[77]
[77]
THIS is the fourth in the series of talks which we have had the past month, and perhaps by means of them we have been able to get an idea of one of the fundamental principles which underlie evolution, and which can be seen working out in the solar system.
ĐÂY là bài thứ tư trong loạt các cuộc nói chuyện mà chúng ta đã có trong tháng qua, và có lẽ nhờ chúng mà chúng ta đã có thể có được một ý tưởng về một trong những nguyên lý cơ bản làm nền tảng cho sự tiến hóa, và có thể được nhìn thấy đang hoạt động trong hệ mặt trời.
Let us first briefly recapitulate, in order that we may approach our subject to-night with certain ideas clearly formulated. We have seen that our interpretation of the processes of nature necessitates a threefold concept, which concerns itself with the life aspect, with the substance aspect, and with their close interrelation through the faculty of intelligence manifesting as consciousness of some kind or other. This interrelation will produce, finally, the perfected expression (through the medium of matter) of the conscious purpose of some indwelling entity. I seek to emphasise the fact that the goal of my endeavour is to put before you a hypothesis and a suggestion which may have within it the germ of a possible [78] truth, and which seems to some of us the clearest way of explaining the mystery of the universe. We have seen that the three parts of the one great whole are Spirit, or Life, manifesting through a second factor which we call substance or matter, and utilising a third factor, which we call the intelligence. In the gradual synthesis of these three component aspects of deity can be seen the evolution of consciousness.
Trước tiên, chúng ta hãy tóm tắt ngắn gọn, để chúng ta có thể tiếp cận chủ đề của mình tối nay với những ý tưởng nhất định được hình thành rõ ràng. Chúng ta đã thấy rằng sự diễn giải của chúng ta về các quá trình của tự nhiên đòi hỏi một khái niệm tam phân, vốn liên quan đến phương diện sự sống, phương diện chất liệu, và mối tương quan chặt chẽ của chúng thông qua khả năng trí tuệ biểu hiện dưới dạng tâm thức thuộc loại này hay loại khác. Mối tương quan này cuối cùng sẽ tạo ra sự biểu hiện hoàn hảo (thông qua trung gian của vật chất) của mục đích có ý thức của một thực thể nội tại nào đó. Tôi tìm cách nhấn mạnh thực tế rằng mục tiêu của nỗ lực của tôi là đặt trước các bạn một giả thuyết và một gợi ý vốn có thể có bên trong nó mầm mống của một [78] chân lý khả dĩ, và dường như đối với một số người trong chúng ta là cách rõ ràng nhất để giải thích bí nhiệm của vũ trụ. Chúng ta đã thấy rằng ba phần của một tổng thể vĩ đại là Tinh thần, hay Sự Sống, biểu hiện qua một yếu tố thứ hai mà chúng ta gọi là chất liệu hay vật chất, và sử dụng một yếu tố thứ ba, mà chúng ta gọi là trí tuệ. Trong sự tổng hợp dần dần của ba phương diện cấu thành này của thượng đế, có thể thấy sự tiến hóa của tâm thức.
We next arrived at a more technical discussion of the subject of substance itself, dealing not with the differentiated substances or elements, but with the concept of a primordial substance, and endeavouring to get back as far as possible toward that which has been called by Sir William Crookes "protyle," or that which lies back of the tangible, or objective. We considered the atom, and found that its latest definition was that it was in reality a unit of force or energy consisting of a positive charge of electricity energising a number of negative particles. It became apparent to us that the tiny atom of the chemist and the physicist was within itself a solar system, with the same general conformation as the greater system, demonstrating a similar activity and governed by analogous laws. We found that it had a central sun, and that around this central sun, pursuing their definite orbits, might be seen the electrons. We noted, also, the fact that the elements differ [79] only according to the number and the arrangement of these electrons around the central positive charge. From this we passed on to the consideration of the soul, or the psyche, of the atom, and found that scientists recognise the truth that atoms themselves possess quality, show symptoms of mind or intelligence, and can discriminate, select, and choose.
Tiếp theo chúng ta đã đi đến một cuộc thảo luận chuyên môn hơn về chủ đề của chính chất liệu, không đề cập đến các chất liệu hay nguyên tố đã biệt phân, mà với khái niệm về một chất liệu nguyên thủy, và nỗ lực quay trở lại càng xa càng tốt về phía cái đã được Sir William Crookes gọi là "protyle", hay cái nằm đằng sau cái hữu hình, hay khách quan. Chúng ta đã xem xét nguyên tử, và thấy rằng định nghĩa mới nhất của nó là nó thực tế là một đơn vị lực hay năng lượng bao gồm một điện tích dương làm sinh động một số hạt âm. Đã trở nên rõ ràng với chúng ta rằng nguyên tử nhỏ bé của nhà hóa học và nhà vật lý tự bên trong nó là một hệ mặt trời, với cùng cấu tạo chung như hệ thống lớn hơn, thể hiện một hoạt động tương tự và bị chi phối bởi các quy luật tương tự. Chúng ta thấy rằng nó có một mặt trời trung tâm, và xung quanh mặt trời trung tâm này, theo đuổi các quỹ đạo xác định của chúng, có thể thấy các điện tử. Chúng ta cũng lưu ý thực tế rằng các nguyên tố chỉ khác nhau [79] tùy theo số lượng và sự sắp xếp của các điện tử này xung quanh điện tích dương trung tâm. Từ đây, chúng ta chuyển sang việc xem xét linh hồn, hay tâm hồn của nguyên tử, và thấy rằng các nhà khoa học công nhận chân lý rằng chính các nguyên tử sở hữu phẩm tính, cho thấy các triệu chứng của tâm trí hay trí tuệ, và có thể phân biện, chọn lọc, và lựa chọn.
We then proceeded to weave what appeared to be a fairy tale. We pictured the human being as an atom, and traced the resemblance of man to an atom; we found that he attracted and held within his sphere of influence the matter of his various bodies, mental, emotional, and physical, in exactly the same way as the electrons were held revolving around their central focal point. The idea proved capable of still further expansion, and we turned our attention to the planet, picturing it as similar in its nature to the human atom, and to the ultimate atom of substance, being but the expression of a life manifesting through a spheroidal form and working out an intelligent purpose. Then we reached our consummation, and viewed the solar system as a cosmic atom, energised by the life of the Logos.
Sau đó chúng ta đã tiến hành dệt nên cái có vẻ là một câu chuyện cổ tích. Chúng ta hình dung con người như một nguyên tử, và truy nguyên sự tương đồng của con người với một nguyên tử; chúng ta thấy rằng y thu hút và giữ trong phạm vi ảnh hưởng của mình vật chất của các thể khác nhau của y, thể trí, thể cảm dục, và thể xác, theo cách chính xác như các điện tử được giữ quay quanh tiêu điểm trung tâm của chúng. Ý tưởng đã chứng tỏ có khả năng mở rộng xa hơn nữa, và chúng ta đã chuyển sự chú ý sang hành tinh, hình dung nó tương tự trong bản chất của nó với nguyên tử nhân loại, và với nguyên tử vật chất tối hậu, chỉ là sự biểu hiện của một sự sống đang biểu hiện qua một hình thể khối cầu và thực hiện một mục đích thông tuệ. Sau đó, chúng ta đạt đến sự viên mãn của mình, và xem hệ mặt trời như một nguyên tử vũ trụ, được tiếp sinh lực bởi sự sống của Logos.
We have, therefore, under consideration, four kinds of atoms:
Do đó, chúng ta đang xem xét bốn loại nguyên tử:
First, the atom of the chemist and physicist.
Thứ nhất, nguyên tử của nhà hóa học và vật lý học.
Secondly, the human atom, or man.
Thứ hai, nguyên tử nhân loại, hay con người.
[80] Thirdly, the planetary atom, energised by a planetary Logos, or the Heavenly Man.
[80] Thứ ba, nguyên tử hành tinh, được tiếp sinh lực bởi một Hành Tinh Thượng đế, hay Đấng Thiên Nhân.
Fourthly, the solar atom, indwelt by the solar Logos, or the Deity.
Thứ tư, nguyên tử thái dương, được ngự bởi Thái dương Thượng đế, hay Thượng đế.
If we are right in our fundamental concept, if there is a grain of reality in our hypothesis, and if there is a substratum of truth in our idea of the atom from which the elements are compounded, it is to be recognised as a life working intelligently through the medium of a form. Then it can perhaps be proven that man is equally a life or centre of energy, manifesting through his bodies; then it can perhaps be demonstrated that a planet is also the medium of expression of a still greater centre of energy, and further, under the law of analogy, it may perhaps be proven at some distant time that there is a God or central life back of material nature, and an Entity Who functions consciously through the solar system.
Nếu chúng ta đúng trong khái niệm nền tảng của mình, nếu có một hạt thực tế trong giả thuyết của chúng ta, và nếu có một cơ sở chân lý trong ý tưởng của chúng ta về nguyên tử mà từ đó các nguyên tố được cấu thành, nó phải được công nhận là một sự sống đang hoạt động một cách thông tuệ thông qua trung gian của một hình tướng. Thế thì có lẽ có thể được chứng minh rằng con người cũng là một sự sống hay trung tâm năng lượng, đang biểu hiện qua các cơ thể của y; thế thì có lẽ có thể được chứng minh rằng một hành tinh cũng là phương tiện biểu đạt của một trung tâm năng lượng lớn hơn nữa, và xa hơn, theo định luật tương đồng, có lẽ có thể được chứng minh vào một thời điểm xa xôi nào đó rằng có một Thượng đế hay sự sống trung tâm đằng sau tự nhiên vật chất, và một Thực Thể hoạt động một cách có ý thức thông qua hệ mặt trời.
At our last lecture we took up another phase of manifestation. We studied the atom itself, and considered it as it entered into relationship with other atoms, and through their mutual coherence formed groups or congeries of atoms. In other words, we considered the atom as it was built into the different forms in the various kingdoms of nature, and found that, in the process of evolution atoms themselves gravitate towards other and greater central points, becoming in their turn [81] electrons. Thus, every form is but an aggregate of smaller lives.
Tại bài giảng trước, chúng ta đã đề cập một giai đoạn biểu hiện khác. Chúng ta đã nghiên cứu chính nguyên tử, và xem xét nó khi nó đi vào mối quan hệ với các nguyên tử khác, và thông qua sự kết dính lẫn nhau của chúng đã hình thành nên các nhóm hay khối kết tập các nguyên tử. Nói cách khác, chúng ta đã xem xét nguyên tử khi nó được xây dựng vào các hình tướng khác nhau trong các giới khác nhau của tự nhiên, và thấy rằng, trong quá trình tiến hóa, chính các nguyên tử hướng về các điểm trung tâm khác và lớn hơn, đến lượt chúng trở thành [81] các điện tử. Do đó, mọi hình tướng chỉ là một tập hợp của các sự sống nhỏ hơn.
Very briefly then we touched upon the different kingdoms of nature, and traced the development of the soul or the psyche in all of them. Of the atom we have already predicated intelligence, or discriminative power, and we found that in the building up of forms in the mineral, vegetable, and animal kingdoms what we understand as sensation begins to appear, and we then have the rudiments of embryonic emotion, or feeling—the physical plane reflection of love. Thus we have one aspect of the threefold nature of God, intelligence demonstrating through the atom; and through the form we have the love, or attractive quality manifesting. This can also be expressed in the recognition that in these two aspects of the central divine life you have the third person of the Logoic Trinity co-operating with the second; you have the intelligent activity of divinity, or the Holy Spirit aspect, working in connection with the second aspect, or the Son, Who is the builder of forms. This is brought out in an interesting manner in Proverbs viii. where Wisdom cries aloud (Wisdom in the Old Testament representing the Christ aspect), and after pointing out that He was with God before ever there was creation, goes on to say that when "He appointed the foundations of the earth, then I [82] was by Him as the master worker or builder." Students would do well to study this chapter in connection with the ideas that we are here formulating, being careful to ascertain the exact translation.
Sau đó, rất ngắn gọn, chúng ta đã chạm đến các giới khác nhau của tự nhiên, và truy nguyên sự phát triển của linh hồn hay tâm hồn trong tất cả chúng. Về nguyên tử, chúng ta đã khẳng định trí tuệ, hay quyền năng phân biện, và chúng ta thấy rằng trong việc xây dựng các hình tướng trong giới kim thạch, thực vật và động vật, cái mà chúng ta hiểu là cảm giác bắt đầu xuất hiện, và sau đó chúng ta có những bước đầu của cảm xúc phôi thai, hay cảm giác—sự phản chiếu trên cõi hồng trần của tình thương. Do đó chúng ta có một phương diện của bản chất tam phân của Thượng đế, trí tuệ thể hiện qua nguyên tử; và qua hình tướng chúng ta có tình thương, hay phẩm tính thu hút đang biểu hiện. Điều này cũng có thể được diễn đạt trong sự công nhận rằng trong hai phương diện này của sự sống thiêng liêng trung tâm, bạn có ngôi thứ ba của Tam Vị Thượng Đế đang hợp tác với ngôi thứ hai; bạn có trí tuệ hoạt động của thiên tính, hay phương diện Chúa Thánh Thần, đang làm việc liên quan với phương diện thứ hai, hay Con, Đấng là người xây dựng các hình tướng. Điều này được đưa ra theo một cách thú vị trong Châm ngôn chương 8, nơi Minh triết kêu lớn (Minh triết trong Cựu Ước đại diện cho phương diện Christ), và sau khi chỉ ra rằng Ngài đã ở cùng Thượng đế trước khi có sự sáng tạo, tiếp tục nói rằng khi "Ngài lập nền móng của trái đất, thì ta [82] đã ở bên Ngài như thợ cả hay người xây dựng." Các đạo sinh nên nghiên cứu kỹ chương này liên quan đến các ý tưởng mà chúng ta đang hình thành ở đây, cẩn thận xác định bản dịch chính xác.
We now come to the consideration of our subject for to-night, that of the evolution of man, the thinker. We shall see that in man comes in another aspect of divinity. Browning, in "Paracelsus," covers the subject that we have been considering in a most interesting manner, summing it up as follows:—
Bây giờ chúng ta đi đến việc xem xét chủ đề của chúng ta tối nay, chủ đề về sự tiến hóa của con người, người suy tư. Chúng ta sẽ thấy rằng ở con người xuất hiện một phương diện khác của thiên tính. Browning, trong tác phẩm "Paracelsus", bao quát chủ đề mà chúng ta đang xem xét theo một cách thú vị nhất, tóm tắt nó như sau:—
"Thus He (God) dwells in all,
"Như thế Ngài (Thượng đế) ngự trong tất cả,
From life's minute beginnings up at last
Từ những khởi đầu nhỏ bé của sự sống lên đến cuối cùng
To man—the consummation of this scheme
Là con người—sự viên mãn của hệ thống này
Of being, the completion of this sphere
Của bản thể, sự hoàn thành của khối cầu này
Of life: whose attributes had here and there
Của sự sống: mà các thuộc tính đã rải rác đây đó
Been scattered o'er the visible world before,
Trên khắp thế giới hữu hình trước kia,
Asking to be combined, dim fragments meant
Đòi hỏi được kết hợp, những mảnh mờ nhạt có nghĩa
To be united in some wondrous whole,
Được hợp nhất trong một tổng thể kỳ diệu nào đó,
Imperfect qualities throughout creation,
Những phẩm chất không hoàn hảo trong khắp tạo vật,
Suggesting some one creature yet to make,
Gợi ý về một sinh vật nào đó chưa được tạo ra,
Some point where all those scattered rays should meet
Một điểm nào đó nơi tất cả các tia rải rác đó nên gặp gỡ
Convergent in the faculties of man."
Hội tụ trong các năng khiếu của con người."
Having, therefore, discovered two aspects of divinity in the atom and in the form, we shall find the triplicity perfected in man. We have been told that man is made in the image of God, and we would therefore expect to see him reflecting [83] the threefold nature of the Logos. He must demonstrate intelligence, he must show forth love, and he must manifest will. Let us consider some of the definitions of man as found in the dictionary and elsewhere. The definition found in the Standard Dictionary is a profoundly uninteresting one, and is as follows: Man is "an individual of the human race," and then follows a long list of suggestive derivations of the word man, running through every known tongue, and concluding with the statement that many of them are improbable. That derivation which ascribes the definition of man to the Sanskrit root 'man,' the one who thinks, is to my mind the most satisfying. Mrs. Besant, in one of her books, gives an exceptionally clear definition as follows: "Man is that being in whom highest spirit and lowest matter are linked together by intelligence." Man is here pictured as the meeting place for all the three lines of evolution, spirit, matter, and linking intellect; he is shown to be the one who unifies the self, the not-self, and the relation between them, and he is seen to be the knower, that which is known, and knowledge. What is the purpose of the intellect, or of knowledge? Surely its purpose is to adapt the material form to the need and requirements of the indwelling spirit, surely it is to enable the thinker within the body to utilise it intelligently, and for some definite purpose; and surely it exists [84] in order that the central energising unit may constructively control its negative aspect. We are all of us entities, ensouling a form, and through the intelligence endeavouring to utilise that form for a specific purpose which exists within the conscious will of the true self.
Do đó, sau khi đã khám phá hai phương diện của thiên tính trong nguyên tử và trong hình tướng, chúng ta sẽ thấy bộ ba được hoàn thiện trong con người. Chúng ta đã được bảo rằng con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế, và do đó chúng ta mong đợi thấy y phản chiếu [83] bản chất tam phân của Logos. Y phải thể hiện trí tuệ, y phải cho thấy tình thương, và y phải biểu lộ ý chí. Chúng ta hãy xem xét một số định nghĩa về con người như được tìm thấy trong từ điển và những nơi khác. Định nghĩa tìm thấy trong Từ điển Standard là một định nghĩa vô cùng tẻ nhạt, và như sau: Con người là "một cá thể của chủng tộc loài người," và sau đó là một danh sách dài các nguồn gốc gợi ý của từ man, chạy qua mọi ngôn ngữ đã biết, và kết luận với tuyên bố rằng nhiều trong số đó là không chắc chắn. Nguồn gốc gán định nghĩa về con người cho gốc từ Phạn ngữ 'man', người suy nghĩ, đối với tôi là thỏa đáng nhất. Bà Besant, trong một cuốn sách của mình, đưa ra một định nghĩa đặc biệt rõ ràng như sau: "Con người là sinh vật đó trong đó tinh thần cao nhất và vật chất thấp nhất được liên kết với nhau bởi trí tuệ." Ở đây, con người được mô tả như nơi gặp gỡ của cả ba dòng tiến hóa, tinh thần, vật chất, và trí năng liên kết; y được cho thấy là người hợp nhất cái ngã, cái phi ngã, và mối quan hệ giữa chúng, và y được xem là người biết, cái được biết, và kiến thức. Mục đích của trí năng, hay của kiến thức là gì? Chắc chắn mục đích của nó là làm cho hình tướng vật chất thích nghi với nhu cầu và yêu cầu của tinh thần nội tại, chắc chắn là để cho phép người suy tư bên trong cơ thể sử dụng nó một cách thông tuệ, và cho một mục đích xác định nào đó; và chắc chắn nó tồn tại [84] để đơn vị tiếp sinh lực trung tâm có thể kiểm soát một cách xây dựng phương diện tiêu cực của nó. Tất cả chúng ta là các thực thể, đang phú linh cho một hình tướng, và thông qua trí tuệ đang nỗ lực sử dụng hình tướng đó cho một mục đích cụ thể vốn tồn tại bên trong ý chí có ý thức của chân ngã thực sự.
In a very old occult book—so old that the date of it cannot be ascertained—can be found a definition of man which is very illuminating, and in line with the thought that we are seeking to develop to-night. Man is there defined as "the Life and the lives." We have seen that the atom is a life, manifesting by means of the little sphere of which it is the centre. We have seen that all forms are an aggregate of lives, built up into the mineral, vegetable, and animal kingdoms. Now we can pass to the next stage on this great ladder of evolution, and we will then find that the human being is the logical sequence that grows out of all these earlier developments. First, the primordial stuff, essentially intelligent energy; next, atomic matter, in all its varying activity forming the elemental combination; then the form, the aggregate of these atoms, up to the dweller within the form, who is not only active intelligence, not only inherent attraction and love, but is also a purposeful will. This "dweller within" took possession of the form when it had reached a certain stage of preparedness, and when the component [85] lives had reached a certain vibratory capacity; he is now utilising it, and repeating, within his own sphere of influence, the work of the atom of matter; he demonstrates, nevertheless, not in one way, nor in two, but in three. In man, therefore, in deed and in truth, you have what the Christian would term the "image of God." For, as must be apparent to all thinkers, the only way in which we can know God is through the study of His nature, or His psychic quality. We know that God is intelligence, we know that He is love, or the great attractive force of the solar system, and we know that He is the great will or purpose back of all manifestation. In every Scripture in the world the Deity is pictured under these three aspects, and manifests through nature in this triple manner.
Trong một cuốn sách huyền bí rất cổ—cổ đến nỗi ngày tháng của nó không thể xác định được—có thể tìm thấy một định nghĩa về con người rất soi sáng, và phù hợp với tư tưởng mà chúng ta đang tìm cách phát triển tối nay. Ở đó, con người được định nghĩa là "Sự Sống và các sự sống". Chúng ta đã thấy rằng nguyên tử là một sự sống, biểu hiện bằng các phương tiện của khối cầu nhỏ mà nó là trung tâm. Chúng ta đã thấy rằng tất cả các hình tướng là một tập hợp của các sự sống, được xây dựng thành các giới kim thạch, thực vật và động vật. Bây giờ chúng ta có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo trên chiếc thang tiến hóa vĩ đại này, và chúng ta sẽ thấy rằng con người là kết quả hợp lý phát triển từ tất cả các sự phát triển trước đó. Đầu tiên, chất liệu nguyên thủy, về cơ bản là năng lượng thông tuệ; tiếp theo, vật chất nguyên tử, trong tất cả hoạt động biến đổi của nó hình thành nên sự kết hợp hành khí; sau đó là hình tướng, tập hợp của các nguyên tử này, lên đến người ngự bên trong hình tướng, kẻ không chỉ là trí tuệ hoạt động, không chỉ là sự thu hút và tình thương vốn có, mà còn là một ý chí có mục đích. "Người ngự bên trong" này đã chiếm hữu hình tướng khi nó đạt đến một giai đoạn sẵn sàng nhất định, và khi các sự sống [85] cấu thành đã đạt đến một khả năng rung động nhất định; y hiện đang sử dụng nó, và lặp lại, bên trong phạm vi ảnh hưởng của riêng mình, công việc của nguyên tử vật chất; tuy nhiên, y thể hiện không phải theo một cách, hay hai, mà là ba. Do đó, trong con người, trong hành động và trong sự thật, bạn có cái mà người Cơ Đốc giáo sẽ gọi là "hình ảnh của Thượng đế". Vì, như hẳn phải rõ ràng với tất cả các nhà tư tưởng, cách duy nhất mà chúng ta có thể biết Thượng đế là thông qua việc nghiên cứu bản chất của Ngài, hay phẩm tính tâm linh của Ngài. Chúng ta biết rằng Thượng đế là trí tuệ, chúng ta biết rằng Ngài là tình thương, hay mãnh lực thu hút vĩ đại của hệ mặt trời, và chúng ta biết rằng Ngài là ý chí hay mục đích vĩ đại đằng sau tất cả biểu hiện. Trong mọi Kinh điển trên thế giới, Thượng đế được mô tả dưới ba phương diện này, và biểu hiện qua tự nhiên theo cách tam phân này.
The evolution of substance is a thing of gradual growth; it is in time supplemented by the slow working out of the inner subjective quality of the life of God, and thus His essential nature is demonstrated. First, you have one aspect demonstrating, then another slowly appears, and finally the third can be seen, and you have the stupendous combination and consummation, the human being. He synthesises and blends the three aspects, uniting them in himself. He is the totality of the divine attributes, though as yet they are largely embryonic, and he has to repeat within his cycle [86] of evolution the identical processes that the atom itself has followed. Just as the atom pursues its own internal course, and just as it also has later to be drawn into and to merge and blend with other atoms in the formation of a group, so the human atom equally has to find his place within a greater form.
Sự tiến hóa của chất liệu là một sự việc phát triển dần dần; theo thời gian, nó được bổ sung bởi sự hoạt động chậm chạp của phẩm tính chủ quan bên trong của sự sống của Thượng đế, và do đó bản chất cốt yếu của Ngài được chứng minh. Đầu tiên, bạn có một phương diện đang thể hiện, sau đó phương diện khác từ từ xuất hiện, và cuối cùng phương diện thứ ba có thể được nhìn thấy, và bạn có sự kết hợp và viên mãn to lớn, con người. Y tổng hợp và hòa quyện ba phương diện, hợp nhất chúng trong chính mình. Y là tổng thể của các thuộc tính thiêng liêng, mặc dù cho đến nay chúng phần lớn là phôi thai, và y phải lặp lại bên trong chu kỳ [86] tiến hóa của mình những quy trình giống hệt mà chính nguyên tử đã tuân theo. Cũng như nguyên tử theo đuổi lộ trình nội tại của riêng nó, và cũng như nó sau đó cũng phải được hút vào và sáp nhập và hòa quyện với các nguyên tử khác trong sự hình thành một nhóm, thì nguyên tử nhân loại cũng phải tìm vị trí của mình bên trong một hình tướng lớn hơn.
Let us, therefore, consider for a little what is the method of the evolutionary process for a human being. We have seen that in him the three lines converge, and that he is a point of synthesis, with one aspect as yet predominant, that of the intelligence, with the second aspect of love-wisdom just beginning to make its presence felt, and with the highest aspect of spiritual will as yet purely embryonic.
Do đó, chúng ta hãy xem xét một chút phương pháp của quy trình tiến hóa đối với một con người là gì. Chúng ta đã thấy rằng ở y, ba dòng hội tụ, và rằng y là một điểm tổng hợp, với một phương diện cho đến nay đang chiếm ưu thế, đó là trí tuệ, với phương diện thứ hai là bác ái-minh triết chỉ mới bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy, và với phương diện cao nhất là ý chí tinh thần cho đến nay hoàn toàn là phôi thai.
We have, nearly all of us, been brought up in the belief in what is called "the fall of man." There are few these days who believe the story of the fall as it is given in the third chapter of Genesis, and we most of us credit it as having an allegorical interpretation. What is the occult truth underlying this curious story? Simply that the truth about the fall of the spirit into matter is conveyed by means of a picture to the infant mentality of man. The process of the converging of these lines is a twofold one. You have the descent into matter of the entity, of the central life, and the incarnation of spirit, and then you [87] have the working up, out of matter, of that life or spirit, plus all that has been gained through the utilisation of form. By experimenting with matter, by dwelling within the form, by the energising of substance, by the going out of the Garden of Eden (the place where there is no scope for necessary development), and by the wandering of the Prodigal Son in the far country, you have the various stages which are pictured in the Christian Bible where man makes the discovery that he is not the form, but that he is the one who utilises it. He is intelligence, and therefore he is made in the image of the third Person of the Trinity; he is love, and through him the love aspect of the Deity will some day perfectly manifest, and he will be able to say with his elder Brother, the Christ, in reply to the demand "Lord, show us the Father," that "he that hath seen me, hath seen the Father," for God is Love; and finally, through him the highest aspect, the will of God will become manifest, and he will be perfect, even as his Father in heaven is perfect.
Hầu hết chúng ta đều được nuôi dạy với niềm tin vào cái gọi là "sự sa ngã của con người". Ngày nay, ít ai tin vào câu chuyện về sự sa ngã như được kể trong chương ba của sách Sáng Thế Ký, và phần lớn chúng ta đều coi đó là một cách giải thích mang tính ẩn dụ. Sự thật huyền bí ẩn giấu bên dưới câu chuyện kỳ lạ này là gì? Đơn giản là sự thật về sự sa ngã của tinh thần vào vật chất được truyền tải bằng một bức tranh cho tâm trí non nớt của con người. Quá trình hội tụ của các dòng này là một quá trình kép. Các bạn có sự giáng hạ vào vật chất của thực thể, của sự sống trung tâm, và sự lâm phàm của tinh thần, và sau đó các bạn [87] có sự nỗ lực vươn lên, thoát khỏi vật chất, của sự sống hay tinh thần đó, cộng với tất cả những gì đã thu được qua việc sử dụng hình tướng. Bằng cách thử nghiệm với vật chất, bằng cách trú ngụ trong hình tướng, bằng cách tiếp năng lượng cho chất liệu, bằng việc đi ra khỏi Vườn Địa Đàng (nơi không có phạm vi cho sự phát triển cần thiết), và bằng cuộc lang thang của Đứa Con Hoang Đàng ở miền đất xa xôi, các bạn có các giai đoạn khác nhau được mô tả trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, nơi con người khám phá ra rằng y không phải là hình tướng, mà y là người sử dụng nó. Y là trí tuệ, và do đó y được tạo ra theo hình ảnh của Ngôi Ba của Tam Vị; y là tình thương, và thông qua y, phương diện tình thương của Thượng đế một ngày nào đó sẽ biểu lộ hoàn hảo, và y sẽ có thể nói cùng với Huynh Trưởng của mình, Đức Christ, để trả lời cho yêu cầu "Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con thấy Cha," rằng "ai đã thấy ta là đã thấy Cha," vì Thượng đế là Tình thương; và cuối cùng, thông qua y, phương diện cao nhất, Ý Chí của Thượng đế sẽ trở nên biểu lộ, và y sẽ trở nên hoàn hảo, cũng như Cha của y ở trên trời là hoàn hảo.
Just as in the evolution of substance three stages could be seen —that of atomic energy, of group coherence, and of eventual synthesis—so in the, evolution of man will the same appear. You will have, in the early stages of human evolution, that which we might call the atomic stage, in which man comes to a gradual recognition that he is a [88] self-conscious unit, with an individuality all his own. Anyone who has brought up children knows that stage well. It can be seen in that constant utterance of "my, my, my," the stage of appropriation for himself, with no thought of any other self. Children are naturally, advisedly, and wisely selfish. It is the stage of the gradual recognition of separative existence, and of the utilisation ever more potently by the human atom of its own internal atomic force. The infant human being rebels against the enforced guardianship of those who seek to protect it, and considers itself sufficient unto itself. This can be seen in the individual and the race.
Cũng giống như trong quá trình tiến hóa của chất liệu, ba giai đoạn có thể được nhìn thấy — giai đoạn năng lượng nguyên tử, giai đoạn gắn kết nhóm, và giai đoạn tổng hợp cuối cùng — thì trong sự tiến hóa của con người, điều tương tự cũng sẽ xuất hiện. Trong các giai đoạn đầu của sự tiến hóa nhân loại, các bạn sẽ có cái mà chúng ta có thể gọi là giai đoạn nguyên tử, trong đó con người dần dần nhận ra rằng y là một [88] đơn vị có ngã thức, với một cá tính hoàn toàn của riêng mình. Bất cứ ai đã từng nuôi dạy trẻ em đều biết rõ giai đoạn đó. Nó có thể được nhìn thấy trong câu nói lặp đi lặp lại "của tôi, của tôi, của tôi", giai đoạn chiếm hữu cho bản thân mình, không nghĩ đến bất kỳ cái ngã nào khác. Trẻ em ích kỷ một cách tự nhiên, thận trọng và khôn ngoan. Đó là giai đoạn của sự nhận biết dần dần về sự tồn tại tách biệt, và về việc nguyên tử con người sử dụng ngày càng mạnh mẽ hơn mãnh lực nguyên tử nội tại của chính nó. Con người non nớt nổi loạn chống lại sự giám hộ bắt buộc của những người tìm cách bảo vệ nó, và coi mình là tự đầy đủ đối với chính mình. Điều này có thể được nhìn thấy ở cá nhân và ở chủng tộc.
Then, as life goes on, the man passes out of the atomic stage to a higher and a better one, when he becomes cognisant of his group relationships, when he becomes aware that he has group responsibilities, and that he has functions to work out with other separate atoms. The group consciousness begins to make itself felt. Thus the human atom finds its place within the group, the larger unit to which it belongs, and the love aspect begins to show itself. The man has passed out of the atomic stage into that of group coherence.
Sau đó, khi cuộc sống tiếp diễn, con người bước ra khỏi giai đoạn nguyên tử để đến một giai đoạn cao hơn và tốt hơn, khi y trở nên nhận thức được các mối quan hệ nhóm của mình, khi y trở nên ý thức rằng y có các trách nhiệm nhóm, và rằng y có các chức năng để thực hiện với các nguyên tử tách biệt khác. Tâm thức nhóm bắt đầu làm cho chính nó được cảm thấy. Do đó, nguyên tử con người tìm thấy vị trí của mình trong nhóm, đơn vị lớn hơn mà nó thuộc về, và phương diện tình thương bắt đầu tự thể hiện. Con người đã bước ra khỏi giai đoạn nguyên tử để vào giai đoạn gắn kết nhóm.
Later comes the stage when the man begins to realise that he has not only responsibilities to the group, but that there is something greater still. [89] He realises that he is a part of a great universal life which underlies all groups, that he is not just a universal atom, that he is not just part of a group, but that, after merging his identity with the group—although never losing it—the group itself has to be blended again with the consciousness of that great Identity Who is the synthesis of them all. Thus he arrives at the final stage of intelligent appreciation of divine unity.
Sau đó đến giai đoạn khi con người bắt đầu nhận ra rằng y không chỉ có trách nhiệm với nhóm, mà còn có một điều gì đó vĩ đại hơn nữa. [89] Y nhận ra rằng y là một phần của một sự sống vũ trụ vĩ đại vốn nằm bên dưới tất cả các nhóm, rằng y không chỉ là một nguyên tử vũ trụ, rằng y không chỉ là một phần của một nhóm, mà sau khi sáp nhập bản sắc của mình với nhóm — mặc dù không bao giờ đánh mất nó — chính nhóm đó phải được hòa trộn một lần nữa với tâm thức của Bản Sắc vĩ đại đó, Đấng là sự tổng hợp của tất cả chúng. Vì vậy, y đi đến giai đoạn cuối cùng của sự đánh giá thông minh về sự hợp nhất thiêng liêng.
This triple idea can be found summed up in the Bible in a rather interesting phrase, where Jehovah says to Moses, the representative man, "I am that I am." If you split this verse into its three parts you have what I have been seeking to bring out to-night: First, the atomic consciousness, I AM; then the group, I AM THAT; a consciousness that he is not just a separated individual, not only a self-centred unit, not only a self-conscious entity, but that he is something still greater. Man then reaches the recognition which will lead him to sacrifice his identity in the service of the group, and to merge his consciousness in that of the group. Of such a conscious union we know practically nothing as yet. This is succeeded by the still greater stage, when I AM THAT I AM will be for us not an impossible ideal, and a visionary concept, but a fundamental reality, when man in the aggregate will recognise himself as an expression of the universal life, [90] and the group consciousness itself will be merged in that of the Aggregate of all groups.
Ý tưởng tam phân này có thể được tìm thấy tóm tắt trong Kinh Thánh bằng một cụm từ khá thú vị, nơi Jehovah nói với Moses, người đại diện, "TA LÀ CÁI ĐÓ TA LÀ." Nếu các bạn chia câu này thành ba phần của nó, các bạn có những gì tôi đã tìm cách làm nổi bật tối nay: Đầu tiên, tâm thức nguyên tử, TA LÀ; sau đó là nhóm, TA LÀ CÁI ĐÓ; một tâm thức rằng y không chỉ là một cá nhân tách biệt, không chỉ là một đơn vị tập trung vào bản thân, không chỉ là một thực thể tự ý thức, mà y còn là một cái gì đó vĩ đại hơn nữa. Khi đó con người đạt đến sự nhận biết sẽ dẫn y đến việc hy sinh bản sắc của mình trong sự phụng sự nhóm, và sáp nhập tâm thức của mình vào tâm thức của nhóm. Về một sự hợp nhất có ý thức như vậy, chúng ta thực tế chưa biết gì cả. Điều này được tiếp nối bởi giai đoạn vĩ đại hơn nữa, khi TA LÀ CÁI ĐÓ TA LÀ sẽ đối với chúng ta không phải là một lý tưởng bất khả thi, và một khái niệm đầy ảo ảnh, mà là một thực tại cơ bản, khi con người trong tổng thể sẽ nhận ra mình là một biểu hiện của sự sống vũ trụ, [90] và chính tâm thức nhóm sẽ được sáp nhập vào tâm thức của Tổng thể của tất cả các nhóm.
We suppose, and we hope, that we are passing rapidly out of the atomic stage, and that our sphere of influence and interest is not bounded by our atomic wall, but that we are becoming (to use a now familiar term) radio-active. When this is the case we shall not be circumscribed and limited within our own shell, and the narrow confines of our own individual life, but we shall begin to radiate, and to contact other atoms, thus reaching the second stage, the attractive.
Chúng ta cho rằng, và chúng ta hy vọng, rằng chúng ta đang nhanh chóng bước ra khỏi giai đoạn nguyên tử, và rằng phạm vi ảnh hưởng và quan tâm của chúng ta không bị giới hạn bởi bức tường nguyên tử của chúng ta, mà rằng chúng ta đang trở nên (để sử dụng một thuật ngữ quen thuộc hiện nay) phóng xạ. Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ không bị giới hạn và hạn chế trong cái vỏ của chính mình, và những giới hạn hẹp hòi của đời sống cá nhân của chính mình, mà chúng ta sẽ bắt đầu lan tỏa, và tiếp xúc với các nguyên tử khác, do đó đạt đến giai đoạn thứ hai, giai đoạn hấp dẫn.
What, therefore, is the goal ahead for each one of us? What is the goal for these different atoms with which we are concerning ourselves? We are told in some of the old Eastern Scriptures, that the goal for the atom of substance is self-consciousness. What is, therefore, the goal for the human atom, who is already self-conscious, who is already individualised, and guiding himself by means of his will? What lies ahead for man? Simply the expansion of his consciousness to include the consciousness of the great life, or being, in whose body he is himself a cell. Our physical body is, for instance, made up of innumerable lesser lives, or atoms, each one of them separated from its neighbour, each one of them distinguished by its own inherent activity, and [91] each one forming a sphere which holds within its periphery other lesser spheres or electrons.
Do đó, mục tiêu phía trước cho mỗi người chúng ta là gì? Mục tiêu cho những nguyên tử khác nhau này mà chúng ta đang quan tâm đến là gì? Chúng ta được bảo trong một số Kinh điển phương Đông cổ xưa, rằng mục tiêu cho nguyên tử chất liệu là ngã thức. Do đó, mục tiêu cho nguyên tử con người, kẻ đã tự ý thức, kẻ đã được biệt ngã hóa, và đang tự hướng dẫn mình bằng ý chí của mình là gì? Điều gì nằm ở phía trước đối với con người? Đơn giản là sự mở rộng tâm thức của y để bao gồm tâm thức của sự sống vĩ đại, hay đấng, mà trong cơ thể của Đấng đó y chính là một tế bào. Chẳng hạn, thể xác của chúng ta được tạo thành từ vô số sự sống nhỏ hơn, hay các nguyên tử, mỗi nguyên tử tách biệt với láng giềng của nó, mỗi nguyên tử được phân biệt bởi hoạt động cố hữu của riêng nó, và [91] mỗi nguyên tử tạo thành một khối cầu chứa bên trong chu vi của nó các khối cầu nhỏ hơn hay các điện tử.
We have seen that man is the positive charge, and holds his multiplicity of atoms, or lesser lives, energised and bound together into coherent forms. At death, when the spirit aspect withdraws itself, the form disintegrates, and is dissolved, and these little conscious lives, having fulfilled their function, dissipate. The consciousness of the atom within the body is a very different thing to the consciousness of a man, and this we can realise with very little thought. If we concede that man is a cell in a greater sphere, may it not be possible that there is a consciousness which is to the man what his consciousness is to the cell in his body? Is it not possible that we may have ahead of us the achievement of that consciousness in the same sense as the atom of substance may some day achieve the consciousness of a human being? May it not be that this is what Browning had in his mind when he said: "Mankind, made up of all the single men; in such a synthesis the story ends." Here he holds up before us a concept of a greater Man, who is the synthesis or sumtotal of all the lesser units. Perhaps that synthesis may be the great Life or the planetary Entity Who lies back, of our planetary manifestation, and Who is the sumtotal of the group consciousness. I suggest that just as self-consciousness is the goal for all [92] the sub-human forms of life, and as group consciousness, or the consciousness of the Heavenly Man, is the goal for the human being, so for him, also, there may be a goal, and for him the achievement may be the development of God consciousness. So for him comes the struggle to evolve the realisation which is that of the solar Logos.
Chúng ta đã thấy rằng con người là điện tích dương, và giữ tính đa dạng của các nguyên tử, hay các sự sống nhỏ hơn của mình, được tiếp năng lượng và liên kết với nhau thành các hình tướng gắn kết. Khi chết, khi phương diện tinh thần tự rút lui, hình tướng tan rã, và bị giải thể, và những sự sống có ý thức nhỏ bé này, sau khi đã hoàn thành chức năng của chúng, sẽ tiêu tan. Tâm thức của nguyên tử bên trong cơ thể là một điều rất khác so với tâm thức của một con người, và điều này chúng ta có thể nhận ra với rất ít suy nghĩ. Nếu chúng ta thừa nhận rằng con người là một tế bào trong một khối cầu lớn hơn, liệu có thể nào có một tâm thức đối với con người giống như tâm thức của y đối với tế bào trong cơ thể y không? Liệu có thể nào chúng ta có ở phía trước sự thành tựu của tâm thức đó theo cùng một ý nghĩa như nguyên tử chất liệu một ngày nào đó có thể đạt được tâm thức của một con người không? Phải chăng đây là điều Browning đã nghĩ trong đầu khi ông nói: "Nhân loại, được tạo thành từ tất cả những con người đơn lẻ; trong một sự tổng hợp như vậy, câu chuyện kết thúc." Ở đây ông đưa ra trước chúng ta một khái niệm về một Con Người vĩ đại hơn, là sự tổng hợp hay tổng số của tất cả các đơn vị nhỏ hơn. Có lẽ sự tổng hợp đó có thể là Sự sống vĩ đại hay Thực Thể hành tinh, Đấng nằm phía sau sự biểu hiện hành tinh của chúng ta, và là tổng số của tâm thức nhóm. Tôi gợi ý rằng cũng như ngã thức là mục tiêu cho tất cả [92] các hình tướng sự sống dưới nhân loại, và cũng như tâm thức nhóm, hay tâm thức của Đấng Thiên Nhân, là mục tiêu cho con người, thì đối với Ngài, cũng có thể có một mục tiêu, và đối với Ngài sự thành tựu có thể là sự phát triển của tâm thức Thượng đế. Vì vậy, đối với Ngài diễn ra cuộc đấu tranh để phát triển sự chứng nghiệm vốn là sự chứng nghiệm của Thái dương Thượng đế.
Thus can be seen the unity of consciousness from the most minute atom up to the Deity Himself. Thus opens up before us a wonderful picture, and a vista of possibility. Thus may the life of God be seen in its essential triple manifestation, working out in an ever-expanding consciousness; demonstrating in the atom of substance, and expanding through the medium of form, until it finds one point of culmination in man, then proceeding on its course till it demonstrates as the planetary consciousness, which is the sumtotal of all the states of consciousness upon our planet, the earth, until we arrive at the fundamental basic Life, Who holds all the planetary evolutions synthesised within His greater sphere, the solar system. Thus, in summing up, we have four states of intelligent activity, which we might term consciousness, self-consciousness, group consciousness, and God consciousness. These demonstrate through four types of atoms: first, the chemical atom and all atomic forms; secondly, the human atom; then, the planetary atom; and [93] finally, the all encompassing solar atom. Ensouling these atomic forms can be seen manifesting all sub-human types of life, from the life of the atom of substance to the informing life of the higher animals, then that life which we call human, that of man, the thinker; next, the Heavenly Man, and then the great Life of the solar system, Whom the Christian calls God, or the Logos.
Do đó có thể thấy sự thống nhất của tâm thức từ nguyên tử nhỏ nhất cho đến Chính Thượng đế. Do đó mở ra trước chúng ta một bức tranh tuyệt vời, và một viễn cảnh về khả năng. Do đó sự sống của Thượng đế có thể được nhìn thấy trong sự biểu hiện tam phân cốt yếu của nó, đang hoạt động trong một tâm thức ngày càng mở rộng; thể hiện trong nguyên tử chất liệu, và mở rộng thông qua trung gian của hình tướng, cho đến khi nó tìm thấy một điểm cực thịnh ở con người, rồi tiếp tục lộ trình của nó cho đến khi nó thể hiện như là tâm thức hành tinh, vốn là tổng số của tất cả các trạng thái tâm thức trên hành tinh chúng ta, trái đất, cho đến khi chúng ta đạt tới Sự sống cơ bản nền tảng, Đấng nắm giữ tất cả các cuộc tiến hóa hành tinh được tổng hợp bên trong khối cầu vĩ đại hơn của Ngài, hệ mặt trời. Như vậy, tóm lại, chúng ta có bốn trạng thái hoạt động thông minh, mà chúng ta có thể gọi là tâm thức, ngã thức, tâm thức nhóm, và tâm thức Thượng đế. Những điều này thể hiện thông qua bốn loại nguyên tử: thứ nhất, nguyên tử hóa học và tất cả các hình tướng nguyên tử; thứ hai, nguyên tử con người; sau đó, nguyên tử hành tinh; và [93] cuối cùng, nguyên tử thái dương bao trùm tất cả. Phú linh cho các hình tướng nguyên tử này có thể được thấy đang biểu lộ tất cả các loại sự sống dưới nhân loại, từ sự sống của nguyên tử chất liệu đến sự sống thấm nhuần của các loài động vật cao cấp, sau đó là sự sống mà chúng ta gọi là nhân loại, sự sống của con người, người tư duy; tiếp theo, Đấng Thiên Nhân, và sau đó là Sự sống vĩ đại của hệ mặt trời, Đấng mà người Cơ Đốc giáo gọi là Thượng đế, hay Logos.
Browning expresses this idea of the gradual expansion of the consciousness of a human being into something greater and vaster in the following words:—
Browning diễn tả ý tưởng này về sự mở rộng dần dần của tâm thức con người vào một cái gì đó vĩ đại hơn và bao la hơn trong những lời sau:—
"When all the race is perfected alike
"Khi toàn thể chủng tộc đều hoàn thiện như nhau
As man, that is; all tended to mankind,
Là con người, nghĩa là; tất cả đều hướng đến nhân loại,
And, man produced, all has its end thus far;
Và, con người được tạo ra, mọi sự đều có mục đích của nó đến đây;
But in completed man begins anew
Nhưng trong con người hoàn chỉnh lại bắt đầu mới
A tendency to God. Prognostics told
Một khuynh hướng hướng về Thượng đế. Những điềm báo đã kể
Man's near approach; so in man's self arise
Sự tiếp cận gần kề của Con người; vì vậy trong chính con người nảy sinh
August anticipations, symbols, types
Những dự cảm uy nghi, những biểu tượng, những loại hình
Of a dim splendour ever on before
Của một vẻ huy hoàng mờ ảo luôn ở phía trước
In that eternal circle life pursues.
Trong vòng tròn vĩnh cửu mà sự sống theo đuổi.
For men begin to pass their nature's bound,
Vì con người bắt đầu vượt qua giới hạn bản chất của họ,
And find new hopes and cares which fast supplant
Và tìm thấy những hy vọng và lo toan mới nhanh chóng thay thế
Their proper joys and griefs; they grow too great
Những niềm vui và nỗi buồn riêng của họ; họ trở nên quá lớn
For narrow creeds of right and wrong, which fade
Cho những tín điều hẹp hòi về đúng và sai, vốn phai mờ
Before the unmeasured thirst for good: while peace
Trước cơn khát khao điều thiện vô bờ bến: trong khi sự an bình
Rises within them ever more and more.
Dâng lên trong họ ngày càng nhiều hơn.
[94] Such men are even now upon the earth
[94] Những con người như thế ngay cả bây giờ đang ở trên trái đất
Serene amid the half-formed creatures round
Thanh thản giữa những sinh vật nửa vời xung quanh
Who should be saved by them and joined with them."
Những kẻ nên được cứu bởi họ và kết hợp với họ."
LECTURE V—BÀI GIẢNG V
THE EVOLUTION OF CONSCIOUSNESS—SỰ TIẾN HÓA CỦA TÂM THỨC
[97]
[97]
Last week we studied, very inadequately, the evolution of man, the thinker, the tenant of the bodies, and the one who uses them during the cycle of evolution. We saw that he was the summation of the evolutions which had preceded him. We led up to our study of that evolution in two previous lectures in which we considered first the substance, or atomic matter prior to its building up into a form, or the tiny atom before it was incorporated in a vehicle of some kind. Then we studied the building of forms by means of the great law of attraction, which gathered the atoms together, causing them to cohere and vibrate in unison, and thus producing a form, or an aggregation of atoms. We came to the recognition that in atomic substance we had one aspect of the Godhead, of the Deity, and of the central Force or energy of the solar system, manifesting under the aspect of intelligence, and we saw that in the form aspect of nature another quality of the Deity became manifest, that of love or attraction, the cohesive force which holds [98] the form unified. Then we studied the human being, or man, and noted how in him all the three divine aspects met; and recognised man as a central will manifesting through a form composed of atoms, and demonstrating the three qualities of God, that of intelligence, of love-wisdom, and of will or power.
Tuần trước chúng ta đã nghiên cứu, rất không đầy đủ, về sự tiến hóa của con người, người tư duy, người cư trú trong các thể, và là người sử dụng chúng trong chu kỳ tiến hóa. Chúng ta đã thấy rằng y là tổng thể của các cuộc tiến hóa đã đi trước y. Chúng ta đã dẫn dắt đến việc nghiên cứu sự tiến hóa đó trong hai bài giảng trước, trong đó trước tiên chúng ta xem xét chất liệu, hay vật chất nguyên tử trước khi nó được xây dựng thành một hình tướng, hay nguyên tử nhỏ bé trước khi nó được sáp nhập vào một vận cụ thuộc loại nào đó. Sau đó, chúng ta nghiên cứu việc xây dựng các hình tướng bằng định luật hấp dẫn vĩ đại, định luật thu thập các nguyên tử lại với nhau, khiến chúng liên kết và rung động đồng điệu, và do đó tạo ra một hình tướng, hay một sự tập hợp của các nguyên tử. Chúng ta đã đi đến sự nhận biết rằng trong chất liệu nguyên tử, chúng ta có một phương diện của Thiên tính, của Thượng đế, và của Lực hay năng lượng trung tâm của hệ mặt trời, đang biểu lộ dưới phương diện trí tuệ, và chúng ta thấy rằng trong phương diện hình tướng của tự nhiên, một phẩm tính khác của Thượng đế trở nên biểu lộ, đó là tình thương hay sự hấp dẫn, lực kết dính nắm giữ [98] hình tướng thống nhất. Sau đó chúng ta nghiên cứu con người, và ghi nhận cách mà nơi y tất cả ba phương diện thiêng liêng gặp nhau; và nhận ra con người như một ý chí trung tâm đang biểu lộ thông qua một hình tướng cấu tạo bởi các nguyên tử, và thể hiện ba phẩm tính của Thượng đế, đó là trí tuệ, bác ái – minh triết, và ý chí hay quyền năng.
To-day we are stepping out of the matter aspect of manifestation with which we have been dealing in the previous lectures, into the consideration of the consciousness within the form. We have seen that the atom may be regarded as the central life, manifesting through a spheroidal form, and showing the quality of mind; but the human atom may also be considered as a central positive life, utilising a form and demonstrating the different qualities we have enumerated; and then we said that, if we were right in our hypothesis about the atom, if we were right in considering the human being as an atom, then we might extend this primary conception to the planet, and say that within the planetary atom there is a great Life, manifesting through a form, and showing specific qualities whilst working out a specified aim; and we extended this same concept also to the great sphere of the solar system, and to the Deity Who indwells it.
Hôm nay chúng ta đang bước ra khỏi phương diện vật chất của sự biểu hiện mà chúng ta đã đề cập trong các bài giảng trước, để đi vào việc xem xét tâm thức bên trong hình tướng. Chúng ta đã thấy rằng nguyên tử có thể được coi là sự sống trung tâm, biểu lộ thông qua một hình tướng hình cầu, và thể hiện phẩm tính của trí tuệ; nhưng nguyên tử con người cũng có thể được coi là một sự sống dương tính trung tâm, sử dụng một hình tướng và thể hiện các phẩm tính khác nhau mà chúng ta đã liệt kê; và sau đó chúng ta nói rằng, nếu chúng ta đúng trong giả thuyết của mình về nguyên tử, nếu chúng ta đúng trong việc coi con người là một nguyên tử, thì chúng ta có thể mở rộng khái niệm sơ cấp này sang hành tinh, và nói rằng bên trong nguyên tử hành tinh có một Sự sống vĩ đại, đang biểu lộ thông qua một hình tướng, và thể hiện các phẩm tính cụ thể trong khi thực hiện một mục đích đã xác định; và chúng ta cũng mở rộng cùng khái niệm này sang khối cầu vĩ đại của hệ mặt trời, và sang Thượng đế Đấng ngự bên trong nó.
Let us take up the question of consciousness itself, and study the problem a little and concern [99] ourselves with the reaction of the life within the form. If I can thus give you a few general ideas in line with what has been said earlier, I shall be able to lay another stone upon the structure I am endeavouring to build.
Chúng ta hãy đề cập đến vấn đề của chính tâm thức, và nghiên cứu vấn đề này một chút và quan tâm [99] đến phản ứng của sự sống bên trong hình tướng. Nếu tôi có thể cung cấp cho các bạn một vài ý tưởng chung phù hợp với những gì đã nói trước đó, tôi sẽ có thể đặt thêm một viên đá lên cấu trúc mà tôi đang nỗ lực xây dựng.
The word consciousness comes from two Latin words: con, with; and scio, to know; and means literally "that with which we know." If you take a dictionary and look up this word you will find it defined somewhat as follows. "The state of being aware," or the condition of perceiving, the ability to respond to stimuli, the faculty of recognising contacts, and the power to synchronise vibration. All these phrases might be included in any definition of consciousness, but the one I want to lay emphasis upon this evening is that which the Standard Dictionary gives, and which I have quoted earlier. The average thinker who takes up the majority of the textbooks dealing with this subject is apt to find them very confusing, for they divide consciousness and the state of being aware into numerous divisions and subdivisions until one is left in a state of complete bewilderment. To-night we will only touch upon three types of consciousness, which we might enumerate as follows: Absolute consciousness, universal consciousness, and individual consciousness, and of these three it is only possible, really, to define two in any way with clarity.
Từ tâm thức (consciousness) bắt nguồn từ hai từ tiếng Latin: con, với; và scio, biết; và có nghĩa đen là "cái mà với nó chúng ta biết." Nếu các bạn lấy một cuốn từ điển và tra từ này, các bạn sẽ thấy nó được định nghĩa đại loại như sau: "Trạng thái nhận biết," hoặc điều kiện của việc tri giác, khả năng đáp ứng với các kích thích, năng lực nhận ra các tiếp xúc, và quyền năng đồng bộ hóa rung động. Tất cả các cụm từ này có thể được bao gồm trong bất kỳ định nghĩa nào về tâm thức, nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh tối nay là điều mà Từ điển Standard đưa ra, và tôi đã trích dẫn trước đó. Người suy nghĩ trung bình khi cầm lên phần lớn các sách giáo khoa đề cập đến chủ đề này thường thấy chúng rất khó hiểu, vì họ chia tâm thức và trạng thái nhận biết thành vô số phân chia và phân chia phụ cho đến khi người ta bị bỏ lại trong trạng thái hoàn toàn hoang mang. Tối nay chúng ta sẽ chỉ chạm đến ba loại tâm thức, mà chúng ta có thể liệt kê như sau: Tâm thức tuyệt đối, tâm thức vũ trụ, và tâm thức cá nhân, và trong ba loại này, thực sự chỉ có thể định nghĩa hai loại theo bất kỳ cách nào rõ ràng.
[100]
[100]
Absolute consciousness, to the ordinary thinker, is practically impossible of recognition. It has been defined in one book as, "That consciousness in which everything is, the possible as well as the actual," and concerns everything that can be possibly conceived of as having occurred, or occurring, or going to occur. This is, possibly, absolute consciousness, and from the standpoint of the human being is the consciousness of God, Who contains within Himself the past, the present, and the future. What, then, is universal consciousness? It might be defined as consciousness, thinking time and space, consciousness with the idea of location and succession involved within it, or, in reality, group consciousness, the group itself forming either a greater or a lesser unit. Finally, individual consciousness may be defined as just as much of the universal consciousness as a separated unit can contact and can conceive of for itself.
Tâm thức tuyệt đối, đối với người suy nghĩ bình thường, thực tế là không thể nhận biết được. Nó đã được định nghĩa trong một cuốn sách là, "Tâm thức trong đó mọi thứ hiện hữu, cái khả thể cũng như cái thực tế," và liên quan đến mọi thứ có thể hình dung được là đã xảy ra, hoặc đang xảy ra, hoặc sẽ xảy ra. Đây, có thể, là tâm thức tuyệt đối, và từ quan điểm của con người là tâm thức của Thượng đế, Đấng chứa đựng trong Chính Ngài quá khứ, hiện tại và tương lai. Vậy thì, tâm thức vũ trụ là gì? Nó có thể được định nghĩa là tâm thức tư duy về thời gian và không gian, tâm thức với ý tưởng về vị trí và sự kế tiếp liên quan bên trong nó, hoặc, trong thực tế, là tâm thức nhóm, bản thân nhóm tạo thành một đơn vị lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Cuối cùng, tâm thức cá nhân có thể được định nghĩa là chỉ bao gồm nhiều tâm thức vũ trụ đến mức một đơn vị tách biệt có thể tiếp xúc và có thể hình dung cho chính nó.
Now, to understand these vague expressions—absolute, universal, and individual consciousness—it might be helpful if I endeavoured somewhat to illustrate. It might be done as follows: In our earlier lectures we have seen that we must consider the atom in the human body as a little entity, a tiny, intelligent life, and a microscopic, active sphere. Now taking that little cell as our starting-point we may get, by its means, some concept of what these three types of consciousness [101] are, by viewing them from the standpoint of the atom and man. Individual consciousness to the tiny atom in a man's body would be its own vibratory life, its own internal activity, and all that specifically concerns itself. Universal consciousness to the little cell might be considered as the consciousness of the entire physical body, viewing it as the unit which incorporates the atom. Absolute consciousness to the atom might be considered as the consciousness of the thinking man who is energising the body. That would be to the atom something so remote from its own inner internal life as to be practically inconceivable and unknown, yet it nevertheless sweeps into the line of its will the form and the atom within the form, and all that concerns them. This idea has only to be extended to man, considered as an atom or cell within the body of a great Entity, and one can then work out along similar lines this conception of a threefold consciousness. It might here be wise if we were to come down and consider more practical matters than absolute consciousness.
Nay, để hiểu những diễn đạt mơ hồ này — tâm thức tuyệt đối, vũ trụ và cá nhân — có thể hữu ích nếu tôi nỗ lực minh họa đôi chút. Nó có thể được thực hiện như sau: Trong các bài giảng trước, chúng ta đã thấy rằng chúng ta phải coi nguyên tử trong cơ thể con người là một thực thể nhỏ, một sự sống nhỏ bé, thông minh, và một khối cầu vi mô, hoạt động. Nay lấy tế bào nhỏ đó làm điểm xuất phát của chúng ta, chúng ta có thể có được, bằng phương tiện của nó, một khái niệm về ba loại tâm thức này [101] là gì, bằng cách xem xét chúng từ quan điểm của nguyên tử và con người. Tâm thức cá nhân đối với nguyên tử nhỏ bé trong cơ thể của một người sẽ là đời sống rung động của riêng nó, hoạt động nội tại của riêng nó, và tất cả những gì liên quan cụ thể đến chính nó. Tâm thức vũ trụ đối với tế bào nhỏ bé có thể được coi là tâm thức của toàn bộ thể xác, xem nó như đơn vị sáp nhập nguyên tử. Tâm thức tuyệt đối đối với nguyên tử có thể được coi là tâm thức của con người đang suy nghĩ, người đang tiếp năng lượng cho cơ thể. Điều đó đối với nguyên tử sẽ là một cái gì đó quá xa xôi so với đời sống nội tại bên trong của chính nó đến mức thực tế là không thể tưởng tượng và không được biết đến, tuy nhiên nó vẫn quét vào dòng ý chí của nó hình tướng và nguyên tử bên trong hình tướng, và tất cả những gì liên quan đến chúng. Ý tưởng này chỉ cần được mở rộng sang con người, được coi như một nguyên tử hay tế bào bên trong cơ thể của một Thực Thể vĩ đại, và khi đó người ta có thể tìm ra theo các dòng tương tự quan niệm này về một tâm thức tam phân. Ở đây có thể là khôn ngoan nếu chúng ta đi xuống và xem xét các vấn đề thực tế hơn là tâm thức tuyệt đối.
Occidental science is coming gradually to the conclusion of the esoteric philosophy of the East, that consciousness must be predicated not only of the animal and of the human being, but that it must be recognised also as extending through the vegetable on into the mineral kingdom, and that self-consciousness must be regarded as the consummation [102] of the evolutionary growth of consciousness in the three lower kingdoms. It is not possible in the short time now at my disposal, to go into that most fascinating study of the development of consciousness in the animal kingdom, in the vegetable kingdom, and its appearance also in the mineral kingdom; we should find, should we do so, that even minerals show symptoms of awareness of reaction to stimuli; that they manifest signs of fatigue, and that it is possible to poison a mineral and to murder it, much as you can murder a human being. The fact that flowers have consciousness is being more readily recognised, and articles of very deep interest have been published on the consciousness of plants, opening up a very wide range of thought. We have seen that in atomic matter the only thing that we can safely predicate is that it shows intelligence, the power to select, and to discriminate. This is the predominant feature of consciousness as it manifests through the mineral kingdom. In the vegetable kingdom another quality appears, that of sensation or feeling of a rudimentary nature. It is responsive in a different way to the mineral. In the animal kingdom a third reaction appears; not only is the animal showing signs of sensation in greatly increased degree to the similar response in the vegetable kingdom, but it also shows signs of intellect, or embryo mind. Instinct is a recognised faculty of all animal units, and [103] the word comes from the same root as the word "instigate." When the power to instigate begins within any animal form it is a sign that an embryo mentality is beginning to manifest. In all these kingdoms you have different grades and types of consciousness showing themselves, whilst in man you have the first symptoms of self-consciousness, or the faculty in man whereby he becomes aware that he is a separated identity, that he is the indwelling impulse within the body, and the one who is in process of becoming aware by means of these bodies. This has been long taught in the East, and "esoteric philosophy teaches that everything lives and is conscious, but that not all life and consciousness is similar to the human," and it also emphasises the fact that "vast intervals exist between the consciousness of the atom and of the flower, between that of a flower and a man, between that of a man and a God." As Browning has said: "In man begins anew a tendency to God." He is not a God yet, but a God in the making; he is working out the image of God, and will some day produce it in perfection. He is the one who is seeking to demonstrate the subjective, divine, threefold life through the medium of the objective.
Khoa học phương Tây đang dần đi đến kết luận của triết học huyền môn phương Đông, rằng tâm thức phải được xác định không chỉ thuộc về động vật và con người, mà nó phải được công nhận cũng mở rộng qua giới thực vật vào giới kim thạch, và rằng ngã thức phải được coi là sự hoàn tất [102] của sự phát triển tiến hóa của tâm thức trong ba giới thấp. Không thể nào trong thời gian ngắn ngủi hiện có của tôi, để đi vào nghiên cứu hấp dẫn nhất đó về sự phát triển của tâm thức trong giới động vật, trong giới thực vật, và sự xuất hiện của nó cũng trong giới kim thạch; chúng ta sẽ thấy, nếu chúng ta làm như vậy, rằng ngay cả các khoáng vật cũng biểu hiện các triệu chứng của sự nhận biết về phản ứng với các kích thích; rằng chúng biểu hiện các dấu hiệu mệt mỏi, và rằng có thể đầu độc một khoáng vật và giết chết nó, cũng giống như bạn có thể giết chết một con người. Thực tế là hoa có tâm thức đang được công nhận dễ dàng hơn, và những bài viết rất sâu sắc đã được xuất bản về tâm thức của thực vật, mở ra một phạm vi suy nghĩ rất rộng. Chúng ta đã thấy rằng trong vật chất nguyên tử, điều duy nhất mà chúng ta có thể khẳng định một cách an toàn là nó biểu hiện trí tuệ, quyền năng lựa chọn, và phân biện. Đây là đặc điểm nổi bật của tâm thức khi nó biểu lộ qua giới kim thạch. Trong giới thực vật, một phẩm tính khác xuất hiện, đó là cảm giác hay cảm xúc ở dạng sơ khai. Nó đáp ứng theo một cách khác với khoáng vật. Trong giới động vật, một phản ứng thứ ba xuất hiện; con vật không chỉ biểu hiện các dấu hiệu của cảm giác ở mức độ tăng lên rất nhiều so với sự đáp ứng tương tự trong giới thực vật, mà nó còn biểu hiện các dấu hiệu của trí năng, hay tâm trí phôi thai. Bản năng là một khả năng được công nhận của tất cả các đơn vị động vật, và [103] từ này (instinct) đến từ cùng gốc với từ "xúi giục" (instigate). Khi quyền năng xúi giục bắt đầu bên trong bất kỳ hình tướng động vật nào, đó là một dấu hiệu cho thấy một tâm trí phôi thai đang bắt đầu biểu lộ. Trong tất cả các giới này, các bạn có các cấp độ và loại tâm thức khác nhau đang tự thể hiện, trong khi ở con người, các bạn có những triệu chứng đầu tiên của ngã thức, hay khả năng ở con người nhờ đó y trở nên ý thức rằng y là một bản sắc tách biệt, rằng y là xung lực ngự bên trong cơ thể, và là người đang trong quá trình trở nên nhận biết nhờ các thể này. Điều này đã được dạy từ lâu ở phương Đông, và "triết học huyền môn dạy rằng mọi thứ đều sống và có ý thức, nhưng không phải tất cả sự sống và tâm thức đều tương tự như con người," và nó cũng nhấn mạnh thực tế rằng "những khoảng cách to lớn tồn tại giữa tâm thức của nguyên tử và của bông hoa, giữa tâm thức của một bông hoa và một con người, giữa tâm thức của một con người và một Vị Thượng đế." Như Browning đã nói: "Trong con người bắt đầu mới một khuynh hướng hướng về Thượng đế." Y chưa phải là một Vị Thượng đế, mà là một Vị Thượng đế đang hình thành; y đang thực hiện hình ảnh của Thượng đế, và một ngày nào đó sẽ tạo ra nó trong sự hoàn hảo. Y là người đang tìm cách thể hiện sự sống thiêng liêng, chủ quan, tam phân thông qua trung gian của cái khách quan.
The method of the evolutionary development of consciousness in a human being is but a repetition on a higher turn of the spiral, of the two stages which we noted in the evolution of the [104] atom, that of atomic energy and of group coherence. In the world at present can be seen the human family at the atomic stage of manifestation, leading on to a goal not yet achieved, the group stage.
Phương pháp phát triển tiến hóa của tâm thức ở một con người chỉ là một sự lặp lại trên một vòng xoắn ốc cao hơn, của hai giai đoạn mà chúng ta đã ghi nhận trong sự tiến hóa của [104] nguyên tử, đó là giai đoạn năng lượng nguyên tử và sự gắn kết nhóm. Trong thế giới hiện nay có thể thấy gia đình nhân loại ở giai đoạn biểu hiện nguyên tử, dẫn đến một mục tiêu chưa đạt được, giai đoạn nhóm.
If there is one thing apparent to all of us who are in any way interested in the faculty of awareness, and who are in the habit of noting that which passes around us, it is that of the different grades of mentality which we meet everywhere, and the different types of consciousness among men. We meet people who are alert, alive, aware of all that is going on, keenly conscious, responsive to thought currents of various kinds in human affairs, and conscious of contacts of every kind; then we meet people who seem to be asleep; there is apparently so little that interests them; they seem utterly unaware of contact; they are yet in a stage of inertia, and are not capable of responding to much outer stimuli; they are not mentally alive. One notices it, also, in children; some respond so quickly, while others we call stupid. It is not really that one is more or less essentially stupid than another; it is simply due to the inner stage of evolution of the child, to its more frequent incarnations, and the longer period that it has been occupied in becoming aware.
Nếu có một điều rõ ràng đối với tất cả chúng ta, những người quan tâm theo bất kỳ cách nào đến khả năng nhận biết, và những người có thói quen ghi nhận những gì diễn ra xung quanh chúng ta, thì đó là các cấp độ tâm trí khác nhau mà chúng ta gặp ở khắp mọi nơi, và các loại tâm thức khác nhau giữa con người. Chúng ta gặp những người lanh lợi, sống động, nhận biết tất cả những gì đang diễn ra, ý thức sâu sắc, đáp ứng với các luồng tư tưởng thuộc nhiều loại khác nhau trong các vấn đề của con người, và ý thức về các tiếp xúc thuộc mọi loại; sau đó chúng ta gặp những người dường như đang ngủ; dường như có quá ít điều làm họ quan tâm; họ dường như hoàn toàn không nhận biết về sự tiếp xúc; họ vẫn ở trong một giai đoạn của sự trì trệ, và không có khả năng đáp ứng với nhiều kích thích bên ngoài; họ không sống động về mặt trí tuệ. Người ta cũng nhận thấy điều đó ở trẻ em; một số đáp ứng rất nhanh, trong khi những đứa trẻ khác chúng ta gọi là đần độn. Thực sự không phải là đứa này ngu ngốc hơn hay kém hơn về bản chất so với đứa kia; đơn giản là do giai đoạn tiến hóa bên trong của đứa trẻ, do những lần lâm phàm thường xuyên hơn của nó, và thời gian dài hơn mà nó đã chiếm giữ trong việc trở nên nhận biết.
Let us now take the two stages, the atomic and the form stage, and see how the consciousness of the human being develops, bearing ever in mind [105] that in the human atom is stored up all that has been gained in the earlier stages in the three lower kingdoms of nature. Man is the gainer by that vast evolutionary process which lies behind him. He starts with all that has been gained therein latent within him. He is self-conscious, and has before him a definite goal, the attainment of group consciousness. For the atom of substance the goal had been the attainment of self-consciousness. For the human being the goal is a greater Consciousness, and a wider range of awareness.
Bây giờ chúng ta hãy lấy hai giai đoạn, giai đoạn nguyên tử và giai đoạn hình tướng, và xem tâm thức của con người phát triển như thế nào, luôn ghi nhớ [105] rằng trong nguyên tử con người được lưu trữ tất cả những gì đã thu được trong các giai đoạn trước đó trong ba giới thấp của tự nhiên. Con người là người hưởng lợi từ quá trình tiến hóa to lớn nằm phía sau y. Y bắt đầu với tất cả những gì đã thu được trong đó tiềm tàng bên trong y. Y có ngã thức, và có trước mắt một mục tiêu xác định, sự đạt được tâm thức nhóm. Đối với nguyên tử chất liệu, mục tiêu đã là đạt được ngã thức. Đối với con người, mục tiêu là một Tâm thức vĩ đại hơn, và một phạm vi nhận biết rộng hơn.
The atomic stage which we are now considering is, for us, a peculiarly interesting one, because it is the stage in which the majority of the human family find themselves. In it we pass through the period (a most necessary one) of self-centredness, that cycle in which the man is principally concerned with his own affairs, with that which primarily interests him, and lives his own intense, internal, vibratory life. For a long period back of us, and perhaps at the present stage (for I do not believe that many of us would feel insulted if we were not regarded as having attained perfection, or having achieved the goal), we are most of us intensely selfish, and only mentally interested in the things that are going on in the world, and then probably because our hearts are touched, and we do not like being uncomfortable, or we are interested because it is the fashion; and yet, [106] in spite of this mental attitude, our whole attention is focussed upon the things which concern our own individual life. We are in the atomic stage, intensely active in connection with our own personal problems. Watch the throngs in the streets of any great city, and you will see everywhere people in the atomic stage, centred entirely in themselves, occupied only with their own business, intent upon their own pleasure getting, desirous only of having a good time, and only incidentally occupied with affairs which concern the group. This is a necessary and protective stage, and one of essential value to every unit of the human family. The realisation of this, therefore, will surely lead us all to be patient with our brothers and sisters who may so often irritate us.
Giai đoạn nguyên tử mà chúng ta đang xem xét là, đối với chúng ta, một giai đoạn đặc biệt thú vị, bởi vì đó là giai đoạn mà phần lớn gia đình nhân loại tìm thấy chính mình. Trong đó, chúng ta trải qua thời kỳ (một thời kỳ cần thiết nhất) tập trung vào bản thân, chu kỳ mà trong đó con người chủ yếu quan tâm đến công việc của riêng mình, với những gì chủ yếu thu hút sự quan tâm của y, và sống cuộc sống rung động, nội tâm, mãnh liệt của riêng mình. Trong một thời gian dài phía sau chúng ta, và có lẽ ở giai đoạn hiện tại (vì tôi không tin rằng nhiều người trong chúng ta sẽ cảm thấy bị xúc phạm nếu chúng ta không được coi là đã đạt đến sự hoàn hảo, hoặc đã đạt được mục tiêu), hầu hết chúng ta đều ích kỷ mãnh liệt, và chỉ quan tâm về mặt trí tuệ đến những điều đang diễn ra trên thế giới, và sau đó có lẽ vì trái tim của chúng ta bị xúc động, và chúng ta không thích không thoải mái, hoặc chúng ta quan tâm vì đó là mốt; tuy nhiên, [106] bất chấp thái độ trí tuệ này, toàn bộ sự chú ý của chúng ta đều tập trung vào những điều liên quan đến cuộc sống cá nhân của riêng chúng ta. Chúng ta đang ở giai đoạn nguyên tử, hoạt động mãnh liệt liên quan đến các vấn đề cá nhân của riêng mình. Hãy quan sát đám đông trên đường phố của bất kỳ thành phố lớn nào, và các bạn sẽ thấy khắp nơi những người đang ở giai đoạn nguyên tử, tập trung hoàn toàn vào bản thân, chỉ bận rộn với công việc kinh doanh của riêng họ, chăm chú vào việc tìm kiếm niềm vui của riêng họ, chỉ mong muốn có một thời gian vui vẻ, và chỉ tình cờ bận rộn với các công việc liên quan đến nhóm. Đây là một giai đoạn cần thiết và bảo vệ, và là một giai đoạn có giá trị thiết yếu đối với mọi đơn vị của gia đình nhân loại. Do đó, việc nhận ra điều này chắc chắn sẽ dẫn tất cả chúng ta đến sự kiên nhẫn với các anh chị em của mình, những người thường xuyên làm chúng ta khó chịu.
What are the two factors whereby we evolve in and out of the atomic stage? In the Orient for many ages the method of evolution has been regarded as a twofold one. A man has been taught that he evolves and becomes aware first by means of the five senses, and later through the development of the faculty of discrimination, coupled with dispassion. Here in the West we have primarily emphasised the five senses, and have not taught that discrimination which is so essential. If you watch the development of a little child you will become aware, for instance, that a baby develops the five senses in a certain [107] ordered sequence, usually. The first sense it develops is hearing; it will move its head when there is a noise. Then the next sense to be noted is that of touch, and it begins to feel about with its little hands. The third sense which seems to awaken is that of sight. I do not mean by this that a baby cannot see, or that it is born blind, like a kitten, but it is often several weeks before a baby consciously sees and looks with recognition. The faculty has always been there, but there has been no realisation. So it is with the graded expansions of consciousness and realisations that lie ahead of man to-day. In these three paramount, or major senses, hearing, touch, and sight, you have a very interesting analogy to and connection with the threefold manifestation of Deity, the self, the not-self, and the relation between. The self, occultly, hears and responds to vibration, thus realising Itself. It becomes aware of the not-self, and of its tangibility, through touch, but it is only when sight or conscious recognition comes in that the relation between the two is established. Two more senses are utilised by the self in making its contacts, those of taste and smell, but they are not so essential to the development of intelligent awareness as are the other three. Through these five senses we make every contact that it is possible to make upon the physical plane; through them we learn, we grow, we become aware, and we develop; through them all [108] the great instincts are evolved; they are the great protective senses, not only enabling us to contact our environment, but also protecting us from that environment.
Hai yếu tố nào giúp chúng ta tiến hóa vào và ra khỏi giai đoạn nguyên tử? Ở phương Đông trong nhiều thời đại, phương pháp tiến hóa đã được coi là một phương pháp kép. Một người đã được dạy rằng y tiến hóa và trở nên nhận biết trước tiên bằng năm giác quan, và sau đó thông qua sự phát triển của khả năng phân biện, kết hợp với sự điềm nhiên. Ở đây tại phương Tây, chúng ta chủ yếu nhấn mạnh năm giác quan, và đã không dạy sự phân biện vốn rất thiết yếu đó. Nếu các bạn quan sát sự phát triển của một đứa trẻ nhỏ, các bạn sẽ nhận biết, chẳng hạn, rằng một em bé phát triển năm giác quan theo một [107] trình tự trật tự nhất định, thông thường là như vậy. Giác quan đầu tiên nó phát triển là thính giác; nó sẽ cử động đầu khi có tiếng ồn. Sau đó, giác quan tiếp theo được ghi nhận là xúc giác, và nó bắt đầu sờ soạng bằng đôi tay nhỏ bé của mình. Giác quan thứ ba dường như thức tỉnh là thị giác. Tôi không có ý nói rằng em bé không thể nhìn thấy, hoặc nó sinh ra đã mù, giống như mèo con, nhưng thường phải mất vài tuần trước khi em bé nhìn và nhìn có sự nhận biết một cách có ý thức. Khả năng đó vẫn luôn ở đó, nhưng chưa có sự chứng nghiệm. Vì vậy, điều đó cũng giống như các sự mở rộng theo cấp bậc của tâm thức và các sự chứng nghiệm đang nằm phía trước con người ngày nay. Trong ba giác quan tối quan trọng, hay chính yếu này, thính giác, xúc giác và thị giác, các bạn có một sự tương đồng và kết nối rất thú vị với sự biểu hiện tam phân của Thượng đế, cái ngã, cái phi ngã, và mối quan hệ giữa chúng. Về mặt huyền bí, cái ngã nghe và đáp ứng với rung động, do đó nhận ra Chính Nó. Nó trở nên nhận biết cái phi ngã, và tính hữu hình của nó, thông qua xúc giác, nhưng chỉ khi thị giác hay sự nhận biết có ý thức xuất hiện thì mối quan hệ giữa hai bên mới được thiết lập. Hai giác quan nữa được cái ngã sử dụng trong việc tạo ra các tiếp xúc của nó, đó là vị giác và khứu giác, nhưng chúng không thiết yếu đối với sự phát triển của sự nhận biết thông minh như ba giác quan kia. Thông qua năm giác quan này, chúng ta tạo ra mọi tiếp xúc có thể thực hiện trên cõi hồng trần; thông qua chúng, chúng ta học hỏi, chúng ta phát triển, chúng ta trở nên nhận biết, và chúng ta tăng trưởng; thông qua chúng, tất cả [108] các bản năng vĩ đại được phát triển; chúng là những giác quan bảo vệ vĩ đại, không chỉ cho phép chúng ta tiếp xúc với môi trường của mình, mà còn bảo vệ chúng ta khỏi môi trường đó.
Having, then, learnt to be intelligent units by means of these five senses, and having, through their medium, expanded our consciousness, we reach a certain crisis, and another factor comes in, that of intelligent discrimination. Here I am referring to the discrimination which a self-conscious unit demonstrates. I refer to that conscious choice which you and I evidence, and which we will be forced to utilise as the power of evolution drives us on to the point where we will learn to distinguish between the self and the not-self, between the real and the unreal, between the life within the form, and the form which it uses, between the knower and that which is known. Here we have the whole object of evolution, the attainment of the consciousness of the real self through the medium of the not-self.
Sau đó, khi đã học cách trở thành những đơn vị thông minh bằng phương tiện của năm giác quan này, và sau khi đã mở rộng tâm thức của mình thông qua trung gian của chúng, chúng ta đạt đến một cuộc khủng hoảng nhất định, và một yếu tố khác xuất hiện, đó là sự phân biện thông minh. Ở đây tôi đang đề cập đến sự phân biện mà một đơn vị có ngã thức thể hiện. Tôi đề cập đến sự lựa chọn có ý thức mà các bạn và tôi chứng tỏ, và chúng ta sẽ buộc phải sử dụng khi sức mạnh của sự tiến hóa thúc đẩy chúng ta đến điểm mà chúng ta sẽ học cách phân biệt giữa cái ngã và cái phi ngã, giữa cái thực và cái không thực, giữa sự sống bên trong hình tướng và hình tướng mà nó sử dụng, giữa thức giả và cái bị biết. Ở đây chúng ta có toàn bộ mục đích của sự tiến hóa, sự đạt được tâm thức của chân ngã thực sự thông qua trung gian của cái phi ngã.
We pass through a long period or cycle of many lives, wherein we identify ourselves with the form, and are so one with the not-self that we recognise no difference, being entirely occupied with the things which are transient and impermanent. It is this identification with the not-self which leads to all the pain, dissatisfaction, and sorrow in the world, and yet we must remember that through [109] this reaction of the self to the not-self we inevitably learn, and finally break loose from the impermanent and the unreal. This cycle of identification with the unreal parallels the stage of individual consciousness. As the atom of substance has to find its way into some form, and add its quota of vitality to a greater unit, so through the evolutionary development of consciousness the human atom has likewise to reach a point where it recognises its place in a greater Whole, and shoulders its responsibility in group activity. This is the stage which a great number of the human family are now approaching. Men are realising, as never before, the difference between the real and the unreal, between the permanent and the impermanent; through pain and suffering they are awakening to the recognition that the not-self suffices not, and they are searching without and also within for that which will more adequately meet their needs. Men are seeking to understand themselves, to find the kingdom of God within themselves, and through Mental Science, New Thought, and the study of psychology they will arrive at certain realisations which will prove invaluable to the human race. The indication is therefore to be found that the form stage is rapidly approaching, and that men are passing out of the atomic period into something infinitely better and greater. Man is beginning [110] to sense the vibration of that greater Life within Whose body he is but as an atom, and he is commencing, in a small way, to make a conscious response to that greater call, and to find possible channels whereby he can understand that greater Life which he senses, but as yet does not know. If he persists in this, he will find the group to which he belongs, and will then change his centre. No longer will he be limited by his own little atomic wall, but he will pass beyond it, and become, in his turn, a conscious, active, intelligent part of the greater whole.
Chúng ta trải qua một thời kỳ dài hoặc chu kỳ của nhiều kiếp sống, trong đó chúng ta đồng nhất mình với hình tướng, và đồng nhất với cái phi ngã đến mức chúng ta không nhận ra sự khác biệt nào, hoàn toàn bận rộn với những thứ nhất thời và vô thường. Chính sự đồng nhất hóa này với cái phi ngã dẫn đến tất cả đau đớn, bất mãn và buồn phiền trên thế giới, nhưng chúng ta phải nhớ rằng thông qua [109] phản ứng này của cái ngã đối với cái phi ngã, chúng ta chắc chắn sẽ học hỏi, và cuối cùng thoát khỏi cái vô thường và cái không thực. Chu kỳ đồng nhất hóa với cái không thực này song song với giai đoạn tâm thức cá nhân. Cũng như nguyên tử chất liệu phải tìm đường vào một hình tướng nào đó, và thêm phần sinh lực của nó vào một đơn vị lớn hơn, thì thông qua sự phát triển tiến hóa của tâm thức, nguyên tử con người cũng phải đạt đến một điểm mà nó nhận ra vị trí của mình trong một Tổng Thể lớn hơn, và gánh vác trách nhiệm của mình trong hoạt động nhóm. Đây là giai đoạn mà một số lượng lớn gia đình nhân loại hiện đang tiếp cận. Con người đang nhận ra, chưa bao giờ như trước đây, sự khác biệt giữa cái thực và cái không thực, giữa cái trường tồn và cái vô thường; qua đau đớn và khổ sở, họ đang thức tỉnh với sự nhận biết rằng cái phi ngã không đủ, và họ đang tìm kiếm bên ngoài và cả bên trong cho cái sẽ đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của họ. Con người đang tìm cách hiểu chính mình, tìm vương quốc của Thượng đế bên trong chính mình, và thông qua Khoa học Tâm trí, Tư Tưởng Mới, và nghiên cứu tâm lý học, họ sẽ đi đến những chứng nghiệm nhất định sẽ chứng tỏ là vô giá đối với chủng tộc nhân loại. Do đó, dấu hiệu được tìm thấy là giai đoạn hình tướng đang nhanh chóng đến gần, và con người đang bước ra khỏi thời kỳ nguyên tử để vào một cái gì đó tốt hơn và vĩ đại hơn vô hạn. Con người đang bắt đầu [110] cảm nhận rung động của Sự sống vĩ đại hơn đó mà bên trong cơ thể của Đấng đó y chỉ như một nguyên tử, và y đang bắt đầu, theo một cách nhỏ bé, tạo ra một sự đáp ứng có ý thức đối với tiếng gọi vĩ đại hơn đó, và tìm thấy những kênh dẫn khả dĩ nhờ đó y có thể hiểu được Sự sống vĩ đại hơn mà y cảm nhận, nhưng chưa biết đến. Nếu y kiên trì trong việc này, y sẽ tìm thấy nhóm mà y thuộc về, và sau đó sẽ thay đổi trung tâm của mình. Y sẽ không còn bị giới hạn bởi bức tường nguyên tử nhỏ bé của riêng mình, mà y sẽ vượt ra ngoài nó, và đến lượt mình, trở thành một phần có ý thức, hoạt động, thông minh của tổng thể vĩ đại hơn.
And how is this change brought about? The atomic stage was developed by means of the five senses, and through the utilisation of the faculty of discrimination. The stage at which a man awakens to group realisation, and becomes a conscious participant in the activities of the group, is brought about in two ways: through meditation, and through a series of initiations. Now when I use the word "meditation" I do not mean what is perhaps usually understood by that word, a negative, receptive state of mind, or a state of trance. There is much misconception these days as to what meditation really is, and there is a great deal of so-called meditation which has been truly described by a person not so long ago, as "I shut my eyes, and open my mouth, and wait for something to happen." The true meditation [111] is something that requires the most intense application of the mind, the utmost control of thought, and an attitude which is neither negative nor positive, but an equal balance between the two. In the Eastern Scriptures the man who is attempting meditation and achieving its results, is described as follows—and from a consideration of these words may come much help and illumination to us: "The Maha Yogi, the great ascetic, in whom is centred the highest perfection of austere penance and abstract meditation, by which the most unlimited powers are attained, marvels and miracles are worked, the highest spiritual knowledge is acquired, and union with the great Spirit of the universe is eventually attained." Here this union with the group life is held to be the product of meditation, and there is no other method of attainment.
Và sự thay đổi này được mang lại như thế nào? Giai đoạn nguyên tử được phát triển bằng năm giác quan, và thông qua việc sử dụng khả năng phân biện. Giai đoạn mà tại đó một người thức tỉnh với sự chứng nghiệm nhóm, và trở thành một người tham gia có ý thức vào các hoạt động của nhóm, được mang lại theo hai cách: thông qua tham thiền, và thông qua một loạt các cuộc điểm đạo. Nay khi tôi sử dụng từ "tham thiền", tôi không có ý nói đến điều có lẽ thường được hiểu bởi từ đó, một trạng thái tâm trí thụ động, tiếp nhận, hoặc một trạng thái xuất thần. Có rất nhiều quan niệm sai lầm ngày nay về việc tham thiền thực sự là gì, và có rất nhiều cái gọi là tham thiền đã được một người mô tả một cách trung thực cách đây không lâu, là "Tôi nhắm mắt, và mở miệng, và chờ đợi điều gì đó xảy ra." Tham thiền chân chính [111] là một cái gì đó đòi hỏi sự ứng dụng mãnh liệt nhất của tâm trí, sự kiểm soát tư tưởng tối đa, và một thái độ không thụ động cũng không dương tính, mà là một sự cân bằng bình đẳng giữa hai bên. Trong các Kinh điển phương Đông, người đang cố gắng tham thiền và đạt được kết quả của nó, được mô tả như sau — và từ việc xem xét những lời này có thể mang lại nhiều sự giúp đỡ và soi sáng cho chúng ta: "Maha Yogi, nhà khổ hạnh vĩ đại, nơi người tập trung sự hoàn hảo cao nhất của sự sám hối khắc khổ và tham thiền trừu tượng, nhờ đó đạt được những quyền năng vô hạn nhất, những điều kỳ diệu và phép lạ được thực hiện, kiến thức tinh thần cao nhất được thu nhận, và sự hợp nhất với Đấng Tinh thần vĩ đại của vũ trụ cuối cùng cũng đạt được." Ở đây sự hợp nhất này với sự sống nhóm được coi là sản phẩm của tham thiền, và không có phương pháp đạt được nào khác.
True meditation (of which the preliminary stages are concentration upon and application to any particular line of thought) will differ for different people and different types. The religious man, the mystic, will centre his attention upon the life within the form, upon God, upon Christ, or upon that which embodies for him the ideal. The business man, or the professional man, who, during his hours of work, is one-pointedly centred upon the matter he has on hand, and who keeps his attention fixed upon the particular problem [112] he has to solve, is learning to meditate. Later on, when he comes to the more spiritual aspect of meditation, he will find that he has covered the hardest part of the road. The person who is reading a difficult book, and reads with the full force and power of his brain, getting at that which lies behind the written word, may be meditating as much as it is possible for him to meditate at this time. I say this for our encouragement, because we live in a cycle in which books about meditation are found. All of them embody some aspect of the truth, and may be doing much good, but they may not embody that which is best for any particular individual. We need to find our own way of concentrating, to ascertain our own method of approach to that which lies within, and to study for ourselves this question of meditation.
Tham thiền chân chính (trong đó các giai đoạn sơ khởi là sự tập trung vào và ứng dụng vào bất kỳ dòng tư tưởng cụ thể nào) sẽ khác nhau đối với những người khác nhau và các loại hình khác nhau. Người sùng đạo, nhà thần bí, sẽ tập trung sự chú ý của mình vào sự sống bên trong hình tướng, vào Thượng đế, vào Đức Christ, hoặc vào cái hiện thân cho lý tưởng đối với y. Doanh nhân, hoặc người làm chuyên môn, người mà trong những giờ làm việc, tập trung nhất tâm vào vấn đề y đang có trong tay, và giữ sự chú ý cố định vào vấn đề cụ thể [112] mà y phải giải quyết, đang học cách tham thiền. Sau này, khi y đến với phương diện tham thiền mang tính tinh thần hơn, y sẽ thấy rằng y đã đi hết phần khó khăn nhất của con đường. Người đang đọc một cuốn sách khó, và đọc với toàn bộ sức lực và quyền năng của bộ não mình, nắm bắt cái nằm đằng sau từ ngữ được viết ra, có thể đang tham thiền nhiều nhất mức có thể đối với y vào lúc này. Tôi nói điều này để khuyến khích chúng ta, bởi vì chúng ta sống trong một chu kỳ mà sách về tham thiền được tìm thấy. Tất cả chúng đều thể hiện một số phương diện của sự thật, và có thể làm được nhiều điều tốt, nhưng chúng có thể không thể hiện cái tốt nhất cho bất kỳ cá nhân cụ thể nào. Chúng ta cần tìm ra cách tập trung của riêng mình, xác định phương pháp tiếp cận của riêng mình đối với cái nằm bên trong, và tự mình nghiên cứu vấn đề tham thiền này.
I would like here to sound a word of warning. Avoid those schools and methods which combine forms of breathing exercises with meditation, which teach different types of physical postures, and teach their students to centre their attention upon physical organs or centres. Those who follow these methods are heading towards disaster, and apart from the physical dangers involved, and the risk of insanity and nervous disorders, they are occupying themselves with the form, which is limitation, and not with the spirit, which is life. The goal will not be achieved that way. [113] For most of us the intellectual concentration which results in mind control, and the ability to think clearly and to think only that which we wish to think, must precede true meditation, which is a thing few people know much about. This true meditation. which it is impossible for me to enlarge upon here, will result in a definite change of polarisation, will open up to man ranges of experiences undreamt of hitherto, will reveal to him contacts that as yet he does not realise, and will enable him to find his place within the group. He will be no longer confined by the wall of his personal life, but will begin to merge that life within the greater whole. He will no longer be occupied with the things of selfish interest, but will give his attention to the problems of the group. He will no longer give his time to the culture of his own identity, but will seek to understand that greater Identity of which he is a part. This is really what all advanced men are beginning more or less to do. Little as the average man may realise it, great thinkers, such as Edison and others, arrive at a solution of their problems along the line of meditation. By a brooding concentration, by a constant recollection, and by strenuous application to the particular line of thought which interests them, they produce results, they tap the inner reservoirs of inspiration and of power, and bring down from [114] the higher levels of the mental plane results which benefit the group. When we ourselves have done a certain amount of work along the line of meditation, when we are cultivating group interest and not self-interest, when we have developed physical bodies that are strong and clean, and emotional bodies that are controlled, and not swayed by desire, when we have mental bodies that are our instruments and not our masters, then we shall know the true meaning of meditation.
Ở đây tôi muốn gióng lên một lời cảnh báo. Hãy tránh những trường phái và phương pháp kết hợp các hình thức bài tập hít thở với tham thiền, những nơi dạy các loại tư thế cơ thể khác nhau, và dạy học viên của họ tập trung sự chú ý vào các cơ quan hoặc các trung tâm vật lý. Những người tuân theo các phương pháp này đang hướng tới thảm họa, và ngoài những nguy hiểm về thể xác liên quan, và nguy cơ điên loạn và rối loạn thần kinh, họ đang bận rộn với hình tướng, vốn là sự giới hạn, chứ không phải với tinh thần, vốn là sự sống. Mục tiêu sẽ không đạt được theo cách đó. [113] Đối với hầu hết chúng ta, sự tập trung trí tuệ dẫn đến kiểm soát tâm trí, và khả năng suy nghĩ rõ ràng và chỉ nghĩ những gì chúng ta muốn nghĩ, phải đi trước tham thiền chân chính, vốn là một điều mà ít người biết nhiều về nó. Tham thiền chân chính này, điều mà tôi không thể mở rộng ở đây, sẽ dẫn đến một sự thay đổi rõ rệt về sự phân cực, sẽ mở ra cho con người những phạm vi kinh nghiệm chưa từng mơ tới, sẽ tiết lộ cho y những tiếp xúc mà cho đến nay y chưa nhận ra, và sẽ cho phép y tìm thấy vị trí của mình trong nhóm. Y sẽ không còn bị giam hãm bởi bức tường của đời sống cá nhân, mà sẽ bắt đầu sáp nhập cuộc sống đó vào tổng thể vĩ đại hơn. Y sẽ không còn bận rộn với những điều lợi ích ích kỷ, mà sẽ dành sự chú ý của mình cho các vấn đề của nhóm. Y sẽ không còn dành thời gian cho việc trau dồi bản sắc riêng của mình, mà sẽ tìm cách hiểu Bản Sắc vĩ đại hơn mà y là một phần. Đây thực sự là những gì tất cả những người tiến hóa cao đang bắt đầu ít nhiều làm. Mặc dù người bình thường có thể ít nhận ra điều đó, nhưng những nhà tư tưởng lớn, như Edison và những người khác, đi đến giải pháp cho các vấn đề của họ theo dòng tham thiền. Bằng một sự tập trung nghiền ngẫm, bằng một sự hồi tưởng liên tục, và bằng sự ứng dụng nỗ lực vào dòng tư tưởng cụ thể làm họ quan tâm, họ tạo ra kết quả, họ khai thác các hồ chứa cảm hứng và quyền năng bên trong, và mang xuống từ [114] các cấp độ cao hơn của cõi trí những kết quả mang lại lợi ích cho nhóm. Khi chính chúng ta đã thực hiện một lượng công việc nhất định theo dòng tham thiền, khi chúng ta đang trau dồi sự quan tâm nhóm chứ không phải tư lợi, khi chúng ta đã phát triển những thể xác mạnh mẽ và sạch sẽ, và những thể cảm dục được kiểm soát, và không bị lay chuyển bởi dục vọng, khi chúng ta có những thể trí là công cụ của chúng ta chứ không phải là chủ nhân của chúng ta, thì chúng ta sẽ biết ý nghĩa thực sự của tham thiền.
When a man has made his contact through meditation with the group to which he belongs, and becomes, therefore, ever more and more group conscious, he is then in a position to take what are called a series of initiations. These initiations are simply expansions of consciousness, brought about with the help of Those Who have already achieved the goal, Who have already identified Themselves with the group, and Who are a conscious part of the body of the Heavenly Man. With Their assistance, and through Their aid, a man will gradually awaken to the realisation that is Theirs.
Khi một người đã thực hiện sự tiếp xúc của mình thông qua tham thiền với nhóm mà y thuộc về, và do đó trở nên ngày càng có tâm thức nhóm, thì y ở vào vị trí để thực hiện cái được gọi là một loạt các cuộc điểm đạo. Những cuộc điểm đạo này đơn giản là những sự mở rộng của tâm thức, được mang lại với sự giúp đỡ của Các Ngài, Những Đấng đã đạt được mục tiêu, Những Đấng đã tự đồng nhất mình với nhóm, và Những Đấng là một phần có ý thức của cơ thể Đấng Thiên Nhân. Với sự hỗ trợ của Các Ngài, và thông qua sự giúp đỡ của Các Ngài, một người sẽ dần dần thức tỉnh với sự chứng nghiệm vốn là của Các Ngài.
There is great interest everywhere to-day in this subject of initiation, and an over-emphasis has been laid upon its ceremonial aspect. We need to remember that every great unfoldment of consciousness is an initiation. Every step forward along the path of awareness is an initiation. [115] When an atom of substance was built into the form, it was for that atom an initiation. It became aware of another type of force, and its range of contact became wider. When the consciousness of the vegetable and animal kingdom merged, and the life passed from the lower kingdom into the higher, that was an initiation. When the consciousness of the animal expanded into that of the human being, still another great initiation took place. All the four kingdoms have been entered by an initiation, or through an expansion of consciousness. Ahead of the human family lies now the fifth, or spiritual kingdom, and it is likewise entered through a certain initiation, as can be seen by those who intelligently read their New Testament. And in all these cases these initiations have been brought about by the help of Those who already know. Thus we have within the evolutionary scheme not great gaps between one kingdom and another, and between one state of awareness and another, but a gradual development of consciousness, and one in which we, each one of us, have had and will have our share. If we can remember this universality of initiation we shall have a better proportioned point of view in connection with it. Every time that we become more aware of our environment, and our mental content is increased, it is an initiation on a tiny scale. Every time [116] our horizon widens, and we think and see more broadly, it is an initiation, and herein to us lies the value of life itself, and the greatness of our opportunity.
Ngày nay có mối quan tâm lớn ở khắp mọi nơi về chủ đề điểm đạo này, và một sự nhấn mạnh quá mức đã được đặt vào phương diện nghi lễ của nó. Chúng ta cần nhớ rằng mọi sự mở ra vĩ đại của tâm thức đều là một cuộc điểm đạo. Mọi bước tiến về phía trước trên con đường nhận biết đều là một cuộc điểm đạo. [115] Khi một nguyên tử chất liệu được xây dựng vào hình tướng, đó là một cuộc điểm đạo đối với nguyên tử đó. Nó trở nên nhận biết về một loại mãnh lực khác, và phạm vi tiếp xúc của nó trở nên rộng hơn. Khi tâm thức của giới thực vật và động vật sáp nhập, và sự sống chuyển từ giới thấp hơn sang giới cao hơn, đó là một cuộc điểm đạo. Khi tâm thức của con vật mở rộng thành tâm thức của con người, một cuộc điểm đạo vĩ đại khác lại diễn ra. Tất cả bốn giới đều đã được gia nhập bằng một cuộc điểm đạo, hoặc thông qua một sự mở rộng của tâm thức. Phía trước gia đình nhân loại hiện nay là giới thứ năm, hay giới tinh thần, và nó cũng được gia nhập thông qua một cuộc điểm đạo nhất định, như có thể được thấy bởi những người đọc Tân Ước một cách thông minh. Và trong tất cả các trường hợp này, các cuộc điểm đạo này đã được mang lại bởi sự giúp đỡ của Những Đấng đã biết. Do đó, chúng ta có trong sơ đồ tiến hóa không phải những khoảng cách lớn giữa giới này và giới khác, và giữa trạng thái nhận biết này và trạng thái nhận biết khác, mà là một sự phát triển dần dần của tâm thức, và là một sự phát triển mà chúng ta, mỗi người chúng ta, đã và sẽ có phần của mình. Nếu chúng ta có thể nhớ tính phổ quát này của điểm đạo, chúng ta sẽ có một quan điểm cân đối hơn liên quan đến nó. Mỗi khi chúng ta trở nên nhận biết hơn về môi trường của mình, và nội dung trí tuệ của chúng ta được gia tăng, đó là một cuộc điểm đạo ở quy mô nhỏ. Mỗi khi [116] chân trời của chúng ta mở rộng, và chúng ta suy nghĩ và nhìn rộng hơn, đó là một cuộc điểm đạo, và ở đây đối với chúng ta nằm ở giá trị của chính cuộc sống, và sự vĩ đại của cơ hội của chúng ta.
One point I wish to make here is this: every initiation has to be self-initiated. That final stage when definite help is brought to us from outside sources is not achieved because there are great Beings anxious to help us, Who come to us where we are and seek to lift us. It comes to us because we have done the necessary work, and nothing can stop it coming. It is our right. Those who have achieved can and will and do aid and assist us, but Their hands are tied until we have done our share of the undertaking. Nothing therefore that we do to increase our usefulness in the world, no steps that we take to build better bodies, no effort that we make to gain self-control and to equip our mental body, is ever lost; it is all something which we are adding to the total we are piling up, which will some day bring us to a great revelation, and every hourly, daily effort that we make, swells the tide of energy which will sweep us to the portal of initiation. The meaning of the word "initiation" is "to go into." It means simply that an initiate is one who has taken the first steps into the spiritual kingdom, and has had the first series of spiritual revelations, each one of which is a key to a still greater revelation.
Một điểm tôi muốn nêu ra ở đây là: mỗi cuộc điểm đạo đều phải được tự thân khởi xướng. Giai đoạn cuối cùng đó khi sự giúp đỡ xác định được mang đến cho chúng ta từ các nguồn bên ngoài không đạt được bởi vì có những Đấng Vĩ đại lo lắng giúp đỡ chúng ta, Những Đấng đến với chúng ta nơi chúng ta đang ở và tìm cách nâng chúng ta lên. Nó đến với chúng ta bởi vì chúng ta đã thực hiện công việc cần thiết, và không gì có thể ngăn cản nó đến. Đó là quyền của chúng ta. Những người đã thành tựu có thể và sẽ và thực sự viện trợ và hỗ trợ chúng ta, nhưng tay của Các Ngài bị trói cho đến khi chúng ta đã thực hiện phần việc của mình. Do đó, không có gì mà chúng ta làm để gia tăng sự hữu ích của mình trên thế giới, không có bước nào chúng ta thực hiện để xây dựng những cơ thể tốt hơn, không có nỗ lực nào chúng ta thực hiện để đạt được sự tự chủ và trang bị cho thể trí của mình, là bị mất đi; tất cả đều là một cái gì đó chúng ta đang thêm vào tổng số mà chúng ta đang tích lũy, cái mà một ngày nào đó sẽ đưa chúng ta đến một sự mặc khải vĩ đại, và mọi nỗ lực hàng giờ, hàng ngày mà chúng ta thực hiện, đều làm dâng cao thủy triều năng lượng sẽ quét chúng ta đến cổng điểm đạo. Ý nghĩa của từ "initiation" (điểm đạo) là "đi vào." Nó đơn giản có nghĩa là một điểm đạo đồ là người đã thực hiện những bước đầu tiên đi vào giới tinh thần, và đã có loạt các sự mặc khải tinh thần đầu tiên, mỗi sự mặc khải là một chìa khóa cho một sự mặc khải vĩ đại hơn nữa.
LECTURE VI—BÀI GIẢNG VI
THE GOAL OF EVOLUTION—MỤC TIÊU CỦA TIẾN HÓA
[119]
[119]
In using such a title as the Goal of Evolution, I feel extremely diffident; I realise that the only thing I can possibly attempt is to put certain suppositions before you, drawing upon my imagination. Naturally it is not possible for finite mind to gauge accurately the plan of the Deity. All that we can do is to study the history of the past, to investigate present conditions, and to ascertain somewhat racial and natural tendencies, and thus follow, as logically as may be, the various steps and stages. All that is permissible for us is to start from the solid basis of acquired facts and knowledge, then put them all together, and from their aggregate form an hypothesis as to what may be the possible goal. Beyond that it is impossible to go.
Khi sử dụng một tiêu đề như Mục Tiêu của Tiến Hóa, tôi cảm thấy cực kỳ e ngại; tôi nhận ra rằng điều duy nhất tôi có thể cố gắng làm là đặt ra một số giả định trước các bạn, dựa vào sự tưởng tượng của tôi. Đương nhiên, tâm trí hữu hạn không thể đo lường chính xác kế hoạch của Thượng đế. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là nghiên cứu lịch sử của quá khứ, điều tra các điều kiện hiện tại, và xác định đôi chút các khuynh hướng chủng tộc và tự nhiên, và do đó theo dõi, một cách hợp lý nhất có thể, các bước và giai đoạn khác nhau. Tất cả những gì được phép đối với chúng ta là bắt đầu từ cơ sở vững chắc của các thực tế và kiến thức đã thu được, sau đó đặt tất cả chúng lại với nhau, và từ tổng thể của chúng hình thành một giả thuyết về những gì có thể là mục tiêu khả dĩ. Ngoài điều đó ra thì không thể đi xa hơn.
In our talks upon evolution, as I mentioned in the first lecture, we have been dealing somewhat with suppositions, and concerning ourselves with possibilities. Certain things we do know, and certain truths have been ascertained; yet even [120] the conclusions of science, for instance, such as were so much spoken of and insisted upon forty years ago, are no longer regarded as facts, and are not used or promulgated as drastically and as emphatically as they were. Science itself is finding every year that its knowledge is very relative. The more a man grasps and knows, the greater is the horizon which opens up before him. Scientists are now venturing into what are the subtler planes of matter, and therefore into the realms of the unproven, and we should remember that, until recently, science has refused to admit their existence. We are passing beyond the sphere of what has been called "solid matter," into such realms as are inferred when we speak about "centres of energy," "negative and positive force," and "electrical phenomena"; and the emphasis is being laid more and more upon quality rather than upon what has been called substance. The further we look ahead, the wider our speculations become, and the more we attempt to account for telepathic, psychic and other phenomena, the more we shall trespass into the realm of what is now the subjective and the subconscious, and the more we shall be forced to express ourselves in terms of quality or of energy.
Trong các buổi nói chuyện của chúng ta về tiến hóa, như tôi đã đề cập trong bài giảng đầu tiên, chúng ta đã phần nào đề cập đến các giả định, và quan tâm đến các khả năng. Một số điều chúng ta biết, và một số sự thật đã được xác định; tuy nhiên ngay cả [120] các kết luận của khoa học, chẳng hạn, như những kết luận được nói đến nhiều và được nhấn mạnh cách đây bốn mươi năm, không còn được coi là sự thật nữa, và không được sử dụng hoặc công bố một cách quyết liệt và dứt khoát như trước đây. Chính khoa học đang nhận thấy mỗi năm rằng kiến thức của nó là rất tương đối. Con người càng nắm bắt và biết nhiều, chân trời mở ra trước mắt y càng lớn. Các nhà khoa học hiện đang mạo hiểm đi vào những gì là các cõi tinh tế hơn của vật chất, và do đó đi vào các lĩnh vực của những điều chưa được chứng minh, và chúng ta nên nhớ rằng, cho đến gần đây, khoa học đã từ chối thừa nhận sự tồn tại của chúng. Chúng ta đang vượt ra ngoài phạm vi của cái được gọi là "vật chất rắn," để đi vào các lĩnh vực được suy ra khi chúng ta nói về "các trung tâm năng lượng," "lực âm và dương," và "hiện tượng điện"; và sự nhấn mạnh đang được đặt ngày càng nhiều vào phẩm tính hơn là vào cái được gọi là chất liệu. Chúng ta càng nhìn xa về phía trước, những suy đoán của chúng ta càng trở nên rộng hơn, và chúng ta càng cố gắng giải thích các hiện tượng viễn cảm, thông linh và các hiện tượng khác, chúng ta sẽ càng xâm phạm vào lĩnh vực của cái hiện nay là chủ quan và tiềm thức, và chúng ta sẽ càng bị buộc phải diễn đạt mình bằng các thuật ngữ về phẩm tính hoặc năng lượng.
If we succeed at all in accounting for that which is unusual, for that which is as yet inexplicable to us, and in ascertaining the reality of the occult, [121] we shall bring about a condition which might almost be called paradoxical. We shall gradually make the subjective the objective.
Nếu chúng ta thành công chút nào trong việc giải thích cái bất thường, cái mà cho đến nay là không thể giải thích được đối với chúng ta, và trong việc xác định thực tại của điều huyền bí, [121] chúng ta sẽ mang lại một điều kiện gần như có thể được gọi là nghịch lý. Chúng ta sẽ dần dần làm cho cái chủ quan trở thành khách quan.
The topic that I am going to consider now is one that affects us very closely: namely, the attainment by man of that group consciousness which is his goal, and the expansions of his little consciousness until it measures up to that greater one which enfolds it. You will remember that in trying to explain the difference between self-consciousness, group consciousness, and God consciousness, I illustrated it by pointing out that in the little atom of substance in the physical body, that tiny centralised life which goes to the constitution of the human form, we had a correspondence to the self-consciousness of the human being; that the life of the physical body, considering it in every one of its departments as a whole, is to that little self-contained cell what group consciousness is to us; and that the consciousness of the real man, the informing entity within the body is to that atom what God consciousness is to us, as inexplicable and as far removed. If we can extend this concept of the atom in our body and its relation to man, the thinker, to the human atom, regarding it as a unit within a still greater body, we may get an understanding of the radical difference between these three rays of consciousness.
Chủ đề mà tôi sẽ xem xét bây giờ là một chủ đề ảnh hưởng đến chúng ta rất chặt chẽ: cụ thể là, sự đạt được bởi con người tâm thức nhóm vốn là mục tiêu của y, và những sự mở rộng của tâm thức nhỏ bé của y cho đến khi nó đo lường được với tâm thức vĩ đại hơn bao bọc nó. Các bạn sẽ nhớ rằng khi cố gắng giải thích sự khác biệt giữa ngã thức, tâm thức nhóm, và tâm thức Thượng đế, tôi đã minh họa nó bằng cách chỉ ra rằng trong nguyên tử chất liệu nhỏ bé trong thể xác, sự sống tập trung nhỏ bé đi vào cấu tạo của hình tướng con người đó, chúng ta có một sự tương ứng với ngã thức của con người; rằng sự sống của thể xác, xem xét nó trong mọi bộ phận của nó như một tổng thể, là đối với tế bào tự chứa đựng nhỏ bé đó những gì tâm thức nhóm là đối với chúng ta; và rằng tâm thức của con người thực sự, thực thể cung cấp thông tin bên trong cơ thể là đối với nguyên tử đó những gì tâm thức Thượng đế là đối với chúng ta, không thể giải thích được và xa cách. Nếu chúng ta có thể mở rộng khái niệm này về nguyên tử trong cơ thể chúng ta và mối quan hệ của nó với con người, người tư duy, sang nguyên tử con người, coi nó như một đơn vị bên trong một cơ thể vĩ đại hơn nữa, chúng ta có thể có được một sự thấu hiểu về sự khác biệt căn bản giữa ba tia tâm thức này.
[122]
[122]
There is a very interesting analogy between the evolution of the atom and of man (and I presume therefore of the planetary Deity and the solar Logos) in the two methods of unfoldment that are followed. We have seen that the atom has its own atomic life, and that every atom of substance in the solar system is likewise a little system in itself, having a positive centre, or central sun, with the electrons, or the negative aspect, revolving in their orbits around it. Such is the internal life of the atom, its self-centred aspect. We noted too, that the atom is now being studied along a newer line, that of radio-activity, and it is becoming apparent in many cases there is an active radiation going on. Just where this discovery is going to lead it is impossible to tell, for the study of radio-active substances is as yet in its infancy, and little is actually known. Much of the earlier teaching of physical science has been revolutionised by the discovery of radium, and the more scientists find out, the more it becomes apparent (as they themselves realise), that we are standing on the threshold of very great discoveries, and are on the eve of profound revelations.
Có một sự tương đồng rất thú vị giữa sự tiến hóa của nguyên tử và của con người (và tôi giả định do đó của Thượng đế hành tinh và Thái dương Thượng đế) trong hai phương pháp mở ra được tuân theo. Chúng ta đã thấy rằng nguyên tử có đời sống nguyên tử của riêng nó, và rằng mọi nguyên tử chất liệu trong hệ mặt trời cũng là một hệ thống nhỏ trong chính nó, có một trung tâm dương tính, hay mặt trời trung tâm, với các điện tử, hay phương diện âm tính, quay trong quỹ đạo của chúng xung quanh nó. Đó là đời sống nội tại của nguyên tử, phương diện tập trung vào bản thân của nó. Chúng ta cũng lưu ý rằng nguyên tử hiện đang được nghiên cứu theo một dòng mới hơn, đó là sự phóng xạ, và đang trở nên rõ ràng trong nhiều trường hợp có một sự bức xạ tích cực đang diễn ra. Chính xác khám phá này sẽ dẫn đến đâu thì không thể nói được, vì việc nghiên cứu các chất phóng xạ vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, và thực tế được biết rất ít. Nhiều giáo lý trước đây của khoa học vật lý đã được cách mạng hóa bởi sự khám phá ra radium, và các nhà khoa học càng tìm ra nhiều, càng trở nên rõ ràng (như chính họ nhận ra), rằng chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của những khám phá rất vĩ đại, và đang ở đêm trước của những mặc khải sâu sắc.
In the human being, as he evolves and develops, these two stages can equally be seen. There is the early or atomic stage, in which a man's whole centre of interest lies within himself, within his own sphere, where self-centredness is the law of [123] his being, a necessary protective stage of evolution. He is purely selfish, and concerned primarily with his own affairs. This is succeeded by a later stage, in which a man's consciousness begins to expand, his interests begin to lie outside his own particular sphere, and the period arrives in which he is feeling for the group to which he belongs. This stage might be viewed as corresponding to that of radio-activity. He is now not only a self-centred life, but he is also beginning to have a definite effect upon his surroundings. He is turning his attention from his own personal selfish life, and is seeking his greater centre. From being simply an atom he is, in his turn, becoming an electron, and coming under the influence of the great central Life which holds him within the sphere of Its influence.
Ở con người, khi y tiến hóa và phát triển, hai giai đoạn này cũng có thể được nhìn thấy như vậy. Có giai đoạn sơ khai hay nguyên tử, trong đó toàn bộ trung tâm quan tâm của một người nằm bên trong chính y, bên trong phạm vi của riêng y, nơi sự tập trung vào bản thân là quy luật của [123] bản thể y, một giai đoạn tiến hóa bảo vệ cần thiết. Y hoàn toàn ích kỷ, và quan tâm chủ yếu đến công việc của riêng mình. Điều này được tiếp nối bởi một giai đoạn sau đó, trong đó tâm thức của một người bắt đầu mở rộng, các mối quan tâm của y bắt đầu nằm bên ngoài phạm vi riêng biệt của riêng y, và thời kỳ đến trong đó y đang cảm nhận về nhóm mà y thuộc về. Giai đoạn này có thể được xem như tương ứng với giai đoạn phóng xạ. Y bây giờ không chỉ là một sự sống tập trung vào bản thân, mà y cũng đang bắt đầu có một tác động xác định lên môi trường xung quanh mình. Y đang chuyển sự chú ý của mình khỏi đời sống cá nhân ích kỷ của riêng mình, và đang tìm kiếm trung tâm vĩ đại hơn của mình. Từ việc chỉ đơn giản là một nguyên tử, đến lượt mình, y đang trở thành một điện tử, và đi vào dưới ảnh hưởng của Sự sống trung tâm vĩ đại nắm giữ y bên trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài.
If this is so, we shall have analogous stages transpiring within the life of the planetary Deity, and this perhaps would account for various vicissitudes and happenings upon the planet. Often we consider the affairs of the world as due to human activity. The world war, for instance, is frequently regarded as the result of human mistakes and frailties. Perhaps this is so, for undoubtedly economic conditions and human ambitions may have been very largely concerned in bringing it about; but perhaps, also, it may have been partly due to the working out of the purpose [124] of the great central Life, Whose consciousness is not as yet our consciousness, Who has His own plans and purposes and ideals, and Who, perhaps, also makes His experiments with life. On His vaster scale, and on His own high level, this planetary Spirit is learning to live, is learning to contact, and is likewise expanding His consciousness; He is Himself at school, just as you and I are at school. So again, it may be with the solar system, and so with events of such magnitude that they escape our ken altogether. Perhaps there are occurrences within the solar system which may be due to the working out of the plans of the Deity or Logos, that central Life Who is the energising source of all there is within the solar system. I do not know, but it makes an interesting line of thought for us, and it does no harm to speculate if the effect is to give us a broader vision, a wider tolerance, and a greater and wiser optimism.
Nếu điều này là đúng, chúng ta sẽ có các giai đoạn tương tự diễn ra bên trong sự sống của Thượng đế hành tinh, và điều này có lẽ sẽ giải thích cho các thăng trầm và biến cố khác nhau trên hành tinh. Thường chúng ta coi các vấn đề của thế giới là do hoạt động của con người. Chẳng hạn, chiến tranh thế giới thường được coi là kết quả của những sai lầm và yếu đuối của con người. Có lẽ điều này là đúng, vì chắc chắn các điều kiện kinh tế và tham vọng của con người có thể đã liên quan rất lớn trong việc mang lại nó; nhưng có lẽ, cũng có thể, nó một phần là do sự tác động của mục đích [124] của Sự sống trung tâm vĩ đại, Đấng mà tâm thức của Ngài chưa phải là tâm thức của chúng ta, Đấng có các kế hoạch và mục đích và lý tưởng của riêng Ngài, và Đấng, có lẽ, cũng thực hiện các thí nghiệm của Ngài với sự sống. Ở quy mô bao la hơn của Ngài, và trên cấp độ cao của riêng Ngài, Tinh thần hành tinh này đang học cách sống, đang học cách tiếp xúc, và cũng đang mở rộng tâm thức của Ngài; Bản thân Ngài đang đi học, cũng như các bạn và tôi đang đi học. Vì vậy, một lần nữa, có thể là như thế đối với hệ mặt trời, và cũng vậy đối với các sự kiện có tầm vóc lớn đến mức chúng thoát khỏi sự hiểu biết của chúng ta hoàn toàn. Có lẽ có những sự kiện bên trong hệ mặt trời có thể là do sự tác động của các kế hoạch của Thượng đế hay Logos, Sự sống trung tâm đó, Đấng là nguồn tiếp năng lượng của tất cả những gì có bên trong hệ mặt trời. Tôi không biết, nhưng nó tạo thành một dòng suy nghĩ thú vị cho chúng ta, và không có hại gì khi suy đoán nếu hiệu quả là mang lại cho chúng ta một tầm nhìn rộng lớn hơn, một sự khoan dung rộng hơn, và một sự lạc quan vĩ đại và khôn ngoan hơn.
Having seen that the two stages of atomic activity and radio-activity characterise the evolution of all atoms in the solar system, let us now see what are the different developments which may be expected as the consciousness within the human atom evolves. I should like to centre our attention upon this human type of consciousness, as it is the central evolution in the solar system. When the three aspects of the divine life are [125] brought together—the indwelling life or spirit, the material form or substantial vehicle, and the factor of intelligent activity—certain specific results will eventuate. We shall have the gradual working out of consciousness of a particular kind; the development of psychic quality; the effect of the subjective life upon the material form; the utilisation of the form for certain specific ends, and the attainment by the indwelling entity of certain qualities. The true nature of the central life, be it God or man, will be manifested during a life cycle, whether solar or human. That is true of you and it is true of me; it is probably true of the planetary Logos, and if true of him, therefore also of a solar Logos.
Sau khi thấy rằng hai giai đoạn hoạt động nguyên tử và phóng xạ đặc trưng cho sự tiến hóa của tất cả các nguyên tử trong hệ mặt trời, bây giờ chúng ta hãy xem những sự phát triển khác nhau có thể được mong đợi là gì khi tâm thức bên trong nguyên tử con người tiến hóa. Tôi muốn tập trung sự chú ý của chúng ta vào loại tâm thức con người này, vì nó là sự tiến hóa trung tâm trong hệ mặt trời. Khi ba phương diện của sự sống thiêng liêng được [125] mang lại cùng nhau — sự sống hay tinh thần ngự bên trong, hình tướng vật chất hay vận cụ chất liệu, và yếu tố hoạt động thông minh — những kết quả cụ thể nhất định sẽ xảy ra. Chúng ta sẽ có sự tác động dần dần của tâm thức thuộc một loại cụ thể; sự phát triển của phẩm tính thông linh; tác động của đời sống chủ quan lên hình tướng vật chất; việc sử dụng hình tướng cho những mục đích cụ thể nhất định, và sự đạt được bởi thực thể ngự bên trong những phẩm tính nhất định. Bản chất thực sự của sự sống trung tâm, dù là Thượng đế hay con người, sẽ được biểu lộ trong suốt một chu kỳ sự sống, dù là thái dương hay nhân loại. Điều đó đúng với các bạn và đúng với tôi; nó có lẽ đúng với Hành Tinh Thượng đế, và nếu đúng với Ngài, thì do đó cũng đúng với một Thái dương Thượng đế.
Let us try, if we can, to follow some of the different developments in connection with our four types of atoms—the atom of substance, the human atom, the planetary atom, and the cosmic atom. One of the first and most important developments will be conscious response to every vibration and contact—that is, the ability to respond to the not-self on every plane. Let me illustrate. I could go down to certain halls in this city, and gather together an audience composed of the unskilled labourers and illiterates, I could talk to them, and repeat what I have been saying this evening and get no response whatever. Yet I could go down and give them a talk such [126] as I gave ten years ago, along strictly evangelical or Gospel lines, and meet with a rapid reaction. Here the question of right or wrong does not enter in, but simply the difference in the ability of different grades and types of men at different stages of evolution to respond to contact and vibration. It simply means that certain people are at a stage where they can be reached by an emotional appeal, and dealt with along the line of their own personal salvation, being in the earlier atomic stage as yet. There is another stage which includes that, but which enables one to respond also to a more intellectual appeal, which gives one a certain amount of interest and satisfaction in such discussions as we have pursued, and which means investigation of those matters which concern the group, for instance. But both stages are equally right.
Chúng ta hãy thử, nếu có thể, theo dõi một số sự phát triển khác nhau liên quan đến bốn loại nguyên tử của chúng ta — nguyên tử chất liệu, nguyên tử con người, nguyên tử hành tinh, và nguyên tử vũ trụ. Một trong những sự phát triển đầu tiên và quan trọng nhất sẽ là sự đáp ứng có ý thức đối với mọi rung động và tiếp xúc — nghĩa là, khả năng đáp ứng với cái phi ngã trên mọi cõi. Hãy để tôi minh họa. Tôi có thể đi xuống một số hội trường trong thành phố này, và tập hợp một khán giả gồm những người lao động không có tay nghề và mù chữ, tôi có thể nói chuyện với họ, và lặp lại những gì tôi đang nói tối nay và không nhận được phản hồi nào cả. Tuy nhiên, tôi có thể đi xuống và cho họ một bài nói chuyện như [126] tôi đã làm mười năm trước, theo các dòng truyền giáo hoặc Phúc âm nghiêm ngặt, và gặp một phản ứng nhanh chóng. Ở đây vấn đề đúng hay sai không đi vào, mà đơn giản là sự khác biệt trong khả năng của các cấp độ và loại người khác nhau ở các giai đoạn tiến hóa khác nhau để đáp ứng với tiếp xúc và rung động. Nó đơn giản có nghĩa là một số người đang ở giai đoạn mà họ có thể được tiếp cận bằng một lời kêu gọi cảm xúc, và được giải quyết theo dòng cứu rỗi cá nhân của riêng họ, vì vẫn còn ở giai đoạn nguyên tử trước đó. Có một giai đoạn khác bao gồm điều đó, nhưng cũng cho phép một người đáp ứng với một lời kêu gọi trí tuệ hơn, mang lại cho một người một lượng quan tâm và thỏa mãn nhất định trong các cuộc thảo luận như chúng ta đã theo đuổi, và có nghĩa là điều tra những vấn đề liên quan đến nhóm, chẳng hạn. Nhưng cả hai giai đoạn đều đúng như nhau.
We can look at this matter from another angle: it is quite possible for us to meet great people, wonderful men and women, and fail to be impressed by them; we might pass them by without recognising them, and thus miss that which they have to give us. This happened in Palestine in connection with the Christ, two thousand years ago. Why? Because, we ourselves are not yet great enough to respond to them. There is something still lacking in us, so that we are unable to realise or feel their particular vibration. I [127] have heard it said, and I think it is very true, that if the Christ were to come down upon earth again, and walk among men as He did before, He might live His life amongst us day after day and we would not notice anything so very different in Him from the other good and unselfish people whom we know. We have not yet cultivated within ourselves the ability to respond to the divine in our brother. We usually see only that which is bad and coarse, and are cognisant principally of our brother's faults. We are insensitive, yet, to the best people.
Chúng ta có thể nhìn vấn đề này từ một góc độ khác: hoàn toàn có khả năng chúng ta gặp những con người vĩ đại, những người nam và nữ tuyệt vời, nhưng lại không bị ấn tượng bởi họ; chúng ta có thể lướt qua họ mà không nhận ra họ, và do đó bỏ lỡ những gì họ có thể mang lại cho chúng ta. Điều này đã xảy ra ở xứ Palestine liên quan đến Đức Christ, hai ngàn năm trước. Tại sao? Bởi vì chính chúng ta chưa đủ vĩ đại để đáp ứng với họ. Vẫn còn thiếu sót điều gì đó trong chúng ta, khiến chúng ta không thể chứng nghiệm hay cảm nhận được rung động đặc biệt của họ. Tôi [127] từng nghe nói, và tôi nghĩ điều này rất đúng, rằng nếu Đức Christ giáng trần một lần nữa, và đi lại giữa con người như Ngài đã làm trước đây, Ngài có thể sống cuộc đời của Ngài giữa chúng ta ngày qua ngày và chúng ta sẽ không nhận thấy bất cứ điều gì quá khác biệt ở Ngài so với những người tốt bụng và không vị kỷ khác mà chúng ta biết. Chúng ta chưa nuôi dưỡng bên trong mình khả năng đáp ứng với thiên tính nơi người huynh đệ của mình. Chúng ta thường chỉ nhìn thấy những gì xấu xa và thô thiển, và chủ yếu nhận biết những lỗi lầm của huynh đệ mình. Chúng ta vẫn còn vô cảm đối với những người tốt nhất.
Another development will be that we shall be able to function consciously on all planes of being. We function consciously now on the physical plane, and there are a few people who are able to function equally consciously on the next subtler plane, that which is called the astral plane (a word I very much dislike, as it conveys no real meaning to our minds) or the plane of the emotional nature, on which a man is active when out of the physical body, in the hours of sleep or immediately after death. Very few human beings can function on the mental plane in fully awakened consciousness, and still fewer upon the spiritual plane. The object of evolution is that we should consciously function, with full continuity of realisation, upon the physical, emotional, and mental planes. This is the great achievement [128] which will some day be ours. We shall then know what we do every hour of the day, and not for just about fourteen hours out of every twenty-four. At present we remain unconscious of where the real thinking entity is during the hours of sleep. We do not know what his activities are, nor the condition of his environment. Some day we shall utilise and employ every minute of every hour of the day.
Một sự phát triển khác sẽ là chúng ta sẽ có thể hoạt động một cách có ý thức trên tất cả các cõi giới của bản thể. Hiện nay chúng ta hoạt động có ý thức trên cõi hồng trần, và có một số ít người có thể hoạt động có ý thức tương đương trên cõi thanh nhẹ hơn kế tiếp, cõi được gọi là cõi cảm dục (một từ mà tôi rất không thích, vì nó không truyền tải ý nghĩa thực sự nào cho trí tuệ chúng ta) hay cõi của bản chất cảm xúc, nơi một người hoạt động khi rời khỏi thể xác, trong những giờ ngủ hoặc ngay sau khi chết. Rất ít người có thể hoạt động trên cõi trí trong tâm thức hoàn toàn thức tỉnh, và càng ít hơn nữa trên cõi tinh thần. Mục tiêu của tiến hóa là chúng ta nên hoạt động một cách có ý thức, với sự liên tục hoàn toàn của sự chứng nghiệm, trên các cõi hồng trần, cảm dục và cõi trí. Đây là thành tựu vĩ đại [128] mà một ngày nào đó sẽ là của chúng ta. Khi đó chúng ta sẽ biết mình làm gì mỗi giờ trong ngày, chứ không chỉ khoảng mười bốn giờ trong mỗi hai mươi bốn giờ. Hiện tại chúng ta vẫn không biết thực thể tư duy thực sự ở đâu trong những giờ ngủ. Chúng ta không biết các hoạt động của y là gì, cũng như điều kiện môi trường của y. Một ngày nào đó chúng ta sẽ tận dụng và sử dụng mỗi phút của mỗi giờ trong ngày.
Another purpose of evolution is a threefold one, and it is that we should have purpose or will, love, and energy co-ordinated. That is not so as yet. We have much intelligent energy continuously displayed now, but it is very rare indeed to meet a person whose whole life is animated by a central purpose. which is followed unswervingly, and which is animated and instigated by love working through intelligent activity. The time is coming, however, when we shall have expanded our consciousness to such an extent, and be so active within ourselves, that we shall become radio-active. We shall then carry forward a definite purpose which will be the outcome of love, and attain our objective by means of the intelligence. This is all that God is doing, is it not? At our present stage of development, we are certainly intelligent, but as yet there is very little love. We may have a little love for those we contact or meet, and a greater love for our [129] family and immediate friends, but we know practically nothing of group love. When group love is voiced for us by the great idealists of the race it is nevertheless true that we have reached the stage where we can respond somewhat to it, and feel that it is something we should like to see realised. It is good to remember that the more we think along such definitely altruistic lines, the more we shall build up something of very great value, and develop by slow and laborious degrees the rudiments of a real group consciousness, which as yet lies far ahead for most of us.
Một mục đích khác của tiến hóa là mục đích tam phân, đó là chúng ta nên có mục đích hay ý chí, tình thương, và năng lượng được phối hợp. Điều đó vẫn chưa diễn ra. Hiện nay chúng ta có nhiều năng lượng thông minh được phô diễn liên tục, nhưng thực sự rất hiếm khi gặp một người mà toàn bộ cuộc đời được làm cho sống động bởi một mục đích trung tâm, mục đích đó được theo đuổi một cách kiên định, và được làm cho sống động và thôi thúc bởi tình thương hoạt động qua hoạt động thông minh. Tuy nhiên, thời điểm đang đến khi chúng ta sẽ mở rộng tâm thức của mình đến mức độ, và trở nên hoạt động tích cực bên trong bản thân mình, đến nỗi chúng ta sẽ trở nên phóng xạ. Khi đó chúng ta sẽ thúc đẩy một mục đích xác định vốn sẽ là kết quả của tình thương, và đạt được mục tiêu của mình bằng phương tiện của trí thông minh. Đây là tất cả những gì Thượng đế đang làm, phải không? Ở giai đoạn phát triển hiện tại của chúng ta, chúng ta chắc chắn là thông minh, nhưng vẫn còn rất ít tình thương. Chúng ta có thể có một chút tình thương dành cho những người chúng ta tiếp xúc hay gặp gỡ, và một tình thương lớn hơn dành cho [129] gia đình và bạn bè thân thiết của mình, nhưng chúng ta thực tế không biết gì về tình thương nhóm. Tuy nhiên, khi tình thương nhóm được nói lên cho chúng ta bởi những nhà lý tưởng vĩ đại của nhân loại thì đúng là chúng ta đã đạt đến giai đoạn mà chúng ta có thể đáp ứng phần nào với nó, và cảm thấy rằng đó là điều chúng ta muốn thấy được hiện thực hóa. Thật tốt để nhớ rằng chúng ta càng suy nghĩ theo những đường hướng vị tha xác định như vậy, chúng ta sẽ càng xây dựng được điều gì đó có giá trị rất lớn, và phát triển bằng những cấp độ chậm chạp và gian khổ các yếu tố thô sơ của một tâm thức nhóm thực sự, điều mà hiện tại vẫn còn nằm rất xa phía trước đối với hầu hết chúng ta.
There are several other developments during the evolutionary process with which we might deal, and which are at present so far ahead that they are practically inconceivable unless we have the peculiar type of brain that can think somewhat abstractly. There is the stage in which we can transcend time and space, when the consciousness of the group in all parts of the planet, for instance, will be our consciousness, and when it will be just as easy for us to contact the consciousness of a friend in India, Africa, or elsewhere, as it is here; distance and separation will prove no barrier to intercourse. Symptoms of this can be seen in the ability which some people have to communicate telepathically, or to psychometrise.
Có một vài sự phát triển khác trong tiến trình tiến hóa mà chúng ta có thể đề cập đến, và hiện tại chúng còn ở xa phía trước đến nỗi thực tế là không thể hình dung được trừ khi chúng ta có loại bộ não đặc biệt có thể suy nghĩ trừu tượng đôi chút. Có giai đoạn mà trong đó chúng ta có thể vượt vượt thời gian và không gian, chẳng hạn khi tâm thức của nhóm ở mọi nơi trên hành tinh sẽ là tâm thức của chúng ta, và khi đó sẽ dễ dàng cho chúng ta tiếp xúc với tâm thức của một người bạn ở Ấn Độ, Châu Phi, hay bất cứ nơi nào khác, cũng như ngay tại đây; khoảng cách và sự chia cắt sẽ chứng tỏ không còn là rào cản đối với việc giao thiệp. Các triệu chứng của điều này có thể được thấy trong khả năng mà một số người có để giao tiếp bằng viễn cảm, hoặc để trắc tâm.
It is all very well to spend some time visioning this distant goal, and picturing the achievement [130] of the Logos billions of years hence, but the thing of vital interest for us is to get some idea of the immediate stage ahead; and to understand what we may expect to happen in connection with the evolutionary process during the next few thousand years. Let us consider this idea somewhat. There are, as we know, three main lines of thought in the world: the scientific, the religious, and the philosophical. Now, in these three what have we got? In the scientific line of thought we have embodied all that concerns matter, the substance aspect of manifestation; it deals with objectivity, and with that which is material, tangible, and seen; literally, with that which can be proven. In religious thought we have that which is concerned with the life within the form, which deals with the return of spirit to its source, plus all that has been gained by the use of the form; it has reference to the subjective side of nature. In philosophical thought we have what I might call the utilisation of the intelligence by the indwelling life, in order that the form may be adequately adapted to its need. Let us consider in this connection certain developments which may be looked for in the immediate future, remembering that all that I say is only intended to be suggestive, and that I speak in no dogmatic spirit.
Thật tốt khi dành một chút thời gian hình dung mục tiêu xa xôi này, và mường tượng thành tựu [130] của Logos hàng tỷ năm sau, nhưng điều quan tâm thiết yếu đối với chúng ta là có được một ý niệm nào đó về giai đoạn ngay trước mắt; và thấu hiểu những gì chúng ta có thể mong đợi sẽ xảy ra liên quan đến tiến trình tiến hóa trong vài ngàn năm tới. Hãy xem xét ý tưởng này đôi chút. Như chúng ta biết, có ba dòng tư tưởng chính trên thế giới: khoa học, tôn giáo, và triết học. Nay, trong ba dòng này chúng ta có gì? Trong dòng tư tưởng khoa học, chúng ta đã thể hiện tất cả những gì liên quan đến vật chất, phương diện chất liệu của sự biểu hiện; nó đề cập đến tính khách quan, và với những gì là vật chất, hữu hình, và được nhìn thấy; theo nghĩa đen, với những gì có thể được chứng minh. Trong tư tưởng tôn giáo, chúng ta có những điều liên quan đến sự sống bên trong hình tướng, cái đề cập đến sự trở về của tinh thần về nguồn cội của nó, cộng với tất cả những gì đã đạt được nhờ việc sử dụng hình tướng; nó có liên hệ đến khía cạnh chủ quan của thiên nhiên. Trong tư tưởng triết học, chúng ta có cái mà tôi có thể gọi là sự tận dụng trí thông minh bởi sự sống nội ngự, để hình tướng có thể thích nghi thỏa đáng với nhu cầu của nó. Hãy xem xét trong mối liên hệ này những sự phát triển nhất định có thể được trông đợi trong tương lai gần, nhớ rằng tất cả những gì tôi nói chỉ nhằm mục đích gợi ý, và rằng tôi nói không theo tinh thần giáo điều nào.
It is obvious to most thinkers that science, [131] having begun the study of radio-activity, is on the verge of discovering what is the nature of the power within the atom itself; it is very probable that before long we shall harness the energy of atomic matter for every conceivable purpose, for heating, for lighting, and for what I might call the motivation of everything that is carried on in the world. That force, as some of us know, was nearly discovered in the United States fifty years ago by a man called Keely, but he was not allowed to give it out to the world because of the danger thereby involved. Men are as yet far too selfish to be trusted with the distribution of atomic energy. That discovery will probably parallel the development of group consciousness. Only when man becomes radio-active and can work and think in group terms, will it be safe or wise for him to utilise the power latent in the atom. Everything in nature is beautifully co-ordinated, and nothing can be discovered or utilised before the right time. Only as man becomes unselfish will this tremendous power be permitted to pass into his hands. Nevertheless, we can, I believe, look to science to make tremendous strides in the comprehension of atomic energy.
Rõ ràng đối với hầu hết các nhà tư tưởng rằng khoa học, [131] sau khi bắt đầu nghiên cứu về phóng xạ, đang trên bờ vực khám phá ra bản chất của quyền năng bên trong chính nguyên tử là gì; rất có thể không bao lâu nữa chúng ta sẽ khai thác năng lượng của vật chất nguyên tử cho mọi mục đích có thể hình dung được, để sưởi ấm, để thắp sáng, và cho cái mà tôi có thể gọi là sự thúc đẩy của mọi thứ được thực hiện trên thế giới. Mãnh lực đó, như một số người trong chúng ta biết, đã gần như được phát hiện ở Hoa Kỳ năm mươi năm trước bởi một người tên là Keely, nhưng ông không được phép công bố nó ra thế giới vì sự nguy hiểm liên quan. Con người vẫn còn quá ích kỷ để được tin tưởng giao phó việc phân phối năng lượng nguyên tử. Khám phá đó có lẽ sẽ song hành với sự phát triển của tâm thức nhóm. Chỉ khi con người trở nên phóng xạ và có thể làm việc và suy nghĩ theo các thuật ngữ nhóm, thì mới an toàn hay khôn ngoan cho y tận dụng quyền năng tiềm tàng trong nguyên tử. Mọi thứ trong tự nhiên đều được phối hợp đẹp đẽ, và không gì có thể được khám phá hay tận dụng trước thời điểm đúng đắn. Chỉ khi con người trở nên không vị kỷ thì quyền năng to lớn này mới được phép chuyển vào tay y. Tuy nhiên, tôi tin rằng chúng ta có thể trông đợi khoa học thực hiện những bước tiến to lớn trong việc thấu hiểu năng lượng nguyên tử.
Then paralleling the evolution of the human being again, we can look for man to dominate the air. There is a great vibratory sphere, or plane, in the solar system, called in some occult books [132] the intuitional plane; it is called in the Eastern literature the Buddhic plane, and its symbol is the air. Just as man is beginning to find his way through the development of the intuition on to that plane now, so science is beginning to discover how to dominate the air, and as the intuition in man develops and grows, so will his control of the air be developed and grow. Another thing we can look for (and it is already being recognised somewhat) is the development of the ability to see in subtler matter. Everywhere there are children being born who see more than you or I can. I am here referring to something that is based purely on material grounds, and concerns the physical eye. I refer to etheric vision, which is seeing in the finer matter of the physical plane, or in that which is called the ethers. Much interesting work has been done along this line by students and scientists in California. Dr. Frederick Finch Strong has been working along this line in a valuable way, and teaching that the physical eye is capable of seeing etherically, and that etheric vision is the normal function of the eye. What will the development of this faculty mean? It will mean that science will have definitely to readjust its point of view as to the subtler planes. If there come within the range of vision of the normal man or woman within the next one hundred years certain aspects and forms [133] of life that have been regarded hitherto as imaginary, we have broken once and for all that rank materialism which has distinguished us for so long, and if that which is now invisible is recognised along any particular line, who shall say how far forward it will be possible for us to go as time progresses? Again, the whole trend of evolution is toward synthesis. As we go down into matter, as we tend toward materialisation, we have heterogeneity; as we work back towards spirit we shall tend towards unity: so that in the religious world we can look for unity to make its appearance. There is, even now, a much greater spirit of tolerance abroad than was the case fifty years ago; but the time is rapidly approaching when the great fundamental unity that underlies all the different religions, and the fact that each faith is a necessary part of one great whole, will be recognised by men everywhere, and through this recognition we shall have the simplification of religion. We shall have the great central facts emphasised and utilised, and the small and petty differences of organisation, and of explanation, overlooked.
Sau đó, song hành với sự tiến hóa của con người một lần nữa, chúng ta có thể trông đợi con người thống trị không trung. Có một khối cầu rung động lớn, hay một cõi, trong hệ mặt trời, được gọi trong một số sách huyền bí [132] là cõi trực giác; nó được gọi trong văn chương Phương Đông là cõi Bồ đề, và biểu tượng của nó là không khí. Cũng giống như con người đang bắt đầu tìm đường thông qua sự phát triển của trực giác để đi vào cõi đó hiện nay, thì khoa học cũng đang bắt đầu khám phá cách thống trị không trung, và khi trực giác trong con người phát triển và tăng trưởng, thì sự kiểm soát của y đối với không trung cũng sẽ phát triển và tăng trưởng. Một điều khác chúng ta có thể trông đợi (và nó đã được nhận biết đôi chút) là sự phát triển khả năng nhìn trong vật chất thanh nhẹ hơn. Khắp nơi đều có những đứa trẻ được sinh ra nhìn thấy nhiều hơn bạn hay tôi có thể thấy. Ở đây tôi đang đề cập đến điều gì đó hoàn toàn dựa trên cơ sở vật chất, và liên quan đến con mắt vật lý. Tôi ám chỉ tầm nhìn dĩ thái, tức là nhìn trong vật chất tinh vi hơn của cõi hồng trần, hay trong cái được gọi là các dĩ thái. Nhiều công việc thú vị đã được thực hiện theo hướng này bởi các môn sinh và nhà khoa học ở California. Tiến sĩ Frederick Finch Strong đã làm việc theo hướng này theo một cách có giá trị, và dạy rằng con mắt vật lý có khả năng nhìn thấy một cách dĩ thái, và rằng tầm nhìn dĩ thái là chức năng bình thường của mắt. Sự phát triển của quan năng này sẽ có nghĩa là gì? Nó sẽ có nghĩa là khoa học sẽ phải dứt khoát điều chỉnh lại quan điểm của mình về các cõi thanh nhẹ hơn. Nếu trong vòng một trăm năm tới, lọt vào phạm vi tầm nhìn của người nam hay người nữ bình thường là những phương diện và hình tướng [133] nhất định của sự sống vốn cho đến nay được coi là tưởng tượng, chúng ta đã phá vỡ một lần và mãi mãi chủ nghĩa duy vật thô thiển vốn đã làm nổi bật chúng ta quá lâu, và nếu cái hiện nay là vô hình được thừa nhận theo bất kỳ đường hướng cụ thể nào, ai sẽ nói được chúng ta có thể tiến xa đến đâu khi thời gian trôi qua? Một lần nữa, toàn bộ xu hướng của tiến hóa là hướng tới sự tổng hợp. Khi chúng ta đi xuống vào vật chất, khi chúng ta hướng tới sự vật chất hóa, chúng ta có tính không đồng nhất; khi chúng ta làm việc trở lại hướng về tinh thần, chúng ta sẽ hướng tới sự hợp nhất: vì vậy trong thế giới tôn giáo, chúng ta có thể trông đợi sự hợp nhất xuất hiện. Thậm chí ngay bây giờ, có một tinh thần khoan dung lớn hơn nhiều ở khắp nơi so với trường hợp của năm mươi năm trước; nhưng thời điểm đang đến nhanh chóng khi sự hợp nhất cơ bản vĩ đại nằm bên dưới tất cả các tôn giáo khác nhau, và thực tế rằng mỗi đức tin là một phần cần thiết của một tổng thể vĩ đại duy nhất, sẽ được con người ở khắp mọi nơi thừa nhận, và qua sự thừa nhận này, chúng ta sẽ có sự đơn giản hóa tôn giáo. Chúng ta sẽ có những sự thật trung tâm vĩ đại được nhấn mạnh và tận dụng, và những khác biệt nhỏ nhặt của tổ chức, và của sự giải thích, sẽ được bỏ qua.
Again, we can look for a very interesting happening in connection with the human family to take place, for the moment group consciousness becomes, on a larger scale, the conscious objective of man, what will occur? You will have [134] man putting his foot upon what is called in the religious world, "The Path." You will have him definitely taking himself in hand, endeavouring to live the life of the spirit, refusing any longer to live a self-centred atomic life; you will have him searching for his place within the greater whole, finding it by means of definite self-initiated endeavour, and then unifying himself with that group. This is all that is really meant by the teaching given about the Path in the Protestant, Catholic, and Buddhist churches. They all teach the treading of this Path, calling it by different names, such as the Way, the noble Eightfold Path, the Path of Illumination, or the Path of Holiness. Yet it is the one Path, that which shineth ever more and more unto the perfect day.
Một lần nữa, chúng ta có thể trông đợi một sự kiện rất thú vị liên quan đến gia đình nhân loại sẽ diễn ra, bởi ngay khi tâm thức nhóm trở thành mục tiêu có ý thức của con người trên quy mô lớn hơn, điều gì sẽ xảy ra? Bạn sẽ thấy [134] con người đặt chân lên cái được gọi trong thế giới tôn giáo là "Đường Đạo". Bạn sẽ thấy y dứt khoát tự nắm lấy bản thân mình, nỗ lực sống cuộc đời của tinh thần, từ chối sống cuộc đời nguyên tử tập trung vào bản thân thêm nữa; bạn sẽ thấy y tìm kiếm vị trí của mình bên trong cái toàn thể vĩ đại hơn, tìm thấy nó bằng phương tiện của nỗ lực tự khởi xướng xác định, và sau đó tự hợp nhất mình với nhóm đó. Đây là tất cả những gì thực sự được ngụ ý bởi giáo lý được ban truyền về Đường Đạo trong các giáo hội Tin Lành, Công giáo và Phật giáo. Tất cả họ đều dạy việc bước đi trên Con Đường này, gọi nó bằng những cái tên khác nhau, chẳng hạn như Đạo, Bát Chánh Đạo cao quý, Con Đường Soi Sáng, hay Con Đường Thánh Thiện. Tuy nhiên, đó là Con Đường duy nhất, con đường chiếu sáng mãi mãi cho đến ngày hoàn hảo.
We can look, too, for the development of the power to think abstractly, and for the awakening of the intuition. As the great races have succeeded one another upon the planet, there has ever been an ordered, directed unfoldment of the powers of the soul, and a definitely planned sequence. In the third root race, the Lemurian, the physical aspect of man was carried to a high stage of perfection. Later in the great race which preceded ours, the Atlantean, and which perished in the flood, the emotional nature of man was developed. Then in the race to which we belong, the Aryan or fifth race, the development of the [135] concrete or lower mind is the goal, and this we are developing each decade. A few are also beginning to develop the power to think in abstract terms.
Chúng ta cũng có thể trông đợi sự phát triển của quyền năng suy nghĩ một cách trừu tượng, và sự thức tỉnh của trực giác. Khi các giống dân vĩ đại nối tiếp nhau trên hành tinh, luôn có một sự khai mở có trật tự, được định hướng của các quyền năng của linh hồn, và một trình tự được hoạch định rõ ràng. Trong giống dân gốc thứ ba, giống dân Lemuria, phương diện thể xác của con người được đưa đến một giai đoạn hoàn thiện cao. Sau đó trong giống dân vĩ đại đi trước chúng ta, giống dân Atlantis, vốn đã bị diệt vong trong trận lụt, bản chất cảm xúc của con người đã được phát triển. Sau đó trong giống dân mà chúng ta thuộc về, giống dân Arya hay giống dân thứ năm, sự phát triển của [135] trí cụ thể hay hạ trí là mục tiêu, và chúng ta đang phát triển điều này mỗi thập kỷ. Một số ít cũng đang bắt đầu phát triển quyền năng suy nghĩ theo các thuật ngữ trừu tượng.
When this is the case we shall see more of that peculiar, interesting capacity which some people evince, and which we call the ability to be inspired. I am not here speaking of mediumship, nor do I mean mediumistic ability. There is nothing more dangerous than that which is usually meant by the term of "medium." The average medium is a man of a negative or receptive nature, and usually so loosely co-ordinated in his threefold nature that an extraneous force or entity can use his brain, his hand, or his body. It is quite a common phenomenon. Automatic writing, ouija boards, and spiritualistic seances of a low order are rampant these days, and are driving thousands into insanity, or into nervous disorders. But there is something of which mediumship is simply a distortion, and this something is inspiration. To be capable of being inspired means that a human mind has reached a stage in his evolution where he is consciously and positively under the control of his own higher self, the God within. That inner ruler, the real self, can, by definite contact, control his physical brain, and enable the man to make decisions, and to understand the truth, apart from [136] the reasoning faculty altogether; this inner God can enable the man to speak, to write, and to pass on the truth without the use of the lower mind. Truth lies within ourselves. When we can contact our own inner God all truth will be revealed to us. We shall be Knowers. But this is a positive, not a negative thing, and means the putting of oneself in direct conscious alignment with one's Ego, or higher self, and not the throwing open of one's personality to any passing entity or spook.
Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ thấy nhiều hơn về khả năng đặc biệt, thú vị mà một số người biểu lộ, và cái mà chúng ta gọi là khả năng được truyền cảm hứng. Tôi không nói ở đây về khả năng làm đồng tử, cũng không có ý nói đến khả năng đồng cốt. Không có gì nguy hiểm hơn cái thường được ngụ ý bởi thuật ngữ "đồng tử". Đồng tử trung bình là một người có bản chất thụ động hay tiếp thu, và thường được phối hợp lỏng lẻo trong bản chất tam phân của mình đến nỗi một lực hay thực thể ngoại lai có thể sử dụng bộ não, bàn tay, hay cơ thể của y. Đó là một hiện tượng khá phổ biến. Viết tự động, cầu cơ, và các buổi gọi hồn thuộc trật tự thấp đang tràn lan ngày nay, và đang đẩy hàng ngàn người vào sự điên loạn, hoặc vào các rối loạn thần kinh. Nhưng có một điều mà khả năng làm đồng tử chỉ là một sự biến dạng của nó, và điều này là sự cảm hứng. Có khả năng được truyền cảm hứng nghĩa là một tâm trí con người đã đạt đến một giai đoạn trong tiến hóa của mình nơi y ở dưới sự kiểm soát một cách có ý thức và tích cực của chính chân ngã hay cái tôi cao hơn của mình, Thượng đế bên trong. Người cai quản bên trong đó, cái tôi thực sự, có thể, bằng sự tiếp xúc xác định, kiểm soát bộ não vật lý của y, và cho phép con người đó đưa ra các quyết định, và thấu hiểu chân lý, tách biệt hoàn toàn khỏi [136] quan năng lý luận; Vị Thượng đế bên trong này có thể cho phép con người nói, viết, và truyền đạt chân lý mà không cần sử dụng hạ trí. Chân lý nằm bên trong chính chúng ta. Khi chúng ta có thể tiếp xúc với Thượng đế bên trong của chính mình, mọi chân lý sẽ được mặc khải cho chúng ta. Chúng ta sẽ là những Thức giả. Nhưng đây là một điều tích cực, không phải tiêu cực, và có nghĩa là đặt bản thân mình trong sự chỉnh hợp có ý thức trực tiếp với Chân ngã, hay cái tôi cao hơn của một người, chứ không phải mở toang phàm ngã của một người cho bất kỳ thực thể hay vong hồn vất vưởng nào.
This can be seen occurring now, occasionally, but it is not very often that the average man comes in contact with his higher self. Only in our moments of highest endeavour, only at the great crises of our lives, and only as the result of long discipline and strenuous meditation does this occur. But some day we shall govern our entire lives, not from the personal, selfish point of view, but from the point of view of the God within, Who is a direct revelation of Spirit on the highest plane.
Điều này có thể được thấy đang xảy ra hiện nay, đôi khi, nhưng không thường xuyên lắm khi người trung bình tiếp xúc với chân ngã của mình. Chỉ trong những khoảnh khắc nỗ lực cao nhất của chúng ta, chỉ tại những cuộc khủng hoảng lớn của cuộc đời chúng ta, và chỉ như là kết quả của kỷ luật lâu dài và tham thiền vất vả thì điều này mới xảy ra. Nhưng một ngày nào đó chúng ta sẽ cai quản toàn bộ cuộc đời mình, không phải từ quan điểm cá nhân, ích kỷ, mà từ quan điểm của Thượng đế bên trong, Đấng là sự mặc khải trực tiếp của Tinh thần trên cõi cao nhất.
The final thing I seek to bring out to-night is that the goal for each one of us is the development of the powers of the soul, or of the psyche. This means that you and I are going to be psychics. But I am not using this word "psychic" as it is usually understood, nor in its every-day connotation. The psyche is, literally, the soul within, [137] or the higher self, who emerges from out of the threefold lower self, as the butterfly emerges out of the chrysalis; it is that beautiful reality, which we are going to produce as the result of our life, or lives, down here. The true psychic powers are those which put us in contact with the group. The powers of the physical body, which we use every day, put us in contact with individuals, but when we have developed the powers of the soul, and have unfolded its potentialities, we shall be true psychics. Now what are those powers? All I can do to-night is to enumerate a few out of the many.
Điều cuối cùng tôi tìm cách làm nổi bật tối nay là mục tiêu cho mỗi người trong chúng ta là sự phát triển của các quyền năng của linh hồn, hay của tâm linh (psyche). Điều này có nghĩa là bạn và tôi sẽ trở thành những nhà thông linh. Nhưng tôi không sử dụng từ "thông linh" (psychic) này như nó thường được hiểu, cũng không theo nghĩa thông thường hàng ngày của nó. Tâm linh (psyche), theo nghĩa đen, là linh hồn bên trong, [137] hay chân ngã, đấng xuất hiện từ bên trong phàm ngã tam phân thấp thỏi, như con bướm chui ra khỏi kén; đó là thực tại đẹp đẽ, cái mà chúng ta sẽ tạo ra như là kết quả của cuộc đời, hay các cuộc đời của mình, dưới này. Các quyền năng thông linh thực sự là những quyền năng đặt chúng ta trong sự tiếp xúc với nhóm. Các quyền năng của thể xác, mà chúng ta sử dụng hàng ngày, đặt chúng ta trong sự tiếp xúc với các cá nhân, nhưng khi chúng ta đã phát triển các quyền năng của linh hồn, và đã khai mở các tiềm năng của nó, chúng ta sẽ là những nhà thông linh thực sự. Nay những quyền năng đó là gì? Tất cả những gì tôi có thể làm tối nay là liệt kê một vài trong số rất nhiều quyền năng.
One is the conscious control of matter. The majority of us control our physical bodies consciously, making them carry out our behests upon the physical plane. Some of us control our emotions consciously, but very few of us can control the mind. Most of us are controlled by our desires, and by our thoughts. But the time is coming when we shall consciously control our threefold lower nature. Time will then not exist for us at all. We shall have that continuity of consciousness upon the three planes of being—physical, emotional, and mental—which will enable us to live as does the Logos, in that very metaphysical abstraction, the Eternal Now.
Một là sự kiểm soát vật chất một cách có ý thức. Đa số chúng ta kiểm soát thể xác của mình một cách có ý thức, bắt chúng thực hiện các mệnh lệnh của chúng ta trên cõi hồng trần. Một số người trong chúng ta kiểm soát cảm xúc của mình một cách có ý thức, nhưng rất ít người trong chúng ta có thể kiểm soát thể trí. Hầu hết chúng ta bị kiểm soát bởi những dục vọng, và những ý nghĩ của mình. Nhưng thời điểm đang đến khi chúng ta sẽ kiểm soát một cách có ý thức bản chất thấp thỏi tam phân của mình. Khi đó thời gian sẽ hoàn toàn không tồn tại đối với chúng ta. Chúng ta sẽ có sự liên tục của tâm thức trên ba cõi của bản thể—hồng trần, cảm dục, và trí tuệ—điều sẽ cho phép chúng ta sống như Logos, trong sự trừu tượng rất siêu hình đó, Hiện Tại Vĩnh Cửu.
Another power of the soul is psychometry. Now what is psychometry? It might be defined [138] as the ability to take a tangible something, belonging perhaps to an individual, and through the medium of that, to put oneself en rapport with that individual, or with a group of individuals. Psychometry is the law of association of ideas applied to the vibratory quality of force for the purpose of obtaining information.
Một quyền năng khác của linh hồn là thuật trắc tâm. Nay thuật trắc tâm là gì? Nó có thể được định nghĩa [138] như khả năng cầm lấy một vật hữu hình nào đó, có lẽ thuộc về một cá nhân, và qua trung gian của vật đó, đặt bản thân mình vào sự giao cảm với cá nhân đó, hoặc với một nhóm các cá nhân. Thuật trắc tâm là quy luật về sự liên tưởng các ý tưởng được áp dụng cho phẩm tính rung động của mãnh lực nhằm mục đích thu thập thông tin.
Again, the race will become clairaudient and clairvoyant, which means the capacity to hear and see as clearly and accurately upon the subtler planes as we do upon the physical. It will involve the ability to hear and see all that concerns the group—that is, to hear and see in the fourth and fifth dimensions. I am not enough of a mathematician to attempt to explain these dimensions, and am apt myself to get very confused when considering them, but an illustration that was given me may make the whole thing somewhat clearer. A young Swedish thinker explained it to me thus:
Một lần nữa, nhân loại sẽ trở nên thông nhĩ và thông nhãn, nghĩa là khả năng nghe và thấy rõ ràng và chính xác trên các cõi thanh nhẹ hơn cũng như chúng ta làm trên cõi hồng trần. Nó sẽ bao gồm khả năng nghe và thấy tất cả những gì liên quan đến nhóm—nghĩa là, nghe và thấy trong chiều thứ tư và thứ năm. Tôi không đủ trình độ toán học để cố gắng giải thích những chiều đo này, và bản thân tôi dễ bị rất bối rối khi xem xét chúng, nhưng một minh họa đã được đưa ra cho tôi có thể làm cho toàn bộ vấn đề rõ ràng hơn đôi chút. Một nhà tư tưởng trẻ người Thụy Điển đã giải thích nó cho tôi như sau:
"The fourth dimension is the ability to see through and around a thing. The fifth dimension is the ability, for instance, to take an eye, and by means of that eye to put oneself en rapport with all other eyes in the solar system. To see in the sixth dimension might be defined as the power to take a pebble off the beach, and by means of it to put oneself in accord with the entire planet. Now in the fifth dimension, where [139] you took the eye, you were limited to a particular line of manifestation, but in the case of the sixth dimension, where you took a pebble, you were put in touch with the entire planet." This is something very far ahead of us, but it is interesting to speak about, and holds a promise for each and all.
"Chiều thứ tư là khả năng nhìn xuyên qua và xung quanh một vật. Chiều thứ năm là khả năng, chẳng hạn, lấy một con mắt, và bằng phương tiện của con mắt đó đặt bản thân mình vào sự giao cảm với tất cả các con mắt khác trong hệ mặt trời. Nhìn trong chiều thứ sáu có thể được định nghĩa như quyền năng nhặt một viên sỏi trên bãi biển, và bằng phương tiện của nó đặt bản thân mình vào sự hòa hợp với toàn bộ hành tinh. Nay trong chiều thứ năm, nơi [139] bạn lấy con mắt, bạn bị giới hạn trong một dòng biểu hiện cụ thể, nhưng trong trường hợp của chiều thứ sáu, nơi bạn lấy một viên sỏi, bạn được đặt vào sự tiếp xúc với toàn bộ hành tinh." Đây là điều gì đó rất xa phía trước chúng ta, nhưng thật thú vị để nói về nó, và nó chứa đựng một lời hứa cho mỗi người và tất cả mọi người.
There is not time to deal with the other powers, nor can I enumerate what they all may be. Healing by touch will be amongst them. The manipulation of the magnetic fluids, and conscious creation by means of colour and sound, are others. All that really concerns us at this time is that we should consciously take ourselves in hand, seek to come ever more and more under control of the inner ruler, endeavour to become radio-active, and to develop group consciousness.
Không có thời gian để đề cập đến các quyền năng khác, tôi cũng không thể liệt kê tất cả chúng có thể là gì. Chữa bệnh bằng cách đặt tay sẽ nằm trong số đó. Việc thao tác các lưu chất từ tính, và sự sáng tạo có ý thức bằng phương tiện của màu sắc và âm thanh, là những quyền năng khác. Tất cả những gì thực sự quan trọng đối với chúng ta vào lúc này là chúng ta nên nắm lấy bản thân mình một cách có ý thức, tìm cách ngày càng đi vào dưới sự kiểm soát của người cai quản bên trong, nỗ lực trở nên phóng xạ, và phát triển tâm thức nhóm.
LECTURE VII—BÀI GIẢNG VII
COSMIC EVOLUTION—TIẾN HÓA VŨ TRỤ