← Problems of Humanity – Alice A. Bailey

Table of Contents – Mục Lục

Table of Contents – Mục Lục

Table of Contents – Mục Lục

CHAPTER 1 - THE PSYCHOLOGICAL REHABILITATION OF THE NATIONS – CHƯƠNG 1 - SỰ PHỤC HỒI TÂM LÝ CỦA CÁC QUỐC GIA

CHAPTER 2 - THE PROBLEM OF THE CHILDREN OF THE WORLD – CHƯƠNG 2 - VẤN ĐỀ CỦA TRẺ EM THẾ GIỚI

CHAPTER 3 - THE PROBLEM OF CAPITAL, LABOUR AND EMPLOYMENT – CHƯƠNG 3 - VẤN ĐỀ TƯ BẢN, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

CHAPTER 4 - THE PROBLEM OF THE RACIAL MINORITIES – CHƯƠNG 4 - VẤN ĐỀ CÁC THIỂU SỐ CHỦNG TỘC

CHAPTER 5 - THE PROBLEM OF THE CHURCHES – CHƯƠNG 5 - VẤN ĐỀ CỦA CÁC GIÁO HỘI

CHAPTER 6 - THE PROBLEM OF INTERNATIONAL UNITY – CHƯƠNG 6 - VẤN ĐỀ HỢP NHẤT QUỐC TẾ

ARCANE SCHOOL TRAINING – HUẤN LUYỆN CỦA TRƯỜNG ARCANE

INDEX – MỤC LỤC TRA CỨU

PROBLEMS

NHỮNG VẤN ĐỀ

OF

CỦA

HUMANITY

NHÂN LOẠI

by

do

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

INDEX EDITION

ẤN BẢN CÓ MỤC LỤC TRA CỨU

BOOKS BY ALICE A. BAILEY

CÁC SÁCH CỦA ALICE A. BAILEY

Initiation, Human and Solar

Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương

Letters on Occult Meditation

Thư Về Tham thiền Huyền môn

The Consciousness of the Atom

Tâm Thức của Nguyên Tử

A Treatise on Cosmic Fire

Luận về Lửa Vũ Trụ

The Light of the Soul

Ánh Sáng của Linh Hồn

The Soul and its Mechanism

Linh Hồn và Bộ Máy của Nó

From Intellect to Intuition

Từ Trí Năng đến Trực Giác

A Treatise on White Magic

Luận về Chánh Thuật

From Bethlehem to Calvary

Từ Bethlehem đến Calvary

Discipleship in the New Age–Vol. I

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển I

Discipleship in the New Age–Vol. II

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển II

Problems of Humanity

Các Vấn Đề của Nhân Loại

The Reappearance of the Christ

Sự Tái Lâm của Đức Christ

The Destiny of the Nations

Định Mệnh của các Quốc Gia

Glamour: A World Problem

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới

Telepathy and the Etheric Vehicle

Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái

The Unfinished Autobiography

Tự Truyện Còn Dang Dở

Education in the New Age

Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới

The Externalisation of the Hierarchy

Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn

A Treatise on the Seven Rays:

Luận về Bảy Cung:

Vol. I–Esoteric Psychology

Quyển I–Tâm Lý Học Nội Môn

Vol. II–Esoteric Psychology

Quyển II–Tâm Lý Học Nội Môn

Vol. III–Esoteric Astrology

Quyển III–Chiêm Tinh Học Nội Môn

Vol. IV–Esoteric Healing

Quyển IV–Trị Liệu Huyền Môn

Vol. V–The Rays and the Initiations

Quyển V–Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng Tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm nhường nhất cho đến, và vượt quá, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi, xét theo quan điểm ngoại môn, chủ trì một nhóm lớn các lạt-ma Tây Tạng, khi những nhiệm vụ khác của Tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền rằng Tôi là viện chủ của tu viện đặc biệt ấy. Những ai cộng tác với Tôi trong công việc của Thánh Đoàn, và tất cả các đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này, biết Tôi bằng một danh xưng và chức vụ khác nữa. Bà A.A.B. biết Tôi là ai và nhận ra Tôi qua hai danh xưng của Tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity—not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn đôi chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để đi vào một mức độ ánh sáng lớn hơn mức mà người chí nguyện sẽ đọc bài này đã đạt tới, và do đó Tôi phải hành động như một kênh truyền ánh sáng, bất kể phải trả giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi giữa các huấn sư, nhưng Tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của Tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào Tôi có thể tìm thấy sự đáp ứng, và Tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách trợ giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì Tôi đã liên hệ lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, Tôi đã nói với các bạn nhiều; nhưng đồng thời Tôi chẳng nói điều gì có thể khiến các bạn dâng cho Tôi sự vâng phục mù quáng và lòng sùng tín ngu xuẩn mà người chí nguyện cảm xúc dâng cho Guru và Chân sư mà y vẫn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn ấy cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng tín cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ đối với nhân loại—chứ không phải đối với Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những sách mà Tôi đã viết được đưa ra mà không kèm bất cứ đòi hỏi nào buộc người ta phải chấp nhận. Chúng có thể đúng, chân thật và hữu ích, hoặc có thể không. Chính các bạn phải xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng việc vận dụng trực giác. Cả Tôi lẫn bà A.A.B. đều không hề quan tâm đến việc chúng được tán dương như những trước tác được linh hứng, hoặc đến việc bất cứ ai nói về chúng, với hơi thở nén lại, như là tác phẩm của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách nối tiếp tuần tự với những gì đã được trao trong các giáo huấn thế giới; nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí, cõi nơi các Chân sư có thể được tìm thấy, thì chúng đã phụng sự mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt gợi lên một sự đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người hoạt động trong thế gian, và đem lại sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn ấy được chấp nhận. Nhưng nếu không như thế thì đừng. Nếu các phát biểu cuối cùng gặp được sự xác chứng, hoặc được xem là đúng dưới sự thử nghiệm của Định luật Tương Ứng, thì như thế là tốt đẹp. Nhưng nếu điều này không phải vậy, đạo sinh chớ nên chấp nhận những gì được nói ra.

AUGUST 1934

THÁNG TÁM 1934

THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Ánh sáng và Tình Thương được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

Bài Khấn Nguyện hoặc Lời Cầu Nguyện ở trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của Lời Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn sơ của nó, và ở chỗ nó diễn đạt những chân lý trọng yếu mà tất cả mọi người, vốn theo bản năng và một cách tự nhiên, đều thừa nhận—chân lý về sự hiện hữu của một Trí Tuệ Căn Bản mà chúng ta mơ hồ gọi là Thượng Đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ bề ngoài bên ngoài, quyền năng thúc đẩy vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng có một Đại Nguyên Hình đã đến Trái Đất, được các tín đồ Kitô giáo gọi là Đức Christ, và Ngài đã hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể thấu hiểu; chân lý rằng cả tình thương lẫn trí tuệ đều là những hiệu quả của điều được gọi là Ý Chí của Thượng Đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại thì Thiên Cơ mới có thể được thực hiện.

ALICE A BAILEY

ALICE A. BAILEY

FOREWORD – LỜI NÓI ĐẦU

The first edition of this book, published in 1947, contained chapters on seven basic problems of humanity written and published in pamphlet form between October, 1944, and December, 1946. They dealt essentially with conditions existing during and immediately after the war years of 1939 to 1945. In 1953 a second edition was published which omitted certain outdated material, notably the first chapter on the physical reconstruction of the world, thus reducing the subject matter of the book to six problems of continuing concern to a world slowly recovering from the drastic effects of total modern warfare.

Ấn bản đầu tiên của quyển sách này, xuất bản năm 1947, gồm các chương bàn về bảy vấn đề căn bản của nhân loại, được viết và xuất bản dưới dạng tập sách nhỏ trong khoảng từ tháng Mười năm 1944 đến tháng Mười Hai năm 1946. Về căn bản, chúng đề cập đến những điều kiện tồn tại trong và ngay sau những năm chiến tranh từ 1939 đến 1945. Năm 1953, một ấn bản thứ hai được xuất bản, lược bỏ một số tài liệu đã lỗi thời, đặc biệt là chương đầu về việc tái thiết hồng trần của thế giới, do đó thu hẹp nội dung của sách xuống còn sáu vấn đề vẫn tiếp tục được quan tâm trong một thế giới đang chậm chạp hồi phục khỏi những hậu quả khốc liệt của chiến tranh hiện đại toàn diện.

In 1964 the book was again revised and published as a paperback edition. In the years since 1953 much progress had been made by humanity within the area of these six problems and many practical changes had occurred during that period which rendered parts of the original book again obsolete. In some cases also the nature of the problems has changed. For example, the problem of the children of the world still exists in most parts of the world but in a different form and under different conditions to those prevailing in the immediate post-war period, particularly in Europe. The problems of capital, labour and employment also differ today in an increasingly automated and computerised world. Change is occurring within many crystallized and reactionary areas of religious orthodoxy and separateness, creating new problems within the churches.

Năm 1964, quyển sách lại được duyệt sửa và xuất bản dưới dạng bìa mềm. Trong những năm kể từ 1953, nhân loại đã đạt nhiều tiến bộ trong phạm vi sáu vấn đề này, và nhiều thay đổi thực tiễn đã xảy ra trong giai đoạn ấy, khiến một số phần của quyển sách nguyên thủy lại trở nên lỗi thời. Trong một số trường hợp, bản chất của các vấn đề cũng đã thay đổi. Chẳng hạn, vấn đề trẻ em trên thế giới vẫn còn tồn tại ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhưng dưới một hình thức khác và trong những điều kiện khác với những điều kiện thịnh hành ngay sau chiến tranh, đặc biệt tại châu Âu. Các vấn đề về vốn, lao động và việc làm ngày nay cũng khác đi trong một thế giới ngày càng tự động hóa và điện toán hóa. Sự thay đổi đang diễn ra trong nhiều khu vực kết tinh và phản động của chính thống tôn giáo và sự chia rẽ, tạo nên những vấn đề mới trong các giáo hội.

Similar comments can be made for all these problems, with the added fact that new problems are arising under present day conditions which are variations and extensions of the basic six discussed in this book. Therefore, when in 1967 we are again faced with the need to reprint the book we realise that there are two alternatives open: one, to revise and update the book which would to all intents and purposes cut the original text to the bone and graft on to the skeleton structure factual data and information supplied by other writers; or two, reprint the book as it stands, because its basic teaching on all these problems is still as sound, as dynamic and as necessary as it was when originally written. This second course is the one we have decided to follow.

Có thể đưa ra những nhận xét tương tự đối với tất cả các vấn đề này, cộng thêm sự kiện rằng những vấn đề mới đang nảy sinh dưới các điều kiện hiện nay, vốn là những biến thể và sự mở rộng của sáu vấn đề căn bản được bàn trong quyển sách này. Vì vậy, khi vào năm 1967 chúng ta lại đứng trước nhu cầu tái bản quyển sách, chúng ta nhận ra rằng có hai lựa chọn mở ra: một là duyệt sửa và cập nhật quyển sách, điều mà xét theo mọi ý định và mục đích sẽ cắt văn bản nguyên thủy đến tận xương và ghép vào bộ khung ấy các dữ kiện và thông tin thực tế do những tác giả khác cung cấp; hoặc hai là tái bản quyển sách như nguyên trạng, bởi giáo huấn căn bản của nó về tất cả các vấn đề này vẫn còn vững chắc, sinh động và cần thiết như khi nó được viết ra ban đầu. Con đường thứ hai là điều chúng tôi đã quyết định theo đuổi.

It is important, however, that those who study the book are aware of its history so that the essential teaching can be recognised and absorbed and the irrelevant factors ignored. The spiritual principles to be applied to the problems of humanity as discussed in this book are valid today and remain largely ignored by the majority of mankind. The contribution of esoteric students in creating “the thoughtform of solution” to human problems in a world at crisis point is a vital and practical service.

Tuy nhiên, điều quan trọng là những ai nghiên cứu quyển sách phải biết lịch sử của nó, để giáo huấn thiết yếu có thể được nhận ra và hấp thụ, còn những yếu tố không thích hợp thì được bỏ qua. Các nguyên lý tinh thần cần được áp dụng vào những vấn đề của nhân loại như đã bàn trong quyển sách này vẫn có giá trị ngày nay và phần lớn vẫn bị đa số nhân loại bỏ mặc. Sự đóng góp của các đạo sinh huyền bí trong việc tạo ra “hình tư tưởng về giải pháp” cho các vấn đề của con người trong một thế giới đang ở điểm khủng hoảng là một sự phụng sự thiết yếu và thực tiễn.

LUCIS PUBLISHING COMPANIES, NEW YORK, LONDON — 1993

CÁC CÔNG TY XUẤT BẢN LUCIS, NEW YORK, LONDON — 1993

INTRODUCTION – DẪN NHẬP

[5] It is essential that all thinking people should give time and thought to the consideration of the major world problems with which we are now faced. Some of them can be solved with relative rapidity—given common sense and a correctly appreciated self-interest; others will require foresighted planning and a long patience as, one by one, the necessary steps are taken, leading to the readjustment of human values and the inauguration of new attitudes of mind regarding right human relations. In the recognition of the growth in human consciousness and in a realization of the distinction obviously existing between primitive men and our modern intelligent humanity lie the grounds for an unshaken optimism as to human destiny.

[5] Điều thiết yếu là mọi người biết suy tư nên dành thời gian và tư tưởng để xem xét các vấn đề lớn của thế giới mà hiện nay chúng ta đang đối diện. Một số vấn đề có thể được giải quyết tương đối nhanh chóng—nếu có lương tri và một sự tự lợi được nhận định đúng đắn; những vấn đề khác sẽ đòi hỏi sự hoạch định biết nhìn xa và một lòng kiên nhẫn lâu dài, khi từng bước cần thiết được thực hiện, dẫn đến sự điều chỉnh lại các giá trị của con người và sự khai mở những thái độ mới của trí tuệ đối với các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Trong sự nhận ra mức tăng trưởng của tâm thức con người và trong sự nhận biết sự khác biệt rõ ràng đang tồn tại giữa những người sơ khai và nhân loại thông minh hiện đại của chúng ta, có những nền tảng cho một niềm lạc quan không lay chuyển về định mệnh của con người.

Events in the immediate foreground do not blot out the long history of human development and obliterate recognition of the long range changes which have taken place within the human consciousness; these basically condition human objectives, all human contacts and underline with understanding and perspective the reactions of the race of men.

Những biến cố ngay trước mắt không xóa mờ lịch sử lâu dài của sự phát triển con người, cũng không hủy bỏ sự nhận biết về những thay đổi dài hạn đã diễn ra trong tâm thức con người; về căn bản, những thay đổi ấy tác động lên các mục tiêu của con người, mọi tiếp xúc của con người, và làm nền cho những phản ứng của nhân loại bằng sự thấu hiểu và tầm nhìn.

The slow and restricted movements of the primitive races of mankind have given place to the speed and the rapid movement (the almost unbelievably rapid movement) and transportation facilities of the airplane. The uncouth sounds and the limited vocabulary of the savage races have developed into the intricate language systems of the present nations; the various modes of primitive communication by means of drums or bonfires have been replaced by the telegraph, the telephone and the radio; the wooden dug-out of the uncultured islanders [6] has developed into the greyhound of the sea, racing from port to port under mechanical power and in the space of a few short days; the early slow modes of travel by foot, on horseback or by chariot have given way to the trains, speeding across entire continents at the rate of seventy miles an hour or more. The early and simple civilizations have been succeeded by the intricate and highly organized social, economic and political civilisation of modern times. The culture of the ages, the arts, literature, the music and the philosophy of all time is today at the disposal of the average citizen.

Những chuyển động chậm chạp và hạn hẹp của các giống dân sơ khai của nhân loại đã nhường chỗ cho tốc độ, chuyển động nhanh chóng, gần như nhanh đến mức khó tin, và các phương tiện vận chuyển của máy bay. Những âm thanh thô sơ và vốn từ hạn chế của các giống dân man dã đã phát triển thành những hệ thống ngôn ngữ phức tạp của các quốc gia hiện nay; các phương thức giao tiếp sơ khai khác nhau bằng trống hoặc lửa hiệu đã được thay thế bằng điện báo, điện thoại và vô tuyến; chiếc thuyền độc mộc của những cư dân đảo chưa được khai hóa [6] đã phát triển thành con tuấn mã của biển cả, lao từ cảng này đến cảng khác bằng động lực cơ khí và trong khoảng vài ngày ngắn ngủi; những phương thức di chuyển chậm chạp ban đầu bằng đi bộ, cưỡi ngựa hay xe ngựa đã nhường chỗ cho những đoàn tàu, phóng qua toàn bộ các lục địa với tốc độ bảy mươi dặm một giờ hoặc hơn. Những nền văn minh sơ khai và giản đơn đã được kế tiếp bởi nền văn minh xã hội, kinh tế và chính trị phức tạp, được tổ chức cao của thời hiện đại. Nền văn hóa của các thời đại, nghệ thuật, văn học, âm nhạc và triết học của mọi thời nay nằm trong tầm sử dụng của người công dân bình thường.

The above contrasts provide a perspective and a background which will inspire hope for the future and confidence in the ultimate destiny of man. The past is in reality more like the prenatal stage than an ordinary living process; it is a preface to a richer and a more enlightened life; it is a preliminary period to a culture and a civilization which will redound to the glory of God and constitute a vital testimony to the divinity of man.

Những tương phản trên đem lại một tầm nhìn và một bối cảnh sẽ khơi dậy hy vọng cho tương lai và niềm tin vào định mệnh tối hậu của con người. Trong thực tế, quá khứ giống giai đoạn tiền sinh hơn là một tiến trình sống bình thường; nó là lời tựa cho một đời sống phong phú hơn và được soi sáng hơn; nó là giai đoạn sơ khởi cho một nền văn hóa và một nền văn minh sẽ làm rạng danh Thượng đế và cấu thành một chứng tích sống động cho thiên tính của con người.

When the birthing process is over, a new humanity will be seen active upon the earth, a new race of men—new because differently oriented.

Khi tiến trình khai sinh kết thúc, một nhân loại mới sẽ được thấy hoạt động trên trái đất, một nhân loại mới—mới bởi vì được định hướng khác đi.

There are necessarily many lesser problems but those dealt with in this book cover the major ones with which humanity is at this time confronted, and which must find some solution during the next twenty-five years. This will have to be done by the simple method (simple to write but difficult to implement) of establishing right human relations between men and between nations.

Tất nhiên có nhiều vấn đề nhỏ hơn, nhưng những vấn đề được đề cập trong quyển sách này bao quát các vấn đề lớn mà nhân loại hiện đang đối diện, và phải tìm được một giải pháp nào đó trong vòng hai mươi lăm năm tới. Điều này sẽ phải được thực hiện bằng phương pháp đơn giản, đơn giản khi viết ra nhưng khó thực thi, là thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và giữa các quốc gia.

The immediate spiritual problem with which all are faced is the problem of gradually offsetting hate and initiating the new technique of trained, imaginative, creative and practical goodwill.[7]

Vấn đề tinh thần trước mắt mà tất cả đang đối diện là vấn đề dần dần hóa giải lòng thù hận và khai mở kỹ thuật mới của thiện chí được huấn luyện, giàu tưởng tượng, sáng tạo và thực tiễn.[7]

Goodwill is man’s first attempt to express the love of God. Its results on earth will be peace. It is so simple and practical that people fail to appreciate its potency or its scientific and dynamic effect. One person sincerely practising goodwill in a family can completely change its attitudes. Goodwill really practised among groups in any nation, by political and religious parties in any nation and among the nations of the world can revolutionize the world.

Thiện chí là nỗ lực đầu tiên của con người nhằm biểu đạt tình thương của Thượng đế. Kết quả của nó trên trái đất sẽ là hòa bình. Nó giản dị và thực tiễn đến mức người ta không đánh giá đúng quyền năng của nó hay hiệu quả khoa học và năng động của nó. Một người chân thành thực hành thiện chí trong một gia đình có thể hoàn toàn thay đổi thái độ của gia đình ấy. Thiện chí được thực hành thật sự giữa các nhóm trong bất cứ quốc gia nào, bởi các đảng phái chính trị và tôn giáo trong bất cứ quốc gia nào, và giữa các quốc gia trên thế giới, có thể cách mạng hóa thế giới.

The key to humanity’s trouble (focussing as it has in the economic difficulties of the past two hundred years and in the theological impasse of the orthodox churches) has been to take and not give, to accept and not share, to grasp and not to distribute. This has involved the breaking of a law which has placed humanity in a position of positive guilt. War is the dire penalty which mankind has had to pay for this great sin of separateness. Impressions from the Hierarchy have been received, distorted, misapplied and misinterpreted and the task of the New Group of World Servers is to offset this evil.

Chìa khóa cho nỗi khó khăn của nhân loại, vốn đã tập trung trong các khó khăn kinh tế của hai trăm năm qua và trong sự bế tắc thần học của các giáo hội chính thống, là lấy mà không cho, nhận mà không chia sẻ, nắm giữ mà không phân phối. Điều này đã bao hàm sự vi phạm một định luật, khiến nhân loại rơi vào vị thế có tội rõ rệt. Chiến tranh là hình phạt khủng khiếp mà nhân loại đã phải trả cho tội lỗi lớn lao này của sự chia rẽ. Các ấn tượng từ Thánh Đoàn đã được tiếp nhận, bị bóp méo, áp dụng sai và diễn giải sai, và nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là hóa giải điều ác này.

Humanity has never really lived up to the teaching given it. Spiritual impression, whether conveyed by the Christ, by Krishna or by Buddha (and passed on to the masses by Their disciples) has not yet been expressed as it was hoped. Men do not live up to what they already know; they fail to make practical their information; they short circuit the light; they do not discipline themselves; greedy desire and unlawful ambition control and not the inner knowledge. To put it scientifically and from the esoteric angle: Spiritual impression has been interrupted and there has been interference with the divine circulatory flow. It is the task of the disciples of the world to restore this flow and to stop this interference. This is the major problem facing spiritual people at this time.

Nhân loại chưa bao giờ thật sự sống đúng với giáo huấn đã được trao cho mình. Ấn tượng tinh thần, dù được truyền đạt bởi Đức Christ, bởi Krishna hay bởi Đức Phật, và được các đệ tử của Các Ngài chuyển đến quần chúng, vẫn chưa được biểu đạt như đã được hy vọng. Con người không sống đúng với những gì họ đã biết; họ không làm cho thông tin của mình trở nên thực tiễn; họ làm đoản mạch ánh sáng; họ không tự kỷ luật; dục vọng tham lam và tham vọng phi pháp kiểm soát, chứ không phải tri thức bên trong. Nói một cách khoa học và theo góc nhìn huyền bí: ấn tượng tinh thần đã bị gián đoạn và đã có sự can thiệp vào dòng lưu chuyển thiêng liêng. Nhiệm vụ của các đệ tử thế giới là phục hồi dòng lưu chuyển này và chấm dứt sự can thiệp ấy. Đây là vấn đề lớn đối diện những người tinh thần vào lúc này.

CHAPTER 1 - THE PSYCHOLOGICAL REHABILITATION OF THE NATIONS – CHƯƠNG 1 - SỰ PHỤC HỒI TÂM LÝ CỦA CÁC QUỐC GIA

[8] This problem is far more complicated and deep-seated than might appear at the first glance. Had we only to deal with the national psychoses and the mental conditions induced by the act of war and participation in it, the problem would be acute enough but it could be solved easily by the restitution of security, by the sound psychological treatment of the differing nationalities, by their physical rehabilitation and by the restoration of liberty, opportunity, leisure and, above all, by the organization of the men and women of goodwill. This latter group would show themselves as willing to carry forward the needed educational processes and (which is far more important) they would endeavour to convey spiritual inspiration—something which humanity sorely needs at this time. There are enough men and women of goodwill in the world today to accomplish this if they can be reached, inspired and supported in their endeavour, both materially and spiritually.

[8] Vấn đề này phức tạp và ăn sâu hơn nhiều so với vẻ ngoài thoạt nhìn. Nếu chúng ta chỉ phải xử lý các chứng loạn tâm quốc gia và những tình trạng trí tuệ do hành động chiến tranh và sự tham gia vào chiến tranh gây ra, vấn đề đã đủ cấp bách rồi, nhưng nó có thể được giải quyết dễ dàng bằng việc hoàn nguyên an ninh, bằng sự trị liệu tâm lý lành mạnh cho các dân tộc khác nhau, bằng sự phục hồi hồng trần của họ và bằng việc khôi phục tự do, cơ hội, thời gian nhàn rỗi, và trên hết, bằng việc tổ chức những người nam và nữ thiện chí. Nhóm sau này sẽ tự chứng tỏ là sẵn lòng đưa tiến các tiến trình giáo dục cần thiết và, điều quan trọng hơn nhiều, họ sẽ cố gắng truyền đạt cảm hứng tinh thần—điều mà nhân loại đang hết sức cần vào lúc này. Ngày nay có đủ những người nam và nữ thiện chí trên thế giới để hoàn thành điều này nếu có thể tiếp cận họ, khơi cảm hứng cho họ và hỗ trợ họ trong nỗ lực của họ, cả về vật chất lẫn tinh thần.

The situation is far more difficult than a casual analysis would make it seem. The psychological problem involved has a background which is centuries old, which is inherent in the soul of each individual nation and which is potently conditioning the minds of all their peoples today. It is here that our major difficulty lies and it is one which will not easily give way to any effort or to any spiritual endeavour, whether carried out by the organized churches (which show a woeful lack [9] of appreciation of the problem) or by spiritually minded groups and individuals.

Tình hình khó khăn hơn nhiều so với điều một phân tích thoáng qua có thể khiến người ta tưởng. Vấn đề tâm lý liên quan có một bối cảnh đã hàng thế kỷ, vốn cố hữu trong linh hồn của mỗi quốc gia riêng biệt và ngày nay đang tác động mạnh mẽ lên trí tuệ của tất cả dân chúng họ. Chính tại đây khó khăn chính của chúng ta nằm ở đó, và đó là điều sẽ không dễ dàng nhường bước trước bất cứ nỗ lực hay bất cứ cố gắng tinh thần nào, dù được thực hiện bởi các giáo hội có tổ chức, vốn cho thấy sự thiếu sót đáng buồn [9] trong việc đánh giá đúng vấn đề, hay bởi các nhóm và cá nhân có khuynh hướng tinh thần.

The work to be done is so acutely needed and the perils of its non-accomplishment are so appalling that it is necessary to indicate certain major lines of danger and certain national aptitudes which carry a menace to the peace of the world. These problems fall naturally into two categories:

Công việc cần làm đang được cần đến một cách hết sức cấp bách, và những hiểm nguy của việc không hoàn thành nó thì kinh khủng đến mức cần phải chỉ ra một số đường hướng nguy hiểm chính và một số năng khiếu quốc gia mang theo mối đe dọa đối với hòa bình thế giới. Các vấn đề này tự nhiên rơi vào hai loại:

I. The internal, psychological problems of the individual nations.

I. Các vấn đề nội tại, tâm lý của từng quốc gia.

II. Major world problems, such as the relation between nations and business and the forces of labour.

II. Các vấn đề lớn của thế giới, chẳng hạn như mối quan hệ giữa các quốc gia, doanh nghiệp và các mãnh lực lao động.

Before the world can be a safer, sweeter, saner and more beautiful place, all the nations must take stock of themselves and begin to handle their own psychological weaknesses and complexes. Each nation must aim at sound mental health and endeavour to implement sound, psychological objectives. International unity must be attained and this should be based not only upon mutual trust but also upon correct world objectives and true psychological understanding.

Trước khi thế giới có thể trở thành một nơi an toàn hơn, dịu lành hơn, sáng suốt hơn và đẹp đẽ hơn, tất cả các quốc gia phải tự kiểm điểm và bắt đầu xử lý những yếu kém và phức cảm tâm lý của chính mình. Mỗi quốc gia phải nhắm tới sức khỏe trí tuệ lành mạnh và cố gắng thực thi những mục tiêu tâm lý lành mạnh. Sự thống nhất quốc tế phải đạt được, và điều này không chỉ nên dựa trên sự tin cậy lẫn nhau mà còn dựa trên các mục tiêu thế giới đúng đắn và sự thấu hiểu tâm lý chân thật.

Men and women everywhere are already striving towards individual betterment; groups in every nation are similarly motivated; the urge to move forward into greater beauty of expression, of character and of living conditions is the outstanding eternal characteristic of mankind. In the earlier stages of racial history, this urge showed itself in a desire for better material circumstances and surroundings; today, this urge expresses itself in a demand for beauty, leisure and culture; it voices the opportunity to work creatively and passes gradually but inevitably into the stage where right human relations become of prime importance.

Những người nam và nữ ở khắp nơi đã và đang phấn đấu hướng tới sự cải thiện cá nhân; các nhóm trong mọi quốc gia cũng được thúc đẩy tương tự; thôi thúc tiến tới vẻ đẹp lớn hơn trong biểu đạt, trong tính cách và trong điều kiện sống là đặc tính vĩnh cửu nổi bật của nhân loại. Trong những giai đoạn sớm của lịch sử nhân loại, thôi thúc này biểu lộ như một ham muốn về hoàn cảnh và môi trường vật chất tốt hơn; ngày nay, thôi thúc này biểu đạt thành một đòi hỏi về cái đẹp, thời gian nhàn rỗi và văn hóa; nó nói lên cơ hội làm việc một cách sáng tạo và dần dần nhưng tất yếu đi vào giai đoạn nơi các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người trở thành điều quan trọng hàng đầu.

Today a great and unique opportunity faces every nation. Hitherto the problem of psychological integration, of intelligent living, of spiritual growth and of [10] divine revelation has been approached solely from the angle of man, the unit. Owing to the scientific achievements of mankind (as a result of the unfolding human intellect), it is now possible to think in far wider terms and to see humanity in a truer perspective. Our horizon is extending into infinity; our eyes are no longer focussed upon our immediate foreground. The family unit is now recognized in relation to the community, and the community is seen as an integral and effective part of the city, state or nation. Dimly, and as yet ineffectually, we are projecting this same concept into the field of international relations. Thinkers throughout the world are functioning internationally; this is the guarantee of the future because only when men can think in these wider terms will the fusion of all men everywhere become possible, will brotherhood come into being and humanity be a fact in our consciousness.

Ngày nay, một cơ hội lớn lao và độc đáo đang đối diện mỗi quốc gia. Từ trước đến nay, vấn đề tích hợp tâm lý, đời sống thông minh, sự tăng trưởng tinh thần và sự mặc khải [10] thiêng liêng đã được tiếp cận chỉ từ góc độ con người, đơn vị cá nhân. Nhờ các thành tựu khoa học của nhân loại, như kết quả của trí năng con người đang khai mở, hiện nay có thể suy nghĩ theo những phạm vi rộng lớn hơn nhiều và nhìn thấy nhân loại trong một tầm nhìn chân thật hơn. Chân trời của chúng ta đang mở rộng vào vô tận; mắt chúng ta không còn tập trung vào khung cảnh ngay trước mắt. Đơn vị gia đình nay được nhận ra trong quan hệ với cộng đồng, và cộng đồng được nhìn thấy như một phần toàn vẹn và hữu hiệu của thành phố, tiểu bang hay quốc gia. Một cách mờ nhạt và vẫn chưa hữu hiệu, chúng ta đang phóng chiếu cùng quan niệm này vào lĩnh vực quan hệ quốc tế. Các nhà tư tưởng trên khắp thế giới đang hoạt động theo tinh thần quốc tế; đây là bảo chứng của tương lai, bởi chỉ khi con người có thể suy nghĩ trong những phạm vi rộng lớn hơn này thì sự dung hợp của mọi người ở khắp nơi mới trở nên khả hữu, tình huynh đệ mới đi vào hiện hữu, và nhân loại mới trở thành một sự kiện trong tâm thức chúng ta.

Most men today think in terms of their own nation or group and this is their largest concept; they have progressed beyond the stage of their individual physical and mental well-being and are visioning the possibility of adding their quota of usefulness and of stability to the national whole; they are seeking to be cooperative, to understand and to further the good of the community. This is not rare but is descriptive of many thousands in every nation. This spirit and attitude will some day characterize the attitude of nation to nation. At present this is not so, and a very different psychology rules. Nations seek and demand the best for themselves, no matter what the cost to others; they regard this as a right attitude and as characteristic of good citizenship. Nations are coloured by hatreds and prejudices, many of which are as unwarranted today as foul language in a religious meeting. Nations are split and divided within themselves by racial barriers, by party [11] differences and by religious attitudes. This inevitably brings disorder and finally disaster.

Ngày nay đa số con người suy nghĩ theo phạm vi quốc gia hay nhóm của riêng họ, và đây là quan niệm lớn nhất của họ; họ đã tiến vượt khỏi giai đoạn an lạc hồng trần và trí tuệ cá nhân, và đang hình dung khả năng đóng góp phần hữu ích và ổn định của mình vào toàn thể quốc gia; họ đang tìm cách hợp tác, thấu hiểu và thúc đẩy lợi ích của cộng đồng. Điều này không hiếm, mà mô tả nhiều ngàn người trong mỗi quốc gia. Một ngày nào đó tinh thần và thái độ này sẽ đặc trưng cho thái độ của quốc gia đối với quốc gia. Hiện nay điều này không phải như vậy, và một tâm lý rất khác đang cai quản. Các quốc gia tìm kiếm và đòi hỏi điều tốt nhất cho chính mình, bất kể cái giá phải trả cho những quốc gia khác; họ xem điều này như một thái độ đúng đắn và như đặc tính của công dân tốt. Các quốc gia bị nhuộm màu bởi thù hận và thành kiến, nhiều điều trong số đó ngày nay vô căn cứ chẳng khác nào lời lẽ tục tĩu trong một buổi họp tôn giáo. Các quốc gia bị chia cắt và phân rẽ trong chính mình bởi các rào cản chủng tộc, bởi những khác biệt đảng phái [11] và bởi các thái độ tôn giáo. Điều này tất yếu đem lại rối loạn và sau cùng là tai họa.

An intense spirit of nationalism—assertive and boastful—distinguishes the citizens of most countries, particularly in relation to each other. This breeds dislike, distrust and the disruption of right human relations. All nations are guilty of these qualities and attitudes, expressed according to their individual culture and genius. All nations, as all families, have also in them groups or individuals who are recognized sources of trouble to the well-intentioned remainder. There are nations within the international community which are and have been for a long time disrupting agencies.

Một tinh thần dân tộc chủ nghĩa mãnh liệt—quyết đoán và khoe khoang—phân biệt công dân của hầu hết các nước, đặc biệt trong quan hệ với nhau. Điều này sinh ra ác cảm, ngờ vực và sự phá vỡ các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Tất cả các quốc gia đều có lỗi về những phẩm tính và thái độ này, được biểu đạt tùy theo văn hóa và thiên tài riêng của họ. Tất cả các quốc gia, cũng như mọi gia đình, cũng có trong mình những nhóm hay cá nhân được nhận ra là nguồn gây rắc rối cho phần còn lại có thiện ý. Có những quốc gia trong cộng đồng quốc tế đang là, và từ lâu đã là, các tác nhân gây đổ vỡ.

The problem of the interplay and interaction of the nations is largely a psychological one. The soul of a nation is potent in its effect. The national thoughtform (built up over the centuries by the thinking, the goals and the ambitions of a nation) constitutes its ideal objective and is most effective in conditioning the people. A Pole, a Frenchman, an American, a Hindu, a Britisher or a German are easily recognized, no matter where they may be. This recognition is not based solely upon appearance, intonation or habits but primarily upon the expressed mental attitude, the sense of relativity and a general national assertiveness. These indications express reaction to the particular national thoughtform under which the man has been raised. If this reaction makes him a good cooperative citizen within the national boundaries, that is good and to be desired. If it makes him assertive, arrogant, critical of the nationals of other countries and separative in his thinking, he is then contributing to world disunity and, en masse, to international disruption. This menaces the peace of the world. The problem, therefore, becomes one in which all people share. Nations can be (and often are) anti-social, [12] and all nations have within them these anti-social elements.

Vấn đề của sự tương tác và ảnh hưởng qua lại giữa các quốc gia phần lớn là một vấn đề tâm lý. Linh hồn của một quốc gia có hiệu quả mạnh mẽ. Hình tư tưởng quốc gia, được xây dựng qua nhiều thế kỷ bởi tư tưởng, mục tiêu và tham vọng của một quốc gia, cấu thành mục tiêu lý tưởng của quốc gia ấy và tác động rất hữu hiệu lên dân chúng. Một người Ba Lan, một người Pháp, một người Mỹ, một người Ấn, một người Anh hay một người Đức đều dễ dàng được nhận ra, bất kể họ ở đâu. Sự nhận ra này không chỉ dựa trên vẻ ngoài, ngữ điệu hay thói quen, mà trước hết dựa trên thái độ trí tuệ được biểu đạt, ý thức về tính tương đối và một sự quyết đoán quốc gia tổng quát. Những dấu hiệu này biểu đạt phản ứng đối với hình tư tưởng quốc gia đặc thù mà dưới đó con người đã được nuôi dưỡng. Nếu phản ứng này khiến y trở thành một công dân hợp tác tốt trong các biên giới quốc gia, thì điều đó tốt đẹp và đáng mong muốn. Nếu nó khiến y trở nên quyết đoán, kiêu ngạo, phê phán công dân của các nước khác và chia rẽ trong tư tưởng, thì bấy giờ y đang góp phần vào sự bất thống nhất thế giới và, xét theo khối đông, vào sự đổ vỡ quốc tế. Điều này đe dọa hòa bình thế giới. Do đó, vấn đề trở thành một vấn đề mà mọi người đều chia sẻ. Các quốc gia có thể, và thường là, chống xã hội, [12] và tất cả các quốc gia đều có trong mình những yếu tố chống xã hội này.

Self-interest distinguishes most men at this time, with attendant weaknesses. Yet, in all countries, there are those who have outgrown these self-centred attitudes and there are many who are more interested in civic and the national good than in themselves. A few, a very few in relation to the mass of men, are internationally minded and preoccupied with the welfare of humanity, as a whole. They eagerly desire recognition of the one world, of the one humanity.

Sự tự lợi phân biệt đa số con người vào lúc này, cùng với những yếu kém đi kèm. Tuy nhiên, trong mọi quốc gia, có những người đã vượt qua các thái độ tập trung vào bản thân này, và có nhiều người quan tâm đến lợi ích công dân và quốc gia hơn chính bản thân họ. Một số ít, rất ít so với khối đông con người, có trí hướng quốc tế và bận tâm đến phúc lợi của nhân loại như một toàn thể. Họ tha thiết mong muốn sự nhận ra một thế giới duy nhất, một nhân loại duy nhất.

The stage of national selfishness and the fixed determination to preserve national integrity—interpreted often in terms of boundaries and the expansion of trade—must gradually fade out. The nations must pass eventually to a more beneficent realization and come to the point where they regard their national cultures, their national resources and their ability to serve mankind as the contributions which they must make to the good of the whole. Emphasis upon worldly possessions or extensive territory is no sign of maturity; fighting to preserve these or to expand them is a sign of adolescent immaturity. Mankind is now growing up; only now is humanity demonstrating a wider sense of responsibility, of ability to handle its problems or to think in larger terms. The late world war was symptomatic of immaturity, of adolescent thinking, of uncontrolled childish emotions and of a demand—by anti-social nations—for that which does not belong to them. Like children, they cry for “more”.

Giai đoạn ích kỷ quốc gia và quyết tâm cố định nhằm bảo tồn sự toàn vẹn quốc gia—thường được diễn giải theo biên giới và sự mở rộng thương mại—phải dần dần phai tàn. Cuối cùng, các quốc gia phải đi đến một nhận thức hữu ích hơn và đạt tới điểm họ xem các nền văn hóa quốc gia, các tài nguyên quốc gia và khả năng phụng sự nhân loại của mình là những đóng góp mà họ phải thực hiện cho lợi ích của toàn thể. Việc nhấn mạnh vào tài sản thế gian hay lãnh thổ rộng lớn không phải là dấu hiệu của sự trưởng thành; chiến đấu để bảo tồn hay mở rộng chúng là dấu hiệu của sự non nớt tuổi thiếu niên. Nhân loại hiện nay đang lớn lên; chỉ hiện nay nhân loại mới đang chứng tỏ một ý thức trách nhiệm rộng lớn hơn, một khả năng xử lý các vấn đề của mình hay suy nghĩ theo những phạm vi lớn hơn. Cuộc chiến tranh thế giới vừa qua là triệu chứng của sự non nớt, của tư tưởng thiếu niên, của những cảm xúc trẻ con không được kiểm soát và của một đòi hỏi—từ các quốc gia chống xã hội—đối với điều không thuộc về họ. Như trẻ nhỏ, họ kêu đòi “thêm nữa”.

The intense isolationism and the “hands off” policy of certain groups in the United States, the demand for a white Australia or South Africa, the cry of “America for the Americans”, or British Imperialism, the shouting of France for recognition, are other instances. They all indicate inability to think in larger terms; they are an [13] expression of world irresponsibility; they indicate also the childishness of the race which fails to grasp the extent of the whole of which each nation is a part. War and the constant demand for territorial boundaries, based on ancient history, the holding on to material, national possessions at the expense of other people will seem some day to a more mature race of men like nursery quarrels over some favourite toy. The challenging cry of “This is mine” will some day no longer be heard. In the meantime, this aggressive, immature spirit culminated in the war of 1914-1945. A thousand years hence, history will regard this as the acme of childish selfishness, started by grasping children who could not be stopped in their aggressive ways because the other nations were still too childish to take strong action when the first indications of the war were seen.

Chủ nghĩa cô lập mãnh liệt và chính sách “đừng can thiệp” của một số nhóm nhất định tại Hoa Kỳ, yêu sách về một nước Úc hay Nam Phi da trắng, tiếng kêu “Nước Mỹ cho người Mỹ”, hay chủ nghĩa Đế quốc Anh, tiếng kêu của nước Pháp đòi được công nhận, là những ví dụ khác. Tất cả đều cho thấy sự bất lực trong việc suy nghĩ theo những phạm vi rộng lớn hơn; chúng là một [13] biểu hiện của sự vô trách nhiệm thế giới; chúng cũng cho thấy tính trẻ con của nhân loại, vốn không nắm bắt được tầm mức của toàn thể mà mỗi quốc gia là một phần. Chiến tranh và sự đòi hỏi liên tục về biên giới lãnh thổ, dựa trên lịch sử xa xưa, việc bám giữ các tài sản vật chất, quốc gia, với cái giá mà các dân tộc khác phải trả, một ngày nào đó sẽ hiện ra trước một nhân loại trưởng thành hơn như những cuộc cãi vã trong nhà trẻ về một món đồ chơi yêu thích nào đó. Tiếng kêu thách thức “Cái này là của tôi” một ngày nào đó sẽ không còn được nghe nữa. Trong khi đó, tinh thần hung hăng, non nớt này đã đạt đỉnh trong cuộc chiến tranh 1914-1945. Một ngàn năm sau, lịch sử sẽ xem điều này như tột đỉnh của sự ích kỷ trẻ con, khởi đầu bởi những đứa trẻ tham lam không thể bị ngăn lại trong những đường lối hung hăng của chúng, bởi các quốc gia khác vẫn còn quá trẻ con để có hành động mạnh mẽ khi những dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh được thấy.

The race faces a new crisis of opportunity wherein new values can be seen as important, wherein the establishing of right human relations will be deemed desirable, not only from the idealistic point of view but also from the purely selfish angle. Some day the principles of cooperation and of sharing will be substituted for those of possessive greed and competition. This is the inevitable next step ahead for humanity—one for which the entire evolutionary process has prepared mankind.

Nhân loại đối diện một khủng hoảng cơ hội mới, trong đó những giá trị mới có thể được nhìn thấy là quan trọng, trong đó việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người sẽ được xem là đáng mong muốn, không chỉ từ quan điểm lý tưởng mà còn từ góc độ hoàn toàn ích kỷ. Một ngày nào đó, các nguyên lý hợp tác và chia sẻ sẽ thay thế cho các nguyên lý tham lam chiếm hữu và cạnh tranh. Đây là bước kế tiếp tất yếu phía trước cho nhân loại—bước mà toàn bộ tiến trình tiến hoá đã chuẩn bị cho nhân loại.

It was selfishness and self-interest which prevented several nations from siding with the Forces of Light; they preserved a selfish neutrality and lengthened the war by years. Is it not possible that when Germany first marched into Poland and when France and Great Britain consequently declared war upon Germany, if the entire civilized world of nations (without exception) had likewise declared war and banded together for the defeat of the aggressor, the war would not have lasted as long as it did? Interior politics, international jealousies, [14] ancient distrusts and hatreds, fear and a refusal to recognize the facts produced disunity. Had all nations seen clearly and renounced their individual selfishness in 1939, the war would have been over much earlier. Had all the nations swung into action when Japan first went into Manchuria or Italy into Ethiopia, the war which has devastated the entire planet would not have been possible. To that extent, there is no nation without blame.

Chính sự ích kỷ và tự lợi đã ngăn cản nhiều quốc gia đứng về phía các Mãnh Lực Ánh Sáng; họ giữ một thái độ trung lập ích kỷ và kéo dài chiến tranh thêm nhiều năm. Chẳng phải có thể là khi Đức lần đầu tiến vào Ba Lan, và khi Pháp cùng Anh do đó tuyên chiến với Đức, nếu toàn bộ thế giới văn minh của các quốc gia, không ngoại lệ, cũng tuyên chiến và liên kết lại để đánh bại kẻ xâm lược, thì cuộc chiến đã không kéo dài như nó đã kéo dài sao? Chính trị nội bộ, ganh tị quốc tế, [14] những ngờ vực và thù hận cổ xưa, sợ hãi và sự từ chối nhìn nhận sự thật đã tạo ra bất thống nhất. Nếu tất cả các quốc gia đã thấy rõ và từ bỏ sự ích kỷ riêng của mình vào năm 1939, chiến tranh hẳn đã kết thúc sớm hơn nhiều. Nếu tất cả các quốc gia đã hành động khi Nhật Bản lần đầu tiến vào Mãn Châu hay Ý tiến vào Ethiopia, cuộc chiến đã tàn phá toàn bộ hành tinh hẳn đã không thể xảy ra. Đến mức ấy, không có quốc gia nào là không đáng trách.

It is needful to make this clear so that there may be straight thinking as we face the world of today and begin to take the steps which will, in due course of time, lead to world security. This period should be faced by every nation with a sense of individual guilt and of innate psychological failure. It is hard to admit that none of the nations (including our own) has clean hands, and that all are guilty of greed and theft, of separativeness, of pride and prejudice, as well as national and racial hatreds. All nations have much interior housecleaning to do and this they must carry forward along with their outer efforts to bring about a better and more habitable world. It must be a world consciousness, motivated by the idea of the general good, one in which higher values than individual and national gain are emphasized and one in which people are trained in right national citizenship upon the one hand and on the other in the responsibility for world citizenship.

Cần phải làm rõ điều này để có thể có tư tưởng ngay thẳng khi chúng ta đối diện thế giới ngày nay và bắt đầu thực hiện những bước, theo đúng tiến trình thời gian, sẽ dẫn đến an ninh thế giới. Giai đoạn này nên được mỗi quốc gia đối diện với ý thức về tội lỗi riêng và về sự thất bại tâm lý bẩm sinh. Thật khó thừa nhận rằng không quốc gia nào, kể cả quốc gia của chúng ta, có đôi tay sạch, và rằng tất cả đều có lỗi về tham lam và trộm đoạt, về sự chia rẽ, về kiêu hãnh và thành kiến, cũng như về các thù hận quốc gia và chủng tộc. Tất cả các quốc gia có nhiều việc thanh lọc nội bộ phải làm, và họ phải đưa tiến điều này cùng với các nỗ lực bên ngoài nhằm đem lại một thế giới tốt đẹp hơn và đáng sống hơn. Đó phải là một tâm thức thế giới, được thúc đẩy bởi ý tưởng về lợi ích chung, một thế giới trong đó những giá trị cao hơn lợi ích cá nhân và quốc gia được nhấn mạnh, và trong đó con người được huấn luyện về quyền công dân quốc gia đúng đắn ở một mặt, và ở mặt kia, về trách nhiệm đối với quyền công dân thế giới.

Is this too idealistic a picture? The guarantee of its possibility lies in the fact that thousands today are thinking along these idealistic lines; thousands are occupied with planning a better world and thousands are talking about the possibility. All ideas which emanate from the divine in man and nature eventually become ideals (even though somewhat distorted in the process) and these ideals finally become the governing principles [15] of the masses. This is the true sequence of the historical process.

Bức tranh này có quá lý tưởng chăng? Bảo chứng cho khả năng của nó nằm trong sự kiện rằng ngày nay hàng ngàn người đang suy nghĩ theo những đường hướng lý tưởng này; hàng ngàn người đang bận rộn với việc hoạch định một thế giới tốt đẹp hơn, và hàng ngàn người đang nói về khả năng ấy. Tất cả các ý tưởng xuất phát từ điều thiêng liêng trong con người và trong thiên nhiên cuối cùng trở thành các lý tưởng, dù có phần bị bóp méo trong tiến trình, và những lý tưởng này sau cùng trở thành các nguyên lý chi phối [15] quần chúng. Đây là trình tự chân thật của tiến trình lịch sử.

It might be of value to study briefly some of the psychological adjustments which the nations must make within their own borders, because reform begins at home. Then let us look at the world picture and gain a new vision. There is a scientific basis for the old statement in the Bible that “where there is no vision, the people perish”.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu nghiên cứu ngắn gọn một số điều chỉnh tâm lý mà các quốc gia phải thực hiện trong phạm vi biên giới của chính mình, bởi sự cải cách bắt đầu từ trong nhà. Rồi chúng ta hãy nhìn vào bức tranh thế giới và đạt được một tầm nhìn mới. Có một nền tảng khoa học cho lời tuyên bố xưa trong Kinh Thánh rằng “nơi nào không có tầm nhìn, dân chúng sẽ diệt vong”.

History indicates a long past of battle, of war, of changing frontiers, of the discovery and prompt annexation of new territory, involving the subjugation of the original inhabitants, sometimes greatly to their benefit but always inexcusable. The spirit of nationalism and its growth is the background of modern history as taught in our schools, feeding national pride, engendering national enmities, racial hatreds and jealousies. History concerns itself with the lines of demarcation between countries and with the type of rule each country developed. These lines of demarcation are fiercely held and passports, as instituted this century, indicate the crystallization of the idea. History portrays the fierce determination of every nation to preserve its boundaries at any cost, to keep its culture and civilization intact, to add to them when possible and to share nothing with any other nation except for commercial profit, for which international legislation is provided. Yet all the time humanity is one humanity and the products of the earth belong to all. This wrong attitude has not only fostered the sense of separateness but has led to the exploitation of the weaker groups by the stronger and the wrecking of the economic life of the masses by a mere handful of powerful groups.

Lịch sử cho thấy một quá khứ lâu dài của chiến trận, chiến tranh, biên giới thay đổi, việc khám phá và nhanh chóng sáp nhập lãnh thổ mới, bao hàm sự khuất phục các cư dân nguyên thủy, đôi khi đem lại lợi ích lớn cho họ nhưng luôn luôn không thể biện minh. Tinh thần dân tộc chủ nghĩa và sự tăng trưởng của nó là bối cảnh của lịch sử hiện đại như được dạy trong các trường học của chúng ta, nuôi dưỡng niềm kiêu hãnh quốc gia, làm phát sinh thù địch quốc gia, thù hận và ganh tị chủng tộc. Lịch sử quan tâm đến các đường phân giới giữa các nước và đến kiểu cai trị mà mỗi nước đã phát triển. Những đường phân giới này được giữ gìn một cách dữ dội, và hộ chiếu, như được thiết lập trong thế kỷ này, cho thấy sự kết tinh của ý tưởng ấy. Lịch sử mô tả quyết tâm dữ dội của mỗi quốc gia nhằm bảo tồn biên giới của mình bằng bất cứ giá nào, giữ nguyên vẹn văn hóa và văn minh của mình, thêm vào chúng khi có thể, và không chia sẻ điều gì với bất cứ quốc gia nào khác ngoại trừ vì lợi nhuận thương mại, điều mà luật pháp quốc tế đã được cung cấp để phục vụ. Tuy nhiên, trong mọi lúc nhân loại là một nhân loại duy nhất và sản phẩm của trái đất thuộc về tất cả. Thái độ sai lầm này không chỉ nuôi dưỡng ý thức chia rẽ mà còn dẫn đến việc các nhóm mạnh hơn bóc lột các nhóm yếu hơn và phá hoại đời sống kinh tế của quần chúng bởi chỉ một nhúm nhỏ các nhóm quyền lực.

Ancient habits of mass thinking and of mass reaction are difficult to overcome. It is here that the main battleground of the world is found. Public opinion will [16] have to be re-educated. The nations are reverting to the deep-seated modes of behaviour and thought which have characterized them for generations. We need, in the general interest, to face up to our past, to recognize the new trends, to renounce the old ways of thinking and acting if humanity is not to descend to greater depths than in the last war.

Những thói quen cổ xưa của tư tưởng quần chúng và phản ứng quần chúng rất khó vượt qua. Chính tại đây chiến trường chính của thế giới được tìm thấy. Công luận sẽ [16] phải được giáo dục lại. Các quốc gia đang quay trở lại những lối hành xử và tư tưởng ăn sâu vốn đã đặc trưng cho họ qua nhiều thế hệ. Vì lợi ích chung, chúng ta cần đối diện quá khứ của mình, nhận ra những khuynh hướng mới, từ bỏ những lối suy nghĩ và hành động cũ, nếu nhân loại không muốn sa xuống những vực sâu lớn hơn trong cuộc chiến vừa qua.

The voices of the old order and the demand of the reactionary elements can be heard in every country, plus the demands of certain radical groups. Because they have been so long established, the voices of the conservatives carry weight and because humanity is tired, almost any action will be taken to ensure a rapid return to the normalcy, demanded by the conservatives, unless those who have the new vision act with promptness and with wisdom—and of this there is too little indication at this time.

Tiếng nói của trật tự cũ và yêu sách của các yếu tố phản động có thể được nghe thấy trong mọi quốc gia, cộng thêm yêu sách của một số nhóm cấp tiến nhất định. Bởi chúng đã được thiết lập quá lâu, tiếng nói của những người bảo thủ có sức nặng, và bởi nhân loại đã mệt mỏi, hầu như bất cứ hành động nào cũng sẽ được thực hiện để bảo đảm sự trở lại nhanh chóng với trạng thái bình thường mà những người bảo thủ đòi hỏi, trừ khi những ai có tầm nhìn mới hành động nhanh chóng và minh triết—và hiện nay có quá ít dấu hiệu về điều này.

FRANCE

NƯỚC PHÁP

A clamour is arising from France that her ancient glory be recognized, that her ancient task of representing the major, civilizing influence in old Europe be remembered, and that France be safeguarded and protected. She demands that nothing be done without consulting her. Yet for decades, France has given to the world a picture of great disunity and of political corruption and graft; she has always evidenced a deep love and desire for material gratification, priding herself on her realism, but not on any spiritual idealism, and substituting the brilliance of the intellect and keen scientific perception for the subjective realities. Has France learned from her collapse in the summer of 1940 that the values of the spirit must take the place of those which have hitherto motivated her? Does she realize that she has to regain the respect of the world—a respect which she lost when she surrendered and sought collaboration, [17] thus proving herself innately weaker than those much smaller nations which fought until forced to accept defeat? Can France emerge from this time of trial, purified and able to demonstrate a new capacity to think in terms of unselfish international relations and not solely in terms of the material civilization which she demonstrated so wonderfully for so many centuries? She can and eventually she will. Her brilliant intellect (when turned to the study of the things of the spirit) can outstrip the researchings of lesser minds; that clear perception and ability to convey thoughts in concise and crystal clear terms will be utilized to bring home to many the eternal verities. When France finds her spiritual soul and not just her intellectual soul, she will prove to be the medium through which will come revelation as to the nature of the soul of man. France has in the past revealed the nature of the human soul in its stage of intensest individualism and selfishness. Through fire and pain, France will later demonstrate the qualities of the spirit of man. The accent upon the material values and the intense emphasis upon the importance of France to the world, instead of the importance of the international attitude to France in terms of unselfish human relations, summarizes the psychological problem with which France is at this time faced and which certain of her finest thinkers realize. Can France learn to think in terms of and for those who lie beyond her boundaries, or will she continue to think in terms of France? These are the questions she must answer.

Một tiếng kêu đang dấy lên từ nước Pháp rằng vinh quang xưa của nàng phải được thừa nhận, rằng nhiệm vụ xưa của nàng trong việc đại diện cho ảnh hưởng văn minh hóa chủ yếu tại châu Âu cũ phải được ghi nhớ, và rằng nước Pháp phải được che chở và bảo vệ. Nàng đòi hỏi không được làm điều gì mà không tham khảo ý kiến nàng. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ, nước Pháp đã phơi bày trước thế giới một bức tranh về sự chia rẽ lớn lao, về tham nhũng chính trị và hối lộ; nàng luôn biểu lộ một tình yêu sâu đậm và một dục vọng mạnh mẽ đối với sự thỏa mãn vật chất, tự hào về chủ nghĩa hiện thực của mình, nhưng không tự hào về bất kỳ chủ nghĩa lý tưởng tinh thần nào, và thay thế các thực tại nội tại bằng sự rực rỡ của trí năng và tri giác khoa học sắc bén. Nước Pháp đã học được từ sự sụp đổ của mình vào mùa hè năm 1940 rằng các giá trị của tinh thần phải thay thế những gì từ trước đến nay đã thúc đẩy nàng chăng? Nàng có nhận ra rằng nàng phải giành lại sự kính trọng của thế giới — một sự kính trọng mà nàng đã đánh mất khi đầu hàng và tìm kiếm sự cộng tác, [17] qua đó chứng tỏ mình vốn yếu hơn những quốc gia nhỏ bé hơn nhiều, vốn đã chiến đấu cho đến khi buộc phải chấp nhận thất bại chăng? Nước Pháp có thể bước ra khỏi thời kỳ thử thách này, được thanh luyện và có khả năng biểu lộ một năng lực mới để suy nghĩ theo những mối quan hệ quốc tế vô vị kỷ, chứ không chỉ theo nền văn minh vật chất mà nàng đã biểu lộ một cách kỳ diệu trong suốt nhiều thế kỷ chăng? Nàng có thể và cuối cùng nàng sẽ làm được. Trí năng rực rỡ của nàng, khi được hướng vào việc nghiên cứu những điều thuộc về tinh thần, có thể vượt xa những cuộc tìm tòi của các trí tuệ kém hơn; tri giác sáng rõ ấy và khả năng truyền đạt tư tưởng bằng những thuật ngữ súc tích, trong sáng như pha lê sẽ được dùng để đưa các chân lý vĩnh cửu thấm sâu vào nhiều người. Khi nước Pháp tìm thấy linh hồn tinh thần của mình, chứ không chỉ linh hồn trí năng của mình, nàng sẽ chứng tỏ là trung gian qua đó sự mặc khải về bản chất linh hồn con người sẽ đến. Trong quá khứ, nước Pháp đã mặc khải bản chất của linh hồn nhân loại ở giai đoạn chủ nghĩa cá nhân và sự ích kỷ mãnh liệt nhất của nó. Qua lửa và đau khổ, về sau nước Pháp sẽ biểu lộ các phẩm tính của tinh thần con người. Sự nhấn mạnh vào các giá trị vật chất và sự nhấn mạnh mãnh liệt vào tầm quan trọng của nước Pháp đối với thế giới, thay vì tầm quan trọng của thái độ quốc tế đối với nước Pháp theo những mối quan hệ nhân loại vô vị kỷ, tóm lược vấn đề tâm lý mà nước Pháp hiện đang đối diện và điều mà một số nhà tư tưởng ưu tú nhất của nàng nhận ra. Nước Pháp có thể học cách suy nghĩ theo và vì những người ở ngoài biên giới của nàng không, hay nàng sẽ tiếp tục suy nghĩ theo nước Pháp? Đó là những câu hỏi nàng phải trả lời.

GERMANY

ĐỨC

Of the faults of the German nation, there is little need to speak; they have been made painfully clear to the entire world. The Germany of the mystical poets and writers of the Middle Ages will again arise—the Germany of the musical festivals, the Germany which [18] has given the world the best of the music of all time, the Germany of Schiller and of Goethe and the Germany of the philosophers. The major fault of the German people is an extreme negativity which makes them the most easily “conditioned” people of all time, plus an ability to accept dictatorship and propaganda without any questioning or revolt and with a deep sense of inferiority. The German people are consequently easily exploited, easily convinced by those who can shout and threaten; they are easily regimented.

Về những lỗi lầm của dân tộc Đức, không cần nói nhiều; chúng đã được phơi bày một cách đau đớn rõ ràng trước toàn thế giới. Nước Đức của các thi sĩ và văn sĩ thần bí thời Trung Cổ sẽ lại trỗi dậy — nước Đức của các lễ hội âm nhạc, nước Đức đã [18] trao cho thế giới những gì ưu tú nhất trong âm nhạc của mọi thời đại, nước Đức của Schiller và Goethe, và nước Đức của các triết gia. Lỗi lầm chủ yếu của dân tộc Đức là một tính tiêu cực cực đoan, khiến họ trở thành dân tộc dễ bị “tác động” nhất mọi thời đại, cộng thêm khả năng chấp nhận độc tài và tuyên truyền mà không chất vấn hay nổi dậy, cùng với một mặc cảm tự ti sâu sắc. Do đó, dân tộc Đức dễ bị khai thác, dễ bị thuyết phục bởi những kẻ có thể la hét và đe dọa; họ dễ bị quân luật hóa.

This negativity must be overcome and attention must be paid to the careful training of the individual to think and act for himself and to set great store by his own ideas, and all in a spirit of goodwill. This should be the keynote of all future education of the German people. Given that and given right idealistic propaganda, the German people can develop right habits of thought as easily as they have been led into evil ways and into separative thinking. The regimentation of the German people must not be stopped for a long time to come but its motivation must be completely altered. Their main psychological problem is to recognize their relation to all other peoples on equal terms. The major trouble facing the United Nations will be to find the strong and good leader who can enforce that regimentation in a spirit of understanding and goodwill until such time as it is no longer needed and German men and women can think for themselves, and not in response to the propaganda of a group or a military caste. The responsibility of the Allies is great. Will they take advantage of the responsiveness of the German people to propaganda and see that it is properly and spiritually exploited? Will they see that the educational institutions of that unhappy land are placed in the hands of those with a vision of the future, who have a firm determination to train the rising generation to know [19] themselves as men and not as supermen? Can they instil into the consciousness of the children of today and of those who will yet be born, the significance and the importance of right human relations? Can they then continue this educational process for a long enough time? Here lies the test of the true intentions of the United Nations. The spiritual potentialities of the German people must not be forgotten. We must look forward towards that which they can be trained to become. Practically speaking, they can more easily be changed under right methods of teaching and conditioning than any other nation in Europe. Germany still expresses the herd consciousness. This must be transmuted into group consciousness—the consciousness of the free individual who collaborates with other men of goodwill for the benefit of the whole.

Tính tiêu cực này phải được vượt qua, và cần chú ý đến việc huấn luyện cẩn trọng cá nhân để suy nghĩ và hành động cho chính mình, cũng như coi trọng các ý tưởng của chính mình, tất cả trong tinh thần thiện chí. Đây phải là chủ âm của mọi nền giáo dục tương lai dành cho dân tộc Đức. Nếu có điều đó và có sự tuyên truyền lý tưởng đúng đắn, dân tộc Đức có thể phát triển các thói quen tư tưởng đúng đắn dễ dàng như họ đã từng bị dẫn vào những đường lối xấu và vào lối suy nghĩ chia rẽ. Sự quân luật hóa dân tộc Đức không được chấm dứt trong một thời gian dài sắp tới, nhưng động cơ của nó phải được thay đổi hoàn toàn. Vấn đề tâm lý chính của họ là nhận ra mối quan hệ của họ với tất cả các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng. Khó khăn chủ yếu mà Liên Hiệp Quốc phải đối diện sẽ là tìm ra nhà lãnh đạo mạnh mẽ và thiện lành, người có thể thực thi sự quân luật hóa đó trong tinh thần thấu hiểu và thiện chí cho đến khi nó không còn cần thiết nữa, và những người nam và nữ Đức có thể tự suy nghĩ, chứ không đáp ứng với tuyên truyền của một nhóm hay một đẳng cấp quân sự. Trách nhiệm của Đồng Minh thật lớn lao. Họ có tận dụng tính đáp ứng của dân tộc Đức đối với tuyên truyền và bảo đảm rằng nó được khai thác đúng đắn và tinh thần không? Họ có bảo đảm rằng các cơ sở giáo dục của vùng đất bất hạnh ấy được đặt vào tay những người có tầm nhìn về tương lai, những người có quyết tâm vững chắc huấn luyện thế hệ đang lớn lên biết [19] mình là con người chứ không phải siêu nhân không? Họ có thể gieo vào tâm thức của trẻ em hôm nay và của những người sẽ còn được sinh ra thâm nghĩa và tầm quan trọng của các mối quan hệ nhân loại đúng đắn không? Rồi họ có thể tiếp tục tiến trình giáo dục này trong một thời gian đủ dài không? Chính trong điều này có sự thử thách các ý định chân thật của Liên Hiệp Quốc. Không được quên các tiềm năng tinh thần của dân tộc Đức. Chúng ta phải hướng về phía trước, về điều mà họ có thể được huấn luyện để trở thành. Nói một cách thực tiễn, dưới các phương pháp giảng dạy và tác động đúng đắn, họ có thể được thay đổi dễ dàng hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở châu Âu. Nước Đức vẫn còn biểu lộ tâm thức bầy đàn. Điều này phải được chuyển hoá thành tâm thức nhóm — tâm thức của cá nhân tự do, cộng tác với những người thiện chí khác vì lợi ích của toàn thể.

GREAT BRITAIN

ĐẠI ANH

Great Britain has been a great and imperialistic power. Her acquisitive spirit, her tenacity and the firmness of her political manoeuvres in the past have warranted this charge. She has played “power politics” and has become expert in balancing one nation against another nation in order to preserve the status quo and the integrity of the British Isles. She has wrought with diligence for a stability among the nations which will enable her to function smoothly and attain her ends. She has been accused of an intense commercialism and the phrase “a nation of shop keepers” has been applied to her by other nations. The British are frequently disliked by other peoples; their aloof hauteur, their national pride and their attitude of owning the world alienates many. Great Britain carries the sense of caste into all her international relations just as the class distinction system has controlled her internal relationships for ages. These accusations are all based on truth and the enemies [20] of Great Britain can bring due cause to the judgment seat. The British, as a whole, have been reactionary, over-cautious and conservative, slow to move, and apt to be satisfied with existing conditions, particularly if those conditions are strictly British. All these characteristics have been the cause of extreme irritation to other people, particularly the nation which emerged from Britain, the United States. This is one side of the picture. But the British are not anti-social; they have led the way in welfare reforms, instituting such measures as the old-age pension system long before other nations did so. They are deeply paternalistic in their handling of smaller and less developed nations and have really helped them. Being conservative, it is hard for them to know when to withdraw that paternal help. The motto of the House of Wales is: “I serve”. The innate tendency of the British race is to serve the nations and the races which are gathered together under the Union Jack. It must be remembered that since the beginning of the 20th Century, great changes have taken place in the thinking of the English people. Old things have passed away; the caste system with its aloofness, its separativeness and its paternalism is rapidly disappearing as the war and labour emphasize essential equality. Great Britain seeks no more territory; she is now a commonwealth of entirely independent nations.

Đại Anh đã từng là một cường quốc vĩ đại và đế quốc chủ nghĩa. Tinh thần chiếm hữu của nàng, sự bền bỉ của nàng và sự cứng rắn trong các mưu lược chính trị của nàng trong quá khứ đã biện minh cho lời cáo buộc này. Nàng đã chơi “chính trị quyền lực” và đã trở nên lão luyện trong việc cân bằng quốc gia này với quốc gia khác để duy trì hiện trạng và sự toàn vẹn của Quần đảo Anh. Nàng đã làm việc chuyên cần để tạo nên một sự ổn định giữa các quốc gia, điều sẽ giúp nàng vận hành trôi chảy và đạt được các mục tiêu của mình. Nàng đã bị cáo buộc là có tính thương mại mãnh liệt, và cụm từ “một quốc gia của những chủ tiệm” đã được các quốc gia khác áp dụng cho nàng. Người Anh thường bị các dân tộc khác không ưa; vẻ cao ngạo xa cách, niềm kiêu hãnh dân tộc và thái độ như thể sở hữu thế giới của họ làm nhiều người xa lánh. Đại Anh mang ý thức đẳng cấp vào mọi quan hệ quốc tế của nàng, cũng như hệ thống phân biệt giai cấp đã kiểm soát các mối quan hệ nội bộ của nàng trong nhiều thời đại. Tất cả những lời cáo buộc này đều dựa trên sự thật, và các kẻ thù [20] của Đại Anh có thể đưa ra lý do chính đáng trước tòa phán xét. Người Anh, xét như một toàn thể, đã mang tính phản động, quá thận trọng và bảo thủ, chậm hành động, và dễ hài lòng với các điều kiện hiện hữu, đặc biệt nếu những điều kiện ấy thuần túy Anh quốc. Tất cả những đặc tính này đã là nguyên nhân gây khó chịu cực độ cho các dân tộc khác, đặc biệt là quốc gia đã phát sinh từ Anh quốc, Hoa Kỳ. Đây là một mặt của bức tranh. Nhưng người Anh không chống xã hội; họ đã dẫn đầu trong các cải cách phúc lợi, thiết lập những biện pháp như hệ thống lương hưu tuổi già từ lâu trước khi các quốc gia khác làm như vậy. Họ mang tính gia trưởng sâu sắc trong cách xử lý các quốc gia nhỏ hơn và kém phát triển hơn, và thật sự đã giúp đỡ các quốc gia ấy. Vì bảo thủ, họ khó biết khi nào phải rút lại sự trợ giúp gia trưởng đó. Khẩu hiệu của Nhà Wales là: “Tôi phụng sự”. Khuynh hướng bẩm sinh của chủng tộc Anh là phụng sự các quốc gia và các nhân loại được quy tụ dưới lá cờ Union Jack. Cần nhớ rằng từ đầu thế kỷ 20, những thay đổi lớn lao đã diễn ra trong tư tưởng của người Anh. Những điều cũ đã qua đi; hệ thống đẳng cấp với sự xa cách, tính chia rẽ và chủ nghĩa gia trưởng của nó đang nhanh chóng biến mất khi chiến tranh và lao động nhấn mạnh sự bình đẳng thiết yếu. Đại Anh không còn tìm kiếm thêm lãnh thổ; nàng hiện là một khối thịnh vượng chung gồm các quốc gia hoàn toàn độc lập.

The major psychological problem before the British people is to gain the confidence of the world and lead other nations to recognize the existent justice and the good intentions of their thinking and planning. This she had lost during the past few centuries but is now slowly regaining. Her attitude to world affairs today is internationally based; she is desirous of the good of the whole and is prepared to make sacrifices in the interests of the whole; her intentions are just, and her will is towards cooperation; her citizens are brave and [21] sound in their thinking and are disturbed at what the history of the past has brought to them of dislike. If the emergence from a shy and proud reticence were given free play, Great Britain and the other nations of the world could walk the way of life together with little disagreement.

Vấn đề tâm lý chủ yếu trước dân tộc Anh là giành được lòng tin của thế giới và dẫn các quốc gia khác nhận ra công lý hiện hữu cùng các ý định tốt đẹp trong tư tưởng và hoạch định của họ. Nàng đã đánh mất điều này trong vài thế kỷ qua, nhưng hiện đang chậm rãi giành lại. Thái độ của nàng đối với các vấn đề thế giới ngày nay đặt trên nền tảng quốc tế; nàng mong muốn điều tốt lành cho toàn thể và sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của toàn thể; các ý định của nàng là công chính, và ý chí của nàng hướng tới sự hợp tác; các công dân của nàng can đảm và [21] lành mạnh trong tư tưởng, và họ bối rối trước điều mà lịch sử quá khứ đã đem đến cho họ dưới hình thức sự không ưa. Nếu sự bước ra khỏi một vẻ kín đáo rụt rè và kiêu hãnh được tự do diễn ra, Đại Anh và các quốc gia khác trên thế giới có thể cùng nhau đi trên đường đời với ít bất đồng.

RUSSIA

NGA

Russia remains a great enigma for the rest of the world today. Her potentiality for human service and her ability to impose her will on a large scale upon the entire world outstrips that of any other nation. This in itself breeds distrust. Her territory covers a large part of Europe and the whole of North Asia. She has passed through a great and cruel revolution and a subsequent period of readjustment. She is preparing for world collaboration and is evidencing a wish for this to be accomplished on her own terms—the terms of a general control of other lands, beginning with the smaller nations upon her western frontier. She is lifting the peoples of her own land from a condition of ignorance and poverty into one of knowledge and sufficiency. Russia is deeply distrusted by the rest of the world, particularly by its conservative elements, and this for two reasons: first, the cruelty with which the earliest stages of her revolution started—the period which we glibly call “Bolshevism”—and, by a subsequent period of a deliberately chosen and determined isolationism behind her closed frontiers. It was, nevertheless, a creative silence. The war then forced Russia to quit her silence for world collaboration. She was forced into participation in the World War. Russia is the home of a germinating revelation of great spiritual value and group significance—a revelation for all mankind. It is the dimly sensed and somewhat inaccurate realization of this which has led to her insidious propaganda. [22]

Nước Nga vẫn là một điều bí ẩn lớn đối với phần còn lại của thế giới ngày nay. Tiềm năng phụng sự nhân loại của nàng và khả năng áp đặt ý chí của nàng trên quy mô rộng lớn lên toàn thế giới vượt xa bất kỳ quốc gia nào khác. Chính điều này sinh ra sự ngờ vực. Lãnh thổ của nàng bao phủ một phần lớn châu Âu và toàn bộ Bắc Á. Nàng đã trải qua một cuộc cách mạng lớn lao và tàn khốc cùng một thời kỳ tái điều chỉnh sau đó. Nàng đang chuẩn bị cho sự cộng tác thế giới và đang biểu lộ mong muốn điều này được thực hiện theo các điều kiện của riêng nàng — những điều kiện của một sự kiểm soát tổng quát đối với các vùng đất khác, bắt đầu với những quốc gia nhỏ hơn ở biên giới phía tây của nàng. Nàng đang nâng các dân tộc trong chính đất nước mình từ tình trạng ngu dốt và nghèo đói lên tình trạng tri thức và đầy đủ. Nước Nga bị phần còn lại của thế giới ngờ vực sâu sắc, đặc biệt bởi các phần tử bảo thủ của nó, và điều này vì hai lý do: thứ nhất, sự tàn khốc mà các giai đoạn sớm nhất của cuộc cách mạng của nàng đã khởi đầu — thời kỳ mà chúng ta gọi một cách trôi chảy là “Bolshevism” — và, kế đó, bởi một thời kỳ chủ nghĩa biệt lập được chọn lựa có chủ ý và kiên quyết phía sau các biên giới khép kín của nàng. Tuy nhiên, đó là một sự im lặng sáng tạo. Rồi chiến tranh buộc nước Nga phải rời bỏ sự im lặng của nàng để tham gia cộng tác thế giới. Nàng bị buộc tham dự Thế Chiến. Nước Nga là quê hương của một mặc khải đang nảy mầm, có giá trị tinh thần lớn lao và thâm nghĩa nhóm — một mặc khải dành cho toàn thể nhân loại. Chính sự nhận biết mơ hồ và phần nào không chính xác về điều này đã dẫn đến sự tuyên truyền ngấm ngầm của nàng. [22]

Russia has created fermentation in other countries before she herself really knows what is the revelation of which she is custodian. Her activity is therefore premature. The true secret of brotherhood (one hitherto unknown and unrealized) is hers to give the world, but as yet she knows not what it is. This fact, that Russia is the spiritual custodian of a revelation, is sensed by the other nations in the world; and the first reaction has been fear, based on certain initial mistakes and her premature activity upon the physical plane. Nevertheless, all peoples view Russia with expectation; they dimly realize that from her will come some new thing, for Russia is rapidly maturing and integrating and will demonstrate that she has much to give.

Nước Nga đã tạo nên sự lên men trong các quốc gia khác trước khi chính nàng thật sự biết mặc khải mà nàng là người gìn giữ là gì. Vì thế, hoạt động của nàng còn non sớm. Bí mật chân thật của tình huynh đệ, một điều cho đến nay chưa được biết đến và chưa được nhận ra, là của nàng để trao cho thế giới, nhưng cho đến nay nàng chưa biết nó là gì. Sự kiện này, rằng nước Nga là người gìn giữ tinh thần của một mặc khải, được các quốc gia khác trên thế giới cảm nhận; và phản ứng đầu tiên là sợ hãi, dựa trên một số sai lầm ban đầu và hoạt động non sớm của nàng trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, mọi dân tộc đều nhìn nước Nga với sự mong đợi; họ mơ hồ nhận ra rằng từ nàng sẽ đến một điều mới nào đó, vì nước Nga đang nhanh chóng trưởng thành và tích hợp, và sẽ chứng minh rằng nàng có nhiều điều để trao tặng.

The world is witnessing the uprising and the surging forward of a nation which has accomplished in a quarter of a century what other nations have taken many generations to work out. Russia is a giant, getting into his stride—a young giant, aware of great possibility, animated by a deeply religious, though unorthodox spirit, handicapped by a combination of oriental traits and occidental purposes, and distrusted by the world, owing to earlier moves falsely taken. These moves were an attempt to infiltrate into other nations, in order to upset their stability and so weaken them that they could be easily swept into the house of humanity which Russia is attempting to build. Russia is inwardly (but as yet unconsciously) motivated by a desire to bring brotherhood into being. Can you accept this diagnosis of that great unknown quantity which is Russia? Time alone can prove the accuracy of this statement, plus wise activity and sound propaganda on the part of Russia. The psychological problem of the U.S.S.R. is, in the last analysis, to mind her own business, to stabilize and integrate a vast population, and to lead her peoples still further into the light. Russia must also learn to [23] cooperate with other powers on an equal basis. Russia must not, with ambition and design, seek to sweep the small powers into her arena of activity against their wishes or through undue pressure and force. Russia has still much to do for the immense territories and their inhabitants which are already within her sphere of influence; the other nations must also work out their own destiny and must not be ruled perforce by Russia. Above everything else, the problem before Russia is to give to the other nations of the world such an example of wise rule, free expression of individual purpose, and the use of an inclusive and sound education, that other nations will pattern themselves upon what Russia has demonstrated, yet will at the same time, preserve their own cultural approach, their own self-chosen form of government, and their own mode of expressing brotherhood. Russia inherently stands for a new world consciousness, and through her means, a new planetary expression will gradually be wrought out in the fire of experiment and experience. That great nation (a synthesis of East and West) must learn to rule without cruelty, without infringing the free will of the individual and because she has complete confidence in the beneficence of the ideals which she is developing but which are not yet expressed.

Thế giới đang chứng kiến sự nổi dậy và sự tiến lên cuồn cuộn của một quốc gia đã hoàn thành trong một phần tư thế kỷ điều mà các quốc gia khác phải mất nhiều thế hệ mới thực hiện được. Nước Nga là một người khổng lồ đang bước vào nhịp đi của mình — một người khổng lồ trẻ, ý thức về khả năng lớn lao, được linh hoạt bởi một tinh thần tôn giáo sâu sắc, dù không chính thống, bị cản trở bởi sự kết hợp giữa các nét Đông phương và các mục đích Tây phương, và bị thế giới ngờ vực do những bước đi sai lầm trước đó. Những bước đi này là một nỗ lực thâm nhập vào các quốc gia khác nhằm phá vỡ sự ổn định của họ và làm họ suy yếu đến mức họ có thể dễ dàng bị cuốn vào ngôi nhà nhân loại mà nước Nga đang cố xây dựng. Nước Nga bên trong, nhưng cho đến nay vẫn vô thức, được thúc đẩy bởi một mong muốn đưa tình huynh đệ vào hiện hữu. Các bạn có thể chấp nhận chẩn đoán này về đại lượng vĩ đại chưa biết là nước Nga không? Chỉ thời gian mới có thể chứng minh độ chính xác của tuyên bố này, cộng với hoạt động khôn ngoan và tuyên truyền lành mạnh về phía nước Nga. Vấn đề tâm lý của Liên Xô, xét đến cùng, là lo việc của chính mình, ổn định và tích hợp một dân số mênh mông, và dẫn các dân tộc của nàng tiến xa hơn nữa vào ánh sáng. Nước Nga cũng phải học cách [23] hợp tác với các cường quốc khác trên cơ sở bình đẳng. Nước Nga không được, với tham vọng và mưu đồ, tìm cách cuốn các cường quốc nhỏ vào trường hoạt động của nàng trái với ý muốn của họ hoặc bằng áp lực và mãnh lực quá mức. Nước Nga vẫn còn nhiều điều phải làm cho các lãnh thổ mênh mông và cư dân của chúng vốn đã ở trong phạm vi ảnh hưởng của nàng; các quốc gia khác cũng phải tự thực hiện định mệnh của mình và không được bị nước Nga cưỡng bức cai trị. Trên hết mọi điều, vấn đề trước nước Nga là trao cho các quốc gia khác trên thế giới một gương mẫu về sự cai trị khôn ngoan, sự tự do biểu lộ mục đích cá nhân, và việc sử dụng một nền giáo dục bao gồm và lành mạnh, đến mức các quốc gia khác sẽ tự mô phỏng theo điều nước Nga đã biểu lộ, song đồng thời vẫn bảo tồn cách tiếp cận văn hóa riêng, hình thức chính quyền do chính họ lựa chọn, và phương thức riêng để biểu lộ tình huynh đệ. Tự bản chất, nước Nga đại diện cho một tâm thức thế giới mới, và qua phương tiện của nàng, một biểu lộ hành tinh mới sẽ dần dần được tạo tác trong lửa của thử nghiệm và kinh nghiệm. Quốc gia vĩ đại ấy, một tổng hợp của Đông và Tây, phải học cách cai trị không tàn bạo, không xâm phạm tự do ý chí của cá nhân, và vì nàng có niềm tin trọn vẹn vào tính thiện ích của các lý tưởng mà nàng đang phát triển nhưng chưa được biểu lộ.

POLAND

BA LAN

As for the Polish people, a long historical past lays upon them the responsibility of a definitely cultural effect upon surrounding nations and of a spiritual giving of which they are as yet apparently unaware. Their continued emphasis upon territorial possessions blinds their eyes to the true value of their possible world contribution. Being a strongly emotional and individual people, they are, within their own borders, in a state of [24] constant disunion and friction; they have no interior unity. Their psychological problem is to achieve an integration which will be based upon the overcoming of racial hatreds. They need to resolve their national problem in terms of goodwill and not of selfish interests. Their real problem is the attaining of right internal relationships.

Đối với dân tộc Ba Lan, một quá khứ lịch sử dài lâu đặt lên họ trách nhiệm về một ảnh hưởng văn hóa rõ rệt đối với các quốc gia chung quanh và về một sự trao tặng tinh thần mà cho đến nay dường như họ chưa ý thức. Sự nhấn mạnh liên tục của họ vào các sở hữu lãnh thổ làm mắt họ mù trước giá trị chân thật của đóng góp thế giới mà họ có thể mang lại. Là một dân tộc rất cảm xúc và cá nhân, trong phạm vi biên giới của chính mình, họ ở trong tình trạng [24] chia rẽ và xung đột thường xuyên; họ không có sự hợp nhất nội tại. Vấn đề tâm lý của họ là đạt được một sự tích hợp đặt nền trên việc vượt qua những hận thù chủng tộc. Họ cần giải quyết vấn đề quốc gia của mình theo thiện chí chứ không theo các quyền lợi ích kỷ. Vấn đề thật sự của họ là đạt được các mối quan hệ nội bộ đúng đắn.

Although the problem of boundaries, possessions, territories, colonies, and material undertakings loom large in the eyes of all nations, the fact that the emphasis is so purely material indicates its relative unimportance, when seen in true perspective. The only factor that truly matters at this time is humanity itself, and in the face of human agony, human distress, and human destitution, the emphasis upon boundaries is stupidly over-emphatic. Adjustments have to be made; boundaries will have to be determined. The ultimate decisions, however, must not be made on the basis of history or of ancient glory, but on the basis of what is best for the peoples involved. They themselves must determine the issue.

Dù vấn đề biên giới, sở hữu, lãnh thổ, thuộc địa và các công cuộc vật chất hiện ra rất lớn trong mắt mọi quốc gia, sự kiện rằng điểm nhấn quá thuần vật chất cho thấy tầm quan trọng tương đối nhỏ của nó, khi được nhìn trong viễn cảnh chân thật. Yếu tố duy nhất thật sự quan trọng vào lúc này là chính nhân loại, và trước nỗi thống khổ của con người, sự khốn quẫn của con người và sự bần cùng của con người, sự nhấn mạnh vào biên giới là một sự nhấn mạnh quá mức đến ngu xuẩn. Các điều chỉnh phải được thực hiện; biên giới sẽ phải được xác định. Tuy nhiên, các quyết định tối hậu không được dựa trên lịch sử hay vinh quang xưa, mà phải dựa trên điều tốt nhất cho các dân tộc liên hệ. Chính họ phải quyết định vấn đề.

The World War has been presented by the finest minds and the idealists among the Allied Nations as being fought ostensibly for human freedom, yet all the great Powers entered this war with selfish motives and for self-preservation; this is universally acknowledged. All have a sound and selfless underlying idealism in a greater or lesser degree. This is the freeing of humanity from dictatorship. After war comes the test of the success of victory. If the nations throughout the world reap the benefits of free election, if peoples in disputed areas are permitted by a free plebiscite to decide their own loyalties and adherences, and if freedom of speech, freedom of religion and a truly free press and radio are the outcome of this war, a great step forward will have been made by the entire human family. [25]

Thế Chiến đã được các trí tuệ ưu tú nhất và các nhà lý tưởng trong các Quốc gia Đồng Minh trình bày như được chiến đấu bề ngoài vì tự do của con người, tuy nhiên tất cả các Cường quốc lớn đã bước vào cuộc chiến này với động cơ ích kỷ và để tự bảo tồn; điều này được thừa nhận rộng rãi. Tất cả đều có một chủ nghĩa lý tưởng nền tảng lành mạnh và vô ngã ở mức độ lớn hơn hay nhỏ hơn. Đó là sự giải phóng nhân loại khỏi độc tài. Sau chiến tranh là sự thử thách về thành công của chiến thắng. Nếu các quốc gia trên khắp thế giới gặt hái được các lợi ích của bầu cử tự do, nếu các dân tộc trong những vùng tranh chấp được phép quyết định lòng trung thành và sự quy thuộc của mình bằng một cuộc trưng cầu dân ý tự do, và nếu tự do ngôn luận, tự do tôn giáo cùng một nền báo chí và phát thanh thật sự tự do là kết quả của cuộc chiến này, thì toàn thể gia đình nhân loại sẽ thực hiện được một bước tiến lớn. [25]

THE UNITED STATES

HOA KỲ

The psychological problem with which the United States of America is confronted is that of learning to shoulder worldwide responsibility. Both Great Britain and Russia have already learned that lesson in some form.

Vấn đề tâm lý mà Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đang đối diện là học cách gánh vác trách nhiệm toàn thế giới. Cả Đại Anh lẫn nước Nga đều đã học bài học đó dưới một hình thức nào đó.

The American people—as they pass out of the stage of adolescence—must learn the lessons of life through experimentation and resultant experience. This is a lesson that all young people have to learn. The German race is old; the German nation is very young. The Italian people are of ancient origin; the Italian state is historically of very recent date. The accusation of youth (if it is an accusation) is also true of the United States. A great future lies ahead of that nation but not because of material power or commercial efficiency, as many materially-minded people think. The reason lies in a deeply spiritual, innate idealism, enormous humanitarian potentiality and—above all else—because virgin and non-effete stock of largely peasant and middle class origin is determining the race. Steadily in all nations, the power in government and in determining practical ideologies is rapidly passing into the hands of the “people” and out of the hands of the so-called ruling classes and the aristocracy. Countries such as Great Britain and France, which have accepted the determining evolutionary tendencies, can move forward with greater ease into the future than can such countries as Spain and Poland which have been ruled for centuries by a dominant aristocracy and a politically-minded church. The United States of America has no such handicap, except in so far as the laws of capital and finance seek control. The same is largely true of Great Britain.

Dân tộc Hoa Kỳ, khi bước ra khỏi giai đoạn thiếu niên, phải học các bài học của đời sống qua thử nghiệm và kinh nghiệm phát sinh từ đó. Đây là bài học mà mọi người trẻ đều phải học. Chủng tộc Đức thì già; quốc gia Đức thì rất trẻ. Dân tộc Ý có nguồn gốc cổ xưa; nhà nước Ý xét về lịch sử lại rất mới. Lời cáo buộc về tuổi trẻ, nếu đó là một lời cáo buộc, cũng đúng với Hoa Kỳ. Một tương lai vĩ đại nằm trước quốc gia ấy, nhưng không phải vì quyền lực vật chất hay hiệu năng thương mại, như nhiều người thiên về vật chất nghĩ. Lý do nằm trong một chủ nghĩa lý tưởng bẩm sinh, sâu sắc và tinh thần, tiềm năng nhân đạo to lớn và, trên hết mọi điều, bởi vì dòng giống còn nguyên vẹn và chưa suy kiệt, phần lớn có nguồn gốc nông dân và trung lưu, đang quyết định nhân loại ấy. Một cách đều đặn trong mọi quốc gia, quyền lực trong chính quyền và trong việc quyết định các hệ tư tưởng thực tiễn đang nhanh chóng chuyển vào tay “dân chúng” và rời khỏi tay các giai cấp được gọi là thống trị và tầng lớp quý tộc. Những nước như Đại Anh và Pháp, vốn đã chấp nhận các khuynh hướng tiến hoá quyết định, có thể tiến vào tương lai dễ dàng hơn những nước như Tây Ban Nha và Ba Lan, vốn đã bị cai trị trong nhiều thế kỷ bởi một tầng lớp quý tộc thống trị và một giáo hội thiên về chính trị. Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ không có trở ngại như vậy, ngoại trừ trong chừng mực các luật của tư bản và tài chính tìm cách kiểm soát. Điều tương tự phần lớn cũng đúng với Đại Anh.

The roots of the people in the United States are necessarily in other countries because its citizens have [26] originally come out of those countries. They have no indigenous people except the Red Indian who has been ruthlessly dispossessed by the on-rushing tide from other lands. The racial groups within the States still bear the marks of their origin and of their racial heritage; they are psychologically and physically of Italian, British, Finnish, German and other origins. In this fact consists part of the wonder of this rapidly integrating nation.

Cội rễ của dân chúng tại Hoa Kỳ tất yếu ở trong các quốc gia khác, bởi vì các công dân của nước này [26] ban đầu đã đến từ những quốc gia ấy. Họ không có dân tộc bản địa nào ngoại trừ người Da Đỏ, vốn đã bị làn sóng ào ạt từ các vùng đất khác tước đoạt một cách tàn nhẫn. Các nhóm chủng tộc trong các Bang vẫn mang dấu vết nguồn gốc và di sản chủng tộc của họ; về mặt tâm lý và thể chất, họ có nguồn gốc Ý, Anh, Phần Lan, Đức và nhiều nguồn gốc khác. Chính trong sự kiện này có một phần điều kỳ diệu của quốc gia đang nhanh chóng tích hợp này.

Like all young people, symbolically speaking, the people of the United States show all the characteristics of adolescence. Again, symbolically speaking, the people of the United States are of the ages seventeen to twenty four. They shout freedom and still are not free; they refuse to be told what to do because it infringes upon their rights, nevertheless they allow themselves to be guided frequently by the inept, the partisan politician and by the inadequate; they are broadly tolerant and yet most intolerant of other nations; they are ready to tell other nations how to handle their problems but as yet evidence no ability to handle their own, as witness the treatment of the American Negroes and the withholding of equal freedom and opportunity from them. They are restlessly experimenting with all phases of life, with every kind of idea and all kinds of relationships. The creative power of the race shows itself as yet in a wonderful control of nature and in great construction projects which bring water under control, or which relate all parts of this vast country through roads and waterways. America is a great battleground for experiment along creative lines; it is profoundly interested in trying out every kind of ideology. The fight between capital and labour will reach its climax in the United States, but will also be fought out in Great Britain and France. Russia already has her own solution but the lesser nations of the world will be guided and conditioned [27] by the result of this battle in the British Commonwealth of Nations and in the United States.

Như mọi người trẻ, nói theo biểu tượng, dân chúng Hoa Kỳ biểu lộ tất cả các đặc tính của tuổi thiếu niên. Một lần nữa, nói theo biểu tượng, dân chúng Hoa Kỳ ở vào lứa tuổi mười bảy đến hai mươi bốn. Họ hô vang tự do mà vẫn chưa tự do; họ từ chối bị bảo phải làm gì vì điều đó xâm phạm các quyền của họ, tuy nhiên họ thường để mình được dẫn dắt bởi những kẻ bất tài, chính trị gia đảng phái và những người không đủ năng lực; họ rộng rãi khoan dung nhưng lại rất không khoan dung đối với các quốc gia khác; họ sẵn sàng nói cho các quốc gia khác cách xử lý vấn đề của họ, nhưng cho đến nay chưa biểu lộ năng lực xử lý vấn đề của chính mình, như được chứng kiến qua cách đối xử với người Da Đen Mỹ và việc khước từ dành cho họ tự do và cơ hội bình đẳng. Họ không ngừng thử nghiệm với mọi phương diện của đời sống, với mọi loại ý tưởng và mọi loại quan hệ. Quyền năng sáng tạo của nhân loại ấy cho đến nay biểu lộ trong sự kiểm soát thiên nhiên kỳ diệu và trong các công trình xây dựng vĩ đại đem nước vào sự kiểm soát, hoặc liên kết mọi phần của đất nước mênh mông này qua đường sá và đường thủy. Hoa Kỳ là một chiến trường lớn cho thử nghiệm theo các đường lối sáng tạo; nước này quan tâm sâu sắc đến việc thử nghiệm mọi loại hệ tư tưởng. Cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động sẽ đạt đến cao điểm tại Hoa Kỳ, nhưng cũng sẽ được chiến đấu đến cùng tại Đại Anh và Pháp. Nước Nga đã có giải pháp riêng của nàng, nhưng các quốc gia nhỏ hơn trên thế giới sẽ được hướng dẫn và tác động [27] bởi kết quả của cuộc chiến này trong Khối Thịnh vượng chung Anh và tại Hoa Kỳ.

Order must be brought about in the States and this order will come when freedom is interpreted in terms of self-chosen discipline; a freedom which can turn into license and which is interpreted by each individual in the best interests of himself constitutes a danger to be avoided. It is a danger of which the best minds are deeply aware.

Trật tự phải được đem lại trong các Bang, và trật tự này sẽ đến khi tự do được diễn giải theo kỷ luật tự lựa chọn; một tự do có thể biến thành phóng túng và được mỗi cá nhân diễn giải theo lợi ích tốt nhất cho chính mình tạo thành một nguy hiểm cần tránh. Đó là một nguy hiểm mà các trí tuệ ưu tú nhất ý thức sâu sắc.

Like all young people, Americans feel superior to more mature fellow nations; they are apt to think that they have a higher idealism, a saner outlook and a greater love of freedom than other nations; they are apt to forget that though there may be some backward nations, there are many nations in the world with as high an idealism, as sound a body of motives, and with a more mature and experienced approach to world problems. Again, like all young people, the American is intensely critical of other people, but often blind to and always resentful of criticism. Yet there is as much to criticize in America as there is in any other nation; all nations have a vast house cleaning to do, and the difficulty at this time is that they must do it alongside of the strict fulfilling of their international relationships. No nation can live unto itself today. If it attempts to do so it treads the way of death and that is the true horror of the isolationist position. Factually today we have one world and this sums up the psychological problem of humanity. The goal is right human relations; nations will stand or fall just in so far as they measure up to that vision. The era ahead of us—under evolutionary law and the will of God—is to see the establishment of right human relations.

Như mọi người trẻ, người Mỹ cảm thấy mình vượt trội hơn các quốc gia đồng bạn trưởng thành hơn; họ dễ nghĩ rằng mình có một chủ nghĩa lý tưởng cao hơn, một quan điểm lành mạnh hơn và một tình yêu tự do lớn hơn các quốc gia khác; họ dễ quên rằng dù có thể có một số quốc gia lạc hậu, vẫn có nhiều quốc gia trên thế giới có chủ nghĩa lý tưởng cao tương tự, một khối động cơ lành mạnh tương tự, và một cách tiếp cận trưởng thành và giàu kinh nghiệm hơn đối với các vấn đề thế giới. Một lần nữa, như mọi người trẻ, người Mỹ phê phán người khác hết sức mạnh mẽ, nhưng thường mù trước sự phê phán và luôn phẫn nộ với sự phê phán. Tuy nhiên, có nhiều điều để phê phán ở Hoa Kỳ cũng như ở bất kỳ quốc gia nào khác; mọi quốc gia đều có một cuộc đại thanh tẩy nội bộ phải thực hiện, và khó khăn vào lúc này là họ phải làm điều đó song song với việc nghiêm chỉnh hoàn thành các mối quan hệ quốc tế của mình. Không quốc gia nào ngày nay có thể sống cho riêng mình. Nếu cố làm vậy, quốc gia ấy bước trên con đường của cái chết, và đó là nỗi kinh hoàng thật sự của lập trường biệt lập. Thực tế ngày nay chúng ta có một thế giới duy nhất, và điều này tóm lược vấn đề tâm lý của nhân loại. Mục tiêu là các mối quan hệ nhân loại đúng đắn; các quốc gia sẽ đứng vững hay sụp đổ đúng theo mức độ họ đáp ứng được tầm nhìn đó. Kỷ nguyên trước mắt chúng ta, dưới định luật tiến hoá và Ý Chí của Thượng Đế, là chứng kiến sự thiết lập các mối quan hệ nhân loại đúng đắn.

We are entering a vast experimental period of discovery; we shall discover just exactly what we are—[28] as nations, in our group relationships, through our expression of religion and in our mode of governments. It will be an intensely difficult era and will be only successfully lived through if each nation will recognize its own internal defects and will handle them with vision and deliberate humanitarian purpose. This means for each nation the overcoming of pride and the attainment of interior unity. Each country today is divided within itself by warring groups—idealists and realists, political parties and far-sighted statesmanship, religious groups, fanatically occupied with their own ideas, capital and labour, isolationists and internationalists, people violently against certain groups or nations and others working on behalf of them. The only factor which can eventually and in due time bring harmony and the end of these chaotic conditions is right human relations.

Chúng ta đang bước vào một thời kỳ thử nghiệm rộng lớn của khám phá; chúng ta sẽ khám phá chính xác chúng ta là gì — [28] với tư cách các quốc gia, trong các mối quan hệ nhóm của chúng ta, qua sự biểu lộ tôn giáo của chúng ta và trong phương thức chính quyền của chúng ta. Đó sẽ là một kỷ nguyên cực kỳ khó khăn và chỉ có thể được vượt qua thành công nếu mỗi quốc gia nhận ra các khiếm khuyết nội bộ của chính mình và xử lý chúng bằng tầm nhìn cùng mục đích nhân đạo có chủ ý. Đối với mỗi quốc gia, điều này có nghĩa là vượt qua niềm kiêu hãnh và đạt được sự hợp nhất nội tại. Ngày nay, mỗi quốc gia đều bị chia rẽ bên trong bởi các nhóm tranh chiến — các nhà lý tưởng và các nhà hiện thực, các đảng chính trị và tinh thần chính khách nhìn xa, các nhóm tôn giáo cuồng tín bận rộn với các ý tưởng riêng của mình, tư bản và lao động, những người biệt lập và những người quốc tế, những người chống đối dữ dội một số nhóm hay quốc gia nào đó và những người khác làm việc vì họ. Yếu tố duy nhất cuối cùng và đúng thời có thể đem lại hài hòa và sự chấm dứt các tình trạng hỗn loạn này là các mối quan hệ nhân loại đúng đắn.

Every country also has much to contribute but as long as that contribution is considered, as it now is, in terms of its commercial value or its political usefulness, that contribution will not be given in aid of right human relations.

Mỗi quốc gia cũng có nhiều điều để đóng góp, nhưng chừng nào đóng góp ấy còn được xem xét, như hiện nay, theo giá trị thương mại hay tính hữu dụng chính trị của nó, thì đóng góp ấy sẽ không được trao ra để hỗ trợ các mối quan hệ nhân loại đúng đắn.

Every country must also receive from all other countries. This involves a recognition of certain specific lacks, plus a willingness to take from others on terms of equality. Every country has its own peculiar note which must be brought into unison and swell the great chorus from all the nations. This will only be possible when pure religion is restored and the spiritual impetus, nascent in every nation, is given free expression. This is not yet the case; theological forms still hold the spiritual life.

Mỗi quốc gia cũng phải nhận từ tất cả các quốc gia khác. Điều này bao hàm sự thừa nhận một số thiếu hụt đặc thù, cộng với sự sẵn lòng nhận từ người khác trên cơ sở bình đẳng. Mỗi quốc gia có âm điệu riêng biệt của mình, âm điệu ấy phải được đưa vào sự hòa điệu và làm lớn thêm đại hợp xướng từ tất cả các quốc gia. Điều này chỉ có thể xảy ra khi tôn giáo thuần khiết được phục hồi và xung lực tinh thần, còn phôi thai trong mỗi quốc gia, được tự do biểu lộ. Hiện nay chưa phải như vậy; các hình thức thần học vẫn còn nắm giữ sự sống tinh thần.

Every nation, owing to its past history, and to its own deeds and enactments, is closely related to every other nation, and of this fact the U.S.A. is perhaps more expressive than many, because its nationals have come from all the known races. Isolationism was defeated [29] even before it reared its ugly head because the people of America are international by origin and background.

Mỗi quốc gia, do lịch sử quá khứ của mình và do các hành vi cùng đạo luật của chính mình, đều liên hệ mật thiết với mọi quốc gia khác, và về sự kiện này, Hoa Kỳ có lẽ biểu lộ rõ hơn nhiều nước, bởi vì công dân của nước này đến từ tất cả các nhân loại đã biết. Chủ nghĩa biệt lập đã bị đánh bại [29] ngay cả trước khi nó ngẩng cái đầu xấu xí lên, bởi vì dân chúng Hoa Kỳ có nguồn gốc và bối cảnh quốc tế.

Humanity, as has been said before, is the world disciple; the impulse behind the disintegration of the old world forms is a spiritual one. The spiritual life of humanity is now so strong that it has disrupted all present forms of human expression. The world of the past has gone and gone forever, and the new world of forms has not yet made its appearance. Its construction will be distinctive of the emerging creative life of the spirit of man. The important factor to bear in mind is that it is one spirit and the nations have each to learn to recognize that spirit within themselves and within each other.

Nhân loại, như đã nói trước đây, là đệ tử thế giới; xung lực đằng sau sự tan rã của các hình tướng cũ của thế giới là một xung lực tinh thần. Sự sống tinh thần của nhân loại hiện nay mạnh đến mức nó đã phá vỡ mọi hình thức biểu lộ hiện tại của con người. Thế giới của quá khứ đã qua đi và qua đi mãi mãi, còn thế giới hình tướng mới vẫn chưa xuất hiện. Việc xây dựng nó sẽ là dấu hiệu đặc thù của sự sống sáng tạo đang nổi lên của tinh thần con người. Yếu tố quan trọng cần ghi nhớ là đó là một tinh thần duy nhất, và mỗi quốc gia phải học cách nhận ra tinh thần ấy trong chính mình và trong nhau.

To sum up: the task of every nation is, therefore, a twofold one—

Tóm lại: nhiệm vụ của mỗi quốc gia, do đó, là một nhiệm vụ nhị phân —

1. To solve its own psychological internal problems. This it does by recognition of their existence; by the quelling of national pride and by taking those steps which would establish unity and beauty of rhythm in the life of its peoples.

1. Giải quyết các vấn đề tâm lý nội bộ của chính mình. Quốc gia làm điều này bằng cách thừa nhận sự hiện hữu của chúng; bằng cách dập tắt niềm kiêu hãnh quốc gia và bằng cách thực hiện những bước đi sẽ thiết lập sự hợp nhất và vẻ đẹp của nhịp điệu trong đời sống các dân tộc của mình.

2. To foster the spirit of right relations. This is accomplished by the recognition of the one world of which it is a part. This later involves also the taking of those steps which would enable it to enrich the whole world with its own individual contribution.

2. Nuôi dưỡng tinh thần của các mối quan hệ đúng đắn. Điều này được thực hiện bằng sự thừa nhận thế giới duy nhất mà quốc gia ấy là một phần. Điều sau này cũng bao hàm việc thực hiện những bước đi giúp quốc gia ấy làm phong phú toàn thế giới bằng đóng góp cá biệt của chính mình.

These two activities—national and international— must proceed side by side with the emphasis upon the work of practical Christianity, and not by dominant theologies and subtly imposed Church controls.

Hai hoạt động này — quốc gia và quốc tế — phải tiến hành song song với sự nhấn mạnh vào công việc của Cơ Đốc giáo thực tiễn, chứ không bằng các thần học thống trị và các sự kiểm soát Giáo hội được áp đặt một cách tinh vi.

From the angle of the spiritual Forces of Light, the immediate world process should include:

Từ góc độ của các Mãnh Lực Tinh Thần của Ánh Sáng, tiến trình thế giới trước mắt nên bao gồm:

1. The impending crisis of freedom. This involves free elections in all countries to determine the type of government, the national boundaries (where that problem [30] exists) and a plebiscite of the people to determine their nationalities and loyalties.

1. Cuộc khủng hoảng tự do sắp đến. Điều này bao hàm các cuộc bầu cử tự do trong mọi quốc gia để xác định loại chính quyền, các biên giới quốc gia, nơi vấn đề đó [30] hiện hữu, và một cuộc trưng cầu dân ý của dân chúng để xác định quốc tịch và lòng trung thành của họ.

2. The cleaning up process carried on in all the nations without any exception whatever so that a wholesome unity, based on freedom and demonstrating unity in diversity, can be brought about.

2. Tiến trình thanh lọc được tiến hành trong mọi quốc gia, không trừ bất kỳ quốc gia nào, để một sự hợp nhất lành mạnh, đặt nền trên tự do và biểu lộ sự hợp nhất trong đa dạng, có thể được đem lại.

3. A steadily pursued educational process by which all the peoples in the world can be grounded in the only ideology that will prove finally and generally effective—that of right human relations. Slowly but surely, this educational movement will inevitably produce right understanding and correct attitudes and activities in every community, in every church and nation, and ultimately in the international field. This will take time but it presents a challenge to all men of goodwill throughout the world.

3. Một tiến trình giáo dục được theo đuổi đều đặn, nhờ đó mọi dân tộc trên thế giới có thể được đặt nền trong hệ tư tưởng duy nhất cuối cùng sẽ chứng tỏ có hiệu quả phổ quát — hệ tư tưởng về các mối quan hệ nhân loại đúng đắn. Chậm rãi nhưng chắc chắn, phong trào giáo dục này chắc chắn sẽ tạo ra sự thấu hiểu đúng đắn cùng các thái độ và hoạt động đúng đắn trong mọi cộng đồng, trong mọi giáo hội và quốc gia, và sau cùng trong lĩnh vực quốc tế. Điều này sẽ cần thời gian, nhưng nó đặt ra một thách thức cho tất cả những người thiện chí trên khắp thế giới.

The spiritual guides of the race can present this formula of progress. They cannot guarantee its enactment, for humanity is left free to decide its own problems. Certain questions, therefore, emerge immediately.

Các vị hướng đạo tinh thần của nhân loại có thể trình bày công thức tiến bộ này. Các Ngài không thể bảo đảm sự thi hành nó, vì nhân loại được để tự do quyết định các vấn đề của chính mình. Do đó, một số câu hỏi lập tức xuất hiện.

Will the great powers, Russia, the United States, and the British Commonwealth of Nations stand together for the total good of humanity, or will they each proceed upon their separate way towards their own selfish objectives?

Liệu các cường quốc lớn, nước Nga, Hoa Kỳ và Khối Thịnh vượng chung Anh, sẽ cùng nhau đứng vì lợi ích toàn thể của nhân loại, hay mỗi nước sẽ đi theo con đường riêng hướng tới các mục tiêu ích kỷ của chính mình?

Will the smaller powers as well as the great Powers be willing to relinquish some of their so-called sovereignty in the interests of the whole? Will they attempt to view the world situation from the angle of humanity, or will they only see their own individual good?

Liệu các cường quốc nhỏ cũng như các Cường quốc lớn có sẵn lòng từ bỏ một phần cái gọi là chủ quyền của mình vì lợi ích của toàn thể không? Họ sẽ cố gắng nhìn tình hình thế giới từ góc độ nhân loại, hay họ chỉ thấy lợi ích cá biệt của chính mình?

Will they omit the constant carping criticism which has distinguished the past and which breeds a growing hatred, and recognize that all nations are made up of human beings, at different stages of evolution, and conditioned by their background, race and environment?

Liệu họ có bỏ qua sự phê phán bắt bẻ không ngừng vốn đã là đặc điểm của quá khứ và vốn sinh ra một lòng hận thù ngày càng tăng, và nhận ra rằng mọi quốc gia đều được cấu thành bởi các con người, ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau, và chịu tác động bởi bối cảnh, nhân loại và môi trường của họ không?

Will they be willing to leave each other free to shoulder [31] individual responsibility and yet be willing ever to assist each other as members of one family and as animated by one human spirit, the spirit of God?

Liệu họ có sẵn lòng để cho nhau tự do gánh vác [31] trách nhiệm cá biệt, nhưng vẫn luôn sẵn lòng hỗ trợ nhau như các thành viên của một gia đình và như được linh hoạt bởi một tinh thần nhân loại duy nhất, tinh thần của Thượng đế không?

Will they be willing to share the produce of the earth, knowing it belongs to all, freely distributing it as nature does? Or will they permit it to fall into the hands of a few powerful nations or a mere handful of powerful men and financial experts?

Liệu họ có sẵn lòng chia sẻ sản phẩm của Trái Đất, biết rằng nó thuộc về tất cả, phân phối tự do như thiên nhiên làm không? Hay họ sẽ cho phép nó rơi vào tay một vài quốc gia hùng mạnh hoặc chỉ một nhúm người hùng mạnh và các chuyên gia tài chính?

Such are only a few of the questions for which answers must be sought and found. The task looks hard indeed.

Đó chỉ là một vài trong số các câu hỏi mà câu trả lời phải được tìm kiếm và tìm thấy. Nhiệm vụ quả thật có vẻ khó khăn.

Yet there are enough spiritually minded people in the world today to change world attitudes and to bring in the new spiritually creative period. Will these men and women of vision and goodwill arise in their might in every nation and make their voices heard? Will they have the strength, the persistence and the courage to overcome defeatism, to break the chain of hampering theologies—political, social, economic and religious—and work for the good of all peoples? Will they overcome the forces arrayed against them through firm conviction of the stability and potentiality of the human spirit? Will they have faith in the intrinsic worth of humanity? Will they realize that the entire trend of the evolutionary process is sweeping them on to victory? The firm establishment of right human relations is already a determined part of divine purpose and nothing can arrest its eventual appearance. That appearance can, however, be hastened by right and selfless action.

Tuy nhiên, ngày nay có đủ những người có trí hướng tinh thần trên thế giới để thay đổi các thái độ thế giới và đem vào thời kỳ mới sáng tạo về tinh thần. Liệu những người nam và nữ có tầm nhìn và thiện chí này có đứng lên trong sức mạnh của mình ở mỗi quốc gia và làm cho tiếng nói của họ được nghe thấy không? Liệu họ có sức mạnh, sự kiên trì và lòng can đảm để vượt qua chủ nghĩa chủ bại, để phá vỡ xiềng xích của các thần học gây cản trở — chính trị, xã hội, kinh tế và tôn giáo — và làm việc vì lợi ích của mọi dân tộc không? Liệu họ có vượt qua các mãnh lực dàn trận chống lại họ nhờ niềm xác tín vững chắc vào sự ổn định và tiềm năng của tinh thần nhân loại không? Liệu họ có đức tin vào giá trị nội tại của nhân loại không? Liệu họ có nhận ra rằng toàn bộ khuynh hướng của tiến trình tiến hoá đang cuốn họ tiến tới chiến thắng không? Việc thiết lập vững chắc các mối quan hệ nhân loại đúng đắn đã là một phần được xác định của Thiên Ý, và không gì có thể ngăn chặn sự xuất hiện cuối cùng của nó. Tuy nhiên, sự xuất hiện ấy có thể được thúc nhanh bằng hành động đúng đắn và vô vị kỷ.

CHAPTER 2 - THE PROBLEM OF THE CHILDREN OF THE WORLD – CHƯƠNG 2 - VẤN ĐỀ CỦA TRẺ EM THẾ GIỚI

[32] This problem is, without exception, the most urgent confronting humanity today. The future of the race lies in the hands of the young people everywhere. They are the parents of the coming generations and the engineers who must implement the new civilization. What we do with them and for them is momentous in its implications; our responsibility is great and our opportunity unique.

[32] Vấn đề này, không có ngoại lệ, là vấn đề khẩn cấp nhất đang đối diện nhân loại ngày nay. Tương lai của nhân loại nằm trong tay những người trẻ ở khắp nơi. Họ là cha mẹ của các thế hệ sắp đến và là những kỹ sư phải thực thi nền văn minh mới. Điều chúng ta làm với họ và cho họ có ý nghĩa vô cùng trọng đại; trách nhiệm của chúng ta thật lớn lao và cơ hội của chúng ta thật độc nhất.

This chapter deals with the children and adolescents, under sixteen years old. These two groups are the most hopeful element in a world which has fallen to pieces before our eyes. They are the guarantee that our world can be rebuilt and—if we have learned anything from past history and its dire consequences in our lifetime—rebuilt along different lines, with different objectives and incentives and with well-defined goals and carefully considered ideals.

Chương này đề cập đến trẻ em và thanh thiếu niên dưới mười sáu tuổi. Hai nhóm này là yếu tố đầy hy vọng nhất trong một thế giới đã tan vỡ trước mắt chúng ta. Họ là sự bảo đảm rằng thế giới của chúng ta có thể được xây dựng lại và, nếu chúng ta đã học được điều gì từ lịch sử quá khứ cùng những hậu quả thảm khốc của nó trong đời chúng ta, được xây dựng lại theo những đường lối khác, với các mục tiêu và động lực khác, cùng những mục đích được xác định rõ ràng và các lý tưởng được cân nhắc cẩn thận.

Let us remember, however, that visionary, mystical hopes and dreams, wishful thinking and the formulation of highly organized plans upon paper are useful as far as they indicate interest, a sense of responsibility and possible objectives but they are of small importance in any effective, transitional enterprise unless there is a grasp of the immediate problem and of the immediate possibilities, plus a willingness to effect those compromises which will lay the ground for later successful work. This work is largely that of education. Hitherto, there has been little effort to bring about a bridging between the needs of the future and the present forms of education. These forms have apparently failed to equip [33] humanity for successful and cooperative living and the newer aspects of mental training; no scientific bridging has been done and little attempt has been made to correlate the best of the present methods (and not all are bad) with future ways of developing the youth of the world so that it can cope with a new civilization which is inevitably upon its way. The visionary idealist has hitherto held the field against the established modes of teaching; his impracticality and his refusal to compromise has thus slowed up the process and humanity has paid the price. The day has now come when the practical mystic and the man of high mental development as well as of spiritual vision will take his place, thus providing a training which will enable the youth of any nation to integrate successfully into the world picture.

Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng những hy vọng và giấc mơ mang tính linh thị, thần bí, lối suy nghĩ ước vọng và việc hình thành các kế hoạch được tổ chức cao trên giấy là hữu ích trong chừng mực chúng cho thấy sự quan tâm, ý thức trách nhiệm và các mục tiêu khả hữu, nhưng chúng ít quan trọng trong bất kỳ công cuộc chuyển tiếp hiệu quả nào, trừ phi có sự nắm bắt vấn đề trước mắt và các khả năng trước mắt, cộng với sự sẵn lòng thực hiện những thỏa hiệp sẽ đặt nền cho công việc thành công về sau. Công việc này phần lớn là công việc giáo dục. Cho đến nay, ít có nỗ lực nhằm đem lại sự bắt cầu giữa các nhu cầu của tương lai và các hình thức giáo dục hiện tại. Các hình thức này dường như đã thất bại trong việc trang bị [33] cho nhân loại để sống thành công và hợp tác, cũng như trong các phương diện mới hơn của sự huấn luyện trí tuệ; chưa có sự bắt cầu khoa học nào được thực hiện và ít có nỗ lực tương quan hóa những gì tốt nhất trong các phương pháp hiện tại, mà không phải tất cả đều xấu, với các phương thức tương lai để phát triển giới trẻ thế giới, hầu họ có thể đối phó với một nền văn minh mới đang tất yếu trên đường đến. Nhà lý tưởng có linh thị cho đến nay đã chiếm lĩnh lĩnh vực này đối nghịch với các phương thức giảng dạy đã được thiết lập; tính thiếu thực tiễn của y và sự từ chối thỏa hiệp của y vì thế đã làm chậm tiến trình, và nhân loại đã trả giá. Ngày nay đã đến lúc nhà thần bí thực tiễn và con người có sự phát triển trí tuệ cao cũng như tầm nhìn tinh thần sẽ giữ vị trí của y, qua đó cung cấp một sự huấn luyện giúp giới trẻ của bất kỳ quốc gia nào tích hợp thành công vào bức tranh thế giới.

We start with the realization that our educational systems have not been adequate; they have failed to train children for right living; they have not inculcated those methods of thinking and acting which will lead to right human relations—those relations which are so essential to happiness, to success and to a full experience in any chosen sphere of human enterprise.

Chúng ta bắt đầu với sự nhận ra rằng các hệ thống giáo dục của chúng ta đã không đầy đủ; chúng đã thất bại trong việc huấn luyện trẻ em cho đời sống đúng đắn; chúng đã không gieo vào những phương pháp suy nghĩ và hành động sẽ dẫn đến các mối quan hệ nhân loại đúng đắn — những mối quan hệ hết sức thiết yếu cho hạnh phúc, cho thành công và cho kinh nghiệm trọn vẹn trong bất kỳ lĩnh vực nào được chọn của công cuộc nhân loại.

The best minds and the clearest thinkers in the educational field are constantly endorsing these ideas; the progressive movements in education have done something to remove old abuses and to instil new techniques, but they still constitute so small a minority that they are relatively ineffectual. It is well to bear in mind that had the teaching given to the young during the past few hundred years been of a different nature, the world war might never have happened.

Các trí tuệ ưu tú nhất và những nhà tư tưởng sáng suốt nhất trong lĩnh vực giáo dục không ngừng tán thành các ý tưởng này; các phong trào tiến bộ trong giáo dục đã làm được điều gì đó để loại bỏ các lạm dụng cũ và gieo vào các kỹ thuật mới, nhưng chúng vẫn chỉ là một thiểu số nhỏ đến mức tương đối không hiệu quả. Cần ghi nhớ rằng nếu sự giảng dạy dành cho người trẻ trong vài trăm năm qua có bản chất khác, thì thế chiến có lẽ đã không bao giờ xảy ra.

Many and differing reasons have been given for the total war which engulfed us. This has raised the question whether the failure of our educational systems or the ineptitude of the churches may not be the basic [34] causes behind the others. But—the war happened. Our old civilization has been swept away. There are those who would like to see that civilization return and the old structure again rebuilt; they yearn for a peaceful return to the situation before the war. They must not be allowed to rebuild along the old lines or to use the old blueprints, even though necessarily we must build upon the old foundations. It is the task of the educators to prevent this.

Nhiều lý do khác nhau đã được đưa ra cho cuộc chiến toàn diện đã nuốt chửng chúng ta. Điều này đã nêu lên câu hỏi liệu sự thất bại của các hệ thống giáo dục của chúng ta hay sự bất lực của các giáo hội có thể không phải là các nguyên nhân căn bản [34] đứng sau những nguyên nhân khác hay không. Nhưng chiến tranh đã xảy ra. Nền văn minh cũ của chúng ta đã bị quét sạch. Có những người muốn thấy nền văn minh ấy trở lại và cấu trúc cũ lại được xây dựng lại; họ khao khát một sự trở về hòa bình với tình trạng trước chiến tranh. Không được cho phép họ xây dựng lại theo các đường lối cũ hay sử dụng các bản thiết kế cũ, dù tất yếu chúng ta phải xây dựng trên các nền móng cũ. Đây là nhiệm vụ của các nhà giáo dục phải ngăn chặn.

Let us be willing to recognize that those countries in which the old mode of education is still peacefully practised may be not only dangerous to themselves because they are perpetuating the bad old ways, but that they also constitute a menace to those countries which are in the happy position of being able to change their educational institutions and thus inaugurate a better way of preparing their youth for total living. Education is a deeply spiritual enterprise. It concerns the whole man and that includes his divine spirit.

Chúng ta hãy sẵn lòng nhận ra rằng những quốc gia trong đó phương thức giáo dục cũ vẫn được thực hành một cách yên ổn có thể không chỉ nguy hiểm cho chính họ vì họ đang kéo dài các đường lối cũ tệ hại, mà họ còn tạo thành một mối đe dọa cho những quốc gia đang ở vị thế may mắn có thể thay đổi các định chế giáo dục của mình và nhờ đó khai mở một phương thức tốt hơn để chuẩn bị giới trẻ cho đời sống toàn diện. Giáo dục là một công cuộc tinh thần sâu sắc. Nó liên quan đến toàn thể con người, và điều đó bao gồm tinh thần thiêng liêng của y.

Education in the hands of any church would spell disaster. It would feed the sectarian spirit, foster the conservative, reactionary attitudes so strongly endorsed, for instance, by the Catholic Church and the fundamentalists in the Protestant churches. It would train bigots, build barriers between man and man and eventually lead to a powerful and inevitable swing away from all religion on the part of those who would finally learn to think as they reach adult manhood. This is not an indictment of religion. It is an indictment of the past methods of the churches and of the old theologies which have failed to present Christ as He essentially is, which have worked for riches, prestige, and political power and which have striven with all available means to increase their membership and to imprison the free spirit in man. There are wise and good churchmen today who realize this and who are steadfastly [35] working for the new age approach to God, but they are relatively few in number. Nevertheless, they are waging war against theological crystallization and academic pronouncements. They will inevitably succeed and thus salvage the religious spirit.

Giáo dục trong tay bất kỳ giáo hội nào sẽ báo hiệu thảm họa. Nó sẽ nuôi dưỡng tinh thần giáo phái, cổ vũ các thái độ bảo thủ, phản động được tán thành mạnh mẽ, chẳng hạn, bởi Giáo hội Công giáo và những người cơ yếu trong các giáo hội Tin Lành. Nó sẽ huấn luyện những kẻ cuồng tín, dựng lên các rào chắn giữa người với người, và cuối cùng dẫn đến một sự xoay chiều mạnh mẽ và tất yếu rời xa mọi tôn giáo nơi những người sau cùng sẽ học cách suy nghĩ khi họ đạt đến tuổi trưởng thành. Đây không phải là một lời cáo trạng đối với tôn giáo. Đây là một lời cáo trạng đối với các phương pháp quá khứ của các giáo hội và các thần học cũ, vốn đã thất bại trong việc trình bày Đức Christ như bản chất cốt yếu của Ngài, vốn đã hoạt động vì của cải, uy tín và quyền lực chính trị, và đã phấn đấu bằng mọi phương tiện sẵn có để gia tăng tín đồ và giam hãm tinh thần tự do trong con người. Ngày nay có những giáo sĩ khôn ngoan và thiện lành nhận ra điều này và đang kiên định [35] làm việc cho cách tiếp cận Thượng đế của kỷ nguyên mới, nhưng họ tương đối ít. Tuy nhiên, họ đang tiến hành cuộc chiến chống lại sự kết tinh thần học và các tuyên bố học viện. Họ chắc chắn sẽ thành công và nhờ đó cứu vãn tinh thần tôn giáo.

Then let us endeavour to see what the goal of the new educational movement should be and what are the signposts on the way to that goal. Let us try to formulate a long range plan which will meet with no hindrance from the methods immediately employed, which will link the past and the future by using all that is true, beautiful and good (inherited from the past) but which will emphasize certain basic objectives which have hitherto been largely ignored. These newer techniques and methods must be developed gradually and will hasten the process of integrating the whole man.

Vậy chúng ta hãy cố gắng thấy mục tiêu của phong trào giáo dục mới phải là gì và đâu là các biển chỉ đường trên con đường đến mục tiêu ấy. Chúng ta hãy cố gắng hình thành một kế hoạch dài hạn sẽ không gặp trở ngại từ các phương pháp được sử dụng trước mắt, sẽ nối kết quá khứ và tương lai bằng cách dùng tất cả những gì chân, mỹ và thiện được thừa hưởng từ quá khứ, nhưng sẽ nhấn mạnh một số mục tiêu căn bản cho đến nay phần lớn bị bỏ qua. Các kỹ thuật và phương pháp mới hơn này phải được phát triển dần dần và sẽ thúc nhanh tiến trình tích hợp toàn thể con người.

There is no hope for the future world except in a humanity which accepts the fact of divinity, even whilst repudiating theology, which recognizes the presence of the living Christ, whilst rejecting man-made interpretations of Him and of His message, and which emphasizes the authority of the human soul.

Không có hy vọng nào cho thế giới tương lai ngoại trừ trong một nhân loại chấp nhận sự kiện của thiên tính, ngay cả khi bác bỏ thần học, nhận ra sự hiện diện của Đức Christ sống động, trong khi từ chối các diễn giải do con người tạo ra về Ngài và thông điệp của Ngài, và nhấn mạnh thẩm quyền của linh hồn con người.

The future which lies ahead is full of promise. Let us base our optimism upon humanity itself. Let us recognize the self-proven fact that there is a peculiar quality in every man, an innate, inherent characteristic to which one may give the name “mystical perception”. This characteristic connotes an undying, though oft unrecognized, sense of divinity; it involves the constant possibility to vision and contact the soul and to grasp (with increasing aptitude) the nature of the universe. It enables the philosopher to appreciate the world of meaning and—through that perception—to touch Reality. It is, above all else, the power to love and to go out towards that which is other than the self. It confers the ability to grasp ideas. The history of mankind is [36] fundamentally the history of the growth of ideas, progressively realized and of man’s determination to live by them; with this power goes the capacity to sense the unknown, to believe in the unprovable, to seek, search and demand the revelation of that which is hidden and undiscovered and which—century after century owing to this demanding spirit of investigation—is revealed. It is the power to recognize the beautiful, the true and the good and by means of the creative arts to prove their existence. It is this inherent, spiritual faculty which has produced all the great Sons of God, all truly spiritual people, all artists, scientists, humanitarians and philosophers and all who, with sacrifice, love their fellowmen.

Tương lai phía trước đầy hứa hẹn. Chúng ta hãy đặt nền cho niềm lạc quan của mình trên chính nhân loại. Chúng ta hãy nhận ra sự kiện tự chứng rằng trong mỗi con người có một phẩm tính đặc biệt, một đặc tính bẩm sinh, cố hữu mà người ta có thể gọi là “tri giác thần bí”. Đặc tính này hàm ý một ý thức bất diệt về thiên tính, dù thường không được nhận ra; nó bao hàm khả năng thường hằng để có tầm nhìn và tiếp xúc linh hồn, và để nắm bắt, với năng lực ngày càng tăng, bản chất của vũ trụ. Nó giúp triết gia nhận thức Thế giới của ý nghĩa và, qua tri giác ấy, chạm đến Thực Tại. Trên hết mọi điều, đó là quyền năng yêu thương và vươn ra hướng tới điều khác với bản ngã. Nó ban cho khả năng nắm bắt các ý tưởng. Lịch sử nhân loại [36] về căn bản là lịch sử của sự tăng trưởng các ý tưởng, được nhận ra dần dần, và của quyết tâm của con người sống theo chúng; đi kèm với quyền năng này là khả năng cảm nhận điều chưa biết, tin vào điều không thể chứng minh, tìm kiếm, truy tầm và đòi hỏi sự mặc khải của điều bị che giấu và chưa được khám phá, điều mà, thế kỷ này qua thế kỷ khác nhờ tinh thần khảo cứu đầy đòi hỏi ấy, được mặc khải. Đó là quyền năng nhận ra cái đẹp, cái chân và cái thiện, và bằng các nghệ thuật sáng tạo chứng minh sự hiện hữu của chúng. Chính quan năng tinh thần cố hữu này đã sản sinh tất cả các Con vĩ đại của Thượng đế, tất cả những người thật sự tinh thần, mọi nghệ sĩ, nhà khoa học, nhà nhân đạo và triết gia, cùng tất cả những ai, với sự hy sinh, yêu thương đồng loại của mình.

Here lie the grounds for optimism and courage on the part of all true educators and here is the true incentive to all their efforts.

Chính ở đây có những nền tảng cho sự lạc quan và lòng can đảm nơi tất cả các nhà giáo dục chân chính, và chính ở đây có động lực đích thực cho mọi nỗ lực của họ.

The Present Problem of Youth

Vấn Đề Hiện Nay của Thanh Thiếu Niên

The world, as known to people over forty years of age, has crumbled and is fast disappearing. The old values are fading out and what we call “civilization” (that civilization we have thought so wonderful) is vanishing. Some of us are thankful it is so. Others regard it as a disaster. All of us are distressed that the means of its dissolution have brought so much agony and suffering to humanity everywhere.

Thế giới, như những người trên bốn mươi tuổi từng biết đến, đã sụp đổ và đang nhanh chóng biến mất. Những giá trị cũ đang phai tàn, và điều mà chúng ta gọi là “văn minh” — nền văn minh mà chúng ta từng nghĩ là kỳ diệu đến thế — đang tan biến. Một số người trong chúng ta biết ơn vì điều ấy là như vậy. Những người khác xem đó là một thảm họa. Tất cả chúng ta đều đau buồn vì những phương tiện đưa đến sự tan rã của nó đã đem lại quá nhiều thống khổ và đau đớn cho nhân loại ở khắp nơi.

Civilization might be defined as the reaction of humanity to the purpose and the activities of a particular world period and its type of thinking. In each age, some idea functions and expresses itself in both racial and national idealisms. Its basic trend down the centuries has produced our modern world and this has been materialistic. The aim has been physical comfort; science and the arts have been prostituted to the task of giving man a comfortable and if possible a beautiful [37] environment; all the products of nature have been subordinated to giving humanity things. The aim of education, generally speaking, has been to equip the child to compete with his fellow citizens in “making a living”, in accumulating possessions and in being as comfortable and successful as possible.

Văn minh có thể được định nghĩa là phản ứng của nhân loại đối với mục đích và các hoạt động của một thời kỳ thế giới đặc thù cùng kiểu tư duy của thời kỳ ấy. Trong mỗi thời đại, một ý tưởng nào đó hoạt động và biểu lộ chính nó trong các lý tưởng của nhân loại và quốc gia. Khuynh hướng căn bản của nó qua nhiều thế kỷ đã tạo ra thế giới hiện đại của chúng ta, và khuynh hướng này đã mang tính duy vật. Mục tiêu là sự tiện nghi hồng trần; khoa học và nghệ thuật đã bị lạm dụng vào nhiệm vụ đem lại cho con người một môi trường tiện nghi và, nếu có thể, đẹp đẽ [37]; mọi sản phẩm của thiên nhiên đều đã bị đặt dưới mục tiêu cung cấp cho nhân loại đồ vật. Mục tiêu của giáo dục, nói chung, là trang bị cho đứa trẻ khả năng cạnh tranh với đồng bào của nó trong việc “kiếm sống”, trong việc tích lũy tài sản và trong việc được tiện nghi cũng như thành công hết mức có thể.

This education has also been primarily competitive, nationalistic and, therefore, separative. It has trained the child to regard the material values as of major importance, to believe that his particular nation is also of major importance and that every other nation is secondary; it has fed pride and fostered the belief that he, his group and his nation are infinitely superior to other people and peoples. He is taught consequently to be a one-sided person with his world values wrongly adjusted and his attitudes to life distinguished by bias and prejudice. The rudiments of the arts are taught him in order to enable him to function with the needed efficiency in a competitive setting and in his particular vocational environment. Reading, writing and elementary arithmetic are regarded as minimum requirements, plus some knowledge of historical and geographical events. Some of the literature of the world is also brought to his attention. The general level of civilized information is relatively high, but it is biased and influenced by religious and national prejudices which are instilled into the child from his earliest years, but which are not innate. World citizenship is not emphasized; his responsibility to his fellowmen is systematically ignored; his memory is developed through the impartation of uncorrelated facts—most of them unrelated to daily living.

Nền giáo dục này cũng chủ yếu mang tính cạnh tranh, quốc gia chủ nghĩa và, do đó, chia rẽ. Nó đã huấn luyện đứa trẻ xem các giá trị vật chất là điều có tầm quan trọng chủ yếu, tin rằng quốc gia riêng của nó cũng có tầm quan trọng chủ yếu và mọi quốc gia khác chỉ là thứ yếu; nó đã nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh và cổ vũ niềm tin rằng y, nhóm của y và quốc gia của y cao hơn vô hạn so với những người và các dân tộc khác. Do đó, y được dạy để trở thành một con người phiến diện, với các giá trị thế giới bị điều chỉnh sai lạc và thái độ đối với đời sống bị chi phối bởi thiên kiến và định kiến. Những rudiment của nghệ thuật được dạy cho y nhằm giúp y hoạt động với hiệu quả cần thiết trong một bối cảnh cạnh tranh và trong môi trường nghề nghiệp riêng của y. Đọc, viết và số học sơ đẳng được xem là những yêu cầu tối thiểu, cộng thêm một số hiểu biết về các sự kiện lịch sử và địa lý. Một phần văn học của thế giới cũng được đưa đến sự chú ý của y. Trình độ thông tin văn minh nói chung tương đối cao, nhưng nó thiên lệch và chịu ảnh hưởng của những định kiến tôn giáo và quốc gia vốn được gieo vào đứa trẻ từ những năm đầu đời, nhưng không phải là bẩm sinh. Quyền công dân thế giới không được nhấn mạnh; trách nhiệm của y đối với đồng loại bị phớt lờ một cách có hệ thống; trí nhớ của y được phát triển qua việc truyền đạt những sự kiện rời rạc — phần lớn không liên hệ đến đời sống hằng ngày.

Our present civilization will go down in history as grossly materialistic. There have been many material epochs in history but none so generally widespread as the present or which have involved such untold millions. [38] We are constantly told that the cause of this war is economic; that is surely so but the reason is that we have demanded so much of comfort and of “things” in order to live “reasonably well”. We require so much more than our forefathers needed; we prefer a soft and relatively easy life; the pioneering spirit (which is the background of all nations) has faded, in most cases, into a soft civilization. This is particularly true of the Western hemisphere. Our standard of civilized living is far too high from the standpoint of possessions and far too low from the angle of the spiritual values or when subjected to an intelligent sense of proportion. Our modern civilization will not stand up to the acid test of value. A nation is today regarded as civilized when it sets a value on mental development, when it puts a premium on analysis and criticism and when all its resources are directed towards the satisfying of physical desire, towards the production of material things and towards the implementing of material purposes as well as towards dominating competitively in the world, towards the amassing of riches, the acquiring of property, the achievement of a high standard of material living and towards the cornering of the produce of the earth—largely for the benefit of certain groups of ambitious and wealthy men.

Nền văn minh hiện nay của chúng ta sẽ đi vào lịch sử như một nền văn minh duy vật thô thiển. Đã có nhiều thời kỳ duy vật trong lịch sử, nhưng không thời kỳ nào phổ biến rộng khắp như hiện nay, hay lôi cuốn vào đó những triệu triệu người không kể xiết. [38] Chúng ta thường xuyên được bảo rằng nguyên nhân của cuộc chiến này là kinh tế; điều đó chắc chắn đúng, nhưng lý do là vì chúng ta đã đòi hỏi quá nhiều tiện nghi và “đồ vật” để có thể sống “tương đối tốt”. Chúng ta cần nhiều hơn rất nhiều so với những gì tổ tiên chúng ta cần; chúng ta ưa một đời sống mềm mại và tương đối dễ dàng; tinh thần khai phá — vốn là nền tảng của mọi quốc gia — trong hầu hết các trường hợp đã phai nhạt thành một nền văn minh mềm yếu. Điều này đặc biệt đúng với bán cầu Tây. Tiêu chuẩn sống văn minh của chúng ta quá cao xét từ quan điểm sở hữu, và quá thấp xét từ góc độ các giá trị tinh thần hoặc khi được đặt dưới một Ý thức về tỉ lệ sáng suốt. Nền văn minh hiện đại của chúng ta sẽ không đứng vững trước phép thử khắc nghiệt của giá trị. Ngày nay, một quốc gia được xem là văn minh khi quốc gia ấy đặt giá trị vào sự phát triển trí tuệ, khi quốc gia ấy đề cao phân tích và phê bình, và khi mọi nguồn lực của quốc gia ấy được hướng đến việc thỏa mãn ham muốn hồng trần, sản xuất những vật phẩm vật chất và thực hiện các mục đích vật chất, cũng như hướng đến việc thống trị bằng cạnh tranh trên thế giới, tích lũy của cải, chiếm hữu tài sản, đạt một mức sống vật chất cao và thâu tóm sản vật của Trái Đất — phần lớn vì lợi ích của một số nhóm người đầy tham vọng và giàu có.

This is a drastic generalization but it is basically correct in its main implications, though incorrect where individuals are concerned. For this sad and dire situation (entirely of humanity’s own making) we pay the penalty of war. Neither the churches nor our educational systems have been sound enough in their presentation of truth to offset this materialistic tendency. The tragedy is that the children of the world have paid and are paying the price of our wrong-doing. War has its roots in greed; material ambition has motivated all the nations without exception; all our planning has been [39] directed to the organization of the national life so that material possession, competitive supremacy and individual and national selfish interests would control. All nations, in their own way and degree, have contributed to this; none has clean hands and hence war. Humanity has the habit of selfishness and an inherent love of material possessions. This has produced our modern civilization and, for this reason, it is being changed.

Đây là một khái quát hóa mạnh mẽ, nhưng về căn bản là đúng trong những hàm ý chính của nó, dù không đúng khi xét đến từng cá nhân. Vì tình trạng đáng buồn và nghiêm trọng này — hoàn toàn do chính nhân loại tạo ra — chúng ta phải trả giá bằng chiến tranh. Cả các giáo hội lẫn các hệ thống giáo dục của chúng ta đều chưa đủ vững chắc trong việc trình bày chân lý để hóa giải khuynh hướng duy vật này. Bi kịch là trẻ em của thế giới đã và đang trả giá cho những hành động sai trái của chúng ta. Chiến tranh có gốc rễ trong lòng tham; tham vọng vật chất đã thúc đẩy mọi quốc gia không ngoại lệ; mọi hoạch định của chúng ta đều đã [39] hướng đến việc tổ chức đời sống quốc gia sao cho sự sở hữu vật chất, ưu thế cạnh tranh và những lợi ích ích kỷ của cá nhân cũng như quốc gia nắm quyền kiểm soát. Mọi quốc gia, theo cách riêng và mức độ riêng của mình, đều đã góp phần vào điều này; không quốc gia nào có đôi tay sạch, và vì thế có chiến tranh. Nhân loại có thói quen ích kỷ và một tình yêu cố hữu đối với của cải vật chất. Điều này đã tạo ra nền văn minh hiện đại của chúng ta và, vì lý do đó, nó đang được thay đổi.

The cultural factor in any civilization is its preservation and consideration of all the best the past has given, and its evaluation and study of the arts, the literature, the music and the creative life of all nations—past and present. It concerns the refining influence of these factors upon a nation and upon those individuals in a nation who are so situated (usually financially) that they can profit from them and appreciate them. The knowledge and understanding thus gained enable the man of culture to relate the world of meaning (as inherited from the past) to the world of appearances in which he lives and to regard them as one world, but one existing primarily for his individual benefit. When, however, to an appreciation of our planetary and racial inheritance, both creative and historical, he adds an understanding of the spiritual and moral values, then we have an approximation to what the truly spiritual man is intended to be. In relation to the total population of the planet, such men are few and far between, but they guarantee to the rest of humanity a genuine possibility.

Yếu tố văn hóa trong bất kỳ nền văn minh nào là việc gìn giữ và trân trọng tất cả những gì tốt đẹp nhất mà quá khứ đã trao lại, cũng như việc đánh giá và nghiên cứu nghệ thuật, văn học, âm nhạc và đời sống sáng tạo của mọi quốc gia — quá khứ và hiện tại. Nó liên quan đến ảnh hưởng tinh luyện của các yếu tố này lên một quốc gia và lên những cá nhân trong một quốc gia có vị thế — thường là về tài chính — để có thể hưởng lợi từ chúng và trân trọng chúng. Tri thức và sự thấu hiểu nhờ đó mà có giúp con người có văn hóa liên hệ Thế giới của ý nghĩa — như được thừa hưởng từ quá khứ — với thế giới của các sắc tướng mà y đang sống trong đó, và xem chúng như một thế giới duy nhất, nhưng là một thế giới hiện hữu chủ yếu vì lợi ích cá nhân của y. Tuy nhiên, khi y thêm vào sự trân trọng di sản hành tinh và nhân loại của chúng ta, cả sáng tạo lẫn lịch sử, một sự thấu hiểu về các giá trị tinh thần và đạo đức, thì khi ấy chúng ta có một sự xấp xỉ với điều mà con người tinh thần đích thực được dự định trở thành. So với toàn bộ dân số của hành tinh, những người như thế rất ít và hiếm hoi, nhưng họ bảo đảm cho phần còn lại của nhân loại một khả năng chân thực.

Will cultured people realize their opportunity? Will our civilized citizens embrace the chance to build afresh—not a material civilization this time but a world of beauty and of right human relations, a world in which children can indeed grow into the likeness of the One Father and in which man can return to the simplicity of the spiritual values of beauty, truth and goodness? [40]

Liệu những người có văn hóa có nhận ra cơ hội của họ không? Liệu các công dân văn minh của chúng ta có nắm lấy cơ hội để xây dựng lại từ đầu — lần này không phải một nền văn minh vật chất, mà là một thế giới của vẻ đẹp và của những mối quan hệ nhân loại đúng đắn, một thế giới trong đó trẻ em quả thật có thể lớn lên theo hình ảnh của Đấng Cha Duy Nhất, và trong đó con người có thể trở về với sự giản dị của các giá trị tinh thần về vẻ đẹp, chân lý và thiện lành không? [40]

Yet, facing the worldwide reconstruction demanded and the well-nigh impossible task of salvaging the children and youth of the world, there are those today who are engaged in raising funds to rebuild stone churches and restore ancient buildings, thus demanding money which is sorely needed to restore broken bodies, to heal psychological wounds and to produce the warmth of love and understanding among those who believe that such qualities do not exist!

Tuy nhiên, trước công cuộc tái thiết toàn cầu đang được đòi hỏi và nhiệm vụ gần như bất khả thi là cứu vớt trẻ em và thanh thiếu niên của thế giới, ngày nay vẫn có những người đang bận rộn quyên góp tiền để xây dựng lại các nhà thờ đá và phục hồi những công trình cổ xưa, qua đó đòi hỏi số tiền đang vô cùng cần thiết để phục hồi những thân thể tan nát, chữa lành các vết thương tâm lý và tạo ra hơi ấm của tình thương cùng sự thấu hiểu nơi những người tin rằng các phẩm tính ấy không hề tồn tại!

The Immediate Need of the Children

Nhu Cầu Trước Mắt của Trẻ Em

The magnitude of the problems to be faced may well leave us bewildered and at a loss how to answer the many questions which immediately arise in our minds. How can we lay the foundation for a long range programme of reconstruction, of education and development as it affects the youth of the world and thus guarantee a new and better world? What basic plans must be laid which will be appropriate for so many differing races and nationalities? In the face of understandable hatreds and deep-seated prejudices, how can we make a sound beginning?

Tầm vóc của những vấn đề phải đối diện rất có thể khiến chúng ta bối rối và không biết trả lời ra sao trước nhiều câu hỏi tức khắc nảy sinh trong trí mình. Làm thế nào chúng ta có thể đặt nền tảng cho một chương trình dài hạn về tái thiết, giáo dục và phát triển khi chương trình ấy ảnh hưởng đến thanh thiếu niên của thế giới, và nhờ đó bảo đảm một thế giới mới và tốt đẹp hơn? Những kế hoạch căn bản nào phải được đặt ra để phù hợp với rất nhiều nhân loại và quốc tịch khác nhau? Trước những hận thù có thể hiểu được và những định kiến ăn sâu, làm thế nào chúng ta có thể khởi đầu một cách vững chắc?

The ethical and moral values among the children, particularly among the adolescent boys and girls, have deteriorated and the spiritual values will need awakening. There is direct evidence, however, that this spiritual awakening is already sweeping over Europe and that perhaps from that continent may come that new spiritual tide which will turn the entire world to better things and which will ensure that our materialistic civilization has gone, never to return. A spiritual renaissance is inevitable and is nowhere more needed than in those countries which have escaped the worst aspects of war. For this renaissance we must look and make preparation. [41]

Các giá trị luân lý và đạo đức nơi trẻ em, đặc biệt nơi các thiếu niên và thiếu nữ tuổi vị thành niên, đã suy thoái, và các giá trị tinh thần sẽ cần được đánh thức. Tuy nhiên, có bằng chứng trực tiếp rằng sự thức tỉnh tinh thần này đã và đang quét qua châu Âu, và có lẽ từ lục địa ấy có thể xuất hiện làn triều tinh thần mới sẽ xoay chuyển toàn thế giới hướng đến những điều tốt đẹp hơn và sẽ bảo đảm rằng nền văn minh duy vật của chúng ta đã qua đi, không bao giờ trở lại. Một cuộc phục hưng tinh thần là điều không thể tránh khỏi, và không nơi nào cần nó hơn những quốc gia đã thoát khỏi những phương diện tệ hại nhất của chiến tranh. Chúng ta phải trông đợi cuộc phục hưng này và chuẩn bị cho nó. [41]

The next urgent problem is surely the psychological rehabilitation of youth. It is a question whether the children of Europe, of China, of Great Britain and Japan will ever completely recover from the effects of war. The early and formative years of their lives have been spent under war conditions and—resilient as children are—there are bound to be certain traces left of what they have seen, heard and suffered. There will be exceptions, particularly in Great Britain and parts of France. Time alone will indicate the extent of the damage done. Much can, however, be offset and even obliterated by the wise action of parents, doctors, nurses and educators. It is sad to report that little has been planned by the psychologists and neurologists along this needed line of salvage; yet their specialized work is sorely needed and is as urgent a demand as that for food and clothing.

Vấn đề khẩn cấp kế tiếp chắc chắn là sự phục hồi tâm lý của thanh thiếu niên. Vấn đề đặt ra là liệu trẻ em châu Âu, Trung Hoa, Anh Quốc và Nhật Bản có bao giờ hoàn toàn hồi phục khỏi những ảnh hưởng của chiến tranh hay không. Những năm đầu đời và định hình của chúng đã trôi qua trong điều kiện chiến tranh, và — dù trẻ em có sức bật đến đâu — nhất định vẫn còn những dấu vết nào đó của những gì chúng đã thấy, đã nghe và đã chịu đựng. Sẽ có những ngoại lệ, đặc biệt ở Anh Quốc và một vài vùng của Pháp. Chỉ thời gian mới cho thấy mức độ thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, nhiều điều có thể được hóa giải và thậm chí xóa bỏ bằng hành động sáng suốt của cha mẹ, bác sĩ, y tá và các nhà giáo dục. Thật đáng buồn khi phải nói rằng các nhà tâm lý học và thần kinh học hầu như chưa hoạch định được gì theo tuyến cứu vớt cần thiết này; tuy vậy, công việc chuyên môn của họ đang vô cùng cần thiết và là một đòi hỏi khẩn cấp không kém gì nhu cầu về thực phẩm và áo quần.

It is valuable also to remind ourselves in all our planning and with all our good intentions that the various nations, involved in the world war and whose countries have felt the full brunt of occupation, are laying their own plans. They know what they want; they are determined, as far as possible, to care for their own people, to salvage their own children, to restore their own special cultures and their lands. The task of the Great Powers (with their vast resources) and of the philanthropists and humanitarians throughout the world should be to cooperate with these people. It is not their task to impose upon them what they, from the vantage point of their position, believe to be good for them. These nations want understanding cooperation; they want the implements for agriculture, immediate relief in food and clothing, plus the wherewithal to start again their educational institutions, to organize their schools and to equip them with what is immediately required. They certainly do not want a horde of [42] well-meaning people taking over their educational or medical institutions, or imposing democratic, communistic or any other particular ideology upon them. Naturally, the principles of Nazism and of Fascism must be swept away, but the nations must be free to work out their own destiny. They have each of them their own traditions, cultures and backgrounds. They are being forced to build anew but what they build must be their own; it must be distinctive of them and an expression of their own inner life. It is surely the function of the wealthier and free nations to help them to build so that the new world can come into being. Each nation must tackle the problem of its restoration in its own way.

Cũng rất có giá trị khi nhắc nhở chính mình, trong mọi kế hoạch và với mọi thiện chí của chúng ta, rằng các quốc gia khác nhau bị cuốn vào cuộc chiến thế giới và có đất nước phải hứng chịu toàn bộ sức nặng của sự chiếm đóng, đang đặt ra những kế hoạch riêng của họ. Họ biết họ muốn gì; họ quyết tâm, trong mức có thể, chăm lo cho dân của chính họ, cứu vớt trẻ em của chính họ, phục hồi các nền văn hóa đặc thù và đất đai của chính họ. Nhiệm vụ của các Cường Quốc — với những nguồn lực rộng lớn của họ — và của các nhà từ thiện cùng những người nhân đạo trên khắp thế giới phải là hợp tác với các dân tộc này. Nhiệm vụ của họ không phải là áp đặt lên các dân tộc ấy những gì mà họ, từ vị thế thuận lợi của mình, tin là tốt cho họ. Các quốc gia này muốn sự hợp tác đầy thấu hiểu; họ muốn các công cụ cho nông nghiệp, sự cứu trợ tức thời về lương thực và áo quần, cộng thêm phương tiện để khởi động lại các cơ sở giáo dục, tổ chức các trường học và trang bị cho chúng những gì cần thiết ngay lập tức. Chắc chắn họ không muốn một đám đông [42] những người đầy thiện chí tiếp quản các cơ sở giáo dục hay y tế của họ, hoặc áp đặt lên họ hệ tư tưởng dân chủ, cộng sản hay bất kỳ hệ tư tưởng đặc thù nào khác. Đương nhiên, các nguyên lý của chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa Phát xít phải bị quét sạch, nhưng các quốc gia phải được tự do thực hiện định mệnh riêng của mình. Mỗi quốc gia đều có những truyền thống, văn hóa và bối cảnh riêng. Họ đang bị buộc phải xây dựng lại, nhưng điều họ xây dựng phải là của riêng họ; nó phải mang nét đặc thù của họ và là sự biểu lộ đời sống bên trong của chính họ. Chắc chắn chức năng của các quốc gia giàu có hơn và tự do là giúp họ xây dựng để thế giới mới có thể đi vào hiện hữu. Mỗi quốc gia phải tự mình giải quyết vấn đề phục hồi của mình theo cách riêng.

This need not mean disunity; it should mean a richer and more colourful world. It need not mean separation or the building of barriers or the retiring behind walls of prejudice and racial bias. There are two major linking relationships which should be cultivated and which will bring about a closer understanding in the world of men. These are religion and education. In this chapter we are considering the factor of education which has in the past so greatly failed to promote world unity (as the war has proved) but which can in the future so wisely control.

Điều này không cần phải có nghĩa là sự bất nhất; nó nên có nghĩa là một thế giới phong phú và nhiều màu sắc hơn. Nó không cần phải có nghĩa là sự chia tách hay dựng lên các rào cản hoặc rút lui vào sau những bức tường của định kiến và thiên kiến chủng tộc. Có hai mối liên hệ nối kết chủ yếu cần được vun bồi và sẽ đem lại một sự thấu hiểu gần gũi hơn trong thế giới loài người. Đó là tôn giáo và giáo dục. Trong chương này, chúng ta đang xem xét yếu tố giáo dục, yếu tố trong quá khứ đã thất bại rất lớn trong việc thúc đẩy sự thống nhất thế giới — như chiến tranh đã chứng minh — nhưng trong tương lai có thể kiểm soát một cách sáng suốt đến thế.

We are today witnessing the slow but steady formation of international groups, banded together to preserve world security, to protect labour, to deal with world economics and to preserve the integrity and the sovereignty of nations whilst committing each and all to a definite part in the work of securing right human relations throughout the planet. Whether we agree or not with the details or the specific commitments proposed, the formation of international advisory councils, and above all, of the United Nations, are hopeful indications of the moving forward of humanity into a [43] world where right human relations are regarded as essential to the peace of the world, where goodwill is recognized and where provision is made for the implementing of those conditions which will prevent war and aggression.

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự hình thành chậm rãi nhưng vững chắc của các nhóm quốc tế, liên kết với nhau để gìn giữ an ninh thế giới, bảo vệ lao động, đề cập đến kinh tế thế giới và gìn giữ sự toàn vẹn cùng chủ quyền của các quốc gia, đồng thời ràng buộc từng quốc gia và tất cả các quốc gia vào một phần xác định trong công việc bảo đảm những mối quan hệ nhân loại đúng đắn trên khắp hành tinh. Dù chúng ta có đồng ý hay không với các chi tiết hoặc những cam kết cụ thể được đề xuất, việc hình thành các hội đồng cố vấn quốc tế, và trên hết là Liên Hiệp Quốc, là những dấu hiệu đầy hy vọng cho thấy nhân loại đang tiến vào một [43] thế giới nơi những mối quan hệ nhân loại đúng đắn được xem là thiết yếu đối với hòa bình của thế giới, nơi thiện chí được công nhận và nơi các điều kiện nhằm ngăn chặn chiến tranh và xâm lược được dự liệu để thực hiện.

In the field of education some such united action is also essential. Surely a basic unity of objectives should govern the educational systems of the nations, even though uniformity of method and of techniques may not be possible. Differences of language, of background and of culture will and should always exist; they constitute the beautiful tapestry of human living down the ages. But much that has hitherto militated against right human relations must and should be eliminated.

Trong lĩnh vực giáo dục, một hành động thống nhất nào đó như thế cũng là điều thiết yếu. Chắc chắn một sự thống nhất căn bản về mục tiêu phải chi phối các hệ thống giáo dục của các quốc gia, dù sự đồng nhất về phương pháp và kỹ thuật có thể không khả thi. Những khác biệt về ngôn ngữ, bối cảnh và văn hóa sẽ luôn tồn tại và nên luôn tồn tại; chúng tạo nên tấm thảm đẹp đẽ của đời sống nhân loại qua các thời đại. Nhưng nhiều điều cho đến nay đã chống lại những mối quan hệ nhân loại đúng đắn phải và nên được loại bỏ.

In the teaching of history, for instance, are we to revert to the old ways wherein each nation glorifies itself at the expense frequently of other nations, in which facts are systematically garbled, in which the pivotal points in history are the various wars down the ages—a history, therefore, of aggression, of the rise of a material and selfish civilization and one which has fed the nationalistic and, therefore, separative spirit, which has fostered racial hatreds and stimulated national prides? The first historical date usually remembered by the average British child is “William, the Conqueror, 1066”. The American child remembers the landing of the Pilgrim Fathers and the gradual taking of the country from its rightful inhabitants and perhaps the Boston Tea Party. The heroes of history are all warriors—Alexander the Great, Julius Caesar, Attila the Hun, Richard Coeur de Lion, Napoleon, George Washington and many others. Geography is largely history in another form but presented in a similar manner—a history of discovery, investigation and seizure, followed frequently by wicked and cruel treatment of the inhabitants of the discovered lands. Greed, ambition, [44] cruelty and pride are the keynotes of our teaching of history and geography.

Chẳng hạn, trong việc giảng dạy lịch sử, liệu chúng ta có quay lại những cách cũ, trong đó mỗi quốc gia tôn vinh chính mình, thường là bằng cái giá của các quốc gia khác, trong đó các sự kiện bị bóp méo một cách có hệ thống, trong đó các điểm then chốt của lịch sử là những cuộc chiến khác nhau qua các thời đại — do đó là một lịch sử của xâm lược, của sự trỗi dậy của một nền văn minh vật chất và ích kỷ, một nền văn minh đã nuôi dưỡng tinh thần quốc gia chủ nghĩa và vì thế là chia rẽ, đã cổ vũ hận thù chủng tộc và kích thích lòng kiêu hãnh quốc gia? Niên đại lịch sử đầu tiên thường được đứa trẻ Anh trung bình ghi nhớ là “William, Kẻ Chinh Phục, 1066”. Đứa trẻ Mỹ ghi nhớ cuộc đổ bộ của các Giáo phụ Hành hương và việc dần dần chiếm lấy đất nước từ những cư dân chính đáng của nó, và có lẽ cả Sự kiện Trà Boston. Các anh hùng của lịch sử đều là chiến binh — Alexander Đại Đế, Julius Caesar, Attila người Hung, Richard Tim Sư Tử, Napoleon, George Washington và nhiều người khác. Địa lý phần lớn là lịch sử dưới một hình thức khác nhưng được trình bày theo cách tương tự — một lịch sử của khám phá, khảo sát và chiếm đoạt, thường tiếp theo bằng sự đối xử độc ác và tàn nhẫn đối với cư dân của những vùng đất được khám phá. Lòng tham, tham vọng, [44] sự tàn ác và kiêu hãnh là các chủ âm trong việc giảng dạy lịch sử và địa lý của chúng ta.

The wars, aggressions and thefts which have distinguished every great nation without exception are facts and cannot be denied. Surely, however, the lessons of the evils which they wrought (culminating in the war 1914-1945) can be pointed out and the ancient causes of present day prejudices and dislikes can be shown and their futility emphasized. Is it not possible to build our theory of history upon the great and good ideas which have conditioned the nations and made them what they are? To emphasize the creativity which has distinguished all of them? Can we not present more effectively the great cultural epochs which—suddenly appearing in some one nation—enriched the entire world and gave to humanity its literature, its art and its vision?

Những cuộc chiến, xâm lược và cướp đoạt đã làm nổi bật mọi quốc gia lớn không ngoại lệ là những sự kiện có thật và không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chắc chắn có thể chỉ ra các bài học về những điều ác mà chúng đã gây nên — lên đến đỉnh điểm trong cuộc chiến 1914-1945 — và có thể cho thấy những nguyên nhân cổ xưa của các định kiến và sự ghét bỏ ngày nay, đồng thời nhấn mạnh sự vô ích của chúng. Chẳng lẽ không thể xây dựng lý thuyết lịch sử của chúng ta trên những ý tưởng lớn lao và tốt đẹp đã tác động lên các quốc gia và làm cho họ trở thành như hiện nay sao? Không thể nhấn mạnh tính sáng tạo đã làm nổi bật tất cả các quốc gia ấy sao? Chúng ta không thể trình bày hiệu quả hơn những thời kỳ văn hóa lớn lao — đột nhiên xuất hiện trong một quốc gia nào đó — đã làm phong phú toàn thế giới và trao cho nhân loại văn học, nghệ thuật và tầm nhìn của mình sao?

The world war has produced great migrations. Armies have marched and fought in every part of the world; persecuted peoples have escaped from one land to another; welfare workers have gone from country to country, serving the soldiers, salvaging the sick, feeding the hungry and studying conditions. The world today is very small and men are discovering (sometimes for the first time in their lives) that humanity is one and that all men, no matter what the colour of their skin or the country in which they live, resemble each other. We are all intermingled today. The United States is composed of people from every known country; over fifty different races or nations compose the U.S.S.R. The United Kingdom is a Commonwealth of independent nations bound together into one group. India is composed of a multiplicity of peoples, religions and tongues and hence her problem. The world itself is a great fusing pot, out of which the One Humanity is emerging. This necessitates a drastic change in our [45] methods of presenting history and geography. Science has always been universal. Great art and literature have always belonged to the world. It is upon these facts that the education to be given to the children of the world must be built—upon our similarities, our creative achievements, our spiritual idealisms, and our points of contact. Unless this is done, the wounds of the nations will never be healed and the barriers which have existed for centuries will never be removed.

Cuộc chiến thế giới đã tạo ra những cuộc di cư lớn. Các đạo quân đã hành quân và chiến đấu ở mọi phần của thế giới; những dân tộc bị bách hại đã trốn thoát từ xứ này sang xứ khác; những người hoạt động phúc lợi đã đi từ quốc gia này sang quốc gia khác, phụng sự binh sĩ, cứu vớt người bệnh, nuôi người đói và nghiên cứu các điều kiện. Ngày nay, thế giới rất nhỏ, và con người đang khám phá — đôi khi lần đầu tiên trong đời — rằng nhân loại là một, và mọi người, bất kể màu da hay quốc gia nơi họ sống, đều giống nhau. Ngày nay tất cả chúng ta đều hòa lẫn với nhau. Hoa Kỳ gồm những người đến từ mọi quốc gia được biết đến; hơn năm mươi nhân loại hay quốc gia khác nhau hợp thành Liên bang Xô viết. Vương quốc Anh là một Khối Thịnh Vượng Chung của các quốc gia độc lập được liên kết thành một nhóm. Ấn Độ gồm nhiều dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, và vì thế có vấn đề của mình. Chính thế giới là một nồi dung hợp lớn, từ đó Nhân Loại Duy Nhất đang xuất hiện. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ trong [45] các phương pháp trình bày lịch sử và địa lý của chúng ta. Khoa học luôn luôn mang tính phổ quát. Nghệ thuật và văn học lớn lao luôn luôn thuộc về thế giới. Chính trên những sự kiện này mà nền giáo dục dành cho trẻ em của thế giới phải được xây dựng — trên những điểm tương đồng của chúng ta, những thành tựu sáng tạo của chúng ta, các lý tưởng tinh thần của chúng ta và những điểm tiếp xúc của chúng ta. Nếu điều này không được thực hiện, các vết thương của các quốc gia sẽ không bao giờ được chữa lành, và những rào cản đã tồn tại qua nhiều thế kỷ sẽ không bao giờ được gỡ bỏ.

The educators who face the present world opportunity should see to it that a sound foundation is laid for the coming civilization; they should undertake that it is general and universal in its scope, truthful in its presentation and constructive in its approach. What initial steps the educators of the different countries take will inevitably determine the nature of the coming civilization. They should prepare for a renaissance of all the arts and for a new and free flow of the creative spirit in man. They should lay an emphatic importance upon those great moments in human history wherein man’s divinity flamed forth and indicated new ways of thinking, new modes of human planning and thus changed for all time the trend of human affairs. These moments produced the Magna Charta; they gave emphasis, through the French Revolution, to the concepts of liberty, equality and fraternity; they formulated the American Bill of Rights, and on the high seas and in our own time and day they gave us the Atlantic Charter and the Four Freedoms. These are the great concepts which must govern the new age with its nascent civilization and its future culture. If the children of today are taught the significance of these five great declarations and are, at the same time, taught the futility of hate and war, there is hope of a better and happier as well as of a safer world.

Các nhà giáo dục đang đối diện với cơ hội thế giới hiện nay phải bảo đảm rằng một nền tảng vững chắc được đặt cho nền văn minh sắp đến; họ phải đảm nhận sao cho nền tảng ấy có phạm vi chung và phổ quát, trung thực trong cách trình bày và xây dựng trong cách tiếp cận. Những bước đầu mà các nhà giáo dục của các quốc gia khác nhau thực hiện chắc chắn sẽ quyết định bản chất của nền văn minh sắp đến. Họ phải chuẩn bị cho một cuộc phục hưng của mọi ngành nghệ thuật và cho một dòng chảy mới, tự do của tinh thần sáng tạo trong con người. Họ phải đặt tầm quan trọng rõ rệt vào những khoảnh khắc vĩ đại trong lịch sử nhân loại, trong đó thiên tính của con người bừng cháy và chỉ ra những cách tư duy mới, những phương thức hoạch định mới của con người, và do đó mãi mãi thay đổi khuynh hướng của các sự vụ nhân loại. Những khoảnh khắc này đã tạo ra Đại Hiến Chương Magna Charta; qua Cách mạng Pháp, chúng đã nhấn mạnh các khái niệm tự do, bình đẳng và bác ái; chúng đã hình thành Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ, và trên biển cả cũng như trong chính thời đại và ngày nay của chúng ta, chúng đã trao cho chúng ta Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Tự Do. Đây là những khái niệm lớn lao phải chi phối kỷ nguyên mới với nền văn minh đang manh nha và văn hóa tương lai của nó. Nếu trẻ em ngày nay được dạy thâm nghĩa của năm tuyên ngôn vĩ đại này, đồng thời được dạy sự vô ích của hận thù và chiến tranh, thì có hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn cũng như an toàn hơn.

Two major ideas should immediately be taught to [46] the children of every country. They are: the value of the individual and the fact of the one humanity. The war boys and girls have learned from appearances that human life has small value; the fascist countries have taught that the individual is of no value except in so far as he implements the designs of some dictator. In other countries, some people and some groups—through hereditary position or financial assets—are regarded as of importance and the rest of the nation as of little importance. In still other countries, the individual regards himself of so much importance and his right to please himself of so much moment that his relation to the whole is entirely lost. Yet the value of the individual and the existence of that whole which we call Humanity are most closely related. This needs emphasizing. These two principles, when properly taught and understood, will lead to the intensive culture of the individual and then to his recognition of his responsibility as an integral part of the whole body of humanity.

Hai ý tưởng chủ yếu phải được dạy ngay lập tức cho [46] trẻ em của mọi quốc gia. Đó là: giá trị của cá nhân và sự kiện về một nhân loại duy nhất. Các bé trai và bé gái thời chiến đã học từ các sắc tướng rằng đời sống con người có rất ít giá trị; các quốc gia phát xít đã dạy rằng cá nhân không có giá trị, ngoại trừ trong chừng mực y thực hiện các kế hoạch của một nhà độc tài nào đó. Ở những quốc gia khác, một số người và một số nhóm — do địa vị thừa kế hoặc tài sản tài chính — được xem là quan trọng, còn phần còn lại của quốc gia thì ít quan trọng. Ở những quốc gia khác nữa, cá nhân xem chính mình quan trọng đến mức, và quyền làm vừa lòng chính mình quan trọng đến mức, mối liên hệ của y với toàn thể hoàn toàn bị đánh mất. Tuy nhiên, giá trị của cá nhân và sự hiện hữu của toàn thể mà chúng ta gọi là Nhân Loại liên hệ mật thiết nhất với nhau. Điều này cần được nhấn mạnh. Hai nguyên lý này, khi được dạy và thấu hiểu đúng đắn, sẽ dẫn đến sự vun bồi sâu rộng cá nhân, rồi đến việc y nhận ra trách nhiệm của mình như một phần không thể tách rời của toàn bộ thân thể nhân loại.

We have touched upon the physical and psychological rehabilitation of the children and youth of the world. We have suggested that the textbooks be rewritten in terms of right human relations and not from the present nationalistic and separative angles. We have also pointed out certain basic ideas which should be immediately inculcated: the unique value of the individual, the beauty of humanity, the relation of the individual to the whole and his responsibility to fit into the general picture in a constructive manner and voluntarily; we have sought to have the futility of war, of greed and aggression emphasized and that we prepare for a great awakening of the creative faculty in man once security is restored; we have noted the imminence of the coming spiritual renaissance.

Chúng ta đã đề cập đến sự phục hồi hồng trần và tâm lý của trẻ em và thanh thiếu niên thế giới. Chúng ta đã đề nghị rằng các sách giáo khoa nên được viết lại theo những mối quan hệ nhân loại đúng đắn, chứ không theo các góc nhìn quốc gia chủ nghĩa và chia rẽ hiện nay. Chúng ta cũng đã chỉ ra một số ý tưởng căn bản cần được gieo dạy ngay lập tức: giá trị độc nhất của cá nhân, vẻ đẹp của nhân loại, mối liên hệ của cá nhân với toàn thể và trách nhiệm của y trong việc hòa nhập vào bức tranh chung một cách xây dựng và tự nguyện; chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh sự vô ích của chiến tranh, của lòng tham và xâm lược, và rằng chúng ta chuẩn bị cho một sự thức tỉnh lớn lao của năng lực sáng tạo trong con người khi an ninh được khôi phục; chúng ta đã ghi nhận sự cận kề của cuộc phục hưng tinh thần sắp đến.

One of our immediate educational objectives must be the elimination of the competitive spirit and the substitution [47] of the cooperative consciousness. Here the question at once arises: How can one achieve this and at the same time bring about a high level of individual attainment? Is not competition a major spur to all endeavour? This has hitherto been so, but it need not be. The development of an atmosphere which will foster the child’s sense of responsibility and set him free from the inhibitions which fear generates, will enable him to attain even higher results. From the standpoint of the educator, this will entail the creation of the correct atmosphere around the child and in this atmosphere certain qualities will flourish and certain characteristics of responsibility and of goodwill will emerge. What is the nature of this atmosphere?

Một trong những mục tiêu giáo dục trước mắt của chúng ta phải là loại bỏ tinh thần cạnh tranh và thay thế [47] bằng tâm thức hợp tác. Ở đây câu hỏi lập tức nảy sinh: Làm thế nào người ta có thể đạt được điều này, đồng thời tạo ra một trình độ thành tựu cá nhân cao? Chẳng phải cạnh tranh là một động lực chủ yếu cho mọi nỗ lực sao? Cho đến nay điều này đã là như vậy, nhưng không nhất thiết phải như vậy. Việc phát triển một bầu không khí nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm của đứa trẻ và giải phóng nó khỏi những ức chế do sợ hãi tạo ra, sẽ giúp nó đạt được những kết quả còn cao hơn. Từ quan điểm của nhà giáo dục, điều này sẽ đòi hỏi việc tạo ra bầu không khí đúng đắn quanh đứa trẻ, và trong bầu không khí này, một số phẩm tính sẽ nở rộ, và một số đặc tính về trách nhiệm và thiện chí sẽ xuất hiện. Bản chất của bầu không khí này là gì?

1. An atmosphere of love wherein fear is cast out and the child realizes that he has no cause for timidity. It is an atmosphere wherein he will receive courteous treatment and will be expected to be equally courteous to others. This is rare indeed to find in schoolrooms or in homes, for that matter. This atmosphere of love is not an emotional, sentimental form of love but is based upon a realization of the potentialities of the child as an individual, upon freedom from prejudice and racial antagonisms and upon a true compassionate tenderness. This compassionate attitude will be founded upon the recognition of the difficulty of daily living, upon sensitivity to a child’s normally affectionate response, and upon the conviction that love always draws forth what is best in anyone.

1. Một bầu không khí của tình thương, trong đó sợ hãi bị xua đi và đứa trẻ nhận ra rằng nó không có lý do gì để rụt rè. Đó là một bầu không khí trong đó nó sẽ được đối xử lịch sự và sẽ được kỳ vọng cũng lịch sự như thế với người khác. Thật hiếm khi tìm thấy điều này trong lớp học hay trong gia đình. Bầu không khí tình thương này không phải là một hình thức tình yêu cảm xúc, ủy mị, mà dựa trên sự nhận ra các tiềm năng của đứa trẻ như một cá nhân, trên sự tự do khỏi định kiến và các đối kháng chủng tộc, và trên một sự dịu dàng đầy từ bi chân thật. Thái độ từ bi này sẽ được đặt nền trên việc nhận ra sự khó khăn của đời sống hằng ngày, trên sự nhạy cảm đối với đáp ứng trìu mến bình thường của một đứa trẻ, và trên niềm tin rằng tình thương luôn khơi dậy điều tốt đẹp nhất trong bất cứ ai.

2. An atmosphere of patience. It is in such an atmosphere that the child can learn the first rudiments of responsibility. The children being born in this period and who are now to be found everywhere are of high grade intelligence; without knowing it, they are spiritually alive and the first indication of this aliveness is a sense of responsibility. They know they are their [48] brother’s keeper. The patient inculcation of this quality, the effort to make them shoulder small duties and to share responsibility will call for much patience on the part of the teacher but it is fundamental in determining a child’s character for good and his future usefulness in the world.

2. Một bầu không khí của sự kiên nhẫn. Chính trong một bầu không khí như thế, đứa trẻ có thể học những rudiment đầu tiên của trách nhiệm. Những đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ này và hiện nay có mặt ở khắp nơi đều có trí thông minh cao; không tự biết điều đó, chúng đang sống động về mặt tinh thần, và dấu hiệu đầu tiên của sự sống động này là ý thức trách nhiệm. Chúng biết rằng chúng là người gìn giữ [48] huynh đệ của mình. Việc kiên nhẫn gieo dạy phẩm tính này, nỗ lực khiến chúng gánh vác những nhiệm vụ nhỏ và chia sẻ trách nhiệm, sẽ đòi hỏi nhiều kiên nhẫn nơi người thầy, nhưng điều đó là căn bản trong việc định hình Tính cách của một đứa trẻ theo hướng tốt đẹp và tính hữu dụng tương lai của nó trong thế giới.

3. An atmosphere of understanding. So few teachers or parents explain to a child the reasons for the activities and the demands that are made upon him. But this explanation will inevitably evoke response, for a child thinks more than is realized and the process will inculcate in him a consideration of motives. Many of the things which an average child does are not wrong in themselves; they are prompted by a thwarted, inquiring spirit, by the impulse to retaliate for some injustice (based on the adult’s lack of understanding his motivation), by an inability to employ time correctly and usefully and by an urge to attract attention. These are simply the initial gestures of the emerging individual. Older people are apt to foster in a child an early and unnecessary sense of wrong-doing; they lay emphasis upon petty little things which should be ignored but which are annoying. A correct sense of wrong action, based upon failure to preserve right group relations, is not developed but if a child is handled with understanding, then the truly wrong things, the infringements upon the rights of others, the encroachments of individual desire upon group requirements for personal gain, will emerge in right perspective and at the right time. Educators will need to remember that thousands of children have looked on constantly at evil deeds perpetrated by older people; this will have perverted their outlook, given them wrong standards and undermined right senior authority. A child is apt to become anti-social when he is not understood or when circumstances demand too much of him. [49]

3. Một bầu không khí của sự thấu hiểu. Rất ít giáo viên hay cha mẹ giải thích cho đứa trẻ những lý do của các hoạt động và những đòi hỏi đặt lên nó. Nhưng lời giải thích này chắc chắn sẽ gợi lên đáp ứng, vì đứa trẻ suy nghĩ nhiều hơn người ta tưởng, và tiến trình này sẽ gieo vào nó sự cân nhắc về các động cơ. Nhiều điều mà một đứa trẻ trung bình làm tự chúng không sai; chúng được thúc đẩy bởi một tinh thần tìm hiểu bị cản trở, bởi xung lực muốn trả đũa một bất công nào đó — dựa trên việc người lớn thiếu thấu hiểu động cơ của nó — bởi sự bất lực trong việc sử dụng thời gian một cách đúng đắn và hữu ích, và bởi một thôi thúc muốn thu hút sự chú ý. Đây chỉ đơn giản là những cử chỉ ban đầu của cá nhân đang xuất hiện. Người lớn thường có khuynh hướng nuôi dưỡng nơi đứa trẻ một ý thức sớm và không cần thiết về việc làm sai; họ nhấn mạnh những điều nhỏ nhặt vụn vặt đáng lẽ nên bỏ qua nhưng lại gây khó chịu. Một ý thức đúng đắn về hành động sai, dựa trên sự thất bại trong việc duy trì các mối quan hệ nhóm đúng đắn, chưa được phát triển; nhưng nếu một đứa trẻ được đối xử với sự thấu hiểu, thì những điều thật sự sai trái, những vi phạm quyền của người khác, những lấn chiếm của ham muốn cá nhân lên các yêu cầu của nhóm vì lợi ích cá nhân, sẽ xuất hiện trong đúng viễn cảnh và vào đúng thời điểm. Các nhà giáo dục sẽ cần nhớ rằng hàng ngàn trẻ em đã liên tục chứng kiến những hành vi xấu ác do người lớn gây ra; điều này sẽ làm méo mó quan điểm của chúng, trao cho chúng các tiêu chuẩn sai lạc và phá hoại thẩm quyền đúng đắn của người lớn. Một đứa trẻ dễ trở nên chống xã hội khi nó không được thấu hiểu hoặc khi hoàn cảnh đòi hỏi quá nhiều nơi nó. [49]

A right atmosphere, the imparting of a few correct principles, and much loving understanding are the prime requirements in the most difficult transitional period with which we are faced. An organized way of living will help much but the children we are considering have known little discipline. The work of sheer survival has been the prime preoccupation of their elders and of the children. It will be hard for them at first to react correctly to an imposed rhythm of living. Discipline will be needed but it must be the discipline of love and one which is carefully and exhaustively explained so that the child understands the reasons lying behind this mysterious new order of carrying on. The fatigue, inertia and lack of interest, incident to war and malnutrition, present definite difficulties at first. Educators and teachers will need to impose upon themselves a discipline of patience, understanding and love which will not be easy, for it will be paralleled by a profound sense of the difficulties to be overcome and the problems to be faced.

Một bầu không khí đúng đắn, việc truyền đạt một vài nguyên lý đúng và nhiều sự thấu hiểu đầy yêu thương là những yêu cầu hàng đầu trong giai đoạn chuyển tiếp khó khăn nhất mà chúng ta đang đối diện. Một cách sống có tổ chức sẽ giúp ích rất nhiều, nhưng những đứa trẻ mà chúng ta đang xem xét đã biết rất ít kỷ luật. Công việc sống sót đơn thuần đã là mối bận tâm hàng đầu của những người lớn quanh chúng và của chính trẻ em. Ban đầu, sẽ khó cho chúng phản ứng đúng đắn với một nhịp điệu sống được áp đặt. Kỷ luật sẽ cần thiết, nhưng đó phải là kỷ luật của tình thương và là một kỷ luật được giải thích cẩn thận và đầy đủ để đứa trẻ thấu hiểu những lý do nằm sau trật tự mới mẻ và bí ẩn này của cách tiếp tục sống. Sự mệt mỏi, Quán tính và thiếu quan tâm, vốn đi kèm với chiến tranh và suy dinh dưỡng, ban đầu tạo ra những khó khăn rõ rệt. Các nhà giáo dục và thầy cô sẽ cần tự áp đặt lên mình một kỷ luật của kiên nhẫn, thấu hiểu và tình thương; điều ấy sẽ không dễ dàng, vì nó sẽ song hành với một ý thức sâu sắc về những khó khăn phải vượt qua và những vấn đề phải đối diện.

Men and women of vision in every country must be found and mobilized and they are there; they must have the equipment they need and the backing of those whom they can trust. Too much must not be demanded at first, for the immediate need is not the impartation of facts but the dissipation of fear, the demonstration that love does exist in the world and the inculcation of a sense of security. Then and only then will it be possible to proceed with those more definite processes which will make the long range plan which some of us have visioned a possibility.

Những người nam và nữ có tầm nhìn ở mọi quốc gia phải được tìm ra và huy động, và họ đang có mặt ở đó; họ phải có trang bị họ cần và sự hậu thuẫn của những người mà họ có thể tin cậy. Ban đầu không nên đòi hỏi quá nhiều, vì nhu cầu trước mắt không phải là truyền đạt sự kiện, mà là làm tiêu tan sợ hãi, chứng minh rằng tình thương quả thật hiện hữu trong thế giới, và gieo dạy một ý thức an toàn. Khi ấy, và chỉ khi ấy, mới có thể tiến hành những tiến trình rõ ràng hơn, những tiến trình sẽ khiến kế hoạch dài hạn mà một số người trong chúng ta đã hình dung trở thành khả hữu.

The Long Range Plan

Kế Hoạch Dài Hạn

Let us now formulate a more extended plan for the future education of the children of the world. We have noted that in spite of universal educational processes [50] and many centres of learning in every country, we have not yet succeeded in giving our young people the kind of education which will enable them to live wholly and constructively. In terms of the last two or three thousand years, the development of world education has been progressively along three main lines, starting in the East and culminating today in the West. In Asia we have had the intensive training, down the centuries, of certain carefully chosen individuals and a complete neglect of the masses. Asia and Asia alone has produced those outstanding figures who are, even today, the object of universal veneration—Lao Tze, Confucius, the Buddha, Shri Krishna and the Christ. They have set Their mark upon millions and still do.

Giờ đây, chúng ta hãy hình thành một kế hoạch rộng hơn cho nền giáo dục tương lai của trẻ em thế giới. Chúng ta đã ghi nhận rằng, bất chấp các tiến trình giáo dục phổ quát [50] và nhiều trung tâm học tập trong mọi quốc gia, chúng ta vẫn chưa thành công trong việc trao cho người trẻ của mình loại giáo dục có thể giúp họ sống một cách trọn vẹn và xây dựng. Xét theo hai hay ba ngàn năm gần đây, sự phát triển của nền giáo dục thế giới đã tiến dần theo ba tuyến chính, khởi đầu ở phương Đông và ngày nay đạt đến cực điểm ở phương Tây. Ở châu Á, qua nhiều thế kỷ, chúng ta đã có sự huấn luyện chuyên sâu dành cho một số cá nhân được chọn lựa cẩn thận, đồng thời hoàn toàn bỏ mặc quần chúng. Châu Á, và chỉ riêng châu Á, đã sản sinh những nhân vật xuất chúng mà ngay cả ngày nay vẫn là đối tượng của sự tôn kính phổ quát — Lão Tử, Khổng Tử, Đức Phật, Shri Krishna và Đức Christ. Các Ngài đã in dấu ấn của Các Ngài lên hàng triệu người và vẫn còn tiếp tục như vậy.

Then in Europe, we have had educational attention concentrated upon a few privileged groups, giving them a carefully planned cultural training but teaching only the necessary rudiments of learning to the masses. This produced periodically such important epochs of cultural expression as the Elizabethan period, the Renaissance, the poets and writers of the Victorian era and the poets and musicians of Germany, as well as the clusters of artists whose memory is perpetuated in the Italian School, the Dutch and the Spanish groups.

Rồi tại châu Âu, sự chú ý giáo dục được tập trung vào một số nhóm đặc quyền, trao cho họ một sự huấn luyện văn hóa được hoạch định cẩn thận, nhưng chỉ dạy cho quần chúng những rudiment cần thiết của học vấn. Điều này theo chu kỳ đã tạo ra những thời kỳ quan trọng của sự biểu lộ văn hóa như thời Elizabeth, thời Phục hưng, các thi sĩ và nhà văn của thời Victoria, các thi sĩ và nhạc sĩ của nước Đức, cũng như những nhóm nghệ sĩ mà ký ức về họ được duy trì trong Trường phái Ý, các nhóm Hà Lan và Tây Ban Nha.

Finally, in the newer countries of the world, such as the United States, Australia and Canada, mass education was instituted and was largely copied throughout the entire civilized world. The general level of cultural attainment became much lower; the level of mass information and competency considerably higher. The question now arises: What will be the next evolutionary development in the educational world? What will happen after this complete world breakdown and the recognized failure of the educational systems to avert it?

Cuối cùng, tại các quốc gia mới hơn của thế giới, như Hoa Kỳ, Úc và Canada, giáo dục đại chúng đã được thiết lập và phần lớn được sao chép khắp toàn bộ thế giới văn minh. Trình độ thành tựu văn hóa nói chung trở nên thấp hơn nhiều; mức độ thông tin và năng lực của quần chúng cao hơn đáng kể. Câu hỏi giờ đây nảy sinh: Sự phát triển tiến hoá kế tiếp trong thế giới giáo dục sẽ là gì? Điều gì sẽ xảy ra sau sự sụp đổ hoàn toàn của thế giới này và sự thất bại đã được thừa nhận của các hệ thống giáo dục trong việc ngăn chặn nó?

Let us remember one important thing. What education can do along undesirable lines has been well [51] demonstrated in Germany with its wrecking of idealism, its inculcation of wrong human relations and attitudes and its glorification of all that is most selfish, brutal and aggressive. Germany has proved that educational processes when properly organized and supervised, systematically planned and geared to an ideology, are potent in effect, especially if the child is taken young enough and if he is shielded from all contrary teaching for a long enough time. Since that time Russia has used the same system. Let us remember that this demonstrated potency can work two ways and that what has been wrought out along wrong lines can be equally successful along right ones in a wholesome atmosphere of freedom.

Chúng ta hãy nhớ một điều quan trọng. Những gì giáo dục có thể làm theo các tuyến không mong muốn đã được [51] chứng minh rõ ràng ở Đức, với việc phá hủy lý tưởng, gieo dạy các mối quan hệ và thái độ nhân loại sai lạc, và tôn vinh tất cả những gì ích kỷ nhất, tàn bạo nhất và hiếu chiến nhất. Nước Đức đã chứng minh rằng các tiến trình giáo dục, khi được tổ chức và giám sát đúng cách, được hoạch định có hệ thống và gắn với một hệ tư tưởng, có tác dụng mạnh mẽ, đặc biệt nếu đứa trẻ được tiếp nhận khi còn đủ nhỏ và nếu y được che chắn khỏi mọi giáo huấn trái ngược trong một thời gian đủ dài. Từ đó, nước Nga đã dùng cùng một hệ thống. Chúng ta hãy nhớ rằng quyền năng đã được chứng minh này có thể vận hành theo hai hướng, và những gì đã được tạo tác theo các tuyến sai lạc cũng có thể thành công tương đương theo các tuyến đúng đắn trong một bầu không khí lành mạnh của tự do.

We need also to do two things: We must place the emphasis educationally upon those who are under sixteen years of age, and the younger the better and, secondly, we must begin with what we have, even while recognizing the limitations of the present systems. We must strengthen those aspects which are good and desirable; we must eliminate those which have proved inadequate in fitting men to cope with their environment; we must develop the new attitudes and techniques which will fit a child for complete living and so make him truly human—a creative, constructive member of the human family. The very best of all that is past must be preserved but should only be regarded as the foundation for a better system and a wiser approach to the goal of world citizenship.

Chúng ta cũng cần làm hai điều: Về mặt giáo dục, chúng ta phải đặt trọng tâm vào những người dưới mười sáu tuổi, và càng nhỏ càng tốt; thứ hai, chúng ta phải bắt đầu với những gì mình có, ngay cả khi nhận ra các giới hạn của những hệ thống hiện nay. Chúng ta phải củng cố những phương diện tốt đẹp và đáng mong muốn; chúng ta phải loại bỏ những phương diện đã tỏ ra không đủ để giúp con người ứng phó với môi trường của họ; chúng ta phải phát triển những thái độ và kỹ thuật mới sẽ trang bị cho đứa trẻ một đời sống trọn vẹn, và nhờ đó làm cho nó thật sự là con người — một thành viên sáng tạo, xây dựng của gia đình nhân loại. Điều tốt đẹp nhất trong tất cả những gì thuộc quá khứ phải được gìn giữ, nhưng chỉ nên được xem như nền tảng cho một hệ thống tốt đẹp hơn và một cách tiếp cận minh triết hơn đối với mục tiêu của quyền công dân thế giới.

It might be of value at this point to define what education can be, if it is impulsed by true vision and made responsive to sensed world need and to the demands of the times.

Ở điểm này, có thể có giá trị khi định nghĩa giáo dục có thể là gì, nếu nó được thúc đẩy bởi tầm nhìn chân thật và được làm cho đáp ứng với nhu cầu thế giới được cảm nhận cũng như với các đòi hỏi của thời đại.

Education is the training, intelligently given, which will enable the youth of the world to contact their environment with intelligence and sanity, and adapt themselves to the existing conditions. This is of prime [52] importance and is one of the signposts in the world today.

Giáo dục là sự huấn luyện, được trao truyền một cách sáng suốt, sẽ giúp thanh thiếu niên của thế giới tiếp xúc với môi trường của họ bằng trí tuệ và sự lành mạnh, và thích nghi với các điều kiện hiện hữu. Điều này có tầm quan trọng hàng đầu [52] và là một trong những cột mốc chỉ đường trong thế giới ngày nay.

Education is a process whereby the child is equipped with the information which will enable him to act as a good citizen and perform the functions of a wise parent. It should take into consideration his inherent tendencies, his racial and national attributes and then endeavour to add to these that knowledge which will lead him to work constructively in his particular world setting and prove himself a useful citizen. The general trend of his education will be more psychological than in the past and the information thus gained will be geared to his peculiar situation. All children have certain assets and should be taught how to use them; these they share with the whole of humanity, irrespective of race or nationality. Educators will, therefore, lay emphasis in the future upon:

Giáo dục là một tiến trình nhờ đó đứa trẻ được trang bị những thông tin sẽ giúp nó hành xử như một công dân tốt và thực hiện các chức năng của một bậc cha mẹ minh triết. Giáo dục phải xét đến các khuynh hướng cố hữu của nó, các thuộc tính nhân loại và quốc gia của nó, rồi cố gắng thêm vào đó tri thức sẽ dẫn nó đến việc làm việc một cách xây dựng trong bối cảnh thế giới riêng của nó và chứng tỏ mình là một công dân hữu dụng. Khuynh hướng chung trong nền giáo dục của nó sẽ mang tính tâm lý hơn so với quá khứ, và thông tin nhờ đó đạt được sẽ được gắn với hoàn cảnh đặc thù của nó. Mọi trẻ em đều có một số tài sản nội tại và phải được dạy cách sử dụng chúng; những điều này chúng chia sẻ với toàn thể nhân loại, bất kể nhân loại hay quốc tịch. Do đó, trong tương lai, các nhà giáo dục sẽ nhấn mạnh vào:

1. A developing mental control of the emotional nature.

1. Một sự kiểm soát trí tuệ đang phát triển đối với bản chất cảm xúc.

2. Vision or the capacity to see beyond what is to what might be.

2. Tầm nhìn, hay khả năng thấy vượt khỏi cái đang là để hướng đến cái có thể là.

3. Inherited, factual knowledge upon which it will be possible to superimpose the wisdom of the future.

3. Tri thức sự kiện được thừa hưởng, trên đó có thể đặt thêm minh triết của tương lai.

4. Capacity wisely to handle relationships and to recognize and assume responsibility.

4. Khả năng xử lý các mối quan hệ một cách minh triết, và nhận ra cũng như đảm nhận trách nhiệm.

5. The power to use the mind in two ways:

5. Quyền năng sử dụng thể trí theo hai cách:

a. As the “commonsense” (using this word in its old connotation), analysing and synthesizing the information conveyed by the five senses.

a. Như “lẽ thường” — dùng từ này theo nghĩa xưa của nó — phân tích và tổng hợp thông tin do năm giác quan truyền đạt.

b. As a searchlight, penetrating into the world of ideas and of abstract truth.

b. Như một ngọn đèn pha, xuyên thấu vào thế giới của các ý tưởng và của chân lý trừu tượng.

Knowledge comes from two directions. It is the result of the intelligent use of the five senses and it is also developed from the attempt to seize upon and [53] understand ideas. Both of these are implemented by curiosity and investigation.

Tri thức đến từ hai hướng. Nó là kết quả của việc sử dụng năm giác quan một cách sáng suốt, và nó cũng được phát triển từ nỗ lực nắm bắt và [53] thấu hiểu các ý tưởng. Cả hai điều này đều được thực hiện nhờ sự tò mò và khảo sát.

Education should be of three kinds and all three are necessary to bring humanity to a needed point of development.

Giáo dục phải gồm ba loại, và cả ba đều cần thiết để đưa nhân loại đến một điểm phát triển cần thiết.

It is, first of all, a process of acquiring facts—past and present—and of then learning to infer and gather from this mass of information, gradually accumulated, that which can be of practical use in any given situation. This process involves the fundamentals of our present educational systems.

Trước hết, đó là một tiến trình thu nhận các sự kiện — quá khứ và hiện tại — rồi học cách suy ra và rút lấy từ khối thông tin được tích lũy dần dần ấy những gì có thể có giá trị thực tiễn trong bất kỳ tình huống nào được đưa ra. Tiến trình này bao gồm các nền tảng của những hệ thống giáo dục hiện nay của chúng ta.

It is, secondly, a process of learning wisdom as an outgrowth of knowledge and of grasping understandingly the meaning which lies behind the outer imparted facts. It is the power to apply knowledge in such a manner that sane living and an understanding point of view, plus an intelligent technique of conduct, are the natural results. This also involves training for specialized activities, based upon innate tendencies, talents or genius.

Thứ hai, đó là một tiến trình học minh triết như một sự tăng trưởng từ tri thức, và nắm bắt một cách thấu hiểu ý nghĩa nằm sau các sự kiện bên ngoài được truyền đạt. Đó là quyền năng áp dụng tri thức theo một cách khiến đời sống lành mạnh và một quan điểm thấu hiểu, cộng với một kỹ thuật hành xử sáng suốt, trở thành những kết quả tự nhiên. Điều này cũng bao gồm việc huấn luyện cho các hoạt động chuyên biệt, dựa trên các khuynh hướng bẩm sinh, tài năng hoặc thiên tư.

It is a process whereby unity or a sense of synthesis is cultivated. Young people in the future will be taught to think of themselves in relation to the group, to the family unit and to the nation in which their destiny has put them. They will also be taught to think in terms of world relationship, and of their nation in its relation to other nations. This covers training for citizenship, for parenthood, and for world understanding; it is basically psychological and should convey an understanding of humanity. When this type of training is given, we shall develop men and women who are both civilized and cultured and who will also possess the capacity to move forward (as life unfolds) into that world of meaning which underlies the world of outer phenomena and who will begin to view human happenings [54] in terms of the deeper spiritual and universal values.

Đó là một tiến trình nhờ đó sự thống nhất hay một ý thức tổng hợp được vun bồi. Trong tương lai, người trẻ sẽ được dạy nghĩ về chính họ trong mối liên hệ với nhóm, với đơn vị gia đình và với quốc gia nơi định mệnh đã đặt họ vào. Họ cũng sẽ được dạy suy nghĩ theo những mối liên hệ thế giới, và về quốc gia của họ trong mối liên hệ với các quốc gia khác. Điều này bao gồm việc huấn luyện cho quyền công dân, cho vai trò làm cha mẹ, và cho sự thấu hiểu thế giới; về căn bản, nó mang tính tâm lý và phải truyền đạt một sự thấu hiểu về nhân loại. Khi loại huấn luyện này được trao, chúng ta sẽ phát triển những người nam và nữ vừa văn minh vừa có văn hóa, và cũng sở hữu khả năng tiến bước — khi đời sống khai mở — vào Thế giới của ý nghĩa nằm dưới thế giới của các hiện tượng bên ngoài, và sẽ bắt đầu nhìn các biến cố nhân loại [54] theo các giá trị tinh thần và phổ quát sâu xa hơn.

Education should be the process whereby youth is taught to reason from cause to effect, to know the reason why certain actions are bound inevitably to produce certain results and why—given a certain emotional and mental equipment, plus an ascertained psychological rating—definite life trends can be determined and certain professions and life careers provide the right setting for development and a useful and profitable field of experience.

Giáo dục phải là tiến trình nhờ đó thanh thiếu niên được dạy suy luận từ nguyên nhân đến kết quả, biết lý do vì sao một số hành động chắc chắn không tránh khỏi sẽ tạo ra những kết quả nhất định, và vì sao — khi có một trang bị cảm xúc và trí tuệ nào đó, cộng với một mức đánh giá tâm lý đã được xác định — các khuynh hướng đời sống rõ rệt có thể được xác định, và một số nghề nghiệp cùng sự nghiệp đời sống cung cấp bối cảnh đúng đắn cho sự phát triển và một trường kinh nghiệm hữu ích, sinh lợi.

Some attempts along this line have been undertaken by certain colleges and schools in an effort to ascertain the psychological aptitudes of a boy or a girl for certain vocations but the whole effort is still amateurish in nature. When made more scientific it opens the door for training in the sciences; it gives significance and meaning to history, biography and learning and thus avoids the bare impartation of facts and the crude process of memory training which has been distinctive of past methods.

Một số nỗ lực theo tuyến này đã được một số trường cao đẳng và trường học tiến hành, trong cố gắng xác định các năng khiếu tâm lý của một thiếu niên hay thiếu nữ đối với một số nghề nghiệp, nhưng toàn bộ nỗ lực vẫn còn mang tính nghiệp dư. Khi được làm cho khoa học hơn, nó mở cánh cửa cho sự huấn luyện trong các khoa học; nó trao thâm nghĩa và ý nghĩa cho lịch sử, tiểu sử và học vấn, và nhờ đó tránh được việc truyền đạt trần trụi các sự kiện cùng tiến trình thô sơ của việc rèn luyện trí nhớ, vốn là đặc điểm của các phương pháp quá khứ.

The new education will consider a child with due reference to his heredity, his social position, his national conditioning, his environment and his individual mental and emotional equipment and will seek to throw the entire world of effort open to him, pointing out that apparent barriers to progress are only spurs to renewed endeavour. They will thus seek to “lead him out” (the true meaning of the word “education”) from any limiting condition and train him to think in terms of constructive world citizenship. Growth and still more growth will be emphasized.

Nền giáo dục mới sẽ xem xét một đứa trẻ với sự tham chiếu thích đáng đến di truyền của nó, vị trí xã hội của nó, sự tác động quốc gia lên nó, môi trường của nó và trang bị trí tuệ cùng cảm xúc cá nhân của nó, và sẽ tìm cách mở ra cho nó toàn bộ thế giới nỗ lực, chỉ ra rằng những rào cản có vẻ ngăn bước tiến chỉ là những động lực thúc đẩy nỗ lực mới. Như vậy, họ sẽ tìm cách “dẫn nó ra ngoài” — ý nghĩa đích thực của từ “giáo dục” — khỏi bất kỳ điều kiện giới hạn nào và huấn luyện nó suy nghĩ theo quyền công dân thế giới có tính xây dựng. Sự tăng trưởng và còn tăng trưởng hơn nữa sẽ được nhấn mạnh.

The educator of the future will approach the problem of youth from the angle of the children’s instinctual reaction, their intellectual capacity and their intuitional potentiality. In infancy and in the earlier school grades, [55] the development of right instinctual reactions will be watched and cultivated; in the later grades, in what is equivalent to the high schools or the secondary schools, the intellectual unfoldment and control of the mental processes will be emphasized; whilst in the colleges and universities the unfoldment of the intuition, the importance of ideas and ideals and the development of abstract thinking and perception will be fostered; this latter phase will be soundly based upon the previous sound intellectual foundation. These three factors—instinct, intellect and intuition—provide the keynotes for the three scholastic institutions through which every young person will pass and through which, today, many thousands do pass.

Nhà giáo dục của tương lai sẽ tiếp cận vấn đề thanh thiếu niên từ góc độ phản ứng bản năng của trẻ em, năng lực trí tuệ và tiềm năng trực giác của chúng. Trong thời thơ ấu và các lớp đầu của trường học, [55] sự phát triển của các phản ứng bản năng đúng đắn sẽ được quan sát và vun bồi; ở các lớp sau, tương đương với trung học phổ thông hay trung học, sự khai mở trí năng và việc kiểm soát các tiến trình của thể trí sẽ được nhấn mạnh; trong khi đó, tại các trường cao đẳng và đại học, sự khai mở của trực giác, tầm quan trọng của các ý tưởng và lý tưởng, cùng sự phát triển của tư duy và tri giác trừu tượng sẽ được nuôi dưỡng; giai đoạn sau cùng này sẽ được đặt nền vững chắc trên nền tảng trí năng lành mạnh trước đó. Ba yếu tố này — bản năng, trí năng và trực giác — cung cấp các chủ âm cho ba cơ sở học đường mà mọi người trẻ sẽ đi qua và qua đó, ngày nay, nhiều ngàn người đang đi qua.

In the modern schools (grammar or primary schools, high or secondary schools, colleges or universities) there can be seen an imperfect but symbolic picture of the triple objectives of the coming education: Civilization, Culture and world Citizenship or unity.

Trong các trường học hiện đại — trường ngữ pháp hay tiểu học, trường trung học phổ thông hay trung học, cao đẳng hay đại học — có thể thấy một bức tranh không hoàn hảo nhưng mang tính biểu tượng về các mục tiêu tam phân của nền giáo dục sắp đến: Văn minh, Văn hóa và quyền công dân thế giới hay sự thống nhất.

The primary schools might be regarded as the custodians of civilization; they should begin to train the child in the nature of the world in which he should play his part, teaching him his place in the group and preparing him for intelligent living and right social relations. Reading, writing and arithmetic, elementary history (with the emphasis upon world history), geography and poetry will be taught and certain basic and important facts of living imparted, plus the inculcation of self-control.

Các trường tiểu học có thể được xem là những người gìn giữ văn minh; họ phải bắt đầu huấn luyện đứa trẻ về bản chất của thế giới trong đó nó phải đóng vai trò của mình, dạy nó vị trí của nó trong nhóm và chuẩn bị cho nó một đời sống sáng suốt cùng các mối quan hệ xã hội đúng đắn. Đọc, viết và số học, lịch sử sơ đẳng — với sự nhấn mạnh vào lịch sử thế giới — địa lý và thơ ca sẽ được giảng dạy, và một số sự kiện căn bản, quan trọng của đời sống sẽ được truyền đạt, cộng với việc gieo dạy sự tự chủ.

The secondary schools will regard themselves as the custodians of culture; they should emphasize the larger values of history and literature and give some understanding of art. They should begin to train the boy or girl for that future profession or mode of life which it is obvious will condition them. Citizenship will then be taught in larger terms and the world of true values be [56] pointed out and idealism consciously and definitely cultivated. The practical application of ideals will be emphasized.

Các trường trung học sẽ xem mình là những người gìn giữ văn hóa; họ phải nhấn mạnh các giá trị rộng lớn hơn của lịch sử và văn học, đồng thời trao một số thấu hiểu về nghệ thuật. Họ phải bắt đầu huấn luyện thiếu niên hay thiếu nữ cho nghề nghiệp tương lai hoặc phương thức sống mà rõ ràng sẽ tác động lên họ. Khi ấy, quyền công dân sẽ được dạy theo những phạm vi rộng lớn hơn, và thế giới của các giá trị chân thật sẽ được [56] chỉ ra, còn lý tưởng chủ nghĩa sẽ được vun bồi một cách có ý thức và rõ rệt. Việc áp dụng thực tiễn các lý tưởng sẽ được nhấn mạnh.

Our colleges and universities should be a higher extension of all that has been already done. They should beautify and complete the structure already erected and should deal more directly with the world of meaning. International problems—economic, social, political and religious—should be considered and the man or woman related still more definitely to the world as a whole. This in no way indicates neglect of individual or national problems or undertakings but it seeks to incorporate them into the whole as integral and effective parts, and thus avoids the separative attitudes which have brought about the downfall of our modern world.

Các trường cao đẳng và đại học của chúng ta phải là phần mở rộng cao hơn của tất cả những gì đã được thực hiện. Chúng phải làm đẹp và hoàn tất cấu trúc đã được dựng nên, và phải đề cập trực tiếp hơn đến Thế giới của ý nghĩa. Các vấn đề quốc tế — kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo — phải được xem xét, và người nam hay người nữ phải được liên hệ một cách xác định hơn nữa với toàn thế giới. Điều này tuyệt nhiên không hàm ý sự bỏ bê các vấn đề hay công trình cá nhân hoặc quốc gia, mà nhằm đưa chúng vào trong toàn thể như những phần tích hợp và hữu hiệu, nhờ đó tránh được những thái độ chia rẽ vốn đã đưa thế giới hiện đại của chúng ta đến chỗ suy sụp.

It might prove later (when true religion is again restored) that this training will be fundamentally spiritual, using that word to mean understanding, helpfulness, brotherhood, right human relations and a belief in the reality of the world behind the phenomenal scene. The fitting of a man for citizenship in the kingdom of God is not a religious activity to be handled exclusively by the churches and through theological teaching, though there is much that they can do to help. It is surely the task of the higher education, giving purpose and significance to all that has been done.

Về sau, có thể sẽ chứng tỏ rằng, khi tôn giáo chân chính được phục hồi trở lại, sự huấn luyện này về căn bản sẽ là tinh thần, dùng từ ấy để chỉ sự thấu hiểu, sự giúp đỡ, tình huynh đệ, các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, và niềm tin vào thực tại của thế giới đằng sau cảnh tượng hiện tượng. Việc chuẩn bị một con người cho tư cách công dân trong Thiên Giới không phải là một hoạt động tôn giáo để các giáo hội xử lý độc quyền và thông qua giáo huấn thần học, dù các giáo hội có thể làm rất nhiều để trợ giúp. Chắc chắn đó là nhiệm vụ của nền giáo dục cao đẳng, khi nó đem lại mục đích và thâm nghĩa cho tất cả những gì đã được thực hiện.

The following sequence suggests itself as we consider the curriculum to be planned for the youth of the immediate generations:

Chuỗi trình tự sau đây tự gợi ra khi chúng ta xét đến chương trình học cần được hoạch định cho thanh thiếu niên của các thế hệ sắp tới:

Primary education......Civilization............ages: 4-12

Giáo dục tiểu học......Văn minh............tuổi: 4-12

Secondary education..Culture...................ages: 12-18

Giáo dục trung học..Văn hóa...................tuổi: 12-18

Higher education........World citizenship..ages: 18-25

Giáo dục cao đẳng........Công dân thế giới..tuổi: 18-25

In the future, education will make a far wider use of psychology than heretofore. A trend in this direction is already to be seen. The nature—physical, vital, emotional [57] and mental—of the boy or girl will be carefully investigated and his incoherent life purposes directed along right lines; he will be taught to recognize himself as the one who acts, who feels and who thinks. Thus the responsibility of the central “I”, or the occupant of the body will be taught. This will alter the entire present attitude of the youth of the world to their surroundings and foster, from their earliest days, the recognition of a part to be played and a responsibility to be assumed. Education will be regarded as a method of preparation for that useful and interesting future.

Trong tương lai, giáo dục sẽ sử dụng tâm lý học rộng rãi hơn nhiều so với trước đây. Một khuynh hướng theo chiều hướng này đã có thể được thấy rõ. Bản chất — hồng trần, sinh lực, cảm xúc [57] và trí tuệ — của bé trai hay bé gái sẽ được khảo sát cẩn thận, và các mục đích sống rời rạc của em sẽ được hướng dẫn theo những đường lối đúng đắn; em sẽ được dạy để nhận ra chính mình là kẻ hành động, kẻ cảm nhận và kẻ suy nghĩ. Như thế, trách nhiệm của cái “Tôi” trung tâm, hay của chủ thể cư ngụ trong thể xác, sẽ được giảng dạy. Điều này sẽ làm thay đổi toàn bộ thái độ hiện nay của thanh thiếu niên thế giới đối với môi trường chung quanh, và ngay từ những ngày đầu đời, nuôi dưỡng nơi họ sự nhận biết về một vai trò cần đảm nhận và một trách nhiệm cần gánh vác. Giáo dục sẽ được xem như một phương pháp chuẩn bị cho tương lai hữu ích và thú vị ấy.

It, therefore, becomes increasingly apparent that the coming education could be defined in a new and broader sense as the Science of Right Human Relations and of Social Organization. This gives a comparatively new purpose to any curriculum imparted and yet indicates that nothing hitherto included need be excluded, only a better motivation will be obvious and a nationalistic, selfish presentation avoided. If history is, for instance, presented on the basis of the conditioning ideas which have led humanity onward and not on the basis of aggressive wars and international or national thievery, then education will concern itself with the right perception and use of ideas, of their transformation into working ideals and their application as the will-to-good, the will-to-truth and the will-to-beauty. Thus a much needed alteration of humanity’s aims from our present competitive and materialistic objectives into those that will more fully express the Golden Rule will come about and right relations between individuals, groups, parties, nations and throughout the entire international world will be established.

Do đó, ngày càng trở nên rõ ràng rằng nền giáo dục sắp tới có thể được định nghĩa theo một ý nghĩa mới mẻ và rộng lớn hơn là Khoa Học về Các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người và về Tổ Chức Xã Hội. Điều này đem lại một mục đích tương đối mới cho mọi chương trình học được truyền đạt, đồng thời cho thấy rằng không cần loại bỏ điều gì đã được đưa vào trước đây; chỉ cần một động cơ tốt đẹp hơn trở nên hiển nhiên, và tránh cách trình bày mang tính dân tộc chủ nghĩa, ích kỷ. Chẳng hạn, nếu lịch sử được trình bày trên nền tảng các ý tưởng tác động vốn đã dẫn dắt nhân loại tiến lên, chứ không dựa trên các cuộc chiến tranh xâm lược và sự cướp đoạt quốc tế hay quốc gia, thì giáo dục sẽ quan tâm đến sự nhận thức đúng đắn và việc sử dụng đúng các ý tưởng, đến sự chuyển đổi chúng thành những lý tưởng có thể vận hành, và đến việc áp dụng chúng như Ý Chí-hướng Thiện, ý chí hướng tới chân lý và ý chí hướng tới cái đẹp. Như thế, sự thay đổi rất cần thiết trong các mục tiêu của nhân loại — từ những mục tiêu cạnh tranh và duy vật hiện nay sang những mục tiêu sẽ biểu lộ đầy đủ hơn Quy Luật Vàng — sẽ diễn ra, và các mối quan hệ đúng đắn giữa cá nhân, nhóm, đảng phái, quốc gia và trên toàn thế giới quốc tế sẽ được thiết lập.

Increasingly, education should be concerned with the wholes of life as well as with the details of daily individual living. The child, as an individual, will be developed and equipped, trained and motivated and [58] then taught his responsibilities to the whole and the value of the contribution which he can and must make to the group.

Ngày càng nhiều hơn, giáo dục phải quan tâm đến các toàn thể của sự sống cũng như đến những chi tiết của đời sống cá nhân hằng ngày. Đứa trẻ, với tư cách một cá nhân, sẽ được phát triển và trang bị, huấn luyện và tạo động lực, rồi [58] được dạy về các trách nhiệm của mình đối với toàn thể và giá trị của phần đóng góp mà em có thể và phải đem đến cho nhóm.

It is perhaps a platitude to say that education should occupy itself necessarily with the development of the reasoning powers of the child and not primarily—as is now usually the case—with the training of the memory and the parrot-like recording of facts and dates and uncorrelated and ill-digested items of information. The history of the growth of man’s perceptive faculties under differing national and racial conditions is of profound interest. The outstanding figures of history, literature and art and of religion will surely be studied from the angle of their effect and their influence for good or evil upon their period; the quality and purpose of their leadership will be considered. Thus the child will absorb a vast amount of historical information, of creative activity and of idealism and philosophy not only with the maximum of ease but with permanent effect upon his character.

Có lẽ nói rằng giáo dục tất yếu phải chú tâm đến việc phát triển các năng lực lý luận của đứa trẻ, chứ không chủ yếu — như hiện nay thường là vậy — đến việc rèn luyện trí nhớ và sự ghi chép như vẹt các sự kiện, niên đại cùng những mẩu thông tin rời rạc, chưa được tiêu hóa, là một điều sáo mòn. Lịch sử về sự tăng trưởng các quan năng tri giác của con người dưới những điều kiện quốc gia và chủng tộc khác nhau là điều hết sức đáng quan tâm. Những nhân vật nổi bật trong lịch sử, văn học, nghệ thuật và tôn giáo chắc chắn sẽ được nghiên cứu từ góc độ tác động và ảnh hưởng thiện hay ác của họ đối với thời đại mình; phẩm tính và mục đích của sự lãnh đạo nơi họ sẽ được xem xét. Như thế, đứa trẻ sẽ hấp thụ một lượng lớn thông tin lịch sử, hoạt động sáng tạo, chủ nghĩa lý tưởng và triết học, không chỉ với mức độ dễ dàng tối đa mà còn với tác động lâu dài lên Tính cách của em.

The continuity of effort, the effects upon civilization of ancient tradition, good and evil happenings and the interplay of varying cultural aspects of civilization will be brought to his attention and the dry-as-dust information, dates and names will fall into the discard. All branches of human knowledge could, in this way, come alive and reach a new level of constructive usefulness. There is already a definite tendency in this direction and it is good and sound. The past of Humanity as the foundation for present happenings, and the present as the determining factor for the future will increasingly be recognized and thus great and needed changes will be brought about in human psychology as a whole.

Sự liên tục của nỗ lực, các tác động của truyền thống cổ xưa lên văn minh, những biến cố thiện và ác, và sự tương tác giữa các phương diện văn hóa khác nhau của văn minh sẽ được đưa đến sự chú ý của em, còn những thông tin khô khan như bụi, các niên đại và tên gọi sẽ bị loại bỏ. Bằng cách này, mọi ngành tri thức nhân loại đều có thể trở nên sống động và đạt đến một cấp độ mới của tính hữu dụng xây dựng. Đã có một khuynh hướng rõ rệt theo chiều hướng này, và đó là điều tốt đẹp, lành mạnh. Quá khứ của Nhân loại với tư cách nền tảng cho các biến cố hiện tại, và hiện tại với tư cách nhân tố quyết định tương lai, sẽ ngày càng được nhận biết; nhờ vậy, những thay đổi lớn lao và cần thiết sẽ được đem lại trong toàn bộ tâm lý nhân loại.

The creative aptitude of the human being should also, under the new era, receive fuller attention; the child will be spurred on to individual effort suited to [59] his temperament and capacity. Thus he will be induced to contribute what he can of beauty to the world and of right thought to the sum total of human thinking; he will be encouraged to investigate and the world of science will open up before him. Behind all these applied incentives, the motives of goodwill and right human relations will be found.

Trong kỷ nguyên mới, năng khiếu sáng tạo của con người cũng phải được chú ý đầy đủ hơn; đứa trẻ sẽ được thúc đẩy hướng tới nỗ lực cá nhân phù hợp với [59] khí chất và năng lực của em. Như thế, em sẽ được khơi động để đóng góp những gì mình có thể về cái đẹp cho thế giới, và về tư tưởng đúng đắn cho tổng thể tư duy của nhân loại; em sẽ được khuyến khích khảo cứu, và thế giới khoa học sẽ mở ra trước em. Đằng sau mọi động lực ứng dụng này, người ta sẽ thấy các động cơ của thiện chí và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

Finally, education should surely present the hypothesis of the soul in man as the interior factor which produces the good, the true and the beautiful. Creative expression and humanitarian effort will, therefore, receive a logical basis. This will not be done through a theological or doctrinal presentation, as is today the case, but as presenting a problem for investigation and as an effort to answer the question: What is man? What is his intrinsic purpose in the scheme of things? The livingness of the influence and the proclaimed purpose behind the constant appearance of spiritual, cultural and artistic world leaders down the ages will be studied and their lives subjected to research, both historical and psychological. This will open up before the youth of the world the entire problem of leadership and of motive. Education will, therefore, be given in the form of human interest, human achievement and human possibility. This will be done in such a manner that the content of the student’s mind will not only be enriched with historical and literary facts but his imagination will be fired and his ambition and aspiration evoked along true and right lines; the world of past human effort will be presented to him in a truer perspective and the future thrown open to him also in an appeal for his individual effort and personal contribution.

Sau cùng, giáo dục chắc chắn phải trình bày giả thuyết về linh hồn trong con người như nhân tố nội tại tạo ra điều thiện, điều chân và điều mỹ. Do đó, sự biểu hiện sáng tạo và nỗ lực nhân đạo sẽ nhận được một nền tảng hợp lý. Điều này sẽ không được thực hiện thông qua một sự trình bày thần học hay giáo điều, như hiện nay, mà bằng cách nêu ra một vấn đề để khảo cứu và như một nỗ lực trả lời câu hỏi: Con người là gì? Mục đích nội tại của y trong hệ thống vạn vật là gì? Tính sống động của ảnh hưởng và mục đích được tuyên xưng đằng sau sự xuất hiện liên tục của các nhà lãnh đạo thế giới về tinh thần, văn hóa và nghệ thuật qua các thời đại sẽ được nghiên cứu, và đời sống của họ sẽ được khảo cứu cả về mặt lịch sử lẫn tâm lý học. Điều này sẽ mở ra trước thanh thiếu niên thế giới toàn bộ vấn đề về lãnh đạo và động cơ. Do đó, giáo dục sẽ được trao truyền dưới hình thức mối quan tâm đến con người, thành tựu của con người và khả năng của con người. Điều này sẽ được thực hiện theo cách khiến nội dung trong thể trí của đạo sinh không chỉ được làm phong phú bằng các sự kiện lịch sử và văn học, mà Sự tưởng tượng của y còn được khơi lửa, tham vọng và khát vọng của y được gợi lên theo những đường lối chân thực và đúng đắn; thế giới của nỗ lực nhân loại trong quá khứ sẽ được trình bày cho y trong một viễn cảnh chân thực hơn, và tương lai cũng sẽ mở ra trước y như một lời kêu gọi nỗ lực cá nhân và sự đóng góp riêng của y.

The above in no way implies an indictment of past methods except in so far that the world today itself presents an indictment; it does not either constitute an [60] impractical vision or a mystical hope, based on wishful thinking. It concerns an attitude to life and the future which many thousands of people hold today, and among them many educators in every country. The errors and mistakes of the past techniques are obvious but there is no need to waste time in emphasizing them or in piling up instances.

Những điều trên tuyệt nhiên không hàm ý một sự kết tội các phương pháp quá khứ, ngoại trừ trong chừng mực chính thế giới ngày nay tự nó đã đưa ra sự kết tội; cũng không cấu thành một [60] tầm nhìn phi thực tiễn hay một hy vọng thần bí, dựa trên lối suy nghĩ ước muốn. Nó liên quan đến một thái độ đối với sự sống và tương lai mà ngày nay nhiều ngàn người đang giữ, và trong số họ có nhiều nhà giáo dục ở mọi quốc gia. Những sai lầm và thiếu sót của các kỹ thuật quá khứ là hiển nhiên, nhưng không cần lãng phí thời gian để nhấn mạnh chúng hay chồng chất các ví dụ.

What is needed is a realization of the immediate opportunity, plus the recognition that the required shift in objectives and change in methods will take much time. We shall have to train our teachers differently and much time will elapse as we grope for the new and better ways, develop the new textbooks and find the men and women who can be impressed with the new vision and who will work for the new civilization. We seek here to emphasize principles with the recognition that many of them are by no means new but that they require new emphasis. Now is the day of opportunity.

Điều cần thiết là một sự nhận biết về cơ hội trước mắt, cộng với sự nhận biết rằng sự chuyển dịch cần thiết trong các mục tiêu và sự thay đổi trong các phương pháp sẽ mất nhiều thời gian. Chúng ta sẽ phải huấn luyện các giáo viên của mình theo cách khác, và nhiều thời gian sẽ trôi qua khi chúng ta dò dẫm tìm những đường lối mới mẻ và tốt đẹp hơn, phát triển các sách giáo khoa mới, và tìm những người nam và nữ có thể được gây ấn tượng bởi tầm nhìn mới và sẽ làm việc cho nền văn minh mới. Ở đây, chúng ta tìm cách nhấn mạnh các nguyên lý, với sự nhận biết rằng nhiều nguyên lý trong số đó tuyệt nhiên không mới, nhưng chúng cần được nhấn mạnh theo cách mới. Giờ đây là ngày của cơ hội.

A better educational system should therefore be worked out which will present the possibilities of human living in such a manner that barriers will be broken down, prejudices removed and a training given to the developing child which will enable him, when grown up, to live with other men in harmony and goodwill. This can be done, if patience and understanding are developed and if educators realize that “where there is no vision, the people perish”.

Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống giáo dục tốt đẹp hơn, hệ thống ấy sẽ trình bày các khả năng của đời sống con người theo cách khiến các rào chắn bị phá bỏ, các thành kiến được loại trừ, và một sự huấn luyện được trao cho đứa trẻ đang phát triển để khi trưởng thành, em có thể sống với những người khác trong hòa hợp và thiện chí. Điều này có thể được thực hiện, nếu sự kiên nhẫn và thấu hiểu được phát triển, và nếu các nhà giáo dục nhận ra rằng “nơi nào không có tầm nhìn, dân chúng sẽ diệt vong”.

An international system of education, developed in joint conference by broad-minded teachers and educational authorities in every country is today a crying need and would provide a major asset in preserving world peace. Steps towards this are already being taken and groups of educators are getting together and discussing the formation of a better system which will guarantee that the children of the different nations (beginning with the millions of children now demanding [61] education today) will be taught truth, without bias or prejudice.

Ngày nay, một hệ thống giáo dục quốc tế, được phát triển trong hội nghị chung bởi các giáo viên và các nhà chức trách giáo dục có tầm nhìn rộng ở mọi quốc gia, là một nhu cầu cấp bách và sẽ cung cấp một tài sản chủ yếu trong việc gìn giữ hòa bình thế giới. Các bước tiến theo hướng này đã đang được thực hiện, và các nhóm nhà giáo dục đang quy tụ, thảo luận về việc hình thành một hệ thống tốt đẹp hơn, bảo đảm rằng trẻ em của các quốc gia khác nhau, bắt đầu với hàng triệu trẻ em hiện đang đòi hỏi [61] được giáo dục ngày nay, sẽ được dạy chân lý, không thiên lệch hay thành kiến.

World democracy will take form when men everywhere are regarded in reality as equal; when boys and girls are taught that it does not matter whether a man is an Asiatic, an American, a European, British, a Jew or a Gentile but only that each has an historical background which enables him to contribute something to the good of the whole, that the major requirement is an attitude of goodwill and a constant effort to foster right human relations. World Unity will be a fact when the children of the world are taught that religious differences are largely a matter of birth; that if a man is born in Italy, the probability is that he will be a Roman Catholic; if he is born a Jew, he will follow the Jewish teaching; if born in Asia, he may be a Mohammedan, a Buddhist, or belong to one of the Hindu sects; if born in other countries, he may be a Protestant and so on. He will learn that the religious differences are largely the result of man-made quarrels over human interpretations of truth. Thus gradually, our quarrels and differences will be offset and the idea of the One Humanity will take their place.

Dân chủ thế giới sẽ thành hình khi con người ở khắp nơi thật sự được xem là bình đẳng; khi các bé trai và bé gái được dạy rằng việc một người là người Á châu, người Mỹ, người châu Âu, người Anh, người Do Thái hay người ngoại đạo không quan trọng, mà chỉ quan trọng là mỗi người đều có một bối cảnh lịch sử giúp y đóng góp điều gì đó cho lợi ích của toàn thể; rằng yêu cầu chủ yếu là một thái độ thiện chí và một nỗ lực thường xuyên nhằm nuôi dưỡng các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Sự Hợp Nhất Thế Giới sẽ là một sự kiện khi trẻ em thế giới được dạy rằng những khác biệt tôn giáo phần lớn là vấn đề sinh ra ở đâu; rằng nếu một người sinh ở Ý, khả năng là y sẽ là tín đồ Công giáo La Mã; nếu y sinh ra là người Do Thái, y sẽ theo giáo huấn Do Thái; nếu sinh ở châu Á, y có thể là tín đồ Hồi giáo, Phật tử, hoặc thuộc một trong các giáo phái Ấn giáo; nếu sinh ở các quốc gia khác, y có thể là tín đồ Tin Lành, v.v. Y sẽ học rằng những khác biệt tôn giáo phần lớn là kết quả của các cuộc tranh cãi do con người tạo ra quanh những diễn giải của con người về chân lý. Như thế, dần dần, những tranh chấp và khác biệt của chúng ta sẽ được hóa giải, và ý tưởng về Một Nhân Loại sẽ thay thế chúng.

Much greater care will have to be given in picking and training the teachers of the future and particularly those who, in the war torn lands, will endeavour to bring educational facilities to the people. Their mental attainments and their knowledge of their particular subject will be of importance, but more important still will be the need for them to be free from prejudice and to see all men as members of a great family. The educator of the future will need to be more of a trained psychologist than he is today. Besides imparting academic knowledge, he will realize that his major task is to evoke out of his class of students a real sense of responsibility; no matter what he has to teach—history, geography, [62] mathematics, languages, science in its various branches or philosophy—he will relate it all to the Science of Right Human Relations and will try to give a truer perspective on social organization than has been done in the past.

Cần phải dành sự chăm sóc lớn lao hơn nhiều cho việc tuyển chọn và huấn luyện các giáo viên của tương lai, đặc biệt là những người, tại các vùng đất bị chiến tranh tàn phá, sẽ cố gắng đem các phương tiện giáo dục đến cho dân chúng. Thành tựu trí tuệ và tri thức của họ về môn học riêng sẽ có tầm quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn nữa là nhu cầu họ phải thoát khỏi thành kiến và nhìn mọi người như những thành viên của một đại gia đình. Nhà giáo dục của tương lai sẽ cần phải là một nhà tâm lý học được đào luyện nhiều hơn so với hiện nay. Ngoài việc truyền đạt tri thức học thuật, y sẽ nhận ra rằng nhiệm vụ chính của mình là gợi lên từ lớp đạo sinh của mình một ý thức trách nhiệm chân thật; bất kể y phải giảng dạy điều gì — lịch sử, địa lý, [62] toán học, ngôn ngữ, khoa học trong các ngành khác nhau hay triết học — y sẽ liên hệ tất cả với Khoa Học về Các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người, và sẽ cố gắng đem lại một viễn cảnh chân thực hơn về tổ chức xã hội so với trước kia.

When the young people of the future—under the proposed application of principles—are civilized, cultured and responsive to world citizenship, we shall have a world of men awakened, creative, and possessing a true sense of values and a sound and constructive outlook on world affairs. It will take a long time to bring this about, but it is not impossible, as history itself has proved. Some day an analysis will be made of the contribution of the three great continents—Europe, Asia and America—to the general unfoldment of humanity. The progressive revelation of the glory of the human spirit still needs expression in writing—its composite glory and not just those aspects of it which are strictly national. It consists in the fact that every race and all nations have always produced those who have expressed the highest possible point of attainment for their day and generation—men who have united within themselves that basic triplicity: instinct, intellect and intuition. Their numbers were relatively few in the early stages of man’s unfoldment but today those numbers are rapidly increasing.

Khi những người trẻ của tương lai — dưới sự áp dụng các nguyên lý được đề xuất — trở nên văn minh, có văn hóa và đáp ứng với tư cách công dân thế giới, chúng ta sẽ có một thế giới của những con người thức tỉnh, sáng tạo, có một ý thức chân thật về các giá trị và một nhãn quan lành mạnh, xây dựng về các sự vụ thế giới. Việc đem điều này thành hiện thực sẽ mất nhiều thời gian, nhưng không phải là không thể, như chính lịch sử đã chứng minh. Một ngày nào đó, người ta sẽ thực hiện một phân tích về phần đóng góp của ba đại lục — châu Âu, châu Á và châu Mỹ — cho sự khai mở chung của nhân loại. Sự mặc khải tiệm tiến về vinh quang của tinh thần con người vẫn còn cần được diễn tả bằng văn tự — vinh quang tổng hợp của nó, chứ không chỉ những phương diện nào của nó mang tính quốc gia nghiêm ngặt. Vinh quang ấy nằm ở sự kiện rằng mọi nhân loại và mọi quốc gia luôn luôn sản sinh ra những người biểu hiện điểm thành tựu cao nhất có thể có cho thời đại và thế hệ của họ — những người đã hợp nhất trong chính mình bộ ba căn bản: bản năng, trí năng và trực giác. Số lượng của họ tương đối ít trong những giai đoạn đầu của sự khai mở nơi con người, nhưng ngày nay những con số ấy đang gia tăng nhanh chóng.

It will be only commonsense, however, to realize that this integration is not possible for every student passing through the hands of our teachers. Students will have to be gauged from the three angles which form the background of this chapter:

Tuy nhiên, chỉ là lẽ thường khi nhận ra rằng sự tích hợp này không thể có được đối với mọi đạo sinh đi qua tay các giáo viên của chúng ta. Đạo sinh sẽ phải được đánh giá từ ba góc độ tạo thành bối cảnh của chương này:

1. Those capable of being civilized. This refers to the mass of men.

1. Những người có khả năng được văn minh hóa. Điều này chỉ khối đông con người.

2. Those capable of being carried forward into the world of culture. This includes a very large number. [63]

2. Những người có khả năng được đưa tiến vào thế giới văn hóa. Điều này bao gồm một số lượng rất lớn. [63]

3. Those who add to the assets of civilization and culture an ability to function as souls, not only in the two worlds of instinctual and intelligent living but also in the world of spiritual values and to do this with a complete triple integration.

3. Những người, ngoài các tài sản của văn minh và văn hóa, còn thêm khả năng hoạt động như các linh hồn, không chỉ trong hai thế giới của đời sống bản năng và đời sống trí tuệ, mà còn trong thế giới của các giá trị tinh thần, và làm điều này với một sự tích hợp tam phân trọn vẹn.

All, however, no matter what their initial capacity, can be trained in the Science of Right Human Relations, and thus respond to the major objective of the coming educational systems. Indications of this can be seen on every hand but as yet the emphasis is not laid in training teachers or influencing parents. Much, very much, has been done by enlightened groups everywhere and this they have done whilst studying the requirements for citizenship, whilst undertaking research work into social relations and through the many organizations which are trying to bring to the mass of human beings a sense of responsibility for human happiness and human welfare. This work should be started in infancy so that the consciousness of the child (so easily directed) can from its earliest days assume an unselfish attitude towards its associates.

Tuy nhiên, tất cả mọi người, bất kể năng lực ban đầu của họ là gì, đều có thể được huấn luyện trong Khoa Học về Các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người, và nhờ đó đáp ứng với mục tiêu chủ yếu của các hệ thống giáo dục sắp tới. Những dấu hiệu của điều này có thể được thấy ở khắp nơi, nhưng cho đến nay sự nhấn mạnh vẫn chưa được đặt vào việc huấn luyện giáo viên hay ảnh hưởng đến cha mẹ. Rất nhiều, thật sự rất nhiều, đã được các nhóm giác ngộ ở khắp nơi thực hiện, và họ đã làm điều này trong khi nghiên cứu các yêu cầu cho tư cách công dân, trong khi đảm nhận công tác khảo cứu về các quan hệ xã hội, và thông qua nhiều tổ chức đang cố gắng đem đến cho khối đông nhân loại một ý thức trách nhiệm đối với hạnh phúc và phúc lợi của con người. Công việc này phải được bắt đầu từ tuổi ấu thơ, để tâm thức của đứa trẻ, vốn rất dễ được hướng dẫn, có thể ngay từ những ngày đầu đời đảm nhận một thái độ không ích kỷ đối với những người cùng sống với mình.

It is bridging work which has now to be done—bridging between what is today and what can be in the future. If, during the coming years, we develop this technique of bridging the many cleavages found in the human family and in offsetting the racial hatreds and the separative attitudes of nations and people, we shall have succeeded in constructing a world in which war will be impossible and humanity will be realizing itself as one human family and not as a fighting aggregate of many nations and peoples, competitively engaged in getting the best of each other and successfully fostering prejudices and hatred. This has, as we have seen, been the history of the past. Man has been developed from an isolated animal, prompted only by the instincts of self-preservation, eating and mating, through the stages [64] of family life, tribal life and national life to the point where today a still broader ideal is grasped by him—international unity or the smooth functioning of the One Humanity.

Công việc hiện nay cần làm là công việc bắt cầu — bắt cầu giữa những gì hiện có và những gì có thể có trong tương lai. Nếu trong những năm sắp tới, chúng ta phát triển kỹ thuật bắt cầu qua nhiều sự chia rẽ tồn tại trong gia đình nhân loại, và hóa giải những hận thù chủng tộc cùng các thái độ chia rẽ của các quốc gia và dân tộc, chúng ta sẽ thành công trong việc xây dựng một thế giới trong đó chiến tranh là điều không thể, và nhân loại sẽ nhận ra chính mình là một gia đình nhân loại duy nhất, chứ không phải một tập hợp chiến đấu của nhiều quốc gia và dân tộc, cạnh tranh để giành phần hơn của nhau và nuôi dưỡng thành công các thành kiến cùng hận thù. Như chúng ta đã thấy, đây là lịch sử của quá khứ. Con người đã phát triển từ một con vật cô lập, chỉ bị thúc đẩy bởi các bản năng tự bảo tồn, ăn uống và giao phối, qua các giai đoạn [64] của đời sống gia đình, đời sống bộ lạc và đời sống quốc gia, đến điểm mà ngày nay y nắm bắt được một lý tưởng còn rộng lớn hơn — sự hợp nhất quốc tế, hay sự vận hành trôi chảy của Một Nhân Loại.

This growing idealism is fighting its way into the forefront of the human consciousness in spite of all separative enmities. It is largely responsible for the present chaos and for the banding together of the United Nations. It has produced the conflicting ideologies which are seeking world expression; it has produced the dramatic emergence of national saviours (so-called), world prophets and world workers, idealists, opportunists, dictators and investigators and humanitarians. These conflicting idealisms are a wholesome sign, whether we agree with them or not. They are definite reactions to the human demand—urgent and right—for better conditions, for more light and understanding, for greater cooperation, for security and peace and plenty in the place of terror, fear and starvation.

Chủ nghĩa lý tưởng đang tăng trưởng này đang tự mở đường vào tuyến đầu của tâm thức nhân loại, bất chấp mọi thù nghịch chia rẽ. Nó phần lớn chịu trách nhiệm cho sự hỗn loạn hiện nay và cho việc các Quốc Gia Liên Hiệp liên kết với nhau. Nó đã sản sinh ra các hệ tư tưởng xung đột đang tìm kiếm sự biểu hiện trên thế giới; nó đã sản sinh ra sự xuất hiện đầy kịch tính của những vị cứu tinh quốc gia, như người ta gọi, các nhà tiên tri thế giới và những người hoạt động thế giới, các nhà lý tưởng, những kẻ cơ hội, các nhà độc tài, các nhà khảo cứu và các nhà nhân đạo. Những chủ nghĩa lý tưởng xung đột này là một dấu hiệu lành mạnh, dù chúng ta có đồng ý với chúng hay không. Chúng là những phản ứng rõ rệt trước đòi hỏi của nhân loại — khẩn thiết và đúng đắn — về những điều kiện tốt đẹp hơn, về nhiều ánh sáng và thấu hiểu hơn, về sự hợp tác lớn hơn, về an ninh, hòa bình và dư dật thay cho kinh hoàng, sợ hãi và đói khát.

Conclusion

Kết luận

It is difficult for modern man to conceive of a time when there will be no racial, national or separative religious consciousness present in human thinking. It was equally difficult for prehistoric man to conceive of a time when there would be national thinking. This is a good thing for us to bear in mind. The time when humanity will be able to think in universal terms still lies far ahead but the fact that we can speak of it, desire it and plan for it is surely the guarantee that it is not impossible. Humanity has always progressed from stage to stage of enlightenment and from glory to glory. We are today on our way to a far better civilization than the world has ever known and towards conditions which will ensure a much happier humanity and which will see the end of national differences, of class distinctions [65] (whether based on an hereditary or a financial status) and which will ensure a fuller and richer life for everyone.

Con người hiện đại khó hình dung một thời kỳ khi trong tư duy nhân loại sẽ không còn hiện diện tâm thức chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo chia rẽ. Đối với con người tiền sử, việc hình dung một thời kỳ khi sẽ có tư duy quốc gia cũng khó khăn như vậy. Đây là điều tốt để chúng ta ghi nhớ. Thời kỳ khi nhân loại có thể suy nghĩ theo những thuật ngữ phổ quát vẫn còn ở rất xa phía trước, nhưng sự kiện rằng chúng ta có thể nói về nó, khao khát nó và hoạch định cho nó chắc chắn là bảo chứng rằng nó không phải là điều bất khả. Nhân loại luôn luôn tiến bộ từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của giác ngộ, và từ vinh quang này đến vinh quang khác. Ngày nay, chúng ta đang trên đường tiến tới một nền văn minh tốt đẹp hơn nhiều so với bất cứ nền văn minh nào thế giới từng biết, và hướng tới những điều kiện sẽ bảo đảm một nhân loại hạnh phúc hơn nhiều, sẽ chứng kiến sự chấm dứt các khác biệt quốc gia, các phân biệt giai cấp [65] dù dựa trên địa vị kế thừa hay tài chính, và sẽ bảo đảm một đời sống đầy đủ và phong phú hơn cho mọi người.

It will be obvious that very many decades must elapse before such a state of affairs will be actively present—but it will be decades and not centuries, if humanity can learn the lessons of the world war, if the reactionary and the conservative peoples in every nation can be prevented from swinging civilization back on to the bad old lines. But a beginning can immediately be made. Simplicity should be our watchword for it is simplicity which will kill our old materialistic way of living. Cooperative goodwill is surely the first idea to be presented to the masses and taught in our schools, thereby guaranteeing the new and better civilization. Loving understanding, intelligently applied, should be the hallmark of the cultured and wiser groups, plus effort on their part to relate the world of meaning to the world of outer efforts—for the benefit of the masses. World Citizenship as an expression of both goodwill and understanding should be the goal of the enlightened everywhere and the hallmark of the spiritual man. In these three, you have right relations established between education, religion and politics.

Rõ ràng là rất nhiều thập niên phải trôi qua trước khi tình trạng như thế hiện diện một cách tích cực — nhưng đó sẽ là thập niên chứ không phải thế kỷ, nếu nhân loại có thể học các bài học của cuộc chiến tranh thế giới, nếu các dân tộc phản động và bảo thủ trong mọi quốc gia có thể được ngăn không cho kéo nền văn minh trở lại những đường lối cũ tồi tệ. Nhưng một khởi đầu có thể được thực hiện ngay lập tức. Sự giản dị phải là khẩu hiệu của chúng ta, vì chính sự giản dị sẽ giết chết lối sống duy vật cũ của chúng ta. Thiện chí hợp tác chắc chắn là ý tưởng đầu tiên cần được trình bày cho quần chúng và được dạy trong các trường học của chúng ta, nhờ đó bảo đảm nền văn minh mới mẻ và tốt đẹp hơn. Sự thấu hiểu đầy tình thương, được áp dụng một cách thông minh, phải là dấu hiệu đặc trưng của các nhóm có văn hóa và minh triết hơn, cộng với nỗ lực từ phía họ nhằm liên hệ Thế giới của ý nghĩa với thế giới của các nỗ lực bên ngoài — vì lợi ích của quần chúng. Tư cách Công dân Thế giới, như một biểu hiện của cả thiện chí lẫn sự thấu hiểu, phải là mục tiêu của những người giác ngộ ở khắp nơi và là dấu hiệu đặc trưng của con người tinh thần. Trong ba điều này, các bạn có các mối quan hệ đúng đắn được thiết lập giữa giáo dục, tôn giáo và chính trị.

The keynote of the new education is essentially right interpretation of life, past and present, and its relation to the future of mankind; the keynote of the new religion must and should be a right approach to God, transcendent in nature and immanent in man, whilst the keynote of the new science of politics and of government will be right human relations and for both of these education must prepare the child.

Chủ âm của nền giáo dục mới về căn bản là sự diễn giải đúng đắn về sự sống, quá khứ và hiện tại, cùng mối liên hệ của nó với tương lai nhân loại; chủ âm của tôn giáo mới phải là, và nên là, một cách tiếp cận đúng đắn đối với Thượng đế, Đấng siêu việt trong bản chất và nội tại trong con người, trong khi chủ âm của khoa học chính trị và chính quyền mới sẽ là các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; và giáo dục phải chuẩn bị đứa trẻ cho cả hai điều này.