← The Akashic Records

Reading 294-19 M 47 (Edgar Cayce Life reading on himself)—entire reading

Reading 294-19 M 47 (Edgar Cayce Life reading on himself)—entire reading

Reading 294-19 M 47 (Bài đọc đời sống của Edgar Cayce về chính mình)—toàn văn

This Psychic Reading given by Edgar Cayce in two sessions at his office, 322 Grafton Avenue, Dayton, Ohio, this 28th day of February, 1925, and March 6,1925 [both at 5:10 P.M.] in accordance with request made by self, Mr. [294].

Bài Đọc Thông linh này do Edgar Cayce thực hiện trong hai phiên tại văn phòng của ông, 322 Đại lộ Grafton, Dayton, Ohio, vào ngày 28 tháng Hai, 1925, và ngày 6 tháng Ba, 1925 [cả hai lúc 5:10 chiều] theo yêu cầu do chính ông, Ông [294], đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mrs. Edgar Cayce and Hugh Lynn Cayce.

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Bà Edgar Cayce và Hugh Lynn Cayce.

READING

BÀI ĐỌC

Born March 18, 1877, in Christian Country, near Hopkinsville, Kentucky. Time of Reading 322 Grafton Ave., 5:10 P. M. Dayton Time. Dayton, Ohio.

Sinh ngày 18 tháng Ba, 1877, tại Hạt Christian, gần Hopkinsville, Kentucky. Thời điểm Bài Đọc 322 Đại lộ Grafton, 5:10 chiều. Giờ Dayton. Dayton, Ohio.

LS: You will give the relation of this entity and the Universe, and the Universal Forces, giving the conditions that are as personalities latent and exhibited in the present life. Also the former appearances in the earth’s plane, giving time, place, name, and that in that life which built or retarded the development for the entity, giving the abilities of the present entity and to that which it may attain, and how.

LS: Ông sẽ cho biết mối liên hệ giữa thực thể này và Vũ trụ, và các Lực Phổ Quát, đưa ra các điều kiện vốn là các phương diện phàm ngã tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại. Cũng cho biết những lần xuất hiện trước đây trong cõi trần, nêu thời gian, nơi chốn, tên gọi, và điều trong đời ấy đã kiến tạo hoặc kìm hãm sự phát triển cho thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại và điều mà thực thể có thể đạt tới, và bằng cách nào.

EC: Yes, we have the entity here and that relation that has to do with the Universal Forces as are shown in the earth’s plane, and the connections with the present sojourn in the earth’s plane.

EC: Vâng, chúng ta có thực thể này ở đây và mối liên hệ liên quan đến các Lực Phổ Quát như được biểu lộ trong cõi trần, và những liên đới với kỳ trú hiện tại trong cõi trần.

As we see, we have had many of these conditions in part before. Here we may find them in a more complete outline.

Như chúng ta thấy, trước đây chúng ta đã có nhiều điều kiện này từng phần. Ở đây chúng ta có thể tìm thấy chúng trong một phác thảo đầy đủ hơn.

In the sojourn in the present earth’s plane, we find the entity took its position from that of Uranus, with the elements of Venus, Neptune, Jupiter and Mercury, with the affliction in Mars and Saturn. In this sojourn in the relations with other planets, we find the entity having passed through all the stages, or planes, yet returning in the earth’s plane for that merited in the earth plane return through Saturn’s forces for the again development in the Universal Forces as are applied to the manifestations of soul and spirit entities through the physical or earth plane.

Trong kỳ trú trên cõi trần hiện tại, chúng ta thấy thực thể đã lấy vị trí của mình từ Sao Thiên Vương, với các yếu tố của Sao Kim, Sao Hải Vương, Sao Mộc và Sao Thủy, cùng sự bất lợi ở Sao Hỏa và Sao Thổ. Trong kỳ trú này, trong mối liên hệ với các hành tinh khác, chúng ta thấy thực thể đã đi qua tất cả các giai đoạn, hay các cõi, nhưng trở lại cõi trần nhờ các lực của Sao Thổ để lại một lần nữa phát triển trong các Lực Phổ Quát như được áp dụng cho các biểu hiện của các thực thể linh hồn và tinh thần qua cõi thể chất hay cõi trần.

Then, as we see in the present earth plane, while the entity has reached that plane where the mental and the environmental forces in present plane have set many of the conditions for the present sojourn, yet there are many urges to be satisfied, reached, known, accomplished, found, yet, in the earth’s plane. Many may be reached. Others may be lost.

Vậy, như chúng ta thấy trong cõi trần hiện tại, dẫu thực thể đã đạt tới cõi mà các lực trí tuệ và các lực môi trường trong cõi hiện tại đã đặt định nhiều điều kiện cho kỳ trú hiện tại, nhưng vẫn còn nhiều thúc lực cần được thỏa mãn, đạt tới, nhận biết, hoàn thành, tìm ra, ngay trong cõi trần. Nhiều điều có thể đạt tới. Những điều khác có thể mất đi.

Then we have with reference to the sojourn in the other spheres, and in this plane, these urges in the individuality of the entity:

Vậy với sự tham chiếu đến các kỳ trú ở những cõi khác, và trong cõi này, những thúc lực này trong tính cá thể của thực thể như sau:

One to many peoples very contradictory in thought, action and deed. One little understood or comprehended by the greater mass of people. One who may reach those developments were the urge kept in the manner where the understanding could be given to other individuals. Lacking in this, as we shall see the cause.

Một người đối với nhiều người là rất mâu thuẫn trong tư tưởng, hành động và việc làm. Một người ít được đại chúng hiểu hay lĩnh hội. Một người có thể đạt tới những phát triển nếu thúc lực được giữ trong cung cách sao cho sự thấu hiểu có thể được trao cho các cá nhân khác. Thiếu điều này, như chúng ta sẽ thấy nguyên nhân.

In the mental urges we find that of the universality in the Jupiter forces, yet ever with the Venus forces dominant in entity’s action, and with these often with Mars’ influence brings condemnation to the entity.

Trong các thúc lực trí tuệ chúng ta thấy tính phổ quát trong các lực của Sao Mộc, tuy vậy vẫn luôn với các lực của Sao Kim chiếm ưu thế trong hành động của thực thể, và những điều này thường phối hợp với ảnh hưởng của Sao Hỏa mang đến sự kết tội cho thực thể.

One given to be very eccentric in many ways. One that finds very little of the level, or the capacity to be moderate in any, either very much in one condition or another. One spending much of the energies to whatever undertaken. This again we find often brings the destructive elements, or the misunderstandable efforts to much that might be accomplished in a more moderate manner.

Một người có khuynh hướng rất lập dị theo nhiều cách. Một người thấy rất ít điều ở mức độ thăng bằng, hay khả năng điều độ trong bất kỳ điều nào, hoặc rất nhiều ở điều này hoặc rất nhiều ở điều khác. Một người tiêu hao nhiều năng lực cho bất cứ điều gì đã dấn thân. Điều này một lần nữa chúng ta thấy thường đem đến các yếu tố phá hủy, hay những nỗ lực khó được hiểu thấu đối với nhiều điều lẽ ra có thể được hoàn thành theo một cách điều độ hơn.

One that will have the more cares in the later days as pertaining to the understandable things in Universal Forces. One that may give much to the Universe through the touch as is made in that of the Uranian and of the forces as are in Neptune, yet one not having reached the highest development that may be attained in these spheres. For the entity should be near large bodies of water, that the urge may be reached through that element that is given from the bigness of such bodies, that are elemental in their manner of bringing urge to other individuals that may be awakened, through the elements of mental, spiritual and mystic forces.

Một người sẽ có nhiều mối bận tâm hơn ở những ngày về sau liên quan đến những điều có thể thấu hiểu trong các Lực Phổ Quát. Một người có thể đóng góp nhiều cho Vũ trụ qua sự tiếp xúc như được tạo ra trong các lực thuộc Sao Thiên Vương và các lực ở Sao Hải Vương, tuy nhiên một người chưa đạt đến trình độ phát triển cao nhất có thể đạt được trong các cõi này. Vì thực thể nên ở gần những khối nước lớn, để thúc lực có thể được đánh thức qua yếu tố được ban tặng từ sự mênh mông của những khối ấy, vốn mang tính nguyên tố trong cung cách mang lại thúc lực cho các cá nhân khác, có thể được đánh thức qua các yếu tố thuộc trí tuệ, tinh thần và các lực thần bí.

One we find that has many conditions to meet, brought more particularly by the misunderstanding of self and the inability of the entity to control self in any moderate way. One that brings much element of the forces in wrath that gives misunderstanding to others. This all we see reached through lack of control of will and self as has been set for the entity in the present earth’s plane, for as has been given, the entity of an individual entering the earth’s plane, while the urge is set from the individual’s sojourn in other spheres, the environment of the individual, and the will of the entity, either build or mar the development through that individual sojourn in earth’s plane, for in the flesh we find the mental, soul and spirit becomes the subjugation to the wishes, the desires, of the carnal forces, and in other spheres those of the elements pertaining to that sphere and the urge then of the individual in earth’s plane is governed by the direction in which these are guided—urges. In this entity then we find there are many in the present sphere not guided in the manner that the development has been to that point where it should be.

Chúng ta thấy một người có nhiều điều kiện phải đối mặt, được đem đến đặc biệt hơn cả bởi sự hiểu lầm về chính mình và sự bất lực của thực thể trong việc tự kiểm soát theo bất kỳ cách điều độ nào. Một người đưa đến nhiều yếu tố lực trong cơn thịnh nộ khiến người khác hiểu lầm. Tất cả những điều này, chúng ta thấy, bắt nguồn từ thiếu kiểm soát ý chí và tự ngã như đã được đặt định cho thực thể trong cõi trần hiện tại, vì như đã được nói, thực thể của một cá nhân bước vào cõi trần, dẫu thúc lực được đặt định từ kỳ trú của cá nhân ở các cõi khác, môi trường của cá nhân, và ý chí của thực thể, hoặc xây dựng hoặc làm hỏng sự phát triển qua kỳ trú cá nhân ấy ở cõi trần; vì trong xác phàm, chúng ta thấy trí tuệ, linh hồn và tinh thần trở thành quy phục trước ước muốn, ham muốn, của các lực xác thịt, và ở các cõi khác là những lực thuộc yếu tố của cõi ấy, và thúc lực của cá nhân trong cõi trần khi đó được chi phối bởi phương hướng mà chúng được dẫn dắt—các thúc lực. Với thực thể này thì chúng ta thấy có nhiều điều trong cõi hiện tại không được dẫn dắt theo cung cách để sự phát triển đạt đến điểm nên có.

In the appearances, then, as we shall see, there has come much of those elemental forces entering in, both from the sphere and from earthly sojourn in the earth. In the appearances, then:

Trong các lần xuất hiện, vậy thì, như chúng ta sẽ thấy, đã có nhiều lực nguyên tố chen vào, cả từ cõi và từ các kỳ trú trần thế trong cõi trần. Trong các lần xuất hiện, thì:

Before this we find that the entity was in that of the wanderer that came to the present land in John Bainbridge, and the entity then rather that of one lost to those directions as were given under the tutelage and the directions of those in whose care the entity was committed, [in the French incarnation just preceding it] and with the change in the environment in that earth plane then brought, the entity lost itself and its development in the earth’s plane. For it became a wanderer in the land. While contacting many peoples, yet many peoples suffered in the wake of the individual. Hence the early return to the earth’s plane and the wanderings to and fro through many of the scenes that the entity experienced at that time. The entity then we see was in the earth’s plane in 1742.

Trước lần này chúng ta thấy thực thể là kẻ lãng du đã đến vùng đất hiện nay trong hình tướng John Bainbridge, và thực thể khi ấy đúng hơn là một người lạc mất phương hướng như đã được trao dưới sự giáo dục và chỉ dẫn của những người mà thực thể được giao phó cho họ chăm nom, [trong kiếp Pháp ngay trước đó] và với sự thay đổi môi trường trong cõi trần được mang đến khi ấy, thực thể đã đánh mất bản thân và sự phát triển của mình trong cõi trần. Vì y trở thành một kẻ lang thang trên đất. Dẫu tiếp xúc với nhiều người, nhưng nhiều người đã chịu khổ trong dấu vết mà cá nhân để lại. Do đó là sự trở lại sớm với cõi trần và những cuộc phiêu du tới lui qua nhiều cảnh huống mà thực thể đã trải nghiệm lúc bấy giờ. Khi ấy chúng ta thấy thực thể ở trong cõi trần vào năm 1742.

In the one before this we find the entity then in the French Court and in the days of Louis the 15th, and in the household of the monarch, though separated then from the care of those who lacked the influence in the life in the earth’s plane of receiving the forces in the surrounding conditions to bring development in the earth’s plane, being then only in that of the small child, or living only to the age of five. In this personality as exhibited through this condition, we find more given in the one following this in that of Bainbridge than in the present earth’s plane. Still there is in the innate forces that desire to seek out the individuals who have the greatest attention put to those that lose the influences of the mother and those forces surrounding same.

Trong lần trước đó chúng ta thấy thực thể khi ấy ở Triều đình Pháp và vào thời vua Louis 15, và ở trong gia quyến của nhà vua, dẫu khi ấy bị tách khỏi sự chăm sóc của những người thiếu ảnh hưởng trong đời sống ở cõi trần để mang lại phát triển ở cõi trần, khi ấy thực thể chỉ là một đứa trẻ nhỏ, hay chỉ sống đến năm tuổi. Trong phương diện phàm ngã như biểu lộ qua tình trạng này, chúng ta thấy được bộc lộ nhiều hơn trong lần kế tiếp sau đó ở hình tướng Bainbridge hơn là trong cõi trần hiện nay. Tuy vậy vẫn có trong các lực bẩm sinh ước muốn đi tìm những cá nhân vốn được dành sự chăm chú lớn nhất cho những người đánh mất ảnh hưởng của người mẹ và những lực bao quanh như thế.

In the one before this we find in that of the Grecian forces, when the gates were stormed in the Trojan Wars, and the entity then a defender at that gate, losing the life, and the development in that plane came through the hardships as were experienced by the physical body. There being many then in the earth’s plane with which the body will be and is associated in the present earth’s plane. For the cycle of life’s forces and of earth’s influence in relative forces, manifested in the Universe, brings many of that period in the present earth’s period. The personalities that are exhibited in the present plane are those of the inability to control self in manner when there are those conditions that bring wrath or displeasure to the entity, making one then that has the quick temper in most unexpected circumstances and conditions. This, as we see, then, was not a plane of development in earth’s sphere and these urges from that are yet to be overcome in the present earth’s plane.

Trong lần trước đó nữa chúng ta thấy ở các lực Hy Lạp, khi các cổng thành bị công phá trong Cuộc Chiến thành Troia, và khi ấy thực thể là một người bảo vệ nơi cổng, mất mạng sống, và sự phát triển trong cõi ấy đến qua những khắc nghiệt mà thân thể xác phàm trải qua. Khi ấy có nhiều người ở cõi trần mà thân thể sẽ và đang liên hệ trong cõi trần hiện tại. Vì chu kỳ của các lực của sự sống và ảnh hưởng của đất đai trong các lực liên hệ, được biểu hiện trong Vũ trụ, mang nhiều người của thời kỳ ấy đến trong thời kỳ trần gian hiện tại. Những phương diện phàm ngã được biểu lộ trong cõi hiện tại là sự bất lực kiểm soát tự thân khi có những điều kiện khiến cơn thịnh nộ hay bất mãn đến với thực thể, khiến một người trở thành nóng giận nhanh trong những hoàn cảnh và điều kiện ít ngờ nhất. Vậy, như chúng ta thấy, đó không phải là một cõi của phát triển trong cõi trần và những thúc lực từ đó vẫn cần được vượt thắng trong cõi trần hiện tại.

In the one before this we find in that of plainsman, as has been given, and those conditions that surrounded the entity then at that time make for the entity the greatest force in the present earth’s plane, and the seeking out of that entity through which the greatest development in that sphere came, the entity brings the greater development in the present plane, as well as often the greatest worries and troubles. For, being unable to correlate those conditions, we find these make many combative conditions in that sphere and from those conditions. For from this plane we find the greater forces as are manifest through the psychic forces, occult forces, mind development, come from experiences in that sojourn, correlated with the spiritual development in the Uranian forces which become accentuated at the present time through the entity.

Trong lần trước đó nữa chúng ta thấy ở hình tướng người miền đồng bằng, như đã được nói, và những điều kiện vây quanh thực thể khi ấy khiến cho thực thể có được mãnh lực lớn nhất trong cõi trần hiện tại, và việc tìm kiếm con người mà qua đó sự phát triển lớn nhất trong cõi ấy đã đến, thực thể mang lại sự phát triển lớn hơn trong cõi hiện tại, cũng như thường mang đến những lo âu và phiền toái lớn nhất. Vì, do bất lực trong việc tương liên những điều kiện ấy, chúng ta thấy điều này gây nên nhiều điều đối kháng trong cõi ấy và từ những điều kiện ấy. Vì từ cõi này chúng ta thấy các mãnh lực lớn hơn như được biểu hiện qua các lực tâm linh, các lực huyền bí, sự phát triển của tâm trí, đến từ các kinh nghiệm trong kỳ trú ấy, được tương quan với sự phát triển tinh thần trong các lực thuộc Sao Thiên Vương, vốn trở nên nhấn mạnh ở thời điểm hiện tại qua thực thể.

As to the personalities exhibited in the entity in the present, we find that ability to apply, when the conscious forces are laid aside, the development reached in that sphere, and the forces of the universal forces become a part. Hence the abilities of the entity in all psychic force, which is the extenuation, as it were, of that plane, and is either modified for the good or for the bad, by, through, or in the manner in which the suggestion for such development, such manifestation, such desire of knowledge, is approached; and the greater coming, as has been given, through that of the mind that holds self in that of the receptive mode, or the negative forces. For the entity through its experiences becomes the great dynamic force in positive action. Hence the relations as are given, reaching many spheres of universal knowledge and force, whether of animal, vegetable, mineral, or of the universal knowledge in that of mental, soul or spiritual development. And the entity’s sojourn, and the conditions brought in the physical plane, we find giving then the greater urge for the physical conditions in bodies, when guided in that channel; yet through the urge as received may, with the other forces, give of all the forces as may be brought to the force of the given conditions as are reached through suggestion to mental conditions.

Về những phương diện phàm ngã biểu lộ nơi thực thể trong hiện tại, chúng ta thấy khả năng ứng dụng, khi các lực ý thức được đặt sang bên, sự phát triển đạt được ở cõi ấy, và các lực của các lực phổ quát trở thành một phần. Do đó các khả năng của thực thể trong mọi lực tâm linh, vốn là sự kéo dài, như thể, của cõi ấy, và hoặc được điều biến thành điều thiện hoặc điều ác, bởi, qua, hay trong cung cách mà gợi ý cho sự phát triển như thế, biểu hiện như thế, ước muốn tri thức như thế, được tiếp cận; và điều lớn lao hơn đến, như đã được nói, qua cái trí giữ tự thân ở trong trạng thái tiếp nhận, hay các lực âm. Vì thực thể qua các kinh nghiệm của mình trở thành mãnh lực năng động lớn lao trong hành động dương. Do đó các liên hệ như đã nêu, vươn tới nhiều cõi của tri thức và lực phổ quát, dù là của giới động vật, thực vật, khoáng vật, hay của tri thức phổ quát trong sự phát triển thuộc trí tuệ, linh hồn hay tinh thần. Và kỳ trú của thực thể, cùng các điều kiện mang vào cõi thể chất, chúng ta thấy khi ấy trao thúc lực lớn hơn đối với các điều kiện thể xác trong các thân thể, khi được dẫn dắt trong kênh ấy; tuy vậy qua thúc lực như được tiếp nhận có thể, cùng với các lực khác, trao tất cả các lực như có thể được mang đến để tác động lên những điều kiện đã ban cho như được đạt tới qua gợi ý đối với các điều kiện trí tuệ.

In the one before this we find the entity was in the Egyptian land, when the force of the law was being given to the people, in that one chosen as the highest authority in the mental attributes, acting in the way of the Priest [Ra-Ta] to the people, being the first chosen priest of the cult, as afterward called, among the nations of the world. In the present personality and present plane, we find again many in the earth’s plane and associated with the entity, that were associated with the entity in that plane. Again we find the entity falling in the way of flesh, for the entity represented that as has been given in the written word, “The Sons of God looked upon the daughters of men and saw they were fair and good to look upon,” [Gen. 6:2] and through this fleshly carnal force brought destructive elements to the entity. In the present plane we find still that same urge to be overcome in the entity, for there is that innate call and desire in the flesh for those fleshpots again, as called, of Egypt, and the entity needs that to keep the forces of mental and spiritual development ever to press onward to the higher forces.

Trong lần trước đó nữa chúng ta thấy thực thể ở đất Ai Cập, khi quyền lực của luật pháp được ban cho dân chúng, ở hình tướng người được chọn như thẩm quyền cao nhất về các thuộc tính trí tuệ, hành xử theo cách thức của vị Tư tế [Ra-Ta] đối với dân, là vị tư tế đầu tiên được chọn của giáo phái, như về sau được gọi, giữa các dân tộc trên thế giới. Trong phương diện phàm ngã hiện tại và cõi hiện tại, chúng ta lại thấy nhiều người trong cõi trần và liên hệ với thực thể, từng liên hệ với thực thể trong cõi ấy. Một lần nữa chúng ta thấy thực thể sa vào đường xác thịt, vì thực thể đã đại diện điều như được chép trong Lời, “Các Con của Thượng đế thấy các con gái loài người xinh đẹp và tốt đẹp để ngắm nhìn,” [Gen. 6:2] và qua lực xác thịt này đã mang các yếu tố phá hủy đến cho thực thể. Trong cõi hiện tại chúng ta lại thấy thúc lực tương tự vẫn cần được vượt thắng nơi thực thể, vì có tiếng gọi bẩm sinh và ước muốn trong xác thịt đối với những nồi thịt như đã gọi, của Ai Cập, và thực thể cần giữ cho các lực phát triển trí tuệ và tinh thần luôn thúc đẩy tiến lên các lực cao hơn.

In the one before this we find in the first, when the forces in flesh came to dwell in the earth’s plane. The entity was among the first to inhabit the earth in that form, and was from that of the beginning in earth’s plane, when referred to as the human form dwelling in the earth’s forces. In this we find the larger development in the entity, for then [the soul was] able to contain in the Oneness of the forces as given in the Sons of Men, and realizing the Fatherhood of the Creator.

Trong lần trước đó nữa chúng ta thấy ở thuở ban đầu, khi các lực trong xác phàm đến cư ngụ trong cõi trần. Thực thể ở giữa những người đầu tiên cư trú trên đất trong hình tướng ấy, và ở từ thuở khai nguyên trong cõi đất, khi được nhắc đến như hình tướng con người cư trú trong các lực của trần gian. Ở đây chúng ta thấy sự phát triển lớn lao hơn nơi thực thể, vì khi ấy [linh hồn] có khả năng dung chứa trong Tính Nhất Như của các lực như được trao trong những người con của nhân loại, và nhận biết Tình Phụ Tử của Đấng Sáng Tạo.

In the present plane we find that ever urge to be drawn nearer to the spiritual elements of every force. Hence in the summing up and use of these, let the entity keep the spiritual forces ever magnified, in action, deed and in truth. For, in earth’s plane, every element of the physical or mental, or spiritual nature, is judged by the relation to spiritual forces.

Trong cõi hiện tại chúng ta thấy thúc lực thường xuyên được kéo gần hơn với các yếu tố tinh thần của mọi lực. Vậy trong việc tổng kết và sử dụng những điều này, hãy để thực thể luôn tôn cao các lực tinh thần, trong hành động, việc làm và trong chân lý. Vì, trong cõi trần, mọi yếu tố của bản tính thể chất hay trí tuệ, hay tinh thần, đều được đánh giá bằng mối liên hệ với các lực tinh thần.

As to the abilities of the entity, we find the entity capable of making the success in any line of endeavor, especially along those of healing arts, or of the higher arts as are contained in the spiritual development through the earth’s plane.

Về các khả năng của thực thể, chúng ta thấy thực thể có khả năng làm nên thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào, đặc biệt dọc theo những lĩnh vực của nghệ thuật chữa lành, hay của các nghệ thuật cao hơn như được bao hàm trong sự phát triển tinh thần thông qua cõi trần.

Then use those forces as are in hand and magnify His name through the world, for in so doing the entity will save self and others. For as destructive forces have entered in through the entity’s physical sojourns, so must the rebuilding, resuscitating, re-establishing, reincarnated forces of the entity be manifest in the present.

Vậy hãy dùng những lực đang có trong tay và tôn cao Danh Ngài khắp thế gian, vì khi làm như thế thực thể sẽ cứu chính mình và những người khác. Vì như các lực phá hủy đã đi vào qua các kỳ trú thể chất của thực thể, thì công cuộc tái xây dựng, hồi phục, tái lập, tái sinh của thực thể cũng phải được biểu hiện trong hiện tại.

We are through for the present.

Chúng ta tạm dừng tại đây.

Reading 257-201 M 45 (Life reading for sales manager)—entire reading

Reading 257-201 M 45 (Bài đọc đời sống cho quản lý bán hàng)—toàn văn

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 4th day of September, 1938, in accordance with request made by self—Mr. [257], Active Member of the Ass”n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài Đọc Thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông trên Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 4 tháng Chín, 1938, theo yêu cầu do chính ông—Ông [257], Hội viên Tích cực của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai sáng, Inc.—đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mr. [257].

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Ông [257].

READING

BÀI ĐỌC

Born April 22, 1893, in Lexington, Ky. Time of Reading 4:25 to 5:10 P. M. Eastern Standard Time. New York City.

Sinh ngày 22 tháng Tư, 1893, tại Lexington, Ky. Thời điểm Bài Đọc từ 4:25 đến 5:10 chiều. Giờ Chuẩn miền Đông. Thành phố New York.

GC: You will give the relation of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions that are as personalities, latent and exhibited, in the present life; also the former appearances in the earth’s plane, giving time, place and the name, and that in each life which developed or retarded the development of the entity; giving the abilities of the present entity, and that to which it may attain and how. You will also give him an outline for the developing of his service to his family, associates, and mankind for the balance of the days of his life, to improve mentally, physically, spiritually; with warnings of things to avoid and plans and advice for accomplishment.

GC: Ông sẽ cho biết mối liên hệ giữa thực thể này và vũ trụ, và các lực phổ quát; đưa ra các điều kiện vốn là các phương diện phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ, trong đời sống hiện tại; cũng cho biết những lần xuất hiện trước đây trong cõi trần, nêu thời gian, nơi chốn và tên gọi, và điều trong mỗi đời đã phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển của thực thể; đưa ra các khả năng của thực thể hiện tại, và điều mà y có thể đạt tới cùng cách thức. Ông cũng sẽ cho ông ấy một dàn ý để phát triển sự phụng sự của mình cho gia đình, cộng sự, và nhân loại cho phần đời còn lại, để cải thiện trí tuệ, thể chất, tinh thần; với những cảnh báo về điều nên tránh và các kế hoạch cùng lời khuyên để hoàn thành.

EC: Yes, we have the records here of this entity—these we have had before; the astrological sojourns or urges from the environs about the earth and those from the material sojourns in the earth.

EC: Vâng, chúng ta có ghi chép ở đây về thực thể này—những điều này chúng ta đã có trước; các kỳ trú hay thúc lực chiêm tinh từ các môi trường quanh trái đất và những điều từ các kỳ trú vật chất ở trần gian.

In giving then that as we find which would be the more helpful and beneficial to the entity in the application of self in the present experience, we would analyze for the moment the appearances in the earth—and that manner in which the entity applied self or failed in the experience; giving then that first which is the purpose for the entering of a soul, an entity, into material experience.

Vậy khi đưa ra điều mà chúng ta thấy sẽ hữu ích và lợi lạc hơn cho thực thể trong việc ứng dụng tự thân trong kinh nghiệm hiện tại, chúng ta sẽ phân tích trong chốc lát những lần xuất hiện trong cõi trần—và cung cách mà thực thể đã ứng dụng tự thân hoặc thất bại trong kinh nghiệm; rồi đưa ra điều trước hết là mục đích vì sao một linh hồn, một thực thể, đi vào kinh nghiệm vật chất.

Naturally, in the mind of the entity, with its studies, with its application of the experiences through which it has passed and is passing, and is to experience as well as those conditions that are of a local, a national, an international consequence—not only as related to the entity as an individual of a country, of a faith, but of a peoples—all of these must be taken into consideration.

Tự nhiên, trong tâm trí của thực thể, với các học tập của y, với sự ứng dụng các kinh nghiệm mà y đã đi qua và đang đi qua, và sẽ kinh nghiệm cũng như những điều kiện mang tính địa phương, quốc gia, quốc tế—không chỉ liên quan đến thực thể như một cá nhân của một đất nước, của một đức tin, mà còn của một dân tộc—tất cả những điều này phải được cân nhắc.

But first let’s begin with that premise from which there is a reasoning. And, as is well or better understood by the entity, owing to its material experiences through the sojourns in the earth of such a varied nature, all must answer to a something within—before it may be made a part of the entity and the entity’s experiences.

Nhưng trước hết chúng ta hãy bắt đầu với tiên đề từ đó có sự lý luận. Và, như thực thể hiểu rõ hay hiểu hơn, do các kinh nghiệm vật chất của y trong những kỳ trú ở trần gian vốn có bản chất đa dạng như thế, mọi điều đều phải đáp lời một điều gì đó bên trong—trước khi nó có thể trở thành một phần của thực thể và các kinh nghiệm của thực thể.

Each soul as it has entered and does enter into material manifestation is to fulfill a purpose, with the Creative Forces or God. For He hath not willed that any soul should perish, but hath with every temptation, every fault, prepared a way, a manner, an opportunity for the entity to become as one with Him.

Mỗi linh hồn khi đã và đang đi vào biểu hiện vật chất là để hoàn thành một mục đích, với các Lực Sáng Tạo hay Thượng đế. Vì Ngài chẳng hề muốn một linh hồn nào bị diệt vong, mà với mọi cám dỗ, mọi lỗi lầm, Ngài đã chuẩn bị một lối, một cách thức, một cơ hội để thực thể trở nên như một với Ngài.

For that is the purpose of the soul’s being in the beginning. Hence without beginning, without end.

Vì đó là mục đích của linh hồn trong thuở ban đầu. Do vậy không khởi đầu, không chấm dứt.

Hence as we find, when souls sought or found manifestation in materiality by the projection of themselves into matter—as became thought forms—and when this had so enticed the companions or souls of the Creator, first we had then the creation in which “God breathed into man (God-made) the breath of life and he became a living soul,” with the abilities to become godlike.

Do vậy như chúng ta thấy, khi các linh hồn tìm kiếm hay tìm thấy biểu hiện trong vật chất bằng sự phóng chiếu chính mình vào vật chất—khi trở thành các hình tư tưởng—và khi điều ấy đã lôi cuốn các bạn đồng hành hay các linh hồn của Đấng Sáng Tạo, trước hết chúng ta có công cuộc sáng tạo trong đó “Thượng đế hà sinh khí vào người (do Thượng đế làm nên) và người trở nên một linh hồn sống”, với các năng lực trở nên như Thượng đế.

Hence we find the first preparation or estate, or manner in which those souls might through material manifestation acclaim—by the living, by the being—that which was and is and ever will be consistent with the purposes of creation—was given into the estate of man. [Atlantis?]

Do đó chúng ta thấy sự chuẩn bị hay địa vị, hay cung cách đầu tiên mà trong đó những linh hồn có thể, qua biểu hiện vật chất, tuyên xưng—bằng đời sống, bằng hiện hữu—điều vốn là, đang là và sẽ luôn là nhất quán với các mục đích của sự sáng tạo—đã được trao vào địa vị của con người. [Atlantis?]

The entity was among those first who through those channels came into consciousness, awareness of the relationships of the material man to the Creative Forces; that came into material activity during the early portions of man’s CONSCIOUSNESS of being an independent entity, or body, in a material existence. [Atlantis?]

Thực thể ở giữa những người đầu tiên đã qua những kênh như thế mà đi vào tâm thức, sự nhận biết về các mối liên hệ của con người vật chất với các Lực Sáng Tạo; đã đi vào hoạt động vật chất trong những phần đầu tiên của sự TỈNH THỨC của con người về việc là một thực thể, hay một thân thể độc lập, trong hiện hữu vật chất. [Atlantis?]

Thence we find the entity passing through those experiences, becoming rather aware, with the sons of those activities in the experiences when all thought forms in matter were put away—through the experience of Noah. [2nd destruction of Atlantis portion by flood?]

Từ đó chúng ta thấy thực thể đi qua những kinh nghiệm ấy, trở nên khá nhận biết, cùng với con cháu của những hoạt động ấy, trong các kinh nghiệm khi mọi hình tư tưởng trong vật chất được cất bỏ—qua kinh nghiệm của Nô-ê. [Lần hủy diệt thứ 2 phần Atlantis bởi đại hồng thủy?]

Then we find the experience as the priest the entity became among the first to minister in the tabernacle in the wilderness. And there we find the entity as it were was persuaded into the offering of strange fires upon the alters. There we find the experiences that must be gained by the entity in its application of itself, its tenets in the present; as to the holiness of His commands and to know that they are as they were of old, “If ye will be my people, I will be thy God,” and “Though ye wander to the far corners of the earth, if ye will call I will hear—and will answer speedily.”

Rồi chúng ta thấy kinh nghiệm là vị tư tế mà thực thể trở thành, ở giữa những người đầu tiên phụng sự trong lều tạm nơi hoang mạc. Và tại đó chúng ta thấy thực thể như thể bị thuyết phục dâng “lửa lạ” trên các bàn thờ. Ở đó chúng ta thấy các kinh nghiệm mà thực thể phải gặt hái trong việc ứng dụng tự thân, các tín điều của mình trong hiện tại; về sự thánh khiết trong các mệnh lệnh của Ngài và để biết rằng chúng vẫn như xưa, “Nếu các ngươi sẽ là dân Ta, Ta sẽ là Thượng đế các ngươi,” và “Dẫu các ngươi phiêu bạt tận cùng trái đất, nếu các ngươi kêu cầu Ta sẽ nghe—và sẽ đáp lời cách mau chóng.”

This is the call that the entity will arouse in the minds in the hearts of its fellow men in the present day; not by might nor by power as of man’s edict but by the laws of the promises in Him—which in love may overcome. For He called to thee, He in that experience gave that into thy keeping which was holy; that ye alone of those of the priesthood might enter into the holy of holies. The strange fire then is rather that ye overstepped thy bonds and bounds in entering before thy day was called.

Đây là tiếng gọi mà thực thể sẽ khơi dậy trong tâm trí và trái tim của đồng loại mình trong ngày nay; không phải bởi sức mạnh hay quyền lực như sắc lệnh của con người mà bởi các định luật của những lời hứa nơi Ngài—vốn bằng Tình Thương có thể chiến thắng. Vì Ngài đã gọi ngươi, chính Ngài trong kinh nghiệm ấy đã trao điều thánh vào sự gìn giữ của ngươi; rằng chỉ mình ngươi trong số những người của hàng tư tế có thể bước vào nơi chí thánh. Lửa lạ khi ấy đúng hơn là việc ngươi đã vượt quá dây mực và ranh giới của mình khi bước vào trước ngày giờ của ngươi được gọi.

But know that today, EVERYWHERE, He has called that if ye will but put thy trust alone in Him, He will lift thee up. Thy enemies, thy persecutors, thy activities shall become not as a people, not as a man, but as God hath wrought. For though the heavens and the earth pass away, His promises to thee—AS the son of Aaron—will NOT pass from thee, UNTIL AGAIN—as ye did in Shiloh—ye shall KNOW the truth and the truth shall make thy people free! [Ex. 24?]

Nhưng biết rằng hôm nay, Ở MỌI NƠI, Ngài đã kêu gọi rằng nếu ngươi chỉ cần đặt trọn lòng tin nơi Ngài, Ngài sẽ cất nhắc ngươi. Kẻ thù ngươi, những người bức hại ngươi, các hoạt động của ngươi sẽ trở nên không phải như một dân, không phải như một người, mà như Thượng đế đã làm nên. Vì dẫu trời đất qua đi, những lời hứa của Ngài với ngươi—LÀ hậu duệ của A-rôn—sẽ KHÔNG qua khỏi ngươi, CHO ĐẾN KHI MỘT LẦN NỮA—như ngươi đã làm ở Shiloh—ngươi sẽ BIẾT chân lý và chân lý sẽ giải phóng dân ngươi! [Ex. 24?]

Hence the activity that the entity is called to do in the present; not as a priest that is called apart, but rather as He gave in those days, “the time and times and a half times shall pass, and THEN shall man come to know that in the temple, in the tabernacle of his OWN temple will he meet his God face to face!”

Do đó là hoạt động mà thực thể được kêu gọi làm trong hiện tại; không phải như một tư tế được tách riêng, mà đúng hơn như Ngài đã ban trong những ngày ấy, “thời gian và những thời gian và nửa thời gian sẽ qua, và RỒI con người sẽ đến chỗ biết rằng trong đền thờ, trong lều tạm của chính đền thờ mình, y sẽ gặp Thượng đế mình mặt đối mặt!”

That experience was countenanced, as it were, or a portion of the experience of the entity just before that—when in the Egyptian land the entity was as the aide to the Priest—yea, the defender even in the exile. It was tempered again in the position as a priest himself. [Ra-Ta Period]

Kinh nghiệm ấy được chuẩn nhận, như thể, hay là một phần của kinh nghiệm của thực thể ngay trước đó—khi ở đất Ai Cập thực thể là phụ tá cho vị Tư tế—vâng, là người bảo vệ ngay cả khi ở nơi lưu đày. Nó lại được tôi luyện trong vị trí như một tư tế tự thân. [Ra-Ta Period]

Hence we find, from the paralleling, from the drawing from the experiences of the entity through those sojourns, there is a work, there is a service to be done to the fellow man. Not as proclaiming aloud from some housetop, but rather as ye sit in the quiet of thy home, as ye meet them in the daily walks of life, as ye counsel with them in thy daily activities; whether it be in the material relationships one to another or as counseling as a brother one to another.

Do đó chúng ta thấy, từ việc song song, từ việc rút ra từ những kinh nghiệm của thực thể qua những kỳ trú ấy, có một công việc, có một sự phụng sự cần được thực hiện cho đồng loại. Không phải như kẻ loan báo ầm ĩ từ nóc nhà nào, mà đúng hơn là khi ngươi ngồi trong yên tĩnh của nhà mình, khi ngươi gặp họ trong những nẻo đường hằng ngày của đời sống, khi ngươi khuyên bảo họ trong các hoạt động thường nhật; dù đó là trong các mối liên hệ vật chất giữa người với người hay như lời khuyên bảo như một huynh đệ với một huynh đệ.

These ALL become a part of the experience.

Những điều này TẤT CẢ trở thành một phần của kinh nghiệm.

Arouse, ye people then of Levi! Harken to the voice of thy fathers! Hate not those precepts that have brought to thee the awareness of the needs of thy turning to the ways of thy God, but rather let the Lord thy God have His way with thee.

Hỡi dân Levi, hãy trỗi dậy! Hãy lắng nghe tiếng của tổ phụ các ngươi! Đừng ghét bỏ những giới huấn đã đem đến cho các ngươi ý thức về nhu cầu phải quay về đường lối của Thượng đế các ngươi, mà hãy để Chúa, Thượng đế của ngươi, có Ý Ngài nơi ngươi.

Again we see a portion of the activities of the entity, the soul, as it sought expression again in the rebuilding, the rehabitation of a destroyed purpose, a destroyed ideal; when there had come, as by word of mouth, that there was needs be that again there would be established, there must be established in Jerusalem a house, yea, the rebuilding of the walls and the reestablishing. There we find the entity was as the scribe to the teacher, the leader [Ezekiel] during those experiences. Hence we find that the priest of the day, yea the warrior Nehemiah, yea the priest or scribe Ezre, all were a part of the activities of the entity.

Một lần nữa chúng ta thấy một phần các hoạt động của thực thể, linh hồn, khi nó tìm kiếm biểu lộ trở lại trong việc xây dựng lại, tái cư trú cho một mục đích đã bị hủy, một lý tưởng đã bị hủy; khi đến, như truyền miệng, rằng lại cần phải được thiết lập, phải được thiết lập ở Giê-ru-sa-lem một ngôi nhà, vâng, việc xây lại tường thành và tái lập. Ở đó chúng ta thấy thực thể là thư lại cho vị thầy, vị lãnh đạo [Ezekiel] trong những kinh nghiệm ấy. Do đó chúng ta thấy rằng tư tế đương thời, vâng chiến sĩ Nehemiah, vâng vị tư tế hay thư lại Ezre, tất cả đều là một phần các hoạt động của thực thể.

Hence through the experiences of the entity in the present sojourn we have found that not only in its own land but in others it has been called into service to act in the capacity of one to bring even material as well as mental and spiritual messages to his peoples.

Bởi vậy, qua các kinh nghiệm của thực thể trong kỳ lữ trần hiện tại, chúng ta thấy rằng không chỉ trong xứ sở của mình mà ở những nơi khác, thực thể đã được gọi vào phụng sự để đảm trách cương vị của người mang đến cho dân của mình những thông bẩm cả vật chất lẫn trí tuệ và tinh thần.

These become again then a part of the entity’s activities in the present sojourn. For it is to put as it were the words into the mouth of those that are downcast, to those that are gone astray; in bringing condemnation to those in authority of MAN’S making but rather turning them to the Lord, to serve Him, to raise again that stone, that Eben-ezer [1 Sam. 7:12] within the own conscience, the own heart, as to thy promise to thy God and His promises to thy people; that if ye will turn again and serve Him, and putting away those slick practices, those strange conditions, ye shall SUCCEED in thy material undertakings! For the Lord being on thy side, who can be against thee!

Những điều này lại trở thành một phần các hoạt động của thực thể trong kỳ lữ trần hiện tại. Vì như thể là đặt lời vào miệng những ai chán nản, những ai lạc lối; bằng cách đem lời quở trách đến những kẻ có uy quyền do TAY NGƯỜI LẬP ra, nhưng đúng hơn là xoay họ về với Chúa, để phụng sự Ngài, để lại dựng lên hòn đá ấy, Eben-ezer [1 Sam. 7:12] trong chính lương tâm, chính trái tim mình, như đối với lời hứa của ngươi với Thượng đế của ngươi và những lời hứa của Ngài với dân ngươi; rằng nếu các ngươi sẽ quay về và phụng sự Ngài, và dẹp bỏ những thói xảo trá kia, những tình trạng lạ lùng kia, các ngươi sẽ THÀNH CÔNG trong các công việc vật chất của mình! Vì Chúa ở về phía ngươi, ai có thể nghịch cùng ngươi!

This is the message ye must put into the hearts and minds of those who have become afraid because of the edicts of those in power. But there is no power given except it is lent of the Lord! Those He loveth He chasteneth and purgeth every one. But if ye will but turn—lift up thy heart, thy face to His purposes, His ways—He will bring a great light unto the peoples of promise. For thou art among those that have, even in thy faulty ways, shown the way to the understanding; and in thus doing ye may walk again in the pathways that are straight, in those ways and understandings that will bring to thy experiences the knowledge that God IS in His holy temple, let all the earth keep silent—and He will bring it to pass! For it is His promise unto the sons of thy fathers and unto thee!

Đây là sứ điệp các ngươi phải đặt vào lòng và trí của những người đã trở nên khiếp sợ bởi những sắc lệnh của những kẻ cầm quyền. Nhưng không có quyền lực nào được ban trừ khi được Chúa cho mượn! Những ai Ngài yêu, Ngài sửa dạy và thanh luyện từng người. Nhưng nếu các ngươi chỉ cần quay về—nâng tâm, ngẩng mặt hướng đến các mục đích của Ngài, đường lối của Ngài—Ngài sẽ mang một đại quang cho những dân tộc của lời hứa. Vì ngươi ở trong số những kẻ, dẫu theo cách hụt hẫng của mình, đã chỉ con đường đến sự thấu hiểu; và làm như vậy, các ngươi có thể bước lại trên những lối đi ngay thẳng, trong những đường lối và sự thấu hiểu sẽ mang đến cho kinh nghiệm của ngươi tri thức rằng Thượng đế HIỆN HỮU trong đền thánh của Ngài, toàn cõi đất hãy lặng yên—và Ngài sẽ khiến điều ấy thành! Vì đó là lời hứa của Ngài cho các con của tổ phụ ngươi và cho chính ngươi!

When the experiences of the entity were in the activities of the temple and the replenishing [rebuilding of the walls], we find much of the materials of the reestablishing of the old days. It is then any wonder that to even thy friends and thy neighbors it is given in thy daily labors that ye encourage them to those of period furnishings, period furniture, or to those things that will bring again to remembrance what their fathers thought and did, what their purposes were?

Khi các kinh nghiệm của thực thể ở trong các hoạt động của đền thờ và việc bổ sung [xây lại tường thành], chúng ta thấy nhiều vật liệu để tái lập những ngày xưa. Vậy có gì lạ chăng khi ngay cả với bạn bè và láng giềng của ngươi, trong công việc hằng ngày của ngươi, ngươi được trao để khích lệ họ hướng đến những đồ bày biện theo thời kỳ, đồ nội thất theo thời kỳ, hoặc những vật sẽ gợi nhớ lại điều cha ông họ đã nghĩ và làm, những mục đích của họ là gì?

For as ye have chosen and have come into a land that is the home of the free, the home of the brave, where man may worship according to the dictates of his own conscience, and every man stands before God as an entity, recognizing that each is His child and is to fulfillthose purposes for which there was GIVEN the opportunity of a body that it might be used unto the glory of the Creator, then know:

Vì khi các ngươi đã chọn và đã đến một miền đất là ngôi nhà của người tự do, quê hương của người can đảm, nơi con người có thể thờ phượng theo tiếng gọi của lương tâm chính mình, và mỗi người đứng trước Thượng đế như một thực thể, nhận biết rằng mỗi người là con của Ngài và phải hoàn thành những mục đích vì đó mà CÓ ban cho cơ hội một thân xác để có thể dùng cho vinh quang của Đấng Tạo Hóa, vậy hãy biết:

The body is as nothing but a casement for the mind, the soul—that is precious in His sight. He hath not willed that any soul should perish, but has again and again called to the children, to His children, “If ye will but harken I will bless thee, that my name shall be precious among the children of men—as among those that are called to be as the lights and channels through which the preservation of my name shall be established.”

Thân xác chẳng là gì ngoài một khung che cho thể trí, linh hồn—vốn là điều quý báu trước mắt Ngài. Ngài không muốn bất kỳ linh hồn nào phải hư mất, mà đã hết lần này đến lần khác kêu gọi những đứa con, con cái của Ngài, “Nếu các ngươi chỉ cần lắng nghe Ta sẽ chúc phúc cho ngươi, để danh Ta sẽ là quý báu giữa những người con của nhân loại—như giữa những kẻ được gọi làm ngọn đèn và kênh mạch qua đó sự gìn giữ danh Ta được thiết lập.”

As we find from the entity’s activities through the sojourn as the soldier, there are the attempts to keep a unison among those of brethren. This in the face of present experiences may appear to have been a bad choice, yet filling those purposes, those commands of its superior officers in a way and manner as to bring commendation; not only to the peoples who were the physical foes but to those of its OWN company—as one that would bring help and aid to brethren. [Aide to Gen. Howe]

Như chúng ta thấy từ các hoạt động của thực thể qua kỳ lữ trần làm người lính, có những nỗ lực giữ sự hòa hiệp giữa các anh em. Điều này, xét theo trải nghiệm hiện tại, có vẻ như đã là một lựa chọn tệ, tuy nhiên đã chu toàn những mục đích ấy, những mệnh lệnh ấy của các sĩ quan chỉ huy của mình theo một lối và cách thức đem lại lời khen; không chỉ cho những dân là đối thủ về phương diện thể xác mà còn cho chính đơn vị của mình—như một người sẽ mang sự giúp đỡ và trợ lực cho anh em. [Trợ tá cho Tướng Howe]

Again we find in the material things the desire to be the soldier, the activities in such for a cause or for a purpose; keep as it were in the van [vein?] of not only ideals but purposes through the experiences. [World War I]

Một lần nữa chúng ta thấy trong các điều vật chất, ước muốn làm người lính, hoạt động trong đó vì một lý tưởng hay mục đích; giữ như thể ở tuyến đầu [vein?] không chỉ của lý tưởng mà còn của mục đích xuyên suốt các kinh nghiệm. [Chiến tranh Thế giới thứ nhất]

These having passed, now arises the duties of the home, the duties among its associates, among its companions in this or that service or activity among his brethren.

Những điều này đã qua, giờ đây xuất hiện các bổn phận trong gia đình, bổn phận giữa các cộng sự, giữa các bạn đồng hành của y trong hoạt động hay phụng sự này khác giữa anh em mình.

What will ye make the harvest? What seed will ye sow?

Các ngươi sẽ làm nên mùa gặt ra sao? Các ngươi sẽ gieo hạt giống nào?

Will ye put word by word, line upon line, precept upon precept, here a little, there a little, a reminder to all that they alone who love the Lord and His ways and His precepts SHALL succeed? whether they be in the position of affluence, in authority, or as the servant? They alone shall succeed, now or hereafter!

Các ngươi sẽ đặt lời nối lời, dòng nối dòng, điều răn nối điều răn, chỗ này một ít, chỗ kia một ít, nhắc nhở mọi người rằng chỉ những ai yêu Chúa và đường lối của Ngài và các giới huấn của Ngài MỚI có thể thành công? dù họ ở địa vị giàu sang, có uy quyền, hay làm đầy tớ? Chỉ họ mới thành công, bây giờ hay về sau!

For the way ye know, and the truth ye have seen. The truth needs NO verification, but thy glorification in thy life, thy heart, thy manner of dealing with thy fellow man.

Vì đường lối các ngươi đã biết, và sự thật các ngươi đã thấy. Sự thật KHÔNG cần được thẩm chứng, mà là sự tôn vinh của ngươi trong đời sống, trong lòng ngươi, trong cách ngươi đối đãi đồng loại.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) What can I do in reference to the Nazi situation in Germany and in America to again help the forlorn people? [World War II background]

(H) Tôi có thể làm gì liên quan đến tình hình Phát xít ở Đức và ở Mỹ để lại giúp những người cô khổ? [Bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ hai]

(A) As has been indicated, by word, by manner of speech, by manner of living; that they turn again and raise that Eben-ezer, that promise made so long ago in the experiences of many, and yet is today, now, being met in the experiences of many. For each and every day the individual only meets himself. Then it is not by might, not by hate but by love of God; and the cry unto Him, and to turn to LOOK to Him FOR aid, for succor! For the hills and the valleys, the cattle and the gold are His; and if ye will turn to Him thy voice will be heard.

(Đ) Như đã chỉ ra, bằng lời nói, bằng lối nói, bằng lối sống; để họ quay về và dựng lại Eben-ezer ấy, lời hứa đã lập từ rất lâu trong kinh nghiệm của nhiều người, và vẫn đang—hôm nay, bây giờ—được gặp trong kinh nghiệm của nhiều người. Vì mỗi ngày, từng người chỉ gặp chính mình. Vậy thì không phải bằng sức mạnh, không phải bằng thù hận mà bằng tình yêu Thượng đế; và tiếng kêu lên cùng Ngài, và quay lại NHÌN lên Ngài ĐỂ xin trợ giúp, xin cứu viện! Vì đồi núi và thung lũng, bầy súc vật và vàng bạc là của Ngài; và nếu các ngươi sẽ quay về với Ngài, tiếng của ngươi sẽ được nghe.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm dừng tại đây.

Reading 3902-2 M 40 Life reading for fireman)—entire reading

Bài đọc 3902-2 N 40 (Bài đọc đời sống cho lính cứu hỏa)—toàn văn

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 25th day of March, 1944, in accordance with request made by the self—through wife—Mrs. [2602], Associate Member of the Ass”n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài Đọc Thông linh này được Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hiệp hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 25 tháng Ba, 1944, theo yêu cầu do chính đương sự—qua người vợ—Bà [2602], Hội viên Liên kết của Ass”n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. (Notes read to and transcribed by Jeanette Fitch.) Harmon Bro.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. (Ghi chú được đọc cho và chép lại bởi Jeanette Fitch.) Harmon Bro.

READING

BÀI ĐỌC

Born October 8, 1903, in New London, Connecticut. Time of Reading 3:55 to 4:25 P. M. Eastern War Time. …, Conn.

Sinh ngày 8 tháng Mười, 1903, tại New London, Connecticut. Thời gian Bài đọc 3:55 đến 4:25 Chiều, Giờ Chiến tranh miền Đông. …, Conn.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:

GC: Ông sẽ cho biết mối tương quan của thực thể này và vũ trụ, và các lực vũ trụ; cho biết những điều kiện vốn như là các phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như các lần xuất hiện trước đây trên cõi trần, cho biết thời gian, nơi chốn và tên gọi, và điều mà trong mỗi đời đã xây dựng hay làm chậm sự phát triển cho thực thể; cho biết các năng lực của thực thể hiện tại, điều nó có thể đạt tới, và bằng cách nào. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu ra:

EC: Yes, we have the records here of that entity now known as or called [3902].

EC: Vâng, chúng ta có hồ sơ nơi đây của thực thể hiện được biết đến hay gọi là [3902].

In giving the interpretations of the records, written or imposed or impressed upon the skein of time and space, or the Akashic records in God’s book of remembrances, these we find:

Khi diễn giải các hồ sơ, được viết hoặc in ấn, hoặc in dấu trên cuộn sợi thời-không, hay biên ký Akasha trong Sách Tưởng Niệm của Thượng đế, chúng ta tìm thấy những điều sau:

We would choose from these records that which if applied in the experience will bring a better interpretation of the how and why that there are certain latent and manifested urges in the abilities of the entity in the present, which if applied in a constructive, creative way may bring a better ability of the entity to apply itself in being a channel, a manifestation of those divine influences that are the cause and purpose of the entity’s appearance in the earth in the present.

Chúng tôi sẽ chọn từ các hồ sơ ấy điều mà nếu được áp dụng trong kinh nghiệm sẽ mang lại cách diễn giải tốt hơn về cái cách và lý do vì sao có những thúc lực tiềm ẩn và biểu lộ nơi các khả năng của thực thể trong hiện tại, mà nếu được áp dụng theo cách xây dựng, sáng tạo có thể đem lại khả năng tốt hơn cho thực thể trong việc tự áp dụng mình để trở thành một kênh mạch, một biểu hiện của các ảnh hưởng thiêng liêng vốn là nguyên nhân và mục đích sự xuất hiện của thực thể trên trần gian hiện tại.

That an individual entity is aware of a physical, mental, soul longing in this material consciousness should in itself be evidence to the individual entity that the first cause, the God principle, the divine consciousness is aware of the entity and has been and is giving an opportunity to the entity for expression in this particular period of experience.

Rằng một thực thể cá nhân ý thức được khát vọng thể xác, trí tuệ, linh hồn trong tâm thức vật chất này, tự thân điều đó đã phải là bằng chứng cho thực thể cá nhân rằng nguyên nhân đầu tiên, nguyên lý Thượng đế, tâm thức thiêng liêng ý thức về thực thể và đã, đang trao cơ hội cho thực thể được biểu lộ trong thời kỳ kinh nghiệm đặc thù này.

For He, thy God, hath need of thee. Thou hast need of Him if ye would be a channel of manifestation of the gift of consciousness at this particular period.

Vì Ngài, Thượng đế của ngươi, cần đến ngươi. Ngươi cần đến Ngài nếu ngươi muốn là một kênh để biểu lộ ân tặng về tâm thức trong thời kỳ đặc thù này.

We would minimize the faults, we would magnify the virtues. For this is grace, this is mercy that is meted to thee. though ye find at times in thine own consciousness that ye feel far off, know that it is in Him that ye live and move and have thy being, and that His promise has been, “If ye call I will hear and answer speedily.”

Chúng ta sẽ giảm nhẹ lỗi lầm, chúng ta sẽ làm lớn các đức hạnh. Vì đó là ân sủng, là lòng thương xót đo cho ngươi. Dẫu đôi khi ngươi thấy trong tâm thức mình rằng ngươi cảm thấy xa cách, hãy biết rằng trong Ngài mà ngươi sống, chuyển động và hiện hữu, và rằng lời hứa của Ngài vẫn là, “Nếu các ngươi kêu cầu Ta sẽ nghe và đáp ứng cách mau chóng.”

The conditions, then, are ever conditional. There is much for thee to do. For He hath given thee body, mind and soul. These are as manifestations of thy consciousness of Father, Son and Holy Spirit. Thy body is indeed the temple of the living God. Then in thy dealings with thine own body, thine own mind, thine own soul, act as though it were a consciousness. As ye act and as ye speak, and as ye apply, ye will become more and more aware. For as He has given, in patience, in perseverance, ye become aware of thy soul. Are ye in attune, then, with that consciousness? It is up to thee.

Vậy thì các điều kiện luôn có điều kiện. Có nhiều điều dành cho ngươi làm. Vì Ngài đã ban cho ngươi thân, trí và linh hồn. Chúng là những biểu hiện của tâm thức ngươi về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thân xác ngươi quả là đền thờ của Thượng đế hằng sống. Vậy trong cách ngươi đối đãi với chính thân mình, chính thể trí mình, chính linh hồn mình, hãy hành động như thể đó là một tâm thức. Khi ngươi hành động, khi ngươi nói, và khi ngươi áp dụng, ngươi sẽ càng ngày càng trở nên nhận biết. Vì như Ngài đã ban, trong nhẫn nại, trong bền chí, ngươi trở nên nhận biết linh hồn mình. Vậy ngươi có hòa điệu với tâm thức ấy chăng? Tùy ngươi.

The spirit is willing. Will ye strengthen thy soul purpose? Will ye attune thy mind? Will ye act in thy body in such measures and manners that ye may know? For He hath promised, “If ye open the door, I will enter and abide with thee—I will walk with thee.” It is up to thee.

Tinh thần thì sẵn lòng. Ngươi sẽ làm mạnh mục đích linh hồn chăng? Ngươi sẽ chỉnh hợp thể trí mình chăng? Ngươi sẽ hành động nơi thân xác mình theo những cung cách và đường lối để ngươi có thể biết chăng? Vì Ngài đã hứa, “Nếu ngươi mở cửa, Ta sẽ bước vào và ở cùng ngươi—Ta sẽ đồng hành với ngươi.” Tùy ngươi.

As urges latent and manifested, many are the manifestations in the consciousness and in the urges of the entity indicating unusual abilities to manifest in a material world. From the urges, from sojourns during the interims we find Mercury, Mars, Venus, Jupiter. No better array might be set, and yet—as in spirit, so in mind—these must be attuned, used, applied. For though there may be purpose, ability, strength, without being used it is nil and of none effect.

Là những thúc lực tiềm ẩn và biểu lộ, có nhiều biểu hiện trong tâm thức và trong các thúc lực của thực thể cho thấy những năng lực khác thường để biểu lộ trong một thế giới vật chất. Từ các thúc lực ấy, từ những kỳ lưu trú giữa các lần lâm phàm, chúng ta thấy Sao Thủy, Sao Hỏa, Sao Kim, Sao Mộc. Không thể có xếp đặt nào tốt hơn, tuy nhiên—như trong tinh thần, cũng như trong thể trí—chúng phải được hòa điệu, được dùng, được áp dụng. Vì dẫu có mục đích, khả năng, sức mạnh, nếu không dùng đến thì vô ích và vô hiệu.

In Mercury is the high mental ability.

Nơi Sao Thủy là năng lực trí tuệ cao.

We find in Mars the anxiety, wrath, madness, the abilities to do things; but they must be controlled by judgment, by the exercising of an ideal. Ye have a pattern that is set in Him and as given, “As ye would that men would do to you, do ye even so to them.” This applied in every phase indicates an active principle and not merely a tenet to be set on Sabbath days or new moons or at some special occasion when you feel kindly towards one for a lovely deed done.

Chúng ta thấy trong Sao Hỏa sự bồn chồn, phẫn nộ, cuồng nộ, năng lực để làm nên việc; nhưng chúng phải được kiểm soát bởi phán đoán, bởi việc thực hành một lý tưởng. Ngươi có một mô hình được đặt nơi Ngài và như đã ban, “Điều gì muốn người làm cho mình, hãy làm cho người.” Điều này, nếu áp dụng trong mọi phương diện, chỉ ra một nguyên tắc hoạt động chứ không chỉ là một tín điều để đặt ra vào ngày Sa-bát hay ngày sóc vọng hay vào vài dịp đặc biệt khi ngươi cảm thấy có thiện cảm vì một việc đẹp đẽ đã làm.

Love thine enemies also. Do good to them that hate you, and this will change and bring the exercising of patience that makes thee aware of thy oneness of purpose with that spirit which may guide you.

Hãy yêu cả kẻ thù mình. Hãy làm điều thiện cho những ai ghét ngươi, và điều này sẽ chuyển hóa và mang lại việc thực hành nhẫn nại khiến ngươi nhận ra sự đơn nhất về mục đích với tinh thần có thể dẫn dắt ngươi.

In Venus we find the consciousness of harmony, the ability to make good out of the voice—a speaking voice; a keen insight, the abilities to discern, and those little things that make up the consciousness, the awareness of good and evil. For it is line upon line, precept upon precept, here a little, there a little, not some great deed to be done, some great thing to be performed, but ye grow in grace, in knowledge, in understanding. Ye grow in making thyself a good husband, a good father, a good citizen. Not that ye become one suddenly because you’ve reached a certain age, position or place, because of thy financial or social position. But they are the way, even as He, thy ideal, thy Master is the way, the truth and the light, the word. These ye attain by practice.

Nơi Sao Kim chúng ta thấy tâm thức về hòa điệu, khả năng tạo lợi ích từ giọng nói—giọng nói diễn thuyết; một trực giác bén nhạy, khả năng phân biện, và những điều nhỏ bé tạo nên tâm thức, sự nhận biết thiện và ác. Vì đó là dòng nối dòng, điều răn nối điều răn, chỗ này một ít, chỗ kia một ít, không phải là phải làm một việc vĩ đại nào đó, thực hiện một điều lớn lao nào đó, mà là ngươi lớn lên trong ân sủng, trong tri thức, trong sự hiểu biết. Ngươi lớn lên khi làm cho mình trở thành một người chồng tốt, một người cha tốt, một công dân tốt. Không phải rằng ngươi bỗng nhiên trở thành như vậy vì đã đạt đến một độ tuổi, địa vị hay chỗ đứng nào đó, bởi vị thế tài chính hay xã hội của ngươi. Nhưng đó là Con Đường, như Ngài, lý tưởng của ngươi, vị Thầy của ngươi là Con Đường, Chân Lý và Ánh Sáng, là Linh từ. Những điều này ngươi đạt được bằng thực hành.

We find in Jupiter the universal consciousness, the awareness as to the usage of things. Hence the entity’s ability pertaining to watchfulness, and especially in Mars and Mercury things having to do with the mechanical or electrical.

Chúng ta thấy trong Sao Mộc tâm thức phổ quát, sự nhận biết về việc sử dụng các điều. Do đó là khả năng của thực thể liên quan đến sự cảnh giác, và đặc biệt nơi Sao Hỏa và Sao Thủy là những điều liên quan đến cơ khí hay điện.

As we could give, as we shall see from the application of the entity in and through earthly sojourns, the entity should begin now to study electronics. For as the earth and the peoples of same enter Aquarius, the air, we find that the electrical forces, electronics and energies are to be the ruling influences—by the very position of same in the spheres of the system which the earth occupies merely as a space or place in the present.

Như chúng tôi có thể cho, như chúng ta sẽ thấy từ việc áp dụng của thực thể trong và qua các kỳ lữ trần, thực thể nên bắt đầu ngay bây giờ học điện tử học. Vì khi Trái Đất và nhân loại bước vào Bảo Bình, thuộc nguyên tố khí, chúng ta thấy rằng các lực điện, điện tử và năng lượng sẽ là những ảnh hưởng chi phối—do chính vị trí của chúng trong các thiên cầu của hệ mà Trái Đất hiện chỉ chiếm như một không gian hay một chỗ trong hiện tại.

Hence the entity in those awarenesses and consciousnesses should prepare itself. And as ye feed the body that it may supply physical energies, so ye feed the mind and the soul that it, too, may attune and coordinate in building that which thyself, as an entity and as a child of the King may be filling that place He hath given thee to fill. For as ye take the first step, He prepares the way and He will not withhold any good thing from those who love His coming.

Vì vậy thực thể, trong những nhận biết và tâm thức ấy, nên tự sửa soạn. Và như ngươi dưỡng nuôi thân xác để nó cung ứng năng lượng thể chất, thì ngươi cũng hãy dưỡng nuôi thể trí và linh hồn để chúng cũng hòa điệu và phối hợp trong việc xây dựng điều mà chính ngươi, như một thực thể và như con của Vua, có thể đang lấp đầy chỗ mà Ngài đã ban cho ngươi để lấp đầy. Vì khi ngươi bước bước đầu tiên, Ngài chuẩn bị con đường và Ngài sẽ không từ chối bất cứ điều tốt nào với những ai yêu mến sự đến của Ngài.

As there is not the time or ability to set aside certain periods for such training, do take a correspondence course in electronics. And as thy body rests, as thy body takes on understanding and knowledge, it may apply itself in a correspondence course in such a way that, as the changes are wrought by the periods of reconstruction, ye will find thy place in same and ye will grow with thy mind and thy soul, physically.

Vì không có thời gian hay khả năng để dành riêng những thời kỳ cho việc đào luyện như vậy, hãy tham gia một khóa học hàm thụ về điện tử học. Và khi thân ngươi nghỉ ngơi, khi thân ngươi tiếp nhận sự hiểu biết và tri thức, nó có thể áp dụng mình trong một khóa học hàm thụ theo cách mà, khi những thay đổi được tạo nên bởi các thời kỳ tái thiết, ngươi sẽ tìm thấy chỗ của mình trong đó và ngươi sẽ tăng trưởng với thể trí và linh hồn ngươi, về phương diện thể chất.

As to the appearances in the earth, we find that these have been quite varied. Not all may be given by any means but these that are a part of the awareness or consciousness of the entity in the present cycle of its experience. And these are at that period that they may be applied. As indicated the mental is to be applied for the development of the material as well as the mental and spiritual self. Keep self from condemnation ever.

Về các lần xuất hiện trên trần, chúng ta thấy rằng những điều ấy khá đa dạng. Không thể cho hết mọi điều, nhưng những điều là một phần của sự nhận biết hay tâm thức của thực thể trong chu kỳ hiện tại của kinh nghiệm nó. Và những điều này đang ở thời để có thể được áp dụng. Như đã chỉ ra, phương diện trí tuệ là để được áp dụng cho sự phát triển của tự thân nơi phương diện vật chất cũng như trí tuệ và tinh thần. Luôn giữ mình khỏi lên án.

Before that the entity was in the land of the present nativity when there were those changes being wrought by the rediscovering of principles as applied to light and heat.

Trước đó, thực thể ở trong xứ sở nơi sinh quán hiện tại khi có những thay đổi được tạo nên bởi việc tái khám phá các nguyên lý áp dụng cho ánh sáng và nhiệt.

Then in the name Don Collett (?) about New Haven and Cambridge, the entity applied self in using such for the construction. So may the entity in self in the present use those various elements, as changes are being wrought, for not only heat and light but as the answer to color, tone, voice, and the transportation of every sort or nature.

Bấy giờ với tên Don Collett (?) ở quanh New Haven và Cambridge, thực thể đã tự áp dụng trong việc dùng những điều ấy cho xây dựng. Vậy nên thực thể hiện tại có thể dùng các yếu tố khác nhau, khi các thay đổi đang được tạo nên, không chỉ cho nhiệt và ánh sáng mà còn làm câu đáp cho sắc màu, âm điệu, tiếng nói, và cho việc vận chuyển dưới mọi hình thái hay bản chất.

Before that the entity saw those activities in which there was either the compliance with or defiance of natural laws, in the period when the Master walked in the earth.

Trước đó, thực thể thấy những hoạt động trong đó hoặc là thuận theo hoặc là chống lại các định luật tự nhiên, vào thời kỳ khi vị Chân sư bước đi trên trần gian.

These are still the mysteries to the entity. But natural laws are God’s laws. Everything in the earth is ruled by law. He said “Let there be light,” and there was light—by law.

Đây vẫn là những điều nhiệm mầu đối với thực thể. Nhưng các định luật tự nhiên là các định luật của Thượng đế. Mọi thứ trên trần đều do định luật cai quản. Ngài phán “Hãy có ánh sáng”, và có ánh sáng—theo định luật.

What law? Of the spirit of truth, of light itself moving into activity; thus becoming creative by law.

Định luật nào? Của tinh thần chân lý, của chính ánh sáng chuyển động vào hoạt động; do đó trở thành sáng tạo theo định luật.

Learn ye then the spiritual law which ye attempted to understand, which ye studied then in the name Hedth.

Vậy hãy học định luật tinh thần mà ngươi đã cố gắng hiểu, vốn ngươi đã học khi ấy với tên Hedth.

The entity was an associate of Peter and John, eventually becoming a follower when the entity had been converted from the using of same as a material blessing.

Thực thể là bạn đồng hành của Phêrô và Gioan, rồi cuối cùng trở thành người theo khi thực thể đã được hoán cải khỏi việc dùng những điều ấy như một ân phúc vật chất.

For the universal blessing is, “As ye would that others should do to you, do you even so to them,” not do others, lest they do thee; not to use brotherly love as something to build other than greater brotherly love or patience.

Vì phúc lành phổ quát là, “Điều gì muốn người làm cho mình, hãy làm cho người,” chứ không phải làm cho người khác trước kẻo họ làm cho ngươi; không phải dùng tình huynh đệ như một điều để xây dựng cái gì khác ngoài tình huynh đệ lớn hơn hoặc lòng nhẫn nại.

Before that the entity was in the Egyptian land when there were the preparations in the Temple of Sacrifice.

Trước đó, thực thể ở xứ Ai Cập khi có những chuẩn bị trong Đền Hy Tế.

The entity was among those prepared for using electrical forces for light, heat, sound, transportation.

Thực thể ở trong số những người được chuẩn bị để sử dụng các lực điện cho ánh sáng, nhiệt, âm thanh, vận chuyển.

Thus as indicated, through these channels the entity may apply itself as it goes on in its present activity, for those changes that may be wrought in its experience.

Do đó như đã chỉ ra, qua những kênh ấy, thực thể có thể áp dụng mình khi tiếp tục trong hoạt động hiện tại, cho những thay đổi có thể được tạo nên trong kinh nghiệm của mình.

But live the life for thy son, for thy neighbor, for thy brother, for thy friend, for thy foe. For this must be the consciousness in thee, that this is God’s earth, God’s world, God’s consciousness that must be made manifest among men.

Nhưng hãy sống đời sống vì con ngươi, vì người lân cận, vì huynh đệ, vì bạn, vì thù. Vì tâm thức trong ngươi phải là: đây là địa cầu của Thượng đế, thế giới của Thượng đế, tâm thức của Thượng đế phải được biểu lộ giữa loài người.

Begin in thine own self and with the one next to thee, and that which is not applicable in the life of thy son, of thy wife, of thy brother, ye cannot apply in a universal sense. Begin with self. Find the peace in self and ye will find that ye can bring it to others. For as indicated, “It must needs be that offenses come,” that disturbances arise, but fear not, for thy Ideal has overcome the world. And as ye abide only in Him may ye be at peace with the world.

Hãy bắt đầu từ chính ngươi và với người ở ngay bên cạnh ngươi, và điều gì không thể áp dụng trong đời sống của con ngươi, của vợ ngươi, của anh em ngươi, ngươi cũng không thể áp dụng nó theo nghĩa phổ quát. Hãy bắt đầu từ tự thân. Hãy tìm bình an trong chính mình và rồi ngươi sẽ thấy rằng ngươi có thể đem bình an ấy cho người khác. Vì như đã chỉ ra, “Ắt phải có cớ vấp phạm”, rằng rối loạn nổi lên, nhưng đừng sợ, vì Lý Tưởng của ngươi đã thắng thế gian. Và chỉ khi ngươi ở trong Ngài, ngươi mới có thể bình an với thế gian.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) What are the indications of future promotion in my present work?

(H) Những dấu hiệu thăng chức trong công việc hiện tại của tôi là gì?

(A) Very good if there is the application of the spiritual truths in the material associations.

(Đ) Rất tốt nếu có việc áp dụng các chân lý tinh thần trong các tương giao vật chất.

(Q) Is there some other line of work I would be better fitted for?

(H) Có lĩnh vực công việc nào khác mà tôi sẽ phù hợp hơn không?

(A) Read what has been indicated, as to that ye may grow to, if ye seek to apply same in the present.

(Đ) Hãy đọc điều đã được chỉ ra, về điều ngươi có thể trưởng thành tới, nếu ngươi tìm cách áp dụng điều ấy trong hiện tại.

(Q) Would it be advisable to ask for a transfer from my present assignment now?

(H) Lúc này có nên xin thuyên chuyển khỏi nhiệm vụ hiện tại của tôi không?

(A) We would not. We would work where we are and prepare self for other advancements that will come with same.

(Đ) Chúng tôi không làm vậy. Chúng tôi sẽ làm việc nơi mình đang ở và chuẩn bị mình cho những thăng tiến khác sẽ đến cùng với đó.

(Q) Is there any indication that a paid department will be established here in the near future?

(H) Có dấu hiệu nào cho thấy một phòng ban trả lương sẽ được thiết lập ở đây trong tương lai gần không?

(A) This should have little to do with thee. There will be a new department established but use it to help others, and use self in the manner indicated to advance further still.

(Đ) Điều này không nên dính dáng nhiều đến ngươi. Sẽ có một phòng ban mới được thiết lập nhưng hãy dùng nó để giúp người khác, và dùng chính mình theo cách đã chỉ để tiến xa hơn nữa.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm dừng tại đây.

Reading 2620-2 F 41 (Life reading for housewife and mother)—entire reading

Bài đọc 2620-2 N 41 (Bài đọc đời sống cho nội trợ và người mẹ)—toàn văn

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the home of Mrs. Robert R. M. Emmet, 1 Grace Church St., Rye, New York, this 24th day of November, 1941, in accordance with request made by the self—Mrs. [2620], Associate Member of the Ass”n for Research & Enlightenment, Inc., Virginia Beach, Va.

Bài Đọc Thông linh này được Edgar Cayce thực hiện tại nhà của Bà Robert R. M. Emmet, 1 Grace Church St., Rye, New York, ngày 24 tháng Mười Một, 1941, theo yêu cầu do chính đương sự—Bà [2620], Hội viên Liên kết của Ass”n for Research & Enlightenment, Inc., Virginia Beach, Va.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mrs. [2620].

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Bà [2620].

READING

BÀI ĐỌC

Born April 20, 1900, in Budapest, Hungary. Time of Reading 10:50 to 11:40 A. M. Eastern Standard Time. …, New York.

Sinh ngày 20 tháng Tư, 1900, tại Budapest, Hungary. Thời gian Bài đọc 10:50 đến 11:40 Sáng, Giờ Chuẩn miền Đông. …, New York.

GC: You will give the relation of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:

GC: Ông sẽ cho biết mối tương quan của thực thể này và vũ trụ, và các lực vũ trụ; cho biết những điều kiện vốn như là các phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như các lần xuất hiện trước đây trên cõi trần, cho biết thời gian, nơi chốn và tên gọi, và điều mà trong mỗi đời đã xây dựng hay làm chậm sự phát triển cho thực thể; cho biết các năng lực của thực thể hiện tại, điều nó có thể đạt tới, và bằng cách nào. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu ra:

EC: (In going back over years from the present—“–‘34–changes—‘29–anxieties—‘21–change—‘12–changes again—” etc., on back to birth date.)

EC: (Khi đi ngược dòng qua các năm từ hiện tại—“–‘34–những thay đổi—‘29–những lo âu—‘21–thay đổi—‘12–lại thay đổi—” v.v., lùi về đến ngày sinh.)

Yes, we have the record here of that entity now known as or called [2620].

Vâng, chúng ta có hồ sơ nơi đây của thực thể hiện được biết đến hay gọi là [2620].

In giving the interpretations of the records as we find them, much should be interpreted in the experiences of the entity in this present sojourn; that there may be the better application of the abilities that have been attained by the entity in its application of truth, love, life, understanding, in this present experience.

Khi diễn giải các hồ sơ như chúng ta tìm thấy, cần diễn giải nhiều điều trong các kinh nghiệm của thực thể trong kỳ lữ trần hiện tại; để có thể áp dụng tốt hơn những khả năng mà thực thể đã đạt được trong việc ứng dụng chân lý, tình thương, sự sống, sự hiểu biết, trong kinh nghiệm hiện tại này.

These interpretations we choose, then, with the desire and purpose that this may be a helpful experience for the entity; enabling the entity to better fulfill those purposes for which it entered this present sojourn.

Những diễn giải này chúng tôi chọn với ước muốn và mục đích rằng đây có thể là một kinh nghiệm hữu ích cho thực thể; giúp thực thể hoàn thành tốt hơn những mục đích vì đó mà nó đã bước vào kỳ lữ trần hiện tại.

It is true for the entity, and for most individual souls manifesting in the earth, that nothing, no meeting comes by chance. These are a design or pattern. These patterns, however, are laid out by the individual entity. For, there are laws. For law is love, love is law. And He hath not willed that any soul should perish, but hath with each temptation, each trial, prepared a way of escape.

Điều này đúng với thực thể, và với hầu hết các linh hồn cá nhân biểu lộ trên trần: chẳng có điều gì, chẳng có cuộc gặp gỡ nào là tình cờ. Chúng là một thiết kế hay mô hình. Tuy nhiên, các mô hình này do chính thực thể cá nhân vạch ra. Vì có các định luật. Vì định luật là tình thương, tình thương là định luật. Và Ngài không muốn bất kỳ linh hồn nào phải hư mất, mà với mỗi cám dỗ, mỗi thử thách, Ngài đã chuẩn bị một lối thoát.

Thus as the pattern of life, of consciousness, when the individual entity is to make application of that the entity has interpreted in its experience as related to the spiritual, the mental and the material laws, these then become active—the law of love—in the experience of the entity.

Vậy khi mô hình của đời sống, của tâm thức, khi thực thể cá nhân phải áp dụng điều mà thực thể đã diễn giải trong kinh nghiệm của mình như liên hệ đến các định luật tinh thần, trí tuệ và vật chất, thì những điều ấy trở nên linh hoạt—định luật của tình thương—trong kinh nghiệm của thực thể.

It is true, then, that there are latent and manifested urges, manifested abilities, manifested virtues, manifested faults, in the experience of each entity. These faults, these virtues may be pointed out, yet the usage, the application of same is of free will—that which is the universal gift to the souls of the children of men; that each entity may know itself to be itself and yet one with the universal cause.

Vậy đúng là có những thúc lực tiềm ẩn và biểu lộ, các khả năng biểu lộ, các đức hạnh biểu lộ, các lỗi lầm biểu lộ, trong kinh nghiệm của mỗi thực thể. Các lỗi lầm, các đức hạnh có thể được chỉ ra, nhưng việc dùng, việc áp dụng chúng là thuộc ý chí tự do—ân tặng phổ quát cho linh hồn của những người con của nhân loại; để mỗi thực thể có thể biết mình là chính mình và đồng thời là một với nguyên nhân phổ quát.

Thus the pattern, the book of life is written by the entity in its use of truth, knowledge, wisdom, in its dealings with its fellow man through the material sojourns. Also during the interims between such sojourns there are consciousnesses, or awarenesses. For, the soul is eternal, it lives on, has a consciousness in the awarenesses of that which has been builded.

Vậy mô hình, Sách Sự Sống được viết bởi thực thể qua việc sử dụng chân lý, tri thức, minh triết, trong cách đối đãi với đồng loại qua các kỳ lữ trần. Đồng thời, trong những khoảng gián cách giữa các kỳ lữ trần ấy có những tâm thức, hay những nhận biết. Vì linh hồn là vĩnh cửu, nó tiếp tục sống, có tâm thức trong những nhận biết về điều đã được xây dựng.

The awarenesses are a pattern of that we call astrological aspects. Not because the entity in a physical consciousness sojourned in any of the planets that are a part of this present solar experience, but each planet is accredited with certain environmental influences that are represented in the characteristics of each individual soul.

Những nhận biết là một mô hình về điều chúng ta gọi là các phương diện chiêm tinh. Không phải vì thực thể trong tâm thức vật chất đã lưu trú trên bất kỳ hành tinh nào vốn là một phần của trải nghiệm thái dương hệ hiện tại này, mà mỗi hành tinh được quy cho những ảnh hưởng môi trường nhất định được biểu trưng trong những đặc trưng của mỗi linh hồn cá biệt.

Thus, as we find in this entity, they give expression in the abilities, which find manifestation in the material body through developments or attunements in the glandular system of the body FOR material expression.

Vậy nên, như chúng ta thấy nơi thực thể này, chúng bộc lộ trong các khả năng, vốn biểu hiện nơi thân xác vật chất thông qua những phát triển hay những hòa điệu trong hệ tuyến của thân thể CHO biểu lộ vật chất.

Thus upon the skein of time and space is the record of each soul made. In patience, in persistence may such be read.

Vậy trên cuộn sợi thời-không là ghi chép của mỗi linh hồn được làm nên. Trong nhẫn nại, trong bền bỉ có thể đọc được như vậy.

Thus the interpretations chosen here are made with the desire that they be of a helpful influence to this entity.

Do đó các diễn giải được chọn nơi đây được thực hiện với ước muốn rằng chúng sẽ là một ảnh hưởng hữu ích cho thực thể này.

In Venus we find the greater ruling influence; afflicted, as may be astrologically termed, in the Moon. Thus we find, in this entity, one beautiful in purpose, in hopes, in desires; of the universal nature. Oft not understood by those where that of material love life would find expression. For, these naturally attract opposites, and thus is growth ever made in a material expression. For, these are illustrated to the student, to those who would learn, in nature itself. Thus we find the love of mankind, the love of individual prospects. Those that are attracted to the entity are those who NEED the entity for that of, OFT, the sacrifice the entity must make in its own emotions to be of a helpful influence in the experience of the associate.

Nơi Sao Kim, chúng ta thấy ảnh hưởng cai quản lớn hơn; bị bất lợi, như theo thuật ngữ chiêm tinh, ở Mặt Trăng. Vậy nên chúng ta thấy, nơi thực thể này, một người đẹp đẽ trong mục đích, trong hy vọng, trong ước muốn; mang tính phổ quát. Thường không được những người mà ở đó đời sống ái tình vật chất muốn biểu lộ hiểu cho. Vì những người này tự nhiên hút các đối cực, và vì thế sự tăng trưởng luôn được tạo ra trong biểu lộ vật chất. Vì điều này được minh họa cho đạo sinh, cho những ai muốn học, ngay trong tự nhiên. Vậy nên chúng ta thấy tình yêu nhân loại, tình yêu những viễn cảnh cá nhân. Những người bị hút về phía thực thể là những người CẦN thực thể vì điều mà, THƯỜNG, là sự hy sinh mà thực thể phải làm trong chính cảm xúc của mình để trở nên ảnh hưởng hữu ích trong kinh nghiệm của người đi cùng.

Thus may the world, may individuals find the entity as rather strange, rather distant; and yet the entity giving—giving of self makes ALL influences in the lives of those the entity meets BETTER for having known or been in association with the entity.

Bởi đó thế gian, các cá nhân có thể thấy thực thể có vẻ lạ lùng, có vẻ xa cách; nhưng thực thể lại cho đi—dâng hiến chính mình, khiến MỌI ảnh hưởng trong đời của những ai thực thể gặp gỡ trở nên TỐT HƠN vì đã biết hay đã được kết giao với thực thể.

In Jupiter, both a benevolent and a questioned influence arises. Thus the universality of the entity’s activities, of the entity’s abilities, of the entity’s virtues. These become influences in the mental forces, the mental abilities, yet—through these very Jupiterian and Venus influences—we find that the entity has attained the abilities to mentally and physically aid those who are in need of that to quiet the fears, to make RATIONAL that which arises from fear in the experience of others.

Nơi Sao Mộc, vừa có ảnh hưởng nhân hậu vừa có ảnh hưởng bị đặt vấn đề nổi lên. Vậy nên tính phổ quát nơi các hoạt động của thực thể, các khả năng của thực thể, các đức hạnh của thực thể. Những điều này trở nên ảnh hưởng nơi các lực trí tuệ, các khả năng trí tuệ, tuy nhiên—chính qua các ảnh hưởng Mộc tinh và Kim tinh—chúng ta thấy rằng thực thể đã đạt khả năng hỗ trợ về trí tuệ và thể chất cho những người cần điều giúp khiến nỗi sợ lắng dịu, khiến điều nảy sinh từ sợ hãi trong kinh nghiệm của người khác trở nên HỢP LÝ.

Thus the entity is given the ability as a healer, even through the laying on of hands, for those needing such as has been indicated.

Do đó thực thể được trao khả năng như một người chữa lành, ngay cả qua việc đặt tay, cho những ai cần điều đã được chỉ ra.

We find in Uranus the extremes. Thus the changing influence that has been and is a part of the entity’s experience. The associations bring such opposition, or such great opposites to that the entity itself attains or gains; thus bringing at times confusions, or wonderments, tears—and yet tears of joy at times. These are a part of the entity’s experience in this sojourn.

Chúng ta thấy trong Sao Thiên Vương những cực đoan. Vậy nên ảnh hưởng đổi thay đã là và là một phần của kinh nghiệm thực thể. Những mối kết giao mang đến những đối nghịch như vậy, hay những đối cực lớn lao với điều mà tự thực thể đạt được hay thu nhận; do đó đôi khi mang đến bối rối, hay những điều kỳ lạ, nước mắt—và đôi khi cả nước mắt vui mừng. Đây là một phần của kinh nghiệm thực thể trong kỳ lữ trần này.

Also there are the interests in the occult, the mystic, and—yea—abilities in creating, by the touch, those vibrations in the bodies to others as to become edifying in spirit, in mental abilities.

Cũng có những quan tâm đến huyền bí học, thần bí học, và—vâng—khả năng tạo, bằng sự chạm, những rung động trong thân thể người khác đến mức trở nên gây dựng về tinh thần, về khả năng trí tuệ.

Thus these are the portions of the entity’s experience that should be the greater stressed in the present.

Vậy đây là phần trong kinh nghiệm của thực thể nên được nhấn mạnh hơn trong hiện tại.

As to the appearances or sojourns in the earth—these we find expressed or manifested in the material body through the senses. Do understand, do interpret the difference between the emotions that arise from the sensory system and those that arise from the GLANDULAR system alone. True, physically these interchange; yet one represents the WHOLE of the development, the other represents the step by step activity by an entity in its activity through the material world.

Về các lần xuất hiện hay lưu trú trên trần—chúng ta thấy chúng bộc lộ hay biểu hiện nơi thân thể vật chất qua các giác quan. Hãy thấu hiểu, hãy diễn giải sự khác nhau giữa những cảm xúc nảy sinh từ hệ cảm giác và những cảm xúc nảy sinh chỉ từ HỆ TUYẾN. Đúng là về mặt thể xác chúng hoán đổi cho nhau; tuy nhiên một bên đại diện CHO TOÀN THỂ sự phát triển, bên kia đại diện cho hoạt động từng bước một bởi một thực thể trong hoạt động của nó qua thế giới vật chất.

Not all of the sojourns are indicated as needed in the experience of the entity in the present for a helpful influence, but these are chosen that the entity may arouse more and more to those abilities that are a part of the experience of those virtues, as well as those faults. But in self, as in others, MAGNIFY the virtues, magnify the good, minimizing the faults. Not that good and bad do not exist. Each exists relatively in relationships to the awareness of the individual. Be aware of the good, see and hunt for, search out that which is good in each soul; thus magnifying that, the faults become less and less—this especially in associations in thine own household.

Không phải mọi kỳ lữ trần đều được chỉ ra như cần thiết trong kinh nghiệm của thực thể hiện tại để làm ảnh hưởng hữu ích, nhưng những điều này được chọn để thực thể có thể đánh thức ngày càng nhiều hơn những khả năng là một phần của kinh nghiệm về các đức hạnh, cũng như các lỗi lầm. Nhưng nơi tự thân, cũng như nơi người khác, HÃY LÀM LỚN các đức hạnh, làm lớn điều thiện, giảm nhẹ các lỗi lầm. Không phải rằng thiện và ác không tồn tại. Mỗi thứ tồn tại tương đối trong tương quan với sự nhận biết của cá nhân. Hãy ý thức về điều thiện, hãy thấy và tìm kiếm, tra xét điều thiện trong mỗi linh hồn; bằng cách đó làm lớn điều ấy, các lỗi lầm trở nên ít đi—đặc biệt là trong các mối kết giao trong chính gia đình ngươi.

Before this the entity was in the land of the present sojourn, during the early periods of the settlings in the land now known as Rhode Island—or providence town, in those periods when Roger Williams made for those settlements there.

Trước đó, thực thể ở trong xứ sở của kỳ lữ trần hiện tại, trong những giai đoạn sớm của việc định cư trên miền đất nay gọi là Rhode Island—hay thị trấn Providence, trong những thời khi Roger Williams kiến lập những định cư nơi đó.

The entity was among the companions of the entity Williams, AS a companion then, in the name Martha Calvert.

Thực thể ở trong số các bạn đồng hành của vị Williams, LÀ bạn đồng hành khi ấy, với tên Martha Calvert.

In the experience the entity gained through its abilities to maintain friendly relationships not only with the natives of that land but the applying of herbs of the land, of the growths of the forest, to beneficial material gains for the peoples through that trying period.

Trong kinh nghiệm ấy thực thể đã gặt hái qua khả năng duy trì các mối thân thiện không chỉ với thổ dân của miền đất đó mà còn qua việc ứng dụng thảo dược địa phương, các sinh trưởng của rừng, đem lại lợi ích vật chất cho dân chúng qua thời kỳ thử thách ấy.

Thus the love of nature, the love for peoples, the understanding of conditions. Tolerance the entity gained through that period.

Vậy nên tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, sự hiểu biết các tình trạng. Lòng khoan dung là điều thực thể thu nhận qua thời kỳ ấy.

The application of tolerance with patience, then, is needed in the present experience. For, as the entity aided then in bringing hope, through dispelling fear as to future activities, so there are the needs in the present for dispelling fear through faith, through the application of the latent and manifested abilities in its experience as it deals with its fellow men.

Việc ứng dụng khoan dung cùng với nhẫn nại, vậy, là điều cần thiết trong kinh nghiệm hiện tại. Vì, như thực thể đã hỗ trợ khi ấy trong việc đem hy vọng, qua việc xua đi sợ hãi về các hoạt động tương lai, thì trong hiện tại cũng có nhu cầu xua đi sợ hãi qua đức tin, qua việc áp dụng các khả năng tiềm ẩn và biểu lộ trong kinh nghiệm của mình khi đối đãi với đồng loại.

Know, ever, that law as indicated by Him, “Inasmuch as—or in the manner ye treat, ye respond to the least of thy fellow man, the same ye do unto thy Maker.” Also as He gave, “In patience become ye aware of thy soul.” These keep near to thy consciousness, in thy dealings with those about thee day by day.

Hãy nhớ, luôn luôn, định luật như Ngài đã chỉ, “Bao nhiêu ngươi đối đãi, ngươi đáp lại với người bé mọn nhất trong anh em ngươi, bấy nhiêu ngươi làm cho Đấng Tạo Hóa của ngươi.” Cũng như Ngài đã dạy, “Trong nhẫn nại, hãy trở nên nhận biết linh hồn ngươi.” Hãy giữ những điều này gần kề tâm thức ngươi, trong cách ngươi đối đãi với những người quanh ngươi ngày qua ngày.

Before that the entity was in the Holy Land, among the Roman peoples that were in high places during the sojourn of the Master in the earth.

Trước đó, thực thể ở Thánh Địa, giữa người La Mã ở chốn quyền thế trong kỳ lưu trú của vị Chân sư trên trần.

And especially was the entity present (as has oft and may oft be a part of the present experience of the entity) during some of those periods when there were the trial, the Crucifixion. And the entity joined with the holy women in those periods when He was seen again, in that period of manifestation.

Và đặc biệt thực thể có mặt (như đã, và có thể thường là một phần trong kinh nghiệm hiện tại của thực thể) trong vài thời khi có phiên tòa, sự Đóng Đinh. Và thực thể hòa cùng các phụ nữ thánh trong những thời khi Ngài lại được thấy, trong thời kỳ hiển lộ ấy.

The name then was Amorela, and associated with those that kept guard at the temple. There the entity, at the trial before Pilate, in the throng, saw the face of the Master. The entity heard those words, saw that tenderness with which He felt and experienced His aloneness when deserted by those who had been close to Him. The entity was spoken to by the Master when He gave, “Be not afraid, for me nor for thyself. All is WELL with thee.”

Tên khi ấy là Amorela, và kết giao với những người canh giữ đền thờ. Ở đó, tại phiên xử trước Phi-lát, ở giữa đám đông, thực thể thấy diện mạo của vị Thầy. Thực thể nghe những lời ấy, thấy sự dịu dàng mà Ngài cảm nhận và trải nghiệm nỗi cô đơn khi bị những kẻ gần Ngài bỏ rơi. Thực thể được chính vị Thầy nói với khi Ngài phán, “Đừng sợ, đừng vì Ta cũng đừng vì chính ngươi. Mọi sự đều TỐT LÀNH cho ngươi.”

Thus, when there were those reports of His resurrection, when there were the attempts of the Romans to put aside the questionings of the Jews, the entity sought to know. And these periods brought disturbance to the entity, when it wept much. And this still finds expression in its attempt for vision.

Vậy nên, khi có những tường thuật về sự sống lại của Ngài, khi người La Mã tìm gạt đi những chất vấn của người Do Thái, thực thể tìm biết. Và những thời kỳ ấy mang đến rối loạn cho thực thể, đến nỗi nó đã khóc nhiều. Và điều này vẫn bộc lộ trong nỗ lực cầu xin thị kiến của nó.

KNOW, then, that the healing is ever in Him, and that to Him goes the credit of the abilities as manifest through thy hands, through thy voice, through thy pronouncements. To Him the love, the honor must ever be given.

HÃY BIẾT rằng sự chữa lành luôn ở nơi Ngài, và rằng về Ngài quy về công trạng cho các khả năng như biểu lộ qua đôi tay ngươi, qua tiếng nói ngươi, qua những lời tuyên phán của ngươi. Cho Ngài mọi tình thương, mọi vinh dự phải luôn được dâng.

In the experience the entity gained throughout. And do not fail in the present to keep that as was the pronouncement to thee, “Be not afraid. All is well with thee.” For, as He hath given, “If ye love me ye will keep my commandments, and my commandments are not grievous,—only that ye love one another.” These ye are manifesting. Keep them. Preserve them. Live them. Be them.

Trong kinh nghiệm ấy thực thể đã gặt thu trọn vẹn. Và đừng quên trong hiện tại giữ điều đã là lời tuyên phán cho ngươi, “Đừng sợ. Mọi sự đều tốt lành cho ngươi.” Vì như Ngài đã ban, “Nếu các ngươi yêu mến Ta các ngươi sẽ giữ các điều răn của Ta, và các điều răn của Ta không nặng nề,—chỉ là các ngươi yêu thương nhau.” Những điều này ngươi đang biểu lộ. Hãy giữ chúng. Gìn giữ chúng. Sống chúng. Trở nên chúng.

Before that the entity was in the Egyptian land, during those periods of reconstruction, when there was the choosing of individuals for the purification of activities, not only in the propagation but in the becoming of channels for those souls to manifest—as was taught through that period of activity.

Trước đó, thực thể ở xứ Ai Cập, trong những thời kỳ tái thiết, khi có việc tuyển chọn những cá nhân cho việc thanh lọc hoạt động, không chỉ trong sinh sản mà còn trong việc trở thành kênh mạch để các linh hồn biểu lộ—như đã được dạy dỗ qua thời kỳ hoạt động ấy.

The entity was purified in the Temple of Sacrifice, and became a channel that brought to the experience of many that which aided in the distribution of knowledge, of wisdom, as related to the material, the spiritual, the mental world of that period.

Thực thể được thanh luyện trong Đền Hy Tế, và trở thành một kênh mạch đã đem đến cho kinh nghiệm của nhiều người điều giúp cho việc phân phối tri thức, minh triết, liên quan đến thế giới vật chất, tinh thần, trí tuệ của thời kỳ đó.

The name then was Ibd-Exr.

Tên khi ấy là Ibd-Exr.

As to the abilities of the entity in the present, then, that to which it may attain, and how:

Về các khả năng của thực thể trong hiện tại, điều nó có thể đạt tới, và bằng cách nào:

First, study to show thyself approved unto that ideal ye found and sought in Him, in the temple, or in the court at Pilate’s condemnation period.

Trước hết, hãy học để cho thấy chính mình được chấp thuận đối với lý tưởng ngươi đã tìm và đã gặp nơi Ngài, trong đền thờ, hay tại công đường trong thời Phi-lát luận tội.

Hold to that as ye manifested in those experiences when ye saw Him bless those about Him, after the Resurrection.

Hãy giữ điều ấy như ngươi đã biểu lộ trong những kinh nghiệm khi ngươi đã thấy Ngài chúc phúc cho những người quanh Ngài, sau Sự Sống Lại.

Know then, in thine inner self, there is no other way.

Vậy hãy biết, trong nội tâm ngươi, không có con đường nào khác.

Study to show thyself approved unto that ideal. Call upon Him often. Thus thy abilities to comfort, to encourage those who are weak, and mentally disturbed. And ye shall find rest in the consciousness of a life well used, and will enter into that peace, that joy as He alone can give.

Hãy học để cho thấy chính mình được chấp thuận đối với lý tưởng ấy. Hãy thường xuyên kêu cầu Ngài. Nhờ đó các khả năng của ngươi để an ủi, để khích lệ những người yếu đuối, rối loạn về trí tuệ. Và ngươi sẽ tìm được sự an nghỉ trong tâm thức của một đời sống được sử dụng tốt đẹp, và sẽ bước vào bình an, vào niềm vui mà chỉ riêng Ngài có thể ban.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) What steps should I now take to make my life a greater service for humanity?

(H) Tôi nên làm những bước nào bây giờ để khiến đời tôi trở nên một phụng sự lớn hơn cho nhân loại?

(A) Use thy abilities to heal, by the laying on of hands, by giving such suggestions that quiet the fears of those who are fearful and doubtful as to their relationships to the Creative Forces or God; thus bringing mental AND material health and joy to others.

(Đ) Hãy dùng các khả năng của ngươi để chữa lành, bằng việc đặt tay, bằng cách đưa ra những gợi ý làm lắng dịu nỗi sợ của những người sợ hãi và hoài nghi về mối liên hệ của họ với các Lực Sáng Tạo hay Thượng đế; nhờ đó đem đến sức khỏe TRÍ TUỆ VÀ VẬT CHẤT, và niềm vui cho người khác.

(Q) Any advice regarding how to heal by laying on of hands?

(H) Có lời khuyên nào về cách chữa lành bằng việc đặt tay?

(A) As has been given here, praying with others and letting the vibrations from self pass through or into their bodies. Not taking ON the vibrations, but laying them all on Him. For He IS the healer, He IS life. He overcame death, hell and the grave. He overcame temptation. And in Him is peace, harmony, life. With this accrediting, begin; not by proclaiming—for remember, as He oft gave, “Tell no man.” Just be thyself, and thy trust in Him—and these bring the spirit of truth in thy labor of love for Him.

(Đ) Như đã được ban nơi đây, hãy cầu nguyện cùng với người khác và để các rung động từ tự thân truyền qua hay nhập vào thân thể họ. Đừng GÁNH vào những rung động ấy, mà hãy phó thác hết cho Ngài. Vì Ngài LÀ Đấng chữa lành, Ngài LÀ sự sống. Ngài đã thắng tử thần, âm phủ và mồ mả. Ngài đã thắng cám dỗ. Và trong Ngài là bình an, hòa điệu, sự sống. Với sự quy công về Ngài như thế, hãy bắt đầu; không phải bằng việc rao truyền—vì hãy nhớ, như Ngài đã nhiều lần dạy, “Đừng nói cho ai.” Hãy chỉ là chính ngươi, và sự tín thác của ngươi nơi Ngài—và những điều ấy mang tinh thần chân lý trong lao tác yêu thương của ngươi vì Ngài.

(Q) How have I been associated in the past with the following individuals, and how may I best help them in the present: First, my daughter, […]?

(H) Trong quá khứ tôi đã có liên hệ thế nào với những người sau đây, và tôi có thể giúp họ tốt nhất trong hiện tại ra sao: Trước hết, con gái tôi, […]?

(A) In the experience before this the daughter was a friend, that doubted the self then. In the Egyptian experience the daughter was THEN a daughter. Thus the relationships we find at present in which the daughter at periods doubts and resents, and yet periods when there is the turning to for counsel. Hence the usage or application—be patient, but instruct in that which is found expressed in the 14th and 17th of St. John.

(Đ) Trong kinh nghiệm trước đây con gái là một người bạn, khi ấy hoài nghi chính mình. Trong kinh nghiệm Ai Cập con gái KHI ẤY cũng là một người con gái. Do đó những tương quan chúng ta thấy hiện tại trong đó có những thời kỳ con gái hoài nghi và bất mãn, rồi những thời kỳ quay lại để xin lời khuyên. Vậy nên cách dùng hay áp dụng—hãy nhẫn nại, nhưng hãy chỉ dạy điều được tìm thấy bày tỏ trong chương 14 và 17 của Thánh Gioan.

(Q) My husband, Kurt […]?

(H) Chồng tôi, Kurt […]?

(A) In the Roman experience or activity we find that the associations were as companions then. There needs to be much patience. Not all of the pattern was straightened there. In the present keep the pattern in patience, in love. Let not thy heart be troubled; ye believe in God, believe also in Him who can keep thee ever in that peace—not as the world or material things give peace, but peace of spirit, of purpose, of heart.

(Đ) Trong kinh nghiệm hay hoạt động thời La Mã chúng ta thấy các tương quan khi ấy là bạn đồng hành. Cần rất nhiều nhẫn nại. Không phải mọi mô hình đã được uốn nắn ngay thẳng nơi đó. Trong hiện tại, hãy giữ mô hình trong nhẫn nại, trong tình thương. Chớ để lòng ngươi xao xuyến; các ngươi tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ở Ngài—Đấng có thể giữ ngươi luôn ở trong bình an ấy—không như thế gian hay những điều vật chất ban bình an, mà là bình an của tinh thần, của mục đích, của trái tim.

Reading 259-8 F 18 (Life reading for young woman)—entire reading

Bài đọc 259-8 N 18 (Bài đọc đời sống cho nữ thanh niên)—toàn văn

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 4th day of September, 1934, in accordance with request made by the self—Miss [259], through Edgar Cayce himself—Honorary Member of the Ass”n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc thông linh này được Edgar Cayce thực hiện tại nhà riêng trên Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 4 tháng Chín, 1934, theo yêu cầu do chính đương sự—Cô [259], qua chính Edgar Cayce—Hội viên Danh dự của Ass”n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis and L. B. Cayce.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis và L. B. Cayce.

READING

BÀI ĐỌC

Born March 22, 1916, 11:45 P.M., in the old Union Street Hospital, cor. Union St. & McLeod Ave., Selma, Ala. Time of Reading 10:45 to 11:45 A.M. …, Alabama. (Life Reading Suggestion)

Sinh ngày 22 tháng Ba, 1916, 11:45 đêm, tại bệnh viện Union Street cũ, góc Union St. & McLeod Ave., Selma, Ala. Thời gian Bài đọc 10:45 đến 11:45 Sáng. …, Alabama. (Đề nghị Bài đọc Đời sống)

EC: (Going back over the years towards birth date—“–33–32–31–30—Near accident in ‘30. 29–28,” etc.)

EC: (Đi ngược qua các năm hướng về ngày sinh—“–33–32–31–30—Suýt tai nạn năm ‘30. 29–28,” v.v.)

Yes, we have the entity and those relationships with the universe and universal forces, that are latent and manifested in the personalities of the present entity, called [259].

Vâng, chúng ta có thực thể và những mối tương quan với vũ trụ và các lực vũ trụ, những điều tiềm ẩn và biểu lộ trong các phàm ngã của thực thể hiện tại, gọi là [259].

In giving that which may be helpful to the entity in the present experience, some of those things, conditions or surroundings that might be helpful will be given, and then the why may be gathered from the experiences through which the entity in its earthly sojourns has passed.

Khi đưa ra những điều có thể hữu ích cho thực thể trong kinh nghiệm hiện tại, một vài điều, tình trạng hay hoàn cảnh có thể hữu ích sẽ được nêu, và rồi lý do có thể được rút ra từ những kinh nghiệm mà thực thể đã trải qua trong kỳ lữ trần của mình.

The seal, or that which should be the motto of the body: A triad with the balance, Et Libra et Pura. These as a pin or an emblem or as a drawing would be well to have about the body at all times.

Ấn ký, hay điều nên là châm ngôn của thân thể: Một tam nguyên với cán cân, Et Libra et Pura. Những điều này dưới dạng một ghim cài hay một huy hiệu hoặc một hình vẽ nên được mang bên mình mọi lúc.

The colors, the odors, the body should keep about self: The odor, orris and lavender. The colors, white with not DEEP black but with shades; plain rather than brocaded or laces; that which is sometimes termed mannish, but rather the effeminate in the mannish style.

Những màu sắc, hương thơm, thân thể nên giữ quanh mình: Hương, diên vĩ và oải hương. Màu sắc, trắng với không phải đen ĐẬM mà là những sắc độ; trơn thay vì gấm thêu hay ren; cái mà đôi khi gọi là kiểu nam tính, nhưng đúng hơn là nữ tính trong phong cách nam tính.

As to the astrological influences and the sojourns of the entity in those environs about the earth, only as mental influences may these be seen in the experience of the mental developments in the present sojourn. Being a body-physical in the present, through filial and material love the material things about the body will remain oft in strain until self has conquered self in its material desires and does not censure another nor find other than—in its daily experience—that which may be used as a stepping-stone for its soul, mental and material advancement. These come from sojourns in Jupiter, Uranus, Venus. Hence sentiment, the mental, the vision of power and activity in varied spheres of material expression will be the dreams of the body in its meditations in its inner self; and the expression that comes to the forefront must be tempered with mercy, justice and right, through the WILL of self. For, will is the factor that makes for growth in the soul’s sleep through the earth’s experience. For, with the birth of a physical body the soul slumbers; and its dreams are the deeds by which the soul is judged in its associations with its fellow man.

Về các ảnh hưởng chiêm tinh và các kỳ lưu trú của thực thể trong những môi trường quanh Trái Đất, chỉ như những ảnh hưởng trí tuệ có thể thấy được trong kinh nghiệm các phát triển trí tuệ trong kỳ lữ trần hiện tại. Là một thân-thể trong hiện tại, qua tình thân và tình ái vật chất, những điều vật chất quanh thân sẽ thường ở trong căng thẳng cho đến khi tự thân đã chinh phục được chính mình trong các ước muốn vật chất và không khiển trách người khác, cũng không tìm kiếm điều gì khác hơn—trong kinh nghiệm hằng ngày—những gì có thể được dùng làm bậc thang cho sự thăng tiến linh hồn, trí tuệ và vật chất của mình. Những điều này đến từ các lưu trú nơi Sao Mộc, Sao Thiên Vương, Sao Kim. Do đó tình cảm, trí tuệ, viễn kiến về quyền lực và hoạt động trong nhiều lĩnh vực biểu lộ vật chất sẽ là những giấc mơ của thân thể trong các thiền tưởng nơi nội tâm; và biểu hiện đi ra tiền trường phải được điều độ bởi lòng nhân, công chính và điều thiện, qua Ý CHÍ của tự thân. Vì, ý chí là yếu tố khiến linh hồn lớn lên trong giấc ngủ của linh hồn xuyên qua kinh nghiệm trần gian. Vì, với sự ra đời của một thân thể vật chất, linh hồn ngủ say; và những giấc mộng của nó là những việc làm mà bởi đó linh hồn được phán xét trong các mối kết giao với đồng loại.

As to the appearances in the earth and those influences brought to bear upon the entity in its material, mental and spiritual developments in the present:

Về các lần xuất hiện trên trần và những ảnh hưởng tác động lên thực thể trong các phát triển vật chất, trí tuệ và tinh thần trong hiện tại:

Before this we find in those environs of what is now known as Jamestown, Virginia, during the periods when there was the reestablishing or reenforcing of those that had come in these environs for the establishing of a material dwelling place in this land, the entity was among those that were born under that new regime when there had been the establishing of a government and the spreading out of those peoples into the adjoining vicinities.

Trước đó chúng ta thấy ở những vùng lân cận nơi nay được biết là Jamestown, Virginia, trong những thời kỳ tái lập hay củng cố những người đã đến các vùng này để thiết lập một chốn cư ngụ vật chất trên miền đất này, thực thể thuộc về số những người sinh ra dưới chế độ mới khi đã có việc thiết lập một chính quyền và việc dân chúng lan tỏa ra các vùng kế cận.

Then the name was Bainbridge (Mary), the entity being of those that had come as the activities of one that had been a sojourner in this land; growing in the activities that went for the developments of those peoples to the bringing MORE of the people that were to aid in the further development for the land. The entity SOLD for the crown was claimed by same, through those in whose care the body-physical was given in the experience. Hence in associations with some of those that became the leaders in that particular vicinity, and associated the more closely with those that made for the establishing of that indicated in the seal—LIBERTY; for the entity was the associate of those that PROMPTED the activity of Henry; becoming a close active associate of those that made for the Custis, the Lees, the Randolphs, the Curtises, Lancasters, of this particular land.

Bấy giờ tên là Bainbridge (Mary), thực thể thuộc về những người đã đến như là hoạt động của một kẻ từng là lữ khách trên miền đất này; lớn lên trong những hoạt động nhằm phát triển dân chúng để đưa NHIỀU HƠN những người sẽ hỗ trợ cho sự phát triển tiếp theo của miền đất. Thực thể BÁN cho vương quyền và bị chính vương quyền đòi quyền sở hữu, thông qua những người được giao trông coi thể xác trong kinh nghiệm ấy. Do đó, có liên hệ với vài người sau này trở thành các lãnh tụ trong vùng cụ thể ấy, và gần gũi hơn với những người góp phần thiết lập điều được biểu thị trên ấn triện—TỰ DO; vì thực thể là người cộng sự của những người đã THÚC ĐẨY hoạt động của Henry; trở thành cộng sự thân cận, tích cực của những người tạo nên dòng họ Custis, nhà Lees, nhà Randolphs, nhà Curtises, Lancasters, của miền đất này.

Hence in the present the desires for those things pertaining to power in the fields of politics, and the entity COULD MAKE of itself and excellent politician—should it choose in these associations or environs to make its activities in that direction; yet, as we find, this is not the greater field for mental and soul development—as will be seen.

Vì thế trong hiện tại có những ước muốn về những điều thuộc quyền lực trong lĩnh vực chính trị, và thực thể CÓ THỂ tự mình trở thành một chính khách xuất sắc—nếu chọn lựa trong các mối liên hệ hay môi trường này để dấn hoạt vào hướng đó; tuy nhiên, như chúng ta thấy, đây không phải là lĩnh vực lớn hơn cho sự phát triển trí tuệ và linh hồn—như sẽ thấy.

Before that we find the entity was in that land now known as the Roman, or rather the Grecian and Roman, during the periods when there were what are now known as the Trojan Wars, during the activities between those over that entity Helen of Troy.

Trước đó nữa chúng ta thấy thực thể ở miền đất nay được biết là La Mã, đúng hơn là Hy Lạp và La Mã, vào thời kỳ có những gì nay được biết là các Cuộc Chiến thành Troy, trong những hoạt động xoay quanh nhân vật Helen thành Troy.

During those activities the entity then was the companion of the assistant keeper of the gate to the city, and during the experience the drawings of the entity enabled those that were of the besieged to encounter—in part, in the main; though little credit was given Garcia in the experience, yet such enabled the armies—or the individual activities of those in Achilles’ activities—to succeed in bringing destruction to Hector’s forces. And the entity saw those activities.

Trong những hoạt động ấy, thực thể khi đó là bạn đồng hành của phó giữ cổng thành, và trong trải nghiệm đó, những bản vẽ của thực thể đã tạo điều kiện để những người ở trong cuộc vây hãm có thể đối đầu—một phần, nhưng chủ yếu là vậy; dẫu rất ít công lao được dành cho Garcia trong trải nghiệm, thế nhưng điều đó đã giúp các đạo quân—hay các hoạt động cá nhân của những người trong đoàn của Achilles—thành công trong việc đem lại sự diệt vong cho lực lượng của Hector. Và thực thể đã chứng kiến những hoạt động ấy.

Hence the abilities in the writing, or to depict by word or by drawing, or by the activities in the artistic temperament, arise from the associations in that experience.

Do đó các năng lực về viết lách, hoặc mô tả bằng lời hay bằng bản vẽ, hoặc qua những hoạt động mang khí chất nghệ thuật, nảy sinh từ các liên hệ trong trải nghiệm ấy.

The entity neither gained nor lost in the soul or inner development. In the material things, a success; yet these experiences will—through its developing years—play an important part, or impress or produce urges that may find expressions in the material activity of the entity. Yet, as is significant in the latter portion of the seal, purity of purpose, of mind, of body, must be kept if there would be the mental or the spiritual urge that will bring peace and harmony in the experience in this sojourn.

Thực thể không hẳn được lợi cũng không hẳn thua thiệt trong phương diện linh hồn hay phát triển nội tại. Trong các sự việc vật chất, là một thành công; tuy nhiên những trải nghiệm này—trong những năm tháng phát triển—sẽ đóng một vai trò quan trọng, hoặc khắc ấn hoặc tạo nên các xung lực có thể tìm được biểu lộ trong hoạt động vật chất của thực thể. Tuy nhiên, như điều mang thâm nghĩa trong phần sau của ấn triện, sự thanh khiết của mục đích, của thể trí, của thân thể, phải được giữ gìn nếu muốn có xung lực trí tuệ hay tinh thần mang lại bình an và hòa hợp trong trải nghiệm ở kỳ lưu trú này.

Before that we find the entity was in that land now known as the Arabian or Persian, during those sojourns or activities of the people that became the leaders in that land.

Trước nữa chúng ta thấy thực thể ở miền đất nay được biết là Ả Rập hay Ba Tư, trong những thời kỳ lữ trú hay hoạt động của những người sau này trở thành các lãnh tụ ở miền đất đó.

We find the entity then was the elder sister to that one who rose to be leader, or Uhjltd; for with the divisions of the people, with the turmoils that arose through the raids of Uhjltd’s own people, the entity—then in the name Ujilda—made for much turmoils with those that were of the tribes-people. But with the establishing of the city in the plains and hills where the healing arts came, the entity then was among those of that leader’s people who eventually came and aided much in the activities during that sojourn.

Chúng ta thấy thực thể khi ấy là chị cả của người đã vươn lên làm lãnh tụ, hay Uhjltd; bởi vì với sự phân hóa của dân chúng, với những rối ren nảy sinh do các cuộc tập kích của chính dân Uhjltd, thực thể—khi ấy mang tên Ujilda—đã gây nên nhiều xáo trộn với những người thuộc các bộ tộc. Nhưng khi thành phố được thiết lập nơi đồng bằng và đồi núi, nơi mà y thuật xuất hiện, thực thể khi ấy thuộc về dân của vị lãnh tụ đó, người rốt cuộc đã đến và trợ lực rất nhiều trong các hoạt động ở kỳ lữ trú ấy.

The entity itself aided in the aid to those that were BLINDED by the sands, the glare, and may be said to have been among the first in that particular experience and in that particular environ to make for the protecting of the eyesight by the shades, by the glass that was imported then from the Egyptian and the Indian experience.

Chính thực thể đã trợ giúp những ai BỊ MÙ LÒA bởi cát và ánh chói, và có thể nói là thuộc về những người đầu tiên trong trải nghiệm đặc thù đó và trong môi trường ấy thực hiện việc bảo vệ thị lực bằng các tấm che, bằng loại kính khi đó được nhập từ trải nghiệm Ai Cập và Ấn Độ.

Hence in these fields of material activity may the entity find much as a means for the expression of self in aiding others, and in bringing comfort and help—even as then; yea, as a teacher, as a director in that field may much of this WORLD’S goods come into the experience of the entity. Yet, as we find, even a greater field may be seen later; for there we find those periods when color and odor played an important part in what would be termed in present day parlance the psychological effect upon the minds of those that WOULD BE healed.

Vậy nên trong những lĩnh vực hoạt động vật chất này, thực thể có thể tìm thấy nhiều phương tiện để biểu lộ bản thân trong việc giúp người, và đem lại an ủi và trợ giúp—cũng như khi ấy; vâng, như một người thầy, như một người điều phối trong lĩnh vực đó, rất nhiều của cải của THẾ GIỚI này có thể đến với trải nghiệm của thực thể. Tuy nhiên, như chúng ta thấy, còn có thể thấy một lĩnh vực lớn hơn nữa về sau; vì ở đó chúng ta thấy những thời kỳ khi màu sắc và hương thơm đóng vai trò quan trọng trong điều mà theo cách nói ngày nay được gọi là tác động tâm lý đối với thể trí của những người SẼ ĐƯỢC chữa lành.

Before that we find the entity was again in the Arabian land, when the peoples journeyed into what is now called the Egyptian land. [Ra-Ta period]

Trước đó nữa chúng ta thấy thực thể lại ở miền đất Ả Rập, khi dân chúng di chuyển vào miền nay gọi là Ai Cập. [Thời kỳ Ra-Ta]

The entity then was among the people that did not in the first journey to the Egyptian land, but with the establishing of the young king, with the banishment of the priest that was a relation of the entity, then Iu-Ptl-In made a journey and brought the first of the turmoils being settled with the princess and the peoples in Ibex, as an aid rather than a hindrance to the young king.

Thực thể khi ấy thuộc về những người không đi trong chuyến đầu tiên đến miền Ai Cập, nhưng khi vị tiểu vương được lập, khi vị tư tế là thân thích của thực thể bị lưu đày, thì Iu-Ptl-In đã thực hiện một chuyến đi và đem lại những điều đầu tiên của các rối ren được giải quyết với công chúa và dân chúng ở Ibex, như một trợ lực hơn là chướng ngại cho vị tiểu vương.

There may be particular note that those who were in that sojourn as individuals have an antipathy for the entity, and if their associations were drawn together the entity would eventually have the same character of influence upon many of those even that rebelled—or that in any way made for the troublesome periods in that experience.

Có thể đặc biệt lưu ý rằng những cá nhân ở kỳ lữ trú ấy có sự ác cảm với thực thể, và nếu các mối liên hệ của họ được kéo lại gần nhau thì thực thể rốt cuộc sẽ có cùng kiểu ảnh hưởng lên nhiều người trong số họ, ngay cả những kẻ đã nổi loạn—hoặc bằng bất cứ cách nào tạo nên những thời kỳ rắc rối trong trải nghiệm ấy.

Later, with the return of the priest, the entity made the drawings that would in the present be termed the commercial, architectural drawings, for much that had to do with the interior as well as exterior of the buildings.

Về sau, khi vị tư tế trở về, thực thể đã thực hiện những bản vẽ mà trong hiện tại sẽ được gọi là các bản vẽ thương mại, kiến trúc, cho nhiều hạng mục liên quan đến nội thất cũng như ngoại thất của các công trình.

Hence as the entity develops in body, in mind, spiritually also, if this is kept as an activity of the body in the present experience it may be made the most satisfying of the experiences—as an INTERIOR decorator, as an aide in color schemes in the various activities in home or hall, in church or in the more humble edifices in the experience. For much talent, as would be termed, that is innate may be expressed by the entity in that direction. Hence a portion of the activities of the body in its developing years should be given to such, that there may come in the experience that which may be the more helpful in the material and the mental welfare.

Do đó, khi thực thể phát triển về thân, về trí, cả về tinh thần nữa, nếu điều này được giữ như một hoạt động của thân trong trải nghiệm hiện tại thì nó có thể trở thành điều thỏa mãn nhất trong các trải nghiệm—như một người TRANG TRÍ NỘI THẤT, như một phụ tá trong các phối màu ở nhiều hoạt động khác nhau trong tư gia hay hội đường, trong nhà thờ hay những kiến trúc khiêm tốn hơn trong trải nghiệm. Vì rất nhiều tài năng, như cách gọi, vốn bẩm sinh có thể được thực thể biểu lộ theo hướng đó. Do đó một phần hoạt động của thân trong những năm phát triển nên được dành cho điều ấy, để trong trải nghiệm có thể đến điều hữu ích hơn cho phúc lợi vật chất và trí tuệ.

BETTER will the entity find it to make for self a career; not as a lone soul, rather as one with many in various associations, but not in wedded life—for such relations would bring the character of hardships that would break the purposes in the inner self.

TỐT HƠN hết, thực thể sẽ thấy nên tạo cho mình một sự nghiệp; không như một linh hồn đơn độc, mà như một người cùng với nhiều người khác trong các mối liên hệ đa dạng, nhưng không trong đời sống hôn nhân—vì những quan hệ như vậy sẽ mang đến dạng gian khó làm phá vỡ các mục đích nơi tự ngã bên trong.

As to what the entity may attain, and how, in the present:

Về điều thực thể có thể đạt được, và bằng cách nào, trong hiện tại:

Apply self first in liberty, in faith, in purity of purpose, as indicated in that which has been necessary for its activities through the earthly sojourn; bound oft by ties, bound oft by the will of others in its material activities, that the will of self must rule. Yet being made through those purposefulnesses in the ideals of an INNER urge that comes from the soul’s sojourn with the Creative Forces.

Trước hết, hãy vận dụng bản thân trong tự do, trong đức tin, trong sự trong sạch của mục đích, như đã được chỉ ra trong điều vốn cần thiết cho các hoạt động của mình trong kỳ trú thế; thường bị trói buộc bởi các dây ràng, thường bị ý chí của kẻ khác trói buộc trong các hoạt động vật chất, thì ý chí của chính mình phải làm chủ. Tuy nhiên, điều này được hình thành qua những mục đích trong các lý tưởng của một thúc lực NỘI TẠI đến từ kỳ lữ trú của linh hồn với các Lực Sáng Tạo.

Study to show thyself approved unto thy Maker, avoiding the appearances of evil, keeping the self unspotted from the world; and there will come—through the experience in this sojourn—peace, happiness, and JOY IN LIVING—as an emissary, as a light bearer for thy King—the Christ!

Hãy học hỏi để chứng tỏ mình được Đấng Tạo Hóa chấp nhận, tránh mọi dáng vẻ của điều ác, giữ mình không vướng bợn của thế gian; và sẽ đến—qua trải nghiệm trong kỳ lữ trú này—bình an, hạnh phúc, và NIỀM VUI TRONG SỐNG—như một sứ giả, như một người mang ánh sáng cho Vua của ngươi—Đức Christ!

We are through.

Chúng tôi đã xong.

A.R.E. PRESS

A.R.E. PRESS

Edgar Cayce (1877–1945) founded the non-profit Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) in 1931, to explore spirituality, holistic health, intuition, dream interpretation, psychic development, reincarnation, and ancient mysteries—all subjects that frequently came up in the more than 14,000 documented psychic readings given by Cayce.

Edgar Cayce (1877–1945) đã sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) vào năm 1931, để khảo cứu phương diện tinh thần, sức khỏe toàn diện, trực giác, giải mộng, phát triển năng lực thông linh, luân hồi, và các huyền bí cổ xưa—tất cả đều là những chủ đề thường xuyên xuất hiện trong hơn 14.000 bài đọc thông linh có tư liệu của Cayce.

Edgar Cayce’s A.R.E. provides individuals from all walks of life and a variety of religious backgrounds with tools for personal transformation and healing at all levels—body, mind, and spirit.

A.R.E. của Edgar Cayce cung cấp cho những cá nhân từ mọi tầng lớp và thuộc nhiều nền tảng tôn giáo các công cụ để chuyển hóa bản thân và chữa lành ở mọi bình diện—thể, trí, và tinh thần.

A.R.E. Press has been publishing since 1931 as well, with the mission of furthering the work of A.R.E. by publishing books, DVDs, and CDs to support the organization’s goal of helping people to change their lives for the better physically, mentally, and spiritually.

A.R.E. Press cũng đã xuất bản từ năm 1931, với sứ mạng tiếp nối công việc của A.R.E. bằng việc xuất bản sách, DVD, và CD nhằm hỗ trợ mục tiêu của tổ chức là giúp con người thay đổi đời sống của họ theo hướng tốt đẹp hơn về phương diện thể xác, trí tuệ, và tinh thần.

In 2009, A.R.E. Press launched its second imprint, 4th Dimension Press. While A.R.E. Press features topics directly related to the work of Edgar Cayce and often includes excerpts from the Cayce readings, 4th Dimension Press allows us to take our publishing efforts further with like-minded and expansive explorations into the mysteries and spirituality of our existence without direct reference to Cayce specific content.

Năm 2009, A.R.E. Press ra mắt nhãn xuất bản thứ hai, 4th Dimension Press. Trong khi A.R.E. Press giới thiệu các chủ đề liên hệ trực tiếp đến công trình của Edgar Cayce và thường bao gồm trích đoạn từ các bài đọc của Cayce, 4th Dimension Press cho phép chúng tôi tiến xa hơn trong nỗ lực xuất bản với những khảo cứu đồng điệu và rộng mở về các huyền nhiệm và phương diện tinh thần của sự hiện hữu của chúng ta mà không cần tham chiếu trực tiếp đến nội dung cụ thể của Cayce.

A.R.E. Press/4th Dimension Press

A.R.E. Press/4th Dimension Press

215 67th Street

215 67th Street

Virginia Beach, VA 23451

Virginia Beach, VA 23451

Learn more at EdgarCayce.org. Visit ARECatalog.com to browse and purchase additional titles.

Tìm hiểu thêm tại. Ghé thăm để xem và mua thêm các đầu sách khác.

ARE PRESS.COM

ARE

EDGAR CAYCE’S A.R.E.

A.R.E. CỦA EDGAR CAYCE

Who Was Edgar Cayce?

Edgar Cayce là ai?

Twentieth Century Psychic and Medical Clairvoyant

Nhà Thông linh Thế kỷ Hai mươi và Nhà Thông nhãn Y khoa

Edgar Cayce (pronounced Kay-Cee, 1877-1945) has been called the “sleeping prophet,” the “father of holistic medicine,” and the most-documented psychic of the 20th century. For more than 40 years of his adult life, Cayce gave psychic “readings” to thousands of seekers while in an unconscious state, diagnosing illnesses and revealing lives lived in the past and prophecies yet to come. But who, exactly, was Edgar Cayce?

Edgar Cayce (phát âm là “Kay-si”, 1877–1945) được gọi là “vị tiên tri trong giấc ngủ”, “cha đẻ của y học toàn diện”, và là nhà thông linh có tư liệu nhiều nhất của thế kỷ 20. Trong hơn 40 năm ở tuổi trưởng thành, Cayce đã đưa ra các “bài đọc” thông linh cho hàng nghìn người tìm đạo khi ở trong trạng thái như vô thức, chẩn đoán bệnh tật và tiết lộ những đời sống đã qua cũng như những lời tiên tri còn ở phía trước. Nhưng rốt cuộc, Edgar Cayce là ai?

Cayce was born on a farm in Hopkinsville, Kentucky, in 1877, and his psychic abilities began to appear as early as his childhood. He was able to see and talk to his late grandfather’s spirit, and often played with “imaginary friends” whom he said were spirits on the other side. He also displayed an uncanny ability to memorize the pages of a book simply by sleeping on it. These gifts labeled the young Cayce as strange, but all Cayce really wanted was to help others, especially children.

Cayce sinh ra ở một trang trại tại Hopkinsville, Kentucky, năm 1877, và các năng lực thông linh của Ông đã xuất hiện sớm ngay từ thời thơ ấu. Ông có thể nhìn thấy và trò chuyện với linh hồn người ông quá cố, và thường chơi với “bạn tưởng tượng” mà Ông nói là các linh hồn ở bên kia. Ông cũng bộc lộ khả năng kỳ lạ là ghi nhớ các trang sách chỉ bằng cách ngủ trên nó. Những khả năng ấy khiến cậu bé Cayce bị coi là khác thường, nhưng điều Cayce thực sự mong muốn chỉ là giúp đỡ người khác, nhất là trẻ em.

Later in life, Cayce would find that he had the ability to put himself into a sleep-like state by lying down on a couch, closing his eyes, and folding his hands over his stomach. In this state of relaxation and meditation, he was able to place his mind in contact with all time and space—the universal consciousness, also known as the super-conscious mind. From there, he could respond to questions as broad as, “What are the secrets of the universe?” and “What is my purpose in life?” to as specific as, “What can I do to help my arthritis?” and “How were the pyramids of Egypt built?” His responses to these questions came to be called “readings,” and their insights offer practical help and advice to individuals even today.

Về sau, Cayce khám phá rằng Ông có khả năng tự đưa mình vào trạng thái giống như ngủ bằng cách nằm trên ghế dài, nhắm mắt, và đặt hai tay lên bụng. Trong trạng thái thư giãn và tham thiền này, Ông có thể đặt tâm thức của mình tiếp xúc với toàn thể thời-không—tâm thức phổ quát, còn gọi là siêu thức. Từ đó, Ông có thể đáp lại những câu hỏi rộng như, “Bí mật của vũ trụ là gì?” và “Mục đích đời tôi là gì?” cho đến những câu cụ thể như, “Tôi có thể làm gì để giúp bệnh viêm khớp của mình?” và “Kim tự tháp Ai Cập được xây dựng như thế nào?” Những hồi đáp cho các câu hỏi ấy được gọi là “các bài đọc”, và các minh triết của chúng mang lại trợ giúp thực tiễn và lời khuyên cho con người ngay cả hôm nay.

The majority of Edgar Cayce’s readings deal with holistic health and the treatment of illness. Yet, although best known for this material, the sleeping Cayce did not seem to be limited to concerns about the physical body. In fact, in their entirety, the readings discuss an astonishing 10,000 different topics. This vast array of subject matter can be narrowed down into a smaller group of topics that, when compiled together, deal with the following five categories: (1) Health-Related Information; (2) Philosophy and Reincarnation; (3) Dreams and Dream Interpretation; (4) ESP and Psychic Phenomena; and (5) Spiritual Growth, Meditation, and Prayer.

Phần lớn các bài đọc của Edgar Cayce đề cập đến sức khỏe toàn diện và việc điều trị bệnh tật. Tuy nhiên, dù được biết đến nhiều nhất về mảng này, Cayce trong trạng thái ngủ dường như không bị giới hạn bởi những mối quan tâm về thân thể. Thật vậy, xét tổng thể, các bài đọc đề cập đến con số đáng kinh ngạc là 10.000 chủ đề khác nhau. Kho tàng chủ đề rộng lớn này có thể thu gọn lại thành một nhóm nhỏ các chủ đề mà, khi tổng hợp lại, đề cập đến năm phạm trù sau: (1) Thông tin Liên quan đến Sức khỏe; (2) Triết lý và Luân hồi; (3) Giấc mơ và Giải mộng; (4) ESP và các Hiện tượng Thông linh; và (5) Tăng trưởng Tinh thần, Tham thiền, và Cầu nguyện.

Learn more at EdgarCayce.org.

Tìm hiểu thêm tại.

What Is A.R.E.?

A.R.E. là gì?

Edgar Cayce founded the non-profit Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) in 1931, to explore spirituality, holistic health, intuition, dream interpretation, psychic development, reincarnation, and ancient mysteries—all subjects that frequently came up in the more than 14,000 documented psychic readings given by Cayce.

Edgar Cayce sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) vào năm 1931, để khảo cứu phương diện tinh thần, sức khỏe toàn diện, trực giác, giải mộng, phát triển năng lực thông linh, luân hồi, và các huyền bí cổ xưa—tất cả đều là những chủ đề thường xuyên xuất hiện trong hơn 14.000 bài đọc thông linh có tư liệu của Cayce.

The Mission of the A.R.E. is to help people transform their lives for the better, through research, education, and application of core concepts found in the Edgar Cayce readings and kindred materials that seek to manifest the love of God and all people and promote the purposefulness of life, the oneness of God, the spiritual nature of humankind, and the connection of body, mind, and spirit.

Sứ mạng của A.R.E. là giúp con người chuyển hóa đời sống theo hướng tốt đẹp hơn, thông qua nghiên cứu, giáo dục, và ứng dụng các khái niệm cốt lõi tìm thấy trong các bài đọc của Edgar Cayce và những tài liệu cùng hệ, nhằm biểu hiện tình yêu của Thượng đế và của mọi người, và cổ vũ mục đích sống, tính duy nhất của Thượng đế, bản tính tinh thần của nhân loại, và mối liên kết giữa thân, trí và tinh thần.

With an international headquarters in Virginia Beach, Va., a regional headquarters in Houston, regional representatives throughout the U.S., Edgar Cayce Centers in more than thirty countries, and individual members in more than seventy countries, the A.R.E. community is a global network of individuals.

Với trụ sở quốc tế tại Virginia Beach, Va., một trụ sở khu vực tại Houston, các đại diện khu vực khắp Hoa Kỳ, các Trung tâm Edgar Cayce tại hơn ba mươi quốc gia, và hội viên cá nhân tại hơn bảy mươi quốc gia, cộng đồng A.R.E. là một mạng lưới toàn cầu của các cá nhân.

A.R.E. conferences, international tours, camps for children and adults, regional activities, and study groups allow like-minded people to gather for educational and fellowship opportunities worldwide.

Các hội thảo của A.R.E., các tour quốc tế, trại hè cho trẻ em và người lớn, hoạt động khu vực, và các nhóm học tập cho phép những người đồng chí hướng gặp gỡ cho các cơ hội giáo dục và kết nối trên toàn thế giới.

A.R.E. offers membership benefits and services that include a quarterly body-mind-spirit member magazine, Venture Inward, a member newsletter covering the major topics of the readings, and access to the entire set of readings in an exclusive online database.

A.R.E. cung cấp các quyền lợi và dịch vụ hội viên, bao gồm tạp chí hội viên về thân-trí-tinh thần hàng quý, Venture Inward, một bản tin hội viên bao quát các chủ đề lớn của các bài đọc, và quyền truy cập toàn bộ tập hợp các bài đọc trong một cơ sở dữ liệu trực tuyến độc quyền.

Learn more at EdgarCayce.org.

Tìm hiểu thêm tại.

EDGARCAYCE.ORG