả năng rất xa vời là có thể tìm được vài bản trong các thư viện ở các quốc gia Hồi giáo chưa được các học giả Zend phương Tây khảo cứu: tuy vậy, ông nghĩ cơ may ấy rất mỏng. Trong bức thư đề ngày 24 tháng Tám, 1896, ông viết cho tôi: “Nếu còn cần thêm điều gì nữa thì, như tôi đã nói riêng với ông, có lẽ là ở các phát hiện thuần khảo cổ mà người ta, biết đâu, có thể gặp được những văn kiện mới. Theo ý tưởng đó, tôi đã đặt ông vào liên lạc với ông Blanc, người am tường đặc biệt về các tỉnh Trung Á, nơi các cuộc thám sát có thể soi sáng rất nhiều cho vấn đề quan trọng này của lịch sử Zoroastrian.”
Still, in spite of the scepticism which I have met everywhere among the savants on this subject, I have a sort of vague belief that, if the Bombay Parsis should really begin in earnest a search for their missing religious treasures, some of great importance will be found; perhaps even in India, in some temple or mosque library, or in the possession of some family to whom the books or manuscripts may have descended from an ancestor concerned in the pillage of the Persian Parsis.
Tuy vậy, bất chấp sự hoài nghi tôi gặp ở khắp nơi trong giới học giả về chủ đề này, tôi vẫn có một niềm tin mơ hồ rằng, nếu cộng đồng Parsi ở Bombay thực sự bắt tay nghiêm túc vào việc tìm kiếm những kho tàng tôn giáo thất lạc của họ, thì một số thứ rất quan trọng sẽ được tìm thấy; có lẽ ngay tại Ấn Độ, trong một ngôi đền hay thư viện của giáo đường, hoặc trong sở hữu của một gia đình nào đó, mà sách vở hay bản thảo đã truyền xuống từ một tổ tiên từng dính líu vào việc cướp phá người Parsi Ba Tư.
Members of our Society are now to be found in almost all social classes and walks of life, so that [41] it need not surprise us to learn that one evening while in Paris I had the opportunity of seeing one of my colleagues playing in the matchless dramatic company of the Comédie Française, and another one as a Député in the Chambre des Députés, where he had figured largely as the author of a very important Bill. This gentleman and another Député spent hours with me one evening at my hotel discussing Theosophy, in which they showed an eager interest.
Hội viên của Hội chúng ta ngày nay hầu như hiện diện trong gần như mọi giai tầng xã hội và mọi nẻo đời, nên [41] không có gì lạ khi một buổi tối ở Paris tôi có dịp thấy một đồng nghiệp của tôi diễn xuất trong ban kịch vô song của Comédie Française, và một người khác là một Dân biểu tại Chambre des Députés, nơi ông đã đóng vai trò lớn với tư cách tác giả của một Dự luật rất quan trọng. Vị gentleman này và một Dân biểu khác đã dành hàng giờ với tôi một tối ở khách sạn để thảo luận Thông Thiên Học, và họ bộc lộ mối quan tâm nồng nhiệt.
On Saturday, the 27th, I called by invitation on Colonel De Rochas at his Laboratory at the Ecole Polytechnique, to see him make, in the presence of a number of men of science, a lot of hypnotic experiments on two subjects, females. He showed us the different stages of Hypnosis defined by Charcot, and other phenomena, among them externalisation of sensitiveness and projection of the double. In this condition the bodies of the sensitives did not respond to any external influence; sight, hearing, taste, and feeling were all paralysed, but the normal sensitiveness, abnormally intensified, existed outside the body in the enwrapping aura. If he thrust a pin into the air at a measured distance from the sleeper’s body there would be an instantaneous cry of pain, and the sensitive would quickly carry her hand to that part of the body which seemed to be in auric communication with the [42] punctured spot in space. Both sensitives being plunged in hypnotic sleep, the one could point out exactly where the double of the other, projected from the body, was located, and the Colonel by pinching or pricking that spot, would cause a reflex action in the body. This suggested to me an experiment. The Colonel had been proving the paralysis of the olfactory nerves by holding to the nose of the sleeper an uncorked vial of concentrated spirits of ammonia. I took him with me outside the room and, after closing the door, suggested that he should try the experiment of holding the pungent fluid to the point in space where the other clairvoyant should say that the nose of the subject under experiment, or rather of her double, was situated. If he could then get her to make the motion of inhaling, possibly we might find that there would be a reaction upon the physical olfactory nerves, which would be a new and interesting proof of the projection of the double. He declared that the idea was a capital one, returned to the room, and made the experiment, which to our gratification and the surprise of all present was entirely successful.
Thứ Bảy, ngày 27, theo lời mời tôi đến Phòng thí nghiệm của Đại tá De Rochas tại Ecole Polytechnique, để xem ông tiến hành, trước sự hiện diện của một số nhà khoa học, một loạt thí nghiệm thôi miên trên hai chủ thể nữ. Ông cho chúng tôi xem các giai đoạn khác nhau của Thôi miên do Charcot định nghĩa, và các hiện tượng khác, trong đó có sự ngoại hiện tính nhạy cảm và sự phóng chiếu thể đôi. Trong trạng thái ấy, thân thể của các người mẫn cảm không còn đáp ứng với bất kỳ ảnh hưởng bên ngoài nào; thị giác, thính giác, vị giác và xúc giác đều bị tê liệt, nhưng tính nhạy cảm bình thường, được tăng cường bất thường, lại tồn tại bên ngoài thân thể trong hào quang bao bọc. Nếu ông đâm kim vào không khí ở một khoảng cách đo được từ thân người đang ngủ, tức khắc có tiếng kêu đau, và người mẫn cảm sẽ nhanh chóng đưa tay đến đúng bộ phận cơ thể dường như đang thông ứng bằng hào quang với [42] điểm bị châm trong không gian. Cả hai người mẫn cảm đều bị dìm vào giấc ngủ thôi miên, và người này có thể chỉ chính xác nơi mà thể đôi của người kia, đã phóng chiếu khỏi thân, đang ở, và Đại tá, bằng cách véo hoặc châm đúng điểm ấy, sẽ gây nên một phản ứng phản xạ trên thân xác. Điều này gợi cho tôi một thí nghiệm. Đại tá đã chứng minh sự tê liệt của các dây thần kinh khứu giác bằng cách đưa lên mũi người đang ngủ một lọ amoniac đậm đặc đã mở nút. Tôi đưa ông ra ngoài phòng và, sau khi đóng cửa, đề nghị ông thử thí nghiệm đưa chất cay nồng ấy đến đúng điểm trong không gian nơi nữ thông nhãn kia nói rằng mũi của chủ thể đang thí nghiệm, hay đúng hơn là của thể đôi nàng, đang ở. Nếu ông có thể khiến nàng thực hiện động tác hít vào, có thể chúng ta sẽ thấy có một phản ứng trên các dây thần kinh khứu giác của thể xác, điều này sẽ là một bằng chứng mới và thú vị cho việc phóng chiếu thể đôi. Ông nói ý tưởng ấy thật tuyệt, trở vào phòng và tiến hành thí nghiệm, và, làm chúng tôi hài lòng và mọi người có mặt đều ngạc nhiên, nó đã hoàn toàn thành công.
At that time there happened to be in Paris the Hon. Alexander Aksakof, State Councillor of H. M. the Emperor of Russia, whose name is known throughout the whole world of psychical research as one of the ablest and most honorable of investigators [43] and advocates of Modern Spiritualism. My Eddy book, People from the Other World, which appeared first with illustrations in the N. Y. Daily Graphic, attracted his attention to such an extent that he paid H.P.B. to translate it into Russian for him to bring out. This transaction led to a friendly correspondence between us, but I had never met him personally until now during my Paris visit. I found him rather unfriendly to my dear colleague, so I profited by the opportunity to use my best endeavors to remove from his mind some impressions which I felt sure were entirely unjust. For many years M. Aksakof edited and published (in Germany, for he could not bring it out in Russia) the extensively circulated magazine, Psychiche Studien, and was the author of several books, almost the latest of which was one, Partial Dematerialisation of a Medium, an account by eye-witnesses of a wonderful phenomenon that occurred at Helsingfors, to Mrs. D’Esperance, the medium. If the reader can get the chance to go through it, it will be well worth his while, for the phenomenon described was one of the most astonishing, from the scientific point of view, in the history of spiritualistic wonders. Mrs. D’Esperance, seated on a chair in front of a screen, in a lighted room and in the presence of several reputable witnesses, suddenly found that her lower limbs had been completely dematerialised from the hips downward, [44] and her dress hung over the front edge of the chair-seat. This was the first intimation she had had of any change in her physical condition, although she was in possession of her full consciousness and the room was well lighted. Her fright lest she should have been crippled for life was perfectly natural, as was that of the company present, who were allowed to approach and satisfy themselves of the fact of the dissolution of the limbs. Before she had time to provoke a catastrophe by giving way to the impulse of terror, the limbs were restored to their normal condition and she was able to spring to her feet and walk about. M. Aksakof, in describing the séance, cites the account given in my Eddy book of the entire dissolution of the body of Mrs. Compton, an American medium, which, I believe, had been the first phenomenon of the kind on record; though as for this I will not venture to be positive.
Vào lúc đó tình cờ ở Paris có Ngài Alexander Aksakof, Ủy viên Nhà nước của Hoàng đế Nga, người mà tên tuổi được biết khắp thế giới nghiên cứu hiện tượng tâm linh như một trong những nhà khảo cứu tài giỏi và khả kính nhất cũng như là người biện hộ cho trào lưu Thần linh học Hiện đại. [43] Cuốn sách của tôi về nhà Eddy, People from the Other World, lần đầu xuất hiện kèm minh hoạ trên tờ N. Y. Daily Graphic, đã thu hút sự chú ý của ông đến độ ông trả tiền cho H.P.B. dịch nó sang tiếng Nga để ông xuất bản. Việc này dẫn đến một tình bằng hữu thư từ giữa chúng tôi, nhưng tôi chưa gặp ông trực tiếp cho đến bây giờ, trong chuyến thăm Paris này. Tôi thấy ông khá thiếu thiện cảm với người đồng nghiệp thân mến của tôi, nên tôi nhân cơ hội ấy cố gắng hết sức để gỡ bỏ khỏi tâm trí ông một số ấn tượng mà tôi tin chắc là hoàn toàn bất công. Trong nhiều năm, ông Aksakof biên tập và xuất bản (tại Đức, vì ông không thể xuất bản ở Nga) tạp chí lưu hành rộng rãi Psychiche Studien, và là tác giả của vài cuốn sách, gần đây nhất trong số đó là một cuốn, Partial Dematerialisation of a Medium, một tường thuật do các nhân chứng mắt thấy về một hiện tượng kỳ diệu xảy ra tại Helsingfors với bà D’Esperance, nhà đồng tử. Nếu độc giả có cơ hội đọc qua, ắt sẽ rất đáng công, vì hiện tượng được mô tả là một trong những điều gây kinh ngạc nhất, xét từ quan điểm khoa học, trong lịch sử các kỳ tích thần linh học. Bà D’Esperance, ngồi trên ghế trước một tấm bình phong, trong một căn phòng có ánh sáng và trước sự hiện diện của vài nhân chứng có uy tín, bỗng phát hiện đôi chân mình đã hoàn toàn bị phi vật chất hoá từ hông trở xuống, [44] và chiếc váy của bà thõng xuống mép trước của mặt ghế. Đây là dấu hiệu đầu tiên bà biết có bất kỳ thay đổi nào trong tình trạng thể chất của mình, dù bà hoàn toàn tỉnh táo và căn phòng sáng sủa. Nỗi kinh hãi của bà vì sợ mình tàn phế suốt đời là điều hoàn toàn tự nhiên, cũng như nỗi hãi hùng của những người có mặt, những người được phép tiến lại gần và tự mình xác nhận sự thật về sự tan rã của các chi. Trước khi bà kịp gây ra một tai hoạ bằng cách buông thả theo cơn kinh hoàng, đôi chân đã được phục hồi về tình trạng bình thường và bà có thể bật dậy và đi lại. Ông Aksakof, khi mô tả buổi gọi hồn, có dẫn lại tường thuật trong sách của tôi về nhà Eddy liên quan đến sự tan rã hoàn toàn của thân thể bà Compton, một nhà đồng tử người Mỹ, mà, theo tôi tin, là hiện tượng đầu tiên thuộc loại này được ghi nhận; tuy nhiên, về điểm này, tôi không dám quả quyết.
On the same day I met Père Bernard, the Dominican Friar of whom I have spoken elsewhere, and in the afternoon called again at M. Menant’s where I met M. Blanc, the Central Asian explorer, and a very long and interesting discussion ensued between us two and our venerable host.
Cùng ngày hôm đó, tôi gặp Cha Bernard, vị tu sĩ Dòng Đa Minh mà tôi đã nói đến nơi khác, và buổi chiều tôi lại đến nhà ông Menant, nơi tôi gặp ông Blanc, nhà thám hiểm Trung Á, và giữa chúng tôi hai người và vị chủ nhà lão thành đã diễn ra một cuộc thảo luận rất dài và thú vị.
Among my numerous visitors on the following day was M. Aksakof, and I spent the afternoon most agreeably with M. Blanc. He took me to the Musée Guimet to show me some Parsi bronzes that [45] he had found when excavating in Bactria, and I also saw the very fine collection of life-size and correctly-dressed Parsi figures which had been given to the Musée by Mlle. Menant, than whom the Parsis have no more enthusiastic friend. On the 30th I bade good-bye to Dr. Baraduc, wrote letters, and listened to a debate in the Corps Legislatif in which our Theosophical colleague spoke on a Revenue Bill. This was my first experience in that historical Chamber, and I naturally made a mental comparison between the debate and what I had seen in our American legislative bodies. Things went on rather tamely, but now and again there was an outbreak of excitement showing what the Chamber might be when roused. I dined with the Rev. Dr. Mills that evening, and enjoyed myself much in talking about our common Alma Mater and the various people we knew. The next day I crossed over to London and found at the station to meet me, Leadbeater, Mead, Dr. Hübbe, Keightley and others. Keightley took me to his house and I had the agreeable opportunity of paying my respects to the venerable mother to whose heart he is as dear as the apple of her eye.
Trong số các vị khách đến thăm tôi ngày hôm sau có ông Aksakof, và tôi đã có một buổi chiều rất thú vị với ông Blanc. Ông đưa tôi đến Bảo tàng Guimet để cho tôi xem vài món đồ đồng Parsi [45] mà ông đã tìm thấy khi khai quật ở Bactria, và tôi cũng được thấy bộ sưu tập rất đẹp gồm các tượng Parsi kích thước thật, y phục chuẩn xác mà cô Mlle. Menant đã tặng cho Bảo tàng—không ai nhiệt thành với người Parsi hơn cô. Ngày 30, tôi từ giã Bác sĩ Baraduc, viết thư, và dự một cuộc tranh luận tại Corps Legislatif, nơi người đồng môn Thông Thiên Học của chúng ta phát biểu về một Dự luật Thuế. Đây là lần đầu tôi trải nghiệm ở Phòng họp lịch sử ấy, và tự nhiên tôi so sánh trong tâm trí giữa cuộc tranh luận này và những gì tôi từng thấy trong các cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ. Mọi việc diễn ra khá êm, nhưng đôi khi lại có những đợt bùng nổ phấn khích cho thấy Phòng họp có thể trở nên như thế nào khi bị khơi dậy. Tối hôm ấy tôi dùng cơm với Mục sư, Bác sĩ Mills, và rất thích thú khi trò chuyện về ngôi trường cũ chung của chúng tôi và các bậc quen biết. Hôm sau, tôi sang London và tại ga có Leadbeater, Mead, Bác sĩ Hübbe, Keightley và những người khác ra đón. Keightley đưa tôi về nhà ông và tôi có dịp vui mừng bày tỏ kính trọng với thân mẫu lão niên mà ông quý như con ngươi của mắt bà.
CHAPTER IV—CHƯƠNG IV
REVISION OF T. S. RULES—DUYỆT LẠI CÁC QUY LUẬT CỦA HỘI T.S.
THE next evening I presided at the Blavatsky Lodge where Mrs. Besant gave a superb lecture on “Evolution as Seen by Occultists”. There was a reception given at our headquarters on Friday; the 3rd (July), to delegates who had come to the Convention. The Convention met the next morning and everything passed off quietly, my Address being delivered and the Agenda being all disposed of. A tricky letter from the Judge party was handed in but, seeing that it was but a thinly-veiled repetition of the attempt to put us in a false position, I simply laid it upon the table. In the evening there was a public meeting at Queen’s Hall at which addresses were made by Messrs. Mead and Keightley, Mrs. Besant and myself. The Convention finished its business the next day, after suggesting certain revisions of the T.S. Rules. There was a garden-party at Headquarters on the afternoon of the 6th, and on the 8th I went with Mr. and Mrs. A. J. Faulding, whose guest I had now become, to a meeting of the [47] London Lodge, at Mr. Sinnett’s house, at which he lectured on the subject of “Alchemy,” showing us that there was a great deal more in the teachings and writings of the Alchemists than a mere search after the gold-making mystery. After the meeting he took us into his laboratory and showed us, in many cases for the first time, experiments with the Röntgen Rays.
Tối hôm sau, tôi chủ tọa tại Blavatsky Lodge nơi Bà Besant diễn một bài thuyết giảng tuyệt vời về “Tiến hoá như được nhìn bởi các nhà huyền bí học”. Có một buổi tiếp tân tại Trụ sở của chúng tôi vào Thứ Sáu; ngày mồng 3 (tháng Bảy), dành cho các đại biểu đến dự Đại hội. Đại hội nhóm họp sáng hôm sau và mọi việc diễn ra êm thấm, Bài Diễn văn của tôi được trình bày và toàn bộ Chương trình nghị sự được giải quyết. Một bức thư tinh ranh từ phe Judge được gửi vào, nhưng thấy rằng đó chỉ là nỗ lực lặp lại, che đậy sơ sài, nhằm đặt chúng tôi vào thế bất lợi, tôi chỉ đơn giản đặt nó lên bàn. Tối hôm ấy có một buổi họp công cộng tại Queen’s Hall nơi có bài diễn thuyết của các ông Mead và Keightley, Bà Besant và tôi. Đại hội kết thúc công việc của mình vào ngày hôm sau, sau khi đề xuất vài sửa đổi đối với Quy luật của Hội T.S. Chiều ngày 6 có một buổi dạ yến ngoài vườn tại Trụ sở, và ngày 8 tôi cùng ông bà A. J. Faulding, mà giờ đây tôi là khách của họ, đến dự một buổi họp của [47] London Lodge, tại nhà ông Sinnett, nơi ông thuyết giảng về đề tài “Thuật luyện kim”, cho thấy trong giáo lý và trước tác của các Nhà luyện kim có nhiều điều vượt xa việc truy cầu bí mật luyện vàng. Sau buổi họp, ông đưa chúng tôi vào phòng thí nghiệm và trình bày, trong nhiều trường hợp là lần đầu, các thí nghiệm với tia Röntgen.
A General Council meeting was held on the 9th at which the various suggestions from Sections, Branches, and individuals for a revision of the Society’s Rules were patiently examined and carefully considered in the light of their bearing on the peculiar circumstances of the whole Society. When several amendments touched the same clause, the various improvements were incorporated in the form finally adopted. Only one important recommendation was rejected—that of removing the President and Vice-President of the Society for cause shown. On mature consideration, and in view of the circumstances attending the Judge secession, it was decided that no Rule could be of use if such an emergency arose. If a majority, or even a strong minority, desired to dispossess one of these officers, while he retained the confidence of a large number of members, a split in the Society would result, let the Rule be what it might. It was therefore thought better to leave the Society free, under [48] the powers vested in the General Council, to deal with any serious case if unfavorable circumstances should arise. At the meeting in question the following members were present, viz., the President, the Vice-President, the General Secretaries of the European and Indian Sections, Mr. C. W. Leadbeater, as proxy (under specific instructions) for the General Secretary of the Scandinavian Section, and Mrs. Besant as proxy for the General Secretary of the American Section. The Australasian Section’s views were represented in the official Report of the General Secretary, and the New Zealand Section had been so recently chartered that it had not had time to submit its wishes for the consideration of the General Council. In publishing, for the information of the members of the Society, the text of the revised Rules, in an Executive Notice of date, London, 9th July, 18961 I made the following explanatory remarks:
Một phiên họp của Hội đồng Tổng được tổ chức vào ngày 9, trong đó các đề nghị khác nhau từ các Miền, Chi bộ và cá nhân về việc duyệt lại Quy luật của Hội được kiên nhẫn xem xét và cân nhắc cẩn trọng xét theo tác động của chúng đối với hoàn cảnh đặc thù của toàn Hội. Khi có nhiều tu chính đụng đến cùng một điều khoản, thì các điểm cải tiến được kết hợp vào hình thức sau cùng được thông qua. Chỉ có một kiến nghị quan trọng bị bác—đó là việc bãi nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch của Hội vì lý do được nêu. Sau khi cân nhắc chín chắn, và xét bối cảnh liên quan đến vụ ly khai của Judge, đã quyết định rằng không Quy luật nào có ích nếu có tình huống như thế xảy ra. Nếu một đa số, hoặc thậm chí một thiểu số mạnh, muốn tước chức một trong các chức viên này, trong khi ông ấy vẫn được một số đông hội viên tín nhiệm, thì kết quả sẽ là sự chia rẽ trong Hội, bất kể Quy luật ra sao. Bởi vậy, người ta nghĩ là tốt hơn nên để Hội được tự do, theo [48] thẩm quyền được ký thác cho Hội đồng Tổng, để xử lý bất kỳ trường hợp nghiêm trọng nào nếu hoàn cảnh bất lợi phát sinh. Tại phiên họp nói trên có mặt các thành viên sau đây, gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký của các Miền châu Âu và Ấn Độ, Ông C. W. Leadbeater là người được ủy quyền (theo chỉ thị cụ thể) đại diện cho Tổng Thư ký của Miền Scandinavia, và Bà Besant là người được ủy quyền đại diện cho Tổng Thư ký của Miền Hoa Kỳ. Quan điểm của Miền Úc-Á được trình bày trong Báo cáo chính thức của Tổng Thư ký, và Miền Tân Tây Lan mới được lập hiến nên chưa có thời gian đệ trình mong muốn của mình để Hội đồng Tổng xem xét. Khi công bố, để thông tin cho hội viên Hội, toàn văn Quy luật đã sửa đổi, trong một Thông báo Hành chính đề ngày London, 9 tháng Bảy, 18961, tôi đã có những lời minh giải sau:
“The undersigned takes this opportunity of correcting the mistaken idea, which prevails in some
“Người ký tên dưới đây nhân dịp này đính chính một quan niệm sai lầm vốn đang lưu hành ở một số
RULES OF THE THEOSOPHICAL SOCIETY
QUY LUẬT CỦA HỘI THÔNG THIÊN HỌC
As Revised in General Council, July 9, 1896
Như đã Duyệt lại trong Hội đồng Tổng, ngày 9 tháng Bảy, 1896
CONSTITUTION
ĐIỀU LỆ
1. The title of this Society, which was formed at New York, United States of America, on the 17th of November, 1875, is the “Theosophical Society” [49] quarters, that the T.S. Rules and the wording of its “Declared Objects” are substantially what they
Danh xưng của Hội này, được thành lập tại New York, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ngày 17 tháng Mười Một, 1875, là “Theosophical Society” [49] nơi, cho rằng Quy luật của Hội T.S. và cách diễn đạt “Tuyên ngôn Mục đích” của Hội về căn bản là những gì chúng
2. The objects of the Theosophical Society are: I. To form a nucleus of the Universal Brotherhood of Humanity, without distinction of race, creed, sex, caste or colour.
Các mục đích của Hội Thông Thiên Học là: I. Hình thành một hạch tâm của Tình Huynh đệ Phổ quát của Nhân loại, không phân biệt chủng tộc, tín điều, giới tính, giai cấp hay màu da.
II. To encourage study of comparative religion, philosophy and science.
II. Khuyến khích việc học tập so sánh tôn giáo, triết học và khoa học.
III. To investigate unexplained laws of Nature and the powers latent in man.
III. Điều tra các định luật chưa giải minh của Tự nhiên và các năng lực tiềm tàng trong con người.
3. The Theosophical Society has no concern with politics, caste rules, and social observances. It is unsectarian, and demands no assent to any formula of belief as a qualification of membership.
Hội Thông Thiên Học không can dự chính trị, quy củ giai cấp và tập tục xã hội. Hội phi giáo phái, và không đòi hỏi sự tán đồng bất kỳ công thức tín niệm nào như một điều kiện để gia nhập.
MEMBERSHIP
TƯ CÁCH HỘI VIÊN
4. Every application for membership must be made on an authorized form, and must be endorsed by two members of the Society and signed by the applicant; but no person under age shall be admitted without the consent of their guardians.
Mọi đơn xin gia nhập phải làm theo mẫu được ủy quyền, phải do hai hội viên của Hội bảo trợ và do chính người xin ký tên; nhưng không ai ở tuổi vị thành niên được kết nạp nếu không có sự đồng ý của người giám hộ.
5. Admission to membership may be obtained through the President of a Branch, the General Secretary of a Section, or the Recording Secretary; and a certificate of membership shall be issued to the member, bearing the signature of the President-Founder and the seal of the Society, and countersigned by either the General Secretary of the Section or the Recording Secretary of the T.S., according as the applicant resides within a sectionalized or non-sectionalized territory.
Việc kết nạp có thể thực hiện qua Chủ tịch của một Chi bộ, Tổng Thư ký của một Miền, hoặc Thư ký Ghi chép; và một Chứng thư hội viên sẽ được cấp cho hội viên, mang chữ ký của Chủ tịch-Sáng lập và ấn triện của Hội, và do Tổng Thư ký của Miền hoặc Thư ký Ghi chép của Hội T.S. đồng ký, tùy theo người xin cư trú trong lãnh thổ đã lập miền hay chưa lập miền.
OFFICERS
CÁC CHỨC VIỆC
6. The Society shall have a President, a Vice-President, a Recording Secretary, and a Treasurer.
Hội sẽ có một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch, một Thư ký Ghi chép và một Thủ quỹ.
7. The President-Founder, Colonel H. S. Olcott, holds the office of President of the Theosophical Society for life, and has the right of nominating his successor, subject to the ratification of the Society.
Chủ tịch-Sáng lập, Đại tá H. S. Olcott, giữ chức Chủ tịch Hội Thông Thiên Học trọn đời, và có quyền chỉ định người kế nhiệm, với điều kiện phải được Hội phê chuẩn.
8. The term of the presidency is seven years (subject to the exception named in Rule 7).
Nhiệm kỳ Chủ tịch là bảy năm (với ngoại lệ được nêu tại Quy luật 7).
9. The President shall nominate the Vice-President subject to election by the Society. The Vice-President’s term of office shall expire upon the election of a new President.
Chủ tịch sẽ chỉ định Phó Chủ tịch với điều kiện được Hội bầu. Nhiệm kỳ của Phó Chủ tịch sẽ chấm dứt khi một Chủ tịch mới được bầu.
10. The appointments to the offices of the Recording Secretary and the Treasurer shall be vested in the President.
Việc bổ nhiệm vào các chức vụ Thư ký Ghi chép và Thủ quỹ thuộc thẩm quyền của Chủ tịch.
[50] have been from the commencement and therefore entitled to some special immunity from change. So
[50] đã có từ thuở đầu và do đó được miễn đổi thay. Sự thực thì
11. The President shall be the custodian of all the archives and records of the Society, and shall be one of the Trustees and administrators for property of all kinds, of which the Society as a whole is possessed.
Chủ tịch sẽ là người lưu giữ toàn bộ văn khố và hồ sơ của Hội, và sẽ là một trong các Uỷ thác viên và quản trị viên đối với mọi tài sản các loại mà Hội nói chung sở hữu.
12. The President shall have the power to make provisional appointments to fill all vacancies that occur in the offices of the Society, and shall have discretionary powers in all matters not specifically provided for in these Rules.
Chủ tịch có quyền bổ nhiệm tạm thời để lấp các chỗ trống xảy ra trong các chức vụ của Hội, và có quyền tùy nghi trong mọi vấn đề không được quy định cụ thể trong các Quy luật này.
13. On the death or resignation of the President, the Vice-President shall perform the presidential duties until a successor takes office.
Khi Chủ tịch qua đời hay từ nhiệm, Phó Chủ tịch sẽ thi hành các nhiệm vụ của Chủ tịch cho đến khi người kế nhiệm nhận chức.
ORGANIZATlON
TỔ CHỨC
14. Any seven members may apply to be chartered as a Branch, the application to be forwarded to the President through the Secretary of the nearest Section.
Bất kỳ bảy hội viên nào cũng có thể xin được chuẩn y thành một Chi bộ, đơn xin được gửi tới Chủ tịch qua Thư ký của Miền gần nhất.
15. The President shall have authority to grant or refuse applications for charters, which, if issued, must bear his signature and the seal of the Society, and be recorded at the Headquarters of the Society.
Chủ tịch có quyền chuẩn y hay từ chối các đơn xin hiến chương, và nếu cấp, các hiến chương ấy phải mang chữ ký của ông và ấn triện của Hội, và được ghi nhận tại Trụ sở của Hội.
16. A Section may be formed by the President of the Society, upon the application of seven or more chartered Branches.
Một Miền có thể được thành lập bởi Chủ tịch của Hội, theo đơn xin của bảy hoặc nhiều hơn bảy Chi bộ đã được chuẩn y.
17. All Charters of Sections or Branches, and all certificates of membership, derive their authority from the President, and may be cancelled by the same authority.
Mọi Hiến chương của các Miền hay Chi bộ, và mọi Chứng thư hội viên, đều nhận quyền uy từ Chủ tịch, và có thể bị hủy bỏ bởi cùng thẩm quyền đó.
18. Each Branch and Section shall have the power of making its own Rules, provided they do not conflict with the general rules of the Society, and the Rules shall become valid unless their confirmation be refused by the President.
Mỗi Chi bộ và Miền có quyền ban hành Quy chế riêng, miễn là không xung đột với Quy luật chung của Hội, và các Quy chế ấy sẽ có hiệu lực trừ khi bị Chủ tịch bác bỏ.
19. Every Section must appoint a General Secretary who shall be the channel of communication between the President and the Section.
Mỗi Miền phải bổ nhiệm một Tổng Thư ký, người sẽ là kênh thông tin giữa Chủ tịch và Miền.
20. The General Secretary of each Section shall forward to the President, annually not later than the 1st day of November, a report of the work of his Section up to that date, and at any time furnish any further information the President may desire.
Tổng Thư ký của mỗi Miền sẽ gửi cho Chủ tịch, hàng năm không muộn hơn ngày mồng 1 tháng Mười Một, một báo cáo về công việc của Miền tính đến ngày ấy, và bất kỳ lúc nào cung cấp thêm thông tin mà Chủ tịch yêu cầu.
ADMINISTRATION
QUẢN TRỊ
21. The General control and administration of the Society is vested in a General Council, consisting of the President, VicePresident and the General Secretaries.
Quyền kiểm soát và quản trị chung của Hội được ký thác cho một Hội đồng Tổng, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Tổng Thư ký.
[51] far is this from true, that the objects have been re-stated and the Rules altered several times, as the
[51] xa sự thật đến mức, đến nỗi các mục đích đã được diễn đạt lại và các Quy luật đã được thay đổi nhiều lần, khi mà
22. No person can hold two offices in the General Council.
Không ai được kiêm nhiệm hai chức vụ trong Hội đồng Tổng.
ELECTION OF PRESIDENT
BẦU CHỦ TỊCH
23. Six months before the expiration of a President’s term of office his successor shall be nominated by the General Council, and the nomination shall be sent out by the Vice-President to the General Secretaries and Recording Secretary. Each General Secretary shall take the votes of his Section according to its rules, and the Recording Secretary shall take those of the remaining members of the Society. A majority of two-thirds on the recorded votes shall be necessary for election.
Sáu tháng trước khi nhiệm kỳ của một Chủ tịch mãn hạn, người kế nhiệm sẽ được Hội đồng Tổng đề cử, và việc đề cử sẽ do Phó Chủ tịch gửi đến các Tổng Thư ký và Thư ký Ghi chép. Mỗi Tổng Thư ký sẽ lấy phiếu của Miền mình theo Quy chế của Miền, và Thư ký Ghi chép sẽ lấy phiếu của các hội viên còn lại của Hội. Cần đa số hai phần ba số phiếu ghi nhận để đắc cử.
HEADQUARTERS
TRỤ SỞ
24. The Headquarters of the Society are established at Adyar, Madras, India.
Trụ sở của Hội đặt tại Adyar, Madras, Ấn Độ.
25. The Headquarters and all other property of the Society, including the Adyar Library, the permanent and other Funds, are vested in the Trustees, for the time being, of the Theosophical Society, appointed or acting under a Deed of Trust, dated the 14th day of December, 1892, and recorded in the Chingleput District Office, Madras, India.
Trụ sở và mọi tài sản khác của Hội, gồm Thư viện Adyar, các Quỹ thường xuyên và các Quỹ khác, được ký thác cho các Uỷ thác viên, trong nhiệm kỳ của mình, của Hội Thông Thiên Học, được bổ nhiệm hoặc hành động theo một Văn khế Uỷ thác, đề ngày 14 tháng Mười Hai, 1892, và được đăng ký tại Văn phòng Quận Chingleput, Madras, Ấn Độ.
26. FINANCE
TÀI CHÍNH
27. The fees payable to the General Treasury by Branches not comprised within the limits of any Section are as follow: For Charter £1: for each certificate of Membership 5s.; for the Annual Subscription of each member, 5s.; or equivalents.
Các lệ phí phải nộp vào Tổng Quỹ bởi các Chi bộ không thuộc phạm vi bất kỳ Miền nào như sau: Cho một Hiến chương £1; cho mỗi Chứng thư hội viên 5s.; cho Niên liễm của mỗi hội viên, 5s.; hoặc khoản tương đương.
28. Unattached Members not belonging to any Section or Branch shall pay the usual 5s. Entrance Fee and an annual Subscription of £1 to the General Treasury.
Các Hội viên không trực thuộc, không thuộc bất kỳ Miền hay Chi bộ nào, sẽ nộp Lệ phí gia nhập thường lệ 5s. và Niên liễm £1 vào Tổng Quỹ.
29. Each Section shall pay into the General Treasury one-fourth of the total amount received by it from annual dues and entrance fees.
Mỗi Miền sẽ nộp vào Tổng Quỹ một phần tư tổng số nhận được từ niên liễm và lệ phí gia nhập.
30. The Treasurer’s accounts shall be yearly certified as correct, by qualified auditors appointed by the President.
Sổ sách của Thủ quỹ sẽ hàng năm được chứng nhận là đúng bởi các kiểm toán viên đủ tư cách do Chủ tịch bổ nhiệm.
31. MEETINGS
HỌP HÀNH
32. The Annual General Meeting of the Society shall be held at Adyar and Benares alternately, in the month of December. [52] growth of the Society and its altered conditions rendered the same necessary. The version now adopted is, apparently, the best and most comprehensive that we have had for years, and in the expression of the Objects, the line traced out in the minds of the Founders is strictly followed. The form given to the second Object has been adopted to meet an almost general view that all religions, etc., deserve study, as being based on the same general principles. In this, in her Isis Unveiled Madame Blavatsky led the way, which is now traced out for all future students of Theosophy and sympathisers with our work.”
Đại hội Thường niên của Hội sẽ được tổ chức luân phiên tại Adyar và Benares, vào tháng Mười Hai. [52] sự lớn mạnh của Hội và những điều kiện thay đổi khiến cho việc ấy trở nên cần thiết. Bản văn nay được chấp thuận, hiển nhiên, là tốt và bao quát nhất mà chúng ta có trong nhiều năm qua, và trong cách diễn đạt các Mục đích, đường hướng vạch ra trong tư tưởng của các Đấng Sáng lập được theo sát. Hình thức dành cho Mục đích thứ hai được chấp thuận nhằm đáp ứng một quan điểm gần như phổ biến rằng mọi tôn giáo, v.v., đều xứng đáng được khảo cứu, vì chúng dựa trên cùng những nguyên tắc tổng quát. Về điều này, trong tác phẩm Isis Unveiled, Bà Blavatsky đã đi tiên phong, và giờ đây con đường ấy được vạch ra cho hết thảy những đạo sinh của Thông Thiên Học và những ai cảm thông với công cuộc của chúng ta.”
33. In practical working these Rules have proved to be good and no important modifications have been found necessary. In some minor matters the President-Founder has used the “discretionary powers in all matters not specifically provided for in these Rules,” and in a few instances the votes
Trong hoạt động thực tiễn, các Quy luật này tỏ ra hữu hiệu và không thấy cần sửa đổi gì quan trọng. Ở một vài điểm nhỏ, Chủ tịch-Sáng lập đã sử dụng “quyền tùy nghi trong mọi vấn đề không được quy định cụ thể trong các Quy luật này”, và trong một vài trường hợp, các lá phiếu
34. The President sba1l also have the power to convene special meetings at discretion.
Chủ tịch cũng có quyền triệu tập các phiên họp đặc biệt theo tùy nghi.
REVISION
DUYỆT LẠI
35. The Rules of the Society remain in force until amended by the General Council.
Các Quy luật của Hội vẫn giữ hiệu lực cho đến khi được Hội đồng Tổng tu chỉnh.
Official.
Chính thức.
(True Copy)
(Bản sao đúng)
H.S.OLCOTT, P.T.S.
H.S. OLCOTT, P.T.S.
C. W. LEADBEATER.
C. W. LEADBEATER.
Secretary to the Meeting of Council.
Thư ký phiên họp của Hội đồng.
[53] of members of Council have been taken through the medium of circulars sent around to them from Headquarters. This, however, is a very dilatory process, the time required for collecting the votes being ordinarily as much as six months, and even at the present writing all the General Secretaries have not yet voted upon some questions propounded by the General Secretary of the French Section a year ago.
[53] của các thành viên Hội đồng đã được lấy thông qua việc gửi các tờ thăm dò quanh cho họ từ Trụ sở. Tuy nhiên, đây là một quá trình rất chậm, thời gian cần để thu thập phiếu thường mất chừng sáu tháng, và ngay tại thời điểm này, tất cả các Tổng Thư ký vẫn chưa bỏ phiếu về vài vấn đề do Tổng Thư ký của Miền Pháp nêu ra cách đây một năm.
The next few days were occupied with matters of minor importance, except that on the evening of the 9th, Swami Vivekananda lectured at the Blavatsky Lodge on the subject of “Bhakti,” and Mrs. Besant spoke at the same place on the evening of the 12th on “Karma”. It has always struck me as one of the most wonderful facts of our movement that the reading public of, we may say, the whole world, has been made acquainted with this profoundly important philosophical and ethical teaching. In my opinion it has done more to strengthen our movement and recommend it to thoughtful persons than anything else, for it is the enunciation of the grand truth that human experiences are the outcome of human actions, and that a law of universal and inflexible justice rules throughout the universe.
Vài ngày tiếp theo bận rộn với những việc kém quan trọng, ngoại trừ tối ngày 9, Swami Vivekananda thuyết giảng tại Blavatsky Lodge về đề tài “Bhakti,” và tối ngày 12 Bà Besant nói tại cùng nơi về “Nghiệp quả”. Tôi luôn thấy một trong những điều đáng kinh ngạc nhất của phong trào chúng ta là độc giả—ta có thể nói—trên khắp thế giới đã được làm quen với giáo lý triết học và đạo đức vô cùng hệ trọng này. Theo tôi, điều ấy đã làm được nhiều hơn cả để củng cố phong trào của chúng ta và khiến nó được giới suy tư trọng thị, vì đó là sự tuyên xướng chân lý vĩ đại rằng những trải nghiệm của con người là kết quả của những hành động của con người, và rằng một định luật công bằng phổ quát và bất di bất dịch cai quản khắp vũ trụ.
CHAPTER V—CHƯƠNG V
PARSI ARCHÆOLOGICAL RESEARCH—NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ CỦA PARSI
(1896)—(1896)
ON the 17th of the month (July) I presented the letter of Dr. Jivanji to Prof. W. M. Flinders Petrie of University College, together with a memorandum from myself summarizing the points which it was desirable that the Parsi community of Bombay should be informed upon. As my latest advices are to the effect that this idea of [will before long take a practical shape and these preliminary enquiries will then acquire some historical importance, I think it best to print the correspondence between the Secretary of the Parsi Panchayet, Prof. Flinders Petrie and myself. It is as follows:
NGÀY 17 trong tháng (Bảy) tôi đã trình thư của Bác sĩ Jivanji gửi Giáo sư W. M. Flinders Petrie của University College, kèm theo một bản ghi nhớ do chính tôi tóm lược những điểm mà cộng đồng Parsi ở Bombay mong được thông tin. Vì tin tức mới nhất của tôi cho thấy ý tưởng này sẽ sớm mang hình hài thực tiễn và những thăm dò sơ bộ này sẽ rồi mang ý nghĩa lịch sử, tôi nghĩ tốt nhất là in ra thư từ trao đổi giữa Thư ký Ban Chấp sự Parsi (Panchayet), Giáo sư Flinders Petrie và tôi. Như sau:
(From Ervad Jivanji J. Modi, to Prof.W. M. Flinders Petrie) [55]
(Từ Ervad Jivanji J. Modi, gửi Giáo sư W. M. Flinders Petrie) [55]
BOMBAY, 29th April, 1896.
BOMBAY, ngày 29 tháng Tư, 1896.
TO PROFESSOR FLINDERS PETRIE,
KÍNH GỬI GIÁO SƯ FLINDERS PETRIE,
University College, London.
University College, London.
SIR,
THƯA ÔNG,
You know that the regions of Central Asia were once either inhabited by the ancient Zoroastrians or were under their direct or indirect influence. So the Parsis or the modern Zoroastrians, being the descendents of those ancient Zoroastrians, take an interest in these regions. They would welcome any information obtained in these regions that would throw some light on their ancient literature and on the manners, customs and history of their ancient Fatherland of Iran.
Ông biết rằng các vùng Trung Á xưa kia hoặc được người Zoroastrian cổ đại cư trú, hoặc nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của họ. Vậy nên người Parsi, tức những người Zoroastrian hiện đại, là hậu duệ của các Zoroastrian cổ đại ấy, quan tâm đến các vùng này. Họ sẽ hoan nghênh bất kỳ thông tin nào thu thập được ở các vùng này có thể soi sáng văn hiến cổ của họ cũng như phong tục, tập quán và lịch sử của Tổ quốc xưa—Iran.
I was directed by the Trustees of the Parsi Panchayet to request the different Asiatic Societies of Europe to be good enough to bring the above-mentioned matter to the notice of their Oriental scholars travelling through, and taking interest in, Central Asia.
Tôi được các Uỷ viên của Parsi Panchayet chỉ thị đề nghị các Hội Á châu khác nhau ở châu Âu vui lòng đưa vấn đề nói trên đến sự lưu tâm của các học giả Đông phương đang du hành qua và quan tâm đến Trung Á.
Now I write this to you as a well-known Archæologist and organiser of exploration parties, to enlist your sympathy in the above matter. If you, or your brother explorers, scholars, or travellers, will in the course of your explorations pay some attention to the above matter, and will put yourself in literary communication in English with us, your [56] contributions on these subjects will be very gratefully received. The Trustees will be glad to patronise any publications in English treating of the researches in these regions from an Iranian point of view.
Nay tôi viết thư này cho Ông như một nhà khảo cổ học danh tiếng và là người tổ chức các đoàn thám hiểm, để kêu gọi cảm tình của Ông đối với vấn đề trên. Nếu Ông, hoặc các nhà thám hiểm, học giả hay du khách đồng nghiệp của Ông, trong quá trình thám hiểm, lưu tâm đôi chút đến vấn đề nói trên, và đặt mình trong liên hệ thư từ bằng tiếng Anh với chúng tôi, thì những [56] cống hiến của Ông về các chủ đề này sẽ được tri ân sâu sắc. Các Uỷ viên sẽ vui lòng bảo trợ bất kỳ ấn phẩm tiếng Anh nào trình bày các nghiên cứu ở những vùng ấy từ quan điểm Iran.
This will be kindly handed to you by Colonel Olcott, who takes a great interest in our religion and in the past and present history of our community. He is of opinion that there is still a good deal to be done in Central Asia in archæological and literary researches from our Iranian point of view. We shall be glad if you will kindly exchange your views with this good-hearted gentleman on the subject and make us any definite, practical suggestion.
Thư này sẽ được trao tận tay Ông bởi Đại tá Olcott, người rất quan tâm đến tôn giáo của chúng tôi và lịch sử xưa và nay của cộng đồng chúng tôi. Ông cho rằng vẫn còn rất nhiều điều phải làm ở Trung Á về các nghiên cứu khảo cổ và văn hiến, xét theo quan điểm Iran của chúng tôi. Chúng tôi sẽ rất vui nếu Ông vui lòng trao đổi quan điểm với vị quân tử tốt bụng này về đề tài ấy và đưa ra cho chúng tôi bất kỳ đề nghị cụ thể, thực tiễn nào.
Yours Faithfully,
Trân trọng,
ERVAD JIVANJI J. MODI.
ERVAD JIVANJI J. MODI.
(From H. S. Olcott, to the same)
(Từ H. S. Olcott, gửi cùng địa chỉ)
Memorandum—
Bản ghi nhớ—
The Secretary of the Parsi Central Committee (Panchayet) of Bombay wants practical advice as to what can be done—
Thư ký của Ủy ban Trung ương Parsi (Panchayet) ở Bombay mong được lời khuyên thực tiễn về việc có thể làm gì—
(a) Towards proving the antiquity of the Zoroastrian religion;
Để chứng minh tính cổ xưa của tôn giáo Zoroastrian;
(b) Its relationship with other religions;
Mối liên hệ của nó với các tôn giáo khác;
(c) Recovering any fragments of its lost Scriptures.
Thu hồi bất kỳ mảnh vụn nào của Kinh điển đã thất lạc.
(d) Presumably, the only available methods are:—
Suy đoán rằng, những phương pháp khả dụng duy nhất là:—
1. Excavations. [57]
1. Khai quật. [57]
2. Search in old libraries of Oriental countries.
2. Tìm kiếm trong các thư viện cổ của các nước phương Đông.
3. Search in Western libraries. Professor Flinders Petrie is respectfully asked—
3. Tìm kiếm trong các thư viện phương Tây. Kính đề nghị Giáo sư Flinders Petrie—
I. To indicate where excavations should begin.
I. Chỉ ra nơi nên bắt đầu khai quật.
II. Whether he can say in which countries and libraries search should be begun.
II. Cho biết nên khởi sự tìm kiếm ở nước nào và thư viện nào.
III. Whether he has reason to believe that such search would be fruitful.
III. Có lý do để tin rằng việc tìm kiếm như vậy sẽ có kết quả hay không.
IV. If he will kindly say what sums should be annually provided for each of the two departments of research.
IV. Vui lòng cho biết nên dự trù hằng năm bao nhiêu cho mỗi trong hai phân ban nghiên cứu.
V. Whether he can recommend any pupil of his own whom he thinks conspicuously competent to take charge of either the one or the other of the departments of research.
V. Có thể giới thiệu môn sinh nào của chính Ông mà Ông cho là nổi bật về năng lực để đảm nhận một trong hai phân ban nghiên cứu hay không.
VI. What salary such person would expect. Professor Petrie’s own
VI. Mức đãi ngộ mà người ấy có thể trông đợi. Kinh nghiệm của Giáo sư Petrie tại Ai Cập
Egyptian experience fits him admirably to give the required information, and his help will be highly valued by the Secretary of the Panchayet and his Colleagues.
rất thích hợp để cung cấp thông tin cần thiết, và sự trợ giúp của Ông sẽ được Thư ký của Panchayet và các Đồng sự trân trọng cao độ.
H. S. OLCOTT.
H. S. OLCOTT.
LONDON, 15th July, 1896.
LONDON, ngày 15 tháng Bảy, 1896.
(From Professor W. M. Flinders Petrie, to
(Từ Giáo sư W. M. Flinders Petrie, gửi
H. S. Olcott) [58] UNIVERSITY COLLEGE,
H. S. Olcott) [58] UNIVERSITY COLLEGE,
LONDON, 25th, July 1896. DEAR SIR, In reply to your request for the practical details of what seems most promising for research in early Persia, I would say—
LONDON, 25 tháng Bảy, 1896. THƯA ÔNG, Đáp lại đề nghị của Ông về các chi tiết thực tiễn của những gì có vẻ hứa hẹn nhất cho nghiên cứu ở thời kỳ sơ kỳ Ba Tư, tôi xin nói—
1. Excavation is certain to yield results in any country which held a great civilization, if properly carried out.
1. Khai quật chắc chắn sẽ đem lại kết quả ở bất kỳ quốc gia nào từng có một nền văn minh lớn, nếu được tiến hành đúng đắn.
2. The cost of the whole work of one explorer might be reasonably put at about £1,000 a year. Everything included, £ 1,500, should be plenty. More than this cannot be spent by one man, with proper supervision.
2. Chi phí toàn bộ công tác cho một nhà thám hiểm có thể ước lượng hợp lý khoảng £1.000 một năm. Tính tất cả mọi thứ, £1.500 cũng là dư dả. Hơn mức này thì một người không thể tiêu dùng có giám sát đúng mức.
3. The localities I can say nothing about, they should be best settled by a preliminary study of Persian history and a visit to the country working on other excavations. The general considerations are to avoid places which have been occupied in late times, and to trust to extensive clearance in suitable sites. Three-fourths of my best results come from wide clearances, and not from following special clues.
3. Về địa điểm, tôi không thể nói gì, chúng nên được quyết định tốt nhất bằng một khảo cứu sơ bộ về lịch sử Ba Tư và một chuyến thăm đất nước để làm việc trên những cuộc khai quật khác. Nguyên tắc chung là tránh những nơi còn người ở vào thời muộn, và đặt niềm tin vào việc dọn quang diện rộng tại các địa điểm thích hợp. Ba phần tư những kết quả tốt nhất của tôi đến từ việc dọn quang diện rộng, chứ không phải từ việc lần theo những manh mối đặc biệt.
4. Whoever goes for such work should spend some months on practical excavations for antiquities first, so as to learn the methods and indications. I will gladly have such a student with me in Egypt.
4. Bất kỳ ai đi làm công việc như vậy đều nên dành vài tháng tham gia các cuộc khai quật cổ vật trên thực địa trước, để học các phương pháp và dấu hiệu. Tôi sẵn lòng nhận một môn sinh như thế đi cùng tôi ở Ai Cập.
The best practical course would be to get the Indian Government to move for permission from the Shah, [59] after the country has been examined, to send out a trained Englishman who knows the East, and is practised in excavating (one student of mine might be suitable), and might well be associated with some energetic young Parsi who was trained in literature and well known in the Indian community, and who should form a close link between Bombay and the work.
Cách thực tiễn tốt nhất là nhờ Chính phủ Ấn Độ vận động xin phép từ nhà Shah, [59] sau khi đất nước đã được khảo sát, để cử một người Anh đã được đào luyện, am tường phương Đông và có kinh nghiệm khai quật (một môn sinh của tôi có thể phù hợp), và có thể phối hợp với một thanh niên Parsi năng nổ, được đào luyện về văn hiến và quen biết rộng trong cộng đồng Ấn Độ, người sẽ tạo nên một mối liên kết chặt chẽ giữa Bombay và công cuộc ấy.
For the literary research one suitable person might be Professor Ross, who is just appointed as the best Persian scholar available for this College. He is young, active and fond of travelling; and is familiar with Persian, Arabic, Russian and with Oriental ways. He could not have leave long enough for excavation, but for literary work that can be done within a fixed time, he might do well. I do not know him personally, as he has not yet entered on his work here.
Đối với công trình nghiên cứu văn hiến, một người thích hợp có thể là Giáo sư Ross, người vừa được bổ nhiệm làm học giả Ba Tư xuất sắc nhất hiện có cho Trường này. Ông còn trẻ, năng động và thích du hành; lại thông thạo tiếng Ba Tư, Ả Rập, Nga và tập quán phương Đông. Ông không thể xin nghỉ đủ dài cho việc khai quật, nhưng đối với công việc văn hiến có thể hoàn thành trong một thời gian định trước, ông có thể làm tốt. Tôi không quen biết ông riêng, vì ông vẫn chưa bắt đầu công việc của mình tại đây.
Yours truly,
Trân trọng,
W. M. FLINDERS PETRIE.
W. M. FLINDERS PETRIE.
(From Professor W. M. Flinders Petrie, to the Secretary, Parsi Panchayet)
(Từ Giáo sư W. M. Flinders Petrie, gửi Thư ký, Parsi Panchayet)
UNIVERSITY COLLEGE, LONDON, 9th July, 1896.
UNIVERSITY COLLEGE, LONDON, 9 tháng 7, 1896.
SIR,
THƯA ÔNG,
I need hardly say how gladly I should do anything I could to forward research in the Iranian [60] regions; and what satisfaction it is to see the able descendents of so noble a race turning their attention to research in their history and origins.
Tôi hầu như không cần nói rằng tôi rất sẵn lòng làm mọi điều có thể để thúc đẩy nghiên cứu tại các vùng Iran [60]; và thật thỏa lòng khi thấy những hậu duệ tài năng của một chủng tộc cao quý như vậy đang hướng sự chú ý của họ vào việc nghiên cứu lịch sử và nguồn gốc của mình.
My own work, however, lies so entirely in Egypt, I see in that country so very much more than I can ever hope to explore, that it is hopeless for me to think of taking an active part in the work in other lands. There is however one line in which I might perhaps assist you. If you should ever intend to excavate any ancient sites of Persian cities, it would be a great pleasure to me to receive at my work in Egypt any students who may wish to undertake such work, and to give them such training in the methods of accurate research and record in excavation, as might increase the value and certainty of any exploration that they might undertake. Beyond this I fear that my good will is all that I can offer to such research.
Tuy nhiên, công việc của riêng tôi lại hoàn toàn nằm ở Ai Cập, và tại xứ sở đó tôi thấy quá nhiều điều mà tôi không bao giờ hy vọng mình có thể khảo sát hết được, đến nỗi nghĩ đến việc tham gia tích cực vào công việc ở các miền đất khác là điều vô vọng. Tuy thế vẫn có một hướng mà có lẽ tôi có thể hỗ trợ ông. Nếu ông có dự định khai quật bất kỳ di chỉ cổ xưa nào của các thành phố Ba Tư, thì tôi sẽ rất hân hạnh đón nhận tại công trường của tôi ở Ai Cập bất cứ môn sinh nào mong muốn đảm nhận công việc như vậy, và huấn luyện họ về các phương pháp nghiên cứu và ghi chép chính xác trong khai quật, hầu tăng giá trị và độ xác tín cho bất kỳ cuộc thám sát nào mà họ có thể tiến hành. Ngoài điều đó ra, tôi e rằng thiện chí của tôi là tất cả những gì có thể dâng hiến cho công cuộc nghiên cứu này.
Yours very truly,
Trân trọng kính chào,
W. M. FLINDERS PETRIE.
W. M. FLINDERS PETRIE.
On the day after my interview with Professor Flinders Petrie I went to the British Museum and handed over to Dr. Garnett one of those wonderful pictures of Buddha painted by a Japanese priest on single grains of raw rice, of which I have preserved three specimens for the Adyar Library. They are really great curiosities, for the paintings [61] are so minute that very few persons can see them without the help of a magnifying glass. The wonder is that my friend the Japanese priest painted them on the rice-grains with the naked eye, using a camel’s-hair pencil and Indian ink. One of the paintings that I kept has on it a picture of the Buddha with his two favorite disciples at his right and left hand, and in front of him a group of five disciples seated on the ground and listening to his discourse. Fancy all this clearly depicted on a single grain of rice and you may be ready to suggest a modification of Pope’s couplet:
Ngày hôm sau sau buổi gặp Giáo sư Flinders Petrie, tôi đến Bảo tàng Anh và trao cho Tiến sĩ Garnett một trong những bức tranh tuyệt diệu về Đức Phật do một vị tu sĩ Nhật Bản vẽ trên từng hạt gạo sống, trong đó tôi đã giữ lại ba mẫu để cho Thư viện Adyar. Chúng thực sự là những vật hiếm quý, vì các bức vẽ [61] nhỏ đến mức rất ít người có thể nhìn thấy nếu không có kính lúp. Điều kỳ lạ là người bạn tôi, vị tu sĩ Nhật ấy, đã vẽ chúng trên những hạt gạo bằng mắt thường, dùng bút lông lạc đà và mực Ấn Độ. Một trong những bức vẽ tôi giữ lại có hình Đức Phật với hai vị đệ tử yêu dấu ở bên hữu và bên tả, và trước mặt Ngài là một nhóm năm đệ tử ngồi trên đất lắng nghe pháp thoại của Ngài. Hãy tưởng tượng tất cả điều đó được khắc họa rõ ràng trên một hạt gạo duy nhất, hẳn bạn sẽ muốn gợi ý một sự cải biên đôi câu của Pope:
“Why has not man a microscopic eye?
“Tại sao con người không có con mắt hiển vi?
“For this plain reason, man is not a fly.”
“Vì lý do đơn giản này: con người không phải là ruồi.”
Among the visits to the country that I made was one to Margate, Ramsgate and Herne Bay to see Theosophical friends and to hold conversation meetings. While at Margate some years before, Mr. Clough, Superintendent of the School of Fine Arts, showed me a remarkable stone image that had been confided to him for sale by some North Sea fishermen who had fished it up from the bottom of the ocean in their nets. It was made of grey sandstone and represented a woman’s head which, upon close examination, was found to embody a number of small heads, some full-length figures and some reptilian forms. Of course no one had the slightest clue to its identity, but as it seemed to be [62] rather ancient and to be an attempt to depict a number of elemental spirits of sorts, I bought it to put among our curios in the Adyar Library. It being inconvenient for me to bring it out to India, I left it in charge of Miss Ward, the Manager of the T.P.S., and there I presume it is to this day.
Trong các chuyến đi về miền quê, có lần tôi đến Margate, Ramsgate và Herne Bay để thăm các bạn Thông Thiên Học và tổ chức các buổi đàm thoại. Khi ở Margate vài năm trước, Ông Clough, Giám đốc Trường Mỹ thuật, cho tôi xem một pho tượng đá lạ thường được một số ngư dân Biển Bắc ủy thác cho ông bán hộ; họ đã kéo nó lên từ đáy đại dương trong lưới của mình. Tượng làm bằng sa thạch xám, thể hiện một cái đầu phụ nữ mà, khi quan sát kỹ, thấy chứa đựng một số đầu nhỏ, vài hình người toàn thân và vài hình loài bò sát. Tất nhiên chẳng ai có manh mối nhỏ nhất về lai lịch của nó, nhưng vì có vẻ [62] khá cổ xưa và dường như là một nỗ lực mô tả một số loại tinh linh thuộc nhiều hạng khác nhau, nên tôi mua để đưa vào bộ sưu tập các vật hiếm của Thư viện Adyar. Vì bất tiện cho tôi khi mang nó về Ấn Độ, tôi gửi lại cho Cô Ward, Quản lý T.P.S., trông coi, và tôi đoán đến nay nó vẫn còn ở đó.
On my return to London I had the honor of making the acquaintance of Miss Ada Goodrich Freer, the famous “Miss X” of the Society for Psychical Research, and one of the most cultured and agreeable ladies I ever met. Possessed of certain psychical gifts herself, which she keeps always under subordination to her strong intellect, she has been an eager student of psychical phenomena and a very active member of the Society in question. I passed a delightful day with her, discussing various branches of occult science.
Khi trở lại London, tôi hân hạnh được làm quen với Cô Ada Goodrich Freer, “Cô X” nổi tiếng của Hội Nghiên cứu Thông linh, và là một trong những quý bà tao nhã, dễ mến nhất tôi từng gặp. Bản thân có những năng lực thông linh nhất định, luôn được bà đặt dưới sự chế ngự của trí tuệ mạnh mẽ, bà là một đạo sinh nhiệt thành của các hiện tượng thông linh và là một hội viên rất tích cực của Hội nói trên. Tôi đã có một ngày thú vị bên bà, bàn luận các ngành khác nhau của khoa học huyền bí.
Up to the 30th of July I had been the guest of those most hospitable friends, Mr. and Mrs. Faulding, but on the date in question removed to our headquarters, 19, Avenue Road, where I was given the room of one of the inmates who was temporarily absent. On the 1st of August I went to the British Museum again and discussed Zoroastrianism with Mr. Ellis and Dr. Bendall of the Oriental Department. I gave the Museum another oriental curiosity in the form of a copy of that tiny book containing manuscript extracts from the Granth [63] Sahib, the sacred scripture of the Sikhs, which was given me on the occasion of one of my visits to the Golden Temple at Amritsar. These little books, in size no larger than a postage stamp, and said to be “the smallest book in the world,” are regarded by the Sikhs as very precious and are worn, suspended from the neck in an ornamental silver receptacle, as talismans. At a subsequent visit to the Museum I have seen my miniature gift attached by drawing-pins to a card the size of a quarto volume and deposited, I think, in the King’s Gallery.
Cho đến ngày 30 tháng 7 tôi là khách của đôi bạn hiếu khách bậc nhất, ông bà Faulding, nhưng đến ngày ấy tôi dọn về trụ sở của chúng tôi, số 19 Avenue Road, nơi tôi được dành căn phòng của một người đang tạm thời vắng mặt. Ngày 1 tháng 8 tôi lại đến Bảo tàng Anh và thảo luận về Bái hỏa giáo với Ông Ellis và Tiến sĩ Bendall của Ban Đông phương học. Tôi tặng Bảo tàng một vật hiếm phương Đông nữa là một bản sao cuốn sách tí hon chép tay trích lục từ Granth [63] Sahib, kinh điển thiêng liêng của người Sikh, được tặng cho tôi trong một lần viếng thăm Đền Vàng ở Amritsar. Những cuốn sách nhỏ xíu này, kích thước không lớn hơn một con tem thư và được nói là “cuốn sách nhỏ nhất thế giới”, được người Sikh xem là rất quý và được đeo như bùa hộ mệnh trong một hộp bạc trang trí, treo ở cổ. Trong một lần thăm Bảo tàng sau đó, tôi thấy món quà tí hon của mình được ghim bằng đinh bấm lên một tấm bìa cỡ một tập sách khổ quarto và, tôi nghĩ, để ở Phòng Trưng bày của Nhà Vua.
At the time in question Mrs. Besant was giving a course of thirteen lectures on different Theosophical subjects, and on the evening of Sunday, August 2nd (my birthday) I presided at the last one of the series. On the 4th Mrs. Besant and I went to see Dr. Carter Blake, the learned specialist in Zoology, whose name figured so extensively in our movement at the time of the formation of our first European Branch, the British Theosophical Society. We found him lying abed with a paralytic stroke, a melancholy sight. But although a Jesuit and scarcely able to speak he showed a great interest in all things concerning our Society.
Vào thời điểm nói đến, Bà Besant đang giảng một khóa mười ba bài về các chủ đề Thông Thiên Học khác nhau, và tối Chủ nhật, ngày 2 tháng 8 (sinh nhật tôi) tôi làm chủ tọa buổi cuối cùng của loạt bài. Ngày mồng 4, Bà Besant và tôi đến thăm Tiến sĩ Carter Blake, nhà chuyên môn uyên bác về Động vật học, người có tên tuổi xuất hiện dày đặc trong phong trào của chúng ta vào thời điểm thành lập Chi bộ châu Âu đầu tiên, Hội Thông Thiên Học Anh quốc. Chúng tôi thấy ông nằm trên giường vì một cơn bại liệt, một cảnh tượng buồn thảm. Nhưng dù là một tu sĩ Dòng Tên và hầu như không nói được, ông tỏ ra rất quan tâm đến mọi điều liên quan đến Hội của chúng ta.
I went to Herne Bay on the 5th to make a visit to our colleague, Mr. F. J. Johnson, and during the three days that I spent there was kept busy seeing people and holding conversation meetings. [64] Returning to London, I went on the evening of the 9th with friends to Exeter Hall where there was a Salvation Army meeting, presided over by General Booth. I was glad of the opportunity to see this marvellous man at his work and study his method of “conversion”. It presented no mystery whatever to the student of hypnotism: it was from first to last an hypnotic séance at which the brass band played a conspicuous part. I think I have mentioned this elsewhere but it will bear repetition for it furnishes the key to the whole subject of the results of “revival meetings”. People who are naturally sensitive go there, steep themselves in the psychical emanations of the place, gradually succumb to the powerful influence, little by little are worked up to the crisis known among Continental psychologists as an hysteric explosion, and then, according to their temperaments, more or less extravagantly shout, sing, pass into convulsions, are taken out to the special room provided for such cases, and there enroll their names as postulants; and after they have become somewhat quieted they are re-conducted into the meeting and take their places in front of the platform. However it may be elsewhere, I can affirm that the rhythmic playing of the Exeter Hall band was identical in character with that of other musical soloists or bands whose object is to lift the hearer, or at any rate the participant, [65] up to the condition of hypnosis. It is late in the day for us to begin saying that sound-vibrations, as well as color-vibrations, powerfully affect not only man but animals; that by both, the emotions of sublimity, hatred, love and fear may be excited; everyone knows the specific effects of a military march played by a regimental band, of dance music played by an orchestra, and of the sublime notes of the Gregorian Chant when played on the organ. According to temperament again, listeners are either mildly or powerfully affected, sometimes driven to extreme degrees of excitement; and, lastly, veteran investigators of mediumistic phenomena know that from the first the company attending a circle are asked to sing so as to “harmonise the conditions”. The snake-charmer of India, with his tom-tom and pipe, draws the serpent out of his hole and makes him balance on his coil, and sway to the rhythm of the music; and then there are those wonderful Aissouas, of Tunis and Algeria, who are thrown into a state of hypnosis by monotonous beating on their huge tambourines, in which state they can stand unharmed on braziers of burning coals, chew up and swallow lamp-chimneys and tumblers, and inflict upon themselves the most cruel wounds, which do not bleed, and instantly close when the Sheikh of the company lays his powerfully mesmeric hand upon them. In [66] truth, I might devote many chapters to illustrations of this subject but the only object of this passing notice is to call attention to the fact that the mystery of religious revivals and conversions is to be found explained in the demonstrations of hypnotic science. On the evening in question I saw more than sixty persons “saved”.
Tôi đến Herne Bay vào ngày mồng 5 để thăm đồng sự của chúng ta, Ông F. J. Johnson, và suốt ba ngày ở đó tôi bận rộn gặp gỡ mọi người và tổ chức các buổi đàm thoại. [64] Trở về London, tối ngày mồng 9 tôi cùng bạn bè đến Exeter Hall nơi có một buổi nhóm của Đội Cứu Thế, do Tướng Booth chủ tọa. Tôi mừng vì có dịp được xem người kỳ diệu này làm việc và nghiên cứu phương pháp “cải đạo” của ông. Đối với người nghiên cứu thôi miên thì chẳng có bí ẩn gì cả: từ đầu đến cuối đó là một buổi thôi miên trong đó ban nhạc kèn đồng đóng vai trò nổi bật. Tôi nghĩ mình đã nói đến chuyện này ở nơi khác, nhưng đáng nói lại, vì nó cung cấp chìa khóa cho toàn bộ chủ đề về kết quả của các “buổi phục hưng đức tin”. Những người vốn nhạy cảm tự nhiên đến đó, tắm mình trong các phát xạ thông linh của nơi chốn, dần dần khuất phục trước ảnh hưởng mạnh mẽ, từng chút một bị kích động đến cơn khủng hoảng mà các nhà tâm lý lục địa gọi là bộc phát cuồng cảm, rồi tùy theo khí chất, họ kêu gào, hát hò, lên cơn co giật ở những mức độ khác nhau, được đưa ra căn phòng đặc biệt dành sẵn cho những trường hợp như vậy, và ở đó ghi tên gia nhập; sau khi somewhat lắng dịu họ lại được đưa vào hội trường và ngồi ở hàng ghế phía trước bục giảng. Dù ở nơi khác ra sao, tôi có thể khẳng quyết rằng lối chơi nhạc theo nhịp điệu của ban nhạc Exeter Hall hoàn toàn đồng dạng với lối chơi của các nghệ sĩ độc tấu hay các ban nhạc khác nhằm đưa người nghe, hoặc chí ít là người tham dự, [65] vào trạng thái thôi miên. Đã quá muộn trong ngày để chúng ta mới bắt đầu nói rằng các rung động âm thanh cũng như rung động màu sắc có ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ đến con người mà cả loài vật; rằng bằng cả hai, có thể khơi dậy các xúc cảm về sự siêu nghiệm, thù ghét, tình thương và sợ hãi; ai cũng biết tác động đặc thù của một khúc quân hành do ban nhạc trung đoàn trình tấu, của nhạc khiêu vũ do dàn nhạc chơi, và của những âm điệu siêu phàm của Thánh ca Gregorian khi vang lên trên đàn organ. Cũng theo khí chất, thính giả hoặc bị tác động nhẹ, hoặc mạnh, đôi khi bị xô đẩy đến mức độ kích động cực điểm; và, sau cùng, các nhà điều tra lão luyện về hiện tượng đồng cốt đều biết rằng ngay từ đầu, người tham dự một bàn đồng được mời hát để “hài hòa các điều kiện”. Người bắt rắn ở Ấn Độ, với cái trống tom-tom và ống sáo, dụ rắn chui ra khỏi hang, khiến nó đứng thăng bằng trên cuộn thân và lắc lư theo nhịp nhạc; và rồi có những Aissouas kỳ lạ ở Tunis và Algeria, bị đưa vào trạng thái thôi miên bằng tiếng gõ đơn điệu trên những cái trống lục lạc khổng lồ, trong trạng thái ấy họ có thể đứng trên chậu than đỏ rực mà không hề hấn, nhai nuốt ống khói đèn và ly thủy tinh, và tự gây cho mình những vết thương tàn khốc nhất, không hề chảy máu, và tức thì khép miệng khi Sheikh của nhóm đặt bàn tay có từ lực thôi miên mạnh mẽ của ông lên đó. Thực [66] vậy, tôi có thể dành nhiều chương để minh họa chủ đề này, nhưng mục đích duy nhất của lời lướt qua này là lưu ý rằng bí ẩn của những cuộc phục hưng và cải đạo tôn giáo được giải thích trong các trình diễn của khoa học thôi miên. Tối hôm ấy tôi thấy hơn sáu mươi người “được cứu”.
By one of those ever-recurring “coincidences”, on the day when the above was being written there came to my hand a leading Indian paper containing an article entitled “Study in Ecstasy”, describing a recent monster Congress of Salvationists at London. An episode of the Congress was an hypnotic interlude called, “Two days with God”. The reporter says of the second day’s climax:
Như một trong những “trùng hợp” cứ lặp đi lặp lại mãi, đúng ngày tôi viết đoạn trên, tôi nhận được một tờ báo Ấn lớn đăng bài “Nghiên cứu về xuất thần”, mô tả một Đại Hội khổng lồ gần đây của những người theo Đội Cứu Thế ở London. Một tiết mục của Đại Hội là màn xen kẽ thôi miên, mang tên “Hai ngày với Thượng đế”. Phóng viên tả đỉnh điểm của ngày thứ hai như sau:
“The three meetings of yesterday were marked by the irrepressible fervour common to all the warriors, black, white, and yellow, who march under the ‘Blood and Fire’ banner.”
“Ba buổi nhóm của ngày hôm qua đều được đánh dấu bởi lòng nhiệt thành không thể kìm nén, chung cho tất cả các chiến binh, da đen, da trắng, và da vàng, dưới lá cờ ‘Máu và Lửa’.”
General Booth unwearied and indomitable, presided at the International Congress Hall. It was impossible to detect in the keen face, the lithe elastic figure, a trace of fatigue. He stood on the platform, behind him in serried ranks soldiers and bandsmen representing half Europe and Asia, before him a hall packed to overflowing with enthusiasts who hung on his words. [67] At first the general led the assembly in fiery appeals for salvation. Then turning to the band he signalled the music, and a well-known melody burst forth. The audience caught the air, and a hymn was sung with full-throated energy by the multi-colored throng.
Tướng Booth, không mệt mỏi và bất khuất, chủ tọa tại International Congress Hall. Không thể nhận ra trên gương mặt sắc sảo, thân hình dẻo dai, một dấu vết mệt mỏi nào. Ông đứng trên bục, phía sau là hàng ngũ dày đặc những chiến sĩ và nhạc công đại diện cho nửa châu Âu và châu Á, trước mặt là một hội trường chật kín những người nhiệt huyết đang dán mắt vào lời ông nói. [67] Ban đầu, vị tướng dẫn dắt cử tọa bằng những lời kêu gọi cháy bỏng về sự cứu rỗi. Rồi quay về phía ban nhạc, ông ra hiệu, và một giai điệu quen thuộc bùng lên. Khán giả bắt nhịp, và một bài thánh ca được hát bằng những cổ họng vang rền của đám đông muôn màu sắc.
The general was not satisfied. “Clap hands” he cried, and again the verse was sung to an accompanying fusillade of hand-claps.
Vị tướng chưa hài lòng. “Vỗ tay đi,” ông kêu, và lần nữa khổ thơ ấy được hát với loạt vỗ tay dồn dập phụ họa.
Again the verse was called for, and again hundreds of lusty lungs filled the vast hall with sound, while those whose tongues could not compass the English words beat time with hands and feet and added to the volume of “glories” and “hallelujahs”.
Khổ thơ lại được yêu cầu, và lại nữa, hàng trăm lồng ngực cường tráng lấp đầy đại sảnh bằng âm thanh, trong khi những người mà lưỡi không thể uốn theo từ ngữ tiếng Anh thì đập tay chân theo nhịp và góp phần làm tăng âm lượng các tiếng “vinh quang” và “hallelujah”.
A burly Australian told the story of his conversion. The listening soldiers broke in ever and anon with cries of “Praise the Lord”, “It’s true”, “Ibelieve it”. Each nation, after its kind, showed its joy in the recital.
Một người Úc to lớn kể chuyện mình cải đạo. Những chiến sĩ đang nghe ngắt lời từng chặp bằng tiếng kêu “Ngợi khen Chúa”, “Đúng thế”, “Tôi tin điều đó”. Mỗi dân tộc, theo cách của mình, bày tỏ niềm vui trước câu chuyện.
The blacks swayed to and fro in ecstasy, the soberer Teutons beamed, the United States delegates laughed aloud, and one and all at the close sent up a thunderclap of “I’m saved”.
Người da đen thì lắc lư trong trạng thái xuất thần, người Đức điềm tĩnh hơn thì rạng rỡ, các đại biểu từ Hoa Kỳ cười thành tiếng, và tất cả, khi kết thúc, đồng loạt bật ra một tiếng sấm “Tôi được cứu rồi”.
The indefatigable general is here and there. Now he lays an arm around the speaker’s shoulder; now he leads a pæan of triumph; now he nods to the drummer to bang his hardest. [68] Does anybody wish to know what is the “Power” behind this mystic frenzy? Let them ask the nearest physician who has studied Hysteria or consult the work of any recognized authority.
Vị tướng không biết mệt đi khắp nơi. Lúc thì ông choàng tay qua vai người đang nói; lúc thì ông dẫn dắt một khúc ca khải hoàn; lúc thì ông gật đầu ra hiệu cho tay trống đánh thật mạnh. [68] Có ai muốn biết “Quyền lực” đằng sau cơn cuồng nhiệt huyền bí này là gì không? Hãy hỏi vị thầy thuốc gần nhất từng nghiên cứu Chứng cuồng cảm, hoặc tham khảo công trình của bất kỳ nhà thẩm quyền được thừa nhận nào.
I went the next day to see a magnificent collection, 365 in number, of water-color paintings illustrative of the life of Christ, by that fine French artist, Tissot. To make these he had travelled much in the Holy Land and made his sketches on the spot; which one could see plainly enough in the minute accuracy of his work both as regards the people and their environment. If the old proverb “All paths lead to Rome” be true, it is equally so that the resident of London has the opportunity of seeing, one time or another, almost everything that travellers go to search for in distant countries; I was going to except landscapes, but even those are, as in the case of the present collection, depicted so faithfully that one need not leave home to get an idea as to what distant countries look like.
Ngày kế đó tôi đi xem một bộ sưu tập lộng lẫy, gồm 365 bức tranh màu nước minh họa đời sống của Đức Christ, do người họa sĩ Pháp tài hoa Tissot vẽ. Để thực hiện, ông đã đi lại rất nhiều ở Đất Thánh và phác thảo ngay tại chỗ; điều này thấy rõ trong độ chính xác tỉ mỉ của tác phẩm, cả về con người lẫn bối cảnh. Nếu câu ngạn ngữ xưa “Mọi nẻo đường đều dẫn tới La Mã” là đúng, thì cũng đúng như vậy rằng cư dân London có cơ hội, lúc này hay lúc khác, được nhìn thấy hầu như mọi thứ mà khách du hành phải lặn lội đi tìm ở những miền xa; tôi định ngoại lệ phong cảnh, nhưng ngay cả những thứ ấy, như trong bộ sưu tập này, cũng được tái hiện trung thực đến nỗi không cần rời nhà vẫn có thể hình dung các xứ sở xa xôi trông ra sao.
My business in London being finished I left it on the 14th (August) for Paris via Boulogne, a very cheap and pleasant method of crossing. The Fauldings and I had a smooth passage and fine weather. Boulogne was very full of travellers and we got the last two rooms at the Hotel Louvre. In the evening we visited the Casino and looked on at [69] the gambling. This is something for which I never had the least taste; I never played for even a penny stake in my life, and standing back, as on this occasion, and seeing the fierce eagerness with which people play the games of chance, it almost seemed as though they were a company of lunatics. The next day we went to the Cathedral to attend the High Mass and hear the music, and then to an old château where we visited the dungeons and saw the terrible oubliettes underground. On the following day, Sunday, I left for Paris and that evening dined with M. Jules Bois, the author. My Spanish friend, Xifré, was in Paris at that time, at the house of his cousin, Mme. Savalle, at Nanterre, a suburb of the capital. Of course, I spent the greater part of my time with him, there being a strong tie of affection between us. We went together to call on M. Burnouf, the Orientalist, whose great love for Sanskrit literature and the services he has rendered to make it known in France, are well understood.
Công việc của tôi tại London đã xong, tôi rời thành phố vào ngày 14 (tháng 8) đi Paris qua Boulogne, một cách vượt biển rất rẻ và dễ chịu. Vợ chồng nhà Faulding và tôi gặp biển êm trời đẹp. Boulogne đông nghịt khách, và chúng tôi giành được hai phòng cuối cùng ở Khách sạn Louvre. Buổi tối chúng tôi đến Casino xem [69] đánh bạc. Đây là thứ tôi chưa từng có chút mảy may hứng thú; cả đời tôi chưa từng chơi kể cả với mức đặt một xu, và khi đứng xa, như lần này, nhìn sự háo hức dữ dội với đó người ta chơi trò may rủi, tôi có cảm giác như họ là một lũ điên. Hôm sau chúng tôi đến Nhà thờ Chính tòa dự Thánh lễ Trọng thể và nghe nhạc, rồi đến một lâu đài cổ, nơi chúng tôi xuống xem các ngục tối và những hố oubliettes dưới lòng đất khủng khiếp. Hôm sau nữa, Chủ nhật, tôi rời đi Paris và tối hôm đó dùng bữa với Ông Jules Bois, nhà văn. Người bạn Tây Ban Nha của tôi, Xifré, lúc ấy ở Paris, tại nhà người bà con là Bà Savalle, ở Nanterre, một vùng ngoại ô thủ đô. Tất nhiên, tôi dành phần lớn thời gian với ông, vì giữa chúng tôi có một mối gắn bó thâm tình. Chúng tôi cùng đến thăm Ông Burnouf, nhà Đông phương học, người có tình yêu lớn lao với văn học Sanskrit và những công lao ông đã cống hiến để truyền bá tại Pháp, điều mà ai cũng hiểu rõ.
The so-called “Crusade of American Theosophists around the World”, headed by Mrs. Tingley, the self-styled “Leader of the Theosophical Movement”, were in Paris at the time. One of their sympathisers sent me a copy of their handbill with a written note asking me to attend the meeting. This I did not do as I did not care to have my name circulated about America as a friend, perhaps a [70] follower, of the female successor to Mr. Judge but I sent Xifré, and two other gentlemen, MM. Bailly and Mesnard, to attend the meeting and report the facts to me. Mrs. Tingley’s handbill was worded as follows:
“Cuộc Thập tự chinh của các nhà Thông Thiên Học Mỹ vòng quanh thế giới” như họ gọi, do Bà Tingley cầm đầu, người tự xưng là “Lãnh đạo Phong trào Thông Thiên Học”, lúc đó đang ở Paris. Một người cảm tình với họ gửi cho tôi một bản tờ bướm kèm lời nhắn tay mời tôi đến dự buổi họp. Tôi đã không đi, vì tôi không muốn để tên mình loan truyền khắp Mỹ như một người bạn, thậm chí là một [70] môn đồ, của người kế vị ông Judge là nữ giới; nhưng tôi cử Xifré, và hai quý ông khác, các Ông Bailly và Mesnard, đến dự và báo cáo lại cho tôi các sự việc. Tờ bướm của Bà Tingley viết như sau:
“CRUSADE OF AMERICAN THEOSOPHISTS AROUND THE WORLD.
“CUỘC THẬP TỰ CHINH CỦA CÁC NHÀ THÔNG THIÊN HỌC MỸ VÒNG QUANH THẾ GIỚI.
_____
_____
The Crusade, which started from New York in June last, having reached Paris will meet the public in the
Cuộc Thập tự chinh, khởi hành từ New York vào tháng Sáu vừa qua, đến Paris sẽ gặp gỡ công chúng tại
PETITE SALE, Hotel Continental,
PHÒNG NHỎ, Khách sạn Continental,
Entree Rue Rouget-De-Lisle,
Lối vào Rue Rouget-De-Lisle,
On Thursday Evening, 20th August 1896, at 8.30 o’clock.
Vào tối Thứ Năm, ngày 20 tháng 8 năm 1896, lúc 8 giờ 30.
When the members will give addresses on Brotherhood, Toleration, Rebirth, and kindred theosophical subjects.
Khi các thành viên sẽ có các bài nói về Tình Huynh đệ, Khoan dung, Tái sinh và các chủ đề Thông Thiên Học liên quan.
The Crusade consists of:
Cuộc Thập tự chinh gồm có:
Mr. E. T. Hargrove, President of the Theosophical Society in America.
Ông E. T. Hargrove, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học tại Mỹ.
Mr. Claude Falls Wright, President of the New York Theosophical Society, and Secretary to the late Madame Blavatsky, and to William Q.Judge.
Ông Claude Falls Wright, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học New York, và Thư ký của cố Bà Blavatsky, và của William Q. Judge.
Mr. H. T. Patterson, President of the Brooklyn Theosophical Society.
Ông H. T. Patterson, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học Brooklyn.
Mrs. C. F. Wright, Lecturer to the New England States Theosophical Societies. [71] Mr. F. M. Pierce, Representative of the School for the Revival of the Lost Mysteries of Antiquity; and Mrs. KATHARINE A. TINGLEY,
Bà C. F. Wright, Diễn giả của các Hội Thông Thiên Học các bang New England. [71] Ông F. M. Pierce, Đại diện của Trường Khôi phục những Huyền môn đã thất truyền của Cổ đại; và Bà KATHARINE A. TINGLEY,
Leader of the Theosophical Movement.
Lãnh đạo Phong trào Thông Thiên Học.
_____
_____
THE ABOVE MEETING IS FREE
CUỘC HỌP NÊU TRÊN MIỄN PHÍ
Addresses in French and in English. Musical Selections.”
Bài nói bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Tiết mục âm nhạc.”
_____
_____
The Hotel Continental where this meeting was held is one of the most expensive in Paris, the charges for rooms are enormous; it is chiefly patronised by Americans and Englishmen. The Crusaders must have paid a pretty figure for their meeting-hall. My representatives reported that a few people in evening dress sauntered in from the dining room, stayed awhile and then sauntered out again. At the time when the attendance was largest there were about forty persons in the room, including the Crusaders: at the close there were seven in the audience. Mrs. Tingley’s organ, however, reported the meeting as follows:
Khách sạn Continental, nơi diễn ra buổi họp này, là một trong những nơi đắt đỏ nhất Paris, giá phòng cực kỳ cao; chủ yếu được người Mỹ và người Anh lui tới. Những người “Thập tự chinh” hẳn đã phải trả không rẻ cho phòng họp. Những người tôi cử đi báo lại rằng một vài người mặc dạ phục đi từ phòng ăn sang, nán lại một lúc rồi lại rảo bước đi. Vào lúc đông nhất cũng chỉ khoảng bốn mươi người trong phòng, kể cả những người Thập tự chinh; khi kết thúc chỉ còn bảy người trong thính phòng. Tuy vậy cơ quan tuyên truyền của Bà Tingley đã tường thuật buổi họp như sau:
“The result of the work in Paris was the formation of the French division of the Theosophical Society in Europe on August 21st, at 8.30 p.m., in a large parlor at the Hotel St. Petersburg. Public meetings at the same hotel, on the [72] evenings of the 16th, 18th, and 19th, and a larger gathering at the Hotel Continental on the evening of the 20th, led up to this farewell meeting on the 21st.”
“Kết quả công việc ở Paris là sự thành lập Phân bộ Pháp của Hội Thông Thiên Học tại châu Âu vào ngày 21 tháng 8, lúc 8 giờ 30 tối, tại một phòng lớn ở Khách sạn St. Petersburg. Những buổi họp công khai cũng diễn ra tại cùng khách sạn, vào các [72] tối 16, 18 và 19, và một buổi nhóm đông hơn tại Khách sạn Continental vào tối ngày 20, dọn đường cho buổi họp chia tay ngày 21.”
Comments are superfluous.
Bình luận là thừa.