This case is shown with a triple purpose. First, to show how exciting and holistic even very simple astrology can be. Second, to show similarities between homœopathy and astrology and to introduce the reader to homœopathy. Third, to illustrate some of the philosophy put forward in Chapter 1, but, in particular, the idea that all manifestations in and by the universe (macrocosm) are also reflected inside every individual (microcosm). This means that all the plants, animals, geology, geography and everything else in the universe can also be seen in the horoscope. Charles Carter tells us that ‘every kind of life may be classed astrologically’ 10 and I agree with him. Let’s use the example of birds and assign to them the rulership of the sign Aquarius. For individual species, we need to think in terms of sub-divisions (and even sub-sub-divisions): robins would come under the sub-division of Aries; poultry would come under Cancer; swans under Leo; sparrows under Virgo; many birds of prey under Scorpio, and so on. This sub-division idea is very similar to techniques employed by Vedic astrologers. In previous chapters, I have attempted the classification of various things, such as countries and animals, to the signs. What follows is an illustration of some of the correspondences put forward, based on my personal observations, some of which agree with and some of which significantly depart from traditional correspondences.
Trường hợp này được trình bày với mục đích tam phân. Thứ nhất, để cho thấy ngay cả chiêm tinh học rất đơn giản cũng có thể thú vị và toàn diện đến mức nào. Thứ hai, để cho thấy những điểm tương đồng giữa vi lượng đồng căn và chiêm tinh học, đồng thời giới thiệu với độc giả về vi lượng đồng căn. Thứ ba, để minh họa một số triết lý đã được nêu trong Chương 1, nhưng đặc biệt là ý tưởng rằng mọi biểu hiện trong và bởi vũ trụ, tức đại vũ trụ, cũng được phản chiếu bên trong mỗi cá nhân, tức tiểu vũ trụ. Điều này có nghĩa là tất cả thực vật, động vật, địa chất, địa lý và mọi thứ khác trong vũ trụ cũng có thể được nhìn thấy trong lá số chiêm tinh. Charles Carter nói với chúng ta rằng “mọi loại sự sống đều có thể được phân loại theo chiêm tinh học” 10 và tôi đồng ý với ông. Hãy dùng ví dụ về chim và gán cho chúng quyền chủ tinh của dấu hiệu Bảo Bình. Đối với từng loài riêng biệt, chúng ta cần nghĩ theo các phân khu, thậm chí các phân khu phụ nữa: chim cổ đỏ sẽ thuộc phân khu Bạch Dương; gia cầm thuộc Cự Giải; thiên nga thuộc Sư Tử; chim sẻ thuộc Xử Nữ; nhiều loài chim săn mồi thuộc Bọ Cạp, vân vân. Ý tưởng phân khu này rất giống với các kỹ thuật mà các nhà chiêm tinh Vệ Đà sử dụng. Trong các chương trước, tôi đã cố gắng phân loại nhiều sự vật, chẳng hạn như các quốc gia và động vật, theo các dấu hiệu. Phần tiếp theo là một minh họa về một số tương ứng đã được nêu ra, dựa trên những quan sát cá nhân của tôi, trong đó có những điểm đồng thuận và có những điểm khác biệt đáng kể với các tương ứng truyền thống.
Homœopathy is a system of medicine based on the idea that a disease with a particular set of symptoms can be cured by a medicine made of a substance which, if it were given to a healthy person, would produce similar symptoms. For example, the humble onion (Allium cepa) makes our eyes water when we slice it and is used homœopathically for those with hay fever, largely characterized by watering eyes. Hippocrates (c.460-c.370 BC), a great physician and astrologer of his day, is usually credited with having laid the foundations of modern medicine in the West. He is also credited with the phrase ‘Similia similibus curantur’ – like must be treated with like. However, others – in Greece and India for instance – said the same many centuries before.
Vi lượng đồng căn là một hệ thống y học dựa trên ý tưởng rằng một bệnh với một tập hợp triệu chứng đặc thù có thể được chữa bằng một thuốc làm từ một chất mà nếu đưa cho người khỏe mạnh dùng, nó sẽ tạo ra các triệu chứng tương tự. Chẳng hạn, củ hành bình thường (Allium cepa) làm mắt chúng ta chảy nước khi thái, và được dùng theo vi lượng đồng căn cho những người bị sốt cỏ khô, vốn chủ yếu có đặc điểm là chảy nước mắt. Hippocrates, khoảng 460 đến khoảng 370 trước Công nguyên, một y sĩ và nhà chiêm tinh vĩ đại vào thời của ông, thường được ghi nhận là người đã đặt nền móng cho y học hiện đại ở phương Tây. Ông cũng được gắn với câu “cái giống nhau phải được trị bằng cái giống nhau”. Tuy nhiên, những người khác, chẳng hạn ở Hy Lạp và Ấn Độ, đã nói điều tương tự từ nhiều thế kỷ trước.
About Homœopathic Remedies
Về các phương thuốc vi lượng đồng căn
Homœopathic remedies can be made from many things: plants, minerals, animals, even disease substances, are all common source materials. Such minute amounts of the relevant material (too small to be detectable by scientific analysis) are used that plants or other substances considered poisonous in their crude state can now be safely employed. Where animals are used, one bee that has died naturally could probably supply the whole world with the remedy Apis for generations. Making the remedy is a complex business but, simplistically speaking, the substance is diluted greatly and then succussed (shaken), or ground, to harness its curative properties. The amount of dilution and shaking varies according to the potency (strength) of the remedy being made; the higher the potency the more the substance is diluted and the more it is succussed or ground. With homœopathy, less is certainly more. While not even a single molecule may remain of the original source material in even a low potency of the remedy, homœopathic remedies do work, or at least they work if the patient is given the correct remedy (what is known as the simillimum). Homœopaths, in keeping with the findings of modern physics, suggest that what does remain in the medicine is some kind of pattern, essence or ‘memory’ of the original substance. It is this essence that is thought to ignite the healing process.
Các phương thuốc vi lượng đồng căn có thể được làm từ nhiều thứ: thực vật, khoáng vật, động vật, thậm chí cả các chất bệnh lý, đều là những nguồn vật liệu phổ biến. Người ta dùng những lượng cực nhỏ của vật liệu liên quan, nhỏ đến mức không thể phát hiện bằng phân tích khoa học, nên các loài cây hoặc những chất khác vốn được xem là độc ở trạng thái thô nay có thể được sử dụng an toàn. Khi dùng động vật, một con ong chết tự nhiên có lẽ cũng có thể cung cấp cho cả thế giới phương thuốc Apis qua nhiều thế hệ. Việc chế tạo thuốc là một công việc phức tạp, nhưng nói một cách giản lược, chất ấy được pha loãng rất nhiều rồi được lắc mạnh, hoặc nghiền, để khai thác các đặc tính chữa lành của nó. Mức độ pha loãng và lắc thay đổi tùy theo hiệu lực, tức sức mạnh, của phương thuốc đang được làm; hiệu lực càng cao thì chất càng được pha loãng nhiều hơn và càng được lắc mạnh hoặc nghiền nhiều hơn. Với vi lượng đồng căn, ít chắc chắn là nhiều. Dù ngay cả trong một hiệu lực thấp của phương thuốc cũng có thể không còn một phân tử nào của vật liệu nguồn ban đầu, các phương thuốc vi lượng đồng căn vẫn có tác dụng, hoặc ít nhất chúng có tác dụng nếu bệnh nhân được cho đúng phương thuốc, điều được gọi là thuốc tương hợp nhất. Phù hợp với các phát hiện của vật lý hiện đại, các nhà vi lượng đồng căn cho rằng điều còn lại trong thuốc là một dạng mẫu hình, tinh chất hoặc “ký ức” nào đó của chất ban đầu. Chính tinh chất này được cho là khơi mở tiến trình chữa lành.
As astrologers we tend to say that what is going on in the sky is ‘similar’ or mirrors what is happening on earth. We might say that the horoscope is a map, a mirror of the psyche or indeed of a situation. It is part of the astrologer’s role to hold up that mirror, so that the situation can be seen more clearly and thus, hopefully, appropriate choices can be made. At the very least, a greater understanding of the matter in hand can be reached. In that sense, the consultant astrologer too is ‘treating like with like’ and arguably, therefore, practising a form of homœopathy.
Là các nhà chiêm tinh, chúng ta có khuynh hướng nói rằng điều đang diễn ra trên bầu trời là “tương tự” hoặc phản chiếu điều đang xảy ra trên trái đất. Chúng ta có thể nói rằng lá số chiêm tinh là một bản đồ, một tấm gương của tâm thức, hoặc quả thật là của một tình huống. Một phần vai trò của nhà chiêm tinh là nâng tấm gương ấy lên, để tình huống có thể được nhìn thấy rõ hơn, và nhờ đó, hy vọng rằng những lựa chọn thích hợp có thể được thực hiện. Ít nhất, có thể đạt đến một sự hiểu biết lớn hơn về vấn đề đang xét. Theo nghĩa đó, nhà chiêm tinh tư vấn cũng đang “trị cái giống nhau bằng cái giống nhau”, và do đó có thể nói là đang thực hành một hình thức vi lượng đồng căn.
A routine medical examination in 1998 revealed that Peter, 11 then 44 years old, was born with a missing cusp in the aortic valve of his heart. He had bronchial pneumonia as a child and a collapsed lung as an adult and, while both conditions would have been related to his congenital heart abnormality, his valvular problem had not been diagnosed. Throughout his life, Peter’s only real symptom had been breathlessness on exertion; this was mild in his early life but noticeable by 1998 and markedly so by 2000 when I first saw him. Peter had never been athletic and as a boy was not really able to get actively involved in sport, even though sport is something he has always followed as an armchair spectator. However, if Peter felt less physically able than other boys, it was not so huge an issue that he thought anything of it, nor did anyone else appear to notice.
Một cuộc khám sức khỏe định kỳ năm 1998 cho thấy Peter, 11 khi ấy 44 tuổi, sinh ra đã thiếu một đỉnh van trong van động mạch chủ của tim. Khi còn nhỏ ông bị viêm phế quản phổi, và khi trưởng thành bị xẹp phổi; mặc dù cả hai tình trạng này hẳn đều liên quan đến bất thường tim bẩm sinh của ông, vấn đề van tim của ông vẫn chưa được chẩn đoán. Suốt đời, triệu chứng thực sự duy nhất của Peter là khó thở khi gắng sức; điều này nhẹ trong thời kỳ đầu đời, nhưng đã đáng chú ý vào năm 1998 và rõ rệt vào năm 2000, khi tôi gặp ông lần đầu. Peter chưa bao giờ là người giỏi thể thao, và khi còn là một cậu bé, ông thực sự không thể tham gia thể thao một cách năng động, dù thể thao là điều ông luôn theo dõi như một khán giả ngồi ghế bành. Tuy nhiên, nếu Peter cảm thấy mình kém khả năng thể chất hơn các cậu bé khác, thì đó cũng không phải là một vấn đề lớn đến mức ông nghĩ ngợi gì về nó, và dường như cũng không ai khác nhận ra.
By the spring of 2000, Peter was presenting with aortic regurgitation and high blood pressure. Unable by this time to take a deep breath at all, he was quite poorly. He had been told that he had to have a bypass, and to have this surgery sooner rather than later. His licence to work with radar had been taken away from him because of his acute physical and emotional distress.
Đến mùa xuân năm 2000, Peter có biểu hiện hở van động mạch chủ và huyết áp cao. Lúc này hoàn toàn không thể hít sâu, ông khá yếu. Người ta đã nói với ông rằng ông phải phẫu thuật bắc cầu, và nên phẫu thuật sớm hơn là muộn. Giấy phép làm việc với rađa của ông đã bị thu hồi vì tình trạng đau khổ thể chất và cảm xúc cấp tính của ông.
Peter was (and is) in a stable marriage with a young daughter and very much enjoyed his work as an air-traffic controller. As well as being worried about his health and the repercussions it might have upon his family, he was concerned about money and losing his lucrative job. He had been told that he would be found alternative employment but it would be ‘on the ground’, which might mean less status and would probably mean less pay.
Peter đã và hiện vẫn đang ở trong một cuộc hôn nhân ổn định, có một cô con gái nhỏ, và rất yêu thích công việc kiểm soát viên không lưu của mình. Bên cạnh việc lo lắng về sức khỏe và những hệ quả mà nó có thể gây ra cho gia đình, ông còn bận tâm về tiền bạc và việc mất đi công việc sinh lợi của mình. Người ta nói với ông rằng ông sẽ được bố trí công việc thay thế, nhưng đó sẽ là công việc “dưới mặt đất”, điều có thể đồng nghĩa với địa vị thấp hơn và có lẽ cũng đồng nghĩa với thu nhập thấp hơn.
Peter had no particular belief in homœopathy and scarcely knew what it was. But he was somewhat desperate and, more than that, wanted to pacify his sister (a friend of mine), who was insisting that he should try it. Anyway, it transpired that our consultation happened in Peter’s living room. I got very little information out of him and I left the house without a clue as to what to do. What I did discover was that although Peter was an air-traffic controller with a fear of heights, his favourite dream was of flying. Surely this was significant? He said that his only other health problem was a persistent skin eruption on his face.
Peter không có niềm tin đặc biệt nào vào vi lượng đồng căn và hầu như không biết nó là gì. Nhưng ông hơi tuyệt vọng, và hơn thế nữa, muốn làm yên lòng chị gái mình, một người bạn của tôi, người cứ khăng khăng rằng ông nên thử. Dù sao đi nữa, hóa ra buổi tư vấn của chúng tôi diễn ra trong phòng khách của Peter. Tôi thu được rất ít thông tin từ ông, và rời khỏi nhà mà không có manh mối nào về việc phải làm gì. Điều tôi phát hiện là mặc dù Peter là một kiểm soát viên không lưu mắc chứng sợ độ cao, giấc mơ yêu thích của ông lại là bay. Chắc chắn điều này có ý nghĩa chăng? Ông nói rằng vấn đề sức khỏe duy nhất khác của mình là một vết phát ban dai dẳng trên mặt.
Peter: 27 January 1954, 2.20 a.m. GMT, Epsom, England (51N20, 0W16)
Peter: 27 tháng 1 năm 1954, 2 giờ 20 sáng GMT, Epsom, Anh (51N20, 0W16)
Peter’s chart is dominated by squares between Aquarius and Scorpio. Mars is rising in Scorpio, describing perhaps a man who goes out into the world competing and perhaps feeling attacked, so he has to defend himself. With Mars falling in Scorpio, he would be particularly keen to defend his privacy. The Mars and Ascendant are also in tight square to Pluto, intensifying this feeling to the point where his very survival is at stake. He easily feels threatened. Pluto is in Leo, the sign to associate with the heart, and of course he has a literal survival issue (hidden for so many years, in true Plutonic fashion) with his cardiac problems. The theme of the survival of the fittest holds true for all living things but the theme of competition is particularly evident in the animal kingdom, and the rising Mars square Pluto gives a clue that the required remedy may come from the animal kingdom. Perhaps an animal that easily feels threatened and whom others, in turn, may find menacing.
Lá số chiêm tinh của Peter bị chi phối bởi các góc vuông giữa Bảo Bình và Bọ Cạp. Sao Hỏa mọc trong Bọ Cạp, có lẽ mô tả một người bước ra thế giới để cạnh tranh và có lẽ cảm thấy bị tấn công, nên ông phải tự bảo vệ mình. Với Sao Hỏa tử trong Bọ Cạp, ông sẽ đặc biệt muốn bảo vệ sự riêng tư của mình. Sao Hỏa và dấu hiệu mọc cũng tạo góc vuông chặt với Sao Diêm Vương, làm cảm giác này mạnh lên đến mức chính sự sống còn của ông bị đặt vào thế nguy cấp. Ông dễ cảm thấy bị đe dọa. Sao Diêm Vương ở Sư Tử, dấu hiệu liên hệ với trái tim, và dĩ nhiên ông có một vấn đề sống còn theo nghĩa đen, bị che giấu suốt nhiều năm đúng theo kiểu Sao Diêm Vương, qua các vấn đề tim mạch của mình. Chủ đề sự sống còn của kẻ thích nghi nhất đúng với mọi sinh vật, nhưng chủ đề cạnh tranh đặc biệt rõ trong giới động vật, và Sao Hỏa mọc vuông góc Sao Diêm Vương cho một manh mối rằng phương thuốc cần thiết có thể đến từ giới động vật. Có lẽ là một loài vật dễ cảm thấy bị đe dọa và ngược lại, khiến người khác thấy đáng sợ.
The Sun has always been associated with the heart, and the Leo/Aquarius axis with the heart and circulatory system. We can also see that Peter has the Sun conjunct Venus and square Saturn, implying lessons and difficulties with his heart in various contexts, including emotional ones. Saturn is the co-ruler of his three personal planets in Aquarius and, much more significantly, his chart has tight aspects with Sun/Saturn, Moon/Saturn and Venus/Saturn. Together, these speak of someone who needs to feel in control, someone who is dutiful and responsible. Indeed, he may feel he is responsible for everything, but probably without the necessary confidence (or the physical strength) to feel equal to those responsibilities. With Saturn falling in Scorpio, the suggestion is that Peter is responsible for averting death and crisis and, with the Sun/Moon involvement, potentially responsible for his parents (whose own health was failing). With responsibility being such a huge issue, it is little wonder that he needs to feel in control. The Aquarian planets show he wants space and freedom, but surely responsibility issues don’t sit easily with the enjoyment of personal liberty? As an air-traffic controller, Peter is faced daily with the huge responsibility for the survival of others; his job is all about averting crisis.
Mặt Trời luôn được liên hệ với trái tim, và trục Sư Tử và Bảo Bình với tim và hệ tuần hoàn. Chúng ta cũng có thể thấy Peter có Mặt Trời đồng vị Sao Kim và vuông góc Sao Thổ, hàm ý những bài học và khó khăn liên quan đến trái tim của ông trong nhiều bối cảnh khác nhau, kể cả bối cảnh cảm xúc. Sao Thổ là đồng chủ tinh của ba hành tinh cá nhân của ông trong Bảo Bình, và quan trọng hơn nhiều, lá số chiêm tinh của ông có các góc hợp chặt giữa Mặt Trời và Sao Thổ, Mặt Trăng và Sao Thổ, Sao Kim và Sao Thổ. Cùng nhau, những điều này nói về một người cần cảm thấy mình kiểm soát được tình hình, một người tận tụy và có trách nhiệm. Thật vậy, ông có thể cảm thấy mình chịu trách nhiệm về mọi thứ, nhưng có lẽ thiếu sự tự tin cần thiết, hoặc sức mạnh thể chất, để cảm thấy mình đủ sức gánh các trách nhiệm ấy. Với Sao Thổ tử trong Bọ Cạp, gợi ý là Peter có trách nhiệm ngăn chặn cái chết và khủng hoảng, và với sự tham gia của Mặt Trời và Mặt Trăng, có thể có trách nhiệm với cha mẹ ông, những người mà sức khỏe của chính họ đang suy giảm. Khi trách nhiệm là một vấn đề quá lớn, không lạ gì khi ông cần cảm thấy mình kiểm soát được tình hình. Các hành tinh Bảo Bình cho thấy ông muốn không gian và tự do, nhưng chắc chắn các vấn đề trách nhiệm không dễ đi cùng với niềm vui của tự do cá nhân. Là một kiểm soát viên không lưu, hằng ngày Peter đối diện với trách nhiệm to lớn đối với sự sống còn của người khác; công việc của ông hoàn toàn xoay quanh việc ngăn chặn khủng hoảng.
The curative remedy for Peter was Naja: a remedy made from the venom of the Indian cobra. It is not a remedy that is commonly prescribed but it does crop up frequently in patients presenting with valvular disorders. By ‘curative’, I don’t mean that his missing valve could ever be replaced or that his health is, or might be, the same as others who do not have this congenital problem. But his condition did materially improve after some weeks on the remedy. His need for surgery diminished greatly so that now, some five years later, his condition is merely being monitored; he no longer needed an operation. His doctors were flummoxed by his improvement and each implied that the other had exaggerated his condition. His breathlessness and sleep improved substantially, as did his anxiety. He also very quickly felt better in himself and could return to his old job because he was given his licence back. In the end, he took the decision to work in the less stressful air-traffic control training centre, where he reports being happy.
Phương thuốc chữa lành cho Peter là Naja: một phương thuốc làm từ nọc của rắn hổ mang Ấn Độ. Đây không phải là một phương thuốc thường được kê, nhưng nó xuất hiện khá thường xuyên ở những bệnh nhân có các rối loạn van tim. Khi nói “chữa lành”, tôi không có ý rằng chiếc van bị thiếu của ông có thể từng được thay thế, hay sức khỏe của ông đang hoặc có thể giống như những người không có vấn đề bẩm sinh này. Nhưng tình trạng của ông đã cải thiện rõ rệt sau vài tuần dùng phương thuốc. Nhu cầu phẫu thuật của ông giảm đi rất nhiều, đến mức hiện nay, khoảng năm năm sau, tình trạng của ông chỉ còn được theo dõi; ông không còn cần phẫu thuật nữa. Các bác sĩ của ông bối rối trước sự cải thiện ấy, và mỗi người đều ám chỉ rằng người kia đã phóng đại tình trạng của ông. Tình trạng khó thở và giấc ngủ của ông cải thiện đáng kể, cũng như sự lo âu của ông. Ông cũng rất nhanh chóng cảm thấy bản thân khá hơn và có thể trở lại công việc cũ vì đã được cấp lại giấy phép. Cuối cùng, ông quyết định làm việc ở trung tâm đào tạo kiểm soát không lưu ít căng thẳng hơn, nơi ông cho biết mình hạnh phúc.
Returning to Peter’s breathlessness, three personal planets in Aquarius certainly describe someone who wants space, wants to breathe: the squares from Scorpio, and specifically from Saturn in that sign, imply the sense of being suffocated. One imagines (with the input of the Moon and Venus) that he might feel that women suffocate him. Often no doubt his strong sense of responsibility, and fear generally, prevents him doing what he really wants; hence the feeling of not being able to breathe. Snake remedies come up a lot in cardiac problems: the feeling of suffocation is common to many people with coronary problems and, of course, many snakes kill their prey by suffocation.
Trở lại với chứng khó thở của Peter, ba hành tinh cá nhân trong Bảo Bình chắc chắn mô tả một người muốn không gian, muốn được thở: các góc vuông từ Bọ Cạp, và cụ thể là từ Sao Thổ trong dấu hiệu đó, hàm ý cảm giác bị ngạt thở. Người ta có thể hình dung, với sự góp mặt của Mặt Trăng và Sao Kim, rằng ông có thể cảm thấy phụ nữ làm mình ngạt thở. Thường thì chắc chắn là ý thức trách nhiệm mạnh mẽ của ông, và nỗi sợ nói chung, ngăn ông làm điều mình thực sự muốn; do đó có cảm giác không thể thở. Các phương thuốc từ rắn xuất hiện nhiều trong các vấn đề tim mạch: cảm giác ngạt thở là điều phổ biến ở nhiều người có vấn đề mạch vành, và dĩ nhiên, nhiều loài rắn giết con mồi bằng cách làm ngạt thở.
Of the remedy Naja, the much respected Indian homœopath Rajan Sankaran says that it is similar in many ways to other snake remedies but that what singles it out is the strong sense of duty connected with it. 12 He says the behaviour of Naja people is similar to that of the cobra: they may threaten to strike but will only do so under immense provocation. One might add that it is also rather like the behaviour of Mars-Pluto for whom violence is a real taboo and, falling in Scorpio-Leo, beneath one’s dignity. When asked what his fears were, Peter said: ‘I don’t like to get into a situation where I have to argue the point.’
Về phương thuốc Naja, nhà vi lượng đồng căn Ấn Độ rất được kính trọng Rajan Sankaran nói rằng nó tương tự nhiều phương thuốc từ rắn khác theo nhiều cách, nhưng điều khiến nó nổi bật là ý thức mạnh mẽ về bổn phận gắn liền với nó. 12 Ông nói hành vi của những người Naja giống với hành vi của rắn hổ mang: họ có thể đe dọa tấn công nhưng chỉ làm vậy khi bị khiêu khích cực độ. Có thể nói thêm rằng điều đó cũng khá giống hành vi của Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, đối với họ bạo lực là một điều thực sự cấm kỵ và, khi tử trong Bọ Cạp và Sư Tử, là điều dưới phẩm giá của mình. Khi được hỏi ông sợ điều gì, Peter nói: “Tôi không thích rơi vào một tình huống mà tôi phải tranh luận cho ra lẽ.”
Peter was very slim but told me that he had been overweight in the past. As a youth his weight in stones matched his age in years; at 17 he weighed about 17 stone (238 pounds/108 kilos). His sister reported that he could be slightly anorexic; he said he was simply careful about what he ate, as he could easily binge. I asked him how he had managed to lose weight when obesity had been a problem. He said he just fasted for a week and then went on periodic long fasts. Surely this is very snake-like behaviour? Snakes don’t have to eat that often but, when they do, their whole shape swells magnificently to the size of their prey!
Peter rất gầy nhưng nói với tôi rằng trước đây ông từng thừa cân. Khi còn trẻ, cân nặng của ông tính bằng stone trùng với tuổi tính bằng năm; lúc 17 tuổi ông nặng khoảng 17 stone, tức 238 pound hay 108 kilôgam. Chị gái ông cho biết ông có thể hơi chán ăn; ông nói mình chỉ đơn giản là cẩn thận với những gì mình ăn, vì ông rất dễ ăn vô độ. Tôi hỏi ông đã xoay xở giảm cân thế nào khi béo phì từng là một vấn đề. Ông nói ông chỉ nhịn ăn một tuần rồi sau đó thỉnh thoảng lại nhịn ăn dài ngày. Chắc chắn đây là hành vi rất giống rắn chăng? Rắn không cần ăn thường xuyên, nhưng khi ăn, toàn bộ hình dạng của chúng phồng lên một cách ngoạn mục theo kích thước con mồi!
Peter reported a fear of heights and yet in his favourite dream he is flying. Like many snakes, the cobra’s main enemies (other than humans) are birds. If we look at the signs of the zodiac from the point of view of the animal kingdom, snakes can be ascribed to Scorpio and birds to Aquarius. Peter’s chart can be viewed as Aquarius versus Scorpio but equally it can be viewed as bird versus snake. Flying is the huge advantage that a bird has over a snake. As an air-traffic controller, Peter is in control of the big birds in the sky! Incidentally, Naja is one of a handful of remedies that has dreams of flying as part of its symptomatology – a fact that led to the choice of remedy in the first place. His favourite dream of flying perhaps symbolizes the cherished wish to be looked up to and of being in a position where one has no enemies (flying birds have no enemies except, in some cases, other birds); a nice place to be if one feels easily threatened.
Peter cho biết ông sợ độ cao, nhưng trong giấc mơ yêu thích của mình, ông đang bay. Giống như nhiều loài rắn, kẻ thù chính của rắn hổ mang, ngoài con người, là chim. Nếu chúng ta nhìn các dấu hiệu Hoàng đạo từ quan điểm của giới động vật, rắn có thể được quy cho Bọ Cạp và chim cho Bảo Bình. Lá số chiêm tinh của Peter có thể được nhìn như Bảo Bình đối đầu Bọ Cạp, nhưng cũng có thể được nhìn như chim đối đầu rắn. Bay là lợi thế lớn lao mà chim có so với rắn. Là một kiểm soát viên không lưu, Peter kiểm soát những con chim lớn trên bầu trời! Nhân tiện, Naja là một trong số ít phương thuốc có giấc mơ bay như một phần trong hệ triệu chứng của nó, một thực tế ngay từ đầu đã dẫn đến việc lựa chọn phương thuốc. Giấc mơ bay yêu thích của ông có lẽ tượng trưng cho ước muốn được trân trọng nhìn lên và được ở một vị trí không có kẻ thù, vì chim đang bay không có kẻ thù, ngoại trừ trong một số trường hợp là những con chim khác; đó là một nơi dễ chịu nếu một người dễ cảm thấy bị đe dọa.
There is nothing unusual about the fact that Peter likes ‘consistently hot weather’ (day after day, unchanging hot weather), nor is there anything unusual in his liking for rock music. Nevertheless, it is interesting to note that snakes – which are cold-blooded creatures – can often be found on rocks, basking in the hot sun. And one notes the particularly cool persona adopted by many with a Scorpio/Aquarius mix. Additionally, people with cardiac disorders often feel the cold.
Không có gì bất thường trong việc Peter thích “thời tiết nóng ổn định”, ngày này qua ngày khác, thời tiết nóng không đổi, cũng chẳng có gì bất thường trong sở thích nhạc rock của ông. Tuy nhiên, thật thú vị khi lưu ý rằng rắn, vốn là những sinh vật máu lạnh, thường có thể được tìm thấy trên đá, phơi mình dưới nắng nóng. Và người ta cũng nhận thấy diện mạo phàm ngã đặc biệt lạnh lùng mà nhiều người có sự pha trộn Bọ Cạp và Bảo Bình thường mang. Ngoài ra, những người có rối loạn tim mạch thường cảm thấy lạnh.
Sankaran says that the physical appearance of the face of the person requiring Naja can often look rather like the hood of the cobra, with perhaps glasses creating that impression. In Peter’s case, his facial skin was very dry. It peeled along the hairline, eyebrows and down the side of his nose, in a cobra shape. At times he reported that it was red and felt raw and itchy. The planet associated with skin (Saturn) in Scorpio (snake), picking up Venus, perhaps describes doubts Peter may have harboured (as one does with skin problems) about his attractiveness. The remedy cured this eczema-like skin eruption completely. In a variety of ways, he felt able to face the world.
Sankaran nói rằng diện mạo thể chất của khuôn mặt người cần Naja thường có thể trông khá giống mang của rắn hổ mang, có lẽ kính đeo mắt tạo nên ấn tượng ấy. Trong trường hợp của Peter, da mặt ông rất khô. Nó bong tróc dọc theo đường chân tóc, lông mày và xuống hai bên mũi, theo hình rắn hổ mang. Đôi lúc ông cho biết nó đỏ, có cảm giác rát và ngứa. Hành tinh liên hệ với da, Sao Thổ, trong Bọ Cạp, tức rắn, tiếp nhận Sao Kim, có lẽ mô tả những nghi ngờ mà Peter có thể đã nuôi giữ, như người ta thường có với các vấn đề về da, về sức hấp dẫn của mình. Phương thuốc đã chữa khỏi hoàn toàn vết phát ban giống chàm này. Theo nhiều cách khác nhau, ông cảm thấy có thể đối diện với thế giới.
As a child, Peter kept snakes and he also brought home injured birds. Interestingly, his sister is frightened of birds (the Aquarius planets fall in his Third/sister House). Should we read anything into the fact that he had a gerbil (snake food?) in his living room?! The final icing on the cake is the fact that, in Chinese astrology, Peter is born in the year of the snake!
Khi còn nhỏ, Peter nuôi rắn và cũng mang những con chim bị thương về nhà. Thú vị là chị gái ông sợ chim, các hành tinh Bảo Bình rơi vào Nhà thứ Ba, nhà chị em, của ông. Chúng ta có nên đọc ra điều gì từ thực tế là ông có một con chuột nhảy, thức ăn của rắn chăng, trong phòng khách của mình không?! Điều hoàn hảo cuối cùng là trong chiêm tinh học Trung Hoa, Peter sinh vào năm con rắn!
A version of this article has appeared in the Astrological Association’s Journal and also in the Astrological Lodge of London’s Quarterly. Thanks to the editors of both publications for agreeing to its inclusion here.
Một phiên bản của bài viết này đã xuất hiện trên Tạp chí của Hiệp hội Chiêm tinh và cũng trong Ấn phẩm hằng quý của Chi hội Chiêm tinh Luân Đôn. Xin cảm ơn các biên tập viên của cả hai ấn phẩm đã đồng ý cho đưa bài vào đây.
Profile: The Chart for a Country – Indonesia — Hồ sơ: Lá số chiêm tinh của một quốc gia – Indonesia
Indonesia:27 December 1949, 5.22 p.m. (-8), Jakarta, Indonesia (6S10, 106E48)
Indonesia: 27 tháng 12 năm 1949, 5 giờ 22 chiều (-8), Jakarta, Indonesia (6S10, 106E48)
Astrology can be applied to many subjects. While some specialist knowledge of the relevant subject is useful and specific astrological techniques are required for mundane astrology (the application of astrology to world events), nevertheless the basic way of viewing horoscopes that I have already outlined works pretty well, whatever the subject matter. Here are some keep-it-simple snapshots of a couple of non-personal charts.
Chiêm tinh học có thể được áp dụng cho nhiều chủ đề. Dù một số kiến thức chuyên môn về chủ đề liên quan là hữu ích, và các kỹ thuật chiêm tinh chuyên biệt là cần thiết cho chiêm tinh học thế sự, tức việc áp dụng chiêm tinh học vào các sự kiện thế giới, tuy nhiên cách căn bản để xem các lá số chiêm tinh mà tôi đã phác họa vẫn vận hành khá tốt, bất kể chủ đề là gì. Sau đây là vài lát cắt đơn giản về một đôi lá số chiêm tinh phi cá nhân.
As with most countries, there are many charts that might be used for Indonesia. The one shown here is for the official start of the country’s independence; the time when Queen Juliana of the Netherlands signed an Act formerly severing the connection between Indonesia and the Netherlands. 13
Cũng như với hầu hết các quốc gia, có nhiều lá số chiêm tinh có thể được dùng cho Indonesia. Lá số chiêm tinh được trình bày ở đây là cho thời điểm chính thức khởi đầu nền độc lập của quốc gia này; thời điểm Nữ hoàng Juliana của Hà Lan ký một đạo luật chính thức cắt đứt mối liên hệ giữa Indonesia và Hà Lan. 13
This large country, 14 formerly the Dutch East Indies, has a population in the region of 200-250 million people. It embraces about 18,000 islands – the largest archipelago in the world – of which about 6,000 are inhabited, the largest or most well-known being Sumatra, Java, Kalimantan (two-thirds of Borneo), Bali and Sulawesi. The Gemini Ascendant is surely reflective of the scattered, variable quality of the country and its national motto which is ‘Unity in Diversity’. Resting as it does on the edge of various tectonic plates, Indonesia is frequently hit by earthquakes. The islands are also home to about sixty active volcanoes including the legendary Krakatoa which, when it erupted in 1833, created the largest explosion ever recorded.
Quốc gia rộng lớn này, 14 trước kia là Đông Ấn Hà Lan, có dân số khoảng từ 200 đến 250 triệu người. Nó bao gồm khoảng 18.000 hòn đảo, là quần đảo lớn nhất thế giới, trong đó khoảng 6.000 đảo có người ở; lớn nhất hoặc nổi tiếng nhất là Sumatra, Java, Kalimantan, tức hai phần ba Borneo, Bali và Sulawesi. Dấu hiệu mọc Song Tử chắc chắn phản ánh phẩm tính phân tán, biến đổi của đất nước này và khẩu hiệu quốc gia của nó là “Thống nhất trong Đa dạng”. Nằm trên rìa của nhiều mảng kiến tạo khác nhau, Indonesia thường xuyên bị động đất tấn công. Các đảo này cũng là nơi có khoảng sáu mươi núi lửa đang hoạt động, trong đó có Krakatoa huyền thoại; khi phun trào vào năm 1833, nó đã tạo ra vụ nổ lớn nhất từng được ghi nhận.
Among other things, Indonesia’s chart has a Grand Cross involving the Sun, Moon, Mars and Uranus. Added to this is Pluto, which contacts both Mars and Uranus by semi-square aspects. In fact, Uranus semi-square Pluto is exact to the minute. Pluto also opposes Venus. This combination of the Sun, Moon, Mars, Uranus and Pluto is spicy and exciting but, with a strong flavour of fireworks, could hardly be called safe. There is considerable potential for inflammatory, violent situations and unexpected deaths on a grand scale, all reflecting Indonesia’s aforementioned vulnerability to earthquakes, tsunamis and volcanoes. Ethnic tensions and political unrest have tended to complete the general picture of instability. The Grand Cross also hints at some of the things Indonesia is famous for – its spices, for example, and its oil.
Trong số những điều khác, lá số chiêm tinh của Indonesia có một Đại Thập Tự liên quan đến Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Hỏa và Sao Thiên Vương. Thêm vào đó là Sao Diêm Vương, tiếp xúc với cả Sao Hỏa lẫn Sao Thiên Vương bằng các góc hợp bán vuông. Thật vậy, Sao Thiên Vương bán vuông với Sao Diêm Vương chính xác đến từng phút. Sao Diêm Vương cũng đối vị Sao Kim. Sự kết hợp của Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Hỏa, Sao Thiên Vương và Sao Diêm Vương này đầy gia vị và kích thích, nhưng với sắc thái mạnh mẽ của pháo hoa, khó có thể gọi là an toàn. Có một tiềm năng đáng kể cho các tình huống kích động, bạo lực và những cái chết bất ngờ trên quy mô lớn, tất cả đều phản ánh sự dễ tổn thương đã nêu của Indonesia trước động đất, sóng thần và núi lửa. Căng thẳng sắc tộc và bất ổn chính trị thường có xu hướng hoàn tất bức tranh chung về sự bất ổn. Đại Thập Tự cũng gợi ý một vài điều mà Indonesia nổi tiếng, chẳng hạn như các loại gia vị và dầu mỏ của nó.
Judging by this chart (and doubtless consideration should be paid to its other charts, too), good government will be particularly needed between 2008 and 2012, when Uranus in Aries and Pluto in Capricorn in the sky will trigger this powder keg of a Grand Cross.
Xét theo lá số chiêm tinh này, và chắc chắn các lá số chiêm tinh khác của nó cũng nên được xem xét, một chính quyền tốt sẽ đặc biệt cần thiết trong giai đoạn từ 2008 đến 2012, khi Sao Thiên Vương ở Bạch Dương và Sao Diêm Vương ở Ma Kết trên bầu trời sẽ kích hoạt thùng thuốc súng của một Đại Thập Tự này.
Profile: The Chart for an Accident — Hồ sơ: Lá số chiêm tinh cho một tai nạn
The following example illustrates how, in looking at a chart for an event, it can be fruitful to imagine that the chart belongs to a person. Even without meaning to, one ends up using language that is pertinent to the matter in hand. This example 15 also illustrates the potency of a rising planet. It also raises the issue of meaning.
Ví dụ sau minh họa rằng, khi xem một lá số chiêm tinh cho một sự kiện, việc tưởng tượng lá số chiêm tinh ấy thuộc về một con người có thể đem lại kết quả phong phú. Ngay cả khi không cố ý, cuối cùng người ta vẫn dùng ngôn ngữ thích hợp với vấn đề đang xét. Ví dụ này 15 cũng minh họa sức mạnh của một hành tinh mọc. Nó cũng đặt ra vấn đề về ý nghĩa.
Picture a narrow, not very long, residential road in North London with Victorian houses on either side, some small and some large. The only blot on the landscape is the heavy traffic and, in particular, the lorries that hurtle up and down the road. Against this backdrop, shortly after 4 o’clock on a June morning in 1983, a 38-ton juggernaut drove into a couple of houses. The occupants of those houses were unharmed as they were sleeping at the back but the driver and co-driver of the juggernaut were killed.
Hãy hình dung một con đường dân cư hẹp, không dài lắm, ở Bắc Luân Đôn, với những ngôi nhà thời Victoria ở hai bên, có nhà nhỏ và có nhà lớn. Vết nhơ duy nhất trong cảnh quan là mật độ giao thông nặng nề, và đặc biệt là những chiếc xe tải lao vun vút lên xuống con đường. Trong bối cảnh ấy, ngay sau 4 giờ sáng một ngày tháng Sáu năm 1983, một chiếc xe tải hạng nặng 38 tấn lao vào một đôi nhà. Những người sống trong các ngôi nhà ấy không bị thương vì họ đang ngủ ở phía sau, nhưng tài xế và phụ lái của chiếc xe tải hạng nặng đã thiệt mạng.
Turning to the chart, the first thing one notices is a lack of earth. It’s almost as if the vehicle wasn’t grounded, and the rest of the chart points much the same way. There are three close conjunctions and several oppositions, but no squares. If this were the chart of a person, one might wonder if they were somewhat prone to extremism and whether there was sufficient strength for getting themselves out of tight corners. The Ascendant falls in Gemini, the sign of short-distance travel, and Mars is there conjunct the Node, implying energetic and forceful communication with the immediate environment and those within it, perhaps descriptive of an overwhelming ‘drive’ to come first (although apparently the vehicle wasn’t speeding). The Mars/Node/Sun conjunction opposes Neptune, suggesting that although there is a lot of energy, it is not only scattered (Gemini) but dispersed, diffused and lacking direction. Mercury, the ruler of the Ascendant, is in the Twelfth House and opposes Uranus but doesn’t do much else. If this were a small boy, one might expect a lad who’d have a mind of his own. Perhaps he’d have learning difficulties, maybe he’d communicate in fits and starts; one would expect his mind to be going very fast but perhaps somewhat erratically. Although he might be good at grasping the main issues, one wouldn’t expect much precision or accuracy. As a parent or teacher, one might think this boy needs brakes!
Chuyển sang lá số chiêm tinh, điều đầu tiên người ta nhận thấy là sự thiếu hành thổ. Gần như thể chiếc xe không được tiếp đất, và phần còn lại của lá số chiêm tinh cũng chỉ theo hướng tương tự. Có ba đồng vị sát và vài đối vị, nhưng không có vuông góc. Nếu đây là lá số chiêm tinh của một người, người ta có thể tự hỏi liệu người ấy có phần dễ nghiêng về cực đoan hay không, và liệu có đủ sức mạnh để tự thoát ra khỏi những góc kẹt hay không. Dấu hiệu mọc rơi vào Song Tử, dấu hiệu của việc đi lại cự ly ngắn, và Sao Hỏa ở đó đồng vị với Nút, hàm ý sự giao tiếp mạnh mẽ và đầy năng lượng với môi trường gần kề và những người ở trong đó, có lẽ mô tả một “động lực” áp đảo muốn đến trước, mặc dù dường như chiếc xe không chạy quá tốc độ. Đồng vị Sao Hỏa/Nút/Mặt Trời đối vị sao Hải Vương, gợi ý rằng tuy có nhiều năng lượng, nó không chỉ phân tán, theo Song Tử, mà còn bị tản mạn, khuếch tán và thiếu phương hướng. Sao Thủy, chủ tinh của dấu hiệu mọc, ở nhà 12 và đối vị Sao Thiên Vương nhưng không làm được gì nhiều khác. Nếu đây là một cậu bé, người ta có thể trông đợi một cậu bé có ý riêng của mình. Có lẽ cậu sẽ gặp khó khăn trong học tập, có thể cậu sẽ giao tiếp từng đợt thất thường; người ta sẽ trông đợi thể trí của cậu vận hành rất nhanh, nhưng có lẽ khá thất thường. Dù cậu có thể giỏi nắm bắt các vấn đề chính, người ta sẽ không trông đợi nhiều về sự chính xác hay chuẩn xác. Là cha mẹ hoặc thầy cô, người ta có thể nghĩ rằng cậu bé này cần phanh lại!
Accident: 22 June 1983, 4.05 a.m. GDT, (51N33, 0W06)
Tai nạn: 22 tháng Sáu 1983, 4.05 sáng, GDT, (51N33, 0W06)
Prior to the accident, many residents were already distressed and angry about the traffic in their road and one woman could even tell the tonnage of lorries, and whether they were full or not, simply by listening to the sound the trucks were making as they sped past her top-floor flat. However, before the accident people hadn’t started talking to their neighbours about their disquiet to any marked degree. The lorry was carrying carcasses of meat; symbolically, as well as literally, it was carrying meat for the local people because finally they had something to get their teeth into. In true Mars in Gemini fashion, angry neighbour talked to angry neighbour and a Traffic Action Group was formed to put their ideas into action. Over the months following the accident, the group successfully petitioned the local council for various measures to be taken. The Saturn/Pluto conjunction in Libra plugs into Sun/Mars opposition Neptune by soft aspect; the message being that the heavy tonnage (Saturn/Pluto) wasn’t fair (Libra) and was seriously undermining everyone’s health (Sixth House). The Traffic Action Group wouldn’t have been formed had the accident not occurred where it did; a mere couple of minutes earlier or later, the lorry would have been travelling down a different road entirely. All of which raises philosophical questions that the reader can consider at leisure. One final point – the meat was carried as hung-up carcasses. Looking at the shape of the chart, does it not resemble the back of an open lorry with goods hanging down on the right-hand side and goods hanging down on the left? In our mind’s eye, can we not see the lorry going around a corner and the meat on one side hurtling over to the other side and unbalancing the vehicle altogether? And should we attribute any meaning to the fact that the lorry was carrying its meat from Kil bride to Mars eilles?
Trước vụ tai nạn, nhiều cư dân đã đau khổ và tức giận về tình trạng giao thông trên con đường của họ, và một phụ nữ thậm chí có thể nhận ra trọng tải của xe tải, cũng như chúng có chở đầy hay không, chỉ bằng cách lắng nghe âm thanh mà những chiếc xe tải tạo ra khi chúng phóng qua căn hộ tầng trên cùng của bà. Tuy nhiên, trước tai nạn, người ta chưa bắt đầu nói chuyện với hàng xóm về sự bất an của mình ở mức đáng kể nào. Chiếc xe tải chở các thân thịt; về mặt biểu tượng cũng như theo nghĩa đen, nó đang chở thịt cho người dân địa phương, bởi cuối cùng họ đã có một điều gì đó để thật sự bám lấy mà hành động. Đúng kiểu Sao Hỏa trong Song Tử, người hàng xóm giận dữ nói chuyện với người hàng xóm giận dữ, và một Nhóm Hành động Giao thông được thành lập để đưa các ý tưởng của họ vào hành động. Trong những tháng sau tai nạn, nhóm đã kiến nghị thành công lên hội đồng địa phương để thực hiện nhiều biện pháp khác nhau. Đồng vị Sao Thổ/Sao Diêm Vương trong Thiên Bình nối vào đối vị Mặt Trời/Sao Hỏa với sao Hải Vương bằng góc hợp mềm; thông điệp là trọng tải nặng ấy, Sao Thổ/Sao Diêm Vương, là không công bằng, Thiên Bình, và đang làm suy yếu nghiêm trọng sức khỏe của mọi người, nhà 6. Nhóm Hành động Giao thông đã không được thành lập nếu tai nạn không xảy ra đúng nơi nó đã xảy ra; chỉ sớm hơn hoặc muộn hơn vài phút, chiếc xe tải đã đi xuống một con đường hoàn toàn khác. Tất cả những điều đó đặt ra các câu hỏi triết học mà độc giả có thể thong thả suy xét. Một điểm cuối cùng: thịt được chở dưới dạng các thân thịt treo lên. Nhìn vào hình dạng của lá số chiêm tinh, chẳng phải nó giống phía sau của một chiếc xe tải mở, với hàng hóa treo xuống ở bên phải và hàng hóa treo xuống ở bên trái hay sao? Trong con mắt của trí tưởng tượng, chẳng phải chúng ta có thể thấy chiếc xe tải đang vào cua, và thịt ở một bên lao sang bên kia làm toàn bộ chiếc xe mất cân bằng hay sao? Và chúng ta có nên gán bất kỳ ý nghĩa nào cho sự kiện chiếc xe tải đang chở thịt từ Kil bride đến Mars eilles không?
NB: If you want to find out the latitude and longitude of a street in order to set up a super accurate horoscope (assuming you have a super accurate birth time too of course), simply go to www.multimap.com or www.streetmap.co.uk
Lưu ý: Nếu các bạn muốn tìm vĩ độ và kinh độ của một con phố để lập một lá số chiêm tinh siêu chính xác, tất nhiên giả định rằng các bạn cũng có một giờ sinh siêu chính xác, chỉ cần vào www.multimap.com hoặc www.streetmap.co.uk
Notes – Chapter 9: Profiles — Ghi chú – Chương 9: Hồ sơ
1. Henry VIII: 28 June 1491, 8.45 a.m. LMT, Greenwich, England (51N29, 0W00). Source: Martin Harvey quotes the British royal archives.
1. Henry VIII: 28 tháng Sáu 1491, 8.45 sáng, LMT, Greenwich, Anh (51N29, 0W00). Nguồn: Martin Harvey trích dẫn văn khố hoàng gia Anh.
Henry’s Wives: Catherine of Aragon: married in 1509, divorced in 1533.
Các vợ của Henry: Catherine xứ Aragon: kết hôn năm 1509, ly dị năm 1533.
Anne Boleyn: married in 1533, beheaded in 1536.
Anne Boleyn: kết hôn năm 1533, bị chém đầu năm 1536.
Jane Seymour: married in 1536, died in 1537.
Jane Seymour: kết hôn năm 1536, mất năm 1537.
Anne of Cleves: married in January 1540, divorced in July 1540.
Anne xứ Cleves: kết hôn tháng Một 1540, ly dị tháng Bảy 1540.
Katherine Howard: married in July 1540, beheaded in 1542.
Katherine Howard: kết hôn tháng Bảy 1540, bị chém đầu năm 1542.
Katherine Parr: married in 1543, outlived Henry, and died in 1548.
Katherine Parr: kết hôn năm 1543, sống lâu hơn Henry, và mất năm 1548.
2. Ridley, Jasper, Henry VIII, Penguin, 1984.
2. Ridley, Jasper, Henry VIII, Penguin, 1984.
3. For more detailed explanations of Moon-Mars and other aspects, see Tompkins, Sue, Aspects in Astrology, Element, 1989 (Rider, 2001).
3. Để có những giải thích chi tiết hơn về Mặt Trăng-Sao Hỏa và các góc hợp khác, xem Tompkins, Sue, Aspects in Astrology, Element, 1989 (Rider, 2001).
4. Kelly Holmes:19 April 1970, 11 a.m. CET, Pembury, England (51N09, 0E20). Source: Sue Tompkins quotes her, via her manager.
4. Kelly Holmes: 19 tháng Tư 1970, 11 giờ sáng, CET, Pembury, Anh (51N09, 0E20). Nguồn: Sue Tompkins trích lời cô ấy, qua người quản lý của cô.
All information regarding Kelly is taken from her autobiography Black, White and Gold, Virgin Books, 2005. I would speculate that Kelly was born closer to 10.53 or 10.54 a.m. One reason for suspecting this earlier time is that her progressed MC would then have been tightly conjunct her Sun when she won her Olympic gold medals. The data for those races are as follows:
Mọi thông tin liên quan đến Kelly được lấy từ tự truyện của cô Black, White and Gold, Virgin Books, 2005. Tôi phỏng đoán rằng Kelly sinh gần 10.53 hoặc 10.54 sáng hơn. Một lý do để nghi ngờ thời điểm sớm hơn này là khi đó MC tiến trình của cô đã đồng vị chặt chẽ với Mặt Trời của cô khi cô giành các huy chương vàng Olympic. Dữ liệu cho các cuộc đua ấy như sau:
800 metres: 23 August 2004. Start time: 8.55 p.m. local time, Athens (37N58, 23E43). 1500 metres 28 August 2004. Start time: 8.30 p.m. local time, Athens (37N58, 23E43).
800 mét: 23 tháng Tám 2004. Giờ bắt đầu: 8.55 tối giờ địa phương, Athens (37N58, 23E43). 1500 mét, 28 tháng Tám 2004. Giờ bắt đầu: 8.30 tối giờ địa phương, Athens (37N58, 23E43).
Note that while this is not, by any means, a major significator for her winning the race, during the 800-metre race, the Sun and Mercury in the sky fell at Kelly’s Sun/Moon midpoint. This is an occurrence that, for the Sun alone, will happen eight times every year, but not, of course, every time Kelly has run a major race.
Lưu ý rằng dù điều này không phải, xét theo bất cứ nghĩa nào, là một chỉ báo chính cho việc cô thắng cuộc đua, trong cuộc đua 800 mét, Mặt Trời và Sao Thủy trên bầu trời rơi vào trung điểm Mặt Trời/Mặt Trăng của Kelly. Đây là một sự kiện mà, chỉ riêng với Mặt Trời, sẽ xảy ra tám lần mỗi năm, nhưng dĩ nhiên không phải mỗi lần Kelly chạy một cuộc đua lớn.
5. Ebertin, Reinhold, The Combination of Stellar Influences, AFA, 1994.
5. Ebertin, Reinhold, The Combination of Stellar Influences, AFA, 1994.
6. For further reading about midpoints as well as other techniques see: Harvey, Charles, and Harding, Mike, Working with Astrology, Consider, 1998.
6. Để đọc thêm về các trung điểm cũng như các kỹ thuật khác, xem: Harvey, Charles, và Harding, Mike, Working with Astrology, Consider, 1998.
7. ibid.
7. sách đã dẫn.
8. Agatha Christie: 15 September 1890, 4 a.m. GMT, Torquay, England (50N28, 3W30). Source: From her.
8. Agatha Christie: 15 tháng Chín 1890, 4 giờ sáng, GMT, Torquay, Anh (50N28, 3W30). Nguồn: Từ bà.
All information concerning Agatha Christie has been taken from Agatha Christie – An Autobiography, William Collins, 1977.
Mọi thông tin liên quan đến Agatha Christie được lấy từ Agatha Christie – An Autobiography, William Collins, 1977.
9. ‘Amanda’: 16 August 1967, 11.30 p.m. GDT, Liverpool, England (53N25, 2W55).
9. “Amanda”: 16 tháng Tám 1967, 11.30 tối, GDT, Liverpool, Anh (53N25, 2W55).
10. Carter, Charles, The Zodiac and the Soul, Theosophical Publishing House, 1968 edition.
10. Carter, Charles, The Zodiac and the Soul, Theosophical Publishing House, ấn bản 1968.
11. Peter: 27 January 1954, 2.20 a.m. GMT, Epsom, England (51N20, 0W16).
11. Peter: 27 tháng Một 1954, 2.20 sáng, GMT, Epsom, Anh (51N20, 0W16).
12. Sankaran, Rajan, The Soul of Remedies, Homœopathic Medical Publishers, 1997.
12. Sankaran, Rajan, The Soul of Remedies, Homœopathic Medical Publishers, 1997.
13. This data is taken from The Book of World Horoscopes by Nicholas Campion, a meticulously researched and indispensable reference book for anyone interested in the horoscopes of countries or world events. As Campion says, Indonesian independence was first proclaimed on 17 August 1945 but the Dutch refused to recognize it. Judging by events such as the Bali bombing, and the earthquake and tsunami on 26 December 2004, the 1945 chart would seem to be a relevant one for additional consideration.
13. Dữ liệu này được lấy từ The Book of World Horoscopes của Nicholas Campion, một sách tham khảo được nghiên cứu tỉ mỉ và không thể thiếu cho bất cứ ai quan tâm đến các lá số chiêm tinh của các quốc gia hoặc sự kiện thế giới. Như Campion nói, nền độc lập của Indonesia được tuyên bố lần đầu vào ngày 17 tháng Tám 1945, nhưng người Hà Lan từ chối công nhận. Xét theo các sự kiện như vụ đánh bom Bali, và trận động đất cùng sóng thần ngày 26 tháng Mười Hai 2004, lá số chiêm tinh năm 1945 dường như cũng là một lá số liên quan để xem xét thêm.
14. Statistics concerning the country vary hugely. The main source used here is The Times Atlas of the World, Eleventh edition, Times Books, 2003, and www.wikipedia.com
14. Các thống kê về quốc gia này khác nhau rất lớn. Nguồn chính được dùng ở đây là The Times Atlas of the World, ấn bản thứ mười một, Times Books, 2003, và www.wikipedia.com
15. Accident: 22 June 1983, 4.05 a.m. GDT, 51N33, 0W06.
15. Tai nạn: 22 tháng Sáu 1983, 4.05 sáng, GDT, 51N33, 0W06.
Notes and References—Ghi chú và Tài liệu tham khảo
Chapter 2: Elements and Modes — Chương 2: Các hành và các thể thức
1. Suggested further reading: Astrology, Psychology and the Four Elements, Stephen Arroyo, CRCS Publications, 1975.
1. Đọc thêm được đề nghị: Astrology, Psychology and the Four Elements, Stephen Arroyo, CRCS Publications, 1975.
2. Marilyn Monroe: 1 June 1926, 9:30 a.m. PST, Los Angeles, California (34N03, 118W15). Source: Birth certificate.
2. Marilyn Monroe: 1 tháng Sáu 1926, 9:30 sáng, PST, Los Angeles, California (34N03, 118W15). Nguồn: Giấy khai sinh.
3. Dean, Geoffrey, and Mather, Arthur, Recent Advances in Natal Astrology, The Astrological Association, 1977.
3. Dean, Geoffrey, và Mather, Arthur, Recent Advances in Natal Astrology, The Astrological Association, 1977.
Chapter 4: The Planets and Other Essential Bodies — Chương 4: Các hành tinh và những thiên thể thiết yếu khác
Astronomical data have been taken from www.nasa.gov and Teach Yourself Planets by David Rothery, Teach Yourself, 2003.
Dữ liệu thiên văn được lấy từ www.nasa.gov và Teach Yourself Planets của David Rothery, Teach Yourself, 2003.
1. Robert F. Kennedy: 20 November 1925, 3.11 p.m. EST, Brookline, Massachusetts, USA (42N20, 71W07). Source: Data from Kennedy’s office.
1. Robert F. Kennedy: 20 tháng Mười Một 1925, 3.11 chiều, EST, Brookline, Massachusetts, Hoa Kỳ (42N20, 71W07). Nguồn: Dữ liệu từ văn phòng của Kennedy.
2. Tyler, Pam, Mercury: The Astrological Anatomy of a Planet, Aquarian Press, 1985.
2. Tyler, Pam, Mercury: The Astrological Anatomy of a Planet, Aquarian Press, 1985.
3. Graves, Robert, The Greek Myths, Penguin Books, 1960.
3. Graves, Robert, The Greek Myths, Penguin Books, 1960.
4. Bolen, Jean Shinoda, Goddesses in Everywoman, Harper Perennial, 1984.
4. Bolen, Jean Shinoda, Goddesses in Everywoman, Harper Perennial, 1984.
5. Wilkinson, Richard G., The Impact of Inequality: How to Make Sick Societies Healthier, New Press, 2005.
5. Wilkinson, Richard G., Tác Động của Bất Bình Đẳng: Cách Làm cho các Xã Hội Bệnh Hoạn Trở Nên Lành Mạnh Hơn, New Press, 2005.
6. The New York Times, 7 August 2002.
6. The New York Times, 7 tháng 8 năm 2002.
7. Arroyo, Stephen, Relationships and Life Cycles: Modern Dimensions of Astrology, CRCS, 1979.
7. Arroyo, Stephen, Các Mối Quan Hệ và Chu Kỳ Đời Sống: Những Chiều Kích Hiện Đại của Chiêm Tinh Học, CRCS, 1979.
8. ibid.
8. như trên.
9. Jackson, Eve, Jupiter, an Astrologer’s Guide, Aquarian Press, 1987. Unfortunately, this excellent book is no longer in print.
9. Jackson, Eve, Sao Mộc, Hướng Dẫn của Nhà Chiêm Tinh, Aquarian Press, 1987. Đáng tiếc là cuốn sách xuất sắc này hiện không còn được in nữa.
10. Gauquelin, Michel, Written in the Stars, Aquarian Press, 1988.
10. Gauquelin, Michel, Được Viết trong các Vì Sao, Aquarian Press, 1988.
11. Gustave Flaubert: 12 December 1821, 4 a.m. LMT, Rouen, France (49N26, 1E05). Source: Birth certificate. N.B. 13 December is also a possibility.
11. Gustave Flaubert: 12 tháng 12 năm 1821, 4 giờ sáng LMT, Rouen, Pháp (49N26, 1E05). Nguồn: giấy khai sinh. Lưu ý: ngày 13 tháng 12 cũng là một khả năng.
12. Construction of the Berlin Wall started on 13 August 1961 and its destruction began on 9 November 1989.
12. Việc xây dựng Bức tường Berlin bắt đầu vào ngày 13 tháng 8 năm 1961 và việc phá hủy nó bắt đầu vào ngày 9 tháng 11 năm 1989.
13. For more information on the discovery of Uranus, read Dava Sobel’s book The Planets, HarperPerennial, 2006 edition. This includes a lengthy letter written in 1847 by William Herschel’s sister, Caroline, in which she tells the story of the discovery of both Uranus and Neptune.
13. Để biết thêm thông tin về việc phát hiện Sao Thiên Vương, hãy đọc cuốn sách của Dava Sobel, Các Hành Tinh, HarperPerennial, ấn bản 2006. Sách này bao gồm một bức thư dài do Caroline, em gái của William Herschel, viết năm 1847, trong đó bà kể câu chuyện về việc phát hiện cả Sao Thiên Vương lẫn sao Hải Vương.
14. William Herschel: 15 November 1738, Hanover, Germany. He was born with Uranus at 3 degrees Capricorn opposing Neptune at 2 degrees Cancer. He died on 25 August 1822 at the age of 84. His Uranus return was very tight at the time – the planet was at 3 degrees Capricorn. Even more spooky was the fact that Neptune, which would never have been discovered if Uranus hadn’t already been found, was now conjunct Uranus at 2 degrees Capricorn.
14. William Herschel: 15 tháng 11 năm 1738, Hanover, Đức. Ông sinh ra với Sao Thiên Vương ở 3 độ Ma Kết đối vị sao Hải Vương ở 2 độ Cự Giải. Ông mất ngày 25 tháng 8 năm 1822 ở tuổi 84. Lúc ấy Sao Thiên Vương hồi vị của ông rất sát — hành tinh này ở 3 độ Ma Kết. Điều còn kỳ lạ hơn nữa là sao Hải Vương, vốn sẽ không bao giờ được phát hiện nếu Sao Thiên Vương chưa được tìm thấy trước đó, bấy giờ lại đồng vị Sao Thiên Vương ở 2 độ Ma Kết.
15. Kollerstrom, Nick, Astrochemistry – A Study of Metal-Planet Affinities, Emergence Press, 1984.
15. Kollerstrom, Nick, Hóa Học Chiêm Tinh – Một Nghiên Cứu về các Tương Ứng Kim Loại-Hành Tinh, Emergence Press, 1984.
16. See www.uic.au/ura.htm
16. Xem www.uic.au/ura.htm
17. An apothecary turned chemist, Klaproth was born in Wernigerode, in the Harz region of Northern Germany, on 1 December 1743 and died on 1 January 1817. More can be found out about him at:www.genchem.chem.wisc.edu/lab/PTL/PTL/BIOS/klapoth.htm
17. Là một dược sĩ chuyển sang làm nhà hóa học, Klaproth sinh tại Wernigerode, vùng Harz ở miền Bắc Đức, vào ngày 1 tháng 12 năm 1743 và mất ngày 1 tháng 1 năm 1817. Có thể tìm hiểu thêm về ông tại:www.genchem.chem.wisc.edu/lab/PTL/PTL/BIOS/klapoth.htm
18. John Couch Adams was born on 5 June 1819 and died in 1892. According to Wikipedia, Urbain Le Verrier was born on 11 March 1811 and died on 23 September 1877.
18. John Couch Adams sinh ngày 5 tháng 6 năm 1819 và mất năm 1892. Theo Wikipedia, Urbain Le Verrier sinh ngày 11 tháng 3 năm 1811 và mất ngày 23 tháng 9 năm 1877.
19. See an article written by Nick Kollerstrom at www.ucl.ac.uk/sts/nk/neptune/chron.htm
19. Xem một bài viết của Nick Kollerstrom tại www.ucl.ac.uk/sts/nk/neptune/chron.htm
20. Mayo, Jeff, The Planets and Human Behaviour, CRCS Publications, 1997.
20. Mayo, Jeff, Các Hành Tinh và Hành Vi Con Người, CRCS Publications, 1997.
21. Greene, Liz, The Astrological Neptune and the Quest for Redemption, Red Wheel/Weiser, 2000.
21. Greene, Liz, Sao Hải Vương Chiêm Tinh và Cuộc Truy Tầm Cứu Chuộc, Red Wheel/Weiser, 2000.
22. For more information, go to http://education.jlab.org/itselemental/ele093.html
22. Để biết thêm thông tin, hãy truy cập http://education.jlab.org/itselemental/ele093.html
23. This is according to Robert Leggat at http://www.rleggat.com/photohistory who goes on to say that Herschel used the word ‘photography’ in a lecture given to the Royal Society on 14 March 1839 and undoubtedly was the person who made the term known to the world. However, it seems that an anonymous writer with the initials ‘J.M.’ had actually used the word a few weeks earlier on 25 February.
23. Điều này theo Robert Leggat tại http://www.rleggat.com/photohistory; ông nói tiếp rằng Herschel đã dùng từ “nhiếp ảnh” trong một bài giảng trước Hội Hoàng gia vào ngày 14 tháng 3 năm 1839, và chắc chắn là người đã làm cho thuật ngữ này được thế giới biết đến. Tuy nhiên, dường như một tác giả vô danh với chữ viết tắt “J.M.” thật ra đã dùng từ này vài tuần trước đó, vào ngày 25 tháng 2.
24. See http://amblesideonline.homestead.com/PRPlanetPluto.html for more details on the naming of Pluto.
24. Xem http://amblesideonline.homestead.com/PRPlanetPluto.html để biết thêm chi tiết về việc đặt tên cho Sao Diêm Vương.
25. Honor Blackman: 22 August 1925, 6 a.m. BST, Plaistow, London, England (51N32, 0E03). Source: From her to Frank Clifford, as quoted in British Entertainers: The Astrological Profiles, Flare Publications, 2003.
25. Honor Blackman: 22 tháng 8 năm 1925, 6 giờ sáng BST, Plaistow, London, Anh (51N32, 0E03). Nguồn: do bà cung cấp cho Frank Clifford, như được trích trong Các Nghệ Sĩ Giải Trí Anh Quốc: Các Hồ Sơ Chiêm Tinh, Flare Publications, 2003.
26. See http://www.bbc.co.uk/dna/h2g2/alabaster/A703199
26. Xem http://www.bbc.co.uk/dna/h2g2/alabaster/A703199
27. Homœopathic proving is the process whereby new homœopathic remedies are discovered. Provers are healthy individuals who take a newly prepared homœopathic remedy (which is a much diluted and shaken version of the crude substance) without knowing what that substance is. When a healthy person takes a remedy, they manifest the same signs, sensations and symptoms (albeit in a weaker form) which the substance would cure in sick individuals. Plutonium was proved by homœopath Jeremy Sherr in 1995/6.
27. Thử nghiệm vi lượng đồng căn là tiến trình qua đó các phương thuốc vi lượng đồng căn mới được khám phá. Những người thử thuốc là các cá nhân khỏe mạnh dùng một phương thuốc vi lượng đồng căn mới được điều chế, tức một phiên bản đã được pha loãng và lắc rất nhiều của chất thô, mà không biết chất đó là gì. Khi một người khỏe mạnh dùng một phương thuốc, họ biểu hiện cùng các dấu hiệu, cảm giác và triệu chứng, dù ở dạng yếu hơn, mà chất ấy sẽ chữa lành nơi những người bệnh. Plutonium đã được nhà vi lượng đồng căn Jeremy Sherr thử nghiệm vào năm 1995/6.
Chapter 5: Aspects and Planetary Combinations — Chương 5: Các Góc Hợp và Tổ Hợp Hành Tinh
1. Tierney, Bil, The Dynamics of Aspect Analysis, CRCS, 1993.
1. Tierney, Bil, Động Lực của Phân Tích Góc Hợp, CRCS, 1993.
2. Carter, Charles, The Astrological Aspects, L.N. Fowler, 1967 edition.
2. Carter, Charles, Các Góc Hợp Chiêm Tinh, L.N. Fowler, ấn bản 1967.
3. Addey, John, Harmonics in Astrology, Cambridge Circle, 1977, and Hamblin, David, Harmonic Charts, Harper Collins, 1987.
3. Addey, John, Các Hài Âm trong Chiêm Tinh Học, Cambridge Circle, 1977, và Hamblin, David, Các Lá Số Hài Âm, Harper Collins, 1987.
4. Kollerstrom, Nick, and O’Neill, Mike, The Eureka Effect: Astrology of Scientific Discovery, The Urania Trust, 1996.
4. Kollerstrom, Nick, và O’Neill, Mike, Hiệu Ứng Eureka: Chiêm Tinh Học về Khám Phá Khoa Học, The Urania Trust, 1996.
5. Dean, Geoffrey, and Mather, Arthur, Recent Advances in Natal Astrology, The Astrological Association, 1977.
5. Dean, Geoffrey, và Mather, Arthur, Những Tiến Bộ Gần Đây trong Chiêm Tinh Học Bản Mệnh, The Astrological Association, 1977.
6. Carter, Charles, The Astrological Aspects, L.N. Fowler, 1967 Edition.
6. Carter, Charles, Các Góc Hợp Chiêm Tinh, L.N. Fowler, ấn bản 1967.
7. Baigent, Michael, Campion, Nicholas, and Harvey, Charles, Mundane Astrology, The Aquarian Press, 1984.
7. Baigent, Michael, Campion, Nicholas, và Harvey, Charles, Chiêm Tinh Học Thế Sự, The Aquarian Press, 1984.
8. Carter, Charles, The Astrological Aspects, L.N. Fowler, 1967 edition.
8. Carter, Charles, Các Góc Hợp Chiêm Tinh, L.N. Fowler, ấn bản 1967.
Chapter 6: The Houses — Chương 6: Các Nhà
Works quoted in the text/recommended reading:
Các tác phẩm được trích dẫn trong văn bản/đọc thêm khuyến nghị:
Sasportas, Howard, The Twelve Houses, Flare/LSA, 2007. Marks, Tracy, Your Secret Self: Illuminating the Mysteries of the Twelfth House, CRCS, 1989.
Sasportas, Howard, Mười Hai Nhà, Flare/LSA, 2007. Marks, Tracy, Bản Ngã Bí Mật của Bạn: Soi Sáng các Huyền Nhiệm của Nhà Thứ Mười Hai, CRCS, 1989.
Hand, Robert, Horoscope Symbols, Schiffer, 1987.
Hand, Robert, Các Biểu Tượng Lá Số Chiêm Tinh, Schiffer, 1987.
1. In Western culture, the Sun can be associated with our surnames – the one we are born with and those we may acquire through marriage.
1. Trong văn hóa phương Tây, Mặt Trời có thể được liên kết với họ của chúng ta — họ ta mang khi sinh ra và những họ ta có thể nhận qua hôn nhân.
Chapter 7: Non-Essential Bodies — Chương 7: Các Thiên Thể Không Thiết Yếu
1. For consideration of the Nodes from the Vedic perspective, see The Lunar Nodes: Crisis and Redemption, Komilla Sutton, Wessex Astrologer, 2001.
1. Để xem xét các Nút từ quan điểm Vệ-đà, xem Các Nút Mặt Trăng: Khủng Hoảng và Cứu Chuộc, Komilla Sutton, Wessex Astrologer, 2001.
2. Date of photographic plate showing Chiron: 18 October 1977, 9.08 a.m. UT, Palomar (33N19, 116W53). Discovery date:1 November 1977, 10.00 a.m. PST, Pasadena, California (34N09, 118W09).
2. Ngày của bản kính ảnh cho thấy Chiron: 18 tháng 10 năm 1977, 9.08 sáng UT, Palomar (33N19, 116W53). Ngày phát hiện: 1 tháng 11 năm 1977, 10.00 sáng PST, Pasadena, California (34N09, 118W09).
3. See the website http://cfa-www.harvard.edu/iau/lists/Centaurs.html (updated daily).
3. Xem trang web http://cfa-www.harvard.edu/iau/lists/Centaurs.html (cập nhật hằng ngày).
4. This parallel was suggested by Robert von Heeren in his book, co-authored with Dieter Koch, Pholus – Wandler zwischen Saturn und Neptun (German language only), Chiron Verlag, Tubingen, Germany, 1995.
4. Song song này do Robert von Heeren đề xuất trong cuốn sách ông đồng tác giả với Dieter Koch, Pholus – Kẻ Lang Thang giữa Sao Thổ và sao Hải Vương (chỉ có tiếng Đức), Chiron Verlag, Tubingen, Đức, 1995.
5. For further details see the following websites:www.robertvonheeren.de
5. Để biết thêm chi tiết, xem các trang web sau:www.robertvonheeren.de
www.expreso.co.cr/centaurs www.zanestein.com/chiron
www.expreso.co.cr/centaurs www.zanestein.com/chiron
6. One AU (astronomical unit) = 93 million miles/150 million kilometres = mean distance from the Earth to the Sun.
6. Một AU (đơn vị thiên văn) = 93 triệu dặm/150 triệu kilômét = khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời.
7. Personal communication at a conference in Lucerne in 1993 or 1994.
7. Trao đổi cá nhân tại một hội nghị ở Lucerne năm 1993 hoặc 1994.
8. President Franklin D. Roosevelt: 30 January 1882, 8.45 p.m. LMT, Hyde Park, New York, 41N47 73W56. Source: His father’s diary.
8. Tổng thống Franklin D. Roosevelt: 30 tháng 1 năm 1882, 8.45 tối LMT, Hyde Park, New York, 41N47 73W56. Nguồn: nhật ký của cha ông.
A Democrat, he held office for four terms, the only President to serve for more than two. His Aquarian planets go some way to explaining his humanitarian bent but his Chiron in Taurus in the Eighth House conjunct Jupiter and Neptune augments the liberal, charitable impulse of that conjunction, describing the strenuous and perhaps brilliant efforts he made during the Great Depression to make viable economic reforms and alleviate the suffering of the unemployed.
Là một đảng viên Dân chủ, ông giữ chức trong bốn nhiệm kỳ, vị Tổng thống duy nhất phục vụ hơn hai nhiệm kỳ. Các hành tinh thuộc Bảo Bình của ông phần nào giải thích khuynh hướng nhân đạo của ông, nhưng Chiron của ông trong Kim Ngưu ở Nhà Tám, đồng vị Sao Mộc và sao Hải Vương, làm tăng thêm xung lực tự do và từ thiện của đồng vị ấy, mô tả những nỗ lực mạnh mẽ và có lẽ xuất sắc mà ông đã thực hiện trong thời Đại Suy Thoái để tạo ra các cải cách kinh tế khả thi và giảm bớt nỗi khổ của người thất nghiệp.
9. From a lecture given at the Astrological Association’s Conference, York, 1983.
9. Từ một bài giảng tại Hội nghị của Astrological Association, York, 1983.
Chapter 9: Profiles — Chương 9: Các Hồ Sơ
1. Henry VIII: 28 June 1491, 8.45 a.m. LMT, Greenwich, England (51N29, 0W00). Source: Martin Harvey quotes the British royal archives.
1. Henry VIII: 28 tháng 6 năm 1491, 8.45 sáng LMT, Greenwich, Anh (51N29, 0W00). Nguồn: Martin Harvey trích dẫn văn khố hoàng gia Anh.
Henry’s Wives:
Các bà vợ của Henry:
Catherine of Aragon: married in 1509, divorced in 1533.
Catherine xứ Aragon: kết hôn năm 1509, ly dị năm 1533.
Anne Boleyn: married in 1533, beheaded in 1536.
Anne Boleyn: kết hôn năm 1533, bị chém đầu năm 1536.
Jane Seymour: married in 1536, died in 1537.
Jane Seymour: kết hôn năm 1536, mất năm 1537.
Anne of Cleves: married in January 1540, divorced in July 1540.
Anne xứ Cleves: kết hôn tháng 1 năm 1540, ly dị tháng 7 năm 1540.
Katherine Howard: married in July 1540, beheaded in 1542.
Katherine Howard: kết hôn tháng 7 năm 1540, bị chém đầu năm 1542.
Katherine Parr: married in 1543, outlived Henry, and died in 1548.
Katherine Parr: kết hôn năm 1543, sống lâu hơn Henry, và mất năm 1548.
2. Ridley, Jasper, Henry VIII, Penguin, 1984.
2. Ridley, Jasper, Henry VIII, Penguin, 1984.
3. For more detailed explanations of Moon-Mars and other aspects, see Tompkins, Sue, Aspects in Astrology, Element, 1989 (Rider, 2001).
3. Để có các giải thích chi tiết hơn về Mặt Trăng-Sao Hỏa và các góc hợp khác, xem Tompkins, Sue, Các Góc Hợp trong Chiêm Tinh Học, Element, 1989 (Rider, 2001).
4. Kelly Holmes:19 April 1970, 11 a.m. CET, Pembury, England (51N09, 0E20). Source: Sue Tompkins quotes her, via her manager.
4. Kelly Holmes: 19 tháng 4 năm 1970, 11 giờ sáng CET, Pembury, Anh (51N09, 0E20). Nguồn: Sue Tompkins trích lời bà, qua người quản lý của bà.
All information regarding Kelly is taken from her autobiography Black, White and Gold, Virgin Books, 2005. I would speculate that Kelly was born closer to 10.53 or 10.54 a.m. One reason for suspecting this earlier time is that her progressed MC would then have been tightly conjunct her Sun when she won her Olympic gold medals. The data for those races are as follows:
Tất cả thông tin liên quan đến Kelly được lấy từ tự truyện của bà, Đen, Trắng và Vàng, Virgin Books, 2005. Tôi phỏng đoán rằng Kelly sinh gần 10.53 hoặc 10.54 sáng hơn. Một lý do để nghi ngờ thời điểm sớm hơn này là khi đó Thiên Đỉnh tiến trình của bà hẳn đã đồng vị rất sát với Mặt Trời của bà khi bà giành các huy chương vàng Olympic. Dữ liệu cho các cuộc đua ấy như sau:
800 metres: 23 August 2004. Start time: 8.55 p.m. local time, Athens (37N58, 23E43). 1500 metres 28 August 2004. Start time: 8.30 p.m. local time, Athens (37N58, 23E43).
800 mét: 23 tháng 8 năm 2004. Giờ xuất phát: 8.55 tối giờ địa phương, Athens (37N58, 23E43). 1500 mét: 28 tháng 8 năm 2004. Giờ xuất phát: 8.30 tối giờ địa phương, Athens (37N58, 23E43).
Note that while this is not, by any means, a major significator for her winning the race, during the 800-metre race, the Sun and Mercury in the sky fell at Kelly’s Sun/Moon midpoint. This is an occurrence that, for the Sun alone, will happen eight times every year, but not, of course, every time Kelly has run a major race.
Lưu ý rằng dù điều này tuyệt nhiên không phải là một chỉ báo chính cho việc bà thắng cuộc đua, trong cuộc đua 800 mét, Mặt Trời và Sao Thủy trên bầu trời rơi vào trung điểm Mặt Trời/Mặt Trăng của Kelly. Đây là một hiện tượng mà, riêng đối với Mặt Trời, sẽ xảy ra tám lần mỗi năm, nhưng dĩ nhiên không phải mỗi lần Kelly chạy một cuộc đua lớn.
5. Ebertin, Reinhold, The Combination of Stellar Influences, AFA, 1994.
5. Ebertin, Reinhold, Sự Kết Hợp của các Ảnh Hưởng Tinh Tú, AFA, 1994.
6. For further reading about midpoints as well as other techniques see: Harvey, Charles, and Harding, Mike, Working with Astrology, Consider, 1998.
6. Để đọc thêm về các trung điểm cũng như những kỹ thuật khác, xem: Harvey, Charles, và Harding, Mike, Làm Việc với Chiêm Tinh Học, Consider, 1998.
7. ibid.
7. như trên.
8. Agatha Christie: 15 September 1890, 4 a.m. GMT, Torquay, England (50N28, 3W30). Source: From her.
8. Agatha Christie: 15 tháng 9 năm 1890, 4 giờ sáng GMT, Torquay, Anh (50N28, 3W30). Nguồn: do bà cung cấp.
All information concerning Agatha Christie has been taken from Agatha Christie – An Autobiography, William Collins, 1977.
Tất cả thông tin liên quan đến Agatha Christie được lấy từ Agatha Christie – Một Tự Truyện, William Collins, 1977.
9. ‘Amanda’: 16 August 1967, 11.30 p.m. GDT, Liverpool, England (53N25, 2W55).
9. “Amanda”: 16 tháng 8 năm 1967, 11.30 tối GDT, Liverpool, Anh (53N25, 2W55).
10. Carter, Charles, The Zodiac and the Soul, Theosophical Publishing House, 1968 edition.
10. Carter, Charles, Hoàng Đạo và Linh Hồn, Theosophical Publishing House, ấn bản 1968.
11. Peter: 27 January 1954, 2.20 a.m. GMT, Epsom, England (51N20, 0W16).
11. Peter: 27 tháng 1 năm 1954, 2.20 sáng GMT, Epsom, Anh (51N20, 0W16).
12. Sankaran, Rajan, The Soul of Remedies, Homœopathic Medical Publishers, 1997.
12. Sankaran, Rajan, Linh hồn của các phương dược, Nhà xuất bản Y khoa Vi lượng đồng căn, 1997.
13. This data is taken from The Book of World Horoscopes by Nicholas Campion, a meticulously researched and indispensable reference book for anyone interested in the horoscopes of countries or world events. As Campion says, Indonesian independence was first proclaimed on 17 August 1945 but the Dutch refused to recognize it. Judging by events such as the Bali bombing, and the earthquake and tsunami on 26 December 2004, the 1945 chart would seem to be a relevant one for additional consideration.
13. Dữ liệu này được lấy từ Quyển sách về các lá số chiêm tinh thế giới của Nicholas Campion, một sách tham khảo được nghiên cứu tỉ mỉ và không thể thiếu cho bất kỳ ai quan tâm đến các lá số chiêm tinh của các quốc gia hoặc các sự kiện thế giới. Như Campion nói, nền độc lập của Indonesia lần đầu được tuyên bố vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, nhưng người Hà Lan từ chối công nhận. Xét theo các sự kiện như vụ đánh bom Bali, và trận động đất cùng sóng thần ngày 26 tháng 12 năm 2004, lá số chiêm tinh năm 1945 dường như là một lá số liên quan để xem xét thêm.
14. Statistics concerning the country vary hugely. The main source used here is The Times Atlas of the World, Eleventh edition, Times Books, 2003, and www.wikipedia.com
14. Các số liệu thống kê liên quan đến quốc gia này khác nhau rất lớn. Nguồn chính được dùng ở đây là Tập bản đồ thế giới của Times, ấn bản thứ mười một, Times Books, 2003, và www.wikipedia.com
15. Accident: 22 June 1983, 4.05 a.m. GDT, 51N33, 0W06.
15. Tai nạn: 22 tháng 6 năm 1983, 4 giờ 05 sáng GDT, 51N33, 0W06.
Other titles from Flare Publications
For books, discounted titles as well as consultations, events and giveaways, check out our websites at www.flareuk.com and www.londonschoolofastrology.co.uk
Our titles can also be bought online at various sites, and we encourage readers to support these two landmark London-based bookshops:
The Astrology Shop, 78 Neal Street, Covent Garden, London WC2H 9PA, tel: 020 7813 3051, www.londonastrology.com
The Midheaven Bookshop, tel: 020 7607 4133, www.midheavenbooks.com
If you wish to keep informed of our special offers and new books as they become available, please write to us at Flare/LSA, BCM Planets, London WC1N 3XX, England or email: admin@londonschoolofastrology.co.uk
Currently available:
Aspects in Astrology by Sue Tompkins (0–7126–1104–5, 310pp, Rider, 2001)
The essential and informative guide to astrological aspects and planetary combinations. A modern classic.
Astrology in the Year Zero by Garry Phillipson (978–0–9530261–9–7, 272pp)
The inside track on what astrologers actually do and the criticisms they face – based on over 30 interviews with contemporary astrologers and scientific researchers. Including insights into business, psychological and predictive astrology, this is the most thought-provoking, pertinent and controversial critique on the subject ever written.
British Entertainers: the Astrological Profiles by Frank C. Clifford (978–1–903353–01–1, 320pp)
Develop your understanding of astrology by studying the charts and biographies of over 800 celebrities from film, theatre, television, comedy and music. This third edition includes hundreds of new data from the author’s files, thousands of dated events, transits, and biographical quotes, plus the astrological signs of entertainment success.
The Draconic Chart by Rev. Pamela Crane (978–0–9530261–4–2, 278pp, comb-bound)
This pioneering work reveals the history and importance of the Draconic Zodiac, which offers deep insights into your life meaning, driving principles, spiritual purpose, vocation and karma. Plus Reverend Crane’s own impassioned journey from her first apprenticeship to the discovery of the horoscope of Christ’s Nativity.
Jupiter and Mercury: An A to Z by Paul Wright (978–1–903353–00–4, 86pp, limited comb-bound student edition)
Covering a wide range of topics – from creativity, celebrity and luck, to evangelism, morality and murder – this is an important work that will challenge, expand and refine your astrological understanding of both planets.
Mars: Your Burning Desires by Frank C. Clifford and Anna Stuart (978–0–9530261–6–6, 32pp)
Discover what your Mars placement reveals about your desires, attitudes to love, sexual turn-ons and turn-offs.
Shorthand of the Soul: the Quotable Horoscope by David Hayward (978–0–9530261–2–8, 256pp)
An inspirational collection of over 2000 quotations (with astrological significators) embracing every aspect of life. The wit and wisdom of poets, philosophers, authors and celebrities bridges the gap between the symbolic worlds of literature and astrology. With full index.
The Sun Sign Reader by Joan Revill (978–0–9530261–3–5, 224pp)
Drawing from literature, radio and television, this astrological birthday book is an entertaining cocktail of fictional birth and event dates. A stimulating introduction to hundreds of authors and their works.
Venus: Your Key to Love by Frank C. Clifford and Anna Stuart (978–0–9530261–5–9,36pp)
Discover what your individual Venus placement has to say about your relationships and attitudes to love and sex.
Also available:
Palmistry 4 Today by Frank C. Clifford
A truly original 4-step guide to understanding your relationships, career, health and future. Play ‘palm detective’, learn timing techniques, discover what the hands reveal about love, health and career, and practise by studying real examples and palm prints. Originally published by Rider in 2002, the revised US edition (Flare, 2007) includes a full certificate course of assignments.
Palm Reading by Frank C. Clifford
A fully illustrated Hamlyn guide to your personality, work and relationships, as revealed by the lines and shape of your hands.
Coming soon from Flare:
The Midheaven: Spotlight on Success by Frank C. Clifford
Birth Charts: Horoscopes of the Famous by Frank C. Clifford
The Twelve Houses by Howard Sasportas
The London School of Astrology
– a holistic approach to astrology –
• Accredited Foundation courses for beginners in central London
• Accredited Diploma courses for those with more experience
• Saturday seminars, residential courses and other events
• New short courses in palmistry (modern hand analysis)
• Learn astrology in a fun, supportive environment
with the UK’s most experienced astrologers/tutors
• Fun, self-knowledge, spiritual development, vocational training
To find out more
Visit our website: www.londonschoolofastrology.co.uk
Email: admin@londonschoolofastrology.co.uk
Telephone: 0700 2 33 44 55
London School of Astrology
BCM Planets
London WC1N 3XX