The Astral Chakras—Các Luân Xa Cảm dục
Within the astral body are to be found seven major astral centers or chakras, which correspond to those on the etheric level. Just as the etheric chakras draw on the energies of the universal etheric field, so these astral centers are open to the great ocean of astral energy in which all living beings are immersed.
Trong thể cảm dục có bảy trung tâm hay luân xa cảm dục chính, tương ứng với các luân xa ở thể dĩ thái. Cũng giống như các luân xa dĩ thái thu hút năng lượng của thể dĩ thái vũ trụ, các luân xa này cùng mở ra đại dương năng lượng cảm dục mà mọi sinh linh đều đắm chìm trong đó.
As the astral energy flows in and out of these centers from the universal field, it energizes and organizes the astral body or aura. These astral chakras are similar in form to the etheric being petal-like structures clustered around a central core. As with the etheric, the energy flows into this core, circulates through the petals and flows out again into the ocean of astral energy. In the case of the individual human being, the quality of the astral body or individual field pattern depends upon emotional tone and quality. It is as though the person, when interacting with the universal field, absorbs those particular energies with which he is in synchrony, and filters out those which are alien, just as a living organism processes only that information which it is able to utilize. Thus we all leave the imprint of our emotions upon the astral world, and affect the character of the universal field, even though this may be to an infinitesimally small degree in terms of the whole.
Khi năng lượng cảm dục luân chuyển vào ra các luân xa từ trường vũ trụ, nó cung cấp năng lượng và sắp xếp thể hay hào quang cảm dục. Các luân xa cảm dục có cấu trúc hình cánh hoa xung quanh lõi trung tâm tương tự như luân xa dĩ thái. Giống như các luân xa dĩ thái, năng lượng lưu chuyển vào lõi trung tâm, thông qua các cánh hoa và lại chảy ra hòa lẫn vào đại dương năng lượng cảm dục. Đối với con người, phẩm tính của thể cảm dục hoặc mô hình trường cá nhân phụ thuộc vào cung điệu và phẩm tính cảm xúc. Con người kết nối với trường vũ trụ, hấp thu những năng lượng đặc biệt mà nó hòa điệu, và lọc bỏ những năng lượng lạ, giống như một sinh vật chỉ xử lý những tài nguyên mà nó có thể sử dụng. Như vậy tất cả chúng ta để lại dấu ấn cảm xúc của chúng ta trên cõi giới cảm dục, và ảnh hưởng đến đặc tính chung của trường vũ trụ, cho dù mức độ ảnh hưởng chỉ vô cùng nhỏ bé so với tổng thể.
The astral chakras also act as interconnections with those at the etheric level, thus integrating the two fields. Depending on the development and degree of integration of the individual, these centers display a harmonious, rhythmic flow of energy, or in contrast, a disturbed, disharmonious pattern which indicates some type of emotional instability. For example, chronic worry produces a disturbance in the solar plexus chakra at the emotional level; this in turn creates a disturbance in the corresponding chakra at the etheric level, which directly affects the digestive tract and liver.
Các luân xa cảm dục cũng có mối liên giao với các luân xa ở thể dĩ thái, qua đó kết hợp hai trường năng lượng. Tùy thuộc vào sự phát triển và mức độ tích hợp của mỗi người, các luân xa này tạo nên một dòng năng lượng hài hòa và nhịp nhàng, hoặc ngược lại, một mô hình hỗn độn và rối loạn, biểu đạt một số bất ổn về cảm xúc. Ví dụ, lo lắng trường kỳ tạo ra sự xáo trộn trong luân xa tùng thái dương trong trường cảm dục; tiếp theo, xáo trộn này lại tạo ra những bất ổn trong luân xa tương ứng ở thể dĩ thái, và ảnh hưởng trực tiếp đến đường tiêu hóa và gan.
The astral chakras are always brighter than those on the etheric level, but at the same time they are more difficult to describe precisely in respect to such qualities as texture. Little or no variations are observed in elasticity, which appears to be constant. At times the etheric and astral centers may be interrelated and the mental out of harmony; if the color gray appears predominately in an astral center this indicates that there is a blockage between the emotional and mental fields. In assessing the astral chakras, DVK looks especially at the degree of harmony between the centers in addition to noting whether one center rotates more rapidly or more slowly than the others. If the astral body is generally disturbed, the energy will flow toward one particular chakra, usually that at the solar plexus. It is equally important for health that there be harmony between the astral and etheric centers. When there is a steady and harmonious rhythm between the astral and etheric chakras, a good inner relationship is indicated, whereas disharmony and dissonance may lead to disease.
Các luân xa cảm dục luôn sáng hơn các luân xa dĩ thái, nhưng đồng thời cũng khó hơn để mô tả chúng một cách chính xác về các đặc tính như kết cấu. Chúng rất ít hoặc hầu như không có độ đàn hồi, vì vậy dường như khá ổn định. Đôi khi các luân xa dĩ thái và cảm dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong khi luân xa thể trí bất hài hòa với chúng; Nếu màu xám xuất hiện nhiều ở luân xa cảm dục, điều này cho thấy có sự tắc nghẽn giữa trường cảm dục và thể trí. Khi đánh giá các luân xa cảm dục, bà DVK đặc biệt chú ý đến mức độ hài hòa giữa các luân xangoài việc ghi nhận liệu một luân xa có quay nhanh hơn hay chậm hơn các luân xa khác hay không. Nếu thể cảm dục nhìn chung bị xáo trộn, năng lượng sẽ chảy về phía một luân xa nhất định, thường là luân xa tùng thái dương. Điều quan trọng không kém đối với sức khoẻ là phải có sự hài hòa giữa các luân xa cảm dục và dĩ thái. Giữa các luân xa cảm dục và dĩ thái nếu có nhịp điệu hài hòa và ổn định, điều đó chứng tỏ một mối quan hệ nội tại tốt, trong khi sự bất hài hòa và bất cân bằng có thể dẫn đến bệnh tật.
A break in the petals or in the core of one of the astral centers, leading to a leakage of energy, will tend to make that center and the energy supplied to the corresponding part of the body more vulnerable; this may or may not lead to illness or some kind of serious physical condition.
Một sự đứt đoạn trong các cánh hoa hoặc lõi trung tâm của một trong những luân xa cảm dục sẽ dẫn tới sự rò rỉ năng lượng, và làm cho luân xa đó và năng lượng cung cấp cho phần tương ứng của cơ thể dễ bị tổn thương hơn; Điều này có thể hoặc không dẫn đến bệnh tật hoặc một số tình trạng thể chất tồi tệ.
The Crown Chakra—Luân xa Đỉnh đầu
Unlike the etheric, the astral body has no visible counterparts of the physical organs, such as the spleen or the intestinal tract. There is, however, an exchange of energy. For example, if the flow of astral energy is dull in the crown center, one should expect serious mental disorders or even extreme mental deficiency. If, on the other hand, the etheric and astral levels match in color and brilliance, this indicates that the thinking processes are clear and lively. The reflection of the pineal gland may appear as a golden color in the astral body, but there is no true counterpart of the organ.
Không giống như thể dĩ thái, thể cảm dục không có các đối phần tương ứng rõ ràng trong cơ thể vật lý, chẳng hạn như lá lách hoặc đường tiêu hóa. Tuy nhiên, giữa chúng có sự trao đổi năng lượng. Ví dụ, nếu luồng năng lượng cảm dục ở luân xa đầu của một người mờ đục, y rất có thể bị các rối loạn tâm thần nghiêm trọng hoặc thậm chí là thiểu năng trầm trọng. Ngược lại, nếu thể dĩ thái và thể cảm dục tương đồng về màu sắc và độ sáng, điều này cho thấy các hoạt động tư duy rõ ràng và sống động. Phản ảnh (reflection) của tuyến tùng có thể có màu vàng trong thể cảm dục, nhưng không có đối phần thực sự của bộ phận cơ thể này.
The Throat Chakra—Luân xa Cổ họng
This center is particularly associated with rhythm and sound. In those who are clairaudient, or sensitive to sounds which are physically inaudible, the petals of this center will be larger than average and more luminous. When diagnosing, the main factor to be looked for in connection with this center is its degree of harmony with the etheric chakra.
Luân xa này đặc biệt liên quan đến nhịp điệu và âm thanh. Ở những người có thông nhĩ, hoặc nhạy cảm với những âm thanh mà thính giác bình thường không nghe được, những cánh hoa của luân xa này sẽ lớn hơn trung bình và rực rỡ hơn. Khi chẩn đoán, yếu tố chính cần được tìm kiếm trong mối quan hệ với luân xa này là mức độ hài hòa của nó với luân xa dĩ thái.
The Heart Chakra—Luân xa Tim
In individuals who meditate regularly, the heart center is larger than usual, for it expands easily. It also tends to be more luminous, and its rhythmic movement is speeded up. The connections with the higher levels of consciousness described in Chapter VII are also more apparent.
Ở những người tham thiền đều đặn, luân xa tim lớn hơn bình thường, vì nó dễ mở rộng. Nó cũng có xu hướng sáng hơn, và chuyển động nhịp nhàng được đẩy nhanh hơn. Mối liên hệ với các cấp độ tâm thức cao hơn (được mô tả trong Chương VII) cũng rõ ràng hơn.
The Solar Plexus Chakra—Luân xa Tùng Thái dương
This is the most active center of emotional energy in the majority of people. It is the bridge between the emotions and the physical/etheric, its closest physical connection being with the stomach and the whole gastrointestinal tract. DVK has theorized that the astral solar plexus chakra acts as a shock absorber between the intake of astral energy and its dispersal through the body.
Đây là trung tâm năng lượng cảm xúc tích cực nhất trong đa số mọi người. Đó là cầu nối giữa cảm xúc và thể vật lý/ thể dĩ thái, mối liên hệ gần gũi nhất của nó là với dạ dày và toàn bộ đường tiêu hóa. Bà DVK đã giả thuyết rằng luân xa tùng thái dương cảm dục hoạt động như một cơ quan hấp thụ mạnh mẽ giữa năng lượng cảm dục đi vào và năng lượng phân phối cho toàn cơ thể.
The colors of this chakra are somewhat variable: in an integrated person, the green indicates balance; a somewhat different shade pertains to sympathy or adaptability; a mixture of yellow and green shows interest in expressing ideas in physical form. Often inventors and designers have this color combination. Also there is an entirely different shade of sickly yellowish-green which indicates jealousy, while yellow mixed with gray implies frustration in connection with work.
Màu sắc của luân xa này có phần nào biến đổi: ở một người có tầm mức chỉnh hợp cao, màu xanh lá cây cho thấy sự cân bằng; Sự cảm thông hoặc khả năng thích ứng lại cho sắc màu khác; Màu vàng pha lẫn màu xanh lá cho thấy mối quan tâm trong việc thể hiện ý tưởng dưới dạng vật chất. Thông thường các nhà phát minh và nhà thiết kế có tổ hợp màu này. Ngoài ra có những sắc màu hoàn toàn khác, màu xanh vàng vọt thể hiện sự ghen tị, trong khi màu vàng pha với màu xám cho thấy sự thất vọng liên quan đến công việc.
The Chakra at the Base of the Spine—Luân xa Gốc (Gốc cột sống)
This center is closely related to the crown chakra, and is therefore associated with the spiritual development of the individual. If there is integration between these two centers, the energy rises from the root chakra without impediment or disturbance, particularly in the emotional and etheric fields.
Luân xa này có liên quan chặt chẽ với luân xa đỉnh đầu và do đó gắn liền với sự phát triển tinh thần của mỗi cá nhân. Nếu có sự hòa hợp giữa hai luân xa này, năng lượng đi lên từ luân xa gốc mà không có trở ngại hay xáo trộn gì, đặc biệt trong trường cảm dục và dĩ thái.
The Astral Spine and Brain—Cột sống và Não bộ Cảm dục
The astral energy normally enters the individual field via the solar plexus chakra, and may move in either of two directions, depending upon whether or not there is obstruction to its flow along the astral “spine,” in which the chakras have their roots. In a normal, healthy state, the astral energy flows upward towards the head, but when obstructed it will turn and flow downward, increasing sexual activity. At the same time there will be a diminution of the astral energy in the brain, leading to a disturbance in the balance of control.
Năng lượng cảm dục bình thường đi vào trường cá nhân thông qua luân xa tùng thái dương, và có thể di chuyển theo hai hướng, tùy thuộc vào việc dòng chảy của nó dọc theo “cột sống” cảm dục có tắc nghẽn hay không, cột sống là nơi các luân xa bắt rễ. Trong một trạng thái bình thường, khỏe mạnh, năng lượng cảm dục sẽ chảy hướng lên đầu, nhưng nếu bị cản trở nó sẽ quay lại và chảy xuống, làm tăng hoạt động tính dục. Đồng thời sẽ có sự giảm sút năng lượng cảm dục trong não bộ, dẫn đến những xáo trộn trong sự kiểm soát cân bằng.
The astral spinal energy, like its etheric counterpart, rises from the chakra at the base of the spine and flows upward to the medulla oblongata in three streams which correspond with the ida, pingala and sushumna. DVK has described these as follows: The stream on the right side of the astral spine rises from the right side of the core of the chakra at the base of the spine and flows upward to the back of the head in a stream approximately one centimeter in width. Its color is pale blue (whereas the etheric counterpart is blue-green). The stream on the left side of the spine duplicates that on the right, but its color is pink (whereas the etheric is a darker yellow-red). The energy which flows through the central portion of the astral spine arises from the very heart of the base spinal chakra, moves upward and bifurcates at the area near the medulla oblongata, at which point the two divisions cross each other, the energy on the right going to the left brain, and that on the left to the right brain. This central spinal stream is brighter than the other two streams, opalescent and many-colored, with a great deal of yellow and orange. If it is very bright with a predominance of yellow, this indicates a state of health.
Năng lượng cột sống cảm dục giống như đối phần tương ứng của nó ở thể dĩ thái, xuất phát từ luân xa gốc và chảy ngược lên hành tủy theo ba dòng tương ứng với ida, pingala và sushumna. Bà DVK đã mô tả những điều này như sau: Dòng bên phải của cột sống đi từ bên phải của lõi luân xa gốc và chảy ngược lên phía sau đầu theo dòng chảy rộng gần một centimet. Nó có màu xanh lơ (trong khi đối phần tương ứng ở thể dĩ thái có màu xanh biển pha xanh lá). Dòng bên trái của cột sống giống hệt dòng bên phải, nhưng nó có màu hồng (trong khi đối phần ở thể dĩ thái màu vàng đỏ sẫm). Năng lượng chảy dọc trung tâm cột sống xuất phát từ chính giữa luân xa gốc, di chuyển lên và rẽ làm hai nhánh khi tới gần hành tủy, khi đó hai nhánh đan chéo nhau, năng lượng bên phải đi tới não trái, và năng lượng bên trái đi tới não phải. Dòng trung tâm cột sống này sáng hơn hai dòng kia, màu trắng sữa và đa sắc, với màu vàng và cam làm chủ đạo. Nếu dòng chảy này có màu vàng rực rỡ, điều này cho thấy trạng thái sức khoẻ tốt.
With respect to the brain, at the astral level the energy is structured differently from the etheric, and there appears to be some connection between the cerebellum, the pineal gland and the crown chakra. There is normally a tremendous amount of energy in the brain at the astral level.
Về não bộ, năng lượng ở thể cảm dục có cấu tạo khác với thể dĩ thái, và dường như có mối liên hệ nào đó giữa tiểu não, tuyến tùng và luân xa đỉnh đầu. Năng lượng thường tập trung rất lớn ở não trong thể cảm dục.
Readers will doubtless notice that we have not described the function of all the astral chakras. This is because our research was confined to areas of the body associated with particular chakras mentioned above. There are others which we have not described.
Người đọc chắc chắn nhận thấy rằng chúng tôi đã không mô tả chức năng của tất cả các luân xa cảm dục. Điều này là bởi nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn trong các phần của cơ thể có liên quan tới các luân xa cụ thể đã đề cập ở trên. Các luân xa và bộ phận khác chúng tôi không mô tả.
VII. Higher Dimensions of Consciousness—VII. Các cấp độ cao hơn của Tâm thức
The third aspect or facet of the personal self is the instrument through which the mind finds expression; in theosophical and esoteric literature this is traditionally called the mental body. As previously mentioned, just as the emotional or astral level has a higher frequency and subtler state of materiality than the etheric, so the mental is finer-grained and faster-moving than the astral. However, it should be remembered that the mental field interpenetrates both the astral and the etheric at every point, and the mental body also conforms to these vehicles in structure. The mental dimension is in constant interplay with other aspects of the personality throughout life, and its energy permeates every experience, even when we are not engaged in intellectual pursuits or even consciously thinking. The energy which pours into the mental chakras from the inexhaustible reservoir of the universal mental field circulates through the mental chakra system in much the same manner as at the astral and etheric levels. But the mind is more complex than the emotions; it has in fact two primary aspects or functions which make possible the subtlety, originality and conceptual power of the mind, at the same time that it can lead us into false reasoning and self-delusion. Because of its multifaceted nature, the habits and patterning of the mind can affect the disease process adversely, but it can also be a powerful force for health, growth and change.
Khía cạnh hay mặt thứ ba của bản thể cá nhân là công cụ thông qua đó cái trí có thể biểu hiện; Trong giáo lý Thông Thiên Học và bí truyền, khía cạnh này thường được gọi là thể trí. Như đã đề cập ở trên, cũng giống như thể cảm dục có tần số và mức độ tinh tế cao hơn so với thể dĩ thái, thể trí cũng tinh tế hơn và chuyển động với tốc độ nhanh hơn so với thể cảm dục. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng trường thể trí thâm nhập vào cả thể cảm dục và thể dĩ thái ở mọi góc độ, và thể trí cũng phù hợp về mặt cấu trúc với những dẫn thể này. Phạm vi thể trí liên tục tác động tới các khía cạnh khác của phàm ngã trong suốt cuộc đời, và năng lượng của nó thấm đẫm mọi kinh nghiệm, ngay cả khi chúng ta không tham gia vào công việc mang tính trí tuệ, hoặc thậm chí không suy nghĩ một cách có ý thức. Năng lượng từ bể chứa vô tận của trường thể trí vũ trụ đổ vào các luân xa thể trí, lưu thông qua hệ thống luân xa thể trí theo cách thức giống như ở thể cảm dục và thể dĩ thái. Nhưng thể trí phức tạp hơn thể tình cảm; Trên thực tế, nó có hai khía cạnh hay chức năng chính tạo nên sự khôn ngoan, sáng tạo và năng lực nhận thức của tâm trí, đồng thời nó cũng có thể dẫn chúng ta vào lý luận sai lầm và ảo tưởng. Do tính chất đa dạng của nó, thói quen và mô hình của thể trí có thể ảnh hưởng xấu đến quá trình bệnh tật, nhưng nó cũng có thể là một nguồn lực mạnh mẽ cho sức khoẻ, sự tăng trưởng và thay đổi.
At the level of everyday experience, the mind is the instrument which integrates and interprets the stream of sensory data which flood into us from every side. All these data are processed and evaluated by the brain/mind and applied to our behavior. This aspect of the mind delivers the common sense we all use in the business of daily living, and which perceives the relationships between things, people and events that give these phenomena their context and meaning.
Ở mức độ kinh nghiệm hàng ngày, thể trí là công cụ tích hợp và diễn giải luồng dữ liệu cảm ứng tràn vào chúng ta từ mọi hướng. Tất cả những dữ liệu này được xử lý và đánh giá bởi não bộ/ tâm trí và quyết định hành vi của chúng ta. Khía cạnh này của thể trí mang lại những hiểu biết chung cho tất cả chúng ta trong công việc và cuộc sống hàng ngày, và nhận thức được mối quan hệ giữa sự vật, con người và các sự kiện mang lại ngữ cảnh và ý nghĩa của các hiện tượng.
The conceptual or abstract mind cognizes meaning of a higher order: the ideas which give events their significance; the unities which underlie life’s variables; the structure, proportion, balance, harmony, order and lawfulness of nature; the relationship between human life and the earth, as well as between the individual and mankind. This dimension of the mind is a universal human attribute, even though it may not be developed to the same degree in all of us.
Trí trừu tượng hiểu được ý nghĩa của một trật tự cao hơn: những ý tưởng mang lại ý nghĩa cho các sự kiện; tính đồng nhất ẩn sau sự khác biệt trong cuộc sống; cấu trúc, tỷ lệ, sự cân bằng, hài hòa, trật tự và tính hợp lý của tự nhiên; mối quan hệ giữa cuộc sống con người và trái đất, cũng như giữa cá nhân và nhân loại. Khía cạnh này của thể trí là một thuộc tính của con người trong vũ trụ, mặc dù nó có thể không phát triển đồng mức ở tất cả mọi người.
The human mental body is an ovoid like the astral, but it is considerably larger and less dense. Its colors and quality are good indicators of the individual’s interests and mental powers, whether latent or active, for sometimes the capacities we are born with do not mature during life. All this shows up in the mental body, just as the astral aura accurately reveals the emotional life.
Thể trí của con người có hình trứng giống như thể cảm dục, nhưng nó lớn hơn khá nhiều và ít đậm đặc hơn. Màu sắc và phẩm tính của nó là những chỉ dẫn rõ ràng về mối quan tâm của mỗi cá nhân và năng lực tinh thần, cho dù tiềm ẩn hay bộc phát, vì đôi khi năng lực chúng ta sở hữu từ lúc sinh ra không phát triển trong suốt cuộc đời. Tất cả điều này đều thể hiện trong thể trí, giống như hào quang cảm dục cho thấy chính xác cuộc sống cảm xúc của mỗi người.
Because the mental and emotional fields are so closely interconnected, the mind is colored by emotion, just as the feelings are conditioned by thought. This is a universal characteristic, but when it is unbalanced or out of control the condition may become pathological. However, if the mind is not hampered by emotional stresses, it is a fine and flexible instrument for integrating and assimilating all levels of personal experience: mental, emotional and physical.
Bởi vì trường thể trí và cảm dục có mối quan hệ gần gũi chặt chẽ, thể trí được tô màu bởi cảm xúc, giống như những cảm xúc được điều chỉnh bởi tư duy. Đây là một đặc tính phổ quát, nhưng khi nó không cân bằng hoặc nằm ngoài tầm kiểm soát, tình trạng này có thể trở thành bệnh lý. Tuy nhiên, nếu thể trí không bị cản trở bởi những căng thẳng tinh thần, nó là một công cụ tế vi và linh hoạt để tích hợp và hấp thu mọi cấp độ kinh nghiệm cá nhân: thể trí, thể tình cảm và thể vật lý.
The physical brain, much like a supercomputer, registers, stores and retrieves what the mind discovers or originates. The view of the mind/brain relationship which emerges from our research is very different from that generated by most psychophysiological theorizing. Far from being a product of brain activity, the distillation of meaning and the interpretation of experience are seen to derive from a deeper level of the self. Such insight is then developed rationally by the mind and related to other knowledge, while the brain, which is the mind s instrument or physical partner, registers the information. In other words, the mind is dependent upon the brain for physical expression, but it also transcends the brain mechanism and can to some extent compensate for its defects.
Bộ não vật lý, giống như một siêu máy tính, ghi nhận, lưu trữ và thu thập những gì mà thể trí phát hiện hoặc tạo ra. Quan điểm về mối quan hệ giữa não bộ và thể trí phát triển từ nghiên cứu của chúng tôi rất khác so với quan điểm về vấn đề này trong lý thuyết tâm sinh lý học. Việc rút ra ý nghĩa và giải thích kinh nghiệm hoàn toàn không phải là sản phẩm của hoạt động não bộ, mà bắt nguồn từ một mức độ sâu hơn của bản thể. Hiểu biết sâu sắc này sau đó được thể trí phát triển một cách hợp lý, liên hệ đến các kiến thức khác, trong khi não, là công cụ của thể trí khí cụ vật lý, có chức năng ghi nhận thông tin. Nói cách khác, thể trí phụ thuộc vào bộ não để thể hiện trên cõi trần, nhưng nó cũng vượt qua cơ chế của não bộ và ở mức độ nào đó có thể bù đắp cho những hạn chế của não bộ.
The mental body extends about ninety centimeters (three feet) beyond the periphery of the physical body, and interpenetrates both the etheric and the astral bodies. The individual who perceives the “I” more in terms of his thoughts than his feelings usually has a mental body that is brighter and more vital than the average, and of finer texture. When such a person is using the mind, energy moves more swiftly in and out of the mental chakras, and the whole mental body becomes more lively and luminous.
Thể trí vươn ra khoảng 90cm (3 feet) bên ngoài cơ thể vật lý, và thâm nhập cả hai thể dĩ thái và cảm dục. Cá nhân cảm biết được “cái tôi” theo tư duy hơn là theo cảm xúc thường có thể trí sáng hơn và sống động hơn mức trung bình, và có kết cấu mịn hơn. Một người như vậy khi đang sử dụng thể trí, năng lượng chuyển động ra vào các luân xa thể trí nhanh hơn, và toàn bộ thể trí trở nên sinh động và sáng rỡ hơn.
The speed with which the energy moves in and out of the chakras, the luminosity of the colors, the rhythm and the degree of brightness of the different chakras all indicate the quality of the mental body and the areas of special development.
Tốc độ năng lượng lưu chuyển vào ra các luân xa, độ tươi tắn của màu sắc, nhịp điệu và độ sáng của các luân xa khác nhau cho thấy phẩm chất của thể trí và các lãnh vực phát triển đặc biệt.
When there is a harmonious relationship from the mental level through the emotional to the etheric, the flow of energy through the chakras displays a rhythmic and unimpeded pattern. Unfortunately, many human beings are subject to periodic mental or emotional storms and stresses, and these have their effects in the etheric and physical bodies. The energies at the mental level are discharged at a more rapid rate and with more volatility than the lower energies. In fact, when energy flows actively in and out this lights up the field around the individual and this affects his environment in direct proportion to the strength of the thought. Thus ideas which are charged with mental power strongly influence other individuals. This may or may not be directly related to the truth of the ideas themselves: grand ideas stand the test of history and contribute to the growth of human culture, but mistaken ideas can dominate large groups of people when these are projected with great force and conviction, as was the case in Nazi Germany.
Khi mối quan hệ giữa thể trí thông qua thể cảm dục tới thể dĩ thái hài hòa, luồng năng lượng qua các luân xa luân chuyển nhịp nhàng và thông suốt. Thật không may, nhiều người đang phải đối mặt với những bão tố tâm lý và căng thẳng về tinh thần thường xuyên, và điều này ảnh hưởng tiêu cực tới các thể dĩ thái và thể vật lý. Năng lượng ở cấp độ trí tuệ được thải ra với tốc độ nhanh hơn, biến động nhiều hơn so với các năng lượng cấp thấp. Trên thực tế, khi năng lượng tích cực lưu chuyển vào ra, chúng sẽ làm trường xung quanh một người sáng lên và điều này ảnh hưởng tương ứng đến môi trường của người đó theo tỷ lệ tương ứng với sức mạnh của ý nghĩ. Vì vậy, các tư tưởng có được tiếp thêm sức mạnh tinh thần sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới các cá nhân khác. Điều này có thể có hoặc không liên quan trực tiếp đến độ chân thực của chính ý tưởng: những ý tưởng vĩ đại đứng vững qua những thử thách của lịch sử và góp phần vào sự phát triển của văn hoá con người, nhưng những ý tưởng sai lầm có thể chi phối những nhóm lớn khi chúng được dựng lên bằng sức mạnh và niềm tin to lớn, như trường hợp của Đức quốc xã.
The transformative power of thought when it is reinforced by conviction is well known. Religious conversion is one example, but on a lesser level, the ability to break long-standing habits, such as smoking, results from the power of the mind to change behavior. We no longer believe the dictum, “I think, therefore I am,” but we realize that what we think strongly affects us, whether as individuals, members of organizations or citizens of a nation. In fact, national purpose or character is largely dependent upon the way a people thinks of itself.
Sức mạnh chuyển hóa của tư tưởng khi nó được củng cố bởi niềm tin được biết đến rất nhiều. Sự chuyển hóa trong tôn giáo là một ví dụ, nhưng ở mức độ thấp hơn, khả năng phá vỡ thói quen lâu dài, chẳng hạn như hút thuốc lá, là kết quả của sức mạnh của tâm trí để thay đổi hành vi. Chúng ta không còn tin vào câu châm ngôn “tôi suy nghĩ, vì thế tôi đang tồn tại”, nhưng chúng ta nhận ra rằng những gì chúng ta nghĩ ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính ta, dù là cá nhân, thành viên của các tổ chức hay công dân của một quốc gia. Trên thực tế, mục đích hoặc đặc tính của quốc gia phần lớn phụ thuộc vào cách mà người dân nước đó suy nghĩ về mình.
How are such widespread ideas transmitted? The effect is partly achieved through written argument and speech, but even more through sharing a common vision or worldview based upon a strong mental image. Such a mental image has come to be known as a thought-form. The spread of ideas is achieved through the mind’s ability to construct a powerful and well-defined image within the mental body, and then direct it toward its object with clarity and intensity. This ability to project one’s thoughts clearly is an important factor in successful teaching, as well as in political life. But the ability to create strong thought-forms can also react upon us negatively, for if they become too rigid they can surround and imprison us within a wall of our own making, thus preventing the inrush of new ideas and fresh mental energy. We then become ideologues, or fanatics who reject all but their own interpretations of truth.
Những ý tưởng được truyền đi rộng khắp như thế nào? Tác động này phần nào đạt được thông qua phát biểu và tranh luận trên giấy mực, và thậm chí mạnh hơn thông qua việc chia sẻ một tầm nhìn chung hoặc quan điểm thế giới dựa trên hình ảnh tinh thần mạnh mẽ. Một hình ảnh tinh thần như vậy đã được biết đến như là một hình tư tưởng. Sự lan tỏa của những ý tưởng đạt được thông qua năng lực tâm trí trong việc tạo dựng một hình ảnh mạnh mẽ được xác định rõ ràng trong thể trí, và sau đó hướng về phía đối tượng của nó một cách rõ ràng và mãnh liệt. Khả năng phóng tư tưởng một cách rõ ràng là một yếu tố quan trọng để đạt được thành công trong đào tạo, cũng như trong đời sống chính trị. Nhưng khả năng tạo ra những hình tư tưởng mạnh mẽ cũng có thể tác động ngược lại chúng ta một cách tiêu cực, nếu chúng trở nên quá cứng nhắc, chúng có thể bao quanh và giam hãm chúng ta trong một bức tường do chính chúng ta tạo ra, do đó ngăn chặn sự xâm nhập của những ý tưởng mới và năng lượng tinh thần tươi sáng. Sau đó chúng ta biến thành các nhà tư tưởng hoặc những kẻ cuồng tín, bác bỏ tất cả ngoại trừ những cách diễn giải của chính mình về chân lý.
Some clairvoyants are able to see the thought-forms within an individual’s mental body. A discussion with the late Phoebe Payne Bendit, who was acknowledged to be a competent and trained clairvoyant, helped to clarify this matter. She recounted the case of a man who came to her claiming that he was possessed by several great musicians who had passed on, and that other clairvoyants had corroborated his claim. But when Phoebe Bendit observed him carefully, she found that these figures were not those long-gone musicians at all, but rather the man’s wish-fulfillment thoughts that he had charged with his own hopes and desires. She warned his family that he was headed toward a dangerous mental illness, and unfortunately this materialized a few months later, when he was diagnosed as a paranoid schizophrenic and admitted to a mental hospital.
Một số người thông nhãn có thể nhìn thấy các hình tư tưởng trong thể trí của một người. Một cuộc thảo luận với bà Phoebe Payne Bendit, người đã được thừa nhận là có năng lực thông nhãn cao thông qua luyện tập, đã giúp làm sáng tỏ vấn đề này. Bà đã kể lại trường hợp của một người đàn ông đã gặp bà và tuyên bố anh đã bị một số nhạc sĩ vĩ đại đã qua đời ám, và những người có thông nhãn khác đã khẳng định yêu điều này. Nhưng khi bà Phoebe Bendit quan sát anh một cách cẩn thận, bà nhận thấy rằng những hình ảnh này không phải là những nhạc công đã mất từ lâu, mà là những tư tưởng do chính anh đã tự nhồi vào đầu với những hy vọng và mong muốn của riêng mình. Bà cảnh báo gia đình anh ta rằng anh đang có nguy cơ mắc một căn bệnh tâm thần nghiêm trọng, và rất tiếc điều này đã thành hiện thực vài tháng sau đó, khi anh được chẩn đoán là bị bệnh tâm thần phân liệt và phải nhập viện tâm thần.
When Mrs. Bendit was asked how she differentiated the patient’s thought-form from an actual astral entity, she replied: “How would you differentiate between a living person and a statue? Isn’t one obviously alive, while the other is not? The same holds true on the astral and mental planes. An actual person, even though dead, has a quality of vitality about him, so that he moves, changes and responds to what is going on. In contrast, a thought-form is lifeless and static, and its energy comes from the astral and mental fields of the individual who harbors it.”
Khi bà Bendit được hỏi làm thế nào bà phân biệt được hình tư tưởng của bệnh nhân với một thực thể cảm dục thực sự, bà trả lời: “Làm thế nào bạn phân biệt được giữa một người sống và một bức tượng? Một cái rõ ràng là sống động, trong khi cái kia thì không, đúng không? Điều này cũng tương tự trên các cõi cảm dục và trí tuệ. Một người thực sự, dù đã qua đời, vẫn mang một phẩm chất sinh động, cho thấy rằng người ấy chuyển động, thay đổi và phản ứng với những gì đang diễn ra. Ngược lại, một hình tư tưởng thì vô hồn và tĩnh tại, và năng lượng của nó xuất phát từ các trường cảm dục và trí tuệ của cá nhân đang duy trì nó.”
The great advantage of being able to see thought-forms is that we can become aware of what we are generating, and thus change them to more constructive images. But even if we cannot see them clairvoyantly, when we realize that our thoughts have the ability to affect others directly and that we energize them with our emotions, we begin to feel a degree of responsibility for our thoughts that was previously reserved only for our actions, and indeed come to acknowledge that thoughts are action of a kind, in that they affect behavior.
Ưu điểm lớn của việc có thể nhìn thấy các hình tư tưởng là chúng ta biết được những gì chúng ta tạo ra, và do đó có thể thay đổi chúng thành các hình ảnh xây dựng hơn. Nhưng ngay cả khi chúng ta không thể nhìn thấy chúng qua thông nhãn, một khi đã nhận ra rằng những suy nghĩ của chúng ta có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến người khác và chúng ta tiếp thêm năng lượng cho chúng bằng cảm xúc của mình, chúng ta bắt đầu thấy có trách nhiệm về những tư tưởng mà trước đây chỉ tạo ra hành động của mình, và thực sự thừa nhận rằng suy nghĩ chính là một cách thức hành động, ở chỗ chúng ảnh hưởng đến hành vi thái độ.
The Effect of Visualization—Tác dụng của sự hình dung
The ability to use our minds constructively in order to achieve good health and personal self-transformation is the subject of literally hundreds of books currently being offered to the public. Most of these suggest methods that can be used with some degree of success, for the mere conviction that one can effect personal change and growth is enough to start the process moving. Because of the interest in various techniques which employ visualization and different forms of relaxation and/or meditation, we conducted an exploratory inquiry into the ways students use some of these techniques.
Khả năng sử dụng tâm trí của chúng ta một cách tích cực để đạt được sức khoẻ và sự chuyển hoá cá nhân là chủ đề của hàng trăm cuốn sách hiện đang được đưa ra cho công chúng. Hầu hết các phương pháp gợi ý này có thể được sử dụng để đạt được một mức độ thành công nhất định, vì chỉ cần có niềm tin xác quyết rằng người ta có thể tác động đến sự thay đổi và tăng trưởng cá nhân là đủ để bắt đầu quá trình chuyển đổi. Vì sự quan tâm đến nhiều hình thức sử dụng kỹ thuật hình dung và các các phương pháp thư giãn và/ hoặc thiền định khác nhau, chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu tìm hiểu về cách học viên sử dụng một số kỹ thuật này.
We discovered that a few members of the group we studied had no ability to perceive a mental image. When they closed their eyes, they were aware of nothing but blankness and darkness. Most of the students, however, were able to hold in their mind’s eyes the object they were asked to visualize, such as the face of a friend or a simple colored geometric figure. When they were asked how they perceived this mental image, most of them said they visualized the object outside themselves, at a distance of about twenty centimeters in front of their eyes, as though they were reading a book. Others reported that they visualized the object inside their heads, usually in the frontal lobes of the brain, although a few said they saw it in the back of the brain in the occipital region. There was also a very small group that said they could not only think of the object but could also perceive it as a picture flashing before their eyes without specific localization.
Chúng tôi phát hiện ra rằng một vài người trong nhóm chúng tôi nghiên cứu không có khả năng tạo ra một hình ảnh trong tâm trí. Khi họ nhắm mắt lại, họ chẳng thấy gì ngoài sự trống rỗng và bóng tối. Tuy nhiên, hầu hết học viên đều có thể giữ cho tâm trí chú ý đến đối tượng họ được yêu cầu hình dung, chẳng hạn như khuôn mặt của một người bạn hoặc một hình ảnh hình học có màu sắc đơn giản. Khi họ được hỏi về cách họ nhìn thấy hình ảnh trong tâm trí này, hầu hết trong số họ đều cho biết họ đã hình dung ra đối tượng đó ở bên ngoài mình, cách mắt khoảng hai mươi centimet, như thể đang đọc một quyển sách. Những người khác báo cáo rằng họ quan sát vật thể bên trong đầu của họ, thường là ở thùy não trước, và rất ít người cho biết họ đã nhìn thấy hình ảnh ở não sau thuộc vùng chẩm. Cũng có một nhóm rất nhỏ nói rằng họ không chỉ nghĩ đến đối tượng được yêu cầu hình dung mà còn có thể thấy nó như một bức tranh sáng lên trước mắt họ mà không có nơi chốn cụ thể.
In most cases the mental image which was formed remained static. Although holding on to such an image may be an excellent exercise in mental concentration, it will have little effect on the mental, astral and etheric fields unless it is energized and becomes dynamic. For example, if a person is emotionally upset and is told to visualize a green disk over the solar plexus area in order to help him calm down, it should be perceived as a green light flowing into his solar plexus and thence harmonizing the whole abdominal region. In other words, if the thought-form is to be effective, it must maintain its dynamics.
Trong hầu hết các trường hợp, hình ảnh trí tuệ là hình ảnh tĩnh. Mặc dù duy trì hình ảnh như vậy có thể là một bài tập tuyệt vời cho việc tập trung trí tuệ, nó sẽ ít có ảnh hưởng đến thể trí, thể cảm dục và thể dĩ thái trừ khi nó được tiếp năng lượng và trở nên năng động. Ví dụ, nếu một người cảm thấy buồn bã và được yêu cầu hình dung một hình tròn màu xanh lá trên khu vực tùng thái dương để giúp anh ta ổn định lại, người ta nên hình dung một thứ ánh sáng màu xanh lá chảy vào luân xa tùng thái dương của mình và sau đó làm cho toàn bộ vùng bụng trở nên hài hòa. Nói cách khác, để hình tư tưởng có hiệu quả, cần duy trì tính năng động của nó.
In another experiment, DVK was asked to observe the effect on VPN’s throat chakra as she visualized certain geometrical forms and colors. DVK was not told what symbols were being used, but was merely to observe their effects on this chakra, which was somewhat leaky.
Trong một thí nghiệm khác, bà DVK đã được yêu cầu quan sát ảnh hưởng lên luân xa cổ họng của VPN khi cô hình dung các hình dạng hình học và màu sắc nhất định. Bà DVK không được cho biết các biểu tượng đang được sử dụng, mà chỉ đơn thuần là quan sát ảnh hưởng của chúng đối với các luân xa, điều này ít nhiều đã hé lộ bí mật.
At first, VPN visualized a deep blue-violet diamond shaped pattern a few centimeters in size and localized in front of the throat chakra. DVK reported no effect. The second symbol visualized was a golden diamond shaped object. DVK reported that the image was speeding up the throat chakra very slightly, but that the effect was more apparent on the astral level than on the etheric, where the symbol did not seem to hit the core of the center. When a silver-blue diamond was visualized, it too affected the astral chakra but not the etheric. The conclusion seemed to be that when visualization is a purely mental exercise, it does not seem to affect the chakras. On the other hand, they do respond to the visualization of a symbol which has some significance or inner meaning for the practitioner, as attested by the effective use of visualization in patients.
Ban đầu, VPN hình dung một biểu tượng hình kim cương màu xanh lam tím đậm, kích thước vài centimet và nằm ở phía trước luân xa cổ họng. DVK báo cáo không có hiệu ứng nào xảy ra. Biểu tượng thứ hai được hình dung là một vật thể hình kim cương màu vàng. DVK báo cáo rằng hình ảnh này làm luân xa cổ họng hoạt động nhanh hơn một chút, nhưng hiệu ứng rõ ràng hơn trên mức cảm dục so với mức dĩ thái, nơi biểu tượng dường như không ảnh hưởng đến lõi của trung tâm. Khi một hình kim cương màu bạc xanh được hình dung, nó cũng ảnh hưởng đến luân xa cảm dục nhưng không tác động đến luân xa dĩ thái.
Kết luận dường như là khi hình dung chỉ là một bài tập thuần trí tuệ, nó không ảnh hưởng đến các luân xa. Mặt khác, các luân xa phản ứng với việc hình dung một biểu tượng mang ý nghĩa hoặc giá trị nội tại đối với người thực hành, như đã được chứng minh qua việc sử dụng hiệu quả hình dung ở bệnh nhân.
The Mental Chakras—Các luân xa Thể Trí
The chakras within the mental body correspond to those on the astral and etheric levels, processing energy and acting as media of exchange with the universal mental field. Each mental chakra is also closely linked with its higher frequency counterpart on the intuitional (buddhic) level. All together, they form a closely integrated system which could be imaged as a four-dimensional grid, in which the energies move laterally through each chakra system and also vertically between the different levels. The energy on the mental level moves more swiftly and at a higher frequency than on the emotional, just as the emotional is higher than the etheric.
Các luân xa trong thể trí tương ứng với các luân xa thể cảm dục và thể dĩ thái, chuyển hóa năng lượng và đóng vai trò như những phương tiện trao đổi với trường trí tuệ vũ trụ. Mỗi luân xa thể trí cũng có mối liên hệ mật thiết với các luân xa đối ứng ở cõi cao hơn ở cấp độ trực giác (cõi bồ đề). Tất cả cùng nhau tạo thành một hệ thống tích hợp chặt chẽ có thể được hình dung như một mạng lưới 4 chiều, trong đó các dòng năng lượng di chuyển theo chiều ngang qua các hệ thống luân xa và theo chiều dọc giữa các cấp độ khác nhau. Năng lượng ở thể trí chuyển động nhanh hơn và ở tần số cao hơn thể cảm xúc, giống như ở thể cảm xúc cao hơn thể dĩ thái.
The energy of the mental field is stepped down as it passes through the chakras, and can in this way have a direct effect on the physical body if it is not blocked at the emotional level, which is sometimes the case. The frequency of the energy which flows into the chakras depends on the mental development of the individual. If there is a disturbance in one of the mental centers, it will be transmitted to the emotional and etheric levels, but it is more usual for the disturbance to occur at the astral level. An astral disturbance will not only affect the etheric chakra but also inhibit the energy coming in from the mental level. The whole process is very complex.
Năng lượng của trường trí tuệ được giảm cấp khi nó đi qua các luân xa, và theo cách này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể vật lý nếu nó không bị chặn lại ở mức cảm xúc, điều đôi khi xảy ra. Tần số của năng lượng chảy vào các luân xa phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ của cá nhân. Nếu có sự rối loạn ở một trong các trung tâm trí tuệ, nó sẽ được truyền xuống các mức cảm dục và dĩ thái, nhưng thường thì rối loạn xảy ra ở mức cảm dục hơn. Một rối loạn cảm dục không chỉ ảnh hưởng đến luân xa dĩ thái mà còn cản trở năng lượng đến từ mức trí tuệ. Toàn bộ quá trình này rất phức tạp.
When there is a harmonious relationship among the various aspects of the personality, the energy flows from level to level rhythmically and freely. Unfortunately, such a balance is rather rare, since people interrupt the harmony in a variety of ways: through stress, anxiety, mental rigidity and emotional storms, to name only a few. If such conditions persist the physical body is eventually affected adversely.
Khi có một mối quan hệ hài hòa giữa các thể khác nhau của phàm ngã, năng lượng sẽ luân chuyển từ thể này sang thể khác nhịp nhàng và thông suốt. Thật không may, sự cân bằng giữa các thể khá ít khi tồn tại, vì sự hòa hợp bị gián đoạn với nhiều lý do: căng thẳng, lo lắng, cứng nhắc về tinh thần và cảm xúc bấn loạn, là một số ví dụ. Nếu những điều kiện như vậy xảy ra, cơ thể vật lý cuối cùng sẽ bị ảnh hưởng xấu.
As in the astral chakras, the speed with which the energy moves in and out of the vortices, the luminosity of the colors, the rhythm and the brightness of the different centers all indicate the quality and power of the mind, and the areas of special development or ability.
Giống như các luân xa cảm dục, tốc độ mà năng lượng chuyển động vào và ra khỏi các dòng xoáy, độ rực rỡ của màu sắc, nhịp điệu và độ sáng của các luân xa khác nhau cho thấy chất lượng và sức mạnh khác nhau của thể trí, và các lĩnh vực hay năng lực phát triển đặc biệt khác nhau.
The Causal Body—Thể Nguyên Nhân
Although the causal body was not the subject of our investigations, DVK found it impossible not to refer to it occasionally, since the fundamental reality within every human being is what we call the Self, although it is also known as the Soul or Spirit. The highest vesture of the Self, which is known as buddhi (insight, wisdom, “clear seeing” or prajna), is termed “causal” because, according to esotericism, it carries the Selfs fundamental intentionally to be, and this is the ultimate cause of our existence.
Mặc dù thể nguyên nhân không phải là chủ đề của các nghiên cứu của chúng tôi, nhưng bà DVK đã không thể đôi khi không nhắc đến nó vì thực tính cơ bản trong mỗi con người là cái mà chúng ta gọi là Bản thể, mặc dù nó còn được gọi là Linh hồn hay Tinh thần. Lớp vỏ bọc cao nhất của Bản thể, được biết đến như là bồ đề (sự thấu hiểu, thông tuệ, “sáng suốt” hay bát nhã, prajna), được gọi là “nguyên nhân “vì, theo giáo lý huyền môn, nó mang ý chí căn bản của Bản thể để tồn tại, và đây chính là nguyên nhân rốt ráo cho sự tồn tại của chúng ta.
By whatever name, this is the real, enduring dimension of true being in each of us—that which persists through all the changes and vicissitudes of our life, and gives it meaning and continuity.
Dù dưới tên gọi nào, đây là khía cạnh thực sự, bền bỉ của thực tính hiện hữu trong mỗi chúng ta – thứ vẫn trường tồn qua tất cả những thay đổi và thăng trầm của cuộc đời mỗi người, mang lại ý nghĩa và sự tiếp nối liên tục.
This spiritual dimension is the source of all that is best in us, and can exert a powerful influence for growth and self-transformation. According to the doctrine of reincarnation, those fruits of experience which we have transformed into enduring qualities mark the growth or evolution of the individual self. These are retained from life to life within the causal body which becomes a composite of the highest qualities of the Self: insight, intuition or direct knowing, creativity, intentionality, aspiration to God or the Good, and the purest forms of love and compassion. It can be called the true vehicle of self-awareness, if by that we mean universal consciousness focused in the individual self.
Khía cạnh tinh thần này là cội nguồn của tất cả những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta, và có thể gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự tăng trưởng và tự chuyển hoá. Theo thuyết luân hồi, những thành quả của kinh nghiệm mà chúng ta đã biến đổi thành những phẩm chất lâu dài đánh dấu sự tăng trưởng hay tiến hóa cá nhân. Những kinh nghiệm này được giữ lại từ kiếp sống này qua kiếp sống khác trong thể nguyên nhân, trở thành tổ hợp những phẩm chất cao nhất của bản thể: tuệ minh, trực giác, sáng tạo, ý chí, khát vọng hướng tới Thượng đế, và những hình thức tinh khiết nhất của tình yêu và lòng từ bi. Nó có thể được coi là dẫn thể thực sự của sự tự nhận thức, nếu theo đó chúng ta muốn nói đến ý thức vũ trụ tập trung vào bản thể cá nhân.
Seen clairvoyantly, the causal body is pale and ethereal, with iridescent colors like those in a soap bubble. It was called the Augoeides by the Greeks, the luminous radiation of the Spiritual Self, of which incarnate life is but the shadow. But it is also termed “causal” because it gathers together the fruits of our long struggles and sacrifices to grow in understanding, and in these lie the true causes of what we are here and now—the seeds of our qualities of mind and heart. At this level, the Self is not constrained by the usual limits of time and space and causality, but is able to experience the universality of life and to perceive meanings and interrelationships which are often hidden from us during physical existence.
Theo quan sát thông nhãn, thể nguyên nhân mờ nhạt và thanh nhẹ, với màu sắc óng ánh như ở một bong bóng xà phòng. Nó được người Hy Lạp gọi là Augoeides, phát xạ chói sáng của Bản thể tinh thần, trong đó cuộc sống nhập thể chỉ là cái bóng. Nhưng nó còn được gọi là “nguyên nhân” vì nó tập hợp những thành quả của cuộc đấu tranh và hy sinh của chúng ta để phát triển trong minh triết, và trong chúng ẩn chứa những nguyên nhân thực sự cho việc chúng ta đang ở đây và bây giờ—những hạt giống của những phẩm tính của trí tuệ và trái tim của chúng ta. Ở cấp độ này, Bản thể không bị hạn chế bởi những giới hạn thông thường về thời gian, không gian và mối quan hệ nhân quả, mà có thể trải nghiệm được tính phổ quát của cuộc sống và nhận thức được những ý nghĩa và mối liên hệ thường bị giấu kín trong sự tồn tại ở thể hồng trần.
The causal body does not disintegrate after death as the astral and mental bodies eventually do, but persists from life to life. In Tibet, tulkus or “incarnations” are said to be saints or teachers who are reborn again and again with access to the same memories and capacities they had before. Although such cases are rare, there is within the causal dimension the distillation of all earthly experience, and because it is ever-present, this record is accessible to one who has the ability to perceive it.
Thể nguyên nhân không phân rã sau khi chết một thời gian như thể cảm dục và thể trí, mà nó tồn tại từ kiếp sống này đến kiếp sống khác. Ở Tây Tạng, tulkus hay “hóa thân” được cho là các vị lạt ma hay đại sư được tái sinh nhiều lần với khả năng lưu giữ những ký ức và năng lực mà họ có trước đây. Mặc dù các trường hợp như vậy rất hiếm, nhưng trong thể nguyên nhân có sự chắt lọc của tất cả kinh nghiệm đã trải qua, và bởi vì nó luôn tồn tại, những người có khả năng nhận biết có thể tiếp cận các thông tin lưu trữ này.
In the case of some of our patients, it was obvious to DVK that the problems she encountered were rooted at levels beyond the physical, the emotional or even the mental, and she therefore searched for their explanation more deeply, within the causal dimension.
Trong trường hợp một số bệnh nhân của chúng tôi mà bà DVK thấy rõ rằng những vấn đề gặp phải bắt nguồn từ các cấp độ cao hơn thể xác, tình cảm hoặc thậm chí là thể trí, và bà tìm kiếm lời giải thích sâu sắc hơn trong thể nguyên nhân.
3 Lama Anagarika Govinda. Foundations of Tibetan Mysticism. New York: E.P. Dutton, 1960, p. 134.
4 Arthur Avalon. The Serpent Power, Madras: Ganesh & Co., 1958, p. 156.
5 Op. city p. 141.
6 DVK will describe different patterns in auras and discuss their meaning in a forthcoming book.
3. Clairvoyance as a Diagnostic Tool—Thông nhãn như một công cụ chuẩn đoán
VIII. The Background of Clairvoyant Investigation—Cơ sở của Nghiên cứu bằng thông nhãn
Materials obtained from clairvoyant research in this century are meager, and what there are, have for the most part been developed through personal initiative and without much attention to the need for verification. Consequently, although some literature on clairvoyant investigation is available, it is not of the kind to claim the attention of the scientific community. Nonetheless, it is important to note that, although the faculty of clairvoyance is rare, it is by no means an isolated phenomenon. For this reason, some survey of the historical material available to us may serve as context for the research offered here.
Những tư liệu thu được từ việc nghiên cứu bằng thông nhãn trong thế kỷ này còn sơ sài, và những tài liệu có được phần lớn được phát triển nhờ sự chủ động cá nhân, mà không có mấy sự chú ý đến nhu cầu xác thực. Do vậy, mặc dù có một số tài liệu về việc nghiên cứu bằng thông nhãn tồn tại nhưng đó không phải là loại tài liệu gây chú ý cho giới khoa học. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là dù năng lực thông nhãn là hiếm có nhưng đây chắc chắn không phải là một hiện tượng xảy ra hoàn toàn tách biệt. Vì lý do này, một cuộc khảo cứu về dữ kiện lịch sử mà chúng tôi có được có thể được dùng như nền tảng cho nghiên cứu đưa ra ở đây.
We shall confine ourselves to Westerners who have testified to paranormal abilities in their lives and in their work, leaving out accounts of Eastern seers. These are of course far more numerous, but since they are embedded in a culture which has always accepted the presence of unseen forces and higher dimensions of perception, little systematic effort has been made to correlate such accounts with empirical evidence.
Chúng tôi sẽ giới hạn bản thân vào việc nghiên cứu những người phương Tây đã từng kiểm nghiệm những khả năng khác thường trong cuộc sống và công việc, mà không tính đến trường hợp của những nhà thấu thị phương Đông. Tất nhiên, những người như vậy thì nhiều vô kể nhưng vì họ sống trong một nền văn hoá luôn chấp nhận sự hiện diện của những lực vô hình và những nhận thức từ chiều đo cao hơn nên ít có nỗ lực để hệ thống hoá được thực hiện để liên kết những quan niệm này với bằng chứng trong thực tế.
In the East, paranormal abilities are taken for granted as a concomitant or byproduct of training in yogic practices, and therefore the stress is always upon self-development, rather than the acquisition of powers per se. Yogis may be able to suspend their vital functions for days or weeks, live practically without food, maintain their bodily heat while sitting on a snow drift, levitate or leave their physical bodies at will, all without attracting much attention or arousing anyone’s interest in documenting such practices.
Ở phương Đông, các năng lực phi thường được cho là điều đương nhiên cùng xảy ra hay là kết quả phụ của việc đào tạo thực hành yoga, và do vậy, trọng tâm luôn đặt ở việc phát triển bản thân hơn là việc cố gắng có được những quyền năng như vậy. Các nhà yogi có khả năng ngưng các chức trọng yếu trong nhiều ngày hay nhiều tuần, sống gần như không cần thức ăn, duy trì được nhiệt độ cơ thể khi ngồi trong bão tuyết, nâng bổng hay rời khỏi cơ thể vật lý của mình khi muốn. Họ làm những điều này mà không gây chú ý hay kích thích sự quan tâm của bất kì ai vào việc tư liệu hoá những thực hành này.
In the West, however, paranormal abilities have traditionally been suspect, tainted with witchcraft and demonism at worst, or with hallucination or self-deception at best. The Saints and seers alone were exempt, since their visionary experiences were sanctified by a religious setting. With the rise of the Enlightenment in the eighteenth century and materialistic science in the nineteenth, the Western world-view had little room for anything that could not be explained in terms of physical reality.
Tuy nhiên ở phương Tây, những khả năng khác thường có truyền thống bị nghi ngờ, trường hợp tồi tệ nhất là bị gán với phù thuỷ và ma quỷ, hay trong trường hợp khá nhất thì gắn với bệnh ảo giác hay tự huyễn hoặc. Riêng các vị Thánh và các nhà thấu thị là ngoại lệ, bởi những kinh nghiệm có tầm nhìn của họ được thánh hoá bởi một cơ cấu dựa trên tôn giáo. Với sự nổi lên của phong trào Khai sáng ở thế kỷ 18 và khoa học duy vật ở thế kỷ 19, quan điểm phương Tây vẫn có ít chỗ cho bất cứ điều gì không thể giải thích được bằng thuật ngữ của hiện thực vật lý.
The end of the nineteenth century, however, saw the close of the era of the old physicalism. The discovery of X-rays and radioactivity came soon after a wave of interest in psychic phenomena, mediumship and after-death communications swept across England and America. Trance-mediumship, materializations, apports, psychic photography, the survival of the astral form after death and similar phenomena were all subjected to intensive investigation by persons of repute and critical judgment. Such well-known names as Sir William Crookes and Arthur Conan Doyle, along with the British Society for Psychical Research, are associated with the extensive investigations that were undertaken in many different aspects of psychism. Some of the pathfinders in this unexplored field are of great interest to those of us who are attempting to put present research into context, so that it does not appear to be an irrepeatable phenomenon.
Tuy vậy, giai đoạn cuối thế kỷ 19 đã chứng kiến sự kết thúc của kỷ nguyên chủ nghĩa duy vật kiểu cũ. Việc phát hiện ra tia X và phóng xạ xảy ra không lâu sau khi một làn sóng quan tâm đến hiện tượng tâm linh, đồng cốt và giao tiếp sau khi chết quét qua nước Anh và Mỹ. Nhập đồng, đồ vật hiện hình, phân thân, chụp ảnh hồn ma, sự tồn tại của thể cảm dục sau khi chết và những hiện tượng tương tự đều là mục tiêu cho những nghiên cứu kỹ càng bởi những người có uy tín và năng lực đánh giá một cách phân biện. Những cái tên nổi tiếng như Sir Willian Crookes và Arthur Conan Doyle, cùng với Hội nghiên cứu tâm linh nước Anh có liên quan đến nhiều nghiên cứu sâu sắc tiến hành trên các khía cạnh khác nhau của hiện tượng tâm linh. Một số trong số những người tiên phong trong lĩnh vực chưa ai khám phá này là mối quan tâm lớn đối với những người như chúng tôi, những người đang cố gắng đưa nghiên cứu tại thời điểm hiện tại vào một hoàn cảnh lịch sử để thấy rằng điều này không hiện lên như một hiện tượng chưa được lặp lại.
We shall begin this brief and acknowledgeably incomplete list with a physician, Philippus Theophrastus Bombast of Hohenheim, better known as Paracelsus, who lived and practiced at the beginning of the sixteenth century. He is believed to have traveled to India, where he studied esoteric principles. Certainly he was the first post-Renais- sance writer to describe the sevenfold constitution of man, earthbound spirits and the nature of the higher bodies. It was he who coined the term “astral,” meaning starry, although he applied it to what we now speak of as the etheric or vital field. From his writings it is apparent that he could see the etheric field and that he used his perceptions in medicine and healing. These practices brought him both fame and obloquy, and he is believed to have died from poisoning as a result of his unorthodox ideas.
Chúng tôi sẽ bắt đầu danh sách tóm lược và được coi là chưa đầy đủ này với bác sĩ trị liệu, Philippus Theophrastus Bombast của Hohenheim, được biết đến nhiều hơn với cái tên Paracelsus, đã sống và thực hành vào đầu thế kỷ 16. Ông được cho là đã tới Ấn Độ, nơi ông học các nguyên lý thần bí. Ông chắc chắn là tác giả thời kì hậu Phục Sinh đầu tiên miêu tả về cấu tạo bảy lớp của con người, về các tinh linh mặt đất và về bản chất của các thể cao hơn. Ông chính là người đã tạo ra thuật ngữ “cảm dục” (astral), có nghĩa lấp lánh như sao, mặc dù ông dùng nó để nói về cái chúng ta hiện thời nói về là trường năng lượng thể sinh lực hay dĩ thái. Những bài viết của ông cho thấy rõ ông có thể nhìn thấy trường dĩ thái và ông đã vận dụng những nhận thức của mình vào y học và chữa trị. Những phương pháp thực hành này đã mang tới cho ông cả danh tiếng lẫn lời lăng nhục, và ông được cho là đã chết vì nhiễm độc như một kết quả cho những ý tưởng không chính thống của mình.
Emanuel Swedenborg, best remembered for the church named after him, was a gifted and versatile scientist, noted as a palaeontologist, physicist and physiologist who studied the functions of the brain and of the ductless glands. In middle life, he left physical research for psychical investigation, for he testified that he had long been instructed by dreams, experienced visions and heard mysterious conversations—showing that his gifts included both clairvoyance and clairaudience. After an extraordinary spiritual experience, he devoted his life to theology and the study of the Christian scriptures, which he interpreted in the light of his insights.
Emanuel Swedenborg, được nhớ đến nhiều nhất nhờ một nhà thờ đặt theo tên ông, là một nhà khoa học uyên bác và tài năng, được ghi nhận như một nhà nghiên cứu sinh vật cổ, nhà vật lý và nhà sinh lý học, người đã nghiên cứu chức năng của não bộ và các tuyến nội tiết. Vào giữa cuộc đời, ông từ bỏ nghiên cứu vật lý để nghiên cứu về tâm linh, bởi ông đã kiểm nghiệm rằng ông thường được hướng dẫn bằng những giấc mơ, trải nghiệm nhiều hình ảnh và nghe thấy nhiều cuộc nói chuyện bí ẩn—điều này cho thấy năng lực bẩm sinh của ông bao gồm cả thông nhãn và thông nhĩ. Sau một trải nghiệm tâm linh khác thường, ông cống hiến đời mình cho thần học và nghiên cứu các kinh thánh Thiên chúa giáo, trong đó ông giải thích dựa trên ánh sáng từ sự thấu hiểu của mình.
The most remarkable psychic of recent times is undoubtedly Helena Petrovna Blavatsky, founder of the modern theosophical movement. From birth she was the focus of extraordinary events and mysterious phenomena. Although not a medium of the ordinary kind (for she in fact attacked mediumship as it was practiced in her day), she was able to act as a conscious channel and instrument for conveying the teachings of her Masters, whom she served as amenuensis in the writing of many notable works, including The Secret Doctrine, which became the source book for all subsequent theosophical and esoteric teachings. Her remarkable powers have been attested by large numbers of people, who saw her materialize objects, communicate with the unseen, control elemental spirits, and describe other dimensions of existence while she was in full waking consciousness.
Hiện tượng tâm linh đáng chú ý nhất thời gian gần đây không nghi ngờ gì cả chính là Helena Petrovna Blavatsky, người sáng lập phong trào Thông Thiên Học hiện đại. Từ khi ra đời bà đã là nơi hội tụ của những sự kiện khác thường và hiện tượng bí ẩn. Mặc dù không phải một dạng đồng cốt thông thường (bởi thực ra bà lên án hoạt động đồng cốt khi nó được thực hành ở thời của bà), bà có khả năng hoạt động như một kênh tâm thức và công cụ truyền tải giáo huấn của các vị Chân Sư của bà, những người mà bà phụng sự như một người biên chép các bài viết trong nhiều tác phẩm đáng chú ý, trong đó có Giáo Lý Bí Nhiệm, cuốn sách đã trở thành tác phẩm tham khảo gốc cho tất cả những giảng dạy về huyền môn và minh triết sau đó. Những năng lực đáng chú ý của bà đã được kiểm chứng bởi rất nhiều người, họ đã thấy bà làm đồ vật hiện ra, giao tiếp với người vô hình, điều khiển các tinh linh, và miêu tả những chiều đo khác của sự tồn tại trong khi bà hoàn toàn tỉnh thức.
In her voluminous writings, she frequently stressed the fact that there is nothing “supernatural” in the universe, and that paranormal abilities are responses to natural laws and forces which have not yet been discovered by science. She predicted in the 1880s that the prevailing materialism would be shattered before the end of the century, and that there would be a new understanding of the nature of matter itself. Many of her statements which were completely unacceptable to the science of her day have now become part of the contemporary world-picture. Her prophetic proposals include the concepts that every cell of the body contains that form’s blueprint, and that life is incipient in all matter, appearing spontaneously when the conditions are appropriate.
Trong các tác phẩm nhiều tập của mình, bà thường nhấn mạnh sự thật rằng không có gì “siêu nhiên” trong vũ trụ này, và rằng khả năng khác thường là sự đáp ứng với quy luật của tự nhiên và các lực chưa được khoa học tìm thấy. Bà tiên đoán vào những năm 1880 rằng chủ nghĩa duy vật đang thịnh hành sẽ tiêu tan trước khi kết thúc thế kỷ này, và từ đó sẽ có một cách hiểu mới về bản chất của vật chất. Rất nhiều lời khẳng định của bà hoàn toàn không thể chấp nhận được với giới khoa học thời bấy giờ hiện nay đã trở thành một phần trong bức tranh thế giới đương đại. Những đề xuất có tính tiên tri của bà bao gồm khái niệm về mỗi tế bào trong cơ thể đều chứa đựng bản thiết kế về hình tướng và sự sống luôn phôi thai trong mọi dạng vật chất, sẽ tự động hiện lên khi có các điều kiện thích hợp.
Blavatsky’s greatest contribution to the emergence of a new world-view was a comprehensive metaphysics which is able to overcome the dichotomy between consciousness and energy that has for so long plagued the West, by showing that they are complementary aspects of an underlying reality. This hypothesis furnishes the framework within which the subtler and more problematic aspects of nature and man can be integrated, making our hopes for an holistic world-view more realizable.
Đóng góp quan trọng nhất của bà Blavatsky cho một thế giới quan mới là khoa siêu hình học toàn diện trong đó nó có thể vượt lên sự phân chia giữa tâm thức và năng lượng mà trong một thời gian dài đã gây tổn hại cho phương Tây, bằng việc chỉ ra rằng chúng là những khía cạnh bổ sung cho nhau của một thực tại bên dưới. Giả thuyết này cung cấp cơ sở mà trong đó những khía cạnh tế vi và phức tạp hơn của giới tự nhiên và con người có thể được kết hợp lại, khiến niềm hi vọng của chúng ta về một thế giới quan toàn diện dễ được nhận ra hơn.
This metaphysics, conjoined with the new physics, has furnished the ground for describing the higher dimensions of human consciousness as universal fields, a development which we owe to F.L. Kunz, founder of the Center for Integrative Education and its innovative journal, Main Currents in Modem Thought. As a result, although this area of research has as yet scarcely been broached, it now becomes possible to systematize and explain phenomena which were formerly difficult to reconcile with scientific or medical findings. Whether or not Blavatsky’s contributions become widely acknowledged, all subsequent developments in the field of the paranormal may be said to have originated in her revolutionary work.
Khoa siêu hình học này, cùng với khoa vật lý mới cung cấp nền tảng cho việc miêu tả các chiều đo cao hơn của tâm thức con người như một trong các trường năng lượng vũ trụ, sự phát triển của lý thuyết này chúng tôi mang ơn F.L Kunz, người sáng lập Trung tâm Đào tạo tích hợp và tạp chí sáng tạo: Những dòng tư tưởng hiện đại chính. Kết quả là, dù lĩnh vực nghiên cứu này rất hiếm khi được đề cập nhưng hiện nay nó đã trở nên khả thi trong việc hệ thống hoá và lý giải hiện tượng mà trước đây rất khó hoà hợp được với những phát hiện của y học và khoa học. Dù những đóng góp của Blavatsky có được công nhận một cách rộng rãi hay không thì tất cả những phát triển theo sau đó trong lĩnh vực kỳ bí có thể được xem là bắt nguồn từ tác phẩm có tính đột phá của bà.
Another remarkable woman, who was drawn into the theosophical movement by her interest in Blavatsky’s writings, was Dr. Annie Besant. A social reformer who worked vigorously for human causes with Charles Bradlaugh in the Fabian Society, she became President of The Theosophical Society and moved to India, where she established a number of educational institutions, founded the well-known journal New India, and was imprisoned by the British for her efforts in behalf of India’s independence. She developed clairvoyance when she was in her late forties, and collaborated with C.W. Lead- beater in the writing of several books based on their observations, notably Occult Chemistry, Thought Forms, and Man and His Bodies. Later, when she became immersed in her public work in India, she deliberately shut off her psychic faculties, and ceased to pursue her clairvoyant investigations.
Một người phụ nữ đáng chú ý nữa, người đã bị thu hút vào phong trào Thông Thiên Học vì quan tâm tới các tác phẩm của Blavatsky, là Tiến sĩ Annie Besant. Bà là một nhà cải cách xã hội, người đã làm việc đầy nhiệt huyết với Charles Bradlaugh tại hội Fabian Society vì con người. Bà trở thành Hội trưởng Hội thông thiên học (The Theosophical Society) và chuyển tới Ấn Độ, nơi bà đã mở ra nhiều viện giáo dục, sáng lập tờ báo nổi tiếng New India, và bị người Anh giam cầm vì những nỗ lực của bà trong việc tranh đấu cho một Ấn Độ độc lập. Bà khai mở khả năng thông nhãn trong những năm cuối của tuổi bốn mươi, và đã kết hợp với ông C.W. Leadbeater để viết một số cuốn sách dựa trên những quan sát của mình, trong đó đáng chú ý là Hoá học huyền bí, Hình tư tưởng và Con người và các thể. Sau này, khi bà trở nên mải miết với công tác dành cho quần chúng ở Ấn Độ, bà chủ động đóng khả năng tâm linh của mình và ngừng việc theo đuổi các nghiên cứu bằng thông nhãn.
Charles W. Leadbeater has been mentioned already as a remarkably gifted clairvoyant who wrote extensively about his observations, especially concerning after-death conditions. His descriptions of the subtler dimensions of man—as in The Chakras (from which our illustrations are taken), which remains one of the most widely read books in the subject, and in Man Visible and Invisible, which describes the features of the human aura—are classics in the field of paranormal studies. His book Thought Forms, which holds that the mind has the ability to create tangible forms perceptible to sensitives, exerted considerable influence over many artists, such as Mondrian and Kandinsky.
Charles W. Leadbeater đã được nhắc tới như một nhà thông nhãn tài năng đáng chú ý, người đã viết hàng loạt về những quan sát của mình, đặc biệt quan tâm tới tình trạng sau khi chết. Những mô tả của ông về những chiều đo vi tế của con người—như trong Luân Xa (những hình minh hoạ của chúng tôi được lấy từ đó), cuốn sách đang giữ vị trí là một trong những cuốn được đọc nhiều nhất về chủ đề này, và ở Con người hữu hình và vô hình, trong đó miêu tả các đặc tính trong hào quang của con người—là những tác phẩm cổ điển trong lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng kỳ bí. Cuốn sách Hình Tư Tưởng trong đó cho rằng thể trí có khả năng tạo ra những hình thể xác thực có thể nhận biết được với những người nhạy cảm đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều nghệ sĩ, như Mondrian và Kandinsky.
Other well-known clairvoyants include Geoffrey Hodson, who is best known for his books about the angelic kingdom, such as The Kingdom of the Gods. He also did a considerable amount of medical research, some results of which are incorporated in his book An Occult View of Health and Disease. Perhaps because he was not born clairvoyant, but developed the faculty during his adult life, he gave the process considerable attention, as in his Science of Seership.
Những nhà thông nhãn nổi tiếng khác bao gồm Geofrey Hodson, người được biết đến nhiều nhất bởi những cuốn sách về giới thiên thần, như cuốn Thế giới của các Thiên Thần. Ông còn tiến hành một loạt các nghiên cứu y khoa, một số kết quả nghiên cứu đó được kết hợp viết vào sách Một cách nhìn huyền bí về sức khoẻ và bệnh tật. Có lẽ vì ông không sinh ra đã có khả năng thông nhãn mà phát triển năng lực này trong thời gian trưởng thành của cuộc đời nên ông đã dành cho quá trình này một sự chú ý đáng kể, được thể hiện trong cuốn Khoa học của sự thấu thị.
Phoebe Payne Bendit’s clairvoyance was principally of the etheric level, and in conjunction with her husband, Laurance Bendit, who was a physician, she wrote several studies of health and disease based on her observations. She also published a book called Mans Latent Powers, in which she described the differences she observed between conscious clairvoyance and trance-mediumship.
Khả năng thông nhãn của Phoebe Payne Bendit về cơ bản là ở tầng dĩ thái và cùng với chồng mình, Laurance Bendit, một nhà trị liệu, bà đã viết một vài nghiên cứu về sức khoẻ và bệnh tật dựa trên những quan sát của mình. Bà còn xuất bản một cuốn sách có tên Những năng lực tiềm ẩn của con người, trong đó bà mô tả những khác biệt bà quan sát được giữa thông nhãn hữu thức và hình thức đồng tử mê man.
There are a number of other figures whose contributions are primarily philosophical and theoretical, but in which occult investigations have played an important part. Among the most prominent of these is Rudolf Steiner, founder of the Anthroposophical Society. This movement holds many concepts in common with theosophy, but with special innovations and emphases, such as the application of metaphysics to mathematics, education and the arts. Steiner, a remarkably versatile man, was a scientist who used his clairvoyance to study nature, and as a result he developed theories about plant compatibility which have resulted in companion planting to prevent disease. His recommendations are still practiced in farming projects sponsored by the Anthroposophical Society, while his educational principles are basic to the successful Steiner and Waldorf schools, as well as to the Society’s fine work with the retarded.
Còn có nhiều nhân vật mà những đóng góp của họ chủ yếu về triết học và lý thuyết, nhưng trong đó nghiên cứu huyền bí học đóng một vai trò quan trọng. Trong số những ngừoi nổi bật nhất có Rudolf Steiner, người sáng lập Hội Nhân Thông học (Anthroposophical Society). Phong trào này có nhiều khái niệm chung với Thông Thiên Học nhưng có những sáng tạo và nhấn mạnh đặc biệt như việc ứng dụng siêu hình học vào toán học, giáo dục và nghệ thuật. Steiner, người có nhiều tài năng đáng chú ý, là một nhà khoa học đã sử dụng khả năng thông nhãn của mình để nghiên cứu thế giới tự nhiên và kết quả là ông đã phát triển các lý thuyết về sự phù hợp giữa các loài thực vật, điều này cho kết quả về khả năng trồng cây kết hợp nhằm phòng chống dịch bệnh. Những đề nghị của ông vẫn có tính thực tiễn trong nhiều dự án trồng trọt được tài trợ bởi Hội Nhân Thông học, trong khi những nguyên tắc giáo dục của ông là cơ sở cho sự thành công của trường phái giáo dục Steiner và Walgorf, cũng như công việc tốt đẹp của Hội với những người chậm phát triển.
Alice Bailey was another teacher, still influential in the field of esotericism, who was also recognized for her telepathic abilities. She is best known for a large body of writings which she stated were received telepathically from a Tibetan Adept known as Djual Khul. These writings stem from the work of H.P. Blavatsky, but differ from them in many details; they must, as the author herself has stated, be judged by their quality rather than by their source of inspiration.
Một huấn sư khác là bà Alice Bailey, người vẫn có ảnh hưởng trong lĩnh vực huyền bí học, người cũng được công nhận với khả năng viễn cảm của mình. Bà được biết đến nhiều nhất với công trình đồ sộ các tác phẩm trong đó bà tuyên bố rằng được nhận bằng viễn cảm từ Chân Sư Tây Tạng được biết với tên Djual Khul. Những cuốn sách này bắt nguồn từ công trình của H.P. Blavatsky, nhưng khác với chúng ở nhiều chi tiết; như chính tác giả cuốn sách khẳng định, chúng cần được đánh giá dựa trên chất lượng hơn là nguồn gốc của cảm hứng.
A somewhat different kind of paranormal ability was that which Nikola Tesla exhibited. Preeminent in the development of electrical instruments, he recorded that he had a vision of how electricity might be generated from waterfalls, and this was fulfilled twenty years later, in 1896, with a dynamo at Niagara Falls. It is said he was able to produce earthquakes at will, as well as lightning flashes forty meters long; he once lighted two hundred electric lamps twenty-five miles away, without any conductors. The American Encyclopedia describes him thus: “He had a way of intuitively sensing hidden scientific secrets, and employing his inventive talent to prove his hypotheses.”
Một khả năng khác thường thuộc loại có phần khác biệt là khả năng mà Nikola Tesla đã biểu lộ. Nổi bật trong việc phát triển các công cụ điện, ông ghi lại rằng ông đã có một viễn ảnh về cách mà điện năng có thể thu được từ thác nước, và điều này đã thành hiện thực hai mươi năm sau đó, vào năm 1896, với một máy phát điện tại thác Niagara. Ông còn được cho là có thể gây ra động đất bằng ý chí, cũng như tạo ra tia chớp dài bốn mươi mét; ông từng tạo ra ánh sáng cho các bóng điện cách đó hai mươi lăm dặm mà không cần dây dẫn. Bách khoa toàn thư Mỹ miêu tả ông như sau: “Ông có cách cảm nhận bằng trực giác những bí mật của khoa học, và vận dụng năng lực phát minh của mình để chứng minh cho những giả thuyết của ông.”
Turning to scientists who explored the field of the paranormal in various ways, we must note the work of Baron Karl von Reichenbach, a chemist, who was the discoverer of paraffin, creosote and pitacol, as well as an authority on meteorites and an industrialist whose empire stretched from the Danube to the Rhine. In 1845 he published seven controversial papers entitled “Researches on Magnetism, Electricity, Heat and Light and Their Relation to Vital Power,” in which he testified to evidence for what he called the “odic light.” He made careful and detailed observations of subjects who were able to perceive this light, which was similar to the vital field, but his work was rejected by the European scientific community, although accepted and translated into English by William Gregory, M.D.
Quay sang những nhà khoa học đã khám phá lĩnh vực bí ẩn theo nhiều cách khác nhau, chúng tôi chú ý đến nghiên cứu của Baron Karl von Reichenbach, một nhà hoá học, người phát hiện ra paraffin, creosote và pitacol, cũng là một chuyên gia về thiên thạch và một nhà tư bản công nghiệp mà đế chế của ông trải dài từ vùng Danube tới vùng đất sông Rhine. Năm 1845 ông xuất bản bảy bài viết gây tranh cãi với tiêu đề “Những nghiên cứu về Từ lực, Điện lực, Nhiệt và Ánh sáng và mối liên hệ của chúng với Năng lượng sống.” trong đó ông kiểm nghiệm để chứng minh cho cái ông gọi là “ánh sáng Odic”. Ông thực hiện những quan sát tỉ mỉ và cẩn thận các đối tượng có thể nhận biết loại ánh sáng này, loại tương tự như trường năng lượng sinh khí nhưng công trình này của ông bị cộng đồng khoa học Châu Âu bác bỏ, mặc dù được chấp nhận và biên dịch sang tiếng tiếng Anh bởi William Gregory, M.D.
Sir William Crookes (1832-1919), English chemist and physicist, discovered thallium, constructed the radiometer, and through his researches developed his theory of “radiant matter,” or matter in a “fourth state.” His inquiries into the nature of the rare earths, especially yttrium, led him to the theory that all elements have been produced by evolution from one primordial stuff. He was a keen student of psychic phenomena, as he testified in his work Researches in the Phenomena of Spiritualism, and sought to effect some correlation between the paranormal and ordinary physical laws.
Sir William Crookes (1832-1919), nhà vật lý và hoá học người Anh, đã khám phá ra thallium, chế tạo ra thiết bị đo bức xạ và từ những nghiên cứu của mình phát triển nên lý thuyết “vật chất phát xạ”, hay vật chất ở “trạng thái thứ tư”. Những nghiên cứu của ông về bản chất của các loại đất hiếm, đặc biệt là Yttri, đã đưa ông tới lý thuyết rằng tất cả các nguyên tố sản sinh qua quá trình tiến hoá đều từ một chất liệu nguyên thuỷ. Ông là một học viên say mê của hiện tượng tâm linh, như ông đã thể hiện trong cuốn Những nghiên cứu về Hiện tượng Tâm linh, nhằm tìm ra mối liên hệ giữa các quy luật vật lý thông thường và bất thường.
Others who should be mentioned as contributing to a scientific approach to the study of psychic phenomena are Walter J. Kilner, Alexis Carrel, M.D., Professor T. Fukurai of the Imperial University of Tokyo (who lost his position because of his interest in the field), Joseph Banks Rhine, whose research into telepathy and clairvoyance was founded on statistical evaluation, Oscar Bagnall, a biologist at Cambridge University who studied the human aura, and Sir George Hubert Wilkins, an explorer who carried out experimental work in telepathy. Special mention should be made of Edgar Cayce, whose outstanding medical work is still the subject of research and investigation.
Những nhân vật khác cần được nhắc tới vì những đóng góp cho phương pháp tiếp cận khoa học của việc nghiên cứu các hiện tượng tâm linh là Walter J. Kilner, Alexis Carrel, M.D., Professor T. Fukurai của Đại học Hoàng gia Tokyo (ông đã mất vị trí này vì sự quan tâm của mình trong lĩnh vực tâm linh), Joseph Banks Rhine, những nghiên cứu của ông về viễn cảm và thông nhãn được dựa trên đánh giá thống kê, Oscar Bagnall, một nhà sinh vật học ở Đại học Cambridge, người đã nghiên cứu hào quang con người, và ông Sir George Hubert Wilkins, một nhà thám hiểm đã tiến hành công việc thí nghiệm bằng viễn cảm. Đặc biệt cần nhắc đến Edgar Cayce với những thành tựu y học nổi bật vẫn đang là chủ đề của các cuộc nghiên cứu và khảo sát.
A number of researchers have made serious efforts to validate psychic phenomena through various kinds of testing. Evelyn M. Penrose was a sensitive who worked for the Canadian and Australian governments to find sources of water, as well as minerals and archeological sites. Andrija Puharich, M.D., and Dr. Charles Osis of the Society for Psychical Research have extensively documented the paranormal abilities of a number of psychics. The United States government as well as the Soviets have quietly pursued the possibilities of research into the as yet unexplored powers of the mind to deflect laser beams, modify magnetic fields, see at a distance and move objects. Sheila Ostrander and Lynn Schroeder documented the Russian efforts in this field in their book Psychic Discoveries Behind the Iron Curtain (1970), while Russell Targ and Harold Puthoff reported on American research in Mind Reach (1977), and more recently Targ collaborated with Keith Harary in The Mind Race (1984).
Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nỗ lực nghiêm túc nhằm chứng thực hiện tượng tâm linh qua nhiều hình thức kiểm nghiệm. Evelyn M. Penrose là một nhà ngoại cảm từng làm việc cho chính phủ Úc và Canada để tìm kiếm nguồn nước cũng như khu vực khảo cổ và có khoáng vật. Andrija Puharich, M.D., và Dr. Charles Osis thuộc Hội Nghiên cứu tâm linh đã tư liệu hoá số lượng lớn thông tin về năng lực khác thường của nhiều nhà ngoại cảm. Chính phủ Mỹ cũng như Soviet đã lặng lẽ theo đuổi các khả năng nghiên cứu năng lực chưa được khai phá của tâm trí như làm lệch hướng tia lazer, biến đổi năng lượng từ trường, nhìn từ xa và di chuyển đồ vật. Sheila Ostrander và Lynn Schroeder đã tư liệu hoá nỗ lực của Nga trong lĩnh vực này trong cuốn sách Những khám phá tâm linh sau tấm rèm sắt (1970), trong khi Russell Targ và Harold Puthoff tường trình nghiên cứu của Mỹ trong Vươn tới tâm trí (1977), và gần đây hơn Targ hợp tác với Keith Harary trong cuốn Chủng tộc Tâm trí (1984).
In recent years, a number of people endowed with various forms of higher sense perception have collaborated with researchers in several fields. Stephan A. Schwartz describes in his book, The Alexandria Project, how psychics with the ability of “remote viewing,” or seeing at a distance, contributed to the success of his archaeological project, their impressions being later confirmed by work on the site. Others have used the same abilities in finding underwater treasures in sunken ships. In another field, John Taylor, a physicist and mathematician at Kings College, London, described in Superminds (1975) how metals broken psychically differ in structure from those broken physically. In the field of health and healing, Dr. Bernard Grad of McGill University in Montreal, Canada, studied the beneficial effects of healing energies on both plants and mice in the laboratory. He described the effects achieved by a noted healer, Colonel Oskar Estabany, in speeding the rate of healing in wounds of mice, as well as in sprouting damaged plant seeds. These tests were all conducted under controlled conditions. Dr. Grad also found that flowers wilted more rapidly when in contact with mentally depressed patients than in the presence of normal persons.
Trong những năm gần đây, nhiều người sở hữu các hình thức khác nhau của tri giác cao hơn đã cộng tác với các nhà nghiên cứu trên một số lĩnh vực. Stephan A. Schwartz miêu tả trong cuốn sách của mình, Dự án Alexandria, cách những nhà ngoại cảm với khả năng “nhìn từ xa”, hay thấy từ một khoảng cách xa góp phần vào thành công của dự án khảo cổ của mình, những ấn tượng họ nhận được sau này được khẳng định bằng công tác trên hiện trường. Những người khác thì sử dụng khả năng như vậy để tìm kho báu dưới nước trong các con tàu đắm. Trên một lĩnh vực khác, John Taylor, một nhà vật lý và toán học ở trường cao đẳng King College, London đã mô tả trong Những tâm trí siêu việt (1975) cách kim loại bị vỡ bằng thông linh khác với cấu trúc mảnh kim loại vỡ về mặt vật lý. Trong lĩnh vực sức khoẻ và chữa bệnh, bác sĩ Bernard Grad của trường đại học McGill ở Montreal, Canada đã nghiên cứu những tác động có lợi của năng lượng chữa lành trên cả cây cỏ và loài chuột trong phòng thí nghiệm. Ông mô tả những ảnh hưởng đạt được qua một người chữa lành nổi tiếng, Đại tá Oskar Estabany, trong việc tăng tốc độ lành lại ở vết thương của chuột cũng như việc ươm mầm các hạt giống bị hỏng. Những lần thí nghiệm này được thực hiện dưới điều kiện có kiểm soát. Tiến sĩ Grad cũng nhận thấy rằng hoa sẽ bị héo nhanh hơn khi tiếp xúc với các bệnh nhân trầm cảm hơn là khi chỉ có sự hiện diện của người bình thường.
Continuing this research, Sister Justa Smith developed a project whose aim was to compare the activity of the enzyme trypsin when treated by Colonel Estabany’s laying- on-of-hands with exposure to the effects of a magnetic field. The colonel was asked to put his hands around a stoppered glass flask containing the enzyme solution for a maximum of seventy-five minutes. The results were published by Sister Justa in a paper entitled ‘‘Paranormal Effects on Enzyme Activity,” which concluded that “the evidence presented indicates that exposure of a trypsin solution to the healing power of the laying-on-of-hands as performed by Colonel Estabany is qualitatively and quantitatively similar to that of a magnetic field. This would imply that healing can be induced by a magnetic field.” The research thus indicates that biological changes may occur when in contact with the hands of some healers, although not all healers were able to duplicate Colonel Estabany’s accomplishment (Chapter XVI.)
Tiếp tục nghiên cứu này, Sơ Justa Smith đã triển khai một dự án với mục tiêu so sánh hoạt động của enzyme tripxin khi được chữa trị bởi phương pháp đặt-tay-bên trên của Đại tá Estabany với việc chịu tác động của từ trường. Đại tá được yêu cầu đặt hai tay xung quanh một bình thuỷ tinh được nắp chặt có chứa dung dịch enzyme trong khoảng thời gian lâu nhất là bảy mươi lăm phút. Kết quả được xuất bản bởi Sơ Justa trong bài báo có tiêu đề “Những hiệu ứng khác thường trên hoạt động của enzyme” trong đó kết luận rằng “bằng chứng được trình bày đã chỉ ra rằng sự tiếp xúc của dung dịch trypsin với năng lượng chữa lành từ việc đặt tay-lên-trên như được thực hiện bởi Đại tá Estabany tương tự về mặt định tính và định lượng với khi nó phản ứng với từ trường. Điều này đơn giản nói lên rằng công việc chữa lành có thể đạt được kết quả nhờ năng lượng từ trường.”. Như vậy nghiên cứu đã cho thấy rằng những thay đổi trong năng lượng sinh học có thể xảy ra khi tiếp xúc với bàn tay của một số nhà chữa lành, mặc dù không phải nhà chữa trị nào cũng có thể làm được y hệt những kết quả đạt được của Đại tá Estabany (Chương XVI).
To conclude this brief survey, we should mention the importance of changing attitudes which are gradually becoming evident in the scientific community, and which are much more hospitable to supersensory research. The most revolutionary development is the acknowledgment that consciousness plays a critical and pervasive role in physical existence. Since many scientists are not yet ready to take this role into consideration, we would like to offer a few statements which support it. Prof. George Wald, Nobel Laureate in Physics, said in a 1985 talk: “It will never be possible to identify physically the presence or absence of consciousness [It is] a time less and pervasive property, a complementary aspect of all reality.” Addressing the famous question raised by Descartes with respect to the fundamental dualism of mind and matter, Eric Jantsch writes in The Self-Organizing Universe: “Mind is immanent... in the processes in which the [living] system organizes and renews itself and evolves” (p. 162). And in the same vein, quantum physicist Erwin Schroedinger wrote in What Is Life?: “Consciousness is associated with the learning of the living substance” (p. 103). In their book Einsteins Space and Van Gogh’s Sky, Larry Le Shan and Henry Margenau quote A.S. Eddington, a physicist who wrote in 1926 that “the division of the external world into a material world and a spiritual world is superficial” (p. 236). Discussing characteristics of the domain of consciousness, they conclude that “the observables will be different in sharpness and distinguish- ability from those in the sensory realm. There are no ‘things’ in this realm, only ‘processes.’ “ Also, “observables have ‘limited access’—that is, they can only be observed by one person—in contrast to the ‘public access’ of observables in many other realms.” These statements certainly have bearing upon the materials of our study.
Để kết thúc phần tổng quan vắn tắt này, chúng ta nên nói đến tầm quan trọng của sự thay đổi thái độ đang dần hình thành trong giới khoa học và ngày càng nồng hậu hơn với các nghiên cứu về siêu giác quan. Sự phát triển cách mạng nhất là việc công nhận rằng tâm thức đóng một vai trò trọng yếu và chủ chốt trong sự hiện hữu vật lý. Vì nhiều nhà khoa học chưa sẵn sàng công nhận vai trò này, chúng tôi muốn đưa ra một vài quan điểm ủng hộ. Giáo sư George Wald, người được giải Nobel vật lý đã nói trong một bài phát biểu năm 1985: “Không bao giờ có thể nhận ra sự có mặt hay vắng mặt của tâm thức về mặt vật lý… [đó là] một đặc tính nổi bật và bất biến, một khía cạnh bổ sung cho mọi thực tại.”. Nói về câu hỏi nổi tiếng của Descarts trong mối liên hệ với bản chất nhị nguyên căn bản của tâm trí và vật chất, Eric Jantsch viết trong cuốn Vũ trụ tự tổ chức: “Tâm trí có ở khắp nơi…trong các quá trình mà hệ thống [sinh sống] tổ chức và làm mới chính nó và tiến hoá” (p.162). Trên cùng mạch ý tưởng này, nhà vật lý lượng tử Erwin Schroedinger đã viết trong Sự sống là gì? “Tâm thức có liên quan đến sự học hỏi của các vật chất sống” (p.103). Trong cuốn sách Không gian Einsteins và bầu trời Van gogh, Larry Le Shan và Henry Margenau trích A.S. Eddington, một nhà vật lý, người đã viết vào năm 1926 rằng “sự phân hoá của ngoại giới vào thế giới vật chất và thế giới tinh thần là giả tạm” (p 236). Bàn về đặc điểm của lĩnh vực tâm thức, họ kết luận rằng “những gì quan sát được sẽ khác biệt về độ sắc nét và có thể phân biệt được với những gì thuộc về địa hạt cảm giác. Không có một “vật thể” nào trong địa hạt này, chỉ có các “quá trình”. “Hơn nữa, những gì có thể quan sát được có “đường vào giới hạn”- tức là, chúng chỉ có thể được quan sát bởi một người- ngược lại với ‘đường vào công cộng’ của những thứ quan sát được ở những cảnh giới khác.”. Những kết luận này chắc chắn đã dựa trên những tài liệu trong nghiên cứu của chúng tôi.
Finally, we include the following quotation from physicist David Bohm’s book Wholeness and the Implicate Order, which suggests the best contemporary rationale for our research:
Cuối cùng, chúng tôi thêm vào phần trích dẫn sau đây từ cuốn sách của nhà vật lý David Bohm Cái toàn thể và một Trật tự ẩn tàng, để cho thấy lý luận đương thời tốt nhất dành cho nghiên cứu của chúng tôi:
The easily accessible explicit content of consciousness is included within a much greater implicit (or implicate) background. This in turn evidently has to be contained in a yet greater background which may include not only neuro-physiological processes at levels of which we are not generally conscious but also a yet greater background of unknown (and indeed ultimately unknowable) depths of inwardness that may be analogous to the “sea” of energy that fills the sensibly perceived “empty” space. (p. 210)
Phần dung lượng hiển hiện mà có thể dễ dàng thâm nhập vào của tâm thức nằm trong một hậu cảnh ẩn dấu (hay ẩn đi) lớn hơn rất nhiều. Hậu cảnh này đến lượt nó được xác minh là nằm trong một bối cảnh lớn hơn nữa mà có thể bao gồm không chỉ các quá trình thần kinh-sinh lý ở những cấp độ nằm ngoài tầm nhận thức nói chung của chúng ta nhưng còn một bối cảnh đằng sau lớn hơn nhiều nữa của những chiều sâu chưa được biết đến (và thực sự cuối cùng vẫn không thể nào biết được) về sự sâu thẳm bên trong mà có thể tương tự như một “biển” năng lượng lấp đầy không gian “trống rỗng” có nhận thức được bằng giác quan.(p.210).
Our investigations certainly support this view. The fact that neurophysiological processes are accompanied (or often preceded) by changes in the content of consciousness is an important conclusion derived from the study; even more striking, perhaps, is the “sea of energy” which not only pervades “empty” space but is focused and processed by those organs of consciousness called the chakras.
Các nghiên cứu của chúng tôi tất nhiên ủng hộ quan điểm này. Sự thật rằng các tiến trình sinh lý thần kinh được đồng hành (hay thường là đến trước) bởi những thay đổi trong nội dung của tâm thức là một kết luận quan trọng xuất phát từ nghiên cứu này; Nổi bật hơn, có lẽ là việc “biển năng lượng” không những lấp đầy khoảng không “trống rỗng” mà còn được tập trung lại và xử lý bởi các cơ quan hoạt động của tâm thức gọi là luân xa.
The idea that consciousness and matter are inseparable concomitants of existence is an esoteric or theosophical concept which helps to furnish both a context and an explanatory principle for paranormal phenomena. The research offered here has a dual role: it tests the validity of extrasensory perception; but even more importantly, it reveals some of the dimensions of consciousness and the interplay between these dimensions and those of physical reality.
Ý tưởng rằng tâm thức và vật chất là hai phần đi đôi không thể tách rời của sự hiện hữu là một khái niệm huyền môn hay minh triết thiêng liêng, nó đã giúp cung cấp hoàn cảnh và một quy tắc giải thích cho các hiện tượng kỳ bí. Nghiên cứu này cho ra ở đây một vai trò kép: nó kiểm tra tính hợp lý của việc nhận thức bằng giác quan bổ sung; nhưng quan trọng hơn cả, nó tiết lộ một số chiều đo của tâm thức và sự tương tác giữa các chiều đo này và những chiều đo của thực tại vật lý.
IX. The Use of Clairvoyance in Research—Việc sử dụng thông nhãn trong nghiên cứu
In Chapter II we suggested that higher sense perception can offer a more complete picture of human functioning than is so far available, and also that such perceptions can become incorporated into the body of accepted knowledge only if they meet the test of empirical evidence. In our work there was a consistent effort to test the research against available medical records, but it is obvious that the control was far from perfect. Nevertheless, since such exploratory procedures are necessary in order to open up a new field, we want to share with the reader some details of the way we worked together and the problems we encountered.
Ở chương II, chúng tôi đã gợi ý rằng việc nhận thức bằng giác quan cao hơn có thể cung cấp một bức tranh hoàn thiện hơn về cách con người thực hiện các chức năng hiện có cho tới nay, và những nhận thức đó cũng có thể được kết hợp với một bộ phận tri thức đã được chấp nhận chỉ khi nào chúng vượt qua bài kiểm tra với những bằng chứng từ thực tế. Trong công việc của chúng tôi, có những nỗ lực nhất quán nhằm kiểm tra nghiên cứu với những ghi chép y khoa hiện có, nhưng rõ ràng là sự kiểm soát này không thể được hoàn hảo. Tuy nhiên, do những quy trình khám phá như vậy là cần thiết để khai mở một lĩnh vực mới, chúng tôi muốn chia sẻ với bạn đọc một vài chi tiết trong phương pháp chúng tôi cùng làm việc và những vấn đề chúng tôi gặp phải.
During the first two years of our research, presumably healthy people were observed, in order to get a general idea what it is that DVK perceives. With increased observations, many factors which intervene when disease is present became apparent. This helped to increase our knowledge of the characteristics of the chakras and of the fields which they epitomize.
Trong suốt hai năm đầu của cuộc nghiên cứu, những người giả định là mạnh khoẻ được quan sát nhằm có được một ý tưởng chung về cái mà DVK nhận thấy. Khi số lượng các quan sát tăng lên, nhiều yếu tố can dự vào khi có sự xuất hiện của bệnh tật trở nên rõ ràng. Điều này giúp kiến thức của chúng tôi về các đặc điểm của luân xa và của các trường năng lượng mà chúng thu lại tăng lên.
Prior to our collaboration, DVK had seen patients mainly at the request of their medical doctors when she was asked for her evaluation. The emphasis was primarily on observations of the astral vehicles of the patients, in order to discover the causes of the emotional problems which were a factor in their diseases. In our work together, however, she was asked to focus her clairvoyant vision primarily at the etheric level, in order to observe the structure and function of the endocrine glands and the chakras which control them. The accuracy of her etheric sight was to be determined by the correlation of her observations with the patients’ case histories.
Trước khi có sự cộng tác giữa chúng tôi, DVK đã thấy các bệnh nhân chủ yếu theo yêu cầu của các bác sĩ y khoa khi bà được hỏi về sự đánh giá của bà. Lúc đầu, trọng tâm là quan sát thể cảm dục của bệnh nhân để khám phá ra nguyên nhân của các vấn đề về cảm xúc vốn là một yếu tố trong bệnh tật của họ. Tuy nhiên, trong khi cùng làm việc với nhau, bà đã được yêu cầu tập trung tầm nhìn thông nhãn chủ yếu ở tầng dĩ thái, để quan sát cấu trúc và chức năng của tuyến nội tiết và các luân xa kiểm soát chúng. Sự chính xác trong hình ảnh dĩ thái của bà được xác định bằng sự tương quan giữa những quan sát cả bà với lịch sử ca bệnh của các bệnh nhân.
DVK did not make a diagnosis as such, since she had no knowledge of medicine, nor was she familiar with the appropriate terms to describe what she saw. But her observations of the etheric abnormalities in the chakras and their corresponding endocrine glands left no doubt as to their accuracy. Over a period of time, she was presented with many rare medical cases, such as those in which the pituitary gland had been surgically excised for therapeutic purposes in patients suffering from cancer of the breast or thyroid (a practice in favor at the time). Most of the medically documented cases were obtained from the outpatient endocrine clinic of a prestigious medical school in New York City; other data were obtained in California.
DVK không thực hiện một chuẩn đoán chính thức nào như thế, bởi bà không có kiến thức về y học hay được làm quen với những thuật ngữ phù hợp để mô tả những gì bà nhìn thấy. Tuy nhiên những quan sát của bà trong những bất thường ở thể dĩ thái của các luân xa và các tuyến nội tiết tương ứng đã không để lại một nghi ngờ nào về tính chính xác của chúng. Sau một thời gian, bà được tiếp xúc với nhiều trường hợp y học hiếm gặp, như trường hợp tuyến yên đã được phẫu thuật cắt bỏ nhằm mục đích chữa trị ở những bệnh nhân bị ung thư vú hay tuyến giáp (một phương pháp chữa trị thịnh hành thời bấy giờ). Hầu hết các trường hợp được ghi lại về mặt y khoa đều được lấy từ bệnh viện nội tiết ngoại trú của một trường y có tiếng ở New York; các dữ liệu khác được lấy ở California.
DVK was asked to observe the chakras and the endocrine glands related to them, regardless of whether they appeared normal or abnormal. A chart was developed to record her findings, and this procedure was followed consistently.
DVK được yêu cầu quan sát các luân xa và các tuyến nội tiết liên quan của chúng, bất kể là chúng có vẻ bình thường hay bất thường. Một biểu đồ được phát triển để ghi lại những kết quả của bà, và quy trình này được thực hiện một cách thống nhất.
DVK never spoke to any of the patients. Her position at the back of the outpatient clinic, about twenty feet from the subjects, often precluded her from even seeing their faces. In any one morning session, two or three patients were randomly selected for her evaluation. She was asked to observe two or three of the etheric centers and the corresponding endocrine glands, and also to assess the patients’ general etheric fields. It usually took two to three hours to evaluate a single patient, if all the chakras were studied.
DVK chưa bao giờ nói chuyện với bất kỳ bệnh nhân nào. Vị trí ở đằng sau của phòng khám ngoại trú, khoảng hai mươi feet (5m) cách chủ thể, thường ngăn bà nhìn thấy ngay cả khuôn mặt họ. Trong mỗi phiên làm việc buổi sáng, hai hay ba bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên để bà đánh giá. Bà được yêu cầu quan sát hai hay ba trung tâm lực dĩ thái và các tuyến nội tiết tương ứng, và cả việc đánh giá trường năng lượng dĩ thái chung của bệnh nhân. Việc này thường mất khoảng hai đến ba giờ để đánh giá một bệnh nhân, nếu tất cả các luân xa được nghiên cứu.
The procedure was as follows: DVK filled out the chart form7 with her observations of the patients, while SK’s task was to obtain the medical charts of the patients under study and extract the relevant data. A few hours later we would compare notes and correlate the information.
Quy trình diễn ra như sau: DVK điền vào bảng các quan sát của bà về bệnh nhân, trong khi nhiệm vụ của SK là tìm ra những bảng có thông tin y khoa của bệnh nhân đang được nghiên cứu và trích lục những dữ kiện phù hợp. Vài giờ sau đó chúng tôi sẽ so sánh hai phần ghi chú và tìm mối liên hệ giữa các thông tin.
Working at the outpatient clinic was not an easy task for DVK, because of her sensitivity to those who were filled with anxiety and suffering pain, but we had no choice if we were to obtain the documentation we needed. The work was much easier, however, in the cases we saw privately outside the hospital atmosphere. It should be mentioned that during the course of this research, we never charged a fee to anyone, whether seen in the clinic or privately. The research was supported by grants from foundations or friends, for when working in new and unorthodox fields, it is essential to remain free from outside control as well as pristine in one’s rejection of financial gain.
Làm việc ở bệnh viện ngoại trú không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với DVK, vì sự nhạy cảm của bà với những người đầy sự lo lắng và chịu đựng đau đớn, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác nếu muốn có được những tài liệu chúng tôi cần. Tuy nhiên, công việc sẽ dễ dàng hơn nhiều khi chúng tôi nhìn riêng các trường hợp ngoài môi trường bệnh viện. Cũng cần nói rằng trong tiến trình nghiên cứu, chúng tôi chưa bao giờ thu phí với bất cứ ai, dù xem xét họ ở bệnh viện hay chỗ riêng tư. Nghiên cứu này được tài trợ từ các quỹ và những người bạn, bởi khi làm việc trong một lĩnh vực mới mẻ và không chính thống, điều tối quan trọng là duy trì được sự tự do khỏi sự kiểm soát bên ngoài cũng như ban đầu trong việc từ chối thu lợi về tài chính của một nghiên cứu.
The Mechanics of Clairvoyant Perception—Những cơ chế của nhận thức bằng thông nhãn
Quite a number of people can see the general outlines of the etheric body, which extends about five centimeters beyond the physical, but very few have the ability to perceive the details of the etheric energy field and its centers.
Có khá nhiều người có thể nhìn thấy các đường nét chung của thể dĩ thái vươn ra khoảng 5 cm ngoài thể vật lý, nhưng có rất ít người có khả năng nhận thấy các chi tiết của trường năng lượng thể dĩ thái và các trung tâm lực của nó.
Some sensitives use various techniques to focus their awareness. For example, Frances Farrelly, who has a range of psychic abilities, uses a mechanism which she calls the “stick.” (See Chapter XVI for a more extended account of this sensitive’s accomplishments.) When she rubs her fingers on a piece of wood or plastic, while at the same time concentrating on a question for which she seeks an answer, she gets a feeling of stickiness if the answer is affirmative, but no change if it is negative. She has used the same method when dowsing on a map in order to locate water or minerals. Since the answer is merely yes or no, she must be very precise in her mental questions.
Một số nhà ngoại cảm vận dụng các kĩ thuật khác nhau để tập trung nhận thức của họ. Ví dụ như Frances Farrelly, người có một loạt các khả năng thông linh, sử dụng một cơ chế mà bà gọi là “keo dính”. (Xem Chương XVI để có được cái nhìn sâu sắc hơn về những thành tựu của nhà ngoại cảm này). Khi bà chà ngón tay mình vào một mảnh gỗ hay nhựa trong khi vẫn tập trung vào câu hỏi bà đang tìm câu trả lời, bà nhận được một cảm giác bám dính nếu câu trả lời được khẳng định, nhưng sẽ không có gì thay đổi nếu nó chưa được chắc chắn. Bà đã dùng phương pháp như vậy khi dò tìm mạch trên bản đồ để xác định nước hay khoáng chất. Bởi vì câu trả lời chỉ có thể là có hoặc không, bà phải rất chính xác trong các câu hỏi trong đầu mình.
This “stickiness” feeling has been elevated to the rank of a “scientific language” known as Digital Excitation Response (DER) at the Stanford Research Institute, a U.S. Government research center. It has been demonstrated that none of the so-called radionic instruments which use the “stick” as part of their mechanism will work unless the operator has the necessary degree of extrasensory perception, and this is why it has been declared illegal to use such instruments for diagnosis in the United States. Our principal interest was in discovering the mechanism which produces the stickiness. Asked to watch the phenomenon, DVK observed that there was an increase of etheric energy at the fingertips, but that this emanated from the mental level, since without focused thought the sticky feeling does not occur. Apparently this type of extrasensory perception was activated by rubbing the fingers across an object.
Cảm giác “bám dính” này được nâng lên tầm một “ngôn ngữ khoa học” được biết tới như là Phản ứng Kích Thích Số (DER) ở Viện nghiên cứu Stanford, một trung tâm nghiên cứu của Mỹ. Nó cho thấy rằng không có một công cụ được gọi là máy cảm xạ radionic nào sử dụng nguyên tắc “bám dính” như một phần trong cơ chế của chúng hoạt động nếu người điều khiển không có khả năng ngoại cảm ở mức độ cần thiết, và điều này giải thích tại sao việc sử dụng những công cụ như vậy trong chuẩn đoán ở Mỹ là phi pháp. Mối quan tâm chính của chúng tôi là tìm ra cơ chế tạo ra sự bám dính này. Được yêu cầu xem hiện tượng này, DVK đã thấy rằng có một sự tăng lên trong năng lượng dĩ thái ở các đầu ngón tay, nhưng những năng lượng này phát ra từ phân cảnh trí tuệ, vì nếu không có sự tập trung tư tưởng thì cảm giác bám dính này không xảy ra. Rõ ràng loại tri nhận ngoài giác quan này được kích hoạt bằng việc chà xát ngón tay trên một vật thể.
Those clairvoyants, such as DVK, who are able to perceive the chakras within the etheric body, are using quite a different mechanism, however. In them the etheric brow chakra, in conjunction with the crown center, forms the organ of perception for etheric, astral and mental energies. Even among those who have well developed etheric sight, differences exist in the degree of clarity, precision and detail in their vision. It is difficult to find someone of DVK’s ability who is at the same time willing to cooperate in time-consuming research that requires close attention and meticulous reporting. The clairvoyant has to focus and refocus constantly in order to report what is being observed. This is very strenuous, and three hours is the maximum time in which such work can be done efficiently without fatigue.
Những nhà thông nhãn như DVK, người có thể tri nhận các luân xa trong thể dĩ thái, tuy vậy lại sử dụng một cơ chế khá khác biệt. Ở họ, luân xa trán dĩ thái của họ cùng với luân xa đỉnh đầu tạo thành một cơ quan nhận biết năng lượng trí tuệ, cảm dục và dĩ thái. Thậm chí ngay cả trong số những người đã phát triển khả năng nhìn thấu thể dĩ thái, những khác biệt vẫn tồn tại trong mức độ rõ ràng, sắc nét và chi tiết trong hình ảnh của họ. Rất khó để tìm thấy một người có khả năng như DVK mà đồng thời sẵn lòng hợp tác cho việc nghiên cứu mất nhiều thời gian mà trong đó yêu cầu sự chú tâm cẩn thận và tường thuật tỉ mỉ như vậy. Nhà thông nhãn phải tập trung và liên tục tái tập trung để thuật lại những gì quan sát được. Việc này rất căng thẳng và ba giờ đồng hồ là thời gian tối đa một công việc như vậy có thể được hoàn thành hiệu quả mà không gây mệt mỏi.
The mechanism of clairvoyant perception is as baffling to the seers as to the researchers. The use of their faculty is automatic to those so endowed, but without exception they find it very difficult to analyze, just as the ordinary sighted person would find it impossible to describe the mechanics of vision. However, continued observation of clairvoyants in the process of using their faculty has produced some interesting facts.
Cơ chế nhận thức bằng thông nhãn gây bối rối cho cả những người thấu thị cũng như những nhà nghiên cứu. Việc sử dụng năng lực của họ là tự động với những người sở hữu nó nhưng nếu không có ngoại lệ thì họ đều thấy khó khăn khi phân tích, giống như một người có khả năng thị giác bình thường sẽ thấy không thể miêu tả cơ chế hoạt động của hình ảnh. Tuy nhiên, sự quan sát tiếp tục của các nhà thông nhãn trong quá trình sử dụng năng lực của mình đã cho ra một số thông tin thú vị.
The way DVK “turns on” her clairvoyance—Cách DVK “mở” khả năng thông nhãn
When SK observed DVK in the act of “turning on” her clairvoyance, a sudden change in the expression of the eyes became noticeable. The facial expression suggested an inward withdrawal of consciousness. Further study of this phenomenon led to an interesting neurological finding. The pupils of clairvoyants’ eyes become slightly dilated and fixed for the whole period during which they are using this faculty. If a light is flashed in their eyes, their pupils do not constrict in the normal way.8 But when the clairvoyants return to normal physical vision, their pupils immediately react with the light reflex, and contract normally. The seers have no control over this neurological reflex phenomenon, and are not aware of it. In fact, they were surprised when it was pointed out to them.
Khi SK quan sát DVK “mở” khả năng thông nhãn của mình, một sự thay đổi đột ngột trong biểu cảm của đôi mắt trở nên đáng chú ý. Biểu cảm của khuôn mặt gợi ý một sự rút vào bên trong của tâm thức. Nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng này dẫn đến một kết quả thần kinh học thú vị. Con ngươi trong mắt của các nhà thông nhãn trở nên hơi giãn ra và cố định trong toàn thời gian họ sử dụng năng lực này. Nếu có tia sáng chiếu vào mắt họ, con ngươi sẽ không co lại theo cách thông thường.2. Nhưng khi nhà thông nhãn trở về tầm nhìn vật lý bình thường, đồng tử của họ ngay lập tức phản ứng với sự phản chiếu ánh sáng và co giãn một cách bình thường. Những nhà thấu thị không kiểm soát hiện tượng phản chiếu thần kinh và không ý thức về điều này. Trong thực tế, họ bất ngờ khi việc này được chỉ ra cho họ.
However, when seers concentrate upon their clairvoyant faculties, they retain full waking consciousness. Under test, they have invariably been able to describe accurately where their skin was touched lightly with cotton while they were in the clairvoyant state.
Tuy vật, trong lúc tập trung vào năng lực thông nhãn, những nhà thấu thị giữ được tâm thức tỉnh táo hoàn toàn. Qua kiểm tra, họ có thể miêu tả chính xác qua nhiều lần vị trí da của họ được chạm nhẹ bằng bông khi họ đang trong trạng thái thông nhãn.
As explained, normal people were initially studied in order to establish a baseline for DVK’s observations of the energy fields and their centers. Later, documented medical cases were evaluated. As the variety of diseases increased, so many more types of etheric energy fields were described, and the research method became more practiced and skillful.
Như đã giải thích, ban đầu những người bình thường được nghiên cứu để thiết lập cơ sở cho các quan sát của DVK về các trường năng lượng và trung tâm lực của chúng. Về sau, các trường hợp y khoa đã được tư liệu hoá được khảo sát. Khi sự đa dạng của bệnh tật tăng lên thì rất nhiều loại trường năng lượng nữa được miêu tả và phương pháp nghiên cứu ngày càng trở nên thực tiễn và thuần thục.
In order to show some of the problems we encountered, and the difficulties the clairvoyant has in analyzing her own perceptions, we include a discussion between DVK and SK.
Để đưa ra một số vấn đề chúng tôi đã gặp phải, và những khó khăn mà nhà thông nhãn gặp trong khi phân tích sự nhận thức của chính mình, chúng tôi trích vào đây một thảo luận giữa DVK và SK.
SK: How do you see the internal organs of the body?
SK: Bà thấy các bộ phận bên trong cơ thể như thế nào?
DVK: I think I see two patterns, one of which is the energy pattern. I can tell at a glance whether there is a disharmony in this pattern, and it indicates to me where the disturbance is. Then I look at the disturbance in several ways. For example, I might look in detail at the chakra associated with that area. But at other times I might only look at the area that is disturbed. If I see a perturbation in the energy pattern, then I can, as it were, shift my focus and see the replica of the physical organs in the etheric body. How exact that replica is, or how exact my interpretation is, I do not know, but I think I can distinguish the things I am familiar with, such as blood and muscles.
DVK: Tôi nghĩ tôi thấy hai hình mẫu, trong đó một là hình mẫu năng lượng. Nhìn lướt qua thì tôi có thể nói liệu có sự không hoà hợp trong khuôn mẫu này không, và nó cho tôi thấy nơi mà sự rối loạn hiện diện. Sau đó tôi nhìn vào vị trí rối loạn theo nhiều cách. Ví dụ, tôi có thể nhìn vào chi tiết luân xa liên hệ với khu vực đó. Nhưng khi khác tôi có thể chỉ nhìn vào khu vực bị rối loạn. Nếu tôi thấy một sự xáo trộn trong hình mẫu năng lượng thì tôi có thể, như đã từng, chuyển sự tập trung của mình và nhìn vào bản sao của các bộ phận vật lý trong thể dĩ thái. Bản sao này chính xác ra sao hay sự luận giải của tôi chính xác thế nào thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ tôi có thể phân biệt giữa những thứ tôi quen thuộc như máu và cơ bắp.
SK: Is the blood different in color from the etheric, which you usually report appears grayish-blue?
SK: Màu của máu có khác so với màu của nó ở thể dĩ thái không, cái mà bà thường thuật lại là có màu xanh xám là gì?
DVK: That is the color of the etheric energy level. But when I look at an organ like the stomach in what I call “close focusing,” I see the blood as red.
DVK: Cái đó là màu của tầng năng lượng dĩ thái. Nhưng khi tôi nhìn vào bộ phận như dạ dày theo cách mà tôi gọi là “lấy nét gần”, tôi thấy máu màu đỏ.
SK: Let us take a blood vessel. How would you see it on the etheric level, and would it be different in terms of the energy pattern?
SK: Hãy lấy một mạch máu làm ví dụ. Bà thấy nó thế nào ở thể dĩ thái và có khác gì về mặt kiểu mẫu năng lượng không?
DVK: The energy pattern is like lines of electricity within the grayish-blue etheric body, and it also has a rhythm. But a blood vessel looks like a clear glass or plastic tube, through which a reddish fluid is running.
DVK: Kiểu mẫu năng lượng thì giống như các dòng điện nằm trong thể dĩ thái xanh xám, và nó cũng có một nhịp điệu. Nhưng một mạch máu thì trông như một cái cốc trong suốt hay ống nhựa, mà chất lỏng màu đỏ chảy qua đó.
SK: If you look at a vein on the dorsum [back] of my hand, how does it appear to you?
SK: Nếu bà nhìn vào một mạch máu ở phía sau bàn tay tôi, trông nó như thế nào?
DVK: It looks like a channel running just under the skin, with a faint clear yellowish color.
DVK: Nó trông như một con kênh chảy ngay dưới da, và có màu vàng nhạt trong suốt.
SK: If you look at the veins of an elderly person who might have changes in the blood vessels, would they be different?
SK: Nếu bà nhìn vào tĩnh mạch của một người già, người có thể đã có những thay đổi trong mạch máu, thì sẽ khác chứ?
DVK: The channel would not be so tight and firm; it might be wider. The tone would be more “soggy,” and there might be little particles in the flow, as well as small blockages. Material that appears a little “woody,” I take to be cholesterol.
DVK: Mạch này thì không được chặt và chắc chắn lắm; nó có thể có bề rộng lớn hơn. Trương lực thì “đẫm nước” hơn và có thể có các phân tử nhỏ trên dòng chảy, cũng như một vài điểm tắc nghẽn. Phần chất liệu trông hơi có “chất gỗ”, tôi cho đó là cholesterol.
SK: Is this material whirling?
SK: Vật chất này có xoay tít không?
DVK: No. There is whirling on the energy level, but the level I am speaking of is a replica of the physical world. It is much harder to concentrate on these etheric details than it is to look at the energetic aspects, because in the latter case you can make snap judgments based on an overall picture, and these are pretty accurate.
DVK: Không. Có cuộn xoáy ở tầng năng lượng nhưng tầng mà tôi đang nói đến là một bản sao của thế giới vật lý. Tập trung nhìn vào chi tiết thể dĩ thái khó hơn nhiều khi nhìn vào khía cạnh năng lượng bởi ở trường hợp sau bạn có thể có những đánh giá nhanh dựa trên bức tranh toàn cảnh, và những đánh giá này khá chính xác.
SK: Which level of the etheric would the blood represent, in comparison with the general energy level?
SK: Ở cấp độ dĩ thái nào máu đại diện cho, khi so sánh với cấp độ năng lượng nói chung?
DVK: Probably the lowest of the etheric. The energy is at a higher level.
DVK: Có lẽ là cấp thấp nhất của thể dĩ thái. Năng lượng thì ở một tầng cao hơn.
SK: Can you describe how you see a stomach ulcer?
SK: Bà có thể mô tả một vết loét dạ dày trông thế nào không?
DVK: At the edge of the stomach there is blood. The ulcer creates material which affects both the stomach itself and the blood which flows through the stomach. Sometimes I can see a lot of blood leaking into the big sack of the stomach, which then looks very raw around its walls.
DVK: Ở phần mép dạ dày có máu. Chỗ loét tạo ra loại vật chất tác động đến cả chính dạ dày và phần máu chảy qua dạ dày. Đôi khi tôi có thể thấy nhiều máu rò rỉ vào một túi lớn của dạ dày, túi này về sau trông rất trầy xước ở xung quanh thành bao của nó.
Causes of cancers—Nguyên nhân các bệnh ung thư
SK: How do you perceive the causes of the ulcer?
SK: Bà nhìn nhận thế nào về nguyên nhân gây nên khối u?
DVK: Ulcers result from emotional tension, but they also depend a great deal on individual temperament. One person can be extremely tense and yet have no stomach problem at all; he will never develop ulcers. My personal theory is that some people are born with certain etheric tendencies, as, for example, a weakness in the solar plexus. Such an individual will feel things very strongly, but he may try to suppress these emotions and remain calm. As a result, he builds up pressure in the digestive system and becomes more and more tense; this causes him to “thin out,” as it were, etherically speaking, so that he does not take in enough energy. I have seen the beginnings of an ulcer when it was still in the baby stage, and watched it become bigger and bigger over a period of time.
DVK: Các khối u là kết quả của cảm xúc căng thẳng nhưng chúng còn phụ thuộc nhiều vào tính khí của mỗi cá nhân. Một người có thể căng thẳng cực độ nhưng không bị vấn đề gì về dạ dày cả; anh ta sẽ không bao giờ phát triển khối u. Lý thuyết của cá nhân tôi là một số người sinh ra với những khuynhhướng dĩ thái nhất định, ví dụ, như một điểm yếu ở tùng thái dương. Những cá nhân này sẽ cảm nhận mọi thứ một cách mạnh mẽ, nhưng anh ta có thể có gắng kìm nén những xúc cảm này và giữ được bình tĩnh. Kết quả là, anh ta gây ra áp lực trong hệ tiêu hoá và trở nên ngày càng căng thẳng; việc này khiến anh ta “thưa ra”, như cách nói thể dĩ thái, khiến anh ta không thể lấy thêm đủ năng lượng. Tôi đã từng thấy sự bắt đầu của một khối u khi nó còn trong giai đoạn phôi thai, và chứng kiến nó ngày một trở nên to hơn theo thời gian.
SK: From your description, it appears that there is first a loss of vitality in the area—a blanching, so to speak, as though it was devitalized.
SK: Từ mô tả của bà, có vẻ là trước hết có một sự mất mát của sinh lực tại khu vực đó—có thể nói là một sự tẩy trắng, như thể là nó bị mất sinh lực.
DVK: That’s right; the tension begins first.
DVK: Đúng thế; sự căng thẳng bắt đầu trước.
SK: What does a healing ulcer look like?
SK: Một khối u đang lành lại trông thế nào?
DVK: The color of the blood returns to normal, and the energy swings up.
DVK: Màu sắc của máu trở lại bình thường và năng lượng tăng lên.
SK: Can you actually see where the ulcer is?
SK: Bà có thể thực sự thấy khối u nằm đâu không?
DVK: I have been able to see an ulcerous condition which has not yet reached the hemorrhage stage. The blood vessels look loose, and they widen in the area of the incipient ulcer.
DVK: Tôi có thể thấy trạng thái bị u nhọt mà chưa đến giai đoạn xuất huyết bên trong. Các mạch máu trông lỏng lẻo và chúng dãn rộng ra ở khu vực khối u mới chớm.
Following this dialogue, DVK was asked to observe some inanimate objects etherically, in order to discover whether what we call the nonliving has some degree of vitality. She had already made some observations of crystals and had seen that they have a small degree of etheric energy. She was handed a little piece of myrrh, and asked to compare it with the crystals. Without knowing quite what it was that she was holding in her hand, she reported as follows:
Sau đoạn đối thoại trên, DVK được yêu cầu quan sát một số vật thể vô tri ở thể dĩ thái nhằm khám phá xem liệu cái chúng tôi gọi là vật không sự sống có sinh khí ở mức độ nào. Bà đã thực hiện vài lần quan sát pha lê và đã thấy chúng có một mức nhỏ năng lượng dĩ thái. Bà được đưa cho một miếng nhỏ nhựa thơm và yêu cầu so sánh nó với phal ê. Không biết được gì về thứ bà đang cầm trên tay, bà thuật lại như sau:
“This is not a crystal because it does not have sharp lines and angles of energy through it. It does seem to be growing, but the process is more like cell reproduction than crystalline growth. The growth is more on the surface than at the core; it seems to grow on something else, and to draw energy from that source. As a whole, it is more alive than a crystal, but not as clear-cut. When I hold the piece in my hand, I have more etheric interaction with it than in the case of a crystal, and that interaction is more pronounced in the palm of the hand than in the fingers. This substance feels more porous than a crystal, and in response to the warmth of my hand, it seems to take in more energy than it gives out.”
“Đây không phải là pha lê bởi nó không có đường và góc sắc cạnh của năng lượng xuyên qua nó. Nó dường như chắc chắn đang phát triển nhưng quá trình này giống như sự tái tạo của tế bào hơn là sự kết tinh của tinh thể. Sự phát triển này nằm ở trên bề mặt hơn là ở chính giữa; nó dường như lớn lên nhờ vào một thứ khác, và thu năng lượng từ nguồn đó. Về tổng thể, nó sống động hơn pha lê nhưng nó không sắc nét bằng. Khi tôi cầm miếng này trong tay, có nhiều phản ứng dĩ thái với nó hơn là với một viên pha lê, và sự tương tác này nổi bật khi ở trong lòng bàn tay hơn là trên ngón tay. Vật chất này cảm giác xốp hơn pha lê và khi phản ứng với hơi ấm từ tay tôi, nó dường như lấy nhiều năng lượng vào hơn là tuôn ra.”
Continuing her observation of crystals, DVK was asked to evaluate a cylindrical white crystal sent us by Dr. Puthoff of Stanford University. This crystal had been bombarded by some kind of energy, and Dr. Harold Puthoff wanted to know whether the pattern of the crystal had been changed. DVK’s assessment was that the etheric energy field had been interfered with, and as a result the normal energy pattern had been fractured, so that the energy flow broke and went in a different direction. It flowed as though something had been done under pressure. This assessment was found to be correct.
Tiếp tục quan sát tinh thể pha lê, DVK được yêu cầu đánh giá một viên pha lê trắng hình trụ gởi tới chúng tôi từ Tiến sĩ Puthoff ở Đại học Stanford. Viên pha lê này đã được nạp bởi một số loại năng lượng, và Tiến sĩ Harold Puthoff muốn biết liệu hình mẫu năng lượng của viên pha lê này có bị biến đổi không. Đánh giá của DVK là trường năng lượng dĩ thái đã bị can thiệp và kết quả là khuôn mẫu năng lượng thông thường đã bị gãy nứt, cho nên dòng chảy năng lượng bị phá vỡ và chảy theo một hướng khác. Nó chảy như thể có gì đó được thực hiện dưới sức ép. Đánh giá này được coi là chính xác.
According to DVK, there is a far greater interaction between crystals, gemstones and human energy than most people realize. The crystalline structure is somehow able to pick up, focus and retain etheric energy for long periods of time, but in such a way that it is accessible and can be used by people as a focus in sending out healing energy.
Theo DVK, có một sự tương tác lớn hơn nhiều giữa tinh thể, đá quý và năng lượng con người hơn mức mà hầu hết mọi người nhận thức. Cấu trúc tinh thể bằng cách nào đó có thể nhận, tập trung và giữ năng lượng dĩ thái trong khoảng thời gian dài, nhưng theo cách có thể sử dụng được và con người có thể dùng như một vật tập trung để gửi ra năng lượng chữa lành.
Such observations indicate that not only is there an etheric field associated with living matter, but also that all natural substances have a degree of vitality or “life.” Our research did not take us very far in this direction, but it indicates the truth of V.A. Firsoff s statement, “We come here very close to the boundary line between life and non-life, if there is such a boundary. It may be no more than a matter of definition.”9
Những quan sát như vậy chỉ ra rằng không chỉ có trường dĩ thái liên quan đến vật chất sống mà cả những thực thể tự nhiên cũng có sức sống hay “sự sống” ở mức độ nào đó. Nghiên cứu này không đưa chúng tôi đi xa hơn theo hướng này nhưng đã cho thấy sự thật trong lời tuyên bố của V.A. Firsoff rằng “Chúng ta đến đây rất gần với ranh giới giữa sự sống và không sự sống, nếu như có một ranh giới nào như vậy. Đó có thể không là gì hơn là vấn đề định nghĩa.”
7 This form appears in the case histories which are included in the appendix.
8 SK took a great many photographs of DVK’s eyes during the times when she was using her clairvoyance, but unfortunately these were all lost following SK’s sudden death.
9 V.A. Firsoff. At the Crossroads of Knowledge. Ian Henry Publications, Ltd., 1977.
4. Observations of the Disease Process—Các Quan Sát của Tiến trình Bệnh tật
X. Variations in the Etheric Field— Những Biến Đổi Trong Trường Dĩ Thái
One of the primary aims of our research was to obtain a clear and precise description of the etheric body under normal healthy conditions, and to note the changes that take place when disease has set in or is imminent. It was of equal importance to observe, whenever possible, how healing is accomplished—whether spontaneously or with the aid of medications, healers or other therapeutic measures—and the changes effected thereby in vital functions.
Một trong những mục tiêu chính của nghiên cứu của chúng tôi là đạt được một mô tả rõ ràng và chính xác về thể dĩ thái trong điều kiện bình thường và khỏe mạnh, đồng thời ghi nhận những thay đổi xảy ra khi bệnh tật đã xuất hiện hoặc đang sắp xảy ra. Điều quan trọng không kém là quan sát, bất cứ khi nào có thể, cách trị liệu được thực hiện—dù tự phát hay với sự hỗ trợ của thuốc, nhà trị liệu hoặc các biện pháp trị liệu khác—và những thay đổi mà quá trình này mang lại trong các chức năng sinh lực.
Indications of health or disease—Dấu hiệu của sức khỏe hoặc bệnh tật.
Following a year of preliminary work, we developed an outline which listed all the characteristics of the etheric body that are of diagnostic importance.
Sau một năm làm việc sơ bộ, chúng tôi đã xây dựng một dàn bài liệt kê tất cả các đặc điểm của thể dĩ thái có tầm quan trọng chẩn đoán.
The first of these is color: normally, pale violet or blue-gray.
Đặc điểm đầu tiên là màu sắc: bình thường là tím nhạt hoặc xám xanh.
The second is degree of brightness: this may vary from strongly luminous to dull, but should be uniform throughout.
Đặc điểm thứ hai là độ sáng: điều này có thể thay đổi từ sáng mạnh đến mờ nhạt, nhưng nên đồng đều trên toàn bộ.
The third is motion: movement should be rhythmic throughout the field, but may be fast, average or slow.
Đặc điểm thứ ba là chuyển động: chuyển động nên nhịp nhàng trên toàn bộ trường, nhưng có thể nhanh, trung bình hoặc chậm.
The fourth is form: size, shape and symmetry are all important.
Đặc điểm thứ tư là hình dạng: kích thước, hình dáng và sự cân đối đều quan trọng.
The fifth is angle: the etheric should stand out at right angles to the physical body; if it is droopy in part or as a whole, this indicates ill health.
Đặc điểm thứ năm là góc: thể dĩ thái nên nổi bật vuông góc với thể xác; nếu bị rủ xuống một phần hoặc toàn bộ, điều này cho thấy sức khỏe không tốt.
The sixth is elasticity: the ability of the etheric to stretch and expand is a sign of health.
Đặc điểm thứ sáu là tính đàn hồi: khả năng co giãn và mở rộng của thể dĩ thái là dấu hiệu của sức khỏe.
The seventh is texture: the quality should be firm and fairly fine; if it is coarse, porous, spongy, thin or broken, it should be noted whether this condition is generalized or limited to a section of the etheric field, for this indicates some kind of illness or abnormality.
Đặc điểm thứ bảy là kết cấu: chất lượng nên chắc và khá mịn; nếu thô, xốp, mềm nhũn, mỏng hoặc bị đứt gãy, cần ghi nhận liệu tình trạng này có phổ biến hay chỉ giới hạn ở một phần trường dĩ thái, vì điều này cho thấy một loại bệnh tật hoặc bất thường nào đó.
All of these characteristics offer clues to the general state of health and indicate where we should expect physical problems to arise, and whether they will manifest soon or later in life.
Tất cả các đặc điểm này cung cấp manh mối về trạng thái sức khỏe chung và chỉ ra nơi chúng ta có thể mong đợi các vấn đề thể chất xảy ra, cũng như liệu chúng sẽ biểu hiện sớm hay muộn trong đời.
Finally, we looked for the general function of the etheric field as a whole, that is, the quality of the interactions within the chakra system as a whole, as well as the energy flow throughout the etheric body.
Cuối cùng, chúng tôi xem xét chức năng chung của trường dĩ thái như một tổng thể, tức là chất lượng tương tác trong hệ thống luân xa nói chung, cũng như dòng năng lượng trên toàn bộ thể dĩ thái.
For purposes of comparison, we established a norm against which we tested each patient:
Để so sánh, chúng tôi đã thiết lập một tiêu chuẩn mà theo đó chúng tôi kiểm tra từng bệnh nhân:
The average, healthy etheric body should have the following characteristics:
Một thể dĩ thái khỏe mạnh trung bình nên có các đặc điểm sau:
Color—pale violet-gray
Luminosity—moderate
Texture—firm and fairly fine
Elasticity—Moderate
Form—symmetrical
Rhythm—rhythmic and moderate in speed
Màu sắc —xám tím nhạt
Độ sáng —vừa phải
Kết cấu —chắc chắn và khá mịn
Tính đàn hồi —vừa phải
Hình dạng —đối xứng
Nhịp điệu —nhịp nhàng và tốc độ vừa phải
Special Indicators—Các chỉ dẫn đặc biệt
Certain features of the etheric have, in DVK’s experience, become indicators of malfunctioning or evidence of a disease process. When the outline of the etheric body is fairly stable and not dented or broken, this is an indication of health. If a person is ill, the outline of the etheric body becomes uneven and the normal energy flow through the chakras is reduced. This affects the energy flow of the different physical organs involved in the disease process.
Một số đặc điểm của thể dĩ thái, theo kinh nghiệm của DVK, đã trở thành dấu hiệu của sự rối loạn chức năng hoặc bằng chứng của một quá trình bệnh lý. Khi đường viền của thể dĩ thái khá ổn định và không bị lõm hoặc đứt gãy, điều này cho thấy sức khỏe tốt. Nếu một người bị bệnh, đường viền của thể dĩ thái trở nên không đồng đều và dòng năng lượng bình thường qua các luân xa bị giảm. Điều này ảnh hưởng đến dòng năng lượng của các cơ quan vật lý khác nhau liên quan đến quá trình bệnh lý.
When the energy pattern is closely knit, it is very resistant to invasion from the outside world, but when loose and porous it can be penetrated more easily, and therefore the subject is apt to take in whatever may be in the surrounding environment. In DVK’s opinion, vaccinations or infections for which we develop immunity produce variations in the cycle of the energy flow pattern, slight as these may be.
Khi mô hình năng lượng được liên kết chặt chẽ, nó kháng cự mạnh với sự xâm nhập từ thế giới bên ngoài, nhưng khi lỏng lẻo và xốp, nó có thể bị thâm nhập dễ dàng hơn, do đó người đó dễ hấp thụ bất kỳ yếu tố nào từ môi trường xung quanh. Theo ý kiến của DVK, việc tiêm chủng hoặc các bệnh nhiễm trùng mà chúng ta phát triển miễn dịch sẽ tạo ra các biến thể trong chu kỳ của mẫu năng lượng, dù rất nhỏ.
The blood flow and the lymphatic system are also important. Looked at clairvoyantly, the lymphatic system appears spongy and loosely woven. Etherically, the lymph seems to have a minus charge, while the blood has a plus charge. This conclusion was based on the observation that the blood had more “sparks” of etheric energy than the lymph, which appeared paler, slightly grayish in color, and less vigorous. The lymph seemed to be receptive in its interaction with the blood stream, as unwanted products in the blood were transferred to the lymph glands, which were perceived as holding points for certain energies rejected by the blood.
Hệ thống tuần hoàn máu và bạch huyết cũng rất quan trọng. Khi nhìn bằng khả năng thông nhãn, hệ thống bạch huyết trông giống như một mạng lưới xốp và lỏng lẻo. Về mặt dĩ thái, bạch huyết dường như mang điện tích âm, trong khi máu mang điện tích dương. Kết luận này dựa trên quan sát rằng máu có nhiều "tia lửa" năng lượng dĩ thái hơn bạch huyết, vốn có màu nhạt hơn, hơi xám và kém mạnh mẽ hơn. Bạch huyết dường như có tính chất tiếp nhận trong tương tác với dòng máu, khi các sản phẩm không mong muốn trong máu được chuyển sang các tuyến bạch huyết, vốn được nhìn nhận như các điểm giữ cho một số năng lượng mà máu loại bỏ.
The lymphatic system seems to balance the energy of the etheric body by controlling the amount of blood flowing to any one area.
Hệ thống bạch huyết dường như cân bằng năng lượng của thể dĩ thái bằng cách kiểm soát lượng máu chảy đến bất kỳ khu vực nào.
Variations in the Etheric Due to Paranormal Abilities—Biến đổi trong thể dĩ thái do các khả năng khác thường
In individuals who have some higher sense perception, especially telepathy, the etheric seems to be finer in texture than in the average person, and also slightly larger and more rhythmic.
Ở những người có khả năng nhận thức cao hơn, đặc biệt là viễn cảm, thể dĩ thái dường như mịn hơn về kết cấu so với người bình thường, đồng thời cũng lớn hơn một chút và nhịp nhàng hơn.
In the case of healers, the appearance of the etheric field varies. The majority of those who use their hands during healing are to some degree using part of their own etheric field to help the patient, though energies from the universal field also come into play. As a result, their etheric fields seem to have more elasticity than the average, thus enabling them to transmit energy to the patient. An exception to this practice was the case of the well-known healer, Katherine Kuhlman, (see Chapter XVI) who transmitted a type of energy which was not directly related to her own etheric field. She acted somewhat like a lightning rod, in that she was the agency through which etheric and/or astral energies in the general field were activated and transmitted. In the case of exceptional healers, such as Miss Kuhlman, there are other factors which come into play, and these will be discussed more fully in Chapter XVI.
Trong trường hợp của các nhà chữa lành, hình thái của trường dĩ thái thay đổi. Đa số những người sử dụng tay trong quá trình chữa lành đều sử dụng một phần trường dĩ thái của chính họ để giúp bệnh nhân, mặc dù năng lượng từ trường phổ quát cũng đóng vai trò. Do đó, trường dĩ thái của họ dường như có tính đàn hồi nhiều hơn so với người bình thường, giúp họ truyền năng lượng đến bệnh nhân. Một trường hợp ngoại lệ là nhà chữa lành nổi tiếng Katherine Kuhlman (xem Chương XVI), người truyền một loại năng lượng không liên quan trực tiếp đến trường dĩ thái của bà. Bà hoạt động giống như một cột thu lôi, là trung gian để kích hoạt và truyền năng lượng dĩ thái và/hoặc năng lượng cảm dục từ trường tổng thể. Trong trường hợp các nhà chữa lành xuất sắc như bà Kuhlman, còn có các yếu tố khác tham gia, và chúng sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong Chương XVI.
The etheric condition of a trance-medium—Tình trạng dĩ thái của một đồng tử-thoát thần
In a trance-medium, the etheric varies from the norm in several ways. If the medium goes into a trance frequently over a long period of time, certain changes take place. The texture of the etheric becomes increasingly spongy and porous, and its connection with the physical body loosens. Physical problems related to the kidneys, adrenals and water metabolism may arise from these etheric changes and abnormalities manifest themselves through fluctuations in body weight. In many cases of trance-mediumship the physical body type is heavy and retains fluids. Repetitive trance states also induce a loosening of the astral and mental fields from the etheric/ physical. By breathing over-rapidly, the medium may sometimes exit from the body, not in the normal manner via the crown chakra, but via the solar plexus. This separates the etheric from the astral and mental fields, and prevents the medium from recalling what took place during the trance. It also accounts for the fatigue and exhaustion that follow.—
Ở một trance-medium (đồng tử ở trạng thái thoát thần), thể dĩ thái khác biệt so với tiêu chuẩn theo nhiều cách. Nếu người này thường xuyên nhập vào trạng thái thoát thần trong thời gian dài, một số thay đổi sẽ diễn ra. Kết cấu của dĩ thái trở nên ngày càng xốp và lỏng lẻo, và sự kết nối của nó với cơ thể vật lý trở nên lỏng lẻo hơn. Các vấn đề về thể chất liên quan đến thận, tuyến thượng thận và sự trao đổi chất của nước có thể phát sinh từ những thay đổi này trong dĩ thái, và các bất thường biểu hiện thông qua sự dao động về trọng lượng cơ thể. Trong nhiều trường hợp của đồg tử, cơ thể vật lý có xu hướng nặng và giữ nước. Các trạng thái thoát thần lặp đi lặp lại cũng gây ra sự lỏng lẻo giữa cõi cảm dục và cõi trí với dĩ thái/vật lý. Khi thở nhanh quá mức, medium đôi khi có thể rời khỏi cơ thể, không phải theo cách thông thường qua luân xa đỉnh đầu, mà qua luân xa thái dương. Điều này tách rời thể dĩ thái khỏi thể cảm dục và thể trí, và ngăn đồng tử nhớ lại những gì đã diễn ra trong trạng thái thoát thần. Điều này cũng giải thích cho sự mệt mỏi và kiệt sức sau đó.
Observations of a Medium During Trance—Quan sát một Đồng Tử trong Trạng Thái thoát thần
In 1958 we observed B. Me., who had been a professional trance-medium for many years. Her etheric field had the following characteristics: The color was misty, grayer than average, and murky. It was of average brightness and rhythm, but the rate of movement was slow, increasing during the trance state. Her etheric was slightly larger than the average, extending beyond the physical body. Instead of the lines of energy being erect, it was droopy, and there seemed to be a depression on the left side of the head. The elasticity was excellent, but the texture was porous and spongy, and it was broken and segmented over the solar plexus area. This looseness and porosity were the most marked etheric characteristics.
Năm 1958, chúng tôi quan sát B. Me., người đã làm đồng tử chuyên nghiệp trong trạng thái thoát thần trong nhiều năm. Trường dĩ thái của bà có các đặc điểm sau: Màu sắc mờ mịt, xám hơn mức trung bình và đục. Độ sáng và nhịp điệu ở mức trung bình, nhưng tốc độ di chuyển thì chậm, tăng lên khi bà vào trạng thái thoát thần. Thể dĩ thái của bà hơi lớn hơn trung bình, vượt ra khỏi cơ thể vật lý. Thay vì các đường năng lượng thẳng đứng, chúng rũ xuống, và dường như có một chỗ lõm ở phía bên trái của đầu. Độ đàn hồi rất tốt, nhưng kết cấu thì xốp và mềm, bị phá vỡ và phân đoạn ở vùng luân xa tùng thái dương. Sự lỏng lẻo và tính xốp này là những đặc điểm dĩ thái nổi bật nhất.
DVK observed B. Me. both before and during the trance state. Just before she went into the trance and became unconscious, her solar plexus center began to vibrate, and at this point she took energy from the corresponding chakras of those present for whom she was giving the “reading,” thus establishing the contact.
DVK quan sát B. Me. cả trước và trong trạng thái thoát thần. Ngay trước khi bà vào trạng thái thoát thần và trở nên mất ý thức, trung tâm tùng thái dương của bà bắt đầu rung động, và tại thời điểm này, bà nhận năng lượng từ các luân xa tương ứng của những người có mặt, những người mà bà đang "đọc", từ đó thiết lập sự kết nối.
As she opened herself to the astral consciousness, her whole etheric became limp and droopy. Her breathing became rapid, which affected the brain, and she let herself lose conscious control of her body. As the core of her crown center opened and became more elastic, she herself became open to astral consciousnesses. This process took a few minutes, during which a degree of harmony and coordination was established between herself and the pulse of this new astral energy.
Khi bà mở mình ra với tâm thức cảm dục, toàn bộ thể dĩ thái trở nên mềm nhũn và rũ xuống. Nhịp thở của bà trở nên nhanh, ảnh hưởng đến não bộ, và bà để mất kiểm soát một cách có ý thức cơ thể. Khi lõi của luân xa đỉnh đầu mở ra và trở nên đàn hồi hơn, bà tự mở mình ra cho các tâm thức cảm dục. Quá trình này mất vài phút, trong đó một mức độ hài hòa và phối hợp được thiết lập giữa bà và nhịp năng lượng cảm dục mới này.
Shortly after this, B. Me. went into a full trance state and exited from her body. Her consciousness became completely quiescent when full harmony was established with the astral consciousness. Its rhythm was superimposed on hers, thus enabling it to use part of her brain mechanism, which changed at the moment she entered the trance state. The etheric brain pattern speeded up, yet at the same time dulled. Thus she became a focus for other influences, and spoke aloud and gave messages in an altered voice. During trance, both the crown and the solar plexus centers speeded up. The core of the throat center, like that of the solar plexus, opened and became wider. The core of the solar plexus, however, was the one most affected: as it became wider, it became more elastic and dysrhythmic, and this condition increased throughout the trance state. Also the reddish color of the chakra was accentuated.
Ngay sau đó, B. Me. bước vào trạng thái thoát thần hoàn toàn và rời khỏi cơ thể. Tâm thức của bà hoàn toàn tĩnh lặng khi sự hài hòa đầy đủ được thiết lập với tâm thức cảm dục. Nhịp điệu của nó được chồng lên nhịp điệu của bà, cho phép nó sử dụng một phần cơ chế não bộ của bà, điều này thay đổi vào thời điểm bà bước vào trạng thái thoát thần. Mẫu não dĩ thái tăng tốc, nhưng đồng thời trở nên kém nhạy bén hơn. Do đó, bà trở thành một tiêu điểm cho các ảnh hưởng khác và nói ra, đưa ra các thông điệp bằng một giọng nói đã thay đổi. Trong trạng thái thoát thần, cả luân xa đỉnh đầu và luân xa tùng thái dương đều tăng tốc. Lõi của luân xa cổ họng, giống như luân xa tùng thái dương, mở ra và trở nên rộng hơn. Tuy nhiên, lõi của luân xa tùng thái dương là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất: khi nó trở nên rộng hơn, nó trở nên đàn hồi hơn và bất nhịp, và tình trạng này gia tăng trong suốt trạng thái thoát thần. Ngoài ra, màu đỏ của luân xa này được nhấn mạnh rõ rệt.
B. Mc’s solar plexus center was the most developed of all her chakras, which made her sensitive to the feelings of other people, but at the same time had a deleterious effect on her adrenal glands.
Trung tâm tùng thái dương của B. Me. là trung tâm phát triển nhất trong tất cả các luân xa của bà, điều này khiến bà nhạy cảm với cảm xúc của người khác, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng xấu đến tuyến thượng thận của bà.
This case has been included because it is fairly characteristic of the phenomenon of trance-mediumship. In such a case, the physical senses become dulled; the person is commonly not aware of what is taking place, and does not remember what has been said. The consciousness is fully focused on another level.
Trường hợp này được đưa vào vì nó khá tiêu biểu cho hiện tượng thoát thần của một đồng tử. Trong những trường hợp như vậy, các giác quan vật lý trở nên kém nhạy bén; người đó thường không nhận thức được những gì đang diễn ra và không nhớ những gì đã được nói. Tâm thức hoàn toàn tập trung vào một cấp độ khác.
Today there are many people who are open to impressions of the emotional or astral level. However, this kind of sensitivity is not in the same class as that of trance-mediumship, which is a fairly rare phenomenon that usually develops quite early in life.
Ngày nay, có nhiều người nhạy cảm với các ấn tượng từ cấp độ cảm xúc hoặc cảm dục. Tuy nhiên, loại nhạy cảm này không cùng loại với trạng thái thoát thần của đồng tử, vốn là một hiện tượng khá hiếm gặp và thường phát triển từ rất sớm trong cuộc đời.
XI. The Chakras and the Endocrine Glands—Các Luân Xa và Tuyến Nội Tiết
During the course of our research into the role of the chakras in health and disease, over 200 cases were observed clairvoyantly, and in a large number of these the disease was found to be related to the endocrine glands (see pullout inside the back cover). In a small group of subjects, the astral as well as the etheric chakras were studied, and in a very few subjects, the mental chakras were added.
Trong quá trình nghiên cứu về vai trò của các luân xa trong sức khỏe và bệnh tật, hơn 200 trường hợp đã được quan sát bằng thông nhãn, và trong một số lượng lớn các trường hợp này, bệnh tật được phát hiện có liên quan đến các tuyến nội tiết (xem phụ lục bên trong bìa cuối). Trong một nhóm nhỏ đối tượng, các luân xa cảm dục cũng như dĩ thái được nghiên cứu, và trong một số ít đối tượng, các luân xa thể trí cũng được thêm vào.
We were fortunate to be able to keep contact with a few of the subjects over a period of time—in some cases, for many years. In those that received extensive follow-up (over twenty-five years), it was possible to verify DVK’s initial diagnosis of abnormalities through a subsequent onset of the indicated disease. In our present limited state of knowledge of the whole field of clairvoyant investigation, we do not know if it might be possible to modify an abnormal condition observed in the etheric centers before the disease manifests itself, and thus remove its causes.
Chúng tôi may mắn có thể duy trì liên lạc với một số ít đối tượng trong một khoảng thời gian dài — trong một số trường hợp, kéo dài nhiều năm. Đối với những người nhận được sự theo dõi mở rộng (hơn hai mươi lăm năm), chúng tôi có thể xác minh chẩn đoán ban đầu của DVK về các bất thường thông qua sự xuất hiện sau đó của bệnh được chỉ ra. Trong trạng thái hiểu biết hạn chế hiện nay của chúng tôi về toàn bộ lĩnh vực điều tra thông nhãn, chúng tôi không biết liệu có thể thay đổi một tình trạng bất thường được quan sát ở các trung tâm dĩ thái trước khi bệnh biểu hiện ra hay không, và do đó loại bỏ các nguyên nhân của nó.
Studies of the etheric chakras showed that whenever there were severe abnormalities in their colors, rhythm, direction of movement, brightness, form, elasticity and texture, this indicated a serious condition, probably resulting in the development of a disease, either in the endocrine glands related to that center or in that part of the body to which the center provides energy.
Các nghiên cứu về các luân xa dĩ thái cho thấy rằng bất cứ khi nào có những bất thường nghiêm trọng trong màu sắc, nhịp điệu, hướng di chuyển, độ sáng, hình dạng, tính đàn hồi và kết cấu của chúng, điều này cho thấy một tình trạng nghiêm trọng, có khả năng dẫn đến sự phát triển của một bệnh, hoặc trong các tuyến nội tiết liên quan đến trung tâm đó hoặc trong phần cơ thể mà trung tâm cung cấp năng lượng.
The Chakra System
Name
Color
Location
Gland
Crown
Gold core Violet/gold petals
Above the head
Pineal
Brow
Rose/yellow
Blue/purple
Between the eyes
Pituitary
Throat
Silvery blue
Base of neck
Thyroid/ Parathyroid
Heart
Golden yellow
Midway between shoulder blades
Thymus
Solar plexus
Many-colored: red and green
Navel
Adrenals/ pancreas
Root
Orange-red
Base of spine
Spine/ Glandular system
Lesser Chakras
Spleen
Many-colored: yellow, rose-red predominating
Left of abdomen, below 10th rib
Spleen/
Liver
Sacral
Vermilion red
Genital/spinal region
Ovaries/ testicles
Hệ thống luân xa
Tên
Màu sắc
Vị trí
Tuyến
Đầu
Lõi vàng, cánh hoa tím/vàng
Trên đầu
Tuyến tùng
Trán
Hồng/vàng, xanh dương/tím
Giữa hai mắt
Tuyến yên
Cổ Họng
Xanh lam ánh bạc
Gốc cổ
Tuyến giáp/tuyến cận giáp
Tim
Vàng kim
Giữa xương bả vai
Tuyến ức
Tùng thái dương
Nhiều màu: đỏ và xanh lá cây
Rốn
Tuyến thượng thận/tụy
Gốc
Cam-đỏ
Đáy cột sống
Cột sống/hệ thống tuyến
Các luân xa nhỏ
Tên
Màu sắc
Vị trí
Tuyến
Lá lách
Nhiều màu: vàng, hồng-đỏ chiếm ưu thế
Bên trái bụng, dưới xương sườn thứ 10
Lá lách/tuyến gan
Xương Cùng
Đỏ son
Vùng sinh dục/cột sống
Buồng trứng/tinh hoàn
Subsidiary Chakras: Palms of hands - Soles of feet
Luân xa phụ: Lòng bàn tay—Lòng bàn chân