← THE CHAKRAS and the Human Energy Fields

CHAKRAS

CHAKRAS

and the

Human Energy Fields

Shafica Karagulla, M.D.

and

Dora van Gelder Kunz

A publication supported by

The Kern Foundation

Quest Books

Theosophical Publishing House

Wheaton, Illinois ♦ Chennai (Madras), India

Copyright © 1989 by Dora van Gelder Kunz

A Quest Original. First Edition 1989

Bản dịch Mai Oanh và Quỳnh Anh

minhtrietmoi.com

2017

Bổ sung 2024

MỤC LỤC

MỤC LỤC3

Foreword7

Acknowledgments9

Introduction11

1. A New View of Human Nature Một Quan Điểm Mới Về Bản Chất Con Người18

I. The Dawn of a New Consciousness—Bình Minh Của Một Tâm Thức Mới18

II. Breaking the Barrier of the Senses—Phá Vở Rào Cản Của Các Giác Quan22

III. The Three Fields of the Personal Self—Ba Trường Của Phàm ngã28

IV. The Structure and Function of the Etheric Body—Kết cấu và Chức năng của thể Dĩ Thái30

V. The Role of the Chakras—Vai trò của Luân Xa34

The Crown Chakra—Luân xa đỉnh đầu40

The Brow Chakra—Luân xa Trán42

The Throat Chakra—Luân xa Cổ họng42

The Solar Plexus Chakra—Luân xa Tùng thái dương44

The Spleen Chakra—Luân xa Lá lách45

The Sacral Chakra—Luân xa Xương cùng45

The Chakra at the Base of the Spine—Luân Xa Gốc46

Subsidiary Chakras—Các luân xa phụ47

The Chakra System—Hệ Luân Xa47

VI. The Astral Body and the Emotions—VI. Thể Cảm dục và các Xúc cảm48

The Astral Chakras—Các Luân Xa Cảm dục54

The Chakra at the Base of the Spine—Luân xa Gốc (Gốc cột sống)57

The Astral Spine and Brain—Cột sống và Não bộ Cảm dục57

VII. Higher Dimensions of Consciousness—VII. Các cấp độ cao hơn của Tâm thức58

The Effect of Visualization—Tác dụng của sự hình dung63

The Mental Chakras—Các luân xa Thể Trí64

The Causal Body—Thể Nguyên Nhân65

3. Clairvoyance as a Diagnostic Tool— Thông nhãn như một công cụ chuẩn đoán68

VIII. The Background of Clairvoyant Investigation—Cơ sở của Nghiên cứu bằng thông nhãn68

IX. The Use of Clairvoyance in Research—Việc sử dụng thông nhãn trong nghiên cứu78

The Mechanics of Clairvoyant Perception—Những cơ chế của nhận thức bằng thông nhãn80

X. Variations in the Etheric Field87

Indications of health or disease87

Dấu hiệu sức khỏe hoặc bệnh tật.87

Special Indicators—Các chỉ dẫn đặc biệt88

Variations in the Etheric Due to Paranormal Abilities—Biến đổi trong thể dĩ thái do các khả năng siêu nhiên89

Observations of a Medium During Trance—Quan sát một Medium trong Trạng Thái Thoát thần90

XI. The Chakras and the Endocrine Glands—XI. Các Luân Xa và Tuyến Nội Tiết92

The Chakra System—Hệ thống luân xa—93

The categorization of abnormalities in the chakras—Phân loại các bất thường trong các luân xa95

Diseases Related to the Crown Chakra—Các Bệnh Liên Quan đến Luân Xa Đỉnh Đầu99

The Brow Chakra—Luân xa trán103

Diseases Related to the Brow Chakra—Các bệnh liên quan đến luân xa trán104

Diseases Related to the Throat Chakra—Bệnh tật liên quan luân xa cổ họng106

Diseases Related to the Heart Chakra—Bệnh tật liên quan luân xa tim109

The Spleen Chakra—Luân xa lá lách113

Diseases Related to the Spleen Chakra—Các bệnh liên quan đến luân xa lá lách113

The Sacral Chakra—Luân xa xương cùng114

Diseases Related to the Sacral Chakra—Các bệnh liên quan đến luân xa xương cùng115

The Root Chakra—Luân xa gốc117

XII. Diseases Related to Consciousness and the Brain—Các bệnh liên quan đến ý thức và não bộ118

Dyslexia—Chứng khó đọc (Dyslexia)120

Autism—Chứng tự kỷ124

Down’s Syndrome—Hội chứng Down127

Obsessive-Compulsive Neurosis—Rối loạn ám ảnh cưỡng chế129

Manic-Depressive States—Trạng thái hưng trầm cảm132

Schizophrenia—Tâm thần phân liệt134

XIII. Effects of Drugs and Other Modifiers of the Fields136

Sound, Light and Magnetism—Âm thanh, ánh sáng và từ tính137

Geological Factors—Yếu tố địa chất139

Painkillers—Thuốc giảm đau139

Thorazine—Thorazine141

Drug Addiction—Nghiện ma túy142

XIV. Effects of Surgical Excision—Tác động của phẫu thuật cắt bỏ145

Phantom Limbs—Hiện tượng chi ma (Phantom Limbs)147

Anaesthesia and Surgery—Gây mê và phẫu thuật154

5. The Role of Consciousness Giai trò của Tâm thức158

XV. The Effects of Changes in Consciousness—Tác động của Sự Thay đổi trong Tâm Thức158

Meditation and Visualization—Tham thiền và Sự Hình dung158

Higher Sense Perception—Tri thức bậc cao162

XVI. The Dynamics of Healing—Động Lực của Chữa Trị163

“Miraculous” Cures—Trị bệnh “Thần Kỳ”165

Healers as Transmitters of Etheric Energy—Người chữa lành là Người truyền dẫn Năng lượng Dĩ thái169

Observations of Other Healers—Quan sát các nhà trị liệu khác170

The Case of Colonel Estabany—Trường hợp Colonel Estabany173

XVII. Towards the Future—Hướng Về Tương Lai174

Part One by Shafica Karagulla—Phần 1 của Shafica Karagulla174

Part Two by Dora van Gelder Kunz—Phần Hai viết bởi Dora Van Gelder Kunz179

Appendix181

Case Histories181

The Crown Chakra181

The Case of CT181

The Case of VC: Epilepsy185

The Case of CB189

The Case of NS191

The Case of JW193

The Case of EB195

The Case of MDL196

The Case of SA198

The Case of RS199

The Case of BW202

The Case of MT205

The Case of PT207

The Case of LS213

The Case of VPN222

The Case of AM234

The Case of AC236

Bibliography242

FOREWORD By

Dora van Gelder Kunz

My association with Dr. Shafica Karagulla began in New York City shortly after we first met in the 1950s, and most of the clairvoyant investigations we made together took place during the following decade, although we worked intermittently after she moved to California in the 1960s. Dr. Karagulla was primarily interested in research concerning the disease process in relation to the chakras, and therefore most of our cases had this orientation.

Sự hợp tác giữa tôi và bác sĩ Shafica Karagulla bắt đầu tại New York không lâu sau lần đầu chúng tôi gặp nhau vào những năm 1950s, và hầu hết những lần nghiên cứu bằng thông nhãn chúng tôi cùng thực hiện diễn ra trong vòng một thập niên sau đó, mặc dù công việc này có nhiều lúc gián đoạn sau khi Shafica chuyển tới California vào những năm 1960s. Bác sĩ Karagulla chủ yếu quan tâm đến việc nghiên cứu sự liên quan giữa tiến trình bệnh tật và các luân xa, và do vậy hầu hết các trường hợp nghiên cứu của chúng tôi đều theo xu hướng này.

During the more than twenty years which have passed since we did this work together, the main focus of my own interest has been therapeutic, and my efforts have been to help people with severe illnesses who are suffering pain. This change in emphasis in my work has been gradual, although it received a greater impetus from the development of a method of healing called “Therapeutic Touch,” which Dolores Krieger and I initiated, and which has been taught to thousands of nurses.

Trong suốt hơn hai mươi năm qua chúng tôi làm việc cùng nhau, mối quan tâm chính của tôi là việc trị liệu, và mọi nỗ lực của tôi đều dành cho việc giúp đỡ những người bị bệnh nặng, phải chịu nhiều đau đớn. Sự thay đổi này trong trọng tâm công việc của tôi diễn ra từ từ mặc dù nó nhận được sự thúc đẩy lớn lao từ việc phát triển một phương pháp chữa bệnh gọi là “Đặt tay chữa lành” mà Dolores Krieger và tôi là những người khởi xướng, và phương pháp này đã được dạy cho hàng ngàn y tá.

During the subsequent years, I have seen hundreds of patients suffering from a wide range of illnesses. Therefore I have learned a great deal more about the disease process than I knew at the time the investigations with Dr. Karagulla took place. In fact, we never really worked together on the therapeutic aspects of our research.

Trong những năm tiếp theo, tôi đã chứng kiến hàng trăm bệnh nhân phải chịu đựng rất nhiều loại bệnh tật. Vì vậy, bản thân tôi đã học hỏi được khá nhiều về quá trình bệnh tật, nhiều hơn những gì tôi từng hiểu biết tại thời điểm làm công tác nghiên cứu cùng Bác sĩ Karagulla. Thực ra, chúng tôi chưa bao giờ hợp tác trên khía cạnh trị liệu trong các nghiên cứu của mình.

I met Dr. Viola Petitt Neal, who was Shafica Karagulla’s teacher and closest friend, but she did not participate in the actual work that we did in New York City. Later, when they were living together in California, I came to know her much better, and to appreciate her deep devotion to spiritual principles. She was very much interested in the book project, and contributed the outline of the basic ideas in the first three chapters.

Tôi gặp Tiến sĩ Viola Petitt Neal, người vừa là người thầy và cũng là bạn thân nhất của Shafica Karagulla, nhưng bà không thực sự tham gia vào công việc mà chúng tôi làm tại New York. Sau này, khi chúng tôi cùng sống tại bang California, tôi mới biết đến bà nhiều hơn và trân trọng sự cống hiến sâu sắc của bà cho các nguyên lý tinh thần. Bà rất quan tâm đến dự án về cuốn sách này và đã đóng góp những phác thảo về ý tưởng cơ bản cho ba chương đầu.

During my visits to California, Dr. Karagulla talked to me about the possibility of organizing our research material and writing it up for publication in book form. Prior to her death, Dr. Neal participated in many of these conversations. It was always agreed among the three of us that I would have the opportunity to review the manuscript and make whatever changes I thought were required. Dr. Karagulla kept me informed of her progress, and telephoned me about it only a week before her sudden and unexpected death, which was a great shock to all of us.

Trong những chuyến tôi tới thăm California, Bác sĩ Karagulla nói với tôi về khả năng sắp xếp các tài liệu từ những gì chúng tôi đã nghiên cứu và viết ra nhằm xuất bản thành sách. Cho đến trước khi qua đời, Tiến sĩ Neal đã tham gia vào nhiều cuộc thảo luận như thế này. Cả ba luôn đồng ý rằng tôi sẽ là người xem lại bản thảo và sửa đổi bất cứ chi tiết nào cần thiết. Bác sĩ Karagulla cập nhật cho tôi tiến độ công việc của bà và gọi điện cho tôi thảo luận về nó chỉ một tuần trước khi bà qua đời một cách đột ngột và không mong đợi. Đây là một cú sốc lớn với tất cả chúng tôi.

A few weeks after her fatal accident, the materials upon which the book was to be based came into my hands, as her family agreed that they should be given to me with full rights to oversee publication. I had thought the manuscript at or near completion but was surprised to find that many of the chapters were mere notes. I decided that much more work would need to be done before it was ready for publication, and I therefore asked my friend Emily Sellon, a professional editor, to undertake the task. As a result, the original manuscript as designed by Dr. Karagulla and Dr. Neal has had to be extensively revised, for which I take responsibility. Even the title has been altered, although this was agreed upon before Dr. Karagulla s death.

Một vài tuần sau tai nạn chết người của bà, các tài liệu để viết cuốn sách được chuyển đến tay tôi, vì gia đình bà đồng ý rằng những tài liệu đó nên được trao lại cho tôi với toàn quyền sở hữu và sử dụng cho mục đích xuất bản cuốn sách. Tôi đã nghĩ là bản thảo gần như hoàn thành, nhưng ngạc nhiên khi thấy có nhiều chương mới chỉ là các ghi chú. Tôi quyết định cần làm nhiều việc hơn nữa trước khi đưa cuốn sách xuất bản, và do vậy tôi nhờ một người bạn tên là Emily Sellon, một người biên tập chuyên nghiệp thực hiện công việc này. Do vậy, bản thảo gốc của Bác sĩ Karagulla và Neal cần được chỉnh sửa rất nhiều và tôi sẽ đảm nhiệm công việc này. Ngay cả tiêu đề cuốn sách cũng đã được sửa đổi mặc dù điều này đã được nhất trí trước khi Bác sĩ Karagulla qua đời.

Under these difficult circumstances, it will be understood that this book contains a mixture of views and contributions. In order to gain coherence, these have been blended together and shaped into final form by Mrs. Sellon.

Với những hoàn cảnh khó khăn trên, cần hiểu rằng cuốn sách là một sự pha trộn các quan điểm và các đóng góp của nhiều người. Để có được sự thống nhất, các quan điểm và các đóng góp khác nhau đã được bà Sellon hoà trộn và hình thành nên phiên bản cuối cùng..

Shafica Karagulla was a dear friend and a rare individual who combined medical and scientific professionalism with a completely open mind and an eager interest in unexplored fields. During our long friendship her enthusiasm for the possibilities opened up by our investigations never flagged. This book could not have been accomplished without her sustained and thoughtful interest, and our efforts to make it readable and understandable are offered as a tribute to her.

Shafica Karagulla là một người bạn đáng mến và một cá nhân hiếm có khi kết hợp chuyên môn y học và khoa học với một tư tưởng hoàn toàn phóng khoáng và nhiệt tâm háo hức với các lĩnh vực chưa được khám phá. Trong suốt tình bạn kéo dài của chúng tôi, tâm huyết của bà dành cho các khả năng có thể được tìm thấy từ các tìm hiểu của chúng tôi chưa bao giờ giảm sút. Cuốn sách này không thể hoàn thành nếu không có mối nhiệt tâm sâu sắc và bền vững của bà và nỗ lực của chúng tôi để cuốn sách được dễ đọc, dễ hiểu là một sự tưởng nhớ đến bà.

ACKNOWLEDGMENTS—LỜI CẢM TẠ

Grateful acknowledgment is made to all those who contributed financially to the research on which this book is based: To the Eliot D. Pratt Foundation, which made the initial three-year grant without which the investigations could never have begun; to Trudy Pratt and her late husband, Eliot, for their pioneering spirit in supporting the project. To all who contributed to the Eliot D. Pratt Foundation to support research into higher- sense perception: Rebekah Harkness and the Harkness Foundation; the Lester Finkelstein Foundation, and Irene and the late Lester Finkelstein.

Chúng tôi gởi lời cảm ơn sâu sắc đến những người đã đóng góp tài chính cho việc nghiên cứu mà từ nhờ cuốn sách được viết nên: Quỹ Eliot D. Pratt đã trợ cấp ba năm đầu tiên, mà nếu không có thì các nghiên cứu trên sẽ không thể bắt đầu; Trudy Pratt và người chồng về sau của bà là Eliot, cho tinh thần tiên phong trong việc ủng hộ dự án. Xin gởi lời cám ơn tới tất cả những người đã đóng góp vào quỹ Eliot D. Pratt Foundation để hỗ trợ việc nghiên cứu tri giác siêu đẳng: Rebekah Harkkness và quỹ Harkness; Quỹ Lester Finkelstein Foundation, và Irene và Lester Finkelstein về sau.

To those who helped support the Higher Sense Perception Research Foundation: The Boston Foundation, Annabelle Markson and the late Yoland Markson; Lynn Charleson for his continuing support; Tom and Gayle den Dass; The Midway Foundation; and the John E. Fetzer Foundation.

Xin gởi lời cám ơn đến những người đã hỗ trợ Quỹ nghiên cứu tri giác siêu đẳng: Quỹ Boston, Annabelle Markson và Yoland Markson sau này; Lynn Charleson cho sự ủng hộ tiếp tục của ông; Ton và Gayle den Dass; Quỹ Midway; và quỹ John E. Fetzer.

To those who gave their time freely for research into their gifts of higher sense perception, especially Frances Farrelly, whose great good humor and common sense lightened the labor of repeated experiments.

Xin gởi lời cám ơn đến những người đã cống hiến thời gian miễn phí cho nghiên cứu về năng lực tự nhiên về tri giác cao của họ, đặc biệt là Frances Farrelly, khiếu hài hước và lương tri của ông đã thắp sáng công việc của những lần thí nghiệm lặp đi lặp lại.

To Eloise Doerfler, who has given her time freely for five years in faithfully transcribing the data and ensuring its accuracy; without her patience and support it would have been an impossible task.

Xin gởi lời cám ơn đến Eloise Doerfler, người đã cống hiến thời gian không công cho năm năm ghi lại dữ liệu và đảm bảo sự chính xác một cách đầy tin tưởng; không có sự kiên nhẫn và hỗ trợ của bà thì điều này trở thành nhiệm vụ không thể thực hiện.

To the secretaries for transcribing data, a task that extended over many years: Evelyn Petersen, Helen English, and Maxine Friend.

Xin gởi lời cám ơn đến các thư ký ghi lại dữ liệu, một nhiệm vụ kéo dài nhiều năm: Evelyn Petersen, Helen English, và Maxine Friend.

To Irene Bagge for reading the manuscript and making helpful suggestions.

Xin gởi lời cám ơn đến Irene Bagge đã đọc bản thảo và đưa ra những gợi ý hữu ích.

To the Theosophical Publishing House, for permission to use the color plates and other illustrations from The Chakras by C.W. Leadbeater.

Xin gởi lời cám ơn đến Nhà xuất bản Thông Thiên Học đã cho phép sử dụng các hình ảnh và màu sắc từ cuốn Các Luân Xa của C.W. Leadbeater.

Finally, to two close relatives of Shafica Karagulla, Basim Azzam and Fahmi Karagulla, whose generous financial support helped make possible the organization of the research, and insured that personal needs were met, so that she was freed to devote her time to organizing and writing up the case histories.

Cuối cùng, xin gởi lời cám ơn tới hai người thân của Shafica Karagulla, Basim Azzam và Fahmi Karagulla, vì những hộ trợ tài chính rộng rãi giúp việc tổ chức nghiên cứu trở nên khả thi và đảm bảo nhu cầu cá nhân được đáp ứng, nhờ đó mà bà được tự do cống hiến thời gian của mình cho việc biên soạn và viết lên lịch sử mỗi trường hợp nghiên cứu.

INTRODUCTION—GIỚI THIỆU

Shafica Karagulla

One everlasting whisper, day and night repeated so:

Something hidden. Go and find it.

Go and look behind the Ranges,

Something lost behind the Ranges,

Lost and waiting for you. Go!

Rudyard Kipling, The Explorer

Lời thì thầm kéo dài, nhắc lại ngày và đêm:

Có điều ẩn dấu. Hãy đi và tìm.

Đi và tìm phía sau những Rặng núi.

Những thứ mất dấu phía sau những Rặng núi.

Mất tích và chờ đợi bạn tới.

Rudyard Kipling, Người Khám Phá

Over fifty years ago, my teacher, friend, colleague, and associate in research, Viola Petitt Neal, wrote the above poem in my high school autograph book, and its phrases have echoed in my mind time and time again. But what was hidden that I should find?

Hơn năm mươi năm trước, người thầy, người bạn, người đồng nghiệp và cộng tác trong nghiên cứu của tôi, Viola Petitt Neal đã viết bài thơ trên trong quyển kỷ yếu thời cấp ba của tôi và những dòng này vẫn vang vọng trong thời gian hết lần này qua lần khác. Nhưng điều ẩn dấu mà tôi cần tìm là cái gì?

As a physician, I was attracted to the working of the human mind, the consciousness of man with its myriad forms of expression. As a neuropsychiatrist, I studied its abnormal expressions in the form of hallucinations, illusions, delusions, and the loss of insight into one’s behavior, which included many forms of diseases of the brain resulting in infections, atrophies, or cancer.

Là một bác sĩ điều trị, tôi bị thu hút vào sự hoạt động của tâm trí con người, về sự nhận thức của con người với vô vàn hình thái biểu lộ. Là một nhà tâm thần học về hệ thần kinh, tôi đã nghiên cứu những biểu hiện bất thường dưới các hình thức như ảo ảnh, ảo tưởng, ảo giác và việc mất ý thức về hành vi mà những điều này bao gồm nhiều hình thức bệnh tật trong não bộ gây ra viêm não, teo não hay ung thư.

The research of Dr. Wilder Penfield on the electrical stimulation of the brain of conscious epileptic patients gave me another range of understanding. All this was prelude to the study of the higher levels of perception which the human mind is capable of. The discovery of some individuals who had broken through the five-sense barrier was the next challenge that forced me to “go and look behind the ranges.”

Nghiên cứu của Bác sĩ Wilder Penfield về sự kích thích điện não ở những bệnh nhân động kinh có ý thức cho tôi một loạt hiểu biết khác. Tất cả những điều này là sự mở đầu cho nghiên cứu về những cấp độ cao hơn của sự nhận thức nằm trong khả năng tâm trí của con người. Việc tìm ra những cá nhân đã vượt qua rào cản của năm giác quan là thử thách tiếp theo khiến tôi phải “đi và tìm ở phía sau những hiện tồn.”

How could one verify such abilities for higher perception in those who claimed to possess them? The search to discover that which was “hidden” led me to Mrs. Kunz and other talented people who have helped me to understand part of the mystery that is man. The research on which this book is based stems initially from an effort to show that the information obtained through higher perception has a meaningful and verifiable basis. Later, I began to glimpse the true causes of diseases which give rise to physical and psychic dissonances and reveal the ways in which pain can be relieved and health restored.

Làm thế nào để xác minh những khả năng tri giác cao hơn ở những người nói rằng họ sở hữu những khả năng đó? Công cuộc tìm kiếm nhằm phát hiện ra những gì “ẩn dấu” đưa tôi đến với bà Kunz và những con người tài năng khác, những người đã giúp tôi hiểu phần nào những bỉ ẩn của con người. Nghiên cứu mà cuốn sách này dựa vào ban đầu bắt nguồn từ một nỗ lực chỉ ra thông tin có được nhờ khả năng tri giác cao có nền tảng có thể xác minh được và có nghĩa. Sau này, tôi bắt đầu thoáng thấy được nguyên nhân thật sự của các bệnh tật mà đã góp phần kích thích những sự bất hoà về tâm thần và vật lý và khám phá ra những cách làm tan đi đau đớn và khôi phục sức khoẻ.

From clairvoyants we learn that the personality includes three types of energy fields—the etheric or vital, the astral or emotional, and the mental—all of which surround and interpenetrate every cell of the physical body. The interplay among these three fields may be likened to what a musician calls the major chord, which is composed of three frequencies that in combination with four other notes form an octave of seven frequencies. It is said by some that every human being emits a unique tonal pattern which is created by his individual energy fields working in unison. This is sometimes referred to as the personality note. A perfect tone indicates health, whereas dissonance in the fields and their major centers indicates disease. All this is discussed in subsequent chapters.

Từ những người có thông nhãn, chúng tôi biết rằng một phàm ngã bao gồm ba loại trường năng lượng—thể dĩ thái hay sinh lực, thể cảm dục hay thể tình cảm, và thể trí—các thể này bao quanh và thấm vào từng tế bào của thể xác vật lý. Sự tương tác giữa các trường này có thể giống như cái mà nhạc sĩ gọi là hợp âm chính, được tạo nên từ ba tần số. Những notenày kết hợp với bốn note khác hình thành nên một bát độ gồm bảy tần số. Một số người tin rằng mỗi con người phát ra một khuôn mẫu âm điệu độc nhất được tạo nên bởi các trường năng lượng của mỗi cá nhân đang trong sự hoà âm. Cung điệu này đôi khi được biết đến như là nốt (cung điệu) của phàm ngã. Một cung điệu hoàn hảo chỉ sự khoẻ mạnh, trong khi những xung đột giữa các trường năng lượng và trung tâm lực chính chỉ bệnh tật. Những vấn đề này sẽ được thảo luận trong những chương tiếp theo.

This book is an effort to integrate medical science with an investigation of the subtler aspects and energies of human personality, so as to indicate their intricate and close interdependency.

Cuốn sách này là một nỗ lực nhằm kết hợp y học với việc tìm hiểu những khía cạnh vô hình và năng lượng của phàm ngã con người, nhằm chỉ ra sự phụ thuộc chặt chẽ và phức tạp giữa chúng.

Each of the three persons who contributed to the preparation of the material for this book has her own field of expertise. Dr. Neal is responsible for suggesting the discussion of the constitution of man,1 based upon theosophical and esoteric concepts; Mrs. Kunz is responsible for the clairvoyant observations; I myself am responsible for the selection and correlation of the data presented and the medical interpretations.

Mỗi cá nhân tham gia đóng góp vào việc chuẩn bị tài liều cho cuốn sách đều có lĩnh lực chuyên môn riêng của mình. Tiến sĩ Neal chịu trách nhiệm gợi ý những ý tưởng thảo luận về cấu tạo của con người, chủ yếu dựa trên các khác niệm minh triết và huyền môn; Bà Kunz chịu trách nhiệm quan sát bằng thông nhãn; Bản thân tôi chịu trách nhiệm chọn lọc và liên kết các dữ liệu được đưa ra và phân tích về mặt y học.

Dr. Viola Petitt Neal studied physics, chemistry and psychology in college, and obtained her Ph.D. degree in philosophy from London University, her focus being the secret religions of the Middle East. Subsequently she taught what is broadly termed “the Perennial Philosophy” for over thirty-five years, both privately and on college campuses in California. She collaborated with me in writing Breakthrough to Creativity though her name does not appear on the cover. In 1978 she published a book of her poems called Fragments of Experience: A Spiritual Journey, and in Through the Curtain (Neal and Karagulla, 1983) she testified to her awareness of several dimensions of reality and states of consciousness.2

Tiến sĩ Viola Petitt Neal nghiên cứu vật lý, hoá học và tâm lý học thời đại học và có bằng PhD về triết học ở đại học London, trọng tâm nghiên cứu của bà là những tôn giáo bí mật ở Trung Đông. Sau đó, bà dạy môn mà được gọi một cách chung nhất là “Triết học ngàn đời” trong suốt hơn 35 năm, tại các trường đại học trụ sở tại California hay cho các cá nhân. Bà hợp tác với tôi khi viết cuốn sách “Đột phá trong sang tạo” mặc dù tên của bà không xuất hiện trên trang bìa. Vào năm 1978 bà xuất bản cuốn sách về các bài thơ của mình có tên là “Những mảnh kinh nghiệm: một hành trình tinh thần” và trong cuốn “Xuyên qua tấm rèm” (Neal và Karagulla, 1983) bà kiểm nghiệm khả năng nhận thức một số chiều kích của hiện thực và các giai đoạn của tâm thức. 2

Dora van Gelder Kunz was born with exceptional clairvoyant abilities into a family where her mother and grandmother were similarly gifted. In her childhood, her paranormal faculties were developed during her association with the British clairvoyant, Charles W. Leadbeater, the author of such well-known studies as The Chakras and Man Visible and Invisible. Her ability to perceive and study fairies, angels and other nature spirits in detail has resulted in two works: a monograph about the angelic kingdoms entitled The Christmas of the Angels, and The Real World of Fairies, a book which gives us a charming and unorthodox picture of the nature spirits which have been part of every cultural tradition.

Dora van Gelder Kunz sinh ra với khả năng thông nhãn đặc biệt trong một gia đình có mẹ và bà ngoại cũng có khả năng bẩm sinh này. Thời thơ ấu, năng lực khác thường của bà được phát triển nhờ làm việc với nhà thông nhãn người Anh, Charles W. Leadbeater, tác giả những nghiên cứu nổi tiếng như “Luân xa” và “Con người hữu hình và vô hình”. Khả năng nhận biết và nghiên cứu các tinh linh, thiên thần và các thực thể tự nhiên khác một cách chi tiết của bà đã cho ra thành quả ở hai tác phẩm chuyên khảo về thế giới thiên thần có tiêu đề “Lễ Giáng Sinh của Thiên Thần” và “Thế giới thực của thần tiên”, cuốn sách cho chúng ta một bức tranh không theo lối mòn và dịu dàng về thế giới của các thực thể tinh thần tự nhiên. Những tinh thần này là một phần của mỗi truyền thống văn hoá.

Mrs. Kunz was the sensitive called “Diane” and “DVG” in my book, Breakthrough to Creativity. She is endowed with the gift of perceiving not only the etheric or vital field and its major centers of energy (chakras), but also the astral (emotional) and mental fields with their corresponding centers. This natural faculty has been developed to a high degree of accuracy through her patient efforts at careful and detailed observation, trained interpretation, and correlation with medical case histories. She has worked with other physicians in diagnosing difficult or ambiguous medical cases, and in recent years has specialized in the teaching and practice of a method of healing known as “Therapeutic Touch,” which she developed with her colleague, Dr. Dolores Krieger.

Bà Kunz là nhà cảm nhận được gọi là “Diane” và “DVG” trong cuốn sách của tôi, Breakthrough to Creativity. Bà sở hữu khả năng đặc biệt trong việc nhận thức không chỉ trường dĩ thái hoặc trường sinh lực và các trung tâm năng lượng chính (luân xa), mà còn cả các trường cảm dục (cảm xúc) và trí tuệ cùng các trung tâm tương ứng của chúng. Năng lực tự nhiên này đã được phát triển đến mức độ chính xác cao nhờ vào nỗ lực kiên nhẫn, quan sát tỉ mỉ và chi tiết, cùng khả năng diễn giải và đối chiếu các hồ sơ bệnh lý. Bà đã làm việc với các bác sĩ khác trong việc chẩn đoán các trường hợp y tế khó hoặc mơ hồ, và trong những năm gần đây, bà chuyên sâu vào giảng dạy và thực hành một phương pháp chữa lành được gọi là “Liệu Pháp Chạm,” mà bà đã phát triển cùng đồng nghiệp, Tiến sĩ Dolores Krieger.

From 1975 to 1987, Mrs. Kunz was President of The Theosophical Society in America and editor of its journal, The American Theosophist; since leaving that office she has devoted most of her time to her healing work. Because of her ability to perceive both the causes of illness and the efficacy of the healing process, she adds a valuable dimension to our understanding of the mechanism of health and disease.

Từ năm 1975 đến 1987, bà Kunz là Hội Trưởng hội Thông Thiên học Hoa kỳ và là chủ biên tạp chí “Người Thông Thiên Học Mỹ” của hội; kể từ khi rời vị trí này, bà đã cống hiến hầu hết thời gian của mình cho công việc trị liệu. Bởi vì khả năng nhận biết cả nguyên nhân bệnh tật và lẫn khả năng thành công của tiến trình trị liệu, bà làm tăng thêm giá trị cho sự hiểu biết của chúng ta về cơ chế vận hành của sức khoẻ và bệnh tật.

I myself am a physician, and neuropsychiatry is my specialty. After training in psychiatry at the University of Edinburgh under Sir David K. Henderson, my subsequent research required an extensive perusal of mental case histories involving various types of hallucinations, such as the hearing of voices, the seeing of visions, and the experiencing of abnormal sensations. In some cases these were definitely related to brain damage, such as general paralysis in the insane, Alzheimer’s disease, or toxic conditions as in bromine intoxication.

Bản thân tôi là một bác sĩ, chuyên môn của tôi là thần kinh-tâm thần học. Sau khi được đào tạo về tâm thần học tại đại học Edinburgh dưới thời Ngài David K. Henderson, nghiên cứu tiếp theo của tôi đòi hỏi một sự tìm hiểu mở rộng về lich sử các trường hợp tâm trí có liên quan đên các loại ảo giác, như là nghe thấy giọng nói, nhìn thấy hình ảnh và trải qua nhửng cảm giác bất thường. Trong một số trường hợp, những hiện tường này chắc chắn có liên quan đến tổn thương não bộ, như là khuyết tật chung ở người mất trí, bệnh Alzheimer hay những trạng thái độc hại giống như nhiễm độc Brom.

In the meantime, the work of Dr. Wilder Penfield of the Montreal Neurological Institute in Canada drew my attention. His book, The Cerebral Cortex of Man, described the inducing of hallucinations and other abnormal experiences in epileptic patients who were undergoing surgical operations of the brain in full waking consciousness. Attracted by his work in mapping out the different functions of the cerebral cortex, I went to Canada and was fortunate in having the opportunity of working with Dr. Penfield for more than three and a half years. Some of the research I did at that time was published in a paper in the British Medical Journal in 1955, entitled “Psychical Phenomena in Temporal Lobe Epilepsy and the Psychoses” (Karagulla and Robertson). In it, we pointed out the similarity of the hallucinatory experiences between psychical phenomena in temporal lobe epilepsy and in schizophrenia.

Trong khi đó, công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Wilder Penfield ở Viện thần kinh học Montreal tại Canada đã thu hút sự chú ý của tôi. Cuốn sách của ông, Vỏ Não của Con Người, mô tả quá trình gây ảo giác và những kinh nghiệm bất thường ở những bệnh nhân động kinh đã trải qua phẫu thuật não ở trạng thái hoàn toàn có ý thức. Bị thu hút bởi công trình nghiên cứu của ông nhằm vạch ra các chức năng khác nhau trên vỏ não, tôi đã đến Canada và may mắn có cơ hội được làm việc chung với Tiến sĩ Penfield trong hơn ba năm rưỡi. Một vài trong số những nghiên cứu tôi đã thực hiện hồi đó được đăng trong một bài báo trên tạp chí y khoa Anh Quốc vào năm 1955, có tựa đề “Hiện tượng tâm linh trong bệnh động kinh thuỳ thái dương và những bệnh nhân tâm thần” (Karagulla và Robertson). Trong đó, chúng tôi chỉ ra sự tương đồng trong những kinh nghiệm ảo giác giữa hiện tượng tâm linh trong bệnh động kinh thuỳ thái dương và bệnh tâm thần phân liệt.

Shortly thereafter, I was invited to enter the United States to continue my research in schizophrenia, and was appointed assistant professor in psychiatry at the University of New York. Still seeking a solution to the different types of hallucinations in mental patients, I was challenged to read some unorthodox books about the human mind and its potential which my neuropsychiatric training had not included.

Không lâu sau đó, tôi được mời tới Mỹ để tiếp tục nghiên cứu của mình về bệnh tâm thần phân liệt, và được chỉ định làm giáo sư dự khuyết ngành tâm thần học tại Đại học New York. Vẫn đang trong quá trình tìm kiếm một giải pháp cho các loại các nhau của ảo giác ở các bệnh nhân tâm thần, tôi được thử thách bằng việc đọc một số quyển sách không chính thống về tâm trí con người và những tiềm năng của nó, những điều mà việc đào tạo ngành tâm thần thần kinh học của tôi đã không giảng dạy.

Thus before venturing into this new field, I had done over twelve years of research into the human mind, both sane and insane, and my neuropsychiatric training was entirely of the usual academic and scientific variety. My interests, however, were less orthodox. All the material I was reading seemed to suggest a vastly more complex view of the nature of man, transcending the limitations of the physical brain and the five physical senses, and challenging conservative medical concepts.

Như thế, trước khi mạo hiểm vào lĩnh vực mới, tôi đã trải qua hơn 12 năm nghiên cứu tâm trí con người, cả người bình thường và người mất trí, và việc được đào tạo về tâm thần-thần kinh học của tôi thuần tuý là một thể loại khoa học và học thuật thông thường. Tuy nhiên, những đam mê của tôi lại ít chính thống hơn. Mọi tư liệu tôi đọc lúc bấy giờ dường như gợi ý đến một cái nhìn phức tạp hơn về bản chất con người, vượt quá những giới hạn của não bộ vật lý và năm giác quan vật lý, và thách thức những khái niệm y khoa truyền thống.

So I began to investigate for myself. Part of the research I did at that time in the field of the paranormal was published in 1967 in Breakthrough to Creativity, which presented documented evidence about the higher octaves of our sense perception. The need, as I saw it, was to discover and analyze the mechanisms governing these higher dimensions of perception. How do they arise, and how do they function? There is nothing “supernatural” in the universe; whatever phenomena appear so to us are the result of our ignorance of the laws that govern them.

Cho nên tôi bắt đầu tìm tòi khám phá cho chính bản thân mình. Một phần nghiên cứu tôi thực hiện thời đó trong lĩnh vực kỳ bí được xuất bản năm 1967 trong cuốn “Sự đột phá tới Sáng tạo”, trong đó trình bày các bằng chứng được ghi lại về những quãng cao hơn của tri giác của chúng ta. Điều cần thiết, như tôi nhận thấy, là khám phá và phân tích những cơ chế quản lý những chiều đo nhận thức cao hơn. Chúng hiện lên như thế nào và chức năng vận hành của chúng ra sao? Không có gì là “siêu nhiên” trong vũ trụ này; bất cứ hiện tượng nào xuất lộ với chúng ta đều là kết quả của sự thiếu hiểu biết của ta về các luật cai quản chúng.

The publication of this book elicited many letters from physicians, scientists and others with similar experiences, and this led me to further research with the help of gifted individuals like Mrs. Kunz. As a result, I began to understand, at least in part, the mechanism of these abilities.

Việc xuất bản cuốn sách này khơi ra nhiều lá thư đến từ các bác sĩ trị liệu, các nhà khoa học và những người có kinh nghiệm tương tự, và điều này đưa tôi đến việc nghiên cứu sâu rộng hơn với sự giúp đỡ từ những cá nhân có khả năng thiên bẩm như bà Kunz. Kết quả là tôi bắt đầu hiểu ra, ít nhất là một phần, về cơ chế hoạt động của những năng lực này.

This and other research points significantly to the fact that in addition to the electrical and magnetic fields which surround all physical events there are other types of energies and frequencies that are as yet undetectable by any instrumentation so far developed. For this reason, the gifted human being is the only “instrument” so far available for the kind of research which correlates clairvoyant perceptions with medical diagnoses. In the case of Mrs. Kunz, I demanded as much detail as possible concerning her observations.

Nghiên cứu này và những nghiên cứu khác chỉ ra một cách đầy nghĩa lý một sự thật là ngoài từ trường và điện trường bao quanh các sự kiện vật lý còn có những loại năng lượng và tần số khác mà hiện nay chưa thể tìm thấy bằng bất kì thiết bị dụng cụ nào đã được phát triển cho đến nay. Vì lý do này, những người có khả năng thiên bẩm là “công cụ” duy nhất có thể sử dụng hiện nay cho công việc nghiên cứu liên quan đến tri giác thông nhãn với những chuẩn đoán y khoa. Trong trường hợp của bà Kunz, tôi yêu cầu càng nhiều chi tiết càng tốt trong các lần quan sát của bà.

In our work together, I served as the researcher and she as the observer. Our method began by presenting her with average, healthy subjects, so that I could learn how and what she perceived. After a year, I was able to develop an outline of the various characteristics to be looked for in studying the state of health or disease; thereafter we followed these guidelines consistently in every case.

Trong công việc làm cùng nhau, tôi phục vụ như một nhà nghiên cứu và bà ấy là người quan sát. Phương pháp của chúng tôi bắt đầu bằng việc giới thiệu tới bà những người khoẻ mạnh và bình thường, để tôi có thể biết được cái bà nhìn thấy là cái gì và như thế nào. Sau một năm, tôi đã có thể phát triển một sơ đồ cho các tính chất khác nhau cần được tìm kiếm khi nghiên cứu tình trạng sức khoẻ hay bệnh tật; sau đó chúng tôi theo sát những hướng dẫn một cách thống nhất trong mọi trường hợp.

We studied first the general characteristics of the etheric or vital body, its relationship to the vortices of energy, or chakras, within the field, the effects of these on the endocrine glands, and how they related to other centers. Later we to some extent observed the emotional and the mental fields with their corresponding vortices of energy, but more research is needed in those aspects of the human complex.

Chúng tôi nghiên cứu trước tiên những đặc tính chung của thể sinh lực hay thể dĩ thái, mối quan hệ của nó với những chốt xoáy năng lượng hay luân xa, nằm trong trường năng lượng, hiệu ứng của những năng lượng này lên tuyến nội tiết, và cách chúng có liên quan đến các trung tâm lực khác. Sau này, ở mức độ nào đó, chúng tôi quan sát trường năng lượng cảm dục và thể trí với các xoáy năng lượng tương ứng, nhưng cần có thêm nghiên cứu cho những khía cạnh trên của phức hợp con người.

The outpatient clinic for endocrine diseases of one of New York’s most prestigious medical centers was the major source of our medical data. Mrs. Kunz never spoke to any of the patients. She only perceived them at a distance of a few meters while she was sitting in the back of the outpatient waiting room.

Bệnh xá điều trị ngoại trú cho các bệnh về nội tiết, một trong những trung tâm y khoa có uy tín nhất của New York là một nguồn dữ liệu y tế chính của chúng tôi. Bà Kunz chưa bao giờ nói chuyện với bất kỳ bệnh nhân nào. Bà chỉ nhìn họ từ một khoảng cách một vài mét trong khi bà đang ngồi phía sau lưng bệnh nhân ở phòng chờ.

It is worth noting that Mrs. Kunz had been accustomed to seeing physically healthy or emotionally disturbed people; here she was for the first time systematically observing the etheric field and chakras in severely ill patients, some of whom had had removal of parts of the body or the glands. We found that abnormalities observed in the major etheric chakras were an indication of a tendency to a disease process, and that the area in which this would occur could be predicted even years before the symptoms began to manifest.

Điều đáng lưu ý là bà Kunz đã quen với việc nhìn thấy những người khoẻ mạnh ở thể vật lý hay những người bị phiền toái trong thể tình cảm; ở đây là lần đầu tiên bà quan sát có hệ thống trường năng lượng dĩ thái và các luân xa trong những bệnh nhân bị bệnh năng, một vài trong số họ đã cắt bỏ vài bộ phận trong cơ thể hay các tuyến nội tiết. Chúng tôi nhận thấy rằng những bất thường quan sát được trong luân xa dĩ thái chính là một dấu hiệu chỉ ra xu hướng phát triển một căn bệnh, và khu vực mà trong đó sự bất thường xảy ra có thể được dự đoán có khi đến hàng năm trước khi những hiện tượng này bắt đầu biểu lộ.

As our studies progressed, we learned that what may appear to originate in one dimension, as, for example, at the etheric level, may actually derive from a deeper level such as the emotional or mental. Abnormalities and tumors of the thyroid gland may appear to originate at the etheric throat center, yet further observation may point to the cause as being in the emotions, just as physical diseases seem to originate at the etheric level.

Khi các nghiên cứu của chúng tôi tiến triển, chúng tôi biết thêm là có những thứ có vẻ như bắt nguồn từ một chiều đo, ví dụ như ở cấp độ dĩ thái, có thể thực sự phát sinh từ một cấp độ cao hơn như là thể cảm dục hay thể trí. Những bất thường và khối u ở tuyến giáp có vẻ như xuất phát từ luân xa dĩ thái cổ họng, nhưng một quan sát sâu hơn có thể chỉ ra rằng nguyên nhân nằm ở thể tình cảm, giống như những bệnh tật ở thể vật lý xuất phát từ thể dĩ thái.

We will offer case histories to illustrate this point, and to substantiate our theory that the human being is a complex network of interconnected processes that are fed by energies arising from three or more universal fields, all of which play a vital role in health and disease.

Chúng tôi sẽ đưa ra lịch sử từng trường hợp để minh hoạ điểm này, và để chứng thực lý thuyết của chúng tôi rằng con người là một mạng lưới phức tạp của các quá trình liên hệ phụ thuộc lẫn nhau mà được tiếp tế bằng năng lượng đến từ ba hay nhiều hơn trường năng lượng của vũ trụ, tất cả đều đóng vai trò chính yếu trong sức khoẻ và bệnh tật.

The main objects of Parts One, Two and Three of this book are to present some historical context for clairvoyant research, as well as a brief outline of the constitution of man as conceived in the esoteric tradition. Part Four presents research into those aspects of the human personality wherein clairvoyant observation perceives health as a state of harmony and disease as a state of dissonance, correlated with medical evidence regarding the physical state of the subjects, and Part Five considers the importance of consciousness as a factor in both health and disease, as well as in personal change and growth, with a final note on where such investigations as these may take us in the future.

Mục đích chính của Phần Một, Hai, Ba của cuốn sách là giới thiệu bối cảnh lịch sử của nghiên cứu bằng thông nhãn, cũng như một phác thảo ngắn gọn về cấu tạo con người trong truyền thống huyền linh học. Phần Bốn trình bày nghiên cứu các khía cạnh của con người phàm ngã, nơi mà quan sát thông nhãn nhận định khoẻ mạnh là tình trạng hài hoà và bệnh tật là tình trạng xung đột, liên hệ với các bằng chứng y khoa về thể trạng vật lý của chủ thể nghiên cứu, và Phần Năm xem xét tầm quan trọng của tâm thức như một yếu tố cho sức khoẻ và bệnh tật, cũng như trong sự phát triển và thay đổi của mỗi cá nhân, với một bản ghi chú cuối cùng về những lãnh vực nào mà những nghiên cứu tương tự có thể diễn ra trong tương lai.

1 When Dr. Karagulla wrote up her research many years ago, she used the term “man” to mean mankind, which of course includes women. The term and its pronouns are conveniences that we hope do not offend our readers.

2 Because of the untimely death of Dr. Neal in 1981, before the completion of this manuscript, the sections based on her material have been revised by Emily B. Sellon in order to present the esoteric view of the constitution of man more completely, since this forms the indispensable ground upon which the work is based.

1. A New View of Human NatureMột Quan Điểm Mới Về Bản Chất Con Người

I. The Dawn of a New Consciousness—Bình Minh Của Một Tâm Thức Mới

Today the winds of change are gusting through our world, blowing away many old prejudices, unsettling the stability of institutions and the endurance of “truths” long taken for granted. There is every sign that we are at the dawn of a new era of human discovery and accomplishment. Many people are dismayed at the rate of change, fearful that we will be unable to control the unprecedented discoveries and techniques which are opening up new areas of knowledge about nature; others welcome the challenge. But all recognize that our world-picture will change dramatically in the coming decades.

Ngày nay, những luồng gió mới đổi thay đang lướt qua thế giới của chúng ta, thổi bay đi những định kiến cũ, gây ra những xáo trộn cho sự ổn định của các định chế và sự bền bỉ của những "chân lý" lâu nay vẫn được coi là điều hiển nhiên. Có dấu hiệu rõ ràng cho thấy chúng ta đang trải qua một thời kỳ với những khám phá và thành tựu mới của loài người. Nhiều người đang kinh ngạc với tốc độ thay đổi, sợ rằng chúng ta sẽ không thể kiểm soát được những kỹ thuật và khám phá chưa từng có đang mở ra tầm hiểu biết mới mẻ về thế giới tự nhiên; một số khác sẵn sàng chào đón những thách thức. Nhưng tất cả đều nhận ra rằng hình ảnh thế giới của chúng ta sẽ thay đổi đáng kể trong những thập kỷ tới.

We are breaking through the frontiers of space above and beyond our planet, and are probing the minute inner spaces of physical matter. Both of these achievements move us multidimensionally into new levels of space-time with energies hitherto unrecognized. It has become a commonplace if terrifying fact of twentieth-century life that the old scientific picture of a solid material world has vanished in favor of a universe that is charged with stupendous energies. In the years since the first splitting of the atom, we have discovered that the organization and behavior of the atomic realm are stable and enduring, thus giving the world an appearance of solid form, but that the energies within this realm are moving at incredible rates of speed. This new understanding of the universe as a stable pattern within which tremendous charges of energy move in and out demands a change in our worldview—a wholly different concept of reality from that which grew out of nineteenth-century materialist science.

Chúng ta đang vượt qua các giới hạn của không gian bên ngoài và phía trên hành tinh của chúng ta, và đang khảo sát những khoảng không gian vi tế bên trong vật chất hồng trần. Trên nhiều góc độ, cả hai thành tựu này đã đưa chúng ta lên tới những tầm mức mới về không-thời gian với những dòng năng lượng cho đến nay chưa từng được biết. Sẽ là đáng ghi nhận nếu thực tế khủng khiếp về cuộc sống thế kỷ hai mươi trong đó hình ảnh khoa học truyền thống về một thế giới vật chất đậm đặc bị biến mất, thay vào đó là một vũ trụ vận hành bởi những nguồn năng lượng diệu kỳ. Trong những năm đầu tiên kể từ thành tựu phân tách nguyên tử được ghi nhận, chúng ta đã khám phá ra rằng tổ chức và hoạt động của thế giới nguyên tử là ổn định và bền bỉ, do đó tạo cho vũ trụ một dạng thức cố định, nhưng năng lượng trong thế giới này đang chuyển động với tốc độ khó tin. Sự hiểu biết mới này về vũ trụ như là một mô hình ổn định, trong đó các dòng năng lượng khổng lồ di chuyển vào và ra đòi hỏi một sự thay đổi trong cách nhìn nhận thế giới của chúng ta – một khái niệm hoàn toàn khác về thực tính so với những hiểu biết được phát triển từ khoa học duy vật thế kỷ mười chín.

Hitherto, we humans have pursued our games of war and peace in the confident belief that we could control change and enhance the quality of life merely by manipulating our environment: applied technology would create a perfect society. But we have found to our sorrow that it is the seemingly uncontrollable human factors which dominate the world scene. We are also beginning to realize that it is the subtler aspects of life—unpredictable, hard to identify, impossible to measure—that govern human behavior. And going beyond the purely human sphere to that all-encompassing nature of which we are a part, we now understand that life is a very complex relationship between the individual and its environment, and that this environment is not limited, but includes the Earth and indeed the whole universe.

Cho đến nay, con người chúng ta đã theo đuổi các trò chơi chiến tranh và hòa bình với niềm tin sâu sắc rằng chúng ta có thể kiểm soát sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống chỉ bằng cách điều khiển môi trường sống: công nghệ ứng dụng sẽ tạo ra một xã hội hoàn hảo. Nhưng chúng ta đã nhận ra một điều đáng buồn rằng dường như các yếu tố con người không thể kiểm soát được mới thực sự thống trị thế giới. Chúng ta cũng bắt đầu nhận ra rằng những khía cạnh tinh vi hơn của cuộc sống—không thể đoán trước, khó xác định, không thể đo lường—điều khiển hành vi của con người. Và giờ đây, vượt khỏi phạm vi thuần túy loài người tới toàn bộ giới tự nhiên mà chúng ta là một phần, chúng ta hiểu rằng cuộc sống là một mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa cá nhân và môi trường, và môi trường ở đây không chỉ giới hạn ở Trái Đất mà là toàn thể vũ trụ.

This growing perception of the interrelatedness of all living things has many implications. For our purposes, however, we focus on the fact that there is a continuous energy exchange between the individual and the environment which every living system (whether human, animal, vegetable, or even chemical) regulates in terms of its own self-organization. This energy exchange is so constant and so indispensable for all living organisms that it can be regarded as a universal field effect. We discuss this at some length in the section on The Fields and the Chakras. But here we note particularly that self-regulation throughout nature is achieved from within, not imposed from without, and that this implies a degree of conscious control, even if consciousness in this context is very different from what we experience at the human level. Erich Jantsch wrote in The Self-Organizing Universe, “If consciousness is defined as the degree of autonomy a system gains in the dynamic relations with its environment, even the simplest... systems such as chemical dissipative structures have a primitive form of consciousness” (p. 40). The all- pervading role of consciousness at every level of organization is a postulate important in the work reported in this book.

Nhận thức ngày càng rõ hơn về mối tương quan của tất cả thực thể sống mang nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, với mục đích của mình, chúng ta chỉ tập trung vào một thực tế rằng việc trao đổi năng lượng liên tục giữa cá nhân và môi trường mà mọi hệ sinh thái (dù là của con người, động vật, thực vật, hay ngay cả hóa học) đều vận hành theo cách tự tổ chức. Sự trao đổi năng lượng này liên tục và không thể thiếu được đối với tất cả các sinh vật sống do đó có thể được coi là một hiệu ứng trường vũ trụ. Chúng ta sẽ bàn tới vấn đề này kỹ hơn trong phần Các Trường và các Luân Xa. Nhưng ở đây chúng ta lưu ý rằng sự tự điều chỉnh trong tự nhiên đã đạt được từ bên trong, không phải do yếu tố bên ngoài áp đặt, và điều đó hàm ý một mức độ kiểm soát có ý thức, ngay cả khi ý thức trong bối cảnh này rất khác với những gì chúng ta trải nghiệm ở cấp độ con người. Nhà vật lý học Erich Jantsch đã viết trong cuốn Vũ trụ Tự tổ chức, "Nếu ý thức được định nghĩa là mức độ tự chủ mà một hệ thống, ngay cả những hệ thống đơn giản nhất, đạt được trong các mối quan hệ năng động với môi trường của nó... thì những hệ thống như các cấu trúc phân bổ hóa học cũng mang một hình thức ban đầu của ý thức" (Trang 40). Vai trò của ý thức tồn tại khắp mọi nơi ở mọi cấp độ tổ chức là một định đề quan trọng của nghiên cứu được ghi lại trong cuốn sách này.

The implications of this emerging paradigm are yet to be measured. What life is, and what it means to be a whole, functioning, healthy living organism, is now perceived as a multidimensional process, involving a delicate and dynamic balance of many energy systems and levels of integration. To this list we add: many levels of consciousness, even within the physical organism itself, for each of these systems “knows” its own function. These subtler levels of existence, moreover, are universal (at least so far as this earth is concerned), for the energies involved are as much a part of existence as the forces of gravity or electromagnetism. No living particle can escape them. Thus we are already moving beyond a purely mechanical interpretation of life.

Những hàm ý của mô hình mới này chưa được đo lường. Sự sống là gì và trở thành một sinh vật sống hoàn thiện, khỏe mạnh, có chức năng mang ý nghĩa gì, giờ đây được coi là một quá trình đa chiều, liên quan đến sự cân bằng tinh vi và năng động của nhiều hệ năng lượng và nhiều tầm mức tích hợp. Trong danh sách này, chúng ta bổ sung thêm: nhiều cấp độ tâm thức, ngay cả trong chính cơ thể vật lý, mà mỗi hệ thống "biết" chức năng của chính nó. Hơn nữa, những mức độ tồn tại tinh tế hơn này là phổ quát (ít nhất là cho đến nay xét tới trái đất), vì những năng lượng liên quan cũng là một phần của hiện hữu giống như lực hấp dẫn hoặc điện từ. Không có hạt sống nào có thể thoát khỏi quy luật này. Vì vậy, chúng ta đã vượt ra ngoài cách giải thích hoàn toàn mang tính cơ học về sự sống.

The notion of fields is introduced to every school child who is exposed to the experiment of proving that when electricity flows through a wire it establishes a magnetic field. Other physical field phenomena can also be easily demonstrated, although detection of the nuclear fields requires more sophisticated equipment. But when we posit a universal life or vital field (as we do in this book), this is much more difficult to demonstrate in a tangible way, for there are as yet no scientific instruments capable of detecting the presence of such a field. Yet “life,” if as yet undefined, is real, and the living (as open systems) have specific characteristics not shared by inorganic matter. The most important of these is the ability to replenish energy (what we call vitality) without an outside agency, which no machine can do.

Khái niệm về từ trường được giới thiệu cho mọi học sinh trong trường học thông qua những thực nghiệm chứng minh rằng khi dòng điện đi qua một dây dẫn nó tạo ra một từ trường. Các hiện tượng vật lý khác cũng dễ dàng được chứng minh, mặc dù việc khám phá ra trường hạt nhân đòi hỏi nhiều thiết bị phức tạp hơn. Nhưng khi chúng ta thừa nhận sự sống vũ trụ hay một trường thiết yếu (như chúng ta đang thực hiện qua cuốn sách này), điều này khó có thể chứng minh một cách hữu hình, vì chưa có phương tiện khoa học nào có thể chứng minh sự hiện diện của một trường như vậy. Tuy nhiên "sự sống", dù chưa được xác định, là có thật, và thực thể sống (như những hệ thống mở) có những đặc điểm cụ thể mà các hợp chất vô cơ không có. Điều quan trọng nhất ở đây là khả năng tái tạo năng lượng (cái mà chúng ta gọi là sinh lực) mà không cần tác động từ bên ngoài, một điều không có máy móc nào có thể thực hiện.

The concept that the earth is embedded in a series of universal fields is here broadened to include not only the life energy (whose effects upon such physical processes as the immune system have not as yet been possible to measure), but also mind and emotion, which we accept as universal concomitants of life. All living creatures exhibit choice (likes and dislikes) as well as volition; life is a learning process, and evolution implies a growth in assimilated knowledge.

Khái niệm trái đất được nhúng trong một loạt trường vũ trụ được mở rộng ở đây, bao gồm không chỉ năng lượng sống (mà những tác động của chúng đối với các quá trình vật lý như hệ thống miễn dịch vẫn chưa thể được đo lường,) mà còn có thể là tâm trí và cảm xúc, và chúng ta chấp nhận chúng như những yếu tố đồng hành trong cuộc sống. Tất cả các sinh vật sống thể hiện sự lựa chọn (thích và không thích) cũng như ý nguyện; Cuộc sống là một quá trình học tập, và tiến hóa ngụ ý một sự tăng trưởng trong kiến thức được tiếp thu.

This process is enormously accelerated in human beings. But in us the assimilation of knowledge becomes more critical, for it involves the uses to which that knowledge is put. Self-understanding and an appreciation of the higher possibilities of the human spirit have become imperative for our very survival.

Quá trình này tăng lên rất nhanh ở con người. Nhưng trong chúng ta việc tiếp nhận tri thức trở nên quan trọng hơn, vì nó liên quan đến việc sử dụng tri thức đó. Sự tự hiểu biết và giá trị năng lực tinh thần con người đã trở nên thiết yếu cho sự sống còn của chúng ta.

In the new view of human life which is just emerging, man’s inner resources are seen to embody not only his physical systems but also a process for replenishing vitality, and an almost untapped resource of higher energies which can harmonize and integrate the mind and emotions with the physical body, thus enhancing all of life.

Trong quan điểm mới về sự sống của loài người, nguồn lực nội tại của con người được thể hiện không chỉ trong các hệ thống vật lý của cơ thể mà còn là một quá trình tái tạo sinh khí và một nguồn năng lượng cao hơn hầu như chưa được khai thác tạo nên sự hài hòa và tích hợp tâm trí và cảm xúc với cơ thể vật lý, nhờ đó tăng cường sự sống.

What are some of the implications?

Một số gợi ý là gì?

As human beings become more and more aware that the body is a vehicle which the self uses for its own purposes (whether good or bad, constructive or destructive), this developing self-awareness produces tides of restlessness, such as those which are sweeping over peoples and nations today. Freedom for self-expression is the criterion of modern life. Although some of the results of this phenomenon are negative, even destructive, it signals that the awakening self in man is seeking to explore more complex aspects of his own nature, as well as wider ranges of experience.

Khi con người càng ngày càng nhận thức được cơ thể là một công cụ mà bản thể sử dụng cho các mục đích của nó (dù là tốt hay xấu, xây dựng hay phá hủy), sự phát triển tự nhận thức này sẽ tạo ra những làn sóng không ngừng nghỉ, như những làn sóng đang quét qua loài người và các quốc gia ngày nay. Tự do biểu hiện là tiêu chí của cuộc sống hiện đại. Mặc dù một số kết quả của hiện tượng này mang tính tiêu cực, thậm chí phá hoại, nó báo hiệu rằng sự thức tỉnh đang khiến con người đi sâu tìm kiếm và khám phá những phạm vi kinh nghiệm rộng lớn hơn cũng như các khía cạnh phức tạp hơn trong bản chất của chính mình.

Certain aspects of this new development—such as the ethics of recent medical and biochemical discoveries— have become controversial; others, especially those which deal with the higher energy fields, are not generally accepted. All of these hold out great promise for increased human understanding, but they also hold some dangers. The whole area is a new world of exploration without many signposts for guidance or criteria of credibility. Therefore, knowledge is essential, lest we be led astray into irrational beliefs, or accept dubious conclusions on insufficient evidence.

Một số khía cạnh của sự phát triển mới này—chẳng hạn như đạo đức trong lĩnh vực nghiên cứu y học và sinh hóa gần đây—đã trở thành những vấn đề gây tranh cãi; Những người khác, đặc biệt là những người khám phá các lĩnh vực năng lượng cao hơn, thường không được chấp nhận. Tất cả những điều này đầy hứa hẹn về tầm hiểu biết đang rộng mở của con người, nhưng chúng cũng tiềm ẩn một số nguy cơ. Toàn bộ các lĩnh vực khám phá mới về vũ trụ không hề có nhiều chỉ dẫn rõ ràng và các tiêu chí đáng tin. Do đó, tri thức là điều cần thiết, để chúng ta không bị lạc lối vào những niềm tin phi lý, hoặc chấp nhận các kết luận không rõ ràng trên cơ sở các bằng chứng không đầy đủ.

What is needed, from our point of view, is a careful study of the postulate that man is an intelligent, conscious self, functioning simultaneously on several levels of complexity—physical, vital, emotional, and mental—and interacting constantly with the universal energies of nature itself. Beyond these, there is the much deeper level of true selfhood: the soul, with all its characteristics of intentionality, integration, creativity, compassion, insight and, ultimately, spiritual awareness.

Theo quan điểm của chúng tôi, cần có một nghiên cứu cẩn thận về định đề rằng con người là một thực thể thông minh, có ý thức, hoạt động đồng thời trên nhiều cấp độ phức tạp—thể chất, sinh lực, cảm xúc và trí tuệ—và tương tác liên tục với các nguồn năng lượng vũ trụ của tự nhiên. Trên tất cả, có một tầm mức bản thể thực tính sâu sắc hơn, đó là linh hồn, với tất cả các phẩm tính của nó về ý định, tích hợp, sáng tạo, từ bi, cái nhìn sâu sắc và cao nhất là nhận thức tinh thần.

This doctrine is far from new, for it has been part of the esoteric tradition, both East and West, for numberless generations. What is new is the effort to map onto this esoteric view of man the enormous gains in contemporary knowledge, in order to develop a true science of the self. If successful, this effort can give us the perspective, the tools and the impetus to make a quantum jump in our understanding of human nature and the range of human possibility.

Học thuyết này không hề mới mẻ, vì nó là một phần của truyền thống nội môn cho vô số thế hệ, cả phương Đông và phương Tây. Cái mới là nỗ lực để ghép quan điểm bí truyền này với khối lượng khổng lồ những kiến thức đương đại, để phát triển một trường phái khoa học thực sự về bản thể. Nếu thành công, nỗ lực này có thể cung cấp cho chúng ta ý niệm, công cụ và động lực để thực hiện bước nhảy vọt trong sự hiểu biết của chúng ta về bản chất con người và phạm vi năng lực của con người.

II. Breaking the Barrier of the Senses—Phá Vở Rào Cản Của Các Giác Quan

Throughout the long evolutionary journey of life on this planet, living forms have developed within the narrow constraints set by nature. Like the caterpillar wrapped in its cocoon, man’s experience has been limited to the range of his five senses. The conscious perceiver and interpreter of his physical environment, he has been largely unaware of the presence of other dimensions of reality which lay all about him. This is particularly true of modern man.

Trong suốt cuộc hành trình tiến hóa lâu dài của sự sống trên hành tinh này, các dạng thức sống đã phát triển trong những giới hạn nhỏ bé mà tự nhiên đã định ra. Giống như con sâu bướm quấn trong kén của nó, kinh nghiệm của con người bị bó hẹp trong phạm vi của năm giác quan. Con người nhận thức và diễn giải các vấn đề chỉ trong phạm vi môi trường vật lý mà người ta hiểu biết, hầu như không ý thức về sự hiện diện của các chiều đo khác của thực tại quanh mình. Điều này đặc biệt đúng với con người hiện đại.

But today we recognize that the sensed world is far from being the only “rear’ domain of experience, and that in fact our senses merely deliver impressions to us that the mind/brain interprets according to its own inner vision. Moreover, the narrow boundaries of the sensed world are crumbling, as our knowledge expands to include quantum reality as well as the information bombarding us from outer space. The possibility of extending our understanding into realms long hidden from us by the limitations of the senses is opening an ever vaster world to us—a world which, far from being remote, is now seen to lie all around us, and even to be part of our own being.

Nhưng giờ đây chúng ta nhận ra rằng thế giới được nhận biết không hề chỉ là những kinh nghiệm "bề nổi", và thực ra các giác quan của chúng ta chỉ mang lại ấn tượng cho chúng ta về những gì trí tuệ /não bộ diễn giải theo cái nhìn nội tại của chính nó. Hơn thế nữa, ranh giới hạn hẹp của thế giới được nhận thức đang sụp đổ, vì kiến thức của chúng ta ngày càng mở rộng để bao gồm thế giới lượng tử cũng như thông tin tác động tới chúng ta từ không gian bên ngoài. Khả năng mở rộng sự hiểu biết đối với các lĩnh vực chúng ta chưa từng biết tới do sự hạn chế của các giác quan đang mở ra một thế giới bao la—một thế giới không hề cách xa, giờ đây được nhìn thấy ở ngay quanh chúng ta, và thậm chí là một phần của chính chúng ta.

As we seek to explore the world of finer perceptions, a number of questions arise. What are the mechanisms for perceiving the hidden world which lies beyond the reach of our senses? Can we develop the capacity and use it creatively and constructively?

Khi chúng ta tìm cách khám phá thế giới nhận thức tế vi hơn, có một số câu hỏi nảy sinh. Bộ máy nhận thức thế giới ẩn giấu nằm ngoài tầm với của giác quan là gì? Chúng ta có thể phát triển năng lực và sử dụng nó một cách sáng tạo và tích cực hay không?

At this stage of inquiry we are very much in the position of the blind men in the parable, each of whom tried to describe an elephant in terms of that portion of the animal he was able to grasp. Similarly, in a village of a hundred inhabitants, if ninety-eight were color-blind we could expect them to be very skeptical of the descriptions of the remaining two people who perceived the full spectrum of prismatic colors. In fact, they probably would be sure that these two were visionaries, or story-telling, or just hallucinating. However, if over a period of time 20 percent of the inhabitants began to see the whole spectrum, the rest might begin to concede the possibility that it might exist, even though beyond their own perception. This story is somewhat analogous to the present state of affairs vis-a-vis extrasensory perception.

Ở giai đoạn này của quá trình nghiên cứu, chúng ta đang như những người mù trong câu chuyện ngụ ngôn, mỗi người cố gắng tả con voi theo nhận thức mà người đó có được chỉ về một phần cơ thể con voi. Tương tự như vậy, ở một làng trăm người, nếu chín mươi tám người bị mù màu, chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được cư dân ở đây rất hoài nghi về những mô tả của hai người bình thường, những người đã nhận biết đầy đủ các sắc màu phong phú. Trên thực tế, họ có thể chắc chắn rằng hai người này là những người tưởng tượng hão huyền, hoặc chỉ dựng chuyện để kể, hoặc bị ảo giác. Tuy nhiên, nếu sau một thời gian 20 phần trăm cư dân bắt đầu nhìn thấy toàn bộ các sắc màu, những người còn lại có thể bắt đầu thừa nhận khả năng việc đa sắc màu có thể tồn tại, mặc dù vượt quá nhận thức của chính họ. Câu chuyện này hoàn toàn tương tự như tình trạng hiện tại về việc nhìn nhận vấn đề ngoại cảm.

There are many signs that the next great adventure for humanity will take place in the realm of consciousness, and that a whole range of yet unexplored possibilities awaits us. These raise many unanswered questions. What are the boundaries of the self? Where do self and environment begin and end? Can we develop reliable mechanisms for discovering these subtle interrelationships?

Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy cuộc mạo hiểm to lớn tiếp theo cho nhân loại sẽ diễn ra trong lĩnh vực tâm thức, và một loạt các vấn đề chưa được khám phá đang chờ đón chúng ta. Những điều này đặt ra nhiều câu hỏi chưa hề có lời giải đáp. Ranh giới của bản ngã là gì? Bản ngã và môi trường bắt đầu và kết thúc ở đâu? Chúng ta có thể phát triển các cơ chế đáng tin cậy để khám phá những mối tương quan tinh vi này hay không?

Just as the five physical senses give us access to a certain range of physical reality, so the higher senses allow us to perceive elements of the supersensory world. Higher sense perception includes clairvoyance, which means “clear seeing,” and usually refers to the ability to perceive the vital and/or the emotional field. Because such perceptions have seemed to be both exotic and idiosyncratic (since they are experienced by the few), today’s scientists and researchers have never tried in any systematic way to explore and understand the mechanisms which permit such phenomena to exist. In a culture committed to the scientific method, this neglect would appear to stem from a fundamental prejudice or misconception.

Cũng giống như năm giác quan vật lý cho phép chúng ta tiếp cận một phạm vi nhất định của thực tại vật chất, các giác quan cao hơn cho phép chúng ta nhận thức được các yếu tố của thế giới siêu linh. Nhận thức giác quan cao hơn bao gồm thông nhãn, có nghĩa là "nhìn thấy rõ ràng", và thường mang ý nghĩa khả năng nhận thức trường sinh lực và/hoặc cảm xúc. Những nhận thức này dường như vừa rất mới vừa lạ thường (vì ít ai được trải nghiệm), do vậy các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu ngày nay chưa bao giờ nỗ lực tìm cách khám phá và hiểu rõ cơ chế tồn tại của những hiện tượng đó. Trong một nền văn hoá gắn liền với phương pháp khoa học, việc thiếu quan tâm tới vấn đề này dường như xuất phát từ định kiến sâu xa hay những quan niệm sai lầm.

Scientists have held that it lies outside the province of their discipline to investigate claims that it is possible to perceive states of matter subtler than the physical. For this reason, the painstaking work of J.B. Rhine in the field of telepathy and clairvoyance had little impact upon the scientific community. But physicists concerned with quantum physical reality are investigating probabilities and indeterminacies which are far removed from the so-called facts of our gross physical world, and can only be “observed” through their effects. Is it not also likely that if we were to extend our explorations into the subtler aspects of that world, we might find these dimensions just as lawful, just as amenable to study and understanding as the complex and ambiguous world of quantum reality?

Các nhà khoa học giữ quan điểm cho rằng việc có thể nhận thức các trạng thái của vật chất tinh vi hơn vật chất cõi trần nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của họ. Vì lý do này, các công trình nghiên cứu công phu của nhà tâm lý J.B. Rhine trong lĩnh vực viễn cảm và thông nhãn ít tạo ra ảnh hưởng trong cộng đồng khoa học. Nhưng các nhà vật lý lượng tử đang nghiên cứu xác suất và những yếu tố không xác định được, những thứ khác xa với cái gọi là thực tế của thế giới vật lý trọng trược của chúng ta và chỉ có thể được quan sát qua các hiệu ứng của chúng. Nếu mở rộng phạm vi nghiên cứu vào các khía cạnh tinh vi hơn của thế giới, liệu chúng ta có thể thấy các chiều đo này cũng vô cùng hợp lý, cũng đáng để nghiên cứu và cũng có thể hiểu được giống như thế giới phức tạp và mơ hồ của thế giới lượng tử hay không?

Nevertheless, some research is going forward in this area, using man himself as the sensor, such as the practice of healing methods like Therapeutic Touch. Sensitives who can observe the interactions of vitality, emotion and thought processes remove these interactions from the realm of the purely subjective. Their observations, however, differ in degree, in clarity and in comprehension. Some of them perceive only the etheric or life field; others perceive both the field and the etheric centers (chakras) which are a key element in the basic pattern that characterizes man, both as an individual personality and as a member of the human species. Some clairvoyants see the astral or emotional field, rather than the etheric. Such psychics do not usually perceive the chakras within the emotional field unless they have been trained to do so, or have great natural gifts. The mental field and its centers are seen only by those with a highly developed type of specialized clairvoyance. Thus far, breakthroughs into these levels of reality have met with a great deal of confusion and misunderstanding. The result has been a flood of “psychic” literature of very uneven quality and credibility, all claiming to furnish accurate information about the supersensory dimensions of human experience. Unfortunately many people, bored and dissatisfied with the present-day scene and its lack of values, accept these accounts uncritically. Such enthusiasts often plunge into personal experimentation without regard for the pitfalls that could be encountered in entering any new area of experience without previous knowledge or preparation. Like the ability to walk or fly, such capacities must be developed. This takes time, patience and much more effort than those who are eager for new sensations wish to expend. Thus interest in the so-called psychic world often becomes more of an escape from the constraints of every-day life than a serious search for new knowledge.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu đang tiến triển trong lĩnh vực này, sử dụng chính con người như đối tượng cảm biết, ví dụ phương pháp thực hành chữa bệnh Therapeutic Touch – chữa bệnh bằng trường năng lượng. Những người nhạy cảm có thể quan sát sự tương tác của thể sinh lực, cảm xúc và thể trí, cho rằng những tương tác này hoàn toàn không thuộc phạm vi tác động chủ quan thuần túy. Tuy nhiên, các quan sát của những người này không giống nhau về góc nhìn, phạm vi và mức độ rõ ràng. Một số người trong số đó chỉ thấy được thể dĩ thái, hay thể sinh lực; Một số khác thấy cả trường năng lượng cũng như trung tâm sinh lực (luân xa) là yếu tố then chốt trong bản thể tạo nên sự khác biệt của mỗi con người, với tư cách là một phàm ngã riêng biệt, hay một cấu phần của cả loài người. Một số người có thông nhãn nhìn thấy thể vía hay thể cảm dục, mà không thấy thể dĩ thái. Những nhà tâm linh như vậy thường không thấy được các luân xa trong trường cảm xúc trừ khi họ đã được huấn luyện để thực hiện điều này, hoặc có năng lực đặc biệt. Thể trí và các trung tâm lực của thể này chỉ được nhìn thấy bởi những người có năng lực thông nhãn đặc biệt. Cho đến nay, các bước đột phá ở các mức độ thực tính này đã gây ra không ít nghi ngại và hiểu nhầm. Kết quả là thế giới ngập trong vô số các tài liệu "tâm linh" có chất lượng và độ xác đáng rất khác nhau, tất cả đều tuyên bố cung cấp thông tin chính xác về mức độ siêu cảm của kinh nghiệm con người. Thật không may, nhiều người chán nản và thất vọng với thế giới ngày nay và sự thiếu vắng những giá trị đích thực, đã chấp nhận các vấn đề này không một chút hoài nghi. Những con người nhiệt thành đó thường lao vào những trải nghiệm cá nhân mà không quan tâm đến những rủi ro có thể gặp phải khi bước vào lĩnh vực mới chưa từng kinh qua trong khi rất thiếu hiểu biết và những chuẩn bị cần thiết trước. Giống như một đứa trẻ tập đi, hay một loài vật tập bay, để thành thạo phải được tập luyện và phát triển dần dần. Điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian, kiên nhẫn và vô vàn nỗ lực, hơn rất nhiều những gì mà những ai đang háo hức trải nghiệm một cảm nhận mới gắng sức bỏ ra. Vì vậy, sự quan tâm đến cái gọi là thế giới tâm linh thường trở thành một nỗ lực giải thoát khỏi những giới hạn của cuộc sống hàng ngày hơn là một sự kiếm tìm nghiêm túc những kiến ​​thức mới.

This situation does not change the fact that many people today are exhibiting various degrees of paranormal ability, including clairvoyance, clairaudience, precognition, telepathy, psychometry, dowsing, and healing. It is beginning to look as though these abilities are emergent, and may eventually become a normal part of human consciousness. If we accept the concept mentioned before, that evolution is a learning process, we realize that living systems are continually developing new capacities for a creative response to their environment. If this is so, why should not human beings begin to extend their perception to supersensory levels, and develop the ability to explore more encompassing dimensions of reality?

Thực tế này không làm thay đổi sự thực là nhiều người ngày nay đang thể hiện các mức độ khác nhau về ngoại cảm, bao gồm khả năng thông nhãn, thông nhĩ, tiên đoán, viễn cảm, trắc tâm, cảm xạ và chữa bệnh. Có vẻ như các năng lực này đang nổi lên mạnh mẽ, và trong tương lai có thể trở thành một phần bình thường của ý thức con người. Nếu chúng ta chấp nhận khái niệm đã đề cập ở trên, rằng tiến hóa là một quá trình thu thập kiến thức, chúng ta nhận ra rằng các hệ thống sống đang liên tục phát triển năng lực mới để đáp ứng đầy sáng tạo với môi trường của chúng. Nếu đúng như vậy, tại sao con người không bắt đầu mở rộng nhận thức của họ đến mức siêu cảm, và phát triển khả năng khám phá bao quát đa chiều về thực tại?

The first requirement for the development of higher sense perception is a recognition that the supersensory realms are not opened up “magically,” but are regulated by natural laws just as precise as those which govern the physical world. If they are to become known to us, we must define more precisely the ranges of supersensory perception; the energies involved and their relationship to physical health and disease; the effects of behavior; the role of the mind and of mental images, intent, and motivation; and much more. Since there are different types of extrasensory perception, and since all observation is filtered through the percipient’s mind, we must also determine the degree of “observer effect” in clairvoyant investigation, and develop a system of checks and balances, as well as a common vocabulary. These are only a few of the requirements if we are to bring more order and coherence into the whole field, especially as it bears upon our understanding of the human being.

Yêu cầu đầu tiên cho sự phát triển nhận thức cao hơn là chấp nhận thế giới siêu cảm không được mở ra một cách “huyền diệu”, mà được điều chỉnh bởi các quy luật tự nhiên, cũng nghiêm ngặt như những quy luật điều chỉnh thế giới vật lý. Nếu biết đến chúng, chúng ta phải xác định chính xác hơn các phạm vi nhận thức siêu cảm; các nguồn năng lượng liên quan và mối quan hệ của chúng với sức khoẻ và bệnh tật của cơ thể vật lý; ảnh hưởng của hành vi; vai trò của thể trí và hình tư tưởng, ý định và động cơ; và nhiều hơn thế nữa. Vì có nhiều loại nhận thức về ngoại cảm và vì mọi quan sát đều được lọc qua trí của chủ thể nhận thức, chúng ta cũng phải xác định mức độ "ảnh hưởng của người quan sát " trong nghiên cứu thông nhãn, và xây dựng một hệ thống kiểm tra và đánh giá, cũng như những thuật ngữ phổ biến. Đây chỉ là một vài trong vô số yêu cầu nếu chúng ta mong muốn nghiên cứu nghiêm túc và toàn diện, đặc biệt khi những nghiên cứu này dựa trên những hiểu biết của con người.

So far, medicine has been concerned with problems of the physical organism, achieving very important results, even though the question of how healing takes place still remains a mystery. Today our ability to deal with hitherto intractable diseases has been enormously enhanced through the development of scientific sensors, which allow the body to be seen from a number of different aspects. Infrared and liquid crystals give a heat color pattern called thermography; the newest medical instrumentation using ultrasound and nuclear magnetic resonance gives us other dimensions and patterns. At a more fundamental level of physical being, we are becoming accustomed to thinking of ourselves in terms of systems, processes, and patterns of energy, rather than of dense materiality.

Cho đến nay, y học đã quan tâm đến các vấn đề của thể xác, và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mặc dù cơ chế chữa lành bệnh vẫn là câu hỏi đầy bí ẩn. Ngày nay, khả năng xử lý những căn bệnh phức tạp đã được tăng cường mạnh mẽ thông qua việc phát triển các phương tiện nhận biết khoa học, cho phép quan sát cơ thể từ nhiều góc độ khác nhau. Tinh thể hồng ngoại và tinh thể lỏng cho gam màu nóng được gọi là nhiệt đồ; Dụng cụ y tế mới nhất sử dụng siêu âm và cộng hưởng từ hạt nhân cho chúng ta các kích thước và mô hình khác. Ở một mức độ cơ bản hơn về cơ thể vật chất, chúng ta đang dần quen với cách nghĩ bản thân chúng ta như một tổng hòa các hệ thống, các quá trình và các mô hình năng lượng chứ không phải là vật chất đậm đặc thuần túy.

Sensitives who can observe the interactions of vital energy with emotional and mental processes could remove these interactions from the realm of the purely subjective by acting as human “sensors.” The observations of those gifted with such abilities, however, differ widely as to the reliability of their faculty, as well as in its clarity, precision, and applicability to physical situations. In spite of these problems, we must persist, since the field holds so much promise.

Một số người nhạy cảm có thể quan sát sự tương tác của sinh lực với các diễn trình cảm xúc và trí tuệ có thể loại bỏ những tương tác này khỏi phạm vi thuần túy mang tính chủ quan bằng cách hành động như những "cảm biến" con người. Tuy nhiên, những quan sát của những người có năng lực đặc biệt như vậy khác nhau rất nhiều về độ tin cậy, sự rõ ràng, chính xác, và khả năng ứng dụng trong điều kiện vật lý. Cho dù như vậy, chúng ta phải kiên trì, vì lĩnh vực này còn rất nhiều tiềm năng.

Perhaps the most important conclusion that emerges from a study of the extensions of physical perception, which clairvoyance makes possible, is that the physical brain is not the originator of consciousness, but rather its instrument. Acceptance of this concept would have far- reaching effects upon the way we humans look at ourselves, and thus upon the world we live in. Up to this point in human evolution, the world of the five senses has been our safe and familiar environment, a school for learning which has seemed to set the boundaries of human experience. Unaware of the possibility of experiencing a world beyond the physical, we have only caught glimpses of its dimensions through the arts or through the witness of mystics, saints, and seers. But now science has also begun to probe some aspects of this vaster world. More and more exotic discoveries are being made and startling theories propounded about the nature of our universe. Since it now seems that a considerable number of people have experienced some portions of the super- sensory realm for themselves, should we not make every effort to bring these experiences under serious scrutiny?

Có lẽ kết luận quan trọng nhất xuất phát từ một nghiên cứu về sự mở rộng của nhận thức vật lý, một điều thể hiện rõ qua khả năng thấu thị, đó là bộ não vật lý không phải là đối tượng tạo ra ý thức, mà thực chất là công cụ của ý thức. Sự chấp nhận khái niệm này sẽ có những tác động sâu rộng đến cách thức con người quan sát chính mình, và thế giới chúng ta đang sống. Ở mức độ tiến hóa hiện nay của loài người, thế giới của năm giác quan là môi trường an toàn và quen thuộc của chúng ta, một môi trường học tập dường như đặt ra những giới hạn cho kinh nghiệm của con người. Không thể nhận thức được khả năng trải nghiệm những gì vượt ra ngoài thế giới vật lý, chúng ta chỉ thoáng thấy được chúng thông qua nghệ thuật hoặc thông qua chứng nghiệm ​​của các nhà thần bí, các vị thánh hay các nhà tiên tri. Nhưng giờ đây khoa học cũng đã bắt đầu thăm dò một số khía cạnh của thế giới rộng lớn hơn này. Ngày càng có nhiều khám phá kỳ lạ và những lý thuyết gây sốc về bản chất của vũ trụ của chúng ta. Vì hiện nay có khá nhiều người được tự mình trải nghiệm ít nhiều về lĩnh vực siêu cảm, liệu chúng ta có nên cố gắng hết sức để xem xét nghiêm túc những kinh nghiệm này hay không?

It is our hope that the material offered in this book will be helpful in suggesting some of the principles that govern the subtler dimensions of our world—dimensions we all share in equally, if unknowingly. They are part of that greater whole which comprehends not only the physical earth with all its past history and future possibilities, but also the thoughts and feelings, errors and accomplishments, insights and intuitions of all its inhabitants.

Chúng tôi hy vọng rằng tư liệu trong cuốn sách này sẽ hữu ích trong việc đề xuất một số nguyên lý chi phối các chiều đo tinh tế của thế giới mà chúng ta đều chia sẻ bình đẳng trong đó, mặc dù một cách vô thức. Chúng là một phần của một tổng thể lớn hơn, không chỉ bao gồm trái đất vật lý với lịch sử trong quá khứ và khả năng trong tương lai của nó, mà còn bao gồm suy nghĩ và cảm xúc, sai sót và thành tựu, cái nhìn sâu sắc và trực giác của tất cả thực thể tồn tại trong mình.

2. The Fields and the Chakras—Các Trường và Các Luân xa

III. The Three Fields of the Personal Self—Ba Trường Của Phàm ngã

We begin with an exploration of a further question: What is the nature of our supersensory environment, and how does it affect us?

Chúng ta bắt đầu với việc khám phá một câu hỏi xa hơn: Bản chất của môi trường siêu cảm là gì, và nó tác động tới chúng ta ra sao?

As noted in Chapter I, our thesis is that man is a complex of interacting processes, all of which are indispensable. No physical experience is unaccompanied by emotional response and mental interpretation. If we try to codify the levels of human experience, we arrive at a schema which is close to the theosophical view that man expresses himself in physical life through a threefold mechanism: the etheric or vital, the astral or emotional, and the mental, all of which, taken together, are referred to in theosophical literature as the personality.

Như đã lưu ý trong Chương I, luận điểm của chúng ta là con người là một phức hợp của các quá trình tương tác, trong đó không thể thiếu bất cứ quá trình nào. Không có kinh nghiệm thể chất nào mà không kèm theo những phản ứng về cảm xúc và diễn giải về trí tuệ. Nếu chúng ta cố gắng mã hoá các mức độ kinh nghiệm của con người, chúng ta đi đến một giản đồ gần với quan điểm Thông Thiên Học rằng con người thể hiện bản thân mình trong cuộc sống hồng trần thông qua một cơ chế ba mặt: thể dĩ thái hay sinh lực, thể astral hay cảm xúc, và thể trí, tất cả kết hợp với nhau, được đề cập đến trong giáo lý Thông Thiên Học như là một phàm ngã.

We know full well that this description of the human psyche is remote from that offered by current schools of psychology, but it is nevertheless the hypothesis upon which our research is based.

Chúng ta biết rõ rằng cách mô tả này về tâm linh của con người khác xa với những gì mà các trường phái tâm lý học hiện nay vẫn quan niệm, tuy nhiên đó là giả thuyết nền tảng của những nghiên cứu của chúng ta.

When these three aspects of human nature are integrated with the physical body into a harmonious whole, this becomes a complete and flexible instrument for the expression of the self. The word “self,” in turn, is reserved for the deepest and most enduring essence of that which each of us really is—our true being.

Khi ba khía cạnh này của bản chất con người được tích hợp với cơ thể vật lý trở thành một tổng thể hài hòa, nó trở thành một công cụ hoàn chỉnh và linh hoạt để biểu hiện bản thể (the self). Từ “bản thể” được dùng để biểu đạt bản chất sâu xa nhất và lâu dài nhất của điều mà mỗi người chúng ta thực sự là—thực tính của chúng ta.

The personality is much like the notion of persona as it was developed in ancient Greece and Rome: a mask or appearance which the actor dons to indicate the role he is playing in the drama. In the drama of life, we, the actors, usually become so identified with this representation that we mistake it for the real self. It is no exaggeration to say that one of the greatest struggles for human beings is to become aware of the difference between the self (which some call the soul) and its persona or personality.

Phàm ngã gần giống khái niệm persona được phát triển ở Hy Lạp cổ đại và Rome: một mặt nạ hoặc diện mạo mà diễn viên khoác vào để đóng vai trong một vở kịch. Trong vở kịch cuộc đời, chúng ta, các diễn viên, thường đồng hóa với tính cách nhân vật đến nỗi chúng ta đã nhầm lẫn đánh đồng nó với chân ngã (cái tôi thực sự). Không có gì cường điệu khi nói rằng một trong những cuộc đấu tranh vĩ đại nhất của con người là nhận thức được sự khác biệt giữa bản thể (cái mà một số người gọi là linh hồn) và cá tính hay phàm ngã của bản thể đó.

Another important element of this view of human nature is related to the mystery of life and of life energies. We are now quite familiar with the concept of the physical body as a hierarchy of interacting systems of organization, but the additional idea that these systems are characterized by specific energy patterns is as yet little understood. But it is with these energy patterns that our research is concerned, and therefore we need a principle which can explain the correspondences between the energy patterns and the physical symptoms.

Một yếu tố quan trọng khác của quan điểm này về bản chất con người có liên quan đến bí mật và năng lượng của sự sống. Giờ đây chúng ta đã khá quen với khái niệm cơ thể vật lý là tổng hòa các hệ thống tổ chức tương tác lẫn nhau, nhưng quan niệm bổ sung rằng các hệ thống này được đặc trưng bởi các mô hình năng lượng cụ thể vẫn chưa được hiểu rõ. Thề nhưng đó là những mô hình năng lượng mà chúng ta quan tâm nghiên cứu, do đó chúng ta cần một nguyên lý có thể giải thích sự tương ứng giữa các mô hình năng lượng và các biểu hiện vật lý.

In the view being developed here, man is a system of interdependent force fields, within which energy patterns are not only appropriate to the particular field but are also ordered by special processes and mechanisms. Furthermore, these energy patterns are responsive to changes in consciousness, a fact which gives us a very different perspective upon many of the troubling problems of human life. In esoteric literature, man is described as having seven levels or fields of consciousness and energy, each of which is hierarchically differentiated in a way somewhat analogous to the solid, liquid, gaseous, molecular, atomic and subatomic subdivisions of the physical world.

Theo quan điểm được phát triển ở đây, con người là một hệ thống các trường năng lượng phụ thuộc lẫn nhau, trong đó các mô hình năng lượng không chỉ phù hợp từng trường năng lượng cụ thể mà còn được sắp xếp theo các trật tự và cơ chế đặc biệt. Hơn nữa, các mô hình năng lượng này đáp ứng với những thay đổi trong tâm thức, điều này cho chúng ta một góc nhìn rất khác về nhiều vấn đề rắc rối trong cuộc sống con người. Giáo lý nội môn mô tả con người có 7 cấp độ hay 7 trường tâm thức và năng lượng, mỗi cấp độ được phân biệt theo thứ bậc, tương tự như phân chia thể rắn, lỏng, khí, phân tử, nguyên tử và các cấp hạ nguyên tử của thế giới vật lý.

We have already noted that our study is principally concerned with the etheric field, which is in constant interaction with the physical body. But since there can be no separation between physical and psychological processes, there are many instances in which emotional and mental factors must be taken into consideration.

Chúng tôi đã lưu ý rằng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu quan tâm đến trường dĩ thái, trong sự tương tác liên tục với cơ thể vật lý. Nhưng vì không thể có sự tách biệt giữa các quá trình vật lý và tâm lý, có rất nhiều trường hợp cần phải xem xét cả các yếu tố cảm xúc và trí tuệ.

Thus we have adopted the theosophical description of human nature as our working hypothesis, in terms of which we have evaluated the clairvoyant observations that form the body of our research. And here we might define our use of the word hypothesis as “a proposition which we will assume to be true in order to test certain facts against it.” If the hypothesis provides a meaningful explanatory principle it will be reinforced by our research; if not, it can be modified in favor of a better hypothesis.

Như vậy, chúng ta đã sử dụng mô tả của thông thiên học về bản chất con người như một giả thuyết cho công cuộc nghiên cứu của chúng ta, theo đó chúng ta đánh giá các quan sát thông nhãn kiến tạo nên phần chủ chốt trong nghiên cứu của mình. Và ở đây từ giả thuyết được sử dụng như là “một định đề được coi là đúng để kiểm tra một số dữ kiện đối nghịch nhất định.” Nếu giả thuyết này đưa ra một nguyên tắc giải thích hợp lý nó sẽ được củng cố bởi nghiên cứu của chúng ta; Nếu không, nó có thể được thay đổi để cho ra một giả thuyết tốt hơn.

As we shall constantly be talking about fields, we must emphasize once more that we are only justified in referring to the life energies, feelings, and thoughts associated with every individual as “fields” if we hold them to be special instances or intensifications of universal fields in which all life participates. (A field may be generally defined as a continuous condition of space.) In this case, there is a constant interaction not only among the three fields associated with each individual, but also between these and the universal fields of which they are a part.

Vì chúng ta sẽ thường xuyên nhắc tới các trường năng lượng, chúng ta phải nhấn mạnh lại rằng chúng ta chỉ đề cập đến năng lượng sống, cảm xúc và tư duy gắn liền với mỗi cá nhân như là “những trường” nếu chúng ta coi chúng là những phần tăng cường đặc biệt của các trường vũ trụ mà mọi sự sống đều tham gia trong đó. (Một trường có thể được định nghĩa chung nhất như một tình trạng liên tục của không gian) Trong trường hợp này, có sự tương tác liên tục không chỉ giữa ba trường gắn liền với mỗi cá nhân, mà còn giữa các trường này với các trường vũ trụ mà chúng là một phần cấu thành.

In order to avoid confusion, therefore, in general descriptions we shall usually employ the term “field” to refer to the universal aspect, and reserve the words “vehicle” or “body” to identify the individual expression of the universal field. But because DVK (Dora van Gelder Kunz) is so accustomed to speaking about fields rather than bodies, in many of the case histories to follow the term “general field” will appear in descriptions of the etheric or astral body, as distinguished from the energy flow through the chakra system.

Do vậy, để tránh nhầm lẫn, trong các mô tả chung chúng ta thường sử dụng thuật ngữ “trường” để chỉ khía cạnh chung, và dùng từ “dẫn thể” (vehicle) hoặc “thể” (body) để chỉ sự biểu đạt cá nhân của trường vũ trụ. Nhưng vì bà DVK (Dora van Gelder Kunz) thường quen với cách dùng từ trường thay vì dùng từ thể, trong nhiều trường hợp thuật ngữ “trường tổng quát” sẽ được sử dụng để mô tả thể dĩ thái hoặc cảm dục, để phân biệt với dòng năng lượng chảy qua hệ thống luân xa.

The interweaving of the three fields of the personal self, together with their vehicle, the physical body, gives us a picture of human life which can be compared to a moving four-dimensional tapestry, whose warp and woof are composed of threads of differing qualities and textures, and whose patterns shift and change as they cut across the path of time. The key to understanding the complexity of this process of interaction lies in its dynamism, for life is always characterized by growth and change. The important factor in such change is whether it is taking us in the direction of negativity, ill health, and disease, and whether this pattern can be altered in the direction of self-integration, health, and wholeness.

Sự giao thoa của ba trường bản thể phàm ngã, cùng với dẫn thể của chúng, cơ thể vật lý, cho chúng ta hình ảnh của cuộc sống con người như một bức tranh bốn chiều di chuyển, với những đường từ lực đan kết ngang dọc với các đặc điểm và kết cấu khác nhau, và các mô hình đó dịch chuyển và biến đổi theo thời gian. Chìa khóa để hiểu được sự phức tạp của quá trình tương tác nằm ở tính năng động của nó, vì sự sống luôn được đặc trưng bởi sự tăng trưởng và đổi thay. Yếu tố quan trọng trong sự biến đổi đó là liệu nó có hướng chúng ta theo con đường tiêu cực, đau yếu và bệnh tật hay mô hình này sẽ dịch chuyển theo xu hướng tự gắn kết, sức khoẻ và tổng thể vẹn toàn.

IV. The Structure and Function of the Etheric Body—Kết cấu và Chức năng của thể Dĩ Thái

The most important function of the etheric body is the transfer of life energy or vitality from the universal field to the individual field, and thence to the physical body. It is the primary contact with the ocean of life energy that sustains all of nature. Vitality per se is not recognized as a form of energy in the West, but in the East, where it is known as prana, it has always been perceived as a universal force in nature connected with breathing and breath. It is active in plants and animals as well as humans.

Chức năng quan trọng nhất của thể dĩ thái là dẫn truyền năng lượng sống hay sinh lực từ trường vũ trụ sang trường cá nhân, và từ đó đến cơ thể vật lý. Đó là mối liên hệ chính yếu với đại dương năng lượng sống duy trì toàn bộ thế giới tự nhiên. Đối với phương Tây, bản chất của sinh lực không được công nhận như một dạng thức năng lượng, nhưng đối với phương Đông, sinh lực, được gọi là prana, luôn luôn được coi là lực vũ trụ trong tự nhiên liên quan mật thiết đến hô hấp và hơi thở. Nó tồn tại trong cả giới thực vật và động vật cũng như con người.

The etheric also acts as a connecting link between the physical body and the emotional and mental vehicles, although all of these are interpenetrating and synchronized, thus constituting, with the physical body, the instrument of the conscious self during the whole of life.

Thể dĩ thái cũng có vai trò nối kết giữa cơ thể vật lý với thể cảm xúc và thể trí, mặc dù tất cả các thể này đều thâm nhập và gắn kết với nhau, do đó cùng với cơ thể vật lý tạo thành khí cụ của ngã thức trong suốt cuộc đời.

At the etheric level, the individual field is conditioned and vitalized by the life force or etheric energy which pours in through its major centers or chakras, which are described in detail later. At the same time, the centers at the emotional and mental levels are processing energies from these fields, and these energies condition and modify the etheric energy as it flows through the network of channels in the etheric body. It is thus a very complex process. The etheric body vitalizes the physical body, but exactly how this takes place is not yet known. Since the etheric channels run parallel to the nervous system, however, there may be a process of induction.

Ở cấp độ dĩ thái, trường cá nhân được quyết định và tiếp thêm sinh lực bởi sinh lực hay năng lượng dĩ thái đổ vào các trung tâm chính hay các luân xa, điều này sẽ được mô tả chi tiết ở phần sau. Đồng thời, các trung tâm của thể cảm xúc và thể trí cũng tiếp nhận năng lượng từ các trường này, và các nguồn năng lượng này điều khiển và biến đổi năng lượng dĩ thái khi nó chảy qua mạng lưới từ lực trong thể dĩ thái. Do vậy, đây là một quá trình rất phức tạp. Thể dĩ thái tiếp sinh lực cho cơ thể vật lý, nhưng quá trình này diễn ra chính xác như thế nào vẫn chưa được biết đến. Tuy nhiên, vì các dòng dĩ thái chạy song song với hệ thần kinh, có thể có một quá trình cảm ứng.

Much as the unborn child floats in the embryonic fluid of the womb, so human beings are sustained by a sea of nourishing energies. The structure of the centers of force or chakras in the etheric, astral and mental vehicles remains constant throughout the lifetime of the individual, even while they are being continually replenished by the energies moving in and out from the three corresponding fields.

Giống như đứa trẻ trong lòng mẹ tồn tại trong môi trường dịch ối, con người được duy trì bởi biển năng lượng nuôi dưỡng. Cấu trúc của các trung tâm lực hay luân xa trong các thể dĩ thái, cảm dục và thể trí không thay đổi trong suốt cuộc đời mỗi người, ngay cả khi chúng được bổ sung liên tục bởi các dòng năng lượng di chuyển vào và ra ba trường tương ứng.

Every physical particle has its etheric counterpart (hence the term “etheric double”) which is a perfect replica of the physical form. The etheric vehicle is so closely interwoven with the physical body that the two are inseparable. In one sense, certainly, the etheric is physical, in that it is never separated from the body during life and disintegrates with it at death. For that reason the etheric has historically been described in esoteric literature as the fourth state of matter, taking the solid, liquid and gaseous states as the first three. It should be remarked, however, that observers have reported that liquids and gases as well as solids have their etheric counterparts, and therefore this categorization seems weak.

Mỗi cấu phần của thể vật lý đều có phần tương ứng ở thể dĩ thái, là một bản sao hoàn hảo của hình thể vật lý (vì vậy có thuật ngữ “cặp đôi dĩ thái”). Thể dĩ thái liên kết chặt chẽ với thể vật lý, không thể tách rời. Chắc chắn, theo một nghĩa nào đó, thể dĩ thái là thể vật lý, theo ý nghĩa nó không bao giờ tách ra khỏi cơ thể trong suốt cuộc đời và chỉ tan rã khi cơ thể vật lý chết đi. Vì lý do đó, thể dĩ thái đã được mô tả trong giáo lý huyền môn như là trạng thái thứ tư của vật chất, trong đó 3 trạng thái đầu là rắn, lỏng và khí. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các nhà quan sát cũng đã cho biết rằng chất lỏng, khí và chất rắn cũng có đối ngẫu dĩ thái riêng của chúng và do đó cách phân loại này có lẽ không vững vàng.

In fact, the etheric field is said to be subdivided into several categories, the densest of which is associated with physical solids, while others are more rarefied. The etheric is in fact “material,” and it lies very close to physical matter. For this reason, it has been suggested that the ability to see the etheric field vaguely is related to the retina of the eye, and just on the threshold of ordinary vision. If this is the case, it might be possible to devise some kind of instrumentation capable of enhancing the etheric field to the point of visibility. Many have tried to do this, but so far without success.

Trong thực tế, trường dĩ thái được cho là được chia thành nhiều phân loại, trong đó loại đậm đặc nhất liên quan đến chất rắn, trong khi các loại khác loãng hơn. Dĩ thái (Etheric) trên thực tế là “vật chất”, và nó nằm rất gần vật chất vật lý. Vì lý do này, người ta cho rằng khả năng nhìn thấy trường dĩ thái có liên quan đến võng mạc mắt, và chỉ trên ngưỡng tầm nhìn bình thường chút ít. Nếu đúng như vậy, có thể phát minh ra thiết bị nào đó có khả năng tăng cường trường dĩ thái đến mức có thể nhìn thấy được. Nhiều người đã cố gắng thực hiện điều này, nhưng cho đến nay chưa có thành công nào đạt được.

The etheric is not only the vehicle of the life force or prana; it also furnishes the basic pattern according to which the physical body is built. (The connections between the etheric pattern and the genetic code offer interesting possibilities which have so far not been explored.) This etheric matrix is important since it is directly related to the individual’s state of health, for the quality, sensitivity and resilience of the physical body are directly related to the tone and quality of the etheric body.

Dĩ thái không chỉ là dẫn thể của sinh lực hay prana; nó còn cung cấp các mô hình cơ bản theo đó cơ thể vật lý được hình thành. (Mối quan hệ giữa mô hình dĩ thái và mã di truyền gợi mở nhiều điều thú vị đến nay chưa được khám phá.) Lưới dĩ thái rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến tình trạng sức khoẻ của cá nhân, vì chất lượng, độ nhạy cảm và khả năng phục hồi của cơ thể, đều có liên quan trực tiếp đến tầm mức hoạt động và chất lượng của thể dĩ thái.

Every cell in the human body has its equivalent etheric, emotional and mental energies localized around it. The energies which are localized around each individual (constituting the “bodies” or “aura”) attenuate into space or, to put it more accurately, into the universal fields. Much more work needs to be done in order to clarify how the three fields relate to one another in an individual; so far, as mentioned before, we have had to limit our studies chiefly to the etheric, with only brief forays into the emotional and mental fields for diagnostic purposes. Thus all that has so far been possible is to sketch the gross anatomy of the etheric body with its chakras.

Mỗi tế bào trong cơ thể con người cũng có các năng lượng dĩ thái, cảm dục và trí tuệ tương đương xung quanh nó. Các năng lượng tập trung quanh mỗi cá nhân (tạo thành các “thể” hay “hào quang”) sẽ loãng dần ra xung quanh, hay nói một cách chính xác hơn, vào trường vũ trụ. Cần có rất nhiều nghiên cứu xa hơn để làm rõ ba loại trường này liên quan đến nhau như thế nào ở mỗi cá nhân. Như đã đề cập ở phần trên, cho đến nay chúng ta phải giới hạn nghiên cứu của mình chủ yếu ở thể dĩ thái, chỉ đôi khi nhắc tới các trường cảm dục và trí cho các mục đích chẩn đoán. Như vậy, tất cả những gì có thể thực hiện được là phác thảo một bức tranh toàn diện về thể dĩ thái với các luân xa của nó.

To the clairvoyant, the etheric body looks like a luminous web of fine bright lines of force which, in a healthy person, stand out at right angles to the surface of the skin. Its texture may be fine-grained or coarse, a characteristic which repeats itself in the physical body type. Each organ of the body has its etheric counterpart, through which the etheric energy circulates constantly.

Đối với những người có thông nhãn, thể dĩ thái ở một người khỏe mạnh trông giống như một mạng lưới các đường từ lực sáng trắng tinh tế, vuông góc với bề mặt da. Cấu trúc của nó có thể mịn hoặc thô, và đặc điểm này được lặp lại trong cơ thể vật lý. Mỗi bộ phận của cơ thể đều có đối phần tương ứng ở thể dĩ thái, qua đó năng lượng dĩ thái tuần hoàn liên tục.

The color of the etheric body is a pale blue-gray or violet-gray, slightly luminous and shimmering, like heat waves above the earth on hot days. In the average person it extends from five to seven centimeters (two to three inches) beyond the periphery of the physical body, gradually fading away into the enveloping ocean of etheric energy. This ocean of energy is in constant rapid motion, and surrounds the body much as the atmosphere surrounds the earth.

Màu sắc của thể dĩ thái là màu xám-xanh lơ nhạt hay là màu xám-tím, chói sáng một cách lờ mờ, trông giống như làn không khí nóng dợn sóng trên mặt đường trong những ngày trời nóng. Ở một người bình thường, thể dĩ thái ló ra khỏi cơ thể từ năm đến bảy centimet (2-3 inch) và hòa lẫn vào trường năng lượng dĩ thái xung quanh. Trường năng lượng dĩ thái xung quanh là một đại dương năng lượng thường xuyên chuyển động một cách lẹ làng nhanh chóng, bao quanh thể dĩ thái giống như bầu không khí bao quanh quả đất.

While the etheric is not in itself a vehicle of consciousness, it does transmit the stream of consciousness to the physical brain, and if it is separated for any reason from the physical body, the result is disturbance and ill health.

Trong khi bản thân thể dĩ thái không phải là một dẫn thể của tâm thức, nó giữ vai trò dẫn truyền tâm thức đến bộ óc xác thịt, và nếu vì lý do gì đó thể dĩ thái bị tách rời khỏi thể vật lý, kết quả sẽ tạo ra những rối loạn và bệnh tật cho cơ thể.

There is an etheric web of the finest texture that acts as a natural barrier between the etheric and astral fields, and protects the individual from opening communication between these two levels prematurely. Some theosophical literature, especially the works of C.W. Leadbeater, describes this web as closely knit, composed of a single layer of etheric atoms separating the chakras as they lie along the spine. It is in effect a protective device, and its injury has serious consequences, since this opens the door to forces beyond the individual’s control. Among the factors reported to modify or tear this web are alcoholism and the continued use of narcotics and similar substances.

Có một mạng lưới dĩ thái với kết cấu chặt chẽ đóng vai trò như một lớp lá chắn tự nhiên giữa thể dĩ thái và thể cảm dục, và bảo vệ con người khỏi sự liên thông giữa hai thể này quá sớm. Một số tài liệu Thông Thiên Học, đặc biệt là các tác phẩm của C.W. Leadbeater, mô tả mạng lưới này liên kết rất chặt chẽ, bao gồm một lớp các nguyên tử dĩ thái phân tách các luân xa nằm dọc theo cột sống. Nó có tác dụng như một thiết bị bảo vệ, và những tổn thương của nó đều gây nên những hậu quả nghiêm trọng, vì điều này mở ra cánh cửa đến với các nguồn lực vượt quá sự kiểm soát của cá nhân. Trong số các yếu tố tác động và làm rách lưới dĩ thái mà người ta ghi nhận được, phải kể đến thói nghiện rượu, sử dụng ma túy và các chất kích thích tương tự.

It should not be supposed, however, that the existence of this etheric web inhibits the normal interaction between the emotional and etheric fields. In a healthy individual, there is an ordered relationship and a rhythmic flow among all the energy fields. But when there are chronic disturbances on the emotional level, such as continuous hostility or anxiety, the energy discharge is disordered, and this can eventually damage the whole system. To take another example, fear and depression tend to cut down the normal flow of energy, so that organs like the kidneys become less able to function normally. Thus the emotions closely affect both the etheric and physical bodies.

Tuy nhiên, không nên cho rằng sự tồn tại của lưới dĩ thái ức chế sự tương tác thông thường giữa trường cảm dục và trường dĩ thái. Ở một người khỏe mạnh, có một mối quan hệ trật tự và một dòng chảy nhịp nhàng giữa các trường năng lượng. Nhưng khi có những rối loạn thường xuyên về mức độ cảm xúc, chẳng hạn như sự thù ghét hoặc lo lắng liên tục, dòng lưu chuyển năng lượng bị rối loạn, và điều này cuối cùng có thể phá vỡ toàn bộ hệ thống. Một ví dụ khác, sợ hãi và lo lắng quá mức có xu hướng làm giảm mức dòng chảy năng lượng bình thường, do đó các cơ quan như thận bị mất khả năng hoạt động bình thường. Do đó các cảm xúc ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả thể dĩ thái và thể vật lý.

Just as too little energy is damaging, so also is the effect of too much. If the energy flow is too rapid, it can be used up quickly, resulting in a depletion of the body’s reservoir of energy. Tension will also deplete energy reserves, and this can have sudden effects at the physical level, such as a heart attack or kidney failure. Energy depletion of this kind has such a pervasive effect that it is not possible to tell where it will manifest or which vital organ will be affected, although DVK is able to see where the depletion is occurring.

Cũng giống như khi năng lượng quá ít sẽ làm phá vỡ hệ thống, năng lượng quá nhiều sẽ mang lại tác động tiêu cực. Nếu dòng lưu chuyển quá nhanh, dự trữ năng lượng bị tiêu tán nhanh, gây ra sự cạn kiệt nguồn năng lượng cho cơ thể. Căng thẳng cũng sẽ làm suy giảm dự trữ năng lượng, và điều này có thể có những tác động bất ngờ ở cơ thể vật lý, chẳng hạn như những cơn đau tim hoặc suy thận. Sự cạn kiệt năng lượng kiểu này gây ra hiệu ứng lan tỏa, vì vậy khó có thể xác định được chính xác nơi rối loạn sẽ hiển thị hoặc bộ phận nào của cơ thể sống sẽ bị ảnh hưởng, mặc dù bà DVK có thể nhìn rõ nơi nào đang xảy ra sự cạn kiệt năng lượng.

When a healthy person is in a calm and happy state of mind, the energy flows evenly and smoothly. The chakras are able to transform energy from level to level in health as well as in disease, so that when an individual is full of affection this is transmitted to the body in the form of increased balanced energy. If there is no emotional conflict, the etheric energy is strengthened and enhanced. Certainly, healthy children are naturally happy and spontaneous, and they are overflowing with energy. (A more detailed account of the effect of changes in the emotional field will be found in Chapter VI.)

Khi một người khỏe mạnh đang trong trạng thái tĩnh lặng và hạnh phúc, năng lượng sẽ chảy đều và thông suốt. Luân Xa có thể biến đổi năng lượng từ mức độ này sang mức độ khác phản ánh qua sức khoẻ cũng như bệnh tật, vì vậy khi một người tràn đầy tình yêu thương, cảm xúc đó được truyền đến cơ thể dưới dạng năng lượng cân bằng. Nếu không có xung đột cảm xúc, năng lượng dĩ thái được tăng cường và mạnh thêm. Chắc chắn, những đứa trẻ khỏe mạnh sẽ luôn hồn nhiên hạnh phúc và vô tư, và chúng tràn đầy năng lượng. (Chi tiết hơn về ảnh hưởng của những thay đổi trong lĩnh vực tình cảm sẽ được đề cập trong Chương VI)

In sum, positive emotions are more economical for the whole system—a fact which scarcely needs emphasis, since everyone knows it more or less instinctively. Certainly our research supports the aims of many techniques being developed today, whose purpose is to inculcate harmonious inner attitudes and so achieve a state of good health and positive personal relationships.

Tóm lại, những cảm xúc tích cực mang lại hiệu quả lớn lao cho toàn bộ hệ thống – đây là một thực tế không cần nhấn mạnh vì mọi người theo bản năng đều ít nhiều biết tới điều này. Chắc chắn nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ cho điều mà nhiều kỹ thuật được phát triển ngày nay hướng tới, với mục đích là đề cao thái độ hài hòa trong nội tại và đạt được một trạng thái sức khỏe lành mạnh và những mối quan hệ cá nhân tích cực.

V. The Role of the Chakras—Vai trò của Luân Xa

The chakras are superphysical centers or organs through which the energies of the different fields are synchronized and distributed to the physical body. They are more or less active on the astral, mental and (to some extent) on even higher levels, in which they have different roles, but they are of primary importance at the etheric level, where they serve as instruments for the focusing of energy in the body.

Luân Xa là các trung tâm hay cơ quan siêu vật lý thông qua đó năng lượng của các trường khác nhau được đồng bộ hóa và phân phối cho cơ thể vật lý. Chúng ít nhiều hoạt động trên thể cảm dục, thể trí và (ở mức độ nào đó) trên các cấp độ cao hơn, có chức năng khác nhau ở mỗi thể, nhưng chúng có tầm quan trọng hàng đầu ở cấp độ dĩ thái, nơi chúng đóng vai trò là công cụ tập trung năng lượng trong cơ thể.

The anatomy of the chakras has been described in Indian and Tibetan tantric literature, and also in the works of C.W. Leadbeater and other modern investigators, such as Swami Rama and Hiroshi Motoyama. DVK has made a detailed and extended study of their features over a long period of time, with special attention to their role in health and disease. The descriptions given here are entirely based on her observations, and will be found to differ in many details from other accounts, although not in essence.

Cấu trúc của luân xa đã được mô tả trong các tài liệu bí truyền Ấn Độ và Tây Tạng, cũng như trong các tác phẩm của C.W. Leadbeater và các nhà nghiên cứu hiện đại khác như Swami Rama và Hiroshi Motoyama. Bà DVK đã thực hiện một nghiên cứu chi tiết và mở rộng về các đặc tính của luân xa trong một thời gian dài, đặc biệt chú ý đến vai trò của chúng trong sức khoẻ và bệnh tật. Các mô tả trong cuốn sách này hoàn toàn dựa trên các quan sát của bà, và sẽ có đôi chút khác biệt so với một số tài liệu khác, tuy nhiên những chi tiết khác biệt này không thuộc về bản chất.

The etheric, astral and mental vehicles each contain seven major centers of force, which have been called chakras because of their shape. In both form and mode of motion they resemble a wheel, with the central core acting as the hub, around which petal-like structures revolve. Through this core the energies of the different fields focus and circulate, and around it the energies whirl centrifugally and pulsate rhythmically, so that the whole looks like a flower whose petals are in constant harmonic motion, somewhat like the effects achieved in time-lapse photography. In fact, in Indian literature the chakras have been referred to as lotuses because of their flowerlike form, and because they have a central root or stem which connects them energetically to the spine and nervous system. The cores or hearts of the centers are points of interaction where energy flows from one field or level into another. These are also associated with specific abilities or powers of consciousness related to one or another of the other fields, such as the emotional or mental.

Các thể dĩ thái, cảm dục và thể trí đều có bảy trung tâm lực chủ chốt, được gọi là các Luân Xa – bánh xe quay – vì hình dạng của chúng. Trong cả hình dạng và phương thức chuyển động, chúng giống như những bánh xe, với lõi là một trục trung tâm, quay quanh có cấu trúc giống như các cánh hoa. Thông qua lõi trung tâm, năng lượng của các trường khác nhau tập trung và lưu chuyển, và xung quanh nó các năng lượng xoáy ly tâm và chuyển động nhịp nhàng, tạo nên một tổng thể trông giống như một bông hoa với những cánh hoa rung động đều đặn theo nhịp điệu, tương tự hiệu ứng đạt được trong nghệ thuật nhiếp ảnh tua nhanh. Thực tế, trong các kinh sách Ấn Độ, các luân xa được gọi là hoa sen vì hình dạng hoa của chúng, và bởi vì chúng có gốc trung tâm kết nối năng lượng ăn sâu vào cột sống và hệ thần kinh. Các lõi hay tâm điểm của các trung tâm là các đầu mối tương tác, nơi mà năng lượng lưu chuyển từ một trường hoặc một cấp độ này tới trường và cấp độ khác. Tất cả những luân xa này đều liên quan đến những khả năng hay năng lực tâm thức đặc biệt của một trong những trường, như cảm dục hay thể trí.

Lama Govinda, well-known exponent of Buddhist Tantrism, has pointed out that the physiological foundations of the doctrine of the chakras or psychic centers is the same in Hindu and Buddhist Tantrism, though there are considerable variations in the two systems. “The main difference,” he writes, “lies in the different treatment of the same fundamental facts... The Hindu system emphasizes more the static side of the centers and their connexions with elementary nature.... This supplies the chakras with an ‘objective’ content in the form of permanently fixed seed-syllables— The Buddhist system is less concerned with the static-objective side of the chakras, but rather with that which flows through them, with their dynamic functions, i.e., with the transformation of that current of cosmic or nature-energies into spiritual potentialities3 The view of the chakras which DVK presents is akin to the dynamism of the Buddhist system.

Lama Govinda, nhân vật nổi tiếng của Phật giáo Mật tông, đã chỉ ra rằng nền tảng sinh lý học của các học thuyết về luân xa hay trung tâm siêu linh hoàn toàn giống nhau trong Ấn Giáo và Phật giáo Mật tông, mặc dù hai dòng giáo lý này có một số khác biệt đáng kể. Ông viết “Sự khác biệt chính nằm trong cách nhìn nhận khác nhau đối với những dữ kiện nền tảng giống nhau... Đạo Hindu chú trọng tới phần tĩnh của các luân xa và mối liên hệ của chúng với tính chất cơ bản... Cách tiếp cận này coi luân xa là những thực thể 'khách quan' dưới hình thức các cấu phần riêng rẽ ổn định—Phật giáo ít quan tâm đến mặt tĩnh—khách quan của các Luân Xa, mà chú trọng tới những dòng chảy qua chúng, với các chức năng năng động của chúng, tức là với sự biến đổi của các dòng năng lượng tự nhiên hay năng lượng vũ trụ thành những tiềm năng tinh thần. Quan điểm về luân xa mà bà DVK trình bày khá tương đồng với yếu tố năng động trong quan niệm của Phật giáo.

The seven etheric chakras, which are so influential in the health of the physical and etheric bodies, have their counterparts on the astral and mental levels. Like the physical body, which is continually disintegrating and rebuilding itself, the etheric, emotional and mental fields are constantly changing, but at a much more rapid rate. The chakras are involved in this change.

Bảy luân xa dĩ thái, có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của cơ thể vật lý và thể dĩ thái, có các đối phần của chúng ở cấp độ cảm dục và thể trí. Giống như cơ thể vật lý đang liên tục phân rã và tự tái tạo chính mình, các trường dĩ thái, cảm dục và trí luôn thay đổi, nhưng với tốc độ nhanh hơn nhiều. Luân xa có liên quan đến sự thay đổi này.

It is important to note that the chakras are both the transmitters and the transformers of energy from field to field, for their mechanism synchronizes the emotional, mental and the etheric energies. They step the energy up or down, or slow or speed it up, from one field to another, so that the faster energy of the emotional field can affect the slower energy of the etheric, as well as the reverse.

Điều quan trọng cần lưu ý là các luân xa đồng thời là các cơ quan truyền dẫn và biến đổi năng lượng từ trường này sang trường khác, vì cơ chế của chúng là đồng bộ hóa các năng lượng cảm xúc, trí tuệ và dĩ thái. Chúng biến đổi năng lượng lên hay xuống, làm chậm hay tăng tốc, từ trường này sang trường khác, khiến cho năng lượng nhanh hơn của trường cảm xúc có thể ảnh hưởng đến năng lượng chậm hơn của thể dĩ thái, và ngược lại.

The etheric chakras are most easily visualized as rapidly spinning vortices, which draw in energy at their cores in a tight flow and disperse it along the periphery of their petals in ever-widening spirals. The torrent of incoming energy from the general field pours into the chakras, and because of their pattern of organization, this produces a whirling or spinning motion. This flow does not affect their basic geometrical structure, however, for that remains constant.

Có thể hình dung đơn giản Luân xa dĩ thái giống như các xoáy quay nhanh, thu hút năng lượng vào trung tâm của chúng trong một dòng chảy kín và phân tán năng lượng ra xung quanh theo vòng xoắn ốc ngày càng mở rộng. Dòng năng lượng thu được từ trường vũ trụ tuôn đổ vào luân xa, và do cấu trúc tổ chức của chúng, chuyển động xoáy hoặc xoay vòng được tạo ra. Tuy nhiên dòng chảy này không ảnh hưởng đến cấu trúc hình học cơ bản của chúng vì hình dạng nàycó tính ổn định.

Yet it must not be inferred that the chakras are separate from the fields themselves, as might be implied by the way they appear in the diagrams. They are vortices which concentrate the energy within the fields, just as whirlpools are formations in and of water. Therefore any important change in the energy field is immediately apparent in the chakras, and most easily observed there.

Thế nhưng không thể suy luận rằng các luân xa là tách rời với các trường năng lượng, như chúng được thể hiện trong hình vẽ. Chúng là những xoáy tập trung năng lượng của các trường, giống như những xoáy nước hình thành trong dòng nước. Vì vậy, bất kỳ sự thay đổi quan trọng nào trong trường năng lượng ngay lập tức hiển thị ở các Luân Xa, và dễ dàng quan sát nhất ở vị trí này.

If, for example, a person is emotionally upset over a period of time, this energy goes through the whole of the etheric field as well as the emotional field, and therefore it reacts upon the body’s organs such as the kidneys. Conversely, when the body is under stress, some of the outward flow from the etheric through the chakras in turn affects the emotional field.

Ví dụ, nếu một người buồn phiền một thời gian, năng lượng này sẽ đi qua toàn bộ trường dĩ thái cũng như trường cảm xúc, và do đó nó tác động tới các bộ phận của cơ thể như thận. Ngược lại, khi cơ thể bị căng thẳng, một số dòng năng lượng của thể dĩ thái bên ngoài thông qua các luân xa sẽ ảnh hưởng đến trường cảm xúc.

The colors, which vary from chakra to chakra, also glow in a way that contributes to their flower-like appearance. In a healthy person, the chakras’ forms are beautifully balanced, symmetrical and organic, with all the parts flowing together in a rhythmic pattern. Their motion is, in fact, harmonic or musical in character, with rhythms which vary according to individual, constitutional and temperamental differences.

Các luân xa khác nhau sẽ có màu sắc khác nhau, cũng phát sáng và góp phần tạo nên hình ảnh giống bông hoa. Ở một người khỏe mạnh, hình dạng của các luân xa hài hòa và đẹp đẽ, cân xứng và có hệ thống, với tất cả các bộ phận cùng lưu chuyển theo nhịp điệu. Sự chuyển động của chúng thực chất có nhịp điệu như những hòa âm trong âm nhạc với những giai điệu khác nhau tùy thuộc từng cá nhân, thể tạng và tính khí khác biệt của mỗi người.

The centers are never static; their speed of rotation is both rapid and variable according to the state of health and the quality of the flow. The whole process is analogous to the mechanism of respiration, for the energy is, as it were, breathed in and breathed out by the living human being. The energy pours in through the core of the chakra, reaches the spine via its stalk, then flows along the tiny pathways of the etheric body which are connected with the physical nervous system. It finally returns to the chakras, moving outward in spirals through the periphery of the petals, in a constant intake and outflow. These spirals of energy become wider and wider during the circulation process, gradually blending and fading into the whole field of the etheric body, and then dispersing into the universal field, just as our expelled breath becomes part of the whole atmosphere of the earth.

Các luân xa không bao giờ tĩnh; tốc độ quay của chúng vừa nhanh vừa biến đổi theo tình trạng sức khoẻ và chất lượng dòng chảy. Toàn bộ quá trình này tương tự như cơ chế hô hấp, vì năng lượng cũng được con người hít vào và thở ra. Năng lượng đổ vào lõi trung tâm của luân xa, đến xương sống qua phần cuống, sau đó chảy dọc theo các đường dẫn nhỏ bé của thể dĩ thái được kết nối với hệ thần kinh cơ thể. Cuối cùng năng lượng quay trở lại các luân xa, di chuyển ra ngoài theo đường xoắn ốc thông qua các vòng xoáy của các cánh hoa, theo nhịp điệu vào ra đều đặn. Những xoắn ốc của năng lượng ngày càng mở rộng ra trong suốt quá trình tuần hoàn, dần dần lẫn vào và tan biến trong trường dĩ thái của toàn bộ cơ thể, và sau đó hòa lẫn vào trường vũ trụ, giống như hơi thở ra của con người trở thành một phần của toàn bộ bầu khí quyển trái đất.

The etheric chakras, which lie on the surface of the etheric body, vary greatly in shade, brightness, size, rapidity of motion, rhythm and texture, some being finer, some coarser, depending upon individual idiosyncrasy and state of health. For this reason, the disease process is very apparent in the chakras, since it both disrupts their harmonic motion and changes the texture of their material.

Các luân xa dĩ thái, nằm trên bề mặt của thể dĩ thái, rất khác nhau về màu sắc, độ sáng, kích cỡ, tốc độ chuyển động, nhịp điệu và kết cấu, một số mịn màng, một số thô nhám hơn, phụ thuộc vào khí chất cá nhân và trạng thái sức khoẻ. Vì lý do này, bệnh tật có biểu hiện rất rõ tại các luân xa, vì nó phá vỡ chuyển động hài hòa và thay đổi kết cấu của chúng.

The chakras also reveal a person’s quality of consciousness and degree of personal development and abilities, through the variations in the etheric centers and their interconnections with those at other levels. In a simple, rather undeveloped person, the chakras will be small in size, slow in movement, dull in color and coarse in texture. In a more intelligent, responsive and sensitive person they will be brighter, of finer texture and with a more rapid movement, and in an awakened individual who makes full use of his powers, they become coruscating whirlpools of color and light.

Các luân xa cũng cho thấy mức độ phát triển cá nhân và phẩm chất của tâm thức, cũng như năng lực của mỗi người, thông qua các biến thể trong các trung tâm dĩ thái và các mối liên hệ qua lại của chúng với những trung tâm ở cấp khác. Ở một người bình thường, chưa tiến hóa cao, các luân xa sẽ có kích thước nhỏ, chuyển động chậm, màu xám và kết cấu thô nhám. Ở một người thông minh, năng động và nhạy cảm hơn, các luân xa sẽ sáng hơn, kết cấu mịn hơn và chuyển động nhanh hơn, và ở một người đã thức tỉnh sử dụng hết năng lực nội tại của mình, các luân xa trở thành những vòng xoáy đầy màu sắc và sáng chói.

The major chakras of the etheric body are aligned along a vertical axis, the lower five lying parallel to the spinal cord, extending from the base of the spine to the skull, while the other two are located between the eyebrows and at the top of the head. (See pullout inside back cover.) This latter, the crown chakra, is usually larger than the others, and is the dominant seat of consciousness.

Các luân xa chính của thể dĩ thái được nằm dọc theo một trục thẳng đứng, năm luân xa dưới nằm song song với tủy sống, kéo dài từ xương cùng tới hộp sọ, trong khi hai luân xa còn lại một nằm giữa hai lông mày và một nằm ở đỉnh đầu. Luân xa đỉnh đầu thường lớn hơn các luân xa khác, và là điểm tập trung tâm thức.

In any one individual, some chakras may vary in size and brilliance, and this, together with the activity of their interconnections, indicates special talents and abilities. For example, the throat and brow centers of a talented singer or speaker will be much larger than the norm, as well as being brighter, more luminous and more rapidly spinning. In a quite different case the solar plexus center of a trance-medium will be enlarged but of a coarser texture, with dark colors and some dysrhythmia and looseness in the core. In a newborn baby, the chakras are usually about three centimeters in size and look like hard little disks.

Trong bất kỳ người nào, một số luân xa có thể khác nhau về kích thước và độ sáng, và điều này, cùng với các mối liên hệ tương tác của chúng, cho thấy những tài năng và năng lực đặc biệt. Chẳng hạn, luân xa cổ họng và luân xa trán của một người ca sĩ tài năng hoặc một diễn giả nổi tiếng sẽ lớn hơn nhiều so với người bình thường, chúng cũng sáng hơn, rực rỡ hơn và quay nhanh hơn. Trong một trường hợp hoàn toàn khác, luân xa tùng thái dương của người đồng cốt được mở rộng nhưng có kết cấu thô hơn, có màu sẫm, nhịp điệu không đều đặn và phần lõi trung tâm lỏng lẻo. Ở trẻ sơ sinh, các luân xa thường có kích thước khoảng ba centimet và trông giống như những chiếc đĩa nhỏ và cứng.

Each of the centers has special links with certain organs of the body, as well as with certain states of consciousness (described later). However, as Arthur Avalon pointed out in his classic on kundalini called The Serpent Fire, it should be remembered that although correlations are appropriate, definite identification of the chakras with particular physical organs can be misleading, for the chakras are subtle vital energy centers, which exist while the body is alive and disappear at death; thus they are material, but not physical in the ordinary sense of the word.

Mỗi luân xa có liên kết đặc biệt với một số cơ quan của cơ thể, cũng như với các trạng thái tâm thức nhất định (được mô tả trong phần sau). Tuy nhiên, như Arthur Avalon đã chỉ ra trong cuốn sách kinh điển của ông về kundalini—Luồng Xà Hỏa, cần phải nhớ rằng mặc dù sự tương quan là hoàn toàn thích hợp, việc xác định rõ ràng luân xa nào gắn liền với các cơ quan cụ thể nào có thể gây hiểu nhầm, vì các luân xa là các trung tâm năng lượng tinh tế tồn tại khi cơ thể còn sống và biến mất khi con người chết đi; Do đó chúng là vật chất, nhưng không thể hiện theo nghĩa thông thường của từ này.

With this caveat in mind, we can say that in general our studies have shown that the endocrine glands are related to the seven etheric chakras (see pullout). Certainly the intricate relationships among these chakras, as well as those on other levels, bear a close resemblance to the functional interconnectedness of the endocrine system. In fact, the interaction of all the fields with the physical body is a beautifully integrated system which originates in and is sustained by the energy patterns of the chakras in the etheric, astral and mental vehicles.

Với những hiểu biết này, có thể nói rằng nói chung các nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng các tuyến nội tiết có liên quan đến bảy luân xa dĩ thái. Chắc chắn các mối quan hệ phức tạp giữa các luân xa này, cũng như các luân xa ở các thể khác, khá giống với sự liên kết chức năng của hệ thống nội tiết. Trong thực tế, sự tương tác của tất cả các trường năng lượng với cơ thể vật lý là một hệ thống tích hợp hài hòa bắt nguồn và được duy trì bởi các mô hình năng lượng của các luân xa trong thể dĩ thái, cảm dục và thể trí.

The various chakras also indicate the primary emphasis in an individual—the focus of the “I.” For example, if a person identifies principally with feelings, the solar plexus and heart center will be more active and prominent than the others. If the brow center is very bright, this indicates a degree of personal integration; if the crown center is especially luminous, it signifies the development of spiritual awareness. The level of activity of the etheric chakras and the degree of sensitivity of their interconnections with their emotional and mental counterparts determine an individual s potential for the development of higher sense perception.

Các luân xa khác nhau cũng chỉ ra trọng điểm chính yếu trong mỗi con người—trọng tâm của “cái tôi.” Ví dụ, nếu một người thiên về cảm xúc, thì luân xa tùng thái dương và luân xa tim sẽ hoạt động mạnh mẽ và nổi bật hơn các luân xa khác. Nếu luân xa trán sáng chói, điều này là biểu hiện cho một mức độ tích hợp phàm ngã cao; Nếu luân xa đầu đặc biệt rạng rỡ, nó biểu thị sự phát triển của nhận thức tinh thần. Mức độ hoạt động của các luân xa dĩ thái và mức độ nhạy cảm của các mối liên hệ của chúng với các luân xa đối ứng ở thể cảm dục và thể trí xác định tiềm năng phát triển nhận thức cao hơn của mỗi người.

The thread of waking consciousness is connected with the core of the crown chakra. During sleep, this flow of energy diminishes, to be reactivated at the moment of awakening. The life thread, however, connects the heart chakra to the physical heart, and this connection is unbroken throughout life. At the time of death, the thread of consciousness withdraws from the crown center, and the thread of life withdraws from the heart, signalling the disintegration of all the other chakras. Thus at death all the interconnections are broken; the etheric body is first loosened from the physical body, then separates, and disintegrates within a few days after death under normal conditions.

Sợi chỉ tâm thức thức tỉnh gắn liền với lõi trung tâm của luân xa đỉnh đầu. Trong giấc ngủ, luồng năng lượng ở đây giảm xuống, và được kích hoạt lại khi tỉnh thức. Tuy nhiên sợi chỉ sự sống kết nối luân xa tim với trái tim của cơ thể, và kết nối này không bị gián đoạn trong suốt cuộc đời. Vào lúc chết, sợi chỉ tâm thức rút khỏi luân xa đỉnh đầu, và sợi chỉ của sự sống rút khỏi trái tim, báo hiệu sự tan rã của tất cả các luân xa khác. Như vậy khi chết tất cả các kết nối bị phá vỡ; thể dĩ thái trước tiên nới lỏng liên kết khỏi cơ thể vật lý, sau đó tách ra, và tan rã trong vòng vài ngày sau khi chết trong điều kiện bình thường.

To sum up, the principal functions of the etheric chakras are to absorb and distribute prana or vital energy to the etheric body and, through it, to the physical body, and to maintain dynamic connections with the corresponding chakras in the emotional and mental bodies. One of the functions of the chakras is to coordinate the interaction among the various fields. The condition of the physical body is affected not only by the rate of etheric energy flow, but also by the degree of harmony in its rhythm, and any obstructions which deform the normal energy patterns result in loss of vitality and ill health.

Tóm lại, các chức năng chính của luân xa dĩ thái là hấp thu và phân phối prana hay sinh lực cho thể dĩ thái, qua nó đến cơ thể vật lý, và để duy trì các liên kết động với các luân xa tương ứng trong thể cảm xúc và thể trí. Một trong những chức năng của các luân xa là phối hợp sự tương tác giữa các trường năng lượng khác nhau. Tình trạng của cơ thể vật lý chịu ảnh hưởng không chỉ bởi tốc độ dòng năng lượng dĩ thái, mà còn bởi mức độ hài hòa theo nhịp điệu của chúng, và bất kỳ vật cản nào làm biến dạng các mô hình năng năng lượng bình thường đều dẫn đến mất sinh lực và sức khoẻ.

We shall now describe the principal chakras as they are perceived by DVK. The illustrations which we offer for reference on the pullout inside the back cover of this book are from The Chakras, a clairvoyant study by C.W. Leadbeater (Wheaton, IL: Theosophical Publishing House, [1927] 1987). Painted from Leadbeater’s descriptions, these illustrations of the chakras at the emotional level represent their structure and colors as well as possible in such a static medium, but unfortunately they totally fail to convey the dynamism of the centers and their constantly changing colors and rhythms.

Bây giờ chúng ta sẽ mô tả các luân xa chính theo những quan sát và nhận thức của bà DVK. Các minh hoạ mà chúng tôi đưa ra để tham khảo có trong các tờ rời ở bìa sau cuốn sách này được lấy từ cuốn The Chakras – Luân Xa, một nghiên cứu thông nhãn của ông C.W. Leadbeater (Wheaton, IL: Nhà xuất bản Thông Thiên Học, [1927] 1987). Những hình minh họa này được vẽ lại theo mô tả của ông Leadbeater, là những minh hoạ về các luân xa ở thể cảm dục, thể hiện cấu trúc và màu sắc của chúng tối đa có thể được thông qua một trung gian tĩnh, rất tiếc là các hình vẽ này hoàn toàn không truyền tải được tính năng động của các luân xa và những thay đổi màu sắc và nhịp điệu liên tục của chúng.

The Crown Chakra—Luân xa đỉnh đầu

The topmost chakra is located about six centimeters above the crown of the head. Saucerlike in shape, it consists of 12 golden central petals, with a complex of 960 secondary petals arranged around them: thus it is called the “thousand-petalled lotus” in Indian Tantrism. These petals display all the colors of the rainbow, with violet predominating.

Luân xa trên cùng nằm cách đỉnh đầu khoảng sáu centimet. Nó giống hình cái đĩa, bao gồm 12 cánh hoa vàng ở trung tâm, với 960 cánh hoa phụ được sắp xếp xung quanh chúng, vì vậy nó được gọi là “hoa sen ngàn hoa” trong Mật tông Ấn giáo. Những cánh hoa này hiển thị tất cả các màu sắc của cầu vồng, với màu tím chiếm ưu thế.

In Indian Tantrism this, the sahasrara chakra, is described as the “special and highest seat of the Jiva, the soul,”4 and as such is distinguished from the other chakras which lie along the spinal column. It is most important and reveals both the spiritual quality of the individual and the state of his consciousness. The size, variation in color, speed of rotation, rhythm, degree of brilliance, texture and elasticity, as well as the development of the interconnections with other centers, all indicate the quality and character of the whole personality and the strength of its connection with the inmost self. If the core of the chakra shines very brilliantly, this usually indicates meditation is practiced.

Trong Mật tông Ấn giáo, luân xa sahasrara, được mô tả là “chỗ ngồi đặc biệt và cao nhất của linh hồn, Jiva”, và như vậy khác với các luân xa khác nằm dọc theo cột sống. Đó là luân xa quan trọng nhất và cho thấy cả phẩm chất tinh thần và trạng thái của tâm thức của mỗi cá nhân. Kích thước, sự thay đổi về màu sắc, tốc độ quay, nhịp điệu, độ sáng, kết cấu và độ đàn hồi, cũng như sự phát triển của các kết nối với các luân xa khác, đều cho thấy phẩm tính và tính chất của toàn bộ nhân cách và sức mạnh của mối liên hệ với tận cùng bản ngã. Nếu lõi trung tâm của luân xa tỏa sáng rực rỡ, điều này thường cho thấy người đó thực hành tham thiền đều đặn.

The size of the core, as well as its other characteristics, gives an indication of the individual’s ability to expand in consciousness, or even to achieve continuity of consciousness between the waking and sleeping states, for this is the center through which we normally exit in sleep. However, if the core is exceedingly elastic, this may make egress from the body too easy, as in the case of a medium who enters a trance unwittingly.

Kích thước của lõi cũng như các đặc điểm khác của nó cho thấy khả năng mở rộng tâm thức của mỗi người, hoặc thậm chí khả năng đạt được sự liên tục của ý thức giữa trạng thái thức và trạng thái ngủ, vì đây là trung tâm thông qua đó linh hồn thường thoát ra khi ngủ. Tuy nhiên, nếu lõi trung tâm quá đàn hồi, việc thoát ra khỏi cơ thể trở nên quá dễ dàng, như trong trường hợp một đồng tử rơi vào trạng thái thoát thần một cách vô thức.

This is the chakra, in other words, that reveals the stage of conscious evolution in the individual. The religious arts, both East and West, have portrayed this quality symbolically: the Lord Buddha is always depicted with a lofty projection at the top of his head that indicates enlightenment, while the halos of golden light which surround the heads of Christ and the saints symbolize their awakened spirituality. Govinda writes that this center, together with the next two, “go beyond the gross elements (mahabhuta) and represent higher dimensions of space, in which the quality of light... merges into the psychoenergetic state of prana and into the realm of cosmic consciousness.’ 5 For this reason the crown chakra is looked upon as belonging to a higher order than the other six centers, and is often not included in the list of the chakras, as in Arthur Avalon’s work on kundalini yoga, The Six Centers and the Serpent Power.

Nói cách khác, đây là luân xa cho thấy mức độ tiến hóa tâm thức của cá nhân. Ở cả phương Đông và phương Tây, nghệ thuật tôn giáo đã miêu tả tính chất này bằng hình tượng: đức Phật luôn được miêu tả với sự nhô cao trên đỉnh đầu của Ngài cho thấy sự giác ngộ, trong khi đó các tia sáng vàng bao quanh đầu Đức Christ và các thánh tượng trưng cho tinh thần giác ngộ của họ. Govinda viết rằng luân xa này, cùng với hai luân xa tiếp theo, “vượt xa các yếu tố thô trược (mahabhuta) và đại diện cho không gian cao hơn, trong đó phẩm tính ánh sáng... hòa nhập vào trạng thái năng lượng tinh thần của prana và vào tâm thức vũ trụ. “Vì lý do này, luân xa đỉnh đầu được xem có vị thế cao hơn sáu luân xa còn lại, và thường không nằm trong danh sách các luân xa, như trong tác phẩm của Arthur Avalon về kundalini yoga, Sáu Luân Xa và Sức mạnh luồng hỏa xà.

When the etheric interconnections between the crown and the brow centers are open and active, this indicates a degree of clairvoyance, and also that meditation and concentration are practiced. In the physical body, the connection with this center is mainly through the pineal gland, but it influences the whole brain.

Khi các liên kết dĩ thái giữa luân xa đỉnh đầu và luân xa trán mở rộng và hoạt động, điều này cho thấy một mức độ thông nhãn nhất định, và cũng chứng tỏ có thực hành tham thiền và định trí. Trong cơ thể vật lý, sự kết nối với luân xa này chủ yếu thông qua tuyến tùng, nhưng nó ảnh hưởng đến toàn não bộ.

At all stages of development, the crown chakra serves as the organ of synthesis.

Ở mọi giai đoạn phát triển, luân xa đỉnh đầu là cơ quan tổng hợp.

The Brow Chakra—Luân xa Trán

The brow center, or ajna chakra, is composed of ninety- six petals. Located in the center of the forehead midway between the eyes, it is especially interrelated with the crown center. Indeed, in some Tibetan scriptures it is not separately mentioned, but is regarded as part of the “thousand-petalled lotus.”

Luân xa trán, hay luân xa ajna, gồm chín mươi sáu cánh hoa. Nằm trên trán ở giữa hai mắt, nó đặc biệt liên quan đến luân xa đỉnh đầu. Thật vậy, trong một số tài liệu kinh điển Tây Tạng, mặc dù không được đề cập cụ thể, nhưng luân xa trán được xem như là một phần của “hoa sen ngàn cánh”.

In structure, the brow chakra differs from the other centers in that it appears to be divided into two segments, one half colored rose and yellow, the other blue and purple. (Probably because of this peculiarity, it is described in Indian literature as having two petals.) This center is linked with the pituitary gland; interestingly, this gland is also composed of two parts, each of which has a separate function. This is the chakra which is mainly concerned with the integration of ideas and experience with the capacity for organization. (In Indian Tantrism it is said to embody the tattvas of mind and prakriti or primary substance.) It is the organ of visualization and the center of perception, which may be directed upward toward higher things or downward to the mundane world; it thus reflects the twofold nature of the mind.

Trong cấu trúc, luân xa trán khác với các luân xa khác ở đặc điểm nó có hình dáng được chia thành hai phần, một nửa màu hồng và vàng, nửa kia màu xanh và tím. (Có lẽ vì đặc thù này, nó được mô tả trong Kinh sách Ấn Độ là gồm hai cánh hoa.) Luân xa này có liên quan với tuyến yên; Điều thú vị là tuyến này cũng bao gồm hai phần, mỗi phần có một chức năng riêng biệt. Đây là luân xa chủ yếu liên quan đến việc tích hợp các ý tưởng và kinh nghiệm với năng lực tổ chức. (Trong Mật tông Ấn giáo, nó được coi là biểu tượng của tattvas của thể trí và prakriti hay chất liệu chính.) Nó là cơ quan của hình dung và là trung tâm của nhận thức, có thể hướng lên những điều cao hơn hoặc hướng xuống thế giới trần tục; Nó phản ánh tính nhị nguyên của tâm thức.

If the etheric brow chakra is well developed and its interconnections with its astral counterpart are open and active, then clairvoyance of a higher order is possible. When it is interconnected primarily with the throat center, this indicates an active use of the creative imagination.

Nếu luân xa trán của thể dĩ thái phát triển mạnh và các kết nối của nó với luân xa đối ứng ở thể cảm dục được khai mở và hoạt động, việc thông nhãn tới các cõi cao hơn có thể diễn ra. Khi nó được kết nối chủ yếu với luân xa cổ họng, điều này cho thấy việc sử dụng tích cực trí tưởng tượng sáng tạo.

The Throat Chakra—Luân xa Cổ họng

The throat center (visuddha chakra), which is situated just in front of the base of the neck, is silvery blue in color (white in the Indian system) and has sixteen petals. In Buddhist Tantrism, it is associated with the quality of space (akasa), the substrate of sound, and the medium of vibration. It is usually about six centimeters in diameter, but becomes much larger in the case of those who use the voice a great deal; it is brighter and faster-moving in singers and those practiced in public speaking. It is also prominent in musicians and composers, and indeed in those engaged in creative work of any kind, for this chakra indicates a sensitivity to color and form as well as sound and rhythm. It could be said that the creative aspect of the self is transmitted from the brow chakra, where it is conceptualized, to the throat chakra, where it is vitalized.

Luân xa cổ họng (luân xa visuddha), nằm ngay phía trước cổ họng, có màu xanh bạc (màu trắng theo cách mô tả của các kinh sách Ấn Độ) và có mười sáu cánh hoa. Trong Phật giáo Mật tông, nó liên quan đến phẩm chất không gian (akasa), chất nền của âm thanh và môi trường rung động. Nó thường có đường kính khoảng sáu centimet, và lớn hơn ở những người sử dụng nhiều tới phát âm hay giọng nói; đối với các ca sĩ và những diễn giả nói trước công chúng, luân xa này chuyển động nhanh hơn và sáng hơn. Nó cũng nổi bật ở các nhạc sĩ và nhà soạn nhạc, và thực tế là ở những người liên quan tới công việc sáng tạo ở bất kỳ thể loại nào, vì luân xa này cho thấy sự nhạy cảm với màu sắc và hình dạng cũng như âm thanh và nhịp điệu. Có thể nói khía cạnh sáng tạo của bản ngã được truyền từ luân xa trán, nơi nó được khái quát hóa, tới luân xa cổ họng, nơi nó được tiếp thêm sức sống.

The throat center has links with the crown and brow chakras in certain states of expanded consciousness, and is especially important with respect to the interconnections between the mental and the etheric fields.

Luân xa cổ họng có liên kết với luân xa đỉnh đầu và luân xa trán trong một số trạng thái tâm thức mở rộng, và đặc biệt quan trọng đối với sự kết nối giữa các trường trí tuệ và trường dĩ thái.

The throat chakra’s connections with the physical body are through the thyroid and parathyroid glands, to which it supplies energy. From the clairvoyant’s point of view, a clear color and a steady rhythm in the etheric throat center indicate a healthy thyroid.

Luân xa cổ họng liên kết với cơ thể vật lý thông qua tuyến giáp và tuyến cận giáp, những nơi nhận năng lượng cung cấp từ luân xa này. Theo quan điểm của những người có thông nhãn, màu sắc rõ ràng và nhịp điệu đều đặn của luân xa cổ họng cho thấy tuyến giáp khỏe mạnh.

The Heart Chakra—Luân xa tim

The heart center (anahata chakra) is situated at a point midway between the shoulder blades. It is about six centimeters in diameter in the average person, and is composed of twelve petals of a glowing golden yellow. (In Tantrism, its color is described as “smoky.”) When the color is clear and the rhythm steady, this indicates a healthy heart condition and a vital physical body. In Tantrism, its characteristic quality is said to be motion.

Luân xa tim (luân xa anahata) nằm ở chính giữa hai bả vai. Nó có đường kính trung bình khoảng sáu centimet và bao gồm 12 cánh hoa màu vàng kim rực rỡ. (Trong Mật tông, nó được mô tả là có màu “khói.”) Khi màu sắc rõ ràng và nhịp điệu ổn định, điều này cho thấy một trái tim khỏe mạnh và một cơ thể vật lý tràn đầy sức sống. Trong Mật tông, phẩm tính đặc trưng của luân xa này được cho là sự chuyển động.

This chakra is linked with the higher dimensions of consciousness and with one’s sense of being, and as noted above it has a close relationship with the twelve golden petals within the crown chakra. The heart center registers the quality and power of love in the individual’s life. When a person has transformed personal desires and passions into a wider and more universal compassion and love for his fellows, the heart becomes the focus of energies which were formerly concentrated in the solar plexus. In meditation, the student is encouraged to focus on the heart center, in order to strengthen its connection with the core of the crown chakra. This brings about a state of true balance in the body, for the heart center is really the point of integration in the whole chakra system, and therefore has an important overall balancing effect. The heart center acts as a primary factor in spiritual transformation.

Luân xa này gắn liền với những chiều đo cao hơn của tâm thức, và như đã nói ở trên, nó có mối quan hệ gần gũi với mười hai cánh hoa vàng kim trong luân xa đỉnh đầu. Luân xa tim cho biết chất lượng và sức mạnh của lòng bác ái trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Khi một người đã chuyển hóa ham muốn và các đam mê cá nhân thành ước nguyện và tình yêu thương rộng lớn với đại đồng, luân xa tim sẽ trở thành tâm điểm của các dòng năng lượng trước đó tập trung ở luân xa tùng thái dương. Trong tham thiền, học viên được khuyến khích tập trung vào luân xa tim, để tăng cường kết nối với lõi trung tâm của luân xa đỉnh đầu. Điều này mang lại trạng thái cân bằng thực sự trong cơ thể, vì luân xa tim thực sự là điểm tích hợp trong toàn bộ hệ thống các luân xa, và do đó mang lại một hiệu quả cân bằng quan trọng. Luân xa tim hoạt động như một yếu tố chính trong quá trình phát triển tinh thần.

In the physical body, there is a relationship between the heart chakra and the thymus gland, and through it with the immune system. This center is of course related as well with the functioning of the physical heart.

Trong cơ thể vật lý, có một mối liên hệ giữa luân xa tim và tuyến ức, và thông qua đó tới hệ miễn dịch. Luân xa này cũng có liên quan đến chức năng hoạt động của trái tim.

The Solar Plexus Chakra—Luân xa Tùng thái dương

The solar plexus (manipura chakra) is situated in the area of the navel. It has ten petals, and under normal conditions it is multicolored, with light red and green predominating. Fluctuations in rhythm, hyperactivity, and disturbances in the color patterns of this center indicate a person who is overidentified with his emotions, and cannot easily control his feelings.

Luân xa Tùng thái dương (luân xa manipura) nằm gần vùng rốn. Nó có mười cánh hoa, và trong những điều kiện bình thường, nó có nhiều sắc màu, với màu đỏ tươi và xanh lá cây chiếm ưu thế. Biến động về nhịp điệu, chuyển động thái quá, và rối loạn trong màu sắc của luân xa này cho thấy một người quá thiên về tình cảm, và không thể kiểm soát được cảm xúc của mình.

This chakra is the most important with respect to the connection with the emotional field, since it is at this point that the astral energy enters the etheric field. It is also closely related to the heart and throat chakras.

Luân xa này là quan trọng nhất ở khía cạnh kết nối với trường cảm dục, bởi vì tại đây này năng lượng cảm dục đi vào trường dĩ thái. Nó cũng liên quan chặt chẽ đến luân xa tim và luân xa cổ họng.

In the life of an ordinary person, the solar plexus center is probably the most important and active of all the chakras, since it is very much involved in the emotional life. It is active in a person with strong desires, and plays an important role in the projection of personal energy. For this reason, when stress or emotional problems affect the digestive system, this indicates disturbance in the solar plexus area. As might be expected, the physical links with this chakra are principally with the adrenal glands and the pancreas, as well as with the liver and the stomach. This is the center through which most trance-mediums work, and is involved in many less developed types of clairvoyance.

Trong cuộc sống của một người bình thường, luân xa Tùng thái dương có lẽ là quan trọng nhất và hoạt động mạnh nhất trong số tất cả các luân xa, vì nó liên quan mật thiết đến đời sống tình cảm. Nó hoạt động mạnh ở một người có ham muốn mạnh mẽ, và đóng một vai trò quan trọng trong việc phóng chiếu năng lượng cá nhân. Vì lý do này, khi một người căng thẳng hoặc gặp các vấn đề về cảm xúc và ảnh hưởng đến hệ tiêu hoá, có thể quan sát thấy sự xáo trộn ở luân xa tùng thái dương. Có thể coi các liên kết vật lý của luân xa này chủ yếu là với tuyến thượng thận và tuyến tụy, cũng như với gan và dạ dày. Đây là luân xa thông qua đó diễn ra các hoạt động đồng cốt, và là liên quan đến các hình thức thông nhãn bậc thấp.

The Spleen Chakra—Luân xa Lá lách

Descriptions of the chakras vary, and in some traditions the center located above the spleen is listed as one of the seven principal centers; in others, it is considered to be subsidiary. In DVK’s observations, the spleen chakra is not perceived as a major chakra, but one which nevertheless plays an important role in the chakra system.

Luân xa này được mô tả khác nhau ở các tài liệu khác nhau, và trong một số giáo lý cổ, luân xa lá lách được coi là nằm phía trên lá lách và là một trong bảy luân xa chính; theo một số giáo lý khác, nó được coi là luân xa phụ. Trong các quan sát của bà DVK, luân xa lá lách không được coi là một luân xa chính, nhưng một trong cũng đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống luân xa.

This center has six petals or sections which display a whole spectrum of colors, with yellow and rose-red predominating. Its most important function is to absorb vitality from the general field, modify it, and then distribute it to the other centers. It is believed that each of the colors present in this chakra has a vibratory affinity with the other chakras in which that particular color is dominant (i.e. yellow with the heart, rose-red with the solar plexus, etc.), and that by this means the other chakras are continuously vitalized.

Luân xa này có sáu cánh hoa hay sáu phần với sắc màu phong phú, trong đó màu vàng và đỏ hoa hồng chiếm ưu thế. Chức năng quan trọng nhất của nó là hấp thu sinh khí từ trường năng lượng chung, biến đổi nó, và sau đó phân phối tới các luân xa khác. Người ta tin rằng mỗi màu sắc có trong luân xa này có mối quan hệ rung động với các luân xa khác tương ứng với từng màu chủ đạo (màu vàng tương ứng với luân xa tim, đỏ hoa hồng tương ứng với luân xa tùng thái dương...) và nhờ đó các luân xa khác được tiếp thêm sinh khí.

The spleen center is located at the left of the abdomen just below the tenth rib, and is connected with the spleen in the physical body. This center usually has a radiant and glowing appearance. Since it is the main transmitter of prana or life energy to the physical body, its most important function lies in its ability to absorb and distribute vitality.

Luân xa lá lách nằm ở bên trái bụng ngay dưới xương sườn thứ mười, và được nối với lá lách trong thân thể. Luân xa này thường có màu sắc tươi sáng và rực rỡ. Vì nó là bộ phận trung chuyển chính của prana hay sinh lực cho cơ thể vật lý, chức năng quan trọng nhất của nó là hấp thụ và phân phối sinh khí.

The Sacral Chakra—Luân xa Xương cùng

In Indian Tantrism, the source from which most of our knowledge of the chakras derives, there are said to be six major centers in the body, plus the “thousand-petalled lotus” or sahasrara padma, which we have called the crown chakra. In addition there are many subsidiary centers. According to this system, there is a center (the svadhisthana chakra) in the sacral region which governs sexuality. Associated with its six petals, whose color is predominantly red (white in Tibetan Tantrism), are six vritti or states of consciousness: credulity, suspicion, disdain, delusion, false knowledge and pitilessness. (C.f. Arthur Avalon, The Serpent Power)

Trong Mật tông Ấn giáo, khởi nguồn kiến thức của chúng ta về luân xa, có sáu luân xa chính trong cơ thể, cộng với “hoa sen ngàn cánh” hay sahasrara padma, mà chúng ta gọi là Luân xa đầu. Ngoài ra còn có nhiều luân xa phụ. Theo hệ thống này, có một luân xa (luân xa svadhisthana) ở phần xương cùng điều khiển năng lượng tính dục. Tương ứng với sáu cánh hoa của luân xa này, với màu sắc chủ đạo là màu đỏ (theo mật tông Tây Tạng là màu trắng), là sáu vritti hay sáu trạng thái tâm thức: tính đáng tin, nghi ngờ, khinh thị, ảo tưởng, kiến thức sai lệch và sự tàn bạo. (theo Arthur Avalon, Sức mạnh Luồng Hỏa xà)

According to DVK, this center, like the spleen chakra, has important functions but is not a major center which affects the entire field in the same sense that the other six do. Since the focus of the investigations she and Shafica Karagullas did together centered primarily upon SK’s areas of medical interest, little work was done which involved the sacral chakra.

Theo bà DVK, luân xa này, giống như luân xa lá lách, có các chức năng quan trọng nhưng không phải là một luân xa chính ảnh hưởng đến toàn bộ trường năng lượng theo phương diện mà sáu luân xa khác thực thi. Vì trọng tâm của các cuộc nghiên cứu mà bà và bác sĩ Shafica Karagullas hợp tác thực hiện tập trung chủ yếu vào lĩnh vực y tế, không mấy quan sát và nghiên cứu được tiến hành liên quan đến luân xa xương cùng.

The Chakra at the Base of the Spine—Luân xa ở đáy cột sống, Luân Xa Gốc

The root center (muladhara chakra) which is situated at the base of the spine, has four petals of a clear orange- red. (In Tantric literature it is said to be connected with the element Earth, also yellow in color.) This center is spoken of as the source or habitat of the kundalini fire, which is coiled up, asleep, in the ordinary human being. The two channels of energy, ida and pingala, which rise on either side of the major spinal channel, called sushumna, originate in this center.

Luân xa gốc (luân xa muladhara) nằm ở đáy cột sống, có bốn cánh hoa màu đỏ cam tươi sáng. (Trong giáo lý Mật tông nó được coi là có mối liên hệ với nguyên tố Đất, cũng có màu vàng). Luân xa này được nhắc tới như là nguồn gốc hay nơi trú ngụ của luồng xà hỏa kundalini, được cuộn lại và nằm yên trong con người bình thường. Hai dòng năng lượng, ida và pingala, đi lên ở một trong hai bên cột sống, được gọi là sushumna, bắt nguồn từ luân xa này.

In order to understand the special character of this center, something should be said about the three spinal channels, as they have been identified in the Indian Tantric tradition. It has already been mentioned that the five chakras located in the trunk of the body are interconnected through their roots in the central channel of the spinal column. This central channel, the sushumna, originates at the base of the spine and mounts to the medulla oblongata at the base of the brain; it processes the inflow of energy from the etheric field. The other two channels, ida and pingala, also originate at the base of the spine and end at the base of the brain; they are associated with the outflow of energy.

Để hiểu được đặc điểm đặc biệt của luân xa này, cần phải nói về ba vận hà năng lượng, như chúng đã được xác định theo truyền thống Mật tông Ấn giáo. Theo giáo lý này, năm luân xa nằm trong cơ thể được kết nối với nhau thông qua gốc luân xa nằm trong dòng năng lượng trung tâm của cột sống. Dòng vận hà năng lượng trung tâm này, được gọi là sushumna, bắt nguồn từ phần xương cùng của cột sống và gắn kết với hành tủy ở đáy não bộ; Nó xử lý dòng năng lượng chảy vào từ trường dĩ thái. Hai dòng vận hà khác, ida và pingala, cũng bắt nguồn từ gốc cột sống và kết thúc ở đáy não bộ; chúng liên kết với dòng chảy ra của năng lượng.

Ida and pingala cross back and forth over the sushumna at the points where the five middle chakras are located. This interweaving looks like a living, vibrant caduceus, the ancient symbol of the physician and of the healing arts, which points toward some hidden perception of the pattern of health-giving energies.

Ida và pingala chạy cắt ngang qua lại sushumna tại những điểm chủ chốt hình thành nên năm luân xa chính. Sự giao thoa này giống như một caduceus sống động và rực rỡ – hình ảnh hai con rắn cuốn nhau, biểu tượng cổ của ngành y và của nghệ thuật chữa bệnh, điều này chỉ ra một số nhận thức tiềm ẩn về mô hình năng lượng cho sức khoẻ.

The center at the base of the spine, therefore, is particularly associated with the life energy. It is said to respond to that aspect of the self which is frequently called the will, which means the fundamental intentionality of the self. In the developed person, this energy, called kundalini, rises, becomes transmuted and is then linked to the crown chakra.

Do vậy, luân xa gốc đặc biệt liên quan đến năng lượng sống. Đặc điểm này của nó ứng đáp với khía cạnh ý chí của bản thể, tức là sự hữu ý nền tảng của bản thể. Ở những người tiến hóa cao, năng lượng này, được gọi là luồng xà hỏa kundalini, đi lên và chuyển hóa, sau đó được kết nối với luân xa đầu.

Subsidiary Chakras—Các luân xa phụ

In addition to the major chakras, there are said to be twenty-one minor distributing centers. We will not deal with these in detail, although it may be helpful for the inquirer to know of their existence. These minor centers, which are called nadis in Indian Tantrism, differ from true chakras in that they are primarily concentration points where there is a greater flow of energy. They are not associated with any particular glands. The only subsidiary centers which are noteworthy in the context of this study are those in the palm of each hand and in the sole of each foot, as these are important in the practice of healing or therapeutic touch.

Bên cạnh các luân xa chính, có hai mươi mốt luân xa phụ—các trung tâm phân phối nhỏ. Chúng tôi sẽ không bàn sâu chi tiết về các luân xa phụ, mặc dù người nghiên cứu cũng nên biết tới sự tồn tại của chúng. Những trung tâm nhỏ này, được gọi là nadis trong Mật tông Ấn giáo, khác với các luân xa thực sự ở chỗ chúng tập trung chủ yếu vào các điểm có lưu lượng năng lượng lớn. Chúng không liên quan tới bất kỳ tuyến nào trong cơ thể. Các luân xa phụ đáng lưu tâm trong nghiên cứu này là những luân xa trong lòng bàn tay và lòng bàn chân vì chúng rất quan trọng trong việc thực hiện phương pháp chữa bệnh bằng trường năng lượng – therapeutic touch.

The Chakra System—Hệ Luân Xa

The living process is rich and intricate, a dynamic compounding of many energies and levels of consciousness. The physical body, which represents the final consolidation of all these forces is as complex as the energies that shape and vivify it. Some indications of the play of these energies and their effects upon physical health and disease are the subject of our inquiry.

Quá trình sống rất phong phú và phức tạp, đó là một tổng hòa năng động của nhiều dòng năng lượng và mức độ phát triển tâm thức. Thân thể vật lý đại diện cho sự hợp nhất cuối cùng của tất cả các lực này cũng phức tạp như các năng lượng hình thành và tạo nên sự sống cho nó. Một số biểu hiện về cách vận hành của các năng lượng và ảnh hưởng của chúng lên sức khoẻ và bệnh tật là đề tài nghiên cứu của chúng tôi.

In physiology, it is recognized that the functions of the body comprise a finely organized and integrated system. If one could observe the energy pattern of the whole etheric body, including its chakras, it too would be seen as a complex but beautifully integrated, mathematically coordinated system. Therefore, if we could extend this concept of organization to include the chakras and their energies as part of the body’s functioning, our picture of what constitutes a human being would be much more complete.

Trong sinh lý học, người ta nhận thấy rằng các chức năng của cơ thể bao gồm một hệ thống tổ chức và tích hợp tinh vi. Nếu người ta có thể quan sát được mô hình năng lượng của toàn bộ thể dĩ thái, bao gồm cả các luân xa trên đó, người ta cũng sẽ thấy rằng nó cũng là một hệ thống kết hợp phức tạp nhưng chính xác và hài hòa. Vì vậy, nếu chúng ta có thể mở rộng khái niệm tổ chức để bao gồm các luân xa và năng lượng của chúng như là một phần của chức năng của cơ thể, chúng ta sẽ có một bức tranh hoàn thiện hơn nhiều về những gì kiến tạo nên con người.

VI. The Astral Body and the Emotions—VI. Thể Cảm dục và các Xúc cảm

The astral body is the individual field or vehicle of feeling, and as such it acts as a bridge between the mind and the physical body. The word “astral” was first used by Paracelsus in the sixteenth century to denote the etheric or vital field, because of its luminous and sparkling appearance. However, in time the use of the word and its meaning changed, and by now it is associated with the level of the emotions, or of thought colored by feelings.

Thể cảm dục (astral) là trường hay dẫn thể cảm xúc của cá nhân, và nó hoạt động như một cầu nối giữa thể trí và cơ thể vật lý. Từ “astral” được nhà chiêm tinh học Paracelsus sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ XVI để chỉ trường dĩ thái hay trường sinh lực bởi sự chói sáng và lấp lánh của nó. Tuy nhiên, theo thời gian, cách sử dụng và ý nghĩa của nó thay đổi, và giờ đây, từ này có liên quan tới cấp độ tình cảm, hoặc tư tưởng mang màu sắc cảm xúc.

We are aware that there are many kinds of energy at the physical level which interpenetrate the same space without interfering with each other. There are electromagnetic waves such as light waves and radio waves, sound waves, and many others. When the word “higher” is used in connection with wave phenomena, it does not mean “better” or even “more refined”; it simply signifies that the energies under considerastion are characterized by a higher frequency or rate of vibration. It is much like the difference between middle C and high C on a piano. Similarly, the words “above” and “below” are really inadequate to describe a condition wherein etheric, emotional and mental fields interpenetrate each other at every point.

Chúng ta nhận ra rằng có rất nhiều loại năng lượng ở mức độ vật lý thâm nhập trong cùng một không gian mà không ảnh hưởng lẫn nhau. Có nhiều loại sóng điện từ như sóng ánh sáng, sóng vô tuyến, sóng âm thanh, và nhiều sóng khác. Khi từ “cao hơn” được sử dụng để mô tả hiện tượng sóng, nó không có nghĩa là “tốt hơn” hoặc “tinh tế hơn”; Nó đơn giản chỉ ra rằng các năng lượng đang được nghiên cứu có tần số hoặc mức độ rung động cao hơn. Nó giống như sự khác biệt giữa nốt Đô (nốt C) ở quãng cao và quãng trung trên đàn piano. Tương tự, những từ “trên” và “dưới” thực sự không đủ để mô tả một trạng thái trong đó trường dĩ thái, cảm dục và trí thâm nhập lẫn nhau ở mọi điểm.

Each of these fields has its own specific qualities. For example, all our emotions, moods and impressions are possible because we are embedded in a universal field called the astral, whose condition is feeling. This statement will not be startling to those who have accustomed themselves to the idea that all life is accompanied by a degree of conscious response to the environment, which enables living entities to process information and thus grow and develop. Such conscious response is always accompanied with feeling, whether of pleasure or pain, attraction or fear.

Mỗi trường này đều có những đặc tính riêng. Ví dụ, tất cả cảm xúc, tâm trạng và ấn tượng của con người là do chúng ta được nhúng trong một trường vũ trụ được gọi là cảm dục, một môi trường quyết định mọi cảm giác. Phát biểu này sẽ không gây sửng sốt cho những ai đã quen với ý tưởng rằng toàn bộ cuộc sống đều đi kèm với một mức độ phản ứng có ý thức đối với môi trường, cho phép các thực thể sống xử lý thông tin và nhờ đó tăng trưởng và phát triển. Sự đáp ứng hữu thức như vậy luôn luôn đi kèm với cảm giác, cho dù là niềm vui hay đau đớn, thích thú hay sợ hãi.

Thus the astral or emotional field is truly universal. It is a fluid world of fast-moving energies, shimmering with color and full of symbols and images that move us with their beauty or fill us with fear and anxiety, since it can be responsive to false and negative ideas as well as to those which are noble and uplifting. But in every case the emotional field is an intrinsic component of human life which needs to be understood and appreciated for what it is.

Do vậy, trường astral hay trường cảm dục thực sự là phổ quát. Đó là một thế giới linh hoạt của những dòng năng lượng chuyển động nhanh, lấp lánh màu sắc, đầy biểu tượng và hình ảnh khiến chúng ta rung động với vẻ đẹp mỹ miều của chúng hoặc làm cho chúng ta sợ hãi và lo lắng vì nó có thể đáp ứng những ý tưởng sai lệch và tiêu cực cũng như những gì cao quý và thúc đẩy. Nhưng trong mọi trường hợp, trường cảm dục là một phần nội tại của cuộc sống con người cần được hiểu và đánh giá đầy đủ ý nghĩa mà nó mang lại.

Within the universal field, every person has an individual emotional field, sometimes called the aura or the astral body.6 We all write the story of our lives—a record of loves and hates, successes and disappointments, courage, sacrifice and aspiration—in this individual field of the emotions. There are the scars of past sorrows, as well as the bright record of hopes fulfilled. While the individual aura is a picture of all that one feels and has felt, it is a moving picture, not a static one, for it reflects both potentialities realized and possibilities unfulfilled, as well as the dynamics of the here and now. Those who have been near to death testify that their whole life passed in review before their eyes in a blinding flash, signaling that our past is always in some way present in us. The emotional field is permeated by energy, as are the physical fields, but in this case it is moving much more rapidly, and is therefore perceived as a higher octave of color and sound. The form of the individual emotional field (the astral body, or aura) has certain structural features which correspond to those of the etheric field and the physical body itself. To the clairvoyant, this structure appears as a multicolored aura extending thirty- nine to forty-five centimeters (fifteen to eighteen inches) beyond the physical body. It looks rather like an ovoid, luminous cloud surrounding the body, as though the individual were suspended inside a semitransparent bubble of changing colors and patterns.

Trong trường vũ trụ, mỗi người đều có một trường cảm xúc cá nhân, đôi khi được gọi là hào quang hay thể cảm dục. Tất cả chúng ta đều viết câu chuyện đời mình – ghi lại những yêu và ghét, thành công và thất vọng, can đảm, hy sinh và khát vọng—trong trường cảm xúc cá nhân này. Ở đó có những nỗi buồn trong quá khứ đã thành sẹo, cũng như dấu ấn rạng rỡ của những ước vọng được thực thi. Mặc dù hào quang cá nhân là hình ảnh của tất cả những cảm xúc đang và đã trải qua, đó là một bức tranh sống động, không hề tĩnh tại, vì nó phản ánh cả những tiềm năng được khai phá, những kế hoạch chưa được hoàn thành, cũng như sự biến đổi không ngừng của hiện tại và nơi đây. Những người trải qua kinh nghiệm cận tử đều xác nhận rằng thước phim về cả cuộc đời họ trải ra trước mắt trong ánh sáng chói lọi, một điều cho thấy quá khứ của chúng ta luôn tồn tại trong ta. Cũng giống như các trường vật lý, trường cảm dục thấm đẫm năng lượng, nhưng nó chuyển động nhanh hơn nhiều, và do đó được coi là một phổ màu sắc và âm thanh cao hơn một bát độ (octave). Hình thức của trường cảm xúc cá nhân (thể hay hào quang cảm dục) có một số đặc điểm cấu trúc tương ứng với các trường dĩ thái và chính cơ thể vật lý. Đối với người có thông nhãn, cấu trúc này xuất hiện như một hào quang nhiều màu, vươn ra khoảng từ 39 đến 45 cm bên ngoài cơ thể vật lý. Trông nó khá giống một đám mây hình trứng sáng rỡ bao quanh cơ thể, như thể người đó đang treo lơ lửng trong một bong bóng bán trong suốt với những màu sắc và hoa văn thay đổi.

These colors indicate not only the quality but also the intensity of the individual’s feelings, and whether they are habitual or momentary. Therefore, inner conflicts can be perceived by noting the shade, clarity and position of the colors. Over the years, DVK has learned to distinguish the significance of many shades of colors and the degree of their purity or admixture with other tones.

Màu sắc của hào quang cho thấy không chỉ phẩm tính mà còn cả cường độ của cảm xúc cá nhân, và chúng là thói quen hay chỉ là cảm xúc tạm thời. Do đó, xung đột nội tại trong mỗi người có thể được ghi nhận thông qua sắc thái, mức độ rõ ràng và vị trí của màu sắc. Qua nhiều năm, bà DVK đã học được cách phân biệt ý nghĩa của nhiều sắc thái màu sắc cũng như mức độ tinh khiết hoặc pha trộn với các tông màu khác.

The texture of the “astral body” is flexible—often described as fluidic—and has the capacity to expand to a considerable extent, but the periphery is clearly marked, even though the material dissipates imperceptibly into the surrounding astral field. The rhythm of the aura is also significant, as it indicates the degree and kind of interaction with the etheric and mental fields. In health the shape is uniform and well defined, not ragged or wavy at the edges. The section above the diaphragm usually indicates the individual’s potential—sometimes developed, sometimes not—and the colors in this part of the aura are usually lighter and less intense. The part below the diaphragm indicates ongoing and active experiences, and here the colors are usually darker, and the texture heavier and more granular. It is impossible to say as yet whether the universal law of gravity may operate in the astral world or not, but it is a fact that the heavier or coarser feelings seem to gravitate to the lower portion of the astral field, while the higher, more expansive feelings are located above the region of the heart.

Kết cấu của “thể cảm dục” rất linh hoạt—thường được mô tả như chất lỏng—và có khả năng mở rộng đáng kể, nhưng ngoại vi được thể hiện rõ ràng, ngay cả khi chất liệu của nó hòa lẫn vào trường cảm dục bao quanh không thể nhận ra. Nhịp điệu của hào quang cũng rất quan trọng, vì nó cho thấy mức độ và cách thức tương tác với các trường dĩ thái và thể trí. Ở một người khỏe mạnh, hình dạng của hào quang đồng nhất và rõ ràng, không bị rách hoặc lượn sóng ở diền. Phần hào quang phía trên cơ hoành thường cho biết tiềm năng của cá nhân—đôi khi phát triển, đôi khi không—và thường có màu sáng hơn, ít đậm đặc hơn. Phần bên dưới cơ hoành cho thấy những trải nghiệm đang diễn ra, và ở đây màu sắc thường tối hơn, và kết cấu nặng hơn và chi tiết hơn. Không thể nói là liệu luật hấp dẫn phổ quát có hoạt động trong thể cảm dục hay không, nhưng thực tế là cảm giác nặng hơn hoặc thô hơn dường như bị hút xuống phần dưới của trường cảm dục, trong khi những cảm xúc thanh hơn, mở rộng hơn nằm phía trên vùng tim.

All these characteristics offer clues to individual idiosyncrasies, and reveal the presence of abnormalities. In our investigations, we regularly used a checklist against which to register our observations. This included seven categories: quality (type of energy, density of substance, purity of tone), texture, form (whether symmetrical or asymmetrical), color (and its location within the aura), movement (whether rhythmic or turbulent), relationship (to the etheric and mental bodies), and luminosity.

Tất cả những đặc điểm này hé lộ đặc điểm về phẩm tính cá nhân, và cho thấy những bất thường nếu có. Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi thường sử dụng một danh sách liệt kê để ghi nhận các quan sát. Danh sách này bao gồm bảy mục: phẩm tính (loại năng lượng, mật độ, độ tinh khiết của tông màu), kết cấu, hình dạng (đối xứng hoặc bất đối xứng), màu sắc (và vị trí của nó trong hào quang), sự chuyển động (nhịp nhàng hay hỗn loạn), mối quan hệ (với thể dĩ thái và thể trí), và độ sáng.

The primary characteristic of the aura is dynamism: it is a kaleidoscopic pattern of colors, whose shading and brilliance denote the quality of the emotions. In the average person these vary according to mood, and therefore the colors wax and wane, lighten and darken, and the energies which impel them are in constant motion. For example, an individual who is happy in the presence of a dear friend will display a harmonious pattern of colors suffused with a lovely rose-pink, while during meditation or prayer, the colors may be overlaid with blue and gold. Anger flashes red through the aura like a bolt of lightning, while grief overlays the whole field with a cloud of gray.

Đặc điểm chính của hào quang là tính biến động: màu sắc của nó biến đổi như nhìn qua một chiếc kính vạn hoa, sắc thái và độ chói sáng cho thấy phẩm tính của cảm xúc. Ở một người bình thường, những đặc điểm này thay đổi theo tâm trạng, và do đó màu sắc lúc óng ả, lúc mờ nhạt, khi sáng khi tối, và năng lượng kích thích chúng biến đổi liên tục. Ví dụ, một người hạnh phúc vì gặp mặt bạn thân sẽ biểu hiện qua hoa văn hài hoà với màu hồng đáng yêu, còn khi tham thiền hay cầu nguyện, màu sắc có màu vàng và xanh biển. Tức giận sẽ cho thấy những tia màu đỏ ở hào quang giống như tia chớp, trong khi nếu đang đau khổ cả trường năng lượng phủ một đám mây màu xám.

There are, however, basic colors which characterize the innate emotional condition or capacity of the individual, and these usually change very slowly. Also, emotions that are sustained over a long period of time remain fairly constant in the aura. If they are negative, such as depression or resentment, they can affect the flow of energy, and this has long-range effects in terms of the condition of the etheric and physical bodies. For example, states of anxiety appear as grayish-blue clouds within the astral field, localized toward the center of the body near the solar plexus chakra. This causes the astral energy to flow inward toward the body, inhibiting the normally free circulation of energy throughout the emotional field. The closer the gray-blue color is to the physical body, the more severe the degree of anxiety and the greater the degree of its impact upon health. When this color tends towards the periphery of the aura, this indicates that the subject is on the way to freeing himself of his anxiety. The activity in the field of the emotional body can be compared to changing conditions in the atmosphere of the earth, when observations from weather satellites verify the areas in which storms are raging. In much the same way, the clairvoyant can perceive the emotional storms which trouble an individual as they disturb his aura.

Tuy nhiên, có những màu cơ bản đặc trưng cho tình trạng hay mức độ cảm xúc bẩm sinh của mỗi người, và những đăc điểm này thay đổi rất chậm. Ngoài ra, những cảm xúc được duy trì trong một khoảng thời gian dài cũng tạo ra những đặc trưng khá bền vững trong hào quang. Nếu chúng tiêu cực, như trầm cảm hoặc oán hận, chúng có thể ảnh hưởng đến dòng năng lượng, và điều này có những ảnh hưởng sâu rộng tới tình trạng của thể dĩ thái và thể xác. Ví dụ, các trạng thái lo âu xuất hiện như những đám mây xanh xám trong trường cảm dục, được tập trung về phía trung tâm của cơ thể gần luân xa tùng thái dương. Điều này làm cho năng lượng cảm dục chảy hướng vào cơ thể, ức chế sự tuần hoàn thông suốt thường có trong toàn bộ trường cảm xúc. Phần xanh xám càng gần với cơ thể vật lý, mức độ lo lắng càng nặng và mức độ tác động của nó càng lớn đối với sức khoẻ. Khi màu này hướng về phía ngoại vi của vầng hào quang, điều này cho thấy sự lo lắng của người đó đang dần được giải tỏa. Hoạt động trong trường cảm dục có thể được so sánh với việc quan sát từ các vệ tinh khí tượng nhằm xác định các khu vực có bão đang hoành hành trong điều kiện bầu khí quyển trái đất liên tục đổi thay. Tương tự như vậy, người có thông nhãn có thể nhận biết được những cơn bão cảm xúc gây rắc rối cho một người khi chúng làm rối loạn vầng hào quang của y.

The colors in the region below the diaphragm indicate the more ordinary and sensate feelings—those which come into play in daily life—while those above this level, especially in the region around the head, indicate intellectual and spiritual qualities.

Màu sắc trong vùng dưới cơ hoành chủ yếu biểu lộ những cảm xúc thông thường—những gì diễn ra trong cuộc sống hàng ngày—trong khi màu sắc ở phía trên cơ hoành, đặc biệt ở vùng xung quanh đầu, cho thấy các đặc điểm mang tính trí tuệ và tinh thần.

When the feelings are not under the control or guidance of the self, or responsive to ethical principles, they can be wild and chaotic. In such cases, the person who identifies himself primarily with his emotions can be at the mercy of all its storms and stresses, swinging between extremes of love and hate, joy and sorrow, happiness and pain.

Khi cảm xúc không chịu sự kiểm soát hoặc hướng dẫn của bản thể, hoặc không đáp ứng các nguyên tắc đạo đức, chúng có thể xáo trộn và hỗn loạn. Trong những trường hợp như vậy, người đánh đồng bản thân với những cảm xúc của mình có thể phó mặc tất cả cho các cơn bão xúc cảm và căng thẳng, dao động giữa những thái cực của tình yêu và thù hận, niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau đớn.

Each human being is constantly creating waves and currents of emotional energy by the ways he responds to the world around him. In our immediate neighborhood, we “people” our space with our emotional images, whether positive, negative or neutral. In turn, these images crowd in upon us and encourage us to repeat the same feelings that fostered them. Thus we develop habitual emotional patterns. The material of the astral world is very impressionable, and responds quickly to the thought-forms or images which we imbue with our feelings. Such images may melt like snow in the sun and vanish, but others may be more enduring and stay with us a long time; these are often seen by clairvoyants surrounding their creator.

Mỗi người liên tục tạo ra những luồng sóng và dòng năng lượng cảm xúc thông qua những cách mà y phản ứng với thế giới xung quanh. Trong phạm vi lân cận, chúng ta “lấp đầy” không gian của chúng ta với những hình ảnh cảm xúc của mình, cho dù tích cực, tiêu cực hay trung tính. Đến phiên mình, những hình ảnh này ùa đến và thúc đầy chúng ta lặp lại những cảm xúc đã tạo ra chúng. Bằng cách đó, chúng ta phát triển các mô thức thói quen xúc cảm. Chất liệu của thế giới cảm dục rất nhạy cảm và phản ứng nhanh chóng với các hình tư tưởng hoặc hình ảnh mà chúng ta tạo ra thông qua cảm xúc. Những hình ảnh đó có thể tiêu tan như tuyết dưới ánh mặt trời và biến mất, nhưng có những hình ảnh khác có thể bền vững hơn và duy trì dài lâu trong chúng ta; những hình ảnh này thường được người có thông nhãn quan sát thấy xung quanh người tạo ra chúng

If we accept the idea that we are dynamic systems which are constantly receiving and radiating energy, we can understand the degree to which human beings affect one another’s emotional fields. This varies, of course, according to the inner stability and integration of the individual. When a person identifies himself with his emotions, he naturally responds readily to the emotions of others. He may be a warm and loving person, but he may also become the victim of other people’s emotional disturbances.

Nếu chấp nhận ý tưởng rằng chúng ta là những hệ thống năng động thường xuyên thu nhận và phát ra năng lượng, chúng ta có thể hiểu mức độ mà con người ảnh hưởng đến trường cảm xúc của nhau. Tất nhiên, điều này thay đổi tùy theo mức độ ổn định nội tại và sự tích hợp của cá nhân. Khi một người đánh đồng bản thân với cảm xúc của mình, y đáp ứng dễ dàng, tự nhiên với những cảm xúc của người khác. Y có thể là một người ấm áp và tràn đầy yêu thương, nhưng y cũng có thể trở thành nạn nhân của những rối loạn cảm xúc của người khác.

Over the years, humanity has produced a great deal of “smog’’ or debris in the emotional atmosphere. For example, the violence so prevalent in the world today is constantly adding to the pollution of this dimension of life. Those whose emotional attitudes respond to such negative frequencies may be thrown off balance by these disturbing influences, so that their tendencies toward violence become exacerbated. On the positive side, as we look at the emotional climate of the world today, we become aware of the many constructive forces at work. The desire for world peace, the concern for social justice, the compassion for victims of natural or economic disasters, the search for ways to prevent illness and alleviate human suffering—all these feelings resonate to healing forces in the universal emotional field and help create harmony and order.

Trải qua nhiều năm, nhân loại đã tạo ra rất nhiều “sương mù” hoặc rác rưởi trong bầu không gian cảm xúc. Ví dụ, bạo lực đang phổ biến trên thế giới ngày nay liên tục làm tăng thêm sự ô nhiễm của bầu không gian sống này. Những người có thái độ cảm xúc đáp ứng với những tần số tiêu cực như vậy có thể bị mất cân bằng bởi những ảnh hưởng xấu này, do đó xu hướng bạo lực của họ càng trở nên trầm trọng. Về mặt tích cực, khi chúng ta nhìn vào bầu không gian cảm xúc của thế giới ngày nay, chúng ta thấy rằng có nhiều mãnh lực kiến tạo đang hoạt động không ngừng nghỉ. Mong muốn hòa bình thế giới, mối quan tâm về công bằng xã hội, lòng trắc ẩn đối với nạn nhân thiên tai hoặc thảm hoạ kinh tế, nỗ lực ngăn ngừa bệnh tật và giảm bớt khổ đau cho con người—tất cả những cảm xúc này cộng hưởng với các nguồn lực chữa lành trong trường cảm dục vũ trụ, giúp tạo ra sự hài hòa và trật tự.

We might say, therefore, that the astral body of each one of us is the result both of individual emotional activity, whether or not consciously directed, and of interaction with other energies within the general astral field. Every person is in continuous exchange with other people and with the environment as a whole. This open exchange is critically important for health, for even a negative environment need not be damaging if the person involved keeps the interconnection open. The astral field, like all the rest, is universal, and therefore there are no real barriers within it, although local conditions can enhance or inhibit its flow. Thus there are always cleansing and energizing elements in every environment, even in such places as hospitals and prisons, for the individual can reach out beyond his immediate circumstances to the wholeness within nature.

Vì thế, chúng ta có thể nói rằng thể cảm dục của mỗi người là kết quả của cả hoạt động xúc cảm cá nhân, dù hữu thức hay vô thức, và mối tương tác với các năng lượng khác trong trường cảm dục nói chung. Mọi người đều có mối liên giao không ngừng nghỉ với người khác và với môi trường nói chung. Sự trao đổi cởi mở này rất quan trọng đối với sức khoẻ, thậm chí một môi trường tiêu cực cũng không phải là gây tổn hại nếu người tham gia tiếp tục duy trì sự kết nối. Giống như tất cả các trường khác, trường cảm dục là phổ quát, và do vậy trong nó không có rào cản thực sự, mặc dù điều kiện cục bộ có thể tăng cường hoặc ngăn trở dòng chảy của nó. Theo đó luôn có những yếu tố thanh lọc và tăng cường năng lượng trong mọi môi trường, ngay cả ở những nơi như bệnh viện và nhà tù, vì mỗi người đều có thể vượt ra ngoài hoàn cảnh hiện tại của mình để hòa vào một tổng thể tự nhiên.

Nevertheless, we draw those elements of the environment towards us to which we are habituated, as like attracts like. Conscious emotional activity establishes patterns of interaction that can, over a period of time, modify an individual’s aura. The personal aura or astral body is also affected by the impact of the many types of emotions impinging upon it. Thus our astral environment has subtle but marked effects upon us.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thu hút các yếu tố trong môi trường về phía mình, vì những gì giống nhau sẽ thu hút nhau. Hoạt động xúc cảm hữu thức thiết lập các mô hình tương tác có thể tạo nên sự thay đổi trong hào quang của một người sau một khoảng thời gian. Hào quang cá nhân hoặc thể cảm dục cũng chịu tác động bởi nhiều loại cảm xúc ảnh hưởng đến nó. Do đó, môi trường cảm dục của chúng ta có những ảnh hưởng tinh vi nhưng rất đáng kể lên chúng ta.

Emotional energy is a powerful force which can be constructive or destructive, depending upon its use. When controlled and guided by the self, it can become a truly creative force for change and growth. At the present stage in human development, it is not usually perceived in these terms, but current interest in meditation is beginning to show us the power of positive emotions, such as love, to effect self-transformation.

Năng lượng cảm xúc là một nguồn sức mạnh có thể xây dựng hoặc phá hủy, tùy thuộc vào việc sử dụng nó thế nào. Khi được kiểm soát và hướng dẫn bởi bản thể, nó có thể thực sự trở thành một nguồn lực sáng tạo cho sự thay đổi và tăng trưởng. Ở giai đoạn phát triển của con người hiện nay, vấn đề này thường không được hiểu theo nghĩa đó, nhưng sự quan tâm hiện tại đối với tham thiền đang bắt đầu cho chúng ta thấy sức mạnh của những cảm xúc tích cực, chẳng hạn như tình bác ái, đối với sự tự chuyển hóa.

Clairvoyants such as DVK are capable of perceiving the astral aura in great detail, but many other sensitives are able to experience the astral world in a general way. Sometimes such sensitivity is not under control, and this can create difficulties. For example, a person may consciously or unconsciously tune into the feelings of another person so powerfully that he physically feels the others pain and distress. Many nurses and would-be healers open themselves in this way, by empathizing and taking in the patient’s feelings. If the causes of this are unrecognized, such individuals may be considered hypochondriacs, because the physical symptoms can change constantly. On the other hand, such abilities could be of considerable value to a physician in diagnosing the source of an illness. A person can turn a disturbing faculty which may cause emotional exhaustion into a valuable talent, if he realizes that he possesses a type of higher sense perception which can be brought under control.

Những người có thông nhãn như bà DVK có thể nhìn rất rõ các chi tiết của hào quang cảm dục, nhưng nhiều người nhạy cảm chỉ có thể cảm nhận thế giới cảm dục một cách chung chung. Đôi khi sự nhạy cảm đó không được kiểm soát, và điều này có thể gây ra những khó khăn. Ví dụ, một người có thể cố ý hoặc vô tình hòa nhập vào cảm xúc của người khác một cách mạnh mẽ đến mức y cảm nhận được về mặt vật lý nỗi đau đớn và khổ sở mà người khác trải qua. Nhiều y tá và những người có khả năng chữa lành tự nguyện mở lòng ra như vậy, bằng cách cảm thông và cảm xúc được sự đau đớn của bệnh nhân. Nếu nguyên nhân của hiện tượng này không được nhận ra, những người như vậy có thể bị coi là mắc chứng nghi bệnh, bởi vì các triệu chứng thể chất có thể thay đổi liên tục. Trên một phương diện khác, năng lực này có thể rất có giá trị giúp bác sĩ chẩn đoán nguồn gốc của bệnh tật. Một người có thể biến khả năng làm xáo trộn gây nên tình trạng cạn kiệt về cảm xúc thành một tài năng đầy giá trị, nếu nhận ra rằng y sở hữu một dạng thức giác quan cảm nhận cao hơn có thể được kiểm soát.