5. Ten Postulates of the Ancient Wisdom Teachings—Mười Tiên Đề của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa
We are living in one of the great crisis eros in all human history. Issues of peace and war, poverty and abundance, of racial, political, and industrial conflict face us on every side. Religious divisions and the clash between age and youth ore likewise prominent, and underlying all Is the basic conflict between material and spiritual values, between self-interest and world service.
Chúng ta đang sống trong một trong những kỷ nguyên khủng hoảng lớn của toàn bộ lịch sử nhân loại. Những vấn đề về hòa bình và chiến tranh, nghèo đói và sung túc, về xung đột chủng tộc, chính trị và công nghiệp đang đối diện chúng ta ở khắp mọi phía.Những chia rẽ tôn giáo và sự va chạm giữa tuổi già với tuổi trẻ cũng nổi bật không kém, và nằm bên dưới tất cả là cuộc xung đột căn bản giữa các giá trị vật chất và tinh thần, giữa tư lợi và phụng sự thế giới.
And yet there is a universal recognition that mankind is entering a New Age, Science has mode the world one, and human knowledge and intelligence ore greater than ever before. Countless movements based on goodwill ore attempting to create a better world, and there is a growing recognition of humanity’s essential unity.12
Tuy nhiên, có một sự nhìn nhận phổ quát rằng nhân loại đang bước vào một Kỷ Nguyên Mới. Khoa học đã làm cho thế giới thành một, và tri thức cùng trí tuệ của con người lớn hơn bao giờ hết. Vô số phong trào dựa trên thiện chí đang nỗ lực tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn, và ngày càng có sự nhìn nhận rằng nhân loại vốn có sự hợp nhất cốt yếu.
The Ancient Wisdom Teachings are a great compendium of factors which comprise the structure of the unfolding of the manifested universe.13 As we endeavor to utilize astrology as a tool of intuitive perception into the essential nature and life purpose of a given individual, it is absolutely necessary that we attune ourselves to some of the more important of these factors. Thus the esoteric, Soul-centered astrologer may apply the insights gleaned from these Teachings to the astrological information revealed from the natal horoscope. The scope of vision thus attained will not only allow for a more accurate and profound treatment of the natal chart, but will also facilitate the astrologer’s 2 own life Path. It is this scope of reference, plus a focus of service, an attunement to Truth and the Teachers, an orientation to the Soul, as well as the skills inherent in mastering certain techniques of delineation, which all contribute to preparing the astrologer and student for participation in the Greater Life.
Các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa là một bộ tổng tập lớn lao của những yếu tố cấu thành nên cấu trúc của sự khai mở của vũ trụ biểu hiện. Khi chúng ta cố gắng sử dụng chiêm tinh học như một công cụ của sự tri nhận trực giác để đi vào bản chất cốt yếu và mục đích sống của một cá nhân nhất định, thì điều tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải chỉnh hợp mình với một số yếu tố quan trọng hơn trong các yếu tố ấy. Do đó, nhà chiêm tinh học nội môn lấy linh hồn làm trung tâm có thể áp dụng những minh triết rút ra từ các Giáo Huấn này vào thông tin chiêm tinh được tiết lộ từ lá số chiêm tinh sinh. Tầm nhìn nhờ vậy mà đạt được sẽ không chỉ cho phép một sự xử lý lá số chiêm tinh sinh chính xác và sâu sắc hơn, mà còn tạo thuận lợi cho chính Con Đường sống của nhà chiêm tinh 2. Chính phạm vi quy chiếu này, cộng với một trọng tâm phụng sự, một sự chỉnh hợp với Chân Lý và các Huấn sư, một định hướng về linh hồn, cũng như những kỹ năng vốn có trong việc làm chủ một số kỹ thuật luận giải, tất cả đều góp phần chuẩn bị cho nhà chiêm tinh và đạo sinh tham dự vào Sự sống Vĩ Đại hơn.
The following are ten important postulates of the Ancient Wisdom Teachings. I believe that once they are studied and contemplated, they will be most helpful in the delineation of the horoscope and in counseling others. There are many more such postulates, laws, and principles, some of which we have already discussed. Through the study and consideration of these postulates, the reader will have a wider approach to those factors and techniques of esoteric interpretation which comprise the rest of the present work.
Sau đây là mười định đề quan trọng của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa. Tôi tin rằng một khi chúng được nghiên cứu và chiêm ngưỡng, chúng sẽ rất hữu ích trong việc luận giải lá số chiêm tinh và trong việc tư vấn cho người khác. Còn có nhiều định đề, định luật và nguyên khí như thế nữa, một số trong đó chúng ta đã bàn đến rồi. Qua việc nghiên cứu và suy xét các định đề này, độc giả sẽ có được một cách tiếp cận rộng hơn đối với những yếu tố và kỹ thuật diễn giải nội môn vốn cấu thành phần còn lại của công trình hiện tại này.
Postulate I: Hylozoism—All substances and organisms, either organic or inorganic, are imbued with life. This is true from the most microscopic atomic particle to the Galaxy of galaxies.
Định đề I: Hylozoism—Mọi chất liệu và mọi cơ thể, dù hữu cơ hay vô cơ, đều được thấm nhuần sự sống. Điều này đúng từ hạt nguyên tử vi thể nhất cho đến Thiên Hà của các thiên hà.
The word hylozoism comes from two Greek roots: hylo, meaning “wood,” and hence referring to the material out of which something is created; and zoe meaning “life.” This term signifies that there is life in all matter. The majority of today’s scientific community will say that anything that is inorganic is not alive, but this is a matter of perception and measurement. If the rational mind is doing the perceiving (which it cannot—it can only observe and judge, analyze and communicate) and measuring, then most certainly, a rock or a quantity of lead will appear lifeless. If one is experiencing the energy of that stone or mineral through the intuitive focus of the Soul, then the Life within—the Life that is those substances—will be very clearly seen, as well as felt, sensed, and to a certain extent, even communicated to the consciousness of the perceiver.
Từ hylozoism xuất phát từ hai gốc Hy Lạp: hylo, nghĩa là “gỗ,” và do đó chỉ chất liệu mà từ đó một vật nào đó được tạo thành; và zoe nghĩa là “sự sống.” Thuật ngữ này biểu thị rằng có sự sống trong mọi vật chất. Phần lớn cộng đồng khoa học ngày nay sẽ nói rằng bất cứ điều gì là vô cơ thì không sống, nhưng đó là vấn đề của tri nhận và đo lường. Nếu trí cụ thể đang thực hiện việc tri nhận (điều mà nó không thể làm—nó chỉ có thể quan sát và phán đoán, phân tích và truyền đạt) và đo lường, thì chắc chắn một hòn đá hay một lượng chì sẽ có vẻ vô sinh. Nếu một người đang trải nghiệm năng lượng của hòn đá hay khoáng vật ấy qua tiêu điểm trực giác của linh hồn, thì Sự sống bên trong—Sự sống vốn là những chất liệu ấy—sẽ được thấy rất rõ ràng, cũng như được cảm nhận, được tri giác, và ở một mức độ nào đó, thậm chí còn được truyền đạt đến tâm thức của người tri nhận.
The rock or the piece of lead will send out an emission—an emanation that can be easily experienced by one who has either not developed a strong rational, mental body, or by one who has synthesized the mental vehicle into the intuitive.
Hòn đá hay mẩu chì sẽ phát ra một sự phát xạ—một sự xuất lộ mà người nào hoặc chưa phát triển mạnh một thể trí tuệ lý trí, hoặc đã tổng hợp vận cụ trí tuệ vào trực giác, đều có thể dễ dàng trải nghiệm.
The religion of Bali, Indonesia, is a form of animistic Hinduism. A Balinese will find a stone whose shape and resonance “speaks” to the finder. It would be very common to see that rock enshrined thereafter on a pillar, with daily offerings made to its Living Presence. The rock is perceived as an embodiment of Divine Energy, and so it is. This rock does not know that it is alive, but it lives, and in some alchemical way, it gives life to its finder and his family. An animal doesn’t know that it is alive, but try to capture or kill it, and see how quickly it runs!
Tôn giáo của Bali, Indonesia, là một hình thức Ấn giáo vật linh. Một người Bali sẽ tìm thấy một hòn đá mà hình dạng và âm hưởng của nó “nói chuyện” với người tìm thấy. Sẽ là điều rất thông thường khi thấy hòn đá ấy sau đó được tôn trí trên một trụ cột, với những lễ vật hằng ngày dâng lên Hiện Diện Sống động của nó. Hòn đá được tri nhận như một hiện thân của Năng Lượng thiêng liêng, và quả đúng là như vậy. Hòn đá này không biết rằng nó đang sống, nhưng nó sống, và theo một cách nào đó mang tính luyện kim, nó ban sự sống cho người tìm thấy nó và gia đình người ấy. Một con vật không biết rằng nó đang sống, nhưng hãy thử bắt hay giết nó, rồi xem nó chạy nhanh đến mức nào!
What differentiates humans from beings of the lower kingdoms in nature is that we know that we’re alive; some of us also know that we are filled with Life. Those Beings Who live on planes of consciousness and manifestation more highly evolved than our own human kingdom know something else. They know that They are Life. We know that we are alive; They know that They are Life Itself. As the Tibetan Master would say, “Ponder on this.”
Điều phân biệt con người với các hữu thể của những giới thấp hơn trong thiên nhiên là chúng ta biết rằng mình đang sống; một số chúng ta còn biết rằng mình tràn đầy Sự sống. Những Hữu Thể sống trên các cõi tâm thức và biểu hiện tiến hóa cao hơn giới nhân loại của chúng ta thì biết một điều khác nữa. Các Ngài biết rằng Các Ngài là Sự sống. Chúng ta biết rằng mình đang sống; Các Ngài biết rằng Các Ngài là Chính Sự sống. Như Chân sư Tây Tạng sẽ nói, “Hãy suy gẫm về điều này.”
The greater a person’s ability to perceive and experience the life which embodies all forms, the greater the Presence of the Soul in actuality. The healthy and whole person is one who can see with the rational mind and perceive with the intuition simultaneously. This indicates that a great degree of fusion between the Soul and the personality has already taken place. The esoteric planetary rulers of the signs may then be said to be operative in the life, and the horoscope can be interpreted accordingly. (See chapter 9.)
Khả năng của một người càng lớn trong việc tri nhận và trải nghiệm sự sống vốn hiện thân trong mọi hình tướng, thì Hiện Diện của linh hồn trong thực tại càng lớn. Người lành mạnh và toàn vẹn là người có thể thấy bằng trí tuệ lý trí và tri nhận bằng trực giác cùng một lúc. Điều này cho thấy rằng một mức độ dung hợp rất lớn giữa linh hồn và phàm ngã đã diễn ra rồi. Khi đó có thể nói rằng các chủ tinh nội môn của các dấu hiệu đang hoạt động trong đời sống, và lá số chiêm tinh có thể được diễn giải tương ứng. (Xem chương 9.)
Postulate 2: What we identify as matter and spirit are the same thing vibrating at different intensities. Matter is spirit expressing in its densest form, and spirit is matter vibrating in its most subtle. The solidity and tangibility of the material world around us is illusionary.
Định đề 2: Điều mà chúng ta nhận diện là vật chất và tinh thần thực ra là cùng một thứ, rung động ở những cường độ khác nhau. Vật chất là tinh thần biểu lộ trong hình thức đậm đặc nhất của nó, còn tinh thần là vật chất rung động trong trạng thái vi tế nhất của nó. Tính rắn chắc và khả xúc của thế giới vật chất quanh ta là có tính ảo tưởng.
Thus we can state, as Einstein did in his theory of relativity, that energy and matter are interchangeable. We also know that all life is energy, that all the energy which is life is in motion. The rate of the vibration of that motion determines the form of the manifestation of that energy. This is of primary concern to the metaphysician. It is also one of the basic principles which explains the differences in the effects of planetary and sign vibrations upon individuals, relative to their evolutionary level. A more evolved, Soul-oriented individual will vibrate at a much higher frequency than a more materially attached, personality-centered one. The nature of the frequency of the vibratory rate will very much determine if an individual will respond to the exoteric or the esoteric planetary rulers. Additionally, the vibratory rate will also indicate which of the three levels of the zodiacal sign expression will predominate in the life. (See chapter 9.)
Do đó, chúng ta có thể phát biểu, như Einstein đã làm trong thuyết tương đối của ông, rằng năng lượng và vật chất có thể hoán chuyển cho nhau. Chúng ta cũng biết rằng mọi sự sống đều là năng lượng, rằng toàn bộ năng lượng vốn là sự sống đều đang chuyển động. Tốc độ rung động của chuyển động ấy quyết định hình thức biểu hiện của năng lượng đó. Đây là điều được nhà siêu hình học đặc biệt quan tâm. Nó cũng là một trong những nguyên khí căn bản giải thích sự khác biệt trong tác động của các rung động hành tinh và dấu hiệu lên các cá nhân, tùy theo cấp độ tiến hoá của họ. Một cá nhân tiến hóa hơn, định hướng về linh hồn, sẽ rung động ở một tần số cao hơn rất nhiều so với một người gắn chặt hơn với vật chất và tập trung vào phàm ngã. Bản chất của tần số của nhịp độ rung động sẽ quyết định rất nhiều việc một cá nhân sẽ đáp ứng với các chủ tinh ngoại môn hay các chủ tinh nội môn. Ngoài ra, nhịp độ rung động cũng sẽ cho biết mức nào trong ba cấp độ biểu hiện của dấu hiệu hoàng đạo sẽ chiếm ưu thế trong đời sống. (Xem chương 9.)
The energy we perceive as a rock is moving at a much slower rate than that of a human being. We perceive the rock as solid stone, but the rock “perceives” us as light. We see our dog as our pet. Our dog sees us as its god. As a person evolves and the Path of the Soul unfolds to the awakening consciousness, he begins to see the things and people in his life more as energy and less as tangible forms by themselves. Such a person’s perception and struggle involve the consideration of the constant interrelationship between the two. The development of this kind of intuitive vision is absolutely essential to the Soul-centered astrologer. In order to read the horoscope correctly, the astrologer must be in tune with the level of consciousness of the individual for whom he is reading, and not just with the patterns of planetary arrangement. Such an attunement justifies the astrologer’s focus of delineation and level of interpretation of the celestial energy sources to their terrestrial counterparts. The more that an individual is able to perceive people, places, things, and especially ideas as combinations of various frequencies and intensities of energy, the greater the Soul attunement, and consequently the greater the ability to love impersonally and universally.
Năng lượng mà chúng ta tri nhận như một hòn đá đang chuyển động với tốc độ chậm hơn rất nhiều so với con người. Chúng ta tri nhận hòn đá như đá rắn, nhưng hòn đá “tri nhận” chúng ta như ánh sáng. Chúng ta thấy con chó của mình là thú cưng. Con chó của chúng ta thấy chúng ta là thần của nó. Khi một người tiến hóa và Con Đường của linh hồn khai mở trước tâm thức đang thức tỉnh, người ấy bắt đầu nhìn sự vật và con người trong đời mình như năng lượng nhiều hơn và như những hình tướng khả xúc tự thân ít hơn. Sự tri nhận và cuộc đấu tranh của một người như thế liên quan đến việc xem xét mối tương quan liên tục giữa hai mặt ấy. Sự phát triển loại linh thị trực giác này là điều tuyệt đối thiết yếu đối với nhà chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm. Muốn đọc lá số chiêm tinh cho đúng, nhà chiêm tinh phải hòa điệu với cấp độ tâm thức của người mà mình đang đọc cho, chứ không chỉ với các mô hình sắp xếp hành tinh. Sự chỉnh hợp như vậy biện minh cho trọng tâm luận giải của nhà chiêm tinh và cấp độ diễn giải của y đối với các nguồn năng lượng thiên thể trong mối tương ứng với các đối phần trần thế của chúng. Một cá nhân càng có khả năng tri nhận con người, nơi chốn, sự vật, và đặc biệt là các ý tưởng như những tổ hợp của nhiều tần số và cường độ năng lượng khác nhau, thì sự chỉnh hợp với linh hồn càng lớn, và do đó khả năng yêu thương một cách vô ngã và phổ quát càng lớn.
One of the benefits of not having any planets in the element of earth in the natal chart is the potential for just this kind of “energized” perception. When Soul-centered, a person without any (or with very litde) earth in the natal horoscope is apt to see “through” things, situations, people, and ideas rather than experiencing the magnetizing, confrontational, or confining qualities of their various forms. Such individuals may easily know themselves to be vehicles through whom higher energies work and externalize. On the personality level, the situation will manifest very differently. In this case, a natal horoscope without the element of earth either at the Ascendant or in any planet/sign combination would give the individual very little practical focus to his life. A certain naivete would be present, and there would be a distinct need to learn the lessons of a materially grounded life. One of his needs in the present incarnation would be to integrate and synthesize the rest of his life energy with the physical plane.
Một trong những lợi ích của việc không có hành tinh nào trong nguyên tố đất trong lá số chiêm tinh sinh là tiềm năng cho chính loại tri nhận “được năng lượng hóa” này. Khi lấy linh hồn làm trung tâm, một người không có chút nào (hoặc có rất ít) nguyên tố đất trong lá số chiêm tinh sinh sẽ có khuynh hướng nhìn “xuyên qua” sự vật, hoàn cảnh, con người và ý tưởng hơn là trải nghiệm các phẩm tính từ hóa, đối đầu hay giam hãm của các hình tướng khác nhau của chúng. Những cá nhân như vậy có thể dễ dàng biết mình là những vận cụ mà qua đó các năng lượng cao hơn hoạt động và ngoại hiện. Ở cấp độ phàm ngã, tình huống sẽ biểu hiện rất khác. Trong trường hợp này, một lá số chiêm tinh sinh không có nguyên tố đất hoặc ở dấu hiệu mọc hoặc trong bất kỳ tổ hợp hành tinh/dấu hiệu nào sẽ khiến cá nhân ấy có rất ít trọng tâm thực tiễn trong đời sống. Một sự ngây thơ nhất định sẽ hiện diện, và sẽ có một nhu cầu rõ rệt phải học những bài học của một đời sống bám rễ trong vật chất. Một trong những nhu cầu của y trong lần lâm phàm hiện tại sẽ là tích hợp và tổng hợp phần còn lại của năng lượng sống của mình với cõi hồng trần.
If there are many planets in the earth element, two tendencies are likely. On the personality level, the individual would tend to see everything as form. Intuition would become extremely limited and he would tend to become stuck, trapped, and totally attached to form as essence. If the level of evolution is especially developed, the “earthy” individual has been trained through previous karmic experiences to be able to perceive the relationship between form and essence very clearly. Thus he may not only be able to see the plan within the form and the form as an extension of the plan, but to effect some sort of transformative action on the Earth as a result of these perceptions. The person without any earth in the chart may indeed have the same perception, but be less likely to create such terrestrial transformations materially. Such an individual would tend to work more on the mental, intuitive, or emotional planes, depending on the elemental emphasis of air, fire, or water in the chart. By “plan,” I am referring to the focus of essential divinity—the Will, as It seeks to express Itself through the given form of Its creation. This latter is, as previously indicated, the primary Spirit-Soul relationship inherent in all of life.
Nếu có nhiều hành tinh trong nguyên tố đất, thì có khả năng xuất hiện hai khuynh hướng. Ở cấp độ phàm ngã, cá nhân ấy sẽ có xu hướng nhìn mọi thứ như hình tướng. Trực giác sẽ trở nên cực kỳ hạn chế và y sẽ có xu hướng bị mắc kẹt, bị giam hãm, và hoàn toàn gắn chặt với hình tướng như là bản chất. Nếu cấp độ tiến hoá đặc biệt phát triển, cá nhân “thuộc đất” đã được huấn luyện qua những kinh nghiệm nghiệp quả trước đây để có thể tri nhận rất rõ mối liên hệ giữa hình tướng và bản chất. Do đó, y không chỉ có thể thấy Thiên Cơ bên trong hình tướng và hình tướng như một sự mở rộng của Thiên Cơ, mà còn có thể tạo ra một loại hành động chuyển đổi nào đó trên Trái Đất như kết quả của những tri nhận này. Người không có nguyên tố đất nào trong lá số quả thực cũng có thể có cùng tri nhận ấy, nhưng ít có khả năng tạo ra những chuyển đổi trần thế như vậy trên bình diện vật chất hơn. Một cá nhân như thế sẽ có xu hướng hoạt động nhiều hơn trên các cõi trí tuệ, trực giác hoặc cảm xúc, tùy theo sự nhấn mạnh nguyên tố khí, lửa hay nước trong lá số. Bởi “Thiên Cơ,” tôi muốn nói đến trọng tâm của thiên tính cốt yếu—Ý Chí, khi Nó tìm cách biểu lộ Chính Nó qua hình thức nhất định của sáng tạo của Nó. Điều sau này, như đã chỉ ra trước đó, là mối quan hệ Tinh thần-Linh hồn sơ yếu vốn có trong toàn bộ sự sống.
There are some people who will prepare their oatmeal in the morning, sit down to eat it, and that is that—they are eating their oatmeal. There are others who will make this same oatmeal, but as they recognize the Divinity present in all things and in all acts, they will make it differently. They know that God is making that oatmeal, that God is that oatmeal, and that God will sit down at the table and begin eating Itself. The form is the same: “I am eating my oatmeal.” The difference is the focus of perception, and that focus is created through a variance in the vibrational rate of the consciousness of the individual.
Có những người sẽ nấu bột yến mạch vào buổi sáng, ngồi xuống ăn, và thế là xong—họ đang ăn bột yến mạch của mình. Có những người khác cũng nấu món yến mạch ấy, nhưng vì họ nhận ra thiên tính hiện diện trong mọi sự vật và trong mọi hành vi, nên họ sẽ làm nó theo cách khác. Họ biết rằng Thượng đế đang làm món yến mạch ấy, rằng Thượng đế là món yến mạch ấy, và rằng Thượng đế sẽ ngồi xuống bàn và bắt đầu ăn Chính Mình. Hình tướng vẫn như nhau: “Tôi đang ăn bột yến mạch của tôi.” Sự khác biệt nằm ở trọng tâm tri nhận, và trọng tâm ấy được tạo ra qua sự sai khác trong nhịp độ rung động của tâm thức cá nhân.
Postulates three, four, and five are actually three facets of a very great Law. This is the fundamental principle upon which the entire science of astrology—both exoteric and esoteric—is based. It is called the Law of Correspondences, and may also be expressed by the phrase, “As Above, So Below.” These three postulates and this Law are so very inter-connected that we will first list the three and then discuss them together.
Các định đề ba, bốn và năm thực ra là ba phương diện của một Định luật rất lớn. Đây là nguyên khí căn bản mà toàn bộ khoa học chiêm tinh học—cả ngoại môn lẫn nội môn—đều dựa trên đó. Nó được gọi là định luật tương ứng, và cũng có thể được diễn đạt bằng cụm từ “trên sao, dưới vậy.” Ba định đề này và Định luật này liên kết với nhau chặt chẽ đến mức trước hết chúng ta sẽ liệt kê cả ba rồi sau đó bàn về chúng cùng nhau.
Postulate 3: Space is not empty. What appears to be space is the field of consciousness, the “body” of a great Cosmic Life within which all manifestation lives, moves, and has its being.
Định đề 3: Không gian không trống rỗng. Điều có vẻ là không gian chính là trường tâm thức, là “thể” của một Sự sống Vũ trụ vĩ đại mà trong đó mọi biểu hiện sống, chuyển động và hiện hữu.
Postulate 4: All of the infinite number of parts of this great Life are interconnected through an energy substance called aether. Thus the smallest cell does not pulsate, nor the largest sun emanate, without their vibrations and energies being felt throughout the Cosmos.
Định đề 4: Tất cả vô số phần của Sự sống vĩ đại này đều liên kết với nhau qua một chất liệu năng lượng gọi là dĩ thái. Do đó, tế bào nhỏ nhất không rung động, cũng như mặt trời lớn nhất không phát xạ, mà không khiến các rung động và năng lượng của chúng được cảm nhận khắp Vũ trụ.
Postulate 5: Each and every one of these “lesser lives” lives within the body and consciousness of a Greater Life.
Định đề 5: Mỗi một trong những “sự sống nhỏ hơn” này đều sống trong thể và tâm thức của một Sự sống Vĩ Đại hơn.
To the student of the Ancient Wisdom Teachings, and to the Soul-centered astrologer in particular, the planets are perceived as individual living Entities within that Greater Organism we call the Solar System. The electromagnetic force fields existing between these globes are viewed as the vehicles for the expression of the interrelating consciousnesses of these planetary Beings. The modifications by cosmic geometry of these force fields (which the astrologer calls the “planetary aspects”) are viewed as the outworking of the ordered Plan of Divine Intelligence as revealed through the planets. And as we shall soon observe, the natures of the Seven Rays also play a very important part in the unfolding of the Creative Consciousness. All of this interplay of Forces and Lives is conscious and alive. All of the apparent “space” that exists between the planets in our solar system— indeed, in the Universe—is occupied and is the very fabric of the body of that Divine Organism within which we live, move, and have our being. Astrology, in both its esoteric and exoteric modes, is an evolving system which works to measure and define some of the facets of this cosmic drama.
Đối với đạo sinh của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa, và đặc biệt là đối với nhà chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm, các hành tinh được tri nhận như những Thực Thể sống cá biệt bên trong Cơ Thể lớn hơn mà chúng ta gọi là hệ mặt trời. Các trường lực điện từ tồn tại giữa các bầu hành tinh này được xem là những vận cụ cho sự biểu lộ của các tâm thức tương liên của các Hữu Thể hành tinh ấy. Những biến đổi của các trường lực này do hình học vũ trụ tạo ra (điều mà nhà chiêm tinh gọi là “các góc hợp hành tinh”) được xem là sự triển khai của Thiên Cơ có trật tự của Trí Tuệ thiêng liêng như được tiết lộ qua các hành tinh. Và như chúng ta sẽ sớm quan sát, bản chất của bảy Cung cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự khai mở của Tâm thức Sáng Tạo. Toàn bộ sự tương tác này của các Mãnh Lực và các Sự Sống đều có ý thức và sống động. Toàn bộ “không gian” biểu kiến tồn tại giữa các hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta—thực ra, trong Vũ trụ—đều được chiếm đầy và chính là kết cấu của thể của Cơ Thể thiêng liêng mà trong đó chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu. Chiêm tinh học, trong cả hai phương thức nội môn và ngoại môn, là một hệ thống đang tiến hóa, hoạt động để đo lường và xác định một số phương diện của vở kịch vũ trụ này.
As a person strives to increase his or her own conscious awareness, the expansive nature of such efforts at individual growth brings him ever closer to the awareness of his own inclusion within the scheme of this universal Plan. We begin to see that what may appear to be an empty space in our own lives—left there perhaps by a lost lover, the abandonment of an intellectual frame of reference that has outworn its usefulness, the change in our professional creative focus, or any other facet of our human lives—is not an empty space at all. The true nature of such apparent emptiness consists of the energy of process and transformation. That process does not consist of empty space! The previous form of the manifestation of the life energy may have dissolved, but what remains are the particles and pieces that have to be transformed and reassembled. This often requires substantial concentration and inner work on emotional, mental, and higher levels in order to bring forth another lover, another mental structure of related thought-forms, or another focus of professional interest. The spaces required to do this work are filled with the energy of the Life Force which we bring into conscious manifestation through the joining of our own creative energy—our own right use of will; our own Will- to-Be. The Law of Correspondences tells us that just as such spaces exist in our own lives for the creative purposes we may bring to manifestation, so too the Life of Lives has Its enormous, but creatively pregnant spaces in the universe, for Its creative furtherance.
Khi một người cố gắng gia tăng sự tỉnh thức hữu thức của chính mình, bản chất mở rộng của những nỗ lực tăng trưởng cá nhân như vậy đưa y ngày càng đến gần hơn với sự nhận biết về việc mình được bao hàm trong hệ thống của Thiên Cơ phổ quát này. Chúng ta bắt đầu thấy rằng điều có vẻ là một khoảng trống trong chính đời sống mình—có lẽ do một người yêu đã mất để lại, do sự từ bỏ một khung quy chiếu trí tuệ đã hết công dụng, do sự thay đổi trọng tâm sáng tạo nghề nghiệp của chúng ta, hay do bất kỳ phương diện nào khác của đời sống con người—thực ra hoàn toàn không phải là khoảng trống. Bản chất thật sự của sự trống rỗng biểu kiến ấy bao gồm năng lượng của tiến trình và chuyển đổi. Tiến trình ấy không hề bao gồm không gian trống rỗng! Hình thức biểu hiện trước đó của năng lượng sự sống có thể đã tan rã, nhưng điều còn lại là những hạt và mảnh phải được chuyển hoá và tái lắp ráp. Điều này thường đòi hỏi sự tập trung đáng kể và công việc bên trong ở các cấp độ cảm xúc, trí tuệ và cao hơn để mang đến một người yêu khác, một cấu trúc trí tuệ khác của các hình tư tưởng liên hệ, hay một trọng tâm nghề nghiệp khác. Những khoảng không cần thiết để thực hiện công việc này được lấp đầy bằng năng lượng của Sinh Lực mà chúng ta đưa vào biểu hiện hữu thức qua sự kết hợp với năng lượng sáng tạo của chính mình—việc sử dụng đúng đắn ý chí của chính mình; Ý Chí-để-Tồn Tại của chính mình. Định luật tương ứng cho chúng ta biết rằng cũng như những khoảng không như vậy tồn tại trong đời sống chúng ta cho những mục đích sáng tạo mà chúng ta có thể đưa vào biểu hiện, thì Sự sống của các sự sống cũng có những khoảng không khổng lồ nhưng đầy thai nghén sáng tạo của Nó trong vũ trụ, cho sự tiếp diễn sáng tạo của Nó.
All of Life comes from the One Life. There is thus an essential affinity between all forms of that Life. In our solar system, the quality of the consciousness of that affinity—that which underlies the nature of the Law of Attraction—is Love. The structure of Divine Intelligence at work (which in our solar system is embodied by the planet Saturn) is the vehicle of the interconnectedness of these natural affinities. These structures are created from various densities of cosmic aether, the primordial building substance of the universe—the “threads of manifestation” which are woven together into the various “cloths and fabrics” of life. Metaphysics speaks to us about this process of weaving, while astrology reveals much about the nature and purpose of the doth, as well as the time needed to create it.
Mọi Sự sống đều đến từ Sự sống Duy Nhất. Do đó có một sự tương hợp cốt yếu giữa mọi hình thức của Sự sống ấy. Trong hệ mặt trời của chúng ta, phẩm tính của tâm thức của sự tương hợp ấy—điều nằm dưới bản chất của Định luật Hấp Dẫn—là Bác ái. Cấu trúc của Trí Tuệ thiêng liêng đang hoạt động (mà trong hệ mặt trời của chúng ta được hiện thân bởi hành tinh Thổ Tinh) là vận cụ của tính liên kết của những sự tương hợp tự nhiên này. Những cấu trúc này được tạo nên từ nhiều mật độ khác nhau của dĩ thái vũ trụ, chất liệu kiến tạo nguyên sơ của vũ trụ—những “sợi chỉ của biểu hiện” được dệt lại với nhau thành những “tấm vải và kết cấu” khác nhau của sự sống. Siêu hình học nói với chúng ta về tiến trình dệt này, trong khi chiêm tinh học tiết lộ nhiều điều về bản chất và mục đích của tấm vải ấy, cũng như thời gian cần thiết để tạo ra nó.
The nature of the interconnectedness of life, as well as the inherent magnetic affinities between all forms of manifestation, are major facets of the Law of Correspondences. This allows the personality to link with the Soul, as well as for the Soul to link with its Source, the Monad—our Spiritual Self (see diagram 6). It is through the Law of Correspondences that we are able to become One with our own Spiritual Essence. This linkage is made possible through several dynamic processes of spiritual growth: meditation, prayer, and invocation. Briefly stated, meditation fosters the focus of magnetic attraction between the Soul and the personality. Prayer acknowledges Divine Presence in our life and as our Life, while invocation (which is actually a science in itself) brings Power into manifestation. Affirmation is a technique of invocation which is becoming increasingly popular in terms of the New Age approach to spiritual responsibility.
Bản chất của tính liên kết của sự sống, cũng như những sự tương hợp từ tính vốn có giữa mọi hình thức biểu hiện, là những phương diện chính của định luật tương ứng. Điều này cho phép phàm ngã liên kết với linh hồn, cũng như linh hồn liên kết với Nguồn của nó, Chân Thần—Bản Ngã Tinh thần của chúng ta (xem sơ đồ 6). Chính qua định luật tương ứng mà chúng ta có thể trở nên Một với Tinh Túy Tinh thần của chính mình. Sự liên kết này được làm cho khả hữu qua một số tiến trình năng động của tăng trưởng tinh thần: tham thiền, cầu nguyện và khẩn cầu. Nói ngắn gọn, tham thiền nuôi dưỡng trọng tâm hấp dẫn từ tính giữa linh hồn và phàm ngã. Cầu nguyện thừa nhận Hiện Diện thiêng liêng trong đời sống chúng ta và như chính Sự sống của chúng ta, trong khi khẩn cầu (thực ra tự nó là một khoa học) mang Quyền năng vào biểu hiện. Khẳng định là một kỹ thuật khẩn cầu đang ngày càng trở nên phổ biến theo cách tiếp cận của Kỷ Nguyên Mới đối với trách nhiệm tinh thần.
The human Monad is the originating Source of all of our incarnations. It is that individualized “Point of Light in the Mind of God” which links us direcdy to the Universal-Creative-Mind-Spirit and which is that Spirit. This Monad is Divinity eventuating and incarnating into human form. As the following diagram shows, the Monad is also triune in nature, and each of the three parts of this Trinity corresponds to one of the three parts of the other two. Together, the Personality-Soul-Monad comprise the Holy Trinity of Man, and are the archetype for Creative Expression as we know It to be. These three triangles, their nine component parts, and the Ray Energies which correspond to them, form essential facets of Soul-centered astrology.
Chân Thần con người là Nguồn khởi nguyên của tất cả các lần nhập thể của chúng ta. Đó là “Điểm Ánh Sáng trong Trí của Thượng đế” đã được biệt ngã hóa, vốn liên kết chúng ta trực tiếp với Tinh thần-Trí Sáng Tạo-Phổ Quát và vốn chính là Tinh thần ấy. Chân Thần này là thiên tính đang thành tựu và nhập thể vào hình tướng con người. Như sơ đồ sau cho thấy, Chân Thần cũng có bản chất tam vị, và mỗi một trong ba phần của Tam Vị này tương ứng với một trong ba phần của hai bộ ba kia. Cùng nhau, Phàm ngã-Linh hồn-Chân Thần cấu thành Tam Vị thiêng liêng của Con Người, và là nguyên mẫu cho Biểu Hiện Sáng Tạo như chúng ta biết Nó. Ba tam giác này, chín thành phần cấu tạo của chúng, và các Năng Lượng Cung tương ứng với chúng, tạo thành những phương diện cốt yếu của chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm.
Diagram 6: The Triune Nature of Man
Sơ đồ 6: Bản chất Tam Vị của Con Người
Postulate 6: Each of these “lesser lives” is made in the image of God.
Định đề 6: Mỗi một trong những “sự sống nhỏ hơn” này đều được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế.
Each of us has a direct line of correspondence and intimacy between ourself and our Divinity. In this respect, a human being is made in the image of God. Postulates seven, eight, and nine will further outline the structure of this Divine imprinting. Yet even though Man is a god and one with God, God is not a man, except when incarnating in human form. There is a quote from that incredibly beautiful and ancient Hindu text, the Bhagavad Gita, which may clarify this statement. It is spoken by Brahma, God the Creator, to His Disciple, Arjuna. The Lord Brahma says: “After having pervaded the universe with a fragment of myself, I remain.”
Mỗi chúng ta đều có một đường tương ứng và thân mật trực tiếp giữa bản thân mình và thiên tính của mình. Xét theo phương diện này, con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế. Các định đề bảy, tám và chín sẽ phác họa thêm cấu trúc của sự in dấu thiêng liêng này. Tuy nhiên, dù Con Người là một vị thần và là một với Thượng đế, Thượng đế không phải là con người, ngoại trừ khi nhập thể trong hình tướng con người. Có một trích dẫn từ bản văn Ấn giáo cổ xưa và đẹp đẽ đến kinh ngạc, Bhagavad Gita, có thể làm sáng tỏ phát biểu này. Đó là lời Brahma, Thượng đế Sáng Tạo, nói với Đệ tử của Ngài là Arjuna. Đức Brahma phán: “Sau khi thấm nhập vũ trụ bằng một mảnh của chính Ta, Ta vẫn còn lại.”
This statement is a succinct expression of all that is contained within postulates three, four, and five, as well as the great Law of Correspondences itself. The meaning of this phrase is that Divinity is always whole, even though It may manifest Itself through Its infinity of parts. Even in parts, It is whole, and It is whole beyond Its parts. Divinity is immanently Whole and transcendentally Whole. It is greater than the sum of Its parts and it is the sum of Its parts.
Phát biểu này là một biểu đạt súc tích của tất cả những gì chứa đựng trong các định đề ba, bốn và năm, cũng như trong chính định luật tương ứng vĩ đại. Ý nghĩa của cụm từ này là thiên tính luôn luôn toàn vẹn, dù Nó có thể biểu lộ Chính Nó qua vô số phần của Nó. Ngay cả trong các phần, Nó vẫn toàn vẹn, và Nó toàn vẹn vượt ngoài các phần của Nó. Thiên tính toàn vẹn một cách nội tại và toàn vẹn một cách siêu việt. Nó lớn hơn tổng các phần của Nó và Nó cũng là tổng các phần của Nó.
The duality of the Age of Pisces was based primarily on the transcendental nature of Divinity. This emphasized God as being “above,” and humanity as being “below.” In effect, this paradigm diminished humanity’s ability to use and take responsibility for its creative will. The duality of the Aquarian Age is focused on the unity of the two natures of Divine Expression: the transcendental as well as the immanent. The essential unified focus of the manifested universe is becoming more and more the frame of spiritual reference for the New Era. It is thus that an individual recognizes his or her inherent spiritual creative will as well as his link with all of humanity. This will in time eventuate into the Group Consciousness that will mark our Age.
Tính nhị nguyên của Kỷ Nguyên Song Ngư chủ yếu dựa trên bản chất siêu việt của thiên tính. Điều này nhấn mạnh Thượng đế như ở “trên cao,” còn nhân loại như ở “bên dưới.” Trên thực tế, mô hình này đã làm suy giảm khả năng của nhân loại trong việc sử dụng và chịu trách nhiệm về ý chí sáng tạo của mình. Tính nhị nguyên của Kỷ Nguyên Bảo Bình tập trung vào sự hợp nhất của hai bản chất của Biểu Hiện thiêng liêng: siêu việt cũng như nội tại. Trọng tâm hợp nhất cốt yếu của vũ trụ biểu hiện đang ngày càng trở thành khung quy chiếu tinh thần cho Kỷ Nguyên Mới. Do đó, một cá nhân nhận ra ý chí sáng tạo tinh thần vốn có của mình cũng như mối liên kết của mình với toàn thể nhân loại. Ý chí này theo thời gian sẽ thành tựu thành Tâm thức Nhóm, vốn sẽ đánh dấu Kỷ Nguyên của chúng ta.
Postulate 7: All of manifestation is energy in differentiating forms. This energy emanates from a Source which reabsorbs it after it has expressed itself through its forms and cycles.
Định đề 7: Toàn bộ biểu hiện là năng lượng trong những hình thức biến phân. Năng lượng này phát xạ từ một Nguồn, Đấng sẽ tái hấp thu nó sau khi nó đã biểu lộ qua các hình thức và chu kỳ của nó.
Postulate 8: There is no absolute death. There is only change of form and state. The cycle of birth and rebirth is endless until the Law of Cause and Effect (karma) is satisfied. It is then that unity is reached and reincarnation ceases.
Định đề 8: Không có cái chết tuyệt đối. Chỉ có sự thay đổi hình thức và trạng thái. Chu kỳ sinh và tái sinh là vô tận cho đến khi Định luật Nhân Quả (nghiệp quả) được thỏa mãn. Khi đó sự hợp nhất đạt được và luân hồi chấm dứt.
All of the creative substance in any one cycle of manifestation was birthed at the same time, during its Big Bang. The Law of Rebirth and the Law of the Recycling of Matter tell us that there have been and will be many such Big Bangs. The Universe began from this cyclic inception and unfolds through the creation of the myriad forms of its expression, yet it always remains essentially One. All of its forms emanate from the same Source and are created from the same primordial aether as its fundamental building material. Just as we alternate our breathing through a lifelong cycle of inhalations and exhalations, the present cycle of universal manifestation will once again be “inhaled” into its Source after it has passed through its cycle of incarnation. Then, after a certain interlude, the Universe will birth itself again into yet another expression of manifestation. The Ancient Wisdom Teachings tell us that cosmic reincarnation is an infinite process.
Toàn bộ chất liệu sáng tạo trong bất kỳ một chu kỳ biểu hiện nào đều được sinh ra cùng một lúc, trong Vụ Nổ Lớn của nó. Định luật Tái Sinh và Định luật Tái Chế Vật Chất cho chúng ta biết rằng đã có và sẽ có nhiều Vụ Nổ Lớn như thế. Vũ trụ bắt đầu từ sự khởi đầu có tính chu kỳ này và khai mở qua việc tạo ra vô số hình thức biểu hiện của nó, nhưng nó luôn luôn vẫn là Một về bản chất. Tất cả các hình thức của nó đều phát xạ từ cùng một Nguồn và được tạo ra từ cùng một dĩ thái nguyên sơ như chất liệu kiến tạo căn bản của nó. Cũng như chúng ta luân phiên hít vào và thở ra trong suốt chu kỳ sống của mình, chu kỳ biểu hiện vũ trụ hiện tại rồi sẽ lại được “hít vào” trở lại Nguồn của nó sau khi nó đã đi qua chu kỳ nhập thể của mình. Rồi sau một quãng gián đoạn nhất định, Vũ trụ sẽ lại tự sinh ra trong một biểu hiện khác nữa. Các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa cho chúng ta biết rằng luân hồi vũ trụ là một tiến trình vô hạn.
The above process has its definite parallel in terms of human existence. Each of us is born through a process by which an aspect of the Soul “cloaks” itself in the bodies of mental, astral/emotional, and physical matter. Each of us has a life span through which the opportunity for Soul infusion and evolutionary growth is made possible on both the individual and collective levels. At the appropriate time in this cycle, the Soul begins to remove itself from its three lower vehicles and absorbs the information of its experiences in that incarnation back into Itself. Then, at yet another proper moment, It comes forth again through the various densities of the three “lower worlds” which are appropriate to karma. The natal horoscope is, of course, based upon these “appropriate” and karmically induced moments. The interpretation by exoteric methodology reveals the nature of the interplay of the energies as they manifest in and through these three densest vehicles. The delineation of the horoscope through the Soul- centered approach reveals the purpose of the incarnating Soul, as well as its relationship to the trinity of the personality.
Tiến trình trên có sự tương đồng rõ rệt trong phương diện hiện hữu của con người. Mỗi chúng ta được sinh ra qua một tiến trình mà trong đó một phương diện của linh hồn “khoác” lên mình các thể bằng vật chất trí tuệ, cảm dục/cảm xúc và hồng trần. Mỗi chúng ta có một khoảng đời mà trong đó cơ hội cho sự thấm nhuần của linh hồn và sự tăng trưởng tiến hoá được làm cho khả hữu ở cả cấp độ cá nhân lẫn tập thể. Vào thời điểm thích hợp trong chu kỳ này, linh hồn bắt đầu rút mình ra khỏi ba vận cụ thấp của nó và hấp thu thông tin từ những kinh nghiệm của nó trong lần nhập thể ấy trở lại vào Chính Nó. Rồi, vào một thời điểm thích hợp khác, Nó lại xuất hiện qua các mật độ khác nhau của “ba cõi thấp” vốn thích hợp với nghiệp quả. Dĩ nhiên, lá số chiêm tinh sinh được đặt nền trên những thời điểm “thích hợp” và do nghiệp quả cảm ứng này. Sự diễn giải bằng phương pháp ngoại môn tiết lộ bản chất của sự tương tác của các năng lượng khi chúng biểu hiện trong và qua ba vận cụ đậm đặc nhất này. Sự luận giải lá số chiêm tinh qua cách tiếp cận lấy linh hồn làm trung tâm tiết lộ mục đích của linh hồn nhập thể, cũng như mối liên hệ của nó với bộ ba của phàm ngã.
There is another facet to this cycling of births. The process of birth, life span, what we call death, and the synthesizing, absorbative process which occurs after the Life Force is removed from the physical body, is the essential key to the rhythm of evolution. It also reveals the essential quality of Love which is at the root of all manifestation in our particular solar system.
Còn có một phương diện khác của chu kỳ sinh này. Tiến trình sinh ra, khoảng đời, điều mà chúng ta gọi là cái chết, và tiến trình tổng hợp, hấp thu xảy ra sau khi Sinh Lực được rút khỏi thể xác, là chìa khóa cốt yếu cho nhịp điệu của tiến hoá. Nó cũng tiết lộ phẩm tính cốt yếu của Bác ái vốn là cội rễ của toàn bộ biểu hiện trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta.
The purpose of involution is to allow Spirit to penetrate deeper and deeper into matter; for matter and all things of matter to realize their spiritual essence. Evolution is the process by which this increasingly spiritual, self-realizing matter is reabsorbed back into the Source of its creation. Yet as each of us “returns Home,” we come back with more than what we were when we left. The Path of Return is such that the closer we get to our spiritual Self, the greater our realization of our own Divinity. This realization comes through our expanding consciousness, and the development of consciousness is a function of the Soul—the Love aspect of Divinity.
Mục đích của giáng hạ tiến hoá là để Tinh thần thấm nhập ngày càng sâu hơn vào vật chất; để vật chất và mọi sự thuộc vật chất nhận ra tinh túy tinh thần của mình. Tiến hoá là tiến trình mà qua đó vật chất ngày càng tinh thần hóa và tự chứng nghiệm này được tái hấp thu trở lại Nguồn sáng tạo của nó. Tuy nhiên, khi mỗi chúng ta “trở về Nhà,” chúng ta trở về với nhiều hơn những gì mình đã là khi ra đi. Con Đường Trở Về là như thế: chúng ta càng đến gần Bản Ngã tinh thần của mình, thì sự chứng nghiệm về thiên tính của chính mình càng lớn. Sự chứng nghiệm này đến qua tâm thức đang mở rộng của chúng ta, và sự phát triển của tâm thức là một chức năng của linh hồn—phương diện Bác ái của thiên tính.
The Grace of God is contained within this ever-expanding Self- realization. Divinity as Spiritual Will continues to manifest Itself while Soul as Love continues to create the vehicles for Its expression. The more we realize ourselves as Souls, the more we come to identify the Spiritual Will which is our essential being. The personality provides the vehicle for the Intelligence or linking aspects of Life to mix and interplay, thus creating new opportunities for the expression of Spirit in form. Thus, as Divinity comes to “know Itself’ through the creation of Its forms of manifestation, we (as Its forms) come to know ourselves as It. This is the essential purpose for being alive—to know through our consciousness that we are Life Itself. In the Aquarian Age, this realization will come to each individual through service to humanity and through the application of the Laws and Principles of the New Age.
Ân Sủng của Thượng đế được chứa đựng trong sự tự chứng nghiệm ngày càng mở rộng này. Thiên tính như Ý Chí Tinh thần tiếp tục biểu lộ Chính Nó trong khi linh hồn như Bác ái tiếp tục tạo ra các vận cụ cho sự biểu lộ của Nó. Chúng ta càng nhận ra mình là các linh hồn, chúng ta càng đi đến chỗ đồng hoá với Ý Chí Tinh thần vốn là bản thể cốt yếu của mình. Phàm ngã cung cấp vận cụ để các phương diện Trí Tuệ hay liên kết của Sự sống hòa trộn và tương tác, nhờ đó tạo ra những cơ hội mới cho sự biểu lộ của Tinh thần trong hình tướng. Do đó, khi thiên tính đi đến chỗ “biết Chính Nó” qua việc tạo ra các hình thức biểu hiện của Nó, thì chúng ta (với tư cách là các hình thức của Nó) đi đến chỗ biết chính mình là Nó. Đây là mục đích cốt yếu của việc sống—biết qua tâm thức của mình rằng chúng ta là Chính Sự sống. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, sự chứng nghiệm này sẽ đến với mỗi cá nhân qua phụng sự nhân loại và qua việc áp dụng các Định luật và Nguyên khí của Kỷ Nguyên Mới.
The next two postulates outline a very major occult principle—the Law of Sevens.
Hai định đề tiếp theo phác họa một nguyên khí huyền bí rất quan trọng—Định luật của Bảy.
Postulate 9: Our solar system has a septenary nature. It responds and interplays with seven cosmic emanating sources within our immediate universe. The energy radiations of these sources are called the Seven Rays, each of which has specific qualities of vibration and manifestation.
Định đề 9: Hệ mặt trời của chúng ta có bản chất thất phân. Nó đáp ứng và tương tác với bảy nguồn phát xạ vũ trụ trong vũ trụ gần nhất của chúng ta. Các bức xạ năng lượng của những nguồn này được gọi là bảy Cung, mỗi Cung có những phẩm tính rung động và biểu hiện đặc thù.
The number seven was called “worthy of veneration” by the Pythagoreans. These students of esoteric mathematics knew that the number seven was highly significant to the Sacred Teachings. It represents the creative powers of the Seven Spirits before the Throne of God, also known as the Archangels. Seven is thus the number of Cosmic Law, for it is through these seven primary forces that the One creates and builds the primary structures of the manifested universe. This heptad of forces is essential to Soul-centered astrology, and is here known as the Seven Rays.
Con số bảy được những người Pythagoras gọi là “xứng đáng được tôn kính.” Những đạo sinh của toán học nội môn này biết rằng số bảy có ý nghĩa rất lớn đối với các Giáo Huấn Thiêng Liêng. Nó tượng trưng cho các quyền năng sáng tạo của Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế, cũng được biết đến như các Tổng Thiên Thần. Do đó, bảy là con số của Định luật Vũ trụ, vì chính qua bảy mãnh lực sơ yếu này mà Đấng Duy Nhất sáng tạo và xây dựng các cấu trúc sơ yếu của vũ trụ biểu hiện. Bộ bảy mãnh lực này là điều cốt yếu đối với chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm, và ở đây được biết đến như bảy Cung.
There are many sevens, both in the Ancient Wisdom Teachings and in Soul-centered astrology. Primary among these are:
Có nhiều bộ bảy, cả trong các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa lẫn trong chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm. Nổi bật nhất trong số đó là:
the Seven Planes of Manifestation
bảy Cõi Biểu Hiện
the Seven Kingdoms in Nature
bảy Giới trong Thiên Nhiên
the Seven Levels of Consciousness
bảy Cấp độ Tâm thức
the Seven Chakras, or Centers of Force
bảy Luân xa, hay các Trung Tâm Mãnh Lực
the Seven Sacred Planets
bảy Hành Tinh Thiêng Liêng
the Seven Root Races of Man
bảy Giống dân gốc của Con Người
the Seven Rays
bảy Cung
The Ancient Wisdom Teachings tell us that our solar system is one of seven related star systems. Each of these is a tremendous center or vortex of life energy in the body of a Great Entity. This Divinity is called the “One About Whom Naught May Be Said,” so vast is Its consciousness and scope of Being. Each of these systems is also the primary vehicle for the expression of one or the other of the Seven Rays. Our particular solar system is said to be the Heart Center of the “One,” and is thus the vehicle of expression for the Second of the Seven Rays—the Ray of Love/Wisdom. This endows the consciousness of our Solar System (for It, too, is alive and is the immediate Divinity within Whom we “live, move, and have our being”) with Love/Wisdom as the primary quality of the expression of Its Life Force. Thus the more conscious a person becomes, the more loving, and the more loving, the more conscious. In our solar system, the words “love” and “consciousness” mean and are the same thing. All the problems of the individual and of humanity have to do with a block in (and most important, may be resolved by) the flow of love/consciousness. Once this block is freed—once a channel is opened up to the flow of love/Consciousness—the needed healing takes place. Then abundance replaces lack on any level and balance is restored.
Các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa cho chúng ta biết rằng hệ mặt trời của chúng ta là một trong bảy hệ sao có liên hệ với nhau. Mỗi hệ trong số này là một trung tâm hay xoáy năng lượng sự sống khổng lồ trong thể của một Thực Thể Vĩ Đại. Thiên tính này được gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị,” vì tâm thức và phạm vi Bản Thể của Ngài quá bao la. Mỗi hệ này cũng là vận cụ sơ yếu cho sự biểu lộ của một hay một Cung khác trong bảy Cung. Hệ mặt trời đặc thù của chúng ta được nói là Trung Tâm Tim của “Đấng ấy,” và do đó là vận cụ biểu lộ cho Cung thứ hai trong bảy Cung—Cung Bác Ái – Minh Triết. Điều này ban cho tâm thức của hệ mặt trời chúng ta (vì Nó cũng sống và là thiên tính trực tiếp mà trong Ngài chúng ta “sống, chuyển động và hiện hữu”) Bác Ái – Minh Triết như phẩm tính sơ yếu của sự biểu lộ Sinh Lực của Nó. Do đó, một người càng trở nên hữu thức, thì càng yêu thương hơn, và càng yêu thương, thì càng hữu thức hơn. Trong hệ mặt trời của chúng ta, các từ “bác ái” và “tâm thức” có cùng nghĩa và là cùng một điều. Mọi vấn đề của cá nhân và của nhân loại đều liên quan đến một sự bế tắc trong dòng chảy của bác ái/tâm thức (và quan trọng nhất, có thể được giải quyết bằng) dòng chảy ấy. Một khi sự bế tắc này được giải phóng—một khi một kênh dẫn được mở ra cho dòng chảy của bác ái/Tâm thức—thì sự chữa lành cần thiết sẽ diễn ra. Khi đó sung túc thay thế thiếu thốn ở bất kỳ cấp độ nào và sự quân bình được phục hồi.
Human beings have seven vortices of life energy; so does each planet and solar system. The occult term for these centers of force is chakra, from the Sanskrit word for “wheel.” In our solar system the seven chakras, or expressions for the Second Ray of Love/Wisdom, are: Vulcan, Mercury, Venus, Jupiter, Saturn, Uranus, and Neptune. Each of these planets also corresponds to one or. the other of the Seven Rays. Finally, each of these seven planets, Rays, and chakras corresponds to an endocrine gland and/or a part of the human body. Thus there is a direct linkage from the human heart into the Heart of the One About Whom Naught May Be Said. This relationship is based on the Law of Correspondences, and is expressed through the Law of Sevens. Nothing happens in the universe that doesn’t have its correspondence on all the planes of manifestation. The Law of Cause and Effect (karma) intimately interrelates and interconnects all of these structures. It is the extension of our awareness that perceives that reality, and it is the realization of Love which allows us to be conscious of this unity. The interplay of planets, Rays, chakras, and physical organs is vital to the nature of the structure of those laws, energies, and methods of horoscope delineation fundamental to the outworking of Soul-centered astrology. (See tabulation 3 on p. 155.)
Con người có bảy xoáy năng lượng sự sống; mỗi hành tinh và hệ mặt trời cũng vậy. Thuật ngữ huyền bí cho các trung tâm mãnh lực này là chakra, từ tiếng Phạn nghĩa là “bánh xe.” Trong hệ mặt trời của chúng ta, bảy chakra, hay những biểu hiện của Cung hai Bác Ái – Minh Triết, là: Vulcan, Thủy Tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh. Mỗi hành tinh này cũng tương ứng với một hay một Cung khác trong bảy Cung. Sau cùng, mỗi một trong bảy hành tinh, Cung và chakra này tương ứng với một tuyến nội tiết và/hoặc một phần của cơ thể con người. Do đó có một sự liên kết trực tiếp từ trái tim con người vào Trái Tim của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Mối liên hệ này dựa trên định luật tương ứng, và được biểu lộ qua Định luật của Bảy. Không có gì xảy ra trong vũ trụ mà lại không có sự tương ứng của nó trên mọi cõi biểu hiện. Định luật Nhân Quả (nghiệp quả) liên hệ và kết nối mật thiết tất cả các cấu trúc này. Chính sự mở rộng nhận biết của chúng ta tri nhận thực tại ấy, và chính sự chứng nghiệm Bác ái cho phép chúng ta hữu thức về sự hợp nhất này. Sự tương tác của các hành tinh, Cung, chakra và các cơ quan thể xác là điều thiết yếu đối với bản chất của cấu trúc của những định luật, năng lượng và phương pháp luận giải lá số chiêm tinh vốn là nền tảng cho sự triển khai của chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm. (Xem bảng 3 ở trang 155.)
Postulate 10: This sevenfold nature is, for the purposes of manifestation, divided into the three (symbolized by the triangle) and the four (symbolized by the square and the equal-armed cross).
Định đề 10: Bản chất thất phân này, vì các mục đích biểu hiện, được chia thành bộ ba (được tượng trưng bằng tam giác) và bộ bốn (được tượng trưng bằng hình vuông và thập giá có bốn cánh bằng nhau).
The three is always the Trinity. In its most fundamental, this Trinity may be expressed as Spirit, Soul, Matter. We have also discussed the outworking of the three as Monad, Soul, and Personality. We shall shortly discuss the three as the Trinity of the major Rays: Ray One of Will, Ray Two of Love, and Ray Three of Intelligence.
Ba luôn luôn là Tam Vị. Ở mức căn bản nhất, Tam Vị này có thể được biểu lộ như Tinh thần, Linh hồn, Vật chất. Chúng ta cũng đã bàn về sự triển khai của bộ ba như Chân Thần, Linh hồn và Phàm ngã. Chúng ta sẽ sớm bàn đến bộ ba như Tam Vị của các Cung chính: Cung một của Ý Chí, Cung hai của Bác ái, và Cung ba của Trí Tuệ.
As the One, Spirit is the Divine Father as Creator. As the Two, Spirit is the Great Mother, the Sustainer of Life. But as the Three, we see Divinity giving birth to the forms of Itself out of Itself, and it is thus that the Triad represents the expression of the interplay of Spirit and Soul, Male and Female. The three can thus be said to be the Creative Force of Life in the action of manifestation.
Là Đấng Duy Nhất, Tinh thần là Cha thiêng liêng với tư cách Đấng Sáng Tạo. Là Hai, Tinh thần là Đại Mẫu, Đấng Duy Trì Sự sống. Nhưng là Ba, chúng ta thấy thiên tính sinh ra các hình thức của Chính Nó từ Chính Nó, và do đó Tam nguyên tinh thần tượng trưng cho sự biểu lộ của sự tương tác giữa Tinh thần và Linh hồn, Nam và Nữ. Vì vậy, ba có thể được nói là Mãnh Lực Sáng Tạo của Sự sống trong hành động biểu hiện.
Four is representative of the crystallization of manifestation into all of its myriad and infinite forms. Four is Spirit, Soul, and Matter concretized, birthed. It is also the number of foundation, structure, and roots. Four is halfway between one and seven, and as such, it is always representative of a turning point in a cycle, as well as the point of sustained tension in any given equilibrium. The Fourth Ray, for example, is called Harmony through Conflict. The Fourth Kingdom of the Seven is the Human, standing as it does halfway between the three lower kingdoms of nature and the three higher. As we shall soon discover, the fourth chakra is the heart center, and it, like humanity itself, rests halfway between the three centers of personality expression and the three centers of the Soul.
Bốn tượng trưng cho sự kết tinh của biểu hiện thành toàn bộ vô số và vô hạn hình thức của nó. Bốn là Tinh thần, Linh hồn và Vật chất được cụ thể hóa, được sinh ra. Nó cũng là con số của nền tảng, cấu trúc và cội rễ. Bốn ở giữa một và bảy, và như thế, nó luôn luôn tượng trưng cho một bước ngoặt trong một chu kỳ, cũng như điểm tập trung nhất tâm được duy trì trong bất kỳ trạng thái quân bình nào. Thí dụ, Cung bốn được gọi là Hài Hòa qua Xung Đột. Giới thứ tư trong bảy giới là giới Nhân Loại, đứng đúng ở giữa ba giới thấp của thiên nhiên và ba giới cao hơn. Như chúng ta sẽ sớm khám phá, chakra thứ tư là trung tâm tim, và nó, cũng như chính nhân loại, nằm ở giữa ba trung tâm biểu hiện của phàm ngã và ba trung tâm của linh hồn.
When we add three and four together—when Spirit interplays through the birth of Its forms—we have a cycle of manifestation, a seven. But should we multiply three times four, we have another very important number (especially to astrologers), the twelve. Multiplication allows for a greater differentiation of energy than does addition. Thus twelve is indicative of all the potential which comes through the distribution and dissemination of energy. Yet when we add the two numbers which comprise the twelve, we get (1 + 2) = 3. Thus twelve is a direct extension of the powers inherent in three when multiplied by four, the number of the concretization of matter. Twelve allows for a wide range of building to occur and for a multiplicity of life expressions to manifest through it. Some of the more important twelves are:
Khi chúng ta cộng ba và bốn lại với nhau—khi Tinh thần tương tác qua sự sinh ra các hình thức của Nó—chúng ta có một chu kỳ biểu hiện, một số bảy. Nhưng nếu chúng ta nhân ba với bốn, chúng ta có một con số rất quan trọng khác (đặc biệt đối với các nhà chiêm tinh), đó là mười hai. Phép nhân cho phép một sự biến phân năng lượng lớn hơn phép cộng. Do đó, mười hai biểu thị toàn bộ tiềm năng đến qua sự phân phối và truyền tỏa năng lượng. Tuy nhiên, khi chúng ta cộng hai con số cấu thành mười hai, ta được (1 + 2) = 3. Vì vậy, mười hai là một sự mở rộng trực tiếp của các quyền năng vốn có trong ba khi được nhân với bốn, con số của sự cụ thể hóa vật chất. Mười hai cho phép một phạm vi kiến tạo rộng lớn diễn ra và cho phép nhiều biểu hiện sự sống hiển lộ qua nó. Một số bộ mười hai quan trọng hơn là:
1. The twelve signs of the zodiac (based on the three qualities of the motion of energy: cardinal, fixed, and mutable; and the four basic elements: fire, earth, air, and water).
1. mười hai dấu hiệu của Hoàng đạo (dựa trên ba phẩm tính của chuyển động năng lượng: chính yếu, cố định và biến đổi; và bốn nguyên tố căn bản: lửa, đất, khí và nước).
The twelve tribes of Israel (as well as the twelve Prophets and the twelve Patriarchs).
mười hai bộ tộc của Israel (cũng như mười hai Nhà Tiên Tri và mười hai Tổ Phụ).
The twelve Gates of Heaven.
mười hai Cổng Trời.
The twelve Apostles of Jesus.
mười hai Tông Đồ của Đức Jesus.
Finally, let us mention another number that, from an astrological and metaphysical perspective, is very interesting. This is the number eighty-four, produced by multiplying seven times twelve. This number is also reached by adding three cycles of seven times four, or twenty- eight. Eighty-four years is the length of the orbit of Uranus around the Sun. It thus takes this planet seven years to pass through each of the twelve signs. The passage of Uranus through four signs takes twenty-eight years (2 + 8 = 10; 1 + 0 = /); eight signs take fifty-six years (5 +6 = 11; 1 + 1 = 2); while the entire orbit takes the full eighty-four years (8 + 4 = 12; 1 + 2=3).
Sau cùng, hãy nhắc đến một con số khác mà, từ góc nhìn chiêm tinh và siêu hình học, rất thú vị. Đó là con số tám mươi bốn, được tạo ra bằng cách nhân bảy với mười hai. Con số này cũng đạt được bằng cách cộng ba chu kỳ của bảy nhân bốn, tức hai mươi tám. Tám mươi bốn năm là độ dài quỹ đạo của Thiên Vương Tinh quanh Mặt Trời. Do đó, hành tinh này mất bảy năm để đi qua mỗi một trong mười hai dấu hiệu. Sự đi qua của Thiên Vương Tinh qua bốn dấu hiệu mất hai mươi tám năm (2 + 8 = 10; 1 + 0 = /); tám dấu hiệu mất năm mươi sáu năm (5 +6 = 11; 1 + 1 = 2); trong khi toàn bộ quỹ đạo mất trọn tám mươi bốn năm (8 + 4 = 12; 1 + 2=3).
Uranus is closely associated with the functions of the Collective Mind which, by permeating all of humanity, creates those connective links between the individual and Mankind. The length of its orbit and its passage of seven years through each of the twelve signs is highly significant in this respect. The orbit of Uranus reveals the cycle of common human development.
Thiên Vương Tinh liên hệ mật thiết với các chức năng của Trí Tuệ Tập Thể, vốn bằng cách thấm nhập toàn thể nhân loại, tạo ra những mối liên kết nối kết giữa cá nhân và Nhân Loại. Độ dài quỹ đạo của nó và việc nó đi qua mỗi một trong mười hai dấu hiệu trong bảy năm có ý nghĩa rất lớn về phương diện này. Quỹ đạo của Thiên Vương Tinh tiết lộ chu kỳ phát triển chung của con người.
Since seven is indicative of the entirety of a cycle of manifestation, when it is multiplied by four, the resulting number—twenty-eight— reveals an anchoring, a concretization, and a readiness to move on through some major turning point or crisis of completion into a new phase of life. The astrologer will note that the twenty-eighth, fifty- sixth, and eighty-fourth years of life coincide with major phases of the progressed lunar and transiting Saturn cycles. These two planetary passages are representative of the nature of the psychological, developmental growth of an individual in his or her relationship to tribe, family, society, and eventually, his participation in the planetary life.
Vì bảy là dấu hiệu chỉ toàn thể một chu kỳ biểu hiện, nên khi nó được nhân với bốn, con số kết quả—hai mươi tám—bộc lộ một sự neo giữ, một sự cụ thể hóa, và một sự sẵn sàng để tiến qua một bước ngoặt lớn hay một cuộc khủng hoảng hoàn tất nào đó để đi vào một giai đoạn mới của đời sống. Nhà chiêm tinh sẽ lưu ý rằng các năm thứ hai mươi tám, năm mươi sáu và tám mươi bốn của đời người trùng hợp với những giai đoạn lớn của các chu kỳ Mặt Trăng tiến trình và Thổ Tinh quá cảnh. Hai cuộc vận hành hành tinh này tiêu biểu cho bản chất của sự tăng trưởng tâm lý, phát triển của một cá nhân trong mối liên hệ của người ấy với bộ tộc, gia đình, xã hội, và cuối cùng là sự tham dự của người ấy vào sự sống hành tinh.
These three twenty-eight-year periods of life may be viewed as follows:
Ba giai đoạn hai mươi tám năm này của đời sống có thể được xem như sau:
Years 1—28: the period for the establishment and potential integration of the personality. The anchoring of self-awareness through tribal and family associations; the unfoldment of the biological karma.
Năm 1—28: giai đoạn để thiết lập và có khả năng tích hợp phàm ngã. Sự neo giữ của ngã thức thông qua các liên hệ bộ tộc và gia đình; sự khai mở của nghiệp quả sinh học.
Years 29—56: the period of the expansion of the personality into the dynamics of its social roles. The unfolding of self-awareness through societal karma. The awakening to the presence of the Soul is quickened by the tensions produced through one’s social responsibilities, as well as through the urge for recognition by one’s society.
Năm 29—56: giai đoạn mở rộng của phàm ngã vào động lực của các vai trò xã hội của nó. Sự khai mở của ngã thức thông qua nghiệp quả xã hội. Sự thức tỉnh đối với sự hiện diện của linh hồn được thúc đẩy nhanh hơn bởi những căng thẳng phát sinh qua các trách nhiệm xã hội của một người, cũng như qua sự thôi thúc được xã hội mình công nhận.
Years 57—84: the period of the lessening of the hold of the personality on the three lower vehicles and the increase of their control by the Soul. The detachment of responsibilities on the personal level and the increase of awareness of the need to contribute with developing impersonality to the collective. The assumption of responsibility for a greater role in the planetary life.
Năm 57—84: giai đoạn sự nắm giữ của phàm ngã trên ba vận cụ thấp giảm bớt và sự kiểm soát của linh hồn đối với chúng gia tăng. Sự tách rời khỏi các trách nhiệm ở cấp độ cá nhân và sự gia tăng nhận thức về nhu cầu đóng góp cho tập thể với tính vô ngã đang phát triển. Sự đảm nhận trách nhiệm cho một vai trò lớn lao hơn trong sự sống hành tinh.
1 The Christ, Jesus, gave a vision of this coming New Age when, in Luke 22:10 he told his Disciples: ‘When ye are entered into the city, there shall a man meet you, bearing a pitcher of water; follow him into the house where he entereth in.”
2 Neihardt, J. Black Elk Speaks. New York: Washington Square Press, 1972.
3 For insight into more traditional astrological teachings with a spiritual perspective, read Alan Oken’s Complete Astrology.
4 There are three references which amplify this study. They are: A Treatise on White Magic and A Treatise on Cosmic Tire, by Alice A. Bailey, and The Secret Doctrine, by H. P. Blavatsky.
5 At this period in human history, a tremendous “karmic cleansing” is taking place, both personally and collectively, so that more and more people will come roan awareness of this Presence, even though the crises that this necessitates may be quite painful. Yet the rewards of this process are equally great. The years 1983—1995 will be especially transformative in this respect, as Pluto transits its own sign, Scorpio.
6 The planet Uranus, in its rulership of Aquarius, its association with the faculty of intuition, and the evolution of so much that is of the New Age, is so very important that it occupies a major theme throughout this work. Chapter 4 is an essay on the significance this planet and its sign have on contemporary life, and their continuing influence in the coming Age.
7 As quoted in Alice A. Bailey’s The Rays and the Initiations.
8 Discipleship in the New Age, vol. I, p. 715.
9 The nature and influence of the Seven Rays upon the signs, planets, World Ages, and human psychological characteristics is at the core of the teachings of Soul-centered astrology. We will be exploring the implications of the Seven Rays in parts 2 and 3, yet it is essential for the sake of a wider comprehension of the Laws and Principles of the New Age that they be mentioned here, since the nature of their influence is very appropriate in light of the present subject matter. After the reader has spent some time with the material contained in parts 2 and 3 about the Rays, he or she may then wish to go over these pages once again.
10 The happiness and delights of the life of the personality are many, as are the incredible Joys and Rewards of the life of the Soul. But many, many people have to struggle with the weight of their life before it becomes Light and Joy-filled. Indeed,one of the things we learn how to do on this Path of Self-discovery is to perceive, integrate, and then radiate such Joy 360 degrees around, above, and below us! Such is the nature of the Sun, the Creative Spirit in each of us.
11The New Group of World Servers is the result of such efforts at individualizing, connecting, and networking on a global level. One’s participation in the NGWS is an attitude, and is characterized by the active and practically expressed urge to be of service to humanity. For more about the New Group of World Servers, the reader is advised co consult the book (and a most important volume it is) Serving Humanity—A Compilation, by Alice A. Bailey (edited by Aart Jurriaanse).
12 These two paragraphs appeared in ‘World Service through the Power of Thought.” Published by the Lucis Trust, New York, 1974.
13 See Bibliography for further information on this subject.
PART TWO
A SOUL-CENTERED ALPHABET: THE ASTROLOGICAL BUILDING BLOCKS
6. The Nature and Influence of the Seven Rays—Bản Chất và Ảnh Hưởng của Bảy Cung
The seven brothers are all the children of the same Father, but the elder three partake of the Father’s nature. The younger four resemble the Mother. The three elder sons go forth into the universe of stars, and there they represent the Father. The younger four go forth into the universe of stars and show the nature of the one the Father loved.
Bảy huynh đệ đều là con của cùng một Người Cha, nhưng ba người anh cả dự phần vào bản tính của Cha. Bốn người bạn giống Mẹ. Ba người con lớn đi ra vào vũ trụ của các vì sao, và ở đó Các Ngài đại diện cho Cha. Bốn người bạn đi ra vào vũ trụ của các vì sao và biểu lộ bản tính của Đấng mà Cha yêu thương.
—Alice Bailey, Esoteric Psychology, Volume I
—Alice Bailey, Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I
The First Ray: The Ray of Will/Power
Cung một: Cung Ý Chí/Quyền Năng
The Second Ray: The Ray of Love/Wisdom
Cung hai: Cung Bác Ái – Minh Triết
The Third Ray: The Ray of Active Intelligence
Cung ba: Cung Trí Tuệ Hoạt Động
The Fourth Ray: The Ray of Harmony Through Conflict
Cung bốn: Cung Hài Hòa Qua Xung Đột
The Fifth Ray: The Ray of Concrete Knowledge and Science
Cung năm: Cung Tri Thức Cụ Thể và Khoa Học
The Sixth Ray: The Ray of Devotion and Idealism
Cung sáu: Cung Sùng Tín và Duy Tâm
The Seventh Ray: The Ray of Ceremonial Order and
Cung bảy: Cung Trật Tự Nghi Lễ và
Magic
huyền thuật
One of the most universal beliefs associated with traditional astrology infers that the planets and signs cause terrestrial events and personality characteristics. As such, there is the tendency to view the zodiac and the heavenly spheres as instigators of a fated causality. This idea of predestination implies that humanity has little hope for escape from its beleaguered condition. For the Soul-centered, this is a misconception. Yet for those individuals totally focused and identified with the three worlds of the personality, this is not altogether incorrect.
Một trong những niềm tin phổ quát nhất gắn với chiêm tinh học truyền thống là suy ra rằng các hành tinh và các dấu hiệu gây ra các biến cố trên Trái Đất và các đặc tính phàm ngã. Vì thế, có khuynh hướng xem Hoàng đạo và các thiên cầu như những tác nhân khởi phát một quan hệ nhân quả định mệnh. Ý niệm tiền định này hàm ý rằng nhân loại có rất ít hy vọng thoát khỏi tình trạng khốn đốn của mình. Đối với người lấy linh hồn làm trung tâm, đây là một ngộ nhận. Tuy nhiên, đối với những cá nhân hoàn toàn tập trung và đồng hoá với ba cõi giới của phàm ngã, điều này không hoàn toàn sai.
The vast majority of personality-centered human beings are swept along unconsciously by the rhythms, movements, and patterns of their biological karma, instinctive desires, and national orientation. There is very little actual sense of self-consciousness, and what little there may be is too easily suffused by the nonindividualized, collective herd instinct. They are incapable of actuating and integrating into daily life the kind of self-actualization and self-realization that characterizes one in whom Soul-consciousness has been developed. It is only when Spiritual Will expressed through the Soul connects, via the Rainbow Bridge, to the personal will that such a focus of self- actualization is possible. Then, a person may recognize him- or herself as a co-creator of his own destiny, along with the Plan of the Creator. At a later and more evolved stage of individual development, he begins to recognize and accept the responsibility for being a cocreator of the collective destiny of humanity.
Đại đa số những con người lấy phàm ngã làm trung tâm bị cuốn đi một cách vô thức bởi các nhịp điệu, vận động và mô hình của nghiệp quả sinh học, các ham muốn bản năng, và định hướng quốc gia của họ. Có rất ít ý thức thực sự về ngã thức, và chút ít nào có thể có thì lại quá dễ bị bản năng bầy đàn tập thể, chưa biệt ngã hóa, thấm ngập. Họ không có khả năng hiện thực hóa và tích hợp vào đời sống hằng ngày loại tự thể hiện và tự chứng nghiệm vốn đặc trưng cho người nơi đó tâm thức linh hồn đã được phát triển. Chỉ khi Ý Chí tinh thần được biểu lộ qua linh hồn nối kết, thông qua Cây cầu vồng, với ý chí cá nhân, thì một tiêu điểm tự thể hiện như thế mới có thể có được. Khi ấy, một người có thể nhận ra chính mình là đồng sáng tạo viên của định mệnh riêng mình, cùng với Thiên Cơ của Đấng Sáng Tạo. Ở một giai đoạn phát triển cá nhân muộn hơn và tiến hóa hơn, y bắt đầu nhận ra và chấp nhận trách nhiệm là một đồng sáng tạo viên của định mệnh tập thể của nhân loại.
Popularistic, personality-centered astrology has historically mirrored this fatalistic, causal relationship between the planets and the signs and humanity, and as a result, has strengthened this thought-form of dependency and helplessness. It should be said, however, that in the past twenty-five years, much has been done by the Humanistic Movement among professional astrologers to alter this widely accepted view. Yet the distinction has to be made that personality-centered people—the vast majority of people in the world—identify themselves with the materialization of events and attach themselves to the forms and effects of manifestation. The Soul-centered identify themselves much more with the relationship between cause and effect, and respond to the quality aspect or consciousness inherent in manifestation. An increasing number of us are currently developing along this latter line of approach to life and are dealing with ourselves, our brothers and sisters, and the world, accordingly. The very few Spirit- or God-centered individuals are the factors and direct vehicles of causality in our world, and identify themselves with Life Itself.
Chiêm tinh học đại chúng, lấy phàm ngã làm trung tâm, trong lịch sử đã phản chiếu mối quan hệ nhân quả mang tính định mệnh này giữa các hành tinh, các dấu hiệu và nhân loại, và vì vậy đã củng cố hình tư tưởng về sự lệ thuộc và bất lực này. Tuy nhiên, cần phải nói rằng trong hai mươi lăm năm qua, Phong Trào Nhân Bản trong giới các nhà chiêm tinh chuyên nghiệp đã làm được nhiều điều để thay đổi quan điểm được chấp nhận rộng rãi này. Tuy vậy, cần phải phân biệt rằng những người lấy phàm ngã làm trung tâm—đại đa số người trên thế giới—đồng hoá mình với sự hiện hình của các biến cố và gắn mình với các hình tướng và hiệu quả của biểu hiện. Những người lấy linh hồn làm trung tâm đồng hoá mình nhiều hơn với mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả, và đáp ứng với phương diện phẩm tính hay tâm thức vốn nội tại trong biểu hiện. Hiện nay, ngày càng nhiều người trong chúng ta đang phát triển theo đường lối tiếp cận đời sống sau này và đang đề cập đến chính mình, các huynh đệ và tỷ muội của mình, và thế giới, theo đó. Rất ít cá nhân lấy tinh thần hay Thượng đế làm trung tâm chính là các yếu tố và vận cụ trực tiếp của nhân quả trong thế giới chúng ta, và đồng hoá mình với chính Sự Sống.
The Science of Relationship is intimately involved with the expression of consciousness. The nature of Soul-centered astrology concerns itself primarily with the karma, patterns, and timing of the cycles of those relationships which unfold the consciousness of the One Life through all Its infinite forms of manifestation. The Seven Rays are the basic building energies of manifestation and are the keynotes of this relationship between cause and effect. It is the interplay between the Seven Rays and the twelve zodiacal signs, each operating through three basic levels of expression (see chapter 7); the seven sacred and the five non-sacred planets (creating thus another twelve); the seven major vital life centers and their corresponding endocrine glands; and, in an associative sense, the major planetary aspects and the twelve houses of the natal chart, that form the basis for the astrology of the New Age.
Khoa học về Mối Liên Hệ gắn bó mật thiết với sự biểu lộ của tâm thức. Bản chất của chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm chủ yếu quan tâm đến nghiệp quả, các mô hình và thời điểm của các chu kỳ của những mối liên hệ vốn khai mở tâm thức của Sự Sống Duy Nhất qua mọi hình tướng biểu hiện vô hạn của Nó. Bảy Cung là những năng lượng kiến tạo căn bản của biểu hiện và là các chủ âm của mối liên hệ này giữa nguyên nhân và kết quả. Chính sự tương tác giữa Bảy Cung và mười hai dấu hiệu hoàng đạo, mỗi dấu hiệu vận hành qua ba cấp độ biểu lộ căn bản (xem chương 7); bảy hành tinh thiêng liêng và năm hành tinh không thiêng liêng (do đó tạo thành một bộ mười hai khác); bảy trung tâm sinh lực chính và các tuyến nội tiết tương ứng của chúng; và, theo nghĩa liên hệ, các góc hợp hành tinh chính và mười hai nhà của lá số chiêm tinh sinh, tạo thành nền tảng cho chiêm tinh học của Kỷ Nguyên Mới.
In chapter 5, postulates nine and ten, we mentioned the importance of the number seven and the septenary nature of the structure of our manifested universe. We are taught that our solar system, with its seven sacred planets, is one of seven such solar systems, the stars and planets of which comprise the “Body” of the Great One—the Divinity, About Whom Naught May Be Said. Each of these seven systems is the primary expression for one of the Seven Rays. The seven stars in the constellation of the Great Bear (or the Big Dipper, as it is also called) are the Source and emanating vehicles of the Seven Rays. These seven stars collectively focus the causal First Ray of Will/Power. The constellation of the Great Bear is the primary solar system of these seven and is a Solar System in the truest sense of the term. The Great Bear is not composed of one star with a family of circling planets; it is composed completely of stars. The central focus of this System is the star which commands the energy of the Will/Power of the One.
Trong chương 5, các định đề chín và mười, chúng ta đã đề cập đến tầm quan trọng của số bảy và bản chất thất phân của cấu trúc vũ trụ biểu hiện của chúng ta. Chúng ta được dạy rằng hệ mặt trời của chúng ta, với bảy hành tinh thiêng liêng của nó, là một trong bảy hệ mặt trời như thế, mà các sao và hành tinh của chúng hợp thành “Thể” của Đấng Vĩ Đại—Thiêng Tính, Đấng Bất Khả Tư Nghị. Mỗi một trong bảy hệ này là biểu lộ sơ cấp của một trong Bảy Cung. Bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng Tinh (hay còn được gọi là Bắc Đẩu) là Nguồn và các vận cụ phát xạ của Bảy Cung. Bảy ngôi sao này, xét chung, hội tụ Cung một nhân quả của Ý Chí/Quyền Năng. Chòm Đại Hùng Tinh là hệ mặt trời sơ cấp của bảy hệ này và là một hệ mặt trời theo nghĩa chân thực nhất của thuật ngữ. Đại Hùng Tinh không được cấu thành bởi một ngôi sao với một gia đình các hành tinh quay quanh; nó hoàn toàn được cấu thành bởi các ngôi sao. Tiêu điểm trung tâm của Hệ này là ngôi sao điều khiển năng lượng của Ý Chí/Quyền Năng của Đấng Duy Nhất.
One of two primary stellar vehicles for the Second Ray of Love/ Wisdom is our Sun, which represents the Heart of this Great One. The other is the great star, Sirius. This means that all the Seven Rays function in our solar system through the Second Ray, making It and the quality of Its energy of Love/Wisdom the most vital to us. The importance of this statement cannot be underestimated, as it indicates a great Absolute Truth: Love and the Wisdom which leads and proceeds from Love are the primary qualities of consciousness in our solar system, and hence, of life here on Earth. All of the other six Rays work through Love/Wisdom and are subject to it.
Một trong hai vận cụ sao chính yếu của Cung hai Bác Ái – Minh Triết là Mặt Trời của chúng ta, vốn tượng trưng cho Trái Tim của Đấng Vĩ Đại này. Vận cụ kia là đại tinh tú Sirius. Điều này có nghĩa là mọi Bảy Cung đều vận hành trong hệ mặt trời của chúng ta qua Cung hai, khiến Nó và phẩm tính năng lượng Bác Ái – Minh Triết của Nó trở nên tối quan trọng đối với chúng ta. Tầm quan trọng của phát biểu này không thể bị đánh giá thấp, vì nó chỉ ra một Chân Lý Tuyệt Đối vĩ đại: Bác ái và Minh triết vốn dẫn dắt và phát xuất từ Bác ái là những phẩm tính sơ cấp của tâm thức trong hệ mặt trời của chúng ta, và do đó, của sự sống nơi đây trên Trái Đất. Tất cả sáu Cung kia đều hoạt động qua Bác Ái – Minh Triết và đều tùy thuộc vào Nó.
The Law of Correspondences and the Law of Sevens tell us that each of the great Seven Cosmic Rays is divided into seven subrays, each connected to and having the influence of its Cosmic Ray Parent. Yet these seven subrays are tinged with and are a part of the influence of the one Ray of which they are seven parts. As I have mentioned, our Solar System, our solar Life Force, is of the Second of these Cosmic Rays. The Second Ray is the energy of Love in Action, and is expressed primarily through the forces of the Soul, the quality of consciousness on any plane of manifestation, and the Christ Consciousness in Humankind.
Định luật tương ứng và định luật về số Bảy cho chúng ta biết rằng mỗi một trong Bảy Cung Vũ Trụ vĩ đại đều được chia thành bảy cung phụ, mỗi cung phụ nối kết với và chịu ảnh hưởng của Cung Vũ Trụ Mẹ của nó. Tuy nhiên, bảy cung phụ này đều được nhuốm màu và là một phần của ảnh hưởng của một Cung mà chúng là bảy phần của nó. Như tôi đã đề cập, hệ mặt trời của chúng ta, Mãnh Lực Sự Sống thái dương của chúng ta, thuộc về Cung hai trong các Cung Vũ Trụ này. Cung hai là năng lượng của Bác ái trong Hành động, và được biểu lộ chủ yếu qua các mãnh lực của linh hồn, phẩm tính của tâm thức trên bất kỳ cõi biểu hiện nào, và Tâm Thức Christ trong Nhân Loại.
It is most important to clarify this terminology, for following the Path which leads to the unfoldment of the Christ Consciousness in a person is not necessarily the same as following one of the various religions of Christianity. The way of unfoldment leading to this State is more rightly called the Path of Discipleship, and Christianity is but one of many roads leading to the one “Noble Path.” The Christ Consciousness is the revelation of the Soul’s reality. The Soul does not have a religion; It is the synthesis of all religions. The Soul does not have an exclusive Path; It is the synthesis of all Paths leading to It. The Lord Jesus was the Christed Self of the Piscean Age, and He remains a Beloved Brother in the Brotherhood and Sisterhood of the Planetary Hierarchy. The Lord Jesus occupies a position relative to the Christ in the same way that the Lord Gautama occupies a position relative to the Buddha. Indeed, in terms of the dual nature of the Second Ray, it is the Christ Who is the Love aspect and the Buddha Who is the Wisdom aspect.
Điều tối quan trọng là phải làm sáng tỏ thuật ngữ này, vì việc theo Con Đường dẫn đến sự khai mở Tâm Thức Christ trong một con người không nhất thiết đồng nghĩa với việc theo một trong các tôn giáo khác nhau của Ki-tô giáo. Con đường khai mở dẫn đến Trạng Thái này đúng hơn nên được gọi là Con Đường Đệ Tử, và Ki-tô giáo chỉ là một trong nhiều con đường dẫn đến một “Thánh Đạo” duy nhất. Tâm Thức Christ là sự mặc khải về thực tại của linh hồn. Linh hồn không có tôn giáo; Nó là tổng hợp của mọi tôn giáo. Linh hồn không có một Con Đường độc quyền; Nó là tổng hợp của mọi Con Đường dẫn đến Nó. Đức Jesus là Bản Ngã Christ của Kỷ Nguyên Song Ngư, và Ngài vẫn là một Huynh Đệ Yêu Dấu trong Huynh Đệ Đoàn và Tỷ Muội Đoàn của Huyền Giai Hành Tinh. Đức Jesus giữ một vị trí tương quan với Đức Christ cũng như Đức Gautama giữ một vị trí tương quan với Đức Phật. Thực ra, xét theo bản chất nhị nguyên của Cung hai, chính Đức Christ là phương diện Bác ái và Đức Phật là phương diện Minh triết.
The Path of the fusion of these two aspects of the Second Ray within each of us is at the core of the evolution of human consciousness. There is only the One Divinity and all else is an expression of Its Life, Love, Intelligence, and Body. In this respect, the purpose of our solar system is the unfolding of consciousness on all levels. The purpose for humanity, both collectively and individually, is the revelation of the Soul’s reality—the Love which is at the center of all forms and manifestations of Life.
Con Đường dung hợp hai phương diện này của Cung hai trong mỗi chúng ta nằm ở cốt lõi của sự tiến hoá của tâm thức nhân loại. Chỉ có một Thiêng Tính Duy Nhất và mọi thứ khác đều là biểu lộ của Sự Sống, Bác ái, Trí Tuệ và Thể của Nó. Theo phương diện này, mục đích của hệ mặt trời chúng ta là sự khai mở tâm thức trên mọi cấp độ. Mục đích đối với nhân loại, cả tập thể lẫn cá nhân, là sự mặc khải về thực tại của linh hồn—Bác ái ở trung tâm của mọi hình tướng và biểu hiện của Sự Sống.
We should thus consider the Seven Rays as they pertain to our planetary life as:
Vì vậy, chúng ta nên xem Bảy Cung trong chừng mực chúng liên hệ đến sự sống hành tinh của chúng ta như sau:
Ray One:
The Will and Power to Love
Ray Two:
The Essential Love Energy
Ray Three:
The Active, Intelligent Expression of Love
Ray Four:
Love Expressed Through the Fusion of Opposites
Ray Five:
Love Expressed Through Concrete Knowledge and Science
Ray Six:
Love Expressed Through Devotion and Idealism
Ray Seven:
Love Expressed Through Ritual, Order, and Synthesis
Cung 1
Ý chí và sức mạnh để yêu thương
Cung 2
Năng lượng tình yêu thiết yếu
Cung 3
Sự thể hiện tình yêu chủ động và thông minh
Cung 4
Tình yêu được thể hiện qua sự hòa hợp của những điều đối lập
Cung 5
Tình yêu được thể hiện qua kiến thức và khoa học cụ thể
Cung 6
Tình yêu được thể hiện qua lòng tận tụy và lý tưởng
Cung 7
Tình yêu được thể hiện qua nghi lễ, trật tự và sự tổng hợp
Let us use color as an example to carry this illustration of the Seven Rays and their subrays a bit further. As the primary color of the spectrum representing the Second Ray is indigo (see tabulation 2, p. 140), we can say that the actual First Ray energy, as manifesting through our Second Ray solar system, is indigo/scarlet. In the same way, the Second Ray color is indigo/indigo; the Third Ray (in reality, the third subray of the Second Ray) is indigo/green; likewise, the Fourth Ray is indigo/yellow. The Fifth Ray color is indigo/orange; while the Sixth Ray is indigo/blue-rose; and the Seventh Ray is indigo / violet.
Chúng ta hãy dùng màu sắc làm ví dụ để triển khai minh họa này về Bảy Cung và các cung phụ của chúng thêm một chút nữa. Vì màu chính của quang phổ tượng trưng cho Cung hai là chàm (xem bảng 2, tr. 140), chúng ta có thể nói rằng năng lượng Cung một thực sự, khi biểu hiện qua hệ mặt trời Cung hai của chúng ta, là chàm/đỏ thắm. Cũng vậy, màu của Cung hai là chàm/chàm; Cung ba (trong thực tế là cung phụ thứ ba của Cung hai) là chàm/lục; tương tự, Cung bốn là chàm/vàng. Màu của Cung năm là chàm/cam; trong khi Cung sáu là chàm/hồng lam; và Cung bảy là chàm/tím.
The Earth has an indigo sky. As a planet, we are under the primary influence of the Fourth Ray of Harmony through Conflict. Perhaps the presence of the true Second Ray color gives us a protective and helping hand as we struggle through the conflicts which seem to characterize our Earthly and human-oriented drive for harmony.
Trái Đất có bầu trời màu chàm. Với tư cách một hành tinh, chúng ta ở dưới ảnh hưởng chính yếu của Cung bốn Hài Hòa Qua Xung Đột. Có lẽ sự hiện diện của màu Cung hai đích thực ban cho chúng ta một bàn tay che chở và trợ giúp khi chúng ta vật lộn qua những xung đột dường như đặc trưng cho nỗ lực hướng đến hài hòa của chúng ta trên Trái Đất và trong định hướng nhân loại.
The relationship between one-three-seven-twelve is very important to our understanding of the relationship of the Seven Rays to the signs, planets, and houses of the horoscope. The processes and forms of creation are endless, and yet they serve to enhance Divinity’s consciousness of Itself and subsequently, our own consciousness of our own Self In this process of manifestation, the One (while all the time remaining Whole) divides Itself first into two: positive and negative, masculine and feminine. These two combine to produce a third. These three aspects of the One unite, and from their various combinations, the seven are produced. All the forms of manifestation are thus outpourings of this initial Trinity and these four further differentiations. The Seven Rays are divided into two groupings. Rays One, Two, and Three are the Primary Rays or Rays of Aspect; that is, the three essential aspects of Divinity. Rays Four through Seven are called the Rays of Attribute, as they express the attributes of the first three Rays in greater detail of manifestation, and are combinations of the qualities of the Primary Rays. In actuality, Rays Four through Seven emanate from the Third Ray of Active Intelligence, while this Third Ray is actually a product of the energies of Rays One and Two. These seven energies enter our solar system through the Twelve Gates of the Zodiac, and each one of the seven is primarily focused through three of the signs. Thus the twelve signs are the vehicles for the sevenfold energies of manifestation representing the Trinity of Life, which is essentially and ever One.
Mối liên hệ giữa một-ba-bảy-mười hai là điều rất quan trọng đối với sự thấu hiểu của chúng ta về mối liên hệ của Bảy Cung với các dấu hiệu, hành tinh và các nhà của lá số chiêm tinh. Các tiến trình và hình tướng của sáng tạo là vô tận, tuy nhiên chúng phục vụ để tăng cường tâm thức của Thiêng Tính về chính Nó và tiếp đó là tâm thức của chính chúng ta về Bản Ngã của mình. Trong tiến trình biểu hiện này, Đấng Duy Nhất (trong khi suốt mọi lúc vẫn còn nguyên Toàn Thể) trước hết tự phân chia thành hai: dương và âm, nam và nữ. Hai điều này kết hợp để tạo ra một điều thứ ba. Ba phương diện này của Đấng Duy Nhất hợp nhất, và từ những kết hợp khác nhau của chúng, bảy được tạo ra. Vì vậy, mọi hình tướng biểu hiện đều là những lần tuôn đổ từ Tam Vị khởi thủy này và bốn sự biến phân tiếp theo này. Bảy Cung được chia thành hai nhóm. Cung một, hai và ba là Các Cung Sơ Cấp hay Các Cung Trạng Thái; nghĩa là, ba trạng thái cốt yếu của Thiêng Tính. Cung bốn đến bảy được gọi là Các Cung Thuộc Tính, vì chúng biểu lộ các thuộc tính của ba Cung đầu tiên trong chi tiết biểu hiện lớn hơn, và là những kết hợp của các phẩm tính của các Cung Sơ Cấp. Thực ra, Cung bốn đến bảy phát xuất từ Cung ba Trí Tuệ Hoạt Động, trong khi Cung ba này thực sự là sản phẩm của các năng lượng của Cung một và hai. Bảy năng lượng này đi vào hệ mặt trời của chúng ta qua Mười Hai Cổng của Hoàng đạo, và mỗi một trong bảy cung được hội tụ chủ yếu qua ba dấu hiệu. Vì vậy, mười hai dấu hiệu là các vận cụ cho những năng lượng thất phân của biểu hiện tượng trưng cho Tam Vị của Sự Sống, vốn về bản chất và mãi mãi là Một.
ASTROLOGICAL SIGNIFICANCE OF THE SEVEN RAYS
Ý NGHĨA CHIÊM TINH CỦA BẢY CUNG
In the pages which follow, you will be given relatively brief yet thorough descriptions of the powers, characteristics, contributing forces, and keywords inherent in the meanings of the Seven Rays as they are best suited for use in astrological work. I would very much like to give the reader some suggestions on how to best incorporate this material about the Seven Rays into his or her own method of approach to the delineation of the natal chart.14
Trong những trang tiếp theo, các bạn sẽ được cung cấp những mô tả tương đối ngắn gọn nhưng đầy đủ về các quyền năng, đặc tính, các mãnh lực đóng góp, và các từ khóa vốn nội tại trong ý nghĩa của Bảy Cung theo cách thích hợp nhất để dùng trong công việc chiêm tinh. Tôi rất muốn đưa ra cho độc giả một vài gợi ý về cách tốt nhất để kết hợp tài liệu này về Bảy Cung vào phương pháp tiếp cận riêng của mình đối với việc luận giải lá số chiêm tinh sinh.
The Seven Rays should be seen as being much closer to the basic energies of life than their expressions through the archetypes of the twelve signs. The latter are further differentiations of expression of the Seven Rays. It is for this reason that a greater understanding of the seven will lead the astrological student to a deeper and more penetrating attunement to the twelve.
Bảy Cung nên được nhìn như gần với các năng lượng căn bản của sự sống hơn nhiều so với các biểu lộ của chúng qua các nguyên mẫu của mười hai dấu hiệu. Những biểu lộ sau là các sự biến phân xa hơn của biểu hiện của Bảy Cung. Chính vì lý do này mà sự thấu hiểu sâu hơn về bảy sẽ dẫn đạo sinh chiêm tinh đến một sự chỉnh hợp sâu sắc và thấu triệt hơn với mười hai.
First, study the nature of the energies of the Seven Rays, and then see how they interplay with the nature of the twelve signs as they express through the three quadruplicities or crosses of cardinality, fixity, and mutability. 15 Then, examine the Rays and the signs through each of the triplicities of fire, earth, air, and water. This will allow you to integrate and synthesize the nature of the Rays into your accepted astrological knowledge.16
Trước hết, hãy nghiên cứu bản chất của các năng lượng của Bảy Cung, rồi xem chúng tương tác với bản chất của mười hai dấu hiệu như thế nào khi chúng biểu lộ qua ba bộ bốn hay ba thập giá của tính chính yếu, tính cố định và tính biến đổi. Sau đó, hãy khảo sát các Cung và các dấu hiệu qua từng bộ ba của lửa, đất, khí và nước. Điều này sẽ cho phép các bạn tích hợp và tổng hợp bản chất của các Cung vào tri thức chiêm tinh đã được chấp nhận của mình.
Meditate on the symbol for each of the Rays. This will give you an intuitive and nonverbal connection to the Ray force itself. Meditating on the symbols of astrology and the Ancient Wisdom Teachings is strongly recommended so that you develop a link between intellect and intuition—a link that is vital to the Soul-centered astrologer.
Hãy tham thiền về biểu tượng của từng Cung. Điều này sẽ đem lại cho các bạn một sự nối kết trực giác và phi ngôn ngữ với chính mãnh lực Cung. Việc tham thiền về các biểu tượng của chiêm tinh học và các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa được khuyến nghị mạnh mẽ để các bạn phát triển một mối liên kết giữa trí năng và trực giác—một mối liên kết tối quan trọng đối với nhà chiêm tinh lấy linh hồn làm trung tâm.
Make your own lists of keywords relative to your understanding of the Ray energies. One of the gifts bestowed by Uranus, the planet ruling the practice of astrology both exoterically and esoterically, is the ability to view the infinite numbers of forms of life by their categories and archetypes. This allows a fusion of the relationship between the one and the many, and between the macrocosm and the microcosm. Extend this process into your studies and observations of the Ray energies in the life around you.
Hãy tự lập những danh sách từ khóa của riêng mình liên hệ với sự thấu hiểu của các bạn về các năng lượng Cung. Một trong những ân tứ do Thiên Vương Tinh ban cho, hành tinh cai quản việc thực hành chiêm tinh học cả về ngoại môn lẫn nội môn, là khả năng nhìn vô số hình tướng của sự sống theo các phạm trù và nguyên mẫu của chúng. Điều này cho phép một sự dung hợp của mối liên hệ giữa một và nhiều, và giữa đại thiên địa và tiểu thiên địa. Hãy mở rộng tiến trình này vào việc học hỏi và quan sát của các bạn về các năng lượng Cung trong đời sống quanh mình.
Do not think of the planets as causal factors or “energy-source” bodies, as they are in exoteric astrology and the horoscope of the personality. They should be seen more as lenses, or focalizers, through which the Seven Rays express themselves in the solar system. As we shall see in chapter 9, the planets are divided into two fundamental groups: sacred and non-sacred. These will be contrasted with the more traditional and exoteric subdivisions of the planets: higher and lower octaves.
Đừng nghĩ về các hành tinh như những yếu tố nhân quả hay những thiên thể “nguồn năng lượng”, như trong chiêm tinh học ngoại môn và lá số chiêm tinh của phàm ngã. Chúng nên được nhìn nhiều hơn như những thấu kính, hay những tiêu điểm hội tụ, qua đó Bảy Cung biểu lộ trong hệ mặt trời. Như chúng ta sẽ thấy trong chương 9, các hành tinh được chia thành hai nhóm căn bản: thiêng liêng và không thiêng liêng. Chúng sẽ được đối chiếu với những phân chia truyền thống và ngoại môn hơn của các hành tinh: quãng tám cao và quãng tám thấp.
It is very important to recognize that each person is simultaneously under the influence of several Rays. These influences act both individually and collectively. The nature of this multiple Ray influence is as follows:
Điều rất quan trọng là phải nhận ra rằng mỗi người đồng thời ở dưới ảnh hưởng của nhiều Cung. Những ảnh hưởng này tác động cả riêng lẻ lẫn tập thể. Bản chất của ảnh hưởng đa Cung này như sau:
The Ray of the Solar Logos/Solar System—Ray Two
Cung của Thái dương Thượng đế/Hệ mặt trời—Cung hai
The Ray of the Planetary Logos/Earth—Ray Three
Cung của Hành Tinh Thượng đế/Trái Đất—Cung ba
The Rays of Humanity—Ray Four (the Soul Ray); Ray Five (the current personality Ray)
Các Cung của Nhân Loại—Cung bốn (cung linh hồn); Cung năm (cung phàm ngã hiện thời)
The Rays of one’s nation—Ray Two (United States’ Soul Ray); Ray Six (United States’ Personality Ray)
Các Cung của quốc gia một người—Cung hai (cung linh hồn của Hoa Kỳ); Cung sáu (cung phàm ngã của Hoa Kỳ)
RAYS OF THE NATIONS
CÁC CUNG CỦA CÁC QUỐC GIA
Nation
Soul Ray
Personality Ray
Great Britain
Two
One
France
Five
Three
U.S.S.R.
Seven
Six
China
One
Three
India
One
Four
Quốc gia
Cung Linh Hồn
Cung Phàm Ngã
Anh Quốc
Hai
Một
Pháp
Năm
Ba
Liên Xô
Bảy
Sáu
Trung Quốc
Một
Ba
Ấn Độ
Một
Bốn
Information for Australia, Canada, and New Zealand, and several other nations is not available. It may be of interest to the reader, especially those not born or living in the United States, to list some of the Soul and personality Rays of other nations.17
Thông tin về Úc, Canada và New Zealand, cùng một số quốc gia khác, hiện không có sẵn. Có thể điều này sẽ khiến độc giả quan tâm, đặc biệt là những người không sinh ra hay không sống tại Hoa Kỳ, khi liệt kê một số cung linh hồn và cung phàm ngã của các quốc gia khác.
The following is a list of Ray influences which are more individual in their expression than the ones listed above.
Sau đây là danh sách các ảnh hưởng Cung mang tính cá nhân trong biểu lộ của chúng hơn là những ảnh hưởng được liệt kê ở trên.
The Ray of the Monad (one of the three Rays of Aspect)
Cung của Chân Thần (một trong ba Các Cung Trạng Thái)
The Ray of the Soul (any one of the Seven Rays)
Cung của linh hồn (bất kỳ một trong Bảy Cung)
The Ray of the Personality (any one of the Seven Rays)
Cung của phàm ngã (bất kỳ một trong Bảy Cung)
The Ray of the mental body
Cung của thể trí
The Ray of the emotional body
Cung của thể cảm xúc
The Ray of the physical body
Cung của thể xác
Although a person’s mental, emotional, or physical Ray may be found on any one of the Seven, the Tibetan asserts that certain of the Rays tend to dominate in this respect. Thus the majority of people would tend to find that their mental body was either of the First, Fourth, or Fifth Ray; their emotional body would express either the Second or the Sixth Ray; and their physical body would be an expression of either the Third or the Seventh Ray.18 We will be discussing the nature of these Ray influences on the natal horoscope in part 3.
Mặc dù cung trí tuệ, cảm xúc hay thể xác của một người có thể thuộc bất kỳ một trong Bảy Cung, Chân sư Tây Tạng khẳng định rằng một số Cung có khuynh hướng chiếm ưu thế về phương diện này. Vì vậy, đa số người sẽ có khuynh hướng thấy rằng thể trí của họ thuộc hoặc Cung một, Cung bốn, hoặc Cung năm; thể cảm xúc của họ sẽ biểu lộ hoặc Cung hai hoặc Cung sáu; và thể xác của họ sẽ là một biểu lộ của hoặc Cung ba hoặc Cung bảy. Chúng ta sẽ bàn đến bản chất của các ảnh hưởng Cung này trên lá số chiêm tinh sinh trong phần 3.
THE THREE RAYS OF ASPECT
BA CUNG TRẠNG THÁI
The First Ray: The Ray of Will/Power
Cung một: Cung Ý Chí/Quyền Năng
Signs: Aries, Leo, Capricorn planets: Vulcan, Pluto
Dấu hiệu: Bạch Dương, Sư Tử, Ma Kết hành tinh: Vulcan, Diêm Vương Tinh
From the One who is the seven goes forth a word. That word reverberates along the line of fiery essence, and when it sounds within the circle of human lives it takes the form of affirmation, an uttered fiat or word of power.... Why this blind power? Why death? Why this decay of forms?... Faintly the answer comes: I hold the keys of life and death. I bind and loose again. I, the Destroyer, am.
Từ Đấng là bảy, một linh từ phát ra. Linh từ ấy vang dội dọc theo đường của tinh chất lửa, và khi nó vang lên trong vòng tròn của các sự sống nhân loại, nó mang hình thức của sự khẳng định, một sắc lệnh được thốt ra hay một quyền năng từ.... Tại sao quyền năng mù quáng này? Tại sao cái chết? Tại sao sự mục rữa của các hình tướng này?... Mờ nhạt, câu trả lời vọng đến: Ta nắm giữ chìa khóa của sự sống và cái chết. Ta trói buộc rồi lại tháo mở. Ta, Đấng Hủy Diệt, hiện hữu.
—Alice A Bailey 19
—Alice A Bailey
The First Ray is the causal focus of life. It is the Will-to-Be, and as it acts through the Second Ray energy of our solar system, it may also be called the “Will-to-Be-Love.” And yet the First Ray is also known as the Lord of Death, the Destroyer of Forms, and the Lord of the Burning Ground. Its planetary vehicles for expression are the two spheres most associated with decomposition, regeneration, and rebirth: Vulcan and Pluto. And of the Hindu Trinity of Brahma the Creator, Vishnu the Sustainer, and Shiva the Destroyer, it is Shiva which is most closely associated as Lord of the First Ray. The purpose behind this facet of First Ray activity is clearly brought forth by the Tibetan when He speaks of the function of the First Ray as the Finger of God:
Cung một là tiêu điểm nhân quả của sự sống. Nó là Ý Chí-hiện hữu, và khi nó tác động qua năng lượng Cung hai của hệ mặt trời chúng ta, nó cũng có thể được gọi là “Ý Chí-hiện hữu-trong-Bác ái.” Tuy nhiên, Cung một cũng được biết đến như Chúa Tể của Cái Chết, Đấng Hủy Diệt các Hình Tướng, và Chúa Tể của vùng đất cháy. Các vận cụ hành tinh để biểu lộ của nó là hai khối cầu gắn liền nhất với sự phân hủy, tái sinh và tái sanh: Vulcan và Diêm Vương Tinh. Và trong Tam Vị Ấn giáo gồm Brahma Đấng Sáng Tạo, Vishnu Đấng Duy Trì, và Shiva Đấng Hủy Diệt, thì chính Shiva là Đấng được liên kết mật thiết nhất với tư cách Chúa Tể của Cung một. Mục đích đằng sau phương diện hoạt động này của Cung một được Chân sư Tây Tạng nêu rõ khi Ngài nói về chức năng của Cung một như Ngón Tay của Thượng đế:
Through the application of the Finger of God in its directing and forceful work, we have the cyclic destruction of forms, so that the manifestation of Deity may grow in power and beauty. Thus the Lord of Power or Will performs the task of destruction, thereby bringing beauty into being and the revelation of God’s will and His beneficent purpose.20
Qua việc vận dụng Ngón Tay của Thượng đế trong công việc định hướng và đầy mãnh lực của nó, chúng ta có sự hủy diệt theo chu kỳ của các hình tướng, để biểu hiện của Thượng đế có thể tăng trưởng trong quyền năng và vẻ đẹp. Như vậy Chúa Tể của Quyền Năng hay Ý Chí thực hiện nhiệm vụ hủy diệt, nhờ đó đem vẻ đẹp vào hiện hữu và sự mặc khải về ý chí của Thượng đế cùng mục đích từ thiện của Ngài.
This tells us much about the nature of First Ray energy and, as we shall soon discover, about the people who embody it in terms of their Soul and/or personality life. We can see that out of the chaos of destruction is birthed the Will-to-Create. It is this powerful Will that is the energy behind the Big Bang, which initiates all cycles of creative expression, whether in terms of the birth of a universe, or the orgasmic movement leading to the conception of a child. This is certainly the energy working through the planet Pluto, and represented by its regenerative and destructive modes of expression.
Điều này cho chúng ta biết nhiều về bản chất của năng lượng Cung một và, như chúng ta sẽ sớm khám phá, về những người hiện thân cho nó xét theo đời sống linh hồn và/hoặc phàm ngã của họ. Chúng ta có thể thấy rằng từ hỗn mang của sự hủy diệt, Ý Chí-Sáng Tạo được sinh ra. Chính Ý Chí mãnh liệt này là năng lượng đằng sau Vụ Nổ Lớn, vốn khởi đầu mọi chu kỳ biểu lộ sáng tạo, dù xét theo sự ra đời của một vũ trụ hay chuyển động cực khoái dẫn đến sự thụ thai một đứa trẻ. Đây chắc chắn là năng lượng hoạt động qua hành tinh Diêm Vương Tinh, và được biểu thị bởi các phương thức biểu lộ tái sinh và hủy diệt của nó.
From a purely pragmatic, astrological perspective, we have a hint here relative to the functioning of the Yod or Finger of God geometric angle in the natal chart. The Yod is created when three planets relate to each other by two 150-degree angles (inconjunctions) and one 60-degree (sextile) angle. This is illustrated in diagram 7, in which planet A signifies the apex point of the Finger of God. I believe that we should look at planet A and the house position it occupies as a point through which First Ray energy will be expressed in the natal map. The forms of expression of planet A are constantly challenged by life, especially by those circumstances indicated by planets B and C and their house positions. The natural habitual and karmic patterns of planet A, when expressed, lead to continuous disruptance in the life. There is the need to establish some new focus of release for that planet’s energy so that new forms for its expression may be birthed into the life. The nature of the harmonious interchange between planets B and C (as indicated by the sextile between them) as well as the two-house positions and their interconnections, will point the way to this rebirthing and regeneration of form.
Từ một quan điểm chiêm tinh học thuần túy thực dụng, ở đây chúng ta có một gợi ý liên hệ đến sự vận hành của góc hình học Yod hay Ngón Tay của Thượng đế trong lá số chiêm tinh sinh. Yod được tạo thành khi ba hành tinh liên hệ với nhau bằng hai góc 150° và một góc 60° (lục hợp). Điều này được minh họa trong sơ đồ 7, trong đó hành tinh A biểu thị điểm đỉnh của Ngón Tay của Thượng đế. Tôi tin rằng chúng ta nên nhìn hành tinh A và vị trí nhà mà nó chiếm giữ như một điểm qua đó năng lượng Cung một sẽ được biểu lộ trong lá số sinh. Các hình thức biểu lộ của hành tinh A liên tục bị đời sống thách thức, đặc biệt bởi những hoàn cảnh được chỉ ra bởi các hành tinh B và C cùng các vị trí nhà của chúng. Các mô hình tự nhiên, thói quen và nghiệp quả của hành tinh A, khi được biểu lộ, dẫn đến sự xáo trộn liên tục trong đời sống. Có nhu cầu phải thiết lập một tiêu điểm giải phóng mới nào đó cho năng lượng của hành tinh ấy để những hình tướng mới cho sự biểu lộ của nó có thể được sinh ra trong đời sống. Bản chất của sự trao đổi hài hòa giữa các hành tinh B và C (như được chỉ ra bởi góc lục hợp giữa chúng) cũng như hai vị trí nhà và các mối liên kết của chúng, sẽ chỉ ra con đường dẫn đến sự tái sinh và tái tạo hình tướng này.
The energy of the First Ray acts as a catalyst, breaking up old and existing conditions so that new ones may eventuate. It is indeed the power behind the Phoenix who rises from the ashes of destruction to create itself anew more gloriously. The First Ray stands behind the other Six to shatter the forms They have created so that new worlds may emerge. The Kingdom of the First Ray is Shamballa, “the Place where the Will of God is known.” The purpose of the Great Lord of Death is to allow for the entrance of Light, for the First Ray is indeed the dynamic Idea in the Mind of God which initiates all the work in any cycle of Creation.
Năng lượng của Cung một tác động như một chất xúc tác, phá vỡ các điều kiện cũ và hiện hữu để những điều kiện mới có thể xuất hiện. Quả thật, đó là quyền năng đằng sau Phượng Hoàng, Đấng vươn lên từ tro tàn của sự hủy diệt để tự tạo lại chính mình một cách huy hoàng hơn. Cung một đứng sau sáu Cung kia để phá tan các hình tướng mà Các Ngài đã tạo ra để những thế giới mới có thể xuất hiện. Vương quốc của Cung một là Shamballa, “Nơi mà Ý Chí của Thượng Đế được biết đến.” Mục đích của Đại Chúa Tể của Cái Chết là cho phép Ánh sáng đi vào, vì Cung một quả thật là Ý Tưởng năng động trong Trí của Thượng đế, vốn khởi xướng mọi công việc trong bất kỳ chu kỳ Sáng Tạo nào.
Diagram 7: The Finger of God or Yod Multiple-Aspect Pattern
Sơ đồ 7: Ngón Tay của Thượng đế hay Mô Hình Đa Góc Hợp Yod
Aries, Leo, and Capricorn are the signs of the First Ray, with Aries predominating this triad. It is quite obvious from what we know about these signs that First Ray types of people are going to display natural leadership qualities or, at the very least, the urge to give direction. The First is the Ray of government and politics. If you will look at tabulation 2 on p. 140, you will see that two of the three First Ray signs are also connected with the Seventh Ray of Order and Ceremony. The combination of the influences of these two Rays, Aries, and Capricorn, makes it clear that the structured and orderly expression of power, and its wielding and application, are very important traits of these two astrological signs. This is one reason why when Mars, exoteric ruler of Aries, is found in Capricorn in the natal chart, it is said to be in its exaltation. It is the exaltation of the expression of First Ray energy—Power and Will!
Bạch Dương, Sư Tử và Ma Kết là các dấu hiệu của Cung một, với Bạch Dương chiếm ưu thế trong bộ ba này. Từ những gì chúng ta biết về các dấu hiệu này, điều khá hiển nhiên là những người thuộc loại Cung một sẽ biểu lộ các phẩm tính lãnh đạo tự nhiên hoặc, ít nhất, là sự thôi thúc phải định hướng. Cung một là Cung của chính quyền và chính trị. Nếu các bạn nhìn vào bảng 2 ở tr. 140, các bạn sẽ thấy rằng hai trong ba dấu hiệu Cung một cũng được nối kết với Cung bảy Trật Tự và Nghi Lễ. Sự kết hợp các ảnh hưởng của hai Cung này, Bạch Dương và Ma Kết, làm rõ rằng sự biểu lộ có cấu trúc và trật tự của quyền năng, cùng việc nắm giữ và vận dụng nó, là những đặc tính rất quan trọng của hai dấu hiệu chiêm tinh này. Đây là một lý do vì sao khi Hỏa Tinh, chủ tinh ngoại môn của Bạch Dương, được thấy ở Ma Kết trong lá số chiêm tinh sinh, nó được nói là ở vị trí tướng. Đó là sự tướng của biểu lộ năng lượng Cung một—Quyền Năng và Ý Chí!
People who are strongly influenced by this Ray of Will/Power find that they move into positions of leadership quite easily. In this respect, they display a very natural positive drive, a directness in personal relationships, and the ability to carry out their often self-appointed tasks and assignments with self-confidence and responsibility. Other First Ray attributes include the courage to persist against all odds, as well as the ability to inspire others to new heights of personal daring and expression. There is a special zeal and enthusiasm in the face of challenge while they continually motivate others.
Những người chịu ảnh hưởng mạnh của Cung Ý Chí/Quyền Năng này thấy rằng họ bước vào các vị trí lãnh đạo khá dễ dàng. Về phương diện này, họ biểu lộ một động lực dương tính rất tự nhiên, một sự trực tiếp trong các mối liên hệ cá nhân, và khả năng thực hiện các nhiệm vụ và công tác thường do chính họ tự giao với sự tự tin và trách nhiệm. Các thuộc tính khác của Cung một bao gồm lòng can đảm để kiên trì chống lại mọi nghịch cảnh, cũng như khả năng truyền cảm hứng cho người khác vươn đến những tầm cao mới của sự táo bạo và biểu lộ cá nhân. Có một nhiệt tâm và nhiệt huyết đặc biệt trước thử thách trong khi họ liên tục thúc đẩy người khác.
As leaders, First Ray people often have to make decisions about the direction others have to take in their lives. They frequently have to pass judgment and, when highly developed, tend to have the ability to join mercy with justice. This particular trait is very much the evidence of the presence of Second Ray energy blending with First. First Ray individuals are very diligent, not given to asking for support and praise. They much prefer to create structures of support for others so that a project may be successfully completed.
Với tư cách những nhà lãnh đạo, người Cung một thường phải đưa ra các quyết định về hướng đi mà người khác phải theo trong đời sống của họ. Họ thường phải phán xét và, khi phát triển cao, có khuynh hướng có khả năng kết hợp lòng khoan dung với công lý. Đặc tính riêng này là bằng chứng rất rõ về sự hiện diện của năng lượng Cung hai hòa trộn với Cung một. Những cá nhân Cung một rất chuyên cần, không có xu hướng đòi hỏi sự hỗ trợ và tán dương. Họ thích tạo ra các cấu trúc hỗ trợ cho người khác hơn nhiều để một dự án có thể được hoàn thành thành công.
All of the above characteristics of the First Ray are quite positive in nature. They can apply equally to the personality level and the expression of the First Ray through the Soul. The difference to keep in mind is that when expressed through the lower self, the urge will be to wield personal power and to express the personal will on (or perhaps over) others. A loving personality can do this quite effectively in a firm but gentle manner, but the purpose will be for the expression of the personal will, its aims and ambitions. When the First Ray is being focused through a Soul-centered individual, the expression of Will and Power is collective and impersonal in nature. Thus, when the Soul is in full possession of the lower self, none of the following characteristics, illustrating the negative expression of the First Ray, can ever be possible.
Tất cả các đặc tính trên của Cung một đều khá tích cực về bản chất. Chúng có thể áp dụng ngang nhau cho cấp độ phàm ngã và sự biểu lộ của Cung một qua linh hồn. Điều khác biệt cần ghi nhớ là khi được biểu lộ qua phàm ngã, sự thôi thúc sẽ là nắm giữ quyền lực cá nhân và biểu lộ ý chí cá nhân lên trên (hoặc có lẽ đè lên) người khác. Một phàm ngã đầy bác ái có thể làm điều này khá hiệu quả theo cách cứng rắn nhưng dịu dàng, nhưng mục đích sẽ là để biểu lộ ý chí cá nhân, các mục tiêu và tham vọng của nó. Khi Cung một đang được hội tụ qua một cá nhân lấy linh hồn làm trung tâm, sự biểu lộ của Ý Chí và Quyền Năng mang tính tập thể và vô ngã về bản chất. Vì vậy, khi linh hồn hoàn toàn làm chủ phàm ngã, thì không một đặc tính nào sau đây, minh họa cho sự biểu lộ tiêu cực của Cung một, có thể xảy ra.
Some of the pitfalls associated with the negative polarity of the expression of First Ray energy have to do with the misuse of will. There may easily be an inclination toward unbridled ambition and dominance. The Disciple on the Path is taught to “work ambitiously, but without attachment to ambition.” This is not true for the personality-centered First Ray type, who tends to attach himself to the forms of the goals he has in mind, and to move forward with all the power the ego may be able to manifest. This can often lead to impatience and arrogance when dealing with others. Courage can give way to foolhardiness, and the urge to support other people’s efforts is transformed into the need to dominate through sheer use of force. When expressing First Ray energy through the mental plane, this type of individual may come across as cold, aloof, and detached—a know-it-all who’s here to tell you what to do without question.
Một số cạm bẫy gắn với cực tính tiêu cực của sự biểu lộ năng lượng Cung một liên quan đến việc lạm dụng ý chí. Rất dễ có khuynh hướng hướng đến tham vọng không kiềm chế và sự thống trị. Đệ tử trên Con Đường được dạy phải “làm việc đầy tham vọng, nhưng không dính mắc vào tham vọng.” Điều này không đúng với loại người Cung một lấy phàm ngã làm trung tâm, vốn có khuynh hướng gắn mình với các hình tướng của những mục tiêu mà y nhắm đến, và tiến lên với toàn bộ quyền năng mà chân ngã có thể biểu lộ. Điều này thường có thể dẫn đến sự thiếu kiên nhẫn và kiêu ngạo khi التعامل với người khác. Lòng can đảm có thể nhường chỗ cho sự liều lĩnh, và sự thôi thúc hỗ trợ nỗ lực của người khác bị chuyển thành nhu cầu thống trị bằng việc sử dụng mãnh lực thuần túy. Khi biểu lộ năng lượng Cung một qua cõi trí, loại cá nhân này có thể tỏ ra lạnh lùng, xa cách và tách rời—một kẻ biết-tuốt đến đây để bảo các bạn phải làm gì mà không được chất vấn.
A First Ray physical body tends to be ectomorphic. The person is usually wiry, self-projective, and alive with nervous energy. A chubby person could never be a First Ray body type—that is much more a Second or Sixth Ray tendency. Now, why is that? If you check tabulation 2 on p. 140 once again, you will see that protein is ruled by the First Ray. Fat is a Second Ray substance, while water is ruled by the Sixth. Thus, a lean body that tends to metabolize protein is First Ray, while those body types (and many of the personality traits associated with them) that tend to retain water and fat display much more traits of the Second and Sixth Rays.
Một thể xác Cung một có khuynh hướng thuộc loại ngoại bì. Người ấy thường gân guốc, có tính phóng chiếu bản thân, và tràn đầy năng lượng thần kinh. Một người mũm mĩm không thể nào là loại thể xác Cung một—điều đó thuộc nhiều hơn về khuynh hướng Cung hai hay Cung sáu. Nay, tại sao lại như vậy? Nếu các bạn kiểm tra lại bảng 2 ở tr. 140 một lần nữa, các bạn sẽ thấy rằng protein được cai quản bởi Cung một. Chất béo là một chất liệu Cung hai, trong khi nước được cai quản bởi Cung sáu. Vì vậy, một thân thể gầy có khuynh hướng chuyển hóa protein là Cung một, trong khi những loại thân thể ấy (và nhiều đặc tính phàm ngã gắn với chúng) có khuynh hướng giữ nước và chất béo thì biểu lộ nhiều đặc tính của Cung hai và Cung sáu hơn.
Keywords and Key Phrases of the First Ray
Từ khóa và Cụm từ Chủ yếu của Cung một
Concept: Will, power, destroyer of form, the urge to rule, the vehicle for creative initiation on all levels.
Khái niệm: Ý chí, quyền năng, kẻ hủy diệt hình tướng, sự thôi thúc cai quản, vận cụ cho sự khởi xướng sáng tạo trên mọi cấp độ.
Soul Level: The use of spiritual will for the benefit of the collective; power utilized for the purpose of enhancing unity and beauty; the expression of will for the purposes and well-being of the group.
Cấp độ linh hồn: Việc sử dụng ý chí tinh thần vì lợi ích của tập thể; quyền năng được sử dụng nhằm tăng cường sự hợp nhất và vẻ đẹp; sự biểu lộ ý chí vì các mục đích và phúc lợi của nhóm.
Personality Level: Ray of soldier, statesman, ruler, explorer, leader; government, politics, and administration.
Cấp độ phàm ngã: Cung của người lính, chính khách, người cai trị, nhà thám hiểm, nhà lãnh đạo; chính quyền, chính trị và hành chính.
General Positive Traits: Courage, diligence, quick discernment, leadership abilities, inspires others, adventurous, not dismayed by initial failures, but remains persistent until goal is achieved.
Các đặc tính tích cực tổng quát: Can đảm, chuyên cần, phân biện tinh thần nhanh, khả năng lãnh đạo, truyền cảm hứng cho người khác, ưa mạo hiểm, không nản lòng bởi những thất bại ban đầu, mà vẫn kiên trì cho đến khi đạt mục tiêu.
General Character Difficulties: Limitless ambition, uses will for selfish purposes, manipulative of others through personal power, easy to anger, cannot take criticism, strong sense of personal pride.
Những khó khăn tính cách tổng quát: Tham vọng vô hạn độ, dùng ý chí cho các mục đích ích kỷ, thao túng người khác qua quyền lực cá nhân, dễ nổi giận, không thể tiếp nhận phê bình, ý thức mạnh về lòng kiêu hãnh cá nhân.
To Be Cultivated: Compassion, humility, tolerance, caring, sympathy.
Điều cần được vun bồi: Lòng từ bi, khiêm nhường, khoan dung, quan tâm, cảm thông.
Mental: Strong, one-pointed mind with very individual opinions and points of view which can lead to a sense of isolation; need to dominate the thinking of others, or at least to lead the direction of thought; thinking is purposeful, as is the choice of intellectual interests.
Trí tuệ: Thể trí mạnh mẽ, nhất tâm với những ý kiến và quan điểm rất cá biệt có thể dẫn đến cảm giác cô lập; nhu cầu thống trị tư duy của người khác, hoặc ít nhất là dẫn dắt hướng suy nghĩ; tư duy có mục đích, cũng như sự lựa chọn các mối quan tâm trí năng.
Emotional: Can be very detached and cold; sometimes emotions are very deep-seated, and may explode volcanically; shy and reserved emotionally most of the time.
Cảm xúc: Có thể rất tách rời và lạnh lùng; đôi khi cảm xúc rất ăn sâu, và có thể bùng nổ như núi lửa; phần lớn thời gian nhút nhát và dè dặt về mặt cảm xúc.
Physical: Ectomorph—lean, medium-tall to tall.
Thể xác: Ngoại bì—gầy, cao vừa đến cao.
The Second Ray: The Ray of Love/Wisdom
Cung hai: Cung Bác Ái – Minh Triết
Signs.- Gemini, Virgo, Pisces planets: Jupiter, Sun
Dấu hiệu.- Song Tử, Xử Nữ, Song Ngư hành tinh: Mộc Tinh, Mặt Trời
The Word is issuing from the heart of God, emerging from a central point of love. That Word is love itself.... The Word in the beginning was. The Word hath dwelt and dwells with God.
Linh từ đang phát ra từ trái tim của Thượng đế, xuất hiện từ một điểm trung tâm của bác ái. Linh từ ấy chính là bác ái.... Thuở ban đầu đã có Linh từ. Linh từ đã ngự cùng và ngự với Thượng đế.
—Alice A. Bailey21
—Alice A. Bailey
The Second Ray is called the Master Builder, as it acts as the primary vehicle for the expression of the many forms of the primary, creative urge. It occupies the second aspect of Divinity, the Soul, and is the mode for the expression of consciousness, the quality of Life. As we have mentioned, the Second Ray is the most important to us, as it is the Ray for the expression of the Life of our solar system. Our solar system is essentially dualistic, as there are two forces which work through it: Love and Wisdom—Ray Two. It should come as no surprise that the theme of the duality of life is absolutely fundamental for us all. The urge to reconcile all duality and to create synthesis out of polarization is at the core of much of our individual and collective self-development. In this respect, the basic duality with which we are all dealing is the relationship between the Soul and the personality. Their eventual fusion and synthesis is what constitutes the state of the Initiate in humankind and is the goal of our individual evolution. The consciousness which results from these efforts is the Grace of God and reveals the essential Love/Wisdom, Second Ray energy of Life. The importance of Gemini and its esoteric ruler, Venus, as the vehicle for the fusion of the pairs of opposites into a greater expression of harmony and beauty, is most important in this respect. (See chapter 9, p. 172.)
Cung hai được gọi là Đấng Kiến Tạo Chân sư, vì nó hoạt động như vận cụ chính yếu cho sự biểu lộ của nhiều hình tướng của sự thôi thúc sáng tạo sơ cấp. Nó chiếm phương diện thứ hai của Thiêng Tính, linh hồn, và là phương thức cho sự biểu lộ của tâm thức, phẩm tính của Sự Sống. Như chúng ta đã đề cập, Cung hai là quan trọng nhất đối với chúng ta, vì nó là Cung để biểu lộ Sự Sống của hệ mặt trời chúng ta. Hệ mặt trời của chúng ta về bản chất là nhị nguyên, vì có hai mãnh lực hoạt động qua nó: Bác ái và Minh triết—Cung hai. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chủ đề nhị nguyên tính của đời sống là tuyệt đối nền tảng đối với tất cả chúng ta. Sự thôi thúc hòa giải mọi nhị nguyên tính và tạo ra tổng hợp từ sự phân cực nằm ở cốt lõi của phần lớn sự tự phát triển cá nhân và tập thể của chúng ta. Về phương diện này, nhị nguyên tính căn bản mà tất cả chúng ta đang xử lý là mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Sự dung hợp và tổng hợp cuối cùng của chúng là điều cấu thành trạng thái của điểm đạo đồ trong nhân loại và là mục tiêu của sự tiến hoá cá nhân của chúng ta. Tâm thức phát sinh từ những nỗ lực này là Ân Sủng của Thượng đế và mặc khải năng lượng Bác Ái – Minh Triết, Cung hai cốt yếu của Sự Sống. Tầm quan trọng của Song Tử và chủ tinh nội môn của nó, Kim Tinh, như vận cụ cho sự dung hợp các cặp đối lập thành một biểu lộ lớn hơn của hài hòa và vẻ đẹp, là điều tối quan trọng về phương diện này. (Xem chương 9, tr. 172.)
The Second Ray represents the cohesive force in the universe. It is this energy which unites and binds and allows all the building of Creativity to take place. The Second is thus the Ray of Lord Vishnu, the Sustainer of all the forms of Life, and is known as the Ray of the Soul—the Ray of the Hidden Christ. It is the Ray of the female principle because the Soul (female essential nature) embodies and gives form to the Spirit (male essential nature). The Soul (Second Ray) is the matrix from which all other forms are built. As we shall shortly discover, much of the differentiation into the myriad forms of Life is accomplished through the work of the Third Ray. The Second Ray supplies the matrix so that the work of Creation may be carried forth into manifestation.
Cung hai biểu trưng cho mãnh lực kết dính trong vũ trụ. Chính năng lượng này hợp nhất, ràng buộc và cho phép toàn bộ công trình kiến tạo của Sáng Tạo diễn ra. Vì vậy, Cung hai là Cung của Chúa Tể Vishnu, Đấng Duy Trì mọi hình tướng của Sự sống, và được biết đến như Cung của linh hồn—Cung của Đức Christ Ẩn Tàng. Đây là Cung của nguyên khí nữ vì linh hồn (bản tính cốt yếu nữ) hiện thân và ban hình tướng cho Tinh thần (bản tính cốt yếu nam). Linh hồn (Cung hai) là khuôn mẫu từ đó mọi hình tướng khác được xây dựng. Như chúng ta sẽ sớm khám phá, phần lớn sự biến phân thành vô số hình tướng của Sự sống được hoàn tất qua công việc của cung ba. Cung hai cung cấp khuôn mẫu để công trình Sáng Tạo có thể được đưa vào biểu hiện.
Love is that matrix, that Mother Force, which births those forms that house the essential Spirit of Life. Love is the healing dynamic which, through its cohesiveness, eventuates the process of evolution into greater and more highly evolved wholes. Love and the energy of the Second Ray unites, binds, and holds all of the manifestations of Creation together. This is the power of the female energy in the universe, while the male force continues to instill and inspire. (It is a wonderful function of the synthetic nature of the Seventh Ray, the primary Ray energy of the New Age, that these male and female qualities are expressing themselves simultaneously through all men and women of goodwill. This united function of the energy of life can only enhance the quality of the love present in our world, creating men and women who are more synthesized and less polarized in their ways of interrelating. This is a definite aspect of Soul orientation in the Aquarian Era.)
Bác ái là khuôn mẫu ấy, là Mẫu Lực ấy, sinh ra những hình tướng chứa đựng Tinh thần cốt yếu của Sự sống. Bác ái là động lực chữa lành, vốn qua tính kết dính của mình, đưa tiến trình tiến hoá đến những toàn thể lớn lao hơn và tiến hoá cao hơn. Bác ái và năng lượng của Cung hai hợp nhất, ràng buộc và giữ tất cả những biểu hiện của Sáng Tạo lại với nhau. Đây là quyền năng của năng lượng nữ trong vũ trụ, trong khi mãnh lực nam tiếp tục truyền vào và khơi hứng. (Đó là một chức năng kỳ diệu của bản tính tổng hợp của cung bảy, năng lượng Cung chủ yếu của Kỷ nguyên Mới, rằng các phẩm tính nam và nữ này đang biểu lộ đồng thời qua tất cả những người nam và nữ thiện chí. Chức năng hợp nhất này của năng lượng sự sống chỉ có thể làm tăng cường phẩm tính bác ái hiện diện trong thế giới chúng ta, tạo nên những người nam và nữ được tổng hợp hơn và ít phân cực hơn trong cách họ liên hệ với nhau. Đây là một phương diện xác định của sự định hướng linh hồn trong Kỷ nguyên Bảo Bình.)
The Second Ray is the energy behind what we can call “universal love.” It is very definitely connected to the powers of intuition, as once intuition is developed, one attains a very focused awareness of the wholistic quality of life. The Second Ray instills cooperation between people, philanthropy, and the urge to serve. It is the Ray of the teacher and the Ray of the Planetary Hierarchy, the Illuminati of any World Age. The Second is very connected to the Sixth Ray of religion, but unlike the Sixth, which has the tendency to promote and develop exclusivistic pathways of belief, the Second Ray is totally inclusive in nature.
Cung hai là năng lượng đứng sau điều mà chúng ta có thể gọi là “bác ái phổ quát”. Nó chắc chắn gắn liền với các quyền năng của trực giác, vì một khi trực giác được phát triển, người ta đạt đến một nhận biết rất tập trung về phẩm tính toàn thể của sự sống. Cung hai truyền vào sự hợp tác giữa con người, lòng bác ái và thôi thúc phụng sự. Đây là Cung của huấn sư và là Cung của Thánh Đoàn Hành Tinh, các Illuminati của bất kỳ Kỷ nguyên Thế giới nào. Cung hai gắn bó rất chặt với cung sáu của tôn giáo, nhưng khác với cung sáu, vốn có khuynh hướng thúc đẩy và phát triển những con đường tín ngưỡng loại trừ, Cung hai hoàn toàn có tính bao gồm trong bản chất.
Another facet of Second Ray energy is its healing quality. It is the Ray most associated with the plant kingdom, and is especially linked to flowers and perfumes. It might interest many to know that those distillations from flowers known as the Bach Flower Remedies are Second Ray in nature and intent. This healing function of the Second Ray is most important, as it is through the attunement to the Soul that the healing properties of the Life Force emanate and produce a greater wholeness. The Christ is often referred to as the Healer of Mankind, as this Great Initiate is, in essence, the Soul force for Humanity and is, along with His Hierarchy, the personification of Love/Wisdom. However, Christianity, as it has been practiced for the most part during the past two thousand years, in much more closely linked to the Sixth Ray.
Một phương diện khác của năng lượng Cung hai là phẩm tính chữa lành của nó. Đây là Cung gắn liền nhất với giới thực vật, và đặc biệt liên hệ với hoa và hương thơm. Có lẽ nhiều người sẽ thấy thú vị khi biết rằng những tinh chất chưng cất từ hoa được gọi là các phương thuốc hoa Bach có bản chất và mục đích thuộc Cung hai. Chức năng chữa lành này của Cung hai là tối quan trọng, vì chính qua sự chỉnh hợp với linh hồn mà các đặc tính chữa lành của Mãnh lực Sự sống phát xạ và tạo ra một sự toàn vẹn lớn hơn. Đức Christ thường được gọi là Đấng Chữa Lành của Nhân Loại, vì Đấng Điểm đạo vĩ đại này, về bản chất, là mãnh lực linh hồn của Nhân loại và, cùng với Thánh Đoàn của Ngài, là hiện thân của Bác Ái/Minh Triết. Tuy nhiên, Cơ Đốc giáo, như phần lớn đã được thực hành trong hai ngàn năm qua, lại gắn bó chặt chẽ hơn nhiều với cung sáu.
Virgo is the “controlling factor,” or primary sign of the Second Ray at this time. Its function has much to do with the increase in the activity of the Christ; that is, the expansion of Love/Wisdom in the hearts of humanity. This is often most effectively accomplished through those outer activities which we have come to associate with this sign: service, healing, and methods of self-improvement. Another interesting factor is the relationship of the Virgin Mother with this sign. It is within the womb of the Mother that the embryonic Christ is nurtured. Nine months later (if we count precessionally), we reach the sign of the Initiate, Capricorn, and the Christ is born at the winter solstice. Some other names associated with the Second Ray clearly demonstrate its relationship to healing, love, and the Christ. These are: the Lord of Eternal Love, the Giver of Wisdom, the Son of God Incarnate, the Cosmic Christ, and the Radiance in the Form.
Xử Nữ là “yếu tố kiểm soát”, hay dấu hiệu chủ yếu của Cung hai vào lúc này. Chức năng của nó liên hệ rất nhiều đến sự gia tăng hoạt động của Đức Christ; tức là, sự mở rộng của Bác Ái/Minh Triết trong trái tim nhân loại. Điều này thường được hoàn tất hữu hiệu nhất qua những hoạt động bên ngoài mà chúng ta đã gắn với dấu hiệu này: phụng sự, chữa lành và các phương pháp tự cải thiện. Một yếu tố thú vị khác là mối liên hệ của Đức Mẹ Đồng Trinh với dấu hiệu này. Chính trong dạ con của Người Mẹ mà Đức Christ phôi thai được nuôi dưỡng. Chín tháng sau đó (nếu chúng ta tính theo tuế sai), chúng ta đạt đến dấu hiệu của điểm đạo đồ, Ma Kết, và Đức Christ được sinh ra vào đông chí. Một số danh xưng khác gắn với Cung hai cho thấy rõ mối liên hệ của nó với sự chữa lành, bác ái và Đức Christ. Đó là: Chúa Tể của Bác Ái Vĩnh Cửu, Đấng Ban Minh Triết, Con của Thượng đế Nhập Thể, Đức Christ Vũ Trụ, và Sự Rạng Ngời trong Hình Tướng.
The Second Ray is primarily the Ray of Consciousness, the second aspect of Divinity (Life and Form being the other two). Consciousness relates life and form, and through it, the indwelling principle of love is revealed. The strong Second Ray person is always seeking to establish Right Human Relationships by evoking the higher consciousness existing between people; that is, the consciousness of the Soul’s reality. It is thus that the Second Ray is the energy of Universal Brother- and Sisterhood, and most expressive of the inclusive quality of Love Incarnate.
Cung hai chủ yếu là Cung của tâm thức, phương diện thứ hai của thiên tính (Sự sống và hình tướng là hai phương diện còn lại). Tâm thức liên hệ sự sống và hình tướng, và qua nó, nguyên khí bác ái nội tại được mặc khải. Người có Cung hai mạnh luôn tìm cách thiết lập những Tương Quan Nhân Loại Đúng Đắn bằng cách gợi lên tâm thức cao hơn đang hiện hữu giữa con người với nhau; tức là tâm thức về thực tại của linh hồn. Vì vậy, Cung hai là năng lượng của Tình Huynh Đệ và Tỷ Muội Phổ Quát, và biểu lộ mạnh mẽ nhất phẩm tính bao gồm của Bác Ái Nhập Thể.
All the signs connected to the Second Ray are dual, although Virgo goes one step further and is considered, due to its relationship with the Mother, and thus the birther of all forms, as multiplistic in nature. It is for this reason of dualism and multiplicity that on a practical level, people who tend to be strongly Second Ray in nature have the tendency to vacillate. Their views often change relative to the people in their surroundings. The urge is for universality, so that in their need to be all-embracing, they lose their focus and steadiness. Second Ray people tend to mix well with others, and when they are developed, their radiance makes them loved and admired for their compassion and nurturing qualities. As the Second Ray is one of Wisdom as well as Love, Second Ray people tend to be teachers by nature. Yet it should be noted that if the Wisdom aspect of the Ray is emphasized, and is not balanced by Love, there is a tendency toward aloofness. They may then appear indifferent to others and lacking in the compassion that is at the very heart of this Ray’s life quality.
Mọi dấu hiệu gắn với Cung hai đều là kép, mặc dù Xử Nữ tiến thêm một bước và được xem, do mối liên hệ với Người Mẹ, và vì thế là đấng sinh ra mọi hình tướng, như có bản chất đa bội. Chính vì lý do nhị nguyên và đa bội này mà trên bình diện thực tiễn, những người có khuynh hướng mạnh về bản chất Cung hai thường có xu hướng dao động. Quan điểm của họ thường thay đổi tùy theo những người trong môi trường chung quanh. Thôi thúc là hướng đến tính phổ quát, nên trong nhu cầu muốn bao trùm tất cả, họ đánh mất sự tập trung và tính vững vàng. Người Cung hai có xu hướng hòa hợp tốt với người khác, và khi họ phát triển, sự rạng ngời của họ khiến họ được yêu mến và ngưỡng mộ vì lòng từ bi và phẩm tính nuôi dưỡng. Vì Cung hai là Cung của Minh triết cũng như Bác ái, nên người Cung hai có xu hướng là huấn sư theo bản tính. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu phương diện Minh triết của Cung được nhấn mạnh mà không được cân bằng bởi Bác ái, sẽ có khuynh hướng dẫn đến sự xa cách. Khi ấy họ có thể tỏ ra điềm nhiên với người khác và thiếu lòng từ bi vốn nằm ngay nơi cốt lõi phẩm tính sự sống của Cung này.
Second Ray individuals are the peacemakers of the Earth. Since they are able to see all sides to a given situation, as well as the whole, all simultaneously (a gift of intuition), they often find themselves in diplomatic roles. The “go-between” nature of the “shuttle diplomacy” initiated by Dr. Henry Kissinger (himself a Gemini) illustrates the kind of movement particular to Second Ray energy when acting in the cause of governmental diplomacy.
Những cá nhân Cung hai là những người kiến tạo hòa bình của Trái Đất. Vì họ có thể nhìn thấy mọi mặt của một tình huống nhất định, cũng như toàn thể của nó, tất cả cùng một lúc (một ân tứ của trực giác), nên họ thường thấy mình ở trong những vai trò ngoại giao. Bản tính “đi qua lại” của “ngoại giao con thoi” do Tiến sĩ Henry Kissinger khởi xướng (bản thân ông là Song Tử) minh họa loại chuyển động đặc thù của năng lượng Cung hai khi hoạt động trong sự nghiệp ngoại giao chính phủ.
Some of the more difficult and negative traits associated with Second Ray personalities revolve around misplaced and overemphasized sensitivity. Magnetism is especially associated with the Second Ray. As a consequence, a person may become too responsive to the needs of others, with the resulting sense of feeling overburdened by the pains of the world. This is an example of picking up or absorbing negativity from the collective level, and then unconsciously transforming it into some form of personal life situation. This is a definite pathway to depression, anxiety, and a very poor self-image. Inertia, helplessness, and a sense of ineffectiveness are other traits which may characterize such a negatively polarized Second Ray type of person.
Một số đặc tính khó khăn và tiêu cực hơn gắn với các phàm ngã Cung hai xoay quanh sự nhạy cảm đặt sai chỗ và bị nhấn mạnh quá mức. Từ điện đặc biệt gắn với Cung hai. Do đó, một người có thể trở nên quá đáp ứng với nhu cầu của người khác, với kết quả là cảm giác bị đè nặng bởi những nỗi đau của thế giới. Đây là một ví dụ về việc tiếp nhận hay hấp thụ tính tiêu cực từ cấp độ tập thể, rồi vô thức chuyển đổi nó thành một dạng tình huống đời sống cá nhân nào đó. Đây là một con đường rõ rệt dẫn đến trầm cảm, lo âu và một hình ảnh bản thân rất kém. Quán tính, sự bất lực và cảm giác vô hiệu quả là những đặc tính khác có thể tiêu biểu cho một kiểu người Cung hai phân cực tiêu cực như vậy.
The above speaks about the misplaced direction of the Love aspect of the Second Ray. If the Wisdom quality is not being properly directed, that which could be viewed as a universality of mind may degenerate into contempt of others perhaps more limited (or so one thinks) in their mental capabilities. This type of Second Ray person has to be very careful not to become so overly absorbed in his own philosophical views that he mistakes his personal opinions and perceptions for universal truths.
Điều trên nói về hướng đi sai lệch của phương diện Bác ái của Cung hai. Nếu phẩm tính Minh triết không được định hướng đúng đắn, điều vốn có thể được xem là tính phổ quát của trí tuệ có thể thoái hóa thành sự khinh miệt người khác, có lẽ bị giới hạn hơn (hay ít nhất người ấy nghĩ vậy) trong năng lực trí tuệ của họ. Kiểu người Cung hai này phải hết sức cẩn trọng để không trở nên quá chìm đắm trong các quan điểm triết học riêng của mình đến mức lầm tưởng những ý kiến và nhận thức cá nhân của mình là các chân lý phổ quát.
Keywords and Key Phrases of the Second Ray
Từ khóa và Cụm từ Chủ yếu của Cung hai
Concept: Universal love and truth, philanthropy, brotherhood; the urge to inclusiveness, consciousness; the nurturing quality which supports all life; the expression of the Soul.
Khái niệm: Bác ái và chân lý phổ quát, lòng bác ái, tình huynh đệ; thôi thúc hướng đến tính bao gồm, tâm thức; phẩm tính nuôi dưỡng nâng đỡ mọi sự sống; sự biểu lộ của linh hồn.
Soul Level: The urge to bring about a sustaining, loving wholeness to any group or life situation; the ability, through magnetic attraction, to bring about healing; the focus for the stimulation of consciousness, and hence for greater love/wisdom; the ability to see beyond differences into unifying principles.
Cấp độ linh hồn: Thôi thúc mang lại một sự toàn vẹn đầy yêu thương và duy trì cho bất kỳ nhóm hay tình huống sống nào; khả năng, qua hấp lực từ tính, mang lại sự chữa lành; tiêu điểm cho sự kích thích tâm thức, và vì vậy cho bác ái/minh triết lớn hơn; khả năng nhìn vượt lên trên khác biệt để thấy các nguyên lý hợp nhất.
Personality Level: Ray of teachers; people in the healing and service professions.
Cấp độ phàm ngã: Cung của các huấn sư; những người trong các ngành chữa lành và phụng sự.
General Positive Traits: Naturally sympathetic and compassionate; eager to be of assistance; generous and philanthropic; calm, strong, and patient when dealing with the daily situations of life; faithful and reliable; lovers of truth who are very intuitive by nature.
Các đặc tính tích cực chung: Tự nhiên cảm thông và từ bi; tha thiết muốn giúp đỡ; rộng lượng và bác ái; điềm tĩnh, mạnh mẽ và kiên nhẫn khi đối diện với các tình huống thường nhật của đời sống; trung thành và đáng tin cậy; những người yêu chân lý và rất trực giác theo bản tính.
General Character Difficulties: Coldness, if Wisdom aspect is overemphasized; indifference to others; misplaced affection- always feeling sorry for things; a negative, “why is it always happening to me” outlook to life; rarely satisfied with personal accomplishments.
Những khó khăn chung về tính cách: Lạnh lùng, nếu phương diện Minh triết bị nhấn mạnh quá mức; điềm nhiên với người khác; tình cảm đặt sai chỗ—luôn cảm thấy thương hại mọi sự; một cái nhìn tiêu cực kiểu “tại sao điều đó luôn xảy ra với tôi” đối với đời sống; hiếm khi hài lòng với những thành tựu cá nhân.
To Be Cultivated: Faith in love as the healing force in life.
Điều cần được vun bồi: Đức tin vào bác ái như mãnh lực chữa lành trong đời sống.
Mental: A love of knowledge that may lead to learning things for the sake of learning, rather than for any practical reason; tendency to become absorbed in specialized field of study; can be profoundly universal in philosophical outlook, or a mere dilettante, with too many interests.
Trí tuệ: Tình yêu tri thức có thể dẫn đến việc học chỉ vì học, hơn là vì bất kỳ lý do thực tiễn nào; khuynh hướng trở nên chìm đắm trong một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt; có thể rất phổ quát trong quan điểm triết học, hoặc chỉ là một kẻ tài tử, với quá nhiều mối quan tâm.
Emotional: Calm and serene; more involved with sustaining feelings than with giant shows of passionate emotionalism; can become overly attached to others, and have a difficult time releasing them; is the peace initiator in any given set of conflicts.
Cảm xúc: Điềm tĩnh và tĩnh lặng; gắn nhiều hơn với việc duy trì cảm xúc hơn là những biểu hiện khổng lồ của cảm tính đam mê; có thể trở nên quá gắn bó với người khác, và rất khó buông họ ra; là người khởi xướng hòa bình trong bất kỳ tập hợp xung đột nào.
Physical: Delicate and gentle physical body, with a tendency toward a small stature.
Hồng trần: Thể xác mảnh mai và dịu dàng, với khuynh hướng vóc người nhỏ.
The Third Ray: The Ray of Active Intelligence
Cung ba: Cung của Trí Tuệ Linh Hoạt
Signs.- Cancer, Libra, Capricorn planets.- Earth, Saturn
Các dấu hiệu.- Cự Giải, Thiên Bình, Ma Kết các hành tinh.- Trái Đất, Thổ Tinh