CHAPTER 5 - THE PROBLEM OF THE CHURCHES – CHƯƠNG 5 - VẤN ĐỀ CỦA CÁC GIÁO HỘI
[122] The title of this chapter is not called the problem of religion but simply the problem of those people and organizations who attempt to teach religion, who claim to represent the spiritual life, to direct the spiritual approach of the human soul to God and to lay down the rules for the spiritual life. In writing on this theme we are treading on dangerous ground.
[122] Tựa đề của chương này không được gọi là vấn đề của tôn giáo, mà đơn giản là vấn đề của những người và tổ chức đang cố gắng giảng dạy tôn giáo, tuyên bố đại diện cho đời sống tinh thần, hướng dẫn sự tiếp cận tinh thần của linh hồn con người đến Thượng đế và đặt ra các quy luật cho đời sống tinh thần. Khi viết về chủ đề này, chúng ta đang bước trên một vùng đất nguy hiểm.
There is no justifiable quarrel with the religious spirit; it exists and is essential to a full and true life on earth. We can recognize the timelessness of faith and the witness of the Spirit, down countless ages, to the fact of God. Christ lives and guides the people of the world and He does this not from any vague or distant centre called the “right hand of God” (a symbolic phrase), but from close at hand and near to humanity whom He eternally loves. When He said, “Lo, I am with you all the days, even unto the end of the world”, He meant exactly what He said. The approach of the human Spirit to its Source, to that spiritual Centre where divinity rules and to those Who guide and direct that approach, will inevitably go on; the way stands eternally open to pilgrims and all such pilgrims, all souls, find their way eventually into the Father’s Home.
Không có sự tranh cãi chính đáng nào với tinh thần tôn giáo; nó hiện hữu và thiết yếu cho một đời sống trọn vẹn và chân thật trên Trái Đất. Chúng ta có thể nhận ra tính vượt thời gian của đức tin và chứng ngôn của Tinh thần, qua vô số thời đại, về sự thật của Thượng đế. Đức Christ đang sống và hướng dẫn các dân tộc trên thế giới, và Ngài làm điều này không từ một trung tâm mơ hồ hay xa xôi nào gọi là “bên hữu Thượng đế”, một cụm từ biểu tượng, mà từ rất gần và kề cận nhân loại, những người Ngài yêu thương vĩnh cửu. Khi Ngài nói: “Này, Ta ở cùng các ngươi mọi ngày, cho đến tận thế”, Ngài muốn nói đúng điều Ngài đã nói. Sự tiếp cận của Tinh thần con người đến Nguồn Cội của nó, đến Trung Tâm tinh thần nơi thiên tính cai quản, và đến Những Đấng hướng dẫn và chỉ đạo sự tiếp cận ấy, tất yếu sẽ tiếp diễn; con đường vẫn vĩnh viễn rộng mở cho những người hành hương, và tất cả những người hành hương như thế, tất cả các linh hồn, cuối cùng đều tìm thấy đường vào Nhà của Cha.
The fact of God, the fact of Christ, the fact of men’s spiritual approach to divinity, the fact of the deathlessness of the Spirit, the fact of spiritual opportunity and the fact of man’s relation to God and to his fellowmen—upon these we can take our stand. We should emphasize [123] also the evolutionary presentation of truth and its constant adaptation to the need of humanity at any given period in history.
Sự thật của Thượng đế, sự thật của Đức Christ, sự thật về sự tiếp cận tinh thần của con người đến thiên tính, sự thật về tính bất tử của Tinh thần, sự thật về cơ hội tinh thần và sự thật về mối liên hệ của con người với Thượng đế và với đồng loại của y — trên những điều này chúng ta có thể đứng vững. Chúng ta cũng nên nhấn mạnh [123] sự trình bày chân lý theo tiến hóa và sự thích ứng liên tục của nó với nhu cầu của nhân loại trong bất kỳ thời kỳ nào của lịch sử.
Christianity is an expression—in essence, if not yet factually—of the love of God, immanent in His created universe. Churchianity has, however, laid itself open to attack and the mass of thinking people know this; unfortunately, these thinking people are a small minority.
Cơ Đốc giáo là một biểu hiện — về bản chất, nếu chưa phải trên thực tế — của tình thương của Thượng đế, nội tại trong vũ trụ do Ngài sáng tạo. Tuy nhiên, chủ nghĩa giáo hội đã tự mở mình cho sự công kích, và khối đông những người biết suy nghĩ hiểu điều này; đáng tiếc, những người biết suy nghĩ ấy là một thiểu số nhỏ.
For the sake of clarity and in order that the outline of the facts and of the potentialities may emerge clearly, we will divide this subject into the following sections, beginning with the most unpleasant and controversial and ending on a note of hope, of purpose and of vision.
Vì sự rõ ràng và để phác thảo các sự kiện cùng các tiềm năng có thể hiện ra minh bạch, chúng ta sẽ chia chủ đề này thành các phần sau đây, bắt đầu với phần khó chịu và gây tranh cãi nhất, và kết thúc bằng một âm điệu của hy vọng, mục đích và tầm nhìn.
I. The Failure of the Churches. Would you, in all truthfulness and in the light of world events, say that the churches had succeeded?
I. Sự Thất Bại của các Giáo Hội. Các bạn có thật lòng, và trong ánh sáng của các biến cố thế giới, nói rằng các giáo hội đã thành công không?
II. The Opportunity of the Churches. Do they recognize it?
II. Cơ Hội của các Giáo Hội. Họ có nhận ra nó không?
III. The Essential Truths which Humanity needs and intuitively accepts. What are they?
III. Những Chân Lý Cốt Yếu mà Nhân Loại cần và trực giác chấp nhận. Chúng là gì?
IV. The Regeneration of the Churches. Is it possible?
IV. Sự Tái Sinh của các Giáo Hội. Điều đó có thể không?
V. The New World Religion.
V. Tôn Giáo Thế Giới Mới.
Today the immediate need of mankind is emerging with clarity, and the steps which the churches propose taking to meet that need are also becoming clear. It seems essential, therefore, that we face the situation exactly as it is and that we isolate those truths which are essential to man’s progress and enlightenment and eliminate factors which are controversial and unimportant; it is necessary also that we define the way of salvation which the churches should follow; if the churches are working and the churchmen are thinking in a Christlike way, then the salvation of humanity is assured. It is above all else essential that a vision is [124] presented which will be a vision for all men everywhere and not simply a beautiful hope of a sectarian group or a fanatical self-satisfied organization. It is essential that we return to Christ and to His message and to the way of life exemplified by Him.
Ngày nay, nhu cầu tức thời của nhân loại đang hiện ra rõ ràng, và những bước mà các giáo hội đề nghị thực hiện để đáp ứng nhu cầu ấy cũng đang trở nên rõ ràng. Vì vậy, dường như điều thiết yếu là chúng ta phải đối diện tình thế đúng như nó là, và phải tách riêng những chân lý thiết yếu cho sự tiến bộ và giác ngộ của con người, đồng thời loại bỏ các yếu tố gây tranh cãi và không quan trọng; cũng cần thiết là chúng ta định rõ con đường cứu rỗi mà các giáo hội nên theo; nếu các giáo hội đang làm việc và các giáo sĩ đang suy nghĩ theo cách của Đức Christ, thì sự cứu rỗi của nhân loại được bảo đảm. Trên hết mọi sự, điều thiết yếu là một tầm nhìn [124] được trình bày, tầm nhìn ấy sẽ là tầm nhìn cho mọi người ở khắp nơi chứ không chỉ là một hy vọng đẹp đẽ của một nhóm giáo phái hay một tổ chức cuồng tín tự mãn. Điều thiết yếu là chúng ta trở về với Đức Christ, với thông điệp của Ngài và với lối sống mà Ngài đã nêu gương.
Churchmen need to remember that the human spirit is greater than the churches and greater than their teaching. In the long run, that human spirit will defeat them and proceed triumphantly into the kingdom of God, leaving them far behind unless they enter as an humble part of the mass of men. Pompous prelates and executive ecclesiastics have no part in that kingdom. Christ does not need prelates and executives. He needs humble teachers of the truth able to exemplify the spiritual life. Nothing under heaven can arrest the progress of the human soul on its long pilgrimage from darkness to light, from the unreal to the real, from death to immortality and from ignorance to wisdom. If the great organized religious groups of churches in every land and composing all faiths do not offer spiritual guidance and help, humanity will find another way. Nothing can keep the spirit of man from God.
Các giáo sĩ cần nhớ rằng tinh thần con người lớn hơn các giáo hội và lớn hơn giáo huấn của họ. Về lâu dài, tinh thần con người ấy sẽ đánh bại họ và tiến bước khải hoàn vào Thiên Giới, bỏ họ lại rất xa phía sau trừ khi họ bước vào như một phần khiêm nhường của khối đông nhân loại. Các giáo phẩm phô trương và những nhà điều hành giáo hội không có phần trong giới ấy. Đức Christ không cần các giáo phẩm và những nhà điều hành. Ngài cần những huấn sư khiêm nhường của chân lý, có khả năng nêu gương đời sống tinh thần. Không gì dưới trời có thể ngăn chặn sự tiến bộ của linh hồn con người trên cuộc hành hương dài của nó từ bóng tối đến ánh sáng, từ điều không thực đến điều thực, từ cái chết đến bất tử và từ vô minh đến minh triết. Nếu các nhóm tôn giáo có tổ chức lớn của các giáo hội trong mọi xứ sở và bao gồm mọi tín ngưỡng không cung ứng sự hướng dẫn và trợ giúp tinh thần, nhân loại sẽ tìm một con đường khác. Không gì có thể giữ tinh thần con người xa khỏi Thượng đế.
I. THE FAILURE OF THE CHURCHES
I. SỰ THẤT BẠI CỦA CÁC GIÁO HỘI
Let us remember: Christ has not failed. It is the human element which has failed and which has thwarted His intentions, and prostituted the truth which He presented. Theology, dogma, doctrine, materialism, politics and money have created a vast dark cloud between the churches and God; they have shut out the true vision of God’s love, and it is to this vision of a loving reality and to a vital recognition of its implications that we must return.
Chúng ta hãy nhớ: Đức Christ đã không thất bại. Chính yếu tố con người đã thất bại, đã cản trở các ý định của Ngài và làm sa đọa chân lý mà Ngài đã trình bày. Thần học, tín điều, giáo lý, chủ nghĩa vật chất, chính trị và tiền bạc đã tạo ra một đám mây đen khổng lồ giữa các giáo hội và Thượng đế; chúng đã che khuất tầm nhìn chân thật về tình thương của Thượng đế, và chính về tầm nhìn này của một thực tại đầy yêu thương, cũng như về một sự nhận biết sống động các hàm ý của nó, mà chúng ta phải trở lại.
Is there any chance that a renewal of the faith as it was in Christ will return? Are there enough men of vision in the churches to save the day—a vision of [125] meeting the need of man and not a vision of the growth and aggrandizement of the churches? Such men do exist in every religious organization, but they are deplorably few. Even if united (which seems as yet sadly impossible because of doctrinal differences), they present a somewhat futile group versus the organized power, the materialistic splendour, the vested interests and the fanatical determination of the reactionary ecclesiastics of all faiths. It is usually the struggling minority (in this case the spiritually-minded few) who guard the true vision and finally bring it into being; they are the ones who walk the torrid, unhappy streets with agonizing humanity and who, therefore, recognize in an acute sense the need for the regeneration of the churches.
Liệu có cơ hội nào để một sự phục hưng đức tin như đã có trong Đức Christ sẽ trở lại không? Có đủ những người có tầm nhìn trong các giáo hội để cứu vãn tình thế không — một tầm nhìn [125] về việc đáp ứng nhu cầu của con người chứ không phải một tầm nhìn về sự tăng trưởng và sự phóng đại quyền thế của các giáo hội? Những người như thế quả thật có hiện hữu trong mọi tổ chức tôn giáo, nhưng họ ít ỏi một cách đáng buồn. Ngay cả nếu hợp nhất, điều cho đến nay vẫn có vẻ đáng buồn là không thể vì các khác biệt giáo lý, họ cũng chỉ là một nhóm hơi bất lực trước quyền lực có tổ chức, vẻ huy hoàng vật chất, các quyền lợi cố hữu và quyết tâm cuồng tín của các giáo sĩ phản động thuộc mọi tín ngưỡng. Thường chính thiểu số đang đấu tranh, trong trường hợp này là một ít người có khuynh hướng tinh thần, gìn giữ tầm nhìn chân thật và cuối cùng đưa nó vào hiện hữu; họ là những người bước đi trên các đường phố nóng bỏng, bất hạnh cùng nhân loại đau đớn, và do đó nhận ra một cách sâu sắc nhu cầu tái sinh các giáo hội.
Our religious platforms, our pulpits, and our religious periodicals and magazines are full of appeals for men to turn again to God and to find in religion a way out of the present chaotic conditions. Yet, humanity has never before been so spiritually inclined or so consciously and definitely oriented to the spiritual values and to the need for spiritual revaluations and realizations. The appeals going out should be made to the church leaders and to the ecclesiastics of all faiths and to church workers everywhere; it is they who should return to the simplicity of the faith as it is in Christ. It is they who need regeneration. Men are everywhere demanding light. Who is to give it to them?
Các diễn đàn tôn giáo, giảng đài của chúng ta, cùng các tạp chí và báo chí tôn giáo của chúng ta đầy những lời kêu gọi con người quay lại với Thượng đế và tìm trong tôn giáo một lối thoát khỏi các tình trạng hỗn loạn hiện nay. Tuy nhiên, nhân loại chưa bao giờ trước đây lại có khuynh hướng tinh thần nhiều đến thế, hoặc được định hướng một cách có ý thức và xác định đến thế đối với các giá trị tinh thần và nhu cầu về những sự tái định giá và chứng nghiệm tinh thần. Những lời kêu gọi đang phát ra nên được gửi đến các nhà lãnh đạo giáo hội, các giáo sĩ của mọi tín ngưỡng và những người hoạt động trong giáo hội ở khắp nơi; chính họ là những người nên trở về với sự đơn giản của đức tin như nó hiện hữu trong Đức Christ. Chính họ là những người cần tái sinh. Con người ở khắp nơi đang đòi hỏi ánh sáng. Ai sẽ trao ánh sáng ấy cho họ?
There are two major factors which are responsible for the failure of the churches:
Có hai yếu tố chính chịu trách nhiệm cho sự thất bại của các giáo hội:
1. Narrow theological interpretations of the Scriptures.
1. Những diễn giải thần học hẹp hòi về Kinh Thánh.
2. Material and political ambitions.
2. Những tham vọng vật chất và chính trị.
In every land down the ages men have sought to foist their personal, religious interpretations of truth, of [126] the Scriptures and of God upon the mass of men. They have taken the Bibles of the world and have attempted to explain them, passing the ideas they find through the filter of their own minds and brains and in the process inevitably stepping down the meaning. Not content with this, their followers have forced these man-evolved interpretations upon the unthinking and the ignorant. Every religion—Buddhism, Hinduism in its many aspects, Mohammedanism and Christianity—has produced a flock of outstanding minds who have sought (usually quite sincerely) to understand what God is supposed to have said, who have formulated doctrines and dogmas on this basis of what they thought God meant and their words and ideas have, therefore, become religious law and the irrefutable truths of countless millions. In the last analysis, what have you? The ideas of some human mind—interpreted in terms of his period, tradition and background—about what God said in some Scripture which has been subjected during the centuries to the difficulties and the mistakes incident to constant translation—a translation often based on oral teaching.
Trong mọi xứ sở qua các thời đại, con người đã tìm cách áp đặt các diễn giải cá nhân và tôn giáo của mình về chân lý, về [126] Kinh Thánh và về Thượng đế lên khối đông nhân loại. Họ đã lấy các Kinh Thánh của thế giới và cố gắng giải thích chúng, đưa các ý tưởng họ tìm thấy qua bộ lọc của chính thể trí và bộ não mình, và trong tiến trình ấy tất yếu làm hạ thấp ý nghĩa. Không hài lòng với điều này, những người theo họ đã áp đặt các diễn giải do con người tạo ra ấy lên những người không suy nghĩ và vô minh. Mọi tôn giáo — Phật giáo, Ấn giáo trong nhiều phương diện của nó, Hồi giáo và Cơ Đốc giáo — đều đã sản sinh một đoàn những trí tuệ nổi bật, những người đã tìm cách, thường là khá chân thành, thấu hiểu điều được cho là Thượng đế đã nói, đã hình thành các giáo lý và tín điều trên cơ sở điều họ nghĩ Thượng đế muốn nói, và do đó lời nói cùng ý tưởng của họ đã trở thành luật tôn giáo và những chân lý không thể bác bỏ của vô số triệu người. Xét đến cùng, các bạn có gì? Các ý tưởng của một trí con người nào đó, được diễn giải theo thời kỳ, truyền thống và bối cảnh của y, về điều Thượng đế đã nói trong một Kinh Thánh nào đó vốn trong nhiều thế kỷ đã chịu các khó khăn và sai lầm gắn liền với việc dịch thuật liên tục, một sự dịch thuật thường dựa trên giáo huấn truyền khẩu.
The doctrine of the verbal inspiration of the Scriptures of the world (deemed particularly applicable to the Christian Bible) is today completely exploded and with it the infallibility of interpretation; all the world Scriptures are now seen to be based on poor translations and no part of them—after thousands of years of translation—is as it originally was, if it ever existed as an original manuscript and was not in reality some man’s recollection of what was said. At the same time, it must be remembered that the general trend and the basic teaching, as well as the significance of the symbols, is usually correct, though again, symbolism itself must be subjected to modern translation and not to the misinterpretation of ignorance. The point is that dogmas [127] and doctrines, theology and dogmatic affirmations, do not necessarily indicate the truth as it exists in the mind of God, with Whose mind the majority of dogmatic interpreters claim familiarity. Theology is simply what men think is in the mind of God.
Giáo lý về sự linh hứng từng lời của các Kinh Thánh thế giới, được xem là đặc biệt áp dụng cho Kinh Thánh Cơ Đốc, ngày nay đã hoàn toàn bị phá vỡ, và cùng với nó là tính không thể sai lầm của việc diễn giải; mọi Kinh Thánh thế giới hiện nay được thấy là dựa trên các bản dịch kém, và không phần nào trong chúng, sau hàng nghìn năm dịch thuật, còn như nguyên thủy, nếu chúng từng hiện hữu như một bản thảo nguyên thủy chứ không phải trong thực tế là ký ức của một người nào đó về điều đã được nói. Đồng thời, cần nhớ rằng xu hướng chung và giáo huấn căn bản, cũng như thâm nghĩa của các biểu tượng, thường là đúng, dù một lần nữa, chính biểu tượng cũng phải được đặt dưới sự dịch thuật hiện đại chứ không phải dưới sự diễn giải sai lầm của vô minh. Điểm cốt yếu là các tín điều [127] và giáo lý, thần học và các xác quyết tín điều, không nhất thiết chỉ ra chân lý như nó hiện hữu trong trí của Thượng đế, với trí của Ngài mà đa số những nhà diễn giải tín điều tuyên bố là quen thuộc. Thần học đơn giản là điều con người nghĩ đang có trong trí của Thượng đế.
The more ancient the Scripture, the greater, necessarily, the distortion. The doctrine of a vengeful God, the doctrine of retribution in some mythical hell, the teaching that God only loves those who interpret Him in terms of some particular school of theological thought, the symbolism of the blood sacrifice, the appropriation of the Cross as a Christian symbol, the teaching about the Virgin Birth and the picture of an angry Deity only appeased by death are the unhappy results of man’s own thinking, of his own lower nature, of his sectarian isolationism (fostered by the Jewish Old Testament, but not generally found in the Oriental faiths) and of his sense of fear, inherited from the animal side of his nature—all these are fostered and inculcated by theology but not by Christ, or the Buddha or Shri Krishna.
Kinh Thánh càng cổ xưa thì sự biến dạng tất yếu càng lớn. Giáo lý về một Thượng đế báo thù, giáo lý về sự trừng phạt trong một địa ngục huyền thoại nào đó, giáo huấn rằng Thượng đế chỉ yêu những ai diễn giải Ngài theo một trường phái tư tưởng thần học đặc thù nào đó, biểu tượng của hy sinh bằng máu, việc chiếm hữu Thập Giá như một biểu tượng Cơ Đốc, giáo huấn về Sự Sinh Nở Đồng Trinh và hình ảnh về một Thượng Đế giận dữ chỉ được xoa dịu bằng cái chết, là những kết quả đáng buồn của chính tư tưởng con người, của bản chất thấp của y, của chủ nghĩa biệt lập giáo phái nơi y, được nuôi dưỡng bởi Cựu Ước Do Thái nhưng nói chung không thấy trong các tín ngưỡng Đông phương, và của cảm thức sợ hãi nơi y, được thừa hưởng từ phía thú tính trong bản chất y — tất cả những điều này được thần học nuôi dưỡng và nhồi nhét, nhưng không phải bởi Đức Christ, Đức Phật hay Shri Krishna.
The little minds of men at their past and present stages of evolution cannot today and never have comprehended the mind and the purposes of the One in Whom we live and move and have our being; they have interpreted God in terms of themselves; therefore when men unthinkingly accept a dogma, they are only accepting the point of view of some other fallible human being, and are not accepting a divine truth at all. It is this truth that theological seminaries must begin to teach, training their men to think for themselves and to remember that the key to truth lies in the unifying power of Comparative Religion. Only those principles and truths which are universally recognized and which find their place in every religion are truly necessary to salvation. The secondary and controversial line of presented [128] truths is usually unnecessary or significant only in so far as it buttresses the primary and essential truth.
Những trí tuệ nhỏ bé của con người ở các giai đoạn tiến hóa quá khứ và hiện tại của họ ngày nay không thể, và chưa bao giờ, lĩnh hội được trí và các mục đích của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu; họ đã diễn giải Thượng đế theo chính họ; do đó, khi con người chấp nhận một tín điều một cách không suy nghĩ, họ chỉ đang chấp nhận quan điểm của một con người sai lầm khác, chứ hoàn toàn không chấp nhận một chân lý thiêng liêng. Chính chân lý này mà các chủng viện thần học phải bắt đầu giảng dạy, rèn luyện người của họ biết tự suy nghĩ và nhớ rằng chìa khóa của chân lý nằm trong quyền năng hợp nhất của Tôn Giáo So Sánh. Chỉ những nguyên lý và chân lý nào được công nhận phổ quát và tìm thấy vị trí của mình trong mọi tôn giáo mới thật sự cần thiết cho sự cứu rỗi. Dòng chân lý thứ yếu và gây tranh cãi được trình bày [128] thường là không cần thiết hoặc chỉ có thâm nghĩa trong chừng mực nó củng cố chân lý sơ cấp và thiết yếu.
It is this distorted presentation of truth which has led humanity to the formulation of a body of doctrines about which Christ apparently knew nothing. Christ cared only that men should recognize that God is love, that all men are the children of the one Father and, therefore, brothers; that man’s spirit is eternal and that there is no death; He longed that the Christ within every man (the innate Christ consciousness which makes us one with each other and with Christ) should flower forth in all its glory; He taught that service was the keynote of the spiritual life and that the will of God would be revealed. These are not the points about which the mass of commentators have written. They have discussed ad nauseam how far Christ was divine and how far He was human, the nature of the Virgin Birth, the function of St. Paul as a teacher of Christian truth, the nature of hell, salvation through blood, and the authenticity and historicity of the Bible.
Chính sự trình bày chân lý bị bóp méo này đã dẫn nhân loại đến việc hình thành một tập hợp giáo lý mà dường như Đức Christ không hề biết gì. Đức Christ chỉ quan tâm rằng con người nên nhận ra Thượng đế là tình thương, rằng mọi người là con của cùng một Cha và do đó là anh em; rằng tinh thần của con người là vĩnh cửu và không có cái chết; Ngài khát mong rằng Đức Christ bên trong mỗi người, tức tâm thức Christ bẩm sinh khiến chúng ta hợp nhất với nhau và với Đức Christ, sẽ nở hoa trong toàn bộ vinh quang của nó; Ngài dạy rằng phụng sự là chủ âm của đời sống tinh thần và rằng Ý Chí của Thượng Đế sẽ được mặc khải. Đây không phải là những điểm mà khối đông các nhà chú giải đã viết đến. Họ đã bàn luận đến mức buồn nôn về việc Đức Christ thiêng liêng đến đâu và nhân tính đến đâu, bản chất của Sự Sinh Nở Đồng Trinh, chức năng của Thánh Phao-lô như một huấn sư của chân lý Cơ Đốc, bản chất của địa ngục, sự cứu rỗi qua máu, và tính xác thực cùng tính lịch sử của Kinh Thánh.
Today men’s minds are recognizing the dawn of freedom; they are realizing that every man should be free to worship God in his own way. This will not mean (in the coming new age) that every man will pick a theological school to which he will choose to adhere. His own God-illumined mind will search for truth and he will interpret it for himself. The day of theology is over and that of a living truth is with us. This the orthodox churches refuse to recognize. Truth is essentially non-controversial; where controversy emerges, the concept is usually secondary in importance and consists largely of men’s ideas about truth.
Ngày nay trí con người đang nhận ra bình minh của tự do; họ đang nhận ra rằng mỗi người nên được tự do thờ phượng Thượng đế theo cách riêng của mình. Điều này sẽ không có nghĩa là, trong kỷ nguyên mới sắp đến, mỗi người sẽ chọn một trường phái thần học mà y quyết định bám theo. Trí của chính y, được Thượng đế soi sáng, sẽ tìm kiếm chân lý và y sẽ tự diễn giải nó cho mình. Thời đại của thần học đã qua, và thời đại của một chân lý sống động đang ở với chúng ta. Điều này các giáo hội chính thống từ chối nhận ra. Chân lý về bản chất là không gây tranh cãi; nơi nào tranh cãi xuất hiện, khái niệm ấy thường có tầm quan trọng thứ yếu và phần lớn gồm các ý tưởng của con người về chân lý.
Men have gone far today in the rejection of dogmas and doctrine and this is good and right and encouraging. It signifies progress, but, as yet, the churches fail to see in this the workings of divinity. Freedom of [129] thought, the questioning of presented truths, a refusal to accept the teachings of the churches in terms of the past theology, and a rejection of imposed ecclesiastical authority are characteristic of creative spiritual thinking at this time; this is regarded by orthodox churchmen as indicative of dangerous tendencies and as a turning away from God and, consequently, of a loss of the sense of divinity. It indicates exactly the reverse.
Ngày nay con người đã đi xa trong việc bác bỏ các tín điều và giáo lý, và điều này là tốt, đúng đắn và đáng khích lệ. Nó biểu thị tiến bộ, nhưng cho đến nay các giáo hội không thấy trong điều này hoạt động của thiên tính. Tự do [129] tư tưởng, việc chất vấn các chân lý được trình bày, sự từ chối chấp nhận các giáo huấn của giáo hội theo thần học quá khứ, và sự bác bỏ thẩm quyền giáo hội bị áp đặt là đặc trưng của tư duy tinh thần sáng tạo vào lúc này; điều này bị các giáo sĩ chính thống xem là dấu hiệu của các khuynh hướng nguy hiểm và là sự quay lưng khỏi Thượng đế, và do đó là sự mất đi cảm thức về thiên tính. Nó chỉ ra đúng điều ngược lại.
Perhaps as serious, because of its effect upon untold thousands of the more ignorant public, are the materialistic and political ambitions of the churches. In the Eastern faiths this is not so prominently the case; in the Western world this tendency is fast bringing on the degeneration of the churches. In the Oriental religions a disastrous negativity has prevailed; the truths given out have not sufficed to better the daily life of the believer or to anchor the truths creatively upon the physical plane. The effect of the Eastern doctrines is largely subjective and negative as to daily affairs. The negativity of the theological interpretations of the Buddhist and Hindu Scriptures have kept the people in a quiescent condition from which they are slowly beginning to emerge. The Mohammedan faith is, like the Christian, a positive presentation of truth though very materialistic; both these faiths have been militant and political in their activities.
Có lẽ cũng nghiêm trọng không kém, vì tác động của nó lên vô số hàng nghìn người trong công chúng kém hiểu biết hơn, là các tham vọng vật chất và chính trị của các giáo hội. Trong các tín ngưỡng Đông phương, điều này không nổi bật như vậy; trong thế giới Tây phương, khuynh hướng này đang nhanh chóng đưa đến sự thoái hóa của các giáo hội. Trong các tôn giáo Đông phương, một tính tiêu cực tai hại đã thắng thế; các chân lý được trao ra đã không đủ để cải thiện đời sống hằng ngày của tín đồ hoặc để neo giữ các chân lý một cách sáng tạo trên cõi hồng trần. Tác động của các giáo lý Đông phương phần lớn là chủ quan và tiêu cực đối với các công việc hằng ngày. Tính tiêu cực của các diễn giải thần học về Kinh Thánh Phật giáo và Ấn giáo đã giữ dân chúng trong một tình trạng yên lặng thụ động, từ đó họ đang chậm rãi bắt đầu xuất hiện. Tín ngưỡng Hồi giáo, giống như Cơ Đốc giáo, là một sự trình bày chân lý tích cực dù rất vật chất; cả hai tín ngưỡng này đều mang tính chiến đấu và chính trị trong các hoạt động của chúng.
The great Western faith, Christianity, has been definitely objective in its presentation of truth; this was needed. It has been militant, fanatical, grossly materialistic and ambitious. It has combined political objectives with pomp and ceremony, with great stone structures, with power and an imposed authority of a most cramping nature.
Tín ngưỡng lớn của Tây phương, Cơ Đốc giáo, đã rõ ràng khách quan trong sự trình bày chân lý của mình; điều này là cần thiết. Nó đã mang tính chiến đấu, cuồng tín, hết sức vật chất và đầy tham vọng. Nó đã kết hợp các mục tiêu chính trị với sự phô trương và nghi lễ, với những công trình đá đồ sộ, với quyền lực và một thẩm quyền áp đặt thuộc loại hết sức bóp nghẹt.
The early Christian Church (which was relatively pure in its presentation of truth and in its living processes) eventually split into three main divisions—[130] the Roman Catholic Church which today seeks to make capital out of the claim that it was the Mother Church, the Byzantine or Greek Orthodox Church and the Protestant Churches. All of them split away on the question of doctrine and all of them were originally sincere and clean and relatively pure and good. All have steadily deteriorated since the day of their inception and today the following sad and serious situation can be found:
Giáo Hội Cơ Đốc sơ khai, vốn tương đối trong sạch trong sự trình bày chân lý và trong các tiến trình sống động của mình, cuối cùng đã chia thành ba bộ phận chính — [130] Giáo Hội Công Giáo La Mã, ngày nay tìm cách khai thác tuyên bố rằng mình là Giáo Hội Mẹ, Giáo Hội Byzantium hay Chính Thống Hy Lạp, và các Giáo Hội Tin Lành. Tất cả đều tách ra trên vấn đề giáo lý, và tất cả lúc ban đầu đều chân thành, trong sạch, tương đối thuần khiết và tốt đẹp. Tất cả đã suy thoái đều đặn kể từ ngày khởi đầu của mình, và ngày nay có thể thấy tình trạng đáng buồn và nghiêm trọng sau đây:
1. The Roman Catholic Church is distinguished by three things which are all contrary to the spirit of Christ:
1. Giáo Hội Công Giáo La Mã được phân biệt bởi ba điều, tất cả đều trái với tinh thần của Đức Christ:
a. An intensely materialistic attitude. The Church of Rome stands for great stone structures—cathedrals, churches, institutions, convents, monasteries. In order to build them, the policy down the centuries has been to drain the money out of the pockets of rich and poor alike. The Roman Catholic Church is a strictly capitalistic church. The money gathered into its coffers supports a powerful ecclesiastical hierarchy and provides for its many institutions and schools.
a. Một thái độ hết sức vật chất. Giáo Hội La Mã đại diện cho các công trình đá đồ sộ — các nhà thờ chính tòa, nhà thờ, định chế, tu viện nữ, tu viện nam. Để xây dựng chúng, chính sách qua nhiều thế kỷ là rút tiền khỏi túi người giàu lẫn người nghèo. Giáo Hội Công Giáo La Mã là một giáo hội tư bản chủ nghĩa nghiêm ngặt. Tiền bạc được thu vào kho quỹ của nó duy trì một hệ thống giáo phẩm đầy quyền lực và cung cấp cho nhiều định chế cùng trường học của nó.
b. A far-reaching and far-sighted political program in which temporal power is the goal and not the welfare of the little people. The present program of the Catholic Church has definite political implications; their attitude to Communism has in it the seeds of another world war. The political activities of the Catholic Church have not built for peace, no matter under what guise they are presented.
b. Một chương trình chính trị sâu rộng và nhìn xa, trong đó quyền lực thế tục là mục tiêu chứ không phải phúc lợi của những người nhỏ bé. Chương trình hiện tại của Giáo Hội Công Giáo có những hàm ý chính trị rõ rệt; thái độ của họ đối với Chủ nghĩa Cộng sản chứa trong nó các mầm mống của một cuộc chiến tranh thế giới khác. Các hoạt động chính trị của Giáo Hội Công Giáo đã không xây dựng cho hòa bình, bất kể chúng được trình bày dưới vỏ bọc nào.
c. A planned policy whereby the mass of the people are kept in intellectual ignorance and, through this ignorance, are naturally to be found among the reactionary and conservative forces which are so powerfully at work resisting the new age with its [131] new civilization and more enlightened culture. Blind faith and complete confidence in the priest and in the Vatican are regarded as spiritual duties.
c. Một chính sách được hoạch định, theo đó khối đông dân chúng bị giữ trong vô minh trí tuệ, và qua sự vô minh này, họ tự nhiên được tìm thấy trong hàng ngũ các lực lượng phản động và bảo thủ đang hoạt động mạnh mẽ để chống lại kỷ nguyên mới với [131] nền văn minh mới và nền văn hóa được khai sáng hơn của nó. Đức tin mù quáng và sự tin cậy hoàn toàn vào linh mục và Vatican được xem là các bổn phận tinh thần.
The Roman Catholic Church stands entrenched and unified against any new and evolutionary presentation of truth to the people; its roots are in the past but it is not growing into the light; its vast financial resources enable it to menace the future enlightenment of mankind under the cloak of paternalism and a colourful outer appearance which hides a crystallization and an intellectual stupidity which must inevitably spell its eventual doom, unless the faint stirrings of new life following the advent of Pope John XXIII can be nourished and developed.
Giáo Hội Công Giáo La Mã đứng cố thủ và thống nhất chống lại bất kỳ sự trình bày chân lý mới mẻ và tiến hóa nào cho dân chúng; rễ của nó nằm trong quá khứ nhưng nó không tăng trưởng vào ánh sáng; các nguồn tài chính khổng lồ của nó cho phép nó đe dọa sự khai sáng tương lai của nhân loại dưới chiếc áo choàng của chủ nghĩa gia trưởng và một vẻ ngoài đầy màu sắc che giấu một sự kết tinh và một sự ngu độn trí tuệ vốn tất yếu phải báo hiệu sự diệt vong cuối cùng của nó, trừ khi những khuấy động mờ nhạt của sự sống mới sau sự xuất hiện của Giáo hoàng Gioan XXIII có thể được nuôi dưỡng và phát triển.
2. The Greek Orthodox Church reached such a high stage of corruption, graft, greed and sexual evil that, temporarily and under the Russian revolution, it was abolished. This was a wise, needed and right action. The emphasis of this church was entirely material but it never wielded (nor will it wield) such power as the Roman Catholic Church did in the past. The refusal of the revolutionary party in Russia to recognize this corrupt church was wise and salutary; it did no harm, for the sense of God can never be driven from the human heart. If all church organizations disappeared from off the earth, the sense of God and the recognition and the knowledge of Christ would emerge in strength and with a fresh and new conviction. The church in Russia has again received official recognition and faces a new opportunity. It does not yet constitute a factor in world affairs but there is hope that eventually it may emerge as a regenerating and spiritual force. The challenge of its environment is great and it cannot be reactionary as can—and are—the churches in other parts of the world. [132]
2. Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp đã đạt đến một mức độ cao đến mức về thối nát, hối lộ, tham lam và tà vạy tính dục đến nỗi, tạm thời và dưới cuộc cách mạng Nga, nó đã bị bãi bỏ. Đây là một hành động minh triết, cần thiết và đúng đắn. Trọng tâm của giáo hội này hoàn toàn là vật chất, nhưng nó chưa bao giờ sử dụng, và sẽ không sử dụng, quyền lực như Giáo Hội Công Giáo La Mã đã làm trong quá khứ. Việc đảng cách mạng ở Nga từ chối công nhận giáo hội thối nát này là minh triết và hữu ích; nó không gây hại, vì cảm thức về Thượng đế không bao giờ có thể bị xua khỏi trái tim con người. Nếu tất cả các tổ chức giáo hội biến mất khỏi mặt đất, cảm thức về Thượng đế, cùng sự nhận biết và tri thức về Đức Christ, sẽ xuất hiện trong sức mạnh và với một xác tín tươi mới. Giáo hội ở Nga lại đã nhận được sự công nhận chính thức và đang đối diện một cơ hội mới. Nó chưa cấu thành một yếu tố trong các công việc thế giới, nhưng có hy vọng rằng cuối cùng nó có thể xuất hiện như một mãnh lực tái sinh và tinh thần. Thách thức của môi trường nó rất lớn, và nó không thể phản động như các giáo hội ở những phần khác của thế giới có thể, và đang, như vậy. [132]
3. The Protestant Churches. The church, covered by the generic name of “protestant”, is distinguished by its multiplicity of divisions; it is broad, narrow, liberal, radical and ever protesting. It comprises within its borders many churches, large and small. These churches are also distinguished by material objectives. They are relatively free from any such political bias as conditions the Roman Catholic Church, but it is a quarrelling, fanatical and intolerant body of believers. The spirit of differentiation is rampant; there is no unity or cohesion among them, but usually a constant spirit of rejection, a virulent partisanship and the growth of hundreds of protestant cults, a constant presentation of a narrow theology which teaches nothing new but produces fresh quarrelling around some doctrines or some question of church organization or procedure. The Protestant Churches have set a precedent of acrimonious controversy from which the older churches are relatively free, owing to their hierarchical method of government and their centralized authoritarian control. Again, however, the first efforts to achieve some form of unity and cooperation have recently emerged and may continue to grow.
3. Các Giáo Hội Tin Lành. Giáo hội được bao trùm bởi danh xưng chung “tin lành” được phân biệt bởi tính đa dạng của các phân phái; nó rộng rãi, hẹp hòi, tự do, cấp tiến và luôn phản kháng. Nó bao gồm trong phạm vi của mình nhiều giáo hội, lớn và nhỏ. Các giáo hội này cũng được phân biệt bởi các mục tiêu vật chất. Chúng tương đối thoát khỏi thiên kiến chính trị như thiên kiến đang tác động lên Giáo Hội Công Giáo La Mã, nhưng đó là một tập thể tín đồ hay cãi vã, cuồng tín và bất khoan dung. Tinh thần biến phân tràn lan; không có sự hợp nhất hay cố kết giữa họ, mà thường chỉ có một tinh thần bác bỏ liên tục, một chủ nghĩa phe phái độc hại và sự tăng trưởng của hàng trăm giáo phái tin lành, một sự trình bày thường xuyên về một thần học hẹp hòi không dạy điều gì mới nhưng tạo ra những cuộc tranh cãi mới quanh một vài giáo lý hoặc một vài vấn đề về tổ chức hay thủ tục giáo hội. Các Giáo Hội Tin Lành đã đặt một tiền lệ về tranh cãi cay độc mà các giáo hội cổ hơn tương đối thoát khỏi, nhờ phương pháp cai quản theo phẩm trật và sự kiểm soát quyền uy tập trung của họ. Tuy nhiên, một lần nữa, những nỗ lực đầu tiên nhằm đạt được một hình thức hợp nhất và hợp tác nào đó gần đây đã xuất hiện và có thể tiếp tục tăng trưởng.
The question arises whether Christ would be at home in the churches if He walked again among men. The rituals and the ceremonies, the pomp and the vestments, the candles and the gold and silver, the graded order of popes, cardinals, archbishops, canons and ordinary rectors, pastors and clergy would seemingly have small interest to the simple Son of God Who—when on earth—had nowhere to lay His head.
Câu hỏi nảy sinh là liệu Đức Christ có cảm thấy như ở nhà trong các giáo hội nếu Ngài lại bước đi giữa nhân loại hay không. Các nghi thức và nghi lễ, sự phô trương và lễ phục, nến và vàng bạc, trật tự cấp bậc của giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, kinh sĩ và các linh mục quản xứ, mục sư và giáo sĩ bình thường, dường như sẽ ít gây hứng thú cho Con của Thượng đế đơn sơ, Đấng — khi ở trên Trái Đất — không có nơi gối đầu.
There are deeply spiritual men whose lot is cast within the cramping walls of ecclesiasticism; they are many in the aggregate, and within all churches and faiths. Their lot is a difficult one; they are aware of conditions and they struggle and strive to present sound [133] Christian and religious ideas to a searching, suffering world. They are true sons of God; their feet are set in most unpleasant places; they are aware of the “dry rot” which has undermined the clerical structure and of the bigotry, selfishness, greed and narrow-mindedness with which they are surrounded.
Có những người sâu sắc về tinh thần mà số phận đặt họ trong các bức tường bóp nghẹt của chủ nghĩa giáo hội; xét toàn thể, họ rất đông và hiện diện trong mọi giáo hội và tín ngưỡng. Số phận của họ là khó khăn; họ ý thức về các tình trạng, và họ đấu tranh, nỗ lực để trình bày các ý tưởng Cơ Đốc và tôn giáo lành mạnh [133] cho một thế giới đang tìm kiếm và đau khổ. Họ là những người con chân thật của Thượng đế; chân họ đặt ở những nơi hết sức khó chịu; họ ý thức về “sự mục ruỗng âm thầm” đã làm suy yếu cơ cấu giáo sĩ, và về sự cố chấp, ích kỷ, tham lam và hẹp hòi bao quanh họ.
They know well that no man has ever been saved by theology but only by the living Christ and through the awakened consciousness of the Christ within each human heart; they interiorly repudiate the materialism in their environment and see little hope for humanity in the churches; they know well that the spiritual realities have been forgotten in the material development of the churches; they love their fellowmen and would like to divert the money spent in the upkeep of church structures and overhead to the creation of that Temple of God “not made with hands, eternal in the heavens”. They serve that spiritual Hierarchy which stands—unseen and serene—behind all human affairs and feel no inner allegiance to any outer ecclesiastical hierarchy. The guidance of the human being into conscious relation to Christ and that spiritual Hierarchy is to them the factor of major importance and not the increase of church attendance and the authority of little men. They believe in the Kingdom of God of which Christ is the outstanding Executive but have no confidence in the temporal power claimed and wielded by Popes and Archbishops.
Họ biết rõ rằng không ai từng được cứu rỗi bởi thần học, mà chỉ bởi Đức Christ sống động và qua tâm thức được đánh thức về Đức Christ trong mỗi trái tim con người; trong nội tâm, họ bác bỏ chủ nghĩa vật chất trong môi trường của mình và thấy ít hy vọng cho nhân loại nơi các giáo hội; họ biết rõ rằng các thực tại tinh thần đã bị lãng quên trong sự phát triển vật chất của các giáo hội; họ yêu đồng loại mình và muốn chuyển hướng tiền bạc dùng cho việc duy trì các cơ cấu giáo hội và chi phí vận hành sang việc tạo dựng Đền Thờ của Thượng đế “không do tay người làm nên, vĩnh cửu trên các tầng trời”. Họ phụng sự Huyền Giai Tinh Thần vốn đứng — vô hình và tĩnh lặng — đằng sau mọi công việc của con người, và không cảm thấy sự trung thành nội tâm nào với bất kỳ hệ thống giáo phẩm bên ngoài nào. Việc hướng dẫn con người vào mối liên hệ có ý thức với Đức Christ và Huyền Giai Tinh Thần ấy, đối với họ, là yếu tố có tầm quan trọng chủ yếu, chứ không phải sự gia tăng số người đi nhà thờ và thẩm quyền của những con người nhỏ bé. Họ tin vào Thiên Giới mà Đức Christ là Đấng Điều Hành nổi bật, nhưng không tin cậy vào quyền lực thế tục mà các Giáo hoàng và Tổng giám mục tuyên bố và sử dụng.
Such men are found in every great religious organization, both in the East and in the West and in all spiritual groups, dedicated ostensibly to spiritual purpose. They are simple, saintly men, asking nothing for the separated self, representing God in truth and in life, and having no real part in the church wherein they work; the church suffers sadly through the contrast which they represent and seldom permits them to rise to place [134] and power; their temporal power is nil but their spiritual example brings illumination and strength to their people. They are the hope of humanity for they are in touch with Christ and are an integral part of the Kingdom of God; they represent Deity in a manner which the great ecclesiastics and the so-called Princes of the Church seldom do.
Những người như thế được tìm thấy trong mọi tổ chức tôn giáo lớn, cả ở Đông phương lẫn Tây phương, và trong mọi nhóm tinh thần được hiến dâng, ít nhất trên danh nghĩa, cho mục đích tinh thần. Họ là những người đơn sơ, thánh thiện, không đòi hỏi gì cho cái ngã riêng biệt, đại diện cho Thượng đế trong chân lý và trong đời sống, và không thực sự có phần trong giáo hội nơi họ làm việc; giáo hội đau khổ nặng nề vì sự tương phản mà họ đại diện và hiếm khi cho phép họ vươn lên địa vị [134] và quyền lực; quyền lực thế tục của họ là con số không, nhưng gương sáng tinh thần của họ đem lại sự soi sáng và sức mạnh cho dân chúng của họ. Họ là niềm hy vọng của nhân loại vì họ tiếp xúc với Đức Christ và là một phần tích hợp của Thiên Giới; họ đại diện cho Thượng Đế theo một cách mà các giáo sĩ lớn và những người được gọi là các Ông Hoàng của Giáo Hội hiếm khi làm được.
II. THE OPPORTUNITY OF THE CHURCHES
II. CƠ HỘI CỦA CÁC GIÁO HỘI
Something of great moment has happened in the world. The spirit of destruction has stampeded through the earth, leaving the world of the past and the civilization which controlled our modern life in ruins. Cities and homes have been destroyed; kingdoms and rulers have disappeared in the aftermath of war; ideologies and cherished beliefs have failed to meet the need of people and have broken down under the test of the times; starvation and insecurity are rampant everywhere; families and social groups have been disrupted; death has taken its toll of every nation and millions have died as a result of the inhuman processes of war. Broadly speaking, everyone has known terror, fear and hopelessness as they face the future; everyone is questioning what that future has in store and there is no surety anywhere. The voice of humanity is demanding light, peace and security.
Một điều có tầm quan trọng lớn lao đã xảy ra trong thế giới. Tinh thần hủy diệt đã cuồng loạn tràn qua Trái Đất, để lại thế giới của quá khứ và nền văn minh từng kiểm soát đời sống hiện đại của chúng ta trong cảnh hoang tàn. Các thành phố và mái nhà đã bị phá hủy; các vương quốc và nhà cai trị đã biến mất trong hậu quả của chiến tranh; các hệ tư tưởng và những niềm tin được trân quý đã không đáp ứng được nhu cầu của con người và đã sụp đổ dưới thử thách của thời đại; nạn đói và sự bất an lan tràn khắp nơi; các gia đình và nhóm xã hội đã bị tan vỡ; cái chết đã đòi phần của nó nơi mọi quốc gia, và hàng triệu người đã chết do các tiến trình phi nhân của chiến tranh. Nói rộng ra, mọi người đều đã biết đến kinh hoàng, sợ hãi và tuyệt vọng khi đối diện với tương lai; mọi người đều tự hỏi tương lai ấy đang chứa đựng điều gì, và không nơi nào có sự chắc chắn. Tiếng nói của nhân loại đang đòi hỏi ánh sáng, hòa bình và an toàn.
Some seek it in the formation of new ideologies; some look for it along political lines and hope for relief and release through some form of government action or some political creed or party. Others demand the emergence of a leader, and there are few leaders anywhere to be seen at this time. The leadership provided is coming from groups of well-meaning people and a few statesmen who seem as bewildered as those they seek to help; they are rendered well-nigh impotent by the very magnitude of the task with which they are faced, [135] for the issue at stake is the rebuilding, the reconditioning and the re-educating of the entire world. Still others, more patient, are planning new educational processes and systems which will attempt to prepare the present generation of children for full living in the world of tomorrow, a world whose faint outlines are only dimly to be seen. Some are sinking back into a state of despair, escaping into isolationism and waiting, as philosophically as possible, for the release which death will bring, asking only a little food, some warmth, a few books and sufficient clothing. Many are refusing altogether to think and are instead filling their lives with relief work. All are experiencing the reaction which follows in the aftermath of war and are not familiar with the processes of peace, because peace has never truly been known and is obviously still far away.
Một số người tìm điều đó trong việc hình thành các hệ tư tưởng mới; một số khác tìm kiếm theo các đường lối chính trị và hy vọng có được sự cứu trợ và giải thoát qua một hình thức hành động chính quyền nào đó, hoặc qua một tín điều hay đảng phái chính trị nào đó. Những người khác đòi hỏi sự xuất hiện của một nhà lãnh đạo, và vào lúc này hầu như chẳng thấy có mấy nhà lãnh đạo ở đâu cả. Sự lãnh đạo đang được cung cấp đến từ các nhóm người thiện chí và một vài chính khách dường như cũng bối rối như những người mà họ tìm cách giúp đỡ; chính tầm vóc to lớn của nhiệm vụ họ đang đối diện khiến họ gần như bất lực, [135] vì vấn đề đang đặt ra là việc tái thiết, tái định hình và tái giáo dục toàn thể thế giới. Lại có những người khác, kiên nhẫn hơn, đang hoạch định các tiến trình và hệ thống giáo dục mới, vốn sẽ cố gắng chuẩn bị thế hệ trẻ em hiện nay cho một đời sống trọn vẹn trong thế giới ngày mai, một thế giới mà những đường nét mờ nhạt của nó chỉ mới được thấy một cách lờ mờ. Một số người đang chìm trở lại vào trạng thái tuyệt vọng, trốn vào chủ nghĩa biệt lập và chờ đợi, càng bình thản theo triết lý càng tốt, sự giải thoát mà cái chết sẽ mang lại, chỉ xin một ít thức ăn, chút hơi ấm, vài quyển sách và đủ quần áo. Nhiều người hoàn toàn từ chối suy nghĩ và thay vào đó lấp đầy đời mình bằng công tác cứu trợ. Tất cả đều đang trải nghiệm phản ứng theo sau hậu quả của chiến tranh và không quen thuộc với các tiến trình của hòa bình, bởi vì hòa bình chưa bao giờ thật sự được biết đến và rõ ràng vẫn còn rất xa.
Above everything else, men throughout the world in their countless millions are registering a deep spiritual need, are conscious of the stirrings of the spirit and are recognizing it for what it is. They may express this need in many forms and use many differing terminologies; they may look in diverse directions for the satisfaction of their longings, but everywhere there is a demand for things of truer value than those which conditioned the past and for the appearance of those virtues, spiritual impulses and incentives which men appear to have lost and which are the sum total of the forces which drive humanity on towards spiritual living.
Trên hết mọi điều, những người nam và nữ khắp thế giới, trong vô số triệu người, đang ghi nhận một nhu cầu tinh thần sâu xa, đang ý thức về những khuấy động của tinh thần và đang nhận ra nó đúng như bản chất của nó. Họ có thể diễn đạt nhu cầu này dưới nhiều hình thức và dùng nhiều thuật ngữ khác nhau; họ có thể tìm kiếm theo nhiều hướng khác nhau để thỏa mãn những khát vọng của mình, nhưng khắp nơi đều có một đòi hỏi về những điều có giá trị chân thật hơn các điều đã định hình quá khứ, và về sự xuất hiện của những đức hạnh, xung lực tinh thần và động cơ thúc đẩy mà con người dường như đã đánh mất, và vốn là tổng hợp các mãnh lực thúc đẩy nhân loại tiến tới đời sống tinh thần.
Everywhere people are ready for the light; they are expectant of a new revelation and of a new dispensation. Humanity has advanced so far on the way of evolution that these demands and expectations are not couched in terms of material betterment only, but in terms of a spiritual vision, true values and right human relations. They are demanding teaching and spiritual help along with the necessary requests for food, clothes and the [136] opportunity to work and live in freedom; they face famine in large areas of the world and yet are registering with equal dismay the famine of the soul.
Khắp nơi con người đã sẵn sàng cho ánh sáng; họ mong đợi một sự mặc khải mới và một thời kỳ ban phát mới. Nhân loại đã tiến xa đến mức trên con đường tiến hoá đến nỗi các đòi hỏi và kỳ vọng này không chỉ được diễn đạt bằng những thuật ngữ về sự cải thiện vật chất, mà còn bằng những thuật ngữ về một tầm nhìn tinh thần, các giá trị chân thật và những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Họ đang đòi hỏi giáo huấn và sự trợ giúp tinh thần cùng với những yêu cầu cần thiết về thức ăn, quần áo và [136] cơ hội làm việc và sống trong tự do; họ đối diện với nạn đói ở những vùng rộng lớn của thế giới, nhưng đồng thời cũng ghi nhận với nỗi kinh hoàng tương tự nạn đói của linh hồn.
The great tragedy is, however, that they know not where to turn or to whose voice they should listen. The hope within them is spiritual and undying. This hope and this demand have reached the attentive ear of the Christ and His disciples in the place where They live, and work and watch over humanity. Through what agency will these forces of the spirit work for the restoration of the world? By what means will the spiritual Guides of the race lead men forward into greater light and the opportunity of the new age? Mankind faces towards the Way of Resurrection. Who shall lead him on that Way?
Tuy nhiên, bi kịch lớn lao là họ không biết quay về đâu hay nên lắng nghe tiếng nói của ai. Niềm hy vọng bên trong họ là tinh thần và bất diệt. Niềm hy vọng và đòi hỏi này đã đến được tai chú ý của Đức Christ và các đệ tử của Ngài tại nơi Các Ngài sống, làm việc và trông nom nhân loại. Những mãnh lực của tinh thần này sẽ hoạt động qua cơ quan nào để phục hồi thế giới? Bằng phương tiện nào các Đấng Hướng Đạo tinh thần của nhân loại sẽ dẫn con người tiến vào ánh sáng lớn lao hơn và cơ hội của kỷ nguyên mới? Nhân loại đang hướng về Con Đường Phục Sinh. Ai sẽ dẫn y trên Con Đường ấy?
Will the organized religions and the churches throughout the world recognize the opportunity and respond to the appeal of Christ and to the spiritual demand of countless millions? Or will they work for organizations and the churches? Will the institutional aspect of the world religions loom more largely in the consciousness of churchmen than the need of the people for a simple presentation of life-giving truth? Will the interest and the power of the churches be turned to the rebuilding of the material structures, the re-establishing of financial security, the recovery of the status of outgrown theologies and the attainment anew of temporal power and prestige? Or will the churches have the vision and the courage to let the bad old ways go and turn to the people with the message that God is Love, proving the existence of that love by their own lives of simple loving service? Will they tell the people that Christ forever lives and bid them turn their eyes away from the old doctrines of death and blood and divine appeasement and centre them upon the Source of all life and upon the living Christ Who waits to pour out [137] upon them that “life more abundantly” for which they have so long waited and which He promised should be theirs? Will they teach that the destruction of the old forms was needed and that their disappearance is the guarantee that a new and fuller unlimited spiritual life is now possible? Will they remind the people that Christ Himself said that it is not possible to put new wine into old bottles? Will the potentates of the churches and the proud ecclesiastics relinquish publicly their wrong and material aims, their money and their palaces and “sell all that they have” and follow Christ on the path of service? Or will they—like the rich young man in the Gospel story—turn sadly away? Will they spend the available money in alleviating pain as Christ did, teaching the children the things of the kingdom of God as Christ did, and setting an example of simple faith, confident joy and assured knowledge of God as Christ did? Can churchmen of all faiths in both hemispheres attain that inner spiritual light which will make them light bearers and which will evoke that greater light which the new and anticipated revelation will surely bring? Can the materialism for which the churches have stood and the failures of their representatives to teach the people aright be swept away? These were the things which were responsible for the world war (1914-1945). There could have been no war if greed, hate and separativeness had not been rampant upon the earth and in the hearts of men; these disastrous faults were there because the spiritual values had no place in the life of the people and this was due to the fact that for centuries they have had small place in the life of the churches. The responsibility rests squarely upon the churches.
Liệu các tôn giáo có tổ chức và các giáo hội khắp thế giới có nhận ra cơ hội và đáp ứng lời kêu gọi của Đức Christ cùng nhu cầu tinh thần của vô số triệu người không? Hay họ sẽ làm việc cho các tổ chức và các giáo hội? Liệu phương diện thể chế của các tôn giáo thế giới có chiếm vị trí lớn hơn trong tâm thức của giới giáo sĩ so với nhu cầu của con người về một sự trình bày giản dị chân lý ban sự sống không? Liệu mối quan tâm và quyền lực của các giáo hội sẽ được hướng vào việc tái thiết các cấu trúc vật chất, tái lập an toàn tài chính, phục hồi địa vị của những thần học đã lỗi thời và giành lại quyền lực cùng uy tín thế tục không? Hay các giáo hội sẽ có tầm nhìn và lòng can đảm để buông bỏ những lối cũ tệ hại và quay về với dân chúng bằng thông điệp rằng Thượng đế là Tình thương, chứng minh sự hiện hữu của tình thương ấy bằng chính đời sống phụng sự thương yêu giản dị của họ? Liệu họ có nói với dân chúng rằng Đức Christ sống mãi và bảo họ quay mắt khỏi các giáo lý cũ về cái chết, máu huyết và sự xoa dịu thiêng liêng, rồi tập trung mắt họ vào Nguồn của mọi sự sống và vào Đức Christ hằng sống, Đấng đang chờ tuôn đổ [137] trên họ “sự sống dồi dào hơn” mà họ đã chờ đợi từ lâu và mà Ngài đã hứa sẽ thuộc về họ không? Liệu họ có dạy rằng sự hủy diệt các hình tướng cũ là cần thiết và sự biến mất của chúng là bảo chứng rằng một đời sống tinh thần mới mẻ, đầy đủ hơn và không giới hạn nay đã có thể thành hiện thực không? Liệu họ có nhắc dân chúng rằng chính Đức Christ đã nói không thể đổ rượu mới vào bầu da cũ không? Liệu các giáo chủ quyền thế của các giáo hội và các giáo sĩ kiêu hãnh có công khai từ bỏ những mục tiêu sai lầm và vật chất của họ, tiền bạc và cung điện của họ, “bán tất cả những gì họ có” và theo Đức Christ trên con đường phụng sự không? Hay họ sẽ—như người thanh niên giàu có trong câu chuyện Phúc Âm—buồn rầu quay đi? Liệu họ có dùng số tiền sẵn có để làm dịu nỗi đau như Đức Christ đã làm, dạy trẻ em những điều của Thiên Giới như Đức Christ đã làm, và nêu gương về đức tin giản dị, sự hoan hỉ đầy tin tưởng và tri thức chắc chắn về Thượng đế như Đức Christ đã làm không? Liệu giới giáo sĩ thuộc mọi tín ngưỡng ở cả hai bán cầu có thể đạt được ánh sáng tinh thần bên trong, ánh sáng sẽ khiến họ trở thành những người mang ánh sáng và sẽ gợi lên ánh sáng lớn lao hơn mà sự mặc khải mới và được mong đợi chắc chắn sẽ mang lại không? Liệu chủ nghĩa vật chất mà các giáo hội đã đại diện, cùng những thất bại của các đại diện của họ trong việc dạy dân chúng một cách đúng đắn, có thể bị quét sạch không? Chính những điều này đã chịu trách nhiệm cho cuộc chiến tranh thế giới (1914-1945). Không thể có chiến tranh nếu tham lam, thù ghét và chia rẽ không lan tràn trên Trái Đất và trong tâm hồn con người; những lỗi lầm tai hại này đã hiện diện vì các giá trị tinh thần không có chỗ trong đời sống của dân chúng, và điều này là do trong nhiều thế kỷ chúng chỉ có một chỗ rất nhỏ trong đời sống của các giáo hội. Trách nhiệm đặt thẳng lên các giáo hội.
These are the questions with which the organized churches are confronted. Within the churches today there are men responding to the new spiritual idealism, [138] to the urgency of the opportunity and to the need for change. But the opportunity is controlled by reactionary minds. The movements towards the reorganization of the churches which are now proceeding all over the world still remain in the hands of the church dignitaries and synods and conclaves. The plans internationally being formed at this time would indicate that the authority is still vested in the wrong people.
Đó là những câu hỏi mà các giáo hội có tổ chức đang phải đối diện. Bên trong các giáo hội ngày nay có những người đang đáp ứng chủ nghĩa lý tưởng tinh thần mới, [138] tính cấp bách của cơ hội và nhu cầu thay đổi. Nhưng cơ hội đang bị các thể trí phản động kiểm soát. Những phong trào hướng tới việc tái tổ chức các giáo hội hiện đang diễn ra khắp thế giới vẫn còn nằm trong tay các chức sắc giáo hội, các hội đồng giáo hội và các mật nghị. Các kế hoạch đang được hình thành trên bình diện quốc tế vào lúc này cho thấy thẩm quyền vẫn còn được trao cho những người không đúng.
There is no indication on any large scale within the churches of a basic change of attitude towards theological teaching or church government. There is no indication that the great Oriental religions are taking an active lead in producing a new and better world. And still humanity waits. Humanity wants above all else assurance that God Is and that there is a divine Plan—a Plan which fits into the scheme of things and which holds within it both hope and strength. Men want the conviction that Christ lives; that the Coming One—for Whom all men wait—will come and that He will not be Christian, Hindu or Buddhist but will belong to all men everywhere. Men want to be assured that a great spiritual revelation is due and cannot be arrested and that there lies ahead of them a spiritual future as well as a material one. It is with this demand and this opportunity that the churches are faced.
Không có dấu hiệu nào trên quy mô lớn trong các giáo hội cho thấy một sự thay đổi căn bản về thái độ đối với giáo huấn thần học hay chính quyền giáo hội. Không có dấu hiệu nào cho thấy các tôn giáo lớn phương Đông đang tích cực dẫn đầu trong việc tạo ra một thế giới mới và tốt đẹp hơn. Và nhân loại vẫn chờ đợi. Trên hết mọi điều, nhân loại muốn được bảo đảm rằng Thượng đế Hiện Hữu và rằng có một Thiên Cơ—một Thiên Cơ ăn khớp với hệ thống của vạn sự và chứa đựng trong nó cả hy vọng lẫn sức mạnh. Con người muốn có niềm xác tín rằng Đức Christ đang sống; rằng Đấng Đang Đến—Đấng mà mọi người đang chờ đợi—sẽ đến và rằng Ngài sẽ không phải là người Ki-tô giáo, Ấn giáo hay Phật giáo mà sẽ thuộc về mọi người ở khắp nơi. Con người muốn được bảo đảm rằng một sự mặc khải tinh thần lớn lao đang đến hạn và không thể bị ngăn chặn, và rằng trước mặt họ có một tương lai tinh thần cũng như một tương lai vật chất. Chính với đòi hỏi và cơ hội này mà các giáo hội đang đối diện.
What is the solution of this intricate and difficult relationship throughout the world? A new presentation of truth, because God is not a fundamentalist; a new approach to divinity, because God is ever accessible and requires no outer intermediaries today; a new mode of interpreting the ancient spiritual teaching, because man has evolved and what was suitable for infant humanity is today unsuitable for adult mankind. These are imperative changes.
Giải pháp cho mối quan hệ phức tạp và khó khăn này trên khắp thế giới là gì? Một sự trình bày mới về chân lý, bởi vì Thượng đế không phải là một người bảo thủ giáo điều; một cách tiếp cận mới đối với thiên tính, bởi vì Thượng đế luôn luôn có thể được tiếp cận và ngày nay không đòi hỏi những trung gian bên ngoài; một phương thức mới để diễn giải giáo huấn tinh thần cổ xưa, bởi vì con người đã tiến hoá và điều từng thích hợp với nhân loại ấu thơ ngày nay không còn thích hợp với nhân loại trưởng thành. Đây là những thay đổi bắt buộc.
Nothing can prevent the new world religion from eventually emerging. It always has down the ages and [139] it always will. There is no finality in the presentation of truth; it develops and grows to meet man’s growing demand for light. It will be implemented and developed by the spiritually minded in all churches, whose minds are open to the new inspirations of God’s Mind, who are liberal and kind and whose individual lives are pure and aspiring. It will be hindered by the fundamentalists, the narrow-minded and the theologians in all the world religions, by those who refuse to let go the old interpretations and methods, who love the old doctrines and men’s thoughts about them, and by those who lay the emphasis upon forms, upon rites and ceremonies, upon ritual and pomp, on authority and the building of stone edifices in these days of man’s extremity, his starvation and his need.
Không gì có thể ngăn tôn giáo thế giới mới cuối cùng xuất hiện. Nó luôn luôn như vậy qua các thời đại và [139] sẽ luôn luôn như vậy. Không có tính chung cuộc trong việc trình bày chân lý; nó phát triển và lớn lên để đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của con người về ánh sáng. Nó sẽ được thực hiện và phát triển bởi những người có khuynh hướng tinh thần trong mọi giáo hội, những người có thể trí mở ra với các cảm hứng mới của Trí của Thượng đế, những người tự do, nhân hậu, và có đời sống cá nhân thanh khiết, đầy khát vọng. Nó sẽ bị cản trở bởi những người bảo thủ giáo điều, những người hẹp hòi và các nhà thần học trong mọi tôn giáo thế giới, bởi những người từ chối buông bỏ các lối diễn giải và phương pháp cũ, những người yêu mến các giáo lý cũ và các tư tưởng của con người về chúng, và bởi những người đặt trọng tâm vào các hình tướng, các nghi lễ và lễ thức, nghi thức và vẻ hào nhoáng, vào thẩm quyền và việc xây dựng các công trình bằng đá trong những ngày con người đang ở mức cùng cực, đói khát và cần được giúp đỡ.
The Roman Catholic Church here faces her greatest opportunity and also her greatest crisis. Catholicism is founded in ancient tradition, is assertive of ecclesiastical authority, is responsive to outer forms and rituals and—in spite of a wide and beneficent philanthropy—is quite unable to leave her children free. If the Catholic Church can change her techniques, can relinquish authority over the souls of men (which she has never truly had) and can really follow the way of the Saviour, of the humble Carpenter of Nazareth, she can render a world service and set an example which will serve to enlighten the followers of every faith and of every branch of Christianity.
Ở đây Giáo hội Công giáo La Mã đối diện với cơ hội lớn nhất và cũng là cuộc khủng hoảng lớn nhất của mình. Công giáo được đặt nền trên truyền thống cổ xưa, khẳng định thẩm quyền giáo hội, đáp ứng với các hình tướng và nghi thức bên ngoài, và—dù có một hoạt động bác ái rộng lớn và hữu ích—lại hoàn toàn không thể để con cái mình được tự do. Nếu Giáo hội Công giáo có thể thay đổi các kỹ thuật của mình, có thể từ bỏ thẩm quyền trên linh hồn con người (điều mà thật ra giáo hội chưa bao giờ có), và có thể thật sự đi theo con đường của Đấng Cứu Thế, của người Thợ mộc khiêm nhường thành Nazareth, thì giáo hội có thể thực hiện một sự phụng sự thế giới và nêu một tấm gương sẽ giúp soi sáng những người theo mọi tín ngưỡng và mọi nhánh của Ki-tô giáo.
The problem of the freedom of the human soul and its individual relation to God Immanent and God Transcendent is the spiritual problem, facing all the world religions at this time. No longer must the churches interpose their authority and their interpretations between God and man. The time for that is past. This problem has been slowly shaping up for centuries, developing with the growth of the human intellect and [140] the self-consciousness of the human being and it is one which now cries aloud for solution.
Vấn đề tự do của linh hồn con người và mối quan hệ cá nhân của nó với Thượng đế Nội Tại và Thượng đế Siêu Việt là vấn đề tinh thần đang đối diện mọi tôn giáo thế giới vào lúc này. Các giáo hội không còn được chen thẩm quyền và các lối diễn giải của mình vào giữa Thượng đế và con người nữa. Thời điểm cho điều đó đã qua. Vấn đề này đã chậm rãi thành hình qua nhiều thế kỷ, phát triển cùng với sự tăng trưởng của trí năng con người và [140] ngã thức của con người, và nay nó đang lớn tiếng đòi hỏi một giải pháp.
III. THE ESSENTIAL TRUTHS
III. NHỮNG CHÂN LÝ CỐT YẾU
There are certain keynotes—embodying the future of religion—which should govern the thinking of enlightened churchmen of all faiths at this time. They are appropriate to both the East and the West. These are: World Religion—Revelation—Recognition. They will not be accepted by the narrow-minded Christian or believer of any faith.
Có một số chủ âm—hiện thân cho tương lai của tôn giáo—nên chi phối tư tưởng của những giáo sĩ giác ngộ thuộc mọi tín ngưỡng vào lúc này. Chúng thích hợp cho cả Đông phương lẫn Tây phương. Đó là: Tôn giáo Thế giới—Sự Mặc khải—Sự Nhận biết. Chúng sẽ không được người Ki-tô giáo hẹp hòi hay tín đồ hẹp hòi của bất cứ tín ngưỡng nào chấp nhận.
The day is dawning when all religions will be regarded as emanating from one great spiritual source; all will be seen as unitedly providing the one root out of which the universal world religion will inevitably emerge. Then there will be neither Christian nor heathen, neither Jew nor Gentile, but simply one great body of believers, gathered out of all the current religions. They will accept the same truths, not as theological concepts but as essential to spiritual living; they will stand together on the same platform of brotherhood and of human relations; they will recognize divine sonship and will seek unitedly to cooperate with the divine Plan, as it is revealed to them by the spiritual leaders of the race, and as it indicates to them the next step to be taken on the Path of Approach to God. Such a world religion is no idle dream but something which is definitely forming today.
Ngày đang rạng khi mọi tôn giáo sẽ được xem là phát xuất từ một nguồn tinh thần vĩ đại duy nhất; tất cả sẽ được thấy như cùng nhau cung cấp một cội rễ duy nhất, từ đó tôn giáo thế giới phổ quát tất yếu sẽ xuất hiện. Khi ấy sẽ không còn người Ki-tô giáo hay người ngoại đạo, không còn người Do Thái hay dân ngoại, mà chỉ đơn giản là một đoàn thể tín hữu vĩ đại, được quy tụ từ tất cả các tôn giáo hiện hành. Họ sẽ chấp nhận cùng những chân lý ấy, không phải như các khái niệm thần học mà như những điều cốt yếu cho đời sống tinh thần; họ sẽ cùng đứng trên cùng một nền tảng của tình huynh đệ và các mối quan hệ nhân loại; họ sẽ nhận biết quyền làm con thiêng liêng và sẽ cùng nhau tìm cách hợp tác với Thiên Cơ, như nó được mặc khải cho họ bởi các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại, và như nó chỉ cho họ bước kế tiếp cần thực hiện trên Con Đường Tiếp Cận Thượng đế. Một tôn giáo thế giới như thế không phải là giấc mơ viển vông mà là điều đang thật sự thành hình ngày nay.
A second emerging guide to the spiritual life is the hope of revelation. Never before has man’s need been greater and never has the surety of revelation been more certain; never has the spirit of man been more invocative of divine aid than it is today and, therefore, never before has a greater revelation been on its way. What that revelation will be, we cannot know. The revelation [141] of the nature of God has been a slow unfolding process, paralleled by the evolutionary growth of the human consciousness. It is not for us to define or limit it with our concrete thinking but to prepare for it, to unfold our intuitive perception and to live in expectation of the revealing light.
Một hướng dẫn thứ hai đang xuất hiện cho đời sống tinh thần là niềm hy vọng về sự mặc khải. Chưa bao giờ nhu cầu của con người lớn lao hơn, và chưa bao giờ sự chắc chắn của mặc khải lại xác thực hơn; chưa bao giờ tinh thần của con người khẩn cầu sự trợ giúp thiêng liêng hơn ngày nay, và vì vậy, chưa bao giờ một sự mặc khải lớn lao hơn đang trên đường đến. Chúng ta không thể biết sự mặc khải ấy sẽ là gì. Sự mặc khải [141] về bản chất của Thượng đế đã là một tiến trình khai mở chậm rãi, song hành với sự tăng trưởng tiến hoá của tâm thức con người. Không phải việc của chúng ta là định nghĩa hay giới hạn nó bằng tư duy cụ thể của mình, mà là chuẩn bị cho nó, khai mở tri giác trực giác của mình và sống trong sự mong đợi ánh sáng mặc khải.
A world religion, an expected revelation and then the development of the habit of spiritual recognition! It is the task of the churches to teach men to unfold this latent power of recognition—recognition of the beauty of divinity in all forms, recognition of that which is coming and of what an old Hindu seer has spoken of as the “raincloud of knowable things” which hovers over humanity, ready to precipitate the wonders which God holds in store for those who know the meaning of love. It is along these three lines that the work of the churches should, in the future, be directed; the carrying forward of this task would truly restore the churches and obliterate all the failures of the past.
Một tôn giáo thế giới, một sự mặc khải được mong đợi, và rồi sự phát triển thói quen nhận biết tinh thần! Nhiệm vụ của các giáo hội là dạy con người khai mở quyền năng nhận biết tiềm tàng này—nhận biết vẻ đẹp của thiên tính trong mọi hình tướng, nhận biết điều đang đến và điều mà một nhà thông nhãn Ấn giáo cổ xưa đã nói đến như “đám mây mưa của những điều khả tri” đang lơ lửng trên nhân loại, sẵn sàng ngưng tụ những điều kỳ diệu mà Thượng đế dành sẵn cho những ai biết ý nghĩa của tình thương. Chính theo ba đường hướng này mà công việc của các giáo hội trong tương lai nên được định hướng; việc tiến hành nhiệm vụ này sẽ thật sự phục hồi các giáo hội và xóa sạch mọi thất bại của quá khứ.
In these three attitudes there are certain basic truths which the churches can present to men everywhere—truths which are uniform in all the world religions:
Trong ba thái độ này có một số chân lý căn bản mà các giáo hội có thể trình bày cho con người khắp nơi—những chân lý đồng nhất trong mọi tôn giáo thế giới:
1. The Fact of God, Immanent and Transcendent
1. Sự Thật về Thượng đế, Nội Tại và Siêu Việt
The Eastern faiths have ever emphasized God immanent, deep within the human heart, “nearer than hands or feet”, the Self, the One, the Atma, smaller than the small, yet all-comprehensive. The Western faiths have presented God transcendent, outside His universe, an Onlooker. God transcendent first of all conditioned men’s concept of Deity, for the action of this transcendent God appeared in the processes of nature; later, in the Jewish dispensation, God appeared as the tribal Jehovah, as the soul (the rather unpleasant soul) of a nation. Next God was seen as a perfected man, and [142] the divine God-man walked the earth in the Person of Christ. Today we have a rapidly growing emphasis upon God immanent in every human being and in every created form. Today we should have the churches presenting a synthesis of these two ideas which have been summed up for us in the statement of Shri Krishna in the Bhagavad Gita: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain”. God, greater than the created whole, yet God present also in the part; God transcendent guarantees the plan for our world and is the Purpose, conditioning all lives from the minutest atom, up through all the kingdoms of nature to man.
Các tín ngưỡng phương Đông luôn luôn nhấn mạnh Thượng đế nội tại, sâu trong trái tim con người, “gần hơn tay hoặc chân”, Bản Ngã, Đấng Duy Nhất, Atma, nhỏ hơn cái nhỏ, nhưng bao trùm tất cả. Các tín ngưỡng phương Tây đã trình bày Thượng đế siêu việt, ở bên ngoài vũ trụ của Ngài, một Đấng Quan Sát. Trước hết, Thượng đế siêu việt đã định hình quan niệm của con người về Thượng đế, vì hoạt động của Thượng đế siêu việt này xuất hiện trong các tiến trình của thiên nhiên; về sau, trong thời kỳ ban phát Do Thái, Thượng đế xuất hiện như Jehovah của bộ tộc, như linh hồn (một linh hồn khá khó chịu) của một quốc gia. Kế đến, Thượng đế được thấy như một con người hoàn thiện, và [142] Đấng Thượng đế-người thiêng liêng đã bước đi trên Trái Đất trong Ngôi Vị của Đức Christ. Ngày nay chúng ta có một sự nhấn mạnh đang tăng trưởng nhanh chóng về Thượng đế nội tại trong mỗi con người và trong mọi hình tướng được sáng tạo. Ngày nay các giáo hội nên trình bày một tổng hợp của hai ý tưởng này, vốn đã được tóm lược cho chúng ta trong lời tuyên bố của Shri Krishna trong Bhagavad Gita: “Sau khi thấm nhập toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn còn lại”. Thượng đế, lớn hơn toàn thể được sáng tạo, nhưng Thượng đế cũng hiện diện trong phần; Thượng đế siêu việt bảo đảm Thiên Cơ cho thế giới chúng ta và là Thiên Ý, định hình mọi sự sống từ nguyên tử nhỏ bé nhất, xuyên qua mọi giới của thiên nhiên cho đến con người.
2. The Fact of Immortality and Eternal Persistence
2. Sự Thật về Tính Bất Tử và Sự Tồn Tại Vĩnh Cửu
The spirit in man is undying; it forever endures, progressing from point to point and stage to stage upon the Path of Evolution, unfolding steadily and sequentially the divine attributes and aspects. This truth involves necessarily the recognition of two great natural laws: the Law of Rebirth and the Law of Cause and Effect. The churches in the West have refused officially to recognize the Law of Rebirth and have thereby wandered into a theological impasse and into a cul-de-sac from which there is no possible exit. The churches in the East have overemphasized these laws so that a negative, acquiescent attitude to life and its processes, based on continuously renewed opportunity, controls the people. Christianity has emphasized immortality but has made eternal happiness dependent upon the acceptance of a theological dogma: Be a true professing Christian and live eternally in a somewhat fatuous heaven or refuse to be an accepting Christian and go to an impossible hell—a hell growing out of the theology of The Old Testament and its presentation of a God full of hate and jealousy. Both concepts are today repudiated by all [143] sane, sincere, thinking people. No one of any true reasoning power or with any true belief in a God of love accepts the heaven of the churchmen or has any desire to go there. Still less do they accept the “lake that burneth with fire and brimstone” or the everlasting torture to which a God of love is supposed to condemn all who do not believe in the theological interpretations of the Middle Ages, of the modern fundamentalists or of the churchmen who seek—through doctrine, fear and threat—to keep people in line with the obsolete old teaching.
Tinh thần trong con người là bất diệt; nó mãi mãi tồn tại, tiến từ điểm này đến điểm khác và từ giai đoạn này đến giai đoạn khác trên Con Đường Tiến Hoá, đều đặn và tuần tự khai mở các thuộc tính và phương diện thiêng liêng. Chân lý này tất yếu bao hàm sự nhận biết hai định luật tự nhiên lớn: Định luật Tái Sinh và Định luật Nhân Quả. Các giáo hội ở Tây phương đã chính thức từ chối nhận biết Định luật Tái Sinh và do đó đã lạc vào một ngõ cụt thần học, một đường cùng không có lối thoát khả dĩ. Các giáo hội ở Đông phương đã nhấn mạnh quá mức các định luật này, đến nỗi một thái độ tiêu cực, cam chịu đối với đời sống và các tiến trình của nó, dựa trên cơ hội liên tục được đổi mới, đang chi phối dân chúng. Ki-tô giáo đã nhấn mạnh tính bất tử nhưng đã khiến hạnh phúc vĩnh cửu lệ thuộc vào việc chấp nhận một tín điều thần học: Hãy là một người Ki-tô giáo tuyên xưng chân thật và sống vĩnh cửu trong một cõi thiên đường phần nào ngớ ngẩn, hoặc từ chối làm một Ki-tô hữu chấp nhận và đi vào một địa ngục không thể có—một địa ngục phát sinh từ thần học của Cựu Ước và sự trình bày của nó về một Thượng đế đầy thù ghét và ghen tuông. Cả hai quan niệm ngày nay đều bị mọi người [143] lành mạnh, chân thành và biết suy nghĩ bác bỏ. Không ai có năng lực lý trí chân thật, hay có niềm tin chân thật vào một Thượng đế của tình thương, chấp nhận thiên đường của giới giáo sĩ hoặc có bất cứ mong muốn nào đến đó. Họ càng ít chấp nhận hơn “hồ cháy bằng lửa và diêm sinh” hay sự hành hạ đời đời mà một Thượng đế của tình thương được cho là kết án tất cả những ai không tin vào các diễn giải thần học của thời Trung cổ, của những người bảo thủ giáo điều hiện đại hoặc của giới giáo sĩ tìm cách—qua giáo lý, sợ hãi và đe dọa—giữ dân chúng đi theo giáo huấn cũ đã lỗi thời.
The essential truth lies elsewhere. “Whatsoever a man soweth that shall he also reap” is the truth which needs re-emphasizing. In these words, St. Paul phrases for us the ancient and true teaching of the Law of Cause and Effect called in the Orient, the Law of Karma. To that, he adds in another place the injunction to “work out your own salvation” and—as that contradicts the theological teaching and above all else is not possible to do in any one life—he implicitly endorses the Law of Rebirth, and makes the school of life a constantly recurring experience until man has fulfilled the command of the Christ (and this refers to every man) “Be ye, therefore, perfect, even as your Father in Heaven is perfect”. Through recognition of the results of action—good or bad—and through constant reliving upon the earth, man eventually attains “unto the measure of the stature of the fullness of the Christ”.
Chân lý cốt yếu nằm ở nơi khác. “Người ta gieo gì thì cũng sẽ gặt nấy” là chân lý cần được nhấn mạnh lại. Trong những lời này, Thánh Phao-lô diễn đạt cho chúng ta giáo huấn cổ xưa và chân thật về Định luật Nhân Quả, được gọi ở phương Đông là Định luật Nghiệp quả. Thêm vào đó, ở một nơi khác, ông đưa ra huấn thị “hãy tự thực hiện sự cứu rỗi của mình”, và—vì điều đó mâu thuẫn với giáo huấn thần học và trên hết mọi điều là không thể thực hiện trong bất cứ một đời sống đơn lẻ nào—ông mặc nhiên xác nhận Định luật Tái Sinh, và khiến trường học của đời sống trở thành một kinh nghiệm không ngừng tái diễn cho đến khi con người hoàn thành mệnh lệnh của Đức Christ (và điều này chỉ mọi người): “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên Trời là trọn lành”. Qua sự nhận biết các kết quả của hành động—thiện hoặc ác—và qua việc liên tục sống lại trên Trái Đất, cuối cùng con người đạt “tới tầm vóc viên mãn của Đức Christ”.
The fact of this innate divinity explains the urge at the heart of every man for betterment, for experience, for progress, for increasing realization and for his steady moving on towards the distant height which he has visioned. There is no other explanation of the capacity of the human spirit to emerge out of darkness, out of evil and death into life and goodness. This emergence has been the unfailing history of man. Something is [144] always happening to the human soul which projects him nearer to the Source of all good and nothing on earth can arrest this progress nearer to God.
Sự thật về thiên tính bẩm sinh này giải thích xung lực trong tâm của mỗi người hướng tới sự cải thiện, kinh nghiệm, tiến bộ, sự nhận biết ngày càng tăng và sự tiến bước vững vàng của y về phía đỉnh cao xa xôi mà y đã thấy trong tầm nhìn. Không có lời giải thích nào khác cho năng lực của tinh thần con người trong việc vươn ra khỏi bóng tối, khỏi sự ác và cái chết để đi vào sự sống và thiện hảo. Sự vươn lên này đã là lịch sử không sai chạy của con người. Luôn luôn có điều gì đó [144] đang xảy ra với linh hồn con người, điều phóng chiếu y đến gần hơn Nguồn của mọi điều thiện, và không điều gì trên Trái Đất có thể ngăn bước tiến này đến gần Thượng đế hơn.
3. Christ and the Hierarchy
3. Đức Christ và Thánh Đoàn
The third great spiritual and essential truth is the fact of Christ, the living Christ, present among His people, fulfilling His promise, “Lo, I am with you always, even unto the end of the world”, and increasingly making His presence felt as men approach closer to Him and His group of disciples and world workers. The church emphasis has been (and is today) upon the dead Christ. Men have forgotten that He lives, though they give a tentative recognition to this hope and belief at Easter time, largely because His resurrection guarantees our own “rising again”, and “because He lives, we shall live also”. The fact of His livingness and of His presence today, here and now, on earth is not emphasized, except through vague and hopeful generalities. Men have forgotten the Christ who lives with us on earth, surrounded by His disciples, the Masters of the Wisdom, accessible to those who make the right approach and saving men by the force of His example and by the expression of the life which is in Him and is—unexpressed and largely undiscovered as yet by the majority—to be found also in every man.
Chân lý tinh thần và cốt yếu lớn thứ ba là sự thật về Đức Christ, Đức Christ hằng sống, hiện diện giữa dân của Ngài, hoàn thành lời hứa của Ngài: “Này, Ta ở cùng các ngươi luôn, cho đến tận thế”, và ngày càng làm cho sự hiện diện của Ngài được cảm nhận khi con người tiến gần hơn đến Ngài và nhóm đệ tử cùng những người hoạt động thế giới của Ngài. Sự nhấn mạnh của giáo hội đã và hiện nay vẫn là vào Đức Christ đã chết. Con người đã quên rằng Ngài đang sống, dù họ tạm thời công nhận niềm hy vọng và niềm tin này vào mùa Phục Sinh, phần lớn vì sự phục sinh của Ngài bảo đảm cho “sự sống lại” của chính chúng ta, và “vì Ngài sống, chúng ta cũng sẽ sống”. Sự thật về tính sống động của Ngài và về sự hiện diện của Ngài ngày nay, ở đây và bây giờ, trên Trái Đất, không được nhấn mạnh, ngoại trừ qua những khái quát mơ hồ và đầy hy vọng. Con người đã quên Đức Christ đang sống với chúng ta trên Trái Đất, được bao quanh bởi các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh triết, có thể được tiếp cận bởi những ai thực hiện cách tiếp cận đúng, và cứu rỗi con người bằng mãnh lực của tấm gương Ngài và bằng sự biểu lộ sự sống ở trong Ngài, sự sống ấy—chưa được biểu lộ và phần lớn vẫn chưa được đa số khám phá—cũng có thể được tìm thấy trong mọi người.
In the coming world religion, the emphasis will be on these truths. Life and not death will be proclaimed; attainment of spiritual status through spiritual living will be taught, and the fact of the existence of those who have thus attained and who work with Christ for the helping and salvaging of humanity will be the goal. The fact of the spiritual Hierarchy of our planet, the ability of mankind to contact its Members and to work in cooperation with Them, and the existence of Those Who [145] know what the will of God is and can work intelligently with that will—these are the truths upon which the future spiritual teaching will be based.
Trong tôn giáo thế giới sắp đến, sự nhấn mạnh sẽ đặt trên những chân lý này. Sự sống chứ không phải cái chết sẽ được tuyên xưng; sự đạt đến địa vị tinh thần qua đời sống tinh thần sẽ được dạy, và sự thật về sự hiện hữu của những Đấng đã đạt được như thế và đang làm việc với Đức Christ để giúp đỡ và cứu vớt nhân loại sẽ là mục tiêu. Sự thật về Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta, khả năng của nhân loại tiếp xúc với các Thành viên của Thánh Đoàn và làm việc trong sự hợp tác với Các Ngài, cùng sự hiện hữu của Những Đấng [145] biết Ý Chí của Thượng Đế là gì và có thể làm việc một cách thông minh với ý chí ấy—đây là những chân lý mà giáo huấn tinh thần tương lai sẽ dựa vào.
The fact of the existence of this Hierarchy and its supreme Head, the Christ, is consciously recognized by hundreds of thousands today, though still denied by the orthodox. So many know this truth and so many people of integrity and worth are cooperating consciously with the Members of the Hierarchy that ecclesiastical antagonisms and the belittling comments of the concrete minded are of no avail. Men are moving out from under doctrinal authority into direct, personal and spiritual experience; they are coming under the direct authority which contact with Christ and His disciples, the Masters, ever confers.
Sự thật về sự hiện hữu của Thánh Đoàn này và Đấng Đứng Đầu tối cao của Thánh Đoàn, Đức Christ, ngày nay được hàng trăm ngàn người ý thức nhận biết, dù vẫn bị những người chính thống phủ nhận. Rất nhiều người biết chân lý này, và rất nhiều người chính trực, có giá trị đang hợp tác một cách có ý thức với các Thành viên của Thánh Đoàn, đến nỗi các đối kháng giáo hội và những lời bình phẩm hạ thấp của những người có trí cụ thể chẳng có tác dụng gì. Con người đang bước ra khỏi quyền lực giáo điều để đi vào kinh nghiệm trực tiếp, cá nhân và tinh thần; họ đang đi vào dưới thẩm quyền trực tiếp mà sự tiếp xúc với Đức Christ và các đệ tử của Ngài, các Chân sư, luôn luôn ban cho.
Christ in every man, the guarantee of our eventual spiritual attainment; Christ as the living example of that attainment, Who has entered for us within the veil, leaving us an example that we should follow His steps; Christ Who ever lives and Who has stayed with us for two thousand years, watching over His people, inspiring His working disciples, the Masters of the Wisdom, those “just men, made perfect” (as the Bible calls them); Christ demonstrating for us the possibility of this unfolding, living, spiritual consciousness (which has been given the somewhat vague name of the “Christ consciousness”) bringing every man, eventually—under the Laws of Rebirth and of Cause and Effect—to an ultimate perfection; these are the truths which the church will eventually endorse, teach and express through the lives and words of its exponents. This change in the doctrinal presentation will lead to a very different humanity to that which exists today; it will produce a humanity which will recognize the divine in all men, at varying stages of expression, a humanity which is not only expectant of the return of Christ but is assured of His [146] coming and reappearance—not from some distant Heaven but from that place on earth where He has always been, known and reached by thousands but held at a distance by the theologies and the fear-tactics of the church.
Đức Christ trong mỗi người, bảo chứng cho sự đạt thành tinh thần cuối cùng của chúng ta; Đức Christ như tấm gương sống động của sự đạt thành ấy, Đấng đã bước vào bên trong bức màn vì chúng ta, để lại cho chúng ta một tấm gương rằng chúng ta nên theo dấu chân Ngài; Đức Christ, Đấng luôn sống và đã ở lại với chúng ta trong hai ngàn năm, trông nom dân của Ngài, truyền cảm hứng cho các đệ tử đang làm việc của Ngài, các Chân sư Minh triết, những “người công chính, đã được làm cho hoàn thiện” (như Kinh Thánh gọi họ); Đức Christ minh chứng cho chúng ta khả năng của tâm thức tinh thần sống động, đang khai mở này (vốn đã được gọi bằng cái tên phần nào mơ hồ là “tâm thức Christ”), cuối cùng đưa mọi người—dưới các Định luật Tái Sinh và Nhân Quả—đến sự hoàn thiện tối hậu; đây là những chân lý mà cuối cùng giáo hội sẽ xác nhận, giảng dạy và biểu lộ qua đời sống cùng lời nói của những người đại diện cho mình. Sự thay đổi này trong cách trình bày giáo lý sẽ dẫn đến một nhân loại rất khác với nhân loại hiện nay; nó sẽ tạo ra một nhân loại nhận biết điều thiêng liêng trong mọi người, ở các giai đoạn biểu lộ khác nhau, một nhân loại không chỉ mong đợi sự trở lại của Đức Christ mà còn chắc chắn về việc Ngài [146] đến và tái hiện—không phải từ một cõi Trời xa xôi nào, mà từ nơi trên Trái Đất nơi Ngài vẫn luôn ở đó, được hàng ngàn người biết đến và tiếp cận, nhưng bị giữ xa bởi các thần học và chiến thuật gây sợ hãi của giáo hội.
His coming will not be so much a triumphant return to a conquering church (conquering because the churches have done so fine a piece of work) but a recognition of His factual existence by those who have hitherto been blind to His presence with them and to the fact of His office and activities, ceaselessly carried forward on earth. He does not return to rule, for He has never left off ruling, working and loving; but men will come to recognize the signs of His activities and of His presence and will know that it is He Who is overthrowing the churches by the strength of His influence over the hearts and lives of men. Men will then realize that the word “spiritual” has little reference to religion, as was hitherto its major significance, but that it connotes divine activity in every phase of human living and human thinking; they will grasp the stupendous truth that sound economics, clear humanitarianism, effective education (as it fits men for world citizenship) and a science, dedicated to human betterment, are all deeply spiritual and in their aggregated usefulness constitute a body of religious truth; they will discover that organized religion is only one phase of this worldwide experience of divinity.
Sự đến của Ngài sẽ không hẳn là một sự trở lại khải hoàn với một giáo hội chiến thắng (chiến thắng vì các giáo hội đã làm một công việc quá tốt đẹp), mà là sự nhận biết sự hiện hữu thực tế của Ngài bởi những người cho đến nay vẫn mù lòa trước sự hiện diện của Ngài với họ và trước sự thật về chức vụ cùng các hoạt động của Ngài, được tiến hành không ngừng trên Trái Đất. Ngài không trở lại để cai trị, vì Ngài chưa bao giờ ngừng cai trị, làm việc và thương yêu; nhưng con người sẽ đi đến chỗ nhận biết các dấu hiệu hoạt động và sự hiện diện của Ngài, và sẽ biết rằng chính Ngài đang lật đổ các giáo hội bằng sức mạnh ảnh hưởng của Ngài trên trái tim và đời sống con người. Khi ấy con người sẽ nhận ra rằng từ “tinh thần” ít liên hệ đến tôn giáo, vốn cho đến nay là thâm nghĩa chính của nó, mà nó hàm chỉ hoạt động thiêng liêng trong mọi giai đoạn của đời sống và tư tưởng con người; họ sẽ nắm bắt chân lý kỳ vĩ rằng kinh tế lành mạnh, chủ nghĩa nhân đạo sáng suốt, giáo dục hữu hiệu (khi nó chuẩn bị con người cho tư cách công dân thế giới) và một khoa học được hiến dâng cho sự cải thiện con người đều mang tính tinh thần sâu xa, và trong tính hữu ích tổng hợp của chúng cấu thành một thân thể chân lý tôn giáo; họ sẽ khám phá rằng tôn giáo có tổ chức chỉ là một giai đoạn của kinh nghiệm toàn cầu về thiên tính.
Christ will, therefore, surely come in three ways. He will come as men recognize that He is truly here as He has been ever since He apparently left the earth; He will come in the sense also that He will overshadow, inspire and directly guide and personally confer with His advanced disciples as they labour in the field of the world, in the effort to establish right human relations and as they become known as the directing Agents of [147] God’s will; He will come also in the hearts of men everywhere, manifesting as the indwelling Christ, struggling towards the light and influencing the lives of men towards conscious recognition of divinity. Men on a large scale will then pass through the Bethlehem experience, the Christ in them will come to the birth and they will become “new men”.
Vì vậy, Đức Christ chắc chắn sẽ đến theo ba cách. Ngài sẽ đến khi con người nhận biết rằng Ngài thật sự đang ở đây, như Ngài vẫn ở đây kể từ khi Ngài dường như rời Trái Đất; Ngài cũng sẽ đến theo nghĩa rằng Ngài sẽ phủ bóng, truyền cảm hứng, trực tiếp hướng dẫn và đích thân trao đổi với các đệ tử tiến bộ của Ngài khi họ lao động trong cánh đồng thế giới, trong nỗ lực thiết lập những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, và khi họ được biết đến như các Tác Nhân chỉ đạo [147] Ý Chí của Thượng Đế; Ngài cũng sẽ đến trong trái tim của con người khắp nơi, biểu hiện như Đức Christ nội tại, đang đấu tranh hướng tới ánh sáng và ảnh hưởng đời sống con người hướng tới sự nhận biết có ý thức về thiên tính. Khi ấy con người trên quy mô lớn sẽ trải qua kinh nghiệm Bethlehem, Đức Christ trong họ sẽ được sinh ra, và họ sẽ trở thành “những con người mới”.
It will be for the dissemination of these existing truths that the church of the future will work, bringing a great regeneration to the body of humanity, a resurrection into life, and the restoration of the life of God on earth through a Christ-conscious humanity.
Chính để truyền bá những chân lý hiện hữu này mà giáo hội của tương lai sẽ làm việc, mang lại một sự tái sinh lớn lao cho thân thể nhân loại, một sự phục sinh vào sự sống, và sự phục hồi sự sống của Thượng đế trên Trái Đất qua một nhân loại có tâm thức Christ.
When this has assumed large proportions and the recognition of these truths is worldwide, then we shall have the restoration of the Mysteries, the consequent realization that the Kingdom of God is on earth, and that man is in deed and in truth made in the image of God and must inevitably—through the passing of time and the discipline of life—manifest his essential divinity, as Christ did.
Khi điều này đã đạt đến quy mô lớn và sự nhận biết các chân lý này lan khắp thế giới, bấy giờ chúng ta sẽ có sự phục hồi các Bí Nhiệm, sự chứng nghiệm theo sau rằng Thiên Giới đang ở trên Trái Đất, và rằng con người thật sự và đúng thật được tạo nên theo hình ảnh của Thượng đế và tất yếu phải—qua thời gian trôi qua và kỷ luật của đời sống—biểu lộ thiên tính cốt yếu của mình, như Đức Christ đã làm.
4. The Brotherhood of Man
4. Tình Huynh Đệ của Con Người
Much has been written, preached and talked about brotherhood. So much has been said and so little brotherhood practised that the word has fallen somewhat into disrepute. Yet the word is a statement of the underlying origin and goal of humanity and is the keynote of the fourth kingdom in nature, the human.
Nhiều điều đã được viết, giảng và nói về tình huynh đệ. Quá nhiều điều đã được nói và quá ít tình huynh đệ được thực hành đến nỗi từ này phần nào đã mất uy tín. Tuy nhiên, từ ấy là một lời tuyên bố về nguồn gốc và mục tiêu nền tảng của nhân loại, và là chủ âm của giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại.
Brotherhood is a great natural fact; all men are brothers; under the divergences of colour, creed, cultures and civilizations, there is only one humanity without distinction or differences in its essential nature, in its origin, its spiritual and mental objectives, its capacities, its qualities and its mode of development and of evolutionary unfoldment. In these divine attributes (for that is [148] what they are) all men are equal; it is only in relation to time and in the extent to which progress has been made in the revelation of innate divinity in all its fullness that temporary differences become apparent. It is the temporary differences and the sins which ignorance and inexperience betray which have engrossed the attention of the churches to the exclusion of the penetrating, piercing vision of the divine in every man. It is the fact of brotherhood which the churches must begin to teach—not from the angle of a transcendent God, an external unknowable Father—but from the angle of the divine life, eternally present in every human heart, and eternally struggling to express itself through individuals, nations and races.
Tình huynh đệ là một sự thật tự nhiên vĩ đại; mọi người đều là huynh đệ; bên dưới những khác biệt về màu da, tín điều, văn hóa và văn minh, chỉ có một nhân loại, không phân biệt hay khác nhau trong bản chất cốt yếu, trong nguồn gốc, các mục tiêu tinh thần và trí tuệ, các năng lực, phẩm tính và phương thức phát triển cùng sự khai mở tiến hoá của nó. Trong các thuộc tính thiêng liêng này (vì đó [148] chính là chúng), mọi người đều bình đẳng; chỉ trong tương quan với thời gian và mức độ tiến bộ đã đạt được trong sự mặc khải thiên tính bẩm sinh trong tất cả sự viên mãn của nó mà những khác biệt tạm thời mới hiện rõ. Chính những khác biệt tạm thời và các tội lỗi mà vô minh và thiếu kinh nghiệm bộc lộ đã chiếm trọn sự chú ý của các giáo hội, đến mức loại trừ tầm nhìn thấu suốt, xuyên thấu về điều thiêng liêng trong mỗi người. Chính sự thật về tình huynh đệ là điều các giáo hội phải bắt đầu giảng dạy—không từ góc độ một Thượng đế siêu việt, một Người Cha bên ngoài không thể biết được—mà từ góc độ sự sống thiêng liêng, vĩnh viễn hiện diện trong mọi trái tim con người, và vĩnh viễn đấu tranh để biểu lộ chính nó qua các cá nhân, quốc gia và nhân loại.
The true expression of this realized brotherhood must inevitably come through the establishing of right human relations and the cultivation of goodwill. Churchmen have forgotten the sequence in the angel’s song: “Glory to God in the highest, on earth peace, goodwill towards men”. They have failed to realize and, therefore, to teach that only as goodwill is manifested in the daily lives of men are right human relations thereby established and peace on earth can come; they have failed also to realize that there is no glory to God until there is peace on earth through goodwill among men. The churches have forgotten that all men are sons of the Father and, therefore, brothers; that all men are divine, that some men are already God-conscious and expressing divinity and that some are not; they have overlooked the fact that because of their point in evolution some men know Christ, because the Christ in them is active while others are only struggling to bring the Christ life into activity; still others are entirely unaware of the divine Being hidden deep within their hearts. There is only difference in degree of consciousness; there is no difference in nature. [149]
Sự biểu lộ chân thật của tình huynh đệ đã được nhận biết này tất yếu phải đến qua việc thiết lập những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và việc vun bồi thiện chí. Giới giáo sĩ đã quên trình tự trong bài ca của thiên thần: “Vinh danh Thượng đế trên nơi cao nhất, bình an dưới đất, thiện chí đối với con người”. Họ đã thất bại trong việc nhận ra và, do đó, trong việc giảng dạy rằng chỉ khi thiện chí được biểu lộ trong đời sống hằng ngày của con người thì những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người mới nhờ đó được thiết lập và hòa bình trên Trái Đất mới có thể đến; họ cũng đã thất bại trong việc nhận ra rằng không có vinh quang cho Thượng đế cho đến khi có hòa bình trên Trái Đất qua thiện chí giữa con người. Các giáo hội đã quên rằng mọi người đều là con của Cha và, do đó, là huynh đệ; rằng mọi người đều thiêng liêng, rằng một số người đã có ý thức về Thượng đế và đang biểu lộ thiên tính, còn một số thì chưa; họ đã bỏ qua sự thật rằng do điểm tiến hoá của mình, một số người biết Đức Christ, vì Đức Christ trong họ đang hoạt động, trong khi những người khác chỉ đang đấu tranh để đưa sự sống Christ vào hoạt động; lại có những người khác hoàn toàn không biết đến Đấng thiêng liêng ẩn sâu trong trái tim họ. Chỉ có sự khác biệt về cấp độ tâm thức; không có sự khác biệt về bản chất. [149]
5. The Divine Approaches
5. Các Cuộc Tiếp Cận Thiêng Liêng
To all these above truths, essential to human unfoldment, must be added another. This truth is only as yet dimly sensed because it is a larger truth than any hitherto presented to the consciousness of mankind. It is larger because it is related to the Whole and not to individual man alone and his personal salvation. It is an extension of the individual approach to truth. Let us call it the truth concerning the great Cyclic Approaches of the divine to the human; of these all world Saviours and Teachers are the symbol and the guarantee. At certain great moments down the ages, God drew nearer to His people and humanity at the same time made great, though oft unconscious efforts to draw near to God. From one angle, it might be regarded as God transcendent recognizing God immanent, and God in man reaching out to God in the Whole and greater than the Whole. On the part of God, working through the Head of the spiritual Hierarchy and its Membership, this effort was intentional, conscious and deliberate; on the part of man, it has been in the past largely unconscious, forced upon humanity by the tragedy of circumstances, by desperate need and by the driving urge of the immanent Christ consciousness.
Vào tất cả những chân lý nêu trên, vốn cốt yếu cho sự khai mở của con người, phải thêm một chân lý khác. Chân lý này cho đến nay chỉ mới được cảm nhận lờ mờ, bởi vì nó là một chân lý rộng lớn hơn bất cứ chân lý nào từng được trình bày cho tâm thức nhân loại. Nó rộng lớn hơn vì nó liên hệ đến Toàn Thể chứ không chỉ đến cá nhân con người và sự cứu rỗi cá nhân của y. Nó là sự mở rộng của cách tiếp cận cá nhân đối với chân lý. Chúng ta hãy gọi nó là chân lý liên quan đến các Cuộc Tiếp Cận Chu Kỳ vĩ đại của thiêng liêng đến nhân loại; mọi Đấng Cứu Thế và Huấn sư thế giới đều là biểu tượng và bảo chứng của các cuộc tiếp cận này. Vào những khoảnh khắc lớn lao nhất định qua các thời đại, Thượng đế đã đến gần hơn với dân của Ngài, và đồng thời nhân loại đã thực hiện những nỗ lực lớn lao, dù thường vô thức, để đến gần Thượng đế. Từ một góc độ, điều này có thể được xem như Thượng đế siêu việt nhận biết Thượng đế nội tại, và Thượng đế trong con người vươn tới Thượng đế trong Toàn Thể và lớn hơn Toàn Thể. Về phía Thượng đế, hoạt động qua Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn tinh thần và các Thành viên của Thánh Đoàn, nỗ lực này là có chủ ý, có ý thức và có cân nhắc; về phía con người, trong quá khứ nó phần lớn là vô thức, bị áp đặt lên nhân loại bởi bi kịch của hoàn cảnh, bởi nhu cầu tuyệt vọng và bởi xung lực thúc đẩy của tâm thức Christ nội tại.
These great Approaches can be traced down the centuries; each time one took place, it meant a clearer understanding of divine purpose, a new and fresh revelation of divine quality, the institution of some aspect of a new world faith and the sounding of a note which produced a new civilization and culture or a fresh recognition of relationship between God and man or man and his brother.
Các Cuộc Tiếp Cận vĩ đại này có thể được truy nguyên qua nhiều thế kỷ; mỗi lần một cuộc tiếp cận diễn ra, nó có nghĩa là một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về Thiên Ý, một sự mặc khải mới mẻ và tươi mới về phẩm tính thiêng liêng, việc thiết lập một phương diện nào đó của một đức tin thế giới mới và việc xướng lên một âm điệu tạo ra một nền văn minh và văn hóa mới, hoặc một sự nhận biết mới về mối quan hệ giữa Thượng đế và con người, hoặc giữa con người và huynh đệ của y.
Back in the dim past of history (hinted at through symbolism and in the Bibles of the world) there was a first major Approach when God took notice of man and [150] something happened—under the action and will of God the Creator, God transcendent—which affected primeval man, and he “became a living soul”. As the yearning urge towards an undefined and unrealized good made itself felt in the inchoate longings of unthinking man (literally unthinking at that stage), it evoked a response from Deity; God drew near to man and man became imbued with that life and energy which, as time went by, would enable him to recognize himself as a son of God and eventually to express that sonship perfectly. This Approach was signalized by the appearance of the faculty of mind in man. In man was planted the embryonic power to think, to reason and to know. The universal Mind of God was reflected in the tiny mind of man.
Trong quá khứ mờ xa của lịch sử (được gợi ý qua biểu tượng và trong các Kinh Thánh của thế giới), đã có một Cuộc Tiếp Cận lớn đầu tiên khi Thượng đế chú ý đến con người và [150] một điều gì đó đã xảy ra—dưới tác động và ý chí của Thượng đế Đấng Sáng Tạo, Thượng đế siêu việt—ảnh hưởng đến con người nguyên thủy, và y “trở thành một linh hồn sống”. Khi xung lực khao khát hướng tới một điều thiện chưa được định nghĩa và chưa được nhận ra bắt đầu được cảm thấy trong những khát vọng còn hỗn độn của con người không suy nghĩ (theo nghĩa đen là không suy nghĩ ở giai đoạn ấy), nó gợi lên một đáp ứng từ Thượng đế; Thượng đế đến gần con người và con người được thấm nhuần sự sống và năng lượng ấy, vốn theo thời gian sẽ giúp y nhận biết mình là một Con của Thượng đế và cuối cùng biểu lộ quyền làm con ấy một cách hoàn hảo. Cuộc Tiếp Cận này được đánh dấu bằng sự xuất hiện của quan năng thể trí nơi con người. Nơi con người đã được gieo trồng quyền năng phôi thai để suy nghĩ, lý luận và biết. Trí Tuệ Vũ Trụ của Thượng đế được phản chiếu trong thể trí nhỏ bé của con người.
Later, we are told, when the mental powers of the early humanity warranted it, another Approach between God and man, between the spiritual Hierarchy and humanity, became possible and the door into the Kingdom of God was opened. Man learned that the way into the Holy Place could be entered through love. To the mental principle was added—again by the force of invocation and responsive evocation—another divine attribute or principle, the principle of love.
Về sau, chúng ta được cho biết, khi các quyền năng trí tuệ của nhân loại sơ khai đã bảo đảm điều đó, một Cuộc Tiếp Cận khác giữa Thượng đế và con người, giữa Thánh Đoàn tinh thần và nhân loại, trở nên khả hữu và cánh cửa vào Thiên Giới được mở ra. Con người học biết rằng con đường vào Nơi Thánh có thể được bước vào qua tình thương. Vào nguyên khí trí tuệ lại được thêm—một lần nữa nhờ mãnh lực khẩn cầu và sự gợi lên đáp ứng—một thuộc tính hay nguyên khí thiêng liêng khác, nguyên khí tình thương.
These two great Approaches made it possible for the human soul to express or manifest two aspects of divinity: Intelligence and Love. Intelligence today is flowering through knowledge and science; it has, however, not yet unfolded on any large scale its latent beauty of wisdom; love today is only just beginning to engross human attention; its lowest aspect, Goodwill, is only now being recognized as a divine energy and is still a theory and a hope.
Hai Cuộc Tiếp Cận vĩ đại này đã làm cho linh hồn con người có thể biểu lộ hay hiển lộ hai phương diện của thiên tính: Trí Tuệ và Tình thương. Ngày nay Trí Tuệ đang nở hoa qua tri thức và khoa học; tuy nhiên, nó vẫn chưa khai mở trên quy mô lớn vẻ đẹp tiềm tàng của minh triết; ngày nay tình thương chỉ mới bắt đầu chiếm sự chú ý của con người; phương diện thấp nhất của nó, Thiện chí, chỉ nay mới được nhận biết như một năng lượng thiêng liêng và vẫn còn là một lý thuyết và một niềm hy vọng.
The Buddha came embodying in Himself the divine quality of wisdom; He was the manifestation of Light, and the Teacher of the way of enlightenment. He [151] demonstrated in Himself the processes of illumination and became “the Illumined One”. Light, wisdom, reason, as divine yet human attributes, were focussed in the Buddha. He challenged the people to tread the Path of Illumination of which wisdom, mental perception and the intuition are aspects.
Đức Phật đến, hiện thân trong Chính Ngài phẩm tính thiêng liêng của minh triết; Ngài là sự biểu hiện của Ánh sáng, và là Huấn sư của con đường giác ngộ. Ngài [151] minh chứng trong Chính Ngài các tiến trình soi sáng và trở thành “Đấng Được Soi Sáng”. Ánh sáng, minh triết, lý trí, như những thuộc tính vừa thiêng liêng vừa nhân loại, đã được tập trung nơi Đức Phật. Ngài thách thức dân chúng bước trên Con Đường Soi Sáng, trong đó minh triết, tri giác trí tuệ và trực giác là các phương diện.
Then came the next great Teacher, the Christ. He embodied in Himself a still greater divine principle—greater than the Mind, that of Love; yet at the same time, He embraced within Himself all that the Buddha had of light. Christ was the expression of both light and love. Christ also brought to human attention three deeply necessary concepts:
Rồi đến Huấn sư vĩ đại kế tiếp, Đức Christ. Ngài hiện thân trong Chính Ngài một nguyên khí thiêng liêng còn lớn lao hơn—lớn hơn Trí Tuệ, đó là Tình thương; tuy nhiên, đồng thời, Ngài bao gồm trong Chính Ngài tất cả những gì Đức Phật có về ánh sáng. Đức Christ là sự biểu lộ của cả ánh sáng lẫn tình thương. Đức Christ cũng đưa vào sự chú ý của con người ba khái niệm hết sức cần thiết:
1. The extreme value of the individual son of God and the necessity for intense spiritual effort.
1. Giá trị tột cùng của cá nhân Con của Thượng đế và sự cần thiết của nỗ lực tinh thần mãnh liệt.
2. The opportunity, presented to humanity, to take a great step forward and undergo the new birth.
2. Cơ hội được trình bày cho nhân loại để tiến một bước lớn về phía trước và trải qua sự sinh ra mới.
3. The method whereby a man could enter into the kingdom of God, voiced for us in His words, “Love your neighbour as yourself’. Individual effort, group opportunity and identification with each other—such is the message of the Christ.
3. Phương pháp nhờ đó một người có thể đi vào Thiên Giới, được Ngài nói ra cho chúng ta trong lời: “Hãy yêu người lân cận như chính mình”. Nỗ lực cá nhân, cơ hội nhóm và sự đồng hoá với nhau—đó là thông điệp của Đức Christ.
Thus we have had four great Approaches of the divine to the human—two major Approaches and two lesser Approaches. These lesser Approaches made clear to us the true nature of the great Approaches and showed us how that which was conferred in the far distant history of the race constitutes a divine heritage and the seed of ultimate perfection.
Như vậy, chúng ta đã có bốn Cuộc Tiếp Cận vĩ đại của thiêng liêng đến nhân loại—hai Cuộc Tiếp Cận lớn và hai Cuộc Tiếp Cận nhỏ hơn. Những Cuộc Tiếp Cận nhỏ hơn này đã làm sáng tỏ cho chúng ta bản chất chân thật của các Cuộc Tiếp Cận lớn và chỉ cho chúng ta thấy điều đã được ban trong lịch sử xa xôi của nhân loại cấu thành một di sản thiêng liêng và hạt giống của sự hoàn thiện tối hậu như thế nào.
A fifth great Approach is now possible and will take place when humanity has put its house in order. A new revelation is hovering over mankind and for it the previous four Approaches have prepared humanity. A new heaven and a new earth are on their way. The words “a new Heaven” signify an entirely new conception as to the world of spiritual realities and perhaps of [152] the very nature of God Himself. May it not be possible that our present ideas of God as the Universal Mind, as Love and as Will may be enriched by some new idea and quality for which we have as yet no name or word and of which we have not the faintest understanding? Each of the three concepts as to the nature of divinity—mind, love and will— were entirely new when first presented to humanity.
Một Cuộc Tiếp Cận vĩ đại thứ năm nay đã khả hữu và sẽ diễn ra khi nhân loại sắp xếp lại ngôi nhà của mình. Một sự mặc khải mới đang lơ lửng trên nhân loại, và bốn Cuộc Tiếp Cận trước đã chuẩn bị nhân loại cho nó. Một cõi trời mới và một Trái Đất mới đang trên đường đến. Những lời “một cõi Trời mới” biểu thị một quan niệm hoàn toàn mới về thế giới của các thực tại tinh thần và có lẽ về [152] chính bản chất của Thượng đế. Chẳng lẽ không thể nào những ý tưởng hiện nay của chúng ta về Thượng đế như Vũ Trụ Trí, như Tình thương và như Ý Chí sẽ được làm phong phú bởi một ý tưởng và phẩm tính mới nào đó mà chúng ta cho đến nay chưa có tên gọi hay linh từ, và về nó chúng ta chưa có sự thấu hiểu mảy may nào sao? Mỗi một trong ba quan niệm về bản chất của thiên tính—trí tuệ, tình thương và ý chí—đều hoàn toàn mới khi lần đầu được trình bày cho nhân loại.
What this fifth Approach will bring to humanity we do not and cannot know. It will surely bring as definite results in the human consciousness as did the earlier Approaches. For some years now, the spiritual Hierarchy of our planet has been drawing nearer to humanity and its approach is responsible for the great concepts of freedom which are so close to the hearts of men everywhere. The dream of brotherhood, of fellowship, of world cooperation and of a peace, based on right human relations, is becoming clearer in our minds. We are also visioning a new and vital world religion, a universal faith which will have its roots in the past, but which will make clear the new dawning beauty and the coming vital revelation.
Cuộc Tiếp Cận thứ năm này sẽ mang gì đến cho nhân loại, chúng ta không biết và không thể biết. Nó chắc chắn sẽ mang lại trong tâm thức con người những kết quả xác định như các Cuộc Tiếp Cận trước đã làm. Từ nhiều năm nay, Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta đã tiến gần hơn đến nhân loại, và sự tiếp cận của Thánh Đoàn chịu trách nhiệm cho các quan niệm lớn lao về tự do, vốn rất gần gũi với trái tim con người khắp nơi. Giấc mơ về tình huynh đệ, tình đồng đạo, sự hợp tác thế giới và một nền hòa bình dựa trên những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người đang trở nên rõ ràng hơn trong trí chúng ta. Chúng ta cũng đang thấy trong tầm nhìn một tôn giáo thế giới mới và sống động, một đức tin phổ quát sẽ có cội rễ trong quá khứ, nhưng sẽ làm sáng tỏ vẻ đẹp mới đang rạng và sự mặc khải sống động sắp đến.
Of one thing we can be sure, this fifth Approach will in some way—deeply spiritual, yet wholly factual—prove the truth of the immanence of God and will prove also the close relationship between God transcendent and God immanent, for both expressions of God are true.
Về một điều chúng ta có thể chắc chắn: Cuộc Tiếp Cận thứ năm này, theo một cách nào đó—sâu xa về tinh thần nhưng hoàn toàn thực tế—sẽ chứng minh chân lý về tính nội tại của Thượng đế và cũng sẽ chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa Thượng đế siêu việt và Thượng đế nội tại, vì cả hai biểu lộ của Thượng đế đều là chân thật.
IV. THE REGENERATION OF THE CHURCHES
IV. SỰ TÁI SINH CỦA CÁC GIÁO HỘI
Can the churches, both in the East and in the West, be regenerated, purified and brought into line with divine truth? Can they in reality take over the task which they loudly proclaim is theirs and become the genuine dispensers of truth and the representatives of the kingdom of God on earth? The answer is yes. These changes [153] can be made and their possibility can be demonstrated by the recognition of certain factors which are oft overlooked.
Liệu các giáo hội, cả ở Đông phương lẫn Tây phương, có thể được tái sinh, thanh luyện và đưa vào sự chỉnh hợp với chân lý thiêng liêng không? Liệu trong thực tế họ có thể đảm nhận nhiệm vụ mà họ lớn tiếng tuyên bố là của mình và trở thành những người phân phối chân lý đích thực cùng các đại diện của Thiên Giới trên Trái Đất không? Câu trả lời là có. Những thay đổi này [153] có thể được thực hiện, và khả năng của chúng có thể được chứng minh bằng sự nhận biết một số yếu tố thường bị bỏ qua.
A profound and sound optimism is entirely possible even in the midst of discouraging conditions. The heart of humanity is sound; God in His very nature and with all His power is present in the person of every man, unrevealed as yet in the majority but eternally present and moving towards full expression. Nothing can or ever has prevented mankind from a steady progress which has been from ignorance to knowledge and from darkness to light. The first great clause of the most ancient prayer in the world, “Lead us from darkness to Light”, has seen fulfilment to a large degree. Today we are on the verge of seeing the answer to the second clause: “Lead us from the unreal to the Real”. This may well be the outstanding effect of the coming fifth Approach.
Một niềm lạc quan sâu xa và lành mạnh hoàn toàn có thể có, ngay cả giữa những hoàn cảnh gây nản lòng. Trái tim của nhân loại là lành mạnh; Thượng đế, trong chính bản chất của Ngài và với tất cả quyền năng của Ngài, hiện diện trong con người của mỗi người, nơi đa số vẫn chưa được mặc khải, nhưng vẫn hiện diện vĩnh cửu và đang tiến tới sự biểu lộ trọn vẹn. Không gì có thể, hoặc từng có thể, ngăn cản nhân loại tiến đều đặn từ vô minh đến tri thức và từ bóng tối đến ánh sáng. Mệnh đề vĩ đại đầu tiên của lời cầu nguyện cổ xưa nhất trên thế gian, “Xin dẫn chúng con từ bóng tối đến Ánh sáng”, đã được thành tựu ở một mức độ lớn. Ngày nay, chúng ta đang ở ngưỡng thấy lời đáp cho mệnh đề thứ hai: “Xin dẫn chúng con từ điều không thật đến Cái Thật”. Đây rất có thể là hiệu quả nổi bật của Cuộc Tiếp Cận thứ năm sắp đến.
God is not as He has been presented; salvation is not achieved as the churches teach; man is not the miserable sinner which the clergy force him to believe. All this is unreal but the Real exists; it exists for the churches and for the professional representatives of organized religion as much as for any other man or group. Churchmen are as basically divine, as sound and as surely on their way to enlightenment as any other group of men on earth. The salvation of the churches rests on the humanity of its representatives and on their innate divinity as surely as does the salvation of the mass of men. This is for the church a hard saying.
Thượng đế không phải như Ngài đã được trình bày; sự cứu rỗi không đạt được như các giáo hội giảng dạy; con người không phải là kẻ tội lỗi khốn cùng mà hàng giáo sĩ buộc y phải tin. Tất cả những điều này đều không thật, nhưng Cái Thật vẫn hiện hữu; nó hiện hữu đối với các giáo hội và những đại diện chuyên nghiệp của tôn giáo có tổ chức cũng như đối với bất cứ người hay nhóm nào khác. Những người trong giáo hội, về căn bản, cũng thiêng liêng, lành mạnh và chắc chắn đang trên đường đi tới giác ngộ như bất cứ nhóm người nào khác trên Trái Đất. Sự cứu rỗi của các giáo hội dựa trên nhân tính của những đại diện của chúng và trên thiên tính bẩm sinh của họ, cũng chắc chắn như sự cứu rỗi của quần chúng nhân loại. Đối với giáo hội, đây là một lời nói khó nghe.
Great and good, holy and humble men are to be found serving as priests in every church, silently and quietly endeavouring to live as Christ would have them live, setting an example of a Christlike consciousness and demonstrating their close and recognized relation to God.
Trong mọi giáo hội đều có thể tìm thấy những người vĩ đại và tốt lành, thánh thiện và khiêm nhường, đang phụng sự với tư cách linh mục, âm thầm và lặng lẽ cố gắng sống như Đức Christ muốn họ sống, nêu gương về một tâm thức giống như Đức Christ và biểu lộ mối liên hệ gần gũi, được nhận biết của họ với Thượng đế.
[154] Let these men rise up, and in their spiritual might let them eliminate out of the churches those materially minded and narrow doctrinaires who keep the church as it is today; let them intensify the fire in their hearts and draw closer—with deliberation and understanding—to the Christ they serve; let them gather closer to the Hierarchy those they are seeking to help; let them discard—without fighting, comment or fury—the doctrines which hold the people in a mental prison and present those few and true teachings to which the hearts of all men everywhere respond. Let them have courage and cheer, optimism and joy, for the forces of evil have been greatly weakened and the masses of men are rapidly awakening to the true spiritual values; let them know that Christ and the true inner church are on their side; therefore, victory is already theirs.
[154] Hãy để những người này đứng lên, và trong sức mạnh tinh thần của họ, hãy để họ loại bỏ khỏi các giáo hội những kẻ duy vật và những nhà giáo điều hẹp hòi đang giữ giáo hội như tình trạng ngày nay; hãy để họ làm bừng mạnh hơn ngọn lửa trong tim mình và tiến gần hơn—với sự cân nhắc và thấu hiểu—đến Đức Christ mà họ phụng sự; hãy để họ đưa những người mà họ đang tìm cách giúp đỡ đến gần Thánh Đoàn hơn; hãy để họ từ bỏ—không tranh đấu, không bình luận hay giận dữ—những giáo điều đang giam giữ dân chúng trong nhà tù trí tuệ, và trình bày vài giáo huấn ít ỏi nhưng chân thật mà trái tim của mọi người ở khắp nơi đều đáp ứng. Hãy để họ có can đảm và sự vui tươi, lạc quan và sự hoan hỉ, vì các mãnh lực của cái ác đã suy yếu rất nhiều, và quần chúng nhân loại đang nhanh chóng thức tỉnh trước các giá trị tinh thần chân thật; hãy để họ biết rằng Đức Christ và giáo hội nội tại chân thật đang đứng về phía họ; vì vậy, chiến thắng đã thuộc về họ.
The processes of evolution may be long but they are proven and sure and nothing can arrest the moving forward into the Kingdom of God. Humanity must progress; stage by stage and cycle after cycle, humanity approaches closer to divinity, discovers a more brilliant light and arrives at a growing knowledge of God. God, in the person of Christ and of His disciples, also draws nearer to men. What has been in the past shall indeed be in the future; revelation will succeed revelation until the great Informing Life of our planet (called in the Bible the Ancient of Days) will stand finally revealed in all His glory; He will then Himself approach His regenerated and purified people.
Các tiến trình tiến hoá có thể dài lâu, nhưng chúng đã được chứng minh và chắc chắn, và không gì có thể ngăn chặn sự tiến tới Thiên Giới. Nhân loại phải tiến bộ; từng giai đoạn và hết chu kỳ này đến chu kỳ khác, nhân loại tiến gần hơn đến thiên tính, khám phá một ánh sáng rực rỡ hơn và đạt tới một tri thức ngày càng tăng về Thượng đế. Thượng đế, trong con người của Đức Christ và các đệ tử của Ngài, cũng tiến gần hơn đến con người. Điều đã có trong quá khứ quả thật sẽ có trong tương lai; sự mặc khải sẽ nối tiếp sự mặc khải, cho đến khi Sự Sống Vĩ Đại thấm nhuần hành tinh chúng ta, trong Kinh Thánh được gọi là Đấng Thái Cổ, cuối cùng sẽ hiển lộ trong tất cả vinh quang của Ngài; bấy giờ chính Ngài sẽ tiếp cận dân tộc đã được tái sinh và thanh luyện của Ngài.
Another point which should be remembered is that in the new generation lies hope—hope through repudiation of the ancient and undesirable, hope because of their ceaseless demand for spiritual light, hope because of the promptness with which they recognize truth wherever it is to be found (in the church or out of it) and hope because, having been born in the midst of a [155] ruined world and a general chaos, they are ready for the rebuilding.
Một điểm khác cần được ghi nhớ là trong thế hệ mới có hy vọng—hy vọng nhờ sự khước từ những gì xưa cũ và không đáng mong muốn, hy vọng vì nhu cầu không ngừng của họ về ánh sáng tinh thần, hy vọng vì sự nhanh nhạy mà họ nhận ra chân lý ở bất cứ nơi nào có thể tìm thấy, dù trong giáo hội hay ngoài giáo hội, và hy vọng vì, sinh ra giữa một thế giới [155] đổ nát và một tình trạng hỗn loạn chung, họ sẵn sàng cho công cuộc tái thiết.
The church will then proclaim that men can draw near to God, not through the mediation, absolution and the intercessory work of any priest or churchman but by right of man’s inherent divinity. This it will be the duty of every churchman to evoke by example, by the energy of applied and practical love (not expressed through a soporific paternalism), and by the unified effort of the clergy of all faiths everywhere in the world.
Bấy giờ giáo hội sẽ tuyên bố rằng con người có thể đến gần Thượng đế, không phải qua sự trung gian, tha tội và công việc cầu thay của bất cứ linh mục hay người trong giáo hội nào, mà nhờ quyền của thiên tính cố hữu nơi con người. Đây sẽ là bổn phận của mọi người trong giáo hội: gợi lên điều ấy bằng gương mẫu, bằng năng lượng của tình thương được áp dụng và thực tiễn, không biểu lộ qua một chủ nghĩa phụ quyền gây mê ngủ, và bằng nỗ lực thống nhất của hàng giáo sĩ thuộc mọi tín ngưỡng ở khắp nơi trên thế giới.
The churches in the West need to realize that basically there is only one church but it is not necessarily only the orthodox Christian institution; God works in many ways, through many faiths and religious agencies; in their union will the fullness of truth be revealed. This is one reason for the elimination of nonessential doctrines.
Các giáo hội ở phương Tây cần nhận ra rằng, về căn bản, chỉ có một giáo hội duy nhất, nhưng không nhất thiết chỉ là định chế Chính thống giáo Kitô giáo; Thượng đế làm việc theo nhiều cách, qua nhiều tín ngưỡng và cơ quan tôn giáo; trong sự hợp nhất của chúng, sự trọn vẹn của chân lý sẽ được mặc khải. Đây là một lý do cho việc loại bỏ các giáo điều không thiết yếu.
V. THE NEW WORLD RELIGION
V. TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI
In what way will this new presentation of religion and its new rituals and ceremonies take form? A new presentation is deeply desired and hopefully anticipated by those to whom the religious attitude is of fundamental importance. What are the signs of its coming? What must be the preliminary first steps? Are there any indications of developing trends which would incline one to believe in its eventual appearance?
Bằng cách nào sự trình bày mới này về tôn giáo, cùng các nghi lễ và nghi thức mới của nó, sẽ thành hình? Một sự trình bày mới đang được khao khát sâu xa và trông đợi đầy hy vọng bởi những người mà thái độ tôn giáo có tầm quan trọng nền tảng đối với họ. Những dấu hiệu nào cho thấy nó đang đến? Những bước đầu tiên sơ khởi phải là gì? Có dấu hiệu nào về các khuynh hướng đang phát triển khiến người ta nghiêng về niềm tin rằng cuối cùng nó sẽ xuất hiện không?
Many such questions arise. Much of what might be said in reply can be regarded by the sceptical and the orthodox as purely speculative. The present attitude of the churches would seem to negate any possibility of a universal religion at this time—if ever; the divergences in doctrine and in the presented approach to God would appear to preclude any uniformity of approach. Necessarily, the outer structure of the New World Religion will be long in manifesting; there is [156] little chance of its full emergence during the present generation. The signs, however, of its rising are already to be seen on the horizon, and the dawn of true thinking is revealing them; the blueprints are already drawn. The inner attitude of humanity and a few outer happenings indicate a true inner recognition of the necessity for a revisal of orthodox religion and a revival of its spiritual influence. These are ever the preliminary steps to creation. Subjective realization always precedes the objective manifestation and so it is today in this case.
Nhiều câu hỏi như thế nảy sinh. Phần lớn những gì có thể được nói để đáp lại có thể bị người hoài nghi và người chính thống xem là thuần túy suy đoán. Thái độ hiện nay của các giáo hội dường như phủ nhận mọi khả năng về một tôn giáo phổ quát vào lúc này—nếu có bao giờ; những khác biệt về giáo lý và về cách tiếp cận Thượng đế được trình bày dường như loại trừ mọi sự đồng nhất trong phương cách tiếp cận. Tất nhiên, cấu trúc bên ngoài của Tôn Giáo Thế Giới Mới sẽ còn lâu mới biểu hiện; có [156] rất ít cơ hội để nó hiển lộ trọn vẹn trong thế hệ hiện tại. Tuy nhiên, các dấu hiệu về sự trỗi dậy của nó đã có thể thấy nơi chân trời, và bình minh của tư duy chân thật đang làm chúng hiển lộ; các bản thiết kế đã được vẽ xong. Thái độ nội tâm của nhân loại và một vài biến cố bên ngoài cho thấy một sự nhận biết nội tâm chân thật về nhu cầu phải duyệt xét lại tôn giáo chính thống và phục hồi ảnh hưởng tinh thần của nó. Những điều này bao giờ cũng là các bước sơ khởi dẫn đến sáng tạo. Sự nhận biết chủ quan luôn đi trước sự biểu hiện khách quan, và ngày nay trong trường hợp này cũng vậy.
Humanity is recognizing the need for a more vital approach to God and one more intelligently presented; men are tired of doctrinal and dogmatic differences and quarrels; the study of Comparative Religion has demonstrated that the foundational truths in every faith are identical. Because of this universality, they evoke recognition and response from all men everywhere. The only factor in reality which militates against the spiritual unity of all men everywhere is the existent clerical organizations and their militant attitude to religions and to faiths other than their own.
Nhân loại đang nhận ra nhu cầu về một phương cách tiếp cận Thượng đế sinh động hơn và được trình bày thông minh hơn; con người đã mệt mỏi với những khác biệt và tranh chấp giáo điều, tín điều; việc nghiên cứu Tôn Giáo So Sánh đã chứng minh rằng các chân lý nền tảng trong mọi tín ngưỡng đều giống nhau. Nhờ tính phổ quát này, chúng gợi lên sự nhận biết và đáp ứng từ mọi người ở khắp nơi. Yếu tố duy nhất trong thực tại chống lại sự hợp nhất tinh thần của mọi người ở khắp nơi là các tổ chức giáo sĩ hiện hữu và thái độ hiếu chiến của họ đối với các tôn giáo và tín ngưỡng khác với tôn giáo và tín ngưỡng của chính họ.
In spite of all this, the structure of the New World Religion is being raised by the dissenting groups within the institutional churches, by the many world groups who present the concept of God immanent, even when they do so with selfish motive and with an unwholesome emphasis upon the powers of the indwelling divinity to provide perfect health, plenty of money, serene business success and unbroken popularity!
Bất chấp tất cả những điều này, cấu trúc của Tôn Giáo Thế Giới Mới đang được xây dựng bởi các nhóm bất đồng trong những giáo hội định chế, bởi nhiều nhóm thế giới trình bày khái niệm về Thượng đế nội tại, ngay cả khi họ làm như thế với động cơ ích kỷ và với sự nhấn mạnh không lành mạnh vào các quyền năng của thiên tính nội trú nhằm đem lại sức khỏe hoàn hảo, nhiều tiền bạc, thành công kinh doanh thanh thản và sự nổi tiếng không gián đoạn!
The New World Religion is also being brought into expression through the work of the esoteric groups throughout the world because of their particular emphasis upon the fact of the spiritual Hierarchy, upon the office and the work of the Christ and upon the techniques of meditation whereby soul-awareness (or the Christ-consciousness) can be achieved. Prayer has been [157] expanded into meditation; desire has been lifted into mental aspiration. This is supplanted by a sense of unity and by the recognition of God immanent. This leads eventually to at-one-ment with God transcendent.
Tôn Giáo Thế Giới Mới cũng đang được đưa vào biểu lộ qua công việc của các nhóm huyền bí học khắp thế giới, bởi sự nhấn mạnh đặc biệt của họ vào sự kiện về Thánh Đoàn tinh thần, vào chức vụ và công việc của Đức Christ, và vào các kỹ thuật tham thiền nhờ đó sự nhận biết linh hồn, hay tâm thức Christ, có thể đạt được. Cầu nguyện đã được [157] mở rộng thành tham thiền; dục vọng đã được nâng lên thành khát vọng trí tuệ. Điều này được thay thế bởi ý thức về sự hợp nhất và bởi sự nhận biết Thượng đế nội tại. Cuối cùng điều này dẫn đến sự hợp nhất với Thượng đế siêu việt.
It is at this point that the Science of Invocation and Evocation can at times supersede the earlier techniques. The whole of humanity is moving forward into the area of mental understanding. The grasping nature of the prayers of the average men (based as they are upon desire for something) has long disturbed the intelligent; the vagueness of the meditation, taught and practised in the East and in the West (with its emphatically selfish note, personal liberation and personal satisfaction) is likewise causing a revolt. Something bigger and larger than individual desire and liberation is registered. Many groups are wrestling with these changes and this is, in itself, most hopeful.
Chính tại điểm này, Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên đôi khi có thể thay thế các kỹ thuật trước kia. Toàn thể nhân loại đang tiến vào lĩnh vực của sự thấu hiểu trí tuệ. Bản chất bám víu trong những lời cầu nguyện của người bình thường, vốn dựa trên ham muốn một điều gì đó, từ lâu đã làm những người thông minh bất an; sự mơ hồ của tham thiền, được dạy và thực hành ở phương Đông và phương Tây, với âm điệu ích kỷ rõ rệt của nó là giải thoát cá nhân và thỏa mãn cá nhân, cũng đang gây nên một cuộc phản kháng. Một điều gì lớn hơn và bao la hơn dục vọng cá nhân và sự giải thoát cá nhân đang được ghi nhận. Nhiều nhóm đang vật lộn với những thay đổi này, và điều đó, tự nó, là rất đáng hy vọng.
In the aggregate of these groups—within the churches or outside them—is to be found the nucleus of the New World Religion. To this should be added the activities of the spiritualistic movement, not from the angle of its emphasis upon phenomena (much of it is spurious or imaginative, but some of it realistic and true) but from the angle of its surety about human immortality and the evidence which it has collected. The spiritualists have not yet succeeded in proving immortality; they have succeeded in proving survival and have thus made a valuable contribution to the structure of the New World Religion.
Trong tổng thể các nhóm này—bên trong các giáo hội hoặc bên ngoài chúng—có thể tìm thấy hạt nhân của Tôn Giáo Thế Giới Mới. Vào đó nên thêm các hoạt động của phong trào thần linh học, không phải từ góc độ nhấn mạnh của nó vào hiện tượng, phần lớn là giả tạo hoặc do tưởng tượng, nhưng một phần là hiện thực và chân thật, mà từ góc độ sự xác tín của nó về sự bất tử của con người và chứng cứ mà nó đã thu thập. Các nhà thần linh học chưa thành công trong việc chứng minh sự bất tử; họ đã thành công trong việc chứng minh sự tồn tại tiếp tục, và nhờ đó đã đóng góp một phần giá trị vào cấu trúc của Tôn Giáo Thế Giới Mới.
The slowly developing powers of telepathic communication and the recognition of extra-sensory perception by science are also playing their part in demonstration of the world of non-tangible life and values; all these factors necessitate and “sub-stand” the demand for a new presentation of religion which will be inclusive in its scope and not exclusive—as it is today. The religion [158] of the future will account for the progress of humanity by its recognition of a divine Plan, historically proved. Scientifically applied discipline and training will enable mankind to function under the control of the inner divinity, or interior spiritual man; this training will also reveal to them the fact of God immanent in all forms and will enable them to participate in that great planetary movement—now slowly taking place—whereby God immanent is entering into a closer relation with God transcendent, via the spiritual Hierarchy of the earth.
Những quyền năng đang phát triển chậm rãi của giao tiếp viễn cảm và sự thừa nhận tri giác ngoại cảm bởi khoa học cũng đang góp phần vào việc chứng minh thế giới của sự sống và các giá trị phi vật thể; tất cả những yếu tố này đòi hỏi và “làm nền” cho nhu cầu về một sự trình bày mới của tôn giáo, có phạm vi bao gồm và không loại trừ như hiện nay. Tôn giáo [158] của tương lai sẽ giải thích sự tiến bộ của nhân loại qua sự nhận biết một Thiên Cơ, đã được chứng minh trong lịch sử. Kỷ luật và huấn luyện được áp dụng một cách khoa học sẽ giúp nhân loại hoạt động dưới sự kiểm soát của thiên tính nội tại, hay con người tinh thần bên trong; sự huấn luyện này cũng sẽ mặc khải cho họ sự kiện về Thượng đế nội tại trong mọi hình tướng và sẽ giúp họ tham dự vào phong trào hành tinh vĩ đại—nay đang diễn ra chậm rãi—qua đó Thượng đế nội tại đang bước vào một mối liên hệ gần gũi hơn với Thượng đế siêu việt, thông qua Thánh Đoàn tinh thần của Trái Đất.
The keynote of the New World Religion is Divine Approach. “Draw near to Him and He will draw near to you” is the injunction, emanating in new and clear tones from the Hierarchy today. The great theme of the New World Religion will be the unifying of the great divine Approaches; the task ahead of the churches is to prepare humanity, through organized and spiritual movements, for the fifth imminent Approach; the method employed will be the scientific and intelligent use of Invocation and Evocation and the recognition of its stupendous potency; the objective of the coming Approach, of the preparatory work and of the invocation, is revelation—a revelation which has ever been cyclically given and which today is ready for man’s acceptance.
Chủ âm của Tôn Giáo Thế Giới Mới là Cuộc Tiếp Cận Thiêng Liêng. “Hãy đến gần Ngài và Ngài sẽ đến gần các bạn” là lời huấn thị, đang phát ra bằng những âm điệu mới mẻ và rõ ràng từ Thánh Đoàn ngày nay. Chủ đề vĩ đại của Tôn Giáo Thế Giới Mới sẽ là sự hợp nhất các Cuộc Tiếp Cận thiêng liêng vĩ đại; nhiệm vụ trước mắt các giáo hội là chuẩn bị nhân loại, qua những phong trào có tổ chức và tinh thần, cho Cuộc Tiếp Cận thứ năm đang gần kề; phương pháp được sử dụng sẽ là việc dùng Khẩn Cầu và Gợi Lên một cách khoa học và thông minh, cùng sự nhận biết quyền năng phi thường của nó; mục tiêu của Cuộc Tiếp Cận sắp đến, của công việc chuẩn bị và của sự khẩn cầu, là sự mặc khải—một sự mặc khải vốn luôn được ban theo chu kỳ và ngày nay đã sẵn sàng để con người chấp nhận.
Invocation is of three kinds. There is, first of all, the massed demand, unconsciously voiced, and the crying appeal, wrung from the hearts of men in all times of crisis, such as the present. This invocative cry rises ceaselessly from all men living in the midst of disaster and is addressed to that power outside themselves which they feel can and should come to their help in their moment of extremity. That great and wordless invocation is rising everywhere today. Then there is the invocational spirit, evidenced by sincere men as they participate in the rites of their religion and take advantage of the opportunity of united worship and prayer to lay their [159] demands for help before God. This group, added to the mass of men, creates a huge body of invocative applicants and, at this time, their massed intent is in great evidence and their invocation is rising to the Most High. Then, lastly, there are the trained disciples and aspirants of the world who use certain forms of words, certain carefully defined invocations and who—as they do—focus the invocative cry and the invocative appeal of the other two groups, giving it right direction and power. All these three groups are, consciously or unconsciously, swinging into activity at this time and their united effort guarantees a resultant evocation.
Khẩn cầu có ba loại. Trước hết, có nhu cầu tập thể, được cất lên một cách vô thức, và tiếng kêu cầu, bị vắt ra từ trái tim con người trong mọi thời kỳ khủng hoảng, như hiện nay. Tiếng kêu khẩn cầu này không ngừng dâng lên từ mọi người đang sống giữa tai họa và được hướng đến quyền năng bên ngoài chính họ mà họ cảm thấy có thể và nên đến trợ giúp họ trong giờ phút cùng cực. Lời khẩn cầu vĩ đại và không lời ấy ngày nay đang dâng lên khắp nơi. Kế đến, có tinh thần khẩn cầu, được chứng tỏ bởi những người chân thành khi họ tham dự các nghi thức của tôn giáo mình và tận dụng cơ hội thờ phượng và cầu nguyện chung để đặt [159] những nhu cầu được trợ giúp của họ trước Thượng đế. Nhóm này, cộng với quần chúng nhân loại, tạo nên một khối đông đảo những người khẩn cầu, và vào lúc này, ý định tập thể của họ biểu hiện rất rõ, còn lời khẩn cầu của họ đang dâng lên Đấng Tối Cao. Sau cùng, có các đệ tử và người chí nguyện đã được huấn luyện trên thế giới, những người sử dụng một số hình thức ngôn từ, một số lời khẩn cầu được xác định cẩn thận, và khi làm như thế, họ tập trung tiếng kêu khẩn cầu và lời thỉnh cầu khẩn cầu của hai nhóm kia, đem lại cho nó phương hướng đúng và quyền năng. Cả ba nhóm này, hữu thức hay vô thức, đều đang đi vào hoạt động vào lúc này, và nỗ lực hợp nhất của họ bảo đảm một sự gợi lên tương ứng.
This new invocative work will be the keynote of the coming world religion and will fall into two parts. There will be the invocative work of the masses of the people, everywhere trained by the spiritually minded people of the world (working in the churches whenever possible under an enlightened clergy) to accept the fact of the approaching spiritual energies, focussed through Christ and His spiritual Hierarchy, and trained also to voice their demand for light, liberation and understanding. There will also be the skilled work of invocation as practised by those who have trained their minds through right meditation, who know the potency of formulas, mantrams and invocations and who work consciously. They will increasingly use certain great formulas of words which will later be given to the race, just as the Lord’s Prayer was given by the Christ, and the New Invocation has been given out for use at this time by the Hierarchy.
Công việc khẩn cầu mới này sẽ là chủ âm của tôn giáo thế giới sắp đến và sẽ chia thành hai phần. Sẽ có công việc khẩn cầu của quần chúng nhân dân, ở khắp nơi được những người có trí hướng tinh thần của thế giới huấn luyện, làm việc trong các giáo hội bất cứ khi nào có thể dưới một hàng giáo sĩ giác ngộ, để chấp nhận sự kiện về các năng lượng tinh thần đang đến gần, được tập trung qua Đức Christ và Thánh Đoàn tinh thần của Ngài, và cũng được huấn luyện để cất lên nhu cầu của họ về ánh sáng, giải thoát và thấu hiểu. Cũng sẽ có công việc khẩn cầu thiện nghệ như được thực hành bởi những người đã huấn luyện thể trí của họ qua tham thiền đúng đắn, những người biết quyền năng của các công thức, mantram và lời khẩn cầu, và những người làm việc một cách hữu thức. Họ sẽ ngày càng sử dụng một số công thức ngôn từ vĩ đại, về sau sẽ được ban cho nhân loại, cũng như Kinh Lạy Cha đã được Đức Christ ban, và Lời Khẩn Cầu Mới đã được Thánh Đoàn đưa ra để sử dụng vào lúc này.
This new religious science for which prayer, meditation and ritual have prepared humanity will train its people to present—at stated periods throughout the year—the voiced demand of the people of the world for relationship with God and for a closer spiritual relation to each other. This work, when rightly carried forward, will evoke response from the waiting Hierarchy [160] and from its Head, the Christ. Through this response, the belief of the masses will gradually be charged into the conviction of the knowers. In this way the mass of men will be transformed and spiritualized, and the two great divine centres of energy or groups—the Hierarchy and Humanity itself—will begin to work in complete at-one-ment and unity. Then the Kingdom of God will in deed and in truth be functioning on earth.
Khoa học tôn giáo mới này, mà cầu nguyện, tham thiền và nghi lễ đã chuẩn bị nhân loại cho nó, sẽ huấn luyện dân chúng của mình trình bày—vào những thời kỳ đã định trong suốt năm—nhu cầu được xướng lên của nhân dân thế giới về mối liên hệ với Thượng đế và về một mối liên hệ tinh thần gần gũi hơn với nhau. Công việc này, khi được tiến hành đúng đắn, sẽ gợi lên đáp ứng từ Thánh Đoàn đang chờ đợi [160] và từ Đấng Đứng Đầu của Thánh Đoàn, Đức Christ. Qua đáp ứng này, niềm tin của quần chúng sẽ dần dần được nạp năng lượng và chuyển thành xác tín của các thức giả. Bằng cách này, quần chúng nhân loại sẽ được chuyển đổi và tinh thần hóa, và hai trung tâm hay nhóm năng lượng thiêng liêng vĩ đại—Thánh Đoàn và chính Nhân Loại—sẽ bắt đầu làm việc trong sự hợp nhất và thống nhất hoàn toàn. Bấy giờ Thiên Giới sẽ thật sự và đúng nghĩa hoạt động trên Trái Đất.
It will be obvious to you that this technique of invocation and evocation has its roots in past methods of human approach to Deity. Men have long used the method of prayer with important and deeply spiritual results, in spite of its frequent misuse for selfish purposes; people, more intelligent and more mentally focussed, have employed more generally the method of meditation in order to arrive at knowledge of God, to awaken the intuition and to understand the nature of truth. These two methods of prayer and of meditation have brought humanity to the various spiritual recognitions which distinguish human thinking; through their means also the Scriptures of the world have been produced and the great spiritual concepts which have conditioned human living and which have led man on from one revelation to another have found their way into the minds of men. Worship also has played its part and has attempted to organize groups of believers into an oriented and united approach to God; however, the emphasis has again been on God transcendent and not on God immanent. When the God immanent in every human heart is awakened and functioning (even if only in a small degree) the potency of worship as an act of invocative approach to God will prove amazing and miraculous in its results. A response beyond man’s deepest hopes will be evoked from Christ and His group of workers.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng kỹ thuật khẩn cầu và gợi lên này có cội rễ trong các phương pháp xưa kia của con người nhằm tiếp cận Thượng Đế. Con người từ lâu đã sử dụng phương pháp cầu nguyện với những kết quả quan trọng và sâu sắc về tinh thần, bất chấp việc nó thường bị lạm dụng cho các mục đích ích kỷ; những người thông minh hơn và tập trung trí tuệ hơn đã dùng phương pháp tham thiền một cách phổ biến hơn để đạt tới tri thức về Thượng đế, đánh thức trực giác và thấu hiểu bản chất của chân lý. Hai phương pháp cầu nguyện và tham thiền này đã đưa nhân loại đến những nhận biết tinh thần khác nhau vốn phân biệt tư duy con người; cũng nhờ phương tiện của chúng, các Thánh Kinh của thế giới đã được tạo ra, và những khái niệm tinh thần vĩ đại vốn đã định hình đời sống con người và dẫn dắt con người từ mặc khải này sang mặc khải khác đã tìm đường vào thể trí của con người. Sự thờ phượng cũng đã đóng vai trò của nó và đã cố gắng tổ chức các nhóm tín đồ thành một phương cách tiếp cận Thượng đế có định hướng và hợp nhất; tuy nhiên, một lần nữa, sự nhấn mạnh lại đặt trên Thượng đế siêu việt chứ không phải Thượng đế nội tại. Khi Thượng đế nội tại trong mỗi trái tim con người được đánh thức và hoạt động, dù chỉ ở một mức độ nhỏ, quyền năng của sự thờ phượng như một hành vi khẩn cầu tiếp cận Thượng đế sẽ chứng tỏ là kỳ diệu và nhiệm mầu trong các kết quả của nó. Một đáp ứng vượt quá những hy vọng sâu xa nhất của con người sẽ được gợi lên từ Đức Christ và nhóm người hoạt động của Ngài.
To these two great concepts underlying the New World Religion—Approach to God, and Invocation and [161] Evocation—must be added the exceedingly modern one of energy as the basis of all life, all forms and all action and the medium of all relationships. The force of the mind in producing telepathic rapport has already been recognized by science; mental power is today registered as an energy, capable of contact, of recognition and of producing a reciprocal activity. Prayer has always recognized this, without attempting to formulate the mode whereby phenomena are produced through the medium of prayer. But in prayer, meditation and worship there is undoubtedly an energy factor, proceeding from this to that and producing in many cases the desired response in some form or another. Meditation is also an energy, setting in motion potencies which can eliminate certain aspects of thought or attract other aspects, such as visions, ideas, and spiritual recognitions. Worship has ever been known to produce a group stimulation when successfully oriented and focussed even to the point of ecstasy or hysteria, Pentecost or revelation. To these three—Prayer, Meditation and Worship—must now be added conscious Invocation, plus a trained expectancy of a reciprocal Evocation.
Vào hai khái niệm vĩ đại này nằm dưới Tôn Giáo Thế Giới Mới—Tiếp Cận Thượng đế, và Khẩn Cầu cùng [161] Gợi Lên—phải thêm khái niệm hết sức hiện đại về năng lượng như nền tảng của mọi sự sống, mọi hình tướng và mọi hành động, cũng như phương tiện của mọi mối liên hệ. Mãnh lực của thể trí trong việc tạo ra mối giao cảm viễn cảm đã được khoa học thừa nhận; quyền năng trí tuệ ngày nay được ghi nhận như một năng lượng, có khả năng tiếp xúc, nhận biết và tạo ra một hoạt động hỗ tương. Cầu nguyện luôn luôn nhận biết điều này, dù không cố gắng công thức hóa phương thức qua đó các hiện tượng được tạo ra bằng phương tiện cầu nguyện. Nhưng trong cầu nguyện, tham thiền và thờ phượng chắc chắn có một yếu tố năng lượng, đi từ điều này đến điều kia và trong nhiều trường hợp tạo ra đáp ứng mong muốn dưới hình thức này hay hình thức khác. Tham thiền cũng là một năng lượng, khởi động những quyền năng có thể loại bỏ một số phương diện của tư tưởng hoặc thu hút những phương diện khác, như các linh ảnh, ý tưởng và nhận biết tinh thần. Sự thờ phượng từ lâu đã được biết là tạo ra một kích thích tập thể khi được định hướng và tập trung thành công, thậm chí đến mức xuất thần hay cuồng loạn, Lễ Ngũ Tuần hay sự mặc khải. Vào ba điều này—Cầu Nguyện, Tham Thiền và Thờ Phượng—nay phải thêm Khẩn Cầu hữu thức, cộng với một sự trông đợi được huấn luyện về một Gợi Lên hỗ tương.
There are also many forms of energy and many spiritual potencies which are not as yet generally recognized but to which the church Festivals of all religions bear witness; these are released at the period of the Festivals. It is not possible in this book to deal with this subject in any detail. But we can indicate the general line of thought which will produce and condition the New World Religion, which will link it with all of the good which the past has given, which will make it spiritually effective in the future and which today will slowly condition man’s approach to God—an approach which for the first time in history can be organized on a worldwide scale and consciously undertaken. This indicates that because of man’s desperate need, because of [162] the crisis through which humanity has just passed and is now passing, men and women of vision and of inclusive thinking in all the churches of every world faith will end their doctrinal differences, agree on the essential religious truths and then proceed unitedly and with some uniformity of ritual and ceremonial to approach together the centre of spiritual power.
Cũng có nhiều hình thức năng lượng và nhiều quyền năng tinh thần chưa được nhận biết rộng rãi, nhưng các Lễ hội của giáo hội trong mọi tôn giáo đều làm chứng cho chúng; chúng được phóng thích vào thời kỳ các Lễ hội. Trong quyển sách này không thể đề cập đến chủ đề này một cách chi tiết. Nhưng chúng ta có thể chỉ ra đường hướng tư tưởng tổng quát sẽ tạo ra và định hình Tôn Giáo Thế Giới Mới, sẽ liên kết nó với tất cả điều tốt đẹp mà quá khứ đã trao, sẽ làm cho nó hữu hiệu về mặt tinh thần trong tương lai và ngày nay sẽ dần dần định hình phương cách con người tiếp cận Thượng đế—một phương cách tiếp cận mà lần đầu tiên trong lịch sử có thể được tổ chức trên quy mô toàn cầu và được đảm nhận một cách hữu thức. Điều này cho thấy rằng, vì nhu cầu tuyệt vọng của con người, vì [162] cuộc khủng hoảng mà nhân loại vừa trải qua và hiện đang trải qua, những người nam và nữ có tầm nhìn và tư duy bao gồm trong tất cả các giáo hội của mọi tín ngưỡng thế giới sẽ chấm dứt những khác biệt giáo điều, đồng thuận về các chân lý tôn giáo thiết yếu, rồi cùng nhau tiến hành, một cách thống nhất và với phần nào sự đồng nhất về nghi lễ và nghi thức, để cùng nhau tiếp cận trung tâm quyền năng tinh thần.
Is this too much to expect and to ask of humanity in the hour of man’s need? Cannot the enlightened members of the present great world religions in the East and in the West get together and plan for such an invocative undertaking and thus together inaugurate the mode of spiritual Approach which will serve to unify their efforts and establish the seed at least of the New World Religion?
Điều này có phải là quá nhiều để mong đợi và đòi hỏi nơi nhân loại trong giờ phút nhu cầu của con người không? Các thành viên giác ngộ của những tôn giáo thế giới lớn hiện nay ở phương Đông và phương Tây không thể cùng nhau họp lại và lập kế hoạch cho một công cuộc khẩn cầu như thế, và như vậy cùng nhau khai mở phương thức Tiếp Cận tinh thần sẽ giúp hợp nhất các nỗ lực của họ và ít nhất thiết lập hạt giống của Tôn Giáo Thế Giới Mới sao?
The establishing of a measure of uniformity of procedure will not prove so difficult once a measure of unity on the spiritual essentials has been achieved. This carefully determined uniformity will aid men everywhere to strengthen each other’s work and enhance powerfully the stream of thought energy which can be directed towards those spiritual Lives, working under the Christ, Who stand expectantly waiting to come to the aid of humanity. At present the Christian religion has its great Festivals; the Buddhist keeps his particular set of spiritual events, and the Hindu has still another list of holy days, as has also the Mohammedan. Is it not possible that in the world of the future, men everywhere and of all faiths will keep the same holy days and unite in honour of the same Festivals? This will bring about a pooling of spiritual resources and a united spiritual effort, plus a simultaneous spiritual invocation. The potency of this is surely apparent.
Việc thiết lập một mức độ đồng nhất trong thủ tục sẽ không tỏ ra quá khó khăn một khi đã đạt được một mức độ hợp nhất trên các điều cốt yếu tinh thần. Sự đồng nhất được xác định cẩn thận này sẽ giúp con người ở khắp nơi củng cố công việc của nhau và tăng cường mạnh mẽ dòng năng lượng tư tưởng có thể được hướng đến những Sự Sống tinh thần đang làm việc dưới Đức Christ, Các Ngài đang trông đợi và chờ sẵn để đến trợ giúp nhân loại. Hiện nay tôn giáo Kitô giáo có các Lễ hội lớn của mình; Phật tử giữ nhóm sự kiện tinh thần riêng của họ, và người Hindu có một danh sách ngày thánh khác, cũng như người Hồi giáo. Chẳng lẽ không thể rằng trong thế giới tương lai, con người ở khắp nơi và thuộc mọi tín ngưỡng sẽ giữ cùng những ngày thánh và hợp nhất trong việc tôn vinh cùng những Lễ hội sao? Điều này sẽ đem lại sự góp chung các nguồn lực tinh thần và một nỗ lực tinh thần hợp nhất, cộng với một sự khẩn cầu tinh thần đồng thời. Quyền năng của điều này chắc chắn là hiển nhiên.
Let us indicate the possibilities of such a spiritual happening, and prophesy the nature of certain of the future worldwide Festivals. There are three such Festivals [163] each year which all men could and would normally and easily keep together, in unison and with a uniformity of approach which would link them all closely together. These three Festivals are concentrated in three consecutive months and lead, therefore, to a prolonged annual spiritual effort which should affect the entire year. They would serve to unite in closer spiritual ties the Eastern and the Western believer; they express divinity in manifestation through the place where the will of God is known, through the spiritual Hierarchy where the love of God is fully expressed and through humanity whose task it is intelligently to work out God’s plan in love and goodwill to all men.
Chúng ta hãy chỉ ra những khả năng của một sự kiện tinh thần như thế, và tiên tri bản chất của một số Lễ hội toàn cầu trong tương lai. Có ba Lễ hội như thế [163] mỗi năm mà mọi người có thể và bình thường sẽ dễ dàng cùng nhau giữ, trong sự hòa hợp và với một sự đồng nhất trong phương cách tiếp cận, điều sẽ liên kết tất cả họ chặt chẽ với nhau. Ba Lễ hội này tập trung trong ba tháng liên tiếp và do đó dẫn đến một nỗ lực tinh thần hằng năm kéo dài, vốn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ năm. Chúng sẽ giúp liên kết tín đồ phương Đông và phương Tây bằng những mối dây tinh thần gần gũi hơn; chúng biểu lộ thiên tính trong biểu hiện qua nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến, qua Thánh Đoàn tinh thần nơi Tình thương của Thượng đế được biểu lộ trọn vẹn, và qua nhân loại, vốn có nhiệm vụ thực hiện Thiên Cơ của Thượng đế một cách thông minh trong tình thương và thiện chí đối với mọi người.
I. The Festival of Easter. This is the festival of the risen, living Christ, the Head of the spiritual Hierarchy, the Inaugurator of the Kingdom of God and the Expression of the love of God. On this day, the spiritual Hierarchy which He guides and directs will be universally recognized, man’s relation to it emphasized and the nature of God’s love registered. Men everywhere will invoke that love, with its power to produce resurrection and spiritual livingness. This Festival is determined always by the date of the first Full Moon of spring. The eyes and thoughts of men will be fixed on life, not death; Good Friday will no longer be a factor in the life of the churches. Easter will be the great Western festival.
I. Lễ hội Phục Sinh. Đây là lễ hội của Đức Christ phục sinh, hằng sống, Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn tinh thần, Đấng Khai Mở Thiên Giới và Sự Biểu Lộ Tình thương của Thượng đế. Vào ngày này, Thánh Đoàn tinh thần mà Ngài hướng dẫn và chỉ đạo sẽ được thừa nhận phổ quát, mối liên hệ của con người với Thánh Đoàn sẽ được nhấn mạnh và bản chất Tình thương của Thượng đế sẽ được ghi nhận. Con người ở khắp nơi sẽ khẩn cầu tình thương ấy, với quyền năng của nó nhằm tạo ra sự phục sinh và sức sống tinh thần. Lễ hội này luôn được xác định bởi ngày Trăng Tròn đầu tiên của mùa xuân. Mắt và tư tưởng của con người sẽ hướng vào sự sống, không phải sự chết; Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ không còn là một yếu tố trong đời sống của các giáo hội. Phục Sinh sẽ là lễ hội vĩ đại của phương Tây.
II. The Festival of Wesak or Vaisakha. This is the festival of the Buddha, that great spiritual Intermediary between the centre where the will of God is known and the spiritual Hierarchy. The Buddha is the expression of the will of God, the embodiment of Light and the indicator of the divine purpose. Men everywhere will evoke wisdom and understanding and the inflow of light into the minds of men everywhere. This Festival is determined in relation to the Full Moon of Taurus. [164] It is the great Eastern festival and is already meeting with Western recognition; thousands of Christians today keep the festival of the Buddha.
II. Lễ hội Wesak hay Vaisakha. Đây là lễ hội của Đức Phật, Đấng Trung Gian tinh thần vĩ đại giữa trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến và Thánh Đoàn tinh thần. Đức Phật là sự biểu lộ Ý Chí của Thượng Đế, hiện thân của Ánh sáng và Đấng chỉ ra Thiên Ý. Con người ở khắp nơi sẽ gợi lên minh triết và thấu hiểu, cùng dòng tuôn ánh sáng vào thể trí của con người ở khắp nơi. Lễ hội này được xác định liên hệ với Trăng Tròn Kim Ngưu. [164] Đây là lễ hội vĩ đại của phương Đông và đã đang được phương Tây thừa nhận; hàng ngàn Kitô hữu ngày nay giữ lễ hội của Đức Phật.
III. The Festival of Humanity. This will be the festival of the spirit of humanity—aspiring to approach nearer to God, seeking conformity to the divine will to which the Buddha called attention, dedicated to the expression of goodwill which is the lowest aspect of love to which Christ called attention and of which He was the perfect expression. It will be the day pre-eminently on which the divine nature of man will be recognized and his power to express goodwill and to establish right human relations (because of his divinity) will be stressed. On this festival we are told Christ has for nearly two thousand years represented humanity and has stood before the Hierarchy as the God-man, the leader of His people and “the Eldest in a great family of brothers”. This will, therefore, be a festival of deep invocation and appeal; it will express a basic aspiration towards fellowship and for human and spiritual unity; it will represent the effect in the human consciousness of the work of the Buddha and of the Christ. It will be held at the time of the Full Moon of Gemini.
III. Lễ hội Nhân Loại. Đây sẽ là lễ hội của tinh thần nhân loại—khát vọng tiến gần hơn đến Thượng đế, tìm kiếm sự phù hợp với Ý Chí thiêng liêng mà Đức Phật đã lưu ý, thánh hiến cho sự biểu lộ thiện chí, vốn là phương diện thấp nhất của tình thương mà Đức Christ đã lưu ý và Ngài là sự biểu lộ hoàn hảo của nó. Đây sẽ là ngày đặc biệt vượt trội, trong đó bản chất thiêng liêng của con người sẽ được nhận biết, và quyền năng của y trong việc biểu lộ thiện chí và thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, nhờ thiên tính của y, sẽ được nhấn mạnh. Trong lễ hội này, chúng ta được cho biết rằng Đức Christ, trong gần hai ngàn năm, đã đại diện cho nhân loại và đã đứng trước Thánh Đoàn như Thượng đế-con người, người lãnh đạo dân của Ngài và “Người Anh Cả trong một đại gia đình huynh đệ”. Vì vậy, đây sẽ là một lễ hội của sự khẩn cầu và thỉnh cầu sâu xa; nó sẽ biểu lộ một khát vọng nền tảng hướng tới tình huynh đệ và sự hợp nhất nhân loại và tinh thần; nó sẽ đại diện cho hiệu quả trong tâm thức nhân loại của công việc của Đức Phật và Đức Christ. Nó sẽ được tổ chức vào thời điểm Trăng Tròn Song Tử.
If in these early days of restoration and of the inauguration of the new civilization and of the new world, men of all faiths and all religions, of every cult and all esoteric groups were to keep these three great Festivals of Invocation, simultaneously and with understanding of the far-reaching implications, a great spiritual unity would be achieved; if they unitedly invoked the spiritual Hierarchy and sought consciously to contact its Head a great and general inflow of spiritual light and love would occur; if they together determined, with steadfastness and understanding, to approach nearer to God, who could doubt the stupendous results which eventually would be seen? Not only would an underlying unity [165] between men of all faiths be attained, not only would brotherhood be recognized as a fact and not only would our oneness of origin, of goal and of life be recognized but that which would be evoked would change all aspects of human living, would condition our civilisation, change our mode of life and make the spiritual world a dominant reality in the human consciousness.
Nếu trong những ngày đầu của sự phục hồi và của việc khai mở nền văn minh mới và thế giới mới, những người thuộc mọi tín ngưỡng và mọi tôn giáo, thuộc mọi phái thờ tự và mọi nhóm huyền bí học, cùng giữ ba Lễ hội Khẩn Cầu vĩ đại này, đồng thời và với sự thấu hiểu những hàm ý sâu rộng, thì một sự hợp nhất tinh thần vĩ đại sẽ đạt được; nếu họ cùng nhau khẩn cầu Thánh Đoàn tinh thần và hữu thức tìm cách tiếp xúc Đấng Đứng Đầu của Thánh Đoàn, một dòng tuôn lớn lao và rộng khắp của ánh sáng và tình thương tinh thần sẽ xảy ra; nếu họ cùng nhau quyết định, với sự kiên định và thấu hiểu, tiến gần hơn đến Thượng đế, ai có thể nghi ngờ những kết quả phi thường cuối cùng sẽ được thấy? Không chỉ một sự hợp nhất nền tảng [165] giữa những người thuộc mọi tín ngưỡng sẽ đạt được, không chỉ tình huynh đệ sẽ được nhận biết như một sự kiện, và không chỉ sự nhất thể của chúng ta về nguồn gốc, mục tiêu và sự sống sẽ được nhận biết, mà điều được gợi lên sẽ thay đổi mọi phương diện của đời sống con người, sẽ định hình nền văn minh của chúng ta, thay đổi lối sống của chúng ta và làm cho thế giới tinh thần trở thành một thực tại thống lĩnh trong tâm thức nhân loại.
God, in the person of Christ and His Hierarchy would draw nearer to His people; God, through the instrumentality of the Buddha, would reveal His eternal light and evoke our intelligent cooperation; God, through the spiritual Hierarchy and through that centre where the will of God is known, would bring humanity to the point of resurrection and to a spiritual awareness which would bring about goodwill towards men and peace on earth. The will of God transcendent would be carried out through the medium of God immanent in man; it would be expressed in love in response to the work of Christ; it would be intelligently presented on earth because the minds of men would have been illumined as the result of their united invocation, the unity of their effort and the oneness of their understanding.
Thượng đế, trong con người của Đức Christ và Thánh Đoàn của Ngài, sẽ đến gần dân của Ngài hơn; Thượng đế, qua phương tiện của Đức Phật, sẽ mặc khải ánh sáng vĩnh cửu của Ngài và gợi lên sự hợp tác thông minh của chúng ta; Thượng đế, qua Thánh Đoàn tinh thần và qua trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến, sẽ đưa nhân loại đến điểm phục sinh và đến một sự nhận biết tinh thần sẽ đem lại thiện chí đối với con người và hòa bình trên Trái Đất. Ý Chí của Thượng Đế siêu việt sẽ được thực hiện qua phương tiện của Thượng đế nội tại trong con người; nó sẽ được biểu lộ trong tình thương để đáp ứng công việc của Đức Christ; nó sẽ được trình bày một cách thông minh trên Trái Đất bởi vì thể trí của con người sẽ được soi sáng như kết quả của sự khẩn cầu hợp nhất của họ, sự hợp nhất trong nỗ lực của họ và sự nhất thể trong thấu hiểu của họ.
It is for this that humanity waits; it is for this that the churches must work; it is these qualities and characteristics which will condition the New World Religion.
Chính vì điều này mà nhân loại chờ đợi; chính vì điều này mà các giáo hội phải làm việc; chính những phẩm tính và đặc tính này sẽ định hình Tôn Giáo Thế Giới Mới.
The great Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love [166] and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.
Đại Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện vĩ đại không thuộc về bất cứ cá nhân hay nhóm nào, mà thuộc về toàn thể Nhân Loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của Lời Khẩn Cầu này nằm trong sự giản dị của nó, và trong sự biểu lộ một số chân lý trung tâm mà mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự hiện hữu của một Trí Tuệ căn bản mà chúng ta mơ hồ gọi là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài bên ngoài, quyền năng thúc đẩy của vũ trụ là Tình thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến Trái Đất, được các Kitô hữu gọi là Đức Christ, và đã hiện thân tình thương ấy để chúng ta có thể thấu hiểu; chân lý rằng cả tình thương [166] lẫn trí tuệ đều là các hiệu quả của điều được gọi là Ý Chí của Thượng Đế; và cuối cùng, chân lý hiển nhiên rằng chỉ qua chính nhân loại mà Thiên Cơ mới có thể được thực hiện.
THE GREAT INVOCATION
ĐẠI KHẤN NGUYỆN
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí của Thượng đế
Let light stream forth into the minds of men.
Xin cho ánh sáng tuôn tràn vào thể trí con người.
Let Light descend on Earth.
Xin cho Ánh sáng giáng xuống Trái Đất.
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Trái Tim của Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Xin cho tình thương tuôn tràn vào trái tim con người.
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại Trái Đất.
From the centre where the Will of God is known
Từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến
Let purpose guide the little wills of men—
Xin cho Thiên Ý dẫn dắt những ý chí nhỏ bé của con người—
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư biết và phụng sự.
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại
Let the Plan of Love and Light work out
Xin cho Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực hiện
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu xin nó niêm phong cánh cửa nơi cái ác cư ngụ.
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Xin cho Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất.