← Problems of Humanity – Alice A. Bailey

CHAPTER 3 - THE PROBLEM OF CAPITAL, LABOUR AND EMPLOYMENT – CHƯƠNG 3 - VẤN ĐỀ TƯ BẢN, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

CHAPTER 3 - THE PROBLEM OF CAPITAL, LABOUR AND EMPLOYMENT – CHƯƠNG 3 - VẤN ĐỀ TƯ BẢN, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

[66] In a unique sense we stand today at the dawn of an entirely new economic age. This is increasingly obvious to all thinking people. Because of the triumph of science—the release of the energy of the atom—the future of mankind and the type of the incoming civilization is unpredictable. The changes which are imminent are so far-reaching that it is apparent that the old economic values and the familiar standards of living are bound to pass away; no one knows what will take their place.

[66] Theo một ý nghĩa độc đáo, ngày nay chúng ta đang đứng ở buổi bình minh của một thời đại kinh tế hoàn toàn mới. Điều này ngày càng hiển nhiên đối với mọi người biết suy nghĩ. Do thắng lợi của khoa học — sự giải phóng năng lượng của nguyên tử — tương lai của nhân loại và loại hình văn minh đang đến là điều không thể tiên đoán. Những thay đổi sắp xảy ra có tầm mức sâu rộng đến nỗi rõ ràng các giá trị kinh tế cũ và những tiêu chuẩn sống quen thuộc tất phải qua đi; không ai biết điều gì sẽ thay thế chúng.

Conditions will be basically altered; along certain lines, such as the distribution of coal and oil for lighting, heating and transportation, is it not possible that in the future neither of these planetary resources will be required? These are two instances of the fundamental changes which the use of atomic energy may make in future civilized living.

Các điều kiện sẽ được thay đổi tận gốc; theo một số đường hướng nhất định, như việc phân phối than đá và dầu mỏ để thắp sáng, sưởi ấm và vận chuyển, liệu có phải trong tương lai, cả hai nguồn tài nguyên hành tinh này đều sẽ không còn cần thiết nữa chăng? Đây là hai ví dụ về những thay đổi căn bản mà việc sử dụng năng lượng nguyên tử có thể đem lại trong đời sống văn minh tương lai.

Two major problems will grow out of this discovery—one immediate in nature and the other to be later developed. The first is that those whose large financial interests are bound up in products which the new type of energy will inevitably supersede will fight to the last ditch to prevent these new sources of wealth from benefiting others. Secondly, there will be the steadily growing problem of the release of man power from the gruelling labour and the long hours today required in order to provide a living wage and the necessities of life. One is the problem of capital and the other is the problem of labour; one is the problem of established control [67] of the purely selfish interests which have for so long controlled the life of humanity and the other is the problem of leisure and its constructive use. One problem concerns civilization and its correct functioning in the new age and the other concerns culture and the employment of time along creative lines.

Hai vấn đề chủ yếu sẽ nảy sinh từ khám phá này — một vấn đề có tính tức thời, và vấn đề kia sẽ phát triển về sau. Vấn đề thứ nhất là những người có lợi ích tài chính lớn gắn liền với các sản phẩm mà loại năng lượng mới chắc chắn sẽ thay thế, sẽ chiến đấu đến cùng để ngăn các nguồn của cải mới này đem lợi ích cho người khác. Thứ hai, sẽ có vấn đề ngày càng gia tăng về việc giải phóng nhân lực khỏi lao động nhọc nhằn và những giờ làm việc dài hiện nay cần thiết để cung cấp một mức lương đủ sống và các nhu yếu của đời sống. Một bên là vấn đề của tư bản, bên kia là vấn đề của lao động; một bên là vấn đề của sự kiểm soát đã được thiết lập [67] bởi các lợi ích thuần túy ích kỷ, vốn từ lâu đã kiểm soát đời sống nhân loại, còn bên kia là vấn đề của thời gian nhàn rỗi và việc sử dụng nó một cách xây dựng. Một vấn đề liên quan đến văn minh và sự vận hành đúng đắn của nó trong kỷ nguyên mới, còn vấn đề kia liên quan đến văn hóa và việc sử dụng thời gian theo những đường lối sáng tạo.

It is not useful here to prophesy the uses to which the most potent energy hitherto released for man’s helping can or will be put. Its first constructive use was to end the war. Its future constructive use lies in the hands of science and should be controlled by the men of goodwill to be found in all nations. This energy must be safeguarded from monied interests; it must be turned definitely into the usages of peace and employed to implement a new and happier world. An entirely new field of investigation opens today before science and one which they have long wished to penetrate. In the hands of science, this new potency is far safer than in the hands of capital or of those who would exploit this discovery for the increase of their dividends. In the hands of the great democracies and of the Anglo-Saxon and Scandinavian races, this discovery is safer than in other hands. It cannot however be kept in these hands indefinitely. Other nations and races are discovering this “secret of release” and the future security of humanity is, therefore, dependent upon two things:

Ở đây, việc tiên đoán những cách sử dụng mà năng lượng mạnh mẽ nhất từng được giải phóng cho sự trợ giúp con người có thể hoặc sẽ được đưa vào là điều không hữu ích. Công dụng xây dựng đầu tiên của nó là chấm dứt chiến tranh. Công dụng xây dựng trong tương lai của nó nằm trong tay khoa học và phải được kiểm soát bởi những người thiện chí có mặt trong mọi quốc gia. Năng lượng này phải được bảo vệ khỏi các lợi ích tiền bạc; nó phải được chuyển dứt khoát vào các mục đích hòa bình và được sử dụng để thực hiện một thế giới mới mẻ, hạnh phúc hơn. Ngày nay, một lĩnh vực khảo cứu hoàn toàn mới mở ra trước khoa học, một lĩnh vực mà các nhà khoa học từ lâu đã mong muốn thâm nhập. Trong tay khoa học, quyền năng mới này an toàn hơn nhiều so với trong tay tư bản hay những kẻ muốn khai thác khám phá này để gia tăng cổ tức của họ. Trong tay các nền dân chủ lớn và các dân tộc Anglo-Saxon cùng Scandinavia, khám phá này an toàn hơn so với trong những bàn tay khác. Tuy nhiên, nó không thể được giữ mãi trong những bàn tay này. Các quốc gia và chủng tộc khác đang khám phá “bí mật của sự giải phóng” này, và do đó an ninh tương lai của nhân loại tùy thuộc vào hai điều:

1. The steady and planned education of the people of every nation in right human relations and the cultivation of the spirit of goodwill. This will lead to a complete revolution of the present political regimes, which are largely nationalistic in their planning and selfish in their purposes. True democracy, at present only a dream, will be founded on education for goodwill.

1. Sự giáo dục đều đặn và có kế hoạch cho dân chúng của mọi quốc gia về các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và việc vun trồng tinh thần thiện chí. Điều này sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng toàn diện trong các chế độ chính trị hiện nay, vốn phần lớn mang tính dân tộc chủ nghĩa trong hoạch định và ích kỷ trong mục đích. Nền dân chủ chân chính, hiện nay mới chỉ là một giấc mơ, sẽ được đặt nền trên giáo dục vì thiện chí.

2. The education of the children of the future in the fact of human unity and the use of the world’s resources for the good of all. [68]

2. Sự giáo dục trẻ em của tương lai về sự kiện hợp nhất của nhân loại và việc sử dụng các tài nguyên của thế giới vì lợi ích của tất cả. [68]

Certain nations, because of their international character and the multiplicity of races which compose them, are normally more inclusive in their thinking and planning than are the others. They are more prone to think in terms of humanity as a whole than are the others. Such nations are the United States, the British Commonwealth of Nations and the united Soviet Socialist Republics. Many nations and races constitute these three Great Powers—the central triangle at the heart of the coming new world. Hence their opportunity to guide mankind at this time and their innate responsibility to act as world leaders. Other races have no such inherent capacity. They are not, for instance, successful colonists and are more nationalistic and exploiting in their approach to “subject races”. For the three Great Powers, the fusion of the many elements composing their nationals into a united whole has been a necessary conditioning impulse. The basic intention of the United States is the well-being of all within its national jurisdiction and the “pursuit of happiness” is a familiar citation of this intent; the fundamental principle governing British rule is justice for all; the underlying motive of the U.S.S.R. is right living conditions, opportunity for all and the general levelling of all separative classes into one thriving group of human beings. All these objectives are good and their application to the life of humanity will guarantee a happier and more peaceful world.

Một số quốc gia, do tính chất quốc tế của họ và do tính đa dạng của các chủng tộc cấu thành họ, thường có tư duy và hoạch định bao gồm hơn các quốc gia khác. Họ dễ có khuynh hướng suy nghĩ theo phạm vi nhân loại như một toàn thể hơn các quốc gia khác. Những quốc gia như thế là Hoa Kỳ, Khối Thịnh Vượng Chung Anh và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Nhiều quốc gia và chủng tộc cấu thành ba Cường Quốc này — tam giác trung tâm ở trái tim của thế giới mới đang đến. Vì thế, đây là cơ hội của họ để dẫn dắt nhân loại vào lúc này, và là trách nhiệm bẩm sinh của họ để hành động như các nhà lãnh đạo thế giới. Các chủng tộc khác không có năng lực cố hữu như thế. Chẳng hạn, họ không phải là những người thực dân thành công, và trong cách tiếp cận đối với “các chủng tộc lệ thuộc”, họ mang tính dân tộc chủ nghĩa và bóc lột hơn. Đối với ba Cường Quốc, sự dung hợp nhiều yếu tố cấu thành dân chúng của họ thành một toàn thể hợp nhất đã là một xung lực tác động cần thiết. Ý định căn bản của Hoa Kỳ là sự an lạc của tất cả những ai nằm trong quyền tài phán quốc gia của mình, và “sự mưu cầu hạnh phúc” là một trích dẫn quen thuộc của ý định này; nguyên lý căn bản chi phối sự cai trị của Anh là công lý cho tất cả; động cơ nền tảng của Liên bang Xô viết là các điều kiện sống đúng đắn, cơ hội cho tất cả và sự san bằng chung mọi giai cấp chia rẽ thành một nhóm con người hưng thịnh duy nhất. Tất cả các mục tiêu này đều tốt đẹp, và việc áp dụng chúng vào đời sống nhân loại sẽ bảo đảm một thế giới hạnh phúc hơn và hòa bình hơn.

In every country without exception there are the good and the bad elements; there are progressive and reactionary groups. There are cruel and ambitious men in Russia who would gladly exploit the world for the gain of Russia and who would seek to impose the will of the proletariat upon all classes and castes throughout the civilized world; there are thinking men in Russia and men of vision who are opposing them. There are reactionary and class-conscious people in the British [69] Empire who fear the growing power of the masses and who hang on desperately to their inherited prestige and standing; they would hold back the British people from progress and would like to see the restoration of the old hierarchical, paternalistic and feudal system; the mass of the people, speaking through the voice of labour, will have none of it. In the United States there is isolation, the persecution of such minorities as the Negro race and an ignorant and arrogant nationalism, voiced by some Senators and Representatives with their racial hatreds, their separative attitudes and their unsound political methods.

Trong mọi quốc gia không ngoại lệ đều có các yếu tố tốt và xấu; có các nhóm tiến bộ và phản động. Có những người tàn nhẫn và tham vọng ở Nga, những kẻ sẵn lòng khai thác thế giới vì lợi ích của Nga và tìm cách áp đặt ý chí của giai cấp vô sản lên mọi giai cấp và đẳng cấp trên khắp thế giới văn minh; có những người biết suy nghĩ ở Nga và những người có tầm nhìn đang chống lại họ. Có những người phản động và ý thức giai cấp trong Đế quốc Anh [69] sợ hãi quyền lực ngày càng tăng của quần chúng và tuyệt vọng bám giữ uy tín cùng địa vị kế thừa của họ; họ muốn kìm hãm dân tộc Anh khỏi sự tiến bộ, và muốn thấy sự phục hồi của hệ thống cũ có tính đẳng cấp, gia trưởng và phong kiến; khối đông dân chúng, nói qua tiếng nói của lao động, sẽ không chấp nhận điều đó. Tại Hoa Kỳ có chủ nghĩa biệt lập, sự bức hại các thiểu số như nhân loại Da Đen, và một chủ nghĩa dân tộc ngu dốt, kiêu ngạo, được một số Thượng nghị sĩ và Dân biểu phát ngôn, với những hận thù chủng tộc, những thái độ chia rẽ và các phương pháp chính trị thiếu lành mạnh của họ.

Fundamentally, however, these three Great Powers constitute the hope of the world and form the basic spiritual triangle behind the plans and the shaping of the events which will inaugurate the new world. The other powerful nations, little as they may like to realize it, are not in so strong a position; they have not the same idealism or the same vast national resources; their national preoccupation limits their world vision; they are conditioned by narrower ideologies, by a greater struggle for national existence, by their fights for boundaries and material gains, and by a failure to offer full cooperation with humanity as a whole. The smaller nations have not quite the same attitude; they are relatively cleaner in their political regimes and constitute basically the nucleus of that federated world which is inevitably taking shape around the three Great Powers. These federations will be based upon cultural ideals and will be formed to guarantee right human relations; they will not eventually be founded on power politics; they will not be combinations of nations banded together versus other combinations for selfish ends. Boundaries and regional controls and international jealousies will not be controlling factors. [70]

Tuy nhiên, về căn bản, ba Cường Quốc này cấu thành niềm hy vọng của thế giới và hình thành tam giác tinh thần căn bản đứng sau các kế hoạch và sự định hình những biến cố sẽ khai mở thế giới mới. Các quốc gia hùng mạnh khác, dù họ có thể không muốn nhận ra điều đó đến đâu, cũng không ở trong một vị thế mạnh mẽ như vậy; họ không có cùng chủ nghĩa lý tưởng hay cùng các nguồn lực quốc gia rộng lớn; mối bận tâm quốc gia của họ giới hạn tầm nhìn thế giới của họ; họ bị tác động bởi những hệ tư tưởng hẹp hơn, bởi cuộc đấu tranh lớn hơn cho sự tồn tại quốc gia, bởi các cuộc chiến giành biên giới và lợi ích vật chất, và bởi sự thất bại trong việc đưa ra sự hợp tác đầy đủ với nhân loại như một toàn thể. Các quốc gia nhỏ hơn không hoàn toàn có cùng thái độ ấy; họ tương đối trong sạch hơn trong các chế độ chính trị của mình và về căn bản cấu thành hạt nhân của thế giới liên bang hóa đang không tránh khỏi thành hình quanh ba Cường Quốc. Các liên bang này sẽ đặt nền trên các lý tưởng văn hóa và sẽ được hình thành để bảo đảm các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; rốt cuộc, chúng sẽ không được đặt nền trên chính trị quyền lực; chúng sẽ không phải là những tổ hợp quốc gia liên kết với nhau chống lại những tổ hợp khác vì các mục đích ích kỷ. Biên giới, sự kiểm soát khu vực và những ghen tị quốc tế sẽ không phải là các nhân tố chi phối. [70]

To bring about these happier conditions, one major adjustment must be made and one fundamental change brought about. Otherwise no hope of peace will be found on earth. The relation between capital and labour and between both of these groups and humanity as a whole must be worked out. The problem is one with which we are all familiar; it is one which evokes violent prejudices and partisanships and in the clamour of all that is being said and in the violence of the battle it might serve a useful purpose to approach the subject from a more universal angle and with an eye to the emerging spiritual values.

Để đem lại những điều kiện hạnh phúc hơn này, cần phải thực hiện một sự điều chỉnh chủ yếu và tạo ra một thay đổi căn bản. Nếu không, sẽ không tìm thấy hy vọng hòa bình nào trên Trái Đất. Mối quan hệ giữa tư bản và lao động, và giữa cả hai nhóm này với nhân loại như một toàn thể, phải được giải quyết. Vấn đề này là vấn đề tất cả chúng ta đều quen thuộc; nó gợi lên những thành kiến và phe phái mãnh liệt, và giữa tiếng ồn ào của tất cả những gì đang được nói ra cùng tính dữ dội của cuộc đấu tranh, việc tiếp cận chủ đề từ một góc độ phổ quát hơn và với cái nhìn hướng tới các giá trị tinh thần đang xuất hiện có thể phục vụ một mục đích hữu ích.

First of all, it must be recognized that the cause of all world unrest, of the world wars which have wrecked humanity and the widespread misery upon our planet can largely be attributed to a selfish group with materialistic purposes who have for centuries exploited the masses and used the labour of mankind for their selfish ends. From the feudal barons of Europe and Great Britain in the Middle Ages through the powerful business groups of the Victorian era to the handful of capitalists—national and international—who today control the world’s resources, the capitalistic system has emerged and has wrecked the world. This group of capitalists has cornered and exploited the world’s resources and the staples required for civilized living; they have been able to do this because they have owned and controlled the world’s wealth through their interlocking directorates and have retained it in their own hands. They have made possible the vast differences existing between the very rich and the very poor; they love money and the power which money gives; they have stood behind governments and politicians; they have controlled the electorate; they have made possible the narrow nationalistic aims of selfish politics; they have financed the world businesses and controlled oil, coal, [71] power, light and transportation; they control publicly or sub rosa the world’s banking accounts.

Trước hết, cần phải nhận biết rằng nguyên nhân của mọi bất ổn thế giới, của các cuộc chiến tranh thế giới đã tàn phá nhân loại và của nỗi khốn khổ lan rộng trên hành tinh chúng ta, phần lớn có thể được quy cho một nhóm ích kỷ với các mục đích duy vật, những kẻ trong nhiều thế kỷ đã bóc lột quần chúng và sử dụng lao động của nhân loại cho các mục đích ích kỷ của họ. Từ các lãnh chúa phong kiến của châu Âu và Anh quốc trong thời Trung Cổ, qua các nhóm kinh doanh quyền lực của thời đại Victoria, đến một nhóm nhỏ các nhà tư bản — quốc gia và quốc tế — ngày nay kiểm soát các tài nguyên của thế giới, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và đã tàn phá thế giới. Nhóm các nhà tư bản này đã độc chiếm và khai thác các tài nguyên của thế giới cùng những mặt hàng thiết yếu cần cho đời sống văn minh; họ có thể làm điều này vì họ đã sở hữu và kiểm soát của cải thế giới thông qua các ban giám đốc đan xen của mình, và đã giữ nó trong tay riêng. Họ đã khiến những khác biệt rộng lớn giữa người rất giàu và người rất nghèo trở nên khả hữu; họ yêu tiền và quyền lực mà tiền đem lại; họ đứng sau các chính phủ và chính trị gia; họ kiểm soát cử tri; họ đã khiến các mục tiêu dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi của chính trị ích kỷ trở nên khả hữu; họ đã tài trợ cho các doanh nghiệp thế giới và kiểm soát dầu mỏ, than đá, [71] năng lượng, ánh sáng và vận tải; họ kiểm soát công khai hay ngấm ngầm các tài khoản ngân hàng của thế giới.

The responsibility for the widespread misery to be found today in every country in the world lies predominantly at the door of certain major interrelated groups of business-men, bankers, executives of international cartels, monopolies, trusts and organizations and directors of huge corporations who work for corporate or personal gain. They are not interested in benefiting the public except in so far that the public demand for better living conditions will enable them—under the Law of Supply and Demand—to provide the goods, the transportation, light and power which will in the long run bring in heavier financial returns. Exploitation of man-power, the manipulation of the major planetary resources and the promotion of war for private or business profit are characteristic of their methods.

Trách nhiệm đối với nỗi khốn khổ lan rộng đang thấy ngày nay trong mọi quốc gia trên thế giới chủ yếu nằm trước cửa một số nhóm lớn có liên hệ với nhau gồm các doanh nhân, chủ ngân hàng, giám đốc điều hành của các cartel quốc tế, các tổ chức độc quyền, các trust và tổ chức, cùng các giám đốc của những tập đoàn khổng lồ, những người làm việc vì lợi ích công ty hay cá nhân. Họ không quan tâm đến việc đem lợi ích cho công chúng, ngoại trừ trong chừng mực nhu cầu của công chúng về điều kiện sống tốt hơn sẽ cho phép họ — dưới Định luật Cung và Cầu — cung cấp hàng hóa, vận tải, ánh sáng và năng lượng, những thứ rốt cuộc sẽ đem lại lợi tức tài chính lớn hơn. Việc bóc lột nhân lực, thao túng các tài nguyên hành tinh chủ yếu và thúc đẩy chiến tranh vì lợi nhuận riêng hay lợi nhuận kinh doanh là đặc trưng của các phương pháp của họ.

In every nation, such men and organizations—responsible for the capitalistic system—are to be found. The ramifications of their businesses and their financial grasp upon humanity were, prior to the war, active in every land and though they went underground during the war, they still exist. They form an international group, closely interrelated, working in complete unity of idea and intention and knowing and understanding each other. These men belonged to both the Allied Nations and the Axis Powers; they have worked together before and through the entire period of the war through interlocking directorates, under false names and through deceptive organizations, aided by neutrals of their own way of thinking. Today, in spite of the disaster which they have brought upon the world, they are again organized and renewing their methods; their goals remain unchanged; their international relationships remain unbroken; they constitute the greatest menace mankind faces today; they control politics; they buy prominent [72] men in every nation; they insure silence through threat, cash and fear; they amass wealth and buy a spurious popularity through philanthropic enterprise; their families live soft and easy lives and seldom know the meaning of God-ordained work; they surround themselves with beauty, luxury and possessions and shut their eyes to the poverty, stark unhappiness, lack of warmth and decent clothing, the starvation and the ugliness of the lives of the millions by whom they are surrounded; they contribute to charities and church agencies as a salve to their consciences or to avoid income taxes; they provide work for countless thousands but see to it that these thousands receive so small a wage that real comfort, leisure, culture and travel are impossible.

Trong mọi quốc gia, đều có thể thấy những người và tổ chức như thế — chịu trách nhiệm cho hệ thống tư bản chủ nghĩa. Các nhánh rẽ của công việc kinh doanh của họ và sự nắm giữ tài chính của họ đối với nhân loại, trước chiến tranh, đã hoạt động ở mọi vùng đất; và dù họ rút xuống ngầm trong thời chiến, họ vẫn tồn tại. Họ hình thành một nhóm quốc tế, liên hệ chặt chẽ với nhau, làm việc trong sự hợp nhất trọn vẹn về ý tưởng và ý định, biết rõ và thấu hiểu lẫn nhau. Những người này thuộc cả các Quốc Gia Đồng Minh lẫn các Cường Quốc Trục; họ đã làm việc cùng nhau trước và trong suốt toàn bộ thời kỳ chiến tranh, thông qua các ban giám đốc đan xen, dưới những tên giả và qua các tổ chức lừa dối, được trợ giúp bởi những quốc gia trung lập có cùng cách suy nghĩ với họ. Ngày nay, bất chấp thảm họa mà họ đã đem đến cho thế giới, họ lại được tổ chức và đang đổi mới các phương pháp của mình; các mục tiêu của họ vẫn không thay đổi; các mối quan hệ quốc tế của họ vẫn không bị phá vỡ; họ cấu thành mối đe dọa lớn nhất mà nhân loại đang đối diện ngày nay; họ kiểm soát chính trị; họ mua chuộc những người nổi bật [72] trong mọi quốc gia; họ bảo đảm sự im lặng bằng đe dọa, tiền mặt và nỗi sợ; họ tích lũy của cải và mua một sự nổi tiếng giả tạo qua hoạt động từ thiện; gia đình họ sống đời mềm mại, dễ dàng và hiếm khi biết ý nghĩa của công việc do Thượng đế an bài; họ bao quanh mình bằng cái đẹp, xa hoa và của cải, rồi nhắm mắt trước nghèo đói, bất hạnh trần trụi, thiếu hơi ấm và quần áo tử tế, nạn đói và sự xấu xí trong đời sống của hàng triệu người đang vây quanh họ; họ đóng góp cho các cơ quan từ thiện và giáo hội như một liều thuốc xoa dịu lương tâm hoặc để tránh thuế thu nhập; họ cung cấp việc làm cho vô số ngàn người, nhưng bảo đảm rằng những ngàn người ấy nhận mức lương quá thấp đến nỗi sự tiện nghi thật sự, thời gian nhàn rỗi, văn hóa và du lịch là điều bất khả.

The above is a terrible indictment. It can, however, be substantiated a thousand times over; it is breeding revolution and a growing spirit of unrest. The masses of the people in every land are aroused and awakening and a new day is dawning. A war is starting between the selfish monied interests and the mass of humanity who demand fair play and a right share of the world’s wealth.

Những điều trên là một bản cáo trạng khủng khiếp. Tuy nhiên, nó có thể được chứng minh hàng ngàn lần; nó đang nuôi dưỡng cách mạng và một tinh thần bất ổn ngày càng tăng. Khối đông dân chúng trong mọi vùng đất đang bị khuấy động và thức tỉnh, và một ngày mới đang ló dạng. Một cuộc chiến đang bắt đầu giữa các lợi ích tiền bạc ích kỷ và khối đông nhân loại đang đòi hỏi sự đối xử công bằng và phần chia đúng đắn trong của cải của thế giới.

There are those, however, within the capitalistic system who are aware of the danger with which the monied interests are faced and whose natural tendency is to think along broader and more humanitarian lines. These men fall into two main groups:

Tuy nhiên, trong hệ thống tư bản chủ nghĩa có những người ý thức được hiểm nguy mà các lợi ích tiền bạc đang đối diện, và khuynh hướng tự nhiên của họ là suy nghĩ theo những đường lối rộng lớn hơn và nhân đạo hơn. Những người này rơi vào hai nhóm chính:

First, those who are real humanitarians, who seek the good of their fellowmen and who have no desire to exploit the masses or to profit by the misery of others. They have risen to place and power through their sheer ability or through inherited business position and they cannot avoid the responsibility of the disposal of the millions in their hands. They are frequently rendered helpless by their fellow executives and their hands are largely tied by the existing rules of the game, by their [73] sense of responsibility to their stockholders and by the realization that, no matter what they do—fight or resign—the situation remains unchanged. It is too big for the individual. They remain, therefore, relatively powerless. They are fair and just, decent and kind, simple in their way of life and with a true sense of values, but there is little of a potent nature that they can do.

Thứ nhất, những người thật sự là các nhà nhân đạo, tìm kiếm lợi ích của đồng loại và không có mong muốn bóc lột quần chúng hay thu lợi từ nỗi khốn khổ của người khác. Họ đã vươn lên địa vị và quyền lực nhờ khả năng thuần túy của mình hoặc nhờ vị thế kinh doanh được kế thừa, và họ không thể tránh trách nhiệm định đoạt hàng triệu đồng trong tay mình. Họ thường bị làm cho bất lực bởi các đồng sự điều hành, và đôi tay họ phần lớn bị trói buộc bởi các luật chơi hiện hữu, bởi [73] ý thức trách nhiệm của họ đối với các cổ đông, và bởi nhận thức rằng bất kể họ làm gì — đấu tranh hay từ chức — tình hình vẫn không thay đổi. Nó quá lớn đối với cá nhân. Vì vậy, họ vẫn tương đối bất lực. Họ công bằng và chính trực, đứng đắn và tử tế, giản dị trong cách sống và có một ý thức chân thật về các giá trị, nhưng họ có thể làm rất ít điều có bản chất mạnh mẽ.

Second, those who are clever enough to read the signs of the times; they realize that the capitalistic system cannot continue indefinitely in the face of humanity’s rising demands and the steady emerging of the spiritual values. They are beginning therefore to change their methods and to universalize their businesses and to institute cooperative procedures with their employees. Their inherent selfishness prompts the change and the instinct of self-preservation determines their attitudes. In between these two groups are those who belong to neither the one nor the other; they are a fruitful field for the propaganda of the selfish capitalist or the unselfish humanitarian.

Thứ hai, những người đủ khôn ngoan để đọc các dấu hiệu của thời đại; họ nhận ra rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa không thể tiếp tục vô hạn định trước những đòi hỏi ngày càng tăng của nhân loại và sự xuất hiện đều đặn của các giá trị tinh thần. Vì vậy, họ bắt đầu thay đổi các phương pháp của mình, phổ quát hóa các công việc kinh doanh và thiết lập các thủ tục hợp tác với nhân viên của họ. Tính ích kỷ cố hữu thúc đẩy sự thay đổi, và bản năng tự bảo tồn quyết định thái độ của họ. Ở giữa hai nhóm này là những người không thuộc nhóm này cũng không thuộc nhóm kia; họ là một cánh đồng màu mỡ cho tuyên truyền của nhà tư bản ích kỷ hoặc của nhà nhân đạo vô tư.

It might be well to add here that the selfish thinking and the separative motivation which distinguishes the capitalistic system is also to be found in the small and unimportant business men—in the corner grocery, the plumber and the haberdasher who exploits his employees and deceives his customers. It is the universal spirit of selfishness and the love of power with which we have to contend. The war has, however, acted like a purge. It has opened the eyes of men to the underlying cause of war—economic distress, based on the exploitation of the planet’s resources by an international group of selfish and ambitious men. The opportunity to change things is now present.

Có lẽ nên thêm ở đây rằng lối suy nghĩ ích kỷ và động cơ chia rẽ vốn phân biệt hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng có thể được tìm thấy nơi các doanh nhân nhỏ bé và không quan trọng — nơi tiệm tạp hóa góc phố, người thợ ống nước và người bán đồ nam giới bóc lột nhân viên và lừa dối khách hàng của mình. Chính tinh thần ích kỷ phổ quát và lòng yêu quyền lực là điều chúng ta phải đối phó. Tuy nhiên, chiến tranh đã tác động như một cuộc thanh tẩy. Nó đã mở mắt con người trước nguyên nhân nền tảng của chiến tranh — tình trạng khốn khó kinh tế, dựa trên sự bóc lột các tài nguyên của hành tinh bởi một nhóm quốc tế gồm những người ích kỷ và tham vọng. Cơ hội để thay đổi mọi sự hiện đang có mặt.

Let us now look at the opposing group—Labour.

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào nhóm đối lập — Lao động.

A powerful group, representing the capitalistic system, both national and international, and an equally [74] powerful group of labour unions and their leaders, face each other today. Both groups are national and international in scope. It remains to be seen which of the two will eventually control the planet or if a third group made up of practical idealists may not emerge and take over. The interest of the spiritual workers in the world today is not on the side of the capitalists nor even of labour, as it is now functioning; it is on the side of humanity.

Một nhóm hùng mạnh, đại diện cho hệ thống tư bản chủ nghĩa, cả quốc gia lẫn quốc tế, và một nhóm hùng mạnh không kém [74] gồm các công đoàn lao động cùng các nhà lãnh đạo của họ, ngày nay đang đối mặt nhau. Cả hai nhóm đều có phạm vi quốc gia và quốc tế. Còn phải xem trong hai nhóm ấy nhóm nào cuối cùng sẽ kiểm soát hành tinh, hoặc liệu một nhóm thứ ba gồm các nhà lý tưởng thực tiễn có thể xuất hiện và tiếp quản hay không. Mối quan tâm của những người hoạt động tinh thần trong thế giới ngày nay không đứng về phía các nhà tư bản, cũng không đứng về phía lao động như hiện đang vận hành; nó đứng về phía nhân loại.

For thousands of years, if history is to be believed, the wealthy landowners, the institutional heads of tribes, the feudal lords, the slave owners, merchants or business executives have been in power; they exploited the poor; they searched for the maximum output at the minimum cost. It is no new story. In the Middle Ages, the exploited workmen, the skilled craftsmen and cathedral builders began to form guilds and lodges for mutual protection, for joint discussion and frequently to promote the finest type of craftsmanship. These groups grew in power as the centuries slipped by yet the position of the employed man, woman or child remained deplorable.

Trong hàng ngàn năm, nếu lịch sử đáng tin, các địa chủ giàu có, các thủ lĩnh định chế của bộ lạc, các lãnh chúa phong kiến, các chủ nô, thương gia hay giám đốc kinh doanh đã nắm quyền; họ bóc lột người nghèo; họ tìm kiếm sản lượng tối đa với chi phí tối thiểu. Đây không phải là câu chuyện mới. Trong thời Trung Cổ, những công nhân bị bóc lột, các thợ thủ công lành nghề và những người xây dựng đại giáo đường bắt đầu hình thành các phường hội và hội quán để bảo vệ lẫn nhau, để cùng thảo luận và thường để thúc đẩy loại hình thủ công tinh xảo nhất. Các nhóm này tăng trưởng về quyền lực khi các thế kỷ trôi qua, tuy vậy vị thế của người nam, người nữ hay trẻ em làm thuê vẫn đáng thương.

With invention of machinery and the inauguration of the machine age during the 18th and 19th centuries, the condition of the labouring elements of the population became acutely bad; living conditions were abominable, unsanitary and dangerous to health, owing to the growth of urban areas around factories. They still are, as witness the housing problem of munitions workers during the past several years and the situation around the coal fields both in the States and Great Britain. The exploitation of children increased. The sweat-shop flourished; modern capitalism came into its own and the sharp distinction between the very poor and the very rich became the outstanding characteristic of the Victorian era. From the angle of the planned evolutionary [75] and spiritual development of the human family, leading to civilized and cultural living and to fair play and equal opportunity for all, the situation could not have been worse. Commercial selfishness and wild discontent flourished. The very rich flaunted their superior status in the faces of the very poor, paralleled with a patronizing paternalism. The spirit of revolution grew among the herded, overworked masses who, by their efforts, contributed to the wealth of the rich classes.

Với việc phát minh máy móc và khai mở thời đại máy móc trong các thế kỷ 18 và 19, tình trạng của các thành phần lao động trong dân cư trở nên cực kỳ tồi tệ; điều kiện sống ghê tởm, mất vệ sinh và nguy hiểm cho sức khỏe, do sự tăng trưởng của các khu đô thị quanh nhà máy. Chúng vẫn còn như vậy, bằng chứng là vấn đề nhà ở của công nhân quân nhu trong vài năm qua và tình hình quanh các mỏ than ở cả Hoa Kỳ lẫn Anh quốc. Việc bóc lột trẻ em gia tăng. Xưởng bóc lột sức lao động phát triển mạnh; chủ nghĩa tư bản hiện đại đi vào vị thế của mình, và sự phân biệt sắc bén giữa người rất nghèo và người rất giàu trở thành đặc trưng nổi bật của thời đại Victoria. Từ góc độ sự phát triển tiến hoá [75] và tinh thần đã được hoạch định của gia đình nhân loại, dẫn đến đời sống văn minh và văn hóa, cùng sự đối xử công bằng và cơ hội bình đẳng cho tất cả, tình hình không thể tồi tệ hơn. Sự ích kỷ thương mại và bất mãn cuồng loạn cùng phát triển. Những người rất giàu phô trương địa vị ưu việt của mình trước mặt những người rất nghèo, song song với một chủ nghĩa gia trưởng kẻ cả. Tinh thần cách mạng lớn lên trong các khối đông bị dồn tụ và làm việc quá sức, những người bằng nỗ lực của mình đã góp phần vào của cải của các giai cấp giàu có.

The spiritual principle of Freedom became increasingly recognized and its expression demanded. World conditions tended in the same direction. Movements of every kind became possible, symbolizing this growth and the demand for freedom. The machine age was succeeded by the age of transportation, of electricity, of railroads, the automobile, and the airplane. The age of communications paralleled this also, giving us the telegraph, the telephone, the radio and today, television and radar. All these merged into the present age of science which has given us the liberation of atomic energy and the potentialities inherent in the discovery. In spite of the fact that a machine can do the work of many men, which greatly contributed to the wealth of the man with capital, fresh industries and the growth of worldwide means of distribution provided new fields of employment and the demands of the most materialistic period the world has ever seen gave a great impetus to capital and provided jobs for countless millions. Educational facilities also grew and with this came the demand by the labouring classes for better living conditions, higher pay and more leisure. This the employers have constantly fought; they organized themselves against the demands of the awakening mass of men and precipitated a condition which forced labour to take action.

Nguyên lý tinh thần của Tự Do ngày càng được nhận biết và sự biểu hiện của nó được đòi hỏi. Các điều kiện thế giới có khuynh hướng theo cùng chiều hướng ấy. Các phong trào đủ loại trở nên khả hữu, tượng trưng cho sự tăng trưởng này và đòi hỏi tự do. Thời đại máy móc được tiếp nối bởi thời đại vận tải, điện lực, đường sắt, xe hơi và máy bay. Thời đại truyền thông cũng song hành với điều này, đem đến cho chúng ta điện báo, điện thoại, vô tuyến và ngày nay là truyền hình cùng radar. Tất cả những điều này hòa nhập vào thời đại khoa học hiện nay, vốn đã đem lại cho chúng ta sự giải phóng năng lượng nguyên tử và các tiềm năng vốn có trong khám phá ấy. Dù một máy móc có thể làm công việc của nhiều người, điều đã góp phần rất lớn vào của cải của người có tư bản, các ngành công nghiệp mới và sự phát triển các phương tiện phân phối trên toàn thế giới đã cung cấp những lĩnh vực việc làm mới, và những đòi hỏi của thời kỳ duy vật nhất mà thế giới từng thấy đã đem lại một xung lực lớn cho tư bản và cung cấp việc làm cho vô số triệu người. Các phương tiện giáo dục cũng phát triển, và cùng với điều này xuất hiện đòi hỏi của các giai cấp lao động về điều kiện sống tốt hơn, lương cao hơn và nhiều thời gian nhàn rỗi hơn. Điều này các chủ sử dụng lao động đã không ngừng chống lại; họ tự tổ chức để chống lại các đòi hỏi của khối đông con người đang thức tỉnh, và làm ngưng tụ một tình trạng buộc lao động phải hành động.

[76] Groups of enlightened men in Europe, Great Britain and the United States began to agitate, to write books which were widely read, to start discussions, and to urge the monied classes to awaken to the situation and to the appalling living conditions under which the labouring class and peasantry lived. The abolitionists fought slavery—whether of Negroes or of whites, of children or of adults. A rapid developing free press began to keep the “lower classes” informed of what was going on; parties were formed to end certain glaring abuses; the French Revolution, the writings of Marx and of others, and the American Civil War all played their part in forcing the issue of the common man. Men in every country determined to fight for freedom and their proper human rights.

[76] Những nhóm người giác ngộ ở châu Âu, Anh quốc và Hoa Kỳ bắt đầu vận động, viết những cuốn sách được đọc rộng rãi, khơi lên các cuộc thảo luận, và thúc giục các giai cấp có tiền thức tỉnh trước tình thế và trước những điều kiện sống kinh hoàng mà giai cấp lao động và nông dân phải chịu. Những người chủ trương bãi nô đã đấu tranh chống chế độ nô lệ—dù là nô lệ da đen hay da trắng, trẻ em hay người lớn. Một nền báo chí tự do đang phát triển nhanh chóng bắt đầu thông tin cho “các giai cấp thấp” về những gì đang diễn ra; các đảng phái được thành lập để chấm dứt một số lạm dụng hiển nhiên; Cách mạng Pháp, các trước tác của Marx và của những người khác, cùng Nội chiến Hoa Kỳ, tất cả đều góp phần buộc vấn đề của người dân thường phải được đặt ra. Con người ở mọi quốc gia quyết tâm đấu tranh cho tự do và những quyền con người chính đáng của mình.

Gradually employees and labourers came together for mutual protection and their just rights. The Labour Union movement came into being eventually with its formidable weapons: education for freedom and the strike. Many discovered that in union there is strength and that together they could defy the employer and wrest from the monied interests decent wages, better living conditions and that greater leisure which is the right of every man. The fact of the steadily increasing power of labour and of its international strength is well known and a primary modern interest.

Dần dần, các nhân viên và người lao động liên kết lại để bảo vệ lẫn nhau và đòi các quyền công chính của mình. Cuối cùng, phong trào Công đoàn ra đời với những vũ khí đáng gờm của nó: giáo dục cho tự do và đình công. Nhiều người khám phá rằng trong sự đoàn kết có sức mạnh, và rằng cùng nhau họ có thể thách thức giới chủ, đồng thời giành lấy từ các thế lực tiền bạc mức lương xứng đáng, điều kiện sống tốt hơn và nhiều thời giờ nhàn rỗi hơn—điều vốn là quyền của mọi người. Sự kiện quyền lực của lao động đang tăng lên đều đặn và sức mạnh quốc tế của nó là điều ai cũng biết, và là một mối quan tâm hàng đầu của thời hiện đại.

Powerful individuals among the union leaders came to the surface of the movement. Some of the employers, who had the best interests of their workers at heart, stood by them and aided them. They were relatively a small minority but they served to weaken the confidence and power of the majority. The fight of the workers is still going on; gains are steadily being made; shorter hours and better pay are constantly being demanded and when refused the weapon of the strike is used. The use of the strike, so beneficent and helpful [77] in the early days of the rise of labour to power, is now itself becoming a tyranny in the hands of the unscrupulous and self-seeking. Labour leaders are now so powerful that many of them have shifted into the position of dictators and are exploiting the mass of workers whom they earlier served. Labour is also becoming exceedingly rich and untold millions have been accumulated by the great national organizations everywhere. The Labour Movement is itself now capitalistic.

Những cá nhân đầy quyền lực trong hàng ngũ lãnh đạo công đoàn nổi lên trên bề mặt của phong trào. Một số chủ nhân, những người thật sự quan tâm đến lợi ích tốt đẹp nhất của công nhân mình, đã đứng về phía họ và trợ giúp họ. Họ chỉ là một thiểu số tương đối nhỏ, nhưng họ đã góp phần làm suy yếu niềm tin và quyền lực của đa số. Cuộc đấu tranh của công nhân vẫn còn tiếp diễn; các thành quả vẫn đều đặn đạt được; giờ làm ngắn hơn và lương cao hơn liên tục được đòi hỏi, và khi bị từ chối thì vũ khí đình công được sử dụng. Việc sử dụng đình công, vốn rất hữu ích và lợi lạc [77] trong những ngày đầu lao động vươn lên nắm quyền, nay chính nó đang trở thành một bạo quyền trong tay những kẻ vô lương tâm và vụ lợi. Các lãnh đạo lao động ngày nay quyền lực đến mức nhiều người trong số họ đã chuyển sang vị thế của những nhà độc tài và đang khai thác quần chúng công nhân mà trước kia họ từng phụng sự. Lao động cũng đang trở nên cực kỳ giàu có, và vô số triệu đã được các tổ chức quốc gia lớn ở khắp nơi tích lũy. Chính Phong trào Lao động hiện nay đã mang tính tư bản.

Labour and Labour Unions have done noble work. Labour has been elevated into its rightful place in the life of the nations and the essential dignity of man has been emphasized. Humanity is being rapidly fused into one great corporate body under the influence of the Law of Supply and of Demand which is a point to be remembered. The destiny of the race and the power to make national and international decisions, affecting the whole of mankind, is passing into the hands of the masses, of the working classes and of the man in the street. The inauguration of the labour unions was, in fact, a great spiritual movement, leading to the uprising anew of the divine spirit in man and an expression of the spiritual qualities inherent in the race.

Lao động và các Công đoàn đã thực hiện một công việc cao quý. Lao động đã được nâng lên đúng vị trí của nó trong đời sống các quốc gia, và phẩm giá thiết yếu của con người đã được nhấn mạnh. Nhân loại đang nhanh chóng được dung hợp thành một đại cơ thể tập thể dưới ảnh hưởng của Định luật Cung và Cầu, đây là một điểm cần ghi nhớ. Vận mệnh của nhân loại và quyền lực đưa ra các quyết định quốc gia và quốc tế, ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, đang chuyển vào tay quần chúng, các giai cấp lao động và người bình dân. Việc khai sinh các công đoàn, thật ra, là một phong trào tinh thần lớn lao, dẫn đến sự trỗi dậy trở lại của tinh thần thiêng liêng trong con người và là một biểu hiện của các phẩm tính tinh thần vốn có trong nhân loại.

Yet all is not well with the labour movement. The question arises whether it is not sorely in need of a drastic housecleaning. With the coming-in of labour governments in certain countries, with the growth of democracy and the demand for freedom, with the uprising of the rule of the proletariat in Russia, and the higher educational standard of the race, it might well appear that new, better and different methods may now be used to implement the Four Freedoms and to insure right human relations. If there is a realization that there should be right human relations among nations, it is obvious that such relations should exist also between capital and labour (composed as both groups are of [78] human beings) and between the quarrelling labour organizations. Labour is today a dictatorship, using threat, fear and force to gain its ends. Many of its leaders are powerful and ambitious men, with a deep love of money and a determination to wield power. Bad housing, poor pay and evil conditions still exist everywhere and it is not in every case the fault of the employer.

Tuy nhiên, không phải mọi sự đều ổn thỏa với phong trào lao động. Câu hỏi được đặt ra là liệu phong trào ấy có đang hết sức cần một cuộc thanh lọc triệt để hay không. Với sự xuất hiện của các chính phủ lao động ở một số quốc gia, với sự phát triển của dân chủ và yêu cầu tự do, với sự trỗi dậy của quyền cai trị của giai cấp vô sản ở Nga, và với trình độ giáo dục cao hơn của nhân loại, rất có thể thấy rằng giờ đây những phương pháp mới, tốt hơn và khác biệt hơn có thể được dùng để thực thi Bốn Tự Do và bảo đảm các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Nếu có sự nhận ra rằng giữa các quốc gia cần có các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, thì hiển nhiên những mối quan hệ như thế cũng phải tồn tại giữa tư bản và lao động, vì cả hai nhóm đều gồm [78] con người, cũng như giữa các tổ chức lao động đang tranh chấp. Lao động ngày nay là một chế độ độc tài, dùng đe dọa, sợ hãi và mãnh lực để đạt mục tiêu. Nhiều lãnh đạo của nó là những người đầy quyền lực và tham vọng, có lòng yêu tiền sâu đậm và quyết tâm nắm giữ quyền lực. Nhà ở tồi tệ, lương thấp và điều kiện xấu vẫn còn tồn tại khắp nơi, và không phải trong mọi trường hợp lỗi đều thuộc về người chủ.

Power in the future lies in the hands of the masses. These masses are moving forward and by the sheer weight of their numbers, by their planned thinking and the rapidly growing interrelation now established between labour movements all over the world, nothing today can stop their progress. The major asset which labour has over capital is that it is working for countless millions whilst the capitalist works for the good of a few. The norm of humanity lies at the heart of the labour movement.

Quyền lực trong tương lai nằm trong tay quần chúng. Những quần chúng này đang tiến tới, và bằng sức nặng đơn thuần của số đông, bằng tư duy có kế hoạch của họ và bằng mối liên hệ hỗ tương đang tăng trưởng nhanh chóng, nay đã được thiết lập giữa các phong trào lao động trên toàn thế giới, ngày nay không gì có thể ngăn được bước tiến của họ. Tài sản lớn nhất mà lao động có so với tư bản là lao động đang làm việc cho vô số triệu người, trong khi nhà tư bản làm việc vì lợi ích của một số ít. Chuẩn mực của nhân loại nằm ngay trong trung tâm của phong trào lao động.

We need to grasp somewhat this picture of a world-wide condition of misery, based on both the capitalistic and the labour movements, to see this entire picture realistically and fairly. In some form or another the interplay between capital and labour, between employer and employee and between the monied interests and the exploited masses has been present. With the steam age, the scientific age, the age of electricity and the age of planetary intercommunication, this evil grew and spread. Capital became more and more potent; Labour became increasingly restless and demanding. The culminating struggle was presented in the world war and its aftermath, a thirty year war in which capital implemented the war and the efforts of labour won it.

Chúng ta cần phần nào nắm bắt bức tranh này về một tình trạng khốn khổ trên toàn thế giới, dựa trên cả các phong trào tư bản lẫn lao động, để nhìn toàn cảnh ấy một cách thực tế và công bằng. Dưới hình thức này hay hình thức khác, sự tương tác giữa tư bản và lao động, giữa chủ nhân và người làm công, giữa các thế lực tiền bạc và quần chúng bị bóc lột đã luôn hiện diện. Với thời đại hơi nước, thời đại khoa học, thời đại điện lực và thời đại giao tiếp liên hành tinh, điều ác này lớn lên và lan rộng. Tư bản ngày càng trở nên mạnh mẽ; Lao động ngày càng bất an và đòi hỏi nhiều hơn. Cuộc đấu tranh đạt đến đỉnh điểm trong chiến tranh thế giới và hậu quả của nó, một cuộc chiến ba mươi năm trong đó tư bản cung ứng phương tiện cho chiến tranh và các nỗ lực của lao động đã chiến thắng nó.

Certain questions arise. In the answering of these questions, humanity will solve its problems or, if they remain unsolved, the human race will come to an end.

Một số câu hỏi được đặt ra. Trong việc trả lời các câu hỏi này, nhân loại sẽ giải quyết các vấn đề của mình; hoặc nếu chúng vẫn không được giải quyết, nhân loại sẽ đi đến chỗ kết thúc.

1. Is the capitalistic system to remain in power? Is it entirely evil? Are not capitalists human beings? [79]

1. Hệ thống tư bản có tiếp tục nắm quyền hay không? Nó có hoàn toàn xấu xa không? Chẳng phải các nhà tư bản cũng là con người sao? [79]

2. Will labour itself, through its unions and its growing power, vested in its leaders, become a tyranny?

2. Liệu bản thân lao động, qua các công đoàn và quyền lực ngày càng tăng của nó, được đặt vào tay các lãnh đạo, có trở thành một bạo quyền hay không?

3. Can labour and capital form a working agreement or amalgamation? Do we face another type of war between these two groups?

3. Lao động và tư bản có thể hình thành một thỏa thuận làm việc hay một sự hợp nhất không? Có phải chúng ta đang đối diện với một kiểu chiến tranh khác giữa hai nhóm này không?

4. In what way can the Law of Supply and Demand be implemented so that there is justice for all and plenty for all?

4. Định luật Cung và Cầu có thể được thực thi theo cách nào để có công lý cho tất cả và sung túc cho tất cả?

5. Must some form of totalitarian control be adopted by the various world governments in order to meet the requirements of supply and demand? Must we legislate for material ends and comfort?

5. Liệu các chính phủ khác nhau trên thế giới có phải chấp nhận một hình thức kiểm soát toàn trị nào đó để đáp ứng các yêu cầu của cung và cầu không? Liệu chúng ta có phải lập pháp vì những mục tiêu vật chất và tiện nghi không?

6. What standard of living will—in the New Age—seem essential to man? Shall we have a purely materialistic civilization or shall we have a spiritual world trend?

6. Trong Kỷ Nguyên Mới, tiêu chuẩn sống nào sẽ có vẻ thiết yếu đối với con người? Chúng ta sẽ có một nền văn minh thuần túy duy vật, hay sẽ có một khuynh hướng thế giới tinh thần?

7. What must be done to prevent the monied interests from again mobilizing for the exploitation of the world?

7. Phải làm gì để ngăn các thế lực tiền bạc một lần nữa huy động nhằm khai thác thế giới?

8. What really lies at the very heart of the modern materialistic difficulty?

8. Điều gì thật sự nằm ngay trong cốt lõi của khó khăn duy vật hiện đại?

This last question can be answered in the well known words: “The love of money is the root of all evil”. This throws us back on the fundamental weakness of humanity—the quality of desire. Of this, money is the result and the symbol.

Câu hỏi cuối cùng này có thể được trả lời bằng những lời quen thuộc: “Lòng yêu tiền là cội rễ của mọi điều ác”. Điều này đưa chúng ta trở lại với điểm yếu căn bản của nhân loại—phẩm tính của dục vọng. Tiền bạc là kết quả và biểu tượng của dục vọng ấy.

From the simple process of barter and exchange (as practised by the primeval savage) to the intricate and formidable financial and economic structure of the modern world, desire is the underlying cause. It demands the satisfaction of sensed need, the desire for goods and possessions, the desire for material comfort, for the acquisition and the accumulation of things, the desire for power and the supremacy which money alone can give. This desire controls and dominates human thinking; it is the keynote of our modern civilization; it is also the octopus which is slowly strangling human [80] life, enterprise, and decency; it is the millstone around the neck of mankind.

Từ tiến trình đơn giản của đổi chác và trao đổi, như người hoang sơ thời nguyên thủy đã thực hành, cho đến cơ cấu tài chính và kinh tế phức tạp, đáng gờm của thế giới hiện đại, dục vọng là nguyên nhân nền tảng. Nó đòi sự thỏa mãn nhu cầu được cảm nhận, dục vọng đối với hàng hóa và sở hữu, dục vọng đối với tiện nghi vật chất, đối với việc thu đạt và tích lũy đồ vật, dục vọng đối với quyền lực và địa vị tối thượng mà chỉ tiền bạc mới có thể đem lại. Dục vọng này kiểm soát và thống trị tư duy con người; nó là chủ âm của nền văn minh hiện đại của chúng ta; nó cũng là con bạch tuộc đang chậm rãi bóp nghẹt sự sống [80] nhân loại, sáng kiến và sự tử tế; nó là cối đá đeo quanh cổ nhân loại.

To own, to possess, and to compete with other men for supremacy has been the keynote of the average human being—man against man, householder against householder, business against business, organization against organization, party against party, nation against nation, labour against capital—so that today it is recognized that the problem of peace and happiness is primarily related to the world’s resources and to the ownership of those resources.

Sở hữu, chiếm hữu, và cạnh tranh với những người khác để giành địa vị tối thượng đã là chủ âm của con người trung bình—người chống người, gia chủ chống gia chủ, doanh nghiệp chống doanh nghiệp, tổ chức chống tổ chức, đảng phái chống đảng phái, quốc gia chống quốc gia, lao động chống tư bản—đến nỗi ngày nay người ta nhận ra rằng vấn đề hòa bình và hạnh phúc trước hết liên quan đến các tài nguyên của thế giới và quyền sở hữu những tài nguyên ấy.

The dominating words in our newspapers, over our radios, and in all our discussions are based upon the financial structure of human economy: banking interests, salaries, national debts, reparations, cartels and trusts, finance, taxation—these are the words which control our planning, arouse our jealousies, feed our hatreds or our dislike of other nations, and set us one against the other. The love of money is the root of all evil.

Những từ ngữ chi phối trên báo chí, qua radio và trong mọi cuộc thảo luận của chúng ta đều dựa trên cơ cấu tài chính của nền kinh tế nhân loại: lợi ích ngân hàng, tiền lương, nợ quốc gia, bồi thường chiến tranh, cartel và trust, tài chính, thuế khóa—đó là những từ ngữ kiểm soát việc hoạch định của chúng ta, khơi dậy lòng ganh tị, nuôi dưỡng hận thù hoặc sự không ưa thích của chúng ta đối với các quốc gia khác, và đặt chúng ta chống lại nhau. Lòng yêu tiền là cội rễ của mọi điều ác.

There are, however, large numbers of people whose lives are not dominated by the love of money and who can normally think in terms of the higher values. They are the hope of the future but are individually imprisoned in the system which, spiritually, must end. Though they do not love money they need it and must have it; the tentacles of the business world surround them; they too must work and earn the wherewithal to live; the work they seek to do to aid humanity cannot be done without the required funds; the churches are materialistic in their mode of work and—after caring for the organizational aspect of their work—there is little left for Christ’s work, for simple spiritual living. The task facing the men and women of goodwill in every land today seems too heavy and the problems to be solved seem well-nigh insoluble. Men and women of goodwill are now asking the question: Can the conflict [81] between capital and labour be ended and a new world be thereby reborn? Can living conditions be so potently changed that right human relations can be permanently established?

Tuy nhiên, có rất nhiều người mà đời sống không bị lòng yêu tiền thống trị, và những người ấy bình thường có thể suy nghĩ theo các giá trị cao hơn. Họ là hy vọng của tương lai, nhưng xét riêng từng cá nhân, họ đang bị giam trong hệ thống mà, về mặt tinh thần, phải chấm dứt. Dù họ không yêu tiền, họ vẫn cần tiền và phải có tiền; các vòi của thế giới kinh doanh bao quanh họ; họ cũng phải làm việc và kiếm phương tiện để sống; công việc họ tìm cách làm nhằm trợ giúp nhân loại không thể được thực hiện nếu không có các ngân quỹ cần thiết; các giáo hội mang tính duy vật trong phương thức làm việc của họ, và—sau khi lo liệu cho phương diện tổ chức trong công việc—chỉ còn lại rất ít cho công việc của Đức Christ, cho đời sống tinh thần giản dị. Nhiệm vụ trước mặt những người nam và nữ thiện chí ở mọi xứ sở ngày nay dường như quá nặng nề, và các vấn đề cần giải quyết dường như hầu như không thể giải được. Những người nam và nữ thiện chí hiện đang đặt câu hỏi: Liệu cuộc xung đột [81] giữa tư bản và lao động có thể chấm dứt, và nhờ đó một thế giới mới được tái sinh hay không? Liệu các điều kiện sống có thể được thay đổi mạnh mẽ đến mức các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người có thể được thiết lập vĩnh viễn hay không?

These relationships can be established, and for the following reasons:

Những mối quan hệ này có thể được thiết lập, vì những lý do sau:

1. Humanity has suffered so terribly during the past two hundred years that it is possible to bring about the needed changes, provided that the correct steps are taken before the pain and agony are forgotten and their effects have passed out of man’s consciousness. These steps must be taken at once whilst patent evidences of the past are still present, and the aftermath of world war is before our eyes.

1. Nhân loại đã chịu đau khổ khủng khiếp trong hai trăm năm qua đến mức có thể đem lại những thay đổi cần thiết, với điều kiện các bước đi đúng đắn được thực hiện trước khi nỗi đau và sự thống khổ bị quên lãng và các tác động của chúng đã ra khỏi tâm thức con người. Những bước đi này phải được thực hiện ngay lập tức, trong khi các bằng chứng rõ ràng của quá khứ vẫn còn hiện diện, và hậu quả của chiến tranh thế giới còn ở trước mắt chúng ta.

2. The release of the energy of the atom is definitely the inauguration of the New Age; it will so completely alter our way of life that much of the planning at present being done will be found to be of an interim nature; it will simply help humanity to make a great transition out of the materialistic system now dominating into one in which right human relations will be the basic characteristic. This new and better way of life will be developed for two main reasons:

2. Việc giải phóng năng lượng của nguyên tử chắc chắn là sự khai mở Kỷ Nguyên Mới; nó sẽ làm thay đổi hoàn toàn lối sống của chúng ta đến mức phần lớn việc hoạch định hiện đang được thực hiện sẽ được thấy là có tính chất chuyển tiếp; nó đơn giản sẽ giúp nhân loại thực hiện một cuộc Chuyển tiếp lớn ra khỏi hệ thống duy vật hiện đang thống trị, để bước vào một hệ thống trong đó các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người sẽ là đặc tính nền tảng. Lối sống mới và tốt đẹp hơn này sẽ được phát triển vì hai lý do chính:

a. The purely spiritual reasons of human brotherhood, of peaceful cooperative enterprise and the constantly unfolding principle of the Christ consciousness in the hearts of men. This may be deemed a mystical and visionary reason; it is already more controlling in its effects than is believed.

a. Những lý do thuần túy tinh thần của tình huynh đệ nhân loại, của nỗ lực hợp tác hòa bình và nguyên khí của tâm thức Đức Christ đang không ngừng khai mở trong tâm con người. Điều này có thể bị xem là một lý do thần bí và viễn tưởng; nhưng trong các tác động của nó, nó đã có sức chi phối nhiều hơn người ta tin.

b. The frankly selfish motive of self-preservation. The release of atomic energy has not only put into human hands a potent force which will inevitably bring in a new and better way of life, but also a terrible weapon, capable of wiping the human family off the face of the earth. [82]

b. Động cơ thẳng thắn ích kỷ của sự tự bảo tồn. Việc giải phóng năng lượng nguyên tử không chỉ đặt vào tay con người một mãnh lực hùng mạnh, chắc chắn sẽ đem lại một lối sống mới và tốt đẹp hơn, mà còn đặt vào tay họ một vũ khí khủng khiếp, có khả năng xóa sạch gia đình nhân loại khỏi mặt đất. [82]

3. The steady and selfless work of the men and women of goodwill in every land. This work is non-spectacular but surely founded on right principles and it is one of the main agencies for peace.

3. Công việc đều đặn và vị tha của những người nam và nữ thiện chí ở mọi xứ sở. Công việc này không phô trương, nhưng chắc chắn được đặt nền trên các nguyên tắc đúng đắn, và nó là một trong những tác nhân chính cho hòa bình.

On account of this energy discovery capital and labour are each faced with a problem, and both these problems will reach a point of crisis in the next few years.

Do khám phá về năng lượng này, cả tư bản lẫn lao động đều đối diện với một vấn đề, và cả hai vấn đề này sẽ đạt đến một điểm khủng hoảng trong vài năm tới.

Money, the accumulation of financial assets and the cornering of the earth’s resources for organizational exploitation will soon prove utterly useless and futile, provided that these resources of energy and the mode of their release remain in the hands of the people’s chosen representatives and are not the secret possession of certain groups of powerful men or of any one nation. Atomic energy belongs to humanity as a whole. The responsibility for its control must lie in the hands of the men of goodwill. They must control its destiny and make it available along constructive lines for the use of men everywhere. No one nation should own the formula or secret for the release of energy. Until mankind, however, has moved forward in its understanding of right human relations, an international group of men of goodwill—trusted and chosen by the people—should safeguard these potencies.

Tiền bạc, sự tích lũy tài sản tài chính và việc độc chiếm các tài nguyên của Trái Đất để khai thác có tổ chức sẽ sớm chứng tỏ hoàn toàn vô ích và phù phiếm, với điều kiện các tài nguyên năng lượng này và phương thức giải phóng chúng vẫn nằm trong tay những đại diện do nhân dân chọn, chứ không phải là sở hữu bí mật của một số nhóm người quyền lực hay của bất kỳ quốc gia nào. Năng lượng nguyên tử thuộc về toàn thể nhân loại. Trách nhiệm kiểm soát nó phải nằm trong tay những người thiện chí. Họ phải kiểm soát vận mệnh của nó và làm cho nó sẵn có theo các đường lối xây dựng để con người ở khắp nơi sử dụng. Không một quốc gia nào nên sở hữu công thức hay bí mật giải phóng năng lượng. Tuy nhiên, cho đến khi nhân loại tiến tới trong sự thấu hiểu các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, một nhóm quốc tế gồm những người thiện chí—được nhân dân tin cậy và lựa chọn—phải bảo vệ các quyền năng này.

If this energy is released into constructive channels and if it remains safely guarded by the right men, the capitalistic system is doomed. The problem of labour will then be the major problem of unemployment—a dreaded word which will be meaningless in the golden age which lies ahead. The masses will then be faced by the problem of leisure. This is a problem which when faced and solved will release the creative energy of man into channels undreamed of today.

Nếu năng lượng này được giải phóng vào các kênh xây dựng và nếu nó vẫn được bảo vệ an toàn bởi những người đúng đắn, hệ thống tư bản sẽ đến hồi cáo chung. Khi đó, vấn đề của lao động sẽ là vấn đề lớn về thất nghiệp—một từ đáng sợ nhưng sẽ trở nên vô nghĩa trong thời đại hoàng kim đang ở phía trước. Khi ấy quần chúng sẽ đối diện với vấn đề nhàn rỗi. Đây là một vấn đề mà khi được đối diện và giải quyết sẽ giải phóng năng lượng sáng tạo của con người vào những kênh mà ngày nay chưa ai mơ tưởng.

The release of atomic energy is the first of many great releases in all the kingdoms of nature; the great [83] release still ahead of humanity will bring into expression mass creative powers, spiritual potencies and psychic unfoldments which will prove and demonstrate the divinity and the immortality of man.

Việc giải phóng năng lượng nguyên tử là sự giải phóng đầu tiên trong nhiều sự giải phóng lớn lao ở tất cả các giới trong thiên nhiên; sự giải phóng lớn lao [83] vẫn còn ở phía trước nhân loại sẽ đưa vào biểu hiện các quyền năng sáng tạo đại chúng, các tiềm lực tinh thần và những sự khai mở thông linh, vốn sẽ chứng minh và biểu thị thiên tính cùng sự bất tử của con người.

All this will take time. The time factor must govern as never before the activities of the men of goodwill and the work of those whose task it is to educate not only the children and the youth of the world but also to train humanity in the major undertaking of right human relations and in the possibilities immediately ahead. The note to be struck and the word to be emphasized is humanity. Only one dominant concept can today save the world from a looming economic fight to the death, can prevent the uprising again of the materialistic systems of the past, can stop the re-emerging of the old ideas and concepts and can bring to an end the subtle control by the financial interests and the violent discontent of the masses. A belief in human unity must be endorsed. This unity must be grasped as something worth fighting and dying for; it must constitute the new foundation for all our political, religious and social reorganization and must provide the theme for our educational systems. Human unity, human understanding, human relationships, human fair play and the essential oneness of all men—these are the only concepts upon which to construct the new world, through which to abolish competition and to bring to an end the exploitation of one section of humanity by another and the hitherto unfair possession of the earth’s wealth. As long as there are extremes of riches and poverty men are falling short of their high destiny.

Tất cả điều này sẽ cần thời gian. Yếu tố thời gian phải chi phối, hơn bao giờ hết, các hoạt động của những người thiện chí và công việc của những người có nhiệm vụ giáo dục không chỉ trẻ em và thanh niên của thế giới, mà còn huấn luyện nhân loại trong công cuộc lớn lao là thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và trong những khả năng ngay trước mắt. Âm điệu cần được xướng lên và linh từ cần được nhấn mạnh là nhân loại. Ngày nay chỉ một khái niệm chủ đạo mới có thể cứu thế giới khỏi một cuộc chiến kinh tế sống còn đang lờ mờ hiện ra, có thể ngăn sự trỗi dậy trở lại của các hệ thống duy vật trong quá khứ, có thể chặn sự tái xuất hiện của những ý tưởng và quan niệm cũ, và có thể chấm dứt sự kiểm soát tinh vi của các thế lực tài chính cùng sự bất mãn dữ dội của quần chúng. Niềm tin vào sự thống nhất của nhân loại phải được xác nhận. Sự thống nhất này phải được nắm bắt như một điều đáng để chiến đấu và chết vì nó; nó phải cấu thành nền tảng mới cho mọi sự tái tổ chức chính trị, tôn giáo và xã hội của chúng ta, và phải cung cấp chủ đề cho các hệ thống giáo dục của chúng ta. Sự thống nhất của nhân loại, sự thấu hiểu giữa người với người, các mối quan hệ giữa người với người, sự công bằng giữa người với người và tính nhất thể thiết yếu của mọi người—đó là những khái niệm duy nhất để xây dựng thế giới mới, qua đó xóa bỏ cạnh tranh và chấm dứt việc một bộ phận nhân loại khai thác một bộ phận khác, cũng như việc chiếm hữu bất công từ trước đến nay đối với của cải của Trái Đất. Chừng nào còn có những cực đoan giàu nghèo, con người vẫn chưa đạt tới vận mệnh cao cả của mình.

The Kingdom of God can appear on earth, and this in the immediate future, but the members of this kingdom recognize neither rich nor poor, neither high nor low, neither labour nor capital but only the children of the one Father, and the fact—natural and yet spiritual—[84] that all men are brothers. Here lies the solution of the problem with which we are dealing. The spiritual Hierarchy of our planet recognizes neither capital nor labour; it recognizes only men and brothers. The solution is, therefore, education and still more education and the adaptation of the recognized trends of the times to the vision seen by the spiritually minded and by those who love their fellowmen.

Thiên Giới có thể xuất hiện trên Trái Đất, và điều này trong tương lai gần, nhưng các thành viên của giới này không thừa nhận giàu hay nghèo, cao hay thấp, lao động hay tư bản, mà chỉ thừa nhận những người con của một Cha duy nhất, và sự kiện—tự nhiên nhưng đồng thời tinh thần—[84] rằng mọi người đều là huynh đệ. Chính nơi đây có lời giải cho vấn đề mà chúng ta đang đề cập đến. Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta không thừa nhận tư bản hay lao động; Thánh Đoàn chỉ thừa nhận con người và huynh đệ. Do đó, lời giải là giáo dục, và còn giáo dục nhiều hơn nữa, cùng với việc thích ứng các khuynh hướng đã được nhận biết của thời đại với tầm nhìn mà những người có trí hướng tinh thần và những người yêu thương đồng loại mình đã thấy.

CHAPTER 4 - THE PROBLEM OF THE RACIAL MINORITIES – CHƯƠNG 4 - VẤN ĐỀ CÁC THIỂU SỐ CHỦNG TỘC

[85] The racial problem is badly obscured by its historical retrospect and presentation, much of which is unsound and untrue; it is obscured also by ancient hatreds and national jealousies. These are inherent in human nature but are fed and fostered by prejudice and those who are animated by ulterior and selfish intentions. New and rapidly arising ambitions are also fomenting the difficulty; these ambitions are right and sound, particularly in the case of the Negro. These ambitions are often exploited and distorted by selfish political interests and trouble-making agencies. Still other factors conditioning the racial problem are the economic distress under which so many labour today, the imperialistic control of certain nations, the lack of educational attainments, or a civilization so ancient that it is showing signs of degeneration. These and many other factors are everywhere present, conditioning human thinking, deluding the many affected by the problem and greatly handicapping the efforts of those who are seeking to bring about right action and develop a more balanced and constructive attitude among these minorities. Minorities, along with the rest of mankind, are subject to the unerring forces of evolution and are struggling towards a higher and better existence, towards more wholesome living conditions, towards more individual and racial freedom and a much higher level of right human relations.

[85] Vấn đề chủng tộc bị che mờ nghiêm trọng bởi sự hồi cố và trình bày lịch sử của nó, phần lớn trong đó không vững chắc và không đúng sự thật; nó cũng bị che mờ bởi những hận thù cổ xưa và những ganh tị quốc gia. Những điều này vốn có trong bản chất con người, nhưng được nuôi dưỡng và khuyến khích bởi thành kiến và bởi những kẻ được thúc đẩy bởi các ý định thầm kín và ích kỷ. Những tham vọng mới và đang nhanh chóng nảy sinh cũng đang kích động khó khăn; các tham vọng này là đúng đắn và lành mạnh, đặc biệt trong trường hợp người da đen. Những tham vọng này thường bị các lợi ích chính trị ích kỷ và các tác nhân gây rối khai thác và bóp méo. Những yếu tố khác đang tác động lên vấn đề chủng tộc là tình trạng khốn khó kinh tế mà rất nhiều người ngày nay đang lao động dưới đó, sự kiểm soát đế quốc của một số quốc gia, sự thiếu thành tựu giáo dục, hoặc một nền văn minh cổ xưa đến mức đang bộc lộ dấu hiệu suy thoái. Những yếu tố này và nhiều yếu tố khác hiện diện khắp nơi, tác động lên tư duy con người, đánh lừa nhiều người bị vấn đề này ảnh hưởng, và gây trở ngại lớn cho nỗ lực của những ai đang tìm cách đem lại hành động đúng đắn và phát triển một thái độ quân bình hơn, xây dựng hơn trong các thiểu số này. Các thiểu số, cùng với phần còn lại của nhân loại, chịu sự chi phối của những mãnh lực tiến hoá không sai lầm và đang đấu tranh hướng tới một tồn tại cao hơn, tốt đẹp hơn, hướng tới các điều kiện sống lành mạnh hơn, hướng tới tự do cá nhân và chủng tộc nhiều hơn, và một cấp độ cao hơn nhiều của các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

The sensitivity of these minorities, the inflammatory condition of their immediate and expressed ambition and the violence and prejudice of some of those who speak and fight for them prevent the majority from approaching [86] their problem with the calmness, the cool calculation and the recognition of relation to the whole of humanity which their problem fundamentally requires. Racial faults are more widely recognized than racial virtues; racial qualities find themselves in conflict with national characteristics or world trends and these still further increase the difficulty. The efforts of well-meaning citizens (and they are many) and the plans of the convinced humanitarian to aid these minorities are too often based solely upon a good heart, Christian principles and a sense of justice; these fine qualities are, however, often implemented by a profound ignorance of the true facts, of the historical values and of the various relationships involved. They are also often impulsed by a fighting fanaticism which borders on a hatred for the majority who (as the fighting protagonist sees it) are responsible for the cruel injustices under which the racial minority labours. They fail to recognize that the minority itself is not free from faults but is in a measure also responsible for some of the difficulties. These racial faults and difficulties are usually frankly ignored by the minority itself and its friends.

Sự nhạy cảm của các thiểu số này, tình trạng dễ bùng cháy của tham vọng trực tiếp và được bày tỏ của họ, cùng bạo lực và thành kiến của một số người nói và đấu tranh cho họ, ngăn cản đa số tiếp cận [86] vấn đề của họ với sự bình tĩnh, sự tính toán điềm tĩnh và sự nhận biết mối liên hệ với toàn thể nhân loại mà vấn đề của họ căn bản đòi hỏi. Các lỗi lầm chủng tộc được nhận biết rộng rãi hơn các đức tính chủng tộc; các phẩm tính chủng tộc tự thấy mình xung đột với các đặc tính quốc gia hoặc các khuynh hướng thế giới, và những điều này càng làm tăng thêm khó khăn. Nỗ lực của những công dân có thiện chí, và họ rất đông, cùng các kế hoạch của người nhân đạo xác tín nhằm trợ giúp các thiểu số này, quá thường khi chỉ dựa trên một tấm lòng tốt, các nguyên tắc Cơ Đốc và ý thức công lý; tuy nhiên, các phẩm tính tốt đẹp này thường được thực thi bằng một sự thiếu hiểu biết sâu xa về các sự kiện thật, các giá trị lịch sử và các mối quan hệ khác nhau có liên quan. Chúng cũng thường được thúc đẩy bởi một tinh thần cuồng tín chiến đấu gần như thành hận thù đối với đa số, những người mà, như nhân vật đấu tranh chính nhìn nhận, phải chịu trách nhiệm về các bất công tàn nhẫn mà thiểu số chủng tộc đang gánh chịu. Họ không nhận ra rằng chính thiểu số ấy cũng không phải không có lỗi, mà ở một mức độ nào đó cũng chịu trách nhiệm về một số khó khăn. Các lỗi lầm và khó khăn chủng tộc này thường bị chính thiểu số ấy và bạn bè của họ thẳng thắn làm ngơ.

Racial faults may be entirely the result of the point reached in evolution, of unfair environing conditions and of a certain type of temperament, as is the case with the Negro minority in the United States of America, which leaves them basically not responsible for the difficulty; or the responsibility of the struggling minority may be far greater than it is willing to admit, as is the case with the Jewish minority in the world who are an ancient and civilized people with a full culture of their own, plus certain inherent characteristics which may account for much of their trouble. The difficulty again may be largely a historical one and based upon certain essential incompatibilities such as those which can exist between a conquered and a conquering people, between a militant [87] group and a negative, pacifist group. These can be found existing today between the Moslem and Hindu populations of India—an ancient problem which the British inherited. To all these contributing factors in the problem of the minorities must be added the separative tendencies which the differing religious systems have fostered and which today they deliberately continue to foster. The narrowness of religious creeds is a potent, contributing cause.

Các lỗi lầm chủng tộc có thể hoàn toàn là kết quả của điểm đã đạt tới trong tiến hoá, của các điều kiện môi trường bất công và của một kiểu khí chất nào đó, như trường hợp thiểu số da đen ở Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, điều khiến về căn bản họ không chịu trách nhiệm về khó khăn; hoặc trách nhiệm của thiểu số đang đấu tranh có thể lớn hơn nhiều so với điều họ sẵn lòng thừa nhận, như trường hợp thiểu số Do Thái trên thế giới, vốn là một dân tộc cổ xưa và văn minh với một nền văn hóa đầy đủ của riêng họ, cộng thêm một số đặc tính cố hữu có thể giải thích phần lớn rắc rối của họ. Khó khăn cũng có thể phần lớn mang tính lịch sử và dựa trên một số sự bất tương hợp thiết yếu, như những điều có thể tồn tại giữa một dân tộc bị chinh phục và một dân tộc chinh phục, giữa một nhóm hiếu chiến [87] và một nhóm tiêu cực, chủ hòa. Những điều này ngày nay có thể được thấy đang tồn tại giữa các cộng đồng Hồi giáo và Ấn giáo ở Ấn Độ—một vấn đề cổ xưa mà người Anh đã thừa hưởng. Vào tất cả những yếu tố góp phần này trong vấn đề các thiểu số, cần thêm các khuynh hướng chia rẽ mà các hệ thống tôn giáo khác nhau đã nuôi dưỡng và ngày nay vẫn cố ý tiếp tục nuôi dưỡng. Sự hẹp hòi của các tín điều tôn giáo là một nguyên nhân góp phần mạnh mẽ.

At the very outset of our discussion, it would be wise to remember that the entire problem we are considering can be traced back to the outstanding human weakness, the great sin or heresy of separateness. There is surely no greater sin than this; it is responsible for the entire range of human evil. It sets an individual against his brother; it makes him consider his selfish, personal interests as of paramount importance; it leads inevitably to crime and cruelty; it constitutes the greatest hindrance to happiness in the world, for it sets man against man, group against group, class against class and nation against nation. It engenders a destructive sense of superiority and leads to the pernicious doctrine of superior and inferior nations and races; it produces economic selfishness and leads to the economic exploitation of human beings, to trade barriers, to the condition of have and have not, to territorial possessiveness and to the extremes of poverty and riches; it sets an important emphasis upon material acquisitiveness, upon boundaries, and the dangerous doctrine of national sovereignty and its various selfish implications; it breeds distrust between peoples and hatred throughout the entire world and has led since time began to cruel and destructive wars. It has today brought the entire planetary population to its present dire and dreadful condition so that men everywhere are beginning to realize that unless something is fundamentally changed, mankind is practically [88] already destroyed. But who will engineer the needed change and where is the leadership which will bring it about? It is a state of affairs which mankind itself must face as a whole; and by meeting and facing this basic expression of universal wrongdoing, humanity can bring about the needed change and is offered a new opportunity for right action, leading to right human relations.

Ngay từ đầu cuộc thảo luận của chúng ta, sẽ là khôn ngoan nếu nhớ rằng toàn bộ vấn đề chúng ta đang xem xét có thể được truy nguyên về điểm yếu nổi bật của con người, tội lỗi hay tà thuyết lớn lao của sự chia rẽ. Chắc chắn không có tội lỗi nào lớn hơn điều này; nó chịu trách nhiệm cho toàn bộ phạm vi điều ác của con người. Nó đặt một cá nhân chống lại huynh đệ mình; nó khiến y xem các lợi ích ích kỷ, cá nhân của mình là tối quan trọng; nó tất yếu dẫn đến tội ác và sự tàn nhẫn; nó cấu thành trở ngại lớn nhất đối với hạnh phúc trên thế giới, vì nó đặt người chống người, nhóm chống nhóm, giai cấp chống giai cấp và quốc gia chống quốc gia. Nó sinh ra một ý thức hủy hoại về sự ưu việt và dẫn đến giáo lý độc hại về các quốc gia và chủng tộc thượng đẳng và hạ đẳng; nó tạo ra sự ích kỷ kinh tế và dẫn đến việc khai thác kinh tế đối với con người, đến các rào cản thương mại, đến tình trạng có và không có, đến sự chiếm hữu lãnh thổ và đến những cực đoan của nghèo đói và giàu có; nó đặt một sự nhấn mạnh quan trọng lên tính thu đạt vật chất, lên các biên giới, và giáo lý nguy hiểm về chủ quyền quốc gia cùng các hàm ý ích kỷ khác nhau của nó; nó sinh ra sự bất tín giữa các dân tộc và hận thù trên toàn thế giới, và từ thuở ban đầu đã dẫn đến những cuộc chiến tranh tàn nhẫn và hủy diệt. Ngày nay nó đã đưa toàn bộ dân cư hành tinh đến tình trạng thảm khốc và đáng sợ hiện tại, đến nỗi con người ở khắp nơi bắt đầu nhận ra rằng trừ phi có điều gì đó được thay đổi tận gốc, nhân loại thực tế [88] đã bị hủy diệt rồi. Nhưng ai sẽ thực hiện sự thay đổi cần thiết, và đâu là sự lãnh đạo sẽ đem nó lại? Đó là một tình trạng mà chính nhân loại, như một toàn thể, phải đối diện; và bằng cách gặp gỡ và đối diện với biểu hiện căn bản này của sai trái phổ quát, nhân loại có thể đem lại sự thay đổi cần thiết và được trao một cơ hội mới cho hành động đúng đắn, dẫn đến các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

From the angle of our subject, the problem of the minorities, this sense of separateness (with its many far-reaching effects) falls into two major categories; these are so closely related that it is well-nigh impossible to consider them apart.

Từ góc độ chủ đề của chúng ta, vấn đề các thiểu số, ý thức chia rẽ này, cùng với nhiều tác động sâu rộng của nó, rơi vào hai phạm trù chính; chúng liên hệ với nhau chặt chẽ đến mức hầu như không thể xem xét chúng riêng rẽ.

First, there is the spirit of nationalism with its sense of sovereignty and its selfish desires and aspirations. This, in its worst aspect, sets one nation against another, fosters a sense of national superiority and leads the citizens of a nation to regard themselves and their institutions as superior to those of another nation; it cultivates pride of race, of history, of possessions and of cultural progress and breeds an arrogance, a boastfulness and a contempt of other civilizations and cultures which is evil and degenerating; it engenders also a willingness to sacrifice other people’s interests to one’s own and a basic failure to admit that “God hath made all men equal”. This type of nationalism is universal and everywhere to be found and no nation is free from it; it indicates a blindness, a cruelty and a lack of proportion for which mankind is already paying a terrible price and which will bring humanity down in ruins if persisted in.

Trước hết, có tinh thần dân tộc chủ nghĩa với ý thức chủ quyền và những dục vọng, khát vọng ích kỷ của nó. Trong phương diện tệ hại nhất, điều này đặt quốc gia này chống lại quốc gia khác, nuôi dưỡng một ý thức ưu việt quốc gia và dẫn công dân của một quốc gia đến chỗ xem chính họ và các thể chế của họ là cao hơn của quốc gia khác; nó vun bồi niềm kiêu hãnh về chủng tộc, về lịch sử, về sở hữu và về tiến bộ văn hóa, đồng thời sinh ra một sự kiêu căng, khoe khoang và khinh miệt các nền văn minh và văn hóa khác, điều này là xấu xa và suy thoái; nó cũng sinh ra sự sẵn lòng hy sinh lợi ích của người khác cho lợi ích của mình và một thất bại căn bản trong việc thừa nhận rằng “Thượng đế đã tạo mọi người bình đẳng”. Kiểu dân tộc chủ nghĩa này có tính phổ quát và có thể được tìm thấy khắp nơi, không quốc gia nào thoát khỏi nó; nó chỉ ra một sự mù quáng, một sự tàn nhẫn và một sự thiếu ý thức về tỉ lệ mà nhân loại đã phải trả một giá khủng khiếp, và nếu cứ tiếp tục, nó sẽ kéo nhân loại sụp đổ trong đổ nát.

There is, needless to say, an ideal nationalism which is the reverse of all this; it exists as yet only in the minds of an enlightened few in every nation, but it is not yet an effective and constructive aspect of any nation anywhere; it remains still a dream, a hope and, let us [89] believe, a fixed intention. This type of nationalism rightly fosters its individual civilization but as a national contribution to the general good of the comity of nations and not as a means of self-glorification; it defends its constitution, its lands and its people through the rectitude of its living expression, the beauty of its mode of life and the selflessness of its attitudes; it does not infringe, for any reason, the rights of other people or nations. It aims to improve and perfect its own mode of life so that all in the world may benefit. It is a living, vital, spiritual organism and not a selfish, material organization.

Không cần phải nói, có một dân tộc chủ nghĩa lý tưởng, vốn là điều ngược lại với tất cả những điều này; cho đến nay nó chỉ tồn tại trong trí của một số ít người giác ngộ ở mỗi quốc gia, nhưng nó vẫn chưa là một phương diện hiệu quả và xây dựng của bất kỳ quốc gia nào ở bất cứ đâu; nó vẫn còn là một giấc mơ, một hy vọng và, chúng ta hãy [89] tin, một ý định cố định. Kiểu dân tộc chủ nghĩa này nuôi dưỡng đúng đắn nền văn minh cá biệt của nó, nhưng như một đóng góp quốc gia cho lợi ích chung của cộng đồng các quốc gia, chứ không như một phương tiện tự tôn vinh; nó bảo vệ hiến pháp, đất đai và nhân dân của mình bằng sự ngay thẳng trong biểu hiện sống của mình, vẻ đẹp trong lối sống của mình và tính vị tha trong các thái độ của mình; vì bất kỳ lý do nào, nó cũng không xâm phạm các quyền của những dân tộc hay quốc gia khác. Nó nhằm cải thiện và hoàn thiện lối sống riêng của mình để tất cả trên thế giới có thể được lợi ích. Nó là một cơ thể sống động, sinh động, tinh thần, chứ không phải một tổ chức vật chất ích kỷ.

Secondly, there is the problem of the racial minorities. They present a problem because of their relation to the nations within which or among which they find themselves. It is largely the problem of the relation of the weaker to the stronger, of the few to the many, of the undeveloped to the developed, or of one religious faith to another more powerful and controlling; it is closely tied up with the problem of nationalism, of colour, of historical process and of future purpose. It is a major and most critical problem in every part of the world today.

Thứ hai, có vấn đề của các thiểu số chủng tộc. Họ tạo thành một vấn đề vì mối quan hệ của họ với các quốc gia mà trong đó hoặc giữa đó họ thấy mình hiện diện. Phần lớn đó là vấn đề về mối quan hệ của kẻ yếu với kẻ mạnh, của số ít với số đông, của kẻ chưa phát triển với kẻ đã phát triển, hoặc của một tín ngưỡng tôn giáo với một tín ngưỡng khác mạnh hơn và có quyền kiểm soát hơn; nó gắn bó mật thiết với vấn đề dân tộc chủ nghĩa, màu da, tiến trình lịch sử và mục đích tương lai. Đây là một vấn đề lớn và cực kỳ nghiêm trọng ở mọi phần của thế giới ngày nay.

As we consider this crucial problem (upon which so much of the future peace of the world depends), we must make an effort to keep our own mental and national attitude well in the background and to see the emerging problem in the light of the Biblical statement that there is “one God and Father of all who is above all and through all and in us all”. Let us regard that statement as a scientific one and not as a pious, religious hope. God has made us all of one blood and that God—under some name or aspect, whether transcendent or immanent, whether regarded as energy or intelligence, whether called God, Brahma, the Abstract or the Absolute—is universally recognized. Again, under the great [90] Law of Evolution and the process of creation, men are subject to the same reactions to their environment, to the same pain, to the same joys, to the same anxieties, to the same appetites and the same urges towards betterment, to the same mystical aspiration, to the same sinful tendencies and desires, to the same selfishness, and to the same amazing aptitude for heroic divine expression, to the same love and beauty, to the same innate pride, to the same sense of divinity and to the same fundamental efforts. Under the great evolutionary process, men and races differ in mental development, in physical stamina, in creative possibilities, in understanding, in human perceptiveness and in their position upon the ladder of civilization; this, however, is temporary, for the same potentialities exist in all of us without exception, and will eventually display themselves. These distinctions, which have in the past set peoples and races so far apart, are rapidly dying out with the spread of education, with the uniting discoveries of science bringing us all so close together and with the power to think, to read and to plan.

Khi xem xét vấn đề then chốt này, vấn đề mà phần lớn hòa bình tương lai của thế giới tùy thuộc vào đó, chúng ta phải cố gắng giữ thái độ trí tuệ và quốc gia của riêng mình lùi thật xa vào hậu cảnh, và nhìn vấn đề đang nổi lên dưới ánh sáng của lời tuyên bố trong Kinh Thánh rằng có “một Thượng đế và Cha của mọi người, Đấng ở trên mọi người, qua mọi người và trong tất cả chúng ta”. Chúng ta hãy xem lời tuyên bố ấy như một lời tuyên bố khoa học chứ không như một hy vọng tôn giáo ngoan đạo. Thượng đế đã tạo tất cả chúng ta cùng một huyết thống, và Thượng đế ấy—dưới một danh xưng hay phương diện nào đó, dù siêu việt hay nội tại, dù được xem như năng lượng hay trí tuệ, dù gọi là Thượng đế, Brahma, Trừu tượng hay Tuyệt đối—đều được thừa nhận phổ quát. Lại nữa, dưới Định luật Tiến Hoá vĩ đại và tiến trình sáng tạo, con người chịu cùng những phản ứng trước môi trường, cùng nỗi đau, cùng niềm vui, cùng lo âu, cùng ham muốn, cùng thúc đẩy hướng tới cải thiện, cùng khát vọng thần bí, cùng khuynh hướng và dục vọng tội lỗi, cùng sự ích kỷ, và cùng năng khiếu kỳ diệu cho sự biểu hiện thiêng liêng anh hùng, cùng tình thương và vẻ đẹp, cùng niềm kiêu hãnh bẩm sinh, cùng ý thức về thiên tính và cùng những nỗ lực căn bản. Dưới tiến trình tiến hoá lớn lao, con người và các chủng tộc khác nhau về phát triển trí tuệ, sức bền thể chất, các khả năng sáng tạo, sự thấu hiểu, sự nhạy bén nhân bản và vị trí của họ trên nấc thang văn minh; tuy nhiên, điều này chỉ là tạm thời, vì cùng những tiềm năng ấy hiện hữu trong tất cả chúng ta không ngoại lệ, và cuối cùng sẽ tự biểu lộ. Những khác biệt này, vốn trong quá khứ đã đặt các dân tộc và chủng tộc cách xa nhau đến thế, đang nhanh chóng mất đi cùng với sự lan rộng của giáo dục, với các khám phá hợp nhất của khoa học đang đưa tất cả chúng ta lại gần nhau đến thế, và với năng lực suy nghĩ, đọc và hoạch định.

All evolution is cyclic in nature; nations and races pass through the same cycles of childhood, growth, manhood, maturity, decline and disappearance, as does every human being. But behind these cycles, the triumphant spirit of man moves on from height to height, from attainment to attainment and towards an ultimate goal which as yet no man visions but which is summed up for us in the possibility of being in the world as Christ was; this is the hope held out to us in the New Testament and by all the Sons of God down the ages and in every land and by all religious faiths.

Mọi tiến hoá đều có bản chất chu kỳ; các quốc gia và chủng tộc trải qua cùng những chu kỳ ấu thơ, tăng trưởng, trưởng thành, chín muồi, suy tàn và biến mất, như mỗi con người. Nhưng đằng sau các chu kỳ này, tinh thần khải hoàn của con người tiến bước từ cao điểm này đến cao điểm khác, từ thành tựu này đến thành tựu khác, và hướng tới một mục tiêu tối hậu mà cho đến nay chưa ai hình dung được, nhưng mục tiêu ấy được tóm lược cho chúng ta trong khả năng hiện hữu trong thế giới như Đức Christ đã hiện hữu; đây là hy vọng được nêu ra cho chúng ta trong Tân Ước, và bởi tất cả các Con của Thượng đế qua các thời đại, ở mọi xứ sở và bởi mọi tín ngưỡng tôn giáo.

In considering our theme we need now to do two things: first of all consider what makes a people, a race or a nation a minority, and then consider along what lines a solution may lie. The world today is full of [91] clamouring minorities who—rightly or wrongly—are making claims upon the majority. Some of the majorities are sincerely concerned in seeing justice done to the struggling and appealing minorities; others are using them as “talking points” for their own ends or are championing the cause of the small and weak nations, not from any humanitarian reasons but for power politics.

Khi xem xét chủ đề của chúng ta, giờ đây chúng ta cần làm hai điều: trước hết xem xét điều gì khiến một dân tộc, một chủng tộc hay một quốc gia trở thành thiểu số, rồi xem xét lời giải có thể nằm theo những đường lối nào. Thế giới ngày nay đầy [91] những thiểu số đang kêu đòi, những người—đúng hay sai—đang đưa ra các yêu sách đối với đa số. Một số đa số chân thành quan tâm đến việc thấy công lý được thực hiện cho các thiểu số đang đấu tranh và kêu gọi; những đa số khác sử dụng họ như “đề tài nói chuyện” cho mục đích riêng của mình, hoặc bênh vực chính nghĩa của các quốc gia nhỏ và yếu, không vì bất kỳ lý do nhân đạo nào, mà vì chính trị quyền lực.

The Minorities

Các Thiểu Số

There are both national and international minorities. In the international situation there are powerful majorities—the Big Three, the Big Four or the Big Five and numerous smaller nations, demanding equal rights, equal votes and equal position. These smaller nations are afraid of the more powerful nations and of their ability to enforce their will. They are afraid of exploitation by some powerful nation or amalgamation of nations, distrustful of favours and support because of future claimed indebtedness, and unable to enforce their will or express their desires because of military weakness and political impotence. You have, therefore, in the world today great and influential nations such as the U.S.S.R., the British Commonwealth of Nations and the United States of America; you have also powers which have been great and then forfeited all right to recognition; you have other powers, such as France and Spain, who are secondary in influence, but resent it greatly, and finally many small nations each with its own individual life, civilization and culture. All of these without exception are characterized by a spirit of nationalism, by a determination to hold on to what is or has been their own at any cost, and all possessing an historical past and local tradition which condition their thinking; all have their own developed or developing culture and all are bound together by what we call modern civilization. It is a civilization at present founded on materialism and one [92] which has signally failed to instill into men a true sense of values—the values which alone can bind humanity together and bring to an end the great heresy of separateness.

Có cả các thiểu số quốc gia và quốc tế. Trong tình hình quốc tế, có những đa số đầy quyền lực—Ba Cường Quốc, Bốn Cường Quốc hoặc Năm Cường Quốc—và nhiều quốc gia nhỏ hơn, đang đòi quyền bình đẳng, lá phiếu bình đẳng và vị thế bình đẳng. Các quốc gia nhỏ hơn này sợ các quốc gia quyền lực hơn và khả năng áp đặt ý chí của họ. Họ sợ bị một quốc gia hùng mạnh hay một sự hợp nhất các quốc gia khai thác, không tin các ân huệ và sự hỗ trợ vì món nợ được đòi hỏi trong tương lai, và không thể áp đặt ý chí hay bày tỏ các mong muốn của mình vì yếu kém quân sự và bất lực chính trị. Do đó, trong thế giới ngày nay, các bạn có những quốc gia lớn và có ảnh hưởng như Liên Xô, Khối Thịnh Vượng Chung Anh và Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; các bạn cũng có những cường quốc từng vĩ đại rồi đánh mất mọi quyền được công nhận; các bạn có những cường quốc khác, như Pháp và Tây Ban Nha, có ảnh hưởng thứ yếu nhưng rất phẫn uất vì điều đó; và sau cùng là nhiều quốc gia nhỏ, mỗi quốc gia có đời sống cá biệt, nền văn minh và văn hóa riêng. Tất cả những quốc gia này, không ngoại lệ, đều được đặc trưng bởi tinh thần dân tộc chủ nghĩa, bởi quyết tâm nắm giữ bằng mọi giá những gì đang hoặc đã là của riêng họ, và tất cả đều có một quá khứ lịch sử cùng truyền thống địa phương tác động lên tư duy của họ; tất cả đều có nền văn hóa đã phát triển hoặc đang phát triển của riêng mình, và tất cả được ràng buộc với nhau bởi điều chúng ta gọi là nền văn minh hiện đại. Đó là một nền văn minh hiện nay đặt nền trên chủ nghĩa duy vật, và là một nền văn minh [92] đã thất bại rõ rệt trong việc gieo vào con người một ý thức chân thật về các giá trị—những giá trị duy nhất có thể ràng buộc nhân loại lại với nhau và chấm dứt Đại Tà thuyết về sự chia rẽ.

All these nations, great and small, have suffered cruelly during the years of war (1914-1945) and are doomed still to suffer through the years of immediate adjustment. Some have suffered more than others and have the opportunity to demonstrate a resultant purification, if they so choose. Others chose an easy way during the war and abstained from taking sides, losing thereby a great spiritual opportunity, based upon the principle of sharing; they will need to learn the lessons of pain in other ways and more slowly; nations in the western hemisphere have not suffered in any acute manner, for their territories have been spared, and their civilian populations have lived in comfort, ease and plenty; they too have lost something and will also need to learn in other ways humanity’s great lesson of identification and non-separateness.

Tất cả các quốc gia này, lớn và nhỏ, đã chịu đau khổ tàn khốc trong những năm chiến tranh (1914-1945), và vẫn còn phải chịu đau khổ qua những năm điều chỉnh ngay trước mắt. Một số đã chịu đau khổ nhiều hơn những quốc gia khác và có cơ hội biểu thị một sự thanh lọc do đó mà có, nếu họ chọn như vậy. Những quốc gia khác đã chọn con đường dễ dàng trong chiến tranh và tránh đứng về phía nào, vì thế đánh mất một cơ hội tinh thần lớn lao, dựa trên nguyên khí chia sẻ; họ sẽ cần học các bài học của đau khổ theo những cách khác và chậm hơn; các quốc gia ở bán cầu tây không chịu đau khổ theo cách cấp thiết nào, vì lãnh thổ của họ được tránh khỏi, và dân thường của họ đã sống trong tiện nghi, dễ chịu và sung túc; họ cũng đã đánh mất điều gì đó và cũng sẽ cần học theo những cách khác bài học lớn lao của nhân loại về sự đồng hoá với và tính không chia rẽ.

Great and small today face a new world; great and small have lost faith in the old ways, and few really wish to see the old manner of life restored; all the nations, great and small, are fighting diplomatically, politically and economically for all they can get for themselves; distrust and criticism are widespread; there is no true sense of security, especially among the minorities. Some of the great nations, with a sound realization that there is no peace for the world unless there is justice for all, are struggling to create an organization which will give place and opportunity to all nations but their efforts are largely based on a selfish common sense; they are founded also upon the knowledge that material security and a sufficiency of material supplies must be the result of a compromise between that which has been and the—as yet—impossible vision of the [93] idealist. Their objectives, however, are still material, physical and tangible and are presented idealistically but with selfish motives. This is, however, a great step forward. The ideal is universally recognized even if it remains as yet a dream.

Lớn và nhỏ ngày nay đều đối diện với một thế giới mới; lớn và nhỏ đều đã mất niềm tin vào các đường lối cũ, và ít người thật sự mong thấy lối sống cũ được phục hồi; tất cả các quốc gia, lớn và nhỏ, đang đấu tranh về ngoại giao, chính trị và kinh tế để giành tất cả những gì họ có thể lấy cho mình; sự bất tín và phê bình lan rộng; không có ý thức an toàn thật sự, đặc biệt giữa các thiểu số. Một số quốc gia lớn, với sự nhận thức vững chắc rằng thế giới sẽ không có hòa bình nếu không có công lý cho tất cả, đang đấu tranh để tạo nên một tổ chức sẽ đem lại chỗ đứng và cơ hội cho mọi quốc gia, nhưng các nỗ lực của họ phần lớn dựa trên một lẽ thường ích kỷ; chúng cũng được đặt nền trên nhận biết rằng an toàn vật chất và sự đầy đủ các nguồn cung vật chất phải là kết quả của một sự thỏa hiệp giữa điều đã có và tầm nhìn—cho đến nay vẫn bất khả—của người duy tâm. Tuy nhiên, các mục tiêu của họ vẫn còn là vật chất, hồng trần và hữu hình, được trình bày một cách lý tưởng nhưng với các động cơ ích kỷ. Dù vậy, đây là một bước tiến lớn. Lý tưởng được thừa nhận phổ quát, dù cho đến nay nó vẫn còn là một giấc mơ.

As we face the world picture today, we must see it in its true colours and must realize that if the best possible steps, spiritual and material, were to be taken for the smallest and least important of the minorities, it would create a situation which would completely reverse world politics and usher in an entirely new and more enlightened cultural and civilized age. This, however, is not likely to happen; so close are the interlocking selfish interests that the use of a system of perfect justice and fairness in any one case would upset major material interests, infringe the so-called rights of powerful nations, encroach on settled boundaries and outrage powerful groups even in most distant lands.

Khi đối diện với bức tranh thế giới ngày nay, chúng ta phải thấy nó trong màu sắc chân thật của nó và phải nhận ra rằng nếu những bước tốt nhất có thể, cả tinh thần lẫn vật chất, được thực hiện cho thiểu số nhỏ nhất và ít quan trọng nhất, điều đó sẽ tạo ra một tình thế đảo ngược hoàn toàn nền chính trị thế giới và mở ra một thời đại văn hóa và văn minh hoàn toàn mới, giác ngộ hơn. Tuy nhiên, điều này khó có khả năng xảy ra; các lợi ích ích kỷ đan cài quá chặt đến mức việc áp dụng một hệ thống công lý và công bằng hoàn hảo trong bất kỳ trường hợp nào cũng sẽ làm đảo lộn các lợi ích vật chất lớn, xâm phạm những quyền gọi là của các quốc gia hùng mạnh, lấn vào các biên giới đã định và xúc phạm các nhóm quyền lực ngay cả ở những xứ sở xa xôi nhất.

Today—on an international scale—the battle of the minorities is going on; Russia is reaching out after influence in many directions; the United States of America is seeking to hold the place of paramount control in South America and in the Far East commercially and politically and is earning a name in those countries (rightly or wrongly) as imperialistic; Great Britain is endeavouring to protect her “lifeline” to the East by political moves in the Near East; France is attempting to regain her lost power by obstructing the work of the U.N. and by championing the cause of the smaller nations in Europe. As the Great Powers play politics and angle for place and position, the masses of the people in every land—great and small—are full of fear and questioning; they are worn by the war, sick of insecurity, underfed and frightened as they look toward the future, tired to their very souls of fighting and quarrelling, weary of the tyranny of striking workmen, and wanting [94] only to live in safety, to own the necessities of existence, to raise their children in a certain measure of civilized culture and to live in a land where there are sound economics, a living religion and an adequate educational system.

Ngày nay—trên quy mô quốc tế—cuộc chiến của các thiểu số đang tiếp diễn; Nga đang vươn ra tìm ảnh hưởng theo nhiều hướng; Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ đang tìm cách giữ vị trí kiểm soát tối thượng ở Nam Mỹ và Viễn Đông về mặt thương mại và chính trị, và đang mang tiếng ở các nước ấy, đúng hay sai, là đế quốc; Anh quốc đang nỗ lực bảo vệ “tuyến sinh mệnh” của mình đến phương Đông bằng các động thái chính trị ở Cận Đông; Pháp đang cố giành lại quyền lực đã mất bằng cách cản trở công việc của Liên Hiệp Quốc và bằng cách bênh vực chính nghĩa của các quốc gia nhỏ hơn ở châu Âu. Khi các Cường Quốc chơi chính trị và mưu cầu chỗ đứng cùng vị thế, quần chúng nhân dân ở mọi xứ sở—lớn và nhỏ—đầy sợ hãi và hoài nghi; họ mòn mỏi vì chiến tranh, chán ngán sự bất an, thiếu ăn và khiếp sợ khi nhìn về tương lai, mệt mỏi đến tận linh hồn vì chiến đấu và tranh cãi, mệt mỏi vì bạo quyền của những công nhân đình công, và chỉ muốn [94] sống trong an toàn, có những nhu yếu phẩm của sự tồn tại, nuôi dạy con cái mình trong một mức độ nào đó của văn hóa văn minh, và sống trong một xứ sở có nền kinh tế lành mạnh, một tôn giáo sống động và một hệ thống giáo dục đầy đủ.

In every country the great sin of separateness is again rearing its ugly head; minorities abound and are abused; cleavages are everywhere to be found; parties are clamouring for attention and adherents; religious groups are spreading dissension and seeking to gain in membership at the expense of other groups; the rich are organizing so as to control the finances of the world; the poor are fighting for their rights and better living conditions; the tyranny of selfish politics permeates both capital and labour.

Trong mọi quốc gia, tội lỗi lớn lao của sự chia rẽ lại đang ngẩng cái đầu xấu xí của nó lên; các thiểu số đầy dẫy và bị ngược đãi; những phân rẽ có mặt khắp nơi; các đảng phái đang kêu gào đòi sự chú ý và tín đồ; các nhóm tôn giáo đang gieo rắc bất hòa và tìm cách gia tăng số tín đồ bằng cái giá của các nhóm khác; người giàu đang tổ chức để kiểm soát tài chính của thế giới; người nghèo đang đấu tranh cho các quyền của họ và các điều kiện sống tốt hơn; bạo quyền của chính trị ích kỷ thấm vào cả tư bản lẫn lao động.

This is a true and tragic picture. It is, happily, not the only one. There is another; a study of this other picture will lead to renewed optimism and to constant faith in divine planning and the beauty of the human being. In every nation there are those who see a better vision of a better world, who are thinking and talking and planning in terms of humanity, and who realize that those who form the various groups—political, religious, educational and labour—are men and women and essentially, if unconsciously, brothers. They see the world whole and are working towards an inevitable unification; they recognize the problems of the nations, great and small, and the difficult situation in which the minorities today find themselves; they know that the use of force produces results which are not truly effective (for the cost is far too great) and are usually transient. They realize that the only true hope is an enlightened public opinion and that this must be the result of sound educational methods and just and exact propaganda.

Đây là một bức tranh chân thật và bi thảm. May mắn thay, đó không phải là bức tranh duy nhất. Còn có một bức tranh khác; việc nghiên cứu bức tranh khác này sẽ dẫn đến niềm lạc quan mới và đức tin bền bỉ vào sự hoạch định thiêng liêng và vẻ đẹp của con người. Trong mỗi quốc gia có những người thấy một tầm nhìn tốt đẹp hơn về một thế giới tốt đẹp hơn, những người đang suy nghĩ, nói năng và hoạch định theo những phạm trù của nhân loại, và những người nhận ra rằng những ai tạo thành các nhóm khác nhau—chính trị, tôn giáo, giáo dục và lao động—đều là những người nam và nữ, và về bản chất, dù vô thức, là huynh đệ. Họ thấy thế giới như một toàn thể và đang làm việc hướng tới một sự thống nhất tất yếu; họ nhận ra các vấn đề của các quốc gia, lớn và nhỏ, và tình thế khó khăn mà các thiểu số ngày nay đang thấy mình ở trong đó; họ biết rằng việc sử dụng mãnh lực tạo ra những kết quả không thật sự hiệu quả, vì cái giá quá lớn, và thường chỉ nhất thời. Họ nhận ra rằng hy vọng chân thật duy nhất là một công luận được giác ngộ, và điều này phải là kết quả của các phương pháp giáo dục lành mạnh và tuyên truyền công bằng, chính xác.

It will be obvious that it will not be possible to take up the tale of all the minorities in the international field [95] and deal for instance with the struggle of the little nations for recognition and for what they consider (rightly or wrongly) their just rights. The story of the little nations would take years to write and years to read. It would be the story of humanity. All we can do is to recognize that they have a case to be presented and a problem to be solved, but that justice and fair play, full opportunity and equal sharing of the world’s economic resources will only be possible when certain broad and general principles have been enforced by the weight of public opinion.

Hiển nhiên sẽ không thể kể lại câu chuyện của tất cả các thiểu số trong lĩnh vực quốc tế [95] và chẳng hạn đề cập đến cuộc đấu tranh của các quốc gia nhỏ để được công nhận và để đạt những gì họ xem là, đúng hay sai, các quyền công chính của mình. Câu chuyện của các quốc gia nhỏ sẽ cần nhiều năm để viết và nhiều năm để đọc. Nó sẽ là câu chuyện của nhân loại. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là nhận ra rằng họ có một trường hợp cần được trình bày và một vấn đề cần được giải quyết, nhưng công lý và lối chơi công bằng, cơ hội đầy đủ và sự chia sẻ bình đẳng các tài nguyên kinh tế của thế giới sẽ chỉ có thể có khi một số nguyên tắc rộng lớn và tổng quát được thực thi bằng sức nặng của công luận.

The problems of two minorities are attracting at this time much public attention. If they can be solved a tremendous step forward will have been made towards world understanding. They are:

Các vấn đề của hai thiểu số hiện đang thu hút nhiều sự chú ý của công chúng. Nếu chúng có thể được giải quyết, một bước tiến khổng lồ hướng tới sự thấu hiểu thế giới sẽ được thực hiện. Đó là:

1. The Jewish Problem. The Jews constitute an international minority of great aggressiveness, exceedingly vocal, and they also constitute a minority in practically every nation in the world. Their problem is, therefore, unique.

1. Vấn Đề Do Thái. Người Do Thái cấu thành một thiểu số quốc tế rất hiếu động, cực kỳ lớn tiếng, và họ cũng cấu thành một thiểu số trong hầu như mọi quốc gia trên thế giới. Do đó, vấn đề của họ là độc nhất.

2. The Negro Problem. This is another unique problem, with the Negro constituting a majority in that great (and as yet undeveloped) continent of Africa, and at the same time constituting a minority in the United States of America and one which is attracting great attention. This problem is unique in the sense that it is essentially the problem of the white people and one which they must solve because they produced it and have perpetuated it.

2. Vấn Đề Người Da Đen. Đây là một vấn đề độc nhất khác, với người da đen cấu thành đa số trên lục địa lớn lao, và cho đến nay vẫn chưa phát triển, là châu Phi, đồng thời cấu thành một thiểu số ở Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ và là một thiểu số đang thu hút nhiều sự chú ý. Vấn đề này độc nhất theo nghĩa nó về bản chất là vấn đề của người da trắng, và là vấn đề mà họ phải giải quyết vì họ đã tạo ra nó và đã duy trì nó.

If we can get some idea of the significance of these problems, materially and spiritually, and can gain some insight into the responsibilities involved, much of usefulness may be gained. In the case of the Jews, the sin of separateness is deeply inherent in the race itself, as well as among those among whom they live, but for the perpetuation of the separation the Jews are largely [96] responsible; in the case of the Negro, the separative instinct derives from the white people; the Negro is struggling to end it and, therefore, the spiritual forces of the world are on the side of the Negro.

Nếu chúng ta có thể nắm được phần nào thâm nghĩa của những vấn đề này, cả về vật chất lẫn tinh thần, và có thể đạt được một mức độ thấu hiểu nào đó về các trách nhiệm liên hệ, thì nhiều điều hữu ích có thể thu hoạch được. Trong trường hợp người Do Thái, tội lỗi của sự chia rẽ đã ăn sâu trong chính chủng tộc ấy, cũng như nơi những người mà họ sống giữa; nhưng đối với việc duy trì sự chia rẽ đó, người Do Thái phần lớn [96] phải chịu trách nhiệm; trong trường hợp người da đen, bản năng chia rẽ xuất phát từ người da trắng; người da đen đang tranh đấu để chấm dứt nó, và do đó, các mãnh lực tinh thần của thế giới đứng về phía người da đen.

1. The Jewish Problem

1. Vấn đề Do Thái

This problem is so old and so well known that it is difficult to say anything about it which will not be in the nature of a platitude, that will not indicate a bias of some kind (from the point of view of the reader) and that will not arouse in the Jewish reader above all an undesirable reaction. There is little usefulness, however, in saying that which will be acceptable or which agrees with all points of view or is a statement of all that has hitherto been said. There are things to be said which are not so familiar and which have seldom been said, or have been said in a spirit of criticism or of anti-Semitism instead of in a spirit of love, as is attempted here.

Vấn đề này quá xưa cũ và quá quen thuộc đến nỗi khó có thể nói điều gì về nó mà không mang tính sáo mòn, không biểu lộ một thiên kiến nào đó theo quan điểm của người đọc, và nhất là không khơi dậy nơi độc giả Do Thái một phản ứng không mong muốn. Tuy nhiên, chẳng có mấy ích lợi khi chỉ nói những điều có thể được chấp nhận, hoặc phù hợp với mọi quan điểm, hoặc chỉ là sự lặp lại tất cả những gì từ trước đến nay đã được nói. Có những điều cần phải nói vốn không quen thuộc lắm và hiếm khi được nói ra, hoặc nếu có nói thì đã được nói trong tinh thần phê phán hay bài Do Thái, thay vì trong tinh thần yêu thương như ở đây đang cố gắng thực hiện.

Let us look for a moment at the situation of the Jews, prior to the bitter and unpardonable attack made upon them by Hitler and prior to the war 1939-1945. They were to be found in every land and claimed citizenship in every country; within the nation of their birth, they preserved intact their own racial identity, their own peculiar way of life, their own national religion (which is everybody’s privilege) and a close adherence to those of their own race. Other groups have done this but to a much lesser degree and have been eventually absorbed and assimilated by the land of their citizenship. The Jews have always constituted a nation within a nation, though this has been less marked in Great Britain, Holland, France and Italy than elsewhere, and therefore, in none of these countries has there been any strong anti-Semitic feeling.

Chúng ta hãy nhìn trong chốc lát vào hoàn cảnh của người Do Thái trước cuộc tấn công cay nghiệt và không thể tha thứ mà Hitler đã giáng lên họ, và trước cuộc chiến 1939-1945. Họ có mặt ở mọi xứ sở và đòi quyền công dân trong mọi quốc gia; trong quốc gia nơi họ sinh ra, họ vẫn giữ nguyên vẹn bản sắc chủng tộc riêng, lối sống đặc thù riêng, tôn giáo dân tộc riêng của họ, điều vốn là đặc quyền của mọi người, và một sự gắn bó mật thiết với những người thuộc chủng tộc họ. Các nhóm khác cũng đã làm như vậy, nhưng ở mức độ ít hơn nhiều, và cuối cùng đã được hấp thụ và đồng hóa bởi xứ sở mà họ là công dân. Người Do Thái luôn luôn tạo thành một quốc gia bên trong một quốc gia, mặc dù điều này ít rõ rệt hơn ở Anh, Hà Lan, Pháp và Ý so với những nơi khác; vì thế, trong các quốc gia này không hề có cảm xúc bài Do Thái mạnh mẽ nào.

In every country and down the ages, the Jew has turned to commerce and has worked with money; they [97] are a strictly commercial and urban people and have shown little interest in agriculture, except lately under the Zionist Movement in Palestine. To their extremely materialistic tendencies they have added a great sense of the beautiful and an artistic conception which has added much to the world of art; they have ever been the patrons of the beautiful, and have also been amongst the world’s great philanthropists and this in spite of undesirable and devious business methods, which have made them greatly disliked and mistrusted in the world of business. They are and remain an essentially oriental people—which the occidental is apt to forget; if he remembered it he would realize that the Eastern approach to truth and honesty and to the use and possession of money is widely different to that of the Western, and herein is to be found a part of the difficulty. It is not so much a question of right and wrong as one of different standards and inherent racial attitudes which are shared with the whole of the East.

Trong mọi quốc gia và qua các thời đại, người Do Thái đã hướng về thương mại và làm việc với tiền bạc; họ [97] là một dân tộc thuần thương mại và đô thị, và tỏ ra ít quan tâm đến nông nghiệp, ngoại trừ gần đây dưới Phong Trào Phục Quốc Do Thái tại Palestine. Vào các khuynh hướng cực kỳ duy vật của mình, họ đã thêm một ý thức lớn lao về cái đẹp và một quan niệm nghệ thuật đã đóng góp nhiều cho thế giới nghệ thuật; họ luôn luôn là những người bảo trợ cái đẹp, và cũng thuộc hàng những nhà từ thiện lớn của thế giới; điều này diễn ra bất chấp các phương pháp kinh doanh không đáng ưa và quanh co, vốn đã khiến họ bị ghét bỏ và ngờ vực nhiều trong thế giới kinh doanh. Họ là và vẫn là một dân tộc cốt yếu thuộc phương Đông, điều mà người phương Tây thường quên; nếu y nhớ điều đó, y sẽ nhận ra rằng cách tiếp cận của phương Đông đối với chân lý, sự lương thiện, cũng như đối với việc sử dụng và sở hữu tiền bạc, khác biệt rất rộng so với cách của phương Tây, và chính ở đây có thể tìm thấy một phần của khó khăn. Vấn đề không hẳn là đúng hay sai cho bằng là các tiêu chuẩn khác nhau và những thái độ chủng tộc cố hữu mà họ chia sẻ với toàn thể phương Đông.

The modern Jew is also the product of many centuries of persecution and of migrations; he has wandered from country to country and from city to city, and in the course of these wanderings he has inevitably developed certain habits of living and thinking which, again, the occidental fails to recognize and for which he makes no allowance; the Jews are, for instance, the product of centuries of tent-dwelling and hence the untidy effect they have on any community in which they live and which the more organized Westerner (a cave-dweller) fails to recognize. They are also the product of their need, down the centuries, to live off the people among whom they wander, to seize the presented chance to take what they want, to see to it that their children get the best of everything available, no matter what the cost to others, to cling to their own people in the midst of the alien races among whom they cast [98] their lot, and to preserve inviolate, as far as may be, their national religion, their national taboos and the ancient landmarks. This has been essential to their existence under persecution; it has been compulsory for them to preserve these factors in their ancient forms as far as possible, so as to provide evidence to other Hebrews in new lands and cities that they were Jews as they claimed to be. It is this that makes them the most reactionary and conservative race in the world.

Người Do Thái hiện đại cũng là sản phẩm của nhiều thế kỷ bị bách hại và di cư; y đã lang thang từ nước này sang nước khác, từ thành phố này sang thành phố khác, và trong quá trình lang thang ấy, y tất yếu đã phát triển một số thói quen sống và suy nghĩ mà, một lần nữa, người phương Tây không nhận ra và không hề xét đến; chẳng hạn, người Do Thái là sản phẩm của nhiều thế kỷ sống trong lều trại, và vì thế có tác động bừa bộn mà họ tạo ra trên bất cứ cộng đồng nào họ sống trong đó, điều mà người phương Tây có tổ chức hơn, vốn là người ở hang, không nhận ra. Họ cũng là sản phẩm của nhu cầu, qua các thế kỷ, phải sống nhờ những người mà họ lang thang giữa họ, phải chộp lấy cơ hội được đưa ra để lấy điều họ muốn, phải bảo đảm rằng con cái họ có được những gì tốt nhất trong mọi thứ sẵn có, bất kể cái giá phải trả cho người khác là gì, phải bám chặt vào dân tộc mình giữa những chủng tộc xa lạ mà họ đã gieo [98] số phận mình vào đó, và phải giữ gìn bất khả xâm phạm, trong mức có thể, tôn giáo dân tộc, các điều cấm kỵ dân tộc và những cột mốc cổ xưa của họ. Điều này đã thiết yếu cho sự tồn tại của họ dưới sự bách hại; họ đã bị buộc phải bảo tồn các yếu tố này trong những hình thức cổ xưa của chúng càng nhiều càng tốt, để cung cấp bằng chứng cho những người Hebrew khác trong các xứ sở và thành phố mới rằng họ là người Do Thái như họ đã tự nhận. Chính điều này khiến họ trở thành chủng tộc phản động và bảo thủ nhất trên thế giới.

Racial characteristics have become increasingly pronounced owing to the inevitable intermarriage during the past centuries and the emphasis laid by the orthodox Jew in the past upon racial purity. The young and modern Jew lays no emphasis upon this and has usually no objection to intermarriage with the Gentiles, but this is only a late development which meets with no approval from the older generation. The Gentile also objects in many cases.

Các đặc tính chủng tộc đã ngày càng trở nên rõ rệt do việc nội hôn tất yếu trong những thế kỷ qua và do sự nhấn mạnh mà người Do Thái chính thống trong quá khứ đặt vào sự thuần chủng. Người Do Thái trẻ tuổi và hiện đại không đặt nặng điều này và thường không phản đối việc kết hôn với người ngoại tộc, nhưng đây chỉ là một phát triển gần đây, không nhận được sự tán thành của thế hệ lớn tuổi. Người ngoại tộc trong nhiều trường hợp cũng phản đối.

The Jew is a good citizen, law-abiding, kindly and decent in his ways, anxious to play his part in community life and ready with his money when asked for it but—he still remains apart. The Ghetto tendency, as one might call it, can be seen spreading everywhere, particularly in the larger cities in the different countries. Down the ages, the Jews for measures of protection and for communal happiness tended to herd together and to seek each other out, and the Gentiles among whom they found themselves fostered this tendency; thus habits of association were formed which still control. Added to this, and due to the separative action of the Gentile world, restricted areas and cities began to appear in many countries in which no Jew was permitted to reside or to purchase property or to settle. Because of the aptitude of the Jew to live off other people and to live within a nation, benefiting by its customs, culture and civilization but retaining a separate identity and not [99] becoming a true part of the national life, the Jew has ever been subjected to persecution; as a race, he is nowhere liked and people are on guard against him and his methods.

Người Do Thái là một công dân tốt, tuân thủ luật pháp, tử tế và đứng đắn trong cách sống, mong muốn đóng vai trò của mình trong đời sống cộng đồng và sẵn sàng đóng góp tiền bạc khi được yêu cầu, nhưng y vẫn cứ đứng riêng ra. Khuynh hướng Ghetto, nếu có thể gọi như vậy, có thể được thấy đang lan rộng khắp nơi, đặc biệt trong các thành phố lớn ở các quốc gia khác nhau. Qua các thời đại, người Do Thái, vì các biện pháp bảo vệ và vì hạnh phúc cộng đồng, có khuynh hướng tụ lại với nhau và tìm kiếm nhau, và những người ngoại tộc mà họ thấy mình sống giữa đã nuôi dưỡng khuynh hướng này; như thế, các thói quen liên kết đã hình thành và vẫn còn chi phối. Thêm vào đó, và do hành động chia rẽ của thế giới ngoại tộc, những khu vực và thành phố bị hạn chế bắt đầu xuất hiện tại nhiều quốc gia, nơi không người Do Thái nào được phép cư trú, mua tài sản hay định cư. Vì khả năng của người Do Thái trong việc sống nhờ người khác và sống bên trong một quốc gia, hưởng lợi từ phong tục, văn hóa và văn minh của quốc gia ấy nhưng vẫn giữ một bản sắc riêng và không [99] trở thành một phần đích thực của đời sống quốc gia, người Do Thái luôn luôn phải chịu bách hại; với tư cách một chủng tộc, y không được ưa thích ở bất cứ đâu, và người ta cảnh giác đối với y cùng các phương pháp của y.

This general statement is often untrue where the individual Jew is concerned. There are Jews in every nation and locality who are deeply loved by all who know them, whether Jew or Gentile, who are respected by all around them, who are sought after and valued. These belong to the great spiritual aristocracy of humanity, and though they function in Jewish bodies and bear Jewish names, they join forces with men and women gathered out of all nations who belong to humanity and who have outgrown national and racial characteristics. These men and women are, as a group, the hope of humanity, the guarantee of the new and better world for which we all wait; their numbers are increasing daily. In a broad generalization about any race or nation, the individual necessarily suffers, but the statements made about the race or nation as a whole are correct, true and verifiable.

Nhận định tổng quát này thường không đúng khi nói đến từng cá nhân Do Thái. Trong mọi quốc gia và địa phương đều có những người Do Thái được tất cả những ai biết họ yêu mến sâu sắc, dù là người Do Thái hay ngoại tộc, được mọi người quanh họ kính trọng, được tìm kiếm và trân quý. Họ thuộc về tầng lớp quý tộc tinh thần vĩ đại của nhân loại, và dù họ hoạt động trong những thể Do Thái và mang tên Do Thái, họ liên kết lực lượng với những người nam và nữ được quy tụ từ mọi quốc gia, thuộc về nhân loại và đã vượt khỏi các đặc tính quốc gia và chủng tộc. Những người nam và nữ này, với tư cách một nhóm, là niềm hy vọng của nhân loại, là bảo chứng cho thế giới mới và tốt đẹp hơn mà tất cả chúng ta đang chờ đợi; số lượng của họ đang tăng lên từng ngày. Trong một sự khái quát rộng về bất cứ chủng tộc hay quốc gia nào, cá nhân tất yếu phải chịu thiệt, nhưng những nhận định được đưa ra về chủng tộc hay quốc gia như một toàn thể là đúng, chân xác và có thể kiểm chứng.

Perhaps the major factor which has made the Jew separative and which has cultivated in him the superiority complex which distinguishes him (under an outer inferiority) in his religious faith. This faith is one of the oldest in the world; it is older than Buddhism by centuries; older than many of the Hindu faiths, and much more ancient than Christianity, and there are features in it which have definitely made the Jew what he is. It is a religion of taboos, built up carefully to protect the wandering Jew as he drifted from one community to another; it is a religion with a distinctly material basis, emphasizing the “land flowing with milk and honey”; this was not symbolic in the days of its use, but a presented objective of his travels. The colouring of the religion is separative; God is the God of the Jews; [100] the Jews are God’s chosen people; they must be preserved in physical purity and their well-being is of major importance to Jehovah; they have a messianic destiny, and Jehovah is jealous of their contacts and interest in any other people or God. To these divine requirements they have, as a people, been obedient and hence their plight in a modern world.

Có lẽ yếu tố chính đã khiến người Do Thái trở nên chia rẽ và đã nuôi dưỡng nơi y phức cảm ưu việt vốn phân biệt y, bên dưới một mặc cảm tự ti bên ngoài, chính là đức tin tôn giáo của y. Đức tin này là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất thế giới; nó lâu đời hơn Phật giáo nhiều thế kỷ; lâu đời hơn nhiều tín ngưỡng Ấn Độ giáo, và cổ xưa hơn nhiều so với Kitô giáo; và trong đó có những đặc điểm chắc chắn đã làm cho người Do Thái thành như hiện nay. Đó là một tôn giáo của các điều cấm kỵ, được xây dựng cẩn thận để bảo vệ người Do Thái lang thang khi y trôi dạt từ cộng đồng này sang cộng đồng khác; đó là một tôn giáo có nền tảng vật chất rõ rệt, nhấn mạnh “vùng đất chảy sữa và mật”; điều này không mang tính biểu tượng trong những ngày nó được sử dụng, mà là một mục tiêu được đưa ra cho những chuyến đi của y. Sắc thái của tôn giáo ấy mang tính chia rẽ; Thượng đế là Thượng đế của người Do Thái; [100] người Do Thái là dân được Thượng đế chọn; họ phải được giữ gìn trong sự thuần khiết hồng trần, và an lạc của họ có tầm quan trọng chủ yếu đối với Jehovah; họ có một định mệnh thiên sai, và Jehovah ghen tuông đối với các tiếp xúc và mối quan tâm của họ dành cho bất cứ dân tộc hay Thượng đế nào khác. Đối với những đòi hỏi thiêng liêng này, họ, với tư cách một dân tộc, đã vâng phục, và từ đó phát sinh cảnh ngộ của họ trong thế giới hiện đại.

The word “love” as it concerns relation to other people is lacking in their religious presentation, though love of Jehovah is taught with due threats; the concept of a future life, dependent upon conduct and behaviour to others and on right action in the world of men, is almost entirely lacking in The Old Testament and teaching on immortality is nowhere emphasized; salvation is apparently dependent upon the keeping of numerous physical laws and rules related to physical cleanliness; they go so far as to establish retail shops where these rules are kept—in a modern world where scientific methods are applied to purity in food. All these and other factors of less importance set the Jew apart, and these he enforces no matter how obsolete they are or inconvenient to others.

Từ “yêu thương”, khi liên quan đến mối quan hệ với người khác, thiếu vắng trong cách trình bày tôn giáo của họ, mặc dù tình thương dành cho Jehovah được dạy kèm theo những lời đe dọa thích đáng; quan niệm về một đời sống tương lai, tùy thuộc vào cách cư xử và hành vi đối với người khác cùng hành động đúng đắn trong thế giới con người, hầu như hoàn toàn thiếu vắng trong Cựu Ước, và giáo huấn về sự bất tử không được nhấn mạnh ở bất cứ đâu; sự cứu rỗi dường như tùy thuộc vào việc giữ nhiều định luật và quy luật hồng trần liên quan đến sự sạch sẽ hồng trần; họ đi xa đến mức thiết lập các cửa hàng bán lẻ nơi những quy luật này được tuân giữ, trong một thế giới hiện đại nơi các phương pháp khoa học được áp dụng cho sự tinh khiết của thực phẩm. Tất cả những yếu tố này và những yếu tố khác ít quan trọng hơn đã đặt người Do Thái riêng ra, và y cưỡng hành chúng bất kể chúng lỗi thời đến đâu hay gây bất tiện cho người khác thế nào.

These factors demonstrate the complexity of the problem from the Jewish angle and its irritating and frictional nature to the Gentile. This irritating factor is something which the Jew seldom if ever recognizes. The Gentile today neither remembers nor cares that the Jews were instrumental in having Christ put to death (according to The New Testament); he is more apt to remember that Christ was a Jew and to wonder why the Jew was not the first to claim and love Him. He remembers far more acutely Jewish business methods, the fact that the Jew, if orthodox, regards Gentile food as impure for him and that the Jew considers his citizenship as secondary to his racial obligations. He regards the Jew as a follower of an obsolete religion; he intensely [101] dislikes the cruel and jealous Jehovah of the Jews and looks upon The Old Testament as the history of a cruel and aggressive people—apart from the Psalms of David, which all men love.

Những yếu tố này cho thấy tính phức tạp của vấn đề từ góc độ Do Thái, và bản chất gây bực bội, ma sát của nó đối với người ngoại tộc. Yếu tố gây bực bội này là điều mà người Do Thái hiếm khi, nếu có bao giờ, nhận ra. Người ngoại tộc ngày nay không nhớ cũng chẳng quan tâm rằng người Do Thái đã là công cụ trong việc khiến Đức Christ bị xử tử, theo Tân Ước; y có khuynh hướng nhớ hơn rằng Đức Christ là người Do Thái và tự hỏi tại sao người Do Thái lại không phải là người đầu tiên tuyên nhận và yêu mến Ngài. Y nhớ rõ hơn nhiều các phương pháp kinh doanh của người Do Thái, sự kiện rằng người Do Thái, nếu chính thống, xem thức ăn của người ngoại tộc là ô uế đối với y, và người Do Thái xem quyền công dân của mình là thứ yếu so với các nghĩa vụ chủng tộc. Y xem người Do Thái là tín đồ của một tôn giáo lỗi thời; y cực kỳ [101] ghét Jehovah tàn bạo và ghen tuông của người Do Thái, và nhìn Cựu Ước như lịch sử của một dân tộc tàn bạo và hiếu chiến, ngoại trừ các Thánh Vịnh của David, vốn được mọi người yêu mến.

These are points to which the Jew at no time seems to pay attention and yet it is these things in their aggregate which have set the Jew apart from the world in which he wants to live and be happy and in which he is the victim of an inheritance which could with profit be modernized. Nowhere is the emergence of a new world religion more greatly needed than in the case of the Jew in the modern world.

Đây là những điểm mà dường như người Do Thái không bao giờ chú ý, thế mà chính những điều ấy, trong tổng hợp của chúng, đã đặt người Do Thái tách khỏi thế giới mà y muốn sống và được hạnh phúc trong đó, và trong đó y là nạn nhân của một di sản có thể được hiện đại hóa một cách hữu ích. Không nơi nào sự xuất hiện của một tôn giáo thế giới mới lại cần thiết hơn trong trường hợp người Do Thái trong thế giới hiện đại.

Yet—God has made all men equal; the Jew is a man and a brother, and every right that the Gentile owns is his also, inalienably and intrinsically his. This the Gentile has forgotten and great is his responsibility for wrong doing and cruel action. The Jew for ages has not been wanted by his Gentile brother; he has been chased from place to place; constantly and ceaselessly the Jew has been forced to move on or move out—across the desert from Egypt to the Holy Land, from there (centuries later) to the Mesopotamia Valley and from that time on in a constant series of migrations, with great streams of wandering Jews moving ceaselessly north, south and west and a small trickle going east; expelled from cities and countries during the Middle Ages, then after a period of relative quiescence again the displaced Jews were on the move in Europe, homeless, drifting hither and thither (along with many thousands of other nationalities, however), helpless in the hands of a cruel fate, or not so helpless but organized by certain political groups for international and selfish ends. In the countries where anti-Semitic feeling has been practically nonexistent for decades, antagonism is rising; in Great Britain its evil head can now be seen, and in the United States of America it is a mounting menace. [102] It is for the Gentiles to bring the cycle of persecutions to an end once and for all; it is for the Jew to take those steps which will not arouse the dislike of the Gentiles among whom he lives.

Tuy vậy, Thượng đế đã tạo nên mọi người bình đẳng; người Do Thái là một con người và một huynh đệ, và mọi quyền mà người ngoại tộc sở hữu cũng là của y, bất khả chuyển nhượng và vốn có nơi y. Điều này người ngoại tộc đã quên, và trách nhiệm của y đối với hành động sai trái và hành vi tàn bạo là lớn lao. Qua nhiều thời đại, người Do Thái đã không được người huynh đệ ngoại tộc của mình mong muốn; y đã bị xua đuổi từ nơi này sang nơi khác; liên tục và không ngừng, người Do Thái đã bị buộc phải đi tiếp hoặc ra đi, băng qua sa mạc từ Ai Cập đến Thánh Địa, từ đó, nhiều thế kỷ sau, đến Thung lũng Mesopotamia, và từ thời ấy trở đi trong một chuỗi di cư liên tục, với những dòng lớn người Do Thái lang thang không ngừng di chuyển về bắc, nam và tây, cùng một dòng nhỏ chảy về đông; bị trục xuất khỏi các thành phố và quốc gia trong thời Trung Cổ, rồi sau một thời kỳ tương đối yên lắng, những người Do Thái bị di dời lại lên đường ở châu Âu, vô gia cư, trôi dạt đây đó, tuy cùng với nhiều ngàn người thuộc các quốc tịch khác, bất lực trong tay một số phận tàn nhẫn, hoặc không đến nỗi bất lực nhưng bị một số nhóm chính trị tổ chức cho các mục tiêu quốc tế và ích kỷ. Tại các quốc gia nơi cảm xúc bài Do Thái hầu như không tồn tại trong nhiều thập niên, sự đối kháng đang gia tăng; tại Anh, cái đầu xấu xa của nó nay đã có thể thấy, và tại Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ nó là một mối đe dọa đang tăng lên. [102] Chính người ngoại tộc phải đưa chu kỳ bách hại đến chỗ chấm dứt một lần dứt khoát; chính người Do Thái phải thực hiện những bước đi sẽ không khơi dậy sự ghét bỏ của những người ngoại tộc mà y sống giữa họ.

The need of the Jew at this time is for a solution of this ancient problem which has disturbed the peace of countries down the centuries. The responsibility of the non-Jews, in the light of humanitarian demand, is vital; the record of the persecution of the Jews is a grievous and ghastly story, only paralleled by the Jewish treatment of their enemies, as related in The Old Testament. The fate of the Jews in the world war is a terrible tale of cruelty, torture and wholesale murder and the treatment of the Jews down the ages is one of the blackest chapters in human history. For it there is no excuse or condonation, and right thinking people everywhere are aware of this and are eagerly demanding that these persecutions end. The spiritual forces of the world and the spiritual leaders of humanity (both those working on the outer plane and those guiding from the inner side of the veil) are seeking a solution.

Nhu cầu của người Do Thái vào lúc này là tìm một giải pháp cho vấn đề cổ xưa đã làm xáo trộn nền hòa bình của các quốc gia qua nhiều thế kỷ. Trách nhiệm của những người không phải Do Thái, dưới ánh sáng của đòi hỏi nhân đạo, là thiết yếu; hồ sơ bách hại người Do Thái là một câu chuyện đau buồn và ghê rợn, chỉ có thể sánh với cách người Do Thái đối xử với kẻ thù của họ, như được thuật lại trong Cựu Ước. Số phận người Do Thái trong cuộc thế chiến là một câu chuyện khủng khiếp về sự tàn bạo, tra tấn và giết chóc hàng loạt, và cách đối xử với người Do Thái qua các thời đại là một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử nhân loại. Đối với điều đó không có lời bào chữa hay sự dung thứ nào, và những người suy nghĩ đúng đắn ở khắp nơi đều ý thức điều này và đang tha thiết đòi hỏi rằng các cuộc bách hại ấy phải chấm dứt. Các mãnh lực tinh thần của thế giới và các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại, cả những vị đang hoạt động trên cõi bên ngoài lẫn những vị đang hướng dẫn từ phía bên trong của bức màn, đang tìm kiếm một giải pháp.

The solution, however, will be found only when the Jews themselves seek to find the way out and cease their present policy of demanding that the Gentiles and Christians make all the concessions, find the solution of the problem alone, and, unaided by the Jews, bring the evil situation to an end. The Jews voice loudly and constantly their demand for redress and help; they blame the non-Jewish nations for their miseries; they fail always to recognize any conditions on their own side which could account for some of the general dislike with which they are confronted; they make no concessions to the civilizations and cultures in which they find themselves but insist on remaining apart; they blame others for their isolation, but the fact remains that they have been given equal opportunity as citizens in all open-minded [103] countries. Their contribution to the solution of this ancient problem is a material one, and shows no psychological insight or any recognition of the spiritual values involved; no problem can today be solved entirely along material lines. Man has as a whole outgrown that.

Tuy nhiên, giải pháp sẽ chỉ được tìm thấy khi chính người Do Thái tự mình tìm kiếm con đường thoát ra và chấm dứt chính sách hiện nay của họ là đòi hỏi người ngoại tộc và người Kitô hữu phải thực hiện mọi nhượng bộ, một mình tìm ra giải pháp cho vấn đề, và không có sự trợ giúp của người Do Thái, đưa tình trạng xấu xa ấy đến chỗ kết thúc. Người Do Thái lớn tiếng và liên tục nêu đòi hỏi được đền bù và giúp đỡ; họ đổ lỗi cho các quốc gia không phải Do Thái về những nỗi khốn khổ của họ; họ luôn luôn không nhận ra bất cứ điều kiện nào nơi phía mình có thể giải thích phần nào sự ghét bỏ chung mà họ đang đối diện; họ không nhượng bộ gì đối với các nền văn minh và văn hóa mà họ thấy mình đang ở trong đó, nhưng khăng khăng đứng riêng ra; họ đổ lỗi cho người khác về sự cô lập của mình, nhưng sự thật vẫn là họ đã được trao cơ hội bình đẳng với tư cách công dân trong tất cả các quốc gia cởi mở [103]. Sự đóng góp của họ vào giải pháp cho vấn đề cổ xưa này là một đóng góp vật chất, và không cho thấy sự thấu hiểu tâm lý hay bất cứ sự nhận biết nào về các giá trị tinh thần liên hệ; ngày nay không vấn đề nào có thể được giải quyết hoàn toàn theo các đường lối vật chất. Con người, như một toàn thể, đã vượt khỏi điều đó.

The problem of the Jews goes deeply into the entire question of right human relations; it can only be solved on that inclusive basis. It concerns the interplay between people of different races but recognizing brotherhood in the human family; it evokes the whole problem of selfishness and unselfishness, of consideration and of justice, and these are factors which must condition all parties. The Jew needs to recognize his share in bringing about the dislike which hounds him everywhere; the Gentile must shoulder his responsibility for endless persecutions and pay the price of restitution. The Jew has evoked and still evokes dislike, and for this there is absolutely no need.

Vấn đề của người Do Thái đi sâu vào toàn bộ câu hỏi về các mối quan hệ đúng đắn của con người; nó chỉ có thể được giải quyết trên nền tảng bao gồm ấy. Nó liên quan đến sự tương tác giữa những người thuộc các chủng tộc khác nhau nhưng nhận biết tình huynh đệ trong gia đình nhân loại; nó gợi lên toàn bộ vấn đề của tính ích kỷ và tính vô kỷ, của sự quan tâm và công lý, và đây là những yếu tố phải tác động lên mọi bên. Người Do Thái cần nhận ra phần của mình trong việc tạo nên sự ghét bỏ đang săn đuổi y khắp nơi; người ngoại tộc phải gánh lấy trách nhiệm của mình đối với những cuộc bách hại vô tận và trả giá bằng sự hoàn nguyên. Người Do Thái đã khơi dậy và vẫn khơi dậy sự ghét bỏ, và đối với điều này tuyệt đối không có nhu cầu nào cả.

To sum up, the Jew has set up an ancient pattern of living within other nations; as a citizen with all the rights of citizenship, he has built up a wall of taboos, of habits and of religious observances which separate him off from his environment and make him non-assimilable. These must go, and he must become a citizen not only in name but in fact. There is no other problem like it in the world today—an entire people of distinctive race, religion, goals, characteristics, culture and a uniquely ancient and most reactionary civilization, scattered as a minority in every nation, positing an international problem, possessed of great wealth and influence, claiming citizenship in every nation but retaining deliberately their racial identity, creating dissension among the nations, attempting in no way to meet harmoniously their complex problem on any large scale with due psychological understanding or consideration of the Gentile environment [104] to which they ceaselessly make appeal, proffering only material solutions and constant, almost abusive, demands for the Gentile to shoulder the entire blame and end the difficulty.

Tóm lại, người Do Thái đã thiết lập một mô hình cổ xưa về việc sống bên trong các quốc gia khác; với tư cách một công dân có đầy đủ quyền công dân, y đã dựng lên một bức tường gồm các điều cấm kỵ, các thói quen và những nghi thức tôn giáo tách y khỏi môi trường của mình và khiến y không thể đồng hóa. Những điều này phải ra đi, và y phải trở thành công dân không chỉ trên danh nghĩa mà trong thực tế. Ngày nay không có vấn đề nào khác giống như vậy trên thế giới, một toàn thể dân tộc có chủng tộc, tôn giáo, mục tiêu, đặc tính, văn hóa riêng biệt và một nền văn minh cổ xưa độc đáo, cực kỳ phản động, rải rác như một thiểu số trong mọi quốc gia, đặt ra một vấn đề quốc tế, sở hữu của cải và ảnh hưởng lớn, đòi quyền công dân trong mọi quốc gia nhưng cố ý giữ bản sắc chủng tộc của họ, tạo ra bất hòa giữa các quốc gia, không hề cố gắng trên quy mô lớn nào để gặp gỡ một cách hài hòa vấn đề phức tạp của họ với sự thấu hiểu tâm lý thích đáng hay sự quan tâm đến môi trường ngoại tộc [104] mà họ không ngừng kêu gọi, chỉ đưa ra các giải pháp vật chất và những đòi hỏi liên tục, hầu như xúc phạm, rằng người ngoại tộc phải gánh toàn bộ lỗi lầm và chấm dứt khó khăn.

Alongside of this, one must place the long and sorry story of the persecution of the Jews by the Gentiles—widespread in the Middle Ages (if one goes no further back), sporadic in more modern times, but culminating in the violent treatment of the Jews during the world war. It was, however, a treatment not uniquely theirs but meted out also to Poles, Greeks and the helpless of many nations. This is a point which the Jews today appear to forget. They have not been alone in their persecution. The Jews constituted only twenty per cent of the dispersed persons in Europe after the war.

Bên cạnh điều này, người ta phải đặt câu chuyện dài và đau buồn về sự bách hại người Do Thái bởi người ngoại tộc, lan rộng trong thời Trung Cổ, nếu không đi xa hơn về trước, rải rác trong thời hiện đại hơn, nhưng đạt đến đỉnh điểm trong cách đối xử bạo lực với người Do Thái trong cuộc thế chiến. Tuy nhiên, đó không phải là một cách đối xử chỉ riêng họ phải chịu, mà cũng đã giáng lên người Ba Lan, người Hy Lạp và những kẻ bất lực thuộc nhiều quốc gia. Đây là một điểm mà người Do Thái ngày nay dường như quên. Họ không đơn độc trong sự bách hại của mình. Người Do Thái chỉ chiếm hai mươi phần trăm số người bị phân tán ở châu Âu sau chiến tranh.

This same sorry story of Gentile cruelty includes also the growing anti-Semitism which can be seen even in countries which have been relatively free from it; there is a constant discrimination against the Jew in business circles; restricted areas are increasing everywhere; the plight of Jewish school children in the U.S.A., for instance, who are discriminated against, hooted at and abused, is shocking to contemplate. The situation also exists wherein no country anywhere wants to open its doors and offer the unwanted Jews asylum. No nation wants to admit them in their hundreds. Right thinking people in every nation are seeking and will continue to seek a solution, and one will be found. This problem child within the family of nations is a child of the one Father and spiritually identified with all men everywhere. People know that there is “neither Jew nor Gentile”, as St. Paul expressed it (facing two thousand years ago the same sad problem), and men and women in both groups have constantly and increasingly proved the truth of this statement. [105]

Cũng câu chuyện đau buồn ấy về sự tàn bạo của người ngoại tộc còn bao gồm cả chủ nghĩa bài Do Thái đang gia tăng, có thể thấy ngay cả trong những quốc gia vốn tương đối tự do khỏi nó; có sự phân biệt đối xử liên tục chống lại người Do Thái trong các giới kinh doanh; những khu vực hạn chế đang gia tăng khắp nơi; cảnh ngộ của trẻ em học đường Do Thái ở Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ chẳng hạn, bị phân biệt đối xử, bị la ó và bị lăng mạ, thật gây chấn động khi suy ngẫm. Cũng tồn tại tình trạng không quốc gia nào ở bất cứ đâu muốn mở cửa và trao nơi tị nạn cho những người Do Thái không ai muốn nhận. Không quốc gia nào muốn nhận họ vào với số lượng hàng trăm. Những người suy nghĩ đúng đắn trong mọi quốc gia đang tìm kiếm và sẽ tiếp tục tìm kiếm một giải pháp, và một giải pháp sẽ được tìm thấy. Đứa trẻ có vấn đề này trong gia đình các quốc gia là con của một Cha duy nhất và về mặt tinh thần đồng hoá với mọi người ở khắp nơi. Người ta biết rằng “không có Do Thái cũng không có ngoại tộc”, như Thánh Paul đã diễn đạt, khi đối diện cùng vấn đề đau buồn ấy hai ngàn năm trước, và những người nam và nữ trong cả hai nhóm đã không ngừng và ngày càng chứng minh chân lý của phát biểu này. [105]

Such is the problem of the Jewish minority, given with a frankness which will evoke much criticism, but given in this way in the hope that because it is prompted by love, the Jews will shoulder their own responsibilities, will cease crying aloud to the Gentiles to solve the problem alone, and will begin to cooperate with a full sense of spiritual understanding and so aid the thousands of Gentiles who earnestly want to help. There has never been a time when the Gentile world has been more keen to do what is right by the Jew or more anxious to solve his problem and make restitution for all he has suffered. Changed inner attitudes are needed on both sides, but very largely on the side of the Jews; there is evidence that these new attitudes are germinating, even if the finding of the right solution may take much time. There are Jews who today are saying what is said here.

Đó là vấn đề của thiểu số Do Thái, được trình bày với sự thẳng thắn sẽ khơi dậy nhiều phê phán, nhưng được trình bày theo cách này với hy vọng rằng vì nó được thúc đẩy bởi tình thương, người Do Thái sẽ gánh lấy các trách nhiệm của chính mình, sẽ thôi kêu lớn với người ngoại tộc để giải quyết vấn đề một mình, và sẽ bắt đầu hợp tác với một ý thức đầy đủ về sự thấu hiểu tinh thần, nhờ đó trợ giúp hàng ngàn người ngoại tộc tha thiết muốn giúp đỡ. Chưa từng có thời điểm nào mà thế giới ngoại tộc lại nhiệt thành hơn trong việc làm điều đúng đối với người Do Thái, hay lo lắng hơn trong việc giải quyết vấn đề của y và hoàn nguyên cho tất cả những gì y đã chịu đựng. Những thái độ bên trong đã thay đổi là cần thiết ở cả hai phía, nhưng phần rất lớn là về phía người Do Thái; có bằng chứng rằng những thái độ mới này đang nảy mầm, cho dù việc tìm ra giải pháp đúng có thể mất nhiều thời gian. Ngày nay có những người Do Thái đang nói điều được nói ở đây.

2. The Negro Problem

2. Vấn đề người da đen

This problem is totally different to that of the Jews. In the first case you have an exceedingly ancient people who for thousands of years have played their part in the arena of world history and who have developed a culture and identified themselves with a civilization which has enabled them to take their place on equal terms with what we call the “civilized” peoples. In the case of the Negro, we are considering a people who have (during the past two hundred years) begun to rise in the scale of human endeavour and have, in that time, made amazing progress against great odds and much opposition. Two hundred years ago, the Negroes were all to be found in Africa and are still there in the millions; two hundred years ago, they were what the European and American regarded as “raw savages”, divided into countless tribes, living in a state of nature, primitive, warlike, totally uneducated from the modern point of view, ruled by chieftains and under the guidance of [106] tribal Gods, controlled by tribal taboos, differing greatly from each other—the Pygmy and the Bechuanaland warrior would appear to have no point of resemblance except their colour—constantly fighting among themselves and raiding each other’s territory.

Vấn đề này hoàn toàn khác với vấn đề của người Do Thái. Trong trường hợp thứ nhất, các bạn có một dân tộc cực kỳ cổ xưa, trong hàng ngàn năm đã đóng vai trò của mình trong đấu trường lịch sử thế giới và đã phát triển một nền văn hóa, đồng thời đồng hoá với một nền văn minh đã giúp họ có thể giữ vị trí ngang hàng với những dân tộc mà chúng ta gọi là “văn minh”. Trong trường hợp người da đen, chúng ta đang xét một dân tộc mà trong hai trăm năm qua đã bắt đầu vươn lên trong thang nỗ lực của con người và, trong thời gian ấy, đã đạt được tiến bộ đáng kinh ngạc trước những bất lợi lớn lao và nhiều chống đối. Hai trăm năm trước, tất cả người da đen đều có mặt ở châu Phi và vẫn còn ở đó hàng triệu người; hai trăm năm trước, họ là những gì mà người Âu và người Mỹ xem là “những kẻ man dã thô sơ”, chia thành vô số bộ lạc, sống trong trạng thái tự nhiên, sơ khai, hiếu chiến, hoàn toàn không được giáo dục theo quan điểm hiện đại, do các tù trưởng cai trị và dưới sự hướng dẫn của [106] các Thượng đế bộ lạc, bị chi phối bởi các điều cấm kỵ bộ lạc, khác biệt nhau rất lớn, người Pygmy và chiến binh Bechuanaland dường như không có điểm tương đồng nào ngoài màu da, liên tục đánh nhau giữa họ và đột kích lãnh thổ của nhau.

For centuries they have been exploited and driven into slavery, first by the Arabs, then later by those who purchased them from the slave-owners and carried them into slavery to the United States or to the West Indies. They have been exploited also by the European nations who seized vast territories in Africa and enriched themselves on the produce of those countries and the labour of their inhabitants—the French in the French Sudan, the Belgians in the Belgian Congo, the Dutch and the British in South Africa and the West Coast of Africa, the Germans in German East Africa and the Italians in Eastern Africa. It is a sorry story of cruelty, theft and exploitation on the part of the white race, though much good also came out of it for the black race. The story of these relationships is still unfinished, and unless it is conducted in the future with righteousness and justice, may terminate in tragedy. There is, however, much improvement in the internal history of these territories, and there is much reason for optimism.

Trong nhiều thế kỷ, họ đã bị khai thác và bị đẩy vào cảnh nô lệ, trước hết bởi người Ả Rập, rồi về sau bởi những người mua họ từ các chủ nô và đưa họ vào đời nô lệ tại Hợp Chúng Quốc hoặc Tây Ấn. Họ cũng đã bị khai thác bởi các quốc gia châu Âu, những nước đã chiếm đoạt các lãnh thổ rộng lớn ở châu Phi và làm giàu bằng sản phẩm của các xứ ấy và lao động của cư dân ở đó, người Pháp ở Sudan thuộc Pháp, người Bỉ ở Congo thuộc Bỉ, người Hà Lan và người Anh ở Nam Phi và Bờ Tây châu Phi, người Đức ở Đông Phi thuộc Đức và người Ý ở Đông Phi. Đó là một câu chuyện đau buồn về sự tàn bạo, trộm cắp và khai thác về phía chủng tộc da trắng, mặc dù nhiều điều tốt đẹp cũng đã phát sinh từ đó cho chủng tộc da đen. Câu chuyện về các mối quan hệ này vẫn chưa kết thúc, và trừ khi trong tương lai nó được tiến hành với sự chính trực và công lý, nó có thể kết thúc trong bi kịch. Tuy nhiên, có nhiều cải thiện trong lịch sử nội bộ của các lãnh thổ này, và có nhiều lý do để lạc quan.

The problem of the Negro falls into two divisions: the problem of the future of the African Negro and the problem of the future of the Negro in the western hemisphere.

Vấn đề người da đen rơi vào hai phân bộ: vấn đề tương lai của người da đen châu Phi và vấn đề tương lai của người da đen ở Tây bán cầu.

Africa is potential and the destiny of its countless millions of inhabitants is still in the embryonic stage; the relationship of its true inhabitants to the alien races who seek to dominate them remains still in the realm of political manoeuvring and commercial greed. It should, however, be recognized that in spite of the many attendant evils which follow ever on the trail of the exploiting white man, the impact of the white races [107] on the “black continent” has brought great evolutionary development and benefits—education, medical aid, the ending of the ceaseless tribal wars, sanitation, and a more enlightened religious system in the place of the barbaric cults and crude religious practices. Much evil followed the explorer, the missionary and the trader but much good also followed in their steps, particularly in those of the missionary. The Negro is naturally religious and mystically inclined, and the major tenets of the Christian faith have a definite appeal to his nature; the emotional aspects of the Christian presentation (with the emphasis upon love and goodness and the life hereafter) is understood by the emotionally focussed Negro. Behind the many separative religious cults of that dark land, there emerges a fundamental and pure mysticism, ranging all the way from nature worship and a primitive animism to a deep occult knowledge and an esoteric understanding which may some day make Africa the seat of the purest form of occult teaching and living. This, however, lies several centuries ahead.

Châu Phi là tiềm năng, và định mệnh của vô số triệu cư dân ở đó vẫn còn trong giai đoạn phôi thai; mối quan hệ của những cư dân đích thực của nó với các chủng tộc ngoại lai đang tìm cách thống trị họ vẫn còn nằm trong phạm vi vận động chính trị và lòng tham thương mại. Tuy nhiên, cần nhận ra rằng bất chấp nhiều điều xấu xa đi kèm, vốn luôn theo dấu chân người da trắng khai thác, tác động của các chủng tộc da trắng [107] lên “lục địa đen” đã đem lại sự phát triển tiến hoá và các lợi ích lớn lao: giáo dục, trợ giúp y tế, chấm dứt những cuộc chiến bộ lạc không ngừng, vệ sinh, và một hệ thống tôn giáo sáng suốt hơn thay cho các giáo phái man rợ và các thực hành tôn giáo thô sơ. Nhiều điều xấu đã theo sau nhà thám hiểm, nhà truyền giáo và thương nhân, nhưng nhiều điều tốt cũng đã theo bước họ, đặc biệt là theo bước nhà truyền giáo. Người da đen vốn tự nhiên có tính tôn giáo và khuynh hướng thần bí, và các giáo lý chính của đức tin Kitô giáo có sức hấp dẫn rõ rệt đối với bản chất của y; các phương diện cảm xúc trong cách trình bày Kitô giáo, với sự nhấn mạnh vào tình thương, sự thiện lành và đời sống sau này, được người da đen phân cực cảm xúc thấu hiểu. Đằng sau nhiều giáo phái tôn giáo chia rẽ của vùng đất tối tăm ấy, đang xuất hiện một thần bí học căn bản và thuần khiết, trải dài từ sự thờ phụng thiên nhiên và thuyết vật linh sơ khai đến một tri thức huyền bí sâu xa và một sự thấu hiểu nội môn, điều một ngày nào đó có thể khiến châu Phi trở thành trung tâm của hình thức giáo huấn và đời sống huyền bí thuần khiết nhất. Tuy nhiên, điều này còn ở phía trước nhiều thế kỷ.

In considering the problem of the African Negro, it is the long range vision with which we must deal and the steady rising into power of millions of people who have, as yet, only made the first steps towards modern civilization and culture, but are taking others with an almost frightening rapidity. The undesirable aspects of civilization are present, but the benefits conferred far outweigh these, and the Negro, in spite of his natural and understandable antagonism, should recognize them as a debt he owes to the aggressive and acquisitive white nations. Contact with them has stimulated his intellectual perception; the white man’s way of living has lifted the Negroes of Africa out of their primitive state into a more modern one; education and modern ways of thinking and planning are rapidly fitting the Negroes to take their place in a modern world; science, transportation [108] and knowledge—brought to them through the medium of the white races—are tying them closely into the developing scheme of modern history; the new world with its better ways of living is as much for the Negro as for the white man.

Khi xem xét vấn đề người da đen châu Phi, chính tầm nhìn dài hạn là điều chúng ta phải đề cập đến, cùng sự vươn lên đều đặn vào quyền lực của hàng triệu người, cho đến nay, chỉ mới thực hiện những bước đầu tiên hướng tới văn minh và văn hóa hiện đại, nhưng đang bước tiếp những bước khác với tốc độ gần như đáng sợ. Các phương diện không đáng mong muốn của văn minh đang hiện diện, nhưng những lợi ích được ban cho vượt xa chúng, và người da đen, bất chấp sự đối kháng tự nhiên và có thể hiểu được của y, nên nhận ra chúng như một món nợ y mắc đối với các quốc gia da trắng hiếu chiến và chiếm hữu. Sự tiếp xúc với họ đã kích thích nhận thức trí tuệ của y; lối sống của người da trắng đã nâng những người da đen ở châu Phi ra khỏi trạng thái sơ khai của họ vào một trạng thái hiện đại hơn; giáo dục và các cách suy nghĩ, hoạch định hiện đại đang nhanh chóng chuẩn bị cho người da đen giữ vị trí của họ trong một thế giới hiện đại; khoa học, giao thông [108] và tri thức, được đưa đến cho họ qua trung gian các chủng tộc da trắng, đang buộc họ chặt chẽ vào hệ hành tinh đang phát triển của lịch sử hiện đại; thế giới mới với những cách sống tốt đẹp hơn thuộc về người da đen cũng như thuộc về người da trắng.

But beyond this necessary recognition of indebtedness and the effort to benefit from the presented conditions and to ignore that which is evil and undesirable, the Negro problem, both in Africa and in the western world, is largely (if not entirely) that of the white race and one which it is their responsibility to solve. In Africa the Negro greatly outnumbers the white population; the latter is in so small a minority that they are faced with a most difficult situation, living as they do in the midst of an overpoweringly vast black population. In the West and in America, the situation is reversed and the Negroes constitute a minority, greatly outnumbered by the white people. In Africa the Negro is virile and militant; in America and the West Indies he has been somewhat emasculated and psychologically defeated by years of forced labour and slavery. Slavery exists also in Africa, but it has been of a different kind and has not produced quite the same results as it has in the West.

Nhưng vượt ngoài sự nhận biết cần thiết này về món nợ và nỗ lực hưởng lợi từ các điều kiện được đưa ra, đồng thời bỏ qua điều xấu xa và không đáng mong muốn, vấn đề người da đen, cả ở châu Phi lẫn trong thế giới phương Tây, phần lớn, nếu không hoàn toàn, là vấn đề của chủng tộc da trắng và là vấn đề mà họ có trách nhiệm giải quyết. Ở châu Phi, người da đen đông hơn rất nhiều so với dân số da trắng; nhóm sau ở trong một thiểu số nhỏ đến mức họ đối diện với một tình trạng hết sức khó khăn, sống như họ đang sống giữa một dân số da đen áp đảo và bao la. Ở phương Tây và tại châu Mỹ, tình hình đảo ngược, và người da đen tạo thành một thiểu số, bị người da trắng vượt trội rất nhiều về số lượng. Ở châu Phi, người da đen mạnh mẽ và hiếu chiến; ở châu Mỹ và Tây Ấn, y đã phần nào bị làm suy yếu và bị đánh bại về tâm lý bởi nhiều năm lao động cưỡng bức và nô lệ. Chế độ nô lệ cũng tồn tại ở châu Phi, nhưng nó thuộc một loại khác và không tạo ra hoàn toàn cùng những kết quả như ở phương Tây.

The problem facing the white races now in Africa is so to train the Negroes that they will be fitted for true self-government. They must be helped to take over their own destiny; they must be given a sense of trained responsibility; they must be taught to realize that Africa can belong to its own people and at the same time be a cooperating partner in world enterprise. This can only happen when the antagonism between the white people and the black races is ended; between the two of them goodwill must be demonstrated. Right human relations must be firmly established between the emerging Negro empire and the rest of the world; the new [109] ideals and the new world trends must be fostered in the receptive Negro consciousness and in this way “darkest Africa” will become a radiant centre of light, ready for self-government and expressing true freedom. Increasingly these Negro races will forsake their emotional reaction to circumstances and events, and meet all that transpires with a mental grasp and an intuitive perception which will put them on a par and perhaps ahead of the many who today condition the environment and the circumstances of the Negro.

Vấn đề mà các chủng tộc da trắng đang đối diện hiện nay ở châu Phi là huấn luyện người da đen sao cho họ sẽ thích hợp với nền tự trị đích thực. Họ phải được giúp để nắm lấy định mệnh của chính mình; họ phải được trao một ý thức về trách nhiệm đã được rèn luyện; họ phải được dạy để nhận ra rằng châu Phi có thể thuộc về chính dân tộc của nó, đồng thời là một đối tác hợp tác trong công cuộc thế giới. Điều này chỉ có thể xảy ra khi sự đối kháng giữa người da trắng và các chủng tộc da đen chấm dứt; giữa hai bên, thiện chí phải được biểu lộ. Các mối quan hệ đúng đắn của con người phải được thiết lập vững chắc giữa đế quốc da đen đang xuất hiện và phần còn lại của thế giới; các lý tưởng mới và các xu hướng thế giới mới phải được nuôi dưỡng trong tâm thức người da đen vốn dễ tiếp nhận, và theo cách này “châu Phi tối tăm nhất” sẽ trở thành một trung tâm ánh sáng rạng ngời, sẵn sàng cho tự trị và biểu lộ tự do đích thực. Ngày càng nhiều, các chủng tộc da đen này sẽ từ bỏ phản ứng cảm xúc của họ đối với hoàn cảnh và sự kiện, và đối diện mọi điều xảy ra với một sự nắm bắt trí tuệ và một nhận thức trực giác, điều sẽ đặt họ ngang hàng, và có lẽ vượt trước, nhiều người ngày nay đang tác động lên môi trường và hoàn cảnh của người da đen.

We might express the possibilities as follows: Will the Negroes of Africa arrive at control of their own continent by violently ejecting the governing white races and by a long cycle of wars between the different Negro groups which people that continent? Or will the matter be settled by an understanding farsighted policy on the part of the white people, plus cooperative planning for the future? Will this be paralleled by an ability on the part of the Negro races to move slowly and wisely, to avoid bloodshed and rancour, to see through the devious ways of selfish political agents (seeking to exploit them) and demonstrate also such an outstanding capacity to handle their own affairs and produce their own leaders that naturally and automatically, without conflict or violence, they will gather the reins of government into their own hands and gradually eliminate white control? Will the white nations who today commercially exploit Africa, holding on to their land tenure, relinquish their so-called rights (based on the fact that possession is nine-tenths of the law) and substitute the New Age methods of right human relations and intelligent cooperation, the sharing of resources, so rich and varied in that wonderful continent, and contribute their trained skill, their proved commercial benefits and their scientific knowledge to all that Africa has to offer of usefulness and productive materials to the world? The [110] European nations and the British peoples are now following a programme leading to the release of Africa into the hands of its own people. At the same time, a sane patience should lead the African peoples to concentrate on educational processes, and agricultural and economic developments. The destiny of this great land will clarify itself and Africa will take its place as a great centre of cultural light, shining within a civilized land.

Chúng ta có thể diễn đạt các khả năng như sau: Liệu người da đen châu Phi sẽ đạt được quyền kiểm soát lục địa của chính họ bằng cách trục xuất dữ dội các chủng tộc da trắng đang cai trị và bằng một chu kỳ chiến tranh dài giữa những nhóm da đen khác nhau cư ngụ trên lục địa ấy chăng? Hay vấn đề sẽ được giải quyết bằng một chính sách thấu hiểu, nhìn xa trông rộng về phía người da trắng, cộng với sự hoạch định hợp tác cho tương lai? Liệu điều này sẽ được song hành bởi một khả năng về phía các chủng tộc da đen để tiến chậm rãi và minh triết, tránh đổ máu và oán hận, nhìn thấu các đường lối quanh co của những tác nhân chính trị ích kỷ, những kẻ tìm cách khai thác họ, và cũng biểu lộ một năng lực nổi bật đến mức để xử lý các công việc của chính họ và sản sinh các nhà lãnh đạo của chính họ, đến nỗi một cách tự nhiên và tự động, không xung đột hay bạo lực, họ sẽ thu lấy dây cương chính quyền vào tay mình và dần dần loại bỏ sự kiểm soát của người da trắng? Liệu các quốc gia da trắng ngày nay đang khai thác thương mại châu Phi, bám giữ quyền sở hữu đất đai của họ, có từ bỏ những quyền được gọi là của họ, dựa trên sự kiện rằng chiếm hữu là chín phần mười của luật pháp, và thay thế bằng các phương pháp Kỷ Nguyên Mới của các mối quan hệ đúng đắn của con người và sự hợp tác thông minh, sự chia sẻ các tài nguyên phong phú và đa dạng trong lục địa tuyệt diệu ấy, và đóng góp kỹ năng đã được rèn luyện, các lợi ích thương mại đã được chứng minh và tri thức khoa học của họ vào tất cả những gì châu Phi có thể đem lại cho thế giới về sự hữu dụng và các vật liệu sản xuất chăng? Các [110] quốc gia châu Âu và các dân tộc Anh hiện đang theo một chương trình dẫn đến việc trao trả châu Phi vào tay chính dân tộc của nó. Đồng thời, một sự kiên nhẫn lành mạnh nên dẫn các dân tộc châu Phi tập trung vào các tiến trình giáo dục, và các phát triển nông nghiệp cùng kinh tế. Định mệnh của vùng đất vĩ đại này sẽ tự làm sáng tỏ, và châu Phi sẽ giữ vị trí của mình như một trung tâm lớn của ánh sáng văn hóa, tỏa sáng trong một vùng đất văn minh.

Unless both races, the black and the white, approach the problem of their relationship with sanity, with long range vision, with patience and without hatred or fear, the cultural history of our planet will be retarded for many years. The hitherto unused and unorganized power of the countless millions of Africa is something that the white race should carefully consider. They can place the Negro peoples as rapidly as possible on an equality of opportunity, of constitutional and human rights, and help them to pass through the stage of adolescence in which they are now to be found to that full and useful maturity in which they will handle their own problems and territory. This process is now going forward and Africa will thus take its place (through its many possible national groups) in the great family of nations and bring into the world arena a race with an amazing contribution to make of spiritual assets, cultural values and creative possibilities.

Trừ khi cả hai chủng tộc, da đen và da trắng, tiếp cận vấn đề về mối quan hệ của họ với sự tỉnh táo, với tầm nhìn dài hạn, với sự kiên nhẫn và không có hận thù hay sợ hãi, lịch sử văn hóa của hành tinh chúng ta sẽ bị trì hoãn trong nhiều năm. Quyền năng cho đến nay chưa được sử dụng và chưa được tổ chức của vô số triệu người ở châu Phi là điều mà chủng tộc da trắng nên cẩn thận xem xét. Họ có thể đặt các dân tộc da đen nhanh nhất có thể vào sự bình đẳng về cơ hội, về các quyền hiến định và nhân quyền, và giúp họ đi qua giai đoạn vị thành niên mà hiện nay họ đang ở trong đó để đạt đến sự trưởng thành đầy đủ và hữu ích, trong đó họ sẽ xử lý các vấn đề và lãnh thổ của chính họ. Tiến trình này hiện đang tiến tới, và như thế châu Phi sẽ giữ vị trí của mình, qua nhiều nhóm quốc gia khả hữu của nó, trong đại gia đình các quốc gia, và đưa vào đấu trường thế giới một chủng tộc có một đóng góp đáng kinh ngạc để thực hiện về các tài sản tinh thần, các giá trị văn hóa và các khả năng sáng tạo.

The innate endowment of the Negro is very rich in content. He is creative, artistic and capable of the highest mental development when taught and trained—as capable as is the white man; this has been proved again and again by the artists and the scientists who have come out of the Negro race and by the fact of their aspirations and their ambitions. The time has come when the white man must cease to look upon the Negro as a field labourer, a factory hand, a beast of burden, or one only [111] capable of housework or unskilled labour and accord him the respect and the opportunity which is due him.

Thiên phú bẩm sinh của người da đen rất phong phú về nội dung. Y có tính sáng tạo, nghệ thuật và có khả năng phát triển trí tuệ cao nhất khi được dạy dỗ và rèn luyện, có khả năng như người da trắng; điều này đã được chứng minh hết lần này đến lần khác bởi các nghệ sĩ và nhà khoa học xuất thân từ chủng tộc da đen, cũng như bởi sự kiện về các khát vọng và hoài bão của họ. Đã đến lúc người da trắng phải thôi nhìn người da đen như một lao động đồng ruộng, một công nhân nhà máy, một con vật kéo tải, hay một người chỉ [111] có khả năng làm việc nhà hoặc lao động không lành nghề, và dành cho y sự tôn trọng cùng cơ hội thuộc về y.

The Negro of Africa is emerging fast and when a few more years of education, study and travel have played their part, the problem of Africa will become even more acute than it already is. It need not become dangerous if the white race demonstrates wisdom, understanding, selfless thinking and a willingness to give complete freedom to the Negro races. The future peace of the world depends today upon enlightened, far-seeing statesmanship and an appreciation of the fact that God has made all men free.

Người da đen châu Phi đang xuất hiện nhanh chóng, và khi thêm vài năm giáo dục, học tập và du hành nữa đã đóng vai trò của chúng, vấn đề châu Phi sẽ trở nên còn gay gắt hơn hiện nay. Nó không cần trở nên nguy hiểm nếu chủng tộc da trắng biểu lộ minh triết, sự thấu hiểu, tư tưởng vô kỷ và sự sẵn lòng trao tự do hoàn toàn cho các chủng tộc da đen. Nền hòa bình tương lai của thế giới ngày nay tùy thuộc vào tài lãnh đạo quốc gia sáng suốt, nhìn xa, và sự nhận thức rằng Thượng đế đã tạo nên mọi người tự do.

The problem of the Negro in the western hemisphere constitutes a very ugly story, seriously implicates the white man and provides an outstanding disgrace. Brought to the United States and to the West Indies more than two centuries ago and forced into slavery, the Negro has never had a fair deal or any true opportunity. Under the constitution of the United States, all men are regarded as free and equal; the Negro, however, is not free or equal, particularly in the southern states. The situation in the West Indies more closely resembles that in the northern states, where conditions are somewhat better but where there is still no equality of opportunity and much racial discrimination. The treatment of the Negro in the southern states is a blot upon the country; there the fight is to keep the Negro consistently down, to refuse him equality of education and of opportunity, to keep his standard of living at the lowest possible level and well below that of the white, to refuse him political recognition and, in a democratic country where all men are entitled to vote, he is prevented from sharing in this constitutional privilege. In the northern states these conditions do not exist to the same extent, but the Negro is steadily discriminated against, is refused equal opportunity and has to fight [112] for every privilege. A few corrupt and ignorant senators consistently outrage the good intentions of the mass of American people by perpetuating these evil conditions and fighting by every possible means to prevent their being changed; they play upon the fears of their constituents and block every move made to bring about a better and cleaner situation which would be in line with the constitution. These shortsighted politicians attempt to sidetrack the issue and throw dust in the eyes of their constituents by fighting for the freedom of distant small nations in Europe; at the same time they steadily defy their own constitution by refusing freedom and liberty to the Negroes of their own country. For their attitude and conduct there is today no possible excuse. It remains a mystery in the minds of other enlightened nations why the broad-minded people of the United States—vociferous in their demand for their own personal freedom and insistent upon the defense of the constitution—permit this condition to exist and perpetuate in office these men who bring about a constant infringement of the constitutional rights of American citizens.

Vấn đề người da đen ở Tây bán cầu tạo thành một câu chuyện rất xấu xí, khiến người da trắng bị liên lụy nghiêm trọng và cung cấp một nỗi ô nhục nổi bật. Bị đưa đến Hợp Chúng Quốc và Tây Ấn hơn hai thế kỷ trước và bị cưỡng bức vào đời nô lệ, người da đen chưa bao giờ nhận được một sự đối xử công bằng hay bất cứ cơ hội đích thực nào. Theo hiến pháp của Hợp Chúng Quốc, mọi người đều được xem là tự do và bình đẳng; tuy nhiên, người da đen không tự do hay bình đẳng, đặc biệt tại các bang miền Nam. Tình hình ở Tây Ấn giống với tình hình ở các bang miền Bắc hơn, nơi các điều kiện có phần tốt hơn nhưng vẫn không có sự bình đẳng về cơ hội và có nhiều phân biệt chủng tộc. Cách đối xử với người da đen tại các bang miền Nam là một vết nhơ trên đất nước; ở đó, cuộc chiến là nhằm giữ người da đen luôn luôn ở dưới, từ chối y sự bình đẳng về giáo dục và cơ hội, giữ mức sống của y ở mức thấp nhất có thể và thấp hơn hẳn so với người da trắng, từ chối sự công nhận chính trị đối với y, và trong một quốc gia dân chủ nơi mọi người đều có quyền bỏ phiếu, y bị ngăn cản không được chia sẻ đặc quyền hiến định này. Tại các bang miền Bắc, những điều kiện này không tồn tại ở cùng mức độ, nhưng người da đen vẫn liên tục bị phân biệt đối xử, bị từ chối cơ hội bình đẳng và phải tranh đấu [112] cho từng đặc quyền. Một số thượng nghị sĩ tham nhũng và vô minh liên tục xúc phạm các ý định tốt đẹp của đại đa số nhân dân Mỹ bằng cách duy trì những điều kiện xấu xa này và tranh đấu bằng mọi phương tiện có thể để ngăn chúng bị thay đổi; họ lợi dụng nỗi sợ của cử tri mình và chặn đứng mọi động thái nhằm tạo ra một tình trạng tốt đẹp hơn và trong sạch hơn, điều sẽ phù hợp với hiến pháp. Những chính khách thiển cận này cố chuyển hướng vấn đề và tung bụi vào mắt cử tri của họ bằng cách tranh đấu cho tự do của những quốc gia nhỏ xa xôi ở châu Âu; đồng thời, họ liên tục thách thức chính hiến pháp của mình bằng cách từ chối tự do và quyền tự do cho người da đen trong chính quốc gia của họ. Đối với thái độ và hành vi của họ, ngày nay không thể có lời bào chữa nào. Trong tâm trí của các quốc gia khai sáng khác, vẫn còn là một điều bí ẩn tại sao những người có tâm trí rộng mở của Hợp Chúng Quốc, vốn lớn tiếng trong đòi hỏi về tự do cá nhân của chính họ và khăng khăng bảo vệ hiến pháp, lại cho phép tình trạng này tồn tại và tiếp tục duy trì trong chức vụ những người gây nên sự xâm phạm liên tục đối với các quyền hiến định của công dân Mỹ.

The cry of the south that the Negro is not educationally fitted to vote is negated by the fact that he can and does vote in the northern states, in many cases as wisely as his white brother, and though his vote can often be purchased by electioneering politicians so also can that of the white voter; the cry that white women must be protected from the animal instincts of the Negroes means nothing, for they need equal protection from the animal instincts of the white man, and this statistics will adequately prove; the cry that paternalism is what the Negro needs and that only the southerner understands how to handle the Negro is disproved by the Negro himself who wants none of it; his repudiation of it demonstrates a sound sense of values and that he knows the distinction between paternalism (which keeps the [113] Negro backward, uneducated and under obligation to the white) and the freedom which he wants to share with all men in the world.

Tiếng kêu của miền Nam rằng người da đen không đủ trình độ giáo dục để bỏ phiếu bị phủ định bởi sự kiện y có thể và thực sự bỏ phiếu ở các bang miền Bắc, trong nhiều trường hợp minh triết như người huynh đệ da trắng của y; và mặc dù lá phiếu của y thường có thể bị các chính khách vận động bầu cử mua chuộc, thì lá phiếu của cử tri da trắng cũng vậy; tiếng kêu rằng phụ nữ da trắng phải được bảo vệ khỏi các bản năng thú vật của người da đen chẳng có ý nghĩa gì, vì họ cần sự bảo vệ tương đương khỏi các bản năng thú vật của người da trắng, và các thống kê sẽ chứng minh đầy đủ điều này; tiếng kêu rằng chế độ gia trưởng là điều người da đen cần và chỉ người miền Nam mới hiểu cách xử lý người da đen, bị chính người da đen bác bỏ, kẻ không muốn bất cứ điều gì thuộc loại ấy; sự phủ nhận của y đối với nó biểu lộ một ý thức lành mạnh về các giá trị và cho thấy y biết sự phân biệt giữa chế độ gia trưởng, vốn giữ người da đen [113] lạc hậu, vô học và chịu ơn người da trắng, với tự do mà y muốn chia sẻ với mọi người trên thế giới.

The Negro is naturally easy, accommodating, kindly and anxious to like people and be liked; if today so many Negroes are arrogant, vindictive, full of hate and anxious to assert themselves it is because they have been made so by the white people. The white people face a grave responsibility and it lies in their hands to change conditions. When they do so, they will find the Negro as responsive to good and fair treatment, equal opportunity and right living conditions as he is responsive sometimes in the wrong way to the evil educational, political and living conditions under which he now labours. This applies to the entire Negro problem in the western hemisphere.

Người da đen vốn tự nhiên dễ chịu, dễ thích nghi, tử tế và mong muốn yêu mến người khác cũng như được yêu mến; nếu ngày nay có nhiều người da đen kiêu căng, thù hằn, đầy căm ghét và nóng lòng khẳng định mình, đó là vì họ đã bị người da trắng làm cho trở nên như vậy. Người da trắng đối diện một trách nhiệm nghiêm trọng, và việc thay đổi các điều kiện nằm trong tay họ. Khi họ làm như vậy, họ sẽ thấy người da đen đáp ứng với cách đối xử tốt lành và công bằng, cơ hội bình đẳng và các điều kiện sống đúng đắn, cũng như đôi khi y đáp ứng theo cách sai lầm đối với các điều kiện giáo dục, chính trị và sinh hoạt xấu xa mà dưới đó y hiện đang lao nhọc. Điều này áp dụng cho toàn bộ vấn đề người da đen ở Tây bán cầu.

The Negro cannot be discriminated against for all time; he cannot be asked to defend his country and then have his country refuse him the ordinary rights of citizenship. Public opinion is on the side of the Negro and there is a steadily growing determination among the white citizens of the western hemisphere that he be given his constitutional rights, equal commercial and business opportunities, equal educational facilities and equally good living conditions. It is for the people of America to speak with a clear voice and demand that Negroes be given their just rights. Every white American should shoulder his responsibility for this minority and study the Negro problem; he should learn to know the Negro personally as a friend and a brother; he should see to it that he plays his part in changing the present condition.

Người da đen không thể bị phân biệt đối xử mãi mãi; y không thể bị yêu cầu bảo vệ đất nước của mình rồi sau đó đất nước của y lại từ chối y các quyền công dân thông thường. Công luận đứng về phía người da đen, và có một quyết tâm đang tăng trưởng đều đặn nơi các công dân da trắng của Tây bán cầu rằng y phải được trao các quyền hiến định của mình, các cơ hội thương mại và kinh doanh bình đẳng, các phương tiện giáo dục bình đẳng và các điều kiện sống tốt đẹp ngang nhau. Chính nhân dân châu Mỹ phải lên tiếng rõ ràng và đòi hỏi rằng người da đen được trao các quyền chính đáng của họ. Mỗi người Mỹ da trắng nên gánh lấy trách nhiệm của mình đối với thiểu số này và nghiên cứu vấn đề người da đen; y nên học cách biết người da đen một cách cá nhân như một người bạn và một huynh đệ; y nên bảo đảm rằng mình đóng vai trò trong việc thay đổi tình trạng hiện nay.

On the subject of intermarriage, the best and soundest thinkers in both the white and black races at this time deplore mixed marriages. They mean no happiness for either party. When considering this subject [114] it should be remembered, however, that intermarriage between the white peoples and the yellow races (the Chinese and the Japanese) is equally unfortunate and—with the rarest exception—seldom proves successful and is never satisfactory where the children of such unions are concerned. The world war (1914-1945) has itself produced a great admixture of races. Where marching armies go there is inevitable promiscuity and a resultant new population; the world today is producing and will produce the results of these (so-called) illicit unions between the soldiers of all nations and the peoples of the countries in which they find themselves. These children of mixed race, as well as the half-castes and the Eurasians may be the answer to a large part of the problem. There will be hundreds of thousands of these children of mixed parentage, forming part of the world population in the next generation and immediate cycle and they are a group with which we will have to reckon.

Về đề tài hôn nhân dị chủng, những tư tưởng gia tốt nhất và lành mạnh nhất trong cả hai chủng tộc da trắng và da đen vào lúc này đều lấy làm tiếc về các cuộc hôn nhân pha trộn. Chúng không mang lại hạnh phúc cho bên nào. Tuy nhiên, khi xem xét đề tài này [114] cần nhớ rằng hôn nhân dị chủng giữa các dân tộc da trắng và các chủng tộc da vàng, người Trung Quốc và người Nhật, cũng bất hạnh như vậy và, trừ những ngoại lệ hiếm hoi nhất, hiếm khi chứng tỏ thành công và không bao giờ thỏa đáng khi xét đến con cái của những sự kết hợp ấy. Chính cuộc thế chiến 1914-1945 đã tạo ra một sự pha trộn lớn lao giữa các chủng tộc. Nơi nào các đạo quân hành quân đi qua, nơi đó có sự chung đụng bừa bãi không tránh khỏi và một dân số mới phát sinh; thế giới ngày nay đang tạo ra và sẽ tạo ra các kết quả của những cuộc kết hợp bị gọi là bất hợp pháp này giữa binh sĩ của mọi quốc gia và các dân tộc của những xứ sở mà họ thấy mình ở trong đó. Những đứa trẻ lai chủng này, cũng như những người lai và người Âu-Á, có thể là lời đáp cho một phần lớn của vấn đề. Sẽ có hàng trăm ngàn trẻ em thuộc huyết thống pha trộn như vậy, tạo thành một phần của dân số thế giới trong thế hệ kế tiếp và chu kỳ gần trước mắt, và họ là một nhóm mà chúng ta sẽ phải tính đến.

The Solution

Giải pháp

It will be obvious that a finding of a solution to the problem of the minorities is essentially the finding of a solution to the great heresy of separateness. This is immensely difficult not only because of humanity’s predisposing tendency in this direction, but because that same human nature cannot be easily or rapidly changed. Also, this change and the breaking down of the spirit of separateness has to be brought about in a world of men which is today full of distrust and fear and hardly aware of what is really needed—able only to cry in unison: Give us peace in our time!

Hiển nhiên rằng việc tìm ra một giải pháp cho vấn đề các thiểu số, về căn bản, là việc tìm ra một giải pháp cho Đại Tà thuyết về sự chia rẽ. Điều này vô cùng khó khăn, không chỉ vì khuynh hướng sẵn có của nhân loại theo hướng này, mà còn vì chính bản chất con người ấy không thể được thay đổi dễ dàng hay nhanh chóng. Hơn nữa, sự thay đổi này và việc phá vỡ tinh thần chia rẽ phải được thực hiện trong một thế giới con người ngày nay đầy ngờ vực và sợ hãi, hầu như không ý thức được điều gì thật sự cần thiết, chỉ có thể cùng đồng thanh kêu lên: Hãy cho chúng tôi hòa bình trong thời của chúng tôi!

If by an act of immediate legislation the Negro minority gained its full rights the problem would remain the same, for the hearts and minds of men would not have been altered and the solution would be entirely [115] superficial; although the Jews have gained their desire and Palestine was handed over to them the anti-Semitic feeling present—with practically no exception—in every nation remains exactly the same as before, plus the bloodshed in Palestine.

Nếu bằng một đạo luật tức thời, thiểu số da đen giành được đầy đủ các quyền của mình, vấn đề vẫn sẽ y nguyên, vì trái tim và thể trí của con người chưa được biến đổi, và giải pháp sẽ hoàn toàn [115] hời hợt; mặc dù người Do Thái đã đạt được mong muốn của họ và Palestine đã được trao lại cho họ, cảm xúc bài Do Thái hiện diện, hầu như không ngoại lệ, trong mọi quốc gia vẫn y nguyên như trước, cộng thêm đổ máu tại Palestine.

The problem goes far deeper than is often estimated; it is inherent in human nature and is the product of countless centuries of fostered growth and the wrong type of education of the masses. Nation is still pitted against nation in the political arena, group against group and (within the nations) party against party and man against man. The wise and the farseeing, those prompted by a sane and unselfish commonsense, the idealist and the men and women of goodwill are everywhere and are struggling to find a solution, to build a new world structure of law, order and peace, which will insure right human relations; but they are, in turn, a tiny minority in comparison to the vast multitude of human beings peopling our earth; their task is hard and from the point at which they must work, appears to them at times as presenting well-nigh insuperable difficulties.

Vấn đề đi sâu hơn nhiều so với điều người ta thường ước lượng; nó vốn cố hữu trong bản chất con người và là sản phẩm của vô số thế kỷ tăng trưởng được nuôi dưỡng cùng kiểu giáo dục sai lầm dành cho quần chúng. Quốc gia vẫn còn đối đầu với quốc gia trên vũ đài chính trị, nhóm đối đầu với nhóm và trong nội bộ các quốc gia, đảng phái đối đầu với đảng phái, người đối đầu với người. Những người minh triết và nhìn xa, những ai được thúc đẩy bởi lương tri lành mạnh và vô kỷ, người lý tưởng và những người nam và nữ thiện chí có mặt khắp nơi và đang đấu tranh để tìm một giải pháp, để xây dựng một cơ cấu thế giới mới của luật pháp, trật tự và hòa bình, vốn sẽ bảo đảm các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người; nhưng đến lượt họ, họ chỉ là một thiểu số nhỏ bé so với vô số con người đang cư ngụ trên Trái Đất chúng ta; nhiệm vụ của họ rất khó khăn và, từ vị trí mà họ phải làm việc, đôi khi đối với họ dường như đưa ra những khó khăn hầu như không thể vượt qua.

Certain questions inevitably arise in the minds of the men of goodwill everywhere:

Một số câu hỏi tất yếu nảy sinh trong trí của những người thiện chí ở khắp nơi:

Can the Great Powers be trusted to function selflessly in the interests of the Little Powers and of humanity as a whole?

Liệu các Cường Quốc có thể được tin cậy để hành động một cách vô kỷ vì lợi ích của các Tiểu Quốc và của toàn thể nhân loại không?

Can power politics and the various national imperialisms be forgotten and ended?

Liệu chính trị quyền lực và các chủ nghĩa đế quốc quốc gia khác nhau có thể bị quên đi và chấm dứt không?

Can a world policy be devised which will insure justice for all whether great or small?

Liệu có thể hoạch định một chính sách thế giới vốn sẽ bảo đảm công lý cho tất cả, dù lớn hay nhỏ không?

Can world opinion be sufficiently strong in the interests of right human relations that it can tie the hands of the selfishly aggressive and open the door of opportunity to those who have as yet had little?

Liệu dư luận thế giới có thể đủ mạnh vì lợi ích của các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người đến mức có thể trói tay những kẻ hiếu chiến ích kỷ và mở cánh cửa cơ hội cho những ai cho đến nay vẫn có rất ít không?

Is the hope of establishing an era of right human relations within nations as well as internationally, an [116] impossible dream, a waste of time to consider or an evidence only of wishful thinking?

Liệu hy vọng thiết lập một kỷ nguyên của các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người trong các quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế có phải là một giấc mơ bất khả, một điều phí thời gian để suy xét, hay chỉ là bằng chứng của tư duy mong ước không?

Does the goal of right human relations, equal rights and opportunity for all men everywhere provide an entirely possible goal for which all well-intentioned men can work with some hope of success?

Liệu mục tiêu về các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người, về quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho mọi người ở khắp nơi, có đem lại một mục tiêu hoàn toàn khả thi để tất cả những người có thiện chí có thể làm việc với một hy vọng nào đó về thành công không?

What are the first steps which should be taken to promote such right endeavours and to lay a secure foundation of world goodwill?

Những bước đầu tiên nào cần được thực hiện để thúc đẩy các nỗ lực đúng đắn như thế và đặt một nền tảng vững chắc cho thiện chí thế giới?

How can public opinion be sufficiently aroused so that the many steps to promote right human relations will be faced by legislators and politicians everywhere?

Làm thế nào dư luận công chúng có thể được khơi dậy đủ mạnh để các nhà lập pháp và chính trị gia ở khắp nơi phải đối diện với nhiều bước nhằm thúc đẩy các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người?

What should the minorities do in order to gain their just demands, without promoting more differences and feeding the fire of hatred?

Các nhóm thiểu số nên làm gì để đạt được những đòi hỏi chính đáng của họ mà không thúc đẩy thêm các dị biệt và nuôi dưỡng ngọn lửa hận thù?

How can we abolish the great lines of demarcation between races, nations and groups, and the cleavages that are to be found everywhere, working in such a manner that the “one humanity” emerges in the arena of world affairs?

Làm thế nào chúng ta có thể xóa bỏ những đường phân giới lớn giữa các chủng tộc, quốc gia và nhóm, cùng những rạn nứt hiện hữu khắp nơi, bằng cách làm việc sao cho “một nhân loại” xuất hiện trên vũ đài các công việc thế giới?

How can we develop the consciousness that what is good for the part can also be good for the whole and that the highest good of the unit within the whole guarantees the good of that whole?

Làm thế nào chúng ta có thể phát triển tâm thức rằng điều tốt cho bộ phận cũng có thể tốt cho toàn thể, và rằng lợi ích cao nhất của đơn vị trong toàn thể bảo đảm lợi ích của chính toàn thể ấy?

These and many other questions arise and clamour for an answer. The answer comes in the form of a generally accepted platitude and is unfortunately in the nature of an anti-climax: Establish right human relations by developing a spirit of goodwill. Then and only then shall we have a world at peace and ready to move forward into a new and better era. Though a platitude is, in the majority of cases, the statement of a recognizable truth, it is difficult in this case to make people admit its feasibility. Nevertheless, because it is a truth, it is bound eventually to demonstrate as such, not only in the minds of a few people here and there but on a large [117] scale throughout the world. People are looking eagerly for the unexpected and the unusual, for an anticipated miracle and for God (whatever they mean in their own minds by that term) to take action, thus relieving them of responsibility and doing their work for them.

Những câu hỏi này và nhiều câu hỏi khác nảy sinh và đòi một lời đáp. Câu trả lời đến dưới hình thức một lời sáo ngữ được chấp nhận rộng rãi và, đáng tiếc, mang tính chất của một kết thúc hụt hẫng: Hãy thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người bằng cách phát triển tinh thần thiện chí. Khi ấy và chỉ khi ấy, chúng ta mới có một thế giới hòa bình và sẵn sàng tiến vào một kỷ nguyên mới và tốt đẹp hơn. Dù trong đa số trường hợp, một lời sáo ngữ là sự phát biểu của một chân lý có thể nhận ra, trong trường hợp này thật khó khiến con người thừa nhận tính khả thi của nó. Tuy nhiên, vì đó là một chân lý, cuối cùng nó nhất định sẽ tự chứng minh như thế, không chỉ trong trí của một vài người rải rác đây đó mà trên quy mô rộng lớn [117] khắp thế giới. Con người đang háo hức tìm kiếm điều bất ngờ và khác thường, một phép lạ được mong đợi, và Thượng đế, dù họ hiểu thuật ngữ ấy trong trí mình thế nào, sẽ hành động, nhờ đó giải thoát họ khỏi trách nhiệm và làm công việc của họ thay cho họ.

Not by such methods do men move forward; not by shifting responsibility do they learn and progress. The miracle may happen and the beautiful and the unexpected appear but only when men have themselves created the right setting and by the wonder of their own achievement made it possible for a still more wonderful expression of rightness to manifest. We can have no further expression of divinity until men act more divinely than at present; we shall have no “return of Christ” or a downpouring of the Christ consciousness until the Christ in every man is more awake and alert than is at present the case; the Prince of Peace or the Spirit of Peace will not make the presence of peace felt on earth until the peaceful intentions of men everywhere are changing the aspect of world affairs. Unity will not be the distinctive characteristic of mankind until men have themselves pulled down the separating walls, and have removed the barriers between race and race, between nation and nation, between religion and religion and between man and man.

Con người không tiến lên bằng những phương pháp như thế; họ không học hỏi và tiến bộ bằng cách chuyển trách nhiệm. Phép lạ có thể xảy ra, và điều đẹp đẽ cùng bất ngờ có thể xuất hiện, nhưng chỉ khi chính con người đã tạo nên khung cảnh đúng đắn và, bằng sự kỳ diệu của thành tựu riêng mình, khiến cho một biểu hiện còn kỳ diệu hơn nữa của sự đúng đắn có thể hiển lộ. Chúng ta không thể có thêm biểu hiện nào của thiên tính cho đến khi con người hành động thiêng liêng hơn hiện nay; chúng ta sẽ không có “sự trở lại của Đức Christ” hay một sự tuôn đổ của tâm thức Christ cho đến khi Đức Christ trong mỗi người thức tỉnh và linh hoạt hơn so với hiện nay; Đấng Hoàng Tử Hòa Bình hay Đấng Tinh thần Hòa Bình sẽ không làm cho sự hiện diện của hòa bình được cảm nhận trên Trái Đất cho đến khi những ý hướng hòa bình của con người ở khắp nơi đang làm thay đổi phương diện của các công việc thế giới. Sự hợp nhất sẽ không là đặc tính nổi bật của nhân loại cho đến khi chính con người đã phá đổ những bức tường chia cách và loại bỏ các rào cản giữa chủng tộc với chủng tộc, giữa quốc gia với quốc gia, giữa tôn giáo với tôn giáo và giữa người với người.

The wonder of the present situation and its outstanding opportunity is that for the first time, and on a planetary scale, men are aware of the evil which must be eliminated; everywhere there is discussion and planning; there are meetings and forums, and conferences and committees, ranging all the way from the great deliberations of the United Nations down to the tiny meetings held in some remote village.

Điều kỳ diệu của tình thế hiện tại và cơ hội nổi bật của nó là lần đầu tiên, và trên quy mô hành tinh, con người ý thức về điều ác cần phải bị loại trừ; khắp nơi đều có thảo luận và hoạch định; có các cuộc họp và diễn đàn, hội nghị và ủy ban, trải dài từ những cuộc nghị bàn lớn của Liên Hiệp Quốc cho đến các cuộc họp nhỏ bé được tổ chức trong một ngôi làng xa xôi nào đó.

The beauty of the present situation is that even in the smallest community a practical expression of what is needed on a worldwide scale is offered to the inhabitants; [118] differences in families, in churches, in municipalities, in cities, in nations, between races and internationally all call for the same objective and for the same process of adjustment: the establishing of right human relations. The technique or method to bring this about remains everywhere the same: the use of the spirit of goodwill.

Vẻ đẹp của tình thế hiện tại là ngay cả trong cộng đồng nhỏ nhất, cư dân cũng được đưa ra một biểu hiện thực tiễn của điều cần thiết trên quy mô toàn thế giới; [118] những khác biệt trong gia đình, trong giáo hội, trong các đô thị, trong các thành phố, trong các quốc gia, giữa các chủng tộc và trên bình diện quốc tế, tất cả đều đòi hỏi cùng một mục tiêu và cùng một tiến trình điều chỉnh: việc thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người. Kỹ thuật hay phương pháp để đem lại điều này ở khắp nơi vẫn như nhau: việc sử dụng tinh thần thiện chí.

Goodwill is the simplest expression of true love and the one most easily understood. The use of goodwill in connection with the problems with which humanity is faced releases the intelligence along constructive lines; where goodwill is present, the walls of separation and of misunderstanding fall.

Thiện chí là biểu hiện đơn giản nhất của tình thương chân thật và là biểu hiện dễ được thấu hiểu nhất. Việc sử dụng thiện chí liên quan đến những vấn đề mà nhân loại đang đối diện giải phóng trí tuệ theo các đường lối xây dựng; nơi nào có thiện chí hiện diện, nơi đó những bức tường chia cách và hiểu lầm sụp đổ.

Love and understanding will eventually follow upon a practical expression of goodwill as a factor in every type of human relation and as a mode of contact between groups, between nations and their minorities, between nation and nation and also in the field of international politics and religions. The expression of true love as a factor in the life of our planet may lie very far ahead, but goodwill is a present possibility and the organizing of goodwill an outstanding necessity.

Tình thương và sự thấu hiểu cuối cùng sẽ theo sau một biểu hiện thực tiễn của thiện chí như một yếu tố trong mọi loại quan hệ giữa người với người và như một phương thức tiếp xúc giữa các nhóm, giữa các quốc gia và các nhóm thiểu số của họ, giữa quốc gia với quốc gia, và cả trong lĩnh vực chính trị quốc tế và tôn giáo. Biểu hiện của tình thương chân thật như một yếu tố trong đời sống hành tinh chúng ta có thể còn rất xa phía trước, nhưng thiện chí là một khả năng hiện tại và việc tổ chức thiện chí là một nhu cầu nổi bật.

There is today much talk about goodwill and a constant use of the word; there is a real intention to employ it in every field of human thought and in relation to every human problem; there is evidence that there is a real effort at this time to make goodwill an effective agent in negotiating world peace and understanding and in bringing about right human relations.

Ngày nay có nhiều lời nói về thiện chí và việc sử dụng từ này không ngừng; có một ý định thực sự nhằm vận dụng nó trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người và liên quan đến mọi vấn đề của con người; có bằng chứng cho thấy vào lúc này đang có một nỗ lực thực sự để biến thiện chí thành một tác nhân hữu hiệu trong việc thương thuyết hòa bình và sự thấu hiểu thế giới, cũng như trong việc đem lại các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người.

The major need is an immediate campaign, carried forward by all men of goodwill everywhere throughout the world to interpret the meaning of goodwill, to emphasize the practical nature of its expression, to gather together into an effective and active world group all men and women of goodwill and to do this, not in order to create a super-organization, but to convince the unhappy, [119] the distressed and the abused of the magnitude of the intelligent aid which stands ready to assist them. They must also demonstrate their ability to strengthen the hands of all workers who are struggling to bring about right human relations and prove to them the potency of the force of an educated and alive public opinion (educated by the men of goodwill) upon which they can draw. Thus there will be established in every nation, in every city and village, men of goodwill—with trained understanding, practical commonsense, a knowledge of world problems and a willingness to spread goodwill and find the men of like mind in their environment.

Nhu cầu chủ yếu là một chiến dịch tức thời, được tất cả những người thiện chí ở khắp nơi trên thế giới tiến hành, nhằm diễn giải ý nghĩa của thiện chí, nhấn mạnh bản chất thực tiễn của sự biểu hiện thiện chí, tập hợp tất cả những người nam và nữ thiện chí thành một nhóm thế giới hữu hiệu và năng động, và làm điều này không phải để tạo ra một siêu tổ chức, mà để thuyết phục những người bất hạnh, [119] đau khổ và bị lạm dụng về tầm vóc của sự trợ giúp thông minh đang sẵn sàng hỗ trợ họ. Họ cũng phải chứng minh khả năng củng cố đôi tay của tất cả những người hoạt động đang đấu tranh để đem lại các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người, và chứng minh cho họ thấy quyền năng của mãnh lực nơi một dư luận công chúng được giáo dục và sống động, do những người thiện chí giáo dục, mà họ có thể dựa vào. Như vậy, trong mỗi quốc gia, trong mỗi thành phố và làng mạc, sẽ có những người thiện chí được thiết lập, với sự thấu hiểu được rèn luyện, lương tri thực tiễn, tri thức về các vấn đề thế giới và thiện nguyện lan tỏa thiện chí cũng như tìm ra những người cùng chí hướng trong môi trường của họ.

The work of the men of goodwill is an educational one. They hold and advocate no miraculous solution of world problems but they know that a spirit of goodwill, particularly if trained and implemented by knowledge, can produce an atmosphere and an attitude which will make the solving of problems possible. When men of goodwill meet, no matter what their political party, nation or religion, there is no problem which they cannot eventually solve and solve to the satisfaction of the various parties involved. It is the production of this atmosphere and the evocation of this attitude which is the principal work of the men of goodwill and not the presentation of some cut and dried solution. This spirit of goodwill can be present even where there is fundamental disagreement between parties. But this is seldom the case today. There is a real spirit of goodwill controlling quite a few of the discussions of the United Nations organization on quite difficult and touchy points, and this is becoming increasingly apparent.

Công việc của những người thiện chí là một công việc giáo dục. Họ không nắm giữ và bênh vực một giải pháp kỳ diệu nào cho các vấn đề thế giới, nhưng họ biết rằng một tinh thần thiện chí, đặc biệt nếu được rèn luyện và được thực thi bằng tri thức, có thể tạo ra một bầu không khí và một thái độ khiến việc giải quyết các vấn đề trở nên khả thi. Khi những người thiện chí gặp nhau, bất kể đảng phái chính trị, quốc gia hay tôn giáo của họ là gì, không có vấn đề nào mà cuối cùng họ không thể giải quyết, và giải quyết thỏa đáng cho các bên khác nhau có liên quan. Chính việc tạo ra bầu không khí này và gợi lên thái độ này là công việc chính yếu của những người thiện chí, chứ không phải việc trình bày một giải pháp đã được định sẵn và đóng khung. Tinh thần thiện chí này có thể hiện diện ngay cả nơi có sự bất đồng căn bản giữa các bên. Nhưng ngày nay điều này hiếm khi xảy ra. Có một tinh thần thiện chí thực sự đang chi phối khá nhiều cuộc thảo luận của tổ chức Liên Hiệp Quốc về những điểm khá khó khăn và nhạy cảm, và điều này ngày càng trở nên rõ rệt.

There is absolutely no reason to believe that the growth of goodwill in the world need be a slow and gradual affair. The reverse can be the case if the men and women who today feel within themselves a genuine [120] goodwill and who are free from prejudice will seek each other out and work together to spread goodwill. A prejudiced person, a religious fanatic, or a staunch nationalist have a hard task in developing true goodwill within themselves. They can accomplish it if they care enough for their fellowman, and seek to leave him free, but they will have to seek for the dark area in their own minds where a wall of separativeness exists and tear it down. They will have to develop (with deliberation) true goodwill (not tolerance) towards the object of their prejudice, towards the man of an alien religion and towards the nation or race to which they feel antagonistic or upon which they look down. A prejudice is a first brick in a separating wall.

Hoàn toàn không có lý do gì để tin rằng sự tăng trưởng của thiện chí trên thế giới cần phải là một việc chậm chạp và tuần tự. Điều ngược lại có thể xảy ra nếu những người nam và nữ ngày nay cảm thấy trong chính mình một thiện chí chân thật [120] và thoát khỏi thành kiến sẽ tìm đến nhau và cùng nhau làm việc để lan tỏa thiện chí. Một người có thành kiến, một kẻ cuồng tín tôn giáo, hay một nhà dân tộc chủ nghĩa kiên định đều có một nhiệm vụ khó khăn trong việc phát triển thiện chí chân thật nơi chính mình. Họ có thể hoàn thành điều đó nếu họ đủ quan tâm đến đồng loại của mình và tìm cách để người ấy được tự do, nhưng họ sẽ phải tìm vùng tối trong chính trí mình, nơi một bức tường chia rẽ đang tồn tại, và phá đổ nó. Họ sẽ phải phát triển, một cách có chủ ý, thiện chí chân thật, không phải sự khoan dung, đối với đối tượng thành kiến của mình, đối với người thuộc một tôn giáo xa lạ và đối với quốc gia hay chủng tộc mà họ cảm thấy đối kháng hoặc xem thường. Một thành kiến là viên gạch đầu tiên trong một bức tường chia cách.

Goodwill is far more widespread throughout the world than people think; it simply needs to be discovered, educated and set to work. It must not be exploited, however, by groups working for their own ends, no matter how honestly, correctly or sincerely. It would, if that was done, be diverted into a partisan effort. The men of goodwill stand midway between opposing groups where such exist, in order to create a condition in which discussion and compromise can become happily possible. They tread constantly the “noble middle path” of the Buddha which runs between the pairs of opposites, straight to the very heart of God; they tread the “narrow way” of love of which Christ spoke, and they indicate they are treading it by an expression of the only aspect of love which humanity can at present understand: Goodwill.

Thiện chí lan rộng khắp thế giới hơn nhiều so với điều con người nghĩ; nó chỉ cần được khám phá, giáo dục và đưa vào hoạt động. Tuy nhiên, nó không được các nhóm làm việc vì mục đích riêng của mình khai thác, dù các mục đích ấy có trung thực, đúng đắn hay chân thành đến đâu. Nếu điều đó xảy ra, thiện chí sẽ bị chuyển hướng thành một nỗ lực phe phái. Những người thiện chí đứng ở điểm giữa giữa các nhóm đối lập, nơi nào có các nhóm như thế, nhằm tạo ra một tình trạng trong đó thảo luận và thỏa hiệp có thể trở nên khả thi một cách tốt đẹp. Họ liên tục bước trên “con đường trung đạo cao quý” của Đức Phật, chạy giữa các cặp đối cực, thẳng đến chính trái tim của Thượng đế; họ bước trên “con đường hẹp” của tình thương mà Đức Christ đã nói đến, và họ cho thấy họ đang bước trên con đường ấy bằng một biểu hiện của phương diện duy nhất của tình thương mà nhân loại hiện nay có thể thấu hiểu: Thiện chí.

When goodwill is expressed and organized, recognized and used, world problems, no matter what they may be, will in due time reach solution; when goodwill is a true and active factor in human affairs, we shall then pass on to a fuller and richer understanding of the nature of love and to an expression of some still higher [121] aspect of that divine love; when goodwill is widespread among men, we shall see the establishing of right human relations and a new spirit of confidence, trust and understanding will be found in mankind.

Khi thiện chí được biểu hiện và tổ chức, được nhận biết và sử dụng, các vấn đề thế giới, bất kể là gì, theo thời gian sẽ đạt đến giải pháp; khi thiện chí là một yếu tố chân thật và năng động trong các công việc của con người, khi ấy chúng ta sẽ tiến tới một sự thấu hiểu đầy đủ và phong phú hơn về bản chất của tình thương, và tới một biểu hiện của một phương diện còn cao hơn nữa [121] của tình thương thiêng liêng ấy; khi thiện chí lan rộng trong nhân loại, chúng ta sẽ thấy việc thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người, và một tinh thần mới của lòng tin, sự tín nhiệm và sự thấu hiểu sẽ được tìm thấy trong nhân loại.

Men and women of goodwill exist in every nation and in all parts of the world in their innumerable thousands. Let these be found, reached and put in touch with each other; let them be set to work to create a right atmosphere in world affairs and in their own communities; let them know that associated they are omnipotent and that they can so educate and train public opinion that the world attitude to world problems will be right and correct and in line with the divine plan; let them realize that the solutions of the critical problems with which humanity is faced at the portal of the New Age will not be found by deciding upon some line of action and forcing it on public attention by propaganda and by campaigning. It will come by advocating and developing a spirit of goodwill (with its results: a right atmosphere and a sound attitude) and an understanding heart.

Những người nam và nữ thiện chí hiện hữu trong mọi quốc gia và ở mọi phần của thế giới, với vô số hàng nghìn người. Hãy để họ được tìm thấy, được tiếp cận và được đặt trong liên hệ với nhau; hãy để họ được đưa vào công việc tạo nên một bầu không khí đúng đắn trong các công việc thế giới và trong chính cộng đồng của họ; hãy để họ biết rằng khi liên kết với nhau, họ là toàn năng, và họ có thể giáo dục và rèn luyện dư luận công chúng đến mức thái độ của thế giới đối với các vấn đề thế giới sẽ đúng đắn, chính xác và phù hợp với Thiên Cơ; hãy để họ nhận ra rằng các giải pháp cho những vấn đề nguy kịch mà nhân loại đang đối diện tại ngưỡng cửa Kỷ Nguyên Mới sẽ không được tìm thấy bằng cách quyết định một đường lối hành động nào đó rồi áp đặt nó lên sự chú ý của công chúng bằng tuyên truyền và vận động. Nó sẽ đến bằng việc bênh vực và phát triển một tinh thần thiện chí, cùng các kết quả của nó: một bầu không khí đúng đắn và một thái độ lành mạnh, và một trái tim thấu hiểu.

The Christian era was ushered in by a mere handful of men, the twelve Apostles, the seventy disciples and the five hundred who recognized the message of the Christ. The new era in which Christ will “see of the travail of His soul and be satisfied”, is being ushered in by the hundreds of thousands of the men of goodwill now active in the world and who can become still more active if recognized, reached and organized.

Kỷ nguyên Cơ Đốc đã được mở đầu bởi chỉ một nhóm nhỏ người: mười hai Tông đồ, bảy mươi đệ tử và năm trăm người đã nhận ra thông điệp của Đức Christ. Kỷ nguyên mới, trong đó Đức Christ sẽ “nhìn thấy công khó của linh hồn Ngài và được thỏa lòng”, đang được mở đầu bởi hàng trăm nghìn người thiện chí hiện đang hoạt động trên thế giới và có thể trở nên còn năng động hơn nữa nếu được nhận biết, được tiếp cận và được tổ chức.