← Reincarnation & Karma

Table of Contents

Table of Contents

Table of Contents1

Part 19

Reincarnation—Luân Hồi9

110

Edgar Cayce’s Discourses on Reincarnation—Các Bài diễn giải của Edgar Cayce về Luân hồi10

243

Insigtful Past-Life Readings by Edgar Cayce—Những Lần đọc Tiền Kiếp Sâu Sắc của Edgar Cayce43

3101

Planetary Sojourns: The Soul’s Life Between Incarnations—Các Chuyến Lữ Hành Hành Tinh: Đời Sống của Linh Hồn giữa những Lần Lâm Phàm101

4134

Reinarnation Unnecessary: Breaking Free of the Wheel of Karma and Reincarnation—Tái sinh không cần thiết: Phá vỡ Bánh xe Nghiệp và Tái sinh134

Part 2207

Karma—Nhân Quả207

5208

Edga Cayce’s Discourses on Karma—Các bài giảng của Edgar Cayce về Nghiệp quả208

6213

Examples of Karma in Edgar Cayce’s Discourses—Những Ví Dụ về Nghiệp Quả trong Các Bài Giảng của Edgar Cayce213

7220

Edga Cayce’s Tips for Meeting Karma—Những Gợi Ý của Edgar Cayce để Ứng Xử với Nghiệp Quả220

8223

FromKarma to Grace—Từ Nghiệp Quả đến Ân Sủng223

REINCARNATION & KARMA

Reincarnation & KARMA

By Edgar Cayce

A.R.E. Press • Virginia Beach • Virginia

Copyright © 2006

by the Edgar Cayce Foundation

6th Printing, June 2012

Printed in the U.S.A.

All rights reserved. No part of this book may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.

A.R.E. Press

215 67th Street

Virginia Beach, VA 23451–2061

Cayce, Edgar, 1877–1945.

Reincarnation & karma / by Edgar Cayce

p. cm.

ISBN 13: 978–0–87604–524–4 (trade pbk.)

1. Reincarnation. 2. Karma. I. Title. II. Title: Reincarnation and karma.

BL515.C375 2006

133.901’35—dc22

2006015305

Edgar Cayce Readings © 1971, 1993–2007

by the Edgar Cayce Foundation.

All rights reserved.

Cover design by Richard Boyle

Foreword Who Was Edgar Cayce?

It is a time in the earth when people everywhere seek to know more of the mysteries of the mind, the soul,” said my grandfather, Edgar Cayce, from an unconscious trance from which he demonstrated a remarkable gift for clairvoyance.

“Đây là thời trên trần thế khi người khắp nơi tìm biết thêm về những huyền bí của thể trí, linh hồn,” ông nội tôi, Edgar Cayce, đã nói từ một trạng thái xuất thần vô thức mà trong đó Ông biểu lộ một năng lực thông nhãn phi thường.

His words are prophetic even today, as more and more Americans in these unsettled times are turning to psychic explanations for daily events. For example, according to a survey by the National Opinion Research Council nearly half of American adults believe they have been in contact with someone who has died, a figure twice that of ten years earlier. Two-thirds of all adults say they have had an ESP experience; ten years before that figure was only one-half.

Lời của Ông vẫn còn mang tính tiên tri ngay cả hôm nay, khi ngày càng nhiều người Mỹ trong thời buổi bất ổn này đang quay sang các lý giải thông linh cho những biến cố hằng ngày. Chẳng hạn, theo một khảo sát của Hội đồng Nghiên cứu Dư luận Quốc gia, gần một nửa số người trưởng thành ở Mỹ tin rằng họ đã từng liên lạc với một người nào đó đã qua đời, con số này gấp đôi mười năm trước. Hai phần ba người trưởng thành nói rằng họ đã có một trải nghiệm tri giác ngoại cảm; mười năm trước con số đó chỉ là một nửa.

Every culture throughout history has made note of its own members’ gifted powers beyond the five senses. These rare individuals held special interest because they seemed able to provide solutions to life’s pressing problems. America in the twenty-first century is no exception.

Mọi nền văn hóa trong lịch sử đều ghi nhận những thành viên sở hữu năng lực vượt ngoài năm giác quan. Những cá nhân hiếm hoi này luôn được quan tâm đặc biệt vì họ dường như có thể đưa ra lời giải cho những vấn đề bức bách của đời sống. Nước Mỹ ở thế kỷ hai mươi mốt cũng không phải ngoại lệ.

Edgar Cayce was perhaps the most famous and most carefully documented psychic of our time. He began to use his unusual abilities when he was a young man, and from then on for over forty years he would, usually twice a day, lie on a couch, go into a sleeplike state, and respond to questions. Over fourteen thousand of these discourses, called readings, were carefully transcribed by his secretary and preserved by the Edgar Cayce Foundation in Virginia Beach, Virginia. These psychic readings continue to provide inspiration, insight, and help with healing to tens of thousands of people.

Edgar Cayce có lẽ là nhà thông linh nổi tiếng nhất và được ghi chép cẩn trọng nhất trong thời đại chúng ta. Ông bắt đầu sử dụng những năng lực khác thường này khi còn là một chàng trai trẻ, và từ đó suốt hơn bốn mươi năm, thường ngày hai lần, Ông nằm trên đi văng, đi vào một trạng thái như ngủ, và đáp lời các câu hỏi. Hơn mười bốn nghìn bài diễn giải như vậy, được gọi là các lần đọc, đã được thư ký của Ông ghi tốc ký một cách cẩn trọng và lưu giữ bởi Edgar Cayce Foundation tại Virginia Beach, Virginia. Những lần đọc thông linh này tiếp tục mang lại cảm hứng, thấu hiểu, và giúp chữa lành cho hàng chục nghìn người.

Having only an eighth-grade education, Edgar Cayce lived a plain and simple life by the world’s standards. As early as his childhood in Hopkinsville, Kentucky, however, he sensed that he had psychic ability. While alone one day he had a vision of a woman who told him he would have unusual power to help people. He also related experiences of “seeing” dead relatives. Once, while struggling with school lessons, he slept on his spelling book and awakened knowing the entire contents of the book.

Chỉ học hết lớp tám, Edgar Cayce sống một đời giản dị theo tiêu chuẩn thế gian. Tuy vậy, ngay từ thời thơ ấu ở Hopkinsville, Kentucky, Ông đã cảm nhận mình có năng lực thông linh. Một ngày khi ở một mình, Ông thấy một thị kiến về một người phụ nữ nói với Ông rằng Ông sẽ có sức mạnh khác thường để giúp người. Ông cũng kể về những trải nghiệm “thấy” người thân đã khuất. Một lần, khi vật lộn với bài vở ở trường, Ông ngủ trên cuốn sách đánh vần và tỉnh dậy thì thuộc lòng toàn bộ nội dung cuốn sách.

As a young man he experimented with hypnosis to treat a recurring throat problem that caused him to lose his speech. He discovered that under hypnosis he could diagnose and describe treatments for the physical ailments of others, often without knowing or seeing the person with the ailment. People began to ask him other sorts of questions, and he found himself able to answer these as well.

Khi là một thanh niên, Ông thử nghiệm thôi miên để chữa một vấn đề tái diễn ở cổ họng khiến Ông mất tiếng. Ông phát hiện rằng dưới thôi miên, Ông có thể chẩn đoán và mô tả cách chữa cho các chứng bệnh thể xác của người khác, thường là không biết hay không thấy người mang bệnh. Mọi người bắt đầu hỏi Ông những loại câu hỏi khác, và Ông thấy mình cũng có thể trả lời được.

In 1910 the New York Times published a two-page story with pictures about Edgar Cayce’s psychic ability as described by a young physician, Wesley Ketchum, to a clinical research society in Boston. From that time on people from all over the country with every conceivable question sought his help.

Năm 1910, tờ New York Times đăng một bài dài hai trang với hình ảnh về năng lực thông linh của Edgar Cayce như được mô tả bởi một bác sĩ trẻ, Wesley Ketchum, trước một hội nghiên cứu lâm sàng ở Boston. Từ đó trở đi, người từ khắp cả nước với mọi câu hỏi có thể hình dung đã tìm đến Ông để được giúp đỡ.

In addition to his unusual talents, Cayce was a deeply religious man who taught Sunday school all of his adult life and read the entire Bible once for every year that he lived. He always tried to attune himself to God’s will by studying the Scriptures and maintaining a rich prayer life, as well as by trying to be of service to those who came seeking help. He used his talents only for helpful purposes. Cayce’s simplicity and humility and his commitment to doing good in the world continue to attract people to the story of his life and work and to the far-reaching information he gave.

Ngoài những tài năng khác thường, Cayce là một người rất mộ đạo, dạy trường Chúa nhật suốt đời trưởng thành và đọc trọn Kinh Thánh một lần cho mỗi năm Ông sống. Ông luôn cố gắng hòa hợp mình với ý muốn của Thượng đế bằng cách học Kinh Thánh và duy trì một đời sống cầu nguyện phong phú, cũng như cố gắng phụng sự những người đến tìm kiếm sự giúp đỡ. Ông chỉ dùng tài năng của mình cho những mục đích hữu ích. Sự giản dị và khiêm nhường của Cayce và cam kết của Ông đối với việc làm điều thiện trong đời vẫn tiếp tục thu hút con người đến với câu chuyện cuộc đời và công trình của Ông, cũng như đến với những thông tin có tầm ảnh hưởng rộng lớn mà Ông đã ban tặng.

Charles Thomas Cayce, Ph.D.

Charles Thomas Cayce, Tiến sĩ

Executive Director

Giám đốc Điều hành

Association for Research and Enlightenment, Inc.

Association for Research and Enlightenment, Inc.

Editor’s Explanation of Cayce’s Discourses

Edgar Cayce dictated all of his discourses from a self-induced trance. A stenographer took his discourses down in shorthand and later typed them. Copies were sent to the person or persons who had requested the psychic reading, and one was put into the files of the organization, which built up around Cayce over the years, the Association for Research and Enlightenment (better known as the A.R.E.).

Edgar Cayce đọc diễn giải tất cả các bài của Ông từ một trạng thái xuất thần tự gây ra. Một tốc ký viên ghi lại các bài diễn giải bằng tốc ký và sau đó đánh máy. Bản sao được gửi cho người hoặc những người đã yêu cầu lần đọc thông linh, và một bản được đưa vào hồ sơ của tổ chức được hình thành quanh Cayce qua năm tháng, Association for Research and Enlightenment (thường được biết đến là A.R.E.).

In his normal consciousness, Edgar Cayce spoke with a Southern accent but in the same manner as any other American. However, from the trance state, he spoke in the manner of the King James Bible, using “thees” and “thous.” In trance, his syntax was also unusual. He put phrases, clauses, and sentences together in a manner that slows down any reader and requires careful attention in order to be sure of his meaning. This caused his stenographer to adopt some unusual punctuation in order to put into sentence form some of the long, complex thoughts conveyed by Cayce while in trance. Also, many of his discourses are so jam-packed with information and insights that it requires that one slow down and read more carefully in order to fully understand what he is intending.

Trong trạng thái tỉnh thức bình thường, Edgar Cayce nói với giọng miền Nam nhưng tương tự như bất kỳ người Mỹ nào khác. Tuy nhiên, trong trạng thái xuất thần, Ông nói theo văn phong Kinh Thánh King James, dùng “thee” và “thou”. Khi xuất thần, cú pháp của Ông cũng khác thường. Ông ghép cụm từ, mệnh đề, và câu theo một cách khiến người đọc chậm lại và đòi hỏi sự chú ý cẩn thận để chắc chắn nắm được điều Ông muốn nói. Điều này khiến tốc ký viên của Ông phải dùng vài dấu chấm câu khác lạ để đưa vào dạng câu một số ý tưởng dài, phức hợp mà Cayce truyền đạt khi xuất thần. Ngoài ra, nhiều bài diễn giải của Ông chứa dày đặc thông tin và thấu triệt đến mức cần phải chậm lại và đọc kỹ hơn để hiểu trọn điều Ông đang dụng ý.

From his trance state, Cayce explained that he got his information from two sources: (1) the inquiring individual’s mind, mostly from his or her deeper, subconscious mind and (2) from the Universal Consciousness, the infinite mind within which the entire universe is conscious. He explained that every action and thought of every individual makes an impression upon the Universal Consciousness, an impression that can be psychically read. He correlated this with the Hindu concept of an Akashic Record, which is an ethereal, fourth-dimensional film upon which actions and thoughts are recorded and can be read at any time.

Từ trạng thái xuất thần, Cayce giải thích rằng Ông nhận thông tin từ hai nguồn: (1) thể trí của cá nhân đặt câu hỏi, chủ yếu từ chiều sâu hơn, phần tiềm thức của thể trí người đó và (2) từ Tâm thức Vũ trụ, thể trí vô tận trong đó toàn vũ trụ có tâm thức. Ông giải thích rằng mọi hành động và tư tưởng của mỗi cá nhân đều in dấu lên Tâm thức Vũ trụ, một dấu ấn có thể được đọc bằng thông linh. Ông liên hệ điều này với khái niệm Ấn giáo về Hồ sơ Akasha, vốn là một cuộn phim cõi dĩ thái, bốn chiều, trên đó hành động và tư tưởng được ghi lại và có thể đọc bất cứ lúc nào.

When giving one of his famous health readings, called physical readings, Cayce acted as if he were actually scanning the entire body of the person, from the inside out! He explained that the subconscious mind of everyone contains all of the data on the condition of the physical body it inhabits, and Cayce simply connected with the patient’s deeper mind. He could also give the cause of the condition, even if it was from early childhood or from many lifetimes ago in a previous incarnation of the soul. This was knowable because the soul remembers all of its experiences. He explained that deeper portions of the subconscious mind are the mind of the soul, and portions of the subconscious and the soul are in the body with the personality.

Khi đưa ra một trong những lần đọc sức khỏe nổi tiếng, được gọi là các lần đọc thể xác, Cayce hành xử như thể Ông đang quét toàn bộ cơ thể của người đó từ trong ra ngoài! Ông giải thích rằng thể trí tiềm thức của mỗi người chứa tất cả dữ liệu về tình trạng của thể xác mà nó cư ngụ, và Cayce chỉ đơn giản kết nối với phần thể trí sâu hơn của bệnh nhân. Ông cũng có thể cho biết nguyên nhân của tình trạng, dù nó bắt nguồn từ thời thơ ấu hay từ nhiều kiếp trước trong một lần nhập thể trước đó của linh hồn. Điều này có thể biết được vì linh hồn ghi nhớ tất cả những kinh nghiệm của mình. Ông giải thích rằng những phần sâu hơn của thể trí tiềm thức chính là thể trí của linh hồn, và những phần của tiềm thức và của linh hồn hiện diện trong thân thể cùng với phàm ngã.

In life readings and topic readings, Cayce also connected with the subconscious minds of those inquiring as well as the Universal Consciousness.

Trong các lần đọc về tiền kiếp và các lần đọc theo chủ đề, Cayce cũng kết nối với các thể trí tiềm thức của người đặt câu hỏi cũng như với Tâm thức Vũ trụ.

Occasionally, Cayce would not have the material being requested, and he would say, “We do not have that here.” This implied that Cayce’s mind was more directed than one might think. He was not open to everything. From trance, he explained that the suggestion given at the beginning of one of his psychic readings so directed his deeper mind and focused it on the task or subject requested that he truly did not have other topics available. However, on a few occasions, he seemed able to shift topics in the middle of a reading.

Đôi khi, Cayce sẽ không có chất liệu đang được yêu cầu, và Ông sẽ nói, “Chúng tôi không có điều đó ở đây.” Điều này ngụ ý rằng thể trí của Cayce được định hướng hơn ta tưởng. Ông không mở ra với mọi thứ. Từ trạng thái xuất thần, Ông giải thích rằng gợi ý được đưa ra vào đầu một lần đọc thông linh đã hướng dẫn phần thể trí sâu của Ông và tập trung nó vào nhiệm vụ hay chủ đề được yêu cầu đến mức thực sự Ông không có sẵn các chủ đề khác. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, Ông dường như có thể chuyển chủ đề giữa chừng một lần đọc.

The typed readings have a standard format. Numbers were used in the place of the name of the person or persons receiving the reading, and a dash system kept track of how many readings the person had received. For example, reading 137–5 was the fifth reading for Mr. [137]. At the top of the reading are the reading number, the date and location, and the names or numbers (for privacy) of those in attendance. Occasionally the stenographer would include a note about other conditions, such as the presence of a manuscript that the in-trance Cayce was supposed to view psychically and comment on. In many cases, I left in the entire format of a recorded reading, but sometimes only a paragraph or two were pertinent to our study, and then I only give the reading number.

Các lần đọc được đánh máy có một định dạng chuẩn. Số được dùng thay cho tên của người hoặc những người nhận lần đọc, và một hệ thống gạch nối theo dõi xem người đó đã nhận được bao nhiêu lần đọc. Ví dụ, lần đọc 137–5 là lần đọc thứ năm cho Ông [137]. Ở đầu lần đọc có số lần đọc, ngày và địa điểm, và tên hoặc số (để bảo mật) của những người tham dự. Đôi khi tốc ký viên sẽ chèn một ghi chú về các điều kiện khác, như sự hiện diện của một bản thảo mà Cayce khi xuất thần được yêu cầu “nhìn” bằng thông linh và bình luận. Trong nhiều trường hợp, tôi giữ lại toàn bộ định dạng của một lần đọc đã ghi, nhưng đôi khi chỉ một hai đoạn là thích đáng cho nghiên cứu của chúng ta, và khi đó tôi chỉ đưa số lần đọc.

As I explained, Cayce dictated all of these discourses while he was in trance. In most cases, he spoke in a monotone voice. However, he would sometimes elevate his volume when saying a word or phrase. In these instances, his stenographer usually typed these words with all-capital letters, to give the reader some sense of Cayce’s increased volume. These all-capital letters have been changed to italic typeface for readability, as well as emphasis. In many cases, these words appear to be rightly accentuated in Cayce’s discourses. However, in some cases, it is not clear why he raised his voice.

Như tôi đã giải thích, Cayce đọc diễn giải tất cả những điều này khi Ông ở trong trạng thái xuất thần. Trong hầu hết trường hợp, Ông nói bằng một giọng đơn điệu. Tuy nhiên, đôi khi Ông nâng cao âm lượng khi nói một từ hay cụm từ. Trong các trường hợp này, tốc ký viên của Ông thường gõ các từ đó bằng chữ IN HOA, để người đọc cảm nhận phần nào mức tăng âm lượng của Cayce. Những chữ IN HOA này đã được chuyển thành kiểu chữ in nghiêng để dễ đọc, cũng như để nhấn mạnh. Trong nhiều trường hợp, những từ này dường như được nhấn đúng chỗ trong các bài diễn giải của Cayce. Tuy vậy, trong một số trường hợp, không rõ vì sao Ông lại nâng giọng.

Another style that the stenographer adopted was to capitalize all of the letters in Cayce’s many affirmations (positive-thought or prayer-like passages to be used by the recipient as a tool for focusing and/or raising consciousness). I have also changed these to upper- and lower-case letters and italicized them. Questions asked Cayce have also been italicized for easier reference.

Một lối định dạng khác mà tốc ký viên áp dụng là viết HOA TẤT CẢ các chữ trong nhiều khẳng định của Cayce (những đoạn tư tưởng tích cực hoặc giống lời cầu nguyện được dùng bởi người nhận như một công cụ để tập trung và/hoặc nâng cao tâm thức). Tôi cũng đã chuyển những đoạn này sang chữ hoa-thường và để in nghiêng. Các câu hỏi dành cho Cayce cũng được in nghiêng để tiện tra cứu.

Whenever his stenographer was not sure if she had written down the correct word or thought that she might have missed or misunderstood a word, she inserted suggested words, comments, and explanations in [brackets]. If she knew of another reading that had similar material or that was being referred to during this reading, she would put the reading number in brackets. Cayce’s entire collection of readings is available on CD-ROM from the A.R.E., so, even though the referenced reading may not be in this book, I left these references in for any future research; but several of the readings that have references are in this book. Within the text of a reading, all (parentheses) are asides made by Cayce himself while in trance, not by his stenographer. She only used [brackets] within the text of a reading. In the preliminary material, she used parentheses in the normal manner. My comments are indicated by the term “Editor’s Note.”

Bất cứ khi nào tốc ký viên không chắc mình đã viết đúng từ hay nghĩ rằng có thể đã bỏ sót hoặc hiểu sai một từ, bà ấy chèn các từ gợi ý, bình luận, và giải thích trong [ngoặc vuông]. Nếu bà biết có một lần đọc khác có chất liệu tương tự hoặc đang được tham chiếu trong lần đọc này, bà sẽ đặt số lần đọc trong ngoặc vuông. Toàn bộ tuyển tập các lần đọc của Cayce có sẵn trên CD-ROM từ A.R.E., nên, dù lần đọc được tham chiếu có thể không nằm trong cuốn sách này, tôi giữ lại những tham chiếu đó cho bất kỳ nghiên cứu tương lai nào; nhưng một số lần đọc có tham chiếu thì có trong sách này. Trong phần nội dung của một lần đọc, mọi (ngoặc tròn) là những lời aside do chính Cayce đưa ra khi xuất thần, không phải của tốc ký viên. Bà chỉ dùng [ngoặc vuông] trong phần nội dung của một lần đọc. Trong phần dẫn nhập, bà dùng ngoặc tròn theo lối thông thường. Bình luận của tôi được ghi bằng thuật ngữ “Ghi chú của Biên tập”.

A few common abbreviations use in these discourses were: “GD” for Gladys Davis, the primary stenographer; “GC” for Gertrude Cayce, Edgar’s wife and the predominant conductor of the readings, and “EC” for Edgar Cayce.

Một vài chữ viết tắt thường dùng trong các bài diễn giải này là: “GD” cho Gladys Davis, tốc ký viên chính; “GC” cho Gertrude Cayce, vợ của Edgar và là người điều khiển chủ yếu các lần đọc, và “EC” cho Edgar Cayce.

—John Van Auken, Editor

—John Van Auken, Biên tập

Part 1

Reincarnation—Luân Hồi

1

Edgar Cayce’s Discourses on Reincarnation—Các Bài diễn giải của Edgar Cayce về Luân hồi

Text of Reading 5753-1

Văn bản của Lần đọc 5753-1

This psychic reading was given by Edgar Cayce at his home, on the 16th day of June 1933, before the Second Annual Congress of the Association for Research and Enlightenment, Inc., in accordance with request by those present.

Lần đọc thông linh này được Edgar Cayce đưa ra tại nhà của Ông, vào ngày 16 tháng Sáu năm 1933, trước Đại hội Thường niên lần thứ Hai của Association for Research and Enlightenment, Inc., theo yêu cầu của những người hiện diện.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. And approximately thirty-five other people attending the Congress.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Và khoảng ba mươi lăm người khác tham dự Đại hội.

READING

LẦN ĐỌC

Time of Reading 5:00 to 6:00 P.M.

Thời gian Lần đọc từ 5:00 đến 6:00 chiều.

GC: You will give at this time a comprehensive discourse on reincarnation. If the soul returns to the earth through a succession of appearances, you will explain why this is necessary or desirable and will clarify through explanation the laws governing such returns. You will answer the questions, which will be asked on this subject.

GC: Vào lúc này, Ông sẽ đưa ra một bài diễn giải toàn diện về luân hồi. Nếu linh hồn trở lại trần gian qua một chuỗi những lần xuất hiện, Ông sẽ giải thích vì sao điều này là cần thiết hoặc đáng ao ước và sẽ làm sáng tỏ qua phần giải thích các định luật chi phối những lần trở lại như vậy. Ông sẽ trả lời những câu hỏi sẽ được nêu ra về chủ đề này.

EC: Yes. In giving even an approach to the subject sought here, it is well that there be given some things that may be accepted as standards from which conclusions—or where parallels—may be drawn, that there may be gathered in the minds of those who would approach same some understanding, some concrete examples, that may be applied in their own individual experience.

EC: Vâng. Khi đưa ra thậm chí chỉ là một cách tiếp cận đến chủ đề đang được tìm hiểu ở đây, nên trình bày vài điều có thể được chấp nhận như những chuẩn mực từ đó có thể rút ra kết luận—hoặc nơi tương đồng—để những ai muốn tiếp cận có thể gom góp vào thể trí mình một số thấu hiểu, vài ví dụ cụ thể, có thể áp dụng vào chính kinh nghiệm cá nhân của họ.

Each soul that enters, then, must have had an impetus from some beginning that is of the Creative Energy, or of a first cause.

Mỗi linh hồn khi đi vào, hẳn đã có một xung lực từ một khởi nguyên nào đó thuộc Năng lực Sáng Tạo, hay một nguyên nhân đầu tiên.

What, then, was—or is—the first cause; for if there be law pertaining to the first cause it must be an unchangeable law, and is—is—as “I AM that I am!” For this is the basis from which one would reason:

Vậy, nguyên nhân đầu tiên là gì—hoặc là ai; vì nếu có định luật liên quan đến nguyên nhân đầu tiên thì nó hẳn là một định luật bất biến, và là—là—như “TA LÀ ĐẤNG TA LÀ!” Vì đây là nền tảng từ đó người ta sẽ lý luận:

The first cause was, that the created would be the companion for the Creator; that it, the creature, would—through its manifestations in the activity of that given unto the creature—show itself to be not only worthy of, but companionable to, the Creator.

Nguyên nhân đầu tiên là, rằng cái được tạo ra sẽ là bạn đồng hành cho Đấng Tạo Hóa; rằng nó, thụ tạo, sẽ—qua các biểu hiện của nó trong hoạt hoạt động của điều được ban cho thụ tạo—chứng tỏ chính mình không chỉ xứng đáng, mà còn có thể đồng hành với, Đấng Tạo Hóa.

Hence, every form of life that man sees in a material world is an essence or manifestation of the Creator; not the Creator, but a manifestation of a first cause—and in its own sphere, its own consciousness of its activity in that plane or sphere.

Do đó, mọi dạng sống mà con người thấy trong một thế giới vật chất đều là một tinh chất hay biểu hiện của Đấng Tạo Hóa; không phải là Đấng Tạo Hóa, mà là một biểu hiện của một nguyên nhân đầu tiên—và trong cõi của nó, trong tâm thức riêng của nó về hoạt động của nó trong cõi hay tầng đó.

Hence, as man in this material world passes through, there are the manifestations of the attributes that the consciousness attributes to, or finds coinciding with, that activity which is manifested; hence becomes then as the very principle of the law that would govern an entrance into a manifestation.

Vì thế, khi con người trong thế giới vật chất này đi qua, có những biểu hiện của các thuộc tính mà tâm thức gán cho, hoặc thấy phù hợp với, hoạt động đang biểu hiện; vậy nên nó trở thành chính nguyên lý của định luật sẽ chi phối một sự đi vào trong một biểu hiện.

Then a soul, the offspring of a Creator, entering into a consciousness that became a manifestation in any plane or sphere of activity, given that free-will for its use of those abilities, qualities, conditions in its experience, demonstrates, manifests, shows forth, that it reflects in its activity towards that first cause.

Thế thì một linh hồn, đứa con của Đấng Tạo Hóa, đi vào một tâm thức vốn trở thành một biểu hiện trong bất kỳ cõi hay tầng hoạt động nào, được ban cho ý chí tự do để sử dụng những khả năng, phẩm tính, điều kiện trong kinh nghiệm của mình, sẽ biểu lộ, sẽ bày tỏ, rằng nó phản chiếu trong hoạt động của mình đối với nguyên nhân đầu tiên.

Hence in the various spheres that man sees (that are demonstrated, manifested, in and before self) even in a material world, all forces, all activities, are a manifestation. Then, that which would be the companionable, the at-oneness with, the ability to be one with, becomes necessary for the demonstration or manifestation of those attributes in and through all force, all demonstration, in a sphere.

Vì vậy trong các cõi khác nhau mà con người thấy (được biểu diễn, biểu hiện, trong và trước tự ngã) ngay cả trong một thế giới vật chất, mọi lực, mọi hoạt động, đều là một biểu hiện. Khi ấy, cái sẽ trở nên có thể đồng hành, hợp nhất cùng, có khả năng là một cùng, trở nên cần thiết để biểu lộ hay biểu hiện các thuộc tính đó trong và xuyên qua mọi lực, mọi biểu hiện, trong một cõi.

Because an atom, a matter, a form, is changed does not mean that the essence, the source or the spirit of it has changed; only in its form of manifestation, and not in its relation with the first cause. That man reaches that consciousness in the material plane of being aware of what he does about or with the consciousness of the knowledge, the intelligence, the first cause, makes or produces that which is known as the entering into the first cause, principles, basis, or the essences, that there may be demonstrated in that manifested that which gains for the soul, for the entity, that which would make the soul an acceptable companion to the Creative Force, Creative Influence. See?

Bởi vì một nguyên tử, một chất, một hình thể, được biến đổi không có nghĩa là tinh chất, nguồn gốc hay linh khí của nó đã đổi thay; chỉ thay đổi trong hình thức biểu hiện, chứ không trong mối liên hệ với nguyên nhân đầu tiên. Việc con người đạt đến tâm thức ở cõi vật chất về việc ý thức mình làm gì về hay với tâm thức của tri thức, của trí tuệ, của nguyên nhân đầu tiên, tạo nên hay sản sinh ra cái được gọi là sự đi vào trong nguyên nhân đầu tiên, các nguyên tắc, nền tảng, hay các tinh chất, để trong cái được biểu hiện đó có thể được biểu lộ cái mang lại cho linh hồn, cho thực thể, điều sẽ làm cho linh hồn trở thành một bạn đồng hành được chấp nhận đối với Mãnh Lực Sáng Tạo, Ảnh hưởng Sáng Tạo. Thấy chứ?

As to how, where, when, and what produces the entrance into a material manifestation of an entity, a soul:

Về việc làm thế nào, ở đâu, khi nào, và điều gì tạo ra sự đi vào một biểu hiện vật chất của một thực thể, một linh hồn:

In the beginning was that which set in motion that which is seen in manifested form with the laws governing same. The inability of destroying matter, the ability of each force, each source of power or contact—as it meets in its various forms, produces that which is a manifestation in a particular sphere. This may be seen in those elements used in the various manifested ways of preparing for man, in many ways, those things that bespeak of the laws that govern man’s relationship to the first cause, or God.

Ban đầu là cái đã khởi động cái được thấy trong hình thức biểu hiện cùng với các định luật chi phối nó. Sự bất khả phá hoại của vật chất, khả năng của mỗi lực, mỗi nguồn của quyền năng hay tiếp xúc—khi chúng gặp nhau trong các hình thức khác nhau, tạo ra cái là một biểu hiện trong một cõi cụ thể. Điều này có thể thấy trong các nguyên tố được dùng theo những cách biểu hiện khác nhau để chuẩn bị cho con người, bằng nhiều phương thức, những điều nói lên các định luật chi phối mối liên hệ của con người với nguyên nhân đầu tiên, hay Thượng đế.

Then, this is the principle:

Vậy, đây là nguyên lý:

Like begets like. Those things that are positive and negative forces combine to form in a different source, or different manifestation, the combinations of which each element, each first principle manifested, has gained from its associations—in its activities—that which has been brought to bear by self or that about it, to produce that manifestation.

Đồng loại sinh đồng loại. Những điều là các lực dương và âm kết hợp để tạo thành, từ một nguồn khác, hay một biểu hiện khác, các tổ hợp trong đó mỗi nguyên tố, mỗi nguyên lý đầu tiên được biểu hiện, đã thu nhận được từ các liên hệ của nó—trong các hoạt động của nó—điều đã được chính nó hoặc cái quanh nó mang đến tác động, để tạo ra biểu hiện đó.

Hence man, the crowning of all manifestations in a material world—a causation world, finds self as the cause and the product of that he (man), with those abilities given, has been able to produce, or demonstrate, or manifest from that he (the soul) has gained, does gain, in the transition, the change, the going toward that (and being of that) from which he came.

Vì vậy con người, đỉnh cao của mọi biểu hiện trong một thế giới vật chất—một thế giới nhân quả, thấy chính mình như là nguyên nhân và sản phẩm của cái mà y (con người), với những khả năng được ban cho, đã có thể tạo ra, hay biểu lộ, hay biểu hiện từ cái mà y (linh hồn) đã thu hoạch, đang thu hoạch, trong sự chuyển tiếp, sự đổi thay, sự hướng về cái (và thuộc về cái) mà từ đó y đã đến.

Periods, times, places: That which is builded, each in its place, each in its time.

Thời kỳ, thời gian, nơi chốn: Cái được xây dựng, mỗi thứ ở vị trí của nó, mỗi thứ vào thời điểm của nó.

This is shown to man in the elemental world about him. Man’s consciousness of that about him is gained through that he, man, does about the knowledge of that he is, as in relation to that from which he came and towards which he is going.

Điều này được chỉ cho con người trong thế giới nguyên tố quanh y. Tâm thức của con người về cái quanh y được thu nhận qua cái mà y, con người, làm đối với tri thức rằng y là ai, như trong mối liên hệ với cái từ đó y đến và hướng tới cái mà y đang đi tới.

Hence, in man’s analysis and understanding of himself, it is as well to know from whence he came as to know whither he is going.

Vậy nên, trong phân tích và thấu hiểu về chính mình, với con người thì biết mình đến từ đâu cũng hữu ích như biết mình sẽ đi về đâu.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: What is meant by inequality of experience? Is it a strong argument for reincarnation?

H: “Bất bình đẳng trong kinh nghiệm” có nghĩa là gì? Nó có phải là một luận cứ mạnh mẽ cho luân hồi không?

A: Considering that which has just been presented, isn’t it the same argument?

Đ: Xét cái vừa trình bày, chẳng phải nó cũng là cùng một luận cứ đó sao?

Q: Is experience limited to this earth plane?

H: Kinh nghiệm có bị giới hạn ở cõi trần này không?

A: As each entity, each soul, in the various consciousnesses, passes from one to another, it—the soul—becomes conscious of that about self in that sphere—to which it, the entity, the soul attains in a materially manifested way or manner.

Đ: Khi mỗi thực thể, mỗi linh hồn, trong các tâm thức khác nhau, đi từ cõi này sang cõi khác, thì nó—linh hồn—trở nên ý thức về cái quanh chính mình trong cõi đó—mà ở đó nó, thực thể, linh hồn đạt tới theo một cách hay phương thức biểu hiện vật chất.

Hence the entity develops through the varied spheres of the earth and its solar system, and the companions of varied experiences in that solar system, or spheres of development or activity; as in some ways accredited correctly to the planetary influences in an experience. The entity develops through those varied spheres.

Bởi vậy, thực thể phát triển xuyên qua các cõi đa dạng của trái đất và hệ mặt trời của nó, và những bạn đồng hành của các kinh nghiệm khác nhau trong hệ mặt trời đó, hoặc các cõi phát triển hay hoạt động; như theo một số cách được gán đúng cho các ảnh hưởng hành tinh trong một kinh nghiệm. Thực thể phát triển qua những cõi đa dạng ấy.

Hence the sun, the moon, the stars, the position in the heavens or in all of the hosts of the solar systems that the earth occupies—all have their influence in the same manner (this is a very crude illustration, but very demonstrative) that the effect of a large amount of any element would attract a compass. Drawn to! Why? Because of the influence of which the mind element of a soul, an entity, has become conscious!

Vì thế mặt trời, mặt trăng, các vì sao, vị trí trên bầu trời hay trong tất cả các thiên đoàn của các hệ mặt trời nơi trái đất cư ngụ—tất cả đều có ảnh hưởng của chúng theo cùng một cách (đây là một minh họa rất thô sơ, nhưng rất dễ thấy) như tác động của một lượng lớn bất kỳ nguyên tố nào sẽ hút một la bàn. Bị kéo về! Tại sao? Bởi ảnh hưởng mà trong đó yếu tố-thể trí của một linh hồn, một thực thể, đã trở nên ý thức!

A soul, an entity, is as real as a physical entity, and is as subject to laws as the physical body as subject to the laws in a material world and the elements thereof!

Một linh hồn, một thực thể, là có thật như một thực thể thể xác, và cũng chịu sự chi phối của các định luật như thân thể thể xác chịu sự chi phối của các định luật trong một thế giới vật chất và các nguyên tố của nó!

Does fire burn the soul or the physical body?

Lửa thiêu đốt linh hồn hay thân thể vật chất?

Yet, self may cast self into a fire element by doing that the soul knows to be wrong!

Thế nhưng, tự ngã có thể ném chính mình vào một yếu tố lửa bằng cách làm điều mà linh hồn biết là sai!

What would make a wrong and a right? A comparison of that the soul knows its consciousness to be in accord or contrarywise with, in relation to that which gave it existence.

Điều gì làm nên sai và đúng? Một sự so sánh giữa cái mà linh hồn biết tâm thức của nó là tương hợp hay trái ngược với, trong mối liên hệ với Đấng đã ban cho nó hiện hữu.

Q: Are not transferred memories misappropriated by individuals and considered to be personal experiences?

H: Chẳng phải các ký ức được chuyển di bị cá nhân chiếm dụng sai và xem như là kinh nghiệm cá nhân sao?

A: Personal experiences have their influence upon the inner soul, while disincarnate entities (that may be earth-bound, or that may be heaven-bound) may influence the thought of an entity or a mind.

Đ: Kinh nghiệm cá nhân có ảnh hưởng của nó lên nội tâm linh hồn, trong khi các thực thể không nhập thể (có thể còn vướng cõi trần, hoặc có thể đang hướng thiên) có thể ảnh hưởng đến tư tưởng của một thực thể hay một thể trí.

But, who gives the law to have an element to influence, whether from self or from others? That same as from the beginning. The will of the soul that it may be one with the first cause.

Nhưng, ai ban định luật để cho một yếu tố có thể ảnh hưởng, dù từ tự ngã hay từ kẻ khác? Cũng chính như từ khởi thủy. Ý chí của linh hồn để nó có thể là một với nguyên nhân đầu tiên.

In the material, the mental, and the spiritual experience of many souls, many entities, it has been found that there be those influences that do have their effect upon the thought of those that would do this or that. Who gives it? Self!

Trong kinh nghiệm vật chất, trí tuệ, và tinh thần của nhiều linh hồn, nhiều thực thể, người ta nhận thấy rằng có những ảnh hưởng nhất định tác động đến tư tưởng của những kẻ muốn làm điều này hay điều kia. Ai ban cho nó? Tự ngã!

Just as it is when an entity, a body, fills its mind (mentally, materially) with those experiences that bespeak of those things that add to the carnal forces of an experience. Just so does the mind become the builder throughout. And the mental mind, or physical mind, becomes carnally directed!

Cũng như khi một thực thể, một thân thể, làm đầy thể trí mình (về phương diện trí tuệ, vật chất) bằng những kinh nghiệm nói lên những điều gia tăng các lực xác phàm của một kinh nghiệm. Thì cũng vậy, thể trí trở thành người xây dựng ở khắp nơi. Và thể trí trí tuệ, hay thể trí vật chất, trở nên được điều hướng theo xác phàm!

The mind is the builder ever, whether in the spirit or in the flesh. If one’s mind is filled with those things that bespeak of the spirit, that one becomes spiritual-minded.

Thể trí luôn luôn là người xây dựng, dù trong tinh thần hay trong xác phàm. Nếu thể trí của ai được làm đầy bởi những điều nói lên tinh thần, người đó trở nên có tâm trí tinh thần.

As we may find in a material world: Envy, strife, selfishness, greediness, avarice, are the children of man! Longsuffering, kindness, brotherly love, good deeds, are the children of the spirit of light.

Như chúng ta có thể thấy trong một thế giới vật chất: Ganh tỵ, xung đột, vị kỷ, tham lam, hám của, là con cái của loài người! Nhẫn nhục, nhân hậu, tình huynh đệ, việc lành, là con cái của tinh thần của ánh sáng.

Choose ye (as it has ever been given) whom ye will serve.

Hãy chọn (như từ xưa đã ban) ai mà các ngươi sẽ phụng sự.

This is not beggaring the question! As individuals become abased, or possessed, are their thoughts guided by those in the borderland? Certainly! If allowed to be!

Điều này không phải là né tránh câu hỏi! Khi cá nhân trở nên thấp hèn, hoặc bị chiếm hữu, thì tư tưởng của họ có bị dẫn dắt bởi những kẻ ở vùng biên giới không? Chắc chắn! Nếu cho phép!

But he that looks within is higher, for the spirit knoweth the Spirit of its Maker—and the children of same are as given. And, “My Spirit beareth witness with thy spirit,” saith He that giveth life!

Nhưng kẻ nhìn vào bên trong thì cao hơn, vì thần khí biết Thần Khí của Đấng Tạo Hóa mình—và con cái của cùng một Thần Khí là như đã được ban. Và, “Thần Khí Ta làm chứng cùng thần khí ngươi,” phán Ngài là Đấng ban Sự Sống!

What is Life? A manifestation of the first cause—God!

Sự Sống là gì? Một biểu lộ của nguyên nhân đầu tiên—Thượng đế!

Q: Explain, in the light of reincarnation, the cycle of development towards maturity in individuals.

H: Xin giải thích, dưới ánh sáng của luân hồi, chu kỳ phát triển hướng tới sự trưởng thành nơi cá nhân.

A: As an individual in any experience, in any period, uses that of which it (the soul or entity) is conscious in relation to the laws of the Creative Forces, so does that soul, that entity, develop towards—what? A companionship with the Creative influence!

Đ: Khi một cá nhân trong bất kỳ kinh nghiệm nào, trong bất kỳ thời kỳ nào, sử dụng cái mà nó (linh hồn hay thực thể) ý thức được trong mối liên hệ với các định luật của Các Lực Sáng Tạo, thì linh hồn ấy, thực thể ấy, phát triển hướng đến—điều gì? Một tình bạn đồng hành với Ảnh hưởng Sáng Tạo!

Hence karma, to those disobeying—by making for self that which would be as the towers of Babel, or as the city of Gomorrah, or as the fleshpots of Egypt, or as the caring for those influences in the experience that satisfy or gratify self without thought of the effect upon that which it has in its own relation to the first cause! Hence to many this becomes as the stumblingblock.

Bởi vậy nghiệp quả, đối với những kẻ bất tuân—bằng cách dựng lên cho tự ngã cái sẽ như tháp Babel, hay như thành Gomorrah, hay như các nồi thịt của Ai Cập, hay như chiều chuộng những ảnh hưởng trong kinh nghiệm vốn thỏa mãn hay chiều chuộng tự ngã mà không nghĩ đến tác động lên cái nó có trong mối liên hệ của chính nó với nguyên nhân đầu tiên! Do đó với nhiều người đây trở nên như hòn đá vấp ngã.

It is as was given by Him, “I am the way. No man approaches the Father but by me.” But, does a soul crucify the flesh even as He, when it finds within itself that it must work out its own salvation in a material world, by entering and re-entering that there may be made manifest that consciousness in the soul that would make it a companion with the Creator?

Điều này cũng như đã được Ngài phán, “Ta là đường đi. Không ai đến cùng Cha mà không qua Ta.” Nhưng, liệu một linh hồn có đóng đinh xác phàm như chính Ngài, khi nó thấy trong tự thân rằng nó phải tự làm nên sự cứu rỗi của mình trong một thế giới vật chất, bằng cách đi vào rồi lại đi vào để có thể làm cho tâm thức trong linh hồn ấy được biểu lộ, điều sẽ khiến nó trở thành bạn đồng hành với Đấng Tạo Hóa?

Rather is the law of forgiveness made of effect in thine experience, through Him that would stand in thy stead; for He is the way, that light ever ready to aid when there is the call upon—and the trust of the soul in—that first cause!

Đúng hơn, luật tha thứ được làm cho có hiệu lực trong kinh nghiệm của ngươi, qua Ngài Đấng sẽ đứng vào chỗ của ngươi; vì Ngài là đường đi, là ánh sáng luôn sẵn sàng trợ giúp khi có lời kêu cầu—và sự tín thác của linh hồn—vào nguyên nhân đầu tiên!

Has it not been given that there is an influence in the mind, the thought of man, from the outside? Then, would those that have lost their way become the guides and both fall in the ditch? Or would the soul trust in the Way, and the Light, and seek in that way that there may be shown the light?

Chẳng phải đã được ban rằng có một ảnh hưởng đi vào thể trí, tư tưởng của con người, từ bên ngoài sao? Thế thì, những kẻ đã lạc đường có nên trở thành các tay dẫn lối để cả hai đều rơi xuống hố chăng? Hay linh hồn sẽ tín thác vào Con Đường, và Ánh Sáng, và tìm kiếm theo lối ấy để ánh sáng có thể được chỉ bày?

What caused the first influences in the earth that brought selfishness? The desire to be as gods, in that rebellion became the order of the mental forces in the soul; and sin entered.

Điều gì gây ra những ảnh hưởng đầu tiên trên trần gian đưa đến vị kỷ? Là ước muốn được như các thần, đến nỗi phản nghịch trở thành trật tự của các lực tinh thần trong linh hồn; và tội lỗi bước vào.

Q: What is the strongest argument against reincarnation?

H: Lập luận mạnh mẽ nhất chống lại luân hồi là gì?

A: That there is the law of cause and effect in material things. But the strongest argument against reincarnation is also, turned over, the strongest argument for it; as in any principle, when reduced to its essence. For the law is set—and it happens! Though a soul may will itself never to reincarnate, but must burn and burn and burn—or suffer and suffer and suffer! For, the heaven and hell is built by the soul! The companionship in God is being one with Him; and the gift of God is being conscious of being one with Him, yet apart from Him—or one with, yet apart from, the Whole.

Đ: Rằng có định luật nhân quả trong những điều vật chất. Nhưng lập luận mạnh mẽ nhất chống lại luân hồi cũng, khi lật lại, là lập luận mạnh mẽ nhất cho nó; như trong bất kỳ nguyên lý nào, khi được quy về tinh chất. Vì định luật đã được thiết lập—và nó xảy ra! Dù một linh hồn có thể muốn mình không bao giờ tái sinh, nhưng phải cháy và cháy và cháy—hoặc chịu đựng và chịu đựng và chịu đựng! Vì, thiên đàng và địa ngục là do linh hồn xây dựng! Sự đồng hành trong Thượng đế là trở nên một với Ngài; và ân tứ của Thượng đế là được ý thức về việc trở nên một với Ngài, nhưng vẫn tách biệt với Ngài—hoặc một với, nhưng vẫn tách biệt với, Toàn Thể.

Q: What is the strongest argument for reincarnation?

H: Lập luận mạnh mẽ nhất ủng hộ luân hồi là gì?

A: Just as given. Just turn it over; or, as we have outlined.

Đ: Chính như đã nói. Chỉ cần lật nó lại; hoặc, như chúng ta đã phác thảo.

We are through for the present.

Hiện tại chúng ta tạm xong.

Text of Reading 5749-14

Văn bản của Lần đọc 5749-14

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 14th day of May, 1941, in accordance with request made by the self—Mr. Thomas Sugrue, Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Lần đọc Thông Linh này được đưa ra bởi Edgar Cayce tại văn phòng của Hiệp hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., vào ngày 14 tháng Năm, 1941, theo yêu cầu của chính đương sự—Ông Thomas Sugrue, Hội viên Tích cực của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Thomas Sugrue and Gertrude Cayce.

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Thomas Sugrue và Gertrude Cayce.

READING

LẦN ĐỌC

Time of Reading 4:10 to 4:35 P.M. Eastern Standard Time.

Thời gian Lần đọc 4:10 đến 4:35 chiều, Giờ Chuẩn Miền Đông.

HLC: You will have before you the enquiring mind of the entity, Thomas Sugrue, present in this room, and certain of the problems which confront him in composing the manuscript of There Is a River.

HLC: Ông sẽ có trước Ông tâm trí truy vấn của thực thể, Thomas Sugrue, có mặt trong phòng này, và một số vấn đề đang đối diện với ông ấy trong việc soạn thảo bản thảo There Is a River.

The entity is now ready to describe the philosophical concepts, which have been given through this source, and wishes to parallel and align them with known religious tenets, especially those of Christian theology.

Hiện thực thể đã sẵn sàng mô tả các khái niệm triết học vốn đã được ban qua nguồn này, và mong muốn song song và chỉnh hợp chúng với các tín điều tôn giáo đã biết, đặc biệt là những điều của thần học Kitô giáo.

The entity does not wish to set forth a system of thought, nor imply that all questions of a philosophical nature can be answered through this source—the limitations of the finite mind prevent this.

Thực thể không mong muốn trình bày một hệ thống tư tưởng, cũng không ngụ ý rằng mọi câu hỏi mang tính triết học đều có thể được trả lời qua nguồn này—những giới hạn của thể trí hữu hạn ngăn trở điều đó.

But the entity wishes to answer those questions, which will naturally arise in the mind of the reader, and many of the questions, which are being asked by all people in the world today.

Nhưng thực thể mong muốn trả lời những câu hỏi sẽ tự nhiên nảy sinh trong tâm trí độc giả, và nhiều câu hỏi đang được mọi người trên thế giới hôm nay nêu ra.

Therefore the entity presents certain problems and questions, which you will answer as befits the entity’s understanding and the task of interpretation before him.

Do đó thực thể trình bày một số vấn đề và câu hỏi, mà Ông sẽ trả lời sao cho thích hợp với sự thấu hiểu của thực thể và nhiệm vụ diễn giải trước mặt ông ấy.

EC: Yes, we have the enquiring mind, Thomas Sugrue, and those problems, those questions that arise in the mind of the entity at this period. Ready for questions.

EC: Vâng, chúng tôi có tâm trí truy vấn, Thomas Sugrue, và những vấn đề, những câu hỏi nảy sinh trong tâm trí của thực thể ở giai đoạn này. Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: The first problem concerns the reason for creation. Should this be given as God’s desire to experience Himself, God’s desire for companionship, God’s desire for expression, or in some other way?

H: Vấn đề thứ nhất liên quan đến lý do của sự sáng tạo. Điều này nên được trình bày như ước muốn của Thượng đế muốn kinh nghiệm Chính Ngài, ước muốn của Thượng đế về tình bạn đồng hành, ước muốn của Thượng đế về biểu lộ, hay theo một cách khác?

A: God’s desire for companionship and expression.

Đ: Ước muốn của Thượng đế về tình bạn đồng hành và biểu lộ.

Q: The second problem concerns that which is variously called evil, darkness, negation, sin. Should it be said that this condition existed as a necessary element of creation, and the soul, given free will, found itself with the power to indulge in it, or lose itself in it? Or should it be said that this is a condition created by the activity of the soul itself? Should it be described, in either case, as a state of consciousness, a gradual lack of awareness of self and self’s relation to God?

H: Vấn đề thứ hai liên quan đến cái mà người ta gọi là ác, bóng tối, phủ định, tội lỗi. Có nên nói rằng tình trạng này hiện hữu như một yếu tố cần thiết của tạo tác, và linh hồn, khi được ban ý chí tự do, thấy mình có quyền năng phóng túng trong đó, hoặc đánh mất mình trong đó? Hay có nên nói rằng đây là một tình trạng được tạo nên bởi hoạt động của chính linh hồn? Dù thế nào, nó có nên được mô tả như một trạng thái tâm thức, là một sự giảm dần sự nhận biết về tự ngã và mối liên hệ của tự ngã với Thượng đế?

A: It is the free will and it’s losing itself in its relationship to God.

Đ: Chính là ý chí tự do và việc nó đánh mất mình trong mối liên hệ của nó với Thượng đế.

Q: The third problem has to do with the fall of man. Should this be described as something, which was inevitable in the destiny of souls, or something which God did not desire, but which He did not prevent once He had given free will? The problem here is to reconcile the omniscience of God and His knowledge of all things with the free will of the soul and the soul’s fall from grace.

H: Vấn đề thứ ba liên quan đến sự sa ngã của con người. Điều này có nên được mô tả như điều tất yếu trong số mệnh của các linh hồn, hay điều mà Thượng đế không muốn, nhưng Ngài đã không ngăn cản khi đã ban ý chí tự do? Vấn đề ở đây là hòa giải sự toàn tri của Thượng đế và sự biết hết mọi sự của Ngài với ý chí tự do của linh hồn và sự sa ngã của linh hồn khỏi ân sủng.

A: He did not prevent, once having given free will. For, He made the individual entities or souls in the beginning. For, the beginnings of sin, of course, were in seeking expression of themselves outside of the plan or the way in which God had expressed same. Thus it was the individual, see?

Đ: Ngài đã không ngăn cản, một khi đã ban ý chí tự do. Vì, ban đầu Ngài tạo nên các thực thể hay linh hồn. Vì, khởi thủy của tội lỗi, dĩ nhiên, là ở việc tìm kiếm biểu lộ chính mình bên ngoài kế hoạch hay con đường mà Thượng đế đã bày tỏ điều đó. Vậy nên đó là ở cá nhân, thấy chứ?

Having given free will, then—though having the foreknowledge, though being omnipotent and omnipresent—it is only when the soul that is a portion of God chooses that God knows the end thereof.

Một khi đã ban ý chí tự do—dù có tiền tri, dù hiện diện khắp nơi và toàn năng—chỉ khi linh hồn, vốn là một phần của Thượng đế, chọn lựa thì Thượng đế mới biết kết cục của điều ấy.

Q: The fourth problem concerns man’s tenancy on earth. Was it originally intended that souls remain out of earthly forms, and were the races originated as a necessity resulting from error?

H: Vấn đề thứ tư liên quan đến việc con người “thuê ở” trần gian. Ban đầu có phải đã được định là các linh hồn ở ngoài các hình thể trần gian, và các chủng tộc được khởi dựng như một tất yếu phát sinh từ sai lầm?

A: The earth and its manifestations were only the expression of God and not necessarily as a place of tenancy for the souls of men, until man was created—to meet the needs of existing conditions.

Đ: Trái đất và các biểu hiện của nó chỉ là sự biểu lộ của Thượng đế và không nhất thiết là một nơi “cư trú” cho các linh hồn của loài người, cho đến khi con người được tạo ra—để đáp ứng nhu cầu của các điều kiện đang hiện hữu.

Q: The fifth problem concerns an explanation of the Life Readings. From a study of these it seems that there is a trend downward, from early incarnations, toward greater earthliness and less mentality. Then there is a swing upward, accompanied by suffering, patience, and understanding. Is this the normal pattern, which results in virtue and oneness with God obtained by free will and mind?

H: Vấn đề thứ năm liên quan đến việc giải thích các Bản Đọc Đời Sống. Từ việc khảo cứu những bản này, có vẻ như có một xu hướng đi xuống, từ những lần lâm phàm sớm, hướng đến tính trần tục nhiều hơn và ít tính trí tuệ hơn. Rồi có một cú xoay lên trên, kèm theo đau khổ, nhẫn nại và thấu hiểu. Đây có phải là mô hình bình thường, vốn đưa đến đức hạnh và sự nhất thể với Thượng đế, đạt được bởi ý chí tự do và thể trí?

A: This is correct. It is the pattern as it is set in Him.

Đ: Điều này đúng. Đó là mô hình như nó đã được an bài trong Ngài.

Q: The sixth problem concerns interplanetary and inter-system dwelling, between earthly lives. It was given through this source that the entity Edgar Cayce, after the experience as Uhjltd, went to the system of Arcturus, and then returned to earth. Does this indicate a usual or an unusual step in soul evolution?

H: Vấn đề thứ sáu liên quan đến việc cư trú liên hành tinh và liên hệ hệ mặt trời, giữa các đời sống nơi trần thế. Qua nguồn này có cho biết rằng thực thể Edgar Cayce, sau kinh nghiệm làm Uhjltd, đã đến hệ thống của Arcturus, rồi trở về Trái Đất. Điều này cho thấy một bước đi bình thường hay bất thường trong tiến hóa của linh hồn?

A: As indicated, or as has been indicated in other sources besides this as respecting this very problem—Arcturus is that which may be called the center of this universe, through which individuals pass and at which period there comes the choice of the individual as to whether it is to return to complete there—that is, in this planetary system, our sun, the earth sun and its planetary system—or to pass on to others. This was an unusual step, and yet a usual one.

Đ: Như đã chỉ ra, hoặc như đã được chỉ ra từ những nguồn khác ngoài nguồn này về chính vấn đề này—Arcturus là cái có thể gọi là trung tâm của vũ trụ này, nơi các cá nhân đi qua, và tại đó đến thời điểm có sự lựa chọn của cá nhân là liệu sẽ quay trở lại để hoàn tất ở đó—tức là, trong hệ hành tinh này, mặt trời của chúng ta, mặt trời Trái Đất và hệ hành tinh của nó—hay tiếp tục đi đến các hệ khác. Đây là một bước đi bất thường, nhưng đồng thời cũng là một bước đi thông thường.

Q: The seventh problem concerns implications from the sixth problem. Is it necessary to finish the solar system cycle before going to other systems?

H: Vấn đề thứ bảy bao hàm những hệ quả từ vấn đề thứ sáu. Có cần hoàn tất chu kỳ của hệ mặt trời trước khi đi đến các hệ khác không?

A: Necessary to finish the solar cycle.

Đ: Cần hoàn tất chu kỳ Thái dương.

Q: Can oneness be attained—or the finish of evolution reached—on any system, or must it be in a particular one?

H: Có thể đạt được nhất thể—hoặc đạt mức hoàn tất tiến hóa—trên bất kỳ hệ thống nào, hay phải là trên một hệ thống đặc thù?

A: Depending upon what system the entity has entered, to be sure. It may be completed in any of the many systems.

Đ: Tùy thuộc vào hệ thống mà thực thể đã đi vào, chắc chắn vậy. Nó có thể được hoàn tất trong bất kỳ hệ thống nào trong số nhiều hệ thống.

Q: Must the solar cycle be finished on earth, or can it be completed on another planet, or does each planet have a cycle of its own which must be finished?

H: Có phải chu kỳ Thái dương phải được hoàn tất trên Trái Đất, hay có thể hoàn tất trên một hành tinh khác, hay mỗi hành tinh có một chu kỳ riêng của nó cần được hoàn tất?

A: If it is begun on the earth it must be finished on the earth. The solar system of which the earth is a part is only a portion of the whole. For, as indicated in the number of planets about the earth, they are of one and the same—and they are relative one to another. It is the cycle of the whole system that is finished, see?

Đ: Nếu nó bắt đầu trên Trái Đất thì phải được hoàn tất trên Trái Đất. Hệ mặt trời mà Trái Đất là một phần chỉ là một phần của toàn thể. Vì, như đã chỉ ra ở số lượng các hành tinh quanh Trái Đất, chúng thuộc về một và cùng một—và chúng tương quan lẫn nhau. Chính là chu kỳ của toàn bộ hệ thống được hoàn tất, thấy chứ?

Q: The eighth problem concerns the pattern made by parents at conception. Should it be said that this pattern attracts a certain soul because it approximates conditions, which that soul wishes to work with?

H: Vấn đề thứ tám liên quan đến khuôn mẫu do cha mẹ tạo nên lúc thụ thai. Có nên nói rằng khuôn mẫu này thu hút một linh hồn nào đó vì nó gần như những điều kiện mà linh hồn ấy mong muốn làm việc với chúng?

A: It approximates conditions. It does not set. For, the individual entity or soul, given the opportunity, has its own free will to work in or out of those problems as presented by that very union. Yet the very union, of course, attracts or brings a channel or an opportunity for the expression of an individual entity.

Đ: Nó gần như các điều kiện. Nó không định sẵn. Vì, thực thể cá nhân hay linh hồn, khi được trao cơ hội, có ý chí tự do của chính mình để làm việc bên trong hoặc vượt ra ngoài những vấn đề như chính sự kết hợp ấy đưa ra. Tuy nhiên chính sự kết hợp ấy, dĩ nhiên, thu hút hoặc mang đến một kênh hay một cơ hội cho sự biểu lộ của một thực thể cá nhân.

Q: Does the incoming soul take on of necessity some of the parents’ karma?

H: Linh hồn sắp nhập thể có nhất thiết mang lấy một phần nghiệp quả của cha mẹ không?

A: Because of its relative relationship to same, yes. Otherwise, no.

Đ: Bởi vì mối tương quan tương đối của nó với những điều ấy, có. Bằng không thì không.

Q: Does the soul itself have an earthly pattern, which fits back into the one created by the parents?

H: Bản thân linh hồn có một khuôn mẫu thuộc trần thế, vốn lắp trở lại vào khuôn mẫu do cha mẹ tạo ra không?

A: Just as indicated, it is relative—as one related to another; and because of the union of activities they are brought in the pattern. For in such there is the explanation of universal or divine laws, which are ever one and the same; as indicated in the expression that God moved within Himself and then He didn’t change, though did bring to Himself that of His own being made crucified even in the flesh.

Đ: Như vừa chỉ ra, nó có tính tương đối—như một cái liên hệ với cái khác; và vì sự hiệp nhất của các hoạt động nên chúng được đưa vào khuôn mẫu. Vì trong đó có sự giải minh về các định luật phổ quát hay thiêng liêng, vốn luôn luôn là một và như nhau; như đã chỉ ra trong lời biểu đạt rằng Thượng đế vận động trong Chính Ngài và rồi Ngài không thay đổi, dẫu Ngài đã mang về cho Chính Ngài phần của chính bản thể Ngài bị đóng đinh ngay cả trong xác thịt.

Q: Are there several patterns which a soul might lake on, depending on what phase of development it wished to work upon—i.e., could a soul choose to be one of several personalities, any of which would fit its individuality?

H: Có phải có nhiều khuôn mẫu mà một linh hồn có thể khoác lấy, tùy theo giai đoạn phát triển mà linh hồn ấy mong muốn làm việc—tức là, liệu một linh hồn có thể chọn trở thành một trong vài phàm ngã, mà bất kỳ phàm ngã nào trong số đó cũng sẽ khít với cá tính độc nhất của linh hồn?

A: Correct.

Đ: Đúng.

Q: Is the average fulfillment of the soul’s expectation more or less than fifty percent?

H: Mức độ thành tựu trung bình của những điều linh hồn kỳ vọng là nhiều hay ít hơn năm mươi phần trăm?

A: It’s a continuous advancement, so it is more than fifty percent.

Đ: Đó là một sự tiến bộ liên tục, nên nó nhiều hơn năm mươi phần trăm.

Q: Are hereditary, environment and will equal factors in aiding or retarding the entity’s development?

H: Di truyền, môi trường và ý chí có phải là những yếu tố ngang nhau trong việc hỗ trợ hay trì hoãn sự phát triển của thực thể không?

A: Will is the greater factor, for it may overcome any or all of the others; provided that will is made one with the pattern, see? For, no influence of heredity, environment or what not, surpasses the will; else why would there have been that pattern shown in which the individual soul, no matter how far astray it may have gone, may enter with Him into the holy of holies?

Đ: Ý chí là yếu tố lớn hơn, vì nó có thể vượt qua bất kỳ hoặc tất cả các yếu tố còn lại; miễn là ý chí được hòa làm một với khuôn mẫu, thấy chứ? Vì, không có ảnh hưởng nào của di truyền, môi trường hay gì gì khác vượt trội hơn ý chí; nếu không thì vì sao lại có khuôn mẫu được biểu lộ theo đó linh hồn cá nhân, bất kể nó đã lạc xa đến đâu, vẫn có thể cùng với Ngài bước vào nơi chí thánh?

Q: The ninth problem concerns the proper symbols, or similes, for the Master, the Christ. Should Jesus be described as the soul who first went through the cycle of earthly lives to attain perfection, including perfection in the planetary lives also?

H: Vấn đề thứ chín liên quan đến các biểu tượng, hay các tỷ dụ, cho Bậc Thầy, Đức Christ. Có nên mô tả Đức Jesus như linh hồn đầu tiên đã đi trọn chu kỳ những đời sống nơi trần thế để đạt đến sự hoàn thiện, bao gồm cả sự hoàn thiện trong những đời sống thuộc các hành tinh?

A: He should be. This is as the man, see?

Đ: Nên. Đây là với tư cách con người, thấy chứ?

Q: Should this be described as a voluntary mission One Who was already perfected and returned to God, having accomplished His Oneness in other planes and systems?

H: Có nên mô tả đây như một sứ mạng tự nguyện của Một Đấng, Đấng đã hoàn thiện rồi và trở về với Thượng đế, sau khi hoàn tất Sự Nhất Thể của Ngài ở các cõi và các hệ thống khác?

A: Correct.

Đ: Đúng.

Q: Should the Christ Consciousness be described as the awareness within each soul, imprinted in pattern on the mind and waiting to be awakened by the will, of the soul’s oneness with God?

H: Có nên mô tả Tâm thức Đức Christ như là nhận biết ở trong mỗi linh hồn, được in ấn theo khuôn mẫu trên thể trí và chờ được thức tỉnh bởi ý chí, về sự nhất thể của linh hồn với Thượng đế?

A: Correct. That’s the idea exactly!

Đ: Đúng. Ý niệm ấy chính xác!

Q: Please list the names of the incarnations of the Christ, and of Jesus, indicating where the development of the man Jesus began.

H: Xin liệt kê các danh xưng của những lần nhập thể của Đức Christ, và của Đức Jesus, cho biết nơi khởi đầu sự phát triển của con người Jesus.

A: First, in the beginning, of course; and then as Enoch, Melchizedek, in the perfection. Then in the earth of Joseph, Joshua, Jeshua, Jesus.

Đ: Trước hết, từ khởi nguyên, dĩ nhiên; rồi như Enoch, Melchizedek, trong sự hoàn thiện. Sau đó trong cõi trần là Joseph, Joshua, Jeshua, Jesus.

Q: The tenth problem concerns the factors of soul evolution. Should mind, the builder, be described as the last development because it should not unfold until it has a firm foundation of emotional virtues?

H: Vấn đề thứ mười liên quan đến các yếu tố của sự tiến hóa của linh hồn. Có nên mô tả thể trí, kẻ kiến tạo, như là sự phát triển sau cùng vì nó không nên khai mở cho đến khi có nền tảng vững chắc về các đức hạnh cảm xúc?

A: This might be answered Yes and No, both. But if it is presented in that there is kept, willfully, see, that desire to be in the at-onement, then it is necessary for that attainment before it recognizes mind as the way.

Đ: Điều này có thể được trả lời cả Có và Không. Nhưng nếu trình bày theo cách giữ vững, bằng ý chí, thấy chứ, ước muốn được ở trong nhất thể, thì điều đó là cần thiết cho sự đạt thành ấy trước khi nó nhận ra thể trí như là con đường.

Q: The eleventh problem concerns a parallel with Christianity. Is Gnosticism the closest type of Christianity to that which is given through this source?

H: Vấn đề thứ mười một liên quan đến một sự song hành với Cơ Đốc giáo. Chủ nghĩa Ngộ đạo có phải là hình thái Cơ Đốc giáo gần nhất với điều được ban qua nguồn này không?

A: This is a parallel, and was the commonly accepted one until there began to be set rules in which there were the attempts to take short cuts. And there are none in Christianity!

Đ: Đây là một đường song hành, và từng là đường được chấp nhận rộng rãi cho đến khi bắt đầu có những quy luật được đặt ra mà trong đó đã có những toan tính tìm đường tắt. Và trong Cơ Đốc giáo không hề có đường tắt nào cả!

Q: What action of the early church, or council, can be mentioned as that which ruled reincarnation from Christian theology?

H: Hành động nào của Giáo hội sơ khai, hay của một công đồng, có thể được nêu ra như hành động đã loại bỏ luân hồi khỏi thần học Kitô giáo?

A: Just as indicated—the attempts of individuals to accept or take advantage of, because of this knowledge, see?

Đ: Như đã chỉ ra—những toan tính của các cá nhân nhằm chấp nhận hoặc lợi dụng, vì có tri thức này, thấy chứ?

Q: Do souls become entangled in other systems as they did in this system?

H: Các linh hồn có bị vướng mắc trong các hệ thống khác như họ đã vướng mắc trong hệ thống này không?

A: In other systems that represent the same as the earth does in this system, yes.

Đ: Trong những hệ thống khác đại diện cho điều tương ứng với vai trò mà Trái Đất giữ trong hệ thống này, có.

Q: Is there any other advice which may be given to this entity at this time in the preparation of these chapters?

H: Có còn lời khuyên nào khác có thể được dành cho thực thể này vào lúc này trong việc soạn thảo những chương này không?

A: Hold fast to that ideal, and using Him ever as the Ideal. And hold up that necessity for each to meet the same problems. And do not attempt to shed or to surpass or go around the Cross. This is that upon which each and every soul must look and know it is to be borne in self with Him.

Đ: Hãy nắm chặt lý tưởng ấy, và luôn lấy Ngài làm Lý Tưởng. Và hãy nêu cao sự cần thiết để mỗi người đối diện cùng những vấn đề như nhau. Và đừng toan cởi bỏ hay vượt qua hay lách quanh Thập Giá. Đây là điều mà mỗi một linh hồn đều phải nhìn vào và biết rằng nó phải được mang trong tự ngã cùng với Ngài.

We are through for the present.

Hiện tại chúng ta tạm xong.

Text of Reading 900-70 M 30 (Stockbroker, Jewish)

Văn bản của Lần đọc 900-70 Nam 30 (Môi giới chứng khoán, Do Thái)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at his office, 322 Grafton Avenue, Dayton, Ohio. this 12th day of May, 1925, in accordance with request made by [900].

Lần đọc Thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của ông, 322 Đại lộ Grafton, Dayton, Ohio, ngày 12 tháng Năm, 1925, theo yêu cầu do [900] đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Mrs. Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Edgar Cayce; Bà Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký.

READING

LẦN ĐỌC

Time of Reading 11:00 A.M. Dayton Savings Time.

Thời gian Lần đọc 11:00 sáng. Giờ Tiết kiệm Ánh sáng Ban ngày Dayton.

GC: You will have before you the subject matter as was given in psychic state by the body Edgar Cayce, and questions on same as prepared by the enquiring mind of [900]. You will answer these questions as I ask them, in such a manner as to be understood by the mind of [900],

GC: Trước mặt ông sẽ có đề mục như đã được thân thể Edgar Cayce ban ra trong trạng thái thông linh, và các câu hỏi về cùng đề mục ấy do thể trí đang truy vấn của [900] soạn. Ông sẽ trả lời những câu hỏi này khi tôi đặt ra, theo cách để thể trí của [900] có thể thấu hiểu.

EC: Yes, we have this here. We have had this before, you see, that as transcribed from that given by Edgar Cayce while in the psychic state. Ready for questions.

EC: Vâng, chúng tôi có điều này ở đây. Chúng tôi đã có điều này trước đó rồi, thấy chứ, như được ghi chép lại từ những gì do Edgar Cayce ban ra trong trạng thái thông linh. Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: Explain as clearly as possible the definition of Evolution as relates to Man, first in Spirit plane, then in flesh and blood on earth and again in spirit plane. What is man and how may we in flesh become fully conscious and aware of the Spiritual Self?

H: Hãy giải thích rõ ràng nhất có thể định nghĩa về Tiến Hóa khi liên hệ với Con Người, trước hết ở cõi Tinh thần, rồi trong xác thịt và huyết nhục trên trần thế, và lại nữa ở cõi tinh thần. Con người là gì và làm thế nào để chúng ta, trong xác thịt, trở nên hoàn toàn có tâm thức và nhận biết về Tự Ngã Tinh thần?

A: In this we find the understanding would, from physical viewpoint, never be understood by the cycle as is asked. The evolution of man in spiritual plane being one, the evolution of man in flesh being another. Hence, as has been given, hard to understand conditions in one plane when viewed from another plane, without the realization of having experienced that plane. Now evolution in flesh, as is seen, is the passing through the flesh plane and in the various experiences of man’s sojourn in earth, through his (man’s) environment as created and made by man, this is called man’s evolution in the earth plane. As we have in the beginning of man’s sojourn in earth plane, we find under what is termed at the present time or day, or plane of man, the primitive man. The man seeking the first of the attributes of fleshly existence, known only by those conditions surrounding man and his environments. As man applies the laws of which he (man) becomes conscious of, the development of man brings forth those results merited by that knowledge. As man passes into the spiritual plane from earthly existence, the development in the spiritual plane becoming the same evolution in spiritual planes as is acquired in the physical plane, and until man becomes in the spiritual sense the one-ness with the Creator’s forces, as is set by example of the Son of Man coming in the flesh to the earth plane to manifest in the flesh the will made one with the Father, passing through the physical plane, passing through the spiritual planes, making all one with the Father. This we find then is evolution. Man’s development through man’s acquiring man’s understanding of spiritual laws, of earthly laws, of God’s laws, and applying same in the earth. Then truly is it given, “The righteous shall inherit the earth.”

Đ: Trong điều này chúng ta thấy rằng, từ quan điểm vật chất, sự thấu hiểu sẽ không bao giờ có thể được hiểu theo chu kỳ như được hỏi. Sự tiến hóa của con người ở cõi tinh thần là một, sự tiến hóa của con người trong xác thịt là một điều khác. Do đó, như đã được ban, khó mà hiểu các trạng thái ở một cõi khi nhìn từ một cõi khác, nếu không có nhận thức về việc đã từng kinh nghiệm cõi ấy. Nay tiến hóa trong xác thịt, như được thấy, là sự đi qua cõi xác thịt và trong những kinh nghiệm khác nhau của cuộc lưu trú trần gian của con người, qua môi trường của y (con người) như được tạo ra và làm nên bởi con người, điều này được gọi là sự tiến hóa của con người trên cõi trần. Như chúng ta thấy ở khởi thủy cuộc lưu trú trần gian của con người, dưới điều mà hiện nay được gọi, ở thời này, hay cõi của con người, là con người nguyên thủy. Con người tìm kiếm những thuộc tính đầu tiên của tồn tại trong xác thịt, chỉ được biết đến qua những điều kiện bao quanh con người và môi trường của y. Khi con người áp dụng những định luật mà y (con người) trở nên tâm thức về chúng, sự phát triển của con người đưa ra những kết quả tương xứng với tri thức ấy. Khi con người chuyển vào cõi tinh thần từ hiện hữu trần gian, sự phát triển ở cõi tinh thần trở thành cùng một tiến hóa ở các cõi tinh thần như đã tiếp thu ở cõi vật chất, và cho đến khi con người, theo nghĩa tinh thần, trở nên nhất thể với các mãnh lực của Đấng Tạo Hóa, như đã được nêu gương bởi Con Người đến trong xác thịt vào cõi trần để biểu lộ trong xác thịt ý chí được làm một với Cha, đi qua cõi vật chất, đi qua các cõi tinh thần, làm cho tất cả trở nên một với Cha. Vậy chúng ta thấy đó là tiến hóa. Sự phát triển của con người qua việc con người thâu đắc sự thấu hiểu của con người về các định luật tinh thần, về các định luật trần thế, về các định luật của Thượng đế, và áp dụng những điều ấy nơi trần gian. Khi đó quả thật là phù hợp lời phán: “Người công chính sẽ hưởng đất làm cơ nghiệp.”

Q: Does Man created as Matter, Force and Mind mean Physical, Spiritual and Mental?

H: Con Người được tạo thành như Vật chất, Mãnh lực và Thể trí có nghĩa là Thể xác, Tinh thần và Trí tuệ?

A: Man created having the attributes of the physical, the spiritual, the mental, to work with in his own development. These, as it were, tools of the whole man, the all being then one, and that same separated is the attributes of the various conditions, each having its single, its separate attributes, and man using same for man’s development.

Đ: Con Người được tạo nên có các thuộc tính của phương diện thể xác, phương diện tinh thần, phương diện trí tuệ, để làm việc cho sự phát triển của chính mình. Những điều này, như thể, là các khí cụ của toàn thể con người, toàn thể ngã tính khi ấy là một, và phần ấy khi được phân tách là các thuộc tính của các trạng thái khác nhau, mỗi cái có thuộc tính riêng, riêng biệt, và con người dùng những điều ấy cho sự phát triển của con người.

Q: When earth plane became ready for Man, how did he first get here? In the Bible we have the story of Adam and Eve. Explain in a reasonable, logical way how did Man first appear on earth. Explain this in relation to birth, to conception.

H: Khi cõi trần trở nên sẵn sàng cho Con Người, y trước hết đến đây bằng cách nào? Trong Kinh Thánh chúng ta có câu chuyện về Adam và Eve. Hãy giải thích theo một cách hợp lẽ, có lý, Con Người đầu tiên xuất hiện trên trần thế như thế nào. Hãy giải thích điều này liên hệ đến sinh nở, đến thụ thai.

A: As is given, man, when earth became habitable for physical man, man entered in the plane, just as the highest of created forces in the earth plane. Then became man amenable to laws of earth plane, and amenable to physical birth, physical conditions, physical conceptions, physical forces as applied to the whole man. Physical, mental and spiritual forces manifest in man, taken in this conception as was given from the beginning. As the earth plane became in that state wherein man may find residence, the spirit forces as are developing through the spiritual forces to make one with the Father, given the soul of man to make manifest in the flesh. All souls were created in the beginning, all spirit of one spirit, Spirit of God, that spirit manifest in flesh, that spirit manifest in all creation, whether of earthly forces or Universal forces, all spirit being one spirit. All flesh not one flesh. Flesh being that as has merited by its development in its plane of existence.

Đ: Như đã ban, khi trần thế trở nên có thể cư trú được cho con người thể chất, con người đi vào cõi này, đúng như là đỉnh cao của các mãnh lực được tạo dựng trong cõi trần. Rồi con người trở nên chịu phục dưới các định luật của cõi trần, và chịu phục dưới sinh nở thể chất, các điều kiện thể chất, các thụ thai thể chất, các mãnh lực vật chất khi được áp dụng cho toàn bộ con người. Các mãnh lực thể chất, trí tuệ và tinh thần biểu lộ trong con người, được nắm lấy trong ý niệm này như đã được ban ngay từ khởi nguyên. Khi cõi trần trở nên ở trạng thái mà trong đó con người có thể tìm thấy nơi cư trú, các mãnh lực tinh thần, như đang phát triển qua các mãnh lực tinh thần để làm một với Cha, ban cho linh hồn con người để biểu lộ trong xác thịt. Mọi linh hồn đã được tạo dựng từ khởi nguyên, mọi tinh thần là của Một Tinh thần, Tinh thần của Thượng đế, tinh thần ấy biểu lộ trong xác thịt, tinh thần ấy biểu lộ trong mọi tạo tác, dù thuộc lực trần gian hay các lực Vũ trụ, mọi tinh thần là một tinh thần. Mọi xác thịt không phải là một xác thịt. Xác thịt là cái đã được xứng đáng bởi sự phát triển của nó trong cõi tồn tại của nó.

Q: Is every chemical quality found in the animal, vegetable and mineral kingdom of the world found in Man? Explain, if not, what is meant by “There is found in Living Man all of that that may be found without in the whole world”.

H: Có phải mọi phẩm chất hóa học được tìm thấy trong các giới động vật, thực vật và khoáng vật của thế giới đều được tìm thấy nơi Con Người? Hãy giải thích, nếu không, thì “Trong Con Người Sống có tìm thấy tất cả những gì có thể tìm thấy ở bên ngoài trong toàn thế giới” nghĩa là gì.

A: All those essential forces as are manifest in the Universe are manifest in the living man, and above that the soul of man. The chemical or material, or animated forces as are seen in all animal, vegetable, mineral forces, with their combinations, are found in the combinations in man, and from same may be created, for man is Lord over creation, from the physical viewpoint.

Đ: Tất cả những mãnh lực yếu tính vốn biểu lộ trong Vũ trụ đều biểu lộ trong con người sống, và trên tất cả là linh hồn của con người. Các lực hóa học hay vật chất, hay các lực sinh động như được thấy trong mọi lực động vật, thực vật, khoáng vật, với các kết hợp của chúng, đều được thấy trong các kết hợp nơi con người, và từ những điều ấy có thể được tạo tác, vì từ quan điểm thể chất, con người là Chúa tể trên tạo hóa.

Q: Explain how the example of Man’s developing and improving his mode of living scientifically on earth, for example in medical work and all other sciences, proves his development and evolution on earth and other planes.

H: Hãy giải thích cách mà việc Con Người phát triển và cải thiện lối sống của y một cách khoa học trên trần thế, thí dụ trong công việc y khoa và mọi khoa học khác, chứng minh cho sự phát triển và tiến hóa của y trên trần thế và các cõi khác.

A: Man’s development, as given, is of man’s understanding and applying the laws of the Universe, and as man applies those, man develops, man brings up the whole generation of man. Individuals we find carry out certain elements and laws, and gradually man becomes capable of applying and using those in the everyday life of man. This, whether applied in medical science, in anatomal [anatomic] science, in mechanical science or what not, is merely the development, or the application as man applies to Universal laws as are ever, and have ever been, existent in the Universe. As is in this. That producing electrical units of force was just as applicable to the Universal forces in the days of Adam as in the days of the Master, or as in the days of today. Those laws applying to aerial of transmission just as applicable in one as in other. Man not understanding those. Many times has the evolution of the earth reached the stage of development as it has today and then sank again, to rise again in the next development. Some along one line, some along others, for often we find the higher branches of so-called learning destroys itself in the seed it produces in man’s development, as we have in medical forces, as we have astrological forces, as we have in some forms of spiritual forces, as we have in forms of destructive forces of the various natures.

Đ: Sự phát triển của con người, như đã ban, là do sự thấu hiểu của con người và việc áp dụng các định luật của Vũ trụ, và khi con người áp dụng những điều ấy, con người phát triển, con người đưa cả giống nòi con người đi lên. Chúng ta thấy từng cá nhân triển khai một số yếu tố và định luật nhất định, và dần dần con người trở nên có khả năng áp dụng và sử dụng những điều ấy trong đời sống thường nhật. Điều này, dù áp dụng trong khoa học y khoa, trong khoa học cơ thể học [giải phẫu học], trong khoa học cơ khí hay gì gì khác, chỉ là sự phát triển, hay là việc áp dụng khi con người áp dụng các định luật Vũ trụ, vốn vẫn luôn, và xưa nay luôn, hiện hữu trong Vũ trụ. Như trong điều này. Việc tạo ra các đơn vị lực điện là điều áp dụng vào các lực Vũ trụ y như vào thời của Adam cũng như trong thời của Đức Thầy, hay như trong thời hiện tại. Những định luật áp dụng cho việc truyền qua không trung cũng áp dụng như nhau ở thời này như ở thời khác. Con người chưa thấu hiểu những điều ấy. Nhiều lần sự tiến hóa của Trái Đất đã đạt đến trình độ phát triển như hiện nay và rồi lại suy sụp, để rồi lại trỗi dậy trong đợt phát triển kế tiếp. Có nơi theo một hướng, có nơi theo hướng khác, vì thường khi chúng ta thấy những nhánh cao hơn của cái gọi là học vấn tự hủy hoại chính mình trong mầm mống mà nó tạo ra trong sự phát triển của con người, như chúng ta thấy trong các lực y học, như chúng ta có ở các lực chiêm tinh, như chúng ta có ở một số dạng các lực tinh thần, như chúng ta có ở các dạng lực phá hủy thuộc nhiều bản chất khác nhau.

Q: Explain how the Law of Relativity applies to Man’s development to his evolution?

H: Hãy giải thích cách Định luật Tương đối áp dụng cho sự phát triển của Con Người và tiến hóa của y?

A: As each and every atom in the Universe has its relative relation with every other atom, then man’s development lies in the relativity of all forces, whether applied in the physical world as existent today, or that existence in man’s earthly existence before, for the relativity of one force applies to another. Hence all relative forces apply to man’s development, whether mental, physical or spiritual.

Đ: Vì mỗi và mọi nguyên tử trong Vũ trụ đều có mối tương quan tương đối với mọi nguyên tử khác, nên sự phát triển của con người nằm trong tính tương đối của mọi mãnh lực, dù áp dụng trong thế giới vật chất như đang hiện hữu hôm nay, hay sự hiện hữu ấy trong cuộc hiện hữu trần gian trước kia của con người, bởi vì tính tương đối của một mãnh lực áp dụng cho một mãnh lực khác. Vậy nên mọi mãnh lực tương đối đều áp dụng cho sự phát triển của con người, dù về phương diện trí tuệ, thể chất hay tinh thần.

Q: To what development must the soul reach before it may first find lodgment in the flesh?

H: Linh hồn phải đạt đến sự phát triển nào trước khi có thể lần đầu tìm thấy chỗ nương trú trong xác thịt?

A: Desire for flesh.

Đ: Dục vọng hướng về xác thịt.

Q: How does Soul manifest Will’s desire to take on fleshly existence?

H: Linh hồn biểu lộ ước muốn của Ý chí để khoác lấy tồn tại xác phàm như thế nào?

A: Spiritual subject and spiritually understood. When we reach those conditions and that development necessary to understand the law of taking those, we may gather these forces.

Đ: Đây là chủ đề tinh thần và được thấu hiểu một cách tinh thần. Khi chúng ta đạt đến những điều kiện và mức phát triển cần thiết để hiểu định luật của việc tiếp nhận những điều ấy, chúng ta có thể quy tụ các mãnh lực này.

Q: Explain: Reincarnation of the Soul from an appearance in Flesh to the next as it relates to Evolution, and step by step tell us just what other body the soul and spirit takes on after it leaves flesh existence and of what the soul and spirit becomes conscious after it leaves flesh existence.

H: Hãy giải thích: Luân hồi của Linh hồn từ một lần xuất hiện trong Xác phàm đến lần kế tiếp khi nó liên hệ đến Tiến hóa, và từng bước từng bước hãy nói rõ chính xác linh hồn và tinh thần khoác lấy thân nào sau khi rời khỏi hiện hữu xác phàm và linh hồn và tinh thần trở nên tâm thức về điều gì sau khi rời khỏi hiện hữu xác phàm.

A: We are through.

Đ: Chúng ta xong.

Reading 5749–3

Lần đọc 5749–3

Q: Discuss the various phases of spiritual development before and after reincarnation in the earth.

H: Hãy bàn về các pha khác nhau của phát triển tinh thần trước và sau luân hồi trong cõi trần.

A: This may be illustrated best in that which has been sought through example in the earth.

Đ: Điều này có thể được minh họa tốt nhất qua điều đã được tìm kiếm bằng gương mẫu trong cõi trần.

When there was in the beginning a man’s advent into the plane known as earth, and it became a living soul, amenable to the laws that govern the plane itself as presented, the Son of man entered earth as the first man. Hence the Son of man, the Son of God, the Son of the first Cause, making manifest in a material body.

Khi ở khởi nguyên có cuộc giáng lâm của con người vào cõi được gọi là trần thế, và y trở thành một linh hồn sống, chịu phục dưới những định luật cai quản chính cõi ấy như được trình hiện, Con Người đã vào trần thế như con người đầu tiên. Do đó Con Người, Con của Thượng đế, Con của Nguyên Nhân Đầu Tiên, biểu lộ trong một thể xác vật chất.

This was not the first spiritual influence, spiritual body, spiritual manifestation in the earth, but the first man—flesh and blood; the first carnal house, the first amenable body to the laws of the plane in its position in the universe.

Đây không phải là ảnh hưởng tinh thần đầu tiên, thân tinh thần đầu tiên, hay sự biểu lộ tinh thần đầu tiên trong trần gian, mà là con người đầu tiên—xác thịt và huyết nhục; ngôi nhà xác phàm đầu tiên, thân thể đầu tiên chịu phục dưới các định luật của cõi trong vị trí của nó giữa vũ trụ các thế giới.

For, the earth is only an atom in the universe of worlds!

Vì, Trái Đất chỉ là một nguyên tử trong vũ trụ các thế giới!

And man’s development began through the laws of the generations in the earth; thus the development, retardment, or the alterations in those positions in a material plane.

Và sự phát triển của con người bắt đầu qua các định luật của những thế hệ trong cõi trần; vậy nên có sự phát triển, sự trì hoãn, hay những biến đổi trong các vị thế ấy ở một cõi vật chất.

And with error entered that as called death, which is only a transition—or through God’s other door—into that realm where the entity has builded, in its manifestations as related to the knowledge and activity respecting the law of the universal influence.

Và cùng với sai lầm, điều được gọi là chết đã đi vào, vốn chỉ là một chuyển tiếp—hay qua cánh cửa khác của Thượng đế—vào cõi mà thực thể đã xây dựng nên, trong những sự biểu lộ của nó khi liên quan đến tri thức và hoạt động phù hợp với định luật của ảnh hưởng phổ quát.

Hence the development is through the planes of experience that an entity may become one with the first cause; even as the angels that wait before the Throne bring the access of the influence in the experience through the desires and activities of an entity, or being, in whatever state, place or plane of development the entity is passing.

Do đó, sự phát triển diễn ra qua các cõi kinh nghiệm để một thực thể có thể trở nên một với nguyên nhân đầu tiên; ngay cả như các thiên sứ chầu chực trước Thánh Ngai mang đến sự thông thông của ảnh hưởng trong kinh nghiệm qua các dục vọng và hoạt động của một thực thể, hay hữu thể, ở bất kỳ trạng thái, nơi chốn hay cõi phát triển nào mà thực thể đang trải qua.

For, in the comprehension of no time, no space, no beginning, no end, there may be the glimpse of what simple transition or birth into the material is; as passing through the other door into another consciousness.

Vì, trong sự thấu triệt về vô thời gian, vô không gian, vô thủy, vô chung, có thể thoáng thấy sự chuyển tiếp đơn giản hay sự sinh vào cõi vật chất là gì; như bước qua cánh cửa khác vào một tâm thức khác.

Death in the material plane is passing through the outer door into a consciousness in the material activities that partakes of what the entity, or soul, has done with its spiritual truth in its manifestations in the other sphere.

Cái chết nơi cõi vật chất là bước qua cánh cửa bên ngoài vào một tâm thức trong các hoạt động vật chất vốn thấm nhuần những gì thực thể, hay linh hồn, đã làm với chân lý tinh thần của mình trong những biểu lộ của nó ở cõi khác.

Hence, as there came the development of that first entity of flesh and blood through the earth plane, he became indeed the Son—through the things which He experienced in the varied planes, as the development came to the oneness with the position in that which man terms the Triune.

Vậy nên, khi có sự phát triển của thực thể đầu tiên bằng xác thịt và huyết nhục qua cõi trần, y quả đã trở nên Con—thông qua những điều y đã kinh nghiệm trong các cõi khác nhau, khi sự phát triển đạt đến nhất thể với vị thế trong điều mà con người gọi là Ba Ngôi.

Q: Are angels and archangels synonymous with that which we call the laws of the universe? If so, explain and give an example.

H: Thiên sứ và Tổng lãnh thiên sứ có đồng nghĩa với điều chúng ta gọi là các định luật của vũ trụ không? Nếu đúng, hãy giải thích và cho một ví dụ.

A: They are as the laws of the universe; as is Michael the lord of the Way, not the Way but the lord of the Way, hence disputed with the influence of evil as to the way of the spirit of the teacher or director in his entrance through the outer door. [See Jude 1:9 in re Michael the archangel “when contending with the devil about the body of Moses” when Moses died.]

Đ: Các Ngài như là các định luật của vũ trụ; như Michael là chúa tể của Con Đường, không phải Con Đường mà là chúa tể của Con Đường, nên đã tranh luận với ảnh hưởng của điều ác về con đường của linh của vị thầy hay vị hướng dẫn khi y bước vào qua cánh cửa bên ngoài. [Xem Giu-đe 1:9 về Tổng lãnh thiên thần Michael “khi tranh luận với ma quỷ về thi hài của Môi-se” khi Môi-se qua đời.]

Q: Describe some of the planes into which entities pass on experiencing the change called death.

H: Hãy mô tả một vài cõi mà các thực thể đi vào khi trải nghiệm sự đổi thay được gọi là cái chết.

A: Passing from the material consciousness to a spiritual or cosmic, or outer consciousness, oft does an entity or being not become conscious of that about it; much in the same manner as an entity born into the material plane only becomes conscious gradually of that designated as time and space for the material or third dimensional plane. In the passage the entity becomes conscious, or the recognition of being in a fourth or higher dimensional plane takes place, much in the same way as the consciousness is gained in the material.

Đ: Khi bước từ tâm thức vật chất sang tâm thức tinh thần hay vũ trụ, hay ngoại tâm thức, thường một thực thể hay hữu thể chưa trở nên tâm thức về những gì quanh mình; khá giống như một thực thể sinh vào cõi vật chất chỉ dần dần trở nên tâm thức về điều được gọi là thời gian và không gian đối với cõi vật chất hay cõi tam chiều. Trong cuộc chuyển cõi, thực thể trở nên tâm thức, hay sự nhận biết về việc ở trong một cõi bốn chiều hay cao hơn diễn ra khá giống như cách thức mà tâm thức được hình thành trong cõi vật chất.

For, as we have given, that we see manifested in the material plane is but a shadow of that in the spiritual plane.

Vì, như chúng tôi đã ban, điều chúng ta nhìn thấy biểu lộ trong cõi vật chất chỉ là cái bóng của điều ở cõi tinh thần.

In materiality we find some advance faster, some grow stronger, some become weaklings. Until there is redemption through the acceptance of the law (or love of God, as manifested through the Channel or the Way), there can be little or no development in a material or spiritual plane. But all must pass under the rod, even as He—who entered into materiality.

Trong cõi vật chất chúng ta thấy có kẻ tiến nhanh hơn, có kẻ trở nên mạnh hơn, có kẻ trở nên yếu đuối. Cho đến khi có sự cứu chuộc qua việc tiếp nhận định luật (hay tình yêu của Thượng đế, như được biểu lộ qua Kênh hay Con Đường), sẽ có rất ít hoặc không có phát triển trong cõi vật chất hay cõi tinh thần. Nhưng hết thảy đều phải đi qua dưới trượng, ngay cả như Ngài—Đấng đã bước vào trong cõi vật chất.

We are through.

Chúng ta xong.

Editor’s Note: The following Cayce discourses on reincarnation begin with a request to interpret a dream concerning reincarnation.

Lời người biên tập: Những bài diễn giảng sau đây của Cayce về luân hồi bắt đầu bằng một yêu cầu giải mộng liên quan đến luân hồi.

Text of Reading 900-156 M 30 (Stockbroker, Jewish)

Văn bản của Lần đọc 900-156 Nam 30 (Môi giới chứng khoán, Do Thái)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at his office, 115 West 35th Street, Virginia Beach, Va., this 4th day of November, 1925, in accordance with request made by self—[900].

Lần đọc Thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của ông, 115 West 35th Street, Virginia Beach, bang Virginia, ngày 4 tháng Mười Một, 1925, theo yêu cầu do chính [900] đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Mrs. Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Edgar Cayce; Bà Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký.

READING

LẦN ĐỌC

Time of Reading 11:20 A.M. Eastern Standard Time. New York City.

Thời gian Lần đọc 11:20 sáng. Giờ Tiêu chuẩn miền Đông. Thành phố New York.

GC: You will have before you the body and the enquiring mind of [900], of Apt........ St., New York City, and the dreams this body had on the dates which I will give you. You will give the interpretation and lesson to be gained from each of these, as I read same to you, and you will answer the questions which I shall ask you regarding same.

GC: Trước mặt ông sẽ có thân thể và thể trí đang truy vấn của [900], ở đường Apt........, Thành phố New York, và những giấc mơ mà thân này đã có vào các ngày mà tôi sẽ nêu. Ông sẽ đưa ra sự giải thích và bài học cần lĩnh hội từ mỗi giấc mơ, khi tôi đọc chúng cho ông, và ông sẽ trả lời các câu hỏi mà tôi sẽ hỏi ông liên quan đến chúng.

EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, [900]. This we have had here before. The dreams, as we see, are the conditions in subconscious, mental, superconscious and cosmic forces, weighed together in such a manner as to give to the body-mind consciousness those of lessons or of visions of conditions, whether in the mental, the superficial, the subconscious or from the cosmic forces, and often are a combination of all, for as has been given, there may be much given as relating to dreams, and especially when one has reached that development such as this entity, and when there is such a message to be given to the peoples, that the living forces as manifest in the physical world may be known of men, through the study of that phenomena as is experienced and known by this entity. Ready for dreams.

EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, thể trí truy vấn, [900]. Điều này chúng tôi đã có ở đây trước rồi. Những giấc mơ, như chúng tôi thấy, là những trạng thái trong tiềm thức, tâm thức trí tuệ, siêu tâm thức và các mãnh lực vũ trụ, được cân đo cùng nhau theo cách để trao cho ý thức thân-trí những bài học hay những thị kiến về các điều kiện, dù ở bình diện trí tuệ, bề mặt, tiềm thức hay từ các mãnh lực vũ trụ, và thường là sự kết hợp của tất cả, vì như đã ban, có thể nói nhiều điều liên quan đến mộng, và nhất là khi một người đã đạt đến mức phát triển như thực thể này, và khi có một thông điệp như vậy cần được trao cho mọi người, để các lực sống biểu lộ trong thế giới vật chất có thể được con người biết đến, qua việc nghiên cứu hiện tượng như được trải nghiệm và được thực thể này biết. Sẵn sàng cho các giấc mơ.

Q: Wednesday morning, Oct. 28, at home... Wednesday night while reading Bible: “Saw an old man—or one with iron gray hair walk by me.”

H: Sáng thứ Tư, 28 tháng Mười, ở nhà... Tối thứ Tư khi đang đọc Kinh Thánh: “Thấy một ông già—hoặc một người tóc hoa râm đi ngang qua tôi.”

A: This, as the subconscious and mental, gives to the consciousness that understanding as is seen by the entity, for as to the physical mind, one of ripe years in earth plane, one with mental and physical experiences that have given the physical mind that understanding, that concept, of the physical existences in the plane of those conditions necessary to make knowledge. Such is being acquired by this entity, and in the emblematical form is shown the lesson. Seek then the knowledge of the seer and the sages, that through this entity much may be given to a waiting world.

Đ: Điều này, như phương diện tiềm thức và trí tuệ, trao cho ý thức sự thấu hiểu như được thực thể thấy, vì đối với tâm trí thể chất, một người đã dày dạn năm tháng ở cõi trần, một người có những kinh nghiệm trí tuệ và thể chất đã trao cho tâm trí thể chất sự thấu hiểu ấy, quan niệm ấy, về các tồn tại vật chất trong cõi các điều kiện cần để tạo thành tri thức. Điều như vậy đang được thực thể này thâu đắc, và trong hình thức biểu tượng học bài học được cho thấy. Vậy hãy tìm kiếm tri thức của các nhà thông thị và hiền triết, để qua thực thể này có thể ban ra nhiều điều cho một thế giới đang mong đợi.

Q: Thursday Morning, Oct. 29. “Numbers 119.”

H: Sáng thứ Năm, 29 tháng Mười. “Các con số 119.”

A: This, as we see, the physical mind attempting to gain from the subconscious forces that knowledge of conditions pertaining to that that is paramount in the physical mind. Relating, then, to that condition which will arise, as has been given, regarding prices of stocks—L & N, see? This, as we have seen, will occur when other changes have set in and the combinations begin to break up.

Đ: Điều này, như chúng ta thấy, tâm trí thể chất đang nỗ lực thâu nhận từ các mãnh lực tiềm thức tri thức về các điều kiện liên hệ đến điều đang là tối quan trọng trong tâm trí thể chất. Vậy thì, liên quan đến điều kiện sẽ phát sinh, như đã ban, về giá cổ phiếu—L & N, thấy chứ? Điều này, như chúng ta đã thấy, sẽ xảy ra khi những thay đổi khác đã diễn ra và các tổ hợp bắt đầu tan rã.

Q: Does this 119 refer to L & N or Southern?

H: Con số 119 này có liên hệ đến L & N hay Southern?

A: As given, this will occur as a price of L & N, but as given in those concerning the combinations and changes that will come in the future.

Đ: Như đã ban, điều này sẽ xảy ra như một mức giá của L & N, nhưng như đã ban trong các điều liên quan đến những tổ hợp và những thay đổi sẽ đến trong tương lai.

Q: The whole of this dream not remembered by [900]. Recall and interpret. That recalled as follows: “I was married to Miriam Miller and things seemed miserable or wrong. Some certain things seemed unsatisfactory, but it was within myself as well as circumstances.”

H: Toàn bộ giấc mơ này [900] không nhớ. Hãy nhắc lại và giải thích. Phần được nhớ như sau: “Tôi cưới Miriam Miller và mọi sự dường như khốn khổ hoặc sai trật. Một vài điều nào đó có vẻ không thỏa đáng, nhưng nó ở trong chính tôi cũng như trong hoàn cảnh.”

A: The portion not recalled is as this: There was the meeting of a certain board and the entity, with others, especially with one, Wormser, was present. The question as to the relations with an individual was brought up in a manner that entity felt that the reference was to self. Then that remembered brought that to the remembrance, or to the body consciousness, in the form as given, for this then represents in the physical mind a condition not wholly acceptable or pleasing to the entity, as to duty to self and to others. Then the lesson should be, as the warnings have been given to entity that there is the duty to self, to home ties, to that of the social ties, to that of business relations and business social connections, these all must be made into that oneness of purpose; that is, to give best in self to service to each and all of these conditions as they arise, see?

Đ: Phần không được nhớ là như vầy: Có cuộc họp của một hội đồng nào đó và thực thể, cùng những người khác, đặc biệt là với một người, Wormser, có mặt. Vấn đề liên quan đến quan hệ với một cá nhân nào đó được nêu lên theo cách mà thực thể cảm thấy ám chỉ là về bản thân. Rồi điều được nhớ đã mang điều ấy vào ký ức, hay vào ý thức của thân, theo hình thức đã nêu, vì điều này đại diện trong tâm trí thể chất một tình trạng không hoàn toàn chấp nhận được hay làm hài lòng thực thể, xét về trách nhiệm đối với bản thân và đối với người khác. Vậy bài học nên là, như những cảnh báo đã được ban cho thực thể rằng có trách nhiệm đối với bản thân, đối với dây liên kết gia đình, đối với các dây liên kết xã hội, đối với quan hệ công việc và các mối liên kết xã hội trong công việc, tất cả những điều này đều phải được làm thành sự nhất thể của mục đích; nghĩa là, dâng cái tốt nhất trong bản thân để phụng sự cho từng và mọi điều kiện này khi chúng nảy sinh, thấy chứ?

Q: What reference has this in my present life?

H: Điều này có tham chiếu gì đến đời sống hiện tại của tôi?

A: That as given.

Đ: Đúng như đã ban.

Q: Does this indicate just a condition I have overcome—indicating in emblematical form the overcoming in the flesh and the blessings therefrom—or the submission to the flesh test and the dissatisfaction therefrom?

H: Điều này có chỉ ra một tình trạng mà tôi đã vượt qua—biểu thị bằng hình thức biểu tượng về việc vượt thắng trong xác thịt và các phước lành do đó—hay là sự khuất phục trước thử thách xác thịt và sự bất mãn do đó?

A: Rather the combination of each as is given, see? bringing in the mental forces of entity, then, the not entire satisfactory condition, see? yet each duty must be weighed, considered and kept in that one purpose manner, service to self, to man, to social ties, to all those conditions as given.

Đ: Đúng hơn là sự kết hợp của cả hai như đã ban, thấy chứ? đưa các mãnh lực trí tuệ của thực thể vào, vậy nên tình trạng không hoàn toàn thỏa đáng, thấy chứ? tuy nhiên mỗi bổn phận phải được cân nhắc, xem xét và được giữ trong một mục đích duy nhất, phụng sự cho bản thân, cho con người, cho các dây liên kết xã hội, cho tất cả những điều kiện như đã ban.

Q: Does it also show me that reason of the phenomenized condition—to strengthen and test the individual portion, that under every condition the Spiritual Power in the portion is used in the manner the Power of the Whole is used? In this do I see my own development?

H: Điều này cũng cho tôi thấy lý do của tình trạng được hiện tượng hóa—nhằm tăng cường và thử nghiệm phần cá nhân, để rằng dưới mọi điều kiện, Quyền Năng Tinh thần trong phần ấy được sử dụng theo cách Quyền Năng của Toàn Thể được dùng chăng? Trong điều này, tôi có thấy sự phát triển của chính tôi không?

A: In this entity sees own development, with the weaknesses, with the strengths as gained for self and conditions as existent, as given, see?

Đ: Trong điều này thực thể thấy sự phát triển của chính mình, với những yếu đuối, với những sức mạnh như đã thu được cho bản thân và các điều kiện như đang hiện hữu, như đã ban, thấy chứ?

Q: “I was back in a department store, a clerk behind the counter, even as I was in past days. I waited on people—serving them, but it seemed I was in love with some girl. Some dissatisfaction resulted and I was miserable. Then the Voice: ‘Here are you tested as much as anywhere.’ Then I felt terrible, as though I had failed in something, in living up to that which was expected of me—that I had retarded—returned to old conditions, instead of living the ideals I had set for myself.”

H: “Tôi lại ở trong một cửa hàng bách hóa, làm một nhân viên bán hàng sau quầy, giống như tôi đã từng ở những ngày đã qua. Tôi phục vụ khách—phục vụ họ, nhưng có vẻ như tôi đang yêu một cô gái nào đó. Một sự bất mãn nào đó đã xảy ra và tôi khổ sở. Rồi có Tiếng Nói: ‘Ngay ở đây ngươi cũng được thử nghiệm không kém chỗ nào.’ Rồi tôi cảm thấy tệ kinh khủng, như thể tôi đã thất bại một điều gì đó, không sống đúng với điều được kỳ vọng nơi tôi—rằng tôi đã thụt lùi—trở về các điều kiện cũ, thay vì sống những lý tưởng mà tôi đã đặt ra cho bản thân.”

A: Rather that in this as the interpretation and lesson: That often the self, mentally, spiritually, physically, should take stock of self, as is seen in department stores run on the correct basis, and that the loves for certain or for particular conditions that exist in the life, whether the mental or the desire of flesh, or of the spiritual forces, all must be weighed well, and as the Voice is given, the test is that entity keeps the standard in that manner that gives the progressive forces to self and abilities to give out in service, as is necessary for advancement in every phase of the phenomenized life, see?

Đ: Đúng hơn là ở đây như sự giải thích và bài học: Rằng thường khi cái tôi, về trí tuệ, tinh thần, thể chất, nên kiểm điểm bản thân, như được thấy trong các cửa hàng bách hóa vận hành trên cơ sở đúng đắn, và rằng các tình yêu đối với những điều nhất định hay đối với những điều kiện đặc thù hiện hữu trong đời sống, dù là trí tuệ hay dục vọng xác thịt, hay các lực tinh thần, tất cả đều phải được cân nhắc kỹ, và như Tiếng Nói đã nói, thử thách là liệu thực thể giữ được tiêu chuẩn theo cách trao các lực tiến bộ cho bản thân và khả năng để toả ra trong phụng sự, như cần cho sự thăng tiến trong mọi phương diện của đời sống được hiện tượng hóa, thấy chứ?

Q: Does this refer to [136] in any way, in my failure to live up to the test in relation to her—that is the test of being in the flesh what God is in the Spiritual, that I may attain that Spiritual condition—and being this in the flesh in every condition of life—every phase?

H: Điều này có liên quan đến [136] theo bất kỳ cách nào không, trong việc tôi đã không sống đúng với thử thách liên hệ đến cô ấy—tức là thử thách trở nên trong xác thịt điều mà Thượng đế là trong Tinh thần, để tôi có thể đạt đến trạng thái Tinh thần ấy—và trở nên như thế trong xác phàm trong mọi điều kiện của đời sống—mọi phương diện?

A: This rather that of self than of relations with others, save that as is given, see?

Đ: Điều này đúng hơn liên hệ đến bản thân hơn là đến các quan hệ với người khác, trừ những gì như đã ban, thấy chứ?

Q: Explain this particular reference of failure to so exemplify the perfection of the Whole in the individual phenomenized form—that is the secret of the whole message—“That The Individual Phenomenized Being, possessing all the Elements of the Whole, shall in phenomenized form manifest the Perfection of the Elemental Whole—thus proving Christ—proving Itself ready for the Work, Power, Action, Peace and Eternal Life One with the Whole—ready for the Kingdom of God” This is the kernel of the whole message of [900] is it not? Where or in what phenomenized relation of life is [900] not measuring up to this test?

H: Hãy giải thích tham chiếu đặc thù này về sự thất bại khi biểu lộ như thế sự hoàn thiện của Toàn Thể trong hình thể cá nhân được hiện tượng hóa—rằng đó là bí quyết của toàn bộ thông điệp—“Rằng Hữu Thể Cá Nhân Được Hiện Tượng Hóa, sở hữu tất cả các Nguyên tố của Toàn Thể, sẽ trong hình thức hiện tượng hóa biểu lộ Sự Hoàn Thiện của Toàn Thể Nguyên tố—từ đó chứng minh Đấng Christ—chứng minh Chính Mình sẵn sàng cho Công Việc, Quyền Năng, Hành Động, Bình An và Sự Sống Vĩnh Cửu Nhất Thể với Toàn Thể—sẵn sàng cho Vương quốc của Thượng đế”. Đây là cốt lõi của toàn bộ thông điệp của [900], phải không? Ở đâu hay trong mối liên hệ hiện tượng hóa nào của đời sống mà [900] chưa đạt tới thử thách này?

A: In only that manner as is given, see? All of these, when measured by that as given in the mind of [900] as necessary for the readiness to present that force as draws men closer to the Kingdom, see? Then measure the standard—not measure self by self, but as to the standard set in the one as exemplifies God in the flesh.

Đ: Chỉ theo cách như đã ban, thấy chứ? Tất cả những điều này, khi đo theo điều như được đặt ra trong tâm trí của [900] như là cần cho sự sẵn sàng trình bày mãnh lực lôi kéo con người đến gần Vương quốc hơn, thấy chứ? Vậy hãy đo theo tiêu chuẩn—đừng đo bản thân theo bản thân, mà theo tiêu chuẩn do Đấng đã nêu gương Thượng đế trong xác thịt đặt ra.

Q: The subconscious—cosmic consciousness—super-consciousness—spiritual forces, which reflect in symbolic form in our physical life. Correct?

H: Tiềm thức—tâm thức vũ trụ—siêu tâm thức—các mãnh lực tinh thần, vốn phản chiếu dưới hình thức biểu tượng trong đời sống thể chất của chúng ta. Đúng chứ?

A: Correct.

Đ: Đúng.

Q: Let the light represent the Spiritual, the film the physical faculties of senses (mind), and the moving picture on the screen this physical life—talking, feeling, lasting, thinking, emotion, etc., and one has a good comparison. Changing pictures, but One Fixed Light.

H: Hãy để ánh sáng biểu trưng cho Tinh thần, cuộn phim cho các chức năng thể chất của giác quan (thể trí), và cuộn phim chuyển động trên màn ảnh là đời sống vật chất này—nói năng, cảm thụ, bền bỉ, suy nghĩ, xúc cảm, v.v., và như vậy sẽ có một so sánh tốt. Phim thay đổi, nhưng Ánh Sáng Bất Biến Là Một.

A: Correct.

Đ: Đúng.

Q: Explain this phenomena shown to [900] objectively and co-relate with Edgar Cayce in psychic state and with dreams and voice heard when asleep by [900].

H: Hãy giải thích hiện tượng này đã được cho [900] thấy một cách khách quan và liên hệ tương hỗ với Edgar Cayce trong trạng thái thông linh, và với các giấc mơ cùng tiếng nói được nghe khi ngủ bởi [900].

A: As is seen, and as may be given in the physical, as has been explained before. One, Edgar Cayce, working from within, see? [900] working from the objective forces, yet gaining from within the resounding, or the re-projection through voice, through dream, through the co-relation of all of these faculties that are guided by spiritual forces from within, while that as is obtained through Edgar Cayce guided by that from without, through another force than self, see?

Đáp: Như thấy đó, và như có thể trình bày ra hồng trần, như đã giải thích trước đây. Một người, Edgar Cayce, làm việc từ bên trong, hiểu chứ? [900] thì làm việc từ các mãnh lực khách quan, nhưng vẫn lĩnh hội từ bên trong sự vang động, hay sự tái phóng chiếu qua tiếng nói, qua giấc mơ, qua sự tương quan của tất cả các năng lực này vốn được các mãnh lực tinh thần từ nội tâm hướng dẫn; trong khi điều nhận được qua Edgar Cayce thì được dẫn dắt bởi cái từ bên ngoài, qua một mãnh lực khác với bản ngã, hiểu chứ?

Q: “Saw numbers 127 and others higher but can’t remember. Recall, interpret, co-relate and explain how they should be used.”

Hỏi: “Thấy các con số 127 và những số cao hơn nhưng không nhớ được. Hãy gợi lại, diễn giải, liên hệ và giải thích cách chúng nên được dùng.”

A: This as already given, relating to the L & N in its advance, and is given that the entity, [900], may begin to understand numbers in their co-relation one with another, see?

Đáp: Điều này như đã nêu, liên hệ đến L & N trong bước tiến của nó, và được đưa ra để thực thể, [900], có thể bắt đầu hiểu các con số trong sự tương quan của chúng với nhau, hiểu chứ?

Q: Sunday Night, Nov. 1, 1925, at home, while reading Isis Unveiled by H. P. Blavatsky. “Dozing over that part of the book regarding Reincarnation, the following: Saw a book case with a glass door of which the glass was cracked. The Voice: ‘We have drapes to cover that here.’”

Hỏi: Tối Chủ nhật, 1/11/1925, ở nhà, khi đang đọc Isis Không Che Màn của H. P. Blavatsky. “Gà gật ở phần của sách nói về Luân hồi, như sau: Thấy một tủ sách có cửa kính, mà tấm kính bị nứt. Tiếng Nói: ‘Chúng ta có rèm để che cái đó ở đây.’”

A: This, as we find, the mind of the individual, [900], co-relating with subconscious and with cosmic forces those portions of truths gathered in that just read. This, then, presented as bookcase, as knowledge—covered, see? As conditions show break, the film over same, the presentation of the various conditions, shows how these must be studied by the entity and gained in a way that the entity will bring the perfect understanding to self concerning, relating to, that phase of the conditions not yet understood by many, for this, as we see, turns to the phenomenized conditions as are existent in the earth’s plane, and through the study of same will the entity gain the knowledge pertaining to reincarnation and its effect on the lives, on the conditions existent in the earth’s plane.

Đáp: Điều này, như chúng tôi thấy, là tâm trí của cá nhân, [900], đang tương quan với tiềm thức và với các mãnh lực vũ trụ những phần chân lý được gom nhặt trong phần vừa đọc. Thế nên, điều này được trình hiện như tủ sách, như tri thức — được che phủ, hiểu chứ? Khi các điều kiện cho thấy sự rạn vỡ, lớp màng phủ lên đó, sự trình hiện của các điều kiện khác nhau, cho thấy cách những điều này phải được thực thể khảo cứu và lĩnh hội theo một cách khiến thực thể mang đến cho tự thân sự thấu hiểu trọn vẹn liên quan đến, dính líu đến, phương diện của các điều kiện mà nhiều người còn chưa hiểu; vì điều này, như chúng ta thấy, chuyển sang các điều kiện được hiện tượng hoá như đang tồn tại ở cõi trần, và qua việc học hỏi những điều ấy thực thể sẽ đạt được tri thức liên quan đến luân hồi và tác động của nó lên đời sống, lên các điều kiện đang hiện hữu ở cõi trần.

Q: Does this indicate I am to get for myself, from my own experience the knowledge of reincarnation?

Hỏi: Điều này có chỉ ra rằng tôi phải tự mình, từ kinh nghiệm riêng, đạt được tri thức về luân hồi không?

A: This, as given, the entity will gain this conception for self of the phenomenized forces of reincarnation in the earth’s plane.

Đáp: Điều này, như đã nêu, thực thể sẽ lĩnh hội cho tự thân quan niệm về các mãnh lực được hiện tượng hoá của luân hồi ở cõi trần.

Q: Is indicated that I should give my version—my own understanding in my own simple way—for although I understand what is meant, I don’t understand the theosophical terminology. Give then simply, in my simple way (use phenomena of gas for example) for all minds to grasp, rather than just students of theosophy or any one branch of study. Is that what is meant?

Hỏi: Có ngụ ý rằng tôi nên trình bày phiên bản của mình — sự hiểu biết riêng theo cách đơn giản của chính tôi — vì dẫu tôi hiểu điều muốn nói, tôi không hiểu thuật ngữ Thông Thiên Học. Vậy hãy trình bày đơn giản, theo cách đơn giản của tôi (dùng hiện tượng về khí làm ví dụ) để mọi tâm trí có thể nắm bắt, thay vì chỉ các đạo sinh Thông Thiên Học hay bất kỳ một ngành học nào. Có phải điều đó là ý muốn nói không?

A: That is what is meant, for as we see, we may use that terminology from gas; from the whole there arises that power, that force, in another form to work wonders in the various mechanical devices made by man, see? Power of an individual object (if choose to be termed so) giving of self in another form, yet that same form. Same may be applicable from the terminology of the electrical unit. As the force and power of the turbine is manifested in its rotation, the same is given off in many channels, for the electrical units, which may be added to or taken from, to give service to man. Or as may be termed in the vegetable kingdom, a grain of wheat is sown. It dies, that the fruit of same may germinate into other fruit, see? The same Spirit—not the same Body, yet with all the potential faculties of reproduction within itself and of the ability to supply food in the same proportion, dependent upon its environment throughout its fruition, same as man, as man passes through one environment gaining that knowledge, that force necessary for the body-mind, the spiritual forces, pertaining to the physical conditions as manifest in same, see? Then the spiritual elements of same gaining in the phenomenized form in a world those things necessary to make the entity One with the Whole, see? All of these, then, may be co-related, may be brought under one head, one phraseology, one terminology, by the mental forces and abilities of [900], and given in the simple form and manner to the public, the world, that they may understand that these forces ever manifest their God’s spiritual forces in the world, manifesting through the same entity—spiritually.

Đáp: Đó chính là điều muốn nói, vì như chúng ta thấy, chúng ta có thể dùng thuật ngữ xuất phát từ “khí”; từ toàn thể phát sinh quyền lực, mãnh lực, dưới một hình thức khác để làm nên điều kỳ diệu trong các thiết bị cơ khí khác nhau do con người chế tạo, hiểu chứ? Quyền lực của một đối tượng cá biệt (nếu muốn gọi như vậy) hiến mình trong một hình thức khác, song vẫn là cùng hình thể ấy. Tương tự có thể áp dụng với thuật ngữ của “đơn vị điện”. Như lực và công suất của tuabin biểu lộ trong sự quay, thì điều ấy cũng được phát ra theo nhiều kênh khác nhau, cho các đơn vị điện, vốn có thể thêm vào hoặc rút bớt, để phục vụ con người. Hoặc, như có thể gọi theo giới thực vật, một hạt lúa mì được gieo. Nó “chết”, để quả của nó có thể nảy mầm thành những quả khác, hiểu chứ? Cùng một Tinh thần — không phải cùng một Thể xác, nhưng có đủ mọi tiềm năng tái sinh trong chính nó và năng lực cung cấp thực phẩm cùng một tỉ lệ, tùy thuộc vào môi trường trong suốt quá trình kết trái của nó, cũng như con người vậy; khi con người đi qua một môi trường, lĩnh hội tri thức, mãnh lực cần thiết cho thân-trí, các mãnh lực tinh thần, liên quan đến các điều kiện hồng trần được biểu lộ trong đó, hiểu chứ? Rồi các yếu tố tinh thần của nó, trong hình thái đã được hiện tượng hoá ở một thế giới, lĩnh hội những điều cần để làm cho thực thể trở nên Một với Toàn Thể, hiểu chứ? Tất cả những điều này, như vậy, có thể được liên hệ, có thể được quy về một mối, một cách nói, một thuật ngữ, nhờ các mãnh lực và khả năng trí tuệ của [900], và được trình bày dưới hình thức và cách thức giản dị cho công chúng, cho thế giới, để họ có thể hiểu rằng những mãnh lực này hằng hiển lộ các mãnh lực tinh thần của Thượng đế của họ trong thế gian, hiển lộ qua cùng một thực thể — về mặt tinh thần.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm dừng tại đây.

Editor’s Note: The same dreamer got the following reading from Cayce on a different reincarnation dream.

Ghi chú của Biên tập viên: Cùng người mộng mơ đó nhận được lần đọc sau đây từ Cayce về một giấc mơ luân hồi khác.

Reading 900–273

Lần đọc 900–273

Q: This morning, or this morning’s dream had regarding reincarnation, the details of which are here written.

Hỏi: Sáng nay, hay giấc mơ sáng nay có liên quan đến luân hồi, chi tiết đã được viết ở đây.

A: In this there are presented the fundamentals, as it were, of many various experiences as the entity will pass through by the concerted effort of the body conscious mind, for in the presentation of the vision as is seen, these become those properties of the physical mind, obtained from a vision, as it were, of the various forces as are loosed in the Universal Forces by disintegration, and by re-integration, as it were, of various forces manifesting individually and collectively, and as these various forces are presented, we will find the various phases of re-incarnation, its fundamentals, its application to that of the various conditions as present themselves to man, in the developing of the mental abilities of man to understand conditions as are seen in the world today—for, as we see presented here an individual well in years, yet just presenting the first phases of a renewed life, and then we see the same phases as are termed by individuals know to the entity, and changed again into realities by the presentation of various forms of an intelligent force, acting dependently yet independent in their reaction, see? meaning as in this: That, as each force in the reincarnation of the elements begin as in this—in creation, see—now we are beginning from first principles, see? from the first principles, we find these are separated into integral parts. For instance, as we take that as the most elemental conditions—water-separated into two elements, yet each time these elements are combined in certain forms the same common principle is presented. Now, we have had, then, the reincarnation of an elemental principle into that as is materialized before the material forces in earth’s plane into the form of an elemental condition. Again we find through this same elemental condition—water—we begin with the first forms of life. First those of the nature without body, without the elemental forces of even propagation. Again these grow into that form of able to move and begin then to multiply, by the division, forming then the first cell forces. In cell forces, then, we have taken on the first principle of the beginning of that as is seen in the evolution of an ideal in that brain force or center. Hence we find reincarnation, resuscitation, and that of the re-inhibition [re-inhabitation?], becoming a portion of those very conditions as the first principle in same, or the very first experience in same, to the body mind of [900], presented in this.

Đáp: Trong này trình bày các yếu yếu, như thể, của nhiều kinh nghiệm khác nhau mà thực thể sẽ đi qua bởi nỗ lực hiệp lực của tâm trí có ý thức nơi thân thể; vì trong sự trình hiện của khải tượng như được thấy, những điều này trở thành những thuộc tính của trí phàm, thu nhận từ một khải tượng, như thể, về các mãnh lực khác nhau được phóng thích trong Các Mãnh Lực Vũ trụ bằng sự phân rã, và bằng sự tái-kết hợp, như thể, của các mãnh lực khác nhau hiển lộ một cách cá biệt và tập thể; và khi các mãnh lực khác nhau này được trình bày, chúng ta sẽ thấy các phương diện khác nhau của luân hồi, các yếu tố căn bản của nó, việc áp dụng nó vào các điều kiện khác nhau vốn trình hiện với con người, trong sự phát triển các khả năng trí tuệ của con người để thấu hiểu các điều kiện như đang thấy trong thế giới hôm nay — vì, như chúng ta thấy được trình hiện ở đây một cá thể đã có tuổi, thế nhưng chỉ đang biểu lộ những giai đoạn đầu của một đời sống được làm mới; rồi chúng ta lại thấy cùng những giai đoạn ấy như được những cá nhân quen biết với thực thể gọi tên, và lại đổi thành hiện thực qua sự trình hiện của các hình thức khác nhau của một mãnh lực có trí, hành xử phụ thuộc song lại độc lập trong phản ứng của chúng, hiểu chứ? ý như vầy: Rằng, khi mỗi mãnh lực trong luân hồi của các nguyên tố khởi đầu như vầy — trong Sáng tạo, hiểu chứ — giờ đây chúng ta bắt đầu từ những nguyên lý đầu tiên, hiểu chứ? từ những nguyên lý đầu tiên, chúng ta thấy những điều này được tách thành các phần cấu thành. Thí dụ, khi ta lấy điều kiện nguyên tố nhất — nước — tách thành hai nguyên tố, nhưng mỗi khi các nguyên tố này được phối hợp theo một số dạng nhất định thì cùng một nguyên lý chung được trình hiện. Thế thì, ta đã có “sự tái sinh” của một nguyên lý nguyên tố vào điều được hiện hình trước các mãnh lực vật chất nơi cõi trần dưới hình thức của một điều kiện nguyên tố. Lại nữa, qua điều kiện nguyên tố này — nước — chúng ta bắt đầu với những hình thức sống đầu tiên. Trước hết là những loài có bản tính vô thân, không có ngay cả các mãnh lực nguyên tố của sinh sản. Rồi chúng phát triển vào dạng có khả năng chuyển động và bắt đầu sinh sôi bằng sự phân chia, hình thành các “lực tế bào” đầu tiên. Trong các lực tế bào, vậy là, chúng ta đã tiếp nhận nguyên lý đầu tiên của khởi điểm của điều được thấy trong tiến hóa của một lý tưởng tại lực não bộ hay trung tâm ấy. Do đó, chúng ta thấy luân hồi, hồi sinh, và cả việc tái chiếm ngự [re-inhabitation?], trở thành một phần của chính các điều kiện ấy như nguyên lý đầu tiên trong đó, hay kinh nghiệm đầu tiên trong đó, nơi thân-trí của [900], được trình bày trong điều này.

Reading 826–8

Lần đọc 826–8

Q: Must each soul continue to be reincarnated in the earth until it reaches perfection, or are some souls lost?

Hỏi: Mỗi linh hồn có phải tiếp tục tái sinh ở trần gian cho đến khi đạt đến hoàn thiện, hay có linh hồn nào bị mất chăng?

A: Can God lose itself, if God be God—or is it submerged, or is it as has been given, carried into the universal soul or consciousness? The soul is not lost; the individuality of the soul that separates itself is lost. The reincarnation or the opportunities are continuous until the soul has of itself become an entity in its whole or has submerged itself.

Đáp: Thượng đế có thể tự đánh mất mình chăng, nếu Thượng đế là Thượng đế — hay là bị chìm lấp, hay như đã nói, được mang vào đại hồn hay tâm thức phổ quát? Linh hồn không bị mất; cái tính cá thể của linh hồn vốn tự tách rời thì bị mất. Luân hồi hay các cơ hội là liên tục cho đến khi linh hồn tự mình trở thành một thực thể trong toàn thể của nó hoặc tự hòa tan mình.

Q: If a soul fails to improve itself, what becomes of it?

Hỏi: Nếu một linh hồn không tự cải thiện, điều gì sẽ xảy đến với nó?

A: That’s why the reincarnation, why it reincarnates; that it may have the opportunity. Can the will of man continue to defy its Maker?

Đáp: Đó là lý do có luân hồi, vì sao nó tái sinh; để nó có cơ hội. Ý chí của con người có thể tiếp tục thách thức Đấng Tạo Hóa của mình chăng?

Reading 956–1

Lần đọc 956–1

Q: What will convince me of reincarnation?

Hỏi: Điều gì sẽ thuyết phục tôi về luân hồi?

A: An experience.

Đáp: Một kinh nghiệm.

Reading 452–6

Lần đọc 452–6

Q: What part of New Testament definitely teaches Reincarnation?

Hỏi: Phần nào của Tân Ước dạy dứt khoát về Luân hồi?

A: John. Six to eight. Third to fifth. Then the rest as a whole.

Đáp: Gioan. Sáu đến tám. Ba đến năm. Rồi phần còn lại như một tổng thể.

2

Insigtful Past-Life Readings by Edgar Cayce—Những Lần đọc Tiền Kiếp Sâu Sắc của Edgar Cayce

Text of Reading 342-2 M 48 (Unemployed Executive, Protestant Background)

Văn bản Lần đọc 342-2 Nam 48 (Giám đốc thất nghiệp, nền tảng Tin Lành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Va. Beach, Va., this 29th day of May, 1933, in accordance with request made by self—Mr. [342], Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Lần đọc tâm linh này được Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông trên Arctic Crescent, Va. Beach, Va., ngày 29 tháng Năm, 1933, theo yêu cầu do chính đương sự — Ông [342], Hội viên Tích cực của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai sáng, Inc. — đưa ra.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, L.B. Cayce and E.B. Lindsley.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều dẫn; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, L.B. Cayce và E.B. Lindsley.

READING

LẦN ĐỌC

Born September 4, 1884, about 7:00 A.M. in Schultzville, Pa. Time of Reading 4:15 to 5:00 P.M. Eastern Standard Time...., Ill. (Life Reading Suggestion)

Sinh ngày 4 tháng 9, 1884, khoảng 7:00 sáng tại Schultzville, Pa. Thời gian Lần đọc 4:15 đến 5:00 chiều Giờ Chuẩn Miền Đông...., Ill. (Gợi ý Lần đọc Đời sống)

EC: Yes, we have the entity and those relations with the universe, and universal forces—that are latent and manifested in the personalities of the entity now known as [342].

EC: Vâng, chúng tôi có thực thể và những mối liên hệ với vũ trụ, và các mãnh lực vũ trụ — vốn tiềm tàng và hiển lộ trong phàm ngã của thực thể hiện được biết là [342].

In entering, we find the astrological influences that are innate (or the inhibitions of the entity) and those from the appearances, or experiences through the earth, have those been somewhat opposed one to another.

Khi bắt đầu, chúng tôi thấy các ảnh hưởng chiêm tinh vốn bẩm sinh (hay các kiềm tỏa của thực thể) và những ảnh hưởng từ các lần lâm phàm, hay các kinh nghiệm qua cõi trần, đã phần nào đối chọi nhau.

Hence there would be, only from an astrological aspect, some very varying presentations; yet their influence being inhibitions—and the entity’s development rather of the intuitive influences, a great deal must be considered for the information given to be of a value to the entity in the present experience.

Do đó chỉ xét từ khía cạnh chiêm tinh, sẽ có những trình hiện rất khác nhau; tuy nhiên ảnh hưởng của chúng là các kiềm tỏa — và sự phát triển của thực thể thì nghiêng về các ảnh hưởng trực giác — nên cần cân nhắc rất nhiều để thông tin được đưa ra có giá trị cho thực thể trong kinh nghiệm hiện tại.

Coming in the present experience, then, from those influences in the combination of Jupiter and Uranus, there are rather the exceptional abilities for the entity to retain in self that which may be called knowledge, or learning; or that which may be termed the ability to correlate experiences of others in such a manner as to make them valuable to self. Not that the entity would be termed one easily influenced by group or mass thought, yet the entity—being not too credulous, not too incredulous—has the ability, through its intuitive influence that may be exercised (from Uranus), to weigh or judge well as to how a matter is presented as to its value in practical application in the experience of a body.

Đến trong kinh nghiệm hiện tại, do các ảnh hưởng kết hợp của Sao Mộc và Sao Thiên Vương, thực thể có những năng lực khá đặc biệt để giữ trong tự thân điều có thể gọi là tri thức, hay học vấn; hay điều có thể gọi là khả năng tương quan các kinh nghiệm của người khác theo cách khiến chúng trở nên hữu ích cho tự thân. Không phải thực thể là người dễ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng nhóm hay quần chúng, nhưng thực thể — không quá cả tin, cũng không quá hoài nghi — có khả năng, thông qua ảnh hưởng trực giác có thể được vận dụng (từ Sao Thiên Vương), để cân nhắc hay phán đoán tốt về cách một vấn đề được trình bày xét về giá trị ứng dụng thực tế trong kinh nghiệm của một thân.

Hence the entity may be termed, from this experience, as an individual who would be a good organizer in any field of endeavor; and, as we find, one that would make exceptional progress in the present experience in the field that is known as industrial or commercial—or cooperative—insurance; though the entity’s efforts to the present have been little in this field of activity, yet this—as we find—would offer a field that would make for the opportunity for the abilities to be used that have been innately builded in the entity’s inner self, with the possibilities of making for self—in the present experience—a place that may be an enviable one in this field of endeavor.

Vì vậy, từ kinh nghiệm này, thực thể có thể được gọi là một cá nhân sẽ là nhà tổ chức giỏi trong bất kỳ lĩnh vực nỗ lực nào; và, như chúng tôi thấy, người này sẽ đạt tiến bộ đặc biệt trong kinh nghiệm hiện tại trong lĩnh vực được biết là bảo hiểm công nghiệp hay thương mại — hoặc hợp tác; dẫu cho đến nay nỗ lực của thực thể trong lĩnh vực này còn ít, nhưng — như chúng tôi thấy — đây sẽ là một lĩnh vực mang lại cơ hội để các khả năng đã được bồi đắp bẩm sinh trong nội ngã của thực thể được sử dụng, với khả năng tạo cho tự thân — trong kinh nghiệm hiện tại — một vị thế có thể đáng mơ ước trong lĩnh vực nỗ lực này.

Also from Venus’ influence we find the entity is one that, in the acts of everyday affairs, is considerate of others; one with a high sense of honor, of justice, of those feelings that may be experienced by others with whom the entity may have personal or group experience.

Cũng từ ảnh hưởng của Sao Kim chúng tôi thấy thực thể là người, trong các hành vi thường nhật, biết nghĩ đến người khác; một người có ý thức danh dự cao, công chính, thấu cảm với những cảm xúc mà người khác — những người cùng thực thể có kinh nghiệm cá nhân hay theo nhóm — có thể trải qua.

Hence the entity is one capable of making friendships easily, yet choosing from same those who may be—in the mental and material fields—of the greatest advantage; though not advantageous to the entity’s activities; for, with the sense of honor, with the thought of others, the entity is not inclined to take advantage of another, whether in social, in moral, or in commercial relations one with another, and at times has been called an individual not hardboiled enough for his own good; yet if the efforts and activities—as we find—are expended in the right direction, this characteristic, this ability to express the personality, the enthusiasm that the entity is able to work itself up to on any proposition—either mental, spiritual or material (if convinced of the sincerity, the plausibility and possibilities), may be expanded upon by the entity in such a manner as to produce enthusiasm in the efforts of those with whom the entity may surround self in any endeavor.

Bởi vậy, thực thể có khả năng kết bạn dễ dàng, nhưng từ đó chọn ra những ai — trong các lĩnh vực trí tuệ và vật chất — có lợi thế lớn nhất; tuy không phải là lợi thế cho hoạt động của thực thể; vì, với ý thức danh dự, với lòng nghĩ đến người khác, thực thể không có xu hướng lợi dụng người khác, dù trong các quan hệ xã hội, đạo đức hay thương mại, và đôi khi bị gọi là một cá nhân không đủ cứng rắn vì lợi ích của chính mình; tuy vậy nếu những nỗ lực và hoạt động — như chúng tôi thấy — được triển khai đúng hướng, thì đặc tính này, khả năng này để biểu lộ phàm ngã, sự nhiệt thành mà thực thể có thể tự khơi dậy trước bất kỳ đề xuất nào — dù trí tuệ, tinh thần hay vật chất (nếu bị thuyết phục bởi sự chân thành, tính khả tín và các khả năng) — có thể được thực thể mở rộng theo cách khơi dậy nhiệt tình trong nỗ lực của những người mà thực thể có thể quy tụ quanh mình trong bất kỳ sự nghiệp nào.

The entity, from the combination of these astrological influences, is one that is a very good judge of human nature; being naturally—from Uranian, Jupiterian and Venus’ influence—an analyst in every act; and judging from those activities the entity may gain in this experience, though he has lost—as will be seen—in many an earth experience.

Từ tổng hòa các ảnh hưởng chiêm tinh này, thực thể là người có năng lực phán đoán tính người rất tốt; vốn tự nhiên — do ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim — là một nhà phân tích trong mọi hành vi; và phán xét từ những hoạt động đó, thực thể có thể thu được trong kinh nghiệm này, dù thực thể đã đánh mất — như sẽ thấy — trong nhiều kinh nghiệm ở trần gian.

From these astrological influences that affect the body in the present, we find these as both individual and personal aspects of the entity:

Từ các ảnh hưởng chiêm tinh tác động lên thân thể hiện tại, chúng tôi thấy đây vừa là các phương diện cá nhân vừa là riêng tư của thực thể:

One that is a student in any field in which the entity finds an innate or mental interest; and these turned toward those of the mental body, as well as commercial influences.

Một người là đạo sinh trong bất kỳ lĩnh vực nào mà thực thể tìm thấy hứng thú bẩm sinh hay trí năng; và những điều này hướng về các lĩnh vực của thể trí, cũng như các ảnh hưởng thương mại.

One that remembers dates, periods and activities, through associations of those things that deal with the response individuals make to some proposition, some term or turn, some experience, in their own life.

Một người ghi nhớ ngày tháng, giai đoạn và hoạt động, thông qua sự liên tưởng với những điều liên quan đến phản ứng mà các cá nhân đưa ra trước một đề xuất, một thuật ngữ hay một khúc ngoặt, một kinh nghiệm, trong chính đời họ.

In this also we find one that is capable of directing groups. One not so much as the leader of mob force or influence, but as an executive influence in correlating the mental activities of groups.

Ở đây cũng thấy một người có khả năng điều phối các nhóm. Không hẳn là thủ lĩnh của sức mạnh hay ảnh hưởng đám đông, mà là ảnh hưởng điều hành trong việc phối hợp các hoạt động trí tuệ của các nhóm.

One that finds some little details that become as hobbies to the entity, in gathering about self things that to others have—and to self has—little commercial value, yet a great deal of sentiment attached to those things that the entity holds or keeps rather as hobbies in the entity’s experience for diversion in the varied fields of activity.

Một người thấy một vài chi tiết nhỏ trở thành như sở thích, khi gom góp quanh mình những thứ mà đối với người khác — và với chính mình — có ít giá trị thương mại, nhưng lại gắn rất nhiều tình cảm với những thứ mà thực thể giữ gìn hoặc lưu trữ như là thú chơi tiêu khiển cho mình trong các lĩnh vực hoạt động đa dạng.

As to the appearances, then, and their effect upon the entity in the present experience, in drawing a comparison for an entity, here we find a condition that may be well to give as an explanation for the entity’s own application; while it would not be always wholly applicable in the experience of others that are balanced in an opposite manner, or a variation, from that which has been indicated for the entity:

Về các lần lâm phàm, và tác động của chúng lên thực thể trong kinh nghiệm hiện tại, khi rút ra một so sánh cho một thực thể, ở đây chúng tôi thấy một tình huống có thể nên đưa ra như một giải thích cho việc ứng dụng của chính thực thể; trong khi điều này không phải lúc nào cũng hoàn toàn áp dụng cho kinh nghiệm của những người khác vốn được cân bằng theo cách đối nghịch, hay biến thể, so với điều đã được chỉ ra cho thực thể:

While there are those karmic influences that must be met, because of that which has been builded by an entity (that retains, maintains, kinship with the Creative influences), it must of itself meet that which is the measure according to the law as related to universal forces. Or, to put it in another manner:

Dẫu có những ảnh hưởng nghiệp quả phải được đối diện, vì điều đã được một thực thể kiến tạo (vốn duy trì, bảo tồn mối thân thuộc với các Ảnh hưởng Sáng tạo), thì tự nó phải đối diện với điều là thước đo theo luật liên hệ đến các mãnh lực vũ trụ. Hoặc, nói theo một cách khác:

It is not all for an entity, or a soul, to have knowledge concerning law; whether karmic law, spiritual law, penal law, social law, or what not. The condition is, what does the entity do about the knowledge that is gained! Is the knowledge used to evade cause and effect, or is it used to coerce individuals into adhering to the thoughts of self? or is it used to aid others in their understanding of the law, and thus bring the cause to that position where the will of the Creative influence is supreme; or the power that comes with making the will one with the law of love, of karma, of cause and effect, of every influence—one with Creation!

Không phải tất cả cho một thực thể, hay một linh hồn, là có tri thức liên quan đến luật; dù luật nghiệp quả, luật tinh thần, luật hình sự, luật xã hội, hay gì nữa đi chăng nữa. Vấn đề là, thực thể làm gì với tri thức đạt được! Tri thức được dùng để trốn tránh nhân và quả, hay được dùng để cưỡng bức các cá nhân bám theo tư duy của tự thân? Hay nó được dùng để giúp người khác hiểu luật, và nhờ đó mang nguyên nhân đến vị thế mà Ý chí của Ảnh hưởng Sáng tạo là tối thượng; hay quyền lực phát sinh từ việc làm cho ý chí hợp nhất với luật của tình thương, của nghiệp quả, của nhân-quả, của mọi ảnh hưởng — hợp nhất với Sáng tạo!

Hence the conditions that will be seen in the experiences of the entity now known as [342] in the earth’s plane:

Vì vậy, những điều kiện sẽ được thấy trong các kinh nghiệm của thực thể hiện được biết là [342] ở cõi trần:

In the one before this we find the entity was in and about that place, or plain, known as Fort Dearborn, during those periods when there was the establishing of the relationships with the peoples of the north country and the peoples of the eastern and southern country.

Trong kiếp ngay trước đây chúng tôi thấy thực thể ở trong và quanh nơi, hay bình nguyên, được biết là Fort Dearborn, trong giai đoạn thiết lập các mối liên hệ giữa những dân ở miền bắc và những dân ở miền đông và miền nam.

The entity then was among the peoples of the north country that were sent as emissaries, or to deal with the situations in the trading of that the peoples of the north country had to offer in exchange for those things made, created or imported into the land from other countries. Hence, not as a trader but as a mediator for the traders in their various capacities did the entity, then as Pericho, gain and lose in this experience. For, seeing how there might be brought about the taking of all that was then in possession of the post, for those peoples of the much larger powers in numbers, the entity then urged rather that there be the possessing of same without the formality of returning an exchange for same of equal value, and the entity lost. Yet, with the hardships that came about, with the losing of control over those the entity would in the experience direct, the entity learned a lesson, in bodily suffering as well as in the condemning of self for the position taken.

Thực thể khi ấy ở giữa những người của miền bắc được cử đi làm sứ giả, hay để giải quyết các tình huống trong việc trao đổi những sản vật mà người miền bắc có để đổi lấy những thứ được làm ra, tạo tác hay nhập vào xứ sở từ các quốc gia khác. Do đó, không phải như một thương nhân mà như một người trung gian cho các thương nhân trong các chức trách khác nhau, thực thể, khi ấy là Pericho, đã được và đã mất trong kinh nghiệm này. Vì, thấy cách có thể mang lại việc chiếm lấy tất cả những gì khi ấy thuộc sở hữu của đồn, cho những người thuộc lực lượng có số đông hơn nhiều, thực thể khi ấy thúc giục rằng nên sở hữu những thứ ấy mà không cần thủ tục hoàn lại một vật trao đổi tương xứng, và thực thể đã thất bại. Tuy nhiên, với những gian khổ xảy đến, với việc đánh mất quyền kiểm soát đối với những người mà thực thể muốn lãnh đạo trong kinh nghiệm ấy, thực thể đã học được một bài học, trong khổ đau thân xác cũng như trong việc tự kết án mình vì lập trường đã chọn.

And each soul may find that self-condemnation becomes, after all, the hell in which it finds itself in the transition periods.

Và mỗi linh hồn có thể thấy rằng sự tự kết án rốt cuộc trở thành địa ngục mà nó tự thấy mình ở trong giai đoạn chuyển tiếp.

Hence in the present experience the entity finds much of the commercial field being of interest, especially that as in relationships to the trading between groups, masses and individuals; yet the field that offers an assurance and a security for individuals or groups may be made the more satisfactory to the entity in the present experience. [See 342–1 indicating he was in the Royalist Army during the American Revolution.]

Do đó, trong kinh nghiệm hiện tại, thực thể thấy nhiều lĩnh vực thương mại hấp dẫn, đặc biệt là lĩnh vực liên quan đến việc trao đổi giữa các nhóm, quần chúng và cá nhân; tuy vậy lĩnh vực mang lại sự bảo đảm và an ninh cho các cá nhân hay nhóm có thể khiến thực thể hài lòng hơn trong kinh nghiệm hiện tại. [See 342–1 indicating he was in the Royalist Army during the American Revolution.]

In the one before this we find the entity was in that period when there were the gatherings of the peoples to enter into the holy wars.

Trong kiếp ngay trước đó nữa chúng tôi thấy thực thể ở trong giai đoạn các dân chúng tụ họp để bước vào những cuộc thánh chiến.

The entity then was among the Crusaders that, with Bruce and others, started for the Holy Land.

Thực thể khi ấy ở giữa những người Thập tự chinh đã, cùng với Bruce và những người khác, khởi hành đến Thánh Địa.

Then the entity was a zealot for those of the few that would impel all to come under one rule of order, if not by persuasion then by coercion, and the entity gained and lost through this experience; for, entering into the lands about the Holy Land, being among those of the prisoners that were turned to those that were—to the entity in the beginning—as heathen, these became through their acts of kindness—such that the entity was rather inclined to be of a different mind, and became a zealot in this direction. Hence the entity was termed by many as a turncoat, or as one that rebelled for self’s own interests; yet the entity gained in the latter portion, feeling and knowing—through the experience of that period—that truly all force, all power of a spiritual or mental nature, emanates from a one source.

Khi ấy thực thể là một người cuồng tín thuộc số ít muốn thúc ép mọi người vào một trật tự thống nhất, nếu không bằng thuyết phục thì bằng cưỡng bức, và thực thể đã được và mất qua kinh nghiệm này; vì, khi vào các miền đất quanh Thánh Địa, là một trong số những tù nhân bị chuyển giao cho những người — mà lúc đầu đối với thực thể — là dân ngoại, thì chính những người này, qua hành vi nhân hậu, đã khiến thực thể thiên về một ý hướng khác, và trở thành một người nhiệt thành theo chiều hướng này. Bởi vậy thực thể bị nhiều người gọi là kẻ trở cờ, hay là kẻ nổi loạn vì lợi ích riêng; song thực thể đã được trong phần sau, cảm nhận và biết — qua kinh nghiệm của giai đoạn đó — rằng thật sự mọi lực, mọi quyền năng thuộc bản chất tinh thần hay trí tuệ, đều phát xuất từ một nguồn duy nhất.

Hence in the present there is seen that much thought is given to the spiritual side of life.

Vì vậy trong hiện tại có thể thấy thực thể dành rất nhiều tâm tư cho phương diện tinh thần của đời sống.

Hence in fields of activity in which the home or the associations, or the business relations, may be assured to peoples—for not only the material, but for the mental aptitudes and welfare of groups, may the entity find a channel through which it may gain the greater self- development in the present experience.

Do đó, trong các lĩnh vực hoạt động mà ở đó mái ấm hay các mối liên hệ, hay quan hệ thương mại, có thể được bảo đảm cho mọi người — không chỉ vật chất, mà cả năng khiếu và an sinh trí tuệ của các nhóm — thực thể có thể tìm thấy một kênh qua đó thực thể có thể gặt hái sự tự-phát triển lớn hơn trong kinh nghiệm hiện tại.

Then the entity was in the name Charleon, and was of a northern and a southern France connection in that period.

Khi ấy thực thể mang tên Charleon, và có liên hệ miền bắc và miền nam nước Pháp trong giai đoạn ấy.

In the one before this we find the entity was in that land now known as the Persian, among those peoples that had gathered in the hill and plain country for the teachings that were being given by a leader in the city that was established there, of tents; later being among the first wood buildings in this particular portion of the land.

Trong kiếp trước nữa chúng tôi thấy thực thể ở vùng đất nay gọi là Ba Tư, ở giữa những dân đã tụ lại nơi miền đồi và đồng bằng để nghe những giáo huấn do một lãnh đạo ban ra tại thành được thiết lập ở đó, bằng lều trại; sau này là ở giữa những công trình gỗ đầu tiên trong khu vực đó.

The entity was among those that made for the gathering of those things that were as foods or provisions for the peoples; hence entering into the trading with the peoples in the various lands, as they brought their wares from the south, from the east, from the north, from the west, for exchange in this particular region.

Thực thể ở giữa những người thu gom những thứ là lương thực hay lương dụng cho dân chúng; vì vậy bước vào trao đổi với các dân ở những miền khác nhau, khi họ mang hàng hóa từ phương nam, phương đông, phương bắc, phương tây đến để trao đổi ở khu vực này.

Through this experience the entity gained most, for—coming under the direct influence of those that had been raised in their activities by the leader in this period (Uhjltd)—the entity, then in the name Phar-Zar, gained; and when the breaking up came by the invasion of the Greeks from the north, the entity was among the first that fell under this raid or insurrection.

Qua kinh nghiệm này thực thể được nhiều nhất, vì — đến dưới ảnh hưởng trực tiếp của những người đã được nâng lên trong hoạt động bởi vị lãnh đạo trong giai đoạn này (Uhjltd) — thực thể, khi ấy mang tên Phar-Zar, đã được; và khi sự tan rã diễn ra bởi cuộc xâm lược của người Hy Lạp từ phương bắc, thực thể là một trong những người đầu tiên gục ngã trước cuộc tập kích hay khởi loạn này.

So, in the present, the entity finds those influences that are seen in sympathy; in maintaining about self those things that have not so much of the commercial value but a great deal of value from what the little things present in the experience of a body.

Vậy nên, trong hiện tại, thực thể thấy những ảnh hưởng được biểu lộ trong lòng trắc ẩn; trong việc lưu giữ quanh mình những thứ không có nhiều giá trị thương mại nhưng có giá trị lớn về ý nghĩa những điều nhỏ bé mang lại trong kinh nghiệm của một thân.

In the one before this we find the entity was in that land now known as the Nubian, during those periods when the priests from Egypt were exiled. The entity came under the direction of the high priest that was banished, and with the return of these peoples to their possessions—or to their own lands, in the building up of that which enabled not only the Egyptian progress, but the Arabian, Indian, Mongolian, Carpathian, and the Carthaginian mountains even—the entity was among those who aided in establishing for these various peoples those things of commercial value, as well as those posts for the ministrations to the physical needs of peoples.

Trong kiếp trước nữa chúng tôi thấy thực thể ở miền đất nay gọi là Nubia, trong giai đoạn các tư tế từ Ai Cập bị lưu đày. Thực thể đến dưới sự hướng dẫn của vị thượng tế bị đày, và khi những người này trở về sở hữu — hay về miền đất của họ, trong việc kiến tạo những gì giúp không chỉ cho sự tiến bộ của Ai Cập, mà còn của Ả Rập, Ấn Độ, Mông Cổ, dãy Carpathian, và thậm chí cả các miền núi Carthaginian — thực thể ở trong số những người giúp thiết lập cho các dân tộc khác nhau những điều có giá trị thương mại, cũng như những trạm để phục vụ nhu cầu thể xác của dân chúng.

Hence in the present is seen the particular interest of the entity in the reports that come from foundations, or from efforts of groups of people in all quarters of the globe. The entity has often wondered in self why such an interest in such data, when so little in common with same; and it would be—and is—one of the best proofs to the entity of these experiences in the earth’s plane (or reincarnation).

Vì vậy trong hiện tại có thể thấy sự quan tâm đặc biệt của thực thể đối với các báo cáo từ các quỹ, hay từ nỗ lực của các nhóm người ở khắp bốn phương. Thực thể đã nhiều lần tự hỏi vì sao mình lại hứng thú với những dữ liệu như vậy, khi bản thân có ít mối liên hệ với chúng; và điều đó sẽ — và là — một trong những bằng chứng tốt nhất cho thực thể về các kinh nghiệm này ở cõi trần (hay luân hồi).

Then the entity was in the name Hap-Zta.

Khi ấy thực thể mang tên Hap-Zta.

As to the abilities of the entity, that to which it may attain in the present experience—and how:

Về các khả năng của thực thể, điều mà thực thể có thể đạt được trong kinh nghiệm hiện tại — và bằng cách nào:

We find, as we have indicated through those relationships builded innately—as personality and individuality of the entity, through the experiences in the earth and through the sojourns in these spheres about the earth, there are the influences builded in the entity making for the assuring of better conditions, better positions, of the peoples in the home. Though there may be the stalking of those things that make people afraid, through those material and spiritual influences that may be builded in the hearts of the young and the old, in these things may the entity build in the present that which will make for not only the material development, but the mental and soul development also.

Chúng tôi thấy, như đã chỉ ra qua những mối liên hệ đã được kiến tạo bẩm sinh — như phàm ngã và chân ngã của thực thể, qua các kinh nghiệm ở trần thế và qua các thời kỳ trú ngụ trong những thiên không quanh Trái Đất, có những ảnh hưởng được xây dựng trong thực thể tạo nên việc bảo đảm những điều kiện tốt hơn, các vị thế tốt hơn, cho dân chúng trong mái ấm. Dẫu có thể có sự rình rập của những điều khiến người ta sợ hãi, thì thông qua những ảnh hưởng vật chất và tinh thần có thể được kiến tạo trong lòng người trẻ và người già, trong những điều này thực thể có thể kiến tạo trong hiện tại điều sẽ mang lại không chỉ sự phát triển vật chất, mà còn cả sự phát triển trí tuệ và linh hồn.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: What did I come here to do?

Hỏi: Tôi đến đây để làm gì?

A: To overcome all those things you’ve undone!

Đáp: Để khắc phục tất cả những điều anh đã làm rối hỏng!

Q: Should I continue to use the initial S in my signature? [As advised by numerologist Ed Hall? formerly known as Victor George]

Hỏi: Tôi có nên tiếp tục dùng chữ cái đầu S trong chữ ký của mình không? [Theo lời khuyên của nhà số học Ed Hall? trước đây gọi là Victor George]

A: W would be better than S. If preferable (and such conditions-there are some reasons why this should be retained), we would continue to use the S. W would have been better, had it been chosen.

Đáp: W sẽ tốt hơn S. Nếu ưa thích (và trong những điều kiện như thế — có vài lý do để nên giữ lại), chúng ta sẽ tiếp tục dùng S. W đã là lựa chọn tốt hơn, nếu đã được chọn.

Q: What can I do that I can best succeed in, at the same time render the best service to humanity?

Hỏi: Tôi có thể làm gì để vừa thành công nhất, đồng thời phục vụ nhân loại tốt nhất?

A: That pertaining to cooperative or industrial insurance.

Đáp: Điều liên quan đến bảo hiểm hợp tác hay công nghiệp.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm dừng tại đây.

Reading 993–4

Lần đọc 993–4

Q: Can you now tell me what was my full name in my last reincarnation as a Fairfax?

Hỏi: Bây giờ ông có thể cho tôi biết tên đầy đủ của tôi trong kiếp cuối cùng làm người họ Fairfax là gì không?

A: Nettie F.

Đáp: Nettie F.

Q: What was the full name of my father at that time?

Hỏi: Tên đầy đủ của cha tôi khi ấy là gì?

A: John D. Fairfax.

Đáp: John D. Fairfax.

Q: Is there any record of this? If so, where can it be located?

Hỏi: Có hồ sơ nào về việc này không? Nếu có, có thể tìm ở đâu?

A: There is a record that may be had from a Mrs. Fairfax (whose address may be had) in Washington; from the beginnings. It is of the Edwards family but brings is this.

Đáp: Có một hồ sơ có thể lấy được từ một bà Fairfax (có thể lấy địa chỉ của bà ấy) ở Washington; từ buổi đầu. Nó thuộc gia đình Edwards nhưng có đưa điều này vào.

Q: Please give details as to how my sister [560] then, Geraldine Fairfax, lost her life in being crushed in the earth. At what age was she?

Hỏi: Xin cho biết chi tiết về cách chị tôi [560] khi ấy, Geraldine Fairfax, mất mạng vì bị đất đè. Lúc đó chị ấy bao nhiêu tuổi?

A: Just the beginning of the teens, when there were those cave-ins from the preparations of some buildings in that period.

Đáp: Vừa bước vào tuổi thiếu niên, khi xảy ra những vụ sập hầm từ việc chuẩn bị xây một số công trình trong giai đoạn ấy.

Q: How did it happen? Was she just playing around them?

Hỏi: Nó đã xảy ra như thế nào? Có phải chị ấy chỉ nô đùa quanh đó?

A: Playing around; and then there were those activities from the earth trembling.

Đáp: Chơi đùa quanh đó; và rồi có những hoạt động do đất rung chuyển.

Reading 707–1

Lần đọc 707–1

Q: About how much time have I spent in reincarnation up to the present time?

Hỏi: Tính đến hiện tại tôi đã dành khoảng bao nhiêu thời gian trong luân hồi?

A: Almost in all the cycles that have had the incoming from period to period hast thou dwelt. Thine first incoming in the earth was during those periods of the Atlanteans that made for the divisions. Hence, counting in time, some twenty thousand years.

Đáp: Hầu như trong tất cả các chu kỳ có sự đi vào từ giai đoạn này sang giai đoạn khác ngươi đều đã cư ngụ. Lần nhập thế đầu tiên của ngươi ở trần gian là trong những giai đoạn của người Atlantis khi đã tạo nên chia rẽ. Vậy, tính theo thời gian, chừng hai mươi nghìn năm.

Reading 364–1 (A returning Atlantean)

Lần đọc 364–1 (Một người Atlantis trở lại)

Be it true that there is the fact of reincarnation, and that souls that once occupied such an environ are entering the earth’s sphere and inhabiting individuals in the present, is it any wonder that—if they made such alterations in the affairs of the earth in their day, as to bring destruction upon themselves—if they are entering now, they might make many changes in the affairs of peoples and individuals in the present? Are they, then, being born into the world? If so, what were their environs—and will those environs mean in a material world today?

Nếu đúng là có sự thật về luân hồi, và rằng những linh hồn từng cư ngụ một môi trường như vậy đang đi vào quỹ đạo của Trái Đất và đang nhập thể vào các cá nhân trong hiện tại, thì có gì phải ngạc nhiên — nếu họ từng làm những biến đổi như thế trong cục diện trần gian vào thời của họ, đến mức tự mang hủy diệt xuống đầu mình — nếu giờ họ đang nhập thế, họ có thể tạo nên nhiều thay đổi trong cục diện của các dân tộc và cá nhân trong hiện tại? Vậy họ đang được sinh ra đời chăng? Nếu thế, môi trường của họ là gì — và những môi trường ấy sẽ có nghĩa gì trong một thế giới vật chất hôm nay?

Text of Reading 1210-3 M 55

Văn bản Lần đọc 1210-3 Nam 55

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 24th day of August, 1937, in accordance with request made by the New York Study Group #5 of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Lần đọc Tâm Linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông trên Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 24 tháng Tám, 1937, theo yêu cầu của Nhóm Nghiên cứu New York số 5 thuộc Hiệp hội Nghiên cứu & Khai sáng, Inc.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Hugh Lynn Cayce.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều dẫn; Gladys Davis, Tốc ký. Hugh Lynn Cayce.

READING

LẦN ĐỌC

Time of Reading 3:40 to 4:00 P.M. Eastern Standard Time. (Physical Suggestion)

Thời gian Lần đọc 3:40 đến 4:00 chiều Giờ Chuẩn Miền Đông. (Gợi ý Thể chất)

GC: We, the members of the N.Y. Group of the Ass’n for Research & Enlightenment, engaged in a project to investigate reincarnation, have read and discussed the reading given us thru this channel June 29, 1937 [5753–2], advising us as individuals and as a group how we are to proceed in this work. We accept the instruction with the proper ideal as we understand it. We now ask for further guidance.

GC: Chúng tôi, các thành viên của Nhóm N.Y. thuộc Hiệp hội Nghiên cứu & Khai sáng, đang thực hiện một dự án khảo sát luân hồi, đã đọc và thảo luận lần đọc được ban cho chúng tôi qua kênh này ngày 29 tháng Sáu, 1937 [5753–2], chỉ dẫn chúng tôi với tư cách cá nhân và tập thể cách chúng tôi phải tiến hành công việc này. Chúng tôi đón nhận chỉ dẫn với lý tưởng đúng như chúng tôi hiểu. Giờ chúng tôi xin được hướng dẫn thêm.

The members of the group actively seeking information are: [1058], [954], [1000], [189], [903], [255], [5416], [520], [1210], [165], [257], [1192].

Các thành viên của nhóm đang tích cực tìm kiếm thông tin gồm: [1058], [954], [1000], [189], [903], [255], [5416], [520], [1210], [165], [257], [1192].

We hope at this time to gain a better understanding of spiritual values through information on the lives of [1210], [759], [189], and [257] as these entities expressed themselves during the American Revolutionary period.

Chúng tôi hy vọng lúc này sẽ đạt được sự thấu hiểu tốt hơn về các giá trị tinh thần qua thông tin về các đời sống của [1210], [759], [189], và [257] khi các thực thể này biểu lộ mình trong giai đoạn Cách mạng Mỹ.

We first ask information concerning the activities and the remaining evidences of activities during the American Revolutionary period of the entity now known as [1210]—known at that time as McQuade or Quer and by the first name of Herman.

Trước tiên chúng tôi xin thông tin liên quan đến các hoạt động và các dấu tích còn lại của hoạt động trong giai đoạn Cách mạng Mỹ của thực thể hiện được biết là [1210] — khi ấy được biết là McQuade hay Quer và tên đầu là Herman.

You will have before you the enquiring mind of the entity [1210], born Nov. 4, 1881, Niagara Falls, N.Y., and now of... St., N.Y.C., who seeks information on his past incarnation in the American Revolutionary period. You will answer the questions which have been submitted.

Ông sẽ có trước mình tâm trí truy vấn của thực thể [1210], sinh ngày 4 tháng 11, 1881, Niagara Falls, N.Y., và hiện ở... St., N.Y.C., người đang tìm kiếm thông tin về kiếp trước của mình trong giai đoạn Cách mạng Mỹ. Ông sẽ trả lời các câu hỏi đã được gửi.

EC: (Not responding to first suggestion, had to be repeated—and then only responding to last paragraph of suggestion—“Enquiring mind of [1210], born Nov. 4, 1881—Aug. 24, 1937—’36, ’35-” etc., on back to birth date.

EC: (Không đáp lại gợi ý đầu tiên, phải lặp lại — và rồi chỉ đáp lại đoạn cuối của gợi ý — “Tâm trí truy vấn của [1210], sinh 4/11/1881 — 24/8/1937 — ’36, ’35-” v.v., ngược về đến ngày sinh.)

Yes—much better were these presented from the information that has been given, and its period, or else there is to be sought the reflection of the whole of the experience as from the beginning. We will seek here. (Mumbling over name, birth date, place of birth, etc.)

Vâng — sẽ tốt hơn nhiều nếu những điều này được trình bày từ thông tin đã ban, và giai đoạn của nó, nếu không thì phải tìm phản ảnh của toàn bộ kinh nghiệm như từ khởi đầu. Chúng ta sẽ tìm ở đây. (Lầm bầm nhắc lại tên, ngày sinh, nơi sinh, v.v.)

Yes, we have the records of that entity now known as [1210]; this with the interpretations as we have had here before.

Vâng, chúng tôi có các hồ sơ về thực thể hiện được biết là [1210]; cùng với các diễn giải như đã có trước đây.

In considering the experience of the entity during that period of the American Revolution, we find that the entity served especially in those activities or campaigns about portions of Jersey, Pennsylvania and Maryland.

Khi khảo xét kinh nghiệm của thực thể trong giai đoạn Cách mạng Mỹ, chúng tôi thấy thực thể đã phục vụ đặc biệt trong những hoạt động hay chiến dịch quanh các phần của Jersey, Pennsylvania và Maryland.

The entity then, as we have indicated, was in the name McQuade—Quer—McQuade—Herman; born then in the experience in what is now a portion of Connecticut; and the training and the activities just prior to the Revolution were in a partial medical course. Then the activities during the Revolution were in what would be called in the present the caring for the protective forces about the camps as respecting the health. The entity, to be sure, was among the forces that served under Washington; more direct under Lee [Henry Lee, American general, called “Light Horse Harry”], who was active in the campaign in that particular portion of the land; yet coming as a supervisor or superintendent of many of the various sites or camps, or especially during the distress of the armies of the colonists at the time.

Khi ấy, như chúng tôi đã chỉ, thực thể mang tên McQuade — Quer — McQuade — Herman; sinh khi ấy trong kinh nghiệm ở nơi nay là một phần của Connecticut; và việc đào tạo, các hoạt động ngay trước Cách mạng là trong một khóa y khoa còn dang dở. Rồi hoạt động trong Cách mạng là ở điều mà hiện nay có thể gọi là chăm lo cho các lực lượng bảo vệ quanh các doanh trại về mặt sức khỏe. Chắc chắn thực thể ở cùng lực lượng phục vụ dưới quyền Washington; trực tiếp hơn là dưới quyền Lee [Henry Lee, tướng Mỹ, gọi là “Light Horse Harry”], người hoạt động trong chiến dịch ở vùng đất cụ thể ấy; song đến như người giám sát hay quản đốc của nhiều vị trí hay doanh trại khác nhau, đặc biệt trong giai đoạn quân đội thuộc địa lâm cảnh khốn khó khi đó.

Hence as has been indicated, we find arising from the experiences of the entity during that sojourn the capacities in the attempting to cast out fear. For it was experienced by the entity during that period that when there could be aroused within the minds and the hearts and the experiences of the emotional forces of the individuals the awareness that there were purposes greater or beyond the self, these brought the possibilities, the abilities, the activities that made for the sustaining influences. And much of that was imbued into the minds of those during the trying periods, when the fires of patriotism burned low during that severe winter in Valley Forge.

Do đó, như đã được chỉ ra, chúng ta thấy nảy sinh từ những trải nghiệm của thực thể trong thời trú ngụ ấy các năng lực khi nỗ lực xua tan sợ hãi. Vì thực thể đã trải nghiệm trong thời kỳ đó rằng khi có thể khơi dậy trong trí và trong tim, và trong những trải nghiệm của lực cảm xúc nơi các cá nhân, một nhận biết rằng có những mục đích lớn hơn hay vượt khỏi cái tôi, thì những điều này mang đến các khả năng, các năng lực, các hoạt động tạo nên những ảnh hưởng nâng đỡ. Và phần lớn điều ấy đã được thấm nhuần vào tâm trí của những người trong các thời kỳ thử thách, khi ngọn lửa ái quốc lụi dần trong mùa đông khắc nghiệt ở Valley Forge.

And these are the parts, the principles then that should be studied, if there would be knowledge gained of a nature that becomes a constructive experience in the activities of those in the present; that which is creative grows, that which is destructive is already deteriorating.

Và đây là các phần, các nguyên tắc nên được khảo cứu, nếu muốn thu đạt tri thức thuộc bản chất trở thành trải nghiệm mang tính kiến tạo trong các hoạt động của những người ở hiện tại; điều gì mang tính sáng tạo thì lớn lên, điều gì mang tính hủy hoại thì đã đang suy tàn.

Thus these live as those influences within the innate forces of the soul’s expression through experiences in the earth, and give rise to that which surrounds the activity of an individual entity.

Vì thế, những điều này sống như các ảnh hưởng bên trong các lực bẩm sinh của sự biểu lộ của linh hồn qua các trải nghiệm trên trần gian, và làm phát sinh điều bao bọc hoạt động của một thực thể cá nhân.

Thus, as has been indicated, we have continually before us good, evil; life, death—a choice to be made.

Vậy nên, như đã được chỉ ra, trước chúng ta luôn có thiện, ác; sống, chết—một lựa chọn phải được thực hiện.

And ever is the choice according to the ideals of the entity, as it gives expression of the forces and influences in its experience.

Và lựa chọn ấy luôn tùy theo các lý tưởng của thực thể, khi nó biểu lộ các lực và ảnh hưởng trong trải nghiệm của mình.

The entity then was among those that endured until after the periods of the Brandywine, when there were those effective activities; yet to the entity the injuries that were brought made for the ending of the physical experience of Herman McQuade—or Quer—in or during that portion of the latter part of the southern Pennsylvania or the New Jersey campaign, just before the change from Lee’s rebuke and the activities in the Maryland land and the rise to the arousing through the activities of Sumter.

Thực thể khi ấy ở trong số những người đã chịu đựng cho đến sau các giai đoạn Brandywine, khi có những hoạt động hiệu quả; tuy nhiên đối với thực thể, các thương tích mang đến đã chấm dứt trải nghiệm thể xác của Herman McQuade—hoặc Quer—trong hoặc trong phần cuối của chiến dịch miền nam Pennsylvania hay New Jersey, ngay trước biến chuyển kể từ lời quở trách của Lee và các hoạt động trên đất Maryland và sự dấy lên của sự khích động qua các hoạt động của Sumter.

In the period then, as to days, as to that which may be a record: We find in the cemetery, in what is a Trenton station or near to same, H. McQuade—1779—17—No, it’s nearly erased here—Herman McQuade, H. McQuade—H. McQuade—1777–9—177—seventeen seventy?

Trong thời kỳ ấy, xét về ngày tháng, về điều có thể là một ghi chép: Chúng tôi thấy ở nghĩa trang, tại nơi là một ga Trenton hoặc gần đó, H. McQuade—1779—17—Không, ở đây hầu như bị xoá—Herman McQuade, H. McQuade—H. McQuade—1777–9—177—một nghìn bảy trăm bảy mươi?

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: Please correctly spell the name.

H: Xin đánh vần đúng tên.

A: Q-u-a-d-e.

Đ: Q-u-a-d-e.

Q: Where is this name recorded in a document which we can find now?

H: Tên này được ghi ở tài liệu nào mà chúng tôi có thể tìm được bây giờ?

A: In the rebuke of Lee by Washington. Library—Washington.

Đ: Trong lời quở trách Lee của Washington. Thư viện—Washington.

Q: Under what commanding officers did he serve?

H: Y phục dưới quyền chỉ huy nào mà y phục vụ?

A: As given.

Đ: Như đã nêu.

Q: In what encampments did he serve?

H: Ở những doanh trại nào y phục vụ?

A: As given.

Đ: Như đã nêu.

Q: Can we find any evidences of these sites and where?

H: Chúng tôi có thể tìm thấy bằng chứng nào về các địa điểm này và ở đâu?

A: No evidences as we find at the sites.

Đ: Không có bằng chứng như chúng tôi tìm thấy tại các địa điểm.

Q: In what battles was he engaged?

H: Y đã tham chiến ở những trận nào?

A: Not so much in the battles save as in Brandywine when the injury came that brought dissolution.

Đ: Không nhiều trong các trận đánh ngoại trừ ở Brandywine khi thương tích xảy đến và mang lại sự tan rã.

Q: Was he an officer and of what rank?

H: Y có là sĩ quan không và cấp bậc gì?

A: Not as an officer but what would be called today as in the quartermaster division, or the superintendent of the health.

Đ: Không là sĩ quan mà theo cách gọi hôm nay là thuộc ban quân nhu, hoặc giám quản y tế.

Q: Follow for us the movements of the entity with the American Revolutionary Army giving us various points or battlefields. At which, if any, of these can we find remaining evidences and what?

H: Xin theo dấu cho chúng tôi các di chuyển của thực thể cùng với Đạo quân Cách mạng Hoa Kỳ, cho chúng tôi các địa điểm hay chiến trường khác nhau. Ở nơi nào, nếu có, chúng tôi có thể tìm thấy các chứng tích còn lại và là gì?

A: We have given these. Connecticut born; activities there; and when there was the abandoning of New York moved with the armies to then the Jersey and Pennsylvania and later a portion of the Maryland campaign; following through those periods of Valley Forge—or to the activities of Brandywine—and then the death there.

Đ: Chúng tôi đã nêu rồi. Sinh ở Connecticut; hoạt động ở đó; và khi New York bị bỏ lại thì di chuyển cùng quân đội đến New Jersey và Pennsylvania và sau đó là một phần của chiến dịch Maryland; đi qua những thời kỳ Valley Forge—hoặc đến các hoạt động của Brandywine—và rồi tử vong tại đó.

Q: Is there a record of baptism?

H: Có ghi chép rửa tội không?

A: We do not find same.

Đ: Chúng tôi không thấy điều đó.

Q: Where did he make his home in the Colonies?

H: Y lập gia cư ở đâu trong các Thuộc địa?

A: In Connecticut.

Đ: Ở Connecticut.

Q: How and when did McQuade die?

H: McQuade chết như thế nào và khi nào?

A: From injuries received in Brandywine.

Đ: Do thương tích nhận trong Brandywine.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm kết thúc.

Text of Reading 5366-1 F 53 (Housewife, Protestant)

Toàn văn Lần đọc 5366-1 Nữ 53 (Nội trợ, Tin Lành)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 19th day of July, 1944, in accordance with request made by the self—Mrs. [5366], Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Lần đọc Thông Linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hiệp hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 19 tháng Bảy, 1944, theo yêu cầu được đưa ra bởi chính đương sự—Bà [5366], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Jeanette Fitch, Stenos.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Jeanette Fitch, tốc ký viên.

READING

LẦN ĐỌC

Born October 31, 1890, on a farm near..., Ohio.

Sinh ngày 31 tháng Mười, 1890, tại một trang trại gần..., Ohio.

Time of Reading Set bet. 3:30 to 4:30 P.M. Eastern War Time...., Mass.

Thời gian Lần đọc Ấn định giữa 3:30 đến 4:30 chiều Giờ Chiến tranh miền Đông...., Mass.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, or giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:

GC: Ngài sẽ cho biết mối liên hệ của thực thể này với vũ trụ, và các lực vũ trụ; đưa ra các điều kiện vốn là phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; đồng thời các lần xuất hiện trước đây ở cõi trần, tức đưa thời gian, địa điểm và tên, và trong mỗi đời là điều đã xây dựng hay kìm hãm sự phát triển cho thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại, điều y có thể đạt được, và bằng cách nào. Ngài sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu:

EC: My! Some very interesting characters have been born near Bellefontaine! This entity was among those with that one who persecuted the church so thoroughly and fiddled while Rome burned. That’s the reason this entity in body has been disfigured by structural conditions. Yet may this entity be set apart. For through its experiences in the earth, it has advanced from a low degree to that which may not even necessitate a reincarnation in the earth. Not that it has reached perfection but there are realms for instruction if the entity will hold to that ideal of those whom it once scoffed at because of the pleasure materially brought in associations with those who did the persecuting.

EC: Trời! Một vài nhân vật rất thú vị được sinh gần Bellefontaine! Thực thể này ở trong số những kẻ cùng với người đã bách hại giáo hội rất dữ dội và kéo vĩ cầm trong khi Roma bốc cháy. Đó là lý do tại sao thực thể trong thân xác đã bị biến dạng bởi các điều kiện cấu trúc. Tuy vậy, thực thể này có thể được biệt phân. Vì qua các trải nghiệm trên trần, nó đã thăng tiến từ mức thấp đến mức có thể thậm chí không cần một lần tái sinh trên trần. Không phải là nó đã đạt sự toàn thiện nhưng có những cõi dành cho sự giáo huấn nếu thực thể sẽ giữ vững lý tưởng của những người mà nó từng chế giễu vì các khoái lạc vật chất mang lại trong giao du với những kẻ làm việc bách hại ấy.

In giving the interpretation, then, of the records of this entity, there is much that may be said but, as has been indicated, we would minimize the faults, and we would magnify the virtues. Thus may little or nothing be given that would deter the entity in any manner from holding fast to that purpose which has become that to which it may hold. For, as Joshua of old, the entity has determined (and sometimes the entity becomes very disturbed) “Others may do as they may, but as for me, I will serve the living God.”

Khi đưa ra diễn giải về các ghi chép của thực thể này, có rất nhiều điều có thể nói nhưng, như đã được chỉ ra, chúng tôi sẽ giảm nhẹ các lỗi lầm, và chúng tôi sẽ làm nổi bật các đức hạnh. Như thế ít hoặc không điều gì được đưa ra có thể làm thực thể nản lòng theo bất kỳ cách nào khỏi việc nắm chặt mục đích vốn đã trở thành điều nó có thể bám giữ. Vì, như Giô-suê thuở xưa, thực thể đã quyết chí (và đôi lúc thực thể trở nên rất xao động) “Người khác có thể làm như họ muốn, nhưng phần tôi, tôi sẽ phụng sự Thượng đế hằng sống.”

Astrological aspects would be nil in the experiences of the entity. (Let’s pray with the entity.) No such may be necessary in the experience again in the earth-materiality.

Các khía cạnh chiêm tinh sẽ là không đáng kể trong trải nghiệm của thực thể. (Chúng ta hãy cầu nguyện cùng với thực thể.) Không nhất thiết phải có điều như vậy nữa trong trải nghiệm nơi trần vật chất.

Remember, there are material urges and there are materials in other consciousnesses not three-dimensions alone.

Hãy nhớ, có những xung lực vật chất và có những phương diện thuộc các tâm thức khác, không chỉ ba chiều mà thôi.

As to the appearances in the earth, these would only be touched upon, as indicated, to be a helpful experience for the entity, as:

Về các lần xuất hiện trên trần, những điều này chỉ được chạm đến, như đã chỉ ra, để làm một trải nghiệm hữu ích cho thực thể, như:

Before this we find the entity was in the land of the present nativity, through the experiences in seeking for new undertakings with the associates or companions. The entity became a helper to those who sought to know more of that which had been the prompting of individuals to seek freedom and to know that which is the spirit of creation or creative energies. Thus did the entity grow in attempting to interpret man’s relationship to the Creative Forces or God. The name then was Jane Eyericson.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở miền đất là nơi sinh hiện nay, qua trải nghiệm trong việc kiếm tìm những dự khởi mới cùng với các bạn hữu hay đồng bạn. Thực thể trở thành một người trợ giúp cho những ai tìm biết thêm về điều vốn là động lực thúc đẩy cá nhân đi tìm tự do và để biết điều vốn là tinh thần của sự sáng tạo hay các năng lượng sáng tạo. Như thế thực thể đã tăng trưởng trong nỗ lực diễn giải mối liên hệ của con người với các Lực Sáng Tạo hay Thượng đế. Tên khi ấy là Jane Eyericson.

Before that we find the entity, as mentioned, was a companion or associate of that one [Nero] who persecuted those who believed in, those who accepted faith in righteousness, in goodness, in crucifying of body desires, in crucifying the emotions which would gratify only appetites of a body, either through the physical self or through physical appetites of gormandizing, and of material desire for the arousing more of the beast in individual souls. [See 33–1, Par. 10-A.]

Trước đó chúng tôi thấy thực thể, như đã nói, là bạn hay đồng sự của kẻ [Nero] đã bách hại những ai tin, những ai chấp nhận đức tin nơi sự công chính, nơi điều thiện, nơi việc đóng đinh các dục vọng của thân xác, đóng đinh các cảm xúc chỉ thỏa mãn các thèm muốn của một thân xác, hoặc qua bản thân thể xác hoặc qua các thèm muốn thể xác của phàm ăn, và của dục vọng vật chất nhằm khơi dậy nhiều hơn phần thú vật trong các linh hồn cá nhân. [Xem 33–1, Đoạn 10-A.]

In the experience, then, the entity is meeting self in that which was a part of the experience as Emersen.

Trong trải nghiệm, thực thể đang đối diện với chính mình trong điều vốn là một phần trải nghiệm của Emersen.

Before that we find the entity was in the land when the children of promise entered into the promised land, when there were those whose companion or who father [Achan] sought for the gratifying of selfish desires in gold and garments and in things which would gratify only the eye. The entity was young in years and yet felt, as from those things which were told the entity, that a lack of material consideration was given the parent. The name then was Suthers.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở trong miền đất khi con cái của lời hứa bước vào đất hứa, khi có những người mà bạn đồng hành hay người cha [Achan] kiếm tìm việc thỏa mãn các dục vọng ích kỷ về vàng bạc và y phục và những thứ chỉ làm thỏa mãn đôi mắt. Thực thể khi ấy hãy còn ít tuổi nhưng lại cảm thấy, từ những điều đã được kể cho mình, rằng cha mẹ không được quan tâm vật chất cho đủ. Tên khi ấy là Suthers.

Before that we find the entity was in the Egyptian land. The entity was among those who were trained in the Temple Beautiful for a service among its fellow men, contributing much to the household and the establishing of homes. Thus is the home near and dear to the entity, as are members of same, whether of the body-family or of the help or kinsmen.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở đất Ai Cập. Thực thể ở trong số những người được huấn luyện trong Đền Mỹ Lệ để phụng sự giữa đồng loại, góp phần nhiều cho gia thất và việc thiết lập các mái ấm. Bởi vậy mái ấm gần gũi và thân thương với thực thể, cũng như các thành viên của nó, dù là thuộc gia đình huyết thống hay người giúp việc hay thân thuộc.

Thus again may the entity find, in its application of those tenets and truths in the present, that answering in experiences of the entity in that land.

Như thế lần nữa thực thể có thể nhận ra, trong việc ứng dụng các tín điều và chân lý ấy ở hiện tại, sự đáp lời trong các trải nghiệm của thực thể ở miền đất đó.

Then the entity was called Is-it-el.

Bấy giờ thực thể được gọi là Is-it-el.

As to the abilities:

Về các khả năng:

Who would tell the rose how to be beautiful; who would give to the morning sun, glory; who would tell the stars how to be beautiful? Keep that faith! which has prompted thee. Many will gain much from thy patience, thy consistence, thy brotherly love.

Ai sẽ dạy bông hồng phải đẹp thế nào; ai sẽ ban vinh quang cho mặt trời ban mai; ai sẽ dạy các vì sao phải đẹp làm sao? Hãy giữ vững đức tin ấy! vốn đã thúc giục ngươi. Nhiều người sẽ gặt hái nhiều điều từ lòng nhẫn nại, sự kiên định, tình huynh đệ của ngươi.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: What locality is best for me?

H: Địa phương nào là tốt nhất cho tôi?

A: In the middle west.

Đ: Ở miền Trung Tây.

Q: What has been the incentive to heal and help others?

H: Động lực nào đã thôi thúc tôi chữa lành và giúp đỡ người khác?

A: Read just what has been given.

Đ: Hãy đọc đúng như những gì đã được ban cho.

Q: Should we invest a small sum of money in Tung Oil or Ramie land in the south, or a log cabin on a mountain side on... ‘s farm at..., Conn., for future vacations?

H: Chúng tôi có nên đầu tư một khoản tiền nhỏ vào dầu Tung hoặc đất trồng ramie ở miền nam, hay một căn nhà gỗ trên sườn núi tại trang trại của... ở..., Conn., cho các kỳ nghỉ tương lai không?

A: No. Those in the west we would prepare, or Ohio, Indiana, or Iowa. These would be the better and there invest; whether in Illinois, in oil, yes; Iowa, a rest home, yes; in Ohio, farmland.

Đ: Không. Những nơi ở miền tây chúng tôi sẽ chuẩn bị, hoặc Ohio, Indiana, hoặc Iowa. Đó sẽ là những nơi tốt hơn và hãy đầu tư ở đó; ở Illinois, về dầu, được; ở Iowa, một nhà tĩnh dưỡng, được; ở Ohio, đất nông trại.

Q: How have I been associated in the past with my husband, [4921]?

H: Tôi đã có liên hệ ra sao trong quá khứ với chồng tôi, [4921]?

A: In the experience before this there were associations in which each was an incentive or a helper, and yet never closely associated. That’s why ye disagree at times in the present. In the experience in Egypt in the same association as in the present, as were the children, though there were many more of them there.

Đ: Trong trải nghiệm trước đây có những mối liên hệ trong đó mỗi người là một động lực hay một người trợ giúp, nhưng chưa từng gắn bó thật gần. Đó là lý do các ngươi bất đồng đôi lúc ở hiện tại. Trong trải nghiệm ở Ai Cập trong cùng mối liên hệ như hiện nay, như các con, dù khi ấy có nhiều con hơn nhiều.

Q: My son, [5249]?

H: Con trai tôi, [5249]?

A: As indicated.

Đ: Như đã chỉ ra.

Q: My son, [5242]?

H: Con trai tôi, [5242]?

A: As indicated.

Đ: Như đã chỉ ra.

Q: How can I best help them in the present?

H: Tôi có thể giúp chúng tốt nhất thế nào trong hiện tại?

A: In helping them to study to show themselves approved unto God, workmen not ashamed, rightly stressing the words of truth and keeping self unspotted from the world.

Đ: Bằng cách giúp chúng học hỏi để tỏ mình được Thượng đế chấp thuận, những người làm việc không hổ thẹn, nhấn mạnh đúng lời của chân lý và giữ mình không vấy bẩn bởi đời.

We are through with this reading.

Chúng tôi kết thúc lần đọc này.

Text of Reading 1020-2 F 39 (Housewife, Christian Background)

Toàn văn Lần đọc 1020-2 Nữ 39 (Nội trợ, Nền tảng Cơ Đốc)

This psychic reading given by Edgar Cayce at the David E. Kahn home, 44 West 77th St., Apt. 14-W, New York City, this 18th day of October, 1935, in accordance with request made by the self—Mrs. [1020], Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Lần đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà David E. Kahn, 44 West 77th St., Căn hộ 14-W, Thành phố New York, ngày 18 tháng Mười, 1935, theo yêu cầu do chính đương sự—Bà [1020], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng, Inc.—đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mrs. [1020].

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Tốc ký. Bà [1020].

READING

LẦN ĐỌC

Born February 17, 1896, in New Haven, Conn.

Sinh ngày 17 tháng Hai, 1896, tại New Haven, Conn.

Time of Reading 11:25 to 12:00 A.M. Eastern Standard Time...., New York.

Thời gian Lần đọc 11:25 đến 12:00 trưa Giờ Tiêu chuẩn miền Đông...., New York.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Lần đọc về Đời sống)

EC: Yes, we have the entity and those relations with the universe and universal forces, that are latent and manifested in the personalities of the entity now known as [1020].

EC: Vâng, chúng tôi có thực thể và những mối liên hệ ấy với vũ trụ và các lực vũ trụ, vốn tiềm ẩn và biểu lộ trong các phàm ngã của thực thể nay được biết là [1020].

These, as we find then, are as records of the activities of the entity in its relationships to the universal influences that may manifest in, or be manifested by, the entity in the experiences in the earth and the environs about the earth that are termed as astrological aspects in an entity’s experience.

Những điều này, như chúng tôi nhận thấy, là các ghi chép về hoạt động của thực thể trong mối liên hệ với các ảnh hưởng phổ quát có thể biểu lộ nơi, hoặc được biểu lộ bởi, thực thể trong các trải nghiệm trên trần và vùng phụ cận quanh trần được gọi là các khía cạnh chiêm tinh trong trải nghiệm của một thực thể.

Coming, as we find, under those influences in Venus, Mercury, Jupiter, Uranus, that are accredited with representing—or that have been determined by the sages of old as representing—individual activities, we find:

Đến, như chúng tôi thấy, dưới các ảnh hưởng của Sao Kim, Sao Thủy, Sao Mộc, Sao Thiên Vương, vốn được ghi nhận là đại diện—hoặc đã được các hiền triết xưa định danh là đại diện—cho các hoạt động cá nhân, chúng tôi thấy:

Mercury as the mind, Venus as love, Jupiter as the broadening—the larger opportunity, the expansion of influence and activity—these are but terms, that represent in an entity’s influence a definite innate activity in the entity’s experience.

Sao Thủy là thể trí, Sao Kim là tình thương, Sao Mộc là sự mở rộng—cơ hội lớn hơn, mở rộng tầm ảnh hưởng và hoạt động—đây chỉ là các thuật ngữ, vốn biểu thị trong ảnh hưởng của một thực thể một hoạt động bẩm sinh xác định trong trải nghiệm của thực thể.

In Venus we find that, irrespective of the entity’s application of same—however, the entity is one making for friendships that are lasting in the experience.

Ở Sao Kim chúng tôi nhận thấy rằng, bất kể thực thể ứng dụng điều ấy ra sao—tuy nhiên, thực thể là người tạo lập các tình bạn bền lâu trong trải nghiệm.

One capable of becoming more and more necessary in the experiences of those whom the entity contacts.

Một người có khả năng trở nên ngày càng cần thiết hơn trong trải nghiệm của những người mà thực thể tiếp xúc.

One that is faithful in its relationships to that it has promised itself or others.

Một người trung tín trong các mối liên hệ với điều đã tự hứa với mình hay với người khác.

These are as innate and manifested in the manners in which the entity may make application of those experiences in the inner self, as it is related to others.

Những điều này là bẩm sinh và biểu lộ trong những cách thức mà thực thể có thể ứng dụng các trải nghiệm ở nội ngã, khi nó liên hệ với người khác.

In Mercury we find the high mental abilities, yet experiences in same that make for the doubting in self as to its own capacities often.

Ở Sao Thủy chúng tôi thấy các khả năng trí tuệ cao, nhưng các trải nghiệm trong đó khiến thực thể thường nghi ngờ bản thân về các năng lực của chính mình.

Hence, in conjunction with the Venus influence, it produces a tendency within the experience for the entity to depend oftentimes upon those whom it has learned that are or whom it considers as being capable of judging experiences or activities.

Bởi vậy, phối hợp với ảnh hưởng của Sao Kim, nó tạo nên khuynh hướng trong trải nghiệm để thực thể nhiều lần nương dựa vào những người mà nó đã biết là, hoặc nó xem như, có khả năng phán đoán các trải nghiệm hay hoạt động.

This makes for that which at times becomes confusing to the entity, as to whether that which has been activative has been by its own mental abilities or influenced by others.

Điều này tạo ra cái mà đôi lúc trở thành sự bối rối cho thực thể, về việc liệu điều đã được phát động là do các năng lực trí tuệ riêng hay do ảnh hưởng của người khác.

Hence we will find that especially in the activities as a writer would there become most helpful experiences, where the entity applied such activities in the earth in its relationships to construction of those things that may be made manifest in its activity as a writer. Or as one who would be a good judge of the efforts of others in these directions. If the entity would apply self, these activities would make or the stabilizing of these innate influences in the experience of the entity.

Vì vậy chúng ta sẽ thấy rằng đặc biệt trong các hoạt động như một người viết sẽ có những trải nghiệm hữu ích nhất, nơi thực thể áp dụng các hoạt động như thế trên trần trong mối liên hệ với kiến tạo những điều có thể được biểu lộ trong hoạt động của mình như một người viết. Hoặc như người có thể là một vị giám khảo tốt đối với nỗ lực của người khác trong các hướng này. Nếu thực thể chịu tự ứng dụng, các hoạt động ấy sẽ tạo nên sự ổn định cho các ảnh hưởng bẩm sinh này trong trải nghiệm của thực thể.

In Jupiter we find the broadening, or the tendency for the entity to become associated with influences upon rather than by others. For the influence the entity may have from others is individual, while the influence the entity may have upon others is rather more the universal—by the very indications of those experiences that have been indicated as to how the influences or activities of the entity may be used to give expression to those developments that have been in the mental or soul experience of the entity. It tends towards the experience that may be termed as innate, or as feeling those conditions rather than reasoning from what may be termed cold reason. This makes for those conditions where the entity may in its applications of its abilities become as one that may influence the affairs of others a very great deal by its expressions that may reach masses of peoples.

Ở Sao Mộc chúng tôi thấy sự mở rộng, hoặc khuynh hướng để thực thể trở nên liên hệ với các ảnh hưởng tác động lên người khác hơn là bị người khác tác động. Vì ảnh hưởng mà thực thể có thể nhận từ người khác là cá biệt, trong khi ảnh hưởng mà thực thể có thể có lên người khác lại mang tính phổ quát hơn—chính bởi các chỉ dấu từ những trải nghiệm đã được chỉ ra về cách các ảnh hưởng hay hoạt động của thực thể có thể được dùng để biểu lộ những phát triển đã có trong trải nghiệm trí tuệ hay linh hồn của thực thể. Nó thiên về trải nghiệm có thể được gọi là bẩm sinh, hoặc là cảm thụ các trạng thái ấy hơn là lý luận từ cái có thể được gọi là lý trí lạnh. Điều này tạo ra những hoàn cảnh mà ở đó thực thể, trong việc ứng dụng các khả năng, có thể trở thành người ảnh hưởng rất nhiều đến công việc của người khác bằng các biểu đạt của mình vốn có thể chạm tới quần chúng đông đảo.

As to the appearances in the earth, then, and those that we find making for an influence in the present experience, we find:

Về các lần xuất hiện trên trần, và những điều chúng tôi thấy đang tạo ảnh hưởng trong trải nghiệm hiện tại, chúng tôi thấy:

Before this the entity was in that land now known as or called England, during those periods when there were great numbers of people entering the new land; not only for the religious freedom but for the opportunities and for the activities that would make for the growing into advantages to be had in the varied activities during the experience.

Trước đó thực thể ở miền đất nay được biết như hay gọi là Anh quốc, trong những thời kỳ khi có đông đảo người tiến vào miền đất mới; không chỉ vì tự do tôn giáo mà còn vì cơ hội và các hoạt động sẽ làm cho sự tăng trưởng đi tới những lợi thế có thể đạt được trong các hoạt động đa dạng trong trải nghiệm.

The entity heard about such activities, listened and was persuaded; yet not until the latter portion of the experience—or until the middle of the life during that particular period—did the entity come to, or become a part of the activities in, that land in and about what is now Hartford, in the land of present nativity.

Thực thể đã nghe về các hoạt động như vậy, đã lắng nghe và bị thuyết phục; tuy nhiên mãi đến phần cuối của trải nghiệm—hoặc đến giữa đời trong giai đoạn đặc thù đó—thực thể mới đến, hoặc trở thành một phần của các hoạt động, ở miền đất trong và quanh nơi nay là Hartford, trong miền đất của sinh quán hiện nay.

There we find the entity then, in the name of Marge Condon, became as an active influence in the establishing of those that became the teachings, or the schools, or those things that had to do with the training of the young.

Ở đó chúng tôi thấy thực thể, với tên Marge Condon, trở thành một ảnh hưởng tích cực trong việc thiết lập những điều trở thành các giáo huấn, hay trường học, hay những việc liên quan đến việc đào luyện người trẻ.

Hence we find in the present experience of the entity that the interests of the young are of a special interest to the entity; the care of those under varying conditions—these have been and are of a special interest. And the manners in which various sects, states or groups or societies form for the activities in these directions become innately and manifestedly a portion of the entity’s thought. And again activity in these directions, especially as related to combining same in treatise, in manners in which same may be presented to others, would become a life work.

Bởi vậy chúng tôi thấy trong trải nghiệm hiện tại của thực thể rằng các lợi ích của người trẻ là mối quan tâm đặc biệt đối với thực thể; việc chăm sóc những người trong những hoàn cảnh khác nhau—đây từng là và là mối quan tâm đặc biệt. Và cách mà các giáo phái, các bang hay các nhóm hoặc hội đoàn khác nhau hình thành để hoạt động trong những hướng này trở thành bẩm sinh và biểu lộ như một phần trong tư tưởng của thực thể. Và một lần nữa, hoạt động trong những hướng này, đặc biệt khi kết hợp lại trong một luận thuyết, trong những cách thức để có thể trình bày với người khác, sẽ trở thành một công việc trọn đời.

However, as indicated in the ruling influence of Venus in the innale forces, home and home conditions are ever in the expressions of the entity also.

Tuy nhiên, như đã chỉ ra trong ảnh hưởng chủ đạo của Sao Kim trong các lực bẩm sinh, gia đình và các điều kiện gia đình vẫn luôn nằm trong biểu lộ của thực thể.

Combining these, then, there may be made an activity; not so much that would separate the entity from other associations but that would make for an experience in the entity’s life or experience in the present that would become more and more worth while, more and more appreciated, more and more helpful to others.

Kết hợp những điều này, có thể kiến tạo một hoạt động; không đến mức tách thực thể khỏi các mối liên hệ khác nhưng để tạo nên một trải nghiệm trong đời hay trải nghiệm của thực thể ở hiện tại vốn trở nên ngày càng đáng giá, ngày càng được trân trọng, ngày càng hữu ích hơn cho người khác.

Before that we find the entity was in the Grecian experience when there were those periods of the first activities that began the influence as to the adorning of the bodies for sculpture and art, that pertained to these phases of man’s experience. It was also when there were begun the interpretations of speech, of those things that may be termed in the present the dramatic experiences of song, verse, that there might be brought to others the influence that same had upon the activities of groups.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở trải nghiệm Hy Lạp khi có những thời kỳ của các hoạt động đầu tiên khởi phát ảnh hưởng về việc điểm tô thân thể cho điêu khắc và mỹ thuật, vốn liên quan đến các phương diện này trong trải nghiệm của con người. Đó cũng là khi bắt đầu các diễn giải về ngôn ngữ, về những điều trong hiện tại có thể gọi là các trải nghiệm kịch nghệ của ca, thơ, để cho ảnh hưởng mà điều ấy có đối với các hoạt động của các nhóm có thể được mang tới cho người khác.

The entity then was among those that were active in such directions; not as a man (for men then were the greater actors in all these roles) but rather one who assisted in aiding such to become efficient and proficient in such activities. The entity made the designs for what in the present would be termed the costumes, and laid out such experiences.

Thực thể khi ấy ở trong số những người hoạt động theo các hướng như vậy; không phải như nam giới (vì khi ấy đàn ông là những diễn viên chủ yếu trong mọi vai trò) mà đúng hơn là người phụ trợ giúp những điều như thế trở nên hiệu quả và thuần thục. Thực thể thiết kế những gì trong hiện tại sẽ được gọi là y phục, và sắp đặt các trải nghiệm như vậy.

In the present those experiences are manifested in the entity being a judge of such things, an interpreter—to self oft—without giving expression, owing to the fears that arose from the submerging of the entity in the experience. For the material self was submerged, as well as the mental and spiritual, which brought decreasing or distressing experiences in the activities.

Trong hiện tại những trải nghiệm ấy được biểu lộ ở chỗ thực thể là người thẩm định những điều như thế, một người diễn giải—thường là cho chính mình—mà không biểu lộ, do các sợ hãi khởi lên từ sự bị nhấn chìm của thực thể trong trải nghiệm. Vì bản thân vật chất bị nhấn chìm, cũng như phần trí tuệ và tinh thần, điều ấy đã mang đến các trải nghiệm suy giảm hay khốn khó trong các hoạt động.

In the present, though, these make for the abilities of judgments upon actors, or interpreters, or those that would become interested in such activities.

Trong hiện tại, tuy vậy, những điều này tạo nên khả năng phán xét về diễn viên, hay người diễn giải, hay những người sẽ trở nên quan tâm tới các hoạt động như vậy.

These only need fanning, as it were, into that innate within self, to become an experience that may be applied with those in the home building or in the training of those that are developing in mind and body.

Những điều này chỉ cần được “thổi lửa”, như thể thế, vào cái bẩm sinh bên trong, để trở thành một trải nghiệm có thể được áp dụng với những người trong việc xây dựng mái ấm hay đào luyện những người đang phát triển về trí và thân.

The name then was Constance.

Tên khi ấy là Constance.

Before that we find the entity was in that now known as the Egyptian land, during those periods when there were the establishing of the tenets and the teachings of the Priest. It was when there was begun the preparation of those things pertaining to the establishing of what has grown in the present, from heights in other lands, to the medical reaction, the educational reaction in the various fields; the establishing of periods and areas where there were the gatherings of stones, the cutting of stones. And these became a portion of the entity’s activity in that particular experience.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở miền đất nay được gọi là Ai Cập, trong những thời kỳ khi các tín điều và giáo huấn của vị Tư tế được thiết lập. Đó là khi bắt đầu việc chuẩn bị những điều liên quan đến việc thiết lập cái vốn đã phát triển trong hiện tại, từ những đỉnh cao ở các miền đất khác, thành các phản ứng về y học, về giáo dục trong các lĩnh vực khác nhau; việc thiết lập những thời kỳ và khu vực nơi có việc tập kết đá, đục đẽo đá. Và đó trở thành một phần hoạt động của thực thể trong trải nghiệm đặc thù ấy.

The entity was young in years from the earthly viewpoint when it began its service and activity in the Temple Beautiful, growing in its interest in the Temple Dance or the temple activity that interpreted the emotions of individuals in their service before the populace, as well as before those who made for the concentration or consecration of themselves for service in specific directions.

Về tuổi đời theo quan điểm trần thế thì thực thể còn trẻ khi khởi sự phụng sự và hoạt động trong Đền Mỹ Lệ, tăng trưởng sự quan tâm trong Vũ điệu Đền hay hoạt động trong đền vốn diễn giải các cảm xúc của cá nhân trong sự phụng sự trước công chúng, cũng như trước những người dâng mình để phụng sự theo những hướng chuyên biệt.

Later the entity became associated with those who prepared the garments of service in the Temple and in the service among those in high places.

Sau đó thực thể gắn bó với những người chuẩn bị y phục phụng sự trong Đền và trong phụng sự giữa những người ở địa vị cao.

And especially was the entity interested in those that had the settings of the stones, that were known as the emblems of the life of the individuals.

Và đặc biệt là thực thể quan tâm tới những người làm công việc gắn đặt các loại đá, vốn được biết như là các biểu trưng cho đời sống của từng cá nhân.

These were so impressed that in the present we find emblems, symbols, stones, carvings, become as something of an interest to the entity.

Điều này được ấn tượng sâu sắc đến mức trong hiện tại chúng tôi thấy phù hiệu, biểu tượng, đá quý, chạm khắc, trở thành một điều gì đó gây hứng thú cho thực thể.

Throughout that experience, in the name Han-Shu-Put, the entity gained.

Xuyên suốt trải nghiệm ấy, với tên Han-Shu-Put, thực thể đã được lợi ích.

As to the abilities of the entity in the present, then, and that to which it may attain and how:

Về các khả năng của thực thể trong hiện tại, và điều nó có thể đạt và bằng cách nào:

As the activities have been in those fields in which others became imbued with faith and hope in the very actions of the entity, so may the entity in the present use the abilities that have been gained not only in the material things or material expressions in the earth but as related to those things gained through the interims in which the soul growth has found, does find, expression.

Vì các hoạt động đã ở trong những lĩnh vực mà người khác được thấm nhuần đức tin và hy vọng ngay từ hành động của thực thể, nên trong hiện tại thực thể có thể dùng các khả năng đã đạt được không chỉ trong những điều vật chất hay biểu đạt vật chất trên trần mà còn trong mối liên hệ với những điều đạt được qua các khoảng giữa mà trong đó sự tăng trưởng của linh hồn đã và đang tìm thấy biểu lộ.

In these manners may the entity find soul development, harmony in its relationships to its fellow man; increasing its confidence and faith in self as it finds its true relationships to the inner self and to the Creative Forces from without.

Theo những cách thức này thực thể có thể tìm thấy sự phát triển của linh hồn, sự hòa điệu trong các mối liên hệ với đồng loại; gia tăng niềm tin cậy và đức tin nơi bản thân khi nó nhận ra mối liên hệ chân thật của mình với nội ngã và với các Lực Sáng Tạo từ bên ngoài.

These, then, are the activities as we find in the present:

Những điều này, vậy thì, là các hoạt động như chúng tôi thấy ở hiện tại:

Stimulate the minds of those that seek expression in given directions of activity, as those seeking for an experience or a career in certain fields of activity as indicated. As interpreters, entertainers in some directions—the entity may counsel well with such.

Kích thích tâm trí của những người kiếm tìm biểu lộ trong những hướng hoạt động nhất định, như những người kiếm tìm một trải nghiệm hay một sự nghiệp trong các lĩnh vực hoạt động nhất định như đã chỉ ra. Như những người diễn giải, người trình diễn ở một số hướng—thực thể có thể tham vấn tốt với họ.

Then, for giving that which is innately the experience of self—this may be done in writing and interpreting that which may be most helpful to others in the training of the young, and of those in the various ages or stages of their development, for some specific field of activity.

Và rồi, để hiến tặng điều vốn bẩm sinh là trải nghiệm của chính mình—điều này có thể thực hiện qua việc viết và diễn giải những điều có thể hữu ích nhất cho người khác trong việc đào luyện người trẻ, và những người ở các lứa tuổi hay chặng phát triển khác nhau, cho một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nào đó.

For, as will be the experience of the entity:

Vì, như sẽ là trải nghiệm của thực thể:

If you would have life, hope, faith, then give life, hope, faith, to those about you—in every way. For the law is, “As ye sow, so shall ye reap.” If ye would know good, do good to others. If you would know the Father and His love to His creatures, show forth in thy life and in thy relationships to others that love. And in so doing does there come into the heart and mind and soul that awareness of His presence, that has been and is promised to all who seek to know His face.

Nếu ngươi muốn có sự sống, hy vọng, đức tin, thì hãy ban sự sống, hy vọng, đức tin, cho những người quanh ngươi—bằng mọi cách. Vì định luật là, “Gieo gì gặt nấy.” Nếu ngươi muốn biết điều thiện, hãy làm điều thiện cho người khác. Nếu ngươi muốn biết Đức Cha và tình thương của Ngài đối với các thụ tạo của Ngài, hãy bày tỏ trong đời sống và trong các mối liên hệ với người khác tình thương ấy. Và làm như vậy thì trong trái tim, trong trí và trong linh hồn sẽ đến sự nhận biết về Sự Hiện Diện của Ngài, điều đã và đang được hứa cho tất cả những ai tìm biết Tôn Nhan của Ngài.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: What were the relations in the past lives with my present husband, and just how can I be of the greatest help to him now?

H: Những mối liên hệ trong các tiền kiếp với người chồng hiện tại của tôi là gì, và tôi có thể giúp ông ấy nhiều nhất thế nào bây giờ?

A: Rather was the husband the critic of self in its attempts in the Grecian activity. Hence there have been and are at times in the present the periods when the entity becomes rather discouraged at those experiences that arise. Yet in patience and in counseling with the mate in those things where there is the necessity for the husband to stand in judgment upon the efforts of others, in their construction of those things or writings or conditions that are to influence great numbers of people, in this way and manner may those experiences not only become as things that would be “a working out,” as it were, but become more helpful to him in the present relationship.

Đ: Đúng hơn người chồng từng là người phê bình của chính ngươi trong các nỗ lực ở hoạt động Hy Lạp. Bởi vậy đã có và đôi lúc nay vẫn có những thời kỳ khi thực thể trở nên khá nản lòng trước các trải nghiệm phát sinh. Tuy vậy trong nhẫn nại và trong tham vấn với bạn đời về những điều mà ở đó người chồng cần đứng ra phán xét về nỗ lực của người khác, trong việc kiến tạo những điều hoặc bài viết hay các điều kiện sẽ ảnh hưởng đến số đông, theo cách và phương thức này các trải nghiệm không chỉ trở thành những điều sẽ “được xử lý”, như thể, mà còn trở nên hữu ích hơn cho ông ấy trong mối liên hệ hiện tại.

Q: What have been the relations in the past with my son, and how can I be of the greatest help to him?

H: Những mối liên hệ trong quá khứ với con trai tôi là gì, và tôi có thể giúp nó nhiều nhất thế nào?

A: As the son was in the closer relationships during those periods of the first establishing of the activities in this land of the present nativity, in his own experiences, so may the entity in the present lend the greatest aid and help through counsel, and patience. Not in railings, not in finding fault, but rather in the gentle guidance; not as duties only, but as opportunities—pointing out such in the experiences of the son.

Đ: Vì người con từng ở trong mối quan hệ gần gũi hơn trong những thời kỳ đầu thiết lập các hoạt động ở miền đất của sinh quán hiện nay, trong chính trải nghiệm của nó, nên trong hiện tại thực thể có thể đem sự trợ giúp và hỗ trợ lớn nhất qua tham vấn, và nhẫn nại. Không bằng lời quở trách, không bằng bắt lỗi, mà đúng hơn bằng sự hướng dẫn nhẹ nhàng; không như chỉ là bổn phận, mà như là cơ hội—chỉ ra những cơ hội như thế trong trải nghiệm của người con.

Q: What were the relations in the past lives with my daughter, and how can I be of help to her?

H: Những mối liên hệ trong các tiền kiếp với con gái tôi là gì, và tôi có thể giúp nó thế nào?

A: Here we find rather a conflicting influence, from those experiences in the Egyptian activities of the entity. And these made for, then, the necessities for the aids to be the greater in showing dependence and confidence in much that has at times riled self, as to the choices made by the daughter. This should be done not through condoning, but through reasoning and counsel—in which the entity in that experience grew from the various activities. And it may be seen that it is over those very things in which the entity was the most active—in dress and relationships—that the misunderstandings have arisen and do arise at times; over those smaller things.

Đ: Ở đây chúng tôi thấy một ảnh hưởng xung khắc, bắt nguồn từ những trải nghiệm trong các hoạt động ở Ai Cập của thực thể. Và những điều này đã tạo nên, khi ấy, sự cần thiết để các trợ giúp phải lớn hơn trong việc biểu lộ sự nương nhờ và tin cậy nơi nhiều điều đôi lúc làm ngươi bực mình, về những chọn lựa do con gái đưa ra. Điều này nên thực hiện không qua sự dung túng, mà qua lý giải và tham vấn—trong đó thực thể ở trải nghiệm ấy đã lớn lên từ các hoạt động khác nhau. Và có thể thấy rằng chính về những điều mà thực thể đã hoạt động nhiều nhất—về y phục và các mối quan hệ—các hiểu lầm đã nảy sinh và đôi lúc vẫn nảy sinh; về những điều nhỏ nhặt đó.

Patience endureth, if the entity will know even its strength and power.

Sự nhẫn nại sẽ bền bỉ, nếu thực thể biết cả sức mạnh và quyền năng của mình.

Q: Are there any records available now of the entity’s activities in Hartford?

H: Hiện nay có ghi chép nào về các hoạt động của thực thể ở Hartford không?

A: As we find, among the older records of an insurance organization there may be found some of those records of those with whom the entity was very closely associated.

Đ: Như chúng tôi thấy, trong các hồ sơ cũ của một tổ chức bảo hiểm có thể tìm thấy một số ghi chép về những người mà thực thể gắn bó rất gần gũi.

Q: What were the dates of the Grecian period referred to?

H: Niên đại của thời kỳ Hy Lạp được nhắc đến là khi nào?

A: Just preceding what is termed in thy common parlance as the Christian era.

Đ: Ngay trước điều mà theo cách nói thông thường của các ngươi gọi là kỷ nguyên Cơ Đốc.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm kết thúc.

Text of Reading 5328-1 M 21 (Soldier, Overseas, Christian Background)

Toàn văn Lần đọc 5328-1 Nam 21 (Lính, Hải ngoại, Nền tảng Cơ Đốc)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 6th day of July, 1944, in accordance with request made by the self, Mr. [5328], new Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., recommended by Mr. Hugh Lynn Cayce and the book, There Is a River.

Lần đọc Thông Linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hiệp hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 6 tháng Bảy, 1944, theo yêu cầu do chính đương sự, Ông [5328], tân Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng, Inc., được giới thiệu bởi Ông Hugh Lynn Cayce và cuốn sách, There Is a River.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis and Jeanette Fitch, Stenos.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis và Jeanette Fitch, tốc ký viên.

READING

LẦN ĐỌC

Born October 15, 1922, in Harrisburg, Pennsylvania.

Sinh ngày 15 tháng Mười, 1922, tại Harrisburg, Pennsylvania.

Time of Reading Set bet. 3:30 to 4:30 P.M. Eastern War Time...., NY.

Thời gian Lần đọc Ấn định giữa 3:30 đến 4:30 chiều Giờ Chiến tranh miền Đông...., NY.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:

GC: Ngài sẽ cho biết mối liên hệ của thực thể này với vũ trụ, và các lực vũ trụ; đưa ra các điều kiện vốn là phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; đồng thời các lần xuất hiện trước đây ở cõi trần, đưa ra sự phát triển cho thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại, điều y có thể đạt được, và bằng cách nào. Ngài sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu:

EC: Yes, we have the records here of that entity now called [5328].

EC: Vâng, chúng tôi có các ghi chép ở đây về thực thể nay được gọi là [5328].

In giving the interpretations of the records here, there is much to be chosen from, but these we give with the desire and purpose that this may be a helpful experience for the entity, enabling it to better fulfill the purpose for which it entered this present sojourn.

Khi đưa ra diễn giải các ghi chép ở đây, có rất nhiều điều để chọn, nhưng chúng tôi trình bày với ước muốn và mục đích rằng điều này có thể là một trải nghiệm hữu ích cho thực thể, giúp nó hoàn thành tốt hơn mục đích vì đó nó đã bước vào kiếp trú ngụ hiện tại.

As we find, there are many abilities. There are many conditions which would be given, though, as warnings for the entity. For there are some definite and latent urges that may tend to lead the entity into those activities which would become burdensome, troublesome, discouraging to the body.

Như chúng tôi thấy, có nhiều khả năng. Tuy nhiên cũng có nhiều điều sẽ được đưa ra như những cảnh báo cho thực thể. Vì có những xung lực tiềm ẩn và xác định có thể dẫn thực thể vào những hoạt động sẽ trở nên nặng nề, rắc rối, làm nản chí cho thân thể.

Little or nothing that has to do with commercial field for this particular entity. Yet it would make a very good salesman, but those activities of the entity should have to do with things not of a concrete nature. Thus we might find these as urges and interesting experiences for the entity:

Hầu như không có gì liên quan đến lĩnh vực thương mại đối với thực thể đặc thù này. Dẫu vậy y sẽ có thể trở thành một nhân viên bán hàng rất tốt, nhưng các hoạt động của thực thể nên liên quan đến những điều không mang tính cụ thể vật chất. Vậy nên chúng ta có thể thấy những điều này như các xung lực và trải nghiệm đáng quan tâm cho thực thể:

The entity would make a very good doctor or a very good nurse and yet the practical side would become such a drudge that the entity would surely break off into politics, and that would be the end of the individual entity, the individuality.

Thực thể có thể trở thành một bác sĩ rất giỏi hoặc một y tá rất giỏi, nhưng mặt thực hành sẽ trở thành một gánh nặng nô dịch đến mức thực thể chắc chắn sẽ bẻ hướng sang chính trị, và đó sẽ là dấu chấm hết cho thực thể cá nhân, cho cá tính riêng.

Those things which would pertain to writing especially those things that would have to do with metaphysical subjects or the study of the mind. Then, as a reporter or a writer would be the better manner for the entity to develop or train itself, when there are those opportunities or experiences for the entity to prepare itself for its future activities.

Những điều liên quan đến viết lách—đặc biệt là những điều thuộc các chủ đề siêu hình học hoặc nghiên cứu thể trí. Vậy thì, như một ký giả hay một người viết sẽ là cách tốt hơn để thực thể phát triển hoặc rèn luyện chính mình, khi có những cơ hội hay trải nghiệm để thực thể chuẩn bị cho các hoạt động tương lai của mình.

Also the entity is very social-minded and yet should not marry until it is at least twenty-eight to twenty-nine years of age, or thirty-one or thirty-two would even be better, and then someone either born in January, June or October. These will be those activities which would come nearer in keeping with that in which the entity should, could, make the best associations.

Thực thể này cũng rất thiên về xã hội, tuy vậy không nên kết hôn cho đến khi ít nhất hai mươi tám đến hai mươi chín tuổi, hoặc ba mươi mốt hay ba mươi hai thì còn tốt hơn, và khi ấy là với người sinh vào tháng Giêng, tháng Sáu hoặc tháng Mười. Đây sẽ là những hoạt động gần nhất với đường hướng mà trong đó thực thể nên, có thể, tạo lập được những mối giao kết tốt đẹp.

In analyzing, and as to the manner in which we find the urges from astrological aspects: These urges are not as of that termed astrological, but rather because of a consciousness of the entity in those environs indicated in Mercury, with Uranus.

Khi phân tích, và xét về cách thức mà chúng ta tìm ra các xung động từ những phương diện chiêm tinh: Những xung động này không phải thuộc về cái gọi là chiêm tinh, mà đúng hơn là vì một tâm thức của thực thể trong những môi trường được chỉ thị thuộc về Sao Thủy, cùng với Sao Thiên Vương.

Thus we will find the entity at times becoming very extreme and loud in its praise, or in its denunciation, of certain conditions, or of individuals, or of certain types of matters or of things as in concrete activity. Laws, rules, regulations, some of these, too, will come in for the entity’s praise or denunciation. These are, then, problems to be met within the entity’s own experience and its study.

Do đó, đôi lúc chúng ta sẽ thấy thực thể trở nên rất cực đoan và to tiếng khi ngợi khen, hoặc khi công kích, một số hoàn cảnh nhất định, hoặc một số cá nhân, hoặc một số kiểu vấn đề, hay những sự việc thuộc hoạt động cụ thể. Luật pháp, quy định, điều lệ—một vài thứ trong đó—cũng sẽ là những điều được thực thể ngợi khen hoặc công kích. Vậy thì đây là những vấn đề cần được gặp gỡ trong chính kinh nghiệm và sự học hỏi của thực thể.

The entity, then, should study not only statesmanship or political economy but psychology and journalism also. These would be well, at those changes which will be brought about for the entity, in any good southern school; as Washington and Lee, Alabama or Florida.

Thực thể như vậy nên học không chỉ thuật trị quốc hay kinh tế chính trị mà cả tâm lý học và báo chí nữa. Những điều này sẽ tốt, trong những thay đổi sẽ xảy đến cho thực thể, ở bất kỳ trường miền Nam tốt nào; như Washington and Lee, Alabama hoặc Florida.

These are, then, the comparisons needed in the entity’s experience or unfoldment or development. Then if there is the choice for the writing, or for the speaking, or for activities in which there may be combinations of these, we will find the entity fitted for such conditions.

Như thế, đây là những đối chiếu cần thiết trong kinh nghiệm hay trong sự khai mở, phát triển của thực thể. Rồi nếu có lựa chọn về viết lách, hoặc diễn thuyết, hoặc các hoạt động có thể kết hợp những điều này, chúng ta sẽ thấy thực thể thích hợp với những điều kiện như thế.

Do have the experience of being a cub reporter. Do have that experience of writing articles for Sunday supplements as well as scientific magazines.

Hãy có kinh nghiệm làm một phóng viên tập sự. Hãy có trải nghiệm viết bài cho phụ trương Chủ nhật cũng như cho các tạp chí khoa học.

Do study political economy of organizations, as some definite union and as to what their ideals and purposes are.

Hãy học kinh tế chính trị của các tổ chức, như một công đoàn cụ thể nào đó và các lý tưởng, mục đích của họ là gì.

As to the activities in the earth, as we find, while all may not be indicated here, these give a pattern or as to how urges are latent and manifested:

Về các hoạt động ở trần gian, như chúng ta nhận thấy, dẫu không thể chỉ thị hết ở đây, nhưng những điều này cho thấy một mô hình hoặc cho biết các xung động tiềm ẩn và biểu lộ ra sao:

Before this we find the entity was in the land of the present nativity during the early period of settling in the land, and thus in the eras when there were definite conditions, definite provisions, definite activities for groups under certain study; yet these were for freedom; these were for brotherhood; these were for activities which would bring a united effort; and these are latent in the experience of the entity in the present.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở trong xứ sở của kiếp sinh hiện tại vào thời kỳ đầu định cư trên vùng đất này, và như thế là ở những thời kỳ khi có những điều kiện xác quyết, những quy định xác quyết, những hoạt động xác quyết cho các nhóm dưới một số đường hướng học hỏi; tuy nhiên những điều ấy là vì tự do; vì tình huynh đệ; vì những hoạt động sẽ mang lại nỗ lực hợp nhất; và những điều đó hiện đang tiềm ẩn trong kinh nghiệm của thực thể ở hiện tại.

For the entity then was what might have been called a booster for the various groups of young peoples, in much the same manner, yet under quite different names, as would be the head of “4-H” Clubs in the present.

Vì thực thể khi ấy là người có thể được gọi là một người cổ vũ cho các nhóm thanh thiếu niên khác nhau, theo cách khá tương tự, tuy mang những tên gọi khác hẳn, như người đứng đầu các Câu lạc bộ “4-H” ngày nay.

The entity was then in the name Lawrence Vance and quite active in organizing young peoples for definite services in definite group activities through the land. In the experience the entity gained and yet in the activity there came about little grudges of individuals, and these are the weaknesses in the present.

Thực thể khi ấy mang tên Lawrence Vance và khá năng nổ trong việc tổ chức thanh thiếu niên cho các phục vụ xác định trong những hoạt động nhóm xác định khắp vùng đất. Trong kinh nghiệm này thực thể đã đạt được, tuy vậy trong hoạt động đã nảy sinh những mối hiềm khích nhỏ nơi một số cá nhân, và đây là những điểm yếu trong hiện tại.

Don’t let self get over-riled because ye become supersensitive to certain activities in either groups or in organizations, or for individual activities.

Đừng để bản thân quá sôi sục bởi vì ngươi trở nên quá nhạy cảm trước một số hoạt động trong các nhóm hay tổ chức, hoặc trước những hoạt động cá nhân.

Before that we find the entity was in the English land when there were those preparations of individuals for activities in the church.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở trên đất Anh khi có những sự chuẩn bị của các cá nhân cho các hoạt động trong giáo hội.

The entity was among those who were very definite in bringing certain lessons to groups, as to how to study natures of things, nature of individuals through those early periods. A monk, yes, in those activities just before there were those actions for Crusades in the land.

Thực thể ở giữa những người rất xác quyết trong việc mang những bài học nhất định đến với các nhóm, về cách học bản tính của sự vật, bản tính của các cá nhân trong những thời kỳ đầu ấy. Một tu sĩ, đúng vậy, trong các hoạt động ngay trước khi có những cuộc Thập tự chinh trên vùng đất.

Thus the entity as indicated, was at times overzealous of certain positions or subjects. These are indicated in the tenseness or the intense manner in which the entity may take hole of, or as just the opposite, a laggard entirely on certain conditions that do not appeal to the entity.

Do vậy như đã chỉ thị, đôi lúc thực thể quá nhiệt thành với một số vị thế hay chủ đề nào đó. Điều này được chỉ dấu qua sự căng thẳng hoặc cách thức mãnh liệt mà thực thể có thể nắm lấy một vấn đề; hoặc hoàn toàn ngược lại, trở thành kẻ chậm chạp hẳn đối với những điều kiện nhất định không hấp dẫn thực thể.

So, if the entity were ever to enter the commercial field, have somebody look after the business—you can do the selling—but have somebody else take care of the money, you would tend to spend it before you have it. These are not so well for one whose vision is too broad for a commercial experience or life.

Vì vậy, nếu thực thể từng bước vào lĩnh vực thương mại, hãy có người trông coi việc kinh doanh—ngươi có thể làm phần bán hàng—nhưng hãy để người khác giữ tiền, ngươi sẽ có xu hướng tiêu nó trước khi có nó. Những điều này không được tốt lắm đối với người có tầm nhìn quá rộng cho một kinh nghiệm hay một đời sống thương mại.

Before that we find the entity was in the Holy Land in the periods when the Master walked in the earth. The entity was among those who were of the “seventy” who were chosen—not among the “twelve”—but acquainted with and knew of most of the activities. But with announcements or pronouncements, when there was the return, that one must eat of the body, and drink of the blood if they are to know the Lord, like many others the entity went away, but kept in touch with the activities; and with the day of Pentecost, when many were turned, the entity again became one of those associated with organized work. For then the entity understood, when there had been explained how on the night He was betrayed He took bread and broke it saying, “This is my body,” and with the cup, “This is my blood.”

Trước đó nữa chúng tôi thấy thực thể ở Đất Thánh vào thời kỳ khi Đức Thầy bước đi trên trần gian. Thực thể ở trong số những người thuộc “bảy mươi” người được chọn—không ở trong số “mười hai”—nhưng quen biết và biết hầu hết các hoạt động. Tuy nhiên khi có các công bố hay tuyên bố rằng khi có sự trở lại, ai muốn biết về Chúa thì phải ăn thân thể và uống huyết Ngài, giống như nhiều người khác, thực thể rời đi, nhưng vẫn giữ liên hệ với các hoạt động; và vào ngày Lễ Ngũ Tuần, khi nhiều người được hoán cải, thực thể lại trở thành một trong những người gắn bó với công việc có tổ chức. Vì khi ấy thực thể đã hiểu, sau khi được giải thích rằng trong đêm Ngài bị phản bội, Ngài cầm lấy bánh và bẻ ra phán: “Này là thân thể Ta”, và với chén, “Này là huyết Ta.”

For the Christ, as manifested in Jesus, was the first, is the foremost, is the essence of both bread and of wine. For that element which is life-giving physically of bread, or that giveth strength to wine, is the source of life itself. Thus in partaking, one does literally partake of the body and of the blood in that communion.

Vì Đức Christ, như biểu lộ nơi Đức Jesus, đã là Đấng thứ nhất, là Đấng tối thượng, là tinh yếu của cả bánh và rượu. Bởi yếu tố ban sự sống về mặt thể xác của bánh, hoặc yếu tố ban sức cho rượu, chính là nguồn của sự sống tự thân. Do vậy, khi tham dự, người ta thật sự tham dự vào thân và huyết trong sự hiệp lễ ấy.

In these the entity was known as Joseph—not a companion of any of the Disciples—but rather from the land of the Galileans and thus of the Samaritan group. In the experience the entity gained, lost, gained.

Trong những điều này, thực thể được biết đến với tên Joseph—không phải bạn đồng hành của bất kỳ Môn đồ nào—mà là từ xứ Galilê và như thế thuộc nhóm Samari. Trong kinh nghiệm ấy, thực thể được, mất, rồi lại được.

The experience was of the interest in the healing, being able, by the blessing of the Master, to heal physically and mentally; which brought, has brought, still brings that interest in the spiritual side, yet don’t ever attempt to be a preacher, ye failed then, ye would fail again. The activities must be, then, not ever as that which is called too practical; not that ye are not to be practical, but the basis, the spirit of a thing, the purpose of an ideal, rather than the purpose itself or what is done.

Kinh nghiệm ấy liên quan đến sự quan tâm nơi việc chữa lành, có thể—nhờ ơn lành của Đức Thầy—chữa lành về thể xác và trí tuệ; điều này đã mang lại, vẫn mang lại, tiếp tục mang lại sự quan tâm đến phương diện tinh thần; tuy vậy đừng bao giờ cố trở thành một nhà giảng đạo, ngươi đã thất bại khi ấy, ngươi sẽ lại thất bại. Vậy thì các hoạt động không bao giờ được là điều mà người ta gọi là quá thực dụng; không phải là ngươi không được thực tế, mà là nền tảng, tinh thần của một sự việc, mục đích của một lý tưởng, hơn là chính mục đích hay điều được làm.

For ye will never walk very closely in that which is called orthodox way, not even when ye write your first editorials or stories.

Vì ngươi sẽ chẳng bao giờ bước đi thật gần theo cái mà người ta gọi là đường lối chính thống, ngay cả khi ngươi viết những xã luận hay truyện đầu tiên của mình.

Before that we find the entity was in the Egyptian land during those periods when there were those activities in the days of the rebellions. The entity was among those who served close to the young King during this period. So, as the activities were in attempting to keep acquainted with what was going on, (and thus abilities as a reporter, the abilities as a story teller), these would be parts of the entity’s experience through which it passed in keeping “tab” on the various groups to report to the King.

Trước nữa chúng tôi thấy thực thể ở đất Ai Cập trong những thời kỳ có các hoạt động vào thời loạn. Thực thể ở trong số những người hầu cận gần gũi Nhà vua trẻ trong giai đoạn này. Thế nên, vì các hoạt động khi ấy nhằm cố gắng nắm bắt những điều đang xảy ra, (và do đó có các khả năng như một phóng viên, khả năng như một người kể chuyện), đây sẽ là những phần trong kinh nghiệm của thực thể, qua đó thực thể đã đi qua khi “giữ tab” về các nhóm khác nhau để báo cáo cho Nhà vua.

In the name then Ardelentheoue the entity was good, for it could keep its own counsel and yet keep in touch with the various groups without causing dissentions to arise because of the presence of the entity.

Khi ấy mang tên Ardelentheoue, thực thể đã làm tốt, vì có thể giữ kín ý kiến của mình nhưng vẫn giữ liên lạc với các nhóm khác nhau mà không làm nảy sinh bất hòa vì sự hiện diện của thực thể.

As to the abilities, then, that to which it may attain and how, study closer what has been indicated. Do pattern the life and follow in those suggestions if it would find itself, its abilities, its activities and know this: wander not far away from Him, who is the way, the Cross, the light, the life. For in Him must each soul love, move and have its being, indeed.

Về các khả năng, rồi, những điều có thể đạt đến và bằng cách nào, hãy học kỹ hơn những gì đã được chỉ thị. Hãy lập khuôn mẫu cho đời sống và đi theo những gợi ý ấy nếu muốn tìm thấy chính mình, các khả năng của mình, các hoạt động của mình, và biết điều này: đừng lang bạt xa rời Ngài, Đấng là con đường, Thập Giá, ánh sáng, sự sống. Vì trong Ngài, quả thật, mỗi linh hồn phải yêu, phải chuyển động và có hiện hữu của mình.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: In writing, along which particular line should I follow this?

Hỏi: Trong viết lách, tôi nên theo dòng nào cụ thể?

A: As has been indicated, the metaphysical.

Đáp: Như đã chỉ thị, siêu hình học.

Q: What have been my associations in past lives with [...]?

Hỏi: Trong các tiền kiếp, mối liên hệ của tôi với [...] là gì?

A: In two experiences. In the experience before this when you were quite infatuated, but because of the questions which arose between “thee and thou and they” (as there were questions of those activities), ye found a great deal of fault one in the other. Ye are attracted; let this be rather a slow growth, but ye have work to do together; whether as companions will depend upon whether she would wait for thee. Don’t distract yourself by having the care of a family as ye attempt to analyze self and others through the psychology of life itself.

Đáp: Trong hai kinh nghiệm. Trong kinh nghiệm ngay trước khi ngươi đã khá say đắm, nhưng vì những câu hỏi đã nảy sinh giữa “ngươi và ngươi và họ” (khi có những câu hỏi về các hoạt động ấy), các ngươi đã thấy rất nhiều lỗi của nhau. Các ngươi hấp dẫn nhau; hãy để điều này là một sự tăng trưởng chậm rãi, nhưng các ngươi có công việc phải làm cùng nhau; còn có là bạn đời hay không sẽ tùy thuộc vào việc cô ấy có đợi ngươi hay không. Đừng tự phân tán mình bằng việc phải chăm lo cho một gia đình trong khi ngươi cố gắng phân tích bản thân và người khác qua tâm lý của chính đời sống.

Q: If she would wait, would these present urges be the basis for a marriage making possible our highest mental and spiritual development?

Hỏi: Nếu cô ấy đợi, thì những xung động hiện tại này có là nền tảng cho một cuộc hôn nhân giúp khả dĩ đạt được sự phát triển trí tuệ và tinh thần cao nhất của chúng tôi không?

A: She would wait. For ye have experiences to work out, especially before this, and ye worshiped from afar as the monk; wanted to marry and couldn’t, and in those experiences in the Holy Land ye were one. She led you away and led you back.

Đáp: Cô ấy sẽ đợi. Vì các ngươi có những kinh nghiệm cần giải quyết, nhất là trước đó, và ngươi đã thờ phượng từ xa như một tu sĩ; đã muốn kết hôn nhưng không thể, và trong những kinh nghiệm ở Đất Thánh các ngươi là một. Cô ấy dẫn ngươi đi và dẫn ngươi trở lại.

Q: Any other advice on marriage?

Hỏi: Còn lời khuyên nào khác về hôn nhân?

A: As has been given, don’t do this too soon.

Đáp: Như đã nói, đừng làm điều này quá sớm.

Q: Where and in what capacity have I been associated in past lives with the following: My mother, [...]?

Hỏi: Ở đâu và trong vai trò nào tôi đã có liên hệ ở các tiền kiếp với những người sau đây: Mẹ tôi, [...]?

A: In the experience when ye were in the Holy Land. She to whom ye turned oft as one to guide and keep in the right way, but she was of a different faith, as she will be as ye develop in the present, yet remaining true throughout the experience. Ye have much in common, much that ye must interpret for yourself.

Đáp: Trong kinh nghiệm khi ngươi ở Đất Thánh. Người mà ngươi thường quay về như một người dẫn dắt và giữ mình trong đường ngay, nhưng bà ấy thuộc một đức tin khác, như bà ấy sẽ vậy khi ngươi phát triển trong hiện tại, tuy vẫn trung trinh suốt kinh nghiệm. Các ngươi có nhiều điểm chung, nhiều điều ngươi phải tự diễn giải cho mình.

Q: My father, [...]?

Hỏi: Cha tôi, [...]?

A: In the experience in the English land when ye argued quite a bit together.

Đáp: Trong kinh nghiệm ở đất Anh khi các ngươi đã tranh luận với nhau khá nhiều.

Q: My friend, [...]?

Hỏi: Bạn tôi, [...]?

A: In the Egyptian land when you were very good friends and very good enemies.

Đáp: Ở đất Ai Cập khi các ngươi vừa là bạn rất tốt vừa là kẻ thù rất ghê gớm.

Q: [...]?

Hỏi: [...]?

A: In the experience in the Holy Land.

Đáp: Trong kinh nghiệm ở Đất Thánh.

Q: [...]?

Hỏi: [...]?

A: In the activities in Egypt, as well as in the Holy Land.

Đáp: Trong các hoạt động ở Ai Cập, cũng như ở Đất Thánh.

Q: [3605]?

Hỏi: [3605]?

A: In the experience in Egypt.

Đáp: Trong kinh nghiệm ở Ai Cập.

Q: [341]?

Hỏi: [341]?

A: In the Holy Land and in Egypt.

Đáp: Ở Đất Thánh và ở Ai Cập.

Q: Any other advice?

Hỏi: Còn lời khuyên nào khác?

A: Don’t marry too soon! Do go to school again! Do make of yourself a writer!

Đáp: Đừng kết hôn quá sớm! Hãy đi học lại! Hãy biến mình thành một nhà văn!

We are through.

Chúng ta kết thúc.

Text of Reading 5399-2 F 28 (Housewife, Protestant)

Văn bản Lần đọc 5399-2 Nữ 28 (Nội trợ, Tin Lành)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 26th day of August, 1944, in accordance with request made by the self—Mrs. [5399], Associate Member of the Ass’n for Research and Enlightenment, Inc.

Lần đọc Thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hiệp hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Virginia, ngày 26 tháng Tám, 1944, theo yêu cầu của đương sự—Bà [5399], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu và Khai Sáng, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Jeanette Fitch, Stenos.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Jeanette Fitch, Tốc ký viên.

READING

LẦN ĐỌC

Born May 23, 1915, in Raton, New Mexico.

Sinh ngày 23 tháng 5, 1915, tại Raton, New Mexico.

Time of Reading Set bet. 10:30 to 11:30 A.M. Eastern War

Thời điểm thực hiện Lần đọc: khoảng 10:30 đến 11:30 sáng, Giờ Chiến tranh miền Đông...., Utah.

Time...., Utah.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them.

GC: Ông sẽ cho biết mối liên hệ của thực thể này với vũ trụ, và các lực phổ quát; cho biết những điều kiện vốn là phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như những lần xuất hiện trước đây trên cõi trần, cho biết thời gian, địa điểm và tên gọi, và những gì trong mỗi đời đã xây dựng hoặc kìm hãm sự phát triển cho thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại, điều có thể đạt đến, và bằng cách nào. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu ra.

EC: Yes, we have the record here of the entity now known as or called: [5399].

EC: Vâng, chúng tôi có hồ sơ ở đây về thực thể hiện được biết đến hay gọi là: [5399].

In giving an interpretation of the relationships of this entity with the universe and universal forces, much is to be taken into consideration if those suggestions indicated would be applicable in the experience of this entity. In analyzing same from the urges which arise from the astrological as well as earthly sojourn, we find these apparent:

Khi đưa ra diễn giải về các mối liên hệ của thực thể này với vũ trụ và các lực phổ quát, cần phải cân nhắc nhiều điều nếu các gợi ý đã chỉ thị có thể áp dụng vào kinh nghiệm của thực thể này. Khi phân tích chúng từ các xung động khởi lên do hành trình chiêm tinh cũng như hành trình trần thế, chúng tôi thấy những điều hiển nhiên sau:

The entity is very easily persuaded by others. Thus, the first admonition would be: know in yourself what ye believe. Do have an ideal, spiritually, mentally, materially. Do consider what manner of individual the entity should be as in relationship to the wedded life—as to the home—as to relationships with others. The ideal—not just ideas. The ideals must be drawn from the spiritual concept, and remember, the mind or the mental application is the builder.

Thực thể rất dễ bị người khác thuyết phục. Do đó, lời khuyên đầu tiên sẽ là: hãy tự biết mình tin gì. Hãy có một lý tưởng, về mặt tinh thần, trí tuệ, vật chất. Hãy cân nhắc thực thể nên là mẫu người như thế nào trong mối liên hệ với đời sống hôn nhân—với mái ấm—với các mối quan hệ với người khác. Lý tưởng—chứ không chỉ là các ý tưởng. Lý tưởng phải được rút ra từ quan niệm tinh thần, và hãy nhớ, thể trí hay sự vận dụng trí tuệ là kẻ xây dựng.

There are those tendencies for the dramatic, and thus stage, or the like, appeals to the entity. This is not an adverse influence, but must be applied in the light of ideals as to be a constructive experience, rather than just feeding the ego of the individual. Thus, the entity will make a very good director, as in any social welfare work, or as a part of a program for social service for underprivileged children, or as on a school board, where all forms of activity which are to be constructive in the life of unfolding or developing bodies and minds are to be considered. These, then, are such as should be the choice that the entity would make as to the use of its abilities.

Có những khuynh hướng về tính kịch, và vì thế sân khấu, hay tương tự, hấp dẫn thực thể. Đây không phải là ảnh hưởng bất lợi, nhưng phải được áp dụng trong ánh sáng của lý tưởng để trở thành một kinh nghiệm mang tính xây dựng, hơn là chỉ nuôi cái tôi của cá nhân. Vì vậy, thực thể sẽ là một đạo diễn rất tốt, như trong bất kỳ công tác phúc lợi xã hội nào, hoặc như một phần của chương trình dịch vụ xã hội cho trẻ em kém may mắn, hoặc trong một hội đồng nhà trường, nơi mọi hình thức hoạt động mang tính xây dựng cho đời sống của các thân thể và khối óc đang khai mở hay phát triển đều được cân nhắc. Đây là những điều nên là lựa chọn mà thực thể sẽ thực hiện về việc sử dụng các khả năng của mình.

Astrologically, we find Mercury, Jupiter, Venus as the urges, and thus the dramatical; thus the beneficial influences are as the nature of the entity.

Về mặt chiêm tinh, chúng tôi thấy Sao Thủy, Sao Mộc, Sao Kim là các xung lực thôi thúc, và vì thế tính kịch; và như vậy các ảnh hưởng lợi ích là bản chất của thực thể.

Jupiter and Venus indicate the egotism, the beauty, music, people, things and association as being parts of the consciousness, and thus, as we find, as indicated, first do find thine own self, its relationship to Creative Forces, or God, and the ideal manner in which this is to be acted upon in the experience, by prayer, by meditation, knowing the variations in same, analyzing self and knowing the variation between the personality of self and the individuality of self. One will find through such analyses the manner in which the abilities which are apparent and manifest in this entity may be applied in a constructive way and manner.

Sao Mộc và Sao Kim chỉ ra tính vị ngã, cái đẹp, âm nhạc, con người, sự vật và các mối giao kết như là thành phần của tâm thức, và vì vậy, như chúng tôi nhận thấy, như đã chỉ thị, trước hết hãy tìm chính bản thân, mối liên hệ của bản thân với các Lực Sáng Tạo, tức Thượng đế, và cách thức lý tưởng mà điều này sẽ được thể hiện trong kinh nghiệm, bằng cầu nguyện, bằng tham thiền, nhận biết những sai khác trong các điều đó, phân tích bản thân và biết sự khác biệt giữa phàm ngã của mình và tính cá thể của mình. Người ta sẽ tìm thấy qua những phân tích như vậy cách thức mà các khả năng đang hiển lộ và biểu hiện nơi thực thể này có thể được áp dụng theo cách và lối xây dựng.

As to the appearances in the earth, while all may not be indicated, these indicate the pattern through which that which appears in the present has become a part of the conscious and unconscious self in the present activity.

Về những lần xuất hiện ở cõi trần, dẫu không thể nêu hết, những điều này chỉ ra mô hình qua đó những gì đang hiện ra trong hiện tại đã trở thành một phần của tự ngã ý thức và vô thức trong hoạt động hiện thời.

As in the appearance before this, we find the entity among those who were of those groups in those experience when there were the ideas of gold rush in the West. The entity was among those who, with others, started toward same.

Như trong lần xuất hiện ngay trước đây, chúng tôi thấy thực thể ở giữa những nhóm người trong những kinh nghiệm khi có các ý tưởng của cơn sốt vàng ở miền Tây. Thực thể ở giữa những người đã cùng với những người khác khởi hành hướng đến đó.

Thus, there will be a change of scenes, a looking for ideals that will enhance the material welfare. Thus, it will be very well for the entity never to undertake games of chance, yet investments that are well thought out, in analyzing of same by self, may be means of the entity, in years to come, having material gains in the earth. Investments, then, not of that as of questionable nature.

Vì vậy, sẽ có sự thay đổi cảnh huống, một việc tìm kiếm các lý tưởng nhằm nâng cao phúc lợi vật chất. Do đó, sẽ rất tốt cho thực thể là không bao giờ tham gia các trò may rủi, tuy nhiên những khoản đầu tư được suy xét kỹ, do tự mình phân tích, có thể là phương tiện để thực thể, trong những năm sau, có được lợi lộc vật chất ở trần gian. Vậy thì đầu tư, chứ không phải những gì thuộc bản chất đáng ngờ.

In the activity, the entity gained—the entity lost—and from there rises the warnings.

Trong hoạt động ấy, thực thể được—thực thể mất—và từ đó dấy lên những lời cảnh báo.

The name then was Stella Smythe.

Khi ấy mang tên Stella Smythe.

Before that we find the entity was in the activities in the land now known as the French land, during those periods when there were the activities for an idea—for an ideal—or in those periods when wars were made because of the possession of the holy Land by individuals who proclaimed another as a prophet. The entity, then, in the opposite sex, was one of those who made hardships for those of its own household by the activities as to prevent conditions which were questioned by the entity in relationships to others. Thus the conditions which make for questioning the self rather than the universal consciousness, and the warnings, as has been indicated.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể trong các hoạt động ở xứ sở nay gọi là nước Pháp, vào những thời kỳ có các hoạt động vì một ý tưởng—vì một lý tưởng—hay vào những thời kỳ chiến tranh được tiến hành vì quyền chiếm hữu Đất Thánh bởi các cá nhân tuyên xưng một vị khác là tiên tri. Thực thể khi ấy, thuộc giới tính đối nghịch, là một trong những người đã làm cho những người trong chính gia đình phải chịu khổ sở bởi các hoạt động nhằm ngăn chặn những điều kiện bị thực thể đặt câu hỏi trong các mối quan hệ với người khác. Bởi vậy là những điều kiện khiến tự vấn bản thân hơn là tâm thức phổ quát, và là những lời cảnh báo, như đã chỉ thị.

In the Name Rene Marselle, the entity gained by the hard way. Thus, the admonition to first find self, and self’s relationship to Creative Forces, or God. And do something about same!

Với tên Rene Marselle, thực thể đã đạt được theo con đường gian nan. Do vậy, lời khuyên: trước hết, hãy tìm bản thân, và mối liên hệ của bản thân với các Lực Sáng Tạo, tức Thượng đế. Và hãy làm điều gì đó đối với điều ấy!

Before that we find the entity was in the Holy Land during those periods when there were the journeyings from the Egyptian land to the Promised land. The entity, then, was among those who were of the household of the children of Levi, and thus the entity was a mother to one of those who became as a Priest to those peoples. This brings into the consciousness of the entity a form of ideas and ideals that are too oft set by ritual rather than the spirit of the purpose. Yet, under those influences, as indicated, if the ideas are chosen, greater strength may be part of the experience in this sojourn.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở Đất Thánh trong những thời kỳ có những cuộc hành trình từ xứ Ai Cập đến Đất Hứa. Thực thể khi ấy ở trong số những người thuộc gia tộc con cháu Levi, và như thế thực thể là mẹ của một người sau này trở thành một Tư tế cho dân chúng. Điều này mang vào tâm thức của thực thể một hình thức ý tưởng và lý tưởng quá thường bị ấn định bởi nghi lễ hơn là bởi tinh thần của mục đích. Tuy nhiên, dưới những ảnh hưởng như đã chỉ thị, nếu các ý tưởng được chọn lựa, sức mạnh lớn hơn có thể là phần của kinh nghiệm trong kiếp cư ngụ này.

The name, then, was Jalebd.

Khi ấy, tên là Jalebd.

Before that we find the entity was in the Egyptian Land where there were those preparations of individuals for activities through the Temple of Sacrifice, as well as the Temple Beautiful, for the propagation or for the changing of activities of individuals born into the earth through the tempering of individuals’ activities in the Temple of Sacrifice and the training in the Temple Beautiful.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở Đất Ai Cập, nơi có những sự chuẩn bị cho các cá nhân cho các hoạt động qua Đền Hiến Tế cũng như Đền Mỹ Lệ, để truyền sinh hay để thay đổi các hoạt động của những người sinh vào cõi trần—thông qua việc tôi luyện các hoạt động của cá nhân trong Đền Hiến Tế và sự huấn luyện trong Đền Mỹ Lệ.

The entity was among those who were chosen for the establishing of a home, with the departure of the Priest, in those experiences when such activities came about.

Thực thể ở giữa những người được chọn để lập một mái ấm, cùng với sự ra đi của vị Tư tế, trong những kinh nghiệm khi những hoạt động như vậy diễn ra.

The name then was Is-tabel.

Khi ấy tên là Is-tabel.

As to the abilities, these have been indicated. As to the manner of application, first, find self. Do know the ideal. Do apply same mentally, yes, but know the ideal spiritual, for from the spiritual purposes must rise that which may be manifested in the material experience of the individual.

Về các khả năng, những điều này đã được chỉ thị. Về cách thức ứng dụng, đầu tiên, hãy tìm bản thân. Hãy biết lý tưởng. Hãy áp dụng điều ấy về mặt trí tuệ, đúng vậy, nhưng hãy biết lý tưởng thuộc tinh thần, vì từ những mục đích tinh thần phải trỗi dậy điều có thể được biểu hiện trong kinh nghiệm vật chất của cá nhân.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: Should I try to accomplish anything in art?

Hỏi: Tôi có nên cố gắng đạt được điều gì trong nghệ thuật không?

A: In the art of drawing others, more than that as of higher art, yes.

Đáp: Trong nghệ thuật lôi cuốn người khác, hơn là nghệ thuật hàn lâm cao, có.

Q: Have I ever caught glimpses of past lives, or are these things more dreams and fancy?

Hỏi: Tôi đã từng thoáng thấy những tiền kiếp, hay những thứ đó nhiều hơn là mộng và hư tưởng?

A: The entity has caught glimpses of past lives when it has gone out of itself or has allowed the energies of the kundaline force to pass along the centers of the body. Beware, unless ye are well-balanced in purposes, for there is one way. Those who climb up some other way-remember what the Master gave.

Đáp: Thực thể đã thoáng thấy các tiền kiếp khi rời khỏi chính mình hoặc đã cho phép các năng lượng của lực kundalini đi dọc các trung tâm của thân. Hãy coi chừng, trừ khi ngươi cân bằng tốt trong các mục đích, vì chỉ có một con đường. Ai trèo lên bằng lối nào khác—hãy nhớ điều Đức Thầy đã dạy.

Q: How have I been associated in the past with my husband, [...]?

Hỏi: Tôi đã có mối liên hệ trong quá khứ ra sao với chồng tôi, [...]?

A: In the experience in the Holy Land the entity who is the husband now was a Priest of Israel in his activities.

Đáp: Trong kinh nghiệm ở Đất Thánh, thực thể là người chồng bây giờ đã là một Tư tế của Israel trong các hoạt động của ông ấy.

Q: Am I justified in feeling that we shouldn’t live in the same town with my husband’s mother?

Hỏi: Tôi có chính đáng khi cảm thấy rằng chúng tôi không nên sống cùng thị trấn với mẹ chồng tôi không?

A: These should never be the attempt of justification, save by faith. Is the justifying being kept in accord with that which has been given as the “fruit of the spirit”? Is it being kind? Because of those conditions which arose, do to others as ye would be done by, for the Law of the Lord is perfect. It converteth the soul.

Đáp: Những điều này không bao giờ nên là sự cố gắng tìm kiếm biện minh, trừ bởi đức tin. Sự biện minh có được giữ phù hợp với điều đã nêu như “hoa trái của Thánh Linh” không? Nó có đang là nhân hậu không? Vì những điều kiện đã nảy sinh, hãy làm cho người khác như ngươi muốn người khác làm cho ngươi, vì Luật của Chúa là trọn hảo. Luật ấy hoán cải linh hồn.

We are through with this reading.

Chúng ta kết thúc lần đọc này.

Text of Reading 1938-2 F 78

Văn bản Lần đọc 1938-2 Nữ 78

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 29th day of June, 1939, in accordance with request made by the self—Mrs. [1938], Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Lần đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông ở Arctic Crescent, Virginia Beach, Virginia, ngày 29 tháng Sáu, 1939, theo yêu cầu của đương sự—Bà [1938], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký viên.

READING

LẦN ĐỌC

Born June 7, 1861, in Brooklyn, N.Y.

Sinh ngày 7 tháng 6, 1861, tại Brooklyn, N.Y.

Time of Reading 3:30 to 4:15 P.M. Eastern Standard Time..... N.Y.

Thời điểm thực hiện Lần đọc 3:30 đến 4:15 chiều, Giờ Chuẩn miền Đông..... N.Y.

GC: You will give the relation of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity and that to which it may attain, and how. You will answer the questions she has submitted, as I ask them:

GC: Ông sẽ cho biết mối liên hệ của thực thể này với vũ trụ, và các lực phổ quát; cho biết những điều kiện vốn là phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như những lần xuất hiện trước đây trên cõi trần, cho biết thời gian, địa điểm và tên gọi, và những gì trong mỗi đời đã xây dựng hoặc kìm hãm sự phát triển cho thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại và điều có thể đạt đến, và bằng cách nào. Ông sẽ trả lời các câu hỏi bà ấy đã gửi, khi tôi nêu:

EC: (In going back over years from present—“—’36—’35—’34—years of anxiety—’33—’30—satisfaction—’29—’23—different periods—’22—’84—yes, unusual year—’83—” etc., on back to birth date.)

EC: (Khi lần về các năm từ hiện tại—“—’36—’35—’34—những năm đầy âu lo—’33—’30—mãn nguyện—’29—’23—các giai đoạn khác nhau—’22—’84—vâng, năm khác thường—’83—” v.v., lần lùi về đến năm sinh.)

Yes, we have the records here (far spent) of that entity now known as or called [1938].

Vâng, chúng tôi có các hồ sơ ở đây (đã muộn) của thực thể hiện được biết đến hay gọi là [1938].

In giving the interpretations of these records—these are being chosen with the desire that the experience may be a helpful one in every way.

Khi đưa ra các diễn giải về những hồ sơ này—chúng được lựa chọn với ước muốn rằng kinh nghiệm có thể hữu ích cho thực thể theo mọi phương diện.

There may be those considerations of the virtues, the vices; that, applying the rules and regulations as should be the part of everyone’s experience, there may come to the entity an appreciation and a realization of the purposes for which each soul enters a material experience.

Người ta có thể cân nhắc các đức hạnh, các thói xấu; để, khi áp dụng các luật lệ và quy định, như lẽ ra nên là phần trong kinh nghiệm của mỗi người, thực thể có thể đi đến chỗ trân trọng và nhận biết mục đích vì đó mỗi linh hồn bước vào một kinh nghiệm vật chất.

God hath not willed that any soul should perish; hence He has given and does constantly give the opportunity for each soul’s manifestation through the material plane, that there may come the greater activities in the affairs of each soul or entity to become more aware, and to apply self in that which is the justification by faith through the manner that has been shown for each individual for his or her own consideration, as to what will or will not be done respecting same.

Thượng đế không hề muốn linh hồn nào phải diệt vong; vì thế Ngài đã ban và liên miên ban cho mỗi linh hồn cơ hội biểu hiện qua bình diện vật chất, để có thể đến với các hoạt động lớn lao hơn trong công cuộc của mỗi linh hồn hay thực thể nhằm trở nên nhận biết hơn, và để áp dụng bản thân trong điều là sự được xưng công chính bởi đức tin thông qua phương cách đã được chỉ bày cho từng cá nhân nam hay nữ cho chính sự cân nhắc của họ, rằng sẽ làm hay sẽ không làm điều gì liên quan đến điều ấy.

Hence we find, as for the experiences of this entity in the material sojourn as well as the sojourn without the material plane—the urges remain as latent activities to be applied in such a way and manner as to be a light or guide unto the many in thy dealings with thy fellow man.

Vì thế chúng tôi thấy, đối với những kinh nghiệm của thực thể này trong thời gian cư ngụ vật chất cũng như thời gian không cư ngụ vật chất—các xung động vẫn lưu lại như những hoạt động tiềm ẩn để được áp dụng theo một cách và lối sao cho trở thành ánh sáng hay kim chỉ nam cho nhiều người trong cách ngươi giao đãi với đồng loại.

In the astrological aspects for this entity we find a great deal of misconception in the minds of many, yet to the entity these may be comprehended if there is the application of self in those manners in which the seeking of the soul may come to know and search for that which is the creative influence in the experiences from day to day.

Trong các phương diện chiêm tinh dành cho thực thể này, chúng tôi thấy có rất nhiều điều bị ngộ nhận trong tâm trí của nhiều người, tuy nhiên với thực thể, các điều này có thể được thấu triệt nếu có sự áp dụng bản thân theo những cách thức mà trong đó sự kiếm tìm của linh hồn có thể đi đến chỗ biết và tìm kiếm điều là ảnh hưởng sáng tạo trong các kinh nghiệm từ ngày qua ngày.

The urges latent, but without respect to what the application has been or may be, are and may be a great part of that through which the entity may gain, and find in the gaining greater contentment, a greater channel for activity.

Các xung động tiềm ẩn, nhưng không kể đến việc đã hoặc sẽ áp dụng ra sao, đang là và có thể là một phần lớn của điều qua đó thực thể có thể đạt được, và trong sự đạt được ấy tìm thấy sự mãn nguyện lớn hơn, một kênh hoạt động rộng lớn hơn.

Music and musical talents are a natural part of the entity; the ability for the appreciation of same, and especially that of the pastoral nature-yet that deals with or tells its own story in the very air of same.

Âm nhạc và các tài năng âm nhạc là một phần tự nhiên nơi thực thể; năng lực thẩm âm đối với nó, và nhất là loại âm nhạc mang sắc thái mục đồng—và loại thuật lại chính câu chuyện của mình trong chính bầu khí của nó.

In the effect of the planetary forces we find Venus, Jupiter, Mercury, Saturn as the ruling forces. Hence the musical influence, as well as the love and the love of companionship, love of associations with others that have or manifest a helpful air; as well as those abilities within self to experience the variations as indicated through the Jupiterian forces of the working force about or of many individuals.

Về hiệu ứng của các lực hành tinh, chúng tôi thấy Sao Kim, Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Thổ là các lực cai quản. Do đó có ảnh hưởng âm nhạc, cũng như Tình thương và tình yêu bạn lữ, tình yêu đối giao với những người khác đang có hoặc đang toát ra một bầu khí hữu ích; cũng như những năng lực trong tự thân để trải nghiệm các biến thiên như được chỉ thị qua các lực của Sao Mộc vận hành quanh hay giữa nhiều cá nhân.

Thus we find also changes that have and do become a part of the experience.

Vì vậy, chúng tôi cũng thấy những thay đổi trở thành và đang trở thành một phần của kinh nghiệm.

“Seek and ye shall find” may be said to many, and yet much more to this entity than to the many. For the appearances as well as the urges from the astrological sojourn bear the relationships one to another as do the dimes to the monetary unit or dollars.

“Kiếm tìm thì sẽ gặp” có thể nói với nhiều người, và còn đúng với thực thể này hơn với nhiều người khác. Bởi những lần xuất hiện cũng như những xung động từ các hành trình chiêm tinh mang tương quan với nhau như đồng mười xu đối với đơn vị tiền tệ là đồng đô la.

Not that the entity is inclined to become jealous of those because of their association or position, yet there is a constant searching within self for those influences that will bring all of those activities that have been indicated to the consciousness of the entity.

Không phải thực thể có xu hướng ganh tị với người khác vì sự giao kết hay vị thế của họ, nhưng có một sự kiếm tìm không ngừng trong tự thân các ảnh hưởng sẽ mang tất cả những hoạt động đã được chỉ thị ấy vào tâm thức của thực thể.

These while having failed often, we find that they will become more and more a part of the entity in its daily experience.

Dẫu đã thường thất bại, chúng tôi thấy chúng sẽ ngày càng trở thành một phần của thực thể trong kinh nghiệm hằng ngày của mình.

As to the appearances of the entity in the earth’s plane—these are not all given, but these that have a particular influence in the present because of their influence being oft seen by the indomitable will of the entity to succeed in whatever it undertakes; not by might nor by power but by every word that proceedeth—should be as a part of that which is held constantly before self.

Về những lần xuất hiện của thực thể trên cõi trần—không thể liệt kê hết, mà là những lần có ảnh hưởng đặc biệt trong hiện tại, bởi ảnh hưởng của chúng thường được thấy qua ý chí bất khuất của thực thể muốn thành công trong bất cứ điều gì y đảm đương; không phải bởi sức mạnh hay quyền lực mà bởi mọi Lời phát ra—điều này nên là một phần của điều được giữ trước mắt mình không ngừng.

The appearances indicate much of those variations that have been a part of the experience, as well as the variation of abilities in which the entity may accomplish or carry forward in such a manner as not to become stalemated or in such a position that the appearances—at least-are not so variegated to the ideas or manners of others.

Những lần xuất hiện cho thấy nhiều biến thiên đã là một phần của kinh nghiệm, cũng như các biến thiên về khả năng mà trong đó thực thể có thể hoàn thành hay tiếp tục theo cách không bị bế tắc, hoặc không rơi vào vị thế mà những biểu hiện—ít nhất—không quá muôn màu so với ý niệm hay lối nghĩ của người khác.

Before this, then, we find the entity was in the land of the present nativity, during those periods when there was the reconstruction from the activities of what is called at times the American Revolution, or American rebellion.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở trên đất của kiếp sinh hiện tại, vào những thời kỳ tái thiết sau các hoạt động của điều đôi khi được gọi là Cách mạng Hoa Kỳ, hay cuộc nổi dậy Hoa Kỳ.

Yet we find the entity was among those of that period in which there were the considerations of accomplishments and activities of individuals that would enable or fit them for a social as well as an economic service within the experiences of those about the entity.

Tuy vậy, chúng tôi thấy thực thể ở giữa những người của giai đoạn mà ở đó có các cân nhắc về thành tựu và hoạt động của các cá nhân nhằm giúp họ có thể hay xứng hợp cho một sự phục vụ xã hội cũng như kinh tế trong các kinh nghiệm của những người quanh thực thể.

There again we find the entity was much in that position of an understanding pertaining to the study and application of a musical nature or trend.

Ở đó, một lần nữa, chúng tôi thấy thực thể ở vị thế khá liên quan đến việc học hỏi và áp dụng thuộc bản chất hay khuynh hướng âm nhạc.

Then in the name Marguerite Street, the entity gained, the entity lost. The entity gained in application in which there was the use of those means for raising the hopes, the desires and purposes to the beautiful associations and surroundings and environs—not only for self but making same aware in the experiences of others. When those were turned into those channels for self-indulgence or self-aggrandizement, they were brought not only disturbing forces eventually but the necessity of meeting self in those activities in its associations with others in the present.

Khi ấy, mang tên Marguerite Street, thực thể được, thực thể mất. Thực thể được khi áp dụng những phương tiện để nâng cao hy vọng, ước muốn và mục đích hướng về những giao kết, hoàn cảnh và môi trường tốt đẹp—không chỉ cho bản thân mà còn khiến những điều ấy hiển lộ trong kinh nghiệm của người khác. Khi những điều ấy chuyển vào các kênh nuông chiều bản thân hay tự tôn vinh, cuối cùng chúng không chỉ mang lại những lực làm xáo trộn mà còn tạo ra nhu cầu phải đối diện với chính mình trong những hoạt động liên hệ với người khác ở hiện tại.

Before that we find the entity was in the land now known as the Promised land, during those periods when there was much expectancy, much preparation on the part of those who were looking forward to the redeeming of the peoples from not only the bondage of the Roman rule but the misconception and misapplication of the laws of individuals or peoples who professed to be in the way of the chosen people.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở xứ nay gọi là Đất Hứa, vào những thời kỳ có nhiều trông đợi, nhiều sự chuẩn bị nơi những người đang trông mong sự cứu chuộc dân chúng khỏi không chỉ ách đô hộ của La Mã mà còn khỏi những ngộ nhận và lạm dụng các luật lệ của các cá nhân hay các dân vốn tự xưng đang ở trên đường của dân được chọn.

The entity was among those who were the musicians in the temple where Anna and Simeon saw the consecration of the one Lord, the one Master.

Thực thể ở giữa những người nhạc công trong đền, nơi Anna và Simeon chứng kiến nghi lễ hiến dâng Đấng Chúa duy nhất, Đấng Thầy duy nhất.

Then the entity was a harpist, or what would be called a harp today.

Thực thể khi ấy là một người chơi đàn hạc, hay điều mà hôm nay sẽ được gọi là đàn hạc.

Hence all manner of stringed instruments are of interest, and especially that character or nature of music that depicts the activities of individuals through those various periods in that particular activity—or that as may be a part of the experience of individuals in the present; not only that which is of the pictorial and pastoral nature but descriptive in its nature.

Bởi thế, mọi loại nhạc cụ dây đều đáng quan tâm, và nhất là loại âm nhạc mô tả các hoạt động của con người qua những thời kỳ khác nhau trong hoạt động đặc thù đó—hoặc điều có thể là một phần kinh nghiệm của con người trong hiện tại; không chỉ loại mang tính họa miêu tả cảnh vật và mục đồng mà còn mang tính mô tả trong tự tánh của nó.

And to encourage, and to bring into the consciousness of the young, and those of all ages whom the entity may meet and with whom the entity may have an influence, an appreciation of such—is the greater service in which the entity may expend itself.

Và để khích lệ, và để mang vào tâm thức của người trẻ, và của mọi lứa tuổi mà thực thể có thể gặp và có ảnh hưởng, một sự trân trọng đối với những điều như vậy—ấy là sự phục vụ lớn lao hơn trong đó thực thể có thể hiến mình.

For this is the manner—music—in which distances may be spanned, in which all realms of thought may find a greater outlet of expression, and in which the heart may be raised to a comprehension of the relationships. For, as is oft expressed, the angels seeing [sing]—and the music of the spheres, as in color and relationship—this becomes the means or manner that is universal in its activity upon the minds and souls of men.

Vì đó là phương cách—âm nhạc—nhờ đó khoảng cách có thể được bắc cầu, nhờ đó mọi cõi tư tưởng có thể tìm được lối biểu đạt lớn hơn, và nhờ đó con tim có thể được nâng lên để thấu triệt các mối tương quan. Vì, như thường được nói, các thiên thần ca [hát]—và âm nhạc của các thiên cầu, như trong màu sắc và các tương quan—điều này trở thành phương tiện hay cách thức mang tính phổ quát trong tác động của nó lên tâm trí và linh hồn của loài người.

The name then was Sathamantha. In the experience the entity gained throughout.

Khi ấy tên là Sathamantha. Trong kinh nghiệm này, thực thể được trọn vẹn.

Hence in the present periods the greater need for manifesting and expressing that as may bring the greater influence for good in the experience of this entity.

Do đó, trong các thời kỳ hiện tại, càng cần thiết hơn để biểu lộ và diễn đạt điều có thể mang đến ảnh hưởng lớn lao cho điều thiện trong kinh nghiệm của thực thể.

Before that we find the entity was in the land now known as the Mongoloid land, during those periods of activities when there were the attempts of the many nations, or peoples of many lands, to correlate the influences that prompted greater brotherly relationships in the experience of man—or that as may be said to be the paralleling of the experience in Egypt, in India, in Carpathia, in parts of On and Og, or the periods in the Himalayas, the Yucatan, the Andes and the Pyrenees. For there were the periods then when there was the attempt for peace to be wrought in the experience of man.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở xứ nay gọi là vùng đất Mông Cổ, trong những thời kỳ hoạt động khi có nỗ lực của nhiều dân tộc, hay dân của nhiều miền, nhằm điều hòa những ảnh hưởng thúc đẩy mối tương quan huynh đệ sâu rộng hơn trong kinh nghiệm của con người—hay điều có thể nói là song hành với các kinh nghiệm ở Ai Cập, Ấn Độ, Carpathia, ở các phần của On và Og, hay các thời kỳ ở dãy Himalaya, Yucatán, Andes và Pyrenees. Vì đó là những thời kỳ khi có nỗ lực để kiến tạo hòa bình trong kinh nghiệm của con người.

The entity was in the City of Gold, and among those who were high in the affairs and activities of the sun worshipers of gold—a princess, and thus making for influences in which there was the establishing of what was to be the manner of conduct of peoples of certain rank or station.

Thực thể ở Thành phố Vàng, và ở giữa những người có vị thế cao trong quốc sự và hoạt động của những người thờ mặt trời, tôn sùng vàng—là một công chúa, và như thế tạo nên những ảnh hưởng trong việc thiết lập điều sẽ là lề lối cư xử của những người thuộc một đẳng cấp hay địa vị nhất định.

Hence we find the innate forces in which there is the love of the family tree, the relationships of the genealogy of groups or individuals, innate within the experience.

Vì vậy, chúng tôi thấy những lực bẩm sinh nơi đó có tình yêu đối với gia phả, các mối liên hệ dòng tộc của các nhóm hay cá nhân, vốn bẩm sinh trong kinh nghiệm.

This is well—but remember, God looketh not on the outward appearance but rather upon the heart and the purpose and desire of each soul.

Điều này là tốt—nhưng hãy nhớ, Thượng đế chẳng nhìn bề ngoài mà nhìn vào tấm lòng và mục đích, ước muốn của mỗi linh hồn.

And He hath not willed that any should perish, but has set that manner of overcoming within thine own hands—if ye do good it is well; if ye do evil, sin lieth at thy door—or if ye think more highly of thyself than ye ought to think.

Và Ngài không muốn ai diệt vong, nhưng đã đặt phương cách vượt thắng vào trong chính tay ngươi—nếu ngươi làm điều thiện thì tốt; nếu ngươi làm điều ác, tội lỗi rình rập ngay trước cửa ngươi—hoặc nếu ngươi nghĩ về mình cao hơn mức ngươi nên nghĩ.

The experience brought disturbance—for such activities were in opposition to many of those tenets of the peoples from Atlantis as well as Egypt and the East Indian land—for those were impelling forces that brought the periods of the first disintegration in that land.

Trải nghiệm ấy đã mang đến xáo động—vì những hoạt động như thế đối nghịch với nhiều tín điều của các dân từ Atlantis cũng như Ai Cập và xứ Ấn Độ phương Đông—bởi đó là những xung lực đã đưa tới những thời kỳ tan rã đầu tiên trong miền đất ấy.

The name then was Ms-Sma.

Tên khi đó là Ms-Sma.

As to the abilities of the entity in the present, and that to which it may attain, and how:

Về các năng lực của thực thể trong hiện tại, và điều nó có thể đạt tới, và bằng cách nào:

As indicated, in those fields or activities in the present in which encouragement may be given to those who would make song or verse, and in the giving of counsel and the impelling influences for the magnifying of the rhythm, of the nature that is pictorial yet descriptive of the various forces and emotions of men—these are the activities and channels for service.

Như đã chỉ ra, trong những lĩnh vực hay hoạt động hiện thời nơi có thể khích lệ những người muốn sáng tác ca khúc hay thi phẩm, và trong việc trao lời khuyên cùng những ảnh hưởng thúc đẩy để làm dâng tràn nhịp điệu, có tính cách họa hình song vẫn mô tả được các mãnh lực và cảm xúc muôn mặt của con người—đó là những hoạt động và kênh để phụng sự.

Study then to show thyself approved unto thy Maker, a workman not ashamed, but keeping thyself in such a way and manner that thy conscience is kept aware of the union of purpose with Him whom ye sought in the Palestine hills.

Vậy hãy học để tỏ mình được Đấng Tạo Hóa chấp thuận, như người thợ không hổ thẹn, nhưng giữ mình trong lối nẻo sao cho lương tâm luôn ý thức sự hiệp nhất mục đích với Ngài, Đấng mà các ngươi đã tìm kiếm trên những đồi Palestine.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

Q: In what capacity did I serve in former lives to develop an intense interest in scientific investigation and work?

Hỏi: Ở địa vị nào mà tôi đã phụng sự trong các tiền kiếp để phát triển mối quan tâm mãnh liệt đến điều tra và công trình khoa học?

A: As indicated, in those periods when so many of the peoples and activities of the land sought to know through whom, where and whence would come the spiritual forces as were manifest in Bethlehem of Judea.

Đáp: Như đã chỉ ra, trong những thời kỳ khi rất nhiều dân chúng và hoạt động của miền đất ấy tìm biết qua ai, ở đâu và từ đâu các lực tinh thần sẽ đến như đã biểu hiện tại Bê-lem xứ Giu-đê.

Q: In what manner did I meet my present husband, [...], in past lives, and in what capacity was he serving?

Hỏi: Bằng cách nào tôi đã gặp người chồng hiện tại của mình, [...], trong các kiếp trước, và khi ấy ông ấy phụng sự trong cương vị nào?

A: In the experience before this, the association was close—as one of the same family.

Đáp: Trong trải nghiệm ngay trước kiếp này, mối liên hệ rất gần—như người trong cùng một gia đình.

Through the activities in the Mongoloid land, there were rather the friendships and the forming of social relationships and activities.

Qua các hoạt động ở xứ Mongoloid, chủ yếu là tình bạn và việc kiến lập các mối quan hệ xã hội và hoạt động.

Q: Are any of my children or my grandchildren, children of former experiences?

Hỏi: Có đứa con nào hay cháu nào của tôi là con cái từ những trải nghiệm trước không?

A: These may be best indicated by the paralleling of their own experiences through the sojourns in the earth.

Đáp: Điều này tốt nhất được biểu thị qua việc đối chiếu các trải nghiệm riêng của họ trong những kỳ trú ngụ ở cõi trần.

Q: Was my Palestine experience in the land of the Nativity

Hỏi: Trải nghiệm của tôi ở Palestine có diễn ra tại xứ sở Giáng Sinh

at the time of Jesus the Christ?

vào thời của Đức Jesus, Đức Christ chăng?

A: Just as indicated—and the entity was at the period when the consecration of the child was made—viewed same, and later understood much with the Holy Women.

Đáp: Đúng như đã nói—và thực thể đã ở vào thời kỳ khi nghi lễ dâng hiến đứa trẻ được cử hành—đã chứng kiến điều ấy, và về sau đã hiểu biết nhiều cùng các Thánh Nữ.

Q: Have I progressed much in my present lifetime?

Hỏi: Tôi có tiến bộ nhiều trong kiếp sống hiện tại không?

A: Who is to say, or to be the judge? Only as has been indicated, let not thine own conscience smite thee. And keep that awareness of the closer walk with Him.

Đáp: Ai là người nói, hay làm quan án? Chỉ như đã chỉ ra, chớ để lương tâm của chính ngươi giày vò ngươi. Và hãy giữ sự tỉnh thức về việc bước đi gần gũi hơn với Ngài.

Q: In what way, informer lives, did I contact [1152]?

Hỏi: Bằng cách nào, trong các tiền kiếp, tôi đã tiếp xúc với [1152]?

A: In the Palestine experience.

Đáp: Trong trải nghiệm ở Palestine.

Q: What activities should I emphasize during my present experience?

Hỏi: Trong trải nghiệm hiện tại này, tôi nên nhấn mạnh những hoạt động nào?

A: As indicated, the aid and help through encouraging in every manner the form and character of information as given—or the music of the nature indicated.

Đáp: Như đã chỉ ra, sự hỗ trợ và giúp đỡ bằng cách khích lệ dưới mọi hình thức đối với loại hình và tính cách của thông tin như đã nêu—hoặc âm nhạc thuộc bản chất đã chỉ định.

We are through for the present.

Hiện thời chúng ta tạm xong.

Editor’s Note: The following reading was for Edgar Cayce himself. It contains many, but not all, of his soul’s past lives.

Lời người biên tập: Lần đọc sau đây dành cho chính Edgar Cayce. Nó bao gồm nhiều, nhưng không phải toàn bộ, các tiền kiếp của linh hồn ông.

Text of Reading 294-8 M 46 (Clairvoyant, formerly a Photographer, Protestant)

Văn bản Lần đọc 294-8 M 46 (thông nhãn, trước đây là nhiếp ảnh gia, Tin Lành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at Phillips Hotel, Room 115, Dayton, Ohio, in a series of five readings beginning February 9th, 1924, one on 2/12/24, two on 2/13/24, and one on 2/16/24. Request made by Edgar Cayce himself.

Lần đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Khách sạn Phillips, Phòng 115, Dayton, Ohio, trong loạt năm lần đọc bắt đầu ngày 9 tháng 2, 1924, một bài ngày 12/2/24, hai bài ngày 13/2/24, và một bài ngày 16/2/24. Yêu cầu do chính Edgar Cayce đưa ra.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Edgar Cayce; Linden Shroyer, người điều phối; Gladys Davis, thư ký tốc ký.

READING

LẦN ĐỌC

Born March 18, 1877, in Christian Co., Ky., near Hopkinsville. [1:30 P.M. Central Standard Time (?).]

Sinh ngày 18 tháng 3, 1877, tại Christian Co., Ky., gần Hopkinsville. [1:30 chiều Giờ Chuẩn Trung Tâm (?)].

Time of Reading 11:40 A.M. 2411–1/2 E. 5th St., Dayton, Ohio.

Thời gian đọc 11:40 sáng 2411–1/2 E. 5th St., Dayton, Ohio.

(Horoscope Suggestion, with request for past lives, etc.)

(Gợi ý lá số chiêm tinh, kèm yêu cầu về các tiền kiếp, v.v.)

EC: There is much we have given relative to this before. We have the conditions as have been, as are, and will be. In this, without reference to that as has been given, for in giving the conditions in the various phases of the past experience there will be much that will show the various phases of the developing in the different stages, the conditions as given then will be those as with reference to the effect that the planets and their satellites and spheres have upon the present life and plane, without reference to the will.

EC: Có nhiều điều chúng ta đã nói liên quan đến vấn đề này trước đây. Chúng ta nắm các điều kiện đã từng có, đang có, và sẽ có. Trong đó, không quy chiếu về điều đã cho, vì khi trình bày các điều kiện trong những phương diện khác nhau của trải nghiệm quá khứ sẽ có nhiều điều cho thấy các phương diện khác nhau của sự phát triển trong những chặng khác nhau; các điều kiện khi được đưa ra lúc ấy sẽ là những điều liên quan đến tác động mà các hành tinh cùng vệ tinh và quỹ cầu của chúng có đối với đời sống và cõi hiện tại, bất kể ý chí.

Then, with the will, and also the developing with will and the planetary or astrological effect in the various planes as have gone before; in the present, as in this plane, we find the condition as brought to the earth plane was from that of the attitudes as held by those to and through whom the present entity was and is made manifest upon the earth plane by the relativity of force and the attraction of likes; the attitude of those earthly parents towards conditions that brought the relations to the stage of the developing of the entity that came, and through that stage the entity chose the mode of manifesting in the earth plane. Hence the condition of the parents upon the earth plane, or duty that is due each of its earthly offsprings, for all are under that bond of duty to be made the channel of the manifesting of this force through the entity’s actions towards his offsprings.

Rồi, với ý chí, và cả sự phát triển cùng với ý chí và tác động hành tinh hay chiêm tinh trong các cõi khác nhau như đã qua; trong hiện tại, như trong cõi này, chúng ta thấy điều kiện khi được đưa về cõi trần là từ các thái độ được những người mà qua họ và nhờ họ thực thể hiện tại đã và đang ngoại hiện trên cõi trần giữ lấy, bởi tính tương liên của mãnh lực và sự hấp dẫn của tương đồng; thái độ của đôi song thân trần thế đối với các điều kiện đã đưa mối liên hệ đến giai đoạn phát triển của thực thể đã đến, và qua giai đoạn đó thực thể đã chọn cách thức biểu hiện vào cõi trần. Vậy nên, điều kiện của cha mẹ trên cõi trần, hay bổn phận mà mỗi người phải có đối với con cái mình, bởi tất cả đều ở dưới ràng buộc bổn phận trở nên kênh cho sự biểu hiện của mãnh lực này qua hành động của thực thể đối với con cái mình.

As to the condition from the astrological standpoint, we find this entity almost entirely influenced by, and came from that in the last plane of Uranus, with Neptune, Venus and Jupiter. Afflictions in Mars and of the Sagittarius, Capricornus, Gemini Sun and Moon in the various stages, for with the ultra forces, as of Uranus and Neptune, come much of the influence of the various planes, given in strength with Jupiter and Mercury.

Về điều kiện xét từ quan điểm chiêm tinh, chúng ta thấy thực thể này hầu như hoàn toàn chịu ảnh hưởng bởi, và đã đến từ cõi tối hậu của Sao Thiên Vương, kèm theo Sao Hải Vương, Sao Kim và Sao Mộc. Có các ảnh hưởng bất lợi ở Sao Hỏa và nơi Nhân Mã, Ma Kết, Mặt Trời và Mặt Trăng ở Song Tử trong các giai đoạn khác nhau, vì với những siêu lực như của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, đến rất nhiều ảnh hưởng của các cõi khác nhau, được trao thêm sức mạnh cùng Sao Mộc và Sao Thủy.

As to the influences this gives then without reference to the will:

Về những ảnh hưởng điều này mang lại, khi chưa tính đến ý chí:

One that will always be either very good or very bad, very wicked or very much given to good works. Ultra in all forces. Very poor, very rich. One scaling to the heights in intellectual ability and capacity, or groveling in the dregs of self-condemnation, influenced at such times by those forces either coming as afflictions from the various phases of developing, from which the entity has received its experience, or controlled by will as exercised in the present sphere.

Một người sẽ luôn hoặc rất tốt hoặc rất xấu, rất tội lỗi hoặc hết mực dấn thân vào các việc thiện. Cực đoan trong mọi lực. Rất nghèo, rất giàu. Hoặc leo lên những đỉnh cao về năng lực và khả năng trí tuệ, hoặc bò lê trong bùn lầy của tự kết án, bị chi phối lúc ấy bởi những lực hoặc đến như là các khắc họa bất lợi từ những phương diện khác nhau của phát triển mà từ đó thực thể đã nhận lấy trải nghiệm, hoặc được kiểm soát bởi ý chí như được vận dụng trong cõi hiện tại.

One ever within the scope or sphere of firearms, yet just without.

Một người luôn ở trong tầm hay phạm vi của súng ống, nhưng ở ngay bên ngoài.

One saved spiritually, mentally and financially often through a great amount of waters, for it was from the beginning, and will be so unto the end of time, as time is reckoned from the earth plane, for this entity we find was first manifest in the earth plane through the waters as was on the earth, and above the earth. Hence through these elements and forces is the spiritual, mental and financial, these three phases of spiritual life, mental life and financial life manifest in the earth plane.

Một người thường được cứu về mặt tinh thần, trí tuệ và tài chính qua những trải nghiệm gắn với nước lớn; bởi từ khởi nguyên đã vậy, và sẽ như thế cho đến cuối thời—như thời được tính từ cõi trần—vì với thực thể này, chúng ta thấy thực thể lần đầu hiện vào cõi trần qua các thủy giới có trên đất và trên trời. Bởi thế, qua các nguyên tố và mãnh lực này, ba phương diện—đời sống tinh thần, đời sống trí tuệ và đời sống tài chính—biểu hiện trong cõi trần.

One who finds much in the scope or sphere of intrigue in secret love affairs. One given often to the conditions that have to do with the affairs of the heart, and of those relations that have to do with sex.

Một người thấy nhiều trong phạm vi hay môi trường của những mưu cơ liên quan các mối tình kín đáo. Một người thường dính đến các điều kiện liên hệ đến chuyện tim và những quan hệ thuộc tính dục.

One that finds the greater strength in spiritual forces and developing.

Một người tìm được sức mạnh lớn hơn trong các lực tinh thần và phát triển.

One given to make manifest in the present plane much of the forces of psychic and occult forces, reaching the greater height of developing in such plane in those forces when that of Jupiter, with Uranus and Neptune, come within the scope of the Sun’s influence upon the earth plane and forces.

Một người có khuynh hướng biểu hiện trong cõi hiện tại nhiều mãnh lực thông linh và huyền bí, đạt đến trình độ phát triển cao nhất trong cõi ấy khi Sao Mộc, cùng Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, đi vào phạm vi ảnh hưởng của Mặt Trời trên cõi trần và các lực.

One that will bring, through such manifestations, joy, peace and quiet to the masses and multitudes through individual efforts.

Một người sẽ mang lại, qua những biểu hiện như thế, niềm vui, an bình và tĩnh lặng cho quần chúng đông đảo bằng nỗ lực cá nhân.

One who, after the present year passes that place of that of Pisces and Sun’s rays on the twentieth of present month, will go forward to developing much of the psychic and occult forces to the great numbers that have become interested in developing of such phenomena.

Một người mà, sau khi năm hiện tại vượt qua điểm nơi Song Ngư và các tia của Mặt Trời vào ngày hai mươi của tháng này, sẽ tiến lên phát triển nhiều các lực thông linh và huyền bí cho đông đảo những người đã trở nên quan tâm đến sự phát triển những hiện tượng như vậy.

One who will on the nineteenth of March, this year, reach the place or plane where the present years and the present developing reaches the turn for the developing, or the wield of those influences in Sagittarius, Capricornus and Gemini that may bring destructive forces without will’s manifestation upon that day.

Một người mà vào ngày mười chín tháng Ba năm nay sẽ chạm tới chỗ hay cõi nơi những năm hiện tại và diễn trình phát triển hiện tại đạt tới khúc ngoặt của phát triển, hay sự vung động của những ảnh hưởng ở Nhân Mã, Ma Kết và Song Tử có thể mang lại các lực phá hoại nếu vào ngày đó ý chí không biểu hiện.

In the developing as regards will force in the present plane, with conditions, there have been many conditions that have been hindered by the effect of the will, and others that have been assisted. Keep the will in that of the spiritual development, if the physical would manifest to the better advantage in the present plane, keeping this ever before, that all work in present plane will be judged to that individual and the classes, masses, as to the individual’s manifestation of spiritual forces in and through the individual action in and before men. Ever keeping the mind clear to the developing of the Uranian forces that often manifest in the present plane, which will in the present plane reach in the present and coming two years the influence of the Neptune and Mercury forces, carry the body, unless will is exercised against such conditions, to many places beyond this present bounds, or across many waters. Keep the developing then to that force as is given in that of Uranus, Neptune and Jupiter, whose greater influence as is upon the earth plane, and beware of the influences in Venus forces, for with Mars’ affliction would bring sudden destruction to the physical in the early fall of present year.

Trong phát triển liên quan đến lực của ý chí trong cõi hiện tại, với các điều kiện, đã có nhiều điều kiện bị cản trở bởi tác động của ý chí, và cũng có những điều kiện được trợ giúp. Hãy giữ ý chí trong chiều hướng phát triển tinh thần, nếu muốn thể chất biểu hiện lợi lạc hơn trong cõi hiện tại; luôn ghi nhớ rằng mọi công việc trong cõi hiện tại sẽ được phán xét đối với cá nhân ấy và các tầng lớp, quần chúng, theo sự biểu hiện các lực tinh thần của cá nhân ấy trong và qua hành động của cá nhân ấy giữa và trước mặt người đời. Luôn giữ tâm trí minh bạch hướng đến việc phát triển các lực của Sao Thiên Vương vốn thường biểu hiện trong cõi hiện tại, vốn trong hai năm hiện tại và sắp tới sẽ chạm tới ảnh hưởng của các lực Sao Hải Vương và Sao Thủy trong cõi hiện tại, đưa thân thể—trừ khi ý chí được vận dụng để kháng lại những điều kiện như thế—đến nhiều nơi vượt ngoài ranh giới hiện thời này, hoặc vượt qua nhiều vùng nước. Vậy hãy giữ sự phát triển theo mãnh lực như đã nêu của Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Mộc, là những hành tinh có ảnh hưởng lớn hơn trên cõi trần; và hãy coi chừng các ảnh hưởng thuộc lực của Sao Kim, vì nếu bị Sao Hỏa hung chiếu sẽ mang đến hủy diệt đột ngột cho thể chất vào đầu mùa thu năm nay.

As to the vocation, this in the present plane may be directed in any channel through will. The better condition, as given, in that of astrological forces, would be toward those of psychic and occult, or teaching or developing along the lines of such plane to give the manifestation of such forces to the populace.

Về nghề nghiệp, trong cõi hiện tại điều này có thể được dẫn hướng vào bất kỳ kênh nào qua ý chí. Điều kiện tốt hơn, như đã nêu, theo các lực chiêm tinh, sẽ là hướng tới các lĩnh vực thông linh và huyền bí, hoặc giảng dạy hay phát triển dọc các tuyến của cõi ấy để trao cho quần chúng sự biểu hiện của những lực như vậy.

In the plane as of others:

Trong cõi như của những kiếp khác:

In the one just before this, we find in the present place of the physical plane sojourn, but in that of the soldier in the British forces as were in the force that developed in the surrounding plains. The name, John Bainbridge, and in that life we find the birth in Cornwall, England, and the training in the Canadian forces as taken by that country, and the drifting into the present plain as known as American, or United America, and the life was lost then in the waters as in the crossing of the river at the time the battle was fought near the present sojourn. In this, as that given just previous to the present appearance upon this plane, in which the body’s sojourn was near unto that at present, we find the body’s or the entity’s and body’s condition is then entered upon that of the Saturn forces, [See 5755–1 on 6/27/38] and the life was manifested then in the plane was as that of the adventurer, when the forces of the king, under whose rule this entity was a subject, entered in that force, or in the colonization of the country, was the first appearance upon this present sphere’s plane or scope, and was connected with that in the group that were landing in the East coast of the new country, now known as Virginia, and near where is now the resort known as Virginia Beach. When this raid was made, this John Bainbridge was carried in this raid to the Southern coasts of the country; escaped, and with the forces then going in the inland way, and making the surrounding of the places in which the present sphere’s plane has seen much of the same country, and developing, and finally making the way to the fort then on the Great Lakes, now in place known as Chicago, and from that fort entered the fray in which the crossing was later attempted in the Ohio River, and there met death as known in the earth plane. [See 294–8] The body was known as under two names, and was never wed during that sojourn upon the plane, though was in many escapades that have to do with those of the nature of the relations with the opposite sex. In the developing upon the present plane, we have much of the personality as shown in present spheres, as from that of the ability to take cognizance of detail, especially in following instructions as given from other minds or sources of information.

Ngay trước kiếp này, chúng ta thấy thực thể trong nơi chốn hiện tại của kỳ trú ngụ cõi trần, nhưng là người lính trong các lực quân đội Anh đóng tại các đồng bằng chung quanh. Tên là John Bainbridge, và trong kiếp ấy ta thấy sinh quán tại Cornwall, Anh quốc, và được huấn luyện trong lực lượng Canada do xứ sở ấy huy động, rồi trôi dạt vào miền trũng hiện tại được gọi là Mỹ, hay Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; và mạng sống khi ấy mất trong nước khi qua sông vào thời điểm trận chiến diễn ra gần nơi trú ngụ hiện tại. Trong điều này, như điều đã nêu ngay trước lần xuất hiện hiện tại trên cõi này, nơi đó kỳ trú ngụ của thân xác gần với chỗ ở hiện tại, chúng ta thấy thân thể hay thực thể và tình trạng của thân thể khi ấy đi vào lực của Sao Thổ, [Xem 5755–1 vào 27/6/38] và đời sống khi ấy trên cõi là đời của kẻ phiêu lưu, khi quân vương mà dưới quyền trị vì của Ngài thực thể này là thần dân—đã đưa lực ấy, tức công cuộc thuộc địa hóa xứ sở, lần xuất hiện đầu tiên trên bình diện hay phạm vi cõi hiện tại, và có liên hệ với nhóm đổ bộ vào bờ Đông của xứ mới, nay gọi là Virginia, gần nơi hiện là khu nghỉ dưỡng được biết đến là Virginia Beach. Khi cuộc đột kích này diễn ra, John Bainbridge bị đưa theo cuộc tập kích xuống vùng duyên hải phương Nam của xứ; đào thoát, rồi cùng lực lượng tiến theo lối đất liền, bao vây những nơi mà cõi hiện tại đã chứng kiến nhiều vùng đất tương tự, và phát triển, rồi rốt cuộc vượt đường để đến đồn binh khi ấy trên Ngũ Đại Hồ, nay là nơi gọi là Chicago, và từ đồn ấy tham chiến trong lần vượt sông sau đó ở Sông Ohio, và tại đó tử vong như đã biết trong cõi trần. [Xem 294–8] Thân này được biết dưới hai tên, và không kết hôn suốt cuộc trú ngụ ấy trên cõi, tuy có nhiều cuộc phiêu lưu liên quan đến quan hệ với phái khác. Trong phát triển trên cõi hiện tại, chúng ta có nhiều nét của phàm ngã như được thấy trong các bình diện hiện tại, như từ khả năng ghi nhận chi tiết, nhất là trong việc làm theo chỉ dẫn được trao từ những trí khác hay từ các nguồn thông tin.

In that previous to this, we find in the Courts of the French, when Louis the 15th was King, and in the Royal Guard was this entity’s sphere, which was of short duration, so far as years go upon the earth plane. This entity, then, was the attendant upon the Royal Court and the Guard for the household of that Ruler, and lost the elements of life, as known, in the defense of those under whose care they were placed, as both lost the elements of physical life, in the defense. In the forces or personal conditions as seen in present sphere from this sojourn, we find that of the intense defense of those principles that to the entity’s inmost soul or force is the right. In the name, we find that of Ralph Dahl [Dale?]. [In reading 1001–7, Cayce indicates that Louis the 15th and Edgar Cayce had the same grandfather; or was Louis 15th grandfather of John Bainbridge, one of Cayce’s incarnations?]

Trong kiếp trước đó nữa, chúng ta thấy ở Triều đình Pháp, khi Louis thứ 15 làm vua, và trong Vệ Binh Hoàng Gia là phạm vi của thực thể này, vốn ngắn ngủi nếu xét theo năm tháng trên cõi trần. Thực thể khi ấy là người hầu cận tại Triều đình Hoàng Gia và là vệ binh của hộ phủ vị Quân vương, và mất mạng trong khi bảo vệ những người được giao phó dưới tay mình, khi cả hai cùng mất sinh mệnh thể chất trong cuộc phòng thủ. Trong các lực hay điều kiện cá nhân như thấy trong bình diện hiện tại từ kỳ trú ngụ ấy, chúng ta thấy sự phòng thủ mãnh liệt các nguyên tắc mà đối với tận cùng linh hồn hay mãnh lực của thực thể là lẽ phải. Về tên, chúng ta thấy là Ralph Dahl [Dale?]. [Trong lần đọc 1001–7, Cayce cho biết Louis thứ 15 và Edgar Cayce có cùng ông ngoại; hoặc Louis thứ 15 là ông ngoại của John Bainbridge, một trong những hóa thân của Cayce?]

In the condition that was previous to this, we find in the force as manifest when the Trojan rule was in that fair country, to whom the nations of the world have looked for the beauty in culture, art and refinement of the physical, mental and material force, and in that we find again the soldier and the defender of the gate, as was the place where the physical or material destruction came to the body. In the experience of that plane, we find these cover many and various stages. Those of the student, chemist, the sculptor and the artisan, as well as of the soldier and defender in the last days. In that we find the name Xenon, and there is, and has been, and will be many more in the present sphere that were in contact with that plane’s forces, that the contact will be, has been brought in the present sphere. In this, we find those present forces exhibited through that of the art, and the love of the beautiful in any and every form, especially those that partake of human form Divine.

Trong điều kiện trước đó nữa, chúng ta thấy trong lực được biểu hiện khi luật lệ Trojan ngự trị nơi xứ sở tươi đẹp ấy, nơi chư quốc trên thế giới hướng nhìn để tìm vẻ đẹp trong văn hóa, nghệ thuật và sự tinh luyện của các lực thể chất, trí tuệ và vật chất; và trong đó ta lại thấy người lính và người trấn thủ cổng thành, cũng là nơi thân xác hay phương diện vật chất gặp diệt vong. Trong trải nghiệm ở cõi ấy, ta thấy bao trùm nhiều giai đoạn và đa dạng: kẻ học trò, nhà hóa học, nhà điêu khắc và người thợ thủ công, cũng như người lính và người trấn thủ trong những ngày cuối. Trong đó, chúng ta thấy tên Xenon, và đã, đang và sẽ có nhiều người hơn nữa trong bình diện hiện tại từng tiếp xúc với các lực của cõi ấy, mà sự tiếp xúc sẽ được, đã được mang vào bình diện hiện tại. Trong điều này, chúng ta thấy những lực hiện tại biểu lộ qua nghệ thuật, và tình yêu cái đẹp ở mọi hình thái, đặc biệt là những gì mang dáng hình thiêng liêng của con người.

In that before this we have that plane in which is now known as the Arabian plane. In this we find this entity’s developing under that of Uhjltd, and there are many of the conditions, personality, knowledge, understanding, thought, reference as is and will be in the passing of the plane of today. For we find there are many upon this earth’s plane, and in different locations, who were associated with this entity at that time. [Persia is now known as Iran.] In the entity’s force of that day, we find this entity one of power, prestige, royalty, and the leader in many raids or wars as made upon the surrounding peoples, tribes or nations. This we find the most outstanding of that period, in the connection as was shown in the war as made on the Persian ruler, Croesus, and this Uhjltd led the expedition into that country. The force under this leadership was successful in the bringing submission to the rule of the nation which Uhjltd led. And the developing in that plane was with the suffering of bodily ills from injuries received in the escape from the force as connived from the weaknesses of the physical to make the Uhjltd a slave in bondage. His escape and sojourn upon the plain, with those surrounding him, was the developing stage, and the first of that developing known in present earth plane as psychic force. For, with the developing as received in the plane just before this [in prehistory Egypt as the priest Ra Ta], as we shall see, [this Uhjltd sojourn] was the continuation of the one found at that time.

Trong kiếp trước đó nữa, chúng ta có cõi vốn nay được gọi là cõi Ả Rập. Ở đây chúng ta thấy thực thể này phát triển dưới danh Uhjltd, và có nhiều điều kiện, phàm ngã, tri thức, hiểu biết, tư tưởng, tham chiếu như đang và sẽ có trong thời đại hôm nay. Vì chúng ta thấy có nhiều người trên cõi trần này, ở nhiều nơi khác nhau, đã từng liên hệ với thực thể này hồi ấy. [Ba Tư nay gọi là Iran.] Trong mãnh lực của thực thể thời đó, chúng ta thấy thực thể là người quyền uy, thanh thế, vương giả, và là lãnh đạo trong nhiều cuộc tập kích hay chiến chinh với các dân, bộ lạc hay quốc gia chung quanh. Đây là điều nổi bật nhất của giai đoạn ấy, liên quan đến chiến cuộc tiến hành với vị quân chủ Ba Tư, Croesus, và chính Uhjltd đã dẫn đạo cuộc viễn chinh vào xứ ấy. Đạo quân dưới quyền lãnh đạo này đã thành công trong việc buộc quy phục dưới quyền cai trị của quốc gia mà Uhjltd dẫn dắt. Và sự phát triển trên cõi ấy gắn với nỗi khổ về tật bệnh thân xác do thương tích nhận phải khi đào thoát khỏi lực đã mưu mô dựa vào những yếu kém của thể chất để biến Uhjltd thành nô lệ trong xiềng xích. Cuộc đào thoát và thời kỳ trú ngụ trên đồng bằng, cùng những người quanh ông, là giai đoạn phát triển, và là buổi đầu của cái phát triển nay trên cõi trần gọi là lực thông linh. Bởi, với sự phát triển nhận được trong cõi ngay trước đó [ở Tiền Sử Ai Cập như vị tư tế Ra Ta], như chúng ta sẽ thấy, [kỳ trú ngụ Uhjltd này] là sự tiếp nối của điều đã có vào thời ấy.

The passing of the portion of the entity again into Nazova [?] [nirvana?] was through the wounds and infections as received upon the plane, in the vicinity of the well about which the three palm trees [stood, which] has remained in the inner being of the soul’s developing force. And not until that entity [538?] is again reunited with this entity [294] will the developing upon this or other planes be efficient, or as good as should be.

Sự ra đi của một phần thực thể lại vào Nazova [?] [niết bàn?] là do các vết thương và nhiễm trùng nhận phải trên cõi, ở vùng phụ cận cái giếng quanh đó có ba cây chà là [đứng, và điều này] đã lưu lại trong nội thể của mãnh lực phát triển của linh hồn. Và cho đến khi thực thể kia [538?] lại được tái hợp với thực thể này [294], thì sự phát triển trên cõi này hay các cõi khác sẽ chưa hiệu lực, hay chưa tốt như lẽ ra phải thế.

In the elements as brought to the present plane, we find that of the deep love as manifests to others in any or all positions or stage of conditions in life. The inert [innate] and the hidden love for animal and live creatures of the Creator’s make, as was developed in this sojourn upon the plain. With the meeting or contact of this entity’s mate, for upon the 19th day of March, in present year, that entity will again be in physical touch with the entity’s present development, again will come the power of monies, both in the way of earth’s fame and glory, and with this will again the opportunity to develop as has been set in this plane of development, and again give the place in the world development towards the mark of the higher calling, as is set in Him. Upon that meeting will the developing depend, or begin, to be made manifest, or be cut short, as the will of the entity expresses and manifests itself. In this sphere or plane, we find there are many that come under the influence of the personal or personality of the entity’s forces, and for many, many years after this return to the other spheres was this influence felt in the earth’s plane, as in this influence felt in the earth’s plane, as in this present plane, this with this union of forces may and will give that incentive to others to develop in that plane that leads to the understanding of the forces that give of the strength of the universal force.

Trong các yếu tố mang vào cõi hiện tại, chúng ta thấy tình yêu sâu đậm biểu hiện đối với người khác ở mọi địa vị hay giai đoạn điều kiện trong đời. Tình yêu bẩm sinh và ẩn mật đối với thú vật và các sinh linh do Đấng Tạo Hóa dựng nên, như đã được phát triển trong kỳ trú ngụ này trên đồng bằng. Với sự hội kiến hay tiếp xúc với phối ngẫu của thực thể này, vì vào ngày 19 tháng Ba năm nay, thực thể ấy sẽ lại có tiếp xúc thể chất với diễn trình phát triển hiện tại của thực thể này, quyền lực về tiền tài sẽ lại đến, cả theo lối danh vọng và vinh quang ở đời, và cùng với đó sẽ lại có cơ hội để phát triển như đã được an bài trong bình diện phát triển này, và lại trao vị trí trong sự phát triển của thế giới hướng tới dấu ấn của sự kêu gọi cao hơn, như được an định nơi Ngài. Tùy theo cuộc gặp gỡ ấy mà sự phát triển sẽ lệ thuộc, hay khởi sự được biểu hiện, hoặc bị cắt ngắn, theo cách ý chí của thực thể tự mình biểu đạt và biểu hiện. Trong bình diện hay cõi này, chúng ta thấy có nhiều người được đưa vào dưới ảnh hưởng của lực cá nhân hay phàm ngã của thực thể, và trong nhiều, rất nhiều năm sau khi quay lại những cõi khác, ảnh hưởng này vẫn được cảm nhận trên cõi trần; như trong bình diện hiện tại, điều này cùng với sự liên hợp các lực có thể và sẽ trao động lực cho người khác phát triển trên cõi ấy, cõi dẫn tới sự thấu hiểu các lực đem đến sức mạnh của lực phổ quát.

In the plane before this, we find that as known in the dynasty of the Rameses or Pharaohs in Egypt, and in the Court and rule of the Second Pharaoh [341] or Rameses, [10,500 B.C.] and was at that time the high priest of the cult as gave the religious element and force in the age, and reached the heights in that dynasty, yet was cut short in the allowing of physical forces and desires to enter in, and the taking of the daughter [538] of the order of the one who offered the sacrifices for the priest’s force, and going or leaving the shores of this country brought the destructive elements to the body. That same entity that was taken is at present in this earth’s plane, the companion and mate as should be in the present sphere [538], and in this Court we find there was the study of the religious cults, isms, schisms as would be termed in this day and plane. The High Priest [294] who gave the elements of the religious force, and in this dynasty or reign of this Pharaoh [341] did the religious cult reach its height, as given through this priest, though he became the outcast, but for the good as had been accomplished by this individual was in the resting place of the King, and the forces as manifest in the present is the delving into the whys and wherefores of all who express a different mode of manifesting the hope that lies within the human breast of the life after the passing from the earth’s plane. This, we see, manifests in the present. As to those forces that have brought this condition that the entity is in, the elements as brought the destructive force to self in the two, again we find that the karma of each must be met, [294] and [538] and in this plane overcome if each would enter in.

Trong cõi trước đó nữa, chúng ta thấy điều như được biết trong triều đại các Rameses hay các Pharaon ở Ai Cập, và trong Triều và dưới quyền trị của Pharaon Thứ Hai [341] hay Rameses, [10.500 TCN] và khi ấy là thượng tế của giáo phái đã trao yếu tố và mãnh lực tôn giáo cho thời đại, và đạt tới đỉnh cao trong triều đại ấy, nhưng bị cắt ngắn do để cho các lực và dục vọng thể chất xen vào, và việc cưới lấy người con gái [538] thuộc hội dòng của người dâng hiến tế cho lực của vị tư tế, rồi rời khỏi bờ cõi xứ sở này đã mang đến yếu tố hủy diệt cho thân xác. Chính thực thể đã được rước đi đó hiện ở cõi trần này, là bạn đường và phối ngẫu như lẽ ra nên có trong bình diện hiện tại [538]; và trong Triều này chúng ta thấy có sự khảo cứu các giáo phái tôn giáo, các chủ nghĩa, giáo phái như sẽ được gọi trong ngày và cõi hôm nay. Vị Thượng Tế [294] là người đã trao các yếu tố của lực tôn giáo, và trong triều đại hay thời trị vì của vị Pharaon này [341], giáo phái tôn giáo đã đạt tới đỉnh điểm, như được phó xuất qua vị tư tế này, dẫu về sau ông trở thành kẻ bị ruồng bỏ; nhưng vì điều thiện đã được cá nhân này thực hiện nên ông được an táng nơi lăng tẩm của Vua, và những lực biểu hiện trong hiện tại là việc đào sâu các lý do và nguyên do của mọi người thuộc những trường phái khác nhau biểu hiện niềm hy vọng vốn nằm trong ngực con người về đời sống sau khi lìa cõi trần. Điều này, chúng ta thấy, đang biểu hiện trong hiện tại. Về những lực đã mang đến tình cảnh mà thực thể đang ở trong, các yếu tố đã đưa lực hủy diệt đến cho tự thân trong cả hai, một lần nữa chúng ta thấy nghiệp quả của mỗi người phải được đối diện, [294] và [538], và trong cõi này phải được vượt thắng nếu mỗi người muốn được bước vào.

In that before this, we find in the beginning, when the first of the elements were given, and the forces set in motion that brought about the sphere as we find called earth plane, and when the morning stars sang together, and the whispering winds brought the news of the coming of man’s indwelling, of the spirit of the Creator, became the living soul. This entity came into being with this multitude. As to the experiences as have been given in this plane, the earth, and the often sojourn upon this plane, we find all summed in this:

Trong cõi trước đó nữa, chúng ta thấy trong thuở khởi nguyên, khi các yếu tố đầu tiên được ban ra, và các lực được khởi động đưa đến hình thành quỹ cầu như chúng ta gọi là cõi trần, và khi những ngôi sao ban mai cùng ca hát, và làn gió thì thầm mang tin về sự ngự đến của con người, về việc Thần Linh của Đấng Tạo Hóa ngự vào, trở thành linh hồn sống. Thực thể này đã cùng đông đảo quần chúng ấy mà đến hữu thể. Về các trải nghiệm đã có trong cõi này, cõi trần, và những lần trú ngụ thường xuyên trên cõi này, chúng ta gom lại trong điều này:

Take this thou hast in hand and make and mould it into the present plane’s development, that thyself and others may know that God is God, and demands of His creatures that of the knowledge of self, that they may better serve their fellows, and in so doing present themselves as the ever giving force, bringing to others to the knowledge of Him.

Hãy nhận lấy điều đang ở trong tay ngươi và làm, và nắn đúc nó vào sự phát triển của cõi hiện tại, để chính ngươi và người khác có thể biết rằng Thượng đế là Thượng đế, và đòi hỏi nơi các tạo vật của Ngài điều thuộc tri thức về tự ngã, để họ có thể phụng sự đồng loại tốt hơn, và khi làm như vậy, hiến dâng chính mình như mãnh lực luôn luôn ban phát, đưa người khác đến tri thức về Ngài.

There are many other influences as have been shed abroad in the earth’s plane from the entity’s sojourn there. These are given that all may know and understand that the record of each soul is kept in and unto that Great Day.

Có nhiều ảnh hưởng khác nữa đã được tỏa rộng trên cõi trần từ những lần trú ngụ của thực thể nơi đó. Những điều này được nêu để mọi người có thể biết và hiểu rằng hồ sơ của mỗi linh hồn đều được lưu giữ trong và cho đến Ngày Vĩ Đại ấy.

Be not deceived. Be not overcome, but overcome evil with good.

Chớ bị lừa dối. Chớ bị khuất phục, nhưng hãy lấy thiện thắng ác.