← Telepathy

Table of Contents

Table of Contents

Table of Contents2

TELEPATHY AND THE ETHERIC VEHICLE4

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN6

THE GREAT INVOCATION8

SECTION ONE—TEACHING ON TELEPATHY—PHẦN MỘT—HUẤN THỊ VỀ VIỄN CẢM12

I. THE FIELD OF TELEPATHIC INTERPLAY—I. PHẠM VI CỦA TÁC ĐỘNG QUA LẠI BẰNG VIỄN CẢM12

II. TELEPATHIC WORK—II. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM22

III. THREE TYPES OF TELEPATHY—III. BA LOẠI VIỄN CẢM26

Two Other Groups of Telepathic Possibilities—Hai Nhóm Khả Năng Viễn Cảm Khác32

IV. THREE TYPES OF ENERGY INVOLVED—IV. BA LOẠI NĂNG LƯỢNG LIÊN QUAN36

V. THE GROWTH OF TELEPATHIC RAPPORT—V. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỐI GIAO CẢM VIỄN CẢM41

VI. GROUP TELEPATHIC WORK—VI. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM NHÓM46

VII. THE SCIENCE OF IMPRESSION—VII. KHOA HỌC VỀ SỰ ẤN TƯỢNG51

Sources of Impression to the Three Planetary Centres—Các Nguồn Ấn Tượng Đến Ba Trung Tâm Hành Tinh52

VIII. THE SUPREME SCIENCE OF CONTACT—VIII. KHOA HỌC TỐI THƯỢNG VỀ SỰ TIẾP XÚC61

Its Goal in the Evolutionary Life Process—Mục Tiêu Của Nó Trong Quá Trình Sự Sống Tiến Hóa64

IX. EXPANDING AREAS OF CONSCIOUS INTERACTION—IX. CÁC LĨNH VỰC TƯƠNG TÁC CÓ Ý THỨC ĐANG MỞ RỘNG67

X. SEQUENTIAL REVELATION OF RELATIONSHIPS—X. SỰ MẶC KHẢI TUẦN TỰ VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ72

Linking Groups Within the Planetary Life—Các Nhóm Liên Kết Bên Trong Sự Sống Hành Tinh76

Mind the Focus of Planetary Development—Trí Tuệ là Tiêu Điểm của Sự Phát Triển Hành Tinh80

XI. RESULTS OF CONTACT AND RECEPTIVITY—XI. CÁC KẾT QUẢ CỦA TIẾP XÚC VÀ TÍNH THU NHẬN83

Planetary Sequence of Impression—Trình Tự Ấn Tượng Hành Tinh88

XII. RELATION OF THE HUMAN TO THE HIERARCHICAL CENTRE—XII. MỐI QUAN HỆ CỦA TRUNG TÂM NHÂN LOẠI VỚI TRUNG TÂM THÁNH ĐOÀN92

Sources of Impression for the Disciple—Các Nguồn Ấn Tượng cho Đệ Tử95

His Contribution to the Divine Plan—Sự Đóng Góp của Y cho Thiên Cơ101

XIII. TELEPATHIC SENSITIVITY A NORMAL UNFOLDMENT—XIII. SỰ NHẠY CẢM VIỄN CẢM MỘT SỰ MỞ RA BÌNH THƯỜNG102

Paralleling Spiritual Development—Song Hành Với Sự Phát Triển Tinh Thần104

Registration, Recording and Interpretation—Sự Ghi Nhận, Ghi Lại và Diễn Giải109

XIV. HIGHER ASPECTS OF RELATIONSHIP—XIV. CÁC KHÍA CẠNH CAO HƠN CỦA MỐI QUAN HỆ117

The Impressing Agents of the Divine Will—Các Tác Nhân Ấn Tượng của Ý Chí Thiêng Liêng127

XV. INTER-PLANETARY AND EXTRA-PLANETARY RELATIONSHIPS—XV. CÁC MỐI QUAN HỆ LIÊN HÀNH TINH VÀ NGOẠI HÀNH TINH131

Humanity’s Key Role—Vai Trò Then Chốt của Nhân Loại134

Seven Statements Depicting the Pattern of the Present Planetary Work—Bảy Mệnh Đề Mô Tả Mô Hình của Công Việc Hành Tinh Hiện Tại139

The Centres and the Ray Energies—Các Trung Tâm và Năng Lượng Cung143

Separateness: the Great Illusion—Sự Chia Rẽ: Đại Ảo Tưởng146

SECTION TWO — TEACHING ON THE ETHERIC VEHICLE—PHẦN HAI — HUẤN THỊ VỀ THỂ DĨ THÁI148

I. THE NATURE OF THE ETHERIC BODY—I. BẢN CHẤT CỦA THỂ DĨ THÁI148

II. THE BASIS OF NON-SEPARATENESS—II. CƠ SỞ CỦA TÍNH KHÔNG CHIA RẼ157

The Changing Pattern of the Planetary Etheric Body—Mô Hình Đang Thay Đổi của Thể Dĩ Thái Hành Tinh172

IV. THE CENTRES AND THE PERSONALITY—IV. CÁC TRUNG TÂM VÀ PHÀM NGÃ174

Relationship Between the Higher and the Lower Centres—Mối Quan Hệ Giữa Các Trung Tâm Cao và Thấp177

V. THE NATURE OF SPACE—V. BẢN CHẤT CỦA KHÔNG GIAN185

VI. THE PLANETARY LIFE — A CENTRE IN THE SOLAR SYSTEM—VI. SỰ SỐNG HÀNH TINH — MỘT TRUNG TÂM TRONG HỆ MẶT TRỜI190

The Central Triangle of Energies—Tam Giác Năng lượng Trung tâm193

The Sequence of Inter-Related Triangles—Trình Tự của Các Tam Giác Tương Quan199

Man’s Integral Relationship and Creative Function Within the Whole—Mối Quan Hệ Tích Hợp và Chức Năng Sáng Tạo của Con Người Trong Tổng Thể201

THE ARCANE SCHOOL—TRƯỜNG ARCANE208

TELEPATHY AND THE ETHERIC VEHICLE

by

ALICE A. BAILEY

BOOKS BY ALICE A. BAILEY

Initiation, Human and Solar

Letters on Occult Meditation

The Consciousness of the Atom

A Treatise on Cosmic Fire

The Light of the Soul

The Soul and its Mechanism

From Intellect to Intuition

A Treatise on White Magic

From Bethlehem to Calvary

Discipleship in the New Age–Vol. I

Discipleship in the New Age–Vol. II

Problems of Humanity

The Reappearance of the Christ

The Destiny of the Nations

Glamour: A World Problem

Telepathy and the Etheric Vehicle

The Unfinished Autobiography

Education in the New Age

The Externalisation of the Hierarchy

A Treatise on the Seven Rays:

Vol. I–Esoteric Psychology

Vol. II–Esoteric Psychology

Vol. III–Esoteric Astrology

Vol. IV–Esoteric Healing

Vol. V–The Rays and the Initiations

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất lên đến, và vượt xa hơn, chính Đức Christ. Tôi sống trong một cơ thể vật lý như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi bằng một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số những cái tên của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity—not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Thánh Đạo lâu hơn một chút so với người môn sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một lượng ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và do đó tôi phải hành động như một người truyền phát ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các huấn sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức của Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi không nói gì để dẫn dắt các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và lòng sùng kính ngu muội mà người chí nguyện thiên về cảm xúc dâng hiến cho vị Guru và Chân sư mà y vẫn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa lòng sùng kính cảm xúc thành sự phụng sự vị tha cho nhân loại - chứ không phải cho Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những cuốn sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận đối với chúng. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc của các bạn là xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng việc rèn luyện trực giác. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết được truyền cảm hứng, hay việc bất cứ ai nói về chúng (với hơi thở hổn hển) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi của trí tuệ (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo lý được truyền tải khơi dậy một sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người làm việc trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác y, thì hãy để giáo lý đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì đừng. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm nghiệm của Định luật Tương ứng, thì điều đó là tốt và hay. Nhưng nếu không phải như vậy, thì người môn sinh đừng chấp nhận những gì được nói ra.

AUGUST 1934

THÁNG 8 NĂM 1934

THE GREAT INVOCATION

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A BAILEY

SECTION ONE—TEACHING ON TELEPATHY—PHẦN MỘT—HUẤN THỊ VỀ VIỄN CẢM

I. THE FIELD OF TELEPATHIC INTERPLAY—I. PHẠM VI CỦA TÁC ĐỘNG QUA LẠI BẰNG VIỄN CẢM

[1]

[1]

One of the characteristics, distinguishing the group of world servers and knowers, is that the outer organisation which holds them integrated is practically non-existent. They are held together by the inner structure of thought and by a telepathic medium of inter-relation. The Great Ones, Whom we all seek to serve, are thus linked, and can—at the slightest need and with the least expenditure of force—get en rapport with each other. They are all tuned to a particular vibration.

Một trong những đặc điểm phân biệt nhóm những người phụng sự thế gian và những thức giả là tổ chức bên ngoài giữ họ tích hợp với nhau hầu như không tồn tại. Họ được gắn kết với nhau bởi cấu trúc bên trong của tư tưởng và bởi một môi trường tương tác viễn cảm. Các Đấng Cao Cả, Mà tất cả chúng ta đều tìm cách phụng sự, được liên kết như vậy, và—khi có nhu cầu nhỏ nhất và với sự tiêu tốn mãnh lực ít nhất—có thể thiết lập mối quan hệ với nhau. Tất cả Các Ngài đều được điều chỉnh theo một rung động cụ thể.

In the new groups are collected together people who are very diverse in their nature, who are found upon differing rays, who are of different nationalities, and who are each of them the product of widely varying environments and heredity. Besides these obvious factors which immediately attract attention, there is also to be found an equal diversity in the life experience of the souls concerned. The complexity of the problem is also tremendously increased when one remembers the long road which each has travelled and the many factors (emerging out of a dim and distant past) which have contributed to make each person what he now is. When, therefore, one dwells on the barriers and difficulties supervening upon such diverse conditions, the question arises at once: What provides the common meeting ground, and what makes it possible to have an interplay between the minds involved? The answer to this question is of paramount importance and necessitates a clear understanding.

Trong các nhóm mới tập hợp những người rất đa dạng về bản chất, thuộc các cung khác nhau, có quốc tịch khác nhau, và mỗi người là sản phẩm của những môi trường và di truyền rất khác biệt. Bên cạnh những yếu tố hiển nhiên này ngay lập tức thu hút sự chú ý, người ta cũng tìm thấy sự đa dạng tương đương trong kinh nghiệm sống của các linh hồn liên quan. Sự phức tạp của vấn đề cũng gia tăng khủng khiếp khi người ta nhớ đến con đường dài mà mỗi người đã đi qua và nhiều yếu tố (xuất hiện từ quá khứ mờ mịt và xa xăm) đã góp phần tạo nên mỗi người như hiện tại. Do đó, khi người ta nghĩ về những rào cản và khó khăn nảy sinh từ những điều kiện đa dạng như vậy, câu hỏi nảy sinh ngay lập tức: Điều gì cung cấp cơ sở gặp gỡ chung, và điều gì làm cho sự tác động qua lại giữa các tâm trí liên quan trở nên khả thi? Câu trả lời cho câu hỏi này có tầm quan trọng tối cao và đòi hỏi một sự thấu hiểu rõ ràng.

[2]

[2]

When the Biblical words are used: “In Him we live and move and have our being,” we have the statement of a fundamental law in nature and the enunciated basis of the fact which we cover by the rather meaningless word: Omnipresence. Omnipresence has its basis in the substance of the universe, and in what the scientists call the ether; this word “ether” is a generic term covering the ocean of energies which are all inter-related and which constitute that one synthetic energy body of our planet.

Khi những lời trong Kinh Thánh được sử dụng: “Trong Ngài, chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu,” chúng ta có tuyên bố về một quy luật cơ bản trong tự nhiên và cơ sở được công bố của sự thật mà chúng ta bao hàm bằng từ ngữ khá vô nghĩa: Sự Hiện Diện Khắp Nơi. Sự Hiện Diện Khắp Nơi có cơ sở trong chất liệu của vũ trụ, và trong cái mà các nhà khoa học gọi là ête; từ “ête” này là một thuật ngữ chung bao hàm đại dương năng lượng đều có mối liên hệ với nhau và cấu thành nên một thể năng lượng tổng hợp của hành tinh chúng ta.

In approaching, therefore, the subject of telepathy, it must be carefully borne in mind that the etheric body of every form in nature is an integral part of the substantial form of God Himself—not the dense physical form, but what the esotericists regard as the form-making substance. We use the word God to signify the expression of the One Life which animates every form on the outer objective plane. The etheric or energy body, therefore, of every human being is an integral part of the etheric body of the planet itself and consequently of the solar system. Through this medium, every human being is basically related to every other expression of the Divine Life, minute or great. The function of the etheric body is to receive energy impulses and to be swept into activity by these impulses, or streams of force, emanating from some originating source or other. The etheric body is in reality naught but energy. It is composed of myriads of threads of force or tiny streams of energy, held in relation to the emotional and mental bodies and to the soul by their co-ordinating effect. These streams of energy, in their turn, have an effect on the physical body and swing it into activity of some kind or another, according to the nature and power of whatever type of energy may be dominating the etheric body at any particular time.

Do đó, khi tiếp cận chủ đề viễn cảm, cần phải ghi nhớ kỹ lưỡng rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng trong tự nhiên là một phần không thể thiếu của hình tướng bằng chất liệu của chính Thượng đế—không phải hình tướng vật lý đậm đặc, mà là cái mà các nhà bí truyền học coi là chất liệu tạo hình. Chúng ta sử dụng từ Thượng đế để biểu thị sự biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất làm sinh động mọi hình tướng trên cõi khách quan bên ngoài. Do đó, thể dĩ thái hay thể năng lượng của mỗi con người là một phần không thể thiếu của thể dĩ thái của chính hành tinh và theo đó là của hệ mặt trời. Thông qua môi trường này, mỗi con người về cơ bản đều liên hệ với mọi biểu hiện khác của Sự Sống Thiêng Liêng, dù nhỏ hay lớn. Chức năng của thể dĩ thái là tiếp nhận các xung lực năng lượng và bị cuốn vào hoạt động bởi các xung lực này, hay các dòng mãnh lực, phát xuất từ một nguồn gốc nào đó. Thể dĩ thái thực tế không là gì khác ngoài năng lượng. Nó được cấu thành từ vô số các sợi mãnh lực hoặc các dòng năng lượng nhỏ bé, được giữ trong mối quan hệ với thể cảm dục, thể trí và với linh hồn bởi tác động phối hợp của chúng. Các dòng năng lượng này, đến lượt mình, có tác động lên thể xác và đưa nó vào hoạt động thuộc loại này hay loại khác, tùy theo bản chất và sức mạnh của bất kỳ loại năng lượng nào đang thống trị thể dĩ thái vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào.

[3]

[3]

Through the etheric body, therefore, circulates energy emanating from some mind. With humanity in the mass, response is made unconsciously to the rulings of the Universal Mind; this is complicated in our time and age by a growing responsiveness to the mass ideas—called sometimes public opinion—of the rapidly evolving human mentality. Within the human family are also found those who respond to that inner group of Thinkers Who, working in mental matter, control from the subjective side of life the emergence of the great plan and the manifestation of divine purpose.

Do đó, thông qua thể dĩ thái, năng lượng phát xuất từ một tâm trí nào đó luân chuyển. Đối với đại chúng nhân loại, sự đáp ứng được thực hiện một cách vô thức đối với các quy định của Vũ Trụ Trí; điều này trở nên phức tạp trong thời đại của chúng ta bởi sự phản ứng ngày càng tăng đối với các ý tưởng đại chúng—đôi khi được gọi là dư luận công chúng—của tâm tính nhân loại đang tiến hóa nhanh chóng. Trong gia đình nhân loại cũng tìm thấy những người đáp ứng với nhóm Tư Tưởng Gia bên trong Đó, Những Vị làm việc trong vật chất trí tuệ, kiểm soát từ phía chủ quan của sự sống sự xuất hiện của thiên cơ vĩ đại và sự biểu lộ của mục đích thiêng liêng.

This group of Thinkers falls into seven main divisions and is presided over by three great Lives or super-conscious Entities. These three are the Manu, the Christ, and the Mahachohan. These three work primarily through the method of influencing the minds of the adepts and the initiates. These latter in their turn influence the disciples of the world, and these disciples, each in his own place and on his own responsibility, work out their concept of the plan and seek to give expression to it as far as possible. It is, therefore, as you can surmise, a process of stepping down rates of vibration until they are sufficiently heavy to affect physical plane matter and thus make possible the building of organised effects on the physical plane. These disciples have hitherto worked very much alone except when karmic relationships have revealed them to each other, and telepathic intercommunication has been fundamentally confined to the Hierarchy of adepts and initiates, both in and out of incarnation, and to Their individual work with Their disciples.

Nhóm Tư Tưởng Gia này chia thành bảy bộ phận chính và được chủ trì bởi ba Sự Sống vĩ đại hay các Thực Thể siêu thức. Ba Vị này là Đức Manu, Đức Christ, và Đức Mahachohan. Ba Vị này làm việc chủ yếu thông qua phương pháp ảnh hưởng đến tâm trí của các chân sư và các điểm đạo đồ. Những vị này đến lượt mình ảnh hưởng đến các đệ tử của thế gian, và những đệ tử này, mỗi người ở vị trí riêng và chịu trách nhiệm riêng, thực hiện khái niệm của họ về thiên cơ và tìm cách biểu lộ nó càng nhiều càng tốt. Do đó, như các bạn có thể phỏng đoán, đó là một quá trình hạ thấp các mức rung động cho đến khi chúng đủ nặng để tác động đến vật chất cõi trần và do đó làm cho việc xây dựng các hiệu quả có tổ chức trên cõi trần trở nên khả thi. Cho đến nay, các đệ tử này đã làm việc rất đơn độc ngoại trừ khi các mối quan hệ nghiệp quả đã tiết lộ họ với nhau, và sự giao tiếp viễn cảm về cơ bản đã bị giới hạn trong Thánh đoàn của các chân sư và điểm đạo đồ, cả đang lâm phàm và không lâm phàm, và trong công việc cá nhân của Các Ngài với các đệ tử của Các Ngài.

It is, however, now deemed possible to establish a resembling condition and a telepathic relation between disciples on the physical plane. No matter where they may find themselves, this group of mystics and knowers will [4] eventually find it feasible to communicate with one another and frequently do even now. A basic mystical idea or some new revelation of truth is suddenly recognised by many and finds expression simultaneously through the medium of many minds. No one person can claim individual right to the enunciated principle or truth. Several minds have registered it. It is usually stated, however, in a wide generalisation, that these people have tapped the inner thought currents or have responded to the play of the Universal Mind. Literally and technically this is not so. The Universal Mind is tapped by some member of the planetary Hierarchy according to His mental bias and equipment, and the immediate needs sensed by the working adepts. He then presents the new idea, new discovery, or the new revelation to the group of adepts (telepathically, of course, my brother) and, when it has been discussed by them, He later presents it to His group of disciples. Among them He will find one who responds more readily and intelligently than the others and this one, through his clear thinking and the power of his formulated thoughtforms, can then influence other minds. These others grasp the concept as theirs; they seize upon it and work it out into manifestation. Each regards it as his special privilege so to do and, because of this specialising faculty and his automatically engendered responsibility, he throws back of it all the energy which is his, and works and fights for his thoughtforms.

Tuy nhiên, hiện nay người ta cho rằng có thể thiết lập một điều kiện tương tự và một mối quan hệ viễn cảm giữa các đệ tử trên cõi trần. Bất kể họ thấy mình ở đâu, nhóm những nhà thần bí và thức giả này [4] cuối cùng sẽ thấy khả thi để giao tiếp với nhau và thường xuyên làm như vậy ngay cả bây giờ. Một ý tưởng thần bí cơ bản hoặc một sự mặc khải mới về chân lý đột nhiên được nhiều người công nhận và tìm thấy sự biểu hiện đồng thời thông qua phương tiện của nhiều tâm trí. Không một cá nhân nào có thể tuyên bố quyền cá nhân đối với nguyên tắc hoặc chân lý được công bố. Một số tâm trí đã ghi nhận nó. Tuy nhiên, thường được tuyên bố, trong một sự khái quát rộng rãi, rằng những người này đã chạm vào các dòng tư tưởng bên trong hoặc đã đáp ứng với sự tác động của Vũ Trụ Trí. Theo nghĩa đen và kỹ thuật thì không phải như vậy. Vũ Trụ Trí được chạm vào bởi một thành viên nào đó của Thánh đoàn hành tinh tùy theo thiên hướng và trang bị trí tuệ của Ngài, và các nhu cầu cấp thiết được cảm nhận bởi các chân sư đang làm việc. Sau đó, Ngài trình bày ý tưởng mới, khám phá mới, hoặc sự mặc khải mới cho nhóm các chân sư (tất nhiên là bằng viễn cảm, người huynh đệ của tôi) và, khi nó đã được thảo luận bởi các ngài, sau đó Ngài trình bày nó cho nhóm đệ tử của Ngài. Trong số họ, Ngài sẽ tìm thấy một người đáp ứng sẵn sàng và thông minh hơn những người khác và người này, thông qua tư duy rõ ràng và sức mạnh của các hình tư tưởng được hình thành của mình, sau đó có thể ảnh hưởng đến các tâm trí khác. Những người khác nắm bắt khái niệm như là của họ; họ nắm lấy nó và thực hiện nó thành biểu hiện. Mỗi người coi đó là đặc quyền đặc biệt của mình để làm như vậy và, do năng lực chuyên biệt hóa này và trách nhiệm tự động nảy sinh của mình, y ném vào sau tất cả năng lượng thuộc về mình, và làm việc cũng như chiến đấu cho các hình tư tưởng của mình.

An illustration of this is to be found in the history of the League of Nations. Before He took up special work, the Master Serapis sought to bring through some constructive idea for the helping of humanity. He conceived of a world unity in the realm of politics which would work out as an intelligent banding of the nations for the preservation of international peace. He presented it to the adepts in conclave and it was felt that something could be done. [5] The Master Jesus undertook to present it to His group of disciples as He was working in the occident. One of these disciples on the inner planes, seized upon the suggestion and passed it on (or rather stepped it down) until it registered in the brain of Colonel House. He, not recording the source (of which he was totally unaware), passed it on in turn to that sixth ray aspirant, called Woodrow Wilson. Then, fed by the wealth of analogous ideas in the minds of many, it was presented to the world. It should be borne in mind that the function of a disciple is to focus a stream of energy of some special kind upon the physical plane where it can become an attractive centre of force and draw to itself similar types of ideas and thought currents which are not strong enough to live by themselves or to make a sufficiently strong impact upon the human consciousness.

Một minh họa cho điều này có thể được tìm thấy trong lịch sử của Hội Quốc Liên. Trước khi Ngài đảm nhận công việc đặc biệt, Chân sư Serapis đã tìm cách đưa ra một số ý tưởng mang tính xây dựng để giúp đỡ nhân loại. Ngài đã quan niệm về một sự thống nhất thế giới trong lĩnh vực chính trị sẽ hoạt động như một sự liên kết thông minh của các quốc gia để bảo vệ hòa bình quốc tế. Ngài đã trình bày nó cho các chân sư trong mật nghị và người ta cảm thấy rằng điều gì đó có thể được thực hiện. [5] Chân sư Jesus đã đảm nhận việc trình bày nó cho nhóm đệ tử của Ngài vì Ngài đang làm việc ở phương Tây. Một trong những đệ tử này trên các cõi bên trong, đã nắm bắt gợi ý và chuyển nó đi (hay đúng hơn là hạ thấp nó xuống) cho đến khi nó được ghi nhận trong não bộ của Đại tá House. Ông ấy, không ghi lại nguồn gốc (mà ông hoàn toàn không hay biết), đã chuyển nó đến lượt mình cho người chí nguyện cung sáu đó, được gọi là Woodrow Wilson. Sau đó, được nuôi dưỡng bởi sự phong phú của các ý tưởng tương tự trong tâm trí của nhiều người, nó đã được trình bày cho thế giới. Cần ghi nhớ rằng chức năng của một đệ tử là tập trung một dòng năng lượng thuộc loại đặc biệt nào đó lên cõi trần nơi nó có thể trở thành một trung tâm thu hút mãnh lực và lôi kéo về phía mình các loại ý tưởng và dòng tư tưởng tương tự vốn không đủ mạnh để tự tồn tại hoặc tạo ra một tác động đủ mạnh lên tâm thức con người.

In union is strength. This is the second law governing telepathic communication.

Trong sự đoàn kết có sức mạnh. Đây là định luật thứ hai chi phối giao tiếp viễn cảm.

The first law is:

Định luật thứ nhất là:

1. The power to communicate is to be found in the very nature of substance itself. It lies potentially within the ether, and the significance of telepathy is to be found in the word omnipresence.

1. Quyền năng giao tiếp được tìm thấy trong chính bản chất của chất liệu. Nó nằm tiềm tàng trong ête, và ý nghĩa của viễn cảm được tìm thấy trong từ Sự Hiện Diện Khắp Nơi.

The second law is:

Định luật thứ hai là:

2. The interplay of many minds produces a unity of thought which is powerful enough to be recognised by the brain.

2. Sự tác động qua lại của nhiều trí tuệ tạo ra một sự thống nhất tư tưởng đủ mạnh để được bộ não ghi nhận.

Here we have a law governing a subjective activity and another law governing objective manifestation. Let us voice these laws in the simplest manner possible. When [6] each member of the group can function in his mind-consciousness, untrammelled by the brain or the emotional nature, he will discover the universality of the mental principle which is the first exoteric expression of the soul consciousness. He will then enter into the world of ideas, becoming aware of them through the sensitive receiving plate of the mind. He then seeks to find those who respond to the same type of ideas and who react to the same mental impulse, simultaneously with himself. Uniting himself to them he discovers himself to be en rapport with them.

Ở đây chúng ta có một định luật chi phối một hoạt động chủ quan và một định luật khác chi phối biểu hiện khách quan. Chúng ta hãy diễn đạt những định luật này theo cách đơn giản nhất có thể. Khi [6] mỗi thành viên của nhóm có thể hoạt động trong tâm thức-trí tuệ của mình, không bị cản trở bởi bộ não hoặc bản chất cảm xúc, y sẽ khám phá ra tính phổ quát của nguyên khí trí tuệ vốn là biểu hiện ngoại môn đầu tiên của tâm thức linh hồn. Sau đó, y sẽ bước vào thế giới của các ý tưởng, trở nên nhận thức về chúng thông qua tấm thu nhận nhạy cảm của tâm trí. Sau đó, y tìm cách tìm những người đáp ứng với cùng loại ý tưởng và phản ứng với cùng một xung lực trí tuệ, đồng thời với chính y. Liên kết bản thân với họ, y khám phá ra mình có mối quan hệ với họ.

The understanding of the first law produces results in the mind or mental body. The understanding of the second law produces results in a lesser receiving station, the brain. This is possible through the strengthening of a man’s own mental reaction by the mental reaction of others, similarly receptive. It will be found therefore that this process of communication, governed by these two laws, has always been in operation among the adepts, the initiates and the senior disciples who are in physical plane bodies. Now the operation of this process is to be extended and steadily developed by the emerging group of mystics and world servers who constitute, in embryo, the world Saviour.

Việc thấu hiểu định luật thứ nhất tạo ra các kết quả trong tâm trí hoặc thể trí. Việc thấu hiểu định luật thứ hai tạo ra các kết quả trong một trạm thu nhận thấp hơn, bộ não. Điều này khả thi thông qua việc tăng cường phản ứng trí tuệ của chính con người bằng phản ứng trí tuệ của những người khác, có khả năng tiếp nhận tương tự. Do đó, người ta sẽ thấy rằng quá trình giao tiếp này, được chi phối bởi hai định luật này, đã luôn hoạt động giữa các chân sư, các điểm đạo đồ và các đệ tử cao cấp đang ở trong thể xác trên cõi trần. Giờ đây, hoạt động của quá trình này sẽ được mở rộng và phát triển đều đặn bởi nhóm các nhà thần bí và những người phụng sự thế gian đang nổi lên, những người cấu thành, trong phôi thai, Đấng Cứu Thế của thế gian.

Only those who know something of the meaning of concentration and meditation and who can hold the mind steady in the light will be able to understand the first law and comprehend that interplay of thought-directed energies which finds one terminal of expression in the mind of some inspired Thinker, and the other terminal in the mind of the attentive world server who seeks to tune in on those mind processes which hold the clue to ultimate world salvation. The thought-directing energy has for its source a Thinker Who can enter into the divine Mind, owing to His having transcended human limitation; the thought-directed receiver [7] is the man, in exoteric expression, who has aligned his brain, his mind, and his soul.

Chỉ những người biết đôi chút về ý nghĩa của sự tập trung và tham thiền và những người có thể giữ tâm trí ổn định trong ánh sáng mới có thể hiểu được định luật thứ nhất và lĩnh hội sự tác động qua lại của các năng lượng được định hướng bởi tư tưởng vốn tìm thấy một đầu cực biểu hiện trong tâm trí của một Tư Tưởng Gia được truyền cảm hứng nào đó, và đầu cực kia trong tâm trí của người phụng sự thế gian chăm chú, người tìm cách bắt nhịp với các quá trình tâm trí nắm giữ manh mối cho sự cứu rỗi thế giới tối hậu. Năng lượng định hướng tư tưởng có nguồn gốc từ một Tư Tưởng Gia, Người có thể đi vào Trí thiêng liêng, nhờ việc Ngài đã siêu việt hóa giới hạn con người; người thu nhận được định hướng bởi tư tưởng [7] là con người, trong biểu hiện ngoại môn, người đã chỉnh hợp bộ não, tâm trí và linh hồn của mình.

It is a fact that omnipresence, which is a law in nature and based on the fact that the etheric bodies of all forms constitute the world etheric body, makes omniscience possible. The etheric body of the planetary Logos is swept into activity by His directed will; energy is the result of His thoughtform playing in and through His energy body. This thoughtform embodies and expresses His world Purpose. All the subhuman forms of life and the human forms up to the stage of advanced man are governed by divine thought through the medium of their energy bodies which are an integral part of the whole. They react, however, unconsciously and unintelligently. Advanced humanity, the mystics and the knowers, are becoming increasingly aware of the mind which directs the evolutionary process. When this awareness is cultivated and the individual mind is brought consciously into contact with the mind of God as it expresses itself through the illumined mind of the Hierarchy of adepts, we shall have the steady growth of omniscience. This is the whole story of telepathic interplay in the true sense; it portrays the growth of that oligarchy of elect souls who will eventually rule the world, who will be chosen so to rule, and who will be recognised by the mass as eligible for that high office through the co-ordination that they have established between:

Sự thật là tính hiện diện khắp nơi, vốn là một định luật trong tự nhiên và dựa trên thực tế là thể dĩ thái của mọi hình tướng cấu thành nên thể dĩ thái thế giới, làm cho tính toàn tri trở nên khả thi. Thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế được cuốn vào hoạt động bởi ý chí được định hướng của Ngài; năng lượng là kết quả của hình tư tưởng của Ngài đang hoạt động trong và thông qua thể năng lượng của Ngài. Hình tư tưởng này hiện thân và biểu hiện Mục đích thế giới của Ngài. Tất cả các hình tướng dưới nhân loại của sự sống và các hình tướng con người cho đến giai đoạn con người tiến hóa đều được chi phối bởi tư tưởng thiêng liêng thông qua môi trường của các thể năng lượng của chúng vốn là một phần không thể thiếu của tổng thể. Tuy nhiên, chúng phản ứng một cách vô thức và không thông minh. Nhân loại tiến hóa, các nhà thần bí và các thức giả, đang ngày càng nhận thức được tâm trí chỉ đạo quá trình tiến hóa. Khi sự nhận thức này được trau dồi và tâm trí cá nhân được đưa vào tiếp xúc một cách có ý thức với trí của Thượng đế khi nó biểu hiện qua tâm trí được soi sáng của Thánh đoàn các chân sư, chúng ta sẽ có sự tăng trưởng đều đặn của tính toàn tri. Đây là toàn bộ câu chuyện về sự tác động qua lại bằng viễn cảm theo đúng nghĩa; nó mô tả sự phát triển của chế độ thiểu số của những linh hồn tinh hoa, những người cuối cùng sẽ cai trị thế giới, những người sẽ được chọn để cai trị như vậy, và những người sẽ được quần chúng công nhận là đủ tư cách cho chức vụ cao cả đó thông qua sự phối hợp mà họ đã thiết lập giữa:

1. The universal mind.

1. Vũ trụ trí.

2. Their individual mind illumined by the soul consciousness.

2. Tâm trí cá nhân của họ được soi sáng bởi tâm thức linh hồn.

3. The brain, reacting to the individual mind, and

3. Bộ não, phản ứng với tâm trí cá nhân, và

4. The group of those whose minds and brains are similarly tuned and telepathically related.

4. Nhóm những người có tâm trí và bộ não được điều chỉnh tương tự và có quan hệ viễn cảm.

[8]

[8]

In connection with disciples and aspirants to discipleship, it is presumed that their minds are somewhat attuned to the soul; that they are also so aligned that the soul, mind and brain are coordinated and are beginning to function as a unit. This is the individual responsibility. Now comes the task of learning to be responsive to the group and to find and contact those minds which are energised by similar thought currents. This has to be cultivated. How, my brother, shall this be done? Let us consider the various types of telepathic work.

Liên quan đến các đệ tử và những người chí nguyện trở thành đệ tử, người ta cho rằng tâm trí của họ có phần hòa hợp với linh hồn; rằng họ cũng được chỉnh hợp sao cho linh hồn, tâm trí và bộ não được phối hợp và bắt đầu hoạt động như một đơn vị. Đây là trách nhiệm cá nhân. Bây giờ đến nhiệm vụ học cách đáp ứng với nhóm và tìm kiếm cũng như tiếp xúc với những tâm trí được tiếp năng lượng bởi các dòng tư tưởng tương tự. Điều này phải được trau dồi. Người huynh đệ của tôi, điều này sẽ được thực hiện như thế nào? Chúng ta hãy xem xét các loại công việc viễn cảm khác nhau.

The undeveloped human being and the unthinking, non-mental man or woman can be and often are telepathic, but the centre through which they work is the solar plexus. The line of communication is, therefore, from solar plexus to solar plexus. This is therefore instinctual telepathy and concerns feeling in every case. It involves, invariably, radiations from the solar plexus, which in the case of the animal world serves usually as the instinctual brain. This type of telepathic communication is definitely a characteristic of the animal body of man, and one of the best illustrations of this telepathic rapport is that existing between a mother and her child. It is this type of telepathy which is predominantly present in the average spiritualistic seance. There the medium, quite unconsciously, sets up a telepathic rapport with the people in the circle. Their feelings, worries, sorrows, and desires become apparent and form part of the reading, so called. Both the sitters and the medium are functioning through the same centre. With this class of medium, and in this type of seance, the highly intelligent and mentally polarised man or woman will learn nothing, and will probably receive no messages, unless faked. Hence, therefore, when it comes to scientific investigation by trained minds, physical phenomena has predominated and not the more subtle forms of psychism. Where [9] the more subtle forms of super- or extra-sensory perception have been involved, the subjects have been either adolescent or in their early twenties and have been primarily and rightly focussed in the emotional-feeling body. This is true even when they are highly intellectual.

Con người chưa phát triển và người nam hay nữ không suy nghĩ, phi trí tuệ có thể và thường có khả năng viễn cảm, nhưng trung tâm mà qua đó họ làm việc là tùng thái dương. Do đó, đường dây giao tiếp là từ tùng thái dương đến tùng thái dương. Vì vậy đây là viễn cảm bản năng và liên quan đến cảm giác trong mọi trường hợp. Nó liên quan, luôn luôn là như vậy, đến các bức xạ từ tùng thái dương, mà trong trường hợp của thế giới động vật thường đóng vai trò là bộ não bản năng. Loại giao tiếp viễn cảm này chắc chắn là một đặc điểm của thể động vật của con người, và một trong những minh họa tốt nhất về mối quan hệ viễn cảm này là mối quan hệ tồn tại giữa người mẹ và đứa con của bà. Chính loại viễn cảm này hiện diện chủ yếu trong buổi gọi hồn thông linh trung bình. Ở đó, đồng tử, hoàn toàn vô thức, thiết lập một mối quan hệ viễn cảm với những người trong vòng tròn. Cảm xúc, lo lắng, nỗi buồn và ham muốn của họ trở nên rõ ràng và tạo thành một phần của cái gọi là bài đọc. Cả người ngồi và đồng tử đều đang hoạt động qua cùng một trung tâm. Với tầng lớp đồng tử này, và trong loại buổi gọi hồn này, người nam hay nữ có trí thông minh cao và phân cực trí tuệ sẽ không học được gì, và có lẽ sẽ không nhận được thông điệp nào, trừ khi là giả mạo. Do đó, khi nói đến cuộc điều tra khoa học bởi những bộ óc được huấn luyện, các hiện tượng vật lý đã chiếm ưu thế chứ không phải các dạng thông linh tinh tế hơn. Nơi [9] các dạng tri giác siêu cảm hoặc ngoại cảm tinh tế hơn có liên quan, các chủ thể thường ở tuổi vị thành niên hoặc đầu những năm hai mươi và chủ yếu và tập trung đúng đắn vào thể cảm xúc-cảm giác. Điều này đúng ngay cả khi họ có trí thức cao.

This form of telepathic communication is therefore of two kinds, with the solar plexus always involved:

Do đó, hình thức giao tiếp viễn cảm này có hai loại, với tùng thái dương luôn luôn liên quan:

a. It will be from solar plexus to solar plexus between two people who are ordinary, emotional, governed by desire, and primarily centred in the astral and animal bodies.

a. Nó sẽ là từ tùng thái dương đến tùng thái dương giữa hai người bình thường, đầy cảm xúc, bị chi phối bởi dục vọng, và chủ yếu tập trung vào thể cảm dục và thể động vật.

b. It will be between such a “solar plexus” person, if I may so call him, and a higher type whose solar plexus centre is functioning actively but whose throat centre is also alive. This type of person registers in two places—provided that the thought sensed and sent out by the solar plexus person has in it something of mental substance or energy. Pure feeling and entirely emotional emanations between people necessitate only solar plexus contact.

b. Nó sẽ là giữa một người “tùng thái dương” như vậy, nếu tôi có thể gọi y như thế, và một loại người cao hơn có trung tâm tùng thái dương hoạt động tích cực nhưng trung tâm cổ họng cũng sống động. Loại người này ghi nhận ở hai nơi—miễn là tư tưởng được cảm nhận và gửi đi bởi người tùng thái dương có trong đó một chút chất liệu hoặc năng lượng trí tuệ. Cảm giác thuần túy và những phát xạ hoàn toàn cảm xúc giữa mọi người chỉ đòi hỏi sự tiếp xúc tùng thái dương.

Later, when group work in telepathy is undertaken, the centres of transmission wherein high and consecrated feeling, devotion, aspiration and love are concerned and where the groups work with pure love, communication will be from heart to heart, and from a group heart to another group heart. The phrase “heart to heart talk,” so often used, is usually a misnomer at this time, but will some day be true. At present it is usually a solar plexus conversation!

Sau này, khi công việc nhóm trong viễn cảm được thực hiện, các trung tâm truyền phát nơi cảm giác cao thượng và thánh thiện, lòng sùng tín, khát vọng và tình thương có liên quan và nơi các nhóm làm việc với tình thương thuần khiết, sự giao tiếp sẽ là từ trái tim đến trái tim, và từ trái tim nhóm này đến trái tim nhóm khác. Cụm từ “nói chuyện từ trái tim đến trái tim,” thường được sử dụng, thường là một cái tên sai vào thời điểm này, nhưng một ngày nào đó sẽ đúng. Hiện tại, nó thường là một cuộc trò chuyện tùng thái dương!

The second form of telepathic work is that of mind to mind, and it is with this form of communication that the highest investigation is at this time concerned. Only mental types are involved, and the more that emotion and feeling [10] and strong desire can be eliminated, the more accurate will be the work accomplished. The strong desire to achieve success in telepathic work, and the fear of failure, are the surest ways to offset fruitful effort. In all such work as this, an attitude of non-attachment and a spirit of ‘don’t care’ are of real assistance. Experimenters along this line need to give more time and thought to the recognition of types of force. They need to realise that emotion, and desire for anything, on the part of the receiving agent create streams of emanating energy which rebuff or repulse that which seeks to make contact, such as the directed thought of someone seeking rapport. When these streams are adequately strong, they act like a boomerang and return to the emanating centre, being attracted back there by the power of the vibration which sent them forth. In this thought lies hid the cause of:

Hình thức thứ hai của công việc viễn cảm là từ tâm trí đến tâm trí, và chính với hình thức giao tiếp này mà cuộc điều tra cao nhất vào thời điểm này có liên quan. Chỉ các loại người trí tuệ mới tham gia, và càng loại bỏ được nhiều cảm xúc và cảm giác [10] cũng như dục vọng mạnh mẽ, thì công việc hoàn thành sẽ càng chính xác. Dục vọng mạnh mẽ đạt được thành công trong công việc viễn cảm, và nỗi sợ thất bại, là những cách chắc chắn nhất để làm hỏng nỗ lực hiệu quả. Trong tất cả các công việc như thế này, thái độ không dính mắc và tinh thần ‘không màng đến’ là sự trợ giúp thực sự. Những người thử nghiệm theo hướng này cần dành nhiều thời gian và suy nghĩ hơn để nhận biết các loại mãnh lực. Họ cần nhận ra rằng cảm xúc, và dục vọng đối với bất cứ điều gì, về phía tác nhân nhận tin tạo ra các dòng năng lượng phát xuất đẩy lùi hoặc cự tuyệt cái đang tìm cách tiếp xúc, chẳng hạn như tư tưởng được định hướng của ai đó đang tìm kiếm mối quan hệ. Khi các dòng này đủ mạnh, chúng hoạt động giống như một chiếc boomerang và quay trở lại trung tâm phát ra, bị thu hút trở lại đó bởi sức mạnh của rung động đã gửi chúng đi. Trong tư tưởng này ẩn chứa nguyên nhân của:

a. The failure on the part of the broadcasting or transmitting agent. Intense desire to make a satisfactory impression will attract the outgoing thought back again to the transmitter.

a. Sự thất bại về phía tác nhân phát tin hoặc truyền tin. Dục vọng mãnh liệt muốn tạo ấn tượng thỏa đáng sẽ thu hút tư tưởng đi ra quay trở lại với người truyền tin.

b. The failure on the part of the receiving agent whose own intense desire to be successful sends out such a stream of outgoing energy that the stream of incoming energy is met, blocked and driven back whence it came; or, if the receiver is aware of this and seeks to stem the tide of his desire, he frequently succeeds in surrounding himself with a wall of inhibited desire through which naught can penetrate.

b. Sự thất bại về phía tác nhân nhận tin mà dục vọng mãnh liệt muốn thành công của chính y gửi ra một dòng năng lượng đi ra đến nỗi dòng năng lượng đi vào bị gặp, chặn lại và bị đẩy trở lại nơi nó đến; hoặc, nếu người nhận ý thức được điều này và tìm cách ngăn chặn làn sóng dục vọng của mình, y thường thành công trong việc bao quanh mình bằng một bức tường dục vọng bị ức chế mà qua đó không gì có thể thâm nhập.

II. TELEPATHIC WORK—II. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM

[11]

[11]

Telepathy and the allied powers will only be understood when the nature of force, of emanations and radiations, and of energy currents, is better grasped. This is rapidly coming about as science penetrates more deeply into the arcana of energies and begins to work—as does the occultist—in the world of forces.

Viễn cảm và các quyền năng liên quan sẽ chỉ được thấu hiểu khi bản chất của mãnh lực, của sự xuất lộ và bức xạ, và của các dòng năng lượng, được nắm bắt tốt hơn. Điều này đang nhanh chóng diễn ra khi khoa học thâm nhập sâu hơn vào bí mật của các năng lượng và bắt đầu làm việc—như nhà huyền bí học làm—trong thế giới của các mãnh lực.

It should also be borne in mind that it is only as the centres employed are consciously used that we have that carefully directed work which will be fruitful of results. For instance, an emotional person, using primarily the solar plexus centre, will be endeavouring to enter into rapport with a mental type. From this will result only confusion. The two parties concerned are using different centres and are sensitive to certain types of force and closed to others. Again, some people, even if mentally polarised and therefore sensitive to similar vibrations attempt to make a telepathic contact when one party is under emotional strain and therefore not responsive, or one party is intensively occupied with some mental problem and is encased in a wall of thoughtforms and therefore impervious to impressions. You can see, therefore, how a cultivation of detachment is a necessary qualification for success in telepathic work.

Cũng cần ghi nhớ rằng chỉ khi các trung tâm được sử dụng một cách có ý thức thì chúng ta mới có công việc được định hướng cẩn thận mang lại kết quả. Ví dụ, một người đầy cảm xúc, sử dụng chủ yếu trung tâm tùng thái dương, sẽ nỗ lực để đi vào mối quan hệ với một người thuộc loại trí tuệ. Từ điều này sẽ chỉ dẫn đến sự nhầm lẫn. Hai bên liên quan đang sử dụng các trung tâm khác nhau và nhạy cảm với một số loại mãnh lực và đóng lại với những loại khác. Một lần nữa, một số người, ngay cả khi phân cực trí tuệ và do đó nhạy cảm với các rung động tương tự, cố gắng thực hiện tiếp xúc viễn cảm khi một bên đang chịu căng thẳng cảm xúc và do đó không đáp ứng, hoặc một bên đang bận rộn sâu sắc với một vấn đề trí tuệ nào đó và bị bao bọc trong một bức tường hình tư tưởng và do đó không thấm nhận các ấn tượng. Do đó, các bạn có thể thấy việc trau dồi sự tách rời là một phẩm chất cần thiết để thành công trong công việc viễn cảm như thế nào.

All who seek to tread the Path of Discipleship are endeavouring to live in the head centre, and—through meditation—to bring in the power of the soul. The problem which you face, as disciples learning telepathic sensitivity, is founded on two things:

Tất cả những ai tìm cách bước đi trên Con Đường Đệ Tử đều đang nỗ lực để sống trong trung tâm đầu, và—thông qua tham thiền—để mang vào quyền năng của linh hồn. Vấn đề mà các bạn đối mặt, với tư cách là các đệ tử đang học về sự nhạy cảm viễn cảm, được dựa trên hai điều:

a. Upon which of your three bodies is the most active; thereby is indicated where you live subjectively most of the time. [12]

a. Thể nào trong ba thể của các bạn hoạt động tích cực nhất; qua đó chỉ ra nơi các bạn sống một cách chủ quan phần lớn thời gian. [12]

b. Upon which centre is the most expressive in your equipment, and through which you contact most easily modern living conditions. I mean by these words: where, literally speaking, your life energy is predominantly focussed and your sentient energy expresses itself the most.

b. Trung tâm nào biểu hiện rõ nhất trong trang bị của các bạn, và qua đó các bạn tiếp xúc dễ dàng nhất với các điều kiện sống hiện đại. Tôi muốn nói qua những từ này: nơi nào, nói theo nghĩa đen, năng lượng sự sống của các bạn tập trung chủ yếu và năng lượng cảm giác của các bạn biểu hiện nhiều nhất.

An understanding of this will make you better able to work and to make intelligent experiment. Therefore, watch yourselves with care yet impersonally, and work out the why and the wherefore of the effects produced, for by this means you will learn.

Sự thấu hiểu điều này sẽ làm cho các bạn có khả năng làm việc tốt hơn và thực hiện thử nghiệm thông minh. Do đó, hãy quan sát bản thân một cách cẩn thận nhưng không mang tính cá nhân, và tìm ra lý do tại sao và do đâu của các hiệu quả được tạo ra, vì bằng phương tiện này các bạn sẽ học hỏi.

The third type of telepathic work is that from soul to soul. This is the highest type of telepathic work possible to humanity and is that form of communication which has been responsible for all the inspirational writings of real power, the world Scriptures, the illumined utterances, the inspired speakers, and the language of symbolism. It only becomes possible where there is an integrated personality, and, at the same time, the power to focus oneself in the soul consciousness. The mind and the brain have, at the same time, to be brought into perfect rapport and alignment.

Loại công việc viễn cảm thứ ba là từ linh hồn đến linh hồn. Đây là loại công việc viễn cảm cao nhất có thể đối với nhân loại và là hình thức giao tiếp chịu trách nhiệm cho tất cả các bài viết truyền cảm hứng có sức mạnh thực sự, các Kinh điển thế giới, những lời phát biểu được soi sáng, các diễn giả được truyền cảm hứng, và ngôn ngữ của biểu tượng. Nó chỉ trở nên khả thi khi có một phàm ngã tích hợp, và đồng thời, quyền năng tập trung bản thân trong tâm thức linh hồn. Tâm trí và bộ não, đồng thời, phải được đưa vào mối quan hệ và sự chỉnh hợp hoàn hảo.

It is my intention to elucidate further this science of communication, which started through the sense of touch and developed through sound, symbols, words and sentences, languages, writing, art, and on again to the stage of higher symbols, vibratory contact, telepathy, inspiration and illumination. I have, however, in the above, dealt with the general outline and we will take the specific details later.

Ý định của tôi là làm sáng tỏ thêm khoa học giao tiếp này, vốn bắt đầu thông qua xúc giác và phát triển qua âm thanh, biểu tượng, từ ngữ và câu cú, ngôn ngữ, chữ viết, nghệ thuật, và tiếp tục đến giai đoạn của các biểu tượng cao hơn, tiếp xúc rung động, viễn cảm, cảm hứng và sự soi sáng. Tuy nhiên, ở trên, tôi đã đề cập đến phác thảo chung và chúng ta sẽ đi vào các chi tiết cụ thể sau.

The work of the telepathic communicators is one of the most important in the coming new age, and it will be of value to gain some idea of its significance and techniques. I [13] would, in summarising the above instruction, state that in connection with individuals:

Công việc của các nhà giao tiếp viễn cảm là một trong những công việc quan trọng nhất trong kỷ nguyên mới sắp tới, và sẽ có giá trị khi có được một số ý tưởng về ý nghĩa và kỹ thuật của nó. Tôi [13] muốn, khi tóm tắt hướng dẫn trên, tuyên bố rằng liên quan đến các cá nhân:

1. Telepathic communication is

1. Giao tiếp viễn cảm là

a. Between soul and mind.

a. Giữa linh hồn và tâm trí.

b. Between soul, mind and brain.

b. Giữa linh hồn, tâm trí và bộ não.

This is as far as interior individual development is concerned.

Điều này là xét về phương diện phát triển nội tâm cá nhân.

2. When it is found between individuals, telepathic communication is

2. Khi được tìm thấy giữa các cá nhân, giao tiếp viễn cảm là

a. Between soul and soul.

a. Giữa linh hồn và linh hồn.

b. Between mind and mind.

b. Giữa tâm trí và tâm trí.

c. Between solar plexus and solar plexus, and therefore purely emotional.

c. Giữa tùng thái dương và tùng thái dương, và do đó hoàn toàn thuộc về cảm xúc.

d. Between all these three aspects of energy simultaneously, in the case of very advanced people.

d. Giữa tất cả ba phương diện năng lượng này đồng thời, trong trường hợp của những người rất tiến hóa.

3. Telepathic communication is also:

3. Giao tiếp viễn cảm cũng là:

a. Between a Master and His disciples or disciple.

a. Giữa một Chân sư và các đệ tử hoặc đệ tử của Ngài.

b. Between a Master and His group and a group or groups of sensitives and aspirants on the physical plane.

b. Giữa một Chân sư và nhóm của Ngài và một nhóm hoặc các nhóm những người nhạy cảm và người chí nguyện trên cõi trần.

c. Between subjective and objective groups.

c. Giữa các nhóm chủ quan và khách quan.

d. Between the occult Hierarchy and groups of disciples on the physical plane.

d. Giữa Thánh đoàn huyền môn và các nhóm đệ tử trên cõi trần.

e. Between the Hierarchy and the New Group of World Servers in order to reach humanity and lift it nearer the goal.

e. Giữa Thánh đoàn và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian để tiếp cận nhân loại và nâng nó lên gần hơn với mục tiêu.

This concerns the new science of group telepathic communication, of which herd or mass telepathy (so well known) is the lowest known expression. This instinctual telepathy which is shown by a flight of birds, acting as a unit, or that animal telepathy which serves to govern so mysteriously the movements of herds of animals, and the rapid transmission [14] of information among the savage races and non-intelligent peoples—these are all instances of that lower externalisation of an inner spiritual reality. An intermediate stage of this instinctual activity, based largely on solar plexus reactions, can be seen in modern mass psychology and public opinion. It is, as you know, predominantly emotional, unintelligent, astral and fluidic in its expression. This is changing rapidly and shifting into the realm of what is called “intelligent public opinion,” but this is, as yet, slow. It involves the activity of the throat and ajna centres. We have, therefore:

Điều này liên quan đến khoa học mới về giao tiếp viễn cảm nhóm, mà viễn cảm bầy đàn hay viễn cảm đại chúng (rất phổ biến) là biểu hiện thấp nhất được biết đến. Viễn cảm bản năng này được thể hiện bởi một đàn chim đang bay, hành động như một đơn vị, hoặc viễn cảm động vật dùng để chi phối một cách bí ẩn các chuyển động của các đàn thú, và sự truyền tải nhanh chóng [14] thông tin giữa các chủng tộc man dã và những người thiếu thông minh—tất cả những điều này đều là các ví dụ về sự ngoại hiện thấp hơn đó của một thực tại tinh thần bên trong. Một giai đoạn trung gian của hoạt động bản năng này, dựa phần lớn vào các phản ứng tùng thái dương, có thể thấy trong tâm lý học đám đông hiện đại và dư luận công chúng. Như các bạn biết, nó chủ yếu là cảm xúc, thiếu thông minh, thuộc về cảm dục và linh động trong biểu hiện của nó. Điều này đang thay đổi nhanh chóng và chuyển sang lĩnh vực của cái được gọi là “dư luận công chúng thông minh,” nhưng điều này, cho đến nay, vẫn còn chậm. Nó liên quan đến hoạt động của các trung tâm cổ họng và ajna. Do đó, chúng ta có:

1. Instinctual telepathy.

1. Viễn cảm bản năng.

2. Mental telepathy.

2. Viễn cảm trí tuệ.

3. Intuitional telepathy.

3. Viễn cảm trực giác.

I would remind you right at the outset that sensitivity to the thoughts of one’s Master, sensitivity to the world of ideas, and sensitivity to intuitional impressions are all forms of telepathic sensitivity.

Tôi muốn nhắc nhở các bạn ngay từ đầu rằng sự nhạy cảm với các tư tưởng của Chân sư mình, sự nhạy cảm với thế giới của các ý tưởng, và sự nhạy cảm với các ấn tượng trực giác đều là các hình thức của sự nhạy cảm viễn cảm.

In any consideration of this theme, it is obvious that there are three major factors which must be considered:

Trong bất kỳ sự xem xét nào về chủ đề này, rõ ràng là có ba yếu tố chính phải được xem xét:

1. The initiating agent. I use this word with deliberate intent, as the power to work telepathically, both as initiating agent and as recipient, is closely connected with initiation, and is one of the indications that a man is ready for that process.

1. Tác nhân khởi xướng. Tôi sử dụng từ này với ý định có chủ đích, vì quyền năng làm việc bằng viễn cảm, cả với tư cách là tác nhân khởi xướng và người nhận, có liên quan mật thiết với điểm đạo, và là một trong những dấu hiệu cho thấy một người đã sẵn sàng cho quá trình đó.

2. The recipient of that which is conveyed to him on the “wings of thought.”

2. Người nhận cái được chuyển đến y trên “đôi cánh của tư tưởng.”

3. The medium through which it is intended to convey the transfer of thought, of idea, of wish, of imprint, and therefore of some form of knowledge.

3. Môi trường qua đó dự định chuyển tải sự chuyển dịch của tư tưởng, của ý tưởng, của mong muốn, của dấu ấn, và do đó của một hình thức tri thức nào đó.

[15]

[15]

This is the simplest statement of the elementary mechanics of the process. This indicates, likewise, the most elementary comprehension of the thought covered so frequently by the Bhagavad Gita in the words which we have translated in the West by the terms: the Knower, the Field of Knowledge, and the Known. You have oft been told that every sacred book, such as the Bhagavad Gita, for instance, has various interpretations, dependent upon the point in evolution of the reader, or seeker after truth. This interpretation of the Bhagavad Gita in terms of Communicator, Communication and Communicant still demands elucidation, and in the idea which I have above conveyed to you, I have given you a hint.

Đây là tuyên bố đơn giản nhất về cơ chế sơ đẳng của quá trình. Tương tự như vậy, điều này chỉ ra sự hiểu biết sơ đẳng nhất về tư tưởng thường được đề cập bởi Chí Tôn Ca trong những từ ngữ mà chúng ta đã dịch ở phương Tây bằng các thuật ngữ: Thức Giả, Trường Tri Thức, và Cái Được Biết. Các bạn thường được bảo rằng mọi cuốn sách thiêng liêng, chẳng hạn như Chí Tôn Ca, đều có nhiều cách giải thích khác nhau, phụ thuộc vào điểm tiến hóa của người đọc, hay người tìm kiếm chân lý. Sự giải thích này về Chí Tôn Ca theo các thuật ngữ Người Truyền Tin, Sự Truyền Tin và Người Nhận Tin vẫn đòi hỏi sự làm sáng tỏ, và trong ý tưởng mà tôi đã truyền đạt cho các bạn ở trên, tôi đã đưa ra cho các bạn một gợi ý.

III. THREE TYPES OF TELEPATHY—III. BA LOẠI VIỄN CẢM

[16]

[16]

Let us now discuss in some detail the three types of telepathy enumerated above: instinctual telepathy, mental telepathy, and intuitional telepathy. These three produce differing modes of activity and tap (to use a familiar word) differing areas of communication.

Bây giờ chúng ta hãy thảo luận chi tiết hơn về ba loại viễn cảm được liệt kê ở trên: viễn cảm bản năng, viễn cảm trí tuệ, và viễn cảm trực giác. Ba loại này tạo ra các phương thức hoạt động khác nhau và khai thác (sử dụng một từ quen thuộc) các khu vực giao tiếp khác nhau.

1. Instinctual telepathy is based upon those impacts of energy which come from one etheric body and make an impression upon another. The medium of communication employed is, as we have seen, the etheric substance of all bodies, which is necessarily one with the etheric substance of the planet. The area around the solar plexus (though not in direct relation to that centre as it exists as an instrument differentiated from all other instruments or centres) is sensitive to the impact of etheric energy, for this area in the etheric body is in direct “touch” with the astral body, the feeling body. Also, close to the solar plexus is found that centre near the spleen which is the direct instrument for the entrance of prana into the human mechanism. This instinctual response to etheric contact was the mode of communication in Lemurian times, and largely took the place of thought and of speech. It concerned itself primarily with two types of impression: that which had to do with the instinct of self-preservation, and that which had to do with self-reproduction. A higher form of this instinctual telepathy has been preserved for us in the expression we so frequently use, “I have a feeling that...,” and allied phrases. These are more definitely astral in their implications and work through the astral substance, using the solar plexus area as a sensitive plate for impact and impression.

1. Viễn cảm bản năng dựa trên những tác động năng lượng đến từ một thể dĩ thái này và tạo ấn tượng lên thể dĩ thái khác. Môi trường giao tiếp được sử dụng, như chúng ta đã thấy, là chất liệu dĩ thái của tất cả các thể, vốn nhất thiết phải đồng nhất với chất liệu dĩ thái của hành tinh. Khu vực xung quanh tùng thái dương (mặc dù không liên quan trực tiếp đến trung tâm đó như nó tồn tại với tư cách một công cụ khác biệt với tất cả các công cụ hay trung tâm khác) nhạy cảm với tác động của năng lượng dĩ thái, vì khu vực này trong thể dĩ thái có sự “tiếp xúc” trực tiếp với thể cảm dục, thể cảm giác. Ngoài ra, gần tùng thái dương còn tìm thấy trung tâm gần lá lách vốn là công cụ trực tiếp cho sự xâm nhập của prana vào cơ chế con người. Sự đáp ứng bản năng này đối với tiếp xúc dĩ thái là phương thức giao tiếp trong thời Lemuria, và phần lớn thay thế cho tư tưởng và lời nói. Nó liên quan chủ yếu đến hai loại ấn tượng: loại liên quan đến bản năng tự bảo tồn, và loại liên quan đến sự tự sinh sản. Một hình thức cao hơn của viễn cảm bản năng này đã được bảo tồn cho chúng ta trong cách diễn đạt mà chúng ta thường xuyên sử dụng, “Tôi có cảm giác rằng...,” và các cụm từ liên quan. Những điều này mang ý nghĩa cảm dục rõ ràng hơn và hoạt động qua chất liệu cảm dục, sử dụng khu vực tùng thái dương như một tấm thu nhận nhạy cảm cho tác động và ấn tượng.

[17]

[17]

One point should here be made clear, and upon it you should ponder. This astral (not etheric) sensitivity, or “feeling telepathy” is basically the Atlantean mode of communication, and involved finally the use of the solar plexus centre itself as the receiving agent; the emitting agent (if I may use such a phrase) worked, however, through the entire area of the diaphragm. It was as though there appeared, through emergence, a gathering of forces or outgoing waves of energy in that part of the human vehicle. The relatively wide area from which the information was sent out acted as a large general distributor; the area which received the impression, however, was more localised, involving only the solar plexus. The reason for this can be found in the fact that in Atlantean days the human being was still unable to think, as we understand thinking. The whole lower part of the body, in a sense difficult for us to grasp, was given up to feeling; the communicator’s one thought-contribution was the name of the recipient, plus the name or noun form of that which was the idea to be conveyed. This embryo thought winged its way to its goal, and the powerful “feeling” apparatus of the solar plexus received it (acting like a magnet) and drew the “feeling impression” powerfully there, drawing thus upon the communicator. It is this process which is pursued when, for instance, some mother “feels” that some danger threatens her child, or that some happening is taking place in connection with her child. She is thus sometimes enabled to send, by the medium of instinctual love, a most definite warning. The solar plexus is involved where the recipient is concerned; the area around the diaphragm is involved where the communicator is concerned.

Một điểm cần được làm rõ ở đây, và các bạn nên suy ngẫm về nó. Sự nhạy cảm cảm dục (không phải dĩ thái) này, hay “viễn cảm cảm giác” về cơ bản là phương thức giao tiếp Atlantis, và cuối cùng liên quan đến việc sử dụng chính trung tâm tùng thái dương làm tác nhân nhận tin; tuy nhiên, tác nhân phát tin (nếu tôi có thể sử dụng cụm từ như vậy) đã làm việc qua toàn bộ khu vực cơ hoành. Dường như, thông qua sự xuất lộ, xuất hiện một sự tập hợp các mãnh lực hoặc các sóng năng lượng đi ra trong phần đó của hiện thể con người. Khu vực tương đối rộng từ đó thông tin được gửi đi hoạt động như một bộ phân phối chung lớn; tuy nhiên, khu vực nhận ấn tượng lại cục bộ hơn, chỉ liên quan đến tùng thái dương. Lý do cho điều này có thể tìm thấy trong thực tế là vào thời Atlantis, con người vẫn chưa thể suy nghĩ, như chúng ta hiểu về suy nghĩ. Toàn bộ phần dưới của cơ thể, theo một nghĩa khó nắm bắt đối với chúng ta, đã được dành cho cảm giác; đóng góp tư tưởng duy nhất của người truyền tin là tên của người nhận, cộng với tên hoặc dạng danh từ của cái là ý tưởng cần được truyền đạt. Tư tưởng phôi thai này đã bay đến mục tiêu của nó, và bộ máy “cảm giác” mạnh mẽ của tùng thái dương đã nhận nó (hoạt động giống như một nam châm) và lôi kéo “ấn tượng cảm giác” một cách mạnh mẽ vào đó, do đó thu hút người truyền tin. Chính quá trình này được theo đuổi khi, ví dụ, một người mẹ nào đó “cảm thấy” rằng mối nguy hiểm nào đó đang đe dọa con mình, hoặc điều gì đó đang diễn ra liên quan đến con mình. Do đó, đôi khi bà có thể gửi đi, bằng phương tiện của tình thương bản năng, một cảnh báo dứt khoát nhất. Tùng thái dương có liên quan nơi người nhận được quan tâm; khu vực xung quanh cơ hoành có liên quan nơi người truyền tin được quan tâm.

2. In our race, the Aryan, instinctual telepathic work is still the major expression of this spiritual possibility, but at the same time mental telepathy is becoming increasingly [18] prevalent. This will be more and more so, as time goes on. It is most difficult in this transition period to define, or differentiate, the peculiar areas involved, because the solar plexus is still exceedingly active. What we have today is a mixture of instinctual telepathy and the beginning of mental telepathy. This manifests, however, very seldom, and then only in the educated classes. With the masses, instinctual telepathy is still the mode of contact. The throat centre is primarily involved where mental telepathy is concerned; there is also sometimes a little heart activity and always a measure of solar plexus reaction. Hence our problem. Frequently the communicator will send a message via the throat centre, and the recipient will still use the solar plexus. This is the most frequent method, and I would ask you to remember this. The sending out of a message may involve, and frequently does in connection with disciples, the throat centre, but the recipient will probably use the solar plexus centre. The throat centre is the centre, par excellence, or the medium, of all creative work. The heart and the throat, however, must eventually be used in synthesis. I stated the reason for this earlier in the words: “Only from the heart centre can stream, in reality, those lines of energy which link and bind together. It was for this reason that I have assigned certain meditations which stimulated the heart centre into action, linking the heart centre (between the shoulder blades) to the head centre, through the medium of the higher correspondence to the heart centre, found within the head centre (the thousand petalled lotus). This heart centre, when adequately radiatory and magnetic, relates disciples to each other and to all the world. It will also produce that telepathic interplay which is so much to be desired and which is so constructively useful to the spiritual Hierarchy—provided it is established within a group of pledged disciples, [19] dedicated to the service of humanity. They can then be trusted.” (Discipleship in the New Age, I. Page 87)

2. Trong giống dân của chúng ta, giống dân Arya, công việc viễn cảm bản năng vẫn là biểu hiện chính của khả năng tinh thần này, nhưng đồng thời viễn cảm trí tuệ đang trở nên ngày càng [18] phổ biến. Điều này sẽ càng ngày càng như vậy, khi thời gian trôi qua. Rất khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp này để xác định, hoặc phân biệt, các khu vực đặc biệt liên quan, bởi vì tùng thái dương vẫn còn cực kỳ hoạt động. Những gì chúng ta có ngày nay là sự pha trộn của viễn cảm bản năng và sự khởi đầu của viễn cảm trí tuệ. Tuy nhiên, điều này biểu hiện rất hiếm khi, và sau đó chỉ trong các tầng lớp có giáo dục. Với quần chúng, viễn cảm bản năng vẫn là phương thức tiếp xúc. Trung tâm cổ họng chủ yếu liên quan nơi viễn cảm trí tuệ được quan tâm; đôi khi cũng có một chút hoạt động của tim và luôn luôn có một mức độ phản ứng tùng thái dương. Do đó vấn đề của chúng ta. Thường xuyên người truyền tin sẽ gửi một thông điệp thông qua trung tâm cổ họng, và người nhận vẫn sẽ sử dụng tùng thái dương. Đây là phương pháp thường xuyên nhất, và tôi muốn yêu cầu các bạn nhớ điều này. Việc gửi đi một thông điệp có thể liên quan, và thường xuyên liên quan đến các đệ tử, trung tâm cổ họng, nhưng người nhận có lẽ sẽ sử dụng trung tâm tùng thái dương. Trung tâm cổ họng là trung tâm, ưu việt, hay phương tiện, của tất cả các công việc sáng tạo. Tuy nhiên, tim và cổ họng cuối cùng phải được sử dụng trong sự tổng hợp. Tôi đã nêu lý do cho điều này trước đó trong các từ ngữ: “Chỉ từ trung tâm tim mới có thể tuôn chảy, trong thực tế, những dòng năng lượng liên kết và gắn bó với nhau. Chính vì lý do này mà tôi đã chỉ định một số bài thiền kích thích trung tâm tim vào hoạt động, liên kết trung tâm tim (giữa hai bả vai) với trung tâm đầu, thông qua phương tiện của sự tương ứng cao hơn với trung tâm tim, được tìm thấy bên trong trung tâm đầu (hoa sen ngàn cánh). Trung tâm tim này, khi bức xạ và từ tính đầy đủ, liên hệ các đệ tử với nhau và với tất cả thế giới. Nó cũng sẽ tạo ra sự tác động qua lại bằng viễn cảm vốn rất được mong muốn và hữu ích mang tính xây dựng cho Thánh đoàn tinh thần—miễn là nó được thiết lập trong một nhóm các đệ tử đã cam kết, [19] tận hiến cho việc phụng sự nhân loại. Sau đó, họ có thể được tin cậy.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, I. Trang 87)

3. Intuitional telepathy is one of the developments upon the Path of Discipleship. It is one of the fruits of true meditation. The area involved is the head and throat, and the three centres which will be rendered active in the process are the head centre, which is receptive to impression from higher sources, and the ajna centre which is the recipient of the idealistic intuitional impressions; this ajna centre can then “broadcast” that which is received and recognised, using the throat centre as the creative formulator of thought, and the factor which embodies the sensed or intuited idea.

3. Viễn cảm trực giác là một trong những sự phát triển trên Con Đường Đệ Tử. Nó là một trong những quả của tham thiền chân chính. Khu vực liên quan là đầu và cổ họng, và ba trung tâm sẽ được làm cho hoạt động trong quá trình này là trung tâm đầu, vốn tiếp nhận ấn tượng từ các nguồn cao hơn, và trung tâm ajna vốn là người nhận các ấn tượng trực giác lý tưởng; trung tâm ajna này sau đó có thể “phát sóng” cái được nhận và công nhận, sử dụng trung tâm cổ họng như người định hình sáng tạo của tư tưởng, và yếu tố hiện thân cho ý tưởng được cảm nhận hay trực giác.

It will be apparent to you, therefore, how necessary it is to have a better recognition of the activity of the centres, as they are detailed in the Hindu philosophy; and until there is some real understanding of the part the vital body plays as the broadcaster and as the recipient of feelings, thoughts and ideas, there will be little progress made in the right understanding of modes of communication.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ sự cần thiết phải có một sự công nhận tốt hơn về hoạt động của các trung tâm, như chúng được trình bày chi tiết trong triết học Hindu; và cho đến khi có một sự thấu hiểu thực sự về vai trò của thể sinh lực với tư cách là người phát sóng và người nhận các cảm giác, tư tưởng và ý tưởng, sẽ có rất ít tiến bộ đạt được trong sự thấu hiểu đúng đắn về các phương thức giao tiếp.

There is an interesting parallel between the three modes of telepathic work and their three techniques of accomplishment, and the three major ways of communicating on Earth:

Có một sự tương đồng thú vị giữa ba phương thức của công việc viễn cảm và ba kỹ thuật thành tựu của chúng, và ba cách giao tiếp chính trên Trái Đất:

Instinctual telepathy

train travel, stations everywhere

telegraph

Mental telepathy

ocean travel, ports on the periphery of all lands

telephone

Intuitional telepathy

air travel, landing place

radio

[table]

That which is going on in connection with the human consciousness is ever externalised or finds its analogy upon the physical plane, and so it is in connection with developed sensitivity to impression.

Cái đang diễn ra liên quan đến tâm thức con người luôn được ngoại hiện hoặc tìm thấy sự tương đồng của nó trên cõi trần, và điều này cũng vậy liên quan đến sự nhạy cảm phát triển đối với ấn tượng.

There is still another way in which we can look at the entire subject of response between broadcasting areas of [20] consciousness and the receiving areas of consciousness. We might list the divisions of this process. Much must remain theoretical, and little can, as yet, be worked out in practice. However, let me list the various forms of telepathic work for your general instruction:

Vẫn còn một cách khác mà chúng ta có thể xem xét toàn bộ chủ đề về sự đáp ứng giữa các khu vực phát sóng của [20] tâm thức và các khu vực nhận tin của tâm thức. Chúng ta có thể liệt kê các phân chia của quá trình này. Nhiều điều vẫn phải duy trì tính lý thuyết, và rất ít, cho đến nay, có thể được thực hiện trong thực tế. Tuy nhiên, hãy để tôi liệt kê các hình thức khác nhau của công việc viễn cảm cho sự hướng dẫn chung của các bạn:

1. Telepathic work from solar plexus to solar plexus. With this we have already dealt. This is closely connected with feeling, and little or no thought is involved; it concerns emotions (fear, hate, disgust, love, desire and many other purely astral reactions). It is carried on instinctively and below the diaphragm.

1. Công việc viễn cảm từ tùng thái dương đến tùng thái dương. Với điều này chúng ta đã đề cập. Điều này liên quan chặt chẽ với cảm giác, và rất ít hoặc không có tư tưởng nào liên quan; nó liên quan đến các cảm xúc (sợ hãi, căm ghét, ghê tởm, tình yêu, dục vọng và nhiều phản ứng hoàn toàn cảm dục khác). Nó được thực hiện theo bản năng và bên dưới cơ hoành.

2. Telepathic work from mind to mind. This is beginning to be possible, and many more people are capable of this kind of communication than is now realised. People today do not know whence various mental impressions come, and this greatly enhances the complexity of life at this time and increases the mental problem of thousands.

2. Công việc viễn cảm từ tâm trí đến tâm trí. Điều này đang bắt đầu trở nên khả thi, và nhiều người có khả năng giao tiếp loại này hơn là hiện nay được nhận ra. Con người ngày nay không biết các ấn tượng trí tuệ khác nhau đến từ đâu, và điều này làm tăng đáng kể sự phức tạp của cuộc sống vào thời điểm này và làm gia tăng vấn đề trí tuệ của hàng ngàn người.

3. Telepathic work from heart to heart. This type of impression is the sublimation of the “feeling” response registered earlier upon the ladder of evolution in the solar plexus. It concerns only group impressions, and is the basis of the condition spoken of in the Bible in connection with the greatest Sensitive humanity has ever produced, the Christ. There He is referred to as “A man of sorrows and acquainted with grief,” but in this condition no personal sorrow or grief is involved. It is simply the consciousness of the sorrow of the world and the weight of grief under which humanity struggles. “The fellowship of Christ’s suffering” is the reaction of the disciple to the same world condition. This is the true “broken heart,” and is as yet a very rare thing to find. The usual broken heart is literally a disrupted solar plexus centre, bringing complete demolition of what is occultly called “the centre of feeling,” and consequently the wrecking of the nervous system. It is [21] really brought about by a failure to handle conditions as a soul.

3. Công việc viễn cảm từ trái tim đến trái tim. Loại ấn tượng này là sự thăng hoa của phản ứng “cảm giác” được ghi nhận trước đó trên thang tiến hóa trong tùng thái dương. Nó chỉ liên quan đến các ấn tượng nhóm duy nhất, và là cơ sở của điều kiện được nói đến trong Kinh Thánh liên quan đến Người Nhạy Cảm vĩ đại nhất mà nhân loại từng sản sinh, Đức Christ. Ở đó Ngài được gọi là “Một người của những nỗi buồn và quen thuộc với khổ đau,” nhưng trong điều kiện này không có nỗi buồn hay khổ đau cá nhân nào liên quan. Nó chỉ đơn giản là tâm thức về nỗi buồn của thế giới và sức nặng của khổ đau mà nhân loại đang đấu tranh dưới đó. “Sự thông công trong sự đau khổ của Đức Christ” là phản ứng của người đệ tử đối với cùng điều kiện thế giới đó. Đây là “trái tim tan vỡ” thực sự, và cho đến nay là một điều rất hiếm gặp. Trái tim tan vỡ thông thường theo nghĩa đen là một trung tâm tùng thái dương bị phá vỡ, mang lại sự phá hủy hoàn toàn cái được gọi một cách huyền bí là “trung tâm cảm giác,” và hậu quả là sự tàn phá hệ thần kinh. Nó [21] thực sự được mang lại bởi sự thất bại trong việc xử lý các điều kiện như một linh hồn.

4. Telepathic work from soul to soul. This is, for humanity, the highest possible type of work. When a man can begin, as a soul, to respond to other souls and their impacts and impressions, then he is rapidly becoming ready for the processes which lead to initiation.

4. Công việc viễn cảm từ linh hồn đến linh hồn. Đối với nhân loại, đây là loại công việc cao nhất có thể. Khi một người có thể bắt đầu, như một linh hồn, đáp ứng với các linh hồn khác và các tác động cũng như ấn tượng của họ, thì y đang nhanh chóng trở nên sẵn sàng cho các quá trình dẫn đến điểm đạo.

Two Other Groups of Telepathic Possibilities—Hai Nhóm Khả Năng Viễn Cảm Khác

There are two other groups of telepathic possibilities which I would like to list for you. They are possibilities only when the four above-mentioned groups of telepathic impression are beginning to form a conscious part of the disciple’s experience.

Có hai nhóm khả năng viễn cảm khác mà tôi muốn liệt kê cho các bạn. Chúng chỉ là những khả năng khi bốn nhóm ấn tượng viễn cảm đã đề cập ở trên đang bắt đầu hình thành một phần ý thức trong trải nghiệm của người đệ tử.

5. Telepathic work between soul and mind. This is the technique whereby the mind is “held steady in the light,” and then becomes aware of the content of the soul’s consciousness, an innate content, or that which is part of the group life of the soul on its own level, and when in telepathic communication with other souls, as mentioned under our fourth heading. This is the true meaning of intuitional telepathy. Through this means of communication the mind of the disciple is fertilised with the new and spiritual ideas; he becomes aware of the great Plan; his intuition is awakened. One point should here be borne in mind, which is oft forgotten: The inflow of the new ideas from the buddhic levels, thus awakening the intuitional aspect of the disciple, indicates that his soul is beginning to integrate consciously and definitely with the Spiritual Triad, and therefore to identify itself less and less with the lower reflection, the personality. This mental sensitivity and rapport between soul and mind remain for a long time relatively inchoate on the mental plane. That which is sensed remains too vague or too abstract for formulation. It is the stage of the mystical vision and of mystical unfoldment.

5. Công việc viễn cảm giữa linh hồn và tâm trí. Đây là kỹ thuật nhờ đó tâm trí được “giữ ổn định trong ánh sáng,” và sau đó trở nên nhận thức về nội dung của tâm thức linh hồn, một nội dung bẩm sinh, hoặc cái là một phần của sự sống nhóm của linh hồn trên cấp độ riêng của nó, và khi trong giao tiếp viễn cảm với các linh hồn khác, như đã đề cập dưới tiêu đề thứ tư của chúng ta. Đây là ý nghĩa thực sự của viễn cảm trực giác. Thông qua phương tiện giao tiếp này, tâm trí của người đệ tử được thụ tinh với các ý tưởng mới và tinh thần; y trở nên nhận thức về Thiên Cơ vĩ đại; trực giác của y được đánh thức. Một điểm cần được ghi nhớ ở đây, vốn thường bị lãng quên: Sự tuôn chảy vào của các ý tưởng mới từ các cõi bồ đề, do đó đánh thức phương diện trực giác của người đệ tử, chỉ ra rằng linh hồn y đang bắt đầu tích hợp một cách có ý thức và dứt khoát với Tam Nguyên Tinh Thần, và do đó đồng nhất hóa bản thân ngày càng ít đi với phản chiếu thấp hơn, phàm ngã. Sự nhạy cảm và mối quan hệ trí tuệ này giữa linh hồn và tâm trí vẫn còn tương đối sơ khai trong một thời gian dài trên cõi trí. Cái được cảm nhận vẫn còn quá mơ hồ hoặc quá trừu tượng để định hình. Đó là giai đoạn của linh ảnh thần bí và của sự mở ra thần bí.

6. Telepathic work between soul, mind and brain. In [22] this stage the mind still remains the recipient of impression from the soul but, in its turn, it becomes a “transmitting agent” or communicator. The impressions received from the soul, and the intuitions registered as coming from the Spiritual Triad, via the soul, are now formulated into thoughts; the vague ideas and the vision hitherto unexpressed can now be clothed in form and sent out as embodied thoughtforms to the brain of the disciple. In time, and as the result of technical training, the disciple can in this way reach the mind and brains of other disciples. This is an exceedingly interesting stage. It constitutes one of the major rewards of right meditation and involves much true responsibility. You will find more anent this stage of telepathy in my other books, particularly A Treatise on White Magic. (Pages 176-180, 415, 427-428, 477-478)

6. Công việc viễn cảm giữa linh hồn, tâm trí và bộ não. Trong [22] giai đoạn này, tâm trí vẫn là người nhận ấn tượng từ linh hồn nhưng, đến lượt mình, nó trở thành một “tác nhân truyền dẫn” hay người truyền tin. Các ấn tượng nhận được từ linh hồn, và các trực giác được ghi nhận là đến từ Tam Nguyên Tinh Thần, thông qua linh hồn, giờ đây được định hình thành các tư tưởng; các ý tưởng mơ hồ và linh ảnh cho đến nay chưa được biểu hiện giờ đây có thể được khoác lấy hình tướng và gửi đi như các hình tư tưởng đã hiện thân đến bộ não của người đệ tử. Theo thời gian, và là kết quả của việc huấn luyện kỹ thuật, người đệ tử có thể theo cách này tiếp cận tâm trí và bộ não của các đệ tử khác. Đây là một giai đoạn cực kỳ thú vị. Nó cấu thành một trong những phần thưởng chính của tham thiền đúng đắn và liên quan đến nhiều trách nhiệm thực sự. Các bạn sẽ tìm thấy nhiều hơn về giai đoạn viễn cảm này trong các cuốn sách khác của tôi, đặc biệt là Luận về Chánh Thuật. (Trang 176-180, 415, 427-428, 477-478)

This much that I have outlined here is practically all that concerns man in his own inner individual contacts and work and training. There is, however, a whole range of telepathic contacts which should be noted because they constitute the goal for humanity.

Bấy nhiêu điều mà tôi đã phác thảo ở đây thực tế là tất cả những gì liên quan đến con người trong các tiếp xúc và công việc cũng như sự huấn luyện cá nhân bên trong của chính y. Tuy nhiên, có cả một loạt các tiếp xúc viễn cảm cần được lưu ý bởi vì chúng cấu thành mục tiêu cho nhân loại.

7. Telepathic work between a Master (the focal point of a group) and the disciple in the world. It is an occult truth that no man is really admitted into a Master’s group, as an accepted disciple, until he has become spiritually impressionable and can function as a mind in collaboration with his own soul. Prior to that he cannot be a conscious part of a functioning group on the inner planes gathered around a personalised force, the Master; he cannot work in true rapport with his fellow disciples. But when he can work somewhat as a conscious soul, then the Master can begin to impress him with group ideas via his own soul. He hovers then for quite a while upon the periphery of the group. Eventually, as his spiritual sensitivity increases, he [23] can be definitely impressed by the Master and taught the technique of contact. Later, the group of disciples, functioning as one synthetic thoughtform, can reach him and thus automatically he becomes one of them. To those who have the true esoteric sense, the above paragraph will convey a good deal of information, hitherto hidden.

7. Công việc viễn cảm giữa một Chân sư (tiêu điểm của một nhóm) và người đệ tử trong thế gian. Một sự thật huyền bí là không ai thực sự được nhận vào nhóm của một Chân sư, như một đệ tử được chấp nhận, cho đến khi y trở nên có thể tiếp nhận ấn tượng tinh thần và có thể hoạt động như một tâm trí trong sự cộng tác với linh hồn của chính mình. Trước đó, y không thể là một phần có ý thức của một nhóm đang hoạt động trên các cõi bên trong tập hợp xung quanh một mãnh lực được nhân cách hóa, Chân sư; y không thể làm việc trong mối quan hệ thực sự với các đệ tử đồng môn của mình. Nhưng khi y có thể làm việc đôi chút như một linh hồn có ý thức, thì Chân sư có thể bắt đầu gây ấn tượng cho y với các ý tưởng nhóm thông qua linh hồn của chính y. Sau đó y lảng vảng một thời gian khá lâu trên chu vi của nhóm. Cuối cùng, khi sự nhạy cảm tinh thần của y gia tăng, y [23] có thể được Chân sư gây ấn tượng một cách dứt khoát và dạy kỹ thuật tiếp xúc. Sau này, nhóm các đệ tử, hoạt động như một hình tư tưởng tổng hợp, có thể tiếp cận y và do đó y tự động trở thành một trong số họ. Đối với những người có ý thức huyền môn thực sự, đoạn văn trên sẽ truyền tải rất nhiều thông tin, cho đến nay vẫn còn ẩn giấu.

8. Telepathic work between a Master and His group. This is the mode of work whereby a Master trains and works through His disciples. He impresses them simultaneously with an idea or an aspect of truth. By watching their reactions, He can gauge the united activity of the group and the simultaneity of their response.

8. Công việc viễn cảm giữa một Chân sư và nhóm của Ngài. Đây là phương thức làm việc nhờ đó một Chân sư huấn luyện và làm việc thông qua các đệ tử của Ngài. Ngài gây ấn tượng đồng thời cho họ với một ý tưởng hoặc một phương diện của chân lý. Bằng cách quan sát các phản ứng của họ, Ngài có thể đo lường hoạt động thống nhất của nhóm và sự đồng thời trong phản ứng của họ.

9. Telepathic work between subjective and objective groups. I do not refer here to the contact between an inner group of disciples, functioning consciously on the subjective levels, and the outer form that group takes. I refer to an inner group and a different outer group or groups. These groups, on both levels, can be either good or bad, according to the quality or calibre of the group personnel and their motives. This opens up a wide range of contacts and is one of the ways in which the Hierarchy of Masters work, as individuals. It is, however, not possible for groups upon the outer plane to respond to this type of contact until the bulk of their members have the heart centre awakened. In this connection a most interesting point should be noted. The awakening of the heart centre indicates inclusiveness, group appreciation and contact, also group thought and group life-activity. Unless, however, the head centre is also awakened and active, the soul is not able to control, and this heart activity need not necessarily be what we call good or spiritual activity. It is quite impersonal, like the sun, of which the heart is, as you know, the symbol. It shines alike upon the good and the bad; and group activity, as a result of heart awakening, can include the bad groups [24] as well as the good groups. Therefore you can see the necessity of awakening the head centre and bringing in the control of the soul aspect; and hence the emphasis laid upon character building and the need for meditation.

9. Công việc viễn cảm giữa các nhóm chủ quan và khách quan. Tôi không đề cập ở đây đến sự tiếp xúc giữa một nhóm đệ tử bên trong, hoạt động có ý thức trên các cấp độ chủ quan, và hình tướng bên ngoài mà nhóm đó đảm nhận. Tôi đề cập đến một nhóm bên trong và một nhóm hoặc các nhóm bên ngoài khác. Các nhóm này, trên cả hai cấp độ, có thể tốt hoặc xấu, tùy thuộc vào phẩm chất hay năng lực của nhân sự nhóm và động cơ của họ. Điều này mở ra một loạt các tiếp xúc rộng lớn và là một trong những cách mà Thánh đoàn các Chân sư làm việc, với tư cách cá nhân. Tuy nhiên, không thể cho các nhóm trên cõi bên ngoài đáp ứng với loại tiếp xúc này cho đến khi phần lớn các thành viên của họ đã được đánh thức trung tâm tim. Trong mối liên hệ này, một điểm thú vị nhất cần được lưu ý. Việc đánh thức trung tâm tim chỉ ra tính bao gồm, sự đánh giá và tiếp xúc nhóm, cũng như tư tưởng nhóm và hoạt động sống nhóm. Tuy nhiên, trừ khi trung tâm đầu cũng được đánh thức và hoạt động, linh hồn không thể kiểm soát, và hoạt động tim này không nhất thiết phải là cái chúng ta gọi là hoạt động tốt hay tinh thần. Nó khá phi cá nhân, giống như mặt trời, mà trái tim, như các bạn biết, là biểu tượng. Nó chiếu sáng như nhau lên người tốt và kẻ xấu; và hoạt động nhóm, như là kết quả của việc đánh thức trái tim, có thể bao gồm các nhóm xấu [24] cũng như các nhóm tốt. Do đó, các bạn có thể thấy sự cần thiết của việc đánh thức trung tâm đầu và mang lại sự kiểm soát của phương diện linh hồn; và do đó sự nhấn mạnh được đặt vào việc lập hạnh và nhu cầu tham thiền.

10. Telepathic work between the Hierarchy of Masters as a group or a part of the Hierarchy, and groups of disciples. There is little I can tell you about this, and you would not and could not understand. The experiment we are now making, in connection with the New Group of World Servers, is related to this form of telepathic work.

10. Công việc viễn cảm giữa Thánh đoàn các Chân sư như một nhóm hoặc một phần của Thánh đoàn, và các nhóm đệ tử. Có rất ít điều tôi có thể nói với các bạn về điều này, và các bạn sẽ không và không thể hiểu được. Cuộc thử nghiệm mà chúng tôi đang thực hiện hiện nay, liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, có liên quan đến hình thức công việc viễn cảm này.

Some of these forms of telepathic work have necessarily their distorted reflections on the physical plane. These you might like to ponder upon, and trace the correspondences between them. What is “mass psychology” with its unreasoning quality and its blind activity, but a massed reaction to solar plexus impressions as passed from group to group? What is “public opinion,” so called, but vague mental reactions by the mass of men beginning to grope their way on the mental plane, to the activity and play of more active and powerful minds? The written and spoken words are not in themselves adequate to account for the display of modern opinion as we now have it. What is the apparently accurate information, so rapidly circulated among the savage races, but an expression of that instinctual telepathy which uses the vital body and the pranic fluids as its medium?

Một số hình thức công việc viễn cảm này nhất thiết có những phản chiếu méo mó của chúng trên cõi trần. Các bạn có thể muốn suy ngẫm về những điều này, và theo dõi các sự tương ứng giữa chúng. “Tâm lý học đám đông” với tính chất vô lý và hoạt động mù quáng của nó là gì, nếu không phải là một phản ứng tập hợp đối với các ấn tượng tùng thái dương khi được truyền từ nhóm này sang nhóm khác? “Dư luận công chúng,” được gọi như vậy, là gì nếu không phải là những phản ứng trí tuệ mơ hồ của đại chúng con người bắt đầu dò dẫm con đường của họ trên cõi trí, đối với hoạt động và tác động của những tâm trí tích cực và mạnh mẽ hơn? Lời viết và lời nói tự thân chúng không đủ để giải thích cho sự phô bày của quan điểm hiện đại như chúng ta hiện có. Thông tin có vẻ chính xác, được lưu truyền nhanh chóng giữa các chủng tộc man dã, là gì nếu không phải là một biểu hiện của viễn cảm bản năng vốn sử dụng thể sinh lực và các lưu chất prana làm môi trường của nó?

IV. THREE TYPES OF ENERGY INVOLVED—IV. BA LOẠI NĂNG LƯỢNG LIÊN QUAN

[25]Telepathic inter-relation between the members of a group grows through the medium of a constant attitude of reflective thought and a steadfast love for each other. I would remind you that when I use these terms I am referring to the two major types of energy in the world today. Essentially, energy is active substance. These two types of force are of a vitality, potency and substance so subtle and fine that they can work through and “force into activity” the pranic fluids which constitute the substance of the etheric body and to which I referred in a much earlier instruction. (A Treatise on the Seven Rays, II, 113) The telepathic work, therefore, is concerned with three types of energy which demonstrate as forces with the power to motivate:

[25]Mối quan hệ tương tác viễn cảm giữa các thành viên của một nhóm phát triển thông qua môi trường của một thái độ thường xuyên của tư tưởng phản chiếu và một tình thương kiên định dành cho nhau. Tôi muốn nhắc nhở các bạn rằng khi tôi sử dụng các thuật ngữ này, tôi đang đề cập đến hai loại năng lượng chính trên thế giới hiện nay. Về cơ bản, năng lượng là chất liệu hoạt động. Hai loại mãnh lực này có sức sống, tiềm năng và chất liệu tinh tế và thanh khiết đến nỗi chúng có thể hoạt động thông qua và “thúc đẩy vào hoạt động” các lưu chất prana vốn cấu thành nên chất liệu của thể dĩ thái và điều mà tôi đã đề cập trong một hướng dẫn trước đây rất lâu. (Luận về Bảy Cung, II, 113) Do đó, công việc viễn cảm liên quan đến ba loại năng lượng biểu hiện như các mãnh lực với quyền năng thúc đẩy:

1. The force of love with its negative quality which

1. Mãnh lực tình thương với tính chất âm của nó vốn

a. Attracts the needed material with which to clothe the idea, the thought or concept to be transmitted; it is also the attractive agency utilised by the recipient. Therefore both transmitter and recipient work with the same agency, but the transmitter uses the love energy of the larger whole whilst the recipient concentrates, upon the transmitter, the love energy of his own nature. If this be so, you can see why I emphasise the necessity for love and for non-criticism.

a. Thu hút vật liệu cần thiết để khoác lấy ý tưởng, tư tưởng hoặc khái niệm cần được truyền tải; nó cũng là tác nhân thu hút được người nhận sử dụng. Do đó, cả người truyền và người nhận đều làm việc với cùng một tác nhân, nhưng người truyền sử dụng năng lượng tình thương của tổng thể lớn hơn trong khi người nhận tập trung, vào người truyền, năng lượng tình thương của bản chất riêng mình. Nếu đúng như vậy, các bạn có thể thấy tại sao tôi nhấn mạnh sự cần thiết của tình thương và của sự không chỉ trích.

b. Constitutes the coherent quality which links together the transmitter and the recipient, and which also produces the coherency of that which is transmitted.

b. Cấu thành tính chất gắn kết liên kết người truyền và người nhận với nhau, và cũng tạo ra sự gắn kết của cái được truyền tải.

[26]

[26]

It will be apparent to you consequently that it is only at this time that we can begin to look for a wider and more general expression in the world today of the processes of telepathy, for only today is the love principle really beginning to affect the world on a large scale. Love of a cause, a party or an idea is becoming more and more prevalent, producing in the initial stages the apparently wide cleavages with which we are so familiar and by which we are so distressed at this time, yet producing finally a dominance of the attitudes of love which will heal breaches, and produce synthesis among the peoples. Love (not sentiment) is the clue to successful telepathic work. Therefore love one another with a fresh enthusiasm and devotion; seek to express that love in every possible way—upon the physical plane, upon the levels of emotion, and through right thought. Let the love of the soul sweep through all like a regenerating force.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ vào thời điểm này chúng ta mới có thể bắt đầu tìm kiếm một biểu hiện rộng lớn và phổ quát hơn trên thế giới ngày nay về các quá trình viễn cảm, vì chỉ ngày nay nguyên khí tình thương mới thực sự bắt đầu tác động đến thế giới trên quy mô lớn. Tình yêu đối với một lý tưởng, một đảng phái hay một ý tưởng đang trở nên ngày càng phổ biến, tạo ra trong các giai đoạn ban đầu những sự chia rẽ có vẻ rộng lớn mà chúng ta quá quen thuộc và khiến chúng ta đau khổ vào lúc này, nhưng cuối cùng tạo ra một sự thống trị của các thái độ tình thương sẽ hàn gắn các rạn nứt, và tạo ra sự tổng hợp giữa các dân tộc. Tình thương (không phải tình cảm) là manh mối cho công việc viễn cảm thành công. Do đó, hãy yêu thương nhau với một lòng nhiệt thành và sùng tín mới mẻ; hãy tìm cách thể hiện tình thương đó theo mọi cách có thể—trên cõi trần, trên các cấp độ cảm xúc, và thông qua tư tưởng đúng đắn. Hãy để tình thương của linh hồn quét qua tất cả như một mãnh lực tái sinh.

2. The force of mind. This is the illuminating energy which “lights the way” of an idea or form to be transmitted and received. Forget not that light is subtle substance. Upon a beam of light can the energy of the mind materialise. This is one of the most important statements made in connection with the science of telepathy.

2. Mãnh lực trí tuệ. Đây là năng lượng soi sáng “chiếu sáng con đường” của một ý tưởng hoặc hình tướng cần được truyền tải và tiếp nhận. Đừng quên rằng ánh sáng là chất liệu tinh tế. Trên một chùm ánh sáng, năng lượng của tâm trí có thể hiện hình. Đây là một trong những tuyên bố quan trọng nhất được đưa ra liên quan đến khoa học viễn cảm.

The success of this is dependent upon the alignment of the bodies of the transmitter and the recipient. The double line of contact must be that of mental energy and brain electrical energy. The magnetic power of love to attract attention, to produce alignment, and to call forth rapport and understanding is not all that is necessary in the new telepathy which will distinguish the new age. There must also be mental development and mental control.

Sự thành công của điều này phụ thuộc vào sự chỉnh hợp của các thể của người truyền và người nhận. Đường dây tiếp xúc kép phải là năng lượng trí tuệ và năng lượng điện não bộ. Quyền năng từ tính của tình thương để thu hút sự chú ý, tạo ra sự chỉnh hợp, và khơi dậy mối quan hệ và sự thấu hiểu không phải là tất cả những gì cần thiết trong viễn cảm mới sẽ phân biệt kỷ nguyên mới. Cũng phải có sự phát triển trí tuệ và sự kiểm soát trí tuệ.

This form of telepathy is not a function of the animal soul, as in the case of the solar plexus contact and response [27] to messages by the emotionally polarised man or woman. This telepathic rapport and response is a characteristic of the human soul working from mind to mind and from brain to brain. It is literally a state of consciousness which is sufficiently conditioned by the integrated mental person so that he is aware of and inclusive of the mental state and thought processes of another person.

Hình thức viễn cảm này không phải là một chức năng của linh hồn thú vật, như trong trường hợp tiếp xúc tùng thái dương và phản ứng [27] với các thông điệp bởi người nam hay nữ phân cực cảm xúc. Mối quan hệ và phản ứng viễn cảm này là một đặc điểm của linh hồn con người làm việc từ tâm trí đến tâm trí và từ bộ não đến bộ não. Nó đúng nghĩa đen là một trạng thái tâm thức được quy định đầy đủ bởi con người trí tuệ tích hợp để y nhận thức và bao gồm trạng thái trí tuệ và các quá trình tư tưởng của người khác.

3. The energy of prana, or the etheric force of the vital body. This energy, by an act of the will and under the pressure of the magnetic power of love, responds to or is receptive to the dual energies mentioned above. The idea, thoughtform or mental impression which must be recorded in the brain consciousness of the recipient opens a way in the pranic fluids and so controls their activity (which is as ceaseless as the thoughtform-making propensities of the chitta) that the brain becomes responsive in two ways:

3. Năng lượng prana, hay mãnh lực dĩ thái của thể sinh lực. Năng lượng này, bởi một hành động của ý chí và dưới áp lực của quyền năng từ tính của tình thương, đáp ứng hoặc dễ tiếp nhận đối với hai năng lượng kép được đề cập ở trên. Ý tưởng, hình tư tưởng hoặc ấn tượng trí tuệ phải được ghi lại trong tâm thức não bộ của người nhận mở ra một con đường trong các lưu chất prana và kiểm soát hoạt động của chúng (vốn không ngừng nghỉ như những xu hướng tạo hình tư tưởng của chitta) đến nỗi bộ não trở nên đáp ứng theo hai cách:

a. It is rendered passive by the impact of the three types of energy, blended and fused into one stream of force.

a. Nó trở nên thụ động bởi tác động của ba loại năng lượng, hòa trộn và dung hợp thành một dòng mãnh lực.

b. It becomes actively responsive to the idea, impression, thoughtform, symbol, words, etc., which are being swept into the area of its conscious activity.

b. Nó trở nên đáp ứng tích cực với ý tưởng, ấn tượng, hình tư tưởng, biểu tượng, từ ngữ, v.v., đang được quét vào khu vực hoạt động có ý thức của nó.

Let me attempt to reduce the above information to practical simplicity, thus showing how these three types of energy can be used in practical work:

Hãy để tôi cố gắng giảm thiểu thông tin trên thành sự đơn giản thực tế, do đó cho thấy ba loại năng lượng này có thể được sử dụng trong công việc thực tế như thế nào:

1. By the use of the energy of love in three ways:

1. Bằng việc sử dụng năng lượng tình thương theo ba cách:

a. By sending out love (not sentiment) to your brothers at the time of transmission or reception. [28]

a. Bằng cách gửi đi tình thương (không phải tình cảm) đến các huynh đệ của bạn vào thời điểm truyền hoặc nhận. [28]

b. By capitalising on the inherent power of love to attract the material or the substance, and thus to “clothe” in the occult sense that which you send out.

b. Bằng cách tận dụng quyền năng vốn có của tình thương để thu hút vật liệu hoặc chất liệu, và do đó để “khoác lấy” theo nghĩa huyền môn cái mà bạn gửi đi.

c. By sending forth the “clothed” idea, impression, etc., on a stream of love which your brother—alert, receptive and waiting—will attract to himself by the means of his conscious love for you.

c. Bằng cách gửi đi ý tưởng, ấn tượng, v.v., đã được “khoác lấy” trên một dòng tình thương mà người huynh đệ của bạn—tỉnh táo, dễ tiếp nhận và chờ đợi—sẽ thu hút về mình bằng phương tiện tình thương có ý thức của y dành cho bạn.

2. By the use of mental energy through the effort to polarise yourself upon the mental levels of consciousness. By a definite act of the will you lift your consciousness onto the mental plane and hold it there. This action is a reflection upon a lower plane, and in the brain consciousness, of the mind’s ability to hold itself in the light. The success of all telepathic work you do, as a group or as individuals, will be dependent upon your capacity to “hold yourselves steady in the light” mentally. The difference is that this time you do it for the purpose of the planned work, and attempt to hold the mind steady in the light of the group, or in each other’s light, and not so specifically in the light of your own soul.

2. Bằng việc sử dụng năng lượng trí tuệ thông qua nỗ lực phân cực bản thân trên các cấp độ tâm thức trí tuệ. Bằng một hành động dứt khoát của ý chí, bạn nâng tâm thức của mình lên cõi trí và giữ nó ở đó. Hành động này là một sự phản chiếu trên một cõi thấp hơn, và trong tâm thức não bộ, về khả năng của tâm trí để giữ bản thân nó trong ánh sáng. Sự thành công của tất cả công việc viễn cảm bạn làm, với tư cách một nhóm hoặc cá nhân, sẽ phụ thuộc vào khả năng của bạn để “giữ mình ổn định trong ánh sáng” về mặt trí tuệ. Sự khác biệt là lần này bạn làm điều đó cho mục đích của công việc đã hoạch định, và cố gắng giữ tâm trí ổn định trong ánh sáng của nhóm, hoặc trong ánh sáng của nhau, và không quá cụ thể trong ánh sáng của linh hồn riêng bạn.

3. By the conscious organised use of the energy of the etheric ajna centre, and sometimes of the head centre, when receiving, and of the throat centre, when transmitting. This swings etheric force into activity when engaged in telepathic work, but entails its conscious subordination to the power of the other two energies. Practically, you will observe that this involves on the part of the disciple the power to do three things at once. You need to ponder more deeply upon the fact and necessity of active outgoing energy [29] when you are occupied with the task of transmission, and with active receptivity when you are functioning as a receiver.

3. Bằng việc sử dụng có tổ chức và ý thức năng lượng của trung tâm ajna dĩ thái, và đôi khi của trung tâm đầu, khi nhận, và của trung tâm cổ họng, khi truyền. Điều này đưa mãnh lực dĩ thái vào hoạt động khi tham gia công việc viễn cảm, nhưng đòi hỏi sự phục tùng có ý thức của nó đối với sức mạnh của hai năng lượng kia. Về mặt thực tế, các bạn sẽ quan sát thấy rằng điều này liên quan về phía người đệ tử quyền năng làm ba việc cùng một lúc. Các bạn cần suy ngẫm sâu sắc hơn về thực tế và sự cần thiết của năng lượng đi ra tích cực [29] khi các bạn bận rộn với nhiệm vụ truyền tải, và với sự tiếp nhận tích cực khi các bạn đang hoạt động như một người nhận.

I would like to point out that successful telepathic work is dependent upon the following factors:

Tôi muốn chỉ ra rằng công việc viễn cảm thành công phụ thuộc vào các yếu tố sau:

First, that there are no barriers existing between the receiver and the broadcaster. Such barriers would be lack of love or of sympathy, criticism and suspicion.

Thứ nhất, rằng không có rào cản nào tồn tại giữa người nhận và người phát sóng. Những rào cản như vậy sẽ là thiếu tình thương hoặc sự cảm thông, sự chỉ trích và nghi ngờ.

Secondly, that the broadcaster is mainly occupied with the clarity of his symbol, with the word or thought, and not with the receiver. A quick glance toward the receiver, a momentary sending forth of love and understanding is sufficient to set up the rapport, and then attention must be paid to the clarity of the symbol.

Thứ hai, rằng người phát sóng chủ yếu bận tâm với sự rõ ràng của biểu tượng của mình, với từ ngữ hoặc tư tưởng, và không phải với người nhận. Một cái nhìn nhanh về phía người nhận, một sự gửi đi tình thương và sự thấu hiểu trong giây lát là đủ để thiết lập mối quan hệ, và sau đó sự chú ý phải được trả cho sự rõ ràng của biểu tượng.

Thirdly, let the receivers think with love and affection of the broadcaster for a minute or two. Then let them forget the personality. A thread of energy, linking receiver and broadcaster, has been established and exists. Then forget it.

Thứ ba, hãy để những người nhận nghĩ với tình thương và lòng yêu mến về người phát sóng trong một hoặc hai phút. Sau đó hãy để họ quên đi phàm ngã. Một sợi dây năng lượng, liên kết người nhận và người phát sóng, đã được thiết lập và tồn tại. Sau đó hãy quên nó đi.

Fourthly, let the receivers work with detachment. Most receivers are so anxious to receive correctly that through their very intensity they counteract their own efforts. A casual and “don’t care” spirit and a close attentiveness to the inner “picturing faculty” will net better results than any violent and strong desire and effort to see the symbol and to contact the mind of the sender.

Thứ tư, hãy để những người nhận làm việc với sự tách rời. Hầu hết những người nhận đều quá lo lắng để nhận đúng đến nỗi thông qua chính sự căng thẳng của họ, họ chống lại những nỗ lực của chính mình. Một tinh thần thản nhiên và “không màng đến” và một sự chú ý chặt chẽ đến “năng lực hình dung” bên trong sẽ mang lại kết quả tốt hơn bất kỳ dục vọng và nỗ lực dữ dội, mạnh mẽ nào để nhìn thấy biểu tượng và tiếp xúc với tâm trí của người gửi.

The brain should register a reflection of the mind content. If a ray of light is met by an outgoing force from the receiver’s mind or a powerfully emitted thoughtform, it can be prevented from reaching the mind. However, a transmitter with more expert training can overcome this barrier. Much of the trouble will be found to be based on the emitted thoughtforms, or in the rush of ill-regulated [30] mental energy or brain radiation which negates efforts. Therefore a quiet spirit and well regulated thoughts will aid much, and the cultivation of that dispassion which desires nothing for the separated self, and nothing violently.

Bộ não nên ghi nhận một sự phản chiếu của nội dung tâm trí. Nếu một tia sáng gặp phải một mãnh lực đi ra từ tâm trí người nhận hoặc một hình tư tưởng được phát ra mạnh mẽ, nó có thể bị ngăn cản không đến được tâm trí. Tuy nhiên, một người truyền tin với sự huấn luyện chuyên môn hơn có thể vượt qua rào cản này. Nhiều rắc rối sẽ được tìm thấy là dựa trên các hình tư tưởng được phát ra, hoặc trong sự vội vã của năng lượng [30] trí tuệ không được điều chỉnh tốt hoặc bức xạ não bộ phủ định các nỗ lực. Do đó, một tinh thần tĩnh lặng và những tư tưởng được điều chỉnh tốt sẽ hỗ trợ nhiều, và việc trau dồi sự vô tư vốn không mong muốn gì cho cái ngã tách biệt, và không có gì dữ dội.

The need of sensitive receivers is great. Train yourselves. Forget yourselves and your own petty little affairs—so petty and unimportant when viewed in relation to the momentous issues of the present time. Keep an attentive ear to the voices which issue forth from the world of spiritual Being, and love each other with loyalty and steadfastness.

Nhu cầu về những người tiếp nhận nhạy cảm là rất lớn. Hãy tự rèn luyện. Hãy quên bản thân mình và những công việc nhỏ nhặt của riêng mình—thật quá nhỏ nhặt và không quan trọng khi xem xét trong mối quan hệ với những vấn đề trọng đại của thời điểm hiện tại. Hãy lắng nghe những giọng nói phát ra từ thế giới của Bản thể tinh thần, và hãy yêu thương nhau với sự trung thành và kiên định.

V. THE GROWTH OF TELEPATHIC RAPPORT—V. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỐI GIAO CẢM VIỄN CẢM

[31]

[31]

I would like to point out that the use of words telepathically must be mastered as a preliminary step to the use of sentences and of thoughts. Choose a word and meditate upon it, knowing wherefore you have chosen it. Study it in the four ways indicated by Patanjali; (The Light of the Soul, page 33) that is:

Tôi muốn chỉ ra rằng việc sử dụng từ ngữ theo cách viễn cảm phải được làm chủ như một bước sơ khởi trước khi sử dụng các câu và các tư tưởng. Hãy chọn một từ và tham thiền về nó, biết lý do tại sao bạn đã chọn nó. Hãy nghiên cứu nó theo bốn cách được Patanjali chỉ ra; (Ánh Sáng của Linh Hồn, trang 33) đó là:

1. Study its form, study it symbolically, as a word picture.

1. Nghiên cứu hình tướng của nó, nghiên cứu nó một cách tượng trưng, như một hình ảnh bằng từ ngữ.

2. Study it from the angle of quality, of beauty, of desire.

2. Nghiên cứu nó từ khía cạnh phẩm tính, vẻ đẹp, và dục vọng.

3. Study its underlying purpose and teaching value, and its mental appeal.

3. Nghiên cứu mục đích ẩn tàng và giá trị giáo huấn của nó, cùng sức hấp dẫn trí tuệ của nó.

4. Study its very being and identify yourself with its divine underlying idea.

4. Nghiên cứu chính bản thể của nó và đồng hóa bản thân bạn với ý niệm thiêng liêng ẩn tàng của nó.

When you have reached this final stage, hold your consciousness steady at that high point as you (if you are a transmitter) send out the word to the receiver or to the receiving group. Receivers should in their turn achieve, as far as they can, complete alignment so as to be responsive to all these four aspects of the word. This method will serve to shift the receiver nearer to the plane where he should function—the level of the higher mind. The word goes out upon the life breath of the transmitter; his lower mind then sends out the purpose aspect; his astral consciousness is responsible for sending out the quality aspect; and the form aspect is sent out as he says the word—very softly and in a whisper.

Khi bạn đã đạt đến giai đoạn cuối cùng này, hãy giữ tâm thức của bạn ổn định tại điểm cao đó khi bạn (nếu bạn là người truyền phát) gửi từ đó đến người nhận hoặc đến nhóm tiếp nhận. Các người nhận đến lượt mình phải đạt được, trong khả năng có thể, sự chỉnh hợp hoàn toàn để có thể đáp ứng với tất cả bốn phương diện này của từ ngữ. Phương pháp này sẽ giúp chuyển người nhận đến gần hơn với cõi giới mà y nên hoạt động—cấp độ của thượng trí. Từ ngữ đi ra trên hơi thở sự sống của người truyền phát; hạ trí của y sau đó gửi đi phương diện mục đích; tâm thức cảm dục của y chịu trách nhiệm gửi đi phương diện phẩm tính; và phương diện hình tướng được gửi đi khi y nói từ ngữ đó—rất nhẹ nhàng và thì thầm.

The above is a good exercise and very simple; telepathic power should greatly increase if one faithfully follows these four stages—up and within, down and without—in the [32] work of transmitting. During the first or form stage one may use what symbolic forms one likes to embody the word, for such a word as “will” has no appropriate form like “pool” has; one may, if he choose, preserve the word form, seeing it letter for letter or as a whole. But one must be sure to end with the picture form or the word form with which he began; and that he sends out, at the close, what he formulated at the beginning.

Những điều trên là một bài tập tốt và rất đơn giản; quyền năng viễn cảm sẽ gia tăng đáng kể nếu một người tuân theo một cách trung thành bốn giai đoạn này—lên trên và vào trong, xuống dưới và ra ngoài—trong [32] công việc truyền phát. Trong giai đoạn đầu tiên hay giai đoạn hình tướng, người ta có thể sử dụng bất kỳ hình tướng tượng trưng nào mình thích để thể hiện từ ngữ đó, vì một từ như “ý chí” không có hình tướng thích hợp như từ “cái hồ”; người ta có thể, nếu chọn, giữ nguyên hình tướng chữ viết của từ, nhìn thấy nó từng chữ cái hoặc như một tổng thể. Nhưng người ta phải chắc chắn kết thúc với hình tướng bức tranh hoặc hình tướng chữ viết mà y đã bắt đầu; và rằng y gửi đi, vào lúc kết thúc, những gì y đã hình thành lúc bắt đầu.

To summarise: A group of disciples working in an Ashram has to learn that—

Để tóm tắt: Một nhóm các đệ tử làm việc trong một Ashram phải học rằng—

1. Groups are held together by an inner structure of thought.

1. Các nhóm được gắn kết với nhau bởi một cấu trúc tư tưởng bên trong.

2. The focus of the externalised group life is the etheric body.

2. Điểm tập trung của đời sống nhóm đã ngoại hiện là thể dĩ thái.

The etheric body is:

Thể dĩ thái là:

a. A receiving agency.

a. Một tác nhân tiếp nhận.

b. A circulating medium for energy coming from the mind, from the soul, from the Master, or from the group mind.

b. Một phương tiện luân chuyển cho năng lượng đến từ thể trí, từ linh hồn, từ Chân sư, hoặc từ trí nhóm.

3. The mind is the first exoteric expression of the soul consciousness, as far as the true aspirant is concerned.

3. Thể trí là biểu hiện ngoại môn đầu tiên của tâm thức linh hồn, xét đối với người chí nguyện chân chính.

4. The following telepathic relationships are possible and must be borne in mind:

4. Các mối quan hệ viễn cảm sau đây là có thể và phải được ghi nhớ:

a. Solar plexus to solar plexus.

a. Tùng thái dương đến tùng thái dương.

b. Mind to mind.

b. Trí đến trí.

c. Master to disciple.

c. Chân sư đến đệ tử.

d. Groups of disciples to other similar groups.

d. Các nhóm đệ tử đến các nhóm tương tự khác.

e. Subjective groups to objective receptive groups.

e. Các nhóm chủ quan đến các nhóm tiếp nhận khách quan.

f. The Hierarchy, through its great Leaders, to the various Ashrams of the Masters. [33]

f. Thánh Đoàn, thông qua các Lãnh Đạo vĩ đại của mình, đến các Ashram khác nhau của các Chân sư. [33]

g. The Hierarchy to the New Group of World Servers.

g. Thánh Đoàn đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

5. The major factors which must be considered in all telepathic work are:

5. Các yếu tố chính phải được xem xét trong mọi công việc viễn cảm là:

a. The initiating agent or emanating source.

a. Tác nhân khởi xướng hoặc nguồn phát ra.

b. The recipient of the ideas, thoughts or energy.

b. Người nhận các ý tưởng, tư tưởng hoặc năng lượng.

c. The medium of revelation.

c. Phương tiện của sự mặc khải.

The growth of telepathic rapport will bring in an era of universality and synthesis, with its qualities of recognised relationships and responsiveness. This will be, outstandingly, the glory of the Aquarian Age.

Sự phát triển của mối giao cảm viễn cảm sẽ mang lại một kỷ nguyên của tính phổ quát và sự tổng hợp, với các phẩm tính của nó về những mối quan hệ được công nhận và sự đáp ứng. Điều này sẽ là vinh quang nổi bật của Kỷ Nguyên Bảo Bình.

As the race achieves increasingly a mental polarisation through the developing attractive power of the mental principle, the use of language for the conveying of thoughts between equals or of communicating with superiors will fall into disuse. It will continue to be used in reaching the masses and those not functioning upon the mental plane. Already voiceless prayer and aspiration and worship are deemed of higher value than the pleadings and proclamations of voiced expression. It is for this stage in the unfoldment of the race for which preparation must be made, and the laws, techniques and process of telepathic communication must be made plain so that they can be intelligently and theoretically understood.

Khi nhân loại đạt được sự phân cực trí tuệ ngày càng tăng thông qua sức hút đang phát triển của nguyên khí trí tuệ, việc sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt tư tưởng giữa những người bình đẳng hoặc để giao tiếp với các cấp trên sẽ trở nên không còn được sử dụng. Nó sẽ tiếp tục được dùng để tiếp cận quần chúng và những người không hoạt động trên cõi trí. Hiện nay, lời cầu nguyện không thành tiếng, khát vọng và sự tôn thờ đã được coi là có giá trị cao hơn những lời cầu xin và tuyên bố bằng lời nói. Chính vì giai đoạn này trong sự mở ra của nhân loại mà sự chuẩn bị phải được thực hiện, và các quy luật, kỹ thuật và quy trình của giao tiếp viễn cảm phải được làm rõ để chúng có thể được thấu hiểu một cách thông minh và lý thuyết.

Disciples must occupy themselves increasingly with right understanding, right designation and right definition of the new science of telepathy. Mental comprehension and mental sympathy will make true interplay possible, and this will bridge between the old way of understanding thought through the medium of the spoken or written word (embodying that thought as the individual thinker seeks to convey it) and the future stage of immediate response to [34] thought, unlimited by speech or other medium of expression. Disciples will endeavour to work in both ways, and the medium of normal human relations and that of supernormal subjective relations must be studied by them and expressed by them. In this way the time of bridging and the period of transition can be spanned. It will take about five hundred years for the race to become normally telepathic, and when I say normally I mean consciously. This bridging work must be carried forward by disciples in three ways:

Các đệ tử phải ngày càng bận tâm với sự thấu hiểu đúng đắn, sự chỉ định đúng đắn và định nghĩa đúng đắn về khoa học viễn cảm mới mẻ này. Sự lĩnh hội trí tuệ và sự cảm thông trí tuệ sẽ làm cho sự tương tác thực sự trở nên khả thi, và điều này sẽ bắt cầu giữa cách thấu hiểu tư tưởng cũ thông qua phương tiện của lời nói hoặc chữ viết (thể hiện tư tưởng đó khi người suy nghĩ cá nhân tìm cách truyền đạt nó) và giai đoạn tương lai của sự đáp ứng tức thời với [34] tư tưởng, không bị giới hạn bởi lời nói hay phương tiện biểu đạt nào khác. Các đệ tử sẽ nỗ lực làm việc theo cả hai cách, và phương tiện của các mối quan hệ con người bình thường cũng như phương tiện của các mối quan hệ chủ quan siêu thường phải được họ nghiên cứu và thể hiện. Theo cách này, thời gian của việc bắt cầu và giai đoạn chuyển tiếp có thể được nối liền. Sẽ mất khoảng năm trăm năm để nhân loại trở nên viễn cảm một cách bình thường, và khi tôi nói bình thường, tôi muốn nói là một cách có ý thức. Công việc bắt cầu này phải được các đệ tử thực hiện theo ba cách:

1. By an endeavour to understand:

1. Bằng một nỗ lực để thấu hiểu:

a. The medium of transmission.

a. Phương tiện truyền phát.

b. The method of transmission.

b. Phương pháp truyền phát.

c. The manner of reception.

c. Cách thức tiếp nhận.

d. The mode of inter-related activity.

d. Phương thức hoạt động tương quan.

2. By the cultivation of sensitive reactions to each other and to the other human units with whom the lot of the disciples may be cast. This involves:

2. Bằng việc trau dồi các phản ứng nhạy cảm đối với nhau và đối với các đơn vị con người khác mà số phận của các đệ tử có thể gắn liền với họ. Điều này bao gồm:

a. Sensitive physical reaction, via the centres, to the forces emanating from the centres of those with whom the disciples are associated. Particularly should the sensitivity of the ajna centre be developed.

a. Phản ứng vật lý nhạy cảm, thông qua các luân xa, đối với các mãnh lực phát ra từ các luân xa của những người mà các đệ tử có liên kết. Đặc biệt cần phát triển sự nhạy cảm của trung tâm ajna.

b. Sensitivity to the state of feeling or to the emotional reactions of those around. This is done through the development of compassion and of sympathy, plus that detachment which will enable one to take right action.

b. Sự nhạy cảm đối với trạng thái cảm xúc hoặc các phản ứng tình cảm của những người xung quanh. Điều này được thực hiện thông qua sự phát triển lòng từ bi và sự cảm thông, cộng với sự tách rời vốn sẽ cho phép một người có hành động đúng đắn.

c. Sensitivity to the thoughts of others through mental rapport with them upon the plane of mind. [35]

c. Sự nhạy cảm đối với tư tưởng của người khác thông qua mối giao cảm trí tuệ với họ trên cõi trí. [35]

3. By all these done also in group formation as well as individually. All the activities mentioned above must constitute group activity.

3. Bằng tất cả những điều này được thực hiện trong đội hình nhóm cũng như cá nhân. Tất cả các hoạt động được đề cập ở trên phải cấu thành hoạt động nhóm.

In these three ways the vehicle of the personality can be so conditioned that it can become a sensitive receiving apparatus. When, however, soul consciousness is achieved or developing, then this triple instrument is superseded by the intuitional receptivity of the soul—whose inclusiveness is absolute and who is at-one with the soul in all forms.

Theo ba cách này, vận cụ của phàm ngã có thể được điều kiện hóa để nó trở thành một bộ máy tiếp nhận nhạy cảm. Tuy nhiên, khi tâm thức linh hồn đạt được hoặc đang phát triển, thì công cụ tam phân này được thay thế bằng khả năng tiếp nhận trực giác của linh hồn—vốn có tính bao gồm tuyệt đối và hợp nhất với linh hồn trong mọi hình tướng.

Those disciples who are working along this line are the nurturers of the seed of the future intuitional civilisation, which will come to its full glory in the Aquarian Age. The intuition is the infallibly sensitive agent, latent in every human being; it is based, as you know, upon direct knowledge, unimpeded by any instrument normally functioning in the three worlds. Of this intuitional future age, Christ is the Seed Man, for “He knew what was in man.” Today, a group or a unit of groups can be the nurturers of the seed of the intuition; the cultivation of sensitivity to telepathic impression is one of the most potent agencies in developing the coming use of the intuitive faculty.

Những đệ tử đang làm việc theo đường lối này là những người nuôi dưỡng hạt giống của nền văn minh trực giác tương lai, vốn sẽ đi đến vinh quang trọn vẹn trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Trực giác là tác nhân nhạy cảm không thể sai lầm, tiềm tàng trong mỗi con người; như các bạn biết, nó dựa trên tri thức trực tiếp, không bị cản trở bởi bất kỳ công cụ nào hoạt động bình thường trong ba cõi. Của kỷ nguyên trực giác tương lai này, Đức Christ là Con Người Hạt Giống, vì “Ngài biết những gì có trong con người”. Ngày nay, một nhóm hoặc một đơn vị của các nhóm có thể là những người nuôi dưỡng hạt giống của trực giác; việc trau dồi sự nhạy cảm đối với ấn tượng viễn cảm là một trong những tác nhân mạnh mẽ nhất trong việc phát triển việc sử dụng năng lực trực giác sắp tới.

The truly telepathic man is the man who is responsive to impressions coming to him from all forms of life in the three worlds, but he is also equally responsive to impressions coming to him from the world of souls and the world of the intuition. It is the development of the telepathic instinct which will eventually make a man a master in the three worlds, and also in the five worlds of human and superhuman development. By a process of withdrawal (of occult abstraction) and of concentration upon the telepathic cult, the whole science of telepathy (as a seed of a future racial potency) can be developed and understood. This is a process now going forward, and it is going on in two ways: [36] through the medium of telepathic groups and of telepathic people, and through the medium of exoteric scientific investigation. The building of the thoughtform which will accustom the race to the idea of telepathic work is proceeding apace, and the seed of this development is becoming very vital and powerful and germinating with real rapidity. It is, in the last analysis, the seed of MASTERHOOD.

Người viễn cảm thực sự là người đáp ứng với các ấn tượng đến với y từ mọi hình thái sự sống trong ba cõi, nhưng y cũng đáp ứng ngang bằng với các ấn tượng đến với y từ thế giới của các linh hồn và thế giới của trực giác. Chính sự phát triển của bản năng viễn cảm cuối cùng sẽ làm cho một người trở thành một chân sư trong ba cõi, và cũng trong năm cõi của sự phát triển nhân loại và siêu nhân loại. Bằng một quá trình rút lui (của sự trừu tượng hóa huyền bí) và tập trung vào việc rèn luyện viễn cảm, toàn bộ khoa học về viễn cảm (như một hạt giống của quyền năng tương lai của nhân loại) có thể được phát triển và thấu hiểu. Đây là một quá trình hiện đang tiến triển, và nó đang diễn ra theo hai cách: [36] thông qua phương tiện của các nhóm viễn cảm và những người có khả năng viễn cảm, và thông qua phương tiện của sự điều tra khoa học ngoại môn. Việc xây dựng hình tư tưởng vốn sẽ làm cho nhân loại quen thuộc với ý tưởng về công việc viễn cảm đang tiến hành nhanh chóng, và hạt giống của sự phát triển này đang trở nên rất thiết yếu, mạnh mẽ và nảy mầm với tốc độ thực sự nhanh chóng. Trong phân tích cuối cùng, nó là hạt giống của ĐỊA VỊ CHÂN SƯ.

VI. GROUP TELEPATHIC WORK—VI. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM NHÓM

[37]

[37]

I shall now take up with you the subject of united group telepathic work, its possibilities and the present opportunity, touching upon the dangers involved and the responsibility which will rest upon your shoulders and upon those of all disciples who may attempt to work in this way. You need to bear in mind the following three injunctions:

Bây giờ tôi sẽ cùng các bạn thảo luận về chủ đề công việc viễn cảm nhóm thống nhất, các khả năng của nó và cơ hội hiện tại, đề cập đến những nguy hiểm liên quan và trách nhiệm sẽ đặt lên vai các bạn và lên vai tất cả các đệ tử có thể cố gắng làm việc theo cách này. Các bạn cần ghi nhớ ba lệnh truyền sau đây:

First: It is essential that you acquire facility in tuning in on each other with deepest love and understanding; that you develop impersonality so that when a brother tunes in on a weakness or a strength, upon a mistake or a right attitude, it evokes from you no slightest reaction that could upset the harmony of the group united work as planned; that you cultivate a love which will ever seek to strengthen and to help, and a power to supplement or complement each other which will be of use in balancing the group, as a working unit under spiritual impression. The discovery of a weakness in a group brother should only produce the evocation of a deeper love; the discovery that you have made a mistake (if you have) in interpreting a brother should only prompt you to a renewed vital effort to approach more closely to his soul; the revelation to you of a brother’s strength will indicate where you can look for help in any hour of your own need. State frankly what you feel as you work month after month at this task of group rapport, deliberately tuning out criticism and substituting for it analysis—an analysis impersonally given; state truthfully what you sense and register. Your conclusions may be right or wrong, but a definite effort to comply and to recognise consciously the gained impression should aid the group blending without undue delay into an instrument of sensitive understanding. If disciples cannot tune in on each other [38] with ease after long periods of close relationship, how can they, as a group, tune in on some individual or some group of individuals unknown to them in their personalities? Unless such interplay is established fundamentally and unless there is a close integration between the members who constitute the group, it will not be possible for constructively useful and spiritually oriented and controlled work to be properly carried forward and successfully accomplished. But it is a task which you can accomplish if you will, and real application over a period of time should enable the group to work smoothly and well together. The three Rules (A Treatise on White Magic, page 320) for beginners, earlier given, embody the first steps leading to the attitude required in true hierarchical work; this is the objective of the accepted disciple.

Thứ nhất: Điều thiết yếu là các bạn phải đạt được sự thuần thục trong việc hòa điệu với nhau bằng tình thương và sự thấu hiểu sâu sắc nhất; rằng các bạn phát triển tính phi cá nhân để khi một huynh đệ hòa điệu vào một điểm yếu hay một điểm mạnh, vào một sai lầm hay một thái độ đúng đắn, nó không gợi lên từ các bạn bất kỳ phản ứng nhỏ nhất nào có thể làm đảo lộn sự hài hòa của công việc thống nhất nhóm như đã hoạch định; rằng các bạn trau dồi một tình thương luôn tìm cách củng cố và giúp đỡ, và một quyền năng để bổ sung hoặc hỗ trợ lẫn nhau vốn sẽ hữu ích trong việc cân bằng nhóm, như một đơn vị hoạt động dưới ấn tượng tinh thần. Việc phát hiện ra một điểm yếu ở một huynh đệ trong nhóm chỉ nên tạo ra sự gợi lên của một tình thương sâu sắc hơn; việc phát hiện ra rằng bạn đã phạm sai lầm (nếu có) trong việc diễn giải một huynh đệ chỉ nên thúc đẩy bạn nỗ lực thiết yếu mới để tiếp cận gần hơn với linh hồn của người đó; sự mặc khải cho bạn về sức mạnh của một huynh đệ sẽ chỉ ra nơi bạn có thể tìm kiếm sự giúp đỡ trong bất kỳ giờ phút nào bạn cần. Hãy nêu rõ ràng những gì bạn cảm thấy khi bạn làm việc tháng này qua tháng khác ở nhiệm vụ giao cảm nhóm này, cố ý loại bỏ sự chỉ trích và thay thế nó bằng sự phân tích—một sự phân tích được đưa ra một cách phi cá nhân; hãy nêu một cách trung thực những gì bạn cảm nhận và ghi nhận. Các kết luận của bạn có thể đúng hoặc sai, nhưng một nỗ lực xác định để tuân thủ và công nhận một cách có ý thức ấn tượng đã đạt được sẽ hỗ trợ sự hòa quyện nhóm mà không bị chậm trễ quá mức để trở thành một công cụ của sự thấu hiểu nhạy cảm. Nếu các đệ tử không thể hòa điệu với nhau [38] một cách dễ dàng sau những giai đoạn dài có mối quan hệ chặt chẽ, làm sao họ, với tư cách là một nhóm, có thể hòa điệu với một cá nhân nào đó hoặc một nhóm cá nhân nào đó không được họ biết đến trong phàm ngã của những người đó? Trừ khi sự tương tác như vậy được thiết lập một cách nền tảng và trừ khi có một sự tích hợp chặt chẽ giữa các thành viên cấu thành nhóm, sẽ không thể nào thực hiện và hoàn thành thành công công việc hữu ích mang tính xây dựng, định hướng tinh thần và được kiểm soát. Nhưng đó là một nhiệm vụ mà các bạn có thể hoàn thành nếu các bạn muốn, và sự nỗ lực thực sự trong một khoảng thời gian sẽ cho phép nhóm làm việc trôi chảy và tốt đẹp cùng nhau. Ba Quy luật (Luận về Chánh Thuật, trang 320) dành cho người mới bắt đầu, đã được đưa ra trước đó, thể hiện những bước đầu tiên dẫn đến thái độ cần thiết trong công việc thực sự của Thánh đoàn; đây là mục tiêu của đệ tử đã được chấp nhận.

Secondly: Your constant effort—to be carried forward steadily and slowly—must be to bring about a group love of such strength that nothing can break it and no barriers rise up between you; to cultivate a group sensitivity of such a quality that your diagnosis of conditions will be relatively accurate; to develop and unfold a group ability to work as a unit, so that there will be nothing in the inner attitudes of any of the group members which could break into the carefully established rhythm. For it is quite possible for a member of the group to retard the work and to hold back the group because he is so engrossed in his own affairs or in his own ideas of self-development; when some members cease their activity it does affect the inner group vibration; when others become slowed up by definite changes in their outer or inner lives, this requires periods of adjustment and oft of re-organisation of the life. These changes, being externalised, can produce powerful psychological changes and upset the rhythm of the soul’s endeavour. A tried and [39] experienced disciple will not let such a change upset his inner rhythm, but a less experienced disciple needs real soul watchfulness to the danger of sidetracking the life interest from spiritual purposes to personality attentions and interests.

Thứ hai: Nỗ lực không ngừng của các bạn—được thực hiện một cách đều đặn và chậm rãi—phải là mang lại một tình thương nhóm có sức mạnh đến mức không gì có thể phá vỡ nó và không rào cản nào dựng lên giữa các bạn; trau dồi một sự nhạy cảm nhóm có phẩm chất sao cho sự chẩn đoán của các bạn về các điều kiện sẽ tương đối chính xác; phát triển và mở ra một khả năng nhóm để làm việc như một đơn vị, sao cho không có gì trong các thái độ nội tâm của bất kỳ thành viên nào trong nhóm có thể phá vỡ nhịp điệu đã được thiết lập cẩn thận. Bởi vì hoàn toàn có khả năng một thành viên của nhóm làm chậm trễ công việc và kìm hãm nhóm vì y quá mải mê với công việc riêng của mình hoặc với những ý tưởng tự phát triển của riêng mình; khi một số thành viên ngừng hoạt động, điều đó thực sự ảnh hưởng đến rung động bên trong của nhóm; khi những người khác trở nên chậm chạp bởi những thay đổi xác định trong cuộc sống bên ngoài hoặc bên trong của họ, điều này đòi hỏi các giai đoạn điều chỉnh và thường là tái tổ chức cuộc sống. Những thay đổi này, khi được ngoại hiện, có thể tạo ra những thay đổi tâm lý mạnh mẽ và làm đảo lộn nhịp điệu nỗ lực của linh hồn. Một đệ tử đã được thử thách và [39] có kinh nghiệm sẽ không để sự thay đổi như vậy làm đảo lộn nhịp điệu bên trong của mình, nhưng một đệ tử ít kinh nghiệm hơn cần sự cảnh giác thực sự của linh hồn đối với nguy cơ chuyển hướng mối quan tâm của cuộc sống từ các mục đích tinh thần sang các sự chú ý và lợi ích của phàm ngã.

Thirdly: Any group work of this kind must be most carefully controlled; any group effort which seeks to impress the mind of any subject (whether an individual or a group) must be strenuously guarded as to motive and method; any group endeavour which involves a united applied effort to effect changes in the point of view, an outlook on life, or a technique of living must be utterly selfless, most wisely and cautiously undertaken, and must be kept free from any personality emphasis, any personality pressure and any mental pressure which is formulated in terms of individual belief, prejudice, dogmatism or ideas. I would ask you to study the above few words most carefully.

Thứ ba: Bất kỳ công việc nhóm nào thuộc loại này cũng phải được kiểm soát cẩn thận nhất; bất kỳ nỗ lực nhóm nào tìm cách gây ấn tượng lên tâm trí của bất kỳ đối tượng nào (dù là một cá nhân hay một nhóm) đều phải được bảo vệ nghiêm ngặt về động cơ và phương pháp; bất kỳ nỗ lực nhóm nào liên quan đến một cố gắng áp dụng thống nhất để tạo ra những thay đổi trong quan điểm, cách nhìn về cuộc sống, hoặc kỹ thuật sống đều phải hoàn toàn vị tha, được thực hiện một cách khôn ngoan và thận trọng nhất, và phải được giữ không có bất kỳ sự nhấn mạnh nào về phàm ngã, bất kỳ áp lực nào của phàm ngã và bất kỳ áp lực trí tuệ nào được hình thành dưới dạng niềm tin cá nhân, định kiến, giáo điều hoặc ý tưởng. Tôi yêu cầu các bạn nghiên cứu vài từ trên một cách cẩn thận nhất.

The moment that there is the least tendency on the part of a group, or of an individual in a group, to force an issue, to bring so much mental pressure to bear that an individual or group is helpless under the impact of other minds, you have what is called “black magic.” Right motive may protect the group from any serious results to themselves, but the effect upon their victim will be definitely serious, rendering him negative, and with a weakened will.

Ngay khi có khuynh hướng nhỏ nhất từ phía một nhóm, hoặc một cá nhân trong nhóm, nhằm cưỡng ép một vấn đề, nhằm mang lại quá nhiều áp lực trí tuệ đến mức một cá nhân hoặc nhóm trở nên bất lực dưới tác động của các tâm trí khác, các bạn có cái được gọi là “hắc thuật”. Động cơ đúng đắn có thể bảo vệ nhóm khỏi bất kỳ hậu quả nghiêm trọng nào đối với chính họ, nhưng ảnh hưởng lên nạn nhân của họ sẽ thực sự nghiêm trọng, khiến người đó trở nên tiêu cực, và với một ý chí bị suy yếu.

The result of all true telepathic work and rightly directed effort to “impress” a subject will be to leave him with a strengthened will to right action, an intensified interior light, an astral body freer from glamour, and a physical body more vital and purer. The potency of a united group activity is incredibly powerful. The occult aphorism that “energy follows thought” is either a statement of a truth or else a meaningless phrase.

Kết quả của mọi công việc viễn cảm chân chính và nỗ lực được định hướng đúng đắn để “gây ấn tượng” lên một đối tượng sẽ là để lại cho người đó một ý chí được củng cố đối với hành động đúng đắn, một ánh sáng nội tâm được tăng cường, một thể cảm dục tự do hơn khỏi ảo cảm, và một thể xác đầy sinh lực và tinh khiết hơn. Quyền năng của một hoạt động nhóm thống nhất là vô cùng mạnh mẽ. Câu châm ngôn huyền bí rằng “năng lượng đi theo tư tưởng” hoặc là một phát biểu về một chân lý hoặc là một cụm từ vô nghĩa.

[40]

[40]

Forget not that the method of work of the Hierarchy is that of impression upon the minds of Their disciples, of telepathic work carried on with the Master as broadcaster and the disciple as the recipient of impression and of energy. This reception of impression and energy has a dual effect:

Đừng quên rằng phương pháp làm việc của Thánh Đoàn là phương pháp gây ấn tượng lên tâm trí của các đệ tử của Các Ngài, công việc viễn cảm được thực hiện với Chân sư là người phát và đệ tử là người nhận ấn tượng và năng lượng. Việc tiếp nhận ấn tượng và năng lượng này có tác dụng kép:

1. It brings into activity the latent seeds of action and of habits (good or bad), thus producing revelation, purification, enrichment and usefulness.

1. Nó đưa vào hoạt động các hạt giống tiềm tàng của hành động và thói quen (tốt hay xấu), từ đó tạo ra sự mặc khải, sự thanh lọc, sự làm giàu và tính hữu ích.

2. It vitalises and galvanises the personality into a right relation to the soul, to the environment, and to humanity.

2. Nó tiếp sinh lực và kích thích phàm ngã vào mối quan hệ đúng đắn với linh hồn, với môi trường, và với nhân loại.

It is necessary for you and for all disciples to grasp the correspondence to this hierarchical effort and any effort which you may make in order to work as a group of individuals with groups or individuals. An appreciation of the power which you may let loose, of the dynamic effect which you may succeed in awakening in the subject of your directed thought, and of the impression which you may imprint in the mind and consciousness of the subject should incite you to a guarded purity of life (astral and physical), to a watchfulness over thoughts and ideas, and to a love which will safeguard you from all love of power. Thus you will preserve the integrity of those you seek to help and will be enabled to suggest, to strengthen and to teach subjectively with no undue influence, no forcing, and no infringement of the liberty and spiritual franchise of the person concerned. A difficult task, my brothers, but one to which you are equal, given due attention and obedience to the above three injunctions as to motive, technique and method.

Điều cần thiết cho bạn và cho tất cả các đệ tử là nắm bắt sự tương ứng với nỗ lực này của Thánh đoàn và bất kỳ nỗ lực nào mà các bạn có thể thực hiện để làm việc như một nhóm các cá nhân với các nhóm hoặc các cá nhân khác. Sự đánh giá đúng về quyền năng mà các bạn có thể giải phóng, về tác động năng động mà các bạn có thể thành công trong việc đánh thức ở đối tượng của tư tưởng được định hướng của các bạn, và về ấn tượng mà các bạn có thể in vào tâm trí và tâm thức của đối tượng nên thúc đẩy các bạn đến một sự tinh khiết được bảo vệ của đời sống (cảm dục và hồng trần), đến một sự cảnh giác đối với các tư tưởng và ý tưởng, và đến một tình thương sẽ bảo vệ các bạn khỏi mọi sự ham muốn quyền lực. Như vậy các bạn sẽ bảo tồn sự toàn vẹn của những người các bạn tìm cách giúp đỡ và sẽ có khả năng gợi ý, củng cố và giảng dạy một cách chủ quan mà không có ảnh hưởng thái quá, không cưỡng ép, và không xâm phạm quyền tự do và đặc quyền tinh thần của người liên quan. Một nhiệm vụ khó khăn, các huynh đệ của tôi, nhưng là nhiệm vụ mà các bạn có đủ khả năng, nếu chú ý đúng mức và tuân thủ ba lệnh truyền trên về động cơ, kỹ thuật và phương pháp.

VII. THE SCIENCE OF IMPRESSION—VII. KHOA HỌC VỀ SỰ ẤN TƯỢNG

[41]

[41]

The entire subject of telepathic communication can be approached under a more subjective designation or name, but one which is interpretive of the more universal and prior stage than that of direct telepathic reception. The occultist ever approaches the subject connected with the evolutionary process from the angle of the whole and then the part, from the periphery to the centre, from the universal to the particular. Among Themselves, the Masters do not deal with telepathy as a science warranting consideration, endeavour and impartation; They are concerned primarily with the Science of Impression. The term most often employed by Them is the esoteric equivalent of what the average person means when he says, “I have an impression.” Impression is the subtlest reaction (more or less accurate) to the vibratory mental activity of some other mind or group of minds, of some whole, as its radiatory influence affects the unit or aggregate of units.

Toàn bộ chủ đề về giao tiếp viễn cảm có thể được tiếp cận dưới một tên gọi hoặc định danh chủ quan hơn, nhưng là một định danh diễn giải giai đoạn phổ quát và ưu tiên hơn so với giai đoạn tiếp nhận viễn cảm trực tiếp. Nhà huyền bí học luôn tiếp cận chủ đề liên quan đến quá trình tiến hóa từ góc độ của cái toàn thể và sau đó là bộ phận, từ ngoại vi đến trung tâm, từ cái phổ quát đến cái đặc thù. Giữa Các Ngài với nhau, các Chân sư không giải quyết viễn cảm như một khoa học cần xem xét, nỗ lực và truyền đạt; Các Ngài quan tâm chủ yếu đến Khoa học về Sự Ấn tượng. Thuật ngữ thường được Các Ngài sử dụng nhất là thuật ngữ tương đương trong huyền môn với điều mà người bình thường muốn nói khi y nói, “Tôi có một ấn tượng.” Ấn tượng là phản ứng tinh tế nhất (ít nhiều chính xác) đối với hoạt động rung động của tâm trí của một tâm trí hoặc nhóm tâm trí khác, của một cái toàn thể nào đó, khi ảnh hưởng lan tỏa của nó tác động đến đơn vị hoặc tập hợp các đơn vị.

The first stage of correct telepathic reception is ever the registering of an impression; it is generally vague at the beginning, but as a thought, idea, purpose or intention of the sending agent concretises, it slips into the second stage which appears as a definite thoughtform; finally, that thoughtform makes its impact upon the consciousness of the brain in the location lying just behind the ajna centre and consequently in the area of the pituitary body. It can appear also in the region of the solar plexus centre. But for those Lives Who have surmounted life in the three worlds and Who are not conditioned by the triple mechanism of the personality, the impression is the factor of importance; Their consciousness is impressed, and so sensitive is Their response to the higher impression, that They [42] absorb or appropriate the impression so that it becomes a part of Their own “impulsive energy.”

Giai đoạn đầu tiên của sự tiếp nhận viễn cảm chính xác luôn là việc ghi nhận một ấn tượng; nó thường mơ hồ lúc bắt đầu, nhưng khi một tư tưởng, ý tưởng, mục đích hoặc ý định của tác nhân gửi đi trở nên cụ thể hóa, nó trượt vào giai đoạn thứ hai xuất hiện như một hình tư tưởng xác định; cuối cùng, hình tư tưởng đó tạo ra tác động của nó lên tâm thức của bộ não tại vị trí nằm ngay phía sau trung tâm ajna và do đó trong khu vực của thể yên. Nó cũng có thể xuất hiện trong vùng của trung tâm tùng thái dương. Nhưng đối với những Sự Sống đã vượt qua đời sống trong ba cõi và Những Đấng không bị điều kiện hóa bởi cơ chế tam phân của phàm ngã, ấn tượng là yếu tố quan trọng; Tâm thức của Các Ngài được ấn tượng, và sự đáp ứng của Các Ngài đối với ấn tượng cao hơn nhạy cảm đến mức Các Ngài [42] hấp thụ hoặc chiếm hữu ấn tượng đó để nó trở thành một phần của chính “năng lượng thúc đẩy” của Các Ngài.

This is by no means an easy subject for me to elucidate, and the reasons are two:

Đây hoàn toàn không phải là một chủ đề dễ dàng để tôi giải thích, và có hai lý do:

1. The members of the Hierarchy (among Whom I have the status of Master) (Discipleship in the New Age I, 777) are Themselves in process of learning this Science of Impression. This They do on the levels of the abstract mind, of the intuition, or of manas and buddhi.

1. Các thành viên của Thánh Đoàn (trong đó tôi có địa vị Chân sư) (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, 777) Chính Các Ngài đang trong quá trình học hỏi Khoa học về Sự Ấn tượng này. Các Ngài thực hiện điều này trên các cấp độ của trí trừu tượng, của trực giác, hoặc của manas và bồ đề.

2. The science is as yet without a vocabulary. It is not limited at any stage by thoughtforms but it is limited by word forms; and it is therefore a difficult problem for me to pass on any information anent this subtle mode of communication of which telepathy is in fact but an exoteric externalisation.

2. Khoa học này vẫn chưa có từ vựng. Nó không bị giới hạn ở bất kỳ giai đoạn nào bởi các hình tư tưởng nhưng nó bị giới hạn bởi các hình thức từ ngữ; và do đó, đối với tôi là một vấn đề khó khăn để chuyển tải bất kỳ thông tin nào về phương thức giao tiếp tinh tế này mà viễn cảm thực tế chỉ là một sự ngoại hiện bên ngoài.

Sources of Impression to the Three Planetary Centres—Các Nguồn Ấn Tượng Đến Ba Trung Tâm Hành Tinh