← The Akashic Records

Table of Contents

Table of Contents

Who Was Edgar Cayce?7

Edgar Cayce là ai?7

An Overview of Edgar Cayce on the Akashic Records10

The Nature of the Akashic Records17

Bản chất của Hồ Sơ Akashic17

The Akashic Records, Destiny, and Free Will—Hồ sơ Akasha, Định mệnh, và Tự do ý chí55

The Akashic Records and Influences from Previous Lives—Các Ký Lục Akasha và Ảnh Hưởng từ Những Đời Trước93

The Akashic Records and Planetary Sojourns in Consciousness—Hồ sơ Akashic và các kỳ lưu trú trong tâm thức theo hành tinh133

Sample Edgar Cayce Life Readings—Các Bài Đọc Đời Sống Mẫu của Edgar Cayce175

The Akashic Records

Blueprint for Your Soul

By Edgar Cayce

Copyright © 2017

by the Edgar Cayce Foundation

1st Printing, October 2019

Printed in the U.S.A.

by the Edgar Cayce Foundation.

All rights reserved.

Cover design by Christine Fulcher

Foreword

Who Was Edgar Cayce?

Edgar Cayce là ai?

Edgar Cayce (1877-1945) has been called “the Sleeping Prophet,” “the father of Holistic medicine,” “the miracle man of Virginia Beach,” and “the most documented psychic of all time.” For forty-three years of his adult life, he had the ability to put himself into some kind of self-induced sleep state by lying down on a couch, closing his eyes, and folding his hands over his stomach. This state of relaxation and meditation enabled him to place his mind in contact with all time and space and gave him the ability to respond to any question he was asked. His responses came to be called “readings” and contain insights so valuable that even to this day Edgar Cayce’s work is known throughout the world. Hundreds of books have explored his amazing psychic gift, and the entire range of Cayce material is accessed by tens of thousands of people daily via the Internet.

Edgar Cayce (1877-1945) từng được gọi là “Nhà Tiên tri Ngủ,” “cha đẻ của Y học toàn diện,” “người kỳ diệu của Virginia Beach,” và “nhà thông linh được ghi chép đầy đủ nhất từ trước đến nay.” Suốt bốn mươi ba năm trong đời trưởng thành, Ông có khả năng tự đưa mình vào một trạng thái giống như giấc ngủ do chính mình gây ra bằng cách nằm trên ghế dài, nhắm mắt, và đặt hai tay lên bụng. Trạng thái thư giãn và tham thiền này giúp Ông đặt thể trí của mình tiếp xúc với toàn thể thời gian và không gian, và ban cho Ông khả năng đáp lời bất kỳ câu hỏi nào được nêu ra. Những câu trả lời ấy về sau được gọi là “các bài đọc” và chứa đựng những thấu triệt quý giá đến mức cho đến ngày nay, công trình của Edgar Cayce vẫn được biết đến khắp thế giới. Hàng trăm cuốn sách đã khảo sát năng lực thông linh kỳ diệu của Ông, và toàn bộ tư liệu về Cayce được hàng chục nghìn người truy cập mỗi ngày qua Internet.

Although the vast majority of the Cayce material deals with health and every manner of illness, countless topics were explored by Cayce’s psychic talent: dreams, philosophy, intuition, business advice, the Bible, education, childrearing, ancient civilizations, personal spirituality, improving human relationships, and much more. In fact, during Cayce’s lifetime he discussed an amazing 10,000 different subjects, and the Edgar Cayce database of readings (available to A.R.E. members via the web) consists of a mind-boggling 24 million words!

Dù phần lớn tư liệu của Cayce đề cập đến sức khỏe và mọi dạng bệnh tật, vô số chủ đề khác cũng được năng lực thông linh của Cayce khai mở: chiêm bao, triết học, trực giác, tư vấn kinh doanh, Kinh Thánh, giáo dục, nuôi dạy con cái, các nền văn minh cổ, đời sống tinh thần cá nhân, cải thiện các mối quan hệ giữa người với người, và còn nhiều nữa. Thực vậy, trong cuộc đời mình Cayce đã bàn đến con số ấn tượng 10.000 chủ đề khác nhau, và cơ sở dữ liệu các bài đọc của Edgar Cayce (thành viên A.R.E. có thể truy cập qua web) gồm tới 24 triệu từ—một con số gây choáng ngợp!

The Cayce legacy presents a body of information so valuable that Edgar Cayce himself might have hesitated to predict its impact on contemporary society. Who could have known that eventually terms such as meditation, auras, spiritual growth, reincarnation, and holism would become household words to millions? Edgar Cayce’s A.R.E. (the Association for Research and Enlightenment, Inc.) has grown from its humble beginnings to an association with Edgar Cayce Centers in countries around the world. Today, the Cayce organizations consist of hundreds of educational activities and outreach programs, children’s camps, a publishing company, membership benefits and services, volunteer contacts and programs worldwide, massage and health services, prison and prayer outreach programs, conferences and workshops, Internet and online activities, and affiliated schools (Atlantic University: AtlanticUniv.edu and the Cayce/Reilly School of Massage: CayceReilly.edu).

Di sản Cayce trình bày một kho tàng thông tin quý giá đến mức ngay chính Edgar Cayce có lẽ cũng sẽ ngần ngại nếu phải dự đoán tầm ảnh hưởng của nó đối với xã hội đương đại. Ai có thể biết rằng rốt cuộc những thuật ngữ như tham thiền, hào quang, trưởng thành tinh thần, luân hồi, và toàn thể luận sẽ trở thành những từ quen thuộc của hàng triệu người? A.R.E. của Edgar Cayce (Hiệp hội Nghiên cứu và Khai sáng) đã phát triển từ khởi đầu khiêm tốn thành một hiệp hội với các Trung tâm Edgar Cayce tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, các tổ chức Cayce bao gồm hàng trăm hoạt động giáo dục và các chương trình vươn ra cộng đồng, trại hè cho trẻ em, một công ty xuất bản, các quyền lợi và dịch vụ dành cho hội viên, mạng lưới tình nguyện và chương trình toàn cầu, dịch vụ xoa bóp và chăm sóc sức khỏe, các chương trình tiếp cận nhà tù và cầu nguyện, hội thảo và chuyên đề, hoạt động Internet và trực tuyến, cùng các trường liên kết (Atlantic University và Trường Xoa Bóp Cayce/Reilly).

Edgar Cayce was born and reared on a farm near Hopkinsville, Kentucky. He had a normal childhood in many respects. However, he could see the glowing energy patterns that surround individuals. At a very early age he told his parents that he could also see and talk with his grandfather—who was deceased. Later, he developed the ability to sleep on his schoolbooks and retain a photographic memory of their entire contents.

Edgar Cayce sinh ra và lớn lên trên một trang trại gần Hopkinsville, Kentucky. Tuổi thơ của Ông về nhiều mặt là bình thường. Tuy nhiên, Ông có thể thấy được các mẫu năng lượng phát sáng bao quanh mỗi người. Từ rất sớm Ông đã nói với cha mẹ rằng Ông cũng nhìn thấy và chuyện trò với ông nội—người đã quá cố. Sau đó, Ông phát triển khả năng ngủ trên sách học ở trường và giữ lại trí nhớ như chụp ảnh về toàn bộ nội dung của chúng.

As the years passed, he met and fell in love with Gertrude Evans, who would become his wife. Shortly thereafter, he developed a paralysis of the vocal cords and could scarcely speak above a whisper. Everything was tried, but no physician was able to locate a cause. The laryngitis persisted for months. As a last resort hypnosis was tried. Cayce put himself to sleep and was asked by a specialist to describe the problem. While asleep he spoke normally, diagnosing the ailment and prescribing a simple treatment. After the recommendations were followed, Edgar Cayce could speak normally for the first time in almost a year! The date was March 31, 1901—that was the first reading.

Nhiều năm trôi qua, Ông gặp và đem lòng yêu Gertrude Evans, người sau này trở thành vợ Ông. Chẳng bao lâu sau, Ông bị liệt dây thanh quản và hầu như chỉ có thể nói thì thầm. Mọi cách đều đã thử, nhưng không bác sĩ nào tìm ra nguyên nhân. Chứng viêm thanh quản kéo dài nhiều tháng. Cuối cùng, như một biện pháp sau cùng, thôi miên được thử. Cayce tự đưa mình vào giấc ngủ và được một chuyên gia yêu cầu mô tả vấn đề. Trong khi ngủ Ông nói bình thường, chẩn đoán căn bệnh và kê một liệu pháp đơn giản. Sau khi làm theo các khuyến nghị, Edgar Cayce đã có thể nói bình thường lần đầu tiên sau gần một năm! Ngày ấy là 31 tháng 3 năm 1901—đó là bài đọc đầu tiên.

When it was discovered what had happened, many others began to want help. It was soon learned that Edgar Cayce could put himself into this unconscious state and give readings for anyone—regardless of where they were. If the advice was followed, they got well. Newspapers throughout the country carried articles about his work, but it wasn’t really until Gertrude was stricken with tuberculosis that the readings were brought home to him. Even with medical treatments she continued to grow worse and was not expected to live. Finally, the doctors said there was nothing more they could do. A reading was given and recommended such things as osteopathy, hydrotherapy, inhalants, dietary changes, and prescription medication. The advice was followed, and Gertrude returned to perfectly normal health!

Khi sự việc được biết đến, nhiều người khác bắt đầu muốn được giúp đỡ. Nhanh chóng người ta nhận ra rằng Edgar Cayce có thể tự đưa mình vào trạng thái vô thức này và thực hiện các bài đọc cho bất kỳ ai—bất kể họ ở đâu. Nếu làm theo lời khuyên, họ khỏi bệnh. Báo chí khắp nước đăng tải các bài viết về công việc của Ông, nhưng phải đến khi Gertrude mắc bệnh lao thì các bài đọc mới thật sự chạm đến đời sống của Ông. Dù đã điều trị y khoa, tình trạng của Bà vẫn xấu đi và được dự báo là khó qua khỏi. Cuối cùng, các bác sĩ nói rằng họ không thể làm gì hơn. Một bài đọc được thực hiện và khuyến nghị những thứ như nắn xương, thủy liệu pháp, thuốc hít, thay đổi thực đơn, và dược phẩm kê toa. Làm theo lời khuyên, Gertrude đã trở lại sức khỏe hoàn toàn bình thường!

For decades, the Cayce readings have stood the test of time, research, and extensive study. Further details of Cayce’s life and work are explored in such classic books as There Is a River (1942) by Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) by Jess Stearn, Many Mansions (1950) by Gina Cerminara, and Edgar Cayce: An American Prophet (2000) by Sidney Kirkpatrick.

Trong nhiều thập kỷ, các bài đọc của Cayce đã đứng vững trước thử thách của thời gian, nghiên cứu, và khảo cứu sâu rộng. Những chi tiết thêm về đời sống và công trình của Cayce được khám phá trong các cuốn sách kinh điển như There Is a River (1942) của Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) của Jess Stearn, Many Mansions (1950) của Gina Cerminara, và Edgar Cayce: An American Prophet (2000) của Sidney Kirkpatrick.

Throughout his life, Edgar Cayce claimed no special abilities, nor did he ever consider himself to be some kind of twentieth-century prophet. The readings never offered a set of beliefs that had to be embraced but instead focused on the fact that each person should test in his or her own life the principles presented. Though Cayce himself was a Christian and read the Bible from cover to cover every year of his life, his work was one that stressed the importance of comparative study among belief systems all over the world. The underlying principles of the readings are the oneness of all life, a tolerance for all people, and a compassion and understanding for every major religion in the world.

Suốt đời mình, Edgar Cayce không nhận mình có năng lực đặc biệt nào, cũng không bao giờ tự xem là một vị tiên tri của thế kỷ hai mươi. Các bài đọc không hề đưa ra một hệ tín niệm buộc phải chấp nhận, mà nhấn mạnh rằng mỗi người nên tự kiểm chứng các nguyên lý được trình bày ngay trong chính đời sống của mình. Dẫu bản thân Cayce là một người theo Kitô giáo và đọc Kinh Thánh từ đầu đến cuối mỗi năm trong đời Ông, công trình của Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu so sánh giữa các hệ niềm tin trên khắp thế giới. Những nguyên lý nền tảng của các bài đọc là tính nhất thể của mọi sự sống, lòng khoan dung đối với mọi người, và lòng bi mẫn cùng sự thấu hiểu dành cho mọi tôn giáo lớn trên thế giới.

Today, the Cayce organizations continue the legacy begun by Edgar Cayce with the goal of simply helping people change their lives for the better—physically, mentally, and spiritually—through the ideas in the Edgar Cayce material. Further information about Edgar Cayce’s A.R.E., as well as activities, materials, and services, is available at EdgarCayce.org.

Ngày nay, các tổ chức Cayce tiếp tục di sản do Edgar Cayce khởi xướng với mục tiêu đơn giản là giúp con người thay đổi đời sống theo hướng tốt đẹp hơn—về thể chất, trí tuệ, và tinh thần—thông qua các ý tưởng trong tư liệu Edgar Cayce. Thông tin thêm về A.R.E. của Edgar Cayce, cũng như về các hoạt động, tài liệu và dịch vụ, có sẵn tại trang web của tổ chức.

An Overview of Edgar Cayce on the Akashic Records

Imagine having a computer system that kept track of every event, thought, image, or desire that had ever transpired in the earth. Imagine, as well, that rather than simply a compilation of written data and words, this system contained countless videotape films and pictures, providing the viewer with an eyewitness account of all that had ever happened within any historical timeframe. Imagine, as well, that this enormous database kept track not only of the information from an objective perspective but also maintained the perspectives and emotions of every individual involved. Finally, imagine that this source contained not only information from the past and present but also constantly calculated probable futures based on current events. As incredible as all of this may sound, this description gives a fairly accurate representation of the Akashic Records.

Hãy hình dung có một hệ thống máy tính theo dõi mọi biến cố, tư tưởng, hình ảnh hay ước muốn từng xảy ra trên trái đất. Hơn nữa, hãy hình dung rằng thay vì chỉ là một tập hợp dữ liệu và ngôn từ được ghi chép, hệ thống này còn chứa vô số băng phim và hình ảnh, cung cấp cho người xem những tường trình từ nhân chứng tận mắt về mọi điều từng xảy ra trong bất kỳ khung thời gian lịch sử nào. Hãy hình dung thêm rằng kho dữ liệu khổng lồ này không chỉ theo dõi thông tin từ góc nhìn khách quan mà còn lưu giữ cả các góc nhìn và cảm xúc của từng cá nhân liên đới. Sau cùng, hãy hình dung rằng nguồn dữ liệu này không chỉ chứa thông tin về quá khứ và hiện tại mà còn thường xuyên tính toán các tương lai có khả năng xảy ra dựa trên các sự kiện hiện hành. Dù nghe có vẻ khó tin đến mấy, mô tả này khá chính xác về Hồ Sơ Akasha.

Edgar Cayce, who has been called the most documented psychic of all time as well as a twentieth-century mystic, helped thousands of people through the use of his remarkable intuitive ability. For over forty years, Cayce gave readings, or psychic dissertations, using the Akashic Records as his primary source of information. Cayce’s essential talent was his ability to access and describe information from these records—information that would enable people to discover everything from their essential purpose in life and their talents and abilities to the root cause of a relationship issue or any challenge that they needed to overcome. It was a source of information, Cayce claimed, which was available to everyone.

Edgar Cayce, người được gọi là nhà thông linh được ghi chép đầy đủ nhất từ trước đến nay đồng thời là một nhà thần bí thế kỷ hai mươi, đã trợ giúp hàng nghìn người thông qua năng lực trực giác phi thường của mình. Hơn bốn mươi năm, Cayce thực hiện các bài đọc, hay những bản thuyết giảng thông linh, với Hồ Sơ Akasha là nguồn thông tin chủ yếu. Tài năng cốt yếu của Cayce là khả năng tiếp cận và mô tả thông tin từ những hồ sơ ấy—thông tin giúp con người khám phá mọi điều từ mục đích cốt yếu của đời mình, tài năng và khả năng, cho đến căn nguyên của vấn đề trong một mối quan hệ hay bất kỳ thử thách nào cần vượt qua. Cayce khẳng định đây là một nguồn thông tin mà mọi người đều có thể tiếp cận.

In an effort to describe how this was feasible, Edgar Cayce stated that it was not only possible for individuals to attune to the Akashic Records but that it was something that occurred frequently. Although the records were not physical in nature, an individual in attunement could “hear,” “read,” and “experience” the information, nonetheless. In order to illustrate what an individual might perceive while viewing this information, Cayce told an eighteen-year-old girl that the Akashic Records of the mental world was comparable to a movie theater of the physical world (case #275-19). This movie could be replayed in an effort to understand what had occurred in an individual’s experience in any period, at any time, or while in any place in history. Also, within this data was a record of lessons learned, opportunities lost, faults acquired, and experiences gained.

Để mô tả cách điều này khả thi, Edgar Cayce nêu rằng không chỉ có thể để các cá nhân chỉnh hợp với Hồ Sơ Akasha mà điều ấy còn diễn ra thường xuyên. Dẫu các hồ sơ không có bản chất vật chất, một cá nhân trong trạng thái chỉnh hợp vẫn có thể “nghe,” “đọc,” và “trải nghiệm” thông tin ấy. Để minh họa điều một người có thể tri nhận khi xem thông tin này, Cayce nói với một cô gái mười tám tuổi rằng Hồ Sơ Akasha của thế giới trí tuệ có thể sánh với rạp chiếu bóng của thế giới vật lý (hồ sơ số 275-19). Bộ phim này có thể được chiếu lại để hiểu điều đã xảy ra trong kinh nghiệm của một cá nhân vào bất kỳ giai đoạn nào, vào bất kỳ thời điểm nào, hoặc ở bất cứ nơi đâu trong lịch sử. Đồng thời, trong dữ liệu này có bản ghi về những bài học đã học, cơ hội đã vuột mất, khiếm khuyết đã mang vào, và những kinh nghiệm đã thu hoạch.

In terms of the past, the Akashic Records of the past are associated with soul memory. In fact, Cayce suggested that “karma” was nothing more than memory. Just as a married couple may have very different memories about a past event that they shared, each of us deals only with our own karmic memory. There really is not karma between people; instead, there is only karma with one’s own self. The conceptual challenge, however, is that individuals seem to come to terms most effectively with their own karmic memory, or “meet themselves,” through their interactions with others. It is this interesting dynamic of meeting oneself through relationships with others that often causes individuals to perceive them as the basis of one’s frustrations and challenges rather than accepting personal responsibility. And yet, in spite of the fact that karma belongs to oneself, each soul is constantly drawn toward certain individuals and groups that will enable that individual to meet self in probable circumstances and relationships. Those individuals and groups are, in turn, drawn toward specific people in an effort to come to terms with their own karmic memory.

Xét về quá khứ, Hồ Sơ Akasha của quá khứ gắn với ký ức của linh hồn. Thực tế, Cayce gợi ý rằng “nghiệp quả” không gì khác hơn là ký ức. Cũng như một cặp vợ chồng có thể có ký ức rất khác nhau về một biến cố quá khứ mà họ cùng trải qua, mỗi chúng ta chỉ làm việc với ký ức nghiệp quả của riêng mình. Thực ra không có nghiệp giữa người với người; thay vào đó, chỉ có nghiệp với chính mình. Tuy nhiên, thách thức trong quan niệm này là các cá nhân dường như đi đến hòa giải hiệu quả nhất với ký ức nghiệp quả của chính mình—hay “gặp lại chính mình”—thông qua tương tác với người khác. Chính động học thú vị của việc gặp lại mình qua các mối quan hệ này thường khiến người ta nhìn nhận chúng như là nguồn căn của thất vọng và thử thách, thay vì chấp nhận trách nhiệm cá nhân. Tuy vậy, dù nghiệp quả thuộc về riêng mình, mỗi linh hồn không ngừng bị hấp dẫn đến với những cá nhân và nhóm người nhất định—những người sẽ giúp cá nhân ấy gặp lại mình trong các tình huống và quan hệ có khả năng xảy ra. Đến lượt mình, những cá nhân và nhóm ấy cũng bị hấp dẫn đến với những người cụ thể để có thể hòa giải với ký ức nghiệp quả của chính họ.

In terms of how memory from past lives can affect us in the present, there are many interesting examples in the Cayce files, including one that deals with John Jay (1745-1829)—a figure from American history. As background information, John Jay was one of the leading political figures during the American Revolution. He sought stability in the new nation and favored continued close ties with Britain. He served the U.S. as a diplomat to both Spain and France. One of the authors of the Federalist papers, he favored a strong national government sympathetic to industry and commerce. George Washington appointed him the first chief justice of the U.S. Supreme Court. In time, he resigned from the Supreme Court and served as governor of New York.

Về cách ký ức từ những đời sống quá khứ có thể ảnh hưởng đến chúng ta trong hiện tại, có nhiều ví dụ thú vị trong hồ sơ Cayce, gồm một trường hợp liên quan đến John Jay (1745-1829)—một nhân vật lịch sử Hoa Kỳ. Vài thông tin nền: John Jay là một trong những nhân vật chính trị hàng đầu thời Cách mạng Mỹ. Ông tìm kiếm sự ổn định cho quốc gia mới và thiên về việc duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Anh. Ông phục vụ Hoa Kỳ với tư cách nhà ngoại giao tại Tây Ban Nha và Pháp. Là một trong các tác giả của các bài Federalist, ông thiên về một chính quyền quốc gia mạnh mẽ, ủng hộ công nghiệp và thương mại. George Washington bổ nhiệm ông làm Chánh án đầu tiên của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Sau đó, ông từ nhiệm Tối cao Pháp viện và làm Thống đốc New York.

During the Continental Congress, Jay was apparently in a tavern and noticed a beautiful young woman who was working as a waitress. He commented to Colonel Morris, his companion, that she was one of the most beautiful women he had ever seen. He stated that her beauty was partially due to the fact her face was the color of the inside of a conch shell. Apparently, the two men retold the story repeatedly at the Continental Congress—they had met the most beautiful woman in the world, but they were not going to tell anyone where she worked. The story became known as the “Conch shell beauty” and was so well known that it was retold in a biography about Jay: John Jay: Defender of Liberty, by Frank Monaghan (1935).

Trong thời kỳ Đại hội Lục địa, Jay dường như ở trong một quán trọ và để ý thấy một cô gái trẻ xinh đẹp làm phục vụ. Ông nói với Đại tá Morris, người đi cùng, rằng cô là một trong những phụ nữ đẹp nhất ông từng gặp. Ông nói vẻ đẹp của cô một phần là do gương mặt cô có màu như bên trong của vỏ ốc tù và. Có vẻ hai người đã kể lại câu chuyện ấy nhiều lần tại Đại hội Lục địa—họ đã gặp người phụ nữ đẹp nhất thế gian, nhưng sẽ không nói cho ai biết cô làm ở đâu. Câu chuyện được gọi là “Vẻ đẹp vỏ ốc tù và” và nổi tiếng đến mức được kể lại trong một tiểu sử về Jay: John Jay: Defender of Liberty, của Frank Monaghan (1935).

Prior to the publication of that book, a four-year-old boy was walking along a Florida beach with his nanny and stopped to pick up a shell. He asked her what it was, and she replied, “That’s a conch shell.” The little boy looked confused and an unusual idea entered his head and he asked her, “Can a person’s face be the color of a conch shell?” Two years later that little boy had a reading and was told that he had been John Jay. That is karmic memory.

Trước khi cuốn sách ấy xuất bản, một cậu bé bốn tuổi đang đi dọc bãi biển Florida cùng bảo mẫu và dừng lại nhặt một vỏ ốc. Cậu hỏi cô đó là gì, và cô trả lời, “Đó là vỏ ốc tù và.” Cậu bé trông có vẻ bối rối và một ý nghĩ lạ lùng thoáng qua trong đầu, cậu hỏi cô, “Mặt của một người có thể có màu như vỏ ốc tù và không?” Hai năm sau, cậu bé ấy có một bài đọc và được cho biết cậu đã từng là John Jay. Đó là ký ức nghiệp quả.

While giving a reading to a twenty-eight-year-old freight agent (case #416-2), Edgar Cayce tried to define these records further. Not only did he discuss what the Akashic Records were but he explained how they were written and clarified how an individual could gain access to the information. Apparently, any type of endeavor—whether action, thought, desire, or deed—creates some kind of activity of vibration. This vibration produces a mark upon (what Cayce called) the skein of space and time and is somehow permanently identified with the individual responsible. Although unseen, it is an etheric energy that is as evident to a sensitive as the printed word is to a sighted person.

Khi thực hiện bài đọc cho một nhân viên giao nhận hàng hai mươi tám tuổi (hồ sơ số 416-2), Edgar Cayce cố gắng định nghĩa các hồ sơ này sâu hơn. Ông không chỉ bàn về Hồ Sơ Akasha là gì mà còn giải thích cách chúng được ghi lại và làm rõ cách một cá nhân có thể tiếp cận thông tin. Rõ ràng, bất kỳ nỗ lực nào—dù là hành động, tư tưởng, ước muốn hay việc làm—đều tạo ra một dạng hoạt động của rung động. Rung động này tạo nên một dấu ấn trên (theo cách Cayce gọi) cuộn chỉ của không gian và thời gian, và bằng cách nào đó gắn vĩnh viễn với cá nhân chịu trách nhiệm. Tuy vô hình, đó là một năng lượng dĩ thái rõ ràng đối với người nhạy cảm chẳng khác nào chữ in đối với người có thị lực.

Since these records are so complete, so accurate, and so individualized, a logical question might be, Just what is the purpose of the Akashic Records in the first place? Simply put, the answer has to do with keeping track of and assisting with each soul’s personal growth and transformation. Interestingly enough, the Bible refers to these Akashic Records as “the Book of Life” and suggests that the deeds of the soul are essentially judged by that which is written in the Book of Life.

Vì các hồ sơ này quá đầy đủ, quá chính xác, và quá cá biệt, một câu hỏi hợp lý có thể là, Rốt cuộc mục đích của Hồ Sơ Akasha là gì? Nói giản dị, câu trả lời liên quan đến việc theo dõi và trợ giúp sự trưởng thành và chuyển hóa cá nhân của mỗi linh hồn. Điều thú vị là Kinh Thánh đề cập đến các Hồ Sơ Akasha như “Sách Sự Sống” và gợi rằng các việc làm của linh hồn xét cho cùng được phán xét theo điều được chép trong Sách Sự Sống.

The Edgar Cayce readings describe how each of us writes the stories of our lives through our thoughts, our deeds, and our interactions with other people. Our karmic memory of others does not destine the outcome of any relationship; instead it provides an “energetic impact” upon our subconscious thought-processes. In other words, we have to deal with our own subconscious feelings in our encounters with other people even when those feelings do not necessarily have their roots in the present. Everyone has encountered this dynamic, even though he or she may not be aware of it. It is easy to become conscious of these experiences because they essentially entail emotional responses to a situation (positive or negative) that are more emotionally charged or more heightened than the situation itself.

Các bài đọc Edgar Cayce mô tả cách mỗi chúng ta viết câu chuyện đời mình qua tư tưởng, việc làm, và tương tác với người khác. Ký ức nghiệp quả về người khác không định đoạt kết cục của bất kỳ mối quan hệ nào; thay vào đó, nó tạo nên một “tác động năng lượng” lên các tiến trình tư tưởng của tiềm thức. Nói cách khác, chúng ta phải đối diện với các cảm xúc tiềm thức của chính mình trong những lần chạm mặt người khác, ngay cả khi các cảm xúc ấy không nhất thiết bắt nguồn từ hiện tại. Ai cũng từng trải nghiệm động học này, dù có thể không tự nhận biết. Rất dễ trở nên ý thức về những trải nghiệm ấy, bởi chúng thường là những đáp ứng cảm xúc với một tình huống (tích cực hay tiêu cực) mà mức độ cảm xúc mạnh hơn hay cao trào hơn chính tình huống đó.

Essentially, Edgar Cayce’s cosmology of the entire universe can be summed up as follows: God is essentially love and the Universe is completely orderly. Beyond that concept is the premise that each individual was purposefully created, as a soul, to become a companion with the Creator. Life did not begin at the moment of physical birth, rather there was an existence in spirit prior to physicality. God gave to each soul complete freedom of choice and the opportunity to find expression—to find self so to speak. Because souls were created in God’s image, it would be only through a process of personal experiences—one choice leading to another, and then another, and then another—that God’s companions could gain their own individuality, truly being a part of Him and yet individuals in their own right. Once they had discovered their individuality, they would once again return in consciousness to be His companions and co-creators.

Cô đọng lại, vũ trụ luận của Edgar Cayce về toàn thể vũ trụ có thể tóm gọn như sau: Thượng đế về bản chất là tình thương và Vũ trụ hoàn toàn có trật tự. Vượt lên trên khái niệm ấy là tiền đề rằng mỗi cá nhân đã được tạo dựng có chủ ý, như một linh hồn, để trở thành bạn đồng hành với Đấng Sáng Tạo. Sự sống không bắt đầu tại khoảnh khắc sinh ra về thể chất; đúng hơn, đã có một hiện hữu trong tinh thần trước khi có vật chất. Thượng đế ban cho mỗi linh hồn tự do chọn lựa hoàn toàn và cơ hội để biểu lộ—để tìm thấy chính mình, có thể nói như vậy. Bởi linh hồn được tạo theo hình ảnh Thượng đế, nên chỉ qua một tiến trình trải nghiệm cá nhân—một chọn lựa dẫn đến chọn lựa khác, rồi lại chọn lựa khác—các bạn đồng hành của Thượng đế mới có thể đạt được tính cá thể của riêng mình, thực sự là một phần của Ngài nhưng vẫn là những cá thể theo quyền riêng của mình. Khi họ khám phá ra tính cá thể, họ sẽ lại trở về trong tâm thức để làm bạn đồng hành và đồng sáng tạo với Ngài.

According to the readings, the soul, basically creative in nature, longs to find self-expression. In fact, the essential question repeatedly posed by the soul might be: Who Am I? This question is addressed in infinite ways as each soul chooses specific experiences to meet itself. The soul gains firsthand knowledge not only about its own identity but also learns how choices may lead to certain experiences. In time, soul experiences and acquired knowledge will lead to wisdom. Inevitably, wisdom will lead to compassion and eventually love will be the end result. At this point, the soul will know its individual identity as well as its true relationship with God. The soul will have come to understand that its primary essence and God’s are one and the same, LOVE.

Theo các bài đọc, linh hồn, vốn có bản tính sáng tạo, khát khao tự biểu lộ. Thật vậy, câu hỏi cốt yếu mà linh hồn lặp đi lặp lại có thể là: Tôi là ai? Câu hỏi này được đối diện theo vô vàn cách khi mỗi linh hồn chọn những trải nghiệm cụ thể để gặp lại chính mình. Linh hồn thu nhận tri thức trực nghiệm không chỉ về căn tính của mình mà còn học cách những chọn lựa có thể dẫn đến những trải nghiệm nhất định. Theo thời gian, các trải nghiệm và tri thức thu được sẽ dẫn đến minh triết. Tất yếu, minh triết sẽ dẫn đến bi mẫn và rốt cuộc tình thương sẽ là kết quả sau cùng. Lúc ấy, linh hồn sẽ biết căn tính cá thể của mình cũng như mối quan hệ chân thật với Thượng đế. Linh hồn sẽ thấu hiểu rằng bản thể chủ chốt của mình và của Thượng đế là một và như nhau, TÌNH THƯƠNG.

For its own part, the soul finds itself in a physical body in an attempt to experience the dynamics of cause and effect, eventually learning to manifest perfect love, and, in time, becoming a fit companion for the Creator. The Akashic Records are essentially our personal tool for keeping track of the lessons we have learned and still need to master on the soul’s wholeness curriculum. Ultimately, where is all of this leading? Why are we supposed to be working on loving one another and dealing with issues we have with one another? The answer is so that we can become worthy companions of an all-loving Creator. The soul is destined to grow (and eventually awaken) to an awareness of its true relationship to God. Whatever it takes to bring about this growth in consciousness is exactly what the Akashic Records will continually draw toward the soul. Cayce asked one individual, how much longer “can the will of man continue to defy its Maker?” (826-8)

Về phần mình, linh hồn tìm thấy chính mình trong một thể xác nhằm trải nghiệm động học của nhân và quả, sau rốt học biết biểu lộ tình thương hoàn thiện, và theo thời gian trở nên một bạn đồng hành xứng hợp cho Đấng Sáng Tạo. Hồ Sơ Akasha về căn bản là công cụ cá nhân của chúng ta để theo dõi những bài học đã học và còn cần làm chủ trong giáo trình viên mãn của linh hồn. Sau cùng, tất cả điều này dẫn đến đâu? Vì sao chúng ta được kỳ vọng phải làm việc trên việc yêu thương nhau và xử lý những vấn đề chúng ta có với nhau? Câu trả lời là để chúng ta có thể trở thành những bạn đồng hành xứng đáng của một Đấng Sáng Tạo đầy tình thương. Linh hồn được định phận để lớn lên (và rốt cuộc tỉnh thức) đến sự nhận biết mối quan hệ chân thật của nó với Thượng đế. Dù cần điều gì để đưa đến sự tăng trưởng trong tâm thức, đó chính là điều mà Hồ Sơ Akasha sẽ không ngừng thu hút đến với linh hồn. Cayce hỏi một người: “Ý chí của con người còn có thể thách thức Đấng Tạo Hóa đến bao lâu nữa?” (826-8)

Kevin J. Todeschi, author

Kevin J. Todeschi, tác giả

Edgar Cayce on the Akashic Records,

Edgar Cayce về Hồ Sơ Akasha,

and Executive Director & CEO

và Giám đốc Điều hành & CEO

Edgar Cayce’s A.R.E. / Atlantic University

A.R.E. của Edgar Cayce / Atlantic University

1

The Nature of the Akashic Records—Bản chất của Hồ Sơ Akasha

12/14/33 Edgar Cayce lectured in Norfolk, Virginia on CONTINUITY OF LIFE, relating the following dream which he had experienced many times, since the early 1920’s, when giving a Life Reading:

14/12/33 Edgar Cayce thuyết giảng tại Norfolk, Virginia về TÍNH LIÊN TỤC CỦA SỰ SỐNG, kể lại giấc mơ sau đây mà Ông đã trải nghiệm nhiều lần, từ đầu thập niên 1920, khi thực hiện một Bài Đọc Đời Sống:

294-19 Report File

294-19 Hồ sơ Báo cáo

“I see myself as a tiny dot out of my physical body, which lies inert before me. I find myself oppressed by darkness and there is a feeling of terrific loneliness. Suddenly, I am conscious of a white beam of light. As this tiny dot, I move upward following the light, knowing that I must follow it or be lost.

“Tôi thấy mình như một chấm nhỏ tách khỏi thể xác của mình, vốn đang nằm bất động trước mặt tôi. Tôi thấy mình bị đè nặng bởi bóng tối và có cảm giác cô độc khủng khiếp. Bất chợt, tôi ý thức về một tia sáng trắng. Là chấm nhỏ này, tôi đi lên theo luồng sáng, biết rằng tôi phải theo nó kẻo sẽ lạc mất.

“As I move along this path of light I gradually become conscious of various levels upon which there is movement. Upon the first levels there are vague, horrible shapes, grotesque forms such as one sees in nightmares. Passing on, there begin to appear on either side misshapen forms of human beings with some part of the body magnified. Again there is change and I become conscious of gray-hooded forms moving downward. Gradually, these become lighter in color. Then the direction changes and these forms move upward and the color of the robes grows rapidly lighter. Next, there begin to appear on either side vague outlines of houses, walls, trees, etc., but everything is motionless. As I pass on, there is more light and movement in what appear to be normal cities and towns. With the growth of movement I become conscious of sounds, at first indistinct rumblings, then music, laughter, and singing of birds. There is more and more light, the colors become very beautiful, and there is the sound of wonderful music. The houses are left behind, ahead there is only a blending of sound and color. Quite suddenly I come upon a hall of records. It is a hall without walls, without ceiling, but I am conscious of seeing an old man who hands me a large book, a record of the individual for whom I seek information.”

“Khi đi dọc con đường ánh sáng này, tôi dần ý thức về những tầng bậc khác nhau nơi có sự chuyển động. Ở các tầng đầu tiên có những hình dạng mơ hồ, đáng sợ, những hình thù kỳ quái như trong ác mộng. Đi tiếp, hai bên bắt đầu xuất hiện những hình người méo mó với một phần thân thể phóng đại. Lại có sự thay đổi và tôi ý thức về những hình dáng khoác mũ trùm màu xám đang đi xuống. Dần dần, chúng trở nên nhạt màu hơn. Rồi hướng chuyển đổi và các hình này đi lên, màu áo choàng nhanh chóng sáng hơn. Kế đến, hai bên bắt đầu xuất hiện những đường nét mờ nhạt của nhà cửa, tường, cây cối, v.v., nhưng mọi thứ đều bất động. Khi tôi đi tiếp, có nhiều ánh sáng hơn và nhiều chuyển động hơn trong những gì có vẻ là các thành phố và thị trấn bình thường. Cùng với sự gia tăng chuyển động, tôi ý thức về âm thanh, lúc đầu là những tiếng ầm ì mơ hồ, rồi âm nhạc, tiếng cười và tiếng chim hót. Ánh sáng ngày càng nhiều, màu sắc trở nên rất đẹp, và có âm thanh của âm nhạc tuyệt vời. Nhà cửa đã lùi lại phía sau, phía trước chỉ còn là một sự hòa quyện của âm thanh và màu sắc. Bất chợt tôi đi đến một đại sảnh của hồ sơ. Đó là một đại sảnh không tường, không trần, nhưng tôi ý thức thấy một ông già trao cho tôi một cuốn sách lớn, bản ghi chép về cá nhân mà tôi tìm kiếm thông tin.”

Reading 1650-1

Bài đọc 1650-1

Upon time and space is written the thoughts, the deeds, the activities of an entity—as in relationships to its environs, its hereditary influence; as directed—or judgment drawn by or according to what the entity’s ideal is.

Trên thời gian và không gian được viết những tư tưởng, việc làm, hoạt động của một thực thể—như trong các tương quan với môi trường của nó, ảnh hưởng di truyền của nó; như được hướng dẫn—hoặc phán xét được rút ra bởi hay tùy theo lý tưởng của thực thể ấy là gì.

Hence, as it has been oft called, the record is God’s book of remembrance; and each entity, each soul—as the activities of a single day of an entity in the material world—either makes same good or bad or indifferent, depending upon the entity’s application of self towards that which is the ideal manner for the use of time, opportunity and the EXPRESSION of that for which each soul enters a material manifestation.

Do đó, như thường được gọi, hồ sơ là quyển sách tưởng niệm của Thượng đế; và mỗi thực thể, mỗi linh hồn—như các hoạt động của một ngày của một thực thể trong thế giới vật chất—đều làm cho cùng một điều ấy trở thành thiện hay ác hay dửng dưng, tùy thuộc vào việc thực thể ấy ứng dụng chính mình như thế nào đối với phương cách lý tưởng để sử dụng thời gian, cơ hội và SỰ BIỂU LỘ cho mục đích mà mỗi linh hồn bước vào một hiện thân vật chất.

The interpretation then as drawn here is with the desire and hope that, in opening this for the entity, the experience may be one of helpfulness and hopefulness.

Vậy, lời diễn giải được rút ra ở đây là với ước muốn và hy vọng rằng, khi mở điều này cho thực thể, kinh nghiệm ấy có thể là một điều hữu ích và đầy hy vọng.

Thus, in seeing self as it really is before the SELF, before the Throne, before the Universal Consciousness, it is the hope that this will bring a better understanding as to what the purposes of an experience are in the material plane; with the daily activities and urges that arise from material circumstance, mental attitudes and the work to be accomplished of whatever nature this may be.

Thế nên, khi thấy chính mình như thực sự là trước CHÍNH MÌNH, trước Thánh Ngai, trước Tâm thức Vũ trụ, chúng ta hy vọng rằng điều này sẽ mang lại một sự hiểu biết tốt hơn về mục đích của một trải nghiệm nơi cõi vật chất là gì; cùng với các hoạt động hàng ngày và các thôi thúc nảy sinh từ cảnh huống vật chất, thái độ trí tuệ và công việc phải hoàn thành—dù bản chất là gì đi nữa.

Hence we find from the records, the astrological aspects or sojourns of the entity or soul between its earthly manifestations indicate that which has been a part of the entity’s experience.

Bởi vậy, chúng tôi tìm thấy từ các hồ sơ, các phương diện chiêm tinh hoặc những cuộc hành trình của thực thể hay linh hồn giữa các lần nhập thế nơi trần gian chỉ ra điều vốn là một phần trong kinh nghiệm của thực thể.

For as the tree falls, so may it lie.

Vì cây ngã theo chiều nào, nó có thể nằm theo chiều ấy.

Reading 416-2

Bài đọc 416-2

GC: You will have before you the body and enquiring mind of [416], present in this room; also the information which has been given him through this channel, upon which he seeks expansion, clarification, and further information, advice and guidance as to how he may make practical application of such in his present life. After giving such a reading, you will then answer the questions he submits, as I ask them:

GC: Ông sẽ có trước Ông thân thể và thể trí truy vấn của [416], hiện diện trong phòng này; cũng như thông tin đã được cung cấp cho y qua kênh này, mà trên đó y tìm kiếm sự mở rộng, làm sáng tỏ, và thêm thông tin, lời khuyên và sự hướng dẫn về cách y có thể ứng dụng thực tiễn những điều ấy trong đời sống hiện tại. Sau khi cho một bài đọc như vậy, Ông sẽ trả lời các câu hỏi y nêu ra, như tôi sẽ hỏi:

EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, [416], present in this room, and the information that has been given respecting this body and the soul activity in the varied environs that influence the body in its present experience.

EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, thể trí truy vấn, [416], hiện diện trong phòng này, và thông tin đã được cung cấp liên quan đến thân thể này và hoạt động của linh hồn trong những môi trường đa dạng đang ảnh hưởng thân thể trong trải nghiệm hiện tại.

Then, in aiding the body to make a practical application of that which has been or may be given in information of such a nature or through such a channel, it would be well that the body understand as to how and from what sources such information may come; that there may be seen as to how practical that which may be given may be made in the self’s own experience in this particular period.

Vậy, để giúp thân thể ứng dụng thực tiễn điều đã hoặc có thể được ban cho dưới dạng thông tin thuộc loại này hay qua kênh như vậy, tốt nhất là thân thể hiểu được thông tin như thế đến từ đâu và từ nguồn nào; để có thể thấy được mức độ thực tiễn mà điều có thể được ban cho có thể trở thành trong trải nghiệm riêng của tự ngã trong giai đoạn đặc thù này.

When there is the thought or the activity of the body in any particular environ, this very activity makes for the impressions upon the soul. For, the soul is that body which lives on into infinity, and is the companion of the particular body only in a particular or individual experience.

Khi có tư tưởng hoặc hoạt động của thân thể trong bất kỳ môi trường nào, chính hoạt động ấy tạo nên ấn tượng trên linh hồn. Bởi linh hồn là cái thân thể sống tiếp vào cõi vô tận, và chỉ làm bạn đồng hành với thân thể đặc thù trong một trải nghiệm riêng biệt hay cá thể.

As to the records made by such an activity, these are written upon what is known as time or space; much in the form or manner as are the messages that are of a familiar nature to the body in its present activity. As the instruments of recording are used, so does the activity of ENERGY expended leave its imprint upon the etheric wave that records between time and space that DESIRED to be put, as to that impelling or producing. Just as the figures or characters make for communications between individuals, so does the soul upon the pages or records of time and space.

Về các hồ sơ được lập bởi hoạt động như vậy, chúng được viết trên cái được biết như là thời gian hoặc không gian; rất giống với hình thức hay phương thức mà các thông điệp quen thuộc với thân thể trong hoạt động hiện tại của nó được ghi lại. Khi các dụng cụ ghi nhận được sử dụng, chính hoạt động của NĂNG LƯỢNG được tiêu hao để lại dấu ấn của nó trên làn sóng dĩ thái ghi nhận giữa thời gian và không gian điều được MONG MUỐN đặt vào đó, như là điều đang thúc đẩy hay tạo tác. Cũng như các con số hoặc ký tự tạo nên sự giao tiếp giữa các cá nhân, linh hồn cũng vậy trên các trang hay hồ sơ của thời gian và không gian.

Then, this body through whom the information comes being in accord or attune, by the subjugation of consciousness into materiality, becomes the channel through which such records may be read.

Vậy, thân thể này—thông qua đó thông tin đến—khi hòa điệu hay chỉnh hợp, bằng việc quy phục ý thức vào vật chất, trở thành kênh qua đó các hồ sơ như vậy có thể được đọc.

The interpretation of the records, then, depends upon how good a reader the body is, or how well in accord with the varied experiences through which the entity seeking has passed—or the records that have been made by that soul. Hence, there may be much more of a detailed record read of an experience through which both souls passed, than of environs that were not a portion of that soul so interpreting the activities.

Sự diễn giải các hồ sơ, như thế, tùy thuộc vào mức độ người đọc là một độc giả giỏi đến đâu, hoặc mức độ hòa điệu tốt đến đâu với những trải nghiệm đa dạng mà thực thể đang cầu tìm đã trải qua—hay với các hồ sơ do linh hồn ấy đã lập. Do đó, có thể đọc được chi tiết nhiều hơn về một trải nghiệm mà cả hai linh hồn đều đã đi qua, so với nơi chốn không thuộc phần của linh hồn đang diễn giải các hoạt động ấy.

But each soul as this, [416], has made a definite record just as clear as that which may be written with ink and pen or with any other type, style or form of transmitting or recording that activity of an individual soul.

Nhưng mỗi linh hồn như linh hồn này, [416], đều đã lập một hồ sơ dứt khoát rõ ràng chẳng khác gì điều có thể được viết bằng mực và bút hay bằng bất kỳ kiểu loại, phong cách hay hình thức nào khác để truyền tải hoặc ghi lại hoạt động của một linh hồn cá thể.

Then, in using that which has been given respecting this soul’s activity in the earth, that there may be the greater influences in the experience in the present, it is just the same activity as the training of a mind into those fields of activity that may be used by the entity or soul or body in its relations and dealings with others.

Vậy, khi sử dụng điều đã được ban cho liên quan đến hoạt động của linh hồn này nơi trần gian, để có thể tạo những ảnh hưởng lớn lao hơn trong trải nghiệm hiện tại, đó chính là hoạt động tương tự như việc rèn luyện một thể trí trong những lĩnh vực hoạt động có thể được thực thể hay linh hồn hay thân thể sử dụng trong các mối tương quan và giao tiếp với người khác.

Reading 275-19

Bài đọc 275-19

As we find, the record as is BUILDED by an entity in the akashian record is to the mental world as the cinema is to the material or physical world, as pictured in its activity. So, in the direction to an entity and its entrance into the material plane in a given period, time, place—which indicate the relative position of the entity as related to the universe or to the universal sources—then one only turns, as it were, to those RECORDS in the akashian forms to read that period of that builded or that lost during THAT experience.

Như chúng ta thấy, hồ sơ được XÂY DỰNG bởi một thực thể trong hồ sơ Akasha đối với thế giới trí tuệ cũng như điện ảnh đối với thế giới vật chất, được hình họa trong hoạt động của nó. Thế nên, trong việc định hướng cho một thực thể và sự đi vào cõi vật chất ở một giai đoạn, thời điểm, địa điểm nhất định—những điều chỉ ra vị thế tương đối của thực thể liên hệ với vũ trụ hay với các nguồn phổ quát—khi ấy người ta chỉ cần, như thể là, quay sang những HỒ SƠ trong các hình thức Akasha để đọc giai đoạn của điều đã được xây dựng hay đã bị đánh mất trong TRẢI NGHIỆM ấy.

Reading 757-8

Bài đọc 757-8

Yes, we have the entity and those relations with the universe and universal forces, that are latent and manifested in the personalities of the entity now known as—or called—[757], as recorded by the experiences in the soul’s activity and journey through the environs that make for those impressions—or those that become manifested influences or forces in the experience of an entity in its present sojourn in the earth.

Vâng, chúng ta có thực thể và những tương quan của y với vũ trụ và các lực vũ trụ, vốn tiềm ẩn và biểu lộ trong các phàm ngã của thực thể hiện được biết đến—hay gọi là—[757], như được ghi lại bởi những kinh nghiệm trong hoạt động của linh hồn và cuộc hành trình của y qua các môi trường tạo nên những ấn tượng—hay những điều trở thành các ảnh hưởng hay mãnh lực biểu lộ trong trải nghiệm của một thực thể trong kỳ trú ngụ hiện tại nơi trần gian.

Questions naturally arise in this particular experience of this entity as to how or in what manner the records are made of an entity’s sojourn or activity in a sphere or space, so that there are the abilities of one to read or interpret same. Are they as letters written? Are they as pictures of the experiences of an entity? Are they in forms as of omens or characters that represent certain influences or activities about the earth? Yea, all of these, my friend, and more; for they are as but the skein of life itself, the expression of a divine force from the God-Father itself, making manifestations in forms that become manifestations in a material experience. For truly to be absent from the body is to be present with those infinite influences and forces that may act upon and be acted upon, from the emanations of divine influences that may be either visions as picturized, written as thought in characterizations from the various influences through which such entities make for the communication—whether in ideas or in characters that represent those ideas in their expressions as one to another. As in all forms of communicative influences from one entity or soul to another—in a look, in an expression of some portion of the anatomical influences or form, or from word, or from the turn as from the cut or form of eye, shape or form of mouth, the rising of the brow, or in any communicative influences—these either bespeak of those things that are for the aggrandizement of self’s own motives or impulses, or are the expressions of that purpose, that desire, whereunto such a soul or expression or entity has been called. These are forms or manners through which such are written, as in the Book of Life; and may be read and known of men. For that which is done in secret is proclaimed from the housetop.

Trong trải nghiệm đặc thù này của thực thể, các câu hỏi tự nhiên khởi sinh về việc các hồ sơ về kỳ trú ngụ hay hoạt động của một thực thể trong một thiên cầu hay khoảng không được lập như thế nào hoặc theo cách nào; để cho có khả năng đọc hay diễn giải chúng. Chúng có như những chữ viết không? Chúng có như những bức họa về các trải nghiệm của một thực thể không? Chúng có ở trong những hình thức như điềm báo hay ký tự tượng trưng cho các ảnh hưởng hay hoạt động nào đó quanh trái đất không? Phải, tất cả những điều ấy, bạn thân mến, và còn hơn thế nữa; bởi chúng như là cuộn chỉ của chính sự sống, là sự biểu lộ của một mãnh lực thiêng liêng từ chính Thượng đế-Cha, tạo nên các biểu hiện trong những hình thức trở thành các biểu lộ trong một trải nghiệm vật chất. Bởi thực vậy, rời khỏi thể xác là hiện diện với những ảnh hưởng và mãnh lực vô biên có thể tác động lên, và bị tác động bởi, từ những phát xạ của các ảnh hưởng thiêng liêng—chúng có thể là thị kiến như được hình ảnh hóa, được viết như tư tưởng trong những ký tự xuất phát từ những ảnh hưởng đa dạng mà qua đó các thực thể như vậy làm nên sự giao tiếp—dù dưới dạng ý niệm hay dưới dạng những ký tự tượng trưng cho các ý niệm ấy trong biểu đạt của chúng từ người này sang người khác. Cũng như trong mọi hình thức ảnh hưởng giao tiếp từ thực thể hay linh hồn này sang linh hồn khác—trong một ánh nhìn, trong một biểu hiện nào đó của phần ảnh hưởng hay hình thể giải phẫu, hay bằng lời, hay bởi nét nhấn như ở đường cắt hay hình dạng con mắt, hình dáng đôi môi, đường cong của vầng trán, hoặc bằng bất kỳ ảnh hưởng giao tiếp nào—chúng hoặc nói lên những điều nhằm đề cao động cơ hay xung lực của tự ngã, hoặc là những biểu lộ của mục đích, của ước muốn, mà vì đó linh hồn hay biểu đạt hay thực thể như vậy đã được triệu gọi. Đó là những hình thức hay cách thức qua đó những điều như vậy được viết, như trong Sách Sự Sống; và có thể được đọc và biết bởi loài người. Bởi điều gì được làm trong kín ẩn sẽ được loan ra trên mái nhà.

Reading 254-68

Bài đọc 254-68

(Q) What is the significance of the experience had during reading [373-2] Wednesday afternoon, July 12th, in which Edgar Cayce saw himself travelling through water in a bubble and arriving at the place where he always gets the information—the old man with the books?

(H) Ý nghĩa của trải nghiệm đã có trong bài đọc [373-2] chiều thứ Tư, 12 tháng Bảy, trong đó Edgar Cayce thấy chính mình di chuyển dưới nước trong một bong bóng và đi đến nơi Ông luôn nhận thông tin—người già với những cuốn sách—là gì?

(A) To bring from one realm to another those experiences through which an entity, a soul, may pass in obtaining those reflections that are necessary for transmission of the information sought, it becomes necessary (for the understanding of those in that realm seeking) to have that which is to the mental being put in the language of that being, as near as it is possible to do justice to the subject. In this particular instance, then, to reach that record suggested by the suggestion itself—as of coming into existence across waters, the very thought of those present that it becomes necessary that that which is to receive or transmit the information must seek (as indicated by the manner in which periods, ages, dates, years, days are turned back, in arriving at the experience of the entity in a changed environ); meant that, the psychic influences in their activity with or through the physical forces of the body, must in some manner pass through the necessary elements for arriving at or reaching the beginning or that point. With the amount of water that is more often thought than of ether, what more befitting than that in the bubble the seeking forces should guide themselves!

(Đ) Để mang từ cõi này sang cõi khác những trải nghiệm mà một thực thể, một linh hồn, có thể đi qua hầu thu nhận những phản chiếu cần thiết cho việc truyền đạt thông tin được tìm kiếm, thì trở nên cần thiết (đối với sự thấu hiểu của những người trong cõi ấy đang cầu tìm) phải có điều đưa vào bản thể trí của người ấy bằng ngôn ngữ của người ấy, tối đa như có thể để làm công bằng với chủ đề. Trong trường hợp đặc thù này, để đi đến hồ sơ được gợi ra bởi chính ám thị—như việc đi vào hiện hữu qua các vùng nước, chính tư tưởng của những người hiện diện rằng cần thiết để điều sẽ nhận hoặc truyền thông tin phải tìm kiếm (như được biểu thị bởi cách các thời kỳ, niên đại, năm tháng, ngày tháng được quay ngược, khi đi đến trải nghiệm của thực thể trong một môi trường thay đổi); có nghĩa là, các ảnh hưởng thông linh trong hoạt động của chúng với hoặc qua các lực thể chất của thân thể, phải bằng cách nào đó đi qua những yếu tố cần thiết để đi đến hoặc đạt đến khởi điểm hay điểm ấy. Với lượng nước thường được nghĩ đến nhiều hơn là dĩ thái, còn gì hợp hơn là trong chiếc bong bóng các lực đang tìm kiếm tự dẫn dắt mình!

Then, so becomes much that arrives in the material plane; in the form of pictures or expressions, that there may be the conveying to the mind of the seeker something in his own type of experience, as to how the transmission of the activity takes place. Of what forces? The psychic or soul forces, that are akin to what? The Creative Forces, or that called God.

Thế rồi, rất nhiều điều đi vào cõi vật chất diễn ra như vậy; ở hình thức của những bức họa hay biểu đạt, để có thể chuyển tải đến thể trí của người đang tìm điều gì đó theo kiểu kinh nghiệm của chính họ, về cách diễn ra việc truyền dẫn hoạt động. Bởi những lực nào? Các lực thông linh hay lực linh hồn, chúng gần gũi với gì? Các Mãnh lực Sáng Tạo, hay điều được gọi là Thượng đế.

So, the body in a symbolized form as the bubble arrives at a place in which there is kept the records of all; as signified in speaking of the Book of Life, or to indicate or symbolize that each entity, each soul in its growth, may find its way back to the Creative Influences that are promised in and through Him that gives—and is—Life; and finds this as a separate, a definite, an integral part of the very soul.

Vậy, thân thể trong một hình thức biểu tượng như bong bóng đi đến một nơi lưu giữ hồ sơ của hết thảy; như được biểu trưng khi nói đến Sách Sự Sống, hoặc để chỉ ra hay tượng trưng rằng mỗi thực thể, mỗi linh hồn trong sự trưởng thành của mình có thể tìm ra con đường trở về với các Ảnh hưởng Sáng Tạo—những điều được hứa ban trong và qua Ngài, Đấng ban—và là—Sự Sống; và tìm thấy điều này như một phần tách biệt, xác định, bất khả phân của chính linh hồn.

Hence symbolized as being in books; and the man the keeper, as the keeper of the records. Much in the manner as would be said the lord of the storm, of the sea, of the lightning, of the light, of the day, of love, of hope, of faith, of charity, of long-suffering, of brotherly love, of kindness, of meekness, of humbleness, of self.

Bởi thế được tượng trưng như ở trong những cuốn sách; và người giữ sách, như người giữ các hồ sơ. Tựa như cách người ta nói chúa tể của bão tố, của biển cả, của tia chớp, của ánh sáng, của ban ngày, của tình yêu, của hy vọng, của đức tin, của lòng bác ái, của nhẫn nại, của tình huynh đệ, của nhân hậu, của hiền nhu, của khiêm nhường, của tự ngã.

So, in the materializations for the concept of those that seek to know, to be enlightened: To the world, long has there been sought that as in books. To many the question naturally arises, then: Are there literally books? To a mind that thinks books, literally BOOKS! As it would be for the mind that in its passage from the material plane into rest would require Elysian fields with birds, with flowers; it must find the materialized form of that portion of the Maker in that realm wherein that entity, that soul, would enjoy such in THAT sphere of activity. As houses built in wood. Wood, in its essence, as given, is what? Books, in their essence, are what? What is the more real, the book with its printed pages, its gilt edges, or the essence of that told of in the book? Which is the more real, the love manifested in the Son, the Savior, for His brethren, or the essence of love that may be seen even in the vilest of passion? They are one. But that they bring into being in a materialized form is what elements of the one source have been combined to produce a materialization. Beautiful, isn’t it?

Vậy, trong những sự hiện hình để phù hợp với khái niệm của những ai đang tìm biết, tìm được soi sáng: Với thế gian, từ lâu người ta đã tìm kiếm điều ấy trong sách. Với nhiều người câu hỏi tự nhiên khởi lên: Vậy có những cuốn sách theo nghĩa đen không? Với một thể trí nghĩ theo sách, thì đích thực là NHỮNG CUỐN SÁCH! Như đối với một thể trí, khi đi từ cõi vật chất vào cõi nghỉ ngơi, sẽ cần đến cánh đồng Elysium với chim chóc, hoa lá; nó phải tìm thấy hình thức hiện hình của phần thuộc về Đấng Tạo Hóa trong cõi mà thực thể, linh hồn ấy sẽ hưởng nếm trong CÕI hoạt động đó. Như nhà cửa được xây bằng gỗ. Gỗ, trong bản chất của nó, như đã nói, là gì? Sách, trong bản chất của chúng, là gì? Cái nào thực hơn, quyển sách với những trang in và mép mạ vàng, hay bản thể của điều được kể trong sách? Điều nào thực hơn, tình yêu biểu lộ nơi Người Con, Đấng Cứu Chuộc, dành cho các huynh đệ của Ngài, hay bản thể của tình yêu có thể thấy ngay cả trong dục vọng hạ tiện nhất? Chúng là một. Nhưng điều chúng mang vào hiện hữu trong một hình thức hiện hình là những yếu tố nào của một nguồn đã được kết hợp để tạo nên một hiện hình. Đẹp đẽ, phải không?

How far, then, is ungodliness from godliness? Just under, that’s all!

Vậy thì, điều vô thần cách điều có thần bao xa? Chỉ là phía dưới thôi, thế đó!

Seek then, ye, in understanding as to where, why, from what source, there may be gained the experiences of an entity, a soul, through its journeys in this the odic sphere, or through that known as this solar system. Each portion of that one whole, in that we call life, as it uses the attributes of the physical forces of a created form manifested in a material world, makes a record; as truly as is seen in the cylinder of the plate of the phonograph, or as is given to the radio transmitter upon the ethers of a material world. Going out where? Only those become conscious of same that have attuned themselves to that which is in accord, or seeking to know—then—His will; for each soul, every soul, should seek to attune its mind, its soul—yea, its body-vibrations—to that He, the Son of man, the Mother-God in Jesus the Christ, lived in the earth. Tune into that light, and it becomes BEAUTIFUL; in that you think, that you are, that you live …

Hãy tìm kiếm, vậy, các ngươi, trong sự hiểu biết về nơi đâu, vì sao, từ nguồn nào, có thể thu nhận những trải nghiệm của một thực thể, một linh hồn, qua những cuộc du hành của nó trong cõi ô-đíc này, hay qua cái được biết như hệ mặt trời này. Mỗi phần của một chỉnh thể duy nhất, trong cái chúng ta gọi là sự sống, khi nó sử dụng các thuộc tính của những lực thể chất của một hình thể được tạo dụng biểu lộ trong một thế giới vật chất, đều tạo nên một hồ sơ; thật như được nhìn thấy trên trục trụ hay đĩa của máy hát, hoặc như được truyền đến máy phát vô tuyến trên các làn sóng dĩ thái của một thế giới vật chất. Đi ra nơi đâu? Chỉ những ai trở nên ý thức về điều ấy là những người đã chỉnh hợp mình với cái tương ứng, hay đang tìm biết—khi ấy—ý chí của Ngài; bởi mỗi linh hồn, mọi linh hồn, nên tìm để chỉnh hợp thể trí của mình, linh hồn mình—vâng, cả những rung động thân thể mình—với điều mà Ngài, Con Người, Mẹ-Thượng đế nơi Đức Jesus, Đấng Christ, đã sống nơi trần gian. Hãy bắt sóng cùng ánh sáng ấy, và mọi sự trở nên TUYỆT MỸ; trong điều các ngươi nghĩ, điều các ngươi là, điều các ngươi sống …

(Q) Please explain the experience the next morning, Aug. 30th, while giving [257] business reading [257-119], in which he was going through—and surrounded by—blackness?

(H) Xin giải thích trải nghiệm sáng hôm sau, 30 tháng Tám, khi thực hiện bài đọc kinh doanh cho [257] [257-119], trong đó Ông đi qua—và bị bao quanh bởi—bóng đen?

(A) A razor is a wonderful instrument for shaving beards. It will trim pencils, but not many beards after—if used very long.

(Đ) Dao cạo là một dụng cụ tuyệt vời để cạo râu. Nó có thể gọt bút chì, nhưng sau đó thì khó lòng cạo được nhiều râu—nếu dùng quá lâu theo cách ấy.

A pearl is an adornment, a thing of beauty, created through the irritation of that which manifests itself in a lowly way to those that consider themselves of high estate; but by the very act of irritation to its own vibration is the higher vibration created, or brings about the pearl of great price. Yet it does not look well in the sow’s ear.

Một viên ngọc trai là một món trang sức, một vật tuyệt mỹ, được tạo ra bởi sự kích ứng của cái vốn biểu lộ theo cách thấp hèn đối với những ai tự xem mình ở địa vị cao; nhưng chính bởi hành động kích ứng đến rung động riêng của nó mà rung động cao hơn được hình thành, hay đưa đến viên ngọc trai quý giá. Thế nhưng nó không hợp khi gắn ở tai heo.

In the use then to which, through which, the soul of the body would pass to seek that as may be sought by the varied creations of man’s activity in a material life, to what depths must such a soul oft descend to bring back that that may even lend an air of help to a hungry soul? Through such irritation, though, oft does the soul grow, even as the pearl. So long as that manifested, then, by the life in a manifested form, keeps pure, little harm may come. But once lost can never be regained; even as that given into the heart of every mother to carry to her chosen one the bloom of life itself—only once!

Vậy, trong việc sử dụng mà linh hồn của thân thể sẽ đi qua để tìm điều có thể được cầu bởi những tạo vật muôn vẻ do hoạt động của con người trong đời sống vật chất, linh hồn phải bao lần giáng xuống tới những bùn nhơ như thế để mang về điều có thể mang lại chút không khí trợ giúp cho một linh hồn đang đói khát? Tuy nhiên, qua sự kích ứng như vậy, linh hồn cũng thường tăng trưởng, cũng như viên ngọc trai. Bao lâu điều được biểu lộ bởi đời sống trong hình thức hiện hình còn giữ mình trong trắng, ít điều tổn hại có thể xảy đến. Nhưng một khi đánh mất thì không bao giờ lấy lại được; như điều được trao vào tim của mỗi người mẹ để mang đến cho người bà chọn lựa bông nụ của chính Sự Sống—chỉ một lần thôi!

So, in the understanding of that as happens when through the shadows or the slime, through the darkness or through the grime, may the soul seek to bring to light that which will ease the burden of a hungry soul, it finds its hardships—yes, here and there; yet may he lead that soul to the heavenly stair!

Vậy nên, trong sự hiểu biết về điều xảy đến khi, qua các bóng tối hoặc bùn lầy, qua bóng đen hoặc qua nhơ bẩn, linh hồn tìm đem ra ánh sáng điều sẽ làm nhẹ gánh cho một linh hồn đói khát, nó gặp những gian truân—đúng vậy, đây đó; nhưng cũng có thể dẫn linh hồn ấy đến bậc thang thiên quốc!

(Q) [Submitted by Rev. Thos. D. Wesley Presbyterian minister]: What, where or how is the direct and immediate point of contact between the Personal God and the soul, of which contact the soul is conscious and certain?

(H) [Do Mục sư Trưởng lão Thos. D. Wesley nêu:] Điểm tiếp xúc trực tiếp và tức thời giữa Thượng đế Cá vị và linh hồn là gì, ở đâu hay thế nào—mà nơi đó linh hồn ý thức và chắc quyết về sự tiếp xúc ấy?

(A) As the sons and daughters of God are personal, are individual, with their many attributes that are characteristics, personalities or individualities, so (as this then is a shadow from that from which it sprang, its Maker) must the Maker be individual, with its attributes and its personalities. And yet fill all of life as becomes manifested in the spiritual realm, the realm of the soul or the temporal house, the abode of the soul for a day. As the soul seeks, then, for that which is the sustenance of the body—as what the food is to a developing, a growing body, so are the words of truth (which are life, which are love, which are God) sought that make for growth, even as the digesting of the material things in a body make for a growth. This growth may not be felt in the consciousness of materialization. It is experienced by the consciousness of the soul, by which it enables the soul to use the attributes of the soul’s food, even as the growth of the body makes for the use of the muscular forces or attributes of the physical body.

(Đ) Vì các con trai và con gái của Thượng đế là cá vị, là cá thể, với nhiều thuộc tính là những đặc trưng, là phàm ngã hay cá tính, nên (vì cái bóng này phát xuất từ Đấng mà nó phát sinh, là Đấng Tạo Hóa của nó) Đấng Tạo Hóa ắt phải là cá thể, với các thuộc tính và các phàm ngã của Ngài. Và dẫu thế, Ngài tràn đầy toàn thể sự sống như trở nên biểu lộ trong cõi linh, cõi của linh hồn hay ngôi nhà tạm, chốn trú của linh hồn cho một ngày. Vậy nên, khi linh hồn tìm kiếm điều là lương thực cho thân thể—cũng như thực phẩm là gì đối với một thân thể đang phát triển, tăng trưởng—thì lời của chân lý (vốn là sự sống, là tình thương, là Thượng đế) được tìm kiếm, những điều làm nên sự tăng trưởng, cũng như việc tiêu hóa những điều vật chất trong thân thể tạo nên sự tăng trưởng. Sự tăng trưởng này có thể không được cảm nhận trong ý thức của sự hiện hình. Nó được kinh nghiệm bởi ý thức của linh hồn, nhờ đó nó giúp linh hồn sử dụng các thuộc tính của lương thực linh hồn, cũng như sự tăng trưởng của thân thể cho phép sử dụng các lực cơ bắp hay các thuộc tính của thân thể vật chất.

Where is the contact?

Điểm tiếp xúc ở đâu?

As ye seek Him, so does like beget like. For, ye are co-laborers with Him, if ye have put on the whole of His love in thine own life.

Khi các ngươi tìm Ngài, như thế đồng loại sinh đồng loại. Bởi các ngươi là bạn đồng lao với Ngài, nếu các ngươi đã khoác trọn tình thương của Ngài vào đời sống của chính mình.

Feed, then, upon the fruits of the spirit. Love, hope, joy, mercy, long-suffering, brotherly love, and the contact, the growth, will be seen; and within the consciousness of the soul will the awareness come of the personality of the God in thee!

Vậy hãy nuôi mình bằng hoa trái của tinh thần. Tình thương, hy vọng, hoan lạc, xót thương, nhẫn nại, tình huynh đệ, và sự tiếp xúc, sự tăng trưởng sẽ được thấy; và trong ý thức của linh hồn sự tự nhận biết sẽ đến về phàm ngã của Thượng đế trong các ngươi!

We are through for the present.

Hiện tại chúng ta tạm kết thúc.

Reading 378-13

Bài đọc 378-13

Oft may it occur to one seeking such understandings, that may be gained through such channels, as to how such records of experiences are made; and as to how or why it becomes possible for only one here and there to interpret or read such records; and how that in the varied interpretations there may at times occur what appears to be a great discrepancy in the amount or character of such interpretations.

Người tìm kiếm những hiểu biết như vậy, vốn có thể thu nhận qua những kênh như thế này, thường tự hỏi các hồ sơ về trải nghiệm được lập như thế nào; và vì sao hay thế nào chỉ có một vài người nơi đây nơi đó có thể diễn giải hay đọc những hồ sơ như vậy; và vì sao trong các diễn giải đa dạng đôi khi dường như có một sự sai biệt lớn về dung lượng hay tính chất của các diễn giải ấy.

As the entity in its present activities is in that field which requires the consideration of pigment, or combinations of elements that act or react under varied conditions—especially those in which light, heat and other vibrations have much to do, (and as the experiences through the period being sought concerning were much, as would be termed in the present, the basis for that followed in the line of activity today) such questions are of particular interest.

Vì thực thể trong các hoạt động hiện tại đang ở lĩnh vực cần phải cân nhắc sắc tố màu, hay sự phối hợp các yếu tố tương tác hay phản ứng dưới những điều kiện đa dạng—đặc biệt là những điều kiện trong đó ánh sáng, nhiệt và các rung động khác đóng vai trò lớn, (và vì những trải nghiệm trong giai đoạn đang được tìm hiểu đã là rất nhiều điều, như cách gọi trong hiện tại, là nền tảng cho điều tiếp nối trong đường hướng hoạt động hôm nay) nên những câu hỏi ấy có mối quan tâm đặc biệt.

Then, to draw a comparison that some concept may be gained as to the nature of records, and how they are recorded, and the manner in which interpretations are made, and the variations that occur, let’s—then—for the moment put this in the language of that in which the entity is engaged:

Vậy, để rút ra một phép so sánh hầu nắm được phần nào khái niệm về bản chất của các hồ sơ, về cách chúng được ghi lại, và cách diễn giải được thực hiện, cũng như những sai biệt phát sinh, chúng ta—vậy thì—trong chốc lát hãy đặt điều này vào ngôn ngữ của lĩnh vực mà thực thể đang tham gia:

(This aside. Don’t think that you present will know very much more than you did before. He will!)

(Nói nhỏ. Đừng nghĩ rằng người hiện diện này sẽ biết nhiều hơn bao nhiêu so với trước đâu. Anh ta sẽ biết đấy!)

When a dye [die?] is cast there are basic influences that form that from which, to which, other things are added to take from or add to, to produce an effect that will not be acted upon by light, heat, moisture or the like, or other elements with the same. Yet, in the addition—to subtract from this first basis, there is always left that record in that which exists in the present of the dye, as to what basis the beginning was measured from. And in the interpretation, the analysis of what records were made as they were being put together, the interpreter oft loses sight of the base—of the addition—and sees the results rather than that activity producing same.

Khi một phẩm nhuộm được pha chế, có những ảnh hưởng cơ bản tạo nên nền từ đó, vào đó, những thứ khác được thêm vào để rút bớt hay thêm vào, nhằm tạo ra một hiệu quả sẽ không bị tác động bởi ánh sáng, nhiệt, ẩm hay tương tự, hoặc các yếu tố khác cùng với nó. Tuy nhiên, trong các bổ sung—để trừ bớt khỏi nền tảng ban đầu, luôn có lưu lại hồ sơ trong cái đang hiện hữu nơi phẩm nhuộm ấy về nền tảng ban sơ đã được đo lường từ đâu. Và trong diễn giải, phân tích những hồ sơ đã được lập khi chúng đang được kết hợp, người diễn giải thường đánh mất dấu nền tảng—về những gì đã thêm vào—và nhìn thấy kết quả hơn là hoạt động đã tạo nên kết quả ấy.

Just so in the soul life, the soul’s contact with that which is conscious—that partakes of, or presents, or is represented in material form. The reading or interpretation of such an akashic record or cosmic impression, or such influences, depend upon the ability of the interpreter to meet in the same force, or attune into the same vibration, as to be able to translate or interpret the same.

Linh hồn cũng vậy, trong đời sống linh hồn, trong sự tiếp xúc của linh hồn với điều ý thức—điều tham dự vào, hay trình diện, hay được đại diện trong hình thức vật chất. Việc đọc hay diễn giải một hồ sơ Akasha hoặc một ấn tượng vũ trụ như vậy, hay những ảnh hưởng như thế, tùy thuộc vào khả năng của người diễn giải có thể gặp gỡ trong cùng một lực, hay bắt sóng vào cùng rung động, để có thể chuyển ngữ hay diễn giải điều ấy.

Reading 262-105

Bài đọc 262-105

GC: You will have before you Norfolk Study Group #1, members of which are present here, and work on the present lesson, copy of which I hold in my hand. You will continue the discourse on the lesson Wisdom.

GC: Ông sẽ có trước Ông Nhóm Học Norfolk số 1, các thành viên hiện diện tại đây, và công việc trên bài học hiện tại, bản sao tôi cầm trong tay. Ông sẽ tiếp tục giảng luận về bài học Minh triết.

EC: Yes, we have the group as gathered here; as a group, as individuals, and their work upon the lesson Wisdom …

EC: Vâng, chúng ta có nhóm như tụ họp nơi đây; như một nhóm, như từng cá nhân, và công việc của họ trên bài học Minh triết …

Yet to thee, to whom the Book of Life—yea, the record of thine experiences—has been opened, there is the awareness that ye are indeed the children of God. And as children in thy Wisdom ye may approach boldly the Throne of Mercy. For the prayers of the righteous are heard, for they have attuned in Wisdom to the God-Consciousness within, and have come to the realization that they are not alone but that He walketh and He talketh with those who have called upon His Name, and who day by day show forth in their conversation their love. For Jesus is the Way, Jesus is the Christ, Jesus is the Mediator, Jesus is Wisdom to those who will harken to do His biddings.

Tuy nhiên, đối với các ngươi, những người mà Sách Sự Sống—vâng, biên ký những trải nghiệm của các ngươi—đã được mở ra, có sự nhận biết rằng các ngươi thật là những người con của Thượng đế. Và như những đứa con, trong Minh triết của các ngươi, các ngươi có thể mạnh dạn tiến đến Thánh Ngai của Lòng Xót Thương. Vì lời cầu nguyện của người công chính được lắng nghe, bởi họ đã chỉnh hợp trong Minh triết với tâm thức Thượng đế ở bên trong, và đã đi đến sự nhận ra rằng họ không cô độc mà Ngài bước đi và chuyện trò với những ai đã kêu cầu Danh Ngài, và hằng ngày biểu lộ tình yêu trong lời ăn tiếng nói của họ. Vì Đức Jesus là Con Đường, Đức Jesus là Đức Christ, Đức Jesus là Đấng Trung Gian, Đức Jesus là Minh triết cho những ai biết lắng nghe để làm theo điều Ngài truyền.

And as He hath given, “If ye love me, keep my commandments; for they are not grievous to bear. For I will bear them with thee, I will wipe away thy tears; I will comfort the brokenhearted, I will bring all to those in the ways that are in the Wisdom of God for thy expressions through each experience, in each activity of thine.”

Và như Ngài đã phán: “Nếu các ngươi yêu Ta, hãy giữ các điều răn của Ta; vì chúng không nặng nề để mang. Vì Ta sẽ cùng các ngươi gánh vác chúng, Ta sẽ lau khô nước mắt các ngươi; Ta sẽ yên ủi những tấm lòng tan vỡ, Ta sẽ đem mọi điều đến cho những ai đi trong các nẻo đường thuộc Minh triết của Thượng đế để các ngươi bày tỏ qua mỗi trải nghiệm, trong mọi hoạt hoạt của các ngươi.”

For thy soul in its Wisdom seeketh expression with Him. Smother it not in the doubts and the fears of materiality but in the spirit of love and truth that encompasseth all, and that is open to ye who have set thy hearts, thy faces, toward the love that is in Jesus, thy Friend, thy Brother.

Vì linh hồn các ngươi trong Minh triết của nó tìm kiếm biểu đạt cùng với Ngài. Đừng vùi dập nó trong những hoài nghi và sợ hãi của vật chất tính mà hãy đặt nó trong tinh thần của tình thương và chân lý vốn bao trùm tất cả, và vốn mở ra cho các ngươi—những người đã hướng lòng mình, diện mạo mình, về tình yêu đang có nơi Đức Jesus, Bạn Hữu của các ngươi, Huynh Đệ của các ngươi.

These, my brethren—yea, these my beloved children—Know that in Him is the truth, the light. Ye have seen a great light. Ye have touched upon the Wisdom of the Father, as is shown in the Son.

Hỡi các huynh đệ của ta—vâng, hỡi những đứa con yêu dấu của ta—Hãy biết rằng trong Ngài là chân lý, là ánh sáng. Các ngươi đã thấy một ánh sáng vĩ đại. Các ngươi đã chạm vào Minh triết của Đức Cha, như được biểu lộ nơi Người Con.

Then make thy paths straight. Let thy conversation, thy wishes, thy desires be rather as one with Him who thought it not robbery to be equal with God.

Vậy hãy làm cho nẻo đường các ngươi ngay thẳng. Hãy để nếp sống, ước nguyện, khát vọng của các ngươi được hợp nên một với Đấng vốn chẳng coi việc ngang bằng Thượng đế là điều phải cướp lấy.

YE know the way. Do ye stumble in ignorance or in selfishness? Do ye doubt for the gratifying of thy body or for the fulfilling of the body-appetites?

CÁC NGƯƠI biết con đường. Có phải các ngươi vấp ngã vì vô minh hay vì vị kỷ chăng? Có phải các ngươi hoài nghi để thoả mãn thân xác hay để đáp ứng các thèm muốn của thân xác chăng?

YE know the way. Let, then, that love of the Infinite fire thee to action, to DOING! And indeed live as hath been shown.

CÁC NGƯƠI biết con đường. Vậy, hãy để tình yêu của Đấng Vô Cùng thắp lửa các ngươi vào hành động, vào SỰ THỰC HÀNH! Và thật sự sống như đã được chỉ bày.

Study to show thyself in body, in mind, approved unto that thou hast chosen in the words of Jesus thy Master, thy Brother—in dividing the words of life in such measures that all who know thee, yea that contact thee, take cognizance of the fact that thou walkest and thou talkest with Jesus day by day; keeping thyself in body, in mind, unspotted from the world.

Hãy chuyên cần để cho thấy chính ngươi—trong thân thể, trong thể trí—được chấp thuận đối với điều ngươi đã chọn theo lời của Đức Jesus, Chân sư của ngươi, Huynh Đệ của ngươi—trong việc phân giải những lời của sự sống ở những mức độ sao cho mọi người biết ngươi, vâng, hễ ai tiếp xúc với ngươi, đều nhận ra rằng ngươi bước đi và chuyện trò với Đức Jesus mỗi ngày; giữ mình ngươi—trong thân thể, trong thể trí—không vết nhơ khỏi thế gian.

This is the Wisdom of God and is thine if ye will but claim it as thine own.

Đây là Minh triết của Thượng đế và là của ngươi nếu ngươi chỉ cần nhận nó là của chính ngươi.

And may the grace and the mercy and the peace of a life lived in thine own consciousness be thine through Him that is able to present our lives before the throne of God spotless, white as snow, washed in the blood of the sacrifices made in our own daily experience—even as He has shown us the way.

Và nguyện ân sủng, lòng xót thương và bình an của một đời sống được sống trong chính tâm thức của ngươi trở nên của ngươi—nhờ Ngài, Đấng có thể trình bày đời sống của chúng ta trước Thánh Ngai của Thượng đế tinh sạch, trắng như tuyết, được rửa trong huyết của những hy sinh đã làm trong chính kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta—như Ngài đã chỉ cho chúng ta con đường.

Reading 281-33

Bài đọc 281-33

Remember, all of these should be then in accord with that ye have attained to, that the Book of Life is given thee. What is the Book of Life? The record of God, of thee, thy soul within and the knowledge of same.

Hãy nhớ, tất cả những điều này cần phải tương hợp với điều các ngươi đã đạt đến, rằng Sách Sự Sống đã được ban cho các ngươi. Sách Sự Sống là gì? Là biên ký của Thượng đế, của ngươi, linh hồn của ngươi ở bên trong và tri thức về điều đó.

Reading 2533-8

Bài đọc 2533-8

(Q) The Book of Life?

(H) Sách Sự Sống?

(A) The record that the individual entity itself writes upon the skein of time and space, through patience—and is opened when self has attuned to the infinite, and may be read by those attuning to that consciousness …

(Đ) Biên ký mà chính thực thể cá nhân tự mình viết lên cuộn sợi của thời gian và không gian, qua kiên nhẫn—và được mở ra khi cái tôi đã chỉnh hợp với vô cùng, và có thể được đọc bởi những ai chỉnh hợp với tâm thức ấy …

(Q) The Book of God’s Remembrances?

(H) Sách Ký Ức của Thượng đế?

(A) This is the Book of Life.

(Đ) Ấy là Sách Sự Sống.

(Q) The Akashic Records?

(H) Ký lục Akasha?

(A) Those made by the individual, as just indicated.

(Đ) Những điều do cá nhân tạo nên, như vừa chỉ ra.

Reading 2144-1

Bài đọc 2144-1

The records are upon time and space, which are manifestations of that influence or force we call God. They are both old and ever new. But only in patience does the finite mind become aware of the VALUE of same upon the infinite, or the spiritual self.

Các ký lục nằm trên thời gian và không gian, vốn là những biểu hiện của ảnh hưởng hay mãnh lực mà chúng ta gọi là Thượng đế. Chúng vừa cổ xưa vừa luôn luôn mới. Nhưng chỉ trong kiên nhẫn thì thể trí hữu hạn mới trở nên nhận biết GIÁ TRỊ của những điều ấy đối với vô cùng, hay đối với bản ngã tinh thần.

Thus the records are taken from this skein of time and space. Hence, as an entity enters and leaves consciousness in materiality, there is left upon time and space that which has been the activity—thus there may be the interpreting of same.

Vậy nên các ký lục được rút ra từ cuộn sợi này của thời gian và không gian. Do đó, khi một thực thể đi vào và rời khỏi tâm thức trong cõi vật chất, có để lại trên thời gian và không gian dấu ấn của những gì đã là hoạt động—vậy nên có thể diễn giải điều ấy.

Reading 3976-16

Bài đọc 3976-16

(Q) Explain from what sources this information may be obtained.

(H) Hãy giải thích thông tin này có thể được thu nhận từ những nguồn nào.

(A) Conditions, thoughts, activities of men in EVERY clime are things; as thoughts are things. They make their impressions upon the skein of time and space. Thus, as they make for their activity, they become as records that may be read by those in accord or ATTUNED to such a condition. This may be illustrated in the wave length of the radio or of such an activity. They (the activities, etc.) go upon the waves of light, upon that of space. And those instruments that are ATTUNED to same may hear, may experience, that which is being transmitted. Hence do not in seeking CONFUSE thyself that there may not be variations as to the interpretations of economic influences or forces that are being enacted in the thought and activity of varied groups. Just as either [ether?] program may be sent from any given activity. The outer world is only an activity of the shadow world.

(Đ) Các điều kiện, tư tưởng, hoạt động của con người ở MỌI xứ sở đều là “vật”; vì tư tưởng là sự vật. Chúng khắc ấn của mình trên cuộn sợi của thời gian và không gian. Do đó, khi chúng tạo tác hoạt động, chúng trở thành như những ký lục có thể được đọc bởi những ai tương hợp hay CHỈNH HỢP với tình trạng như vậy. Điều này có thể minh hoạ bằng bước sóng của máy vô tuyến hay hoạt động tương tự. Chúng (các hoạt động, v.v.) đi trên những làn sóng ánh sáng, trên không gian. Và những khí cụ nào CHỈNH HỢP với các làn sóng ấy thì có thể nghe, có thể trải nghiệm điều đang được truyền đi. Vậy nên đừng trong khi tìm kiếm mà LẪN LỘN rằng không thể có những biến thiên về diễn giải các ảnh hưởng hay lực kinh tế đang được thể hiện trong tư tưởng và hoạt động của các nhóm khác nhau. Cũng như một chương trình [dĩ thái?] có thể được gửi đi từ bất kỳ hoạt động nào đã cho. Thế giới bên ngoài chỉ là một hoạt động của thế giới cái bóng.

Reading 1549-1

Bài đọc 1549-1

In giving the interpretations of these records, these are upon the skein of time and space. And O that all would realize, come to the consciousness that what we are—in any given experience, or time—is the combined results of what we have done about the ideals that we have set!

Khi ban cho sự diễn giải các ký lục này, chúng nằm trên cuộn sợi của thời gian và không gian. Và Ôi, ước gì mọi người đều nhận ra, đi đến tâm thức rằng chúng ta là gì—trong bất cứ trải nghiệm hay thời điểm nào—là kết quả tổng hợp của những gì chúng ta đã làm đối với các lý tưởng mà chúng ta đã lập!

If these are in keeping with creative or constructive influences, then these are developing periods. If they are of the selfish nature, or with the lack of idealism or ideals, then there is the retardment—or the lack of unfoldment.

Nếu những điều ấy phù hợp với các ảnh hưởng sáng tạo hay xây dựng, thì đó là những giai đoạn phát triển. Nếu chúng mang tính vị kỷ, hay thiếu vắng lý tưởng hoặc các lý tưởng, thì sẽ có sự trì trệ—hay thiếu vắng khai mở.

Indeed the life and the experiences about every soul are such that if individuals will but take the lessons, the understandings of nature as it manifests in influences about self, they will see that such are the expression of the individual self’s unfoldment.

Quả thật, đời sống và các trải nghiệm chung quanh mọi linh hồn là như vậy: nếu các cá nhân chỉ cần rút lấy bài học, sự thấu hiểu từ tự nhiên như nó tự biểu hiện trong những ảnh hưởng quanh cái tôi, họ sẽ thấy rằng những điều như vậy chính là biểu đạt sự khai mở của cái tôi cá thể.

As an illustration: A bulb is an expression of life, of beauty, in its filling its place in whatever environ it finds self. Man CAN change his environ, by the thinking. The bulb cannot. But man may view the purpose of all nature, he may view the bulb and see himself. If the environ is that which tends to enliven, enrich by creative forces added as constructive influences, then the beauty, the richness of the expression is a growth. But if it is dwarfed by an influence which hinders, it does the best with what it has.

Thí dụ: Một củ hoa là một biểu đạt của sự sống, của vẻ đẹp, khi nó làm tròn chỗ đứng của nó trong bất kỳ môi trường nào nó tự thấy mình. Con người CÓ THỂ đổi thay môi trường, bằng tư duy. Củ hoa thì không. Nhưng con người có thể nhìn mục đích của toàn thể tự nhiên, có thể nhìn củ hoa và thấy chính mình. Nếu môi trường là thứ làm sinh động, làm phong phú bằng các lực sáng tạo được thêm vào như những ảnh hưởng xây dựng, thì vẻ đẹp, sự phong phú của biểu đạt là một sự tăng trưởng. Nhưng nếu nó bị làm teo tóp bởi một ảnh hưởng gây cản trở, nó sẽ làm điều tốt nhất với những gì nó có.

So with man, the retrogression or progress is according to the application. The soul of each individual is a portion then of the Whole, WITH the birthright of Creative Forces to become a co-creator with the Father, a co-laborer with Him. As that birthright is then manifested, growth ensues. If it is made selfish, retardments must be the result.

Con người cũng vậy, sự thối lui hay tiến bộ tương ứng với sự ứng dụng. Linh hồn của mỗi cá nhân là một phần của Toàn Thể, VỚI quyền thừa tự của các Mãnh Lực Sáng Tạo để trở nên một đồng-sáng tạo với Đức Cha, một đồng-lao tác với Ngài. Khi quyền thừa tự ấy được biểu lộ, tăng trưởng sẽ theo sau. Nếu nó bị làm cho vị kỷ, tất yếu kết quả sẽ là trì trệ.

Reading 1402-1

Bài đọc 1402-1

We have the records that have been made by this entity now called [1402].

Chúng ta có các ký lục đã được tạo tác bởi thực thể hiện nay được gọi là [1402].

In summing the records here, from that which has been made, these are as the Book of Remembrance; these are the book of life.

Tóm lược các ký lục ở đây, từ những gì đã được làm, chúng như là Sách Ký Ức; chúng là sách sự sống.

Life is that influence, that which is manifested in materiality as expressing growth, love, hate, disappointments, sorrows, hopes, courage, faith; and those things that take hold upon the soul, that which is the everlasting.

Sự sống là ảnh hưởng, là cái được biểu hiện trong vật chất như sự biểu đạt tăng trưởng, tình thương, thù ghét, thất vọng, sầu muộn, hy vọng, can đảm, đức tin; và những điều nắm giữ lấy linh hồn, điều thuộc về cõi vĩnh hằng.

And this book is written upon the skein of that ye call time and space.

Và quyển sách này được viết trên cuộn sợi của điều các ngươi gọi là thời gian và không gian.

These exist—each of these—only in the finite mind as that which represents the separation of the various growths or experiences.

Những điều này—mỗi điều—chỉ hiện hữu trong thể trí hữu hạn như cái đại diện cho sự phân cách của các mức tăng trưởng hay các trải nghiệm khác nhau.

Reading 1562-1

Bài đọc 1562-1

In giving the interpretations of the records as we find them, some little explanation as to how they may be read or interpreted might be well for this entity; as innately and manifestedly the entity has an interest in occult things and conditions.

Khi ban cho sự diễn giải các ký lục như chúng ta thấy, một chút giải minh về cách chúng có thể được đọc hay được diễn giải có lẽ là điều tốt cho thực thể này; vì bẩm sinh và hiển lộ, thực thể có mối quan tâm đến những điều và điều kiện huyền bí.

The records of an entity are written upon time and space, as the skein of things. They may be called as images. For thoughts are things, and as they run, so are the impressions made upon what we call time and space.

Các ký lục của một thực thể được viết lên thời gian và không gian, như cuộn sợi của vạn sự. Chúng có thể được gọi như những hình ảnh. Vì tư tưởng là sự vật, và khi chúng vận hành, thì các ấn tượng được khắc lên cái mà chúng ta gọi là thời gian và không gian cũng như vậy.

Hence often there is confusion in the experiences of those interpreting for individuals their activities through any given period, in differentiating between that which was the thought of an individual and that which was the actual activity.

Bởi thế thường nảy sinh bối rối trong các trải nghiệm của những người diễn giải cho cá nhân các hoạt động của họ qua bất kỳ giai đoạn nào đã cho, khi phải phân biệt giữa điều vốn là ý nghĩ của một cá nhân và điều vốn là hoạt động thực sự.

But if there is the intent and purpose considered, or that the entity has desired through any given period of sojourn, whether in the consciousness of the realms about the earth (or astrological aspects) or in the physical consciousness of the earthly sojourn, in reference to that which is not merely idealistic toward this or that thought or trend of thought but that which is constructive, THEN the judgment of same may be drawn by the interpreter of such a record for an individual.

Nhưng nếu có ý hướng và mục đích được xét đến, hay điều mà thực thể đã ước muốn qua bất cứ thời kỳ lưu trú nào, dù trong tâm thức các cõi quanh địa cầu (hay các phương diện chiêm tinh) hoặc trong tâm thức thể xác của cuộc lưu trú trần gian, liên quan đến điều không chỉ là lý tưởng theo tư tưởng này hay khuynh hướng tư tưởng kia, mà là điều xây dựng, THÌ sự phán đoán về điều ấy có thể được rút ra bởi người diễn giải một ký lục như vậy cho một cá nhân.

Hence how much greater the necessity, in the interpreting of such a record, that the one seeking same hold within self those desires for that which will be towards a helpful purpose IN the interpreting of same—even for self! That such may often shade what is given is true, but it is ever the law of Creative Forces, as has been given, that God has not willed that any soul should perish but has with every transgression, with every condition, presented a way, a means, a manner for man’s correcting same.

Vậy nên càng cần thiết hơn biết bao, trong việc diễn giải một ký lục như vậy, rằng người tìm kiếm điều ấy giữ trong mình những ước muốn hướng đến mục đích ích lợi TRONG sự diễn giải—dẫu là cho chính mình! Rằng điều như vậy có thể thường làm lu mờ cái được ban là đúng, nhưng đó trước sau vẫn là định luật của các Mãnh Lực Sáng Tạo, như đã được nói, rằng Thượng đế không hề muốn một linh hồn nào phải hư mất mà với mỗi lỗi lầm, với mỗi tình thế, Ngài đều đã bày sẵn một lối, một phương tiện, một cách thức để con người sửa chữa điều ấy.

So that as may be interpreted for this entity is with that singleness of purpose that it may be a constructive, creative influence in the experience of the entity.

Vậy nên điều được diễn giải cho thực thể này là với mục đích nhất tâm hầu nó có thể là một ảnh hưởng xây dựng, sáng tạo trong trải nghiệm của thực thể.

Reading 1608-1

Bài đọc 1608-1

Remember, the records of each soul-entity are written—or impressed—upon time and space, as you call same.

Hãy nhớ, các ký lục của mỗi linh-hồn-thực-thể được viết—hay được in—lên thời gian và không gian, như các ngươi gọi vậy.

Thus we find them as emanations from that expressed. Just as emanations from a metal, a gas, a light or what not—these pass off into what we call space; but they are continuous, because they are a part of the whole.

Vậy nên chúng ta thấy chúng như những phát xạ từ điều được biểu lộ. Cũng như phát xạ từ một kim loại, một chất khí, một ánh sáng hay bất kỳ thứ gì—chúng toả đi vào cái mà chúng ta gọi là không gian; nhưng chúng liên tục, vì chúng là một phần của toàn thể.

The attempt then to interpret or to read such records depends much upon the attitude, the desire of the individual or soul-entity seeking to know same.

Việc nỗ lực diễn giải hay đọc những ký lục như vậy tuỳ thuộc rất nhiều vào thái độ, ước muốn của cá nhân hay linh-hồn-thực-thể đang tìm biết điều ấy.

Yet the very desire of such may be overshadowed by the individuality of an entity, as to cause deflections from that which might be an interpretation for constructive influences.

Tuy nhiên chính ước muốn ấy có thể bị cái cá tính của một thực thể phủ bóng, đến nỗi gây ra những lệch hướng khỏi điều đáng lẽ có thể là một diễn giải cho các ảnh hưởng xây dựng.

For it is only the will of an individual that deflects its activity in its relationships with Creative Forces.

Vì chỉ có ý chí của một cá nhân mới làm lệch hoạt động của nó trong các tương quan với các Mãnh Lực Sáng Tạo.

Reading 1681-1

Bài đọc 1681-1

EC: Yes, we have the records here of the entity now called [1681].

EC: Phải, chúng ta có các ký lục ở đây của thực thể hiện nay được gọi là [1681].

In giving the interpretations of the influences about the entity—(there are quite many emblems—a great many figures)—that chosen to be given is with the desire that it may be helpful in the experience of the entity in the present. Hence much of that which has been a part of the experience through the sojourns in the earth will be given, forewarning and giving the purposes and intent for the entrance of each soul into an experience. We would give then also the virtues as well as the faults; with the desire that these influences be used constructively, or that they influence the entity in making that choice in which the greater soul and mental development may be the outcome from same.

Khi ban sự diễn giải các ảnh hưởng quanh thực thể—(có khá nhiều biểu tượng—rất nhiều hình tượng)—điều được chọn để ban ra là với ước muốn rằng nó có thể hữu ích trong trải nghiệm hiện tại của thực thể. Vậy nên nhiều điều đã từng là một phần trải nghiệm qua các lưu trú trên địa cầu sẽ được nêu ra, để cảnh báo và trình bày các mục đích, ý hướng cho việc mỗi linh hồn bước vào một trải nghiệm. Vậy nên chúng ta cũng sẽ nêu lên các đức hạnh cũng như những lỗi lầm; với ước muốn rằng những ảnh hưởng ấy được dùng một cách xây dựng, hay rằng chúng ảnh hưởng thực thể trong việc đưa ra sự chọn lựa mà từ đó sự phát triển lớn hơn về linh hồn và thể trí có thể là kết quả.

As to the sources, then—as to the records, then:

Còn về nguồn cội, vậy—về các ký lục, thì:

Each soul, each entity makes upon time and space—through patience recording same—that as may be indeed the record of the intent and purposes, as well as the material manifestations of the entity through its sojourn in materiality.

Mỗi linh hồn, mỗi thực thể khắc ghi lên thời gian và không gian—qua sự ghi chép kiên nhẫn của chính mình—điều có thể thực sự là biên ký về ý hướng và mục đích, cũng như các biểu lộ vật chất của thực thể qua cuộc lưu trú trong vật chất.

Reading 1743-1

Bài đọc 1743-1

By records we mean those activities, mental and physical, in the planes of consciousness; that make their impression upon time and space much as light makes its impression upon the same elements or forces or conditions that are called time and space.

Khi nói “các ký lục” chúng ta muốn nói đến những hoạt động, tinh thần và thể xác, trong các cõi tâm thức; chúng khắc ấn của mình lên thời gian và không gian giống như ánh sáng khắc ấn của nó lên các yếu tố hay mãnh lực hay điều kiện được gọi là thời gian và không gian.

Reading 1796-1

Bài đọc 1796-1

The records of the entity are upon time and space, and are a part of the entity.

Các ký lục của thực thể nằm trên thời gian và không gian, và là một phần của thực thể.

Thus we find this entity—as each entity—is in the present the result of that the entity has applied of Creative influences and forces in every phase of its experience. Thus it makes for that called by some karma, by others racial hereditary forces.

Vậy nên chúng ta thấy thực thể này—như mỗi thực thể—trong hiện tại là kết quả của điều mà thực thể đã ứng dụng các ảnh hưởng và mãnh lực Sáng Tạo trong mọi phương diện của trải nghiệm của mình. Vì thế nó tạo ra điều có người gọi là nghiệp quả, có người khác gọi là các lực di truyền chủng tộc.

And thus environment and hereditary forces (as are accepted) are in their reality the activities of the MIND of the entity in its choices through the experiences in the material, in the mental, in the spiritual planes.

Và do đó môi trường và các lực di truyền (như thường được chấp nhận) trên thực tế là các hoạt động của TÂM TRÍ của thực thể trong những lựa chọn của nó xuyên qua các trải nghiệm ở cõi vật chất, cõi trí tuệ, cõi tinh thần.

The entity finds self then a physical, a mental and a soul body all in one; with its virtues, its abilities, its weaknesses, its intents, its desires, all prompted by something innate; and manifested according to the application of self towards the mental and spiritual attributes of the entity as a whole.

Thực thể tự thấy mình vậy là một thân thể, một thể trí và một linh hồn—tất cả trong một; với các đức hạnh, các khả năng, các yếu đuối, các ý hướng, các ước muốn, tất cả được thúc đẩy bởi điều gì đó bẩm sinh; và được biểu lộ tuỳ theo sự ứng dụng của cái tôi hướng đến các thuộc tính trí tuệ và tinh thần của thực thể như một toàn thể.

There are then those accredited signs or omens or indications of characteristics in the innate and manifested activities of the entity. But these are irrespective of what the entity is to do, or will do, respecting same.

Vậy nên có những dấu hiệu hay điềm chỉ báo được ghi nhận về các đặc tính trong các hoạt động bẩm sinh và hiển lộ của thực thể. Nhưng những điều này không quyết định thực thể sẽ làm gì, hay sẽ hành xử ra sao đối với chúng.

In the interpreting of the records here, then, we find the entity from the astrological aspects is influenced not because of the position of the sun, the moon or of the earth in its relationships to planets or zodiacal signs or other influences. Yet all of these are recognized as a part of the entity’s environment. Thus, as Mercury, Jupiter, Venus, Saturn and Uranus are a part of the entity’s experiences in those environs, they have as definite effect upon the tend or trend of influence as does that the entity may study or peruse or practice in its daily activity, or feed upon in its physical endeavors for sustenance in material environs.

Trong sự diễn giải các ký lục ở đây, chúng ta nhận thấy thực thể—từ các phương diện chiêm tinh—chịu ảnh hưởng không phải vì vị trí của mặt trời, mặt trăng hay của địa cầu trong tương quan với các hành tinh hay các dấu hiệu hoàng đạo hay những ảnh hưởng khác. Tuy nhiên tất cả những điều ấy được ghi nhận là một phần của môi trường của thực thể. Vì vậy, như Sao Thủy, Sao Mộc, Sao Kim, Sao Thổ và Sao Thiên Vương là một phần những trải nghiệm của thực thể trong các môi trường ấy, chúng có ảnh hưởng xác định lên xu hướng hay chiều hướng ảnh hưởng cũng y như những điều mà thực thể có thể học hỏi hay đọc kỹ hay thực hành trong hoạt động hằng ngày, hay “nuôi dưỡng” thân xác trong những nỗ lực thể lý để duy trì trong các môi trường vật chất.

Reading 1895-1

Bài đọc 1895-1

But each entity makes a record upon time and space, through the very activities of that stylus, the mind. And to be sure, irrespective of what an entity—as in this entity—holds as its ideal, its ideal is that judgement by and through which it makes its own choice.

Nhưng mỗi thực thể khắc ghi một ký lục lên thời gian và không gian, qua chính hoạt động của ngòi bút—là tâm trí. Và dĩ nhiên, bất kể một thực thể—như trong trường hợp thực thể này—nắm giữ lý tưởng là gì, lý tưởng của nó chính là phán quyết mà qua đó và nhờ đó nó tự mình đưa ra chọn lựa.

Hence as these records or interpretations are given, it is the desire to give the entity a premise, and ideal, that it may answer to that search from within as to how to make this experience more worth while in this particular sojourn.

Bởi vậy khi các ký lục hay các diễn giải này được ban ra, ước muốn là ban cho thực thể một tiền đề, một lý tưởng, để nó có thể đáp ứng với sự tìm kiếm từ bên trong làm sao để khiến trải nghiệm này trở nên đáng giá hơn trong lần lưu trú đặc thù này.

Then as we find, the experiences of the entity in the earth become an influence just as the environs in any one experience, just as it is true that what ye think ye become,—just as what ye consume for the physical produces such experience in thy physical and mental life as related to the ideals, whether known or still latent.

Vậy nên, như chúng ta thấy, các trải nghiệm của thực thể trong địa cầu trở thành một ảnh hưởng cũng tựa như các môi trường trong bất kỳ một trải nghiệm nào, cũng đúng như chân lý rằng các ngươi nghĩ gì thì các ngươi trở thành như thế,—cũng như những gì các ngươi hấp thụ cho thể xác thì tạo ra trải nghiệm như thế trong đời sống thể xác và tinh thần của các ngươi, liên hệ với các lý tưởng, dù đã biết hay còn tiềm ẩn.

Also we find that the experiences of the entity in the interims of planetary sojourns between the earthly manifestations become the innate mental urges, that may or may not at times be a part of the day dreaming, or the though and meditation of the inmost self.

Chúng ta cũng thấy rằng các trải nghiệm của thực thể trong những khoảng giữa các lưu trú hành tinh, giữa các biểu lộ trần gian, trở thành những xung lực tinh thần bẩm sinh, có thể—hoặc có thể không—đôi khi là một phần của mộng mơ ban ngày, hay của tư tưởng và sự tham thiền của nội ngã sâu thẳm.

Reading 1946-1

Bài đọc 1946-1

Yes, we have the records of that entity now known as or called [1946].

Phải, chúng ta có các ký lục của thực thể hiện nay được biết đến hay được gọi là [1946].

In giving the interpretations of the records, these as we find are as impressions upon time and space; and it is the skein of these—in patience—that one becomes aware of one’s relationships with the Creative Forces ye call God.

Khi ban sự diễn giải các ký lục, những điều này như chúng ta thấy là các ấn tượng trên thời gian và không gian; và chính từ cuộn sợi của những điều này—trong kiên nhẫn—mà người ta trở nên biết về mối quan hệ của mình với các Mãnh Lực Sáng Tạo mà các ngươi gọi là Thượng đế.

In interpreting the records, these portions of same are chosen with the desire that the experience may be a helpful one to this entity; that it may become aware not only of its relationships to the universe and universal forces but as to the why of its entrance into the material plane, and how it may apply itself in this experience in view of that which has been builded by the sojourns in the material, as well as those interims that are recorded as astrological aspects producing or bringing urges latent or innate in the experience.

Trong việc diễn giải các ký lục, những phần được chọn là với ước muốn rằng trải nghiệm có thể hữu ích cho thực thể này; để thực thể có thể trở nên biết không chỉ mối tương quan của mình với vũ trụ và các lực vũ trụ mà còn hiểu lý do vì sao mình đi vào cõi vật chất, và làm sao có thể ứng dụng chính mình trong trải nghiệm này xét theo điều đã được xây dựng bởi những lần lưu trú trong vật chất, cũng như những khoảng giữa được ghi như các phương diện chiêm tinh sản sinh hay mang đến các thúc đẩy tiềm ẩn hay bẩm sinh trong trải nghiệm.

The material sojourns become expressed again through the emotions, or the awareness of same; while the astrological aspects are expressed more in the innate urges through the abilities of deeper meditation, or the turning within for the comprehension—that are as promises in life itself.

Các lần lưu trú vật chất trở lại được biểu lộ qua cảm xúc, hay sự nhận biết điều ấy; trong khi các phương diện chiêm tinh được biểu lộ nhiều hơn trong các thôi thúc bẩm sinh qua khả năng tham thiền sâu hơn, hay quay vào bên trong để lĩnh hội—như những lời hứa trong chính sự sống.

As He gave, “In patience become ye aware of your souls; and as ye abide in me, as I abide in the Father, you may know the purposes with thee since the foundations of the world.”

Như Ngài đã phán: “Trong kiên nhẫn các ngươi trở nên biết linh hồn mình; và như các ngươi ở trong Ta, như Ta ở trong Đức Cha, các ngươi có thể biết các mục đích dành cho các ngươi từ nền tảng của thế gian.”

Thus these interpretings for this entity are those records as we find that bring urges latent and manifested, but these do not surpass the birthright of each soul or entity—the WILL of the individual as to choice of that which is the knowledge, or of Knowledge itself.

Vậy nên những sự diễn giải cho thực thể này là những ký lục như chúng ta thấy, đem đến các thúc đẩy tiềm ẩn và hiển lộ, nhưng các điều này không vượt lên trên quyền thừa tự của mỗi linh hồn hay thực thể—là Ý CHÍ của cá nhân trong việc chọn lựa điều là tri thức, hay Tri Thức tự thân.

For these are as the birthright of the soul itself.

Vì những điều ấy là quyền thừa tự của chính linh hồn.

Reading 2072-8

Bài đọc 2072-8

As to the place of records—this is a place, yet it is everywhere. It, the information, to be individualized, must come from some source into some form to be interpreted in the experience of the seeker. As; ye have here a source through which information as respecting varied experiences or associations may be given that affects the self in the present. The questioning, or the ability to question, indicates the ability to answer in self. And these must follow a universal law. That which ever supersedes or is even an extenuation of spiritual and natural law, not only doubt but reject. And know, as He hath given in those witnesses as concerning the way, that these are not past finding out but are conditional—to be sure. One must, and should, prove self worthy, by the application of the universal law (and natural law) in accord with the spiritual purpose in same to be qualified, to be in the position to understand and interpret further into that man (because of his own denseness and selfishness) has called the wisdom of the age, or the mysteries of the divine.

Còn về nơi chốn của các ký lục—đó là một nơi, nhưng lại ở khắp nơi. Nó, thông tin, để trở thành cá thể hoá, phải đến từ một nguồn nào đó vào một hình thức nào đó để được diễn giải trong trải nghiệm của người tìm kiếm. Tỉ như; các ngươi có ở đây một nguồn qua đó thông tin liên quan đến các trải nghiệm hay liên hệ khác nhau có thể được ban ra, ảnh hưởng đến cái tôi trong hiện tại. Việc nêu câu hỏi, hay khả năng nêu câu hỏi, chỉ ra khả năng trả lời ở trong chính mình. Và những điều này phải tuân theo một định luật phổ quát. Điều nào luôn vượt trội hay thậm chí là sự kéo dài của định luật tinh thần và tự nhiên, không chỉ nên hoài nghi mà còn nên bác bỏ. Và hãy biết, như Ngài đã phán trong các chứng nhân liên quan đến con đường, rằng những điều này chẳng phải là vượt ngoài tầm tìm kiếm, nhưng dĩ nhiên là có điều kiện. Người ta phải, và nên, chứng minh mình xứng đáng, bằng sự ứng dụng định luật phổ quát (và định luật tự nhiên) phù hợp với mục đích tinh thần trong đó để được đủ tư cách, để ở vào vị trí thấu hiểu và diễn giải sâu hơn vào điều mà con người (do chính sự đậm đặc và vị kỷ của mình) đã gọi là minh triết của thời đại, hay là các huyền nhiệm của thiêng liêng.

To be sure, that which has disturbed this body oft, from the records that have been interpreted—and the entity has accepted or looked at with a longing—when, what and where, then, is the source of information, such as ye seek here and now?

Dĩ nhiên, điều đã thường làm khuấy động thân thể này, từ những ký lục đã được diễn giải—và thực thể đã chấp nhận hay nhìn vào với khát vọng—là: vậy khi nào, cái gì và ở đâu là nguồn thông tin, như điều các ngươi đang tìm ở đây và lúc này?

What records? Whose record is being interpreted, or being attempted to be interpreted, that ye may comprehend that being sought?

Ký lục nào? Ký lục của ai đang được diễn giải, hay đang được cố gắng diễn giải, để các ngươi có thể lĩnh hội điều đang được tìm kiếm?

The records are upon time and space, but these—ye say—are concepts of man. There is no time, there is no space; they are concepts. Then—where?

Các ký lục nằm trên thời gian và không gian, nhưng các điều này—các ngươi nói—là các quan niệm của con người. Không có thời gian, không có không gian; chúng là các quan niệm. Vậy—ở đâu?

In individual consciousness. The individual consciousness arises from that faculty or that something called mind. Thus those of old have said it in these words: “My spirit beareth witness with thy spirit, saith the Lord of hosts.”

Trong tâm thức cá nhân. Tâm thức cá nhân phát sinh từ năng lực hay cái gì đó được gọi là tâm trí. Bởi thế những người xưa đã nói điều ấy trong những lời này: “Thần Ta làm chứng cùng thần ngươi, phán Đức Chúa của muôn đạo binh.”

Then, the record is thine. How, then—ye ask—may this individual ye call Edgar Cayce interpret same? How do I know such is a correct interpretation? From whence is same read? With what is there the interpreting of happenings physical, of associations with material purposes and desires, under those environs when quite a different manner or language was used in interpreting the associations and activities? Whence cometh such a knowledge to one individual, as to interpret the records of another through varied spheres of activity or experience?

Vậy thì, ký lục là của ngươi. Vậy—các ngươi hỏi—làm sao người cá nhân mà các ngươi gọi là Edgar Cayce có thể diễn giải điều ấy? Làm sao ta biết đó là một sự diễn giải đúng? Từ đâu điều ấy được đọc? Bằng gì mà có sự diễn giải các biến cố thể lý, các liên hệ với các mục đích và ước muốn vật chất, dưới những môi trường khi một cách thức hay ngôn ngữ rất khác đã được dùng để diễn giải các liên hệ và hoạt động? Từ đâu một tri thức như vậy đến với một cá nhân, để diễn giải ký lục của người khác qua những tầng hoạt động hay trải nghiệm khác nhau?

Only as a gift of Him who has given, “If ye keep my ways, I will love thee, will abide with thee, and bring to thy remembrance ALL things from the foundation of the world.”

Chỉ như một ân tặng từ Ngài, Đấng đã phán: “Nếu các ngươi giữ đường lối của Ta, Ta sẽ yêu các ngươi, sẽ ở với các ngươi, và đem đến cho các ngươi nhớ lại MỌI điều từ nền tảng của thế gian.”

Then, while the source may be entirely capable of bringing a full or complete knowledge, the answers must ever be according to the law just given—within thine own self.

Vậy nên, dẫu nguồn cội có thể hoàn toàn có đủ năng lực để mang đến một tri thức đầy đủ hay trọn vẹn, thì các câu trả lời vẫn phải luôn tương ứng với định luật vừa được nêu—ở trong chính bản thân các ngươi.

These truths—not thoughts—consider; as ye seek interpreting of experiences and associations—as well as when ye read those interpretings by others that are guided or directed by their interpretation of their spirit of direction.

Những chân lý này—không phải những ý nghĩ—hãy cân nhắc; khi các ngươi tìm sự diễn giải các trải nghiệm và liên hệ—cũng như khi các ngươi đọc những diễn giải do những người khác viết ra, những người được dẫn dắt hay định hướng bởi sự diễn giải của họ về thần linh hướng đạo của họ.

Reading 2246-1

Bài đọc 2246-1

The records each entity makes are written or impressed upon time and space; and through patience one may attain to the awareness or consciousness of same in one’s own experience.

Các ký lục mà mỗi thực thể tạo ra được viết hay được in lên thời gian và không gian; và qua kiên nhẫn người ta có thể đạt đến sự nhận biết hay tâm thức về điều ấy trong chính trải nghiệm của mình.

Thus may the relationships of the entity and the universal consciousness, or God, become more and more a conscious reality. Not that it may be even describable in words. For, words are merely a means of communicating ideas to one individual from another, while universal consciousness with Creative Forces is rather the awareness that bespeaks of life itself. And life in every form is the manifestation of that force called God.

Vậy nên mối tương quan của thực thể và tâm thức phổ quát, hay Thượng đế, có thể trở nên ngày càng là một thực tại có ý thức. Không phải để nó có thể thậm chí được mô tả bằng lời. Vì lời nói chỉ là một phương tiện truyền đạt ý tưởng từ người này sang người khác, trong khi tâm thức phổ quát với các Mãnh Lực Sáng Tạo là sự nhận biết nói lên chính sự sống. Và sự sống trong mọi hình thái là sự biểu hiện của mãnh lực được gọi là Thượng đế.

Yet, as was given in those admonitions by Him—who in the flesh was a manifestation, or became the manifestation of that God-consciousness in the material world—“In patience ye may become aware of, or awakened to, thy soul. In patience, and living in that consciousness, I may bring to your remembrance all things from the foundations of the world.”

Tuy nhiên, như đã được ban trong các lời khuyên răn của Ngài—Đấng trong xác phàm là một biểu hiện, hay trở thành biểu hiện của tâm thức Thượng đế trong thế giới vật chất—“Trong kiên nhẫn các ngươi có thể trở nên nhận biết, hay được đánh thức, về linh hồn của mình. Trong kiên nhẫn, và sống trong tâm thức ấy, Ta có thể đem đến cho các ngươi nhớ lại mọi điều từ nền tảng của thế gian.”

These are indications, then, that this entity in itself may—if it chooses—come to that awareness of its relationships to that universal consciousness, that Christ-likeness which is manifested by the relationships or dealings one with another.

Đây là những chỉ báo, vậy, rằng chính thực thể này có thể—nếu nó chọn—đi đến sự nhận biết mối tương quan của mình với tâm thức phổ quát ấy, cái giống như Đức Christ được biểu hiện qua những tương quan hay xử đãi giữa người với người.

For as each soul—not the body but the soul—is the image of the Maker, so with the awareness of the soul-consciousness there may come the awakening to the realization of the soul’s relationship with that universal consciousness, as is promised in Him.

Vì mỗi linh hồn—không phải thân xác mà là linh hồn—là hình ảnh của Đấng Tạo Hoá, cho nên với sự nhận biết tâm thức linh hồn có thể đến sự tỉnh thức về mối tương quan của linh hồn với tâm thức phổ quát ấy, như đã được hứa trong Ngài.

Thus the records of each entity are a part of the universal consciousness, and “Inasmuch as ye did it unto the least of my little ones, ye did it unto me.” These are the channels, these are the records then that ever stand as that angel before the throne, that there may be intercession. For, as the spirit of the Christ is one, and the individual entity in its manifestations of thought, purpose and desire makes its awareness one with that consciousness, so may that soul awareness come. For, ye find thyself body, mind, soul. These three bear witness in the earth. And the Christ-Consciousness, the Holy Spirit AND thy guardian angel bear witness in the spirit.

Vậy nên các ký lục của mỗi thực thể là một phần của tâm thức phổ quát, và “Hễ các ngươi làm điều đó cho một kẻ nhỏ mọn nhất trong những kẻ nhỏ mọn của Ta, ấy là các ngươi đã làm cho Ta.” Đây là các kênh, đây là các ký lục luôn đứng như thiên thần trước ngai, để có thể có sự cầu thay. Vì, bởi tinh thần của Đức Christ là một, và thực thể cá nhân trong các biểu lộ của tư tưởng, mục đích và ước muốn làm cho sự nhận biết của nó nên một với tâm thức ấy, thì sự nhận biết của linh hồn có thể đến. Vì, các ngươi thấy mình là thân xác, tâm trí, linh hồn. Ba điều này làm chứng trong trần gian. Và tâm thức Christ, Chúa Thánh Thần VÀ thiên thần hộ mệnh của ngươi làm chứng trong linh giới.

What, then, have been the manifestations of the entity through the earth experience that have brought about this present state of awareness in this ye call time and space!

Vậy thì, những biểu lộ nào của thực thể qua trải nghiệm trần thế đã mang đến trạng thái nhận biết hiện nay trong cái các ngươi gọi là thời gian và không gian này!

In interpreting the records, then, there are urges latent and manifested that are the witnesses in the records as we find here.

Trong việc diễn giải các ký lục, vậy thì có những thôi thúc tiềm ẩn và hiển lộ vốn là các chứng nhân trong các ký lục như chúng ta thấy ở đây.

Reading 2420-1

Bài đọc 2420-1

In interpreting the records as we find them here of this entity, there are influences arising from the sojourns of the entity in the material planes, as well as from the sojourns of the consciousness during the interims between the earthly experiences.

Khi diễn giải các ký lục như chúng ta thấy ở đây về thực thể này, có những ảnh hưởng phát sinh từ các cuộc lưu trú của thực thể trong các cõi vật chất, cũng như từ các lưu trú của tâm thức trong các khoảng giữa những trải nghiệm trần thế.

Not all of these may be indicated in this one experience of interpreting the records, but these are chosen as those that indicate that needed in the present, or that as may be applied in the present consciousness of the entity as to indicate growth towards the filling of that purpose for which the entity entered this present experience.

Không phải tất cả những điều này đều có thể được chỉ ra trong một lần diễn giải các ký lục, nhưng những điều được chọn là những điều chỉ ra điều cần thiết trong hiện tại, hay điều có thể được áp dụng trong tâm thức hiện tại của thực thể để chỉ thị sự tăng trưởng hướng đến sự hoàn tất mục đích mà vì đó thực thể bước vào trải nghiệm hiện nay.

What then, ye may ask, ARE the purposes for a soul manifesting in flesh in ANY individual entity?

Vậy thì, các ngươi có thể hỏi, MỤC ĐÍCH cho một linh hồn biểu hiện trong xác thịt trong BẤT KỲ thực thể cá nhân nào là gì?

In the beginning, all souls that were as portions of the thought of God were given the opportunity for expression, as to be companions for that Creative Force—or God.

Thuở ban đầu, tất cả các linh hồn—những phần của tư tưởng của Thượng đế—được ban cơ hội để biểu đạt, như những bạn hữu của Mãnh Lực Sáng Tạo—hay là Thượng đế.

Hence—as the application of self in relationship to the individual abilities has brought them as individuals into the various relations and into spheres of activity, in some there have been growths and in some there have been retardments.

Vậy nên—khi sự ứng dụng cái tôi trong tương quan với các năng lực cá nhân đã đưa họ như những cá thể vào những liên hệ khác nhau và vào các tầng hoạt động, trong một số có tăng trưởng và trong một số có trì trệ.

But He, the Father, has not willed that any soul should perish, but has with each fault, each failure, prepared a way of escape; and that knowledge, that way, lies within the consciousness of each.

Nhưng Ngài, Đức Cha, không hề muốn một linh hồn nào phải hư mất, mà với mỗi lỗi phạm, mỗi thất bại, Ngài đã chuẩn bị một lối thoát; và tri thức ấy, con đường ấy, nằm trong tâm thức của mỗi người.

Reading 2787-1

Bài đọc 2787-1

Yes, we are given the records of that entity now known as or called [2787].

Phải, chúng ta được ban các ký lục của thực thể hiện nay được biết đến hay được gọi là [2787].

A beautiful record!

Một ký lục tươi đẹp!

In giving the interpretations of the records as we find them here, much of these we find too beautiful to be classified or even called experiences. For, there has been a growth of this entity throughout the material sojourns. Not that there have not been wanderings at times, but a growth and an unfoldment.

Khi diễn giải các ký lục như chúng ta thấy ở đây, nhiều điều trong ấy chúng ta thấy quá đẹp đến mức khó có thể phân loại hay thậm chí gọi là các trải nghiệm. Vì đã có sự tăng trưởng của thực thể này xuyên suốt các lần lưu trú trong vật chất. Không phải là không từng có những lạc bước đôi lúc, nhưng là một sự tăng trưởng và khai mở.

These records are written upon time and space. Just as light goes out from a candle influencing the universe, the light that goes out from a life influences all with whom it comes in contact—and grows, dependent upon the spirit with which it is tempered.

Các ký lục này được viết trên thời gian và không gian. Cũng như ánh sáng toả ra từ một ngọn nến ảnh hưởng đến vũ trụ, ánh sáng toả ra từ một đời sống ảnh hưởng đến tất cả những ai nó tiếp xúc—và lớn lên, tuỳ thuộc vào tinh thần mà nó được tôi luyện.

Then in patience these records may be interpreted.

Vậy thì trong kiên nhẫn các ký lục này có thể được diễn giải.

Reading 2156-2

Bài đọc 2156-2

(Q) Anything else that may be given at this time?

(H) Còn điều gì khác có thể được ban lúc này không?

(A) Anything else?!! WORLDS! Worlds might be filled with that as might be given! But let each of you here so live the Christ-Consciousness, as manifested in the Master, that you may be counted worthy to be even as those who would gather the crumbs of wisdom that will be manifested through this entity!

(Đ) Còn điều gì khác ư?!! THẾ GIỚI! Cả những thế giới có thể được lấp đầy bởi những điều có thể ban ra! Nhưng hãy để mỗi người trong các ngươi ở đây sống tâm thức Christ, như được biểu hiện nơi Vị Thầy, để các ngươi có thể được kể là xứng đáng, dẫu chỉ như những người sẽ nhặt các mẩu vụn của minh triết sẽ được biểu lộ qua thực thể này!

Reading 1904-2

Bài đọc 1904-2

Yes, we have the records here of that entity now known as or called [1904].

Phải, chúng ta có các ký lục ở đây của thực thể hiện nay được biết đến hay được gọi là [1904].

In giving the interpretations of the records as we find them here, these interpretations are chosen with the desire to make this a helpful experience for the entity; analyzing the urges and impulses in such a manner that there may be a greater perspective gained by the entity as to why this or that has been the experience in this sojourn—from what latent force or power these urges have gravitated; and to give, if possible, a greater impulse for the application of self towards filling that purpose, or accomplishing that for which the entity entered this experience.

Khi diễn giải các ký lục như chúng ta thấy ở đây, những diễn giải này được chọn với ước muốn làm cho điều này trở thành một trải nghiệm hữu ích cho thực thể; phân tích các thôi thúc và xung lực theo cách để thực thể có thể đạt một phối cảnh lớn hơn về lý do tại sao điều này hay điều kia đã là một trải nghiệm trong lần lưu trú này—các thôi thúc ấy hấp dẫn từ lực hay quyền năng tiềm ẩn nào; và nếu có thể, đem cho một xung lực lớn hơn cho sự ứng dụng cái tôi hướng đến việc làm tròn mục đích, hay hoàn tất điều vì đó thực thể bước vào trải nghiệm này.

All is not beautiful from some angles, yet harmony and music, love, and the abilities for attracting of others, have been and are the latent forces in the powers of the entity.

Không phải mọi điều đều đẹp đẽ dưới một số góc nhìn, tuy nhiên hoà điệu và âm nhạc, tình thương, và các khả năng hấp dẫn người khác, đã và đang là những lực tiềm ẩn trong quyền năng của thực thể.

Thus the good may be made a greater influence or force, magnified in the rest of the experience, and those things that would hinder made less and less effective in the relationships with others.

Vậy nên điều thiện có thể được làm thành một ảnh hưởng hay mãnh lực lớn hơn, được phóng đại trong phần còn lại của trải nghiệm, và những điều có thể cản trở thì được làm cho ngày càng bớt hiệu lực trong các tương quan với người khác.

Remember, these interpretations are given with that intent to bring the materialization and realization to the entity of the continuity of life, and that what we do in mind and body records or leaves its imprint upon the soul,—just as that one masticates in bodily functions produces the physiognomy of the individual.

Hãy nhớ, những diễn giải này được ban với mục đích đem đến cho thực thể sự hiện hình và nhận thức về tính liên tục của sự sống, và rằng những gì chúng ta làm trong tâm trí và thân thể đều ghi vào hay để lại ấn dấu của nó trên linh hồn,—cũng như điều người ta nhai nuốt trong các chức năng của thân xác thì tạo nên diện mạo của cá nhân.

Reading 564-1

Bài đọc 564-1

EC: We have the body here, [564].

EC: Chúng ta có thân thể ở đây, [564].

Now, as we find, conditions physical may be said to be rather in that phase of their changes where counsel and advice had best be given regarding same as to recuperative measures for the body.

Giờ đây, như chúng ta thấy, các điều kiện thể chất có thể nói là đang ở vào giai đoạn biến chuyển mà tại đó tốt hơn nên ban lời khuyên và chỉ dẫn về các biện pháp hồi phục cho thân thể.

To be sure, it may be asked how there may be such conclusions arrived at through these channels—or why there may be the information from impressions rather than from the body itself.

Dĩ nhiên, có thể hỏi làm sao có thể đi tới những kết luận như vậy qua những kênh này—hay vì sao có thể có thông tin từ các ấn tượng hơn là từ thân thể tự thân.

This body and its general attitude, [564] we are speaking of, is a good example of this. From whatever realm an activity may be viewed or read, that activity IS the more prominent or outstanding fact. Would one imitating a frog be able to croak as well as a frog? Would that in the worm be able to act as much like that man knows as electricity as that which passes through the earth in the cloud or lightning? Both are forms of electricity, but their activity may be viewed better from the activity in which their activity is manifested.

Thân thể này và thái độ chung của nó, [564]—chúng ta đang nói đến—là một thí dụ hay về điều này. Dù từ cõi nào một hoạt động có thể được quan sát hay đọc, thì hoạt động ấy CHÍNH LÀ sự kiện nổi bật hơn cả. Người bắt chước con ếch liệu có thể kêu oạc oạc giỏi như ếch không? Điều ở trong con trùn liệu có thể hành xử giống như điều con người biết là điện, y như điều đi qua đất trong đám mây hay tia chớp không? Cả hai đều là các dạng của điện, nhưng hoạt động của chúng có thể được quan sát tốt hơn từ hoạt động mà trong đó hoạt động của chúng được biểu hiện.

So it is in regard to a body and the impressions; for thoughts ARE deeds and leave their imprint upon that element in which, through which, the activity is carried on—and may be read!

Về một thân thể và các ấn tượng cũng vậy; vì tư tưởng LÀ hành vi và để lại ấn dấu của chúng trên yếu tố mà trong đó, qua đó, hoạt động được tiến hành—và có thể được đọc!

And this body in its thought, in its manifesting activity of waiting, putting out of the mind and activity other things that there might be information given for same, makes a channel through which there may be the greater service (if it will be acted upon), to the very principles that are or may be constructive influences in the experience of the body.

Và thân thể này, trong tư tưởng của nó, trong hoạt động biểu hiện là sự chờ đợi, gạt ra khỏi tâm trí và hoạt động các điều khác để có thể có thông tin được ban cho chính nó, đã tạo một kênh qua đó có thể có sự phụng sự lớn hơn (nếu điều đó được thực hành) đối với những nguyên tắc vốn là hay có thể là các ảnh hưởng xây dựng trong trải nghiệm của thân thể.

For, to some the touch of the hand, the smell of the rose, the look of the eye, all are giving forth an energy that is using in its very activity the forces that are spirit—or a manifestation of that men worship as God in the earth.

Vì, với một số người, cái chạm tay, mùi hương của đoá hồng, cái nhìn của đôi mắt—tất cả đều phóng phát một năng lượng đang sử dụng trong chính hoạt động của nó các mãnh lực thuộc linh—hay một biểu hiện của điều mà con người thờ phụng như Thượng đế trong trần gian.

Reading 833-1

Bài đọc 833-1

In giving that which may be helpful to the entity in the present and in the application of those experiences in the earth, it is well that the entity consider the sources of such information and how that given is applicable in the experience of self in the present.

Khi ban điều có thể hữu ích cho thực thể trong hiện tại và trong việc ứng dụng những trải nghiệm ấy trong địa cầu, điều tốt là thực thể cân nhắc các nguồn của thông tin như vậy và cách mà điều được ban ấy có thể ứng dụng trong trải nghiệm của cái tôi trong hiện tại.

As it is understood and seen, all force, all matter, is motivative by force known as spiritual. While the body is made up of elements that are atomic, super atomic, gas, influences that combine, all give off their radiation, both as to the mental reaction and what the body-mind does about that reaction, and it is recorded or becomes a portion of the whole radiation of that phase or manifestation in which the entity is conscious at such a period. And it is recorded upon that known or experienced by a conscious mind as time and space. And it may be read even as the records of a printed page. Hence that which has been the thought, the activity of the entity throughout its experience in matter, in the gaseous forces, in the atomic influences, is part and parcel of the entity’s being. Thus we are, then, the sum, the substance, of that we do, we have, or may think and do. For each entity has that imprint of the Creative Energies or Force that makes of it an influence that is seen, known, felt, throughout the universe. For it, the entity, is a part of same, with the attributes of Creative Forces or Energies. And in the material it is endowed with that to apply same.

Như đã hiểu và thấy, mọi lực, mọi chất, đều được vận động bởi mãnh lực được biết như tinh thần. Trong khi thân thể được tạo thành bởi các yếu tố là nguyên tử, siêu nguyên tử, khí, những ảnh hưởng kết hợp—tất cả đều phóng xạ, vừa theo phản ứng tinh thần vừa theo điều mà thân-tâm làm đối với phản ứng ấy—và điều ấy được ghi lại hay trở thành một phần của toàn bộ bức xạ của giai đoạn hay biểu hiện mà trong đó thực thể ý thức ở một thời kỳ như vậy. Và điều ấy được ghi lại trên cái được một tâm trí ý thức biết hay trải nghiệm như thời gian và không gian. Và nó có thể được đọc như những ký lục trên một trang in. Vậy nên điều đã là tư tưởng, hoạt động của thực thể xuyên suốt trải nghiệm của nó trong vật chất, trong các lực khí, trong các ảnh hưởng nguyên tử, là một phần không thể tách rời của hữu thể thực thể. Vậy nên chúng ta là, như thế, tổng số, bản chất, của điều chúng ta làm, chúng ta có, hay có thể nghĩ và làm. Vì mỗi thực thể mang ấn dấu của các Năng Lượng hay Mãnh Lực Sáng Tạo, khiến nó thành một ảnh hưởng được thấy, được biết, được cảm, xuyên suốt vũ trụ. Vì nó, thực thể, là một phần của cùng một toàn thể, với các thuộc tính của các Mãnh Lực hay Năng Lượng Sáng Tạo. Và trong vật chất nó được phú bẩm cái để ứng dụng các điều ấy.

The source, then, is the reading of that the entity has accomplished in the earth, and the influences that are activating upon same by its sojourns in the environments of the earth’s associations IN time and space.

Nguồn cội, vậy, là việc đọc những gì thực thể đã đạt thành trong địa cầu, và những ảnh hưởng đang tác động lên điều ấy bởi các lần lưu trú của nó trong những môi trường của các liên hệ thuộc địa cầu TRONG thời gian và không gian.

Reading 2610-1

Bài đọc 2610-1

Urges latent and manifested arise from sources within the experience of the entity. All of former appearances or activities of the soul-entity in other spheres or dimensions have left their imprint. And each soul gives expression of same, dependent upon the ideal of the entity and the expression of the urge whether latent or manifested by the ego of the entity.

Các thôi thúc tiềm ẩn và hiển lộ phát sinh từ các nguồn bên trong trải nghiệm của thực thể. Tất cả các lần xuất hiện hay hoạt động trước đây của linh-hồn-thực-thể trong các cõi hay chiều kích khác đã để lại ấn dấu của mình. Và mỗi linh hồn đều biểu đạt điều ấy, tuỳ thuộc vào lý tưởng của thực thể và sự biểu lộ của thôi thúc—dù tiềm ẩn hay hiển lộ—bởi phàm ngã của thực thể.

For, each soul is that it has done about creative influences through its sojourns in the varied consciousnesses or spheres of awareness.

Vì, mỗi linh hồn là điều nó đã làm đối với các ảnh hưởng sáng tạo xuyên qua những lưu trú của nó trong các tâm thức hay cõi nhận biết khác nhau.

Reading 364-6

Bài đọc 364-6

… for, as records are made, the akashic records are as these: Activity of ANY nature, as of the voice, as of a light made, produced in the natural forces those of a motion—which pass on, or are upon, the record of that as time. As may be illustrated in the atomic vibration as set in motion for those in that called the audition, or the radio in its activity. IT passes even faster than time itself. Hence LIGHT forces pass much faster, but the records are upon the esoteric, or etheric, or akashic forces, as they go along upon the wheels of time, the wings of time, or in WHATEVER dimension we may signify as a matter of its momentum or movement. Hence as the forces that are attuned to those various incidents, periods, times, places, may be accorded to the record, the CONTACT as of the needle upon the record, as to how clear a rendition or audition is received, or how clear or how perfect an attunement of the instrument used as the reproducer of same is attuned to those KEEPERS—as may be termed—OF those records. What would be indicated by the keepers? That as just given, that they are the records upon the wings or the wheel of time itself. Time, as that as of space—as inter-between. That inter-between, that which is, that of which, that from one object to another when in matter is of the same nature, or what that is is what the other is, only changed in its vibration to produce that element, or that force, as is termed in man’s terminology as DIMENSIONS of space, or DIMENSIONS that give it, whatever may be the solid, liquid, gas, or what ITS FORM or dimension!

… vì, khi các ký lục được tạo tác, ký lục akasha là như thế này: Hoạt động thuộc BẤT KỲ bản chất nào, như của giọng nói, như của một ánh sáng được tạo ra, tạo nên trong các lực tự nhiên những điều thuộc chuyển động—chúng đi tiếp, hay ở trên, ký lục của cái gọi là thời gian. Như có thể minh hoạ trong rung động nguyên tử được khởi động cho những điều trong cái được gọi là thính thanh, hay máy thu thanh trong hoạt động của nó. NÓ truyền đi thậm chí nhanh hơn chính thời gian. Do đó CÁC lực ÁNH SÁNG truyền đi nhanh hơn nhiều, nhưng các ký lục nằm trên các lực huyền bí, hay dĩ thái, hay akasha, khi chúng đi cùng trên bánh xe thời gian, đôi cánh thời gian, hay trong BẤT KỲ chiều kích nào mà chúng ta có thể chỉ danh tuỳ theo đà hay chuyển động của nó. Vậy nên khi các mãnh lực được chỉnh hợp với các biến cố, thời kỳ, thời điểm, nơi chốn khác nhau, có thể được phối ứng với ký lục, thì SỰ TIẾP XÚC như của kim trên đĩa ghi, tuỳ theo độ rõ của bản tái hiện hay thính thanh được thu, hay tuỳ theo độ rõ hay độ hoàn hảo của sự chỉnh hợp của khí cụ được dùng như thiết bị tái tạo với những NGƯỜI GIỮ—có thể gọi như thế—CỦA các ký lục ấy. Cái gì sẽ được hiểu bởi những người giữ? Ấy như vừa nói, rằng chúng chính là các ký lục trên đôi cánh hay bánh xe của thời gian tự thân. Thời gian, như cái của không gian—như khoảng ở-giữa. Khoảng ở-giữa ấy, cái là, cái mà trong đó, cái từ vật này sang vật khác khi ở trong vật chất là cùng một bản chất, hay cái này là cái kia, chỉ khác trong rung động để sinh ra yếu tố ấy, hay mãnh lực ấy, như được gọi trong thuật ngữ của con người là CÁC CHIỀU KÍCH của không gian, hay CÁC CHIỀU KÍCH khiến cho nó là, bất kể là rắn, lỏng, khí, hay bất kỳ HÌNH THỨC hay chiều kích của nó!

Reading 254-67

Bài đọc 254-67

(Q) What was the cause of not being able to obtain [355]’s Life Reading on Saturday morning, June 10th, when attempted? [See 355-1 on 6/13/33.]

(H) Nguyên nhân của việc không thể có được Bài Đọc Đời Sống của [355] vào sáng thứ bảy, ngày 10 tháng 6, khi đã thử là gì? [Xem 355-1 vào 6/13/33.]

(A) The inability for the active forces of the body Edgar Cayce, from the cycle of psychic influence, to contact that record necessary for the interpreting of same.

(Đ) Sự bất khả cho các mãnh lực hoạt động của thân thể Edgar Cayce, do chu kỳ ảnh hưởng tâm linh, trong việc tiếp xúc với ký lục cần thiết cho sự diễn giải điều ấy.

It would be well that there be reviewed much that has been given through these channels, as to how information is obtained through these channels. Much has been given from time to time, though—in reviewing same—there may be some enlargements upon that already given that may be enlightening to those present, as to their own susceptibility to such influence; and may also enlighten some as to a better understanding of the laws that govern same …

Sẽ là điều hay nếu duyệt lại nhiều điều đã được ban qua những kênh này, về cách thông tin được lĩnh hội qua những kênh này. Nhiều điều đã được ban theo thời gian, tuy—khi duyệt lại—có thể có vài mở rộng trên điều đã ban vốn có thể khai sáng cho những người hiện diện, về tính cảm thụ của chính họ đối với ảnh hưởng như vậy; và cũng có thể khai sáng cho một số người về sự hiểu biết tốt hơn các định luật chi phối điều ấy …

Then, considering this particular channel and what takes place when information of a varied sort is obtained, or obtainable, or unobtainable through this channel Edgar Cayce:

Vậy thì, xét đến kênh đặc thù này và những điều xảy ra khi thông tin thuộc các loại khác nhau được lĩnh hội, hay có thể lĩnh hội, hay không thể lĩnh hội qua kênh Edgar Cayce này:

As has been set forth as to the developing of the soul-entity through material-earthly manifestations (Please watch the wording), there has been a development for the soul-entity that lends itself (through natural consequence of environment and hereditary influence, from the spiritual plane) to activity in the realms of psychic or mental forces.

Như đã được trình bày về sự phát triển của linh-hồn-thực-thể qua các biểu hiện nơi trần (Xin lưu ý cách diễn đạt), đã có một phát triển đối với linh-hồn-thực-thể khiến nó thích hợp (qua hệ quả tự nhiên của môi trường và ảnh hưởng di truyền, từ cõi tinh thần) cho hoạt động trong các cõi của các mãnh lực tâm linh hay trí tuệ.

Then, consider also that which has been given, that through the subconscious or superconscious forces of the entity the manifestations may take place; or from the superconscious or subconscious forces of entities that may have passed into that designated as the spiritual realm. Through these, or through the universal consciousness or cosmic consciousness from the very abilities of the entity Edgar Cayce to wholly subjugate the physical consciousness as to allow the use of physical organs that may be attuned to all realms that pertain to psychic or mental or spiritual influences in the realms about the entity.

Vậy thì, cũng hãy xét đến điều đã được ban, rằng qua các lực tiềm thức hay siêu tâm thức của thực thể mà các biểu hiện có thể diễn ra; hoặc từ các lực siêu tâm thức hay tiềm thức của những thực thể đã có thể đi vào cõi được chỉ định là cõi tinh thần. Qua những điều này, hay qua tâm thức phổ quát hay tâm thức vũ trụ, từ chính năng lực của thực thể Edgar Cayce để hoàn toàn khuất phục tâm thức thể chất hầu cho phép sử dụng các cơ quan thể chất có thể được chỉnh hợp với mọi cõi liên hệ đến các ảnh hưởng tâm linh hay trí tuệ hay tinh thần trong các cõi quanh thực thể.

Then, that which wavers or hinders or repels or blocks the activity through this channel when in such a state may be from these causes; namely:

Vậy nên, điều chao đảo hay cản trở hay đẩy lùi hay ngăn chặn hoạt động qua kênh này khi ở trong trạng thái như vậy có thể đến từ những nguyên nhân này; cụ thể là:

The unwillingness of the body-consciousness to submit to the suggestion as pertaining to information desired at that particular time. Or the activity of the physical in such a manner as to require the influence or supervision of the superconsciousness in the body, or ill health, at such a period. Or the mental attitude of those about the body that are not in accord with the type, class or character of information sought at that particular time. Or there may be the many variations of the combination of these, influencing one to another, as to the type, class or real activity of the entity or soul that seeks the information.

Sự không muốn của tâm-thân thể xác quy phục ám thị liên quan đến thông tin mong muốn tại thời điểm đó. Hoặc hoạt động của thể chất theo cách đòi hỏi ảnh hưởng hay sự giám sát của siêu tâm thức trong thân thể, hay do sức khoẻ kém, vào kỳ đó. Hoặc thái độ tinh thần của những người quanh thân thể không tương hợp với loại, hạng hay đặc tính thông tin được tìm kiếm tại thời điểm đó. Hoặc có thể có nhiều biến thiên phối hợp của những điều này, ảnh hưởng lẫn nhau, tuỳ theo loại, hạng hay hoạt động thực sự của thực thể hay linh hồn đang tìm thông tin.

For, as may be surmised from that given, one that would approach the sources of the information with the innate and manifested desire that that which is supplied in information should emanate from a loved one in the spiritual realm, and that desire has kept such an entity in the realm of communication, and there are those combative influences in the experience of that entity so seeking, and the development of the entity of the channel or medium through which the information may be attempted is capable of such contact, is there not—as presented in Holy Writ—the continual warring with the flesh and the spirit? The continual warring also with the spirit or entity or consciousness that would control through such a period of information passing from one realm to another.

Vì, như có thể suy ra từ điều đã được ban, người nào tiếp cận các nguồn thông tin với ước muốn bẩm sinh và hiển lộ rằng điều được cung cấp trong thông tin phải xuất phát từ một người thân yêu trong cõi tinh thần, và ước muốn ấy đã giữ một thực thể như vậy ở trong cõi giao tiếp, và có các ảnh hưởng mang tính đối kháng trong trải nghiệm của thực thể đang tìm kiếm ấy, và sự phát triển của thực thể làm kênh hay đồng tử/trung gian qua đó thông tin có thể được thử là có khả năng cho sự tiếp xúc như vậy, thì há chẳng phải—như được trình bày trong Thánh Thư—có sự giao tranh không ngớt giữa xác thịt và tinh thần sao? Cũng có cuộc giao tranh không ngớt với linh thể hay thực thể hay tâm thức muốn kiểm soát qua một giai đoạn chuyển tải thông tin từ cõi này sang cõi khác như vậy.

For (for further explanation), this should be known to all: The material realms or earth activities are as a shadow or a manifestation of a spiritual law, that may in its essence—when viewed from the realm of psychic or spiritual or mental influence—appear to be quite different; yet one is the shadow of the other. But in describing, then, as a shadow upon a material plane, there would be periods—according to the time of day, the position of the body from the source of light casting such a shadow—when there would be an outline that anyone would know that from which the shadow was cast. Yet at other periods the shadow would be, of the same body (material body), such that the description would not reach the consciousness of those even more intimate with the body from which such a shadow would be cast.

Vì (để giải minh thêm), điều này cần được mọi người biết: Các cõi trần hay các hoạt động nơi đất là như một cái bóng hay một biểu hiện của một định luật tinh thần, mà trong bản chất của nó—khi nhìn từ cõi ảnh hưởng tâm linh hay tinh thần hay trí tuệ—có thể dường như rất khác; tuy nhiên cái này là cái bóng của cái kia. Nhưng khi mô tả, vậy, như một cái bóng trên mặt phẳng vật chất, sẽ có những thời khắc—tuỳ theo thời điểm trong ngày, vị trí của thân thể so với nguồn sáng đổ cái bóng ấy—mà khi ấy sẽ có một đường nét mà bất kỳ ai cũng biết rõ vật đã đổ ra cái bóng đó. Tuy nhiên ở những thời khắc khác, cái bóng—của cùng thân thể (thân thể vật chất)—sẽ như thế mà sự mô tả sẽ không thể đến được tâm thức của những người thậm chí thân thuộc hơn cả với thân thể đã đổ cái bóng ấy.

So, with that which may emanate through such a channel, there be many influences that have to do with the corrector of the shadow cast; remembering, too, that material things—or the vocal cords of a body, material—are being used as the means of transmitting that which may be seen of the actual or true body that is being described, analyzed, philosophized, theorized, or acted upon by or through that being sought.

Cũng vậy, với điều có thể phát xuất qua một kênh như vậy, có nhiều ảnh hưởng liên quan đến “bộ hiệu chỉnh” của cái bóng được đổ; cũng nhớ rằng các vật chất—hay dây thanh quản của một thân thể, là vật chất—đang được dùng làm phương tiện truyền tải điều có thể nhìn thấy về thân thể thật sự hay đúng đắn đang được mô tả, phân tích, triết lý hoá, lý thuyết hoá, hay hành xử bởi hay qua điều đang được tìm kiếm.

Hence, there are laws that pertain to the activity; as to why there become periods when there is the inability of activity, or when the activity becomes hindered by DIVERS reasons or causes, when they are so called in the material plane.

Do đó, có những định luật liên quan đến hoạt động; về lý do vì sao có những thời kỳ không thể hoạt động, hoặc khi hoạt động bị cản trở bởi NHIỀU nguyên do hay nguyên cớ, như thế khi chúng được gọi ở cõi hồng trần.

As in this particular instance that is asked for, with this entity now known as [355]: There were, in the field or room at that particular time, feelings in the make-up (which means of the whole body) of those present that made for a deflecting of that being sought; as well as of the shadow cast. Or, there was the inability to reach that position, that plane, that sphere, from which the record was being sought as made by the entity.

Như trong trường hợp cụ thể đang được hỏi này, với thực thể hiện nay được biết là [355]: Lúc ấy, trong cánh đồng hay gian phòng đó, đã có những cảm thọ trong cấu trúc (tức là toàn thân thể) của những người hiện diện khiến cho điều đang được tìm cầu bị lệch hướng; cũng như cái bóng đổ ra. Nghĩa là, đã không thể tiếp cận vị trí ấy, cõi ấy, cảnh giới ấy, từ đó bản ký lục đang được tìm kiếm như do chính thực thể ghi lại.

What are the records, and how are they made, is asked, that they may be turned back and so read by any soul-mind or medium or channel? (Which, in its analysis, means the soul-mind of either the entity through which the information comes or that entity speaking or manifesting, whether in hearing, in visioning, in writing, in speaking; but, as given, to become a manifestation it must approach through one of the channels through which consciousness comes to those that reside in the plane that is seeking the information. See? Hence, called senses.) In this particular instance, again there were those conditions in the entity’s mental being seeking the information that were combative in opening self that the real record might be read as made.

Hỏi: Ký lục là gì, và chúng được tạo lập như thế nào, để có thể được lật mở và đọc bởi bất kỳ tâm trí linh hồn hay đồng tử/trung gian hay kênh nào? (Với sự phân tích, điều này muốn nói đến tâm trí linh hồn của hoặc là thực thể qua đó thông tin đến hoặc thực thể đang nói hay biểu lộ, dù là qua nghe, qua thị kiến, qua viết hay qua nói; nhưng, như đã nêu, để trở thành một sự biểu lộ, nó phải đi qua một trong những kênh mà tâm thức đi vào nơi những kẻ cư ngụ trong cõi đang tìm kiếm thông tin. Hiểu chứ? Do đó, gọi là các giác quan.) Trong trường hợp cụ thể này, lại có những điều kiện trong hiện thể tâm trí của thực thể đang tìm kiếm thông tin mang tính phản kháng trong việc mở mình để bản ký lục thực sự có thể được đọc như nó đã được lập.

How is the record made? How is the record read?

Bản ký lục được tạo lập như thế nào? Bản ký lục được đọc như thế nào?

In the material plane we have instruments that are so attuned through the raising of the forces in various elements of one or another of the consciousnesses that manifest in the material plane. As in the phonograph or the radio, or the prism light; or any of the activating influences such as in the stethoscope with its various acoustic arrangements for the activity of elements related to movements of various influences within the realm of man’s activity in respiration, circulation, activity of contractings in muscular forces, tendon activities, ganglia reaction, and the like.

Ở cõi hồng trần, chúng ta có những khí cụ được chỉnh hợp qua việc nâng cao các mãnh lực trong các nguyên tố của một hay một số tâm thức biểu lộ ở cõi hồng trần. Như trong máy quay đĩa hay radio, hay lăng kính ánh sáng; hoặc bất kỳ ảnh hưởng kích hoạt nào như trong ống nghe với các sắp xếp âm học khác nhau để hoạt hóa các yếu tố liên hệ đến chuyển động của nhiều ảnh hưởng trong phạm vi hoạt động của con người về hô hấp, tuần hoàn, các hoạt động co thắt của lực cơ bắp, hoạt động của gân, phản ứng của các hạch thần kinh, và tương tự.

These are but, then (from our first premise), a shadow of the real realm in which the activity of life is recorded …

Vậy thì, những thứ ấy (từ tiên đề đầu tiên của chúng ta) chỉ là cái bóng của cõi thực nơi hoạt động của Sự sống được ghi nhận …

Then, the psychic influences or forces in manifestation in their various spheres are as but a type of needle upon the record; a type of acoustics in the recorded or de-recording activity. Or the power and the influence by its development toward the realm of the first cause, as to the power of the tube or of the resoundant or of the length of its activity to care for its reproduction.

Vậy, những ảnh hưởng hay mãnh lực thông linh khi biểu lộ trong các cảnh giới khác nhau chỉ như một dạng kim trên đĩa ghi; một dạng âm học trong hoạt động ghi hay phát lại. Hoặc quyền năng và ảnh hưởng, theo mức phát triển hướng về cõi Nguyên Nhân Đầu Tiên, cũng như năng lực của ống hay bộ cộng hưởng hay độ dài hoạt động của nó để đảm trách việc tái hiện.

Hence, out of tune by many of the channels that have been indicated did prevent at that time [355] from receiving that later given.

Do đó, vì lệch điệu qua nhiều kênh đã được chỉ ra nên vào lúc ấy [355] đã bị ngăn không nhận được điều về sau đã ban.

Reading 877-21

Bài đọc 877-21

(Q) For what purpose did I incarnate this time?

(H) Lần này tôi lâm phàm với mục đích gì?

(A) As has been indicated, as each individual. Let’s begin from that premise from which ALL of these may be reckoned:

(Đ) Như đã chỉ ra, như với mỗi cá nhân. Chúng ta hãy bắt đầu từ tiên đề mà từ đó TẤT CẢ những điều này có thể được suy định:

God hath not willed that any soul should be separated from Him, but hath with every trial, every temptation, and every ERROR, prepared a way of escape. That the soul of man enters, then, or incarnates, is that there is needed in the lives of those whom the entity contacts that ability of that entity to present those influences of Creative Energies as there needs be for the production of helpful, hopeful experience; or the fruits of the spirit. Hence each entity then, in its entrance, is to fulfill that which has been given, “As ye do it unto the least of thy brethren, ye do it unto thy Maker.” Know these, too, present then to every entity, every soul manifesting or incarnating, the basis from which that soul must become active. That the EXPERIENCES of the soul in each appearance or activity in the earth, then, makes for either the stepping-stones or the stumbling-stones, is as is shown in the book of remembrance. Then, that ye may be a light in HIS name; that ye may become one with Him by giving to others that hope, that faith, by those activities to them that may bring a brighter and brighter outlook, and more adaptable for the companionship with, the work with, that Creative Force. For we all—and ye are as others—are gods in the making; not THE God, but gods in the making! For He would have thee be one with Him. Then when ye reason from these activities in thy daily associations ye find it becomes as was given of old, not as a formula or ritual, or that ye should cry “Who shall go over the earth and bring a message, or who shall descend from heaven or arise from hell that I may know—for Lo, He is with thee!”

Thượng đế đã không định rằng bất kỳ linh hồn nào phải lìa xa Ngài, mà với mỗi thử thách, mỗi cám dỗ và mỗi LẦM LỖI, Ngài đã chuẩn bị một lối thoát. Vậy nên linh hồn con người đi vào, hay lâm phàm, là vì trong đời sống của những ai thực thể ấy tiếp xúc có nhu cầu về khả năng của chính thực thể ấy để trình hiện những ảnh hưởng của Các Năng Lượng Sáng Tạo theo như cần có để sản sinh những trải nghiệm hữu ích, đầy hy vọng; tức là các hoa trái của tinh thần. Do đó, mỗi thực thể khi vào đời là để làm tròn điều đã được ban: “Như các ngươi làm cho một kẻ hèn mọn nhất trong anh em mình, ấy là các ngươi làm cho Đấng Tạo Hóa của mình.” Hãy biết những điều này cũng trình bày cho mỗi thực thể, mỗi linh hồn đang biểu lộ hay lâm phàm, nền tảng từ đó linh hồn ấy phải trở nên chủ động. Rằng CÁC TRẢI NGHIỆM của linh hồn trong mỗi lần xuất hiện hay hoạt động ở trần gian sẽ làm thành hoặc là các bậc đá bước lên hoặc là các hòn đá vấp ngã, như được cho thấy trong sách tưởng niệm. Vậy, để các ngươi có thể là ánh sáng trong DANH của NGÀI; để các ngươi có thể trở nên một với Ngài bằng cách trao cho người khác niềm hy vọng, đức tin, qua những hành động đối với họ có thể mang lại một viễn tượng ngày càng rạng rỡ hơn, và càng thích hợp hơn cho sự đồng hành, sự cộng tác với Mãnh Lực Sáng Tạo ấy. Vì tất cả chúng ta—và các ngươi cũng như những người khác—là các vị thần đang được hình thành; không phải là CHÍNH Thượng đế, mà là các vị thần đang trong quá trình trở nên! Vì Ngài muốn các ngươi trở nên một với Ngài. Vậy khi các ngươi suy lẽ từ những hoạt động này trong các mối giao tiếp hằng ngày, các ngươi sẽ thấy điều ấy trở nên như đã ban thuở xưa, không như một công thức hay nghi thức, cũng không để các ngươi kêu rằng: “Ai sẽ đi khắp đất đem một sứ điệp, hay ai sẽ từ trời xuống hay từ âm phủ lên để ta có thể biết—vì kìa, Ngài ở cùng ngươi!”

2

The Akashic Records, Destiny, and Free Will—Hồ sơ Akasha, Định mệnh, và Tự do ý chí