CHAPTER VI—CHƯƠNG VI
PROPHECIES ABOUT THE SOCIETY—NHỮNG LỜI TIÊN TRI VỀ HỘI
A ROYAL GIFT—MỘT TẶNG VẬT VƯƠNG GIẢ
(1896)—(1896)
MY present visit in Paris, covering a period of seventeen days, was devoted to Theosophical business and to the consultations with learned men above mentioned on the subject of Zoroastrianism. At the Bibliothéque Nationale, in the absence of M. Feré, Director of the Oriental Manuscript Department, my talks about the Parsi sacred literature were held with his junior, M. E. Blochet, to whom reference has been made above.
Chuyến thăm Paris lần này của tôi, kéo dài mười bảy ngày, dành cho công việc Thông Thiên Học và các cuộc tham vấn với các bậc học giả đã nói ở trên về đề tài Bái hỏa giáo. Tại Bibliothéque Nationale, do Ông Feré, Giám đốc Ban Thủ bản Đông phương, vắng mặt, các cuộc trao đổi của tôi về văn học thiêng liêng của người Parsi được tiến hành với vị phó của ông, Ông E. Blochet, người đã được nhắc đến trước đó.
There was in Paris at the time a smooth-speaking young Bengali Babu who claimed to have been a pupil of the respected Sivanath Sastri, the erudite and respected leader of one of the three divisions of the Brahmo Samaj which were caused by an excited controversy which had resulted from the marriage of Keshub Chandra Sen’s daughter to the young [74] Maharaja of Cooch Behar at an immature age and in violation of the terms of the Brahmo Marriage Act, which he, himself, had persuaded the Government of India to pass. The young Bengali in question came and made a piteous appeal for my help because of his alleged impecuniosity, offering his services as a teacher of Sanskrit for any pupils that I might be able to find. Believing his statements, and always anxious to give a helping hand to stray Indians encountered in foreign countries, I introduced him to Senor Xifré, M. Gaillard, Jules Bois and others; the latter gentleman interviewing him for one of the Paris papers with which he was connected. Many of our Western colleagues are so imbued with a sentimental love for India, and have formed such exalted notions of the noble character of the Hindu, that they eagerly stretch out the welcoming hand to members of the race whom they may meet. Among our French friends were a number of this class and I had very little difficulty in arranging for this Bengali gentleman’s comfort and profit at Paris. I am very sorry to say, however, that he did not wear well on close acquaintance, became entangled discreditably with a French girl and ultimately cast her off to bear her shame as best she might, borrowed money from our Theosophists, and took himself off to fresh fields of exploitation. I am pained to say that of the [75] travelling Indians who have been in Europe and America only a minority have deserved the kind treatment so generously given out to them. As to our Theosophists they need not run the least risk of being swindled if they would only demand of the Indian visitor a certificate from myself or the General Secretary of the Indian Section that they are to be trusted.
Lúc ấy ở Paris có một chàng Babu Bengal trẻ khéo ăn nói, tự nhận là học trò của vị đáng kính Sivanath Sastri, nhà lãnh đạo uyên bác và khả kính của một trong ba phân nhánh của Brahmo Samaj, vốn phát sinh do cuộc tranh cãi sôi sục nổ ra từ vụ gả con gái của Keshub Chandra Sen cho vị [74] Tiểu vương trẻ tuổi của Cooch Behar khi cô còn quá non và trái với các điều khoản của Đạo luật Hôn nhân Brahmo, mà chính ông đã thuyết phục Chính phủ Ấn Độ ban hành. Chàng Bengal trẻ ấy đến và khẩn khoản cầu xin tôi giúp đỡ vì cảnh túng quẫn như lời anh nói, đề nghị làm thầy dạy Phạn ngữ cho bất kỳ môn sinh nào tôi có thể tìm được. Tin lời anh, và vốn luôn sẵn lòng giúp đỡ những người Ấn lạc bước gặp nơi đất khách, tôi giới thiệu anh với Señor Xifré, Ông Gaillard, Jules Bois và những người khác; vị sau còn phỏng vấn anh cho một tờ báo Paris mà ông cộng tác. Nhiều đồng sự phương Tây của chúng ta thấm đẫm tình yêu cảm tính dành cho Ấn Độ và đã hình dung thật cao đẹp về phẩm cách của người Hindu, nên họ sốt sắng chìa tay chào đón những ai thuộc chủng tộc ấy mà họ gặp. Trong hàng ngũ bằng hữu Pháp của chúng ta có không ít người thuộc lớp này và tôi chẳng mấy khó khăn thu xếp cho vị quý ông Bengal này sống dễ chịu và có lợi ở Paris. Tuy nhiên, tôi rất tiếc phải nói rằng, khi quen biết gần gũi thì anh không “bền”, sa vào một mối quan hệ đáng chê trách với một cô gái Pháp rồi rốt cuộc ruồng bỏ cô, để cô tự gánh chịu nỗi nhục nhã, vay mượn tiền của các hội viên Thông Thiên Học của chúng ta, và bỏ đi tìm những miền đất mới để trục lợi. Tôi đau lòng phải nói rằng trong số [75] người Ấn lưu hành ở châu Âu và châu Mỹ, chỉ có thiểu số xứng đáng với sự đối đãi tử tế được ban phát rộng rãi cho họ. Về phần các hội viên Thông Thiên Học của chúng ta, họ không cần liều lĩnh bị lừa nếu chỉ cần yêu cầu vị khách Ấn xuất trình giấy chứng nhận của chính tôi hoặc của Tổng Thư ký Miền Ấn Độ rằng người ấy đáng tin.
I left Paris on the 3rd of September for Margate via Boulogne, reached the former place at 7 and Herne Bay at 8 that same evening; my host was again Mr. F. J. Johnson. In that part of Kent along the coast there were even then quite a number of highly intelligent persons interested in Theosophy, and at Mr. Johnson’s bidding a number of these came to see me to talk about it. I remember among them a charming literary lady, the mother of some pretty children, who had passed through sad domestic experiences, had reached almost the point of despair, and who put to me numberless questions about the Eastern teachings. She seemed comforted by my explanations and I hoped that I had aided her in regaining the courage to struggle against her hard lot. But alas! the clouds had gathered too thickly about her to allow rays of light and hope to penetrate into her troubled mind, and with inexpressible sorrow I heard some time afterward that she had taken her own life. [76] On the 14th (September) I left Herne Bay and my hospitable friend Johnson and came up to London and was put up at the Avenue Road headquarters. On the evening of the 17th I presided at a lecture at the Blavatsky Lodge by Mr. Virchand R. Gandhi, the Jain representative at the Chicago Parliament of Religions. On the 19th I again left London for the Continent, this time for Amsterdam and without the intention of returning. The train started at 8-30 p.m. from the Liverpool Street Station for Harwich, where we embarked on the boat which makes the transit to the Hook of Holland. Mr. Leadbeater, Mr. Mead and some others were at the station to see me off. At Amsterdam the next day my time was fully occupied with receiving visitors, and in the evening there was a largely attended conversation meeting. We were all gratified the next day to see Mr. A. M. Glass, of the European Section staff, on his way home from a health-seeking visit to Germany. Mr. Glass’ modesty is so great that, although a large share of the burden of Sectional work has always been thrown upon him, yet his name is seldom mentioned in our prints. I, myself, have always held him in great esteem and regarded him as one of the most useful workers among my colleagues. On the evening of the 21st I lectured to the Amsterdam Branch on “The [77] History of our Society.” On the same day I arranged with Mr. Fricke the preliminaries for the formation of a Dutch Section.
Tôi rời Paris ngày 3 tháng 9 đi Margate qua Boulogne, tới nơi thứ nhất lúc 7 giờ và Herne Bay lúc 8 giờ tối cùng ngày; chủ nhà tôi vẫn là Ông F. J. Johnson. Ở dải Kent ven duyên hải ấy khi đó đã có khá đông những người rất thông minh quan tâm đến Thông Thiên Học, và theo lời mời của Ông Johnson, một số người trong họ tới gặp tôi để đàm đạo. Tôi nhớ trong số đó có một nữ sĩ duyên dáng, mẹ của mấy đứa trẻ xinh xắn, người đã trải qua những biến cố gia đình đau buồn, gần như rơi vào tuyệt vọng, và đặt cho tôi vô số câu hỏi về giáo lý phương Đông. Có vẻ như bà đã được an ủi bởi những giải thích của tôi và tôi hy vọng mình đã giúp bà lấy lại can đảm để chiến đấu với cảnh ngộ khắc nghiệt. Nhưng than ôi! mây đen phủ dày đặc đến nỗi ánh sáng hy vọng không thể xuyên vào tâm trí đang rối bời của bà, và với niềm thương tiếc khôn tả tôi nghe tin ít lâu sau bà đã tự kết liễu đời mình. [76] Ngày 14 (tháng 9) tôi rời Herne Bay và người bạn hiếu khách Johnson, lên London và được thu xếp ở trụ sở Avenue Road. Tối 17 tôi làm chủ tọa một buổi diễn thuyết tại Blavatsky Lodge do Ông Virchand R. Gandhi, đại diện phái Jain tại Nghị viện các Tôn giáo Chicago, trình bày. Ngày 19 tôi lại rời London đi Lục địa, lần này đến Amsterdam và không định quay lại. Tàu rời ga Liverpool Street lúc 8 giờ 30 tối đi Harwich, nơi chúng tôi xuống tàu thủy vượt sang mũi Holland. Ông Leadbeater, Ông Mead và vài người khác ra ga tiễn tôi. Tại Amsterdam ngày hôm sau, thời gian của tôi kín mít với việc tiếp khách, và tối đến có một buổi đàm thoại đông đảo. Hôm sau, chúng tôi rất vui mừng được gặp Ông A. M. Glass, người trong Ban Thư ký Miền châu Âu, trên đường về nhà sau chuyến đi Đức dưỡng bệnh. Sự khiêm nhường của Ông Glass lớn đến mức, dù gánh nặng công việc của Miền thường được đặt lên vai ông, nhưng tên ông hiếm khi được nêu trong ấn phẩm của chúng ta. Riêng tôi luôn dành cho ông sự kính trọng lớn và coi ông là một trong những cộng sự hữu ích nhất. Tối 21 tôi diễn thuyết cho Chi bộ Amsterdam đề tài “Lịch sử [77] của Hội chúng ta.” Cùng ngày, tôi thu xếp với Ông Fricke những bước sơ bộ để thành lập một Miền Hà Lan.
Naturally enough, my report of the successful search on the astral plane for the Marquis de Mores, by Mme. Mongruel, excited great wonder at Amsterdam, as elsewhere. Mr. Stark, F.T.S., having had no practical experience whatever in this direction, determined to accompany me to Paris to test her powers. Accordingly he joined me when I left the next morning for that city at 8 o’clock. After a pleasant journey of ten and a half hours we arrived there and as I wished to leave no possible ground for suspicion of any understanding between Mme. Mongruel and myself, I left him at the station to find his way alone and went to my hotel. In due time he joined me there and his report was most enthusiastic. She had answered all his questions correctly, but a test prepared by his wife without his knowledge completely won his confidence. When he was leaving his house at Amsterdam Mrs. Stark handed him a small packet and told him to give that to Mme. Mongruel and see what she would say. He put it in his pocket and thought no more of it until his séance with the seeress was proceeding. At the moment of a break in the conversation he executed his wife’s commission. Taking the packet in her hand she said: “What a charming [78] little girl!” A remark which caused Mr. Stark much amusement, for his wife was certainly not young enough to be called a little girl. But the clairvoyant went on to describe accurately his little daughter, whom he had left suffering from some temporary illness involving, if I remember rightly, an ulcerated sore throat and pain in the head. This physical derangement was accurately diagnosed by the sleeper and he was told that he need not worry about it for it would pass away within the next day or two. Mr. Stark returned the packet to his pocket without opening it, after making a pencil note on the cover as to what had been said, as he preferred to let his wife open the packet herself in his presence and so be able to know that he, himself, had not said anything to Mme. Mongruel that would influence her remarks. When he got back to Amsterdam and handed over the packet, Mrs. Stark told him that it contained a small lock of the sick child’s hair, which she had given him to serve as a test of the Seeress’ lucidity. Needless to say they were both very much pleased with the result. Mr. Stark and I visited some of our Theosophical colleagues and went out to Nanterre to breakfast with Xifré at Mme. Savalle’s.
Đương nhiên, tường thuật của tôi về cuộc tìm kiếm thành công trên cõi cảm dục đối với Hầu tước de Mores, do Bà Mongruel thực hiện, đã gây kinh ngạc lớn ở Amsterdam cũng như nơi khác. Ông Stark, F.T.S., vì chưa hề có kinh nghiệm thực tiễn nào theo hướng này, quyết định tháp tùng tôi sang Paris để khảo nghiệm khả năng của bà. Do đó, ông đã nhập đoàn khi tôi rời Amsterdam đi Paris lúc 8 giờ sáng hôm sau. Sau một hành trình dễ chịu mười tiếng rưỡi, chúng tôi tới nơi và, vì tôi muốn không để lại bất kỳ khả năng nghi ngờ nào về sự dàn xếp giữa Bà Mongruel và tôi, tôi để ông lại ga tự tìm đường và tôi về khách sạn. Đúng giờ ông đến và tường trình một cách đầy phấn khởi. Bà đã trả lời đúng mọi câu hỏi của ông, nhưng một thử thách do vợ ông chuẩn bị mà ông không hay biết đã hoàn toàn chinh phục lòng tin của ông. Khi ông rời nhà ở Amsterdam, Bà Stark đưa cho ông một gói nhỏ bảo trao cho Bà Mongruel và xem bà nói gì. Ông đút nó vào túi và chẳng nghĩ thêm cho đến lúc buổi tiếp xúc với nữ nhà ngoại cảm đang diễn ra. Nhân lúc câu chuyện gián đoạn, ông thi hành ủy thác của vợ. Cầm gói lên tay, bà nói: “Thật là một [78] cô bé dễ thương!” Lời nhận xét khiến Ông Stark bật cười, vì vợ ông dĩ nhiên chẳng còn trẻ đến mức được gọi là “cô bé”. Nhưng nhà thông nhãn tiếp tục mô tả chính xác cô con gái nhỏ của ông, người ông vừa để lại trong tình trạng ốm tạm thời với chứng đau cổ họng lở loét và đau đầu, nếu tôi nhớ không lầm. Tình trạng rối loạn thể chất này được người đang xuất thần chẩn đoán chính xác và ông được cho biết không cần lo vì nó sẽ qua trong một hai ngày tới. Ông Stark cho gói vào túi mà không mở, sau khi ghi chú chì lên bìa những điều đã được nói, vì ông muốn để vợ tự mở gói trước mặt ông để biết chắc rằng chính ông đã không tiết lộ bất kỳ điều gì cho Bà Mongruel có thể ảnh hưởng đến lời bà. Khi về Amsterdam và trao gói, Bà Stark nói rằng nó chứa một lọn tóc nhỏ của đứa trẻ bệnh, bà đưa cho ông để làm phép thử sự minh mẫn của nữ nhà ngoại cảm. Nói cũng thừa, họ đều rất hài lòng với kết quả. Ông Stark và tôi thăm một số đồng sự Thông Thiên Học của chúng ta và ra Nanterre ăn sáng với Xifré tại nhà Bà Savalle.
I called on Mme. Mongruel alone every day that I was in Paris, and on two occasions put her into the mesmeric sleep and asked her to tell me things that [79] I wanted to know. Of her own accord, without my giving her the slightest clue she said: “You seem to be connected with a very large Society; nothing to do with business, but a sort of philanthropic and religious organisation. It seems as though it were divided into two parties or camps and that certain persons were determined to break it up, from interested motives. I think that a man and a woman are the moving spirits in this, the former actuated by vanity and ambition, the other resenting a supposed slight, which you never intended.” She then went on to give me an accurate description of Mr. Judge and a certain lady, whom I certainly had no recollection of ever having offended, but who was at the time in close relations with the leader of secession. “But you need not give yourself the least anxiety,” she went on; “I see this hostile force breaking up and dissolving away like a morning mist, and after a time you will find yourself stronger and more respected than ever.” She then, to my surprise, told me that a certain woman in our Society had the intention of bequeathing me a large sum of money, and that she had ordered her lawyer to draw up her will to that effect; that the lawyer had advised her not to dispose of her whole property to me, for family reasons. The Seeress then held my hand and seemed to be looking into my physical condition because she said presently: “How strong [80] you are; it seems as though you were built to last a hundred years. But have you no trouble with your feet? There seems a tendency of the blood to decompose in that quarter. Do you not have pains?” I told her that she was right as there was an inherited tendency to gout and that this was the only physical derangement from which I suffered. She then advised me to follow a certain diet and take certain remedies. The next day, when again mesmerised, she reiterated energetically her prophecies about the success of our Society and the giving to me of the legacy. Both séances were interesting, because she certainly had not read in my mind thoughts which would have furnished a basis for her predictions.
Tôi một mình đến thăm Bà Mongruel mỗi ngày khi còn ở Paris, và có hai lần tôi đưa bà vào giấc ngủ thôi miên và xin bà cho biết những điều [79] tôi muốn biết. Tự bà, không hề nhận từ tôi dù chỉ một gợi ý nhỏ, đã nói: “Có vẻ như ông liên hệ với một Hội rất lớn; không liên quan gì đến kinh doanh, mà là một tổ chức mang tính từ thiện và tôn giáo. Có vẻ như nó chia thành hai phe hay hai nhóm và một số người quyết tâm làm tan rã nó vì động cơ vụ lợi. Tôi nghĩ có một người đàn ông và một phụ nữ là linh hồn thúc đẩy việc này, người trước bị thúc đẩy bởi hư danh và tham vọng, người sau thì phật ý vì một điều mà bà ấy cho là bị khinh suất, điều mà ông chưa từng chủ ý.” Rồi bà tiếp tục mô tả chính xác Ông Judge và một phụ nữ nào đó, người mà tôi không nhớ mình đã từng xúc phạm, nhưng lúc ấy có quan hệ gần gũi với kẻ cầm đầu vụ ly khai. “Nhưng ông chẳng cần phải bận tâm chút nào,” bà nói tiếp; “Tôi thấy lực lượng thù địch này đang tan rã và biến mất như sương sớm, và sau một thời gian, ông sẽ thấy mình vững mạnh hơn và được kính trọng hơn bao giờ hết.” Rồi, khiến tôi ngạc nhiên, bà nói rằng một phụ nữ nào đó trong Hội chúng ta có ý định để lại cho tôi một khoản tiền lớn, và bà ấy đã yêu cầu luật sư soạn di chúc như vậy; rằng luật sư đã khuyên bà không nên dành toàn bộ tài sản cho tôi vì lý do gia đình. Nữ nhà ngoại cảm rồi nắm tay tôi và dường như nhìn vào tình trạng thể chất của tôi vì lát sau bà nói: “Ông thật khỏe [80] mạnh; dường như ông được cấu tạo để sống một trăm năm. Nhưng chân ông có gặp phiền toái gì không? Có vẻ như máu có khuynh hướng bị biến chất ở khu vực đó. Ông có bị đau không?” Tôi nói bà nói đúng, vì có một khuynh hướng di truyền bị gút và đó là rối loạn thể chất duy nhất tôi mắc phải. Bà khuyên tôi theo một chế độ ăn và dùng một số thuốc. Hôm sau, khi lại được thôi miên, bà nhấn mạnh một cách mạnh mẽ những lời tiên đoán về sự thành công của Hội và việc tôi được nhận di sản. Cả hai buổi đều thú vị, vì chắc chắn bà không đọc trong tâm tôi những ý nghĩ có thể làm cơ sở cho các dự báo của bà.
On Saturday the 26th (September) I packed my trunks and left by the “Rapide” for Marseilles, reaching there the next morning. Commandant Courmes and Baron Spedalieri met me at the station and the Baron took us to his house, gave us a splendid lunch and saw me on board the Messageries steamer, Ernest Simons, which sailed for Colombo at 4 p.m. Captain Maubeuge, the Commander, was an officer of the Navy assigned, like many British Naval officers, to a merchant vessel in time of peace; he was an old friend of Commandant Courmes, who gave me such an introduction to him as to make him show me every courtesy during [81] the voyage. A tempest had raged in the Mediterranean for several days previously, but on the day of our sailing the sea was calm and the sun smiling. The Captain talked to me a good deal about our Society, Buddhism and H.P.B., upon whom he had once called at Bombay and preserved very vivid remembrances of the interview. He showed himself to be deeply interested in the problems of karma and reincarnation, declaring his belief in the truth of the latter. The fine weather stayed with us to Port Said, to Suez, down the Red Sea to Djibouti and thence on to Colombo, where we disembarked on the 17th day after leaving Marseilles. I spent the time in calling on different friends until the afternoon when there was a T. S. meeting at Higgins’ school, for the admission of a Mr. Faber into membership. After dinner I went to our headquarters in Maliban Street and was escorted on board the Eridan, the connecting coasting steamer of the Messageries Company, which plies between Colombo and Calcutta.
Thứ Bảy ngày 26 (tháng 9) tôi thu xếp hành lý và lên tàu “Rapide” đi Marseilles, đến nơi sáng hôm sau. Chỉ huy Courmes và Nam tước Spedalieri đón tôi tại ga, và Nam tước đưa chúng tôi về nhà, khoản đãi một bữa trưa thịnh soạn rồi đưa tôi lên tàu của hãng Messageries, chiếc Ernest Simons, khởi hành đi Colombo lúc 4 giờ chiều. Thuyền trưởng Maubeuge, Chỉ huy, là một sĩ quan Hải quân được điều, như nhiều sĩ quan Hải quân Anh, sang tàu buôn thời bình; ông là bạn cũ của Chỉ huy Courmes, người đã giới thiệu tôi với ông bằng những lời khiến ông dành cho tôi mọi ân cần trong suốt [81] chuyến đi. Trước đó vài ngày, một cơn bão dữ dội đã hoành hành trên Địa Trung Hải, nhưng ngày tàu chúng tôi nhổ neo biển lặng và nắng tươi. Thuyền trưởng trò chuyện với tôi khá nhiều về Hội chúng ta, Phật giáo và H.P.B., người ông từng một lần đến thăm tại Bombay và còn giữ kỷ niệm rất sống động về buổi diện kiến. Ông tỏ ra rất quan tâm đến các vấn đề nghiệp quả và tái sinh, tuyên bố tin vào chân lý của điều sau. Thời tiết đẹp theo chúng tôi đến Port Said, Suez, rồi xuống Biển Đỏ tới Djibouti và từ đó đến Colombo, nơi chúng tôi lên bờ vào ngày thứ 17 sau khi rời Marseilles. Buổi chiều tôi tranh thủ đến thăm các bạn, rồi có một buổi họp T.S. tại trường của Higgins, để kết nạp một ông Faber vào Hội. Sau bữa tối, tôi đến trụ sở của chúng ta ở Phố Maliban và được đưa lên tàu Eridan, chiếc tàu ven biển nối chuyến của Hãng Messageries, chạy tuyến Colombo–Calcutta.
In looking over the things in my cabin I found that I had left something on board the “Ernest Simons,” and as she was moored not a hundred yards away from us and was announced to sail at 10-30 that night, giving me a leeway of an hour and a half, I asked my escort, Mr. C. P. Goonewardene, Secretary of our Colombo Branch, to take our boat [82] and go to the other steamer and bring me the missing object while I got my things to rights in the cabin. As he could not speak French I gave him a brief message in writing to the steward who had waited upon me, asking him to send me the lost article by the hand of my friend. I expected the latter back in fifteen or twenty minutes, but time passed on and he did not come. Meanwhile other friends came aboard to say good-bye and I was kept talking in the saloon so that time slipped by without my noticing it. Suddenly a steward came and told me that a boatman wanted to see me. He turned out to be the one, in charge of the boat that had brought Goonewardene and myself from shore and he said that the Ernest Simons had just sailed and carried off Mr. Goonewardene! He, the boatman, had clung to the gangway waiting for his fare until the ship’s quartermaster threatened to throw him into the water unless he let go the ship; as for the gentleman whom he had brought, he knew nothing; the boatman had finally to jump into the water because the ship had started.
Xem lại đồ đạc trong cabin, tôi phát hiện mình để quên một món trên tàu “Ernest Simons”, và vì nó đang neo chỉ cách chúng tôi chưa tới trăm thước và được thông báo sẽ khởi hành lúc 10 giờ 30 đêm hôm đó, cho tôi khoảng trống một tiếng rưỡi, tôi nhờ người đi cùng là Ông C. P. Goonewardene, Thư ký Chi bộ Colombo của chúng ta, lấy thuyền [82] sang tàu kia đem về vật bị thất lạc, trong lúc tôi thu xếp đồ đạc trong cabin. Vì ông không biết nói tiếng Pháp, tôi viết một mẩu giấy nhắn người tiếp viên đã phục vụ tôi, xin gửi trả lại đồ thất lạc qua tay bạn tôi. Tôi mong ông trở lại sau mười lăm hay hai mươi phút, nhưng thời gian trôi qua mà ông vẫn chưa tới. Trong lúc ấy, các bạn khác lên tàu từ biệt và tôi mải trò chuyện trong phòng khách đến nỗi thời gian trôi đi mà không để ý. Bất chợt một tiếp viên đến báo có người chèo thuyền muốn gặp tôi. Hóa ra đó là người phụ trách chiếc thuyền đã chở Ông Goonewardene và tôi từ bờ ra, và anh ta nói tàu Ernest Simons vừa nhổ neo và mang theo luôn Ông Goonewardene! Anh chèo thuyền bám vào thang tàu chờ hành khách của mình cho đến khi viên hạ sĩ quan tàu dọa quẳng anh xuống biển nếu còn bám tàu; còn vị quý ông mà anh chở đến thì anh không rõ; rốt cuộc anh phải nhảy xuống nước vì tàu đã rời bến.
One may imagine what my feelings were when I reflected that Goonewardene had come off with me just as he was in his office, without a change of clothing or, probably, the money for his travelling expenses: besides which he was an interpreter in one of the courts and the next day would be reported [83] as absent without leave. My only consolation was that he was sailing in the ship of which my friend, Capt. Maubeuge, was the commander, and I felt sure that when he came to know of the circumstances he would make everything right for his unwilling passenger. I, however, cabled to the President of our Branch at Singapore--the steamer’s next port of call--to supply Goonewardene with whatever he might need and look to me for payment. I also wrote an official letter to the proper authorities at Colombo explaining the facts and asking the favor of Mr. Goonewardene’s being granted leave of absence until he could return by the next boat from Singapore. My friend, however, had a hard time of it, thanks to French red tape. Although a gentleman, he was put in the third class and on arrival at Singapore locked up in a cabin until the money for his passage was forthcoming. This was not long delayed, for my correspondent, acting on the notice by cable, came aboard, paid the passage money, took our colleague to his house, and sent him back by the next homeward-bound French steamer.
Có thể hình dung tâm trạng tôi khi nghĩ rằng Ông Goonewardene đã đi cùng tôi với bộ dạng y như ở văn phòng của ông, không có quần áo thay, và có lẽ không có tiền chi phí; ngoài ra, ông là thông dịch viên của một tòa án và hôm sau sẽ bị báo cáo là [83] vắng mặt không phép. Niềm an ủi duy nhất là ông đang đi trên con tàu có bạn tôi, Thuyền trưởng Maubeuge, làm chỉ huy, và tôi chắc rằng khi ông biết rõ sự tình, ông ấy sẽ thu xếp ổn thỏa cho vị hành khách bất đắc dĩ. Dẫu vậy tôi vẫn điện báo cho Chủ tịch Chi bộ của chúng ta tại Singapore—bến kế tiếp của con tàu—yêu cầu cung cấp cho Ông Goonewardene mọi thứ cần dùng và ghi vào tài khoản của tôi. Tôi cũng viết một công văn gửi nhà chức trách hữu quan ở Colombo tường trình sự việc và xin miễn phép cho Ông Goonewardene cho đến khi ông có thể trở về bằng chuyến tàu kế tiếp từ Singapore. Tuy nhiên, bạn tôi đã có một quãng thời gian khổ sở, nhờ vào lề lối quan liêu Pháp. Dù là một quý ông, ông vẫn bị xếp hạng ba và khi đến Singapore thì bị nhốt trong một cabin cho đến khi có tiền vé. Việc này không kéo dài, vì người liên lạc của tôi, sau khi nhận điện báo, đã lên tàu, trả tiền vé, đưa đồng sự của chúng ta về nhà mình, và gửi ông trở về bằng chuyến tàu Pháp ngược chiều kế tiếp.
We carried the fine weather with us all the way up to Madras, which we reached on the 18th (Oct.) and I found Adyar as lovely as ever. Literary work occupied my time during the next few days, and as I had made up my mind to answer all the sophisms [84] of the Judgeites about our Society’s history by compiling a narrative from the papers in my possession, I enlisted the help of Dr. English and my other associates in the house to rummage through the boxes of archives.
Trời đẹp theo chúng tôi suốt hành trình đến Madras, nơi chúng tôi cập bến ngày 18 (tháng 10), và tôi thấy Adyar vẫn đẹp như xưa. Những ngày sau đó tôi bận rộn với công việc trước tác, và vì đã quyết định sẽ bác bỏ mọi ngụy biện [84] của phe Judge về lịch sử Hội bằng cách biên soạn một tường thuật dựa trên các giấy tờ tôi đang lưu giữ, tôi nhờ Bác sĩ English và các cộng sự khác trong nhà lục tìm các hòm lưu trữ.
On the 27th I received from Bangkok a case of books for the Adyar Library containing the thirty-nine volumes of the Buddhist Tripitika in Siamese character, which had been sent me by His Majesty the King of Siam through his relative, Prince Chandra Dat. This edition had been prepared by command of His Majesty as a memorial of the completion of the twenty-fifth year of his reign, and each volume was stamped with the royal arms and contained the King’s portrait. As we had already complete collections of the Tripitikas in the Sinhalese and Japanese languages, this present made our collection very valuable.
Ngày 27 tôi nhận từ Bangkok một thùng sách cho Thư viện Adyar, gồm ba mươi chín tập Tam Tạng Phật giáo bằng chữ Xiêm, do Đức Vua Xiêm gửi tặng qua người bà con của Ngài, Hoàng thân Chandra Dat. Ấn bản này được soạn theo lệnh Đức Vua, để kỷ niệm việc hoàn tất năm trị vì thứ hai mươi lăm của Ngài, và mỗi tập đều đóng quốc huy, kèm chân dung Nhà Vua. Vì chúng tôi đã có đủ bộ Tam Tạng bằng tiếng Tích Lan và tiếng Nhật, nên món quà này làm cho bộ sưu tập của chúng tôi rất quý giá.
At this same time the Tingley Crusaders reached Bombay on their voyage around the world and opened their proposed Indian campaign with a public meeting at the Town Hall of Bombay. In the report of this event and in the handbill which was distributed at Bombay, we see the same display of boastfulness and recklessness of statement which has been noticed in the remarks upon their doings at Paris. The handbill states that they are travelling around the world on behalf of the Theosophical [85] Movement. “Which was begun in America by Madame H. P. Blavatsky, continued by William Q. Judge and is now under the leadership of Mrs. Katharine A. Tingley.” The purpose of the visit to India “is to organise a Theosophical Society in this country on the original lines laid down by the Founders of the Movement”. The members of the party are as announced in the Paris handbill, with the amplification that Mrs. Tingley now styles herself “Leader of the entire Theosophical Movement throughout the world.” Considering that we, leaders, had lived and worked, at Bombay four years, and that our names were familiar in Hindu households throughout the whole Continent, this vain-glorious announcement naturally provoked the mirth of the country, and the scheme to organise Theosophical Societies on an improved pattern, fell flat. The Crusaders had their journey for their pains and there remains not a trace of their passage through the country.
Cũng thời gian này, đoàn “Thập tự chinh” của Bà Tingley đến Bombay trong chuyến du hành vòng quanh thế giới và mở màn chiến dịch Ấn Độ bằng một buổi họp công khai tại Tòa Thị chính Bombay. Trong bản tường thuật sự kiện và tờ bướm phát ở Bombay, ta lại thấy cái cách phô trương và phát biểu bừa bãi như đã ghi nhận ở Paris. Tờ bướm nói họ đi vòng quanh thế giới thay mặt cho [85] Phong trào Thông Thiên Học. “Phong trào được khởi đầu ở Mỹ bởi Bà H. P. Blavatsky, được tiếp nối bởi William Q. Judge và hiện đang dưới sự lãnh đạo của Bà Katharine A. Tingley.” Mục đích của chuyến thăm Ấn Độ “là tổ chức một Hội Thông Thiên Học ở xứ này theo đường hướng nguyên thủy do các Vị Sáng lập Phong trào vạch ra”. Thành viên đoàn như đã nêu trong tờ bướm ở Paris, kèm thêm việc Bà Tingley nay tự xưng là “Lãnh đạo toàn bộ Phong trào Thông Thiên Học khắp thế giới.” Xét rằng chúng tôi, những người lãnh đạo, đã sống và làm việc ở Bombay bốn năm, và tên tuổi chúng tôi quen thuộc trong các gia đình Hindu trên khắp lục địa, thì lời tuyên bố khoác lác ấy tự nhiên làm cả xứ cười cợt, và kế hoạch tổ chức các Hội Thông Thiên Học theo mẫu cải tiến rơi vào tình trạng xẹp lép. Những người “Thập tự chinh” đi chuyến này chỉ hoài công, và không để lại dấu vết nào ở xứ sở này.
The Times of India, for 30th October, 1896 said:
Times of India, số ra ngày 30 tháng 10, 1896, viết:
“The above visitors to Bombay, who are stated to be travelling round the world, occupied the platform at a meeting held at the Town Hall last night, but although seating accommodation had been provided for some five hundred of the general public only about seventy-five persons, principally Parsis, attended the meeting.” [86] Mrs. Tingley, with an eye to the shortcomings of the Brahmins, as it would seem, said:
“Những vị khách nói trên ở Bombay, được cho là đang đi vòng quanh thế giới, đã chiếm bục diễn giả tại một buổi họp ở Tòa Thị chính tối qua, nhưng dù đã chuẩn bị chỗ ngồi cho khoảng năm trăm người trong công chúng, chỉ chừng bảy mươi lăm người, chủ yếu là Parsi, đến dự.” [86] Bà Tingley, có vẻ nhắm vào những khiếm khuyết của hàng Brahmin, nói:
“Spiritual pride was one of the greatest barriers to enlightenment and the idea that some one form of religion was the oldest or the most profound in some cases blinded people to facts. The speaker did not believe that India was the source of the world’s religions, though she said that some teacher or other might flatter the Indians with that view in order to gather them into a special fold. The occult learning that India once shared in common with other nations, did not originate here and does not exist to any extent in India proper today. There was no religion now existing that had remained pure and undefiled and she urged the Hindus to seek beneath the mere external form of their religion for the deeper and grander truths underlying it. The same thing should be done by the Mohammedan and the Parsi. The first step to take was the practice of unselfishness. Work for the world should be done, for such work was of far greater importance than the mere cultivation of the intellect.”
“Tự phụ tinh thần là một trong những chướng ngại lớn nhất đối với sự soi sáng, và quan niệm rằng một hình thức tôn giáo nào đó là cổ nhất hay uyên thâm nhất trong một số trường hợp đã làm mù mắt người ta trước sự kiện. Người nói không tin rằng Ấn Độ là nguồn gốc của các tôn giáo thế giới, dù bà nói rằng một số giảng sư nọ kia có thể tâng bốc người Ấn bằng quan kiến ấy để lùa họ vào một bầy riêng. Học vấn huyền bí mà Ấn Độ xưa kia chia sẻ chung với các dân tộc khác không bắt nguồn từ đây và ngày nay hầu như không còn hiện hữu ở Ấn Độ. Không có tôn giáo nào hiện tồn mà vẫn giữ được thuần khiết và không nhiễm bợn, và bà kêu gọi người Hindu hãy tìm dưới cái vỏ hình thức của tôn giáo mình những chân lý sâu xa và hùng vĩ nằm bên dưới. Người Mohammedan và Parsi cũng nên làm điều tương tự. Bước đầu tiên phải làm là thực hành vị tha. Cần làm việc cho thế gian, vì loại công việc ấy trọng yếu hơn nhiều so với sự trau dồi thuần trí năng.”
Mr. E. J. Hargrove thought:
Ông E. J. Hargrove cho rằng:
“the time had arrived for the West to take the lead in the higher evolution of humanity. Old souls were incarnating in America; old forces were coming up. The Theosophical Society had been founded [87] in New York and with the impetus generated there, the movement had since spread over the entire world. The time had arrived for a new impetus to be given the movement from the same source. The present leader of the Theosophical movement, Mrs. Tingley, seemed to him like one of these old souls, grown wise in past incarnations, who had returned to carry on the work begun by Madame H. P. Blavatsky and furthered by Mr. W. Q. Judge. Mrs. Tingley’s occult powers were not only of a most remarkable and unusual character, but her brilliant leadership since Mr. Judge’s death, had more than justified her appointment to this post of grave responsibility.”
“đã đến lúc phương Tây dẫn đầu trong tiến hóa cao hơn của nhân loại. Những linh hồn già dặn đang lâm phàm ở Mỹ; những lực xưa đang trỗi dậy. Hội Thông Thiên Học đã được thành lập [87] tại New York và từ lực phát khởi ở đó, phong trào đã lan ra toàn thế giới. Đã đến lúc cần một xung lực mới cũng từ cùng nguồn ấy. Vị lãnh đạo hiện thời của Phong trào Thông Thiên Học, Bà Tingley, theo ông, giống như một trong những linh hồn già dặn, đã trở nên khôn ngoan qua những kiếp trước, nay trở lại để tiếp tục công trình do Bà H. P. Blavatsky khởi xướng và do Ông W. Q. Judge thúc đẩy. Năng lực huyền bí của Bà Tingley không những đặc biệt và khác thường mà tài lãnh đạo rực rỡ của bà kể từ khi Ông Judge qua đời còn hơn hẳn đủ để minh chứng cho việc bà được bổ nhiệm vào cương vị trọng trách này.”
Mr. Claude Falls Wright allowed his fancy to spread its wings after the following fashion:
Ông Claude Falls Wright để trí tưởng tượng của mình sải cánh như sau:
“When the American Theosophists went back to their own country they were to lay the foundation stone of a great School for the revival of the lost Mysteries of Antiquity. In this school would be demonstrated the workings of nature and the spiritual laws of life. The temple mysteries of the ancients would there be revived. This revival would only now take place because Western humanity had reached a point where interest was taken in the higher science. A great mystic, Mr. Wright said, had been born into the world, capable of leading humanity to an understanding of these mysteries, [88] and the work begun by Madame Blavatsky and continued by William Q. Judge and other great souls was to find its blossoming in this great School under this great mystic: he referred to Mrs. Katharine A. Tingley. In time he hoped a branch would be started in India, when things were less disturbed than now.”
“Khi các nhà Thông Thiên Học Mỹ về nước, họ sẽ đặt viên đá nền cho một Trường lớn nhằm khôi phục những Huyền môn đã thất truyền của Cổ đại. Tại ngôi trường này sẽ trình diễn những vận hành của thiên nhiên và các định luật tinh thần của sự sống. Các huyền nghi của đền thờ cổ xưa sẽ được phục sinh ở đó. Sự phục sinh này chỉ có thể diễn ra bây giờ vì nhân loại phương Tây đã đạt đến một điểm mà ở đó người ta quan tâm đến khoa học cao. Một bậc huyền giả vĩ đại, Ông Wright nói, đã sinh vào đời, có khả năng dẫn dắt nhân loại đến sự thấu hiểu các huyền môn ấy, [88] và công trình khởi sự bởi Bà Blavatsky và tiếp nối bởi William Q. Judge cùng các linh hồn vĩ đại khác sẽ đơm hoa kết trái trong ngôi Trường lớn này dưới sự dẫn dắt của bậc huyền giả ấy: ông ám chỉ Bà Katharine A. Tingley. Ông hy vọng một ngày nào đó sẽ lập một phân nhánh ở Ấn Độ, khi mọi sự bớt xáo trộn hơn hiện nay.”
Something went wrong before the tour was finished, for Mr. Wright and his wife left Mrs. Tingley on the way home, Mrs. Cleather (another Crusader) shortly after, Mr. Hargrove likewise, and the promised School of the Ancient Mysteries has never, so far as is known, taken root or turned out a single adept or Mahatma.
Có điều gì đó trục trặc trước khi kết thúc chuyến du hành, vì Ông Wright và vợ ông đã rời Bà Tingley trên đường về, Bà Cleather (một người “Thập tự chinh” khác) không lâu sau đó, Ông Hargrove cũng vậy, và ngôi Trường Huyền môn Cổ đại như đã hứa, theo như được biết, chưa hề bén rễ hay đào tạo được một chân sư hay Mahatma nào.
CHAPTER VII—CHƯƠNG VII
A HISTORICAL RETROSPECT—MỘT HỒI CỐ LỊCH SỬ
(1896)—(1896)
WE have seen that the passage of the Tingley crusaders left no trace behind it; in fact, since the date of our narrative (November, 1896), I do not remember to have read in an Eastern paper even the slightest allusion to her work or her society. If I am not mistaken, the same blight has fallen upon her movement in America, its whole vitality having been concentrated at Point Loma, where her palatial buildings have been erected amid lovely surroundings. Remembering that the Judge secession was based upon a platform of historical falsification and misrepresentation of individuals, one could hardly feel surprised that it should exhaust its impetus after a brief period.
CHÚNG TA đã thấy rằng cuộc hành trình của đoàn “thánh chiến” Tingley không để lại dấu vết nào; thực vậy, kể từ thời điểm câu chuyện của chúng ta (tháng Mười Một, 1896), tôi không nhớ đã đọc trong bất kỳ tờ báo phương Đông nào dù chỉ là một ám chỉ nhỏ nhất đến công việc hay hội của Bà. Nếu tôi không lầm, cùng một tai ương đã giáng lên phong trào của Bà ở Mỹ, khi toàn bộ sinh lực của nó được dồn tụ tại Point Loma, nơi các toà nhà nguy nga của Bà được dựng lên giữa những khung cảnh tuyệt đẹp. Hồi tưởng rằng vụ ly khai do Ông Judge cầm đầu đã đặt nền trên một cương lĩnh của sự xuyên tạc lịch sử và bóp méo con người, người ta khó mà ngạc nhiên khi thấy nó cạn kiệt xung lực chỉ sau một thời gian ngắn.
As remarked in the last chapter, I felt it incumbent upon me to undertake a task until then neglected, in compiling from the heterogeneous mass of papers in my possession, a detailed history of the rise and progress of the Society, with its [90] several changes of organisation during the quarter-century which was closing at the time of Mrs. Tingley’s visit to India. This narrative was included in my Annual Address to the Convention of 1896 and will be found in the report published in The Theosophist for January, 1897; a small edition of it was issued in pamphlet form in advance of the meeting of Convention, with the title A Historical Retrospect, 1875—1896. It is shown in the above Retrospect that the history of our Society divided itself naturally into periods, as follow;—
Như đã nói trong chương trước, tôi thấy bổn phận đặt lên vai mình một công việc bấy lâu bị bỏ quên, là từ khối hồ lốn các văn kiện tôi có trong tay, biên soạn một lịch sử chi tiết về sự khai sinh và phát triển của Hội, với [90] nhiều lần thay đổi cơ cấu trong suốt phần tư thế kỷ vừa khép lại vào lúc Bà Tingley thăm Ấn Độ. Bản tường thuật này được đưa vào Diễn văn Hằng niên của tôi đọc tại Đại hội năm 1896 và có thể thấy trong bản báo cáo đăng trên The Theosophist số tháng Giêng, 1897; một ấn bản nhỏ in rời cũng được phát hành trước kỳ Đại hội, với nhan đề Hồi Tưởng Lịch Sử, 1875—1896. Trong bản Hồi Tưởng nói trên có chỉ ra rằng lịch sử của Hội chúng ta tự nhiên phân thành các thời kỳ như sau:—
(a) From the informal social gathering at which its formation was proposed, to the departure of the two chief founders from New York to Bombay;
(a) Từ buổi gặp gỡ xã giao không chính thức nơi đề xuất việc thành lập, đến lúc hai vị sáng lập chính rời New York đi Bombay;
(b) From their arrival in India, throughout the spread of its influence in Asiatic and Australasian countries;
(b) Từ khi các Ngài đến Ấn Độ, suốt giai đoạn ảnh hưởng của Hội lan rộng tại các nước Á Châu và Úc Châu;
(c) From the visit of the two founders to Europe, throughout the development of the movement in European countries;
(c) Từ chuyến thăm Âu châu của hai vị sáng lập, suốt giai đoạn phát triển phong trào tại các nước Âu châu;
(d) In America, from the departure of the founders for India, to the formation of the Board of Control;
(d) Tại Mỹ, từ khi hai vị sáng lập khởi hành sang Ấn Độ, đến khi lập ra Hội đồng Kiểm soát;
(e) From the latter event, to the replacement of the Board by the American Section of the Theosophical Society;
(e) Từ sự kiện sau cùng này, đến khi Hội đồng được thay thế bằng Khu bộ Mỹ của Hội Thông Thiên Học;
[91]
[91]
(f) From the latter event, to its disruption in April, 1895;
(f) Từ sự kiện sau cùng này, đến khi Khu bộ ấy bị tan rã vào tháng Tư, 1895;
(g) From the latter, event, to the present time (December, 1896).
(g) Từ sự kiện sau cùng này, đến thời điểm hiện tại (tháng Mười Hai, 1896).
The reason for the postponement of the writing of our history to this late date is not far to seek: H. P. B. and I had been so busy in making history that we had had no time for the writing of it. The field was thus left clear for the sowing of Mr. Judge’s crop of fables, and under the zealous tillage of himself, his colleagues and successors, the soil had become choked with weeds. Further delay would have been inexcusable, so the narrative in question was prepared, and so thoroughly that it is doubtful if any subsequent additions can or will ever be made. The ignorance about the evolution of the Society up to the present time among our members is, I fear it must be said, appalling; I do not suppose that one out of a hundred of those who have joined us within the past five years have any distinct notion on the subject, and not one in twenty have read any of H. P. B.’s writings. All the more reason why I should collect, so far as may be, the materials which will prove useful hereafter to the person who shall write that compendious history of the Theosophical movement of which my present work is but a forerunner. [92] With the valuable help of Dr. and Miss English and others in the house, the materials for the pamphlet were got together after long search and on the 7th December I began writing it out. Within a few days it was finished and sent in to the printer. The drafting of my Annual Address and other office work occupied my time pretty thoroughly throughout the second half of December. The first delegates to the Convention arrived on the 19th, from which time onward they swarmed in from all the four quarters after the usual fashion. About this time 2 Russian gentleman interested in the compilation of a Hindustani grammar and vocabulary, a Mr. Alexander Vigornitsky, brought me a letter of introduction from M. Blanc, the French explorer of Central Asia, in which he asked me to aid his friend as far as might be, in the attainment of his object. What I did was to give him my visiting-card with a few words of commendation written upon it and a printed list of our Indian Branches, telling him that he had only to present himself to any of the local representatives of our Branches, ask for what he wanted and take with confidence what might be told him. Just before the meeting of Convention he returned to Adyar and told me that my little visiting card had, he believed, been more efficacious for him than if he [93] had had a gilded passport from a reigning king; that neither M. Blanc nor himself had had a conception of the importance of the Theosophical Society as a means of binding together the peoples of India in a great bond of sympathy and brotherhood.
Lý do việc viết lịch sử của chúng ta bị hoãn đến tận thời điểm muộn màng này không khó hiểu: H. P. B. và tôi bận rộn đến mức mải làm nên lịch sử đến nỗi không còn thời giờ để viết nó. Thế là cánh đồng bị bỏ trống cho Ông Judge gieo rắc mùa vụ chuyện hoang đường, và dưới công cuộc canh tác nhiệt thành của chính Ông, các cộng sự và người kế vị, thửa đất đã bị cỏ dại mọc nghẹt. Trì hoãn thêm nữa thì không thể tha thứ, nên bản tường thuật đã được soạn, và kỹ lưỡng đến mức khó có thể có, hay sẽ có, bất kỳ bổ sung nào về sau. Sự thiếu hiểu biết về tiến trình phát triển của Hội đến nay trong hàng ngũ hội viên, tôi e phải nói, là khủng khiếp; tôi không cho rằng một trong một trăm người gia nhập trong năm năm qua có được một ý niệm minh bạch nào về chủ đề này, và chưa một trong hai mươi người đọc bất kỳ tác phẩm nào của H. P. B. Càng có thêm lý do để tôi gom góp, trong mức có thể, những tư liệu sẽ hữu ích cho người mai sau sẽ viết nên bộ lược sử đầy đủ về phong trào Thông Thiên Học mà công trình hiện tại của tôi chỉ là người dọn đường. [92] Với sự trợ lực quý báu của Bác sĩ và Cô English và những người khác trong nhà, tư liệu cho tập sách mỏng đã được thu thập sau một quá trình tìm kiếm lâu dài, và ngày 7 tháng Mười Hai tôi bắt tay chấp bút. Chỉ vài ngày là xong và gửi nhà in. Việc thảo Diễn văn Hằng niên và các công việc văn phòng khác chiếm trọn nửa sau tháng Mười Hai của tôi. Những đại biểu đầu tiên dự Đại hội đến vào ngày 19, và từ đó trở đi, họ đổ về từ bốn phương như lệ thường. Vào khoảng thời gian này có 2 quý ông Nga quan tâm đến việc biên soạn một ngữ pháp và từ vựng Hindustani, một người là Ông Alexander Vigornitsky, mang đến cho tôi một thư giới thiệu của Ông Blanc, nhà thám hiểm Trung Á người Pháp, trong đó Ông đề nghị tôi giúp bạn mình trong mức có thể để đạt mục tiêu. Việc tôi làm là đưa ông danh thiếp của mình với vài dòng giới thiệu và một danh sách in các Chi bộ Ấn Độ của chúng ta, bảo ông rằng chỉ cần đến gặp bất kỳ đại diện địa phương nào của các Chi bộ, hỏi điều mình muốn và yên tâm tiếp nhận những gì được chỉ bảo. Ngay trước kỳ Đại hội, ông trở lại Adyar và nói với tôi rằng tấm danh thiếp nhỏ của tôi, theo ông tin, hiệu nghiệm cho ông hơn cả khi ông [93] có một tờ hộ chiếu mạ vàng do một vị vua đang trị vì cấp; rằng cả Ông Blanc lẫn chính ông đều chưa từng hình dung tầm quan trọng của Hội Thông Thiên Học như một phương tiện gắn kết các dân tộc Ấn Độ trong một dây liên kết lớn của cảm thông và tình huynh đệ.
The statistical returns which were read to the Convention showed a year of prosperity despite the cataclysm in America. Charters had been issued for 20 new Branches and at the close of the twelve-month we had on our Register 428 living Branches, as against 408 at the close of 1895. Of these 7 were Indian; 6 European; 3 American; 2 Australasian; 1 Scandinavian and 1 New Zealand. Miss Edger, as General Secretary of the last-named Section, made her first Annual Report. The Rules of the T. S. were carefully revised on July 9th at a Special Meeting of the General Council held at London; and these have been left unchanged up to the present time of writing (1905), excepting the slight modifications which the Incorporation of the Society made necessary. The death of Mr. W. Q. Judge on the 21st of April, less than one year after his secession, was the most striking event of 1896, in our history, but its consequences have been far less important than had been anticipated; in fact, one may fairly describe the latter circumstance as a dismal failure from the [94] point of view of the conspirators who engineered it. For their intention was to wreck the Society, cast out its surviving founder and Mrs. Besant, and on its ruins erect their new Society with Mr. Judge as its Hierophant Ruler, the sole successor to H. P. B. and to her “twin,” as well.
Các số liệu thống kê đọc tại Đại hội cho thấy một năm thịnh vượng bất chấp cơn biến động ở Mỹ. Bằng công nhận đã được cấp cho 20 Chi bộ mới và đến cuối mười hai tháng, Sổ đăng bạ của chúng ta có 428 Chi bộ còn sinh hoạt, so với 408 vào cuối năm 1895. Trong số đó có 7 ở Ấn Độ; 6 ở châu Âu; 3 ở châu Mỹ; 2 ở Úc Châu; 1 ở Scandinavia và 1 ở Tân Tây Lan. Cô Edger, với cương vị Tổng Thư ký của Khu bộ sau cùng kể trên, đã trình bày Bản Báo cáo Hằng niên đầu tiên của mình. Điều lệ của Hội T. S. đã được rà soát kỹ vào ngày 9 tháng Bảy tại một Phiên họp đặc biệt của Tổng Hội đồng tổ chức ở Luân Đôn; và Điều lệ ấy vẫn không đổi cho đến thời điểm tôi viết (1905), ngoại trừ vài điều chỉnh nhỏ do việc pháp nhân hóa Hội buộc phải thực hiện. Cái chết của Ông W. Q. Judge vào ngày 21 tháng Tư, chưa đầy một năm sau khi ly khai, là sự kiện nổi bật nhất của năm 1896 trong lịch sử chúng ta, nhưng hệ quả của nó kém xa dự đoán; thực vậy, có thể nói không ngoa rằng diễn biến sau đó là một thất bại thảm hại xét từ [94] góc nhìn của những kẻ chủ mưu điều khiển nó. Vì ý đồ của họ là đánh đắm Hội, trục xuất vị sáng lập còn lại và Bà Besant, rồi trên đống tro tàn ấy dựng nên Hội mới với Ông Judge làm Tế sư Tối thượng, người kế vị duy nhất của H. P. B. và cả “song sinh” của Bà nữa.
Among the interesting facts given in the President’s Annual Report for 1896, are the statistics of our literary activity from 1883 to that date. During this period the Society and its individual members had published 473 books, 53 periodicals and 240 pamphlets. These not taking into account the publications in Eastern vernacular, the statistics of which were not in my possession.
Trong các dữ kiện thú vị nêu trong Báo cáo Hằng niên của Chủ tịch năm 1896, có thống kê về hoạt động trước tác của chúng ta từ năm 1883 đến thời điểm đó. Trong giai đoạn này, Hội và các hội viên đã xuất bản 473 cuốn sách, 53 tạp chí định kỳ và 240 tập sách mỏng. Những con số này không tính các ấn phẩm bằng ngôn ngữ bản địa phương Đông, mà tôi không có thống kê trong tay.
Among the interesting letters received by me in connection with that year’s Convention was one from the venerable high priest Sumangala, which, in view of the nonsensical attempt recently begun by a conceited young man to falsify the history of the educational movement in Ceylon, may well be admitted into my narrative at this point:—
Trong số những bức thư thú vị tôi nhận được liên quan đến Đại hội năm ấy có một thư của vị Đại Tăng khả kính Sumangala; xét đến việc gần đây một thanh niên tự phụ đã khởi sự một nỗ lực ngớ ngẩn nhằm xuyên tạc lịch sử phong trào giáo dục ở Tích Lan, bức thư này rất nên được đưa vào câu chuyện của tôi ở đây:—
TO COLONEL H. S. OLCOTT, President, T. S.
GỬI ĐẠI TÁ H. S. OLCOTT, Chủ tịch, Hội T. S.
GREETING:—
LỜI CHÀO:—
Whereas, I learn that the Annual Convention of the Theosophical Society for 1896 is to sit at [95] Adyar this December, I have much pleasure in expressing, on behalf of the Buddhists of this Island, their gratitude to you in particular and to the T. S. in general, for inaugurating and encouraging the spread of education, secular and religious, among the Buddhist boys and girls in Ceylon, and for securing for the Buddhist that toleration and freedom from persecution which they did not enjoy before your first arrival in 1880.
Xét rằng, tôi được biết Đại hội thường niên của Hội Thông Thiên Học năm 1896 sẽ nhóm họp tại [95] Adyar vào tháng Mười Hai này, tôi rất hân hạnh bày tỏ, thay mặt cho Phật tử trên Đảo quốc này, lòng tri ân đối với Ngài nói riêng và đối với Hội T. S. nói chung, về việc khởi xướng và khuyến khích việc phổ cập giáo dục, thế học lẫn Phật học, cho các nam nữ thiếu niên Phật giáo ở Tích Lan, và về việc bảo đảm cho Phật tử một sự khoan dung và tự do khỏi đàn áp mà trước khi Ngài lần đầu tới đây vào năm 1880, họ chưa hề được hưởng.
(Sd.) H. SUMANGALA,
(Đã ký.) H. SUMANGALA,
Pradana Nayaka Thera and December 2nd, 1896. High Priest of Adam’s Peak.
Pradana Nayaka Thera và Ngày 2 tháng 12, 1896. Đại Tư tế của Adam’s Peak.
In the course of my reading at that time I came across a highly interesting story in the Phrenological Journal for November, about a Negro whose skull had been fractured in the battle of Bull Run, in 1861, and who had remained without intelligence until 1881, when his skull was trepanned and his consciousness was restored. His first question was: “Which side licked, yesterday?” The intervening twenty years had been a total blank: his body had functioned but his brain consciousness on the physical plane had been arrested. This is an almost parallel case to that of the groom, made classical by its use in the works of several materialistic physiologists, where the unfortunate man while cleaning a horse had [96] had his skull fractured by a kick of its hoof, had remained without consciousness until after a trepanning, when his first conscious action was to complete a sentence which he had been speaking at the time of the accident. The argument of the physiologists was briefly this: Consciousness is a function of the brain; an accident suspends it; a fatal one destroys it; therefore there is no consciousness in any entity apart from the brain. The insufficiency of this reasoning has been proved countless times by the experimenters with mesmerism and clairvoyance; but still in spite of fact and experience the old fallacious logic is still clung to by that class of persons who seem to resent as almost a personal affront the attempt to destroy scientific superstructures built upon foundations of ignorance and vanity. So much violence and bitterness do they sometimes display, that in seeking to find some term expressive of their mental condition, I invented the word “Psychophobia” and respectfully commend it to students of psychology. No victim of dog-bite shows more terror at the sight of water than does one of these ultramaterialists when asked to consider some new and extremely convincing phenomenon which goes to show’ the separability of man’s astral body from his physical, and his power to carry his consciousness to whatever distance he may have projected [97] himself by the power of his will: one would think that he thought that a new thought would bite him!
Trong quá trình đọc sách lúc bấy giờ, tôi gặp một câu chuyện hết sức thú vị trên Phrenological Journal số tháng Mười Một, về một người da đen bị nứt sọ trong trận Bull Run năm 1861, và người ấy sống trong tình trạng không có trí tri cho đến năm 1881, khi được khoan sọ thì tâm thức được phục hồi. Câu hỏi đầu tiên của ông ta là: “Hôm qua phe nào thắng?” Hai mươi năm ở giữa hoàn toàn trống rỗng: thân xác ông vẫn hoạt động nhưng tâm thức não bộ trên cõi hồng trần bị đình chỉ. Đây là một trường hợp gần như song trùng với trường hợp người giữ ngựa, vốn trở thành cổ điển do được dẫn dụng trong các trước tác của vài nhà sinh lý học duy vật, nơi người xấu số đang chải ngựa thì [96] bị cú đá của nó làm nứt sọ, và ông ta bất tỉnh cho đến khi được khoan sọ, lúc đó hành động có ý thức đầu tiên của ông là nói nốt nửa câu còn lại mà ông đang nói vào thời điểm xảy ra tai nạn. Lập luận của các nhà sinh lý ấy vắn tắt như sau: Tâm thức là một chức năng của bộ não; tai nạn làm đình chỉ nó; một tai nạn chí tử hủy diệt nó; vậy không có tâm thức nào tồn tại trong bất kỳ thực thể nào tách rời khỏi bộ não. Cái non kém của lối suy luận này đã được chứng minh vô số lần bởi các nhà thực nghiệm với thôi miên và thông nhãn; thế nhưng, bất chấp sự kiện và kinh nghiệm, lối ngụy biện cũ ấy vẫn được một hạng người bám chặt, những người dường như coi nỗ lực đả phá các siêu cấu trúc “khoa học” xây trên nền tảng vô minh và tự mãn như một sự xúc phạm cá nhân. Họ đôi khi bộc lộ nhiều bạo hứng và cay nghiệt đến độ, khi cố tìm một thuật ngữ diễn tả trạng thái tâm lý của họ, tôi đã sáng chế từ “chứng sợ tâm linh” và kính đề nghị các sinh viên tâm lý học lưu ý. Không nạn nhân nào của chó dại lại khiếp sợ nước hơn những tay duy vật quá khích này khi được mời cân nhắc một hiện tượng mới mẻ và cực kỳ thuyết phục chứng tỏ [97] tính có thể tách rời của thể cảm dục khỏi thể xác, và năng lực con người mang tâm thức của mình đi xa đến bất kỳ khoảng cách nào y đã phóng chiếu chính mình bằng sức mạnh ý chí: cứ như thể người ấy tưởng rằng một tư tưởng mới sẽ cắn mình vậy!
The last whiff of perfume from the truthful Tingley crusaders was wafted to us about the middle of December from Colombo, where they held a meeting at Floral Hall on the 12th December, at 5 P.M. In the advertisement the public is assured that there would be nothing to pay for the intellectual symposium; they would have the “Addresses Free”; and for fear that, under a misapprehension as to the character of the party they might absent themselves and so lose the unique chance of seeing and hearing the “Leader of the Entire Theosophical Movement throughout the World,” they announced that “The Members of the Tour wish it to be distinctly understood that they have no connection with that organisation to which MRS. ANNIE BESANT is attached and of which COLONEL OLCOTT is President.” This is really very kind on the part of our gifted enemy, as it saves me the necessity of taking any further trouble to prove that neither I nor the Society has any responsibility for the harlequinade that gave the crusaders an agreeable outing at the expense of their confiding colleagues.
Làn hương cuối cùng từ sự “thanh liêm” của đoàn thánh chiến Tingley thoảng đến với chúng ta vào khoảng giữa tháng Mười Hai từ Colombo, nơi họ mở một buổi họp tại Floral Hall ngày 12 tháng Mười Hai, lúc 5 giờ chiều. Trong mẩu quảng cáo, công chúng được bảo đảm rằng họ sẽ không phải trả gì cho buổi tiệc chiêu đãi trí tuệ; họ sẽ được “Nghe Diễn từ Miễn phí”; và để tránh việc, vì hiểu lầm về tính chất của đoàn, người ta có thể vắng mặt và như thế bỏ lỡ cơ hội độc nhất vô nhị để nhìn và nghe “Vị Lãnh Đạo của Toàn bộ Phong trào Thông Thiên Học trên khắp Thế giới”, họ tuyên bố rằng “Các Thành viên của Chuyến Du hành mong được hiểu thật rõ ràng rằng họ không có liên hệ gì với tổ chức mà BÀ ANNIE BESANT trực thuộc và mà ĐẠI TÁ OLCOTT làm Chủ tịch.” Quả thật đây là một sự tử tế lắm của kẻ địch tài hoa của chúng ta, vì nó miễn cho tôi khỏi phải nhọc công thêm chút nào để chứng minh rằng cả tôi lẫn Hội đều không hề chịu trách nhiệm về màn hề hóa trang đã đem đến cho đoàn thánh chiến một chuyến du ngoạn thú vị bằng tiền bạc của các đồng sự cả tin của họ.
As above noted, the stream of delegates flowed in as usual and on the 27th the Convention opened at its appointed time with more than the usual [98] number of representatives of Branches. Among the pleasant incidents of the opening was the receipt of a long cablegram from the General Secretary of the Australasian Section and an equally cordial greeting from the New Zealand Section. These cables and telegrams and letters and official reports and attendances of delegates in person combine to make one realize how world-wide our movement has become. A feature of the twenty-first Anniversary was the appearance on the scene of Dr. Arthur Richardson, late of University College, Bristol, who had resigned the chair which he had occupied twelve years to come out to India and work with us without money and without price. He gave us some lectures on “Fire,” “Science and the Invisible,” and other subjects, to the great profit of his hearers. The great feature of that year’s Convention (the Twenty-first) was the course of lectures given by Mrs. Besant on Four Great Religions, a most scholarly, striking and convincing intellectual effort. So eloquent was she in her expositions of the several world faiths, so clearly did she make her points, and so ingeniously weave around them the golden web of a common parentage, that one would have thought that a learned Pandit, Mobed, Bhikshu or Bishop was in his turn expounding the mysteries of his own ancestral religion. These admirable discourses were soon [99] after published, and together with her subsequent series, entitled The Religious Problem in India, are invaluable helps to students of Comparative Religion, to find the common. basis upon which all human creeds have been built. It is only fair to quote what she herself says about the plan pursued in the treatment of her subject. In the Foreword (Introduction) to her Four Great Religions she thus sketches her dominant idea:
Như đã lưu ý ở trên, dòng đại biểu đổ về như thường lệ và ngày 27 Đại hội khai mạc đúng giờ ấn định với số [98] đại biểu Chi bộ hiện diện đông hơn thường niên. Một trong những tiết mục dễ chịu của phiên khai mạc là tiếp nhận một bức điện dài từ Tổng Thư ký Khu bộ Úc Châu và một lời chào hỏi nồng ấm tương tự từ Khu bộ Tân Tây Lan. Những bức điện dây nói và điện tín và thư từ và báo cáo chính thức cùng sự hiện diện trực tiếp của các đại biểu hoà lại làm người ta cảm nhận được phong trào của chúng ta đã trở nên toàn cầu đến mức nào. Một điểm nhấn của Lễ Kỷ niệm 21 năm là sự xuất hiện của Bác sĩ Arthur Richardson, trước đây thuộc University College, Bristol, người đã từ nhiệm chiếc ghế ông ngồi suốt mười hai năm để sang Ấn Độ làm việc với chúng ta mà không công không giá. Ông đã cho chúng ta vài bài giảng về “Lửa”, “Khoa học và Cõi Vô hình”, và các chủ đề khác, đem lại lợi ích lớn cho thính giả. Điểm nhấn vĩ đại của Đại hội năm ấy (lần thứ hai mươi mốt) là loạt diễn giảng của Bà Besant về Bốn Đại Tôn giáo, một nỗ lực học thuật, ấn tượng và thuyết phục bậc nhất. Bà hùng biện đến mức trong các phần giảng giải về từng tôn giáo thế giới, Bà nêu điểm nào cũng sáng rõ, và khéo léo dệt quanh chúng tấm lụa vàng của một cội nguồn chung, khiến người ta có cảm tưởng như một vị Pandit uyên thâm, một Mobed, một Tỉ-kheo hay một Giám mục đang lần lượt trình bày bí giáo của chính tôn giáo tổ tiên mình. Những bài thuyết giảng tuyệt hảo này chẳng bao lâu [99] đã được xuất bản, và cùng với loạt sau đó của Bà, nhan đề Vấn đề Tôn giáo ở Ấn Độ, là những trợ lực vô giá cho các sinh viên Tôn giáo So sánh trong việc tìm ra nền tảng chung mà trên đó mọi tín điều nhân loại đã được xây dựng. Công bằng mà nói, ta nên trích nguyên lời Bà về phương pháp được sử dụng khi triển khai đề tài. Trong Lời Mở đầu (Dẫn nhập) của Bốn Đại Tôn giáo, Bà phác thảo ý niệm chủ đạo như sau:
“The general principles underlying these lectures are the following:
“Những nguyên tắc tổng quát làm nền cho các bài giảng này như sau:
“Each religion is looked at in the light of occult knowledge, both as regards its history and its teachings. While not despising the conclusions arrived at by the patient and admirable work of European scholars, I have unhesitatingly flung them aside where they conflict with important facts preserved in occult history, whether in those imperishable records where all the past is still to be found in living pictures, or in ancient documents carefully stored up by Initiates and not wholly inaccessible. Especially is this the case with regard to the ages of Hinduism and Zoroastrianism, touching which modern scholarship is ludicrously astray. That scholarship, however, will regard the occult view as being, in its turn, grotesquely wrong. Be it so. Occultism can wait to be justified by discoveries, as so many of its [100] much-ridiculed statements as to antiquity have already been; the earth is a faithful guardian, and as the archæologist uncovers the cities buried in her bosom many an unexpected witness will be found to justify the antiquity that is claimed.
“Mỗi tôn giáo được xét trong ánh sáng của tri thức huyền bí, cả về lịch sử lẫn giáo lý. Trong khi không xem nhẹ các kết luận đạt được bởi công trình kiên nhẫn và đáng khâm phục của các học giả châu Âu, tôi đã không ngần ngại gạt chúng sang bên khi chúng xung đột với các sự kiện trọng yếu còn được lưu giữ trong lịch sử huyền bí, dù là trong những ký lục bất diệt nơi toàn bộ quá khứ vẫn còn có thể được thấy trong những bức họa sống động, hay trong những văn bản cổ được các Điểm đạo đồ gìn giữ cẩn trọng và không phải là hoàn toàn bất khả tiếp cận. Đặc biệt là điều này đúng khi nói về niên đại của Ấn Độ giáo và Bái Hỏa giáo, về đó mà học thuật hiện đại lạc lối một cách khôi hài. Tuy nhiên, học thuật ấy sẽ nhìn quan kiến huyền bí như, đến lượt mình, lầm lạc tức cười. Cứ để vậy đi. Huyền bí học có thể chờ để được chứng minh bằng những phát hiện, như bao điều [100] từng bị chế giễu của nó về cổ đại tính đã được minh chứng rồi; đất là người gìn giữ trung tín, và khi nhà khảo cổ khai mở những thành thị chôn vùi trong lòng đất, nhiều nhân chứng bất ngờ sẽ được tìm thấy để biện minh cho cổ đại tính mà chúng tôi khẳng định.
“Secondly, each religion is treated as coming from the one great Brotherhood, which is the steward and custodian of spiritual knowledge. Each is treated as an expression, by some member or messenger of that Brotherhood, of the eternal spiritual truths, an expression suited to the needs of the time at which it was made, and of the dawning civilisation that it was intended to mould and to guide in its evolution. Each religion has its own mission in the world, is suited to the nations to whom it is given, and to the type of civilization it is to permeate, bringing it into line with the general evolution of the human family. The failure to see this leads to unjust criticism, for an ideally perfect religion would not be suitable to imperfect and partially evolved men, and environment must always be considered by the Wise when They plant a new slip of the ancient tree of wisdom.
“Thứ đến, mỗi tôn giáo được xem như phát xuất từ Huynh đệ Đoàn vĩ đại, là quản thủ và tàng thủ tri thức tinh thần. Mỗi tôn giáo được coi là sự biểu đạt—bởi một thành viên hay sứ giả nào đó của Huynh đệ Đoàn—các chân lý tinh thần vĩnh hằng, một sự biểu đạt phù hợp với nhu cầu của thời đại mà nó được hiển lộ, và của nền văn minh rạng đông mà nó có ý định uốn nắn và hướng dẫn trong tiến trình thăng thượng. Mỗi tôn giáo có sứ mệnh riêng trong thế giới, phù hợp với các dân tộc được trao ban, và với kiểu hình văn minh mà nó cần thấm nhuần, đưa nền văn minh ấy vào quỹ đạo của tiến hóa chung của gia đình nhân loại. Không thấy được điều này sẽ dẫn đến phê bình bất công, vì một tôn giáo lý tưởng hoàn hảo sẽ không phù hợp với những con người bất toàn và mới tiến hóa một phần, và hoàn cảnh sinh tồn luôn phải được các Bậc Trí giả cân nhắc khi Các Ngài trồng một nhánh non mới của cây minh triết cổ xưa.
“Thirdly, an attempt is made to distinguish the essential from the non-essential in each religion, and to treat chiefly the former. For every religion in the course of time suffers from accretions due [101] to ignorance—not to wisdom, to blindness—not to vision. Within the brief compass of these lectures, it was not possible to distinguish in detail, nor to point out all the numerous non-essentials. But the following test may be used by anyone who desires to guide himself practically in discriminating between the permanent and the transitory elements in any religion. Is it ancient, to be found in the ancient Scriptures? Has it the authority of the Founder of the religion, or of the Sages to whom the formulation of the particular religion is due? Is it universal, found under some form in all religions? As regards spiritual truths, anyone of these tests is sufficient. As to smaller matters, matters of rites and ceremonies, observances and customs, the use or disuse of any particular practice, we may ask as to each: Is it laid down or recommended in the ancient Scriptures, by the Founder or His immediate disciples? Can its usefulness be explained or verified by those in whom occult training has developed the inner faculties which make the invisible world a region they know by their own experience? If a custom be of modern growth, with only a century, or two or three centuries, behind it; if it be local, not found in any ancient Scripture, nor justified by occult knowledge; then—however helpful it may be found by any individual in his [102] spiritual life—it should not be imposed on any member of a particular religion as binding on him as a part of that religion, nor should a man be looked at askance for non-compliance with it. This fact especially needs enforcement in India, where customs that are entirely local, or very modern, are apt to be identified with Hinduism in the minds of their followers, and any Hindus who do not accept them are looked upon as somewhat inferior, even as unorthodox. Such customs, even if much valued and found useful by their adherents, should not be considered as generally binding, and should fall into the class of non-essentials. It has been well said that while in things essential there should be unity, in things non-essential there should be liberty, and in all things there should be charity. Were that wise rule followed by each, we should hear less of the religious antagonisms and sectarian disputes that bring shame on the very word ‘religion’. That which ought to unite has been the ever-springing source of division, until many have impatiently shaken off all religion as being man’s worst enemy, the introducer everywhere of strife and hatred.”
“Thứ ba, một nỗ lực được thực hiện nhằm phân biệt cái cốt yếu với cái không cốt yếu trong mỗi tôn giáo, và chủ yếu là luận về điều trước. Bởi lẽ, mỗi tôn giáo, theo thời gian, đều hứng chịu những bồi đắp [101] do vô minh—chứ không phải do minh triết, do mù lòa—chứ không phải do trực kiến. Trong khuôn khổ ngắn gọn của những bài giảng này, không thể phân biệt chi li, cũng không thể chỉ ra mọi điều không cốt yếu. Nhưng có thể dùng phép thử sau cho bất kỳ ai mong muốn tự hướng dẫn mình một cách thực tiễn trong việc phân biệt giữa yếu tố thường tồn và yếu tố nhất thời trong bất kỳ tôn giáo nào. Nó có cổ hay không, có thấy trong Thánh điển cổ hay không? Nó có thẩm quyền của Đấng Sáng lập tôn giáo, hay của các Hiền sĩ đã kiến tạo nên hình thái đặc thù của tôn giáo ấy hay không? Nó có tính phổ quát không, tức là có thấy dưới hình thức nào đó trong mọi tôn giáo hay không? Đối với các chân lý tinh thần, một trong những phép thử này là đủ. Còn đối với những điều nhỏ hơn, liên quan đến nghi thức và lễ pháp, các sự tuân thủ và phong tục, việc dùng hay không dùng một thực hành nào đó, chúng ta có thể hỏi về từng điều: Nó có được đặt định hay khuyến nghị trong Thánh điển cổ, bởi Đấng Sáng lập hay các đệ tử trực tiếp của Ngài không? Tính hữu ích của nó có thể được giải thích hay xác chứng bởi những ai mà sự rèn luyện huyền bí đã phát triển các năng lực nội tại, nhờ đó cõi vô hình là một cảnh vực họ biết qua kinh nghiệm bản thân hay không? Nếu một phong tục là sản phẩm của thời cận đại, chỉ mới một trăm năm, hay hai ba trăm năm; nếu nó mang tính địa phương, không thấy trong bất kỳ Thánh điển cổ nào, cũng không được tri thức huyền bí biện minh; thì—dù nó có được bất kỳ cá nhân nào trân trọng và thấy hữu ích cho [102] đời sống tinh thần của họ—nó cũng không nên bị áp đặt lên bất kỳ tín đồ nào như một điều ràng buộc thuộc tôn giáo ấy, và một người không thực hiện nó không nên bị nhìn bằng ánh mắt ngờ vực. Thực tế này đặc biệt cần nhấn mạnh ở Ấn Độ, nơi những phong tục hoàn toàn địa phương, hoặc rất mới, thường bị đồng nhất với Ấn Độ giáo trong tâm trí người theo chúng, và bất kỳ người Ấn Độ giáo nào không chấp nhận chúng thì bị nhìn như có phần thấp kém, thậm chí là không chính thống. Những phong tục như vậy, dù có được người theo trân trọng và thấy hữu ích, cũng không nên coi là phổ quát ràng buộc, và nên được xếp vào loại không cốt yếu. Người ta đã nói rất hay rằng, trong những điều cốt yếu phải có hợp nhất, trong những điều không cốt yếu phải có tự do, và trong mọi điều phải có bác ái. Nếu mọi người đều theo quy tắc khôn ngoan ấy, chúng ta sẽ nghe ít đi về những đối kháng tôn giáo và tranh chấp giáo phái vốn làm hoen ố chính từ ‘tôn giáo’. Cái lẽ ra phải hiệp nhất đã là nguồn chia rẽ bất tận, đến mức nhiều người đã mất kiên nhẫn và dứt bỏ hết thảy tôn giáo như là kẻ thù tồi tệ nhất của con người, kẻ gieo rắc bất hòa và hận thù khắp nơi.”
The audiences at Mrs. Besant’s lectures are always enthusiastic but on these four mornings they were unusually so: the crowds were tremendous, the Hall crowded to suffocation, and the applause was constant and tumultuous. [103] As we pass in review all the various religious systems that have been taught to humanity, including the four treated by Mrs. Besant in this course of lectures, the thoughtful mind is struck with the fact that the vulgar, or popular, aspect of each is essentially what we might call the “geocentric”, i.e., that they deal only with this planet and its inhabitants; the view of the Problem of Existence is narrow, circumscribed and insufficient to give one the smallest grasp of the great scheme of cosmic evolution. In Buddhism alone—the popular form, I mean, not the esoteric—we are taught in so many words that “there are whole Sakawalas or systems of worlds, of various kinds, higher and lower, and also that the inhabitants of each world correspond in development with itself.” [7]
Khán thính giả trong các bài giảng của Bà Besant vốn luôn nhiệt thành, nhưng trong bốn buổi sáng ấy thì đặc biệt hơn thường lệ: đám đông đông nghẹt, Hội trường chật như nêm, và tiếng vỗ tay vang dội không ngớt. [103] Khi duyệt qua mọi hệ thống tôn giáo đã được truyền dạy cho nhân loại, kể cả bốn tôn giáo được Bà Besant trình bày trong loạt diễn giảng này, tâm trí ưu thời mẫn thế bị đánh động bởi thực tế rằng phương diện bình dân, hay phổ thông, của mỗi tôn giáo về bản chất là điều mà chúng ta có thể gọi là “địa tâm”, nghĩa là chúng chỉ xử lý thế giới này và cư dân của nó; cái nhìn về Vấn đề Hiện Hữu là hẹp hòi, bị bao vây, và không đủ để cho ta nắm được, dù là nhỏ nhất, đồ án vĩ đại của tiến hóa vũ trụ. Chỉ riêng trong Phật giáo—ý tôi là hình thái phổ thông, không phải huyền môn—chúng ta mới được dạy bằng minh ngữ rằng “có trọn các Sakawala, hoặc hệ thống thế giới, thuộc nhiều loại, cao và thấp, và cũng rằng cư dân của mỗi thế giới tương ứng về mức độ phát triển với chính thế giới đó.”
There is nothing geocentric in such a teaching as that, it is essentially cosmical. Other religions, as interpreted by the occultist, contain the same root idea, but without the help of such an interpreter the idea lies hidden and the religion is seen only in its geocentric aspect. The supreme majesty of The Secret Doctrine lies in the fact that it makes our world and the planetary system to which it belongs the type of the general cosmical scheme; and that its expositions of that scheme are scientific, reasonable and axiomatic; that it embodies the [104]. principles of perfect justice, perfect equilibrium and—with the keys of Karma and Reincarnation—perfect comprehensibility; hence the legacy that has been bequeathed, to posterity by H. P. Blavatsky in reviving that ancient teaching is rich beyond compute. [8] This teaching allows our awakened intelligence to soar as high as we respectively can with our developed powers, and to get at least glimpses of our kinship with all beings who inhabit the orbs of space. It was the glimmering perception of this teaching that was to come that induced the Founders of the Theosophical Society to make the corner-stone of the movement the idea of the essential brotherhood of mankind. As we have said numberless times, it never entered into our heads to imagine that there could be any perfect brotherhood of men of various races and environments on the physical plane; that was but a dream of Utopia: but we did know that, on the super-physical plane, sex, color, nationality, prejudice and religious animosities did not exist. We knew that the disturbing factors above enumerated are but the temporary obstacles begotten of physical existence, whose power would be completely lost if men could [105] be persuaded to identify themselves with that indwelling divine entity or Higher Self, which when it mounts to its own plane, looks down upon the dash and turmoil of human society, as the soaring eagle “from his mansion in the sun” distinguishes, like multitudes of crawling ants that are moving over the earth below, within their respective barriers of limitation, the nations who fight each other for possession of its surface.
Một giáo lý như thế hoàn toàn không địa tâm, mà là vũ trụ luận chân chính. Các tôn giáo khác, khi được nhà huyền bí học diễn giải, cũng hàm chứa cùng một ý niệm căn cội, nhưng nếu không có sự trợ giúp của một nhà chú giải như vậy, ý niệm ấy nằm ẩn, và tôn giáo chỉ bày hiện phương diện địa tâm của nó. Sự uy nghi tối thượng của Giáo Lý Bí Nhiệm nằm ở chỗ nó cho thấy thế giới của chúng ta và hệ hành tinh mà nó thuộc về là kiểu mẫu của đồ án vũ trụ tổng quát; và rằng những trình bày của nó về đồ án ấy là khoa học, hợp lý và tự hiển nhiên; rằng nó hàm chứa các [104]. nguyên tắc của công lý hoàn hảo, quân bình hoàn hảo và—với hai chìa khóa là Nghiệp quả và Tái sinh—tính khả tri hoàn hảo; bởi vậy, di sản mà H. P. Blavatsky đã lưu lại cho hậu thế khi hồi sinh giáo huấn cổ xưa ấy là phong phú không sao kể xiết. Giáo huấn này cho phép trí tuệ thức tỉnh của chúng ta bay cao tùy theo sức đã phát triển nơi mỗi người, và ít ra thoáng thấy mối đồng chủng của ta với mọi hữu thể cư ngụ trên các tinh cầu trong không gian. Chính ánh le lói của tri kiến này, còn đang đến, đã khiến các Vị Sáng lập Hội Thông Thiên Học đặt nền tảng của phong trào là ý tưởng về tình huynh đệ thiết yếu của nhân loại. Như chúng ta đã nói không biết bao nhiêu lần, chưa bao giờ chúng ta tưởng rằng có thể có một tình huynh đệ hoàn hảo giữa những người nam nữ thuộc các chủng tộc và hoàn cảnh khác nhau trên cõi hồng trần; điều đó chỉ là mộng tưởng xứ Utopia: nhưng chúng ta biết rằng, trên cõi siêu-vật-chất, giới tính, màu da, quốc tịch, thành kiến và hận thù tôn giáo không tồn tại. Chúng ta biết rằng những yếu tố gây rối vừa liệt kê chỉ là những chướng ngại tạm thời đẻ ra từ tồn tại vật chất, mà quyền lực của chúng sẽ hoàn toàn tiêu mất nếu con người có thể [105] được thuyết phục để đồng hoá với thực thể thiêng liêng nội tại, hay chân ngã, thực thể khi vươn lên cõi của chính mình thì nhìn xuống cảnh xung đột và hỗn độn của xã hội loài người, như đại bàng đang bay “từ lâu đài của nó nơi mặt trời” phân biệt, tựa như muôn vạn bầy kiến bò lổm ngổm dưới đất, trong những hàng rào hạn định riêng, các quốc gia đang giao chiến nhau vì quyền sở hữu bề mặt địa cầu.
CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII
THE FUNCTION OF ADYAR—CHỨC NĂNG CỦA ADYAR
(1897)—(1897)
AT the Convention of 1896, the closing scenes and adjournment of which have just been noticed, Mrs. Besant brought up a matter of real importance to which no allusion has yet been made. The Official Report says:
TẠI Đại hội năm 1896, mà hồi kết và bế mạc vừa được nhắc đến, Bà Besant nêu lên một vấn đề thực sự quan trọng mà trước đó chưa được đề cập. Bản Báo cáo Chính thức viết:
“Mrs. Besant laid before the Convention a scheme set on foot by a Svami who for the last 13 years had been travelling over Northern India endeavoring to collect manuscripts in Sanskrit and other vernaculars for custody in the Adyar Library. In commending the scheme, she pointed out the danger which existed of such valuable books being lost and destroyed; she stated that the Svami had succeeded in cataloguing a vast number of manuscripts, giving name, author, summary of contents, and particulars of where such manuscripts were to be found. She further emphasised the necessity for taking immediate steps to assist in this direction, pointing out to [107] what great extent it would facilitate the execution of the second Object of the Theosophical Society. She expressed the wish that Adyar should be made into a centre of Eastern knowledge as also of real literary scholarship; and she hoped that each member would do his best to further the scheme.”
“Bà Besant trình ra trước Đại hội một đề án do một vị Svami khởi xướng, người suốt 13 năm qua đã du hành khắp Bắc Ấn, cố công sưu tầm các bản thảo bằng tiếng Phạn và các ngôn ngữ bản địa khác để lưu trữ tại Thư viện Adyar. Khi tán dương đề án, Bà chỉ ra nguy cơ hiện hữu là những sách quý như thế có thể bị thất lạc và hủy hoại; Bà nói vị Svami đã lập được mục lục một số lượng lớn bản thảo, ghi tên sách, tác giả, tóm lược nội dung và địa chỉ nơi có thể tìm thấy các bản thảo ấy. Bà còn nhấn mạnh sự cần thiết phải lập tức có biện pháp trợ giúp theo hướng này, chỉ ra [107] rằng điều đó sẽ góp phần rất lớn để thực thi Mục tiêu thứ hai của Hội Thông Thiên Học. Bà bày tỏ nguyện vọng rằng Adyar nên trở thành một trung tâm của tri thức phương Đông cũng như của học thuật văn chương chân chính; và Bà hy vọng mỗi hội viên sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy đề án.”
I am very sorry to say that for a number of years I have heard nothing whatever about this Indian ascetic-scholar and the progress of his extremely valuable work. If anyone else does know, I should be grateful for any information they might be willing to convey to me. For it has always seemed to me that one of the noblest ideals of our Society would be to create at Adyar an Oriental library that would rank with the best in the world at this time and bear comparison with some of those of the past. Neither of us Founders ever made or tried to make Adyar a school of mystical study or yogic development: it was not in accord with the temperament of either of us two; Adyar was made and always will be a throbbing centre of vital force to circulate throughout all the ramifications of the Theosophical movement, keeping it in strong healthy action; thus doing for the physical body of the Society what the nerve-fluid engendered in the brain and spinal cord does for the whole body of a man when pumped through the nerves to the extremities by the pulsations of the principle of life. The true ashram [108] and yogic centre of this and all other world-moving activities is where the White Lodge has its stations for developing and distributing throughout our globe and its inhabitants the currents of evolutionary Divine Force. And then we must not forget that a spiritual centre is not of necessity at Benares or Jerusalum, at Lhassa or Medina, at Rome or Hardwar or any other locality which men consider the holiest: at all these places one sees too often exhibited the vilest phase of human nature, enough to putrefy the atmosphere and poison the soil, spiritually speaking. The Holy of Holies is in the heart of the perfect man, and such an one as that carries with him wherever he goes the benign influence which one would hope to find at these various sanctuaries of the different religions.
Tôi rất lấy làm tiếc phải nói rằng trong nhiều năm tôi không hề nghe tin tức gì về vị khổ hạnh-học giả Ấn Độ này và tiến triển của công trình vô cùng quý báu của ông. Nếu ai khác có biết, tôi sẽ rất biết ơn bất kỳ thông tin nào họ sẵn lòng chuyển đến tôi. Bởi tôi xưa nay vẫn thấy rằng một trong những hoài bão cao đẹp nhất của Hội chúng ta là tạo dựng ở Adyar một thư viện Đông phương đủ tầm sánh với những thư viện tốt nhất hiện nay trên thế giới, và đủ sức so sánh với một số thư viện danh tiếng trong quá khứ. Cả hai chúng tôi—những Vị Sáng lập—chưa bao giờ biến, hay cố biến, Adyar thành một trường học huyền bí hay một trung tâm phát triển yoga: điều đó không hợp với khí chất của cả hai chúng tôi; Adyar đã được tạo dựng và sẽ luôn là một trung tâm rung động của sinh lực để lưu thông khắp mọi chi lưu của phong trào Thông Thiên Học, giữ cho nó hoạt động mạnh khỏe; nhờ vậy chu toàn cho thân thể vật chất của Hội điều mà dịch thần kinh phát sinh trong não bộ và tủy sống làm cho toàn thân người khi được bơm qua các dây thần kinh đến tận cùng chi thể bằng nhịp đập của nguyên lý sinh mệnh. Đạo tràng chân chính [108] và trung tâm yoga cho hoạt động này cũng như mọi hoạt động xoay chuyển thế gian khác là nơi Thánh đoàn đặt các cơ sở để phát triển và phân phối khắp địa cầu và cư dân của nó những dòng lưu năng của Lực Tiến Hóa Thiêng Liêng. Và rồi ta không được quên rằng một trung tâm tinh thần không nhất thiết phải ở Benares hay Jerusalem, ở Lhassa hay Medina, ở Rome hay Hardwar, hay bất kỳ địa điểm nào mà người ta xem là thánh địa: ở tất cả những nơi ấy người ta quá thường thấy bày ra những mặt xấu nhất của bản tính con người, đủ để làm hoại thối bầu khí quyển và đầu độc thổ nhưỡng, nói theo nghĩa tinh thần. Nơi Chí Thánh là trong trái tim của người hoàn thiện, và một người như vậy sẽ mang theo mình đến bất cứ đâu ảnh hưởng từ ái mà người ta trông mong được gặp nơi các thánh địa khác nhau của các tôn giáo.
Since Tibet has been invaded and Lhassa more or less ransacked without the finding of a single Mahatma, caged or loose, the Western press and some of their Indian copyists have been making sport of the poor Theosophists for their gullibility and implying that their leaders had been guilty of deception in affirming that the headquarters of the Elder Brothers was in Tibet: we have had the same nonsense before in the books of Knight and other travellers. [9] [109] Of course it was sheer nonsense for these marauders and travellers to imagine for one moment that Mahatmas were kept on show, like the beasts at the Zoo, for the inspection of the public: nor was there one chance in ten thousand that if they had met a Mahatma they would have been able to recognise him. It might be as well for our sceptical critics to take the first Bible that comes in their way and read and ponder upon what is said in St. Luke XXIV, 16 and 31; this “holding” and “opening” of eyes is practised now as successfully as it was in ancient times, even at Salpétrière and Nancy. The fact is—as I was told many years ago—the headquarters of the White Lodge is shifted from place to place according to the exigencies of occult management; it used to be in Arabia Petræa but two years before the British came to possess themselves of Egypt it was removed to Tibet, not to Lhassa but to another place. When H. P. B. and I were preparing to come to India, arrangements were in progress for the removal of the White Lodge from Tibet to another retreat where there was the minimum of chance of their being disturbed by any of these movings of pawns across the political chequer-board. The inaccuracy of the editors who have been talking about Lhassa as the “Mecca of [110] Theosophy” will be apparent from what has been said above.
Từ khi Tây Tạng bị xâm lược và Lhassa ít nhiều bị lục lọi mà không phát hiện được một vị Đại sư nào, nhốt lồng hay thả rong, báo chí phương Tây và một vài cây bút Ấn Độ bắt chước họ đã bỡn cợt các nhà Thông Thiên Học tội nghiệp vì cả tin, và ám chỉ rằng những người lãnh đạo của họ đã dối trá khi khẳng định rằng tổng hành dinh của các Huynh Trưởng ở Tây Tạng: chúng ta từng gặp thứ nhảm nhí ấy trước đây trong các sách của Knight và những du khách khác. [109] Dĩ nhiên thật vô nghĩa khi những kẻ xâm nhập và du khách ấy tưởng tượng dù chỉ một khoảnh khắc rằng các Đại sư được đem ra trưng bày như thú trong Sở thú để công chúng xem ngó: cũng không có lấy một cơ may nào trên mười nghìn rằng, nếu họ có gặp một vị Đại sư, họ sẽ có thể nhận ra Ngài. Có lẽ các nhà phê bình hoài nghi nên lấy quyển Kinh Thánh đầu tiên trong tầm tay mà đọc, rồi suy ngẫm những gì chép trong Luca XXIV, 16 và 31; phép “che mắt” và “mở mắt” này hiện nay vẫn được thực hành thành công như thời cổ, ngay cả tại Salpétrière và Nancy. Sự thực là—như tôi đã được cho biết nhiều năm trước—tổng hành dinh của Thánh đoàn được dời đổi từ nơi này sang nơi khác tùy theo những đòi hỏi của sự quản trị huyền bí; xưa kia đặt tại Arabia Petræa nhưng hai năm trước khi người Anh đến chiếm hữu Ai Cập thì đã dời sang Tây Tạng, không phải Lhassa mà là một nơi khác. Khi H. P. B. và tôi đang chuẩn bị sang Ấn Độ, đã có những sắp đặt để dời tổng hành dinh của Thánh đoàn từ Tây Tạng đến một nơi ẩn cư khác, nơi mà nguy cơ bị quấy rầy bởi những cuộc di chuyển các con tốt trên bàn cờ chính trị là ít nhất. Sự thiếu chính xác của các vị biên tập nói về Lhassa như là “thánh địa Mecca của [110] Thông Thiên Học” sẽ trở nên hiển nhiên từ những điều vừa nói.
I make this digression purposely to enter my protest against a wretched tendency that I have now and again noticed to speak of Adyar as though it should be first and foremost a sort of sacred School of the Prophets, in ignorance of its real relation to the movement.
Tôi cố tình rẽ ngang để ghi lời phản đối chống lại một khuynh hướng tệ hại mà đôi khi tôi bắt gặp: đó là nói về Adyar như thể trước nhất và trên hết nó phải là một kiểu Trường của Các Tiên tri, thánh hóa, trong khi không hiểu biết về mối tương quan thực sự của nó với phong trào.
It goes without saying that I would be delighted beyond measure to have some really holy man of developed spiritual powers settling here and carrying on a school of spiritual instruction: I would give him every needed facility for carrying on his work and for his comfort and that of his disciples; but with my temperament—that of an executive officer and practical manager—it would be only shallow hypocrisy in me if I were to set myself up to figure in such a capacity; as much so as it would be ridiculous for such an ascetic to undertake to relieve me for a month or a week of my Presidential duties. All of us have our tasks assigned us in the Society, and it will be a glorious day when we can all realize the fact and not keep interfering in our neighbor’s business in the childish notion that we are equally clever in all kinds of human activity.
Hiển nhiên khỏi nói rằng tôi sẽ vô cùng mừng rỡ nếu có một bậc chân tu thật sự, với năng lực tinh thần đã phát triển, đến đây định trú và mở một trường huấn luyện tinh thần: tôi sẽ dành cho Ngài mọi phương tiện cần thiết để thực hiện công việc và cho sự tiện nghi của Ngài cùng học chúng; nhưng với khí chất của tôi—một người điều hành và quản lý thực tiễn—thì thật chỉ là giả hình nông cạn nếu tôi tự khoác cho mình vai trò như vậy; hệt như việc một vị khổ hạnh như thế nhận gánh đỡ thay tôi một tháng hoặc một tuần các nhiệm vụ Chủ tịch sẽ là lố bịch vậy. Tất cả chúng ta đều có những phận việc được giao trong Hội, và sẽ là một ngày vẻ vang khi tất cả đều nhận ra điều đó, và thôi không can dự vào công việc của người lân cận trong cái ý nghĩ trẻ con rằng mình tài khắp mọi phương diện hoạt động của con người.
Now there is nothing to prevent the idea of Mrs. Besant, as noted in the above quotation, [111] from being carried out and Adyar made “a centre of Eastern knowledge and real literary scholarship”, nor ought there to be any reason why each member should not “do his best to further the scheme.” We have made a great stride in that direction already by the completion of the Adyar Library, the gathering together of a highly valuable collection of Oriental works, and, thanks to the generosity of Senor Fuente and others, the creation of a fund for its upkeep. But, as Mr. Mead says in the May (1905) Theosophical Review: “Money will do the Adyar Library no good till it has men to make it of use.” What we now need is a Director of known scholarship and other qualifications, and more books—always more books. In this respect every member of the Society who will take to heart Mrs. Besant’s expressed wish can help.
Nay không có gì ngăn trở ý tưởng của Bà Besant, như trích dẫn trên, [111] được thực thi và Adyar trở thành “một trung tâm của tri thức phương Đông và của học thuật văn chương chân chính”, cũng chẳng có lý do gì để mỗi hội viên không “làm hết sức mình để thúc đẩy đề án.” Chúng ta đã có một bước tiến dài theo hướng ấy bằng việc hoàn thành Thư viện Adyar, tập hợp một bộ sưu tập tác phẩm Đông phương rất quý, và, nhờ lòng hào hiệp của Ngài Fuente và những vị khác, tạo dựng được một quỹ để duy trì thư viện. Nhưng, như Ông Mead viết trong Theosophical Review số tháng Năm (1905): “Tiền bạc sẽ không làm lợi gì cho Thư viện Adyar cho đến khi có những con người biến nó thành hữu dụng.” Điều chúng ta cần lúc này là một Giám đốc có học vị đã được nhìn nhận và các tư cách cần có khác, và nhiều sách hơn nữa—luôn luôn là nhiều sách hơn. Về phương diện này, mỗi hội viên của Hội, người lưu tâm đến tâm nguyện mà Bà Besant đã bày tỏ, đều có thể trợ giúp.
Mrs. Besant did what she could at the time to bring the Svami’s scheme to fruition. In the Supplement to The Theosophist for April, 1897, will be found an editorial acknowledgment of the issue by her of a leaflet bearing the title of The Sanskrit Pustakonnati Sabha, explaining the project. She says that, having the consent and approval of the President of the T. S., the Adyar Library will be the chief centre for MSS. thus collected, but “branch offices will be established [112] in the Punjab and in the N. W. P., at which MSS. will be temporarily stored, and at which the work of cataloguing will be carried on. A learned and devoted Svami has, for the past thirteen years, been engaged in the preparation of a complete catalogue of valuable MSS., containing full information concerning each. It was at the request of this Svami that Mrs. Besant consented to take the outer charge of this scheme, and she will be thankful for assistance from friends willing to aid in collecting or copying rare manuscripts or sending particulars concerning them.” For the details of Mrs. Besant’s leaflet, readers may refer to the Supplement in question.
Bà Besant đã làm phần mình khi ấy để đưa đề án của vị Svami đến kết quả. Trong Phụ trương The Theosophist số tháng Tư, 1897, có đăng lời toà soạn ghi nhận việc Bà phát hành một tờ rơi mang tựa đề The Sanskrit Pustakonnati Sabha, giải thích dự án. Bà nói rằng, với sự đồng thuận và tán thành của Chủ tịch Hội T. S., Thư viện Adyar sẽ là trung tâm chính cho các bản thảo thu thập như thế, nhưng “các văn phòng chi nhánh sẽ được thiết lập [112] tại Punjab và tại các Tỉnh Tây Bắc, nơi các bản thảo sẽ được tạm thời lưu trữ và công việc lập mục lục sẽ được tiến hành. Một vị Svami uyên bác và tận tụy, suốt mười ba năm qua đã chuyên chú vào việc soạn một bảng mục lục hoàn chỉnh các bản thảo quý, trong đó có ghi đầy đủ thông tin về từng bản. Theo yêu cầu của vị Svami này, Bà Besant đã vui lòng đảm nhiệm phần đối ngoại của đề án, và Bà sẽ biết ơn sự trợ giúp từ các thiện hữu sẵn lòng tiếp tay sưu tầm hay sao chép các bản thảo hiếm, hoặc gửi thông tin về chúng.” Bạn đọc có thể tìm chi tiết tờ rơi của Bà Besant trong Phụ trương nói trên.
Our story now brings us across the threshold of the year 1897, in some respects an eventful one in our history. Her work at Adyar being finished, Mrs. Besant sailed for Calcutta on the 4th January in a P. and O. steamer. On the same day I wrote to the Health Officer of Bombay, Dr. T. S. Weir, offering my services without pay to help him in any way desired, whether in office or hospital or otherwise, in fighting the Bubonic Plague which had shortly before that made its first appearance and nevertheless up to that time 1,700 people had died of it and it seemed to be growing worse: one local paper said “Bombay [113]is now a hell.” In Dr. Weir’s answer, received on the 27th of the same month, January, he says: “The present outbreak is, I believe, over, and the incidence of the cases has been so scattered that there has been very little opportunity for segregation or treatment. If there is another outbreak you might do useful work in opening a Theosophical hospital. All who have come here are astonished that the mortality has been so low and they apprehend that there may be a further stage in the disease. At any rate our measures have been successful to a degree that we could not have expected.
Câu chuyện của chúng ta nay đưa ta bước qua ngưỡng cửa của năm 1897, ở một vài phương diện là một năm nhiều biến cố trong lịch sử của chúng ta. Công việc của Bà tại Adyar hoàn tất, ngày 4 tháng Giêng Bà Besant lên tàu thủy P. and O. đi Calcutta. Cùng ngày, tôi viết thư cho Sĩ quan Y tế Thành phố Bombay, Bác sĩ T. S. Weir, tự nguyện phục vụ không công để giúp ông theo bất kỳ cách nào cần thiết, dù ở văn phòng, bệnh viện hoặc hình thức khác, trong cuộc chiến với dịch hạch vừa mới xuất hiện trước đó không lâu, đến lúc ấy đã có 1.700 người chết và dường như đang tệ hơn: một tờ báo địa phương viết “Bombay [113]hiện là địa ngục.” Trong thư hồi đáp của Bác sĩ Weir, nhận ngày 27 cùng tháng Giêng ấy, ông viết: “Tôi tin rằng đợt bùng phát hiện tại đã qua, và các ca bệnh xuất hiện quá rải rác nên hầu như không có cơ hội để cách ly hay điều trị. Nếu có một đợt bùng phát nữa, ông có thể làm việc hữu ích bằng cách mở một bệnh viện Thông Thiên Học. Tất cả những người đến đây đều ngạc nhiên vì tỉ lệ tử vong thấp đến vậy và họ e rằng dịch có thể bước vào một giai đoạn mới. Dù sao, các biện pháp của chúng tôi đã thành công ở mức mà chúng tôi cũng không ngờ tới.
Thanking you very much for your sympathy, etc.”
Xin cảm ơn ông rất nhiều vì mối quan tâm, v.v.”
Having done what I conceived my duty in making the offer, I took no further steps; a policy to which I was strongly urged by numerous protests sent in by colleagues in different parts of the world, who maintained that I had no right to jeopardise a life that was pledged to the Society’s work in any side schemes of philanthropy. Dr. Weir’s letter shows very clearly how feeble a conception of the appalling possibilities of this scourge of the race was held at the time by men of science. By an interesting coincidence I read in my morning paper of today (June 7th, 1905) a quotation from the Bombay Times of India to [114] the effect that: “last year over a million people died of plague in India; and if the average of the statistics for the first four months of this year is maintained, there is every reason to fear that two million people will be destroyed by plague before the year closes. These are appalling figures. They signify an amount of suffering and misery and human agony, of decimated families and ruined homes and bereaved lives, the full significance of which it is difficult to grasp.”
Đã làm điều tôi nghĩ là bổn phận khi đưa ra lời đề nghị, tôi không thực hiện thêm bước nào nữa; đó cũng là chủ trương mà tôi được thúc giục mạnh mẽ bởi nhiều lời phản đối gửi đến từ các đồng sự ở nhiều nơi trên thế giới, những người cho rằng tôi không có quyền đem mạo hiểm một đời sống đã hiến cúng cho công việc của Hội vào những kế hoạch từ thiện phụ trợ. Bức thư của Bác sĩ Weir cho thấy rất rõ vào thời điểm ấy những người làm khoa học đã có một nhận thức mờ nhạt đến mức nào về các khả thể kinh hoàng của tai ương này trên nhân loại. Trùng hợp thú vị là sáng hôm nay (7 tháng Sáu, 1905) tôi đọc trong tờ báo sáng của mình một trích dẫn từ tờ Times of India (Bombay) cho [114] biết rằng: “năm ngoái có hơn một triệu người chết vì dịch hạch ở Ấn Độ; và nếu trung bình số liệu của bốn tháng đầu năm nay được giữ nguyên, có mọi lý do để lo rằng hai triệu người sẽ bị dịch hạch tiêu diệt trước khi năm khép lại. Đây là những con số khủng khiếp. Chúng biểu thị một lượng đau đớn, khổ não và bi kịch nhân sinh khôn lường, bao gia đình tiêu điều, bao mái ấm tan nát, bao kiếp người tang thương, mà khó có thể hiểu hết ý nghĩa trọn vẹn.”
At about this time my distinguished scientific friend, Colonel de Rochas, Administrator of the Ecole Polytechnique, Paris, sent me for The Theosophist a copy of the official report of the scientific observation on the mediumship of Eusapia Paladino, the Italian medium for physical phenomena, which I had translated and published in the issue of the magazine for May, 1897. I quote the following paragraph for its significance to those of our readers who are familiar with the science of yoga: “At the end of 7 or 8 minutes keeping the hands on the table, Eusapia lifts hers and holds them outstretched over the table at a distance of about 10 centimetres from the same, and it follows, with a tilting motion, the hands of Eusapia, who makes us notice that she neither touches it with her hands, legs or feet. She asks Mr. Lefranc to lean on the uplifted part so [115] that he may realize what force is needed to press it down.”
Vào khoảng thời gian này, người bạn khoa học lừng danh của tôi, Đại tá de Rochas, Quản trị trưởng Trường Ecole Polytechnique, Paris, gửi cho tôi để đăng trên The Theosophist một bản báo cáo chính thức về các quan sát khoa học đối với khả năng đồng cốt của Eusapia Paladino, nữ đồng tử người Ý chuyên về các hiện tượng vật lý, mà tôi đã dịch và đăng trên số tháng Năm, 1897 của tạp chí. Tôi trích đoạn sau vì ý nghĩa của nó đối với những độc giả quen thuộc với khoa yoga: “Sau 7 hoặc 8 phút đặt tay trên bàn, Eusapia nhấc tay lên và giữ thẳng trên bàn, cách chừng 10 centimét, và chiếc bàn theo sau, với chuyển động nghiêng, đôi tay của Eusapia, người cho chúng tôi thấy rằng bà không hề chạm vào bàn bằng tay, chân hay bàn chân. Bà yêu cầu Ông Lefranc tỳ người lên phía bàn được nâng lên để [115] ông nhận biết lực cần thiết để đè nó xuống.”
Of the six siddhis enumerated by Patanjali are two, Laghima and Garima, dealing with the weight of bodies; by the exercise of the former power a body may be deprived of its weight and made “as light as a thistle-down,” in the latter its weight is so abnormally increased that not even a Sandow could lift a small bamboo stand from the floor: in short the yogi who has developed Laghima and Garima is able to modify as he pleases the gravity of any given object. In the experiment with Eusapia at Choisy-Yvrac, under notice, the medium causes the table to tilt without being touched by her and she asks Mr. Lefranc to satisfy himself what measure of force was being used. A lady clairvoyant, Mme. Agullana, who was present said that: “at the beginning of the séance, when the table was raised she saw a luminous ball projected by the spirit under the table and lifting it.” However this may be, the statement is interesting from a scientific point of view. The reader may remember my description [10] of the experiments made by Madame Blavatsky and myself to test the Laghima power of a woman medium named Mrs. Young, at New York. H. P. B. and I were commissioned by a committee of the professors of [116] the St. Petersburgh University to find a medium who would be able to produce spiritualistic phenomena under test conditions: an order to that effect having been given by H. I. M. the late Czar. Mrs. Young had the strange power of making her “spirits” raise and move a heavy piano as though it were without weight. Sitting at it and playing, she would cause it to rise and fall on its outer legs, keeping time to her music. Or she would go to one end of the piano and cause the instrument to be lifted and lowered by the invisible agent by merely laying her hand lightly upon it; she would permit as many of those present as chose to put their own hand under the piano-case and, lightly laying her own hand against theirs, make the “spirit” lift the instrument. All of us who tried the experiment testified that neither we nor she put out the least muscular force to accomplish this phenomenon. The second time that H. P. B. and I went to her I took in my pocket an uncooked hen’s egg which, at my request, she held in the palm of her hand against the under side of the piano-case and caused the invisibles to raise it: to complete the test she allowed me to hold it in my own hand, placed her hand against the back of mine, told the piano to rise, and it did so. I doubt if there is to be found in history a more convincing proof of the correctness of Patanjali’s assertion of the existence of this [117] Laghima power. I can certify at any rate that there was not a feather-weight of pressure exerted by me or by the medium in the experiment: the heavy piano was like thistle-down.
Trong sáu thần thông (siddhi) liệt kê bởi Patanjali có hai, Laghima và Garima, liên quan đến trọng lượng của vật thể; nhờ vận dụng quyền năng thứ nhất, một vật thể có thể bị tước bỏ trọng lượng và trở nên “nhẹ như bông kế”, còn ở quyền năng thứ hai, trọng lượng của nó được gia tăng đến mức dị thường khiến ngay cả một Sandow cũng không thể nhấc nổi một cái kệ tre nhỏ khỏi sàn: tóm lại, vị yogi đã phát triển được Laghima và Garima có thể tùy ý điều biến sức nặng của bất kỳ đối tượng nào. Trong cuộc thực nghiệm với Eusapia tại Choisy-Yvrac được nói tới, nữ đồng tử khiến chiếc bàn nghiêng lên mà không chạm vào nó và bà mời Ông Lefranc tự thỏa mãn về lượng lực đang được sử dụng. Một nữ thông nhãn, Bà Agullana, có mặt tại đó nói rằng: “vào lúc bắt đầu buổi cầu hồn, khi chiếc bàn được nâng lên, bà thấy một cầu quang được ‘vong’ phóng ra dưới gầm bàn và nâng nó lên.” Dẫu thế nào đi nữa, phát biểu ấy cũng thú vị về mặt khoa học. Bạn đọc có thể nhớ bài tường thuật của tôi về các thí nghiệm do Bà Blavatsky và tôi thực hiện để kiểm nghiệm năng lực Laghima của một nữ đồng tử tên là Bà Young, ở New York. H. P. B. và tôi được một ủy ban gồm các giáo sư của [116] Đại học St. Petersburgh ủy thác tìm một đồng tử có khả năng tạo ra các hiện tượng tâm linh dưới điều kiện kiểm soát: chiếu chỉ về việc này đã do Hoàng thượng quá cố ban hành. Bà Young có một năng lực lạ lùng là khiến “các vong” của bà nâng lên và di chuyển một cây dương cầm nặng như thể nó không có trọng lượng. Ngồi vào đàn và chơi, bà khiến nó trồi sụt trên hai chân ngoài, giữ nhịp với tấu khúc của bà. Hoặc bà bước tới một đầu dương cầm và khiến nhạc cụ được nâng hạ bởi tác nhân vô hình chỉ bằng cách đặt nhẹ tay bà lên nó; bà cho phép bao nhiêu người có mặt tùy ý đặt tay mình dưới thùng đàn, và, chỉ cần bà đặt nhẹ tay mình lên mu bàn tay họ, “vong” đã nâng cây đàn lên. Tất cả chúng tôi đã thử nghiệm đều xác nhận rằng không ai trong chúng tôi, cũng như bà, đã dùng một mảy sức bắp nào để làm nên hiện tượng ấy. Lần thứ hai H. P. B. và tôi đến với bà, tôi mang sẵn trong túi một quả trứng gà chưa nấu chín, theo yêu cầu của tôi, bà đặt nó lên lòng bàn tay áp vào mặt dưới thùng đàn và khiến vô hình giả nâng nó lên: để hoàn tất phép thử, bà cho phép tôi tự cầm nó trên tay mình, đặt tay bà dựa vào mu bàn tay tôi, bảo dương cầm trồi lên, và nó đã trồi. Tôi hoài nghi rằng có thể tìm thấy trong lịch sử một chứng cớ thuyết phục hơn về tính chân xác trong mệnh đề của Patanjali khẳng định sự hiện hữu của [117] quyền năng Laghima này. Dù sao, tôi có thể xác nhận rằng không có lấy sức nặng của một sợi lông nào được tôi hay nữ đồng tử sử dụng trong cuộc thí nghiệm: cây dương cầm nặng nề ấy nhẹ như bông kế.
To return to the plague. The late Tookaram Tatya and Mr. P. D. Khan, who happily still survives, had an idea that they could cure the fell disease by the help of the psychopathic process, i.e., by mesmeric passes and the giving out of mesmerised water, but on the 12th of January of the year under review Dr. Richardson wrote me that they had abandoned their attempt and that most of our members had fled from Bombay. In fact, at the time everybody was leaving the city who could get away, a panic prevailing. Eight subsequent years of familiarity with the destroying pestilence have so inured the Bombay people to its presence that when I revisited the city three months ago I was perfectly amazed to see how unconcernedly the whole population was going about its business as though such a thing as plague did not exist.
Trở lại với dịch hạch. Cố Ông Tookaram Tatya và Ông P. D. Khan, người may mắn còn tại thế, đã nhen một ý tưởng rằng họ có thể chữa thứ bệnh quái ác ấy bằng trợ giúp của “quy trình tâm thể”, tức là bằng các động tác thôi miên và cho uống nước đã được từ hóa, nhưng ngày 12 tháng Giêng của năm được tường thuật, Bác sĩ Richardson viết cho tôi rằng họ đã bỏ dở nỗ lực và đa số hội viên của chúng ta đã lánh khỏi Bombay. Thực vậy, khi ấy ai có thể rời thành phố đều rời đi, cơn hoảng loạn lan tràn. Tám năm sau phải quen sống với ôn dịch tàn sát này đã làm dân chúng Bombay chai lỳ đến mức khi tôi đến thăm thành phố ba tháng trước, tôi sửng sốt thấy toàn thể dân chúng thản nhiên làm ăn như thể chẳng hề tồn tại thứ gọi là dịch hạch.
On the 16th of January our Russian literary friend, Mr. Vigornitsky bade us good-bye to return to Russia. I was very much gratified to receive by the incoming foreign mail of the next day a letter from my old friend, the late Mr. Charles A.Dana, who was editorial manager of the old N. Y. Tribune before the outbreak of the civil war (1859—60) [118] when I held the position of Agricultural Editor, and who was Assistant Secretary of War, under the late Edwin M. Stanton, during a part of the term of my Special Commissionership of that Department. His letter brought back with a rush those closed chapters of my life, when the Theosophical movement was not yet thought of and to which my mind had not reverted for many years. The fact is, and I feel it more and more every time I go on Western tours, I have become so absorbed by India and identified with her life and aspirations that it comes as a sort of shock when I meet very old acquaintances in distant countries.
Ngày 16 tháng Giêng, người bạn văn chương Nga của chúng ta, Ông Vigornitsky, từ biệt chúng tôi để hồi hương. Tôi rất lấy làm hân hạnh vì chuyến bưu chính ngoại quốc đến ngày hôm sau mang đến cho tôi một bức thư của người bạn cũ, cố Ông Charles A. Dana, vốn là Quản lý biên tập của tờ N. Y. Tribune trước khi bùng nổ nội chiến (1859—60) [118] khi tôi giữ chức Biên tập viên Nông nghiệp, và đã là Trợ lý Bộ trưởng Chiến tranh, dưới trướng cố Ông Edwin M. Stanton, trong một phần nhiệm kỳ tôi làm Ủy viên Đặc biệt của Bộ ấy. Bức thư của ông khiến những chương đời đã khép của tôi ùa về, thời mà phong trào Thông Thiên Học còn chưa thành ý niệm, và cũng là quãng thời gian mà tôi nhiều năm liền không còn nghĩ tới. Sự thực là, và tôi cảm nhận điều ấy càng rõ mỗi khi tôi đi các chuyến du hành phương Tây, tôi đã hòa nhập vào Ấn Độ đến mức đồng nhất với đời sống và khát vọng của nàng, và tôi bị một cú “sốc” nhẹ mỗi khi tôi gặp lại các tri âm tri kỷ của thuở xưa nơi hải ngoại.
On the 21st of January Mr. P. D. Khan wrote me that the Bombay Health Officer had accepted Dr. Richardson’s offer of service in connection with the plague: evidently Dr. Weir’s opinion as to the plague’s having already been got under subjection had already changed. Since the subject is up it may as well be stated that although our dear Dr. Richardson helped combat the pestilence a full half year, even handling the patients and having them die in his arms, he did not fall a victim. He was one of “God’s good men” and his karma preserved him to do all the work that he has for the Central Hindu College. With the valuable help of my friend Mrs. Salzer, I was able to issue at about this time an English translation of Commandant [119] Courmes’ Questionnaire Theosophique, a useful book for beginners, and especially useful in France, where the general public are too much occupied in the pursuit of worldly things to devote close attention to religious and philosophical books.
Ngày 21 tháng Giêng, Ông P. D. Khan viết cho tôi rằng Sĩ quan Y tế Bombay đã chấp thuận đề nghị phục vụ của Bác sĩ Richardson liên quan đến dịch hạch: hiển nhiên quan điểm của Bác sĩ Weir về việc dịch hạch đã bị chế ngự lúc trước nay đã đổi khác. Nhân tiện đang nói về chủ đề này, cũng nên nói rằng dù vị bác sĩ thân mến của chúng ta đã giúp chiến đấu với ôn dịch trọn nửa năm, thậm chí trực tiếp chăm sóc bệnh nhân và ôm họ trong tay khi tắt thở, ông vẫn không ngã bệnh. Ông là một “người tốt của Thượng đế” và nghiệp quả của ông đã bảo toàn ông để làm toàn bộ phần việc dành cho Trường Trung ương Ấn Độ giáo. Với sự trợ giúp quý báu của Người bạn Bà Salzer, vào thời điểm này tôi đã có thể phát hành một bản dịch tiếng Anh cuốn Bản Câu hỏi Thông Thiên Học của Chỉ huy Courmes, một cuốn sách hữu ích cho người sơ cơ, và đặc biệt hữu ích ở Pháp, nơi công chúng nói chung quá bận đuổi theo những chuyện thế tục để có thể dành sự chú ý chăm chú cho các sách tôn giáo và triết học. [119]
It will be remembered that as a practical outcome of the Chicago Parliament of Religions, a wealthy lady of Chicago, a Mrs. Haskell, created a fund the income of which was to be devoted to the sending biennially to India of one of the ablest lecturers on Christianity, in the hope that by giving discourses in the principal Indian cities an interest in the religion might be created among the class of educated Brahmins who had resisted all the attempts of the ordinary missionary to draw them away from their ancestral faith. Although she probably did not know it, this was exactly the motive behind the creation of the special missions of clever University graduates sent out by Oxford and Cambridge, with but indifferent results. Her choice for the first missioner was no less a person than the famous Rev. John Henry Barrows, the organizer and chief personage connected with that wonderful religious congress, the Parliament of Religions, at which for the first time in history the representatives of all the world’s faiths had the opportunity given them of a free platform from which they could expound the foundations of their [120] creeds. Naturally enough, the name of this gentleman had been made familiar to educated Hindus by the reports of the Chicago Parliament and it was a judicious move on Mrs. Haskell’s part to send him out to introduce the subject of her Foundation in this country. Prior to his arrival at Madras, the missionary friends who were managing his tour addressed themselves to leading representatives of the different religious communities to get them to form an eclectic Reception Committee. I being the only prominent Buddhist at Madras was offered and accepted a place on the committee. The members severally represented the Hindu, Parsi, Mohammedan, Buddhist, Brahmo and Protestant Christian communities, European and Indian. In due course Dr. Barrows arrived and gave six lectures on Christianity and its comparison with other faiths, which were universally recognized as very scholarly and eloquent, but distinctly adapted to the Western rather than to the Eastern mind. As a newspaper report says: “They were listened to by the best Indians of the different sects and races with respectful attention throughout, and the demeanour of the audiences was an all-sufficient proof of the grateful regard felt for Dr. Barrows personally, for his eclectic hospitality to the spokesmen of Oriental faiths, at the renowned Chicago Parliament.” As Dr. Barrows had rendered our [121] Society efficient help towards the holding of a Theosophical Congress at Chicago, I felt personally and officially indebted to him and as he made our relations at Adyar entirely cordial, I invited him with Mrs. Barrows, the Rev. Mr. Kellett and several other missionary gentlemen and ladies, to breakfast. At the close of his sixth and last lecture, the vote of thanks and words of farewell were offered by myself at the request of my colleagues on the Committee. Of course no reasonable man would have expected from either myself or any other representative of an Eastern religion to give to the lectures that unreserved concurrence that would have been the proper thing in the case of a Christian speaker. In my remarks I aimed at giving voice to the affectionate sentiment that had been aroused in the Eastern heart by Mrs. Haskell’s generous act, at the same time trying to point out the practical difficulties that lay in the way of the fruition of her scheme. After his return to his home Dr. Barrows published an interesting travel-book called A World-Pilgrimage, edited by his sweet and sympathetic wife, a copy of which was kindly sent me. In his bright account [11] of his Madras visit he says: “After my closing lecture, Colonel Olcott, the Founder and President of the Theosophical Society, moved, by appointment of [122] the Reception Committee the vote of thanks. His words were hearty and generous; but in the middle of his address he turned aside to make a strong attack on the sins of Christendom and particularly on the English government in India. He asserted that Christianity could make little progress while the British army immoralities, the collection of revenue from the demoralising liquor and opium traffics, and the taxation of starving peasants to build Christian cathedrals continued. In my closing remarks I endeavoured to take the sting out of these assertions by saying that these and other sins of Christendom were quite as familiar to us as to non-Christians. We reprobated them, denounced them as un-Christian, and fought them wherever they appeared; and I reminded my hearers that the most potent voice heard in India during the last winter, calling upon the British government to amend its ways, was the voice of a Christian Englishman, Mr. W. S. Caine.”
Sẽ còn nhớ rằng, như một kết quả thực tiễn của Quốc hội Tôn giáo tại Chicago, một phu nhân giàu có ở Chicago, Bà Haskell, đã lập một quỹ mà lợi tức của nó được dành để cách mỗi hai năm gửi sang Ấn Độ một trong những diễn giả lỗi lạc nhất về Cơ Đốc giáo, với hy vọng rằng, bằng cách diễn thuyết ở các thành phố chính của Ấn Độ, có thể khơi dậy mối quan tâm tới tôn giáo này nơi tầng lớp Bà-la-môn có học, những người đã kháng cự mọi cố gắng của các nhà truyền giáo thông thường nhằm lôi kéo họ rời bỏ tín ngưỡng tổ tiên. Dù có lẽ Bà không biết, thì đây chính là động cơ đằng sau việc lập ra các phái bộ đặc biệt gồm những cử nhân đại học sáng trí do Oxford và Cambridge phái đi, song kết quả chẳng mấy khả quan. Lựa chọn của Bà cho vị truyền giáo đầu tiên không ai khác hơn là Mục sư lừng danh John Henry Barrows, người tổ chức và là nhân vật trung tâm gắn liền với đại hội tôn giáo tuyệt vời ấy, tức Quốc hội Tôn giáo, nơi lần đầu tiên trong lịch sử, đại diện của mọi tôn giáo trên thế giới được trao cơ hội một diễn đàn tự do để từ đó họ có thể trình bày nền tảng giáo lý của họ [120]. Lẽ tự nhiên, tên tuổi của vị giáo sĩ này đã trở nên quen thuộc với những người Hindu có học qua các bản tường thuật về Quốc hội Chicago, và đó là một nước cờ khéo của Bà Haskell khi cử Ông sang giới thiệu chủ đề về Quỹ của Bà tại xứ sở này. Trước khi Ông đến Madras, những người bạn truyền giáo tổ chức chuyến đi của Ông đã liên hệ với các đại biểu hàng đầu của các cộng đồng tôn giáo khác nhau để mời họ lập một Ban Tiếp Đón mang tính chiết trung. Tôi là Phật tử nổi bật duy nhất ở Madras nên được mời và đã nhận một vị trí trong ban. Các thành viên lần lượt đại diện cho các cộng đồng Ấn giáo, Parsi, Hồi giáo, Phật giáo, Brahmo và Tin Lành, gồm cả người Âu lẫn người Ấn. Đến kỳ hạn, Tiến sĩ Barrows tới nơi và đọc sáu bài giảng về Cơ Đốc giáo cùng sự so sánh với các tín ngưỡng khác; các bài ấy được thừa nhận rộng rãi là rất uyên bác và hùng biện, nhưng rõ ràng thích hợp với khuynh hướng tư duy Tây phương hơn là Đông phương. Một bản tin báo viết: “Các bài giảng được những người Ấn ưu tú thuộc các phái và chủng tộc khác nhau lắng nghe với thái độ tôn trọng suốt buổi, và phong thái của thính chúng đủ là bằng chứng về lòng cảm kích dành cho riêng Tiến sĩ Barrows, vì lòng hiếu khách chiết trung của Ông đối với những người phát ngôn của các tín ngưỡng phương Đông tại Quốc hội Chicago lừng danh.” Vì Tiến sĩ Barrows đã trợ giúp hữu hiệu cho Hội [121] chúng tôi trong việc tổ chức một Đại hội Thông Thiên Học tại Chicago, tôi cảm thấy mang ơn Ông cả về phương diện cá nhân lẫn chính thức; và vì Ông làm cho quan hệ giữa chúng tôi tại Adyar hoàn toàn thân tình, tôi đã mời Ông cùng Bà Barrows, Mục sư Kellett và vài vị truyền giáo nam nữ khác tới dùng điểm tâm. Cuối bài giảng thứ sáu và cuối cùng của Ông, theo đề nghị của các đồng nghiệp trong Ban, tôi thay mặt dâng lời cảm tạ và tiễn biệt. Tất nhiên, không ai có lý trí lại trông đợi tôi hay bất kỳ đại diện nào của một tôn giáo phương Đông tán đồng vô điều kiện các bài giảng ấy như lẽ ra thích hợp đối với một diễn giả Cơ Đốc giáo. Trong lời đáp từ, tôi nhằm chuyển tải tình cảm trìu mến đã dấy lên trong trái tim phương Đông bởi nghĩa cử hào hiệp của Bà Haskell, đồng thời cố gắng chỉ ra các khó khăn thực tế cản trở sự thành tựu của đề án của Bà. Sau khi trở về nhà, Tiến sĩ Barrows xuất bản một cuốn du ký thú vị nhan đề A World-Pilgrimage, do người vợ dịu dàng và đồng cảm của Ông biên tập; một bản được gửi tặng tôi một cách tử tế. Trong phần thuật lại sinh động về chuyến thăm Madras, Ông viết: “Sau bài giảng bế mạc của tôi, Đại tá Olcott, Người Sáng Lập kiêm Chủ tịch Hội Thông Thiên Học, theo sự bổ nhiệm của [122] Ban Tiếp Đón đã đứng lên đề nghị bỏ phiếu cảm tạ. Lời của Ông chân thành và hào hiệp; nhưng giữa bài phát biểu, Ông rẽ ngang để công kích mạnh mẽ những tội lỗi của thế giới Cơ Đốc và đặc biệt là chính phủ Anh ở Ấn Độ. Ông khẳng định rằng Cơ Đốc giáo khó có thể tiến triển bao lâu còn tồn tại tình trạng vô luân trong quân đội Anh, việc thu thuế từ các thương vụ rượu mạnh và nha phiến làm bại hoại đạo đức, và việc đánh thuế những người nông dân đói khổ để xây các nhà thờ chính tòa Cơ Đốc. Trong lời kết, tôi cố gắng làm giảm sức công kích của những khẳng định này bằng cách nói rằng những tội lỗi ấy và các tội lỗi khác của Cơ Đốc giáo cũng quen thuộc với chúng tôi chẳng kém gì với những người không theo Cơ Đốc. Chúng tôi lên án chúng, tuyên bố chúng là phi Cơ Đốc, và đấu tranh với chúng ở bất cứ nơi đâu chúng xuất hiện; và tôi nhắc thính giả rằng giọng nói mạnh mẽ nhất được nghe thấy ở Ấn Độ mùa đông năm ngoái, kêu gọi chính phủ Anh sửa đổi đường lối, là tiếng nói của một người Anh theo Cơ Đốc, Ông W. S. Caine.”
I confess to a feeling of sadness when reading these lines, for they showed me that Dr. Barrows had either misunderstood my remarks or had trusted to a treacherous memory instead of to the verbatim report which appeared the next day in the Madras papers. As my feelings for the distinguished gentleman were always very friendly, as our relations were cordial and as, now that he is dead and [123] gone, I send a loving thought after him and to his devoted wife who survives him, I think it no more than right that those of my readers who have also seen Dr. Barrows’ book should have the chance to see exactly what I did say. I therefore quote as follows: “President-Founder of the Theosophical Society said that the Barrows’ Reception Committee being composed of the representatives of several sects, his colleagues had asked him as the representative of the Theosophical Society, which was eclectic and not sectarian in its character, to offer thanks to the Rev. Dr. Barrows for his scholarly and brilliant discourses. More especially, thanks were due to him in connection with the Parliament of Religions which was an event unique in the history of the world. This placed the people of the Orient under peculiar obligations to him personally and it was the sense of that which made us joyfully serve on the Committee, all being alike benefited by the great coming together at Chicago at his call. To him the Orientals owed it that the representatives of Buddhism, Brahminism, Jainism, Zoroastrianism, Islam, Brahmoism, etc., were able to explain and expound their several views to the world; to him that Chakravarti, Vivekananda, Dharmapala, Gandhi, Mozumdar, Nagarcar and the Japanese Buddhists wereenabled to speak on behalf of different nations and cults, and that they were [124] able to travel throughout the United States, as some of them were still doing. Not by force of arms, as the Roman Cæsars used to get together at Rome and load with chains the fearsome idols of conquered nations, but by a word of love and brotherhood he had gathered together the priests and missionaries of all the ancient Eastern faiths, and caused them to be respectfully listened to by monster audiences. He, the speaker, as President of the Theosophical Society, was under special obligations to Dr. Barrows, for he had made it possible for us to hold a Theosophical Congress which was one of the greatest successes of the Parliament. India had proved her gratitude by the respectful attention paid to Dr. Barrows in all the places of his tour. Though they might not agree with Dr. Barrows in his religious opinions, still they would all bear testimony to the fact of his conscientious, courageous yet kind manner of expression to them of the merits of his religion, and from the standpoint of that faith he had done his best to persuade the people here to accept it as the world-wide religion. Mrs. Haskell could not have chosen a better messenger than Dr. Barrows nor one half so good for her purpose, for he had won their gratitude in advance. As to the possible results of his mission no prophecy could be ventured upon. He had sown his seed and the harvest was beyond any man’s control. As the [125] spokesman of the Eastern people some wished him (Colonel Olcott) to say that, despite Mrs. Haskell’s personal anxiety for their spiritual welfare, they were not likely to exchange their ancient faiths for any other which was not better, and they were waiting for the evidence that such an one existed. He asked Dr. Barrows to give Mrs. Haskell an idea of the serious obstacles that her lecturers would inevitably meet in the carrying on of her benevolent design. The Indians loved and respected her for her unselfish piety and generous endeavours to spread her religion. That it was not their religion did not matter at all; she believed in it and every pious Oriental would respect her for it. But she must not expect to accomplish the impossible. Christianity was shown to India under certain most repugnant aspects; for instance, in the increase of drunkenness and crime, as shown in the increase of the revenue from spirits, from 57 lacs [12] in 1870, to 139 lacs in 1896; in the bestial immorality of the army, neglect of which had just been denounced in Parliament as a “national sin”; in the compulsory support of the Ecclesiastical Establishment, at a cost of Rs. 1,16,000 per mensem, althougn it is the open and avowed foe of all their religions; and finally, in the inconsistent and too often wicked lives led by many so-called Christians. Besides [126] these, there were various other obstacles, all familiar to every old missionary, and Mrs. Haskell ought not to be left in ignorance of their existence, lest her noble heart should be filled with grief for the failure of her agents in India. Addressing Dr. Barrows, Colonel Olcott said: ‘And now farewell, our noble American brother. By your bold defence of your religion you have increased instead of lessened the respect of the Madras public, for you have shown the sincerity of your convictions, and have spoken out as plainly as our messengers did at your Parliament of Religions. Farewell you, who have come so far and spoken so well. The heart of India, grateful for your past kindnesses, will warm on thinking of you, and the people send after you their wishes for your health and happiness.’ A thunder of applause, which followed the speaker as he resumed his seat, testified most clearly that he had voiced the feelings of the Indian community towards Dr. Barrows. That gentleman then rose and with evident emotion, thanked Col. Olcott on behalf of Mrs. Haskell, the University of Chicago and himself, for his ‘noble and generous’ remarks, and the Madras public for their close attention to his lectures. He said that he should never forget the kindness he had received at Madras and throughout India, and bade the audience farewell.” [127] Just in time for notice, the Bengalee for June 14th (1905) came to hand with the following citation on a recent optimistic speech of Lord Radstock, which closely resembles my presentation of the case in 1897:
Tôi thú thật thấy buồn khi đọc những dòng này, vì chúng cho tôi thấy rằng Tiến sĩ Barrows hoặc đã hiểu sai lời tôi, hoặc đã tin vào ký ức tráo trở thay vì dựa vào bản tường thuật nguyên văn xuất hiện ngay ngày hôm sau trên các báo ở Madras. Vì tình cảm của tôi đối với vị quân tử lỗi lạc ấy luôn rất thân thiện, vì quan hệ giữa chúng tôi vốn hòa nhã và vì, nay Ông đã mất và [123] đã đi xa, tôi gửi một ý nghĩ thương mến đến Ông và người vợ tận tụy còn tại thế, tôi nghĩ rằng chẳng gì công bằng hơn là để những độc giả của tôi, những người cũng đã đọc sách của Tiến sĩ Barrows, có cơ hội thấy chính xác điều tôi đã nói. Vậy nên tôi trích như sau: “Chủ tịch-Người Sáng Lập Hội Thông Thiên Học nói rằng vì Ban Tiếp Đón dành cho Ông Barrows được cấu thành bởi đại diện của nhiều giáo phái, nên các đồng nghiệp đã yêu cầu Ông, với tư cách đại diện của Hội Thông Thiên Học, một tổ chức có tính chiết trung và không bè phái, dâng lời cảm tạ tới Mục sư, Tiến sĩ Barrows vì các bài diễn thuyết uyên bác và rực rỡ của Ông. Đặc biệt hơn, cần cảm ơn Ông về mối liên hệ với Quốc hội Tôn giáo, một sự kiện độc nhất trong lịch sử thế giới. Điều này đặt người phương Đông vào chỗ mang nghĩa vụ đặc biệt đối với riêng Ông và chính cảm thức đó khiến chúng ta vui lòng phục vụ trong Ban, khi tất cả đều được lợi như nhau bởi sự hội ngộ vĩ đại tại Chicago theo tiếng gọi của Ông. Người phương Đông mắc nợ Ông ở chỗ các đại diện của Phật giáo, Bà-la-môn giáo, Kỳ-na giáo, Bái hỏa giáo, Hồi giáo, Brahmo... có thể giải bày và trình bày quan điểm riêng của mình trước thế giới; nhờ Ông mà Chakravarti, Vivekananda, Dharmapala, Gandhi, Mozumdar, Nagarcar và các Phật tử Nhật Bản đã có thể lên tiếng thay mặt các quốc gia và tông phái khác nhau, và rằng họ [124] có thể du hành khắp Hợp Chúng Quốc, như một số vị vẫn đang làm. Không phải bằng vũ lực, như các Caesar La Mã từng gom về Rome và xích lại những thần tượng khủng khiếp của các dân tộc bị chinh phục, mà bằng một lời yêu thương và huynh đệ, Ông đã tập hợp các giáo sĩ và nhà truyền giáo của mọi tôn giáo Đông phương cổ, và khiến họ được những thính giả đông đảo như biển người lắng nghe một cách kính trọng. Ông, người đang nói, với tư cách Chủ tịch Hội Thông Thiên Học, mang ơn đặc biệt tới Tiến sĩ Barrows, vì Ông đã làm cho chúng tôi có thể tổ chức một Đại hội Thông Thiên Học, một trong những thành công lớn nhất của Quốc hội. Ấn Độ đã tỏ lòng biết ơn bằng sự chú tâm kính trọng dành cho Tiến sĩ Barrows tại mọi nơi trong chuyến đi của Ông. Dù có thể chúng tôi không đồng ý với Tiến sĩ Barrows về quan kiến tôn giáo, nhưng tất cả đều có thể làm chứng cho sự kiện rằng Ông đã bày tỏ với chúng tôi, một cách lương tâm, dũng cảm mà vẫn thiện chí, những ưu điểm của tôn giáo mình, và từ lập trường của đức tin ấy, Ông đã làm hết sức để thuyết phục người dân nơi đây tiếp nhận nó như một tôn giáo mang tính phổ quát. Bà Haskell khó có thể chọn được một sứ giả nào tốt hơn Tiến sĩ Barrows, thậm chí bằng nửa Ông cho mục đích của Bà, vì Ông đã chiếm được lòng tri ân của chúng tôi ngay từ trước. Còn về các kết quả khả dĩ của sứ mệnh này, không thể mạo hiểm lời tiên đoán. Ông đã gieo hạt của mình và mùa gặt thì nằm ngoài sự kiểm soát của bất kỳ con người nào. Là [125] người phát ngôn của người phương Đông, có một số người mong Ông ấy (Đại tá Olcott) nói rằng, bất chấp mối ưu tư cá nhân của Bà Haskell về phúc lợi tinh thần của họ, họ khó có khả năng đổi tín ngưỡng cổ xưa của mình lấy bất kỳ tín ngưỡng nào khác mà không hay hơn, và họ vẫn đang chờ bằng chứng rằng có một tín ngưỡng như vậy hiện hữu. Ông đề nghị Tiến sĩ Barrows cung cấp cho Bà Haskell một ý niệm về những chướng ngại nghiêm trọng mà các diễn giả của Bà ắt sẽ không thể tránh khỏi trong việc thực hiện thiện ý của Bà. Người Ấn yêu mến và kính trọng Bà vì lòng đạo đức vô tư và những nỗ lực rộng lượng để truyền bá tôn giáo của Bà. Việc đó không phải tôn giáo của họ chẳng hề gì; Bà tin vào nó và mọi người phương Đông mộ đạo sẽ kính trọng Bà vì điều đó. Nhưng Bà không nên kỳ vọng thực hiện điều không thể. Cơ Đốc giáo được phô bày trước Ấn Độ trong những phương diện rất phản cảm; chẳng hạn, trong sự gia tăng tửu sắc và tội phạm, như thấy trong việc tăng thu ngân sách từ rượu mạnh, từ 57 lacs năm 1870 lên 139 lacs năm 1896; trong sự vô luân thú tính của quân đội, mà sự lơ là vừa bị tố cáo tại Nghị viện như một ‘tội lỗi quốc gia’; trong việc buộc phải duy trì Thiết chế Giáo hội, với chi phí 1.16.000 Rs. mỗi tháng, mặc dù đó là kẻ thù công khai và tuyên ngôn của mọi tôn giáo của họ; và sau cùng, trong đời sống bất nhất và quá thường là tệ ác của nhiều người tự xưng là tín đồ Cơ Đốc. Ngoài [126] những điều này, còn có nhiều chướng ngại khác, vốn quen thuộc với mọi nhà truyền giáo lão thành, và Bà Haskell không nên bị để trong vô minh về sự hiện hữu của chúng, kẻo trái tim cao thượng của Bà phải chan chứa ưu phiền vì sự thất bại của các cộng sự tại Ấn Độ. Hướng về Tiến sĩ Barrows, Đại tá Olcott nói: ‘Và giờ xin tạm biệt, vị huynh đệ Hoa Kỳ cao quý của chúng tôi. Bằng sự biện hộ can đảm cho tôn giáo của mình, Ông đã gia tăng thay vì làm giảm sự kính trọng của công chúng Madras, vì Ông đã cho thấy sự chân thành trong tín niệm của mình, và đã nói thẳng thắn như các sứ giả của chúng tôi đã làm tại Quốc hội Tôn giáo của Ông. Tạm biệt Ông, người đã đi xa thế này và đã nói rất hay. Trái tim Ấn Độ, biết ơn về những nghĩa cử của Ông trong quá khứ, sẽ ấm lại khi nghĩ về Ông, và người dân gửi theo sau Ông lời chúc sức khỏe và hạnh phúc.’ Một tràng pháo tay như sấm, dội theo người diễn giả khi Ông ngồi xuống, chứng thực rõ ràng nhất rằng Ông đã nói lên tâm cảm của cộng đồng Ấn đối với Tiến sĩ Barrows. Vị quân tử ấy liền đứng lên, với cảm xúc rõ rệt, cảm ơn Đại tá Olcott thay mặt Bà Haskell, Đại học Chicago và bản thân Ông, về những lời ‘cao quý và rộng lượng’, và cảm ơn công chúng Madras về sự chú tâm theo dõi chặt chẽ các bài giảng. Ông nói rằng Ông sẽ chẳng bao giờ quên lòng tử tế mà Ông đã nhận được ở Madras và khắp Ấn Độ, và chào tạm biệt thính chúng.” [127] Kịp lúc để ghi nhận, tờ Bengalee số ngày 14 tháng Sáu (1905) vừa tới tay, có trích đăng sau đây về một bài diễn văn lạc quan gần đây của Lord Radstock, rất giống với cách tôi trình bày vấn đề vào năm 1897:
“SPEAKING at the recent meeting of the Christian Literature Society for India, held at Exeter Hall, Lord Radstock, speaking with the experience begotten of five proselytizing expeditions to India, said that ‘there was among the educated natives very little opposition to Christ or the Christian ideal.’ In fact that ideal was largely permeating the whole of India. Lord Radstock did not however say whether in the course of his repeated visits to India, he had found anything from which he could draw the inference that the Christian ideal also permeated as ‘largely’ these of his lordship’s own countrymen, who are out here to make money. Did his lordship find the average Anglo-Indian a model Christian, especially in his dealings with the natives of the country? It is quite true that the educated Indian has no hostility to Christianity, far less to its Founder who, he honestly believes, must have drawn his inspiration from some Indian ascetic. But it is no less true that with all his regard and veneration for the character of the ‘Carpenter of Nazareth,’ the educated Indian never had less inclination to become a convert to Christianity than [128] he has at the present time. Our missionary friends are very much mistaken if they are laying the flattering unction to their souls that the disappearance of hostility to Christianity will prove the prelude to the acceptance of Christianity by our educated countrymen.”
“PHÁT BIỂU tại phiên họp gần đây của Hội Văn học Cơ Đốc cho Ấn Độ, tổ chức tại Exeter Hall, Lord Radstock, với kinh nghiệm đúc kết từ năm chuyến đi vận động cải đạo tới Ấn Độ, nói rằng ‘trong giới người bản xứ có học, có rất ít sự chống đối với Đấng Christ hay lý tưởng Cơ Đốc.’ Thực vậy, lý tưởng ấy đang thấm nhuần phần lớn toàn Ấn Độ. Tuy nhiên, Lord Radstock không nói rằng trong các chuyến thăm lặp lại của mình đến Ấn Độ, Ông có thấy điều gì từ đó Ông có thể rút ra kết luận rằng lý tưởng Cơ Đốc cũng thấm nhuần ‘nhiều’ đến thế nơi những đồng bào của chính Ngài đang hiện diện ở đây để kiếm tiền. Ngài có thấy người Anh-Ấn trung bình là một mẫu mực Cơ Đốc, nhất là trong cách đối xử của họ với dân bản xứ không? Hoàn toàn đúng là người Ấn có học không hề thù nghịch với Cơ Đốc giáo, càng không với Đấng Sáng Lập của nó, người mà họ tin một cách chân thành là ắt phải rút lấy cảm hứng từ một ẩn tu Ấn Độ nào đó. Nhưng cũng đúng không kém rằng, mặc cho tất cả sự cảm mộ và tôn kính đối với nhân cách của ‘Người Thợ Mộc thành Nazareth’, người Ấn có học chưa bao giờ ít có ý muốn trở thành người cải đạo sang Cơ Đốc giáo hơn [128] lúc hiện tại. Các bạn truyền giáo của chúng ta lầm to nếu họ đang tự xoa dịu mình rằng sự biến mất của thái độ thù nghịch với Cơ Đốc giáo sẽ là khúc dạo đầu cho việc người đồng bào có học của chúng ta chấp nhận Cơ Đốc giáo.”
On the 31st of January I began work on a new edition of the Buddhist Catechism—the 33rd, and the last extended revision of the work that I have made: it is the one in which I divide the matter into five general categories. This work involved a good deal of careful consideration and it was not until the last week in March that I was able to get it out of the hands of the printers. Simultaneously I had to work on the English edition of Commandant Courmes Questionnaire and some other French translations.
Ngày 31 tháng Giêng tôi bắt tay làm một ấn bản mới của Giáo lý Vấn đáp Phật giáo—lần thứ 33, và là lần sửa đổi mở rộng cuối cùng mà tôi thực hiện: chính là ấn bản tôi chia nội dung thành năm loại tổng quát. Công việc này đòi hỏi rất nhiều cân nhắc cẩn trọng và mãi đến tuần cuối của tháng Ba, tôi mới có thể lấy nó ra khỏi tay nhà in. Song song đó, tôi còn phải làm bản tiếng Anh của Bảng Câu hỏi của Chỉ huy Courmes và một số bản dịch tiếng Pháp khác.
The Swami Vivekananda, who had recently returned after a long absence in America and England, received an enthusiastic popular welcome. If I remember aright I was also a member of his committee and was disposed to aid the Hindus in every way in showing appreciation of what he had done to make the name of India honored abroad. But he had got it into his head that I had been inimical and even malicious towards him, and—considering the position I occupied among his countrymen—most indiscreetly launched out in his [129] public lecture against myself, the Society, and Mrs. Besant, speaking of her most disrespectfully and unappreciatively. It was a great mistake and excusable only on the score of his comparative youth and inexperience in public affairs; it certainly did him harm and called forth many expressions of sympathy for us. However, he too has gone prematurely to his account in the other world and nothing more need be said: Karma can take care of its own affairs without our help.
Ngài Swami Vivekananda, người vừa trở về sau một thời gian dài vắng mặt ở Mỹ và Anh, đã được công chúng nồng nhiệt đón chào. Nếu tôi nhớ không lầm, tôi cũng là thành viên trong ban của Ngài và sẵn lòng giúp người Hindu bằng mọi cách để biểu lộ sự trân trọng đối với những gì Ngài đã làm để làm rạng danh Ấn Độ ở hải ngoại. Nhưng Ngài lại mang trong đầu ý nghĩ rằng tôi đã bất thiện chí, thậm chí ác ý với Ngài, và—xét đến vị trí tôi nắm giữ giữa đồng bào của Ngài—Ngài đã hết sức thiếu khôn ngoan khi trong [129] bài diễn thuyết công khai của mình, công kích tôi, Hội và Bà Besant, nói về Bà một cách rất thiếu tôn trọng và chẳng biết trân quý. Ấy là một sai lầm lớn và chỉ có thể tha thứ vì Ngài còn tương đối trẻ và thiếu trải nghiệm công vụ; nó chắc chắn làm hại Ngài và đã khơi dậy nhiều lời bày tỏ cảm thông với chúng tôi. Tuy nhiên, Ngài cũng đã ra đi quá sớm sang thế giới bên kia và không cần nói thêm nữa: Nghiệp quả có thể tự lo liệu việc của chính mình mà chẳng cần đến sự giúp đỡ của chúng ta.
CHAPTER IX—CHAPTER IX
CURIOUS COINCIDENCES—CÁC SỰ TRÙNG HỢP KỲ LẠ
(1897)—(1897)
A FEW days after the events above narrated there arrived at Adyar a gentleman whose connection with us was brought about in the most singular way. His name was Augustus F. K. He was of mixed Norwegian and Scotch parentage and his father was a wealthy owner of sugar and other estates and a sugar factory on Kauai, one of the Sandwich [13] Islands. The son had been educated at Harvard and on his return from college had been put in charge of one of the paternal estates. He was of a very thoughtful mind, deeply interested in the religious problem, over which he had long and deeply brooded. His intellectual strivings had carried him far along the right path, but still, with all his desire and earnestness he could not get beyond a certain point; the nature of the Universe, the origin of things, and the explanation of existing social problems, puzzled him and brought him to a full stop. In this mood of mind, riding on his horse over the plantation one day, he [131] said to himself, “Where can I get this puzzle solved, how can I learn the truth?” The answer came in a most unexpected and phenomenal way. Glancing up at the sky, he saw the word “India” as if it were written in space. He rubbed his eyes, shut them to see whether it was an illusion, opened them again and saw the word still imprinted on the sky. He did not at once connect this with his self-question, but was rather inclined to ascribe it to some mental disturbance. After a time the letters faded out and the day’s business went on as usual. But the word “India” seemed to haunt him; he saw it in the embers of the wood fire at night, among the leaves of the trees, sometimes on the ground. The repetition of this experience at last forced him to recognise that some powerful intelligence or other, whether subjective or objective, was indicating to him that in India he could get the reading of his puzzles. So after a while he managed so to arrange his affairs as to leave him free to absent himself from home, and he took his passage for India by a mail steamer. When the ship was some days at sea the impression came to him that before reaching Hong Kong he would find out where to go in India and whom to seek.
VÀI ngày sau những sự kiện vừa thuật, có một vị quân tử tới Adyar, mối liên hệ của Ông với chúng tôi xảy đến bằng một cách hết sức lạ lùng. Tên Ông là Augustus F. K. Ông mang dòng máu lai Na Uy và Scotland, và cha Ông là một chủ đồn điền giàu có với các nông trại đường và một nhà máy đường ở Kauai, một trong các Quần đảo Sandwich. Người con được giáo dục tại Harvard và khi rời đại học trở về, được giao trông coi một trong các điền trang của cha. Ông là người trầm tư, quan tâm sâu sắc tới vấn đề tôn giáo, điều mà Ông đã đăm chiêu từ lâu. Những nỗ lực trí tuệ đã đưa Ông đi khá xa trên con đường đúng đắn, song dẫu hết lòng và thành ý, Ông vẫn không thể vượt qua một điểm nào đó; bản chất của Vũ trụ, nguồn gốc của vạn hữu, và lời giải cho các vấn đề xã hội hiện hữu, đều làm Ông bối rối và khiến Ông khựng lại. Trong tâm trạng ấy, một hôm cưỡi ngựa qua đồn điền, Ông [131] tự nhủ: “Ta có thể giải câu đố này ở đâu, làm sao ta học được chân lý?” Câu đáp đến theo một cách bất ngờ và kỳ dị nhất. Ngước nhìn trời, Ông thấy chữ “India” như thể nó được viết trên không trung. Ông dụi mắt, nhắm lại xem đó có phải ảo giác không, mở ra lần nữa và vẫn thấy chữ ấy in trên bầu trời. Ông chưa lập tức liên hệ điều này với câu tự vấn của mình, mà nghiêng về việc quy nó cho một cơn xáo trộn tinh thần nào đó. Một lúc sau, các chữ phai dần và công việc trong ngày vẫn diễn ra bình thường. Nhưng chữ “India” dường như ám Ông; Ông thấy nó trong đống than hồng ban đêm, giữa lá cây, đôi khi trên mặt đất. Sự lặp lại trải nghiệm này rốt cuộc buộc Ông phải công nhận rằng có một trí tuệ đầy uy lực nào đó, chủ quan hay khách quan, đang chỉ cho Ông biết rằng ở Ấn Độ Ông có thể tìm được lời giải cho các câu đố. Thế rồi sau một thời gian, Ông thu xếp công việc để tự do rời nhà, và mua vé đi Ấn Độ bằng tàu thư. Khi tàu đã lênh đênh được vài ngày, Ông có ấn tượng rằng trước khi tới Hồng Kông, Ông sẽ biết mình phải đến đâu tại Ấn Độ và tìm ai.
As usual on those Pacific boats, there were several missionaries China-bound among K.’s fellow-passengers. According to the custom of their class they [132] spent their time on shipboard in theological discussions and the singing of hymns. One pleasant evening they drew out my friend on the subject of religion and he gave them his views, which were not at all satisfactory to their orthodox proclivities. When, finally, they went below, a man who had been sitting quietly listening without taking part in the discussion—in short, the Purser—came over to K. and said: “I see you are a Theosophist.”
Như thường lệ trên những con tàu Thái Bình Dương ấy, có vài nhà truyền giáo cùng đi với K. trên đường sang Trung Hoa. Theo thói quen của giới mình, họ [132] dành thời gian trên tàu để tranh luận thần học và hát thánh ca. Một buổi tối đẹp trời, họ khơi chuyện tôn giáo với bạn tôi, và Ông bày tỏ quan điểm của mình, vốn không hề thỏa mãn chút nào đối với khuynh hướng chính thống của họ. Khi cuối cùng họ xuống khoang, một người ngồi yên lặng nghe mà không tham gia tranh luận—tức Viên quản lý kho (Purser)—bước tới K. và nói: “Tôi thấy Ông là một nhà Thông Thiên Học.”
“A Theosophist,” he replied, “what is that? I hardly know what you mean?”
“Một nhà Thông Thiên Học ư,” Ông đáp, “đó là gì? Tôi hầu như không biết Ông muốn nói gì?”
“Why,” said the Purser, “those views that you have been expressing are pure Theosophy.”
“Ồ,” Viên quản lý nói, “những quan điểm Ông vừa trình bày là Thông Thiên Học thuần túy.”
“I don’t know what you may call them,” answered K. “but they are the conclusions to which I have arrived by independent thinking and without taking them out of books. As for Theosophy, I have read nothing or almost nothing about it.”
“Tôi không biết Ông gọi chúng là gì,” K. đáp, “nhưng đó là những kết luận tôi đi đến được bằng tư duy độc lập và không lấy từ sách vở. Còn về Thông Thiên Học, tôi chẳng đọc gì hoặc hầu như chẳng đọc gì về nó.”
“Since you are going to India,” continued the Purser, “I suppose you are bound for Madras to see Colonel Olcott.”
“Vì Ông đang đi Ấn Độ,” Viên quản lý tiếp lời, “tôi đoán Ông sẽ tới Madras để gặp Đại tá Olcott.”
“No, I know nothing about him; I am just going to India to gratify a notion of mine and without any definite plan.”
“Không, tôi chẳng biết gì về Ông ấy; tôi chỉ đi Ấn Độ để thỏa một ý muốn của mình và không có kế hoạch cụ thể.”
“Well, if you want to learn about Theosophy you must go and talk with the Colonel; he is the man who can tell you all you want to know. He crossed [133] the Pacific once with me in this ship, and if you like I will give you a letter of introduction.”
“Thế này, nếu Ông muốn tìm hiểu về Thông Thiên Học, Ông phải đến nói chuyện với Đại tá; chính Ông ấy là người có thể cho Ông biết mọi điều Ông muốn biết. Ông ấy đã vượt [133] Thái Bình Dương với tôi trên con tàu này một lần, và nếu Ông thích, tôi sẽ viết cho Ông một thư giới thiệu.”
This strange fulfilment of his subjective premonition impressed K. so that he took the letter and in due time reached Madras. He went to a hotel but did not make his presence known until the second day after, for with hereditary caution he did not care to expose his private thoughts and aspirations to a stranger who might prove to be an undesirable acquaintance and guide. Meanwhile, he enquired of the hotel people, who spoke well of me, and of a fellow-guest, an influential civilian, who told him that he need not hesitate to call on me, for I bore a good character and was on the Government House list. Thereupon the visitor from Hawaii took a carriage, came to Adyar and sent up his card. I received him down in the main hall and we began a very interesting conversation. As we sat together on the bench, I received, subjectively, a message to the effect that this young man had been sent to me for a purpose. So at the end of the interview I invited him to fetch his luggage from the hotel and become my guest for any time, longer or shorter, as he might choose: I would make him free of the library and give him as much time as I could spare to clearing up the difficulties that were troubling his mind. He accepted the invitation, came, and was with us about a year; [134] during which time he became thoroughly acquainted with our Theosophical literature and an ardent member of the Society. At the end of the time specified he was recalled by cable in consequence of his father’s death. This was one of the most interesting cases within my experience. This young man had gone along the Path step by step, thinking out the whole occult scheme of evolution as far as he could go without the help of the one and only key, the one with two wards—Karma and Reincarnation: when this idea was once grasped he was in possession of the means of solving every mental doubt and difficulty.
Sự ứng nghiệm kỳ lạ này với linh cảm chủ quan khiến K. ấn tượng đến mức Ông nhận thư và đúng kỳ hạn, tới Madras. Ông vào một nhà trọ nhưng không để lộ sự hiện diện cho tới ngày thứ hai, vì thận trọng thừa hưởng, Ông không muốn phơi bày những suy tư và khát vọng riêng trước một người lạ có thể hóa ra là mối quen biết và người dẫn dắt không mong muốn. Trong khi đó, Ông hỏi thăm người ở nhà trọ, họ nói tốt về tôi; và hỏi một khách trọ khác, một quan chức có ảnh hưởng, người bảo Ông rằng không cần do dự đến thăm tôi, vì tôi có hạnh kiểm tốt và có tên trong danh sách khách của Dinh Toàn quyền. Bấy giờ, vị khách đến từ Hawaii gọi xe, tới Adyar và gửi danh thiếp. Tôi tiếp Ông ở đại sảnh và chúng tôi bắt đầu một cuộc chuyện trò rất thú vị. Khi ngồi cùng nhau trên băng ghế, tôi nhận được, theo chủ quan, một thông điệp rằng chàng trai này được gửi đến với tôi vì một mục đích. Vậy nên cuối buổi, tôi mời Ông mang hành lý từ khách sạn đến và làm khách của tôi trong bất cứ khoảng thời gian nào, dài hay ngắn, tùy ý; tôi sẽ cho Ông tự do dùng thư viện và dành cho Ông nhiều thời giờ nhất có thể để gỡ rối những điều đang làm tâm trí Ông băn khoăn. Ông nhận lời mời, đến ở, và ở với chúng tôi khoảng một năm; [134] trong thời gian đó, Ông nắm vững văn liệu Thông Thiên Học của chúng tôi và trở thành một hội viên nhiệt thành. Cuối thời hạn định trước, Ông được gọi về bằng điện tín vì cha Ông qua đời. Đây là một trong những trường hợp đặc sắc nhất trong kinh nghiệm của tôi. Chàng trai này đã đi dọc Con Đường từng bước, tự mình suy ngẫm được trọn vẹn sơ đồ huyền linh của tiến hóa cho đến mức Ông có thể, mà không có chiếc chìa khóa duy nhất và có hai then—Nghiệp quả và Luân hồi: khi nắm được ý niệm này rồi, Ông có trong tay phương tiện để giải quyết mọi hoài nghi và khó khăn trong tư tưởng.
It is most interesting to look back and see how some of our staunchest and most useful workers have been brought, often by unconsidered trifles or seeming accidents, into the Theosophical movement. To begin at the beginning, it was my unpremeditated purchase of a copy of the Banner of Light which took me to Chittenden, brought H. P. B. and myself into contact, and led to the formation of our Society; it was the sending of a book to Mrs. Besant for review that brought her ultimately out of the camp of Materialism into that of Theosophy. The lesson to learn is that the Watchers who concern themselves with human affairs and special movements among men know how to turn the future worker into the path that leads to our door. [135] There is a certain class of people who are so afraid of over-stepping the narrow boundaries of scientific orthodoxy that they at once try to explain away such facts as the above by the childish theory of “curious coincidences”. If anybody wishes to know how sarcastically H. P. B. could write upon this theme let them refer to Isis Unveiled [14]. She says: “In Mr. Proctor’s book, astronomers seem especially doomed by Providence to encounter all kinds of curious ‘coincidences,’ for he gives us many cases out of the ‘multitude’ and even of the ‘thousands’ of facts (sic). To this list we may add the army of Egyptologists and archæologists who of late have been the chosen pets of the capricious Dame Chance, who, moreover, generally selects ‘well-to-do Arabs’ and other Eastern gentlemen to play the part of benevolent genii to Oriental scholars in difficulties. Professor Ebers is one of the latest favoured ones. It is a well-known fact, that whenever Champollion needed important links he fell in with them in the most various and unexpected ways.” Defending the theory that the Universe is governed by law, she quotes Voltaire’s saying: “I have consumed forty years of my pilgrimage... seeking the philosopher’s stone called truth... I still remain in ignorance... all that I have been able to [136] obtain... is this: Chance is a word void of sense. The world is arranged according to mathematical law.” A couplet which she puts at the head of this chapter reflects as perfectly as possible her temperament:
Thật thú vị khi ngoái nhìn lại và thấy một số những cộng sự kiên định và hữu ích nhất của chúng tôi đã được đưa vào phong trào Thông Thiên Học như thế nào—thường chỉ bởi những chuyện vụn vặt không ai để ý hoặc những sự tình cờ có vẻ như tình cờ. Ngay từ đầu, chính việc tôi bất chợt mua một số Banner of Light đã đưa tôi đến Chittenden, đưa H. P. B. và tôi vào tiếp xúc, và dẫn tới việc lập Hội; chính việc gửi một cuốn sách cho Bà Besant để điểm đã rốt cục đưa Bà từ trại Duy Vật sang trại Thông Thiên Học. Bài học cần rút ra là các Đấng Canh Giữ, những vị lưu tâm tới nhân sự và các vận động đặc thù giữa loài người, biết cách đưa người lao động tương lai vào con đường dẫn tới cửa nhà chúng ta. [135] Có một lớp người sợ vượt ra ngoài những biên giới hẹp của chính thống khoa học đến mức họ lập tức cố gắng giải thích cho qua những sự kiện như trên bằng thuyết trẻ con về “những trùng hợp kỳ lạ”. Nếu ai muốn biết H. P. B. có thể viết mỉa mai thế nào về đề tài này, hãy mở Isis Unveiled. Bà viết: “Trong sách của Ông Proctor, các nhà thiên văn dường như đặc biệt bị Đấng Quan Phòng định số phận phải gặp đủ loại ‘trùng hợp’ kỳ lạ, vì Ông cho chúng ta vô số trường hợp trong ‘vô vàn’ và thậm chí là ‘hàng nghìn’ sự kiện (sic). Vào danh sách ấy, ta có thể thêm đạo quân các nhà Ai Cập học và khảo cổ học, mới đây trở thành con cưng của Mệnh Nữ thất thường, Nàng thường chọn ‘những người Ả Rập khấm khá’ và các quý ông phương Đông khác đóng vai những thần linh hào phóng đối với các học giả phương Đông đang gặp khó. Giáo sư Ebers là một trong những người được ưu ái mới nhất. Đó là một sự kiện hiển nhiên rằng hễ Champollion cần những mắt xích quan trọng thì Ông lại gặp được chúng bằng những cách đa dạng và bất ngờ nhất.” Bảo vệ thuyết cho rằng Vũ trụ chịu sự cai quản của định luật, Bà trích lời Voltaire: “Ta đã tiêu tốn bốn mươi năm hành trình... tìm kiếm hòn đá giả kim gọi là chân lý... Ta vẫn còn trong vô minh... tất cả những gì ta có thể [136] đạt được... là điều này: Ngẫu nhiên là một từ vô nghĩa. Thế giới được sắp đặt theo định luật toán học.” Hai câu thơ mà Bà đặt ở đầu chương này phản chiếu hoàn hảo tính khí của Bà:
Who dares think one thing and another tell
Ai dám nghĩ một đằng nói một nẻo
My heart detests him as the gates of hell!
Lòng ta ghét hắn như ghét cửa địa ngục!
—POPE
—POPE
As stated in the previous chapter, there was a good deal of excitement in Madras at this time over Vivekananda, on his return to India after a prolonged absence in America and England. I am very sorry that I cannot put my hand upon a copy of the Hindu for 8th February, 1897, which contained a splendid criticism upon the bad taste of Vivekananda in coarsely attacking Mrs. Besant and our Society: as I said, previously, he hurt himself far more than he did us. He seems to have found that out for, on reaching Calcutta, in the course of a superb speech, referring to his venerated guru, Ramakrishna, he said:
Như đã nói ở chương trước, thời điểm này có khá nhiều xôn xao ở Madras về Vivekananda, sau khi Ngài trở về Ấn Độ sau một kỳ vắng mặt dài ở Mỹ và Anh. Tôi rất tiếc không thể tìm thấy bản tờ Hindu số ngày 8 tháng Hai, 1897, vốn có một bài phê bình tuyệt vời về cái tệ của Vivekananda khi thô bạo công kích Bà Besant và Hội chúng tôi: như tôi đã nói, Ngài làm hại mình nhiều hơn là hại chúng tôi. Có vẻ như Ngài đã nhận ra điều đó vì, khi tới Calcutta, trong một bài diễn văn tuyệt vời, nhắc đến vị thầy khả kính Ramakrishna, Ngài nói:
“If there has been anything achieved by me, by thoughts, or words, or deeds; if from my lips has ever fallen one word that has helped anyone in the world, I lay no claim to it, it was his. But if there have been curses falling from my lips, if there has been hatred coming out of me, it was all mine, and not his. All that has been weak has been mine, and all that has been life-giving, strengthening, pure [137] and holy, has been his inspiration, his words, and he himself.”
“Nếu có điều gì được thành tựu bởi tôi, bằng tư tưởng, lời nói, hay việc làm; nếu từ môi tôi có rơi một lời nào từng giúp ai trên đời, tôi không nhận công lao về nó, đó là công của Ngài. Nhưng nếu có lời nguyền rủa phát ra từ môi tôi, nếu có thù hận xuất phát từ tôi, tất cả là của tôi, không phải của Ngài. Tất cả những gì yếu kém là của tôi, còn tất cả những gì ban sự sống, tăng sức mạnh, thuần khiết [137] và thánh thiện là do cảm hứng của Ngài, là lời của Ngài, và chính Ngài.”
This change of sentiment led me to address a letter to the Indian public through the Hindu of March 7th, in which I said:
Sự thay đổi tâm tình này dẫn tôi tới chỗ gửi một bức thư tới công chúng Ấn thông qua tờ Hindu ngày 7 tháng Ba, trong đó tôi viết:
“If he keeps his feet on the golden carpet of love that is spread in his superb Calcutta address, he will have the goodwill and help of every Theosophist.”
“Nếu Ngài giữ đôi chân trên tấm thảm vàng của tình thương được trải trong bài diễn văn Calcutta tuyệt mỹ của Ngài, Ngài sẽ có thiện chí và sự giúp đỡ của mọi người Thông Thiên Học.”
On the 11th March, the then Governor of Madras, Sir Arthur E. Havelock, with an aide-de-camp and some European friends, visited our pioneer Pariah school. In an address signed by P. Armogam Pillay, Manager; P. Krishnaswamy, Headmaster; T. Satchuthanunthum, Assistant Master; and T. Tiruvady Pillay, Committee Manager, it was stated that the school was opened in June, 1894; that in the first year of its recognition by Government, 1895, fourteen pupils were presented for Result Grant examination, of whom twelve passed creditably; that in 1896, out of twenty-four children examined, twenty-three passed. His Excellency and friends expressed themselves as highly pleased with what they saw, and on the following day the Governor sent to the Manager and Head Master the following letter:
Ngày 11 tháng Ba, vị Toàn quyền Madras khi ấy, Ngài Arthur E. Havelock, cùng một sĩ quan tùy tùng và vài bạn hữu người Âu, đã thăm ngôi trường Pariah tiên phong của chúng tôi. Trong một bản trình bày ký tên: P. Armogam Pillay, Quản lý; P. Krishnaswamy, Hiệu trưởng; T. Satchuthanunthum, Trợ lý; và T. Tiruvady Pillay, Ủy viên Quản lý, có nêu rằng trường mở cửa vào tháng Sáu, 1894; rằng trong năm đầu được Chính phủ công nhận, 1895, mười bốn học sinh dự kỳ khảo thí để cấp trợ cấp theo kết quả, trong đó mười hai em đỗ với thành tích đáng khen; rằng năm 1896, trong số hai mươi bốn em dự thi, hai mươi ba em đỗ. Ngài và các bạn bày tỏ sự hài lòng cao độ với những gì họ chứng kiến, và ngày hôm sau, Toàn quyền gửi cho Quản lý và Hiệu trưởng bức thư sau:
To the Manager and Head Master, Olcott Free School. [138] Gentlemen,—In regard to my visit of yesterday to the Olcott Free School, and the Report on its principles and working which was then read to me, I wish to say that I listened to that Report with interest, and that I considered the scheme of training an excellent one, likely, if carried out, to produce most useful results. I will add that Colonel Olcott’s effort to benefit this class is worthy of praise and should elicit the sympathy of everyone interested in its improvement.
Gửi Quản lý và Hiệu trưởng, Olcott Free School. [138] Kính gửi Quý Ông,—Về chuyến thăm hôm qua của tôi tới Olcott Free School, và Bản Báo cáo về nguyên tắc và hoạt động của trường được đọc cho tôi khi ấy, tôi muốn nói rằng tôi đã lắng nghe bản báo cáo đó với sự quan tâm, và tôi cho rằng đề án đào tạo là một đề án xuất sắc, nếu thực hiện, rất có khả năng mang lại những kết quả hữu ích nhất. Tôi xin thêm rằng nỗ lực của Đại tá Olcott nhằm mưu ích cho tầng lớp này là đáng khen và nên khơi dậy sự cảm thông của mọi người quan tâm đến sự cải thiện của họ.
I am,
Trân trọng,
Government House, Gentlemen,
Government House, Kính thư,
Guindy, Yours faithfully,
Guindy, Ký tên: A. E. HAVELOCK.
12th March, 1897. (Signed) A. E. HAVELOCK.
12 tháng Ba, 1897.
As I had no Private Secretary at that time I had to work double tides in preparing matter for The Theosophist, writing “Diary Leaves,” working on the revision of the Buddhist Catechism and disposing of my heavy correspondence. Among the articles written was one entitled “The Coming Calamities,” provoked by the pessimistic prophecies of Mlle. Couëdon, A pseudonymous writer in L’Initiation for February, 1897, proved by an assemblage of facts that from twenty to thirty seers and seeresses, chiefly modern, have prophesied the most direful woes to France, Europe in general, the Papacy and, in fact, to the whole globe. Crops are to fail; famine rage; plague—imported from Asia— [139] sweep away half the population within the brief space of forty to fifty days; a fell disease that science cannot even diagnose, let alone cure, to affect men, animals, even plants; France was to be again invaded, debased, trampled down and dishonored, yet revive under the leadership of a Bourbon prince, whose personal description is given, even to unimportant details, such as his lameness in one foot; Paris is to be overwhelmed, her splendid monuments and public buildings are to be upset and made piles of dust and crumbled fragments; the river Seine is to run red with blood, shed by fratricidal hands, and the Père Mectou, one of the prophets, as pessimistic as the creator of the solitary New Zealander in devastated London, says that fathers will point out to their children the site of once splendid Paris and say: “Here stood a great city which God destroyed because of its crimes.” To add to the dread horrors of the doomed gay capital there is to be a pall of darkness enwrapping it for three consecutive days, a darkness that “no artificial illuminant shall be able to overcome; and a reign of sulphur, or poisonous sulphurous acid gas which shall stifle the wicked: the good having been warned in advance to flee from the dies irœ.” Now the coincidence and concurrence of these numerous prophecies is a fact to strike the attention of even the cursory student of mysticism and history. For [140] the very calamities prefigured by our modern psychics were anticipated, even to minute details, by Nostradamus in the sixteenth century. The facts are too striking to be explained away as accidental, and, as I say in my article: “it looks as if one idea—whether true or false, time will prove—had been put into the heads of prophets and prophetesses or into their hands or mouths, that France and her joy-provoking capital, Paris, would be crushed and the population slain by war, plague, pestilence, atmospheric meteors and famine, at about the close of the Nineteenth Century... What makes these modern prophecies more interesting to a Hindu is their perfect agreement with those in the Puranas as to be expected at this end of the first 5000 years cycle of Kali Yuga.” I might have been tempted to pass these by but for the radical change which has been wrought in the equilibrium of the European political world by the marvellous triumphs of Japan on sea and land, the mutterings of coming battle between Germany and France, and the desperate haste shown in the new military arrangement in India in view of the possible contingency of a Russian invasion of Afghanistan. Then we have the secession of Norway from Sweden, the bloody revolution ready to break out in Russia, the other which may wrest Hungary from Austria on the death of the ruling sovereign, and other [141] faithful portents of national and international disturbance.
Vì thời đó tôi không có Thư ký Riêng, tôi phải làm việc gấp đôi để soạn bài cho The Theosophist, viết “Diary Leaves,” sửa Giáo lý Vấn đáp Phật giáo và xử lý đống thư từ nặng nề. Trong các bài đã viết có bài nhan đề “Những Tai ương Sắp Tới,” khơi nguồn từ những lời tiên tri bi quan của Mlle. Couëdon. Một tác giả bút danh trên L’Initiation số tháng Hai, 1897, đã chứng minh, qua việc tập hợp các sự kiện, rằng có từ hai mươi đến ba mươi nhà tiên tri nam nữ, chủ yếu hiện đại, đã tiên báo những tai ương khủng khiếp nhất cho nước Pháp, cho châu Âu nói chung, cho Giáo hoàng, và thực vậy, cho toàn cầu. Mùa màng sẽ thất bát; nạn đói hoành hành; dịch hạch—du nhập từ Á châu— [139] cuốn phăng một nửa dân số chỉ trong vòng bốn mươi đến năm mươi ngày ngắn ngủi; một bệnh tàn độc mà khoa học thậm chí còn không chẩn đoán nổi, nói chi đến chữa trị, sẽ tác hại người, súc vật, thậm chí cả cây cỏ; nước Pháp sẽ lại bị xâm lăng, bị làm nhục, bị chà đạp và ô danh, rồi hồi sinh dưới sự lãnh đạo của một vị vương tộc Bourbon, mà nhân tướng được mô tả, kể cả những chi tiết không quan trọng như chân khập khiễng; Paris sẽ bị vùi dập, các đài kỷ niệm lộng lẫy và công thự của nàng sẽ bị lật đổ và hóa thành đống bụi và mảnh vụn; sông Seine sẽ chảy đỏ máu, do chính tay người cùng một nước giết nhau, và Père Mectou, một trong những nhà tiên tri, bi quan chẳng kém kẻ từng tạo nên hình ảnh người New Zealander cô độc trong một London đổ nát, nói rằng các người cha sẽ chỉ cho con cái chỗ từng là Paris huy hoàng mà bảo: “Nơi đây từng là một đô thị lớn mà Thượng Đế đã hủy diệt vì tội lỗi của nó.” Để gia tăng những kinh hoàng đáng sợ của kinh đô hoa lệ bạc mệnh, sẽ có một màn đen bao phủ nó ba ngày liên tục, sự tối tăm mà “không ánh sáng nhân tạo nào có thể khắc phục”; và một cơn mưa lưu huỳnh, hay khí axit lưu huỳnh độc hại sẽ làm nghẹt thở kẻ ác: người thiện đã được cảnh báo trước để trốn khỏi dies irœ. Giờ đây, sự trùng hợp và tương ứng của vô số lời tiên tri này là một thực tế đủ khiến ngay cả người học trò lướt qua của huyền học và lịch sử cũng phải lưu tâm. Vì [140] những tai ương được các nhà ngoại cảm hiện đại phác họa đã được Nostradamus ở thế kỷ XVI báo trước, đến cả các chi tiết nhỏ. Các sự kiện quá đỗi nổi bật để có thể bị gạt đi như ngẫu nhiên, và, như tôi viết trong bài, “có vẻ như—đúng sai để thời gian chứng minh—một ý nghĩ đã được đưa vào đầu các nhà tiên tri nam nữ, hoặc vào tay hay miệng họ, rằng nước Pháp và kinh đô khơi gợi hoan lạc của nàng, Paris, sẽ bị nghiền nát và dân chúng sẽ bị sát phạt bởi chiến tranh, ôn dịch, bệnh tật, các thiên tượng trong khí quyển và nạn đói, vào khoảng cuối thế kỷ XIX... Điều làm các lời tiên tri hiện đại này thêm thú vị đối với một người Hindu là sự tương hợp hoàn hảo của chúng với những điều trong các Puranas về những gì sẽ xảy đến vào cuối chu kỳ 5000 năm đầu của Kali Yuga.” Tôi đã có thể bỏ qua điều này nếu không vì sự thay đổi tận căn đã xảy ra trong thế cân bằng của thế giới chính trị châu Âu bởi những chiến thắng kỳ diệu của Nhật Bản trên biển và trên bộ, những tiếng thì thầm báo bão giữa Đức và Pháp, và sự gấp gáp tuyệt vọng biểu hiện trong cuộc sắp xếp quân sự mới ở Ấn Độ, do khả năng Nga xâm lược Afghanistan. Rồi chúng ta có việc Na Uy ly khai khỏi Thụy Điển, cuộc cách mạng đẫm máu sắp nổ ra ở Nga, và cuộc cách mạng khác có thể cướp Hungary khỏi Áo khi quân chủ đương trị băng hà, cùng các [141] triệu chứng trung thực khác của những rối loạn quốc gia và quốc tế.
As above noticed, the terrestrial calamities foreseen by the prophets were to be accompanied by atmospheric cataclysms and portents, e.g., the pall of darkness for three consecutive days, the rain of sulphur, and the evolution of poisonous gases which should stifle the wicked. As for this latter, we need go back no further than the eruption of Mount Pélè which was accompanied by an outpouring of stifling gas which destroyed, virtually, the whole population of Saint Pierre.
Như vừa nêu, các tai ương trần thế được các nhà tiên tri thấy trước sẽ đi kèm những tai biến và điềm lạ trong khí quyển, chẳng hạn, màn đen ba ngày liên tiếp, mưa lưu huỳnh, và sự phát sinh các khí độc làm nghẹt thở kẻ ác. Về điều sau, ta chẳng cần đi xa hơn vụ phun nổ của núi Pelée, kèm theo đó là sự tuôn trào khí ngạt khiến hầu như toàn bộ dân số Saint Pierre bị diệt vong.
But besides seismic and other disturbances, many great catastrophes to nations and cities and ruling sovereigns have been accompanied by most extraordinary heavenly portents. Nostradamus predicted that the French catastrophes—those of the French revolution—would be ushered in by a comet, and their subsidence by the appearance of a sort of Star of Bethlehem. Similar predictions were made by the Prince Höhenlohe, in 1830, and the Curé de Malétable has put on record some prophecies of supplementary catastrophes, as has also our latest Cassandra, Mlle. Couedon. If we are to believe the author of that quaint work, Curiositës Infernales, the war waged by the French for the conquest of Naples was preceded by a celestial disturbance hardly ever equalled: “Three suns appeared at [142] night in the sky of Apulia, surrounded by clouds, horrible lightnings and thunderings.” In the territory of Arezza multitudes of spectres of armed men on horseback, with a deafening clamor of trumpets and drums, thronged the heavens. The Milanese horrors were preceded by a fall of twelve hundred great hailstones of the color of rusted iron, extremely hard and smelling of sulphur, one of them weighed sixty pounds, another twice as much. When Cardinal Ximenes was starting on the campaign against the Moors of Barbary a cross shone in the sky over the village of Vaiona, where he was, and was a presage of victory; on his embarking on the sea the cross showed itself over the African coast. Arluno states (in his Histoire de Milan) that a little before the capture of Ludovico Sforza, Duke of Milan, clashings of arms, sounds of drums and blasts of trumpets sounded around the castle; fire-balls dashed against the walls, and spectral dogs and other animals rushed barking and crying through the rooms and suddenly disappeared. Before the invasions of Xerxes and Attila the inhabitants of the doomed countries saw horrible and awe-inspiring meteors. The fall of Jerusalem is said to have been presaged by apparitional bodies of soldiers in the air, marching towards each other as if to join battle. Appianus, Pliny and other classical writers have recorded the strange portents [143] that went before the civil and foreign wars; the armour hung in the Lacedæmonian temples clanged of itself, the doors of the temple of Hercules, at Thebes, opened of themselves and the arms suspended on the inner walls were found in the morning flung to the floor, as Cicero tells us. Coming forward in time, in the reign of Theodosius a blazing star attached to a sword was seen in the heaven. So we might go on almost ad infinitum repeating these tales, more or less credible, of signs, portents and wonders which have heralded in great national disasters and international conflicts, while of the personal warnings above mentioned there are an incalculable number. Yet the student of Occult Science will see no proof of supernaturalism in any of these. One and all are produced by the elemental spirits, or forces, attached to the nation or the individual, and provoked by some Adept or other high mystic who has the interest of the one, or some friend or relative who has that of the other at heart.
Nhưng ngoài những chấn động địa chất và rối loạn khác, nhiều thảm họa lớn giáng lên các quốc gia, thành phố và quân vương đương trị đã đi kèm những điềm trời hết sức kỳ lạ. Nostradamus tiên đoán rằng các tai ương của nước Pháp—những tai ương của Cách mạng Pháp—sẽ được báo hiệu bằng một sao chổi, và sự lắng dịu của chúng bằng sự xuất hiện của một dạng Ngôi sao Bethlehem. Những tiên đoán tương tự được Hoàng thân Höhenlohe đưa ra năm 1830, và Cha xứ Malétable cũng ghi lại một số lời tiên tri về các tai ương bổ sung, như nữ tiên tri gần đây của chúng ta, Mlle. Couëdon. Nếu tin tác giả của tác phẩm lạ lùng Curiositës Infernales, thì cuộc chiến người Pháp tiến hành để chinh phục Naples đã được báo trước bằng một biến động thiên thể hiếm khi sánh kịp: “Ba mặt trời xuất hiện vào ban [142] đêm trên bầu trời Apulia, vây quanh bởi mây, những tia chớp và sấm sét khủng khiếp.” Trên lãnh thổ Arezza, vô số quỷ ảnh người cưỡi ngựa vũ trang, với tiếng kèn trống đinh tai, tràn ngập bầu trời. Những nỗi kinh hoàng ở Milan được báo trước bằng một trận mưa rơi xuống mười hai trăm tảng đá mưa lớn có màu sắt rỉ, cực kỳ cứng và có mùi lưu huỳnh; có tảng nặng sáu mươi pound, tảng khác nặng gấp đôi. Khi Hồng y Ximenes khởi hành chiến dịch chống người Moor ở Barbary, một cây thánh giá tỏa sáng trên trời ở làng Vaiona, nơi Ngài ở, và đó là điềm chiến thắng; khi Ngài xuống tàu ra biển, cây thánh giá lại hiện trên bờ biển Phi châu. Arluno ghi chép (trong Histoire de Milan) rằng ít lâu trước khi Ludovico Sforza, Công tước Milan, bị bắt, những tiếng va chạm của khí giới, tiếng trống và kèn rền rĩ vang quanh pháo đài; những cầu lửa phóng vào tường thành, và các loài vật ma như chó cùng những con khác lao qua các phòng vừa sủa vừa gào thét, rồi đột ngột biến mất. Trước cuộc xâm lược của Xerxes và Attila, cư dân các xứ sở bạc mệnh đã thấy những thiên tượng kinh hoàng và gây kinh sợ. Người ta nói rằng sự sụp đổ của Jerusalem được báo trước bằng các đoàn quân bóng ảnh trên không, hành binh hướng về nhau như sắp giao chiến. Appianus, Pliny và các tác giả cổ điển khác ghi nhận những điềm lạ kỳ [143] xảy ra trước các cuộc nội chiến và ngoại xâm; khí giới treo trong đền thờ của người Lacedæmon tự rung, cửa đền Hercules ở Thebes tự mở, và khí giới treo trên tường bên trong sáng ra thấy bị quăng xuống sàn, như Cicero kể. Tiến lên thời hậu bán, vào triều Theodosius, một ngôi sao bốc lửa gắn vào một thanh kiếm đã được thấy trên trời. Và thế, ta có thể kể mãi gần như vô tận những câu chuyện, ít nhiều đáng tin, về dấu hiệu, điềm báo và kỳ tích từng báo trước những tai ương quốc gia lớn và xung đột quốc tế, trong khi về các lời cảnh báo cá nhân đã nói, thì vô số kể. Ấy vậy mà người học Huyền học sẽ chẳng thấy trong những điều này bằng chứng nào của tính siêu nhiên. Từng điều một đều do các tinh linh hành khí, hay các lực, gắn với quốc gia hay cá nhân, tạo ra, và được khơi động bởi một vị Chân sư hay một bậc huyền sĩ cao cả nào đó, người quan tâm đến bên này, hoặc một người bằng hữu hay thân thích, kẻ quan tâm đến bên kia.
Strange as may seem to us these ominous marshallings of troops in the air, these fightings of battles, these clangors of arms and armor and other signs of military conflict, the apparition of unexpected and quasi inexplicable comets, hailstorms, volleys of thunder and terrific lightning, the throwing of fire-balls against fortresses and the rush of [144] howling, barking and screaming phantom animals through castle corridors, it is not surprising that researchers of the class of our contemporary writers on psychical phenomena should try to brush away all the mass of cumulative testimony as to these phenomena by the easy process of contemptuous denial. But then, the day of these blinded word-weavers is past, and their mock sun is setting behind the clouds of matter which have been engendered by the vapors of their mental speculations. When the thoughtful public were struggling to break through the meshes of the net of dogma cast over them by interested theologians, the strong, muscular hand of Materialism stretched out towards them by modern science was grasped eagerly in the hope that it might lift them out of the mire of their doubts on to the firm ground of demonstrable truth. But the scientists overdid their part, and a thousand failures to account for the simplest psychical phenomena destroyed their influence and forced the once-submissive reading public to resort to original experiment, backed up by the reading of the works of mystics and mystical students of our own and preceding generations. Thus it has come about, through that ancient teaching, that the forces of nature manifesting in its several component kingdoms can be identified, classified, brought into relations with us, and made [145] subject to the developed will-power of students who have been under the teaching of Adepts or Masters of Wisdom. The mystic, therefore, would be inclined to accept as true the testimony of a cloud of witnesses of various generations, to the real occurrence of phenomena like those above recorded. Have we not in this very chapter, had the unimpeachable testimony of our educated colleague, Mr. K., to the fact that the answer to his yearning soul-cry for help to discover the truth, came in the form of a written message in the sky, the glowing embers, the tree-foliage and the sand of the soil? How much more difficult would it be then for the same presumed Intelligence that gave him this message to have marshalled the tribes of the sylphs to form themselves into a sky-built picture of moving troops, or prancing horses, or even of our Adyar headquarters, with the concomitants of the Hall where I should receive him and a simulacrum of myself figured as I would be, sitting before him on the occasion of his visit? Finally, if the reader will take the trouble to refer to The Theosophist, [15] he will see that our honorable and respected colleague, Dr. English, writes in connection with this question of celestial portents: “The late Mrs. English was a natural clairvoyant and throughout her whole life had psychical experiences, [146] often of a prophetic character. About a year before the outbreak of the American civil war she saw appear in the sky, one morning in broad daylight and distinctly outlined, a spectral troop of cavalry in rapid march, moving in a southerly direction.”
Dẫu những cuộc dàn quân dữ tợn trên trời, những trận giao phong, những tiếng va chạm binh giáp và các dấu hiệu khác của xung đột quân sự, sự xuất hiện bất ngờ và gần như khó giải của các sao chổi, mưa đá, tiếng sấm dữ dội và chớp kinh hoàng, việc ném cầu lửa vào pháo đài và cảnh [144] thú ma tru tréo, sủa, gào thét lao qua các hành lang lâu đài có lạ lùng với ta đến đâu, thì cũng không đáng ngạc nhiên khi các nhà nghiên cứu thuộc lớp những người viết đương thời về hiện tượng tâm linh cố gắng phủi bỏ cả khối chứng từ chồng chất về các hiện tượng này bằng cách phủ nhận khinh miệt. Nhưng thời của những người dệt chữ mù lòa ấy đã qua, và thái dương giả của họ đang lặn sau đám mây vật chất do hơi nước của những suy diễn trí óc của họ tạo ra. Khi công chúng có tư tưởng đang vùng vẫy để thoát khỏi mắt lưới giáo điều bị ném phủ lên họ bởi các nhà thần học có lợi lộc, bàn tay rắn chắc của Chủ nghĩa Duy Vật, do khoa học hiện đại vươn ra, đã được nắm lấy một cách háo hức trong hy vọng nó có thể kéo họ ra khỏi vũng bùn nghi hoặc lên nền đất vững của chân lý có thể chứng minh. Nhưng các nhà khoa học đã làm quá phần của mình, và hàng nghìn thất bại khi giải thích những hiện tượng tâm linh đơn giản nhất đã phá hủy ảnh hưởng của họ, buộc độc giả từng thuần phục phải quay sang thử nghiệm nguyên bản, được hậu thuẫn bởi việc đọc các tác phẩm của các nhà thần bí và học trò huyền học của thời ta và các thế hệ trước. Nhờ vậy, điều đã xảy ra là qua giáo lý cổ xưa ấy, các lực của thiên nhiên biểu hiện trong các giới thành phần khác nhau có thể được nhận diện, phân loại, đưa vào tương quan với chúng ta, và [145] phục tùng ý chí đã được phát triển của các học trò từng được các Chân sư hay các Bậc Minh triết giáo huấn. Do đó, nhà huyền học sẽ có khuynh hướng chấp nhận lời chứng của mây nhân chứng thuộc nhiều thế hệ là đúng, về sự xảy ra thực sự của những hiện tượng như đã ghi. Lẽ nào, ngay trong chương này, chúng ta đã không có lời chứng không thể chê trách của đồng sự có học của chúng ta, Ông K., rằng câu đáp cho tiếng kêu khát vọng của linh hồn Ông mong được trợ giúp để khám phá chân lý, đã đến dưới hình thức một thông điệp viết trên trời, trong than hồng, trên tán lá và trên mặt cát? Vậy thì còn khó khăn gì hơn đối với cùng một Trí tuệ được giả định ấy, Đấng đã cho Ông sứ điệp này, để tập hợp các bộ tộc của loài gió (sylphs) hình thành một bức tranh trên trời về đoàn quân di động, hay những con tuấn mã tung vó, hoặc thậm chí về trụ sở Adyar của chúng ta, với các chi tiết kèm theo về Đại sảnh nơi tôi sẽ tiếp Ông và một hình nộm của chính tôi như tôi sẽ ngồi trước mặt Ông vào dịp Ông đến thăm? Sau hết, nếu độc giả chịu khó xem The Theosophist, sẽ thấy đồng nghiệp khả kính của chúng ta, Bác sĩ English, viết liên quan đến câu hỏi về các điềm trời: “Cố phu nhân English vốn là một nhà thông nhãn tự nhiên và suốt cả đời bà có các trải nghiệm tâm linh, [146] thường mang tính tiên tri. Khoảng một năm trước khi bùng nổ cuộc nội chiến Hoa Kỳ, vào một buổi sáng giữa ban ngày, bà thấy xuất hiện trên trời, được phác nét rõ ràng, một đạo kỵ binh ma chạy nhanh, di chuyển theo hướng nam.”
Is it not more than probable that the occurrence of these premonitory warnings in the form of phenomena, terrestrial and atmospheric, gave rise to the folk-lore proverb: “Coming events cast their shadows before?” And did Campbell, who embodies it in his famous poem, Lochiel’s Warning, know that these portents could be read by one who had developed the psychical faculty? For his couplet runs thus:
Há chẳng phải rất có khả năng rằng sự xuất hiện của những lời cảnh báo báo trước này—dưới hình thức các hiện tượng trần thế và khí tượng—đã sinh ra câu tục ngữ dân gian: “Những điều sắp xảy đến gieo bóng mình đi trước”? Và Campbell, người đưa câu ấy vào bài thơ nổi tiếng Lochiel’s Warning, có biết rằng những điềm ấy có thể được đọc bởi người đã phát triển năng lực tâm linh không? Vì đôi câu của Ông như sau:
‘Tis the sunset of life gives me mystical lore,
“Buổi xế chiều của đời trao ta tri thức nhiệm mầu,
And coming events cast their shadows before.
Và những biến cố sắp đến gieo bóng mình đi trước.”
For, in the name of common sense, how could an impersonal, as set non-existing occurrence, unembodied, hence incapable of casting a shadow, nevertheless make the physical impression upon the physical plane before itself—the event—had occurred? But this old saw becomes quite intelligible to those of us who know of the existence of the astral plane and of the possibilities within reach of an advanced ego to create and make visible to ordinary sight all these pictures and phenomena which are above classified as portents.
Vì, nhân danh lương tri, một sự kiện vô ngã, xét là chưa hiện hữu, vô hình, do đó bất khả gieo bóng, làm sao có thể tạo ấn tượng vật lý trên cõi vật lý trước khi chính nó—biến cố—xảy ra? Nhưng câu ngạn ngữ cổ trở nên hoàn toàn dễ hiểu đối với những ai trong chúng ta biết về sự tồn tại của cõi cảm dục và về các khả tính nằm trong tầm với của một chân ngã tiến bộ để tạo ra, và làm hiển lộ cho mắt thường, tất cả những bức cảnh và hiện tượng đã được liệt kê ở trên như những điềm báo.
CHAPTER X—CHAPTER X
A BUDDHIST TRIPLE ENTENTE—MỘT ĐỒNG THUẬN TAM PHÂN CỦA PHẬT GIÁO
(1897)—(1897)
IT is rather a coincidence that Dr. Maxwell’s great work on metaphysical phenomena should have come to me for review just when the course of my historical narrative should have brought me to the consideration of the official report of Eusapia’s séances at Choisy-Yvrac (at which Dr. Maxwell, himself, took a prominent part) sent me for publication by Colonel de Rochas. Whereas Dr. Maxwell’s narrative gives a general view of the incidents, that of the Colonel puts us in possession of all the details. Some of these are very interesting, among them those which corroborate the statements as to the transfer of sensitiveness from the psychic’s body to measured points in space around her. To make my meaning clear I will explain that the psychic being at the time mesmerically reduced to insensibility to external influences—touch, smell, hearing, taste—at this very time these faculties are found to [148] be transferred to what one might call an astral enlargement of the body, and while the sleeper can neither feel a pin-prick or a touch, nor hear a pistol-shot, nor smell acrid ammonia, nor taste the sweetness, bitterness, salinity, acidity or pungency of any substance, yet if one pinches or pricks the air at measured distances from the body (the measurement determined by a course of experiments) then the psychic immediately cries out and shows that repercussion upon her physical body has taken place.
Thật là một sự trùng hợp khi công trình lớn của Bác sĩ Maxwell về các hiện tượng siêu hình học đến tay tôi để điểm đúng lúc tiến trình thuật ký của tôi đưa tôi đến việc xét bản tường trình chính thức về các buổi gọi hồn của Eusapia tại Choisy-Yvrac (mà chính Bác sĩ Maxwell đã đóng vai trò nổi bật), do Đại tá de Rochas gửi cho tôi để đăng. Nếu như tường thuật của Bác sĩ Maxwell cho cái nhìn tổng quát về các sự cố, thì bản của Ngài Đại tá cho chúng ta mọi chi tiết. Có những chi tiết rất thú vị, trong đó có những điểm xác nhận các trình bày về việc chuyển dời tính nhạy cảm từ thân thể của nhà đồng cốt sang những điểm đo được trong không gian quanh bà. Để diễn đạt cho rõ, tôi sẽ giải thích rằng khi nhà đồng cốt bị hạ vào trạng thái thôi miên đến mức tê bại với các kích thích ngoại giới—xúc giác, khứu giác, thính giác, vị giác—thì chính lúc ấy, các giác năng này được [148] chuyển ra một cái mà ta có thể gọi là phần nới rộng vía (astral) của thân thể; và trong khi người đang ngủ không cảm được vết kim châm hay cái chạm, không nghe được tiếng súng lục nổ, không ngửi được mùi amoniac hăng, không nếm được vị ngọt, đắng, mặn, chua hay cay của bất cứ chất nào, thì hễ người ta bóp hoặc châm vào không khí tại những khoảng cách đo được từ thân thể (khoảng cách xác định bằng một loạt thí nghiệm), thì lập tức nhà đồng cốt kêu đau và cho thấy có sự dội ứng vào thân thể vật lý của bà.
The points made by Colonel de Rochas at the first séance, in the presence of M. et Mme. Maxwell, Comte de Gramont, Baron de Watteville and Colonel de Rochas, were the following:
Những điểm được Đại tá de Rochas nêu ở buổi gọi hồn đầu tiên, có mặt Ông và Bà Maxwell, Bá tước de Gramont, Nam tước de Watteville và Đại tá de Rochas, như sau:
(1) Eusapia is suggestionable (i.e., can receive hypnotic suggestion). As soon as the state of credulity is reached, hallucinations of sight, smell and hearing are caused with the greatest ease and she then presents the common phenomena of insensibility of the skin.
Eusapia dễ tiếp nhận ám thị (tức có thể nhận ám thị thôi miên). Vừa khi đạt tới trạng thái dễ tin, các ảo giác về thị giác, khứu giác và thính giác có thể được gây nên dễ dàng nhất, và khi ấy bà thể hiện những hiện tượng thông thường của sự mất cảm giác ở da.
(2) A few passes on one of her hands create the externalisation of sensitiveness at the distance of three or four centimetres from the skin; but when Colonel de Rochas continues his passes and withdraws his hand in order to test the sensitiveness at greater distances, his hand is followed by Eusapia’s, which is attracted by it. If one prevents the hand [149] of Eusapia from following Colonel de Rochas’, one can recognise the existence of a second sensitive stratum in the air, perceptible at about ten centimetres from the skin. One may consequently say that the externalised sensation in this subject transforms itself into movement.
(2) Vài lượt tay trên một trong hai bàn tay của bà tạo nên sự ngoại hiện nhạy cảm ở khoảng cách ba hoặc bốn xăng-ti-mét cách da; nhưng khi Đại tá de Rochas tiếp tục lướt tay và rút tay lại để thử cảm ứng ở khoảng cách xa hơn, thì tay của Ông bị tay Eusapia bám theo, như bị hút lấy. Nếu người ta ngăn tay [149] của Eusapia đừng theo tay Đại tá de Rochas, thì có thể nhận ra sự hiện diện của một tầng nhạy cảm thứ hai trong không khí, cảm nhận được ở khoảng mười xăng-ti-mét cách da. Do đó có thể nói rằng cảm giác đã ngoại hiện nơi chủ thể này chuyển hóa thành vận động.
(3) Colonel de Rochas puts Eusapia to (mesmeric) sleep to see how, in her case, the fluidic body is formed, the existence of which he has noticed in other subjects. After two or three minutes of passes on the head and chest, Eusapia, asleep, declares that she sees appear at her right side a kind of phantom, and we notice that it is in the place of this phantom by her indicated, that all her sensitiveness is localised. She makes signs of pain when we pinch the air where the phantom is, but shows no reaction when her skin or any other points of space are pinched.
(3) Đại tá de Rochas đưa Eusapia vào giấc ngủ (thôi miên) để xem trong trường hợp của bà, thể linh động được hình thành ra sao—thứ mà Ông đã ghi nhận nơi các chủ thể khác. Sau hai hay ba phút lướt tay trên đầu và ngực, Eusapia, trong giấc ngủ, tuyên bố rằng bà thấy hiện ra bên hữu một dạng bóng hình, và chúng tôi nhận thấy chính ở nơi bóng hình ấy, như bà chỉ, tất cả nhạy cảm của bà được định vị. Khi chúng tôi bóp chặt không khí chỗ có bóng hình, bà ra hiệu đau đớn; nhưng bà không hề có phản ứng khi da của bà hay bất cứ điểm nào khác trong không gian bị bóp.
At the sixth séance held with Eusapia the phenomenon of the levitation of the table occurred under circumstances which entirely support the statement of Dr. Maxwell about it in his book. The official report says:
Ở buổi gọi hồn thứ sáu tổ chức với Eusapia, hiện tượng cái bàn thăng không xảy ra trong những hoàn cảnh hoàn toàn ủng hộ lời trình bày của Bác sĩ Maxwell về nó trong sách của Ông. Bản tường trình chính thức nói:
“The medium, who has not been magnetised again, remains somnolent and perfectly dumb. The table lifts itself first on the side of the medium, resting on the two opposite feet. Then it twice lifts its four feet and remains suspended in the air. [150] All hands, including Eusapia’s, are removed from the table which nevertheless remains suspended. Several persons try to make it fall by pushing on it, but without success—they meet with much elastic resistance; after a few seconds it falls of itself, with a crash.”
“Nhà đồng tử, người chưa được từ hóa lại, vẫn lơ mơ buồn ngủ và hoàn toàn câm lặng. Cái bàn trước hết tự nhấc lên ở phía người đồng tử, tựa trên hai chân đối diện. Rồi nó hai lần nhấc cả bốn chân và lơ lửng trên không. [150] Tất cả các bàn tay, kể cả tay của Eusapia, đều rời khỏi bàn, thế nhưng nó vẫn cứ lơ lửng. Vài người cố làm cho nó rơi bằng cách đẩy, nhưng không thành—họ gặp phải sức kháng đàn hồi rất mạnh; vài giây sau, nó tự rơi xuống, với một tiếng rầm.”
It is a great pity that all intelligent persons who have read the S. P. R. report on Eusapia’s phenomena at Cambridge could not read this official report of séances at Choisy-Yvrac by one of the most respected scientific men of France. If any doubts had lingered in their minds as to the futility of the Cambridge observations and of Mr. Hodgson’s theory of Eusapia’s frauds, they would surely be dispelled. It will be found, translated into English, in the numbers of The Theosophist for April and May, 1897.
Thật đáng tiếc lớn lao rằng tất cả những người thông tuệ đã đọc bản báo cáo của S. P. R. về các hiện tượng của Eusapia tại Cambridge lại không được đọc bản báo cáo chính thức về các Buổi gọi hồn tại Choisy-Yvrac do một trong những nhà khoa học được kính trọng nhất nước Pháp soạn thảo. Nếu trong tâm trí họ còn vấn vương chút nghi hoặc về tính vô ích của các quan sát tại Cambridge và về thuyết của ông Hodgson cho rằng Eusapia gian lận, thì hẳn chúng sẽ bị xua tan hoàn toàn. Bản này, dịch sang tiếng Anh, có thể tìm thấy trong các số The Theosophist tháng Tư và Năm, 1897.
A long letter received on the 20th March from the ex-royal Prince of Siam, formerly Prisdamchoonsai, but now the Buddhist bhikshu, Jinawarawansa, of Ceylon, opened up a subject of gravest importance. The life of this scion of the Royal house of Siam has had at least one episode of a most romantic character. When diplomatic relations were established with the Treaty Powers, his cousin, the King, sent him as his first ambassador to Europe. His credentials accredited him in that capacity to Great Britain, France, Germany and other countries [151] and he spent a number of years on these missions. While in England he connected himself in his personal capacity with one of the great engineering firms, passed through their works and perfected himself in the profession of engineer. Returning, at last, to Siam, a combination of circumstances led to his retirement from the world and his entrance into the Buddhist Sangha of Ceylon as a yellow-robed bhikshu. According to the rule of Ordination (upasampada) he was brought into the presence of a Council of senior monks, clothed in all his ambassadorial state—gold-laced uniform, silk stockings, varnished pumps, dress sword, plumed helmet, and all his jewelled orders pinned to his breast. His sponsors presented him as a postulant whom they could recommend, and he, corroborating this when questioned by the presiding monk, received the desired consent, returned to the anteroom, was stripped of all his finery, had his head and face shaved, his shoes and stockings removed, and was clothed in the simple underrobe of the order and reconducted before the Council. Here he was put through the usual catechism, and answering satisfactorily, was accepted into the Order. Thereupon he made the usual obeisances, was invested with the yellow robe and other appanages of his calling, received the name of “Jinawarawansa”, and entered upon his new career.[152] Recollecting that this ceremony is 2500 years old, does the reader now see whence the Roman Catholic ceremonies of Consecration and Ordination were derived? And is it not amusing to read how the Church tried to minimise the effect of Huc and Gabet’s discovery that the ceremonies, holidays, feasts, usages and paraphernalia peculiar to their worship had been used in Tibet by the Buddhist priests for many centuries, by saying that the Devil, foreseeing the arrival of Christianity, had tried to forestall its influence by setting up a mock system of worship?
Một bức thư dài nhận ngày 20 tháng Ba từ vị Cựu Hoàng thân Xiêm, trước đây là Prisdamchoonsai, nhưng nay là vị tỳ kheo Phật giáo Jinawarawansa, ở Tích Lan, đã mở ra một chủ đề hệ trọng nhất. Cuộc đời của chi tử thuộc Hoàng tộc Xiêm này có ít nhất một chương mang sắc thái lãng mạn đặc biệt. Khi quan hệ ngoại giao được thiết lập với các Cường quốc ký Hiệp ước, người anh em họ của ông, tức Quốc vương, đã cử ông làm vị đại sứ đầu tiên sang châu Âu. Thư ủy nhiệm xác nhận ông trong tư cách ấy tại Đại Anh, Pháp, Đức và các nước khác [151] và ông đã trải qua nhiều năm trên các sứ mệnh ấy. Trong thời gian ở Anh, với tư cách cá nhân, ông kết nối với một trong những hãng kỹ nghệ lớn, làm việc qua các xưởng của họ và tự hoàn thiện trong nghề kỹ sư. Sau cùng trở về Xiêm, một tổ hợp hoàn cảnh dẫn ông rút lui khỏi thế tục và gia nhập Tăng đoàn Phật giáo của Tích Lan với tư cách tỳ kheo khoác áo vàng. Theo luật Thụ giới (upasampada), ông được dẫn vào trước Hội đồng các vị tăng niên trưởng, trong khi vẫn mặc đầy đủ phẩm phục của một sứ thần—quân phục viền vàng, bít tất lụa, giày da bóng, kiếm đeo lễ phục, mũ trụ lông chim, và tất cả các huân chương đính trên ngực. Các vị bảo trợ trình ông như một người dự cầu thụ giới mà họ có thể tiến cử, và ông, khi được vị tăng chủ tọa hỏi, đã xác nhận điều đó, nhận được sự chấp thuận mong muốn, trở về phòng ngoài, trút bỏ mọi đồ trang sức lộng lẫy, cạo đầu và mặt, tháo giày và bít tất, khoác vào chiếc áo trong đơn sơ của tông phái và được dẫn trở lại trước Hội đồng. Tại đây ông được hỏi đáp giáo lý như lệ thường, và khi trả lời thỏa đáng, ông được thu nhận vào Tăng đoàn. Rồi ông làm các lễ bái thông thường, được trao áo vàng và các pháp cụ thuộc về phẩm hạnh của mình, nhận pháp danh “Jinawarawansa”, và bắt đầu con đường mới. [152] Nhớ rằng nghi lễ này đã có 2500 năm, nay độc giả có thấy các nghi lễ Tấn phong và Truyền chức của Công giáo Rôma bắt nguồn từ đâu chăng? Và há chẳng phải thật khôi hài khi đọc thấy Giáo hội đã cố giảm nhẹ tác động của phát hiện của Huc và Gabet—rằng các nghi lễ, ngày lễ, cuộc cúng tế, tập tục và nghi trượng đặc thù cho việc thờ phượng của họ đã được các vị tăng Phật giáo ở Tây Tạng dùng từ nhiều thế kỷ—bằng cách nói rằng Quỷ dữ, đoán trước sự xuất hiện của Kitô giáo, đã cố đi trước ảnh hưởng của nó bằng cách dựng lên một hệ thống thờ phượng mô phỏng?
The friendship between Jinawarawansa and myself has been cordial ever since the time when he first addressed me upon the grave subject above alluded to, and which I shall now explain.
Tình bằng hữu giữa Jinawarawansa và tôi vẫn nồng hậu từ khi ông lần đầu tiên viết cho tôi về chủ đề hệ trọng vừa ám chỉ ở trên, và giờ đây tôi sẽ giải thích.
It is known to all who have studied Buddhism that it is nominally divided into two schools, the Northern and the Southern: the countries covered by the former are China, Tibet, Mongolia and Japan; those belonging to the other group are Ceylon, Burma, Siam, Chittagong and Cambodia. Between these latter nations there is very little if any difference as to forms of belief. In all these countries, in times past, there has been for each a Superior Council, composed of the senior monks, to whom all questions of monastic discipline and the punishment of offenders were referred for settlement; [153] if this Superior Council failed in its duty, appeal would lie to the Sovereign, whose opinion was law and who had the power to inflict any punishment, even that of death, upon the offenders. This was the state of things in Ceylon before the advent of her several European conquerors, the Portuguese, Dutch and English. When the last vestige of Sinhalese Royalty was destroyed at Kandy, in the treaty made between the British General and the revolting Kandyan nobles, it was stipulated actually that the religion of Buddha, its temples and priests, should be protected and kept sacred. Inferentially, of course, the implication was that the British Sovereign, when mounting the throne of the King of Kandy, put himself in his place and assumed his obligations towards the state religion: that the Superior Ecclesiastical Board, or Committee, should be kept up, and the King would dispose of cases of ecclesiastical discipline coming to him on appeal. All went smoothly until some clamorous bigots, organizing through Exeter Hall, a campaign of public intolerance, forced a weak-kneed government to throw over its religious responsibilities in Ceylon, which included the administration of the large landed estates of the Buddhist Sangha, and to fling them all into the laps of the ordained priests, who by their ordination are not allowed to have anything to do with money or money values. Naturally this brought [154] on something like moral chaos; the priests were placed at the mercy of their lay adherents, corruption spread among the latter, the moral tone of the priesthood was sadly lowered, the mandates of the superior priests lost their weight, and it actually grew so bad that monks who had been convicted of debauchery, embezzlement, the coining of false money, and other crimes, for which they had been, sent to prison, defiantly resumed the yellow robe after their release and there was no hope of redress. When I first went to Ceylon in 1880 the High Priests of the two Royal temples at Kandy, the Asgiriya and the Malwatte, complained to me bitterly of this state of things and of their official impotence to restore order and discipline. It was to try and find a remedy that the “Prince-priest” wrote me in 1897.
Tất cả những ai nghiên cứu Phật giáo đều biết rằng tôn giáo này về danh nghĩa được chia thành hai phái, Bắc tông và Nam tông: các quốc gia thuộc phái trước gồm Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ và Nhật Bản; những nước thuộc nhóm kia là Tích Lan, Miến Điện, Xiêm, Chittagong và Cam Bốt. Giữa các dân tộc sau này, xưa kia, mỗi nước đều có một Thượng Hội đồng, gồm các vị tăng niên trưởng, để mọi vấn đề về kỷ luật tu viện và trừng phạt người phạm lỗi được chuyển đến phân xử; [153] nếu Thượng Hội đồng không làm tròn bổn phận, có thể kháng lên bậc Quân vương, ý kiến của Ngài là luật và Ngài có quyền trừng phạt bất kỳ mức nào, kể cả tử hình, đối với kẻ phạm. Đó là tình trạng ở Tích Lan trước khi các dân châu Âu lần lượt chinh phục: Bồ Đào Nha, Hòa Lan và Anh. Khi dấu vết cuối cùng của Vương quyền Tích Lan bị xóa ở Kandy, trong hiệp ước giữa viên Tướng Anh và các quý tộc Kandyan nổi dậy, có điều khoản quy định rằng tôn giáo của Đức Phật, các chùa và tăng lữ, phải được bảo hộ và giữ gìn thiêng liêng. Suy diễn ra, dĩ nhiên, hàm ý là khi đăng quang trên ngai của Vua Kandy, Quân vương Anh tự đặt mình vào địa vị của vua bản xứ và đảm đương các nghĩa vụ đối với quốc giáo: rằng Hội đồng Tôn giáo Tối cao, hay Ủy ban, phải được duy trì, và Nhà vua sẽ xử các vụ kỷ luật giáo hội do kháng cáo chuyển lên. Mọi sự êm xuôi cho đến khi những kẻ cuồng tín ầm ĩ, thông qua Exeter Hall, phát động một chiến dịch bất khoan dung trước dư luận, buộc một chính phủ nhu nhược quăng bỏ các trách nhiệm tôn giáo của mình ở Tích Lan—trong đó có việc quản trị các điền địa rộng lớn thuộc Tăng đoàn Phật giáo—và trao phó tất cả vào tay các vị tăng thụ giới, là những người theo giới luật không được dính líu gì tới tiền bạc hay giá trị tiền tệ. Dĩ nhiên điều này kéo theo [154] gần như một tình trạng hỗn loạn đạo đức; chư tăng bị đặt vào thế lệ thuộc các thiện tín tại gia, tham nhũng lan rộng trong giới sau, phẩm hạnh của tăng đoàn sa sút đáng buồn, các chỉ dụ của bậc thượng tọa mất dần trọng lượng, và sự việc đã tệ đến mức những tỳ kheo từng bị kết tội trụy lạc, biển thủ, đúc tiền giả và những tội khác, đã vào tù, thì sau khi mãn hạn lại ngang nhiên khoác áo vàng trở lại, mà không còn hy vọng gì sửa sai. Lần đầu tôi đến Tích Lan năm 1880, các vị Đại Trụ trì của hai ngôi chùa Hoàng gia ở Kandy, Asgiriya và Malwatte, đã cay đắng than phiền với tôi về tình trạng như vậy và về sự bất lực chính thức của các Ngài trong việc khôi phục trật tự và kỷ cương. Chính để tìm một phương dược mà “vị hoàng thân-tỳ kheo” viết cho tôi năm 1897.
Naturally, he came out of the garish splendor of Courts into the Buddhist monastery in the hope of finding the spirit of brotherly unity and religious calm, the very things to soothe his world-beaten spirit; this is exactly what I had looked forward to finding when I became a Buddhist at New York and was laying my plans to emigrate to the East. But the Prince-priest, like myself, found himself in an atmosphere of personal bickerings, childish sectarian squabbles, ignorance of the world about them, and incapacity to fit themselves to the ideals which [155] the Lord Buddha had depicted for the government of his Sangha. My way out of the difficulty was through a comprehensive system of mixed secular and religious education for the young, and the gradual evolution of a public opinion as to the duties and ideals of the priesthood which would focus itself upon the inmates of the pansalas and compel them to reform. Jinawarawansa, coming out of the kingly order, and accustomed to see things settled by the force majeure of the Royal will, entertained the hope that he might get the leading priests of the Siam, Amarapoora and Ramanya sects to agree to a coalition into a single “United Sect” which should embrace the whole Buddhist community of Ceylon. Then he proposed to similarly arrange for one ecclesiastical coalition for Burma, and that these two national bodies should then coalesce with the whole national body of the Siamese priesthood: making, as will be seen, a vast international tripartite Sangha, tria juncta in uno. The Supreme Council would be composed of the elder priests, ranking in order of seniority of ordination, who should regulate the government of the three national Sanghas: over all, as religious patron and final source of ecclesiastical authority, would be the King of Siam, the sole remaining Buddhist monarch.
Tự nhiên, từ rực rỡ chốn triều nghi, ông bước vào tu viện Phật giáo với hy vọng tìm được tinh thần huynh đệ hợp nhất và sự tĩnh lặng tôn giáo—những điều có thể xoa dịu tâm hồn dạn dày gió bụi—chính là điều mà tôi cũng mong tìm thấy khi quy y Phật ở New York và hoạch định sang Đông phương. Nhưng vị hoàng thân-tỳ kheo, cũng như tôi, lại thấy mình ở trong bầu khí của những chuyện hục hặc cá nhân, những cãi vã bè phái trẻ con, sự vô tri về thế sự quanh mình, và sự bất lực trong việc tự thích nghi với các lý tưởng [155] mà Đức Phật đã phác họa để quản trị Tăng đoàn của Ngài. Con đường thoát khó của tôi là thông qua một hệ thống giáo dục tổng hợp thế học lẫn tôn học dành cho thanh thiếu niên, và sự hình thành dần dần một dư luận công chúng về bổn phận và lý tưởng của tăng đoàn—dư luận ấy sẽ tập trung vào những người cư trú trong các pansalas và buộc họ phải cải cách. Còn Jinawarawansa, xuất thân vương giả và quen thấy sự vụ được giải quyết bằng sức mạnh ý chí của Quân vương, đã ấp ủ hy vọng có thể khiến các vị lãnh đạo của các tông phái Siam, Amarapoora và Ramanya đồng ý liên hợp thành một “Liên phái” duy nhất bao trùm toàn bộ cộng đồng Phật giáo Tích Lan. Rồi ông dự kiến sắp đặt tương tự để hình thành một liên minh giáo hội thống nhất cho Miến Điện, và hai cơ cấu dân tộc này sau đó sẽ liên kết với toàn bộ tăng đoàn quốc gia của Xiêm: như thế, có thể thấy, thành một Tăng đoàn quốc tế đồ sộ ba bên, ba hợp nhất trong một. Thượng Hội đồng sẽ gồm các vị cao niên, xếp thứ tự theo niên kỷ thụ giới, điều hành việc quản trị ba Tăng đoàn quốc gia: ở trên tất cả, với tư cách là vị hộ pháp và cội nguồn tối hậu của thẩm quyền giáo hội, sẽ là Quốc vương Xiêm—vị quân chủ Phật giáo duy nhất còn lại.
This was a great scheme and one which seemed to me practical, but one which, at the same time, [156] would involve an enormous amount of working up of details. The Prince-priest wished to seize the occasion of his cousin, the King of Siam’s impending visit to Colombo en route for Europe, to bring the thing to a head. With his natural impetuosity he threw himself into the business with zeal and enthusiasm; wrote to the leading priests of Ceylon and their chief lay supporters, got pledges from many, but soon ran against that awful inertia which pervades all Asiatic countries (Japan now excepted) and bars progress. The personal factor everywhere obtruded itself, and the poor fellow, finding himself at a standstill with the King’s visit near at hand, despairingly appealed to me as “the only man who could awaken the slumbering Sinhalese”: he prayed me to come at once and see to the organization of a Reception Committee and the drafting of an Address. Of course, the grandeur of the scheme and its apparent practicability were visible at a glance, and an urgent invitation to come, reaching me on the 23rd March from our Buddhist Standing Committee at Colombo, I closed up my office business and, on the 24th, sailed for that place on the French steamer, arriving on the 27th.
Đó là một đề án lớn và theo tôi là khả thi, nhưng đồng thời [156] đòi hỏi phải triển khai vô vàn chi tiết. Vị hoàng thân-tỳ kheo muốn nhân dịp người anh em họ là Quốc vương Xiêm sắp ghé Colombo trên đường sang châu Âu để thúc đẩy việc này đến hồi quyết định. Với sự hăng hái bẩm sinh, ông quăng mình vào công việc với nhiệt tâm và say sưa; viết cho các vị tăng lãnh đạo ở Tích Lan và các thiện tín chống lưng cho họ, nhận được cam kết từ nhiều người, nhưng chẳng bao lâu thì vấp ngay phải quán tính trì trệ kinh khủng vốn thấm khắp các nước Á châu (nay trừ Nhật Bản) và chặn đường tiến bộ. Yếu tố cá nhân chen chân khắp nơi, và tội nghiệp, thấy mình bế tắc trong khi ngày thăm của Nhà vua đã cận kề, ông tuyệt vọng kêu gọi tôi như “người duy nhất có thể đánh thức dân Tích Lan khỏi giấc ngủ”, khẩn khoản mời tôi đến ngay để lo tổ chức một Ủy ban Đón tiếp và soạn thảo một Bản Tuyên bày. Dĩ nhiên, sự vĩ đại của đề án và tính khả thi hiển nhiên của nó thấy rõ ngay tức khắc, và khi lời mời khẩn đến tay tôi ngày 23 tháng Ba từ Ủy ban Thường trực Phật giáo ở Colombo, tôi đóng sớm công việc văn phòng và, ngày 24, xuống tàu Pháp đi Colombo, đến nơi ngày 27.
Besides attending to the business of the reception of the King of Siam, I had to go over the Sinhalese version of the new edition of the Buddhist Catechism with the High Priest, get his assent to the alterations [157] that I had made in the text, and a fresh certificate recommending it for use in Buddhist schools. This was finally accomplished, but not without some sparring with that critical gentleman, Hiyayentaduwe, Assistant Principal of Sumangala’s College at Maligakhanda.
Ngoài việc lo chuyện đón tiếp Quốc vương Xiêm, tôi còn phải duyệt bản tiếng Sinhala của ấn bản mới Sách Giáo lý Phật giáo với vị Đại Trụ trì, xin Ngài chấp thuận [157] các sửa đổi tôi đã làm trong văn bản, và một chứng thư mới khuyến nghị dùng sách trong các trường Phật giáo. Cuối cùng cũng xong, nhưng không phải không tranh biện vài đường với vị học giả khó tính Hiyayentaduwe, Phó Hiệu trưởng Trường Sumangala ở Maligakhanda.
The Buddhist General Committee met at the College on the 29th to discuss details of the reception. They elected me a member of the General Committee and also of the Executive Committee. At a meeting on the following day they accepted my views about the reception and we agreed upon the details. The King had sent on in advance one of his high officials, the Marquis Phya Maha Yotha, with his Private Secretary, Luano Sunthorn Kosa, to arrange with the local Committee about the details of the Royal visit. With these two and the Prince-priest I had frequent consultations, among others on the subject of the Committee’s Address of Welcome to His Majesty. The Executive Committee deputed me to draw it up, and at their meeting on April 1st unanimously accepted my draft; at the same time authorizing me to have made in silk two copies of the Buddhist flag which, as will be seen on reading the Address, we asked His Majesty to consent to have adopted and protected as the Buddhist flag in Siam, common to all Buddhist nations and quite devoid of political significance. For, as the reader [158] must have perceived, the scheme of Prince Prisdan and myself implied no political connection, whatever, between the three separate nations which we wished to unite in the bonds of international religious relationship.
Ủy ban Tổng Phật giáo họp tại Trường ngày 29 để thảo luận chi tiết buổi đón tiếp. Họ bầu tôi vào Ủy ban Tổng và cũng vào Ủy ban Chấp hành. Trong phiên họp hôm sau họ chấp thuận quan điểm của tôi về việc đón tiếp và chúng ta đồng ý các chi tiết. Nhà vua đã cho một vị đại thần, Hầu tước Phya Maha Yotha, đi trước, cùng với Bí thư riêng, Luano Sunthorn Kosa, để thu xếp với Ủy ban địa phương về các chi tiết chuyến thăm Hoàng gia. Cùng với hai vị này và vị hoàng thân-tỳ kheo, tôi thường xuyên bàn bạc, trong đó có chủ đề Bản Tuyên bày Chào mừng của Ủy ban gửi dâng Đức Ngài. Ủy ban Chấp hành ủy thác tôi soạn thảo, và trong phiên họp ngày 1 tháng Tư, bản dự thảo của tôi được nhất trí chấp nhận; đồng thời ủy quyền cho tôi may hai bản cờ Phật giáo bằng lụa—như sẽ thấy khi đọc Bản Tuyên bày, chúng ta thỉnh cầu Đức Ngài chấp thuận để cờ ấy được thừa nhận và bảo hộ như cờ Phật giáo ở Xiêm, chung cho mọi quốc gia Phật giáo và hoàn toàn phi chính trị. Vì như độc giả [158] hẳn đã nhận thấy, đề án của Hoàng thân Prisdan và tôi không hàm một mối liên hệ chính trị nào giữa ba quốc gia tách biệt mà chúng ta mong gắn kết trong tình bằng hữu tôn giáo quốc tế.
Following is the address in question:
Sau đây là Bản Tuyên bày nói trên:
MAY IT PLEASE YOUR MAJESTY,
TÂU BỆ HẠ,
The undersigned, a General Committee representing the Buddhist priests and laymen of Ceylon, and duly chosen at a public meeting at Colombo, respectfully offer to Your Majesty a heartfelt and joyful welcome to this ancient cradle-land of Buddhism, made holy by the touch of the lotus feet of the TATHAGATA and by the residence of many holy Arahats in different centuries. We offer our homage to the last independent reigning Buddhist sovereign and pray Your Majesty to grant the blessing of your sympathy and kind aid in the work for the revival and purification of Buddhism in this Island, which we have been carrying on these past thirty-five years with encouraging success.
Những người ký tên dưới đây, một Ủy ban Tổng đại diện cho các vị tăng và thiện tín Phật giáo của Tích Lan, được công cử hợp lệ tại một cuộc họp công cộng ở Colombo, kính dâng lên Bệ hạ lời chào mừng từ tận tâm và hoan hỷ đến miền đất cổ kính—cái nôi của Phật giáo này—đã thành thiêng bởi dấu sen chân của ĐỨC NHƯ LAI và bởi sự cư trú của nhiều bậc A-la-hán thánh thiện qua các thế kỷ khác nhau. Chúng ta dâng lòng tôn kính lên vị quân vương Phật giáo độc lập cuối cùng còn trị vì và cầu xin Bệ hạ ban phúc lành là sự cảm thông và trợ giúp nhân ái cho công cuộc phục hưng và tịnh hóa Phật giáo trên hòn đảo này—công cuộc mà suốt ba mươi lăm năm qua chúng ta đã hành trì với những thành quả khích lệ.
All Buddhist nations honour Your Majesty for your memorable and most praiseworthy work, of publishing the Tripitakas in thirty-nine bound volumes; thus protecting the Siamese version from every evil chance and accident, and giving the best proof of your interest in Pali literature. The Sinhalese have had the further striking proofs of Your [159] Majesty’s kindness, in your gifts for religious education and the restoration of an ancient Dagoba at Anuradhapura.
Tất cả các quốc gia Phật giáo đều tôn vinh Bệ hạ vì công trình đáng ghi nhớ và rất đáng khen là ấn hành Tam Tạng trong ba mươi chín tập đóng bìa; nhờ đó bảo vệ bản truyền Xiêm khỏi mọi rủi ro và tai ương, và đưa ra minh chứng tuyệt hảo nhất về sự quan tâm của Bệ hạ đối với văn hiến Pali. Người Tích Lan lại có các bằng chứng nổi bật khác về [159] lòng nhân của Bệ hạ qua sự cúng dường cho giáo dục tôn học và trùng tu một ngôi tháp cổ tại Anuradhapura.
From Ceylon the Arya-Dharma of the BUDDHA was extended to Siam and Burma, and in our time of political upheaval and religious distress Siam repaid her debt of gratitude by sending us her most learned and pious bhikshus to help to restore our religion and revive the courage and the efforts of our scattered priesthood. At another time we received like sisterly aid from Burma. So our three nations are linked together by the strongest and purest of international ties—that of a common religious interest. They are, in fact, three sisters who have kept pure the primitive teachings of BUDDHA, as finally fixed and defined by the Vaisali Council of the Emperor Dharmasoka. But, while through political changes, Ceylon and Burma have been deprived of the Royal Protectors of their Sanghas, Siam is still in possession of this inestimable blessing; while their Sangharajas have lost their proper authority over their Sanghas, happier Siam has still her Ecclesiastical Council in unweakened authority, and with the help of her Gracious Sovereign, can enforce discipline and guard the people against the evils of scepticism and disunion. The visit of Your Most Gracious Majesty would be forever memorable in Ceylon history if it should result in a unification of the Buddhists of [160] the three sister nations under one international Ecclesiastical Council with Your Majesty’s august patronage and protection. This would be a far more noble monument to your memory than any that could be built by us. The General Committee, your humble memorialists, speaking on behalf of the Sinhalese Buddhists, pray Your Majesty to give this serious questien the consideration which its importance deserves, and to earn the eternal gratitude of our people by co-operating with our best bhikshus and dayakyas in perfecting a plan for its realisation. We are founding many schools for the education of our children under Buddhistic auspices, publishing books and journals, and encouraging the spread and deepening of the religious spirit among us. But without the loving help and sympathy of our co-religionists of Siam and Burma, we find the way obstructed by many difficulties that might be removed if the three nations were closely united in the common work.
Từ Tích Lan, Arya-Dharma của ĐỨC PHẬT đã được truyền sang Xiêm và Miến, và trong thời đại biến động chính trị cùng khốn khó tôn giáo của chúng ta, Xiêm đã đền đáp món nợ tri ân bằng cách gửi đến cho chúng ta các bậc tỳ kheo bác học và mộ hạnh nhất để giúp khôi phục tôn giáo của chúng ta và làm sống lại dũng khí cùng nỗ lực của tăng đoàn đang phân tán. Vào một thời điểm khác, chúng ta cũng nhận được sự cứu trợ nghĩa tình tương tự từ Miến Điện. Thế nên ba dân tộc của chúng ta được kết liên bởi mối dây quốc tế bền chặt và thuần khiết nhất—ấy là mối lợi ích tôn giáo chung. Thực vậy, ba nước như ba chị em đã giữ gìn tinh ròng các giáo huấn nguyên thủy của ĐỨC PHẬT, như sau cùng đã được Kết tập Vaisali dưới triều Hoàng đế Dharmasoka ấn định và định nghĩa. Nhưng trong khi do những biến thiên chính trị mà Tích Lan và Miến Điện đã mất đi các bậc Quân vương Hộ pháp của Tăng đoàn, thì Xiêm vẫn còn giữ được phúc phận vô giá này; trong khi các vị Tăng vương của hai nước kia đã thất quyền đối với Tăng đoàn của mình, thì Xiêm may mắn hơn vẫn còn Hội đồng Giáo hội với uy quyền không suy giảm, và với sự hỗ trợ của Đức Quân, có thể thi hành kỷ luật và gìn giữ dân chúng khỏi tai họa của hoài nghi và chia rẽ. Chuyến thăm của Đức Bệ hạ Nhân Từ sẽ mãi mãi đáng ghi nhớ trong sử Tích Lan nếu như nó đưa đến sự hợp nhất của [160] Phật tử ba quốc gia chị em dưới một Hội đồng Giáo hội quốc tế thống nhất với ân hộ và sự bảo trợ tôn nghiêm của Bệ hạ. Đây sẽ là đài tưởng niệm cao quý hơn mọi đài mà chúng ta có thể xây cho ngài. Ủy ban Tổng, những người khẩn cầu hèn mọn của Bệ hạ, thay mặt Phật tử Tích Lan, cầu xin Bệ hạ suy xét nghiêm túc vấn đề hệ trọng này và giành lấy lòng tri ân muôn đời của dân chúng chúng ta bằng cách cộng tác với các bậc tỳ kheo ưu tú và các vị thí chủ của chúng ta để hoàn bị một kế hoạch hiện thực hóa nó. Chúng ta đang lập nhiều trường học để giáo dục con trẻ dưới sự bảo trợ Phật giáo, xuất bản sách vở và tạp chí, và khuyến khích sự lan tỏa và đào sâu tinh thần tôn giáo giữa chúng ta. Nhưng nếu thiếu sự trợ giúp và cảm thông yêu thương của các đồng đạo Xiêm và Miến, chúng ta thấy con đường bị ngăn trở bởi nhiều khó khăn có thể được tháo gỡ nếu ba dân tộc kết hợp chặt chẽ trong công cuộc chung.
As humble gifts, we offer Your Majesty two copies of this flag, the proper Universal Symbol of Buddhism, as its colors are the six bright rays—the Buddharansi—which streamed from the Body of the TATHAGATA with extreme splendour when he became BUDDHA and when he passed into Parinirvana. As the Cross is the common symbol for all Christians, so this Flag of the Six Rays, will [161] serve as the non-political, most appropriate symbol of all Buddhist schools, sects and nations. Beginning in Ceylon, it has spread to Japan and Burma, where it is flown on temples and houses on the day of Vesâkha Punnâmi, and is carried in religious processions with other religious flags and with the royal insignia. We pray Your Majesty to graciously consent to its adoption and protection in Siam as the Buddhist flag, so that the three nations may, on the days of religious observance and national holiday, march and worship under the same emblem of the Founder of their religion.
Như những lễ phẩm khiêm cung, chúng ta kính dâng Bệ hạ hai bản cờ này, Biểu Tượng Phổ Quát xứng đáng của Phật giáo, vì màu sắc của nó là sáu tia sáng rực rỡ—Buddharansi—đã phóng chiếu từ Thân của ĐỨC NHƯ LAI với quang huy tột bậc khi Ngài thành PHẬT và khi Ngài nhập Niết bàn tối hậu. Như Thánh giá là biểu tượng chung cho mọi Kitô hữu, thì Cờ Sáu Tia này sẽ [161] là biểu tượng phi chính trị và thích đáng bậc nhất cho tất cả các pháp phái, tông phái và quốc gia Phật giáo. Khởi phát từ Tích Lan, cờ đã lan sang Nhật Bản và Miến Điện, nơi nó được treo trên chùa và trên nhà vào ngày Rằm Vesâkha Punnâmi, và được rước trong các cuộc rước tôn giáo cùng với những cờ xí tôn giáo khác và với hoàng ấn. Chúng ta cầu xin Bệ hạ vui lòng chuẩn thuận việc thừa nhận và bảo hộ cờ này ở Xiêm như cờ Phật giáo, để ba dân tộc vào các ngày lễ nghi tôn giáo và quốc lễ có thể cùng diễu hành và lễ bái dưới chung một biểu trưng của Đấng Sáng Lập tôn giáo của họ.
It is our desire and intention to further keep alive the memory of Your Majesty’s first visit to Ceylon, by founding and endowing an Orphanage for parentless Buddhist children and, with permission, calling it by Your Majesty’s Royal name.
Chúng ta mong ước và chủ định lưu giữ kỷ niệm chuyến viếng thăm Tích Lan lần đầu của Bệ hạ bằng cách thành lập và cấp dưỡng một Cô nhi viện cho các trẻ em Phật giáo mồ côi và, nếu được phép, lấy danh hiệu Hoàng gia của Bệ hạ để đặt tên.
Invoking upon Your Most Gracious Majesty the blessing of the Tri-Ratna, and a long, a happy, and a glorious reign;
Khẩn cầu Bệ hạ Nhân Từ muôn phần phước lành của Tam Bảo, và một triều đại dài lâu, hạnh phúc và hiển hách;
We are, Sire, Your Most Gracious Majesty’s co-religionists and obedient, humble servants.
Chúng ta, tâu Bệ hạ, là đồng đạo và những bề tôi khiêm phục, vâng mệnh của Bệ hạ.
The Ceylon authorities had received orders from the Home Government to show His Majesty every courtesy and so the task of the Buddhist Committee was comparatively easy. The authorities had the spacious landing jetty splendidly decorated with flags and greenery, and also the inclined pathway [162] which mounted up to the street level. At this point was erected a spacious pandal (shed) where the Buddhist Committee as laymen, were to receive the King while distinguished priests would also be present and welcome him by reciting the well known Jayamangala Gâtha. Naturally, these preparations involved a good deal of running about, committee meetings, and visits to the Government officials and the Siamese Ambassador and Siamese Consul. At last all preparations were completed and we were ready for our distinguished visitor.
Giới chức Tích Lan đã nhận lệnh từ Chính phủ Mẫu quốc phải dành mọi sự ưu ái cho Đức Ngài nên công việc của Ủy ban Phật giáo tương đối nhẹ nhàng. Nhà chức trách trang hoàng lộng lẫy cầu tàu cập bờ bằng cờ xí và cây xanh, cùng cả lối dốc [162] dẫn lên mặt đường. Ngay tại điểm ấy dựng một pandal (nhà bạt) rộng rãi, nơi Ủy ban Phật giáo với tư cách thiện tín sẽ đón Đức Ngài, đồng thời các vị tăng danh tiếng cũng hiện diện và nghinh đón bằng cách tụng bài Jayamangala Gâtha nổi tiếng. Hiển nhiên những chuẩn bị này đòi hỏi nhiều công việc chạy đôn đáo, các cuộc họp ủy ban, và những cuộc viếng thăm các quan chức Chính phủ cũng như Đại sứ và Lãnh sự Xiêm. Sau cùng mọi sự hoàn tất, và chúng ta sẵn sàng đón vị khách tôn quý.
The Royal yacht cast anchor in the harbor at daybreak on the 20th April, receiving the customary salute. His Majesty landed at ten o’clock, was greeted by the highest officials, and escorted up the inclined way to the Buddhist pavilion where the Committee offered their respects. I was posted just at the head of the inclined way and made him my best bow. He stopped, looked inquiringly at me and asked my name. When I mentioned it his face suddenly lighted up and he said in a most friendly tone: “Are you that man? Oh, I know you very well as a friend of Buddhism. I am glad to see you.” He then extended his hand and gave mine a warm grasp. With his permission I then presented the members of the Committee and introduced him to Sumangala and the other High Priests. He then went to [163] a small altar which had been prepared at the request of his Ambassador, and made reverence to the image of the Buddha; lighting some small yellow wax candles and sticks of incense, which he received from the hands of one of his suite. Having lighted the candles and incense-sticks he then, with folded hands in the usual way, recited a Pali sloka (or Gâtha, as it is called in Buddhism). He took from me a garland on behalf of the Committee, which in their name I put over his neck, while the Hon’ble Mr. Ramanathan, on behalf of the Hindu community, showered flowers and rice over him; he listened and replied to two addresses, received the tilak and a garland from Mr. Coomara Swamy, the Brahman of the Hindu temple, and acknowledged the cheers of the multitude, evidently most sincerely friendly. He then drove to Queen’s House under escort, where he gave audience; his time being mostly taken up by deputations of monks from many different temples.
Du thuyền Hoàng gia thả neo trong hải cảng lúc rạng đông ngày 20 tháng Tư, nhận loạt đại bác chào mừng theo nghi thức. Đức Ngài lên bờ vào mười giờ, được các quan chức cao nhất nghinh đón và hộ tống đi lên lối dốc đến nhà bạt Phật giáo, nơi Ủy ban kính cẩn dâng lễ. Tôi được bố trí ngay đầu lối dốc và cúi chào Ngài bằng lễ bái đẹp nhất của mình. Ngài dừng lại, nhìn tôi dò hỏi và hỏi tên. Khi tôi xưng danh, gương mặt Ngài bỗng rạng rỡ và Ngài nói với giọng thân tình nhất: “Ông là người ấy sao? Ồ, ta biết ông rất rõ như một người bạn của Phật giáo. Ta mừng được gặp ông.” Rồi Ngài đưa tay và bắt tay tôi thật ấm áp. Được phép của Ngài, tôi bèn giới thiệu các thành viên Ủy ban và dẫn kiến Ngài với Sumangala cùng các vị Đại Trụ trì khác. Kế đó Ngài tới [163] một tiểu đàn đã được bày theo yêu cầu của Đại sứ, và làm lễ trước tượng Phật; thắp một số nến sáp vàng nhỏ và hương, do một vị trong đoàn tùy tùng trao. Sau khi thắp nến và hương, Ngài chắp tay như lệ thường và tụng một bài kệ Pali (hay Gâtha, theo cách gọi trong Phật giáo). Ngài nhận từ tôi một tràng hoa thay mặt Ủy ban, và tôi, nhân danh họ, choàng lên cổ Ngài, trong khi Ngài Ramanathan đáng kính, thay mặt cộng đồng Ấn giáo, rải hoa và gạo lên Ngài; Ngài lắng nghe và đáp lời hai bản tuyên bày, nhận tilak và một tràng hoa từ ông Coomara Swamy, vị Bà-la-môn của đền Ấn giáo, và đáp lại tiếng hoan hô của đám đông, rõ ràng rất chân tình. Rồi Ngài lên xe về Queen’s House theo nghi vệ, nơi Ngài ban yết kiến; thì giờ của Ngài chủ yếu dành cho các phái đoàn tăng lữ từ nhiều chùa khác nhau.
The next morning he left Colombo for Kandy to pay a visit to the temple and see the Tooth Relic. At the station he gave me another proof of his goodwill by crossing over to where I stood and shaking me cordially by the hand. The Kandy visit had very unfortunate results, for the treatment he received in the tower where [164] this world-famed object is kept, under the protection of four locks, of which the keys are kept by the Government Agent—the Devanilami, a Kandyan noble, who is the hereditary custodian of the precious object—and by the High Priests of the two Royal monasteries at Kandy, above referred to, was most unpleasant. In Volume II of Old Diary Leaves, [16] give a full account of the Relic and its most romantic history, so I need not repeat the details; suffice it to say that it is about the size of an alligator’s tooth and bears no resemblance whatever to any tooth that ever grew in the jaw of an animal or man. It is slightly curved, about two inches in length and nearly one in breadth at the base and rounded at the extremity. An exact duplicate of it, painted to resemble the original and mounted on a gold wire which springs from the heart of a silver lotus flower, which came into my possession several years ago under very peculiar circumstances, may be seen in the curiocase in the Adyar Library. Dr. Gerson Da Cunha tells the whole story about the Tooth, [17] and the destruction of the original by the Archbishop of Goa, under the mandate of the local representatives of the Holy Inquisition, who forbade the Viceroy, [165] D. Constantia de Braganca, to accept a fabulously great sum—no less than 400,000 cruzados—a coin worth 2s.9d.—offered by the King of Pegu as its ransom. The story is that they ordered it to be destroyed. So the Archbishop, in their presence and that of the high officers of State, pulverized it in a mortar, threw the powder into a lighted brazier kept ready, and then the ashes and charcoal together were scattered into the running river, in sight of a multitude “who were crowding the verandas and windows which looked upon the water.” Dr. Da Cunha is very sarcastic in his reflections upon this act of vandalism. He says: “If there ever was a point where the two extremes met it was this. The burning of a tooth for the glory of the Almighty was the point of contact between the sublime and the ridiculous.”
Sáng hôm sau Ngài rời Colombo đi Kandy để thăm chùa và chiêm bái Xá lợi Răng. Tại nhà ga, Ngài lại cho tôi một bằng chứng thiện chí khác bằng cách băng sang chỗ tôi đứng và thân ái bắt tay tôi. Chuyến thăm Kandy đã mang lại kết quả rất đáng tiếc, vì cách đối đãi mà Ngài nhận được trong tòa tháp nơi [164] vật báu lừng danh thế giới này được cất giữ, dưới bốn ổ khóa với chìa do Viên Đại diện Chính phủ—Devanilami, một quý tộc Kandyan, người giữ bảo vật theo dòng thế tập—và do các Đại Trụ trì của hai chùa Hoàng gia ở Kandy nói trên—giữ, quả là hết sức khó chịu. Trong Tập II của Old Diary Leaves, tôi đã tường thuật đầy đủ về Xá lợi và lịch sử lãng mạn nhất của nó, nên không cần nhắc lại chi tiết; chỉ cần nói rằng nó cỡ chừng một chiếc răng cá sấu và hoàn toàn chẳng giống bất kỳ chiếc răng nào từng mọc trong hàm của thú hay người. Nó hơi cong, dài độ hai inch và gần một inch bề ngang tại gốc, đầu tròn. Một bản sao hệt, sơn cho giống nguyên bản và gắn trên một sợi kim tuyến vàng bật ra từ tâm một đóa sen bạc—đã về tay tôi vài năm trước trong những hoàn cảnh rất đặc biệt—có thể thấy trong tủ cổ vật của Thư viện Adyar. Bác sĩ Gerson Da Cunha kể toàn bộ câu chuyện về Chiếc Răng, và việc nguyên bản bị Tổng Giám mục Goa hủy diệt theo lệnh của các đại diện địa phương của Tòa Dị giáo, những người đã cấm Phó vương, [165] D. Constantia de Braganca, nhận một món tiền chuộc khổng lồ—không dưới 400.000 cruzados—một đồng tiền trị giá 2 shilling 9 pence—do Quốc vương Pegu dâng để chuộc. Chuyện kể rằng họ ra lệnh hủy. Thế là Tổng Giám mục, trước mặt họ và các quan chức cao cấp, đã nghiền nát nó trong cối, ném bột vào một lò than rực lửa đã chuẩn bị sẵn, rồi tro than cùng bị rải xuống dòng sông chảy, giữa tầm mắt của đám đông “chen chật các hiên và cửa sổ nhìn ra mặt nước.” Bác sĩ Da Cunha mỉa mai sâu cay khi luận về hành vi man rợ này. Ông viết: “Nếu từng có một điểm nơi hai cực chạm nhau thì chính là đây. Đốt một chiếc răng để vinh danh Đấng Toàn Năng là điểm gặp gỡ giữa cái siêu phàm và cái khôi hài.”
Bigoted and ignorant Buddhists account for the size of the alleged tooth by saying that in the days of the Buddha “human beings were giants and their teeth kept pace, so to speak, with their larger stature.” Which, of course, is all nonsense. It is asserted that the present object of adoration was made out of a piece of deer’s horn by King Vikrama Bahu, in 1566, to replace the original, burnt by the Portuguese in 1560. Other Buddhists believe that this is really a substitute only, that the real tooth is concealed in a sure place, and that a substitute [166] was what fell into the hands of the Portuguese. However, visitors to our Library can see for themselves what the Kandyan relic really looks like and form their own opinions. It will be remembered that as a mark of the very highest respect the tooth was shown to H.P.B. and myself during our visit to Kandy in 1880. His Majesty, the King of Siam, was naturally anxious to see so far-famed a Buddhist relic, and when he was admitted to the room in the Dalada Maligawa, wanted to take the Relic in his hands, but two Kandyan aristocrats, with the worst possible taste and ignorant fatuity, protested, although the King’s brother, Prince Damrong, and even the Christian Czarewitch (the present Czar) had been allowed to handle it on the occasion of their visits to Kandy. The King was naturally indignant at so palpable an affront and left the temple; he returned the presents that had been made to him by different High Priests and came back to Colombo.
Những Phật tử cuồng tín và vô tri giải thích kích cỡ của chiếc răng bị cho là xá lợi kia rằng thuở thời Đức Phật “loài người khổng lồ và răng của họ cũng xứng tầm, nói vậy,” dĩ nhiên hoàn toàn hoang đường. Có người khẳng định vật hiện nay được tôn thờ là do vua Vikrama Bahu chế tác từ sừng hươu năm 1566, để thay thế bản gốc đã bị người Bồ Đào Nha thiêu hủy năm 1560. Lại có Phật tử khác tin rằng đây chỉ là vật thay thế, rằng chiếc răng thật được giấu nơi an toàn, và chính một vật thế thân [166] đã rơi vào tay người Bồ Đào Nha. Dầu sao, khách đến Thư viện của chúng ta có thể tự mình xem Xá lợi Kandy thực sự trông thế nào và tự kết luận. Hẳn độc giả còn nhớ như một dấu kính trọng tột bậc, xá lợi đã được cho H. P. B. và tôi xem khi chúng tôi thăm Kandy năm 1880. Đức Ngài, Quốc vương Xiêm, tự nhiên rất mong được chiêm bái một xá lợi Phật giáo danh truyền như thế, và khi được dẫn vào phòng trong Dalada Maligawa, Ngài muốn cầm Xá lợi trên tay, nhưng hai vị quý tộc Kandyan, với cung cách tệ hại nhất và sự ngu xuẩn chẳng ngượng, đã phản đối, dù rằng em trai của Quốc vương, Hoàng thân Damrong, và ngay cả Thái tử Nga theo Kitô giáo (Đương kim Sa hoàng) cũng từng được phép cầm khi họ viếng Kandy. Quốc vương dĩ nhiên phẫn nộ trước sự sỉ nhục hiển nhiên này và rời khỏi chùa; Ngài trả lại các lễ vật mà nhiều Đại Trụ trì đã dâng và quay về Colombo.
Of course the Committee met him at the Railway Station, where he once more greeted me with entire cordiality. He disappointed two great crowds that had gathered according to programme at the Maligakanda and Kuppyavatte temples, bade farewell to the Government officials, and re-embarked on the Royal yacht, which sailed that day. With the rest of the Buddhist Committee I saw him off [167] at the jetty. As we were aligned at the opposite side of the platform, not wishing to thrust ourselves forward, as soon as he caught sight of me he crossed over, gave me a parting handshake, and desired me to express his thanks to the Buddhist community for the pleasure which he had derived from their kind, popular welcome.
Dĩ nhiên Ủy ban đã ra ga đón Ngài, nơi Ngài một lần nữa thân tình chào tôi. Ngài làm hụt hẫng hai đám đông lớn đã tụ họp theo chương trình ở các chùa Maligakanda và Kuppyavatte, cáo biệt các quan chức Chính phủ và trở lại du thuyền Hoàng gia, khởi hành trong ngày. Cùng với các thành viên Ủy ban Phật giáo tôi tiễn Ngài [167] ở cầu tàu. Khi chúng ta đứng chỉnh hàng ở bên kia sân ga, chẳng muốn xông xáo ra phía trước, Ngài vừa trông thấy tôi liền băng qua, bắt tay từ biệt, và dặn tôi chuyển lời cảm tạ của Ngài đến cộng đồng Phật tử vì niềm vui mà Ngài đã nhận từ cuộc nghinh đón nồng hậu của dân chúng.
One incident which occurred during our brief intercourse gave me real pleasure. Learning that his Private Secretary, Phrayah Srisdi, was buying watches, scarf-pins, rings and other articles of jewellery, to be given as presents to those who had been active in organizing his welcome, I went to Queen’s House and informed that gentleman that I should not accept any such souvenir, as my interest in His Majesty was not caused by his being a King, but because he was the only remaining Buddhist sovereign: I had received all the benefit I could have desired in having been able to testify my respect on the occasion. “But,” said the Secretary, “if His Majesty wishes to make you such a present what would you do?” I told him that if it was forced upon me in such a way that I could not, without breach of good-manners refuse, I should certainly give it away to somebody after His Majesty’s departure. It is more than likely that he told this to the King, for on that day, before leaving Queen’s House for the jetty, he sent me a [168] full-length photographic portrait of himself in full uniform, signed with his name and with my name and the date written beneath. It hangs on the wall in my private office. In it he appears as a well-formed, refined and soldierly-looking man, with a high-bred face and an expression of calm dignity. He stands there with his hands leaning upon his sword and his breast covered with jewelled orders.
Có một chuyện xảy ra trong cuộc giao tiếp ngắn ngủi này khiến tôi thật sự vui thích. Biết rằng Bí thư riêng của Ngài, Phrayah Srisdi, đang mua đồng hồ, ghim cà vạt, nhẫn và các món trang sức khác để tặng những người đã tích cực tổ chức việc đón tiếp, tôi đến Queen’s House và thưa với vị đó rằng tôi sẽ không nhận bất cứ kỷ vật nào như thế, vì sự quan tâm của tôi đối với Đức Ngài không phải vì Ngài là một vị vua, mà bởi vì Ngài là quân vương Phật giáo duy nhất còn lại: tôi đã nhận đủ phần lợi lạc mình mong muốn trong việc được dịp bày tỏ lòng tôn kính. “Nhưng,” vị Bí thư hỏi, “nếu Bệ hạ muốn tặng ông một món như vậy thì ông sẽ làm sao?” Tôi nói rằng nếu món quà được trao cho tôi theo cách mà tôi không thể từ chối mà không thất lễ, thì chắc chắn sau khi Đức Ngài rời đi tôi sẽ tặng lại cho ai đó. Rất có thể ông đã thưa lại điều này với Quốc vương, vì hôm ấy, trước khi rời Queen’s House ra cầu tàu, Ngài gửi tặng tôi một [168] bức chân dung toàn thân của Ngài trong quân phục đại lễ, có chữ ký của Ngài và bên dưới là tên tôi cùng ngày tháng. Nó hiện treo trên tường trong phòng làm việc riêng của tôi. Trong ảnh, Ngài là một người tướng mạo cân xứng, thanh nhã và mang phong thái võ tướng, với khuôn mặt quý tộc và nét trầm tĩnh đường hoàng. Ngài đứng, hai tay tựa trên chuôi kiếm, ngực phủ đầy huân chương châu báu.
When the news of the Kandyan incident got to Colombo and spread among the masses, there was an outburst of indignation against the stupid Kandyan aristocrats who had thus spoilt the harmony of His Majesty’s visit. There was no possibility whatever of mistaking the genuineness of this feeling. The Committee at once organized a sub-committee, consisting of Mr. H. Don Carolis, Dr. Perera, of Perak, and myself, to go to Kandy, investigate the facts, and report to a public meeting which was called for Sunday the 2nd April at Maligakanda. We went there, took all available testimony, and fastened the responsibility upon the real culprit, the late Mr. T. B. Panabokke. At the mass meeting, the Committee, in submitting their report, made the following points:
Khi tin về sự vụ ở Kandy lan đến Colombo và truyền trong quần chúng, đã bùng lên cơn phẫn nộ đối với mấy ông quý tộc Kandyan ngu dại đã làm hỏng sự hòa điệu của chuyến thăm Đức Ngài. Không thể lầm lẫn gì về tính chân thật của cảm xúc ấy. Ủy ban lập tức tổ chức một tiểu ban gồm ông H. Don Carolis, bác sĩ Perera ở Perak, và tôi, lên đường đi Kandy điều tra sự việc và báo cáo tại một cuộc mít-tinh công cộng được triệu tập cho Chủ nhật mồng 2 tháng Tư ở Maligakanda. Chúng tôi đến nơi, thu thập mọi chứng cứ có được, và quy trách nhiệm cho thủ phạm đích thực, cố ông T. B. Panabokke. Tại cuộc họp đại chúng, Ủy ban, khi trình báo cáo, đã nêu các điểm sau:
1. That Mr. Panabokke and no one else is guilty of the offensive remark at the Dalada Maligawa on the 21st instant, which so vexed His Majesty and caused him to change his benevolent [169] intentions with respect to gifts to our temples and Bhikshus.
Rằng ông Panabokke và không ai khác là người đã phát ngôn xúc phạm ở Dalada Maligawa vào ngày 21 vừa qua, khiến Đức Ngài phật ý và đổi thay ý định nhân từ [169] vốn dành cho việc cúng dường các chùa và tỳ kheo của chúng ta.
2. That his refusal to allow His Majesty to hold the Relic and take away the ancient book to have it copied, were unauthorised by either the High Priests or his colleagues of the Special Committee of three who were clothed with the official functions of the Diwa Nilame for that occasion, and that he alone is responsible for all the unpleasant consequences which have ensued.
Rằng việc ông ta từ chối để Đức Ngài cầm Xá lợi và mang cuốn sách cổ đi để sao chép là việc không được phép bởi các vị Đại Trụ trì hay bởi các đồng sự của ông trong Tiểu ban Đặc biệt gồm ba người—được ủy thác chức trách của Diwa Nilame cho dịp này—và rằng một mình ông phải chịu trách nhiệm cho mọi hậu quả khó chịu đã xảy ra.
3. That his statement to the District Judge that he was but interpreting the wishes of the High Priests is contradicted by their signed declarations to the contrary, as well as by that of his fellow committee-man, Mr. Nugawela Ratemahatmeya.
Rằng lời ông khai trước Thẩm phán Quận rằng mình chỉ diễn giải ý muốn của các vị Đại Trụ trì đã bị các tuyên bố có ký tên của các Ngài bác bỏ, cũng như bởi tuyên bố của đồng ủy viên của ông, ông Nugawela Ratemahatmeya.
(Signed) H. S. Olcott, D. B. Perera, and H. Don Carolis (Hevavitarana, Muhandiram).
(Ký) H. S. Olcott, D. B. Perera, và H. Don Carolis (Hevavitarana, Muhandiram).
The CHAIRMAN and Vice-Chairman addressed the meeting on the subjects to be considered. Mr. Dullewe Adigar made a long speech during which he strongly condemned the action of Mr. Panabokke in refusing the King his wish. He stated that the Tooth Relic had been handled both by Christians and Buddhists high in authority, and the only Buddhist King now living should have been allowed his wish. He submitted that the Buddhist community should condemn the action and submit the true state of affairs to His Majesty [170] the King. At the end of his speech he moved the following resolution: “Whereas the Buddhist community of Ceylon have been deeply pained by certain acts of disrespect offered to His Majesty the King of Siam, while visiting the Dalada Maligawa on the 21st April, and whereas an inquiry made into the facts by the Executive Committee charged by the Buddhist community to organise the reception of His Majesty on his arrival at Colombo, has resulted in proving beyond question that the responsibility for the said acts rests on Mr. T. B. Panabokke, President, Provincial Committee, Central Province, under the Buddhist Temporalities Ordinance, and upon no one else; now, therefore, be it resolved that the Buddhists of Ceylon protest against and condemn his conduct as discourteous, uncalled for, and wholly unwarranted.”
CHỦ TỌA và Phó Chủ tọa đã diễn thuyết về các vấn đề được xem xét. Ông Dullewe Adigar có một bài nói dài, trong đó ông kịch liệt kết án hành vi của ông Panabokke khi từ chối nguyện vọng của Quốc vương. Ông nói rằng Xá lợi Răng từng được cầm bởi cả các nhân vật Kitô giáo lẫn Phật giáo nắm quyền cao, và vị Quân vương Phật giáo duy nhất còn sống hẳn phải được thuận ý. Ông đề nghị cộng đồng Phật tử nên lên án hành vi ấy và trình bày sự thực với Đức Ngài [170] Quốc vương. Cuối bài nói, ông đệ trình nghị quyết sau: “Xét rằng cộng đồng Phật tử Tích Lan đã bị thương tổn sâu sắc bởi một số hành vi bất kính đối với Đức Ngài Quốc vương Xiêm khi Ngài viếng Dalada Maligawa ngày 21 tháng Tư, và xét rằng cuộc điều tra do Ủy ban Chấp hành được cộng đồng Phật tử ủy thác tổ chức việc đón tiếp Đức Ngài khi Ngài đến Colombo đã đưa đến kết quả xác quyết rằng trách nhiệm về những hành vi nói trên thuộc về ông T. B. Panabokke, Chủ tịch Ủy ban Tỉnh, Tỉnh Trung ương, theo Sắc lệnh về Tài sản Phật giáo, và không thuộc về ai khác; nay, do vậy, nghị quyết rằng Phật tử Tích Lan phản đối và lên án hành vi của ông ta như là khiếm nhã, vô cớ và hoàn toàn không có căn cứ.”
MR. SIMAN FERNNDO seconded the resolution. He also made a few remarks condemning the action of Mr. Panabokke. The resolution was then put and was unanimously adopted. After a resolution warmly thanking the Executive Committee for their efficient services, the following resolution was, on motion of Mr. A. Perera and seconded by Mr. D. C. Pedris, unanimously and enthusiastically adopted: “That this mass meeting of the Buddhists of Ceylon do instruct their Chairman and Secretary [171] to forward copies of these resolutions and reports relating to the Tooth Relic incident to His Majesty, the King of Siam, through the proper channel, for his information, with the prayer that he will hold the Buddhists of Ceylon entirely innocent of blame in the matter and accept their unanimous declaration of personal respect and affection for himself and his royal house and of their love for the Siamese people, their co-religionists.”
ÔNG SIMAN FERNNDO tán trợ nghị quyết. Ông cũng phát biểu vài lời lên án hành vi của ông Panabokke. Nghị quyết sau đó được đưa ra biểu quyết và nhất trí thông qua. Sau một nghị quyết gửi lời cảm tạ nồng hậu đến Ủy ban Chấp hành vì sự phục vụ hữu hiệu, nghị quyết sau đây, theo đề nghị của ông A. Perera và được ông D. C. Pedris tán trợ, đã được nhất trí và nhiệt liệt thông qua: “Rằng cuộc mít-tinh đại chúng của Phật tử Tích Lan này chỉ thị cho Chủ tịch và Thư ký của mình [171] gửi các bản sao của những nghị quyết và báo cáo liên hệ đến sự vụ Xá lợi Răng tới Đức Ngài Quốc vương Xiêm, qua ngả thích hợp, để tường, kèm theo lời thỉnh cầu Ngài xem Phật tử Tích Lan hoàn toàn vô can trong vụ việc này và thừa nhận tuyên bày nhất trí của họ về lòng tôn kính và tình cảm cá nhân đối với chính Ngài và Hoàng gia, cũng như tình ái hữu của họ dành cho dân Xiêm, những đồng đạo của họ.”
Thus an incident, inexcusable in itself, toppled over the house of cards which Prince Prisdan and I had so carefully constructed in the matter of the proposed international brotherly union of three Buddhist nations, and which we had hoped to be able to bring about. Of course it did not affect the main question in the least but only the King’s momentary attitude towards the subject. When he parted with me on the jetty he said that he would give the question full consideration, at the same time adding, however, that it would be a very hard thing to accomplish. I ventured to call his attention to the fact that quite as difficult a thing had been successfully carried through in the foundation and happy culmination of the educational movement in Ceylon and that I was persuaded that it was possible to realize our scheme for international Buddhistic unity.
Như thế, một biến cố tự thân không thể bào chữa đã làm đổ nhà giấy mà Hoàng thân Prisdan và tôi đã cẩn thận gây dựng trong việc đề xuất sự liên hiệp huynh đệ quốc tế của ba dân tộc Phật giáo—điều mà chúng ta đã hy vọng có thể thành tựu. Dĩ nhiên nó hoàn toàn không ảnh hưởng đến vấn đề chính, mà chỉ tác động đến thái độ nhất thời của Nhà vua đối với chủ đề này. Khi từ biệt tôi ở cầu tàu, Ngài nói sẽ suy xét thấu đáo vấn đề, đồng thời thêm rằng đó sẽ là việc rất khó thực hiện. Tôi mạn phép nhắc Ngài rằng một việc khó không kém đã được thực hiện thành công trong việc khai sáng và đưa đến kết quả mỹ mãn của phong trào giáo dục ở Tích Lan, và rằng tôi vững tin có thể hiện thực hóa đề án hợp nhất Phật giáo quốc tế của chúng ta.