← The Etheric Double – A.E. Powell_upscaled song ngữ

Table of Contents – Mục Lục

Table of Contents – Mục Lục

Publisher's Preface

Lời Tựa của Nhà Xuất Bản

Foreword

Lời Nói Đầu

INTRODUCTION

DẪN NHẬP

CHAPTER 1

CHƯƠNG 1

GENERAL DESCRIPTION

MÔ TẢ CHUNG

CHAPTER II

CHƯƠNG II

PRÂNA, OR VITALITY

PRANA, HAY SINH LỰC

DIAGRAM II

SƠ ĐỒ II

The Vitality Globule (1) An Ultimate Physical Atom

Sinh khí cầu (1) Một Nguyên tử hồng trần tối hậu

DIAGRAM II

SƠ ĐỒ II

The Vitality Globule (2) Vitality-Force enters Atoms

Sinh khí cầu (2) Mãnh lực Sinh lực đi vào các Nguyên tử

DIAGRAM III-

SƠ ĐỒ III-

The Vitality Globule (3) The Atom attracts 6 other atoms

Sinh khí cầu (3) Nguyên tử thu hút 6 nguyên tử khác

Diagram II- The Vitality Globule

Sơ đồ II- Sinh khí cầu

(4) Formation of the Globule

(4) Sự hình thành Sinh khí cầu

CHAPTER III

CHƯƠNG III

FORCE CENTRES

CÁC TRUNG TÂM MÃNH LỰC

DIAGRAM III

SƠ ĐỒ III

Structure of Force-Centre

Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(1) Shape

(1) Hình dạng

DIAGRAM III Structure of Force-Centre

SƠ ĐỒ III Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(2) Inrush of Vital Force

(2) Sự tràn vào của Mãnh lực Sinh lực

DIAGRAM III

SƠ ĐỒ III

Structure of Force-Centre

Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(3) Formation of "Spokes"

(3) Sự hình thành các “nan hoa”

DIAGRAM III

SƠ ĐỒ III

Structure of Force-Centre

Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(4) Formation of Secondary Force

(4) Sự hình thành Mãnh lực Thứ cấp

CHAPTER IV

CHƯƠNG IV

THE SPLEEN CENTRE

LUÂN XA LÁ LÁCH

DIAGRAM IV

SƠ ĐỒ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(1) Structure

(1) Cấu trúc

Diagram IV

Sơ đồ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(2) Absorption of Vitality Globules

(2) Sự hấp thụ các Sinh khí cầu

DIAGRAM IV

SƠ ĐỒ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(3) Decomposition of Vitality Globules

(3) Sự phân rã các Sinh khí cầu

Diagram IV

Sơ đồ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(4) Dispersion of Vitality Particles

(4) Sự phân tán các Hạt Sinh lực

CHAPTER V

CHƯƠNG V

THE BASE OF THE SPINE CENTRE

TRUNG TÂM ĐÁY CỘT SỐNG

DIAGRAM V

SƠ ĐỒ V

Base of Spine Centre

Trung tâm Đáy Cột sống

(a) Normal person

(a) Người bình thường

DIAGRAM V

SƠ ĐỒ V

Base of Spine Centre

Trung tâm Đáy Cột sống

(b) Developed person

(b) Người đã phát triển

CHAPTER VI

CHƯƠNG VI

THE NAVEL CENTRE

TRUNG TÂM RỐN

DIAGRAM VI

SƠ ĐỒ VI

Navel Centre

Trung tâm Rốn

CHAPTER VII

CHƯƠNG VII

THE HEART CENTRE

TRUNG TÂM TIM

DIAGRAM VII

SƠ ĐỒ VII

Heart Centre

Trung tâm Tim

CHAPTER VIII

CHƯƠNG VIII

THE THROAT CENTRE

TRUNG TÂM CỔ HỌNG

DIAGRAM VIII

SƠ ĐỒ VIII

Throat Centre

Trung tâm Cổ họng

CHAPTER IX

CHƯƠNG IX

THE CENTRE BETWEEN THE EYEBROWS

TRUNG TÂM GIỮA HAI LÔNG MÀY

DIAGRAM IX

SƠ ĐỒ IX

Between the Eyebrows Center

Trung tâm Giữa Hai Lông mày

CHAPTER X

CHƯƠNG X

THE CENTRE AT THE TOP OF THE HEAD

TRUNG TÂM ĐỈNH ĐẦU

DIAGRAM X

SƠ ĐỒ X

Top of Head Centre

Trung tâm Đỉnh Đầu

CHAPTER XI

CHƯƠNG XI

DISCHARGES

CÁC SỰ PHÓNG XUẤT

DIAGRAM XI

SƠ ĐỒ XI

Discharges

Các sự phóng xuất

CHAPTER XII

CHƯƠNG XII

TABULATION OF RESULTS

BẢNG TỔNG KẾT KẾT QUẢ

Diagram XIII

Sơ đồ XIII

CHAPTER XIII

CHƯƠNG XIII

KUNDALINI

KUNDALINI

CHAPTER XIV

CHƯƠNG XIV

THE ATOMIC WEB

MÀNG NGUYÊN TỬ

DIAGRAM XIV

SƠ ĐỒ XIV

The Atomic Shield

Lá chắn Nguyên tử

CHAPTER XV

CHƯƠNG XV

BIRTH

SỰ SINH RA

CHAPTER XVI

CHƯƠNG XVI

DEATH

CÁI CHẾT

CHAPTER XVII

CHƯƠNG XVII

HEALING

CHỮA LÀNH

CHAPTER XVIII

CHƯƠNG XVIII

MESMERISM

THUẬT THÔI MIÊN

CHAPTER XIX

CHƯƠNG XIX

SHELLS AND SHIELDS

CÁC LỚP VỎ VÀ LÁ CHẮN

CHAPTER XX bk20

CHƯƠNG XX sách 20

MEDIUMSHIP

ĐỒNG CỐT

CHAPTER XXI

CHƯƠNG XXI

THE WORK OF DR. WALTER J. KILNER

CÔNG TRÌNH CỦA TIẾN SĨ WALTER J. KILNER

CHAPTER XXII

CHƯƠNG XXII

ETHERIC FACULTIES

CÁC NĂNG LỰC DĨ THÁI

CHAPTER XXIII

CHƯƠNG XXIII

MAGNETISATION OF OBJECTS

SỰ TỪ HÓA CÁC VẬT THỂ

CHAPTER XXIV

CHƯƠNG XXIV

ECTOPLASM

NGOẠI CHẤT

CHAPTER XXV

CHƯƠNG XXV

CONCLUSION

KẾT LUẬN

THE ETHERIC DOUBLE

BẢN SAO DĨ THÁI

The Health Aura of Man

Hào quang Sức khỏe của Con người

by A.E.Powell

do A.E.Powell

Publisher's Preface

Lời tựa của Nhà xuất bản

Foreword

Lời nói đầu

INTRODUCTION

DẪN NHẬP

CHAPTER 1

CHƯƠNG 1

GENERAL DESCRIPTION

MÔ TẢ TỔNG QUÁT

CHAPTER II

CHƯƠNG II

PRÂNA, OR VITALITY

PRÂNA, HAY SINH LỰC

DIAGRAM II

SƠ ĐỒ II

The Vitality Globule (1) An Ultimate Physical Atom

Sinh khí cầu (1) Một Nguyên tử Hồng trần Tối hậu

DIAGRAM II

SƠ ĐỒ II

The Vitality Globule (2) Vitality-Force enters Atoms

Sinh khí cầu (2) Mãnh lực Sinh lực đi vào các Nguyên tử

DIAGRAM III-

SƠ ĐỒ III-

The Vitality Globule (3) The Atom attracts 6 other atoms

Sinh khí cầu (3) Nguyên tử thu hút 6 nguyên tử khác

Diagram II- The Vitality Globule

Sơ đồ II- Sinh khí cầu

(4) Formation of the Globule

(4) Sự hình thành Sinh khí cầu

CHAPTER III

CHƯƠNG III

FORCE CENTRES

CÁC TRUNG TÂM MÃNH LỰC

DIAGRAM III

SƠ ĐỒ III

Structure of Force-Centre

Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(1) Shape

(1) Hình dạng

DIAGRAM III Structure of Force-Centre

SƠ ĐỒ III Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(2) Inrush of Vital Force

(2) Sự tràn vào của Mãnh lực Sinh lực

DIAGRAM III

SƠ ĐỒ III

Structure of Force-Centre

Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(3) Formation of "Spokes"

(3) Sự hình thành các “nan hoa”

DIAGRAM III

SƠ ĐỒ III

Structure of Force-Centre

Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(4) Formation of Secondary Force

(4) Sự hình thành Mãnh lực Thứ cấp

CHAPTER IV

CHƯƠNG IV

THE SPLEEN CENTRE

LUÂN XA LÁ LÁCH

DIAGRAM IV

SƠ ĐỒ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(1) Structure

(1) Cấu trúc

Diagram IV

Sơ đồ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(2) Absorption of Vitality Globules

(2) Sự hấp thụ các Sinh khí cầu

DIAGRAM IV

SƠ ĐỒ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(3) Decomposition of Vitality Globules

(3) Sự phân rã các Sinh khí cầu

Diagram IV

Sơ đồ IV

Spleen Centre

Luân xa Lá lách

(4) Dispersion of Vitality Particles

(4) Sự phân tán các Hạt Sinh lực

CHAPTER V

CHƯƠNG V

THE BASE OF THE SPINE CENTRE

TRUNG TÂM ĐÁY CỘT SỐNG

DIAGRAM V

SƠ ĐỒ V

Base of Spine Centre

Trung tâm Đáy Cột sống

(a) Normal person

(a) Người bình thường

DIAGRAM V

SƠ ĐỒ V

Base of Spine Centre

Trung tâm Đáy Cột sống

(b) Developed person

(b) Người đã phát triển

CHAPTER VI

CHƯƠNG VI

THE NAVEL CENTRE

TRUNG TÂM RỐN

DIAGRAM VI

SƠ ĐỒ VI

Navel Centre

Trung tâm Rốn

CHAPTER VII

CHƯƠNG VII

THE HEART CENTRE

TRUNG TÂM TIM

DIAGRAM VII

SƠ ĐỒ VII

Heart Centre

Trung tâm Tim

CHAPTER VIII

CHƯƠNG VIII

THE THROAT CENTRE

TRUNG TÂM CỔ HỌNG

DIAGRAM VIII

SƠ ĐỒ VIII

Throat Centre

Trung tâm Cổ họng

CHAPTER IX

CHƯƠNG IX

THE CENTRE BETWEEN THE EYEBROWS

TRUNG TÂM GIỮA HAI LÔNG MÀY

DIAGRAM IX

SƠ ĐỒ IX

Between the Eyebrows Center

Trung tâm Giữa Hai Lông mày

CHAPTER X

CHƯƠNG X

THE CENTRE AT THE TOP OF THE HEAD

TRUNG TÂM ĐỈNH ĐẦU

DIAGRAM X

SƠ ĐỒ X

Top of Head Centre

Trung tâm Đỉnh Đầu

CHAPTER XI

CHƯƠNG XI

DISCHARGES

CÁC SỰ PHÓNG XUẤT

DIAGRAM XI

SƠ ĐỒ XI

Discharges

Các sự phóng xuất

CHAPTER XII

CHƯƠNG XII

TABULATION OF RESULTS

BẢNG TỔNG KẾT KẾT QUẢ

Diagram XIII

Sơ đồ XIII

CHAPTER XIII

CHƯƠNG XIII

KUNDALINI

KUNDALINI

CHAPTER XIV

CHƯƠNG XIV

THE ATOMIC WEB

MÀNG NGUYÊN TỬ

DIAGRAM XIV

SƠ ĐỒ XIV

The Atomic Shield

Lá chắn Nguyên tử

CHAPTER XV

CHƯƠNG XV

BIRTH

SỰ SINH RA

CHAPTER XVI

CHƯƠNG XVI

DEATH

CÁI CHẾT

CHAPTER XVII

CHƯƠNG XVII

HEALING

CHỮA LÀNH

CHAPTER XVIII

CHƯƠNG XVIII

MESMERISM

THUẬT THÔI MIÊN

CHAPTER XIX

CHƯƠNG XIX

SHELLS AND SHIELDS

CÁC LỚP VỎ VÀ LÁ CHẮN

CHAPTER XX

CHƯƠNG XX

MEDIUMSHIP

ĐỒNG CỐT

CHAPTER XXI

CHƯƠNG XXI

THE WORK OF DR. WALTER J. KILNER

CÔNG TRÌNH CỦA TIẾN SĨ WALTER J. KILNER

CHAPTER XXII

CHƯƠNG XXII

ETHERIC FACULTIES

CÁC NĂNG LỰC DĨ THÁI

CHAPTER XXIII

CHƯƠNG XXIII

MAGNETISATION OF OBJECTS

SỰ TỪ HÓA CÁC VẬT THỂ

CHAPTER XXIV

CHƯƠNG XXIV

ECTOPLASM

NGOẠI CHẤT

CHAPTER XXV

CHƯƠNG XXV

CONCLUSION

KẾT LUẬN

Publisher's Preface – Lời tựa của Nhà xuất bản

The author's aim in compiling the books in this series was to save students much time and labour by providing a condensed synthesis of the considerable literature on the respective subjects of each volume, coming mostly from the pens of Annie Besant and C.W.Leadbeater. The accompanying list shows the large number of books from which he drew. So far as possible, the method adopted was to explain the form side first, before the life side: to describe the objective mechanism of phenomena and then the activities of consciousness that are expressed through the mechanism. There is no attempt to prove or even justify any of the statements. Marginal references give opportunity to refer to the sources.

Mục đích của tác giả khi biên soạn các sách trong loạt này là giúp các đạo sinh tiết kiệm nhiều thời gian và công sức, bằng cách cung cấp một tổng hợp cô đọng từ khối văn liệu đáng kể về các chủ đề tương ứng của từng quyển, phần lớn xuất phát từ ngòi bút của Annie Besant và C.W.Leadbeater. Danh sách kèm theo cho thấy số lượng lớn các sách mà ông đã sử dụng. Trong chừng mực có thể, phương pháp được chọn là giải thích phương diện hình tướng trước, rồi mới đến phương diện sự sống: mô tả bộ máy khách quan của các hiện tượng, rồi sau đó là những hoạt động của tâm thức được biểu lộ thông qua bộ máy ấy. Không có nỗ lực nào nhằm chứng minh, hoặc thậm chí biện minh, cho bất kỳ phát biểu nào. Các tham chiếu bên lề tạo cơ hội để đối chiếu với các nguồn.

The works of H.P.Blavatsky were not used because the author said that the necessary research in The Secret Doctrine and other writings would have been too vast a task for him to undertake. He added: "The debt to H.P.Blavatsky is greater than could ever be indicated by quotations from her monumental volumes. Had she not show the way in the first instance, later investigators might never have found the trail at all."

Các tác phẩm của H.P.Blavatsky không được sử dụng, vì tác giả nói rằng công việc nghiên cứu cần thiết trong Giáo Lý Bí Nhiệm và các trước tác khác sẽ là một nhiệm vụ quá rộng lớn để ông đảm nhận. Ông nói thêm: “Món nợ đối với H.P.Blavatsky lớn hơn bất cứ điều gì có thể được biểu thị bằng những trích dẫn từ các bộ sách đồ sộ của bà. Nếu ngay từ đầu bà đã không chỉ đường, những nhà khảo cứu về sau có lẽ chẳng bao giờ tìm thấy dấu vết ấy.”

Foreword – Lời nói đầu

by members of the Science Group of the Theosophical Research centre, London, England

do các thành viên của Nhóm Khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Thông Thiên Học, Luân Đôn, Anh quốc

The Etheric Double was first published in 1925 as one of a series by the same author dealing with the inner structure of Man. It is now represented to the public unchanged except for the omission from the last chapter of a reference to local research, active when the book was written.

Bản Sao Dĩ Thái được xuất bản lần đầu vào năm 1925, như một quyển trong loạt sách của cùng tác giả bàn về cấu trúc bên trong của Con người. Nay sách được giới thiệu lại với công chúng mà không thay đổi, ngoại trừ việc lược bỏ khỏi chương cuối một tham chiếu đến công trình nghiên cứu địa phương đang hoạt động vào thời điểm sách được viết.

No attempt has been made to augment or otherwise bring up to date this classic in the light of understanding accumulated during the intervening forty-odd years. As A.E.Powell said himself in his introduction, this is a compilation from forty main works published between 1897 and 1921 and in view of their wide range and the painstaking thoroughness with which they were extracted, the collated information may fairly be taken to summarise the general views upon the subject up to 1925.

Không có nỗ lực nào nhằm bổ sung hoặc bằng cách khác cập nhật tác phẩm kinh điển này dưới ánh sáng của sự hiểu biết đã tích lũy trong hơn bốn mươi năm xen giữa. Như chính A.E.Powell đã nói trong phần dẫn nhập, đây là một bản biên soạn từ bốn mươi tác phẩm chính được xuất bản trong khoảng từ 1897 đến 1921; và xét đến phạm vi rộng lớn cùng sự cẩn trọng tỉ mỉ trong việc trích lọc chúng, thông tin được đối chiếu ấy có thể được xem là tóm lược khá đúng các quan điểm chung về đề tài này cho đến năm 1925.

In more recent years, a better appreciation has been built up of the way the unconscious mind functions, and sources of possible error have been discerned in the operation of mediumistic faculties which necessitate caution concerning information obtained through their use. Much of the contents of The Etheric Double is derived from the exercise of clair-sentience (or extrasensory perception, as it is now called) and although the contents may be accurate, there is as yet no accepted method of confirming them. This is not to cast doubt on the honesty of those who recorded the observations; they were persons of unimpeachable integrity who continually emphasised their pioneering status and fallibility. There is no doubt that the psychic phenomena they described were experienced by them and, indeed, others have since confirmed some of their accounts. The sources of possible error referred to lie one state deeper than that - in the psychic mechanisms for experiencing what they did. This is the still unresolved and fascinating province of parapsychology.

Trong những năm gần đây hơn, người ta đã xây dựng được một sự nhận thức tốt hơn về cách thể trí vô thức vận hành, và đã phân biện được những nguồn sai lầm khả hữu trong hoạt động của các năng lực đồng tử, điều này đòi hỏi sự thận trọng đối với thông tin thu được nhờ sử dụng chúng. Phần lớn nội dung của Bản Sao Dĩ Thái bắt nguồn từ việc thực hành cảm nhận thông nhạy, hay tri giác ngoài giác quan như hiện nay người ta gọi, và dù nội dung có thể chính xác, cho đến nay vẫn chưa có phương pháp được chấp nhận để xác nhận chúng. Điều này không nhằm gieo nghi ngờ về sự trung thực của những người đã ghi lại các quan sát; họ là những người có liêm chính không thể chê trách, luôn nhấn mạnh địa vị tiên phong và khả năng sai lầm của mình. Không nghi ngờ gì rằng các hiện tượng thông linh mà họ mô tả đã được chính họ trải nghiệm, và thật vậy, những người khác về sau đã xác nhận một số tường thuật của họ. Các nguồn sai lầm khả hữu được nói đến nằm sâu hơn một tầng so với điều đó — trong các bộ máy thông linh dùng để trải nghiệm những gì họ đã trải nghiệm. Đây là lĩnh vực vẫn còn chưa được giải quyết và đầy hấp dẫn của cận tâm lý học.

Further assistance can be expected towards corroborating or refuting the observations and the theory of the etheric double from data emerging in the natural sciences, but at present there are few points of contact. Space craft have taken recording instruments to Mars and Venus, and electron microscopes in common laboratory service provide enormous magnifications of what is normally invisible, but there is hardly any information relating to etheric states of matter that has been acquired in a similar direct and orthodox way. Work with recording devices has so far failed to detect etheric matter in its normal working state and thereby confirm it as physical or near-physical substance. Probably the closest approach has been in studies of ectoplasm, which seems to be the temporary and abnormal condition of a plastic and extrudable component of the human body that becomes amenable to test only when it has been made external and densified into tangible form by the special and unconsciously exercised psychic abilities of certain rare people. When the densification ceases and the material is withdrawn again into the donor's body, it could well be returning to its function as part of a less easily identified etheric constitution. However, much more work is needed before this can be concluded with any confidence.

Có thể kỳ vọng sự hỗ trợ thêm trong việc chứng thực hoặc bác bỏ các quan sát và lý thuyết về bản sao dĩ thái từ những dữ liệu đang xuất hiện trong các khoa học tự nhiên, nhưng hiện nay có rất ít điểm tiếp xúc. Tàu vũ trụ đã đưa các thiết bị ghi nhận đến Sao Hỏa và Sao Kim, và kính hiển vi điện tử trong việc sử dụng phòng thí nghiệm thông thường cung cấp những độ phóng đại khổng lồ đối với những gì bình thường không thể thấy, nhưng hầu như không có thông tin nào liên quan đến các trạng thái dĩ thái của vật chất được thu nhận theo một cách trực tiếp và chính thống tương tự. Cho đến nay, công việc với các thiết bị ghi nhận đã không phát hiện được vật chất dĩ thái trong trạng thái hoạt động bình thường của nó, và do đó chưa xác nhận được nó là chất liệu hồng trần hoặc gần hồng trần. Có lẽ cách tiếp cận gần nhất là trong các nghiên cứu về ngoại chất, vốn dường như là tình trạng tạm thời và bất thường của một thành phần dẻo và có thể đùn ra của thể xác con người, chỉ trở nên có thể kiểm nghiệm khi nó đã được đưa ra ngoài và làm đậm đặc thành hình tướng hữu hình nhờ những khả năng thông linh đặc biệt và được vận dụng một cách vô thức của một số người hiếm có. Khi sự làm đậm đặc chấm dứt và chất liệu lại được rút vào thể của người hiến, rất có thể nó đang trở về chức năng của mình như một phần trong cấu tạo dĩ thái khó nhận diện hơn. Tuy nhiên, cần nhiều công trình hơn nữa trước khi có thể kết luận điều này với bất kỳ mức độ tin cậy nào.

Since rigorously established evidence can still neither confirm nor deny, it is reasonable to hold the theory and information presented here as a hypothesis for further investigation. This is the procedure in all scientific work and, in fact, little progress can be made without some tentative working concept as context and guide. But it is essential to remember that an adopted hypothesis may have to be modified or even rejected as the work proceeds, and this is most likely during the early stages of an exploration. It happens frequently in the natural sciences of the physical world for which our ordinary language and mathematical symbology are expressly designed. How much more likely must this be in a domain more psychic than physical.

Vì chứng cứ được thiết lập nghiêm ngặt vẫn chưa thể xác nhận cũng chưa thể phủ nhận, nên hợp lý khi xem lý thuyết và thông tin được trình bày ở đây như một giả thuyết để khảo sát thêm. Đây là thủ tục trong mọi công trình khoa học, và thật ra, khó có thể đạt được nhiều tiến bộ nếu không có một quan niệm làm việc tạm thời nào đó làm bối cảnh và kim chỉ nam. Nhưng điều thiết yếu là phải nhớ rằng một giả thuyết đã được chấp nhận có thể phải được sửa đổi, hoặc thậm chí bị bác bỏ, khi công việc tiến hành; và điều này rất có khả năng xảy ra trong các giai đoạn đầu của một cuộc thám cứu. Điều đó thường xảy ra trong các khoa học tự nhiên của thế giới hồng trần, mà ngôn ngữ thông thường và hệ ký hiệu toán học của chúng ta được thiết kế rõ ràng cho nó. Vậy điều này hẳn còn có khả năng xảy ra nhiều hơn biết bao trong một lĩnh vực mang tính thông linh hơn là hồng trần.

Modern investigators continue the quest for a deeper understanding of Man's nature and constitution and they have noted the more recent developments in psychology and parapsychology that underlie the caution sounded here. However, their gratitude is due to Powell for his orderly presentation of statements and ideas current in the 1925; time and effort need not now be spent on the reference material that he so ably examined for them. Here is ample justification for reprinting his work just as he wrote it.

Các nhà khảo cứu hiện đại tiếp tục cuộc tìm kiếm để thấu hiểu sâu hơn bản chất và cấu tạo của Con người, và họ đã ghi nhận những phát triển gần đây hơn trong tâm lý học và cận tâm lý học, vốn làm nền cho sự thận trọng được nêu lên ở đây. Tuy nhiên, họ mắc nợ lòng biết ơn đối với Powell vì sự trình bày có trật tự của ông về những phát biểu và ý tưởng thịnh hành vào năm 1925; nay không cần phải tốn thời gian và công sức cho tài liệu tham khảo mà ông đã xem xét rất tài tình thay cho họ. Đây là sự biện minh đầy đủ cho việc tái bản tác phẩm của ông đúng như ông đã viết.

The Science Group, Theosophical Research Centre, London, England.

Nhóm Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Thông Thiên Học, Luân Đôn, Anh quốc.

H.Tudor Edmunds, Chairman - 1968

H.Tudor Edmunds, Chủ tịch - 1968

INTRODUCTION – DẪN NHẬP

This book has been compiled with the object of presenting to the student of Occultism a coherent synthesis of all, or nearly all, the information regarding the Etheric Double, and other closely allied phenomena, which has been given to the world through the medium of modern Theosophical and psychical research literature.

Quyển sách này được biên soạn nhằm trình bày cho đạo sinh huyền bí học một tổng hợp mạch lạc về tất cả, hoặc gần như tất cả, thông tin liên quan đến Bản sao Dĩ thái và các hiện tượng liên hệ mật thiết khác, vốn đã được đưa ra cho thế giới thông qua trung gian của văn liệu nghiên cứu Thông Thiên Học hiện đại và nghiên cứu thông linh.

This information is scattered over a very large number of books and articles, some forty of which the compiler has consulted, a list of these being given at the end of this document. The writer wishes it understood that his work is a compilation - nothing more. All he has done is to collect and arrange the material which others have provided.

Thông tin này rải rác trong một số lượng rất lớn sách và bài viết, khoảng bốn mươi trong số đó người biên soạn đã tham khảo, danh sách các sách ấy được đưa ra ở cuối tài liệu này. Người viết mong muốn được hiểu rằng công trình của ông là một bản biên soạn — không hơn. Tất cả những gì ông đã làm là thu thập và sắp xếp chất liệu mà những người khác đã cung cấp.

There are many advantages in this method of study. In these busy days few have the leisure, even if they possess the inclination, to search through some scores of books for scattered item of knowledge, and then to weld them into a coherent whole. It is better, therefore, for one to do this work, that others may benefit and save their own time and labour. The work of the compiler brings to light many new relationships between fragments culled from divers sources, and under his hand the mosaic gradually forms itself into a pattern. His work, necessarily intensive, recalls to notice many isolated and often forgotten facts, which may be of little value or interest considered individually, but which collectively constituted a substantial and useful array. Finally, the picture which the compiler presents not only displays in orderly fashion what is know today, but, by its very orderliness, reveals where our knowledge is incomplete. Recognising such gaps in our knowledge, other investigators may perhaps turn their attention in those directions and so make the picture more nearly complete.

Có nhiều lợi ích trong phương pháp học tập này. Trong những ngày bận rộn này, ít người có thời giờ nhàn rỗi, ngay cả khi họ có khuynh hướng, để tìm kiếm trong vài chục quyển sách những mẩu tri thức rải rác, rồi sau đó hàn gắn chúng thành một toàn thể mạch lạc. Vì vậy, tốt hơn là một người làm công việc này, để những người khác có thể hưởng lợi và tiết kiệm thời gian cùng công sức của chính họ. Công việc của người biên soạn đưa ra ánh sáng nhiều mối liên hệ mới giữa các mảnh vụn được chọn lọc từ nhiều nguồn khác nhau, và dưới bàn tay ông, bức khảm dần dần tự hình thành thành một mô hình. Công việc của ông, tất yếu có tính chuyên sâu, gợi lại sự chú ý đến nhiều sự kiện cô lập và thường bị lãng quên, những sự kiện có thể ít giá trị hoặc ít đáng quan tâm nếu xét riêng lẻ, nhưng khi hợp lại thì cấu thành một tập hợp đáng kể và hữu ích. Sau cùng, bức tranh mà người biên soạn trình bày không chỉ phô bày một cách có trật tự những gì ngày nay được biết, mà chính nhờ tính trật tự ấy, còn cho thấy tri thức của chúng ta còn thiếu sót ở đâu. Khi nhận ra những khoảng trống như thế trong tri thức của chúng ta, những nhà khảo cứu khác có lẽ sẽ hướng sự chú ý của họ về các phương ấy, và nhờ vậy làm cho bức tranh gần hoàn chỉnh hơn.

The compiler has throughout used his best endeavour to present the material he has gathered with scrupulous exactitude. In very many cases he has employed the actual words, adapted or abridged where necessary to the context, of the authors he has consulted; but, not to make the text burdensome and unsightly with large numbers of inverted commas, these have been consistently omitted. In order, however, that students may, if they wish, refer to the original sources of information, the references have been provided, in abbreviated or long form,

Trong toàn bộ công trình, người biên soạn đã dùng nỗ lực tốt nhất của mình để trình bày chất liệu ông đã thu thập với sự chính xác nghiêm cẩn. Trong rất nhiều trường hợp, ông đã sử dụng chính lời văn, được điều chỉnh hoặc rút gọn khi cần cho phù hợp với ngữ cảnh, của các tác giả mà ông đã tham khảo; nhưng để khỏi làm văn bản trở nên nặng nề và khó coi với số lượng lớn dấu ngoặc kép, các dấu ấy đã được lược bỏ nhất quán. Tuy nhiên, để các đạo sinh, nếu muốn, có thể tham chiếu đến các nguồn thông tin nguyên thủy, các tham chiếu đã được cung cấp, dưới dạng rút gọn hoặc đầy đủ,

The compiler would be grateful to any students who would call his attention (1) to any inaccuracies in his work; (2) to any omissions of material which he may have overlooked.

Người biên soạn sẽ biết ơn bất kỳ đạo sinh nào lưu ý ông về (1) bất kỳ điểm thiếu chính xác nào trong công trình của ông; (2) bất kỳ sự bỏ sót chất liệu nào mà ông có thể đã không nhận ra.

The diagrams and charts contained in the text are original; they are intended to be purely diagrammatic, and in no sense pictures of the actual phenomena they attempt to illustrate.

Các sơ đồ và biểu đồ trong văn bản là nguyên bản; chúng được dự định chỉ mang tính sơ đồ thuần túy, và hoàn toàn không phải là những hình ảnh của các hiện tượng thực sự mà chúng cố gắng minh họa.

A.E.Powell

A.E.Powell

CHAPTER 1 – CHƯƠNG 1

GENERAL DESCRIPTION – MÔ TẢ TỔNG QUÁT

Every student of Occultism is familiar with the fact that man possesses several bodies or vehicles through which he is enabled to express himself on the various planes of nature – physical, astral, mental, and so forth.

Mọi đạo sinh huyền bí học đều quen thuộc với sự kiện rằng con người sở hữu nhiều thể hoặc hiện thể, qua đó y có thể biểu lộ chính mình trên các cõi khác nhau của thiên nhiên – hồng trần, cảm dục, trí tuệ, vân vân.

The occultist finds that physical matter exists in seven grades or orders of density, viz.:

Nhà huyền bí học nhận thấy rằng vật chất hồng trần tồn tại trong bảy cấp hay bậc đậm đặc, cụ thể là:

Atomic

Nguyên tử

Subatomic

Dưới nguyên tử

Super-Etheric

Siêu dĩ thái

Etheric

Dĩ thái

Gaseous

Khí

Liquid

Lỏng

Solid

Rắn

Particles of all these grades enter into the composition of the physical vehicle. The latter, however, has two well-marked divisions, viz., the dense body, composed of solids, liquids and gases, and the Etheric Body, or Double, as it is frequently called, consisting of the four finer grades of physical matter.

Các hạt thuộc tất cả những cấp độ này đi vào thành phần cấu tạo của vận cụ hồng trần. Tuy nhiên, vận cụ này có hai phân bộ rõ rệt, tức là thể đậm đặc, gồm các chất rắn, lỏng và khí, và Thể Dĩ Thái, hay Bản Sao, như nó thường được gọi, gồm bốn cấp độ tinh vi hơn của vật chất hồng trần.

It will be our purpose in these chapters to study this Etheric Double; its nature, appearance, functions, its relationships to the other vehicles, its connection with Prâna, or Vitality, its birth, growth and decay, its connection with certain methods of healing, with mesmerism, with mediumship and materialisations, the powers it can be made to exercise, and a host of miscellaneous etheric phenomena with which it is connected.

Mục đích của chúng ta trong các chương này là nghiên cứu Bản Sao Dĩ Thái này: bản chất, sắc tướng, chức năng của nó, các mối liên hệ của nó với những vận cụ khác, sự liên hệ của nó với Prana, hay Sinh lực, sự sinh ra, tăng trưởng và suy tàn của nó, sự liên hệ của nó với một số phương pháp chữa trị, với thuật thôi miên, với đồng tử thuật và các hiện hình, những quyền năng mà nó có thể được khiến vận dụng, cùng vô số hiện tượng dĩ thái khác nhau có liên quan đến nó.

Briefly, we shall find that the Etheric Double, while necessary to the life of the physical body, is not, properly speaking, a separate vehicle of consciousness: that it receives and distributes the vital force which emanates from the sun and is thus intimately connected with physical health: that it possesses certain Chakrams or Force-Centres of its own, each with its distinct function: that upon the action of etheric matter mainly depends the memory of the dream life: that it plays an important part in determining the kind of physical vehicle which an incarnating ego will receive: that, like the physical body, it dies and decays in due course, releasing the “soul” for the next stage in its cyclic journey: that it is especially associated with what is known as Vital or Magnetic Healing, and also with Mesmerism, whether for purposes of healing, anæsthesia, or trance: that it is the principal factor concerned in séance-room phenomena, such as the movement of objects, production of “raps” and other sounds, and materialisations of all kinds: that the development of etheric faculties confers new powers and reveals many etheric phenomena, which are beyond the experience of most men: that by the use of the matter of the etheric body objects may be “magnetised”, much as living beings may be mesmerised: and, finally, that the etheric body provides the material out of which the substance known as ectoplasm is formed.

Tóm lại, chúng ta sẽ thấy rằng Bản Sao Dĩ Thái, tuy cần thiết cho sự sống của thể xác, nhưng nói cho đúng, không phải là một vận cụ tâm thức riêng biệt; rằng nó tiếp nhận và phân phối mãnh lực sinh lực phát ra từ mặt trời, và do đó liên hệ mật thiết với sức khỏe hồng trần; rằng nó có một số luân xa hay trung tâm mãnh lực riêng, mỗi trung tâm có chức năng riêng biệt; rằng ký ức về đời sống mộng phần lớn tùy thuộc vào hoạt động của vật chất dĩ thái; rằng nó đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định loại vận cụ hồng trần mà một chân ngã đang nhập thể sẽ nhận được; rằng, giống như thể xác, nó chết và tan rã đúng kỳ hạn, giải phóng “linh hồn” cho giai đoạn kế tiếp trong hành trình chu kỳ của nó; rằng nó đặc biệt liên hệ với điều được gọi là Trị Liệu Sinh Lực hay Từ Tính, và cũng với thuật thôi miên, dù nhằm mục đích chữa trị, gây mê hay xuất thần; rằng nó là yếu tố chính liên quan đến các hiện tượng trong phòng gọi hồn, như sự di chuyển đồ vật, tạo ra những “tiếng gõ” và các âm thanh khác, cùng mọi loại hiện hình; rằng sự phát triển các năng lực dĩ thái đem lại những quyền năng mới và mặc khải nhiều hiện tượng dĩ thái vượt ngoài kinh nghiệm của đa số con người; rằng nhờ dùng vật chất của thể dĩ thái, các đồ vật có thể được “từ hóa”, cũng như các sinh linh có thể bị thôi miên; và sau cùng, rằng thể dĩ thái cung cấp vật liệu để từ đó chất liệu được gọi là ectoplasm được hình thành.

The Etheric Double has been given a variety of names. In early Theosophical literature it was often called the astral body, the astral man, or the Linga Sharîra. In all later writings, however, none of these terms are ever applied to the Etheric Double, as they belong properly to the body composed of astral matter, the body of Kâma of the Hindus. In reading the Secret Doctrine, therefore, and other books of the older literature, the student must be on his guard not to confuse the two quite distinct bodies, known today as the Etheric Double and the Astral Body.

Bản Sao Dĩ Thái đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Trong văn liệu Thông Thiên Học thời kỳ đầu, nó thường được gọi là thể cảm dục, người cảm dục, hay Linga Sharira. Tuy nhiên, trong mọi tác phẩm về sau, không thuật ngữ nào trong số này còn được áp dụng cho Bản Sao Dĩ Thái, vì chúng đúng ra thuộc về thể được cấu tạo bằng vật chất cảm dục, tức thể Kama của người Ấn giáo. Vì vậy, khi đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và các sách khác thuộc văn liệu cổ hơn, đạo sinh phải cẩn trọng để không lẫn lộn hai thể hoàn toàn khác biệt, ngày nay được biết là Bản Sao Dĩ Thái và Thể Cảm Dục.

The correct Hindu name for the Etheric Double is Prânamâyakosha, or vehicle of Prâna: in German it is known as the “Doppelgänger”: after death, when separated from the dense physical body, it is known as the “wraith”, and has also been called the “phantom”, “apparition”, or “churchyard ghost”. In Râja Yoga the Etheric Double and the dense body together are known as the Sthũlopâdhi, or lowest Upâdhi of Âtmâ.

Tên Ấn giáo đúng của Bản Sao Dĩ Thái là Pranamaya-kosha, hay vận cụ của Prana; trong tiếng Đức, nó được gọi là “Doppelganger”; sau khi chết, khi đã tách khỏi thể xác đậm đặc, nó được biết đến như “bóng ma”, và cũng từng được gọi là “ảo ảnh”, “hiện bóng”, hay “ma nghĩa địa”. Trong Raja Yoga, Bản Sao Dĩ Thái và thể đậm đặc hợp lại được gọi là Sthulopadhi, hay Upadhi thấp nhất của Atma.

Every solid, liquid and gaseous particle of the physical body is surrounded with an etheric envelope: hence the Etheric Double, as its name implies, is a perfect duplicate of the dense form. In size it projects about one quarter of an inch beyond the skin. The etheric aura, however, or health Aura as it is frequently called, projects normally several inches beyond the skin: this will be further described later.

Mỗi hạt rắn, lỏng và khí của thể xác đều được bao quanh bởi một lớp vỏ dĩ thái; do đó Bản Sao Dĩ Thái, như tên gọi của nó hàm ý, là bản sao hoàn hảo của hình tướng đậm đặc. Về kích thước, nó nhô ra ngoài da khoảng một phần tư inch. Tuy nhiên, hào quang dĩ thái, hay Hào quang sức khỏe như nó thường được gọi, thông thường nhô ra ngoài da vài inch; điều này sẽ được mô tả thêm về sau.

It is important to notice that the dense body and the Etheric Double vary together as to their quality: hence one who sets himself deliberately to purify his dense body, at the same time automatically refines its etheric counterpart.

Điều quan trọng cần lưu ý là thể đậm đặc và Bản Sao Dĩ Thái cùng biến đổi về phẩm tính; do đó, người nào cố ý thanh lọc thể đậm đặc của mình thì đồng thời cũng tự động tinh luyện đối phần dĩ thái của nó.

Into the composition of the Etheric Double must enter something of all the different grades of etheric matter, but the proportions may vary greatly, and are determined by several factors, such as the race, sub-race, and the type of man, as well as by his individual karma.

Trong thành phần cấu tạo của Bản Sao Dĩ Thái phải có một phần nào đó của tất cả các cấp độ khác nhau của vật chất dĩ thái, nhưng các tỷ lệ có thể biến thiên rất lớn, và được quyết định bởi nhiều yếu tố, như nhân loại, giống dân phụ, loại người, cũng như nghiệp quả cá nhân của y.

As yet, the only information which the compiler has been able to gather regarding the particular properties and functions of each of the four grades of etheric matter is the following:-

Cho đến nay, thông tin duy nhất mà người biên soạn có thể thu thập được về các đặc tính và chức năng riêng của mỗi trong bốn cấp độ vật chất dĩ thái là như sau:

1

Etheric

The medium of ordinary current electricity, and of sound.

2

Super-Etheric

The medium of light.

3

Subatomic

The medium of the “finer forms of electricity”.

4

Atomic

The medium for the transmission of thought from brain to brain

The following is stated, in Theosophy for May, 1922, by F.T. Pierce, to be probably correct:-

Điều sau đây được F. T. Pierce nêu trong Thông Thiên Học số tháng Năm năm 1922 là có lẽ đúng:

Occult Chemistry

Physics

Example

E-1-

Atomic

Electronic

Electron

E-2-

Subatomic

Positive Nucleus

Alpha Particle

E-3-

Super-Etheric

Neutralised Nucleus

Neutron

E-4-

Etheric

Atomic

Nascent N.

Atomic H.

Gaseous

Molecular Gas, etc.

H2 , N2 or gaseous compounds

In appearance the Etheric Double is a pale violet-grey or blue-grey, faintly luminous, and coarse or fine in texture according as the dense physical body is coarse or fine.

Về sắc tướng, Bản Sao Dĩ Thái có màu tím xám nhạt hoặc xanh xám, phát sáng mờ, và có kết cấu thô hay mịn tùy theo thể xác đậm đặc thô hay mịn.

The Etheric Double has two main functions. Firstly, it absorbs Prâna, or Vitality, and distributes this to the whole body, as we shall see in detail presently.

Bản Sao Dĩ Thái có hai chức năng chính. Thứ nhất, nó hấp thụ Prana, hay Sinh lực, và phân phối sinh lực ấy khắp toàn thân, như chúng ta sẽ thấy chi tiết ngay sau đây.

Secondly, it acts as an intermediary or bridge between the dense physical body and the astral body, transmitting the consciousness of physical sense-contacts through the etheric brain to the astral body, and also transmitting consciousness from the astral and higher levels down into the physical brain and nervous system.

Thứ hai, nó hoạt động như một trung gian hay cây cầu giữa thể xác đậm đặc và thể cảm dục, truyền tâm thức về các tiếp xúc giác quan hồng trần qua bộ não dĩ thái đến thể cảm dục, đồng thời cũng truyền tâm thức từ các cấp độ cảm dục và cao hơn xuống bộ não hồng trần và hệ thần kinh.

In addition, the Etheric Double develops within itself certain Centres by means of which the man is able to cognise the etheric world and its hosts of etheric phenomena. These powers or faculties will also be described in due course.

Ngoài ra, Bản Sao Dĩ Thái phát triển bên trong nó một số Trung tâm nhờ đó con người có thể nhận biết thế giới dĩ thái và vô số hiện tượng dĩ thái của thế giới ấy. Các quyền năng hay năng lực này cũng sẽ được mô tả đúng lúc.

It is important to recognise that the Etheric Double, being merely a part of the physical body, is not normally capable of acting as a separate vehicle of consciousness, in which a man can live or function. It has only a diffused consciousness belonging to its parts, and has no mentality, nor does it readily serve as a medium of mentality, when disjoined from the dense counterpart. As it is a vehicle, not of mental consciousness, but of Prâna or Vitality, its dislocation from the dense particles to which it conveys the life-currents is disturbing and unhealthy. In normal, healthy persons, in fact, the separation of the Etheric Double from the dense body is a matter of difficulty, and the Double is unable to move away from the body to which it belongs.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng Bản Sao Dĩ Thái, vì chỉ là một phần của thể xác, nên thông thường không có khả năng hoạt động như một vận cụ tâm thức riêng biệt, trong đó con người có thể sống hay vận hành. Nó chỉ có một tâm thức khuếch tán thuộc về các phần của nó, và không có trí năng, cũng không dễ dàng phục vụ như một trung gian của trí năng khi bị tách khỏi đối phần đậm đặc. Vì nó là vận cụ không phải của tâm thức trí tuệ, mà của Prana hay Sinh lực, nên việc nó bị lệch ra khỏi các hạt đậm đặc mà nó truyền các dòng sự sống đến là điều gây rối loạn và không lành mạnh. Thật vậy, nơi những người bình thường, khỏe mạnh, việc tách Bản Sao Dĩ Thái khỏi thể đậm đặc là điều khó khăn, và Bản Sao không thể rời xa thể mà nó thuộc về.

In persons known as physical or materialising mediums the Double is comparatively easily detachable, and its etheric matter forms the basis of many phenomena of materialisation, which will be dealt with more fully in a later chapter.

Nơi những người được biết là đồng tử hồng trần hay đồng tử hiện hình, Bản Sao tương đối dễ tách rời, và vật chất dĩ thái của nó tạo thành nền tảng cho nhiều hiện tượng hiện hình, những điều sẽ được đề cập đầy đủ hơn trong một chương sau.

The Double may be separated from the dense physical body by accident, death, anæsthetics, such as ether or gas, or mesmerism. The Double being the connecting link between the brain and the higher consciousness, the forcible extrusion of it from the dense physical body by anæsthetics necessarily produces anæsthesia.

Bản Sao có thể bị tách khỏi thể xác đậm đặc do tai nạn, cái chết, thuốc gây mê như ether hay khí, hoặc thuật thôi miên. Vì Bản Sao là mắt xích nối kết giữa bộ não và tâm thức cao hơn, việc dùng thuốc gây mê cưỡng bách đẩy nó ra khỏi thể xác đậm đặc tất yếu tạo ra trạng thái mất cảm giác.

Further than this, the etheric matter thus forced out usually wraps itself round the astral body, and dulls the consciousness of that vehicle also; hence after the effects of anæsthetics have worn off there is usually no memory in the brain consciousness of the time spent in the astral vehicle.

Hơn nữa, vật chất dĩ thái bị cưỡng bức đẩy ra như thế thường tự quấn quanh thể cảm dục, và cũng làm mờ tâm thức của vận cụ ấy; do đó, sau khi tác dụng của thuốc gây mê tan đi, trong tâm thức bộ não thường không còn ký ức về thời gian đã trải qua trong vận cụ cảm dục.

The method and consequences of withdrawal of etheric matter by mesmerism will be dealt with more fully in the chapter specially devoted to the purpose.

Phương pháp và hậu quả của việc rút vật chất dĩ thái bằng thuật thôi miên sẽ được đề cập đầy đủ hơn trong chương đặc biệt dành cho mục đích ấy.

In conditions of weak health or nervous excitement the Etheric Double may also in great part be extruded from its dense counterpart: the latter then becomes very dully conscious, or entranced, according to the lesser or greater amount of the etheric matter extruded.

Trong tình trạng sức khỏe yếu hoặc kích động thần kinh, Bản Sao Dĩ Thái cũng có thể phần lớn bị đẩy ra khỏi đối phần đậm đặc của nó; khi đó đối phần đậm đặc trở nên rất mờ nhạt về tâm thức, hoặc rơi vào trạng thái xuất thần, tùy theo lượng vật chất dĩ thái bị đẩy ra ít hay nhiều.

Separation of the Double from the dense body is generally accompanied by a considerable decrease of vitality in the latter, the double becoming more vitalised as the energy in the dense body diminishes. In Posthumous Humanity Colonel Olcott says:-

Sự tách rời của Bản Sao khỏi thể đậm đặc thường đi kèm với sự giảm sút đáng kể sinh lực trong thể sau, trong khi bản sao trở nên được tiếp sinh lực nhiều hơn khi năng lượng trong thể đậm đặc suy giảm. Trong Nhân Loại Sau Khi Chết, Đại tá Olcott nói:

“When the double is projected by a trained expert, even the body seems torpid, and the mind in a ‘brown study’ or dazed state; the eyes are lifeless in expression, the heart and lung actions feeble and often temperature much lowered. It is very dangerous to make any sudden noise or burst into a room under such circumstances; for, the double being by instantaneous reaction drawn back into the body, the heart convulsively palpitates, and death may be caused.”

“Khi bản sao được phóng chiếu bởi một chuyên gia đã được huấn luyện, ngay cả thân thể cũng có vẻ đờ đẫn, và thể trí ở trong trạng thái ‘trầm tư’ hoặc choáng váng; đôi mắt không có sinh khí trong biểu hiện, hoạt động của tim và phổi yếu ớt, và nhiệt độ thường hạ xuống nhiều. Trong những hoàn cảnh như thế, rất nguy hiểm nếu gây ra bất kỳ tiếng động đột ngột nào hoặc xông vào phòng; vì bản sao, do phản ứng tức thời, bị kéo trở lại thân thể, tim đập co thắt dữ dội, và cái chết có thể xảy ra.”

So intimate, in fact, is the connection between the etheric and the dense bodies that an injury inflicted on the Etheric Double will appear as a lesion on the dense body, this being an instance of the curious phenomenon known as repercussion. It is well known that repercussion can also occur in the case of the astral body, an injury to the latter, under certain circumstances, reproducing itself in the physical body.

Thật vậy, mối liên hệ giữa các thể dĩ thái và đậm đặc mật thiết đến mức một thương tổn gây ra cho Bản Sao Dĩ Thái sẽ xuất hiện như một tổn thương trên thể đậm đặc; đây là một trường hợp của hiện tượng kỳ lạ được biết đến là phản chấn. Ai cũng biết rằng phản chấn cũng có thể xảy ra trong trường hợp thể cảm dục; một thương tổn nơi thể ấy, trong một số hoàn cảnh nhất định, tự tái hiện trong thể xác.

It seems probable, however, that repercussion can occur only in the case of a perfect materialisation, where the form is both visible and tangible, and not when it is:-1.) tangible though not visible, or 2.) visible though not tangible

Tuy nhiên, dường như có thể phản chấn chỉ xảy ra trong trường hợp một hiện hình hoàn hảo, khi hình tướng vừa thấy được vừa sờ được, chứ không xảy ra khi nó: 1.) sờ được nhưng không thấy được, hoặc 2.) thấy được nhưng không sờ được.

It must be born in mind that the above applies only where matter of the Etheric Double is used for the materialised form. When the materialisation is formed of matter, from the circumambient ether, an injury to the form could affect the physical body by repercussion no more than an injury to a marble statue could injure the man himself.

Cần ghi nhớ rằng điều trên chỉ áp dụng khi vật chất của Bản Sao Dĩ Thái được dùng cho hình tướng hiện hình. Khi hiện hình được tạo bằng vật chất lấy từ dĩ thái bao quanh, một thương tổn đối với hình tướng không thể ảnh hưởng đến thể xác bằng phản chấn hơn gì một thương tổn đối với pho tượng cẩm thạch có thể làm tổn thương chính con người.

It must also be born in mind that etheric matter, though invisible to ordinary sight, is still purely physical, and can therefore be affected by cold and heat, and also powerful acids.

Cũng cần ghi nhớ rằng vật chất dĩ thái, dù vô hình đối với thị giác thông thường, vẫn thuần túy là hồng trần, và do đó có thể chịu tác động của lạnh và nóng, cũng như các acid mạnh.

Persons who have lost a limb by amputation sometimes complain that they can feel pain at the extremities of the amputated limb, i.e., at the place where the limb used to be.

Những người mất một chi do cắt cụt đôi khi than phiền rằng họ có thể cảm thấy đau ở các đầu mút của chi đã bị cắt, tức là tại nơi chi ấy từng hiện hữu.

This is due to the fact that the etheric portion of the limb is not removed with the dense physical portion, but can still be seen in its place by clairvoyant sight, and therefore, under suitable stimulus, sensations can be aroused in this etheric limb and transmitted to the consciousness.

Điều này là do phần dĩ thái của chi không bị lấy đi cùng với phần hồng trần đậm đặc, mà vẫn có thể được thấy tại chỗ của nó bằng thị giác thông nhãn; do đó, dưới kích thích thích hợp, các cảm giác có thể được khơi dậy trong chi dĩ thái này và truyền đến tâm thức.

There are a large number of other phenomenon connected with the Etheric Double, its extrusion from the dense body, its emanations, and so forth, but these can be dealt with more conveniently and satisfactorily at a later stage, after we have studied the nature and methods of working Prâna, or Vitality.

Có rất nhiều hiện tượng khác liên quan đến Bản Sao Dĩ Thái, sự đẩy nó ra khỏi thể đậm đặc, các xuất lộ của nó, v.v.; nhưng những điều này có thể được đề cập thuận tiện và thỏa đáng hơn ở giai đoạn sau, sau khi chúng ta đã nghiên cứu bản chất và các phương pháp hoạt động của Prana, hay Sinh lực.

CHAPTER II – CHƯƠNG II

PRÂNA, OR VITALITY – PRANA, HAY SINH LỰC

It is known to occultists that there are at least three separate and distinct forces which emanate from the sun and reach our planet. There may be countless other forces, for all we know to the contrary, but at any rate we know of these three. They are: -

Các nhà huyền bí học biết rằng có ít nhất ba mãnh lực riêng biệt và khác nhau phát ra từ mặt trời và đến hành tinh của chúng ta. Có thể có vô số mãnh lực khác, theo tất cả những gì chúng ta chưa biết ngược lại, nhưng dù sao chúng ta cũng biết ba mãnh lực này. Chúng là:

1. Fohat, or Electricity

1. Fohat, hay Điện lực

2. Prâna, or Vitality

2. Prana, hay Sinh lực

3. Kundalini, or Serpent-Fire

3. Kundalini, hay Lửa Rắn

Fohat or Electricity, comprises practically all the physical forces of which we know, all of which are convertible into one another, such as electricity, magnetism, light, heat, sound, chemical affinity, motion, and so forth.

Fohat hay Điện lực, trên thực tế bao gồm tất cả các mãnh lực hồng trần mà chúng ta biết, tất cả đều có thể chuyển đổi lẫn nhau, như điện lực, từ điện, ánh sáng, nhiệt, âm thanh, ái lực hóa học, chuyển động, v.v.

Prâna, or Vitality, is a vital force, the existence of which is not yet formally recognised by orthodox Western scientists, though probably a few of them suspect it.

Prana, hay Sinh lực, là một mãnh lực sinh động mà sự tồn tại của nó chưa được các nhà khoa học phương Tây chính thống chính thức thừa nhận, dù có lẽ một số ít trong họ nghi ngờ có nó.

Kundalini, or Serpent-Fire, is a force known as yet only to very few. It is entirely unknown and unsuspected by orthodox Western science.

Kundalini, hay Lửa Rắn, là một mãnh lực cho đến nay chỉ rất ít người biết. Khoa học phương Tây chính thống hoàn toàn không biết và cũng không nghi ngờ gì về nó.

These three forces remain distinct, and none of them can at this level be converted into either of the others. This is a point of great importance, which the student should clearly grasp.

Ba mãnh lực này vẫn riêng biệt, và ở cấp độ này không mãnh lực nào trong chúng có thể được chuyển đổi thành bất kỳ mãnh lực nào trong hai mãnh lực kia. Đây là một điểm có tầm quan trọng lớn, mà đạo sinh cần nắm vững rõ ràng.

Further, these three forces have no connection with the Three Great Outpourings; the Outpourings are definite efforts made by the Solar Deity. Fohat, Prâna and Kundalini, on the other hand, seem rather the results of His Life, His qualities in manifestation without any visible effort.

Hơn nữa, ba mãnh lực này không có liên hệ với Ba Lần Tuôn Đổ Vĩ Đại; các Lần Tuôn Đổ là những nỗ lực xác định do Thái dương Thượng đế thực hiện. Trái lại, Fohat, Prana và Kundalini dường như đúng hơn là các kết quả của Sự Sống của Ngài, các phẩm tính của Ngài trong biểu hiện mà không có nỗ lực hữu hình nào.

[Since this document was compiled, The Chakras by C.W.Leadbeater, has appeared. In The Chakras it is stated that the three forces mentioned are connected with the Outpourings, as follows:

[Kể từ khi tài liệu này được biên soạn, Các Luân Xa của C. W. Leadbeater đã xuất hiện. Trong Các Luân Xa, có nêu rằng ba mãnh lực vừa đề cập có liên hệ với các Lần Tuôn Đổ, như sau:

The First Outpouring, from the Third Logos, is the Primary force which manufactured the chemical elements. This appears to be Fohat. The Second Outpouring, form the Second Logos, has Prâna as one of its aspects.

Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, từ Ngôi Thượng Đế Thứ Ba, là mãnh lực nguyên thủy đã tạo ra các nguyên tố hóa học. Mãnh lực này dường như là Fohat. Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, từ Ngôi Thượng Đế Thứ Hai, có Prana là một trong các phương diện của nó.

Kundalini is a further development, on the ascending arc, of the First Outpouring]

Kundalini là một sự phát triển thêm, trên cung đi lên, của Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất]

Prâna is a Sanskrit word, derived from pra, forth, and an, to breathe, move, live. Thus pra-an, Prâna, means to breathe forth, life-breath or life-energy being the nearest English equivalents of the Sanskrit term. As, in Hindu thought, there is but one Life, one Consciousness, Prâna has been used for the Supreme Self, the energy of the One, the Life of the Logos. Hence, Life on each plane may be spoken of as the Prâna of the plane, Prâna becoming the life-breath in every creature.

Prana là một từ tiếng Phạn, bắt nguồn từ pra, nghĩa là ra ngoài, và an, nghĩa là thở, chuyển động, sống. Do đó pra-an, Prana, có nghĩa là thở ra; hơi thở sự sống hay năng lượng sự sống là những tương đương tiếng Anh gần nhất của thuật ngữ tiếng Phạn này. Vì trong tư tưởng Ấn giáo chỉ có một Sự Sống, một Tâm Thức, Prana đã được dùng để chỉ Bản Ngã Tối Cao, năng lượng của Đấng Duy Nhất, Sự Sống của Thượng Đế. Do đó, Sự Sống trên mỗi cõi có thể được nói đến như Prana của cõi ấy, Prana trở thành hơi thở sự sống trong mọi tạo vật.

“I am Prâna… Prâna is life,” says Indra, the great Deva who stands as the Head of the hierarchy of the life in the lower world. Prâna here clearly means the totality of the life-forces. In the Mundakopanishat it is stated that from Brahman the One comes Prâna – or Life. Prâna is also described as Âtmâ in its outgoing activity: “From Âtmâ this Prâna is born” (Prashnopanishat). Shankara says that Prâna is Kriyâshakti – the Shakti of doing, not of knowing. It is classed as one of the seven Elements, which correspond to the seven regions of the universe, the seven sheaths of Brahman, and so forth. These are: Prâna, Manas, Ether, Fire, Air, Water, Earth.

“Ta là Prana… Prana là sự sống,” Indra, vị Đại Thiên Thần đứng đầu thánh đoàn sự sống trong hạ giới, nói như vậy. Ở đây Prana rõ ràng có nghĩa là tổng thể các mãnh lực sự sống. Trong Mundakopanishad có nêu rằng từ Brahman, Đấng Duy Nhất, phát sinh Prana — hay Sự Sống. Prana cũng được mô tả như Atma trong hoạt động hướng ra ngoài của nó: “Từ Atma, Prana này được sinh ra” (Prashnopanishad). Shankara nói rằng Prana là Kriyashakti — Shakti của hành động, không phải của tri thức. Nó được xếp vào một trong bảy Nguyên tố, tương ứng với bảy vùng của vũ trụ, bảy lớp vỏ của Brahman, v.v. Đó là: Prana, Manas, Dĩ thái, Lửa, Khí, Nước, Đất.

The Hebrews speak of the “breath of life”, which they call Nephesch, breathed into the nostrils of Adam. Nephesch, however, is not strictly speaking Prâna alone, but Prâna combined with the next principle, Kâma. These together make the “vital spark” that is the “Breath of life in man, in beast or insect, of physical, material life. “

Người Hebrew nói đến “hơi thở sự sống”, mà họ gọi là Nephesch, được thổi vào lỗ mũi của Adam. Tuy nhiên, nói cho đúng, Nephesch không chỉ là Prana, mà là Prana kết hợp với nguyên khí kế tiếp, Kama. Hai nguyên khí này hợp lại tạo nên “tia lửa sinh lực”, tức “Hơi thở sự sống trong con người, trong thú vật hay côn trùng, của sự sống hồng trần, vật chất.”

Translated into more Western terms, Prâna, on the physical plane, is best described as Vitality, as the integrating energy that co-ordinates the physical molecules, cells, etc., and holds them together as a definite organism. It is the life-breath within the organism, the portion of the universal Life-Breath, appropriated by a given organism during the period of bodily existence that we speak of as “a life.”Were it not for the presence of Prâna, there could be no physical body as an integral whole, working as one entity; without Prâna the body would be nothing more than a collection of independent cells. Prâna links up and connects these into one complex whole, playing along the branches and meshes of the “life-web,” that shimmering golden web of inconceivable fineness and delicate beauty, formed out of a single thread of buddhic matter, a prolongation of the Sûtrâtma, within the meshes of which the coarser atoms are built together.

Dịch sang những thuật ngữ phương Tây hơn, Prana trên cõi hồng trần được mô tả đúng nhất là Sinh lực, là năng lượng tích hợp phối hợp các phân tử hồng trần, tế bào, v.v., và giữ chúng lại với nhau như một cơ thể xác định. Nó là hơi thở sự sống bên trong cơ thể, phần của Hơi Thở Sự Sống vũ trụ được một cơ thể nhất định chiếm hữu trong thời kỳ tồn tại thân xác mà chúng ta gọi là “một kiếp sống”. Nếu không có sự hiện diện của Prana, sẽ không thể có thể xác như một toàn thể tích hợp, hoạt động như một thực thể duy nhất; không có Prana, thân thể sẽ chẳng là gì hơn một tập hợp các tế bào độc lập. Prana liên kết và nối kết chúng thành một toàn thể phức hợp, vận hành dọc theo các nhánh và mắt lưới của “mạng sự sống”, tấm lưới vàng óng ánh với độ tinh vi không thể quan niệm và vẻ đẹp tế nhị ấy, được tạo nên từ một sợi dây duy nhất của vật chất Bồ đề, một phần kéo dài của Sutratma, trong các mắt lưới của nó những nguyên tử thô hơn được kết hợp lại.

Prâna is absorbed by all living organisms, a sufficient supply of it seeming to be a necessity of their existence. It is not, therefore, in any sense a product of life, but the living animal, plant, etc., are its products. Too great an exuberance of it in the nervous system may lead to disease and death, just as too little leads to exhaustion and ultimately death.

Prana được mọi cơ thể sống hấp thụ, và một nguồn cung cấp đầy đủ dường như là điều cần thiết cho sự tồn tại của chúng. Vì vậy, theo bất kỳ nghĩa nào, nó không phải là sản phẩm của sự sống, mà thú vật, cây cối sống động, v.v., là sản phẩm của nó. Sự dư thừa quá lớn của nó trong hệ thần kinh có thể dẫn đến bệnh tật và cái chết, cũng như sự thiếu hụt quá lớn dẫn đến kiệt quệ và cuối cùng là cái chết.

H.P. Blavatsky compares Prâna, the active power producing all vital phenomena, to oxygen, the supporter of combustion, the life-giving gas, the active chemical agent in all organic life. A comparison is also drawn between the Etheric Double, the inert vehicle of life, and nitrogen, an inert gas with which oxygen is mixed to adapt the latter for animal respiration, and which also enters largely into all organic substances.

Bà H. P. Blavatsky so sánh Prana, quyền năng hoạt động tạo ra mọi hiện tượng sinh lực, với oxy, chất duy trì sự cháy, khí ban sự sống, tác nhân hóa học hoạt động trong mọi sự sống hữu cơ. Một so sánh cũng được đưa ra giữa Bản Sao Dĩ Thái, vận cụ trơ của sự sống, và nitơ, một khí trơ được trộn với oxy để làm cho oxy thích hợp với hô hấp của động vật, và cũng đi vào phần lớn mọi chất hữu cơ.

The fact that the cat is pre-eminently endowed with prâna has given rise to the popular idea of the cat having “nine lives”, and appears to have been indirectly connected with the reasons for this animal being regarded in Egypt as sacred.

Sự kiện con mèo được phú cho prana một cách đặc biệt đã làm nảy sinh quan niệm phổ biến rằng mèo có “chín mạng”, và dường như đã liên hệ gián tiếp với những lý do khiến con vật này được xem là thiêng liêng ở Ai Cập.

On the physical plane prâna builds up all minerals, and is the controlling agent in the chemico-physiological changes in protoplasm, which lead to differentiation and the building of the various tissues of bodies and plants, animals and men. They show its presence by the power of responding to stimuli.

Trên cõi hồng trần, prana xây dựng mọi khoáng vật, và là tác nhân kiểm soát trong các biến đổi hóa học-sinh lý nơi chất nguyên sinh, dẫn đến biến phân và sự xây dựng các mô khác nhau của các thể và cây cối, thú vật và con người. Chúng biểu lộ sự hiện diện của nó qua quyền năng đáp ứng với kích thích.

The blending of astral with physical prâna creates nerve-matter which is fundamentally the cell, and which gives the power to feel pleasure and pain. The cells develop into fibres, as the result of thought, the prâna pulsating along those fibres being composed of physical, astral and mental prâna.

Sự pha trộn prana cảm dục với prana hồng trần tạo ra chất thần kinh, về căn bản là tế bào, và ban cho quyền năng cảm nhận vui sướng và đau đớn. Các tế bào phát triển thành sợi, như kết quả của tư tưởng; prana rung động dọc theo các sợi ấy gồm prana hồng trần, cảm dục và trí tuệ.

Within the physical plane atoms themselves, the prâna courses along the spirillæ. In our Chain, in the First Round, the Monadic Life, flowing through the Spiritual Triad (Atma-Buddhi-Manas), vivifies the first set of spirillæ, and these are used by the prânic currents which affect the dense physical body. In the Second Round, the Monad vivifies the second set of spirillæ, and through them runs the prâna connected with the Etheric Double. In the Third Round, the third set of spirillæ is awakened by the Monadic life, and through them courses the kâmic prâna, which makes sensation of pleasure and pain possible. In the Fourth Round, the Monadic life awakens the fourth set of spirillæ, which becomes the vehicle for the Kâma-manasic prâna, thus making the atoms fit to be built into a brain for thought.

Bên trong chính các nguyên tử của cõi hồng trần, prana lưu chuyển dọc theo các loa tuyến. Trong Dãy của chúng ta, ở Cuộc Tuần Hoàn Thứ Nhất, Sự Sống Chân Thần, tuôn chảy qua Tam Nguyên Tinh Thần (Atma-Bồ đề-Manas), làm sống động bộ loa tuyến thứ nhất, và các loa tuyến này được các dòng prana tác động đến thể xác đậm đặc sử dụng. Trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Hai, chân thần làm sống động bộ loa tuyến thứ hai, và qua chúng chạy prana liên hệ với Bản Sao Dĩ Thái. Trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Ba, bộ loa tuyến thứ ba được sự sống Chân Thần đánh thức, và qua chúng lưu chuyển prana kama, làm cho cảm giác vui sướng và đau đớn trở nên khả hữu. Trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư, sự sống Chân Thần đánh thức bộ loa tuyến thứ tư, trở thành vận cụ cho prana Kama-manas, nhờ đó làm cho các nguyên tử thích hợp để được xây dựng thành một bộ não cho tư tưởng.

This is as far as normal humanity has progressed. Certain Yoga practices (in the use of which great caution is required, lest injury should be inflicted on the brain) bring about the development of the fifth and sixth set of spirillæ, which serve as channels for higher forms of consciousness.

Nhân loại bình thường đã tiến đến mức này. Một số thực hành Yoga nhất định, khi sử dụng cần hết sức thận trọng để khỏi gây thương tổn cho bộ não, đưa đến sự phát triển của bộ loa tuyến thứ năm và thứ sáu, vốn phục vụ như các kênh cho những hình thức tâm thức cao hơn.

The seven spirillæ in the atom must not be confused with the “whorls,” of which there are ten, three coarser and seven finer. In the three coarser whorls flow currents of different electricities, whilst the seven finer whorls respond to etheric waves of all kinds – sound, light, heat, etc.

Bảy loa tuyến trong nguyên tử không được lẫn lộn với các “xoáy”, có mười xoáy, ba thô hơn và bảy tinh vi hơn. Trong ba xoáy thô hơn lưu chuyển các dòng điện lực khác nhau, trong khi bảy xoáy tinh vi hơn đáp ứng với mọi loại sóng dĩ thái — âm thanh, ánh sáng, nhiệt, v.v.

The Secret Doctrine speaks of Prâna as the “invisible” or “fiery” lives which supply the microbes with “vital constructive energy,” thus enabling them to build the physical cells, the size of the smallest bacterium relatively to that of a “fiery life” being as that of an elephant to the tiniest infusoria. “Every visible thing in the universe was built by such lives, from conscious and divine primordial man, down to the unconscious agents that construct matter.” “By the manifestation of Prâna, the spirit which is speechless appears as the speaker.

Giáo Lý Bí Nhiệm nói về Prana như những sự sống “vô hình” hay “bốc lửa” cung cấp cho các vi sinh vật “năng lượng kiến tạo sinh lực”, nhờ đó giúp chúng xây dựng các tế bào hồng trần; kích thước của vi khuẩn nhỏ nhất so với một “sự sống bốc lửa” tương tự như kích thước của một con voi so với loài trùng cỏ nhỏ nhất. “Mọi vật hữu hình trong vũ trụ đều được xây dựng bởi những sự sống như thế, từ con người nguyên thủy có ý thức và thiêng liêng, xuống đến các tác nhân vô thức kiến tạo vật chất.” “Bởi sự biểu hiện của Prana, tinh thần vốn không lời hiện ra như người nói.”

The whole constructive vitality, in the universe and in man, is thus summed up as Prâna.

Như vậy, toàn bộ sinh lực kiến tạo trong vũ trụ và trong con người được tóm lược là Prana.

An atom is also a “life”, but the consciousness is that of the Third Logos. A microbe is a “life,” the consciousness being that of the Second Logos, appropriated and modified by the Planetary Logos and the “Spirit of the Earth.”

Một nguyên tử cũng là một “sự sống”, nhưng tâm thức là tâm thức của Ngôi Thượng Đế Thứ Ba. Một vi sinh vật là một “sự sống”, tâm thức là tâm thức của Ngôi Thượng Đế Thứ Hai, được Đức Hành Tinh Thượng Đế chiếm hữu và biến đổi, cùng với Tinh Linh Địa Cầu.

The Secret Doctrine also speaks of a “fundamental dogma” of occult science, that the Sun is the storehouse of Vital Force, and that from the sun issue those life-currents which thrill through space, as through the organisms of every living thing on earth. Paracelsus thus referred to Prâna: “The whole of the Microcosm is potentially contained in the Liquor Vitæ, a nerve fluid …in which is contained the nature, quality, character, and essence of all beings.” Paracelsus also spoke of it as the Archæus. Dr. B. Richardson, F.R.S., wrote of it as “nervous ether.” The Nasmyth willow leaves are the reservoirs of the solar vital energy, the real sun being hidden behind the visible sun, and generating the vital fluid, which circulates throughout our System in a ten-year cycle.

Giáo Lý Bí Nhiệm cũng nói đến một “tín điều nền tảng” của khoa học huyền bí, rằng Mặt Trời là kho chứa Mãnh Lực Sinh Lực, và từ mặt trời phát ra những dòng sự sống làm rung động không gian, cũng như các cơ thể của mọi sinh vật trên Trái Đất. Paracelsus đã nói về Prana như sau: “Toàn bộ Tiểu thiên địa được chứa đựng tiềm tàng trong Liquor Vitae, một lưu chất thần kinh… trong đó chứa đựng bản chất, phẩm tính, tính cách và tinh túy của mọi sinh linh.” Paracelsus cũng gọi nó là Archaeus. Tiến sĩ B. Richardson, F. R. S., viết về nó như “dĩ thái thần kinh”. Những lá liễu Nasmyth là các hồ chứa năng lượng sinh lực thái dương; mặt trời thật ẩn sau mặt trời hữu hình, và tạo ra lưu chất sinh lực lưu chuyển khắp hệ thống của chúng ta theo chu kỳ mười năm.

The old Aryan sang that Surya “hiding behind his Yogi, robes his head that no one could see.”

Người Arya cổ xưa đã hát rằng Surya “ẩn sau vị Yogi của mình, che đầu bằng áo choàng để không ai có thể thấy”.

The dress of the Indian ascetics is dyed a red-yellow hue, with pinkish patches on it, and is intended rudely to represent the prâna in men’s blood, the symbol of the vital principle in the sun, or what is now called the chromosphere, the “rose-coloured” region.

Y phục của các nhà khổ hạnh Ấn Độ được nhuộm sắc đỏ vàng, có những mảng hồng nhạt trên đó, và nhằm biểu trưng một cách thô sơ prana trong máu người, biểu tượng của nguyên khí sinh lực trong mặt trời, hay điều ngày nay được gọi là sắc cầu, vùng “màu hồng”.

The nerve-centres themselves are of course provided by the “food-sheath” or dense body, but Prâna is the controlling energy which acts through the nerve-centres, making the food-sheath obedient, and fashioning it for the purpose which the I, seated in the higher intelligence, demands.

Dĩ nhiên, chính các trung tâm thần kinh được cung cấp bởi “lớp vỏ thức ăn” hay thể đậm đặc, nhưng Prana là năng lượng kiểm soát hoạt động qua các trung tâm thần kinh, khiến lớp vỏ thức ăn vâng phục, và tạo hình nó cho mục đích mà cái Tôi, ngự trong trí tuệ cao hơn, đòi hỏi.

It is important to note that although the nerves are in the physical body, it is not the physical body, as such, which has the power of feeling. As a sheath, the physical body does not feel: it is a receiver of impressions only. The outer body receives the impact, but in its own cells does not lie the power of feeling pleasure or pain, except in a very vague, dull and “massive” way, giving rise to vague, diffused feelings, such as those of general fatigue, for example.

Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù các dây thần kinh ở trong thể xác, nhưng không phải thể xác, xét như chính nó, có quyền năng cảm nhận. Như một lớp vỏ, thể xác không cảm nhận; nó chỉ là một bộ tiếp nhận các ấn tượng. Thân thể bên ngoài tiếp nhận va chạm, nhưng trong chính các tế bào của nó không có quyền năng cảm nhận vui sướng hay đau đớn, ngoại trừ theo một cách rất mơ hồ, trì độn và “đại khối”, tạo ra các cảm giác mơ hồ, khuếch tán, chẳng hạn như cảm giác mệt mỏi chung.

The physical contacts are transmitted inwards by prâna, and these are acute, sharp, keen, specific, quite different from the heavy, diffused sensations deriving from the cells themselves. It is thus in every case prâna which gives the sense-activity to the physical organs, and which transmits the outer vibration to the sense-centres, which are situated in Kâma, in the sheath which is next to prâna, the Manomayakosha. It is by means of the Etheric Double that prâna runs along the nerves of the body and thus enables them to act not only as the carriers of external impacts but also of motor force, originated from within.

Các tiếp xúc hồng trần được prana truyền vào bên trong, và những tiếp xúc này sắc bén, rõ rệt, nhạy bén, đặc thù, hoàn toàn khác với các cảm giác nặng nề, khuếch tán phát sinh từ chính các tế bào. Như vậy, trong mọi trường hợp, chính prana ban hoạt động giác quan cho các cơ quan hồng trần, và truyền rung động bên ngoài đến các trung tâm giác quan, vốn nằm trong Kama, trong lớp vỏ kế cận prana, tức Manomayakosha. Chính nhờ Bản Sao Dĩ Thái mà prana chạy dọc theo các dây thần kinh của thân thể, và do đó giúp chúng hoạt động không chỉ như những bộ phận chuyên chở các va chạm bên ngoài, mà cả mãnh lực vận động phát sinh từ bên trong.

It is the play of the prânic life-currents in the Etheric Doubles of minerals, vegetables, and animals which awaken out of latency the astral matter involved in the structure of their atomic and molecular constituents, thus producing a “thrill” which enables the Monad of form to draw in astral materials, which are built by nature-spirits into a loosely constituted mass, the future astral body.

Chính sự vận động của các dòng sự sống prana trong các Bản Sao Dĩ Thái của khoáng vật, thực vật và động vật đánh thức khỏi trạng thái tiềm tàng vật chất cảm dục liên quan trong cấu trúc của các thành phần nguyên tử và phân tử của chúng, nhờ đó tạo ra một “rung động” giúp chân thần của hình tướng thu hút vào các vật liệu cảm dục, được các tinh linh tự nhiên xây dựng thành một khối cấu tạo lỏng lẻo, tức thể cảm dục tương lai.

In the mineral, astral matter is so little active that there is no perceptible working from the astral to the physical. In the higher plants the increased astral activity affects their etheric and, through this, their dense matter. With animals, the much greater astral consciousness affects their Etheric Doubles and, by these etheric vibrations, the building of the nervous system, which was dimly foreshadowed only in plants, is stimulated.

Trong giới kim thạch, vật chất cảm dục hoạt động quá ít đến nỗi không có hoạt động nào có thể nhận thấy từ cảm dục đến hồng trần. Trong các thực vật cao hơn, hoạt động cảm dục gia tăng tác động đến vật chất dĩ thái của chúng và, qua đó, đến vật chất đậm đặc của chúng. Với động vật, tâm thức cảm dục lớn hơn nhiều tác động đến các Bản Sao Dĩ Thái của chúng, và nhờ các rung động dĩ thái này, sự xây dựng hệ thần kinh, vốn chỉ được báo trước mờ nhạt nơi thực vật, được kích thích.

It is thus impulses set up by the consciousness – willing to experience – which cause astral vibrations, these producing vibrations in etheric matter: the impulse thus comes from the consciousness, but the actual building of the nervous system, which the consciousness at this stage is unable to undertake, is performed by etheric nature-spirits, directed by the Shining Ones of the Third elemental Kingdom and the Logos working through the Group Soul.

Như vậy, chính các xung lực do tâm thức thiết lập — muốn kinh nghiệm — gây ra các rung động cảm dục; những rung động này tạo ra các rung động trong vật chất dĩ thái. Do đó xung lực đến từ tâm thức, nhưng việc xây dựng thực sự hệ thần kinh, điều mà tâm thức ở giai đoạn này chưa thể đảm nhiệm, được các tinh linh tự nhiên dĩ thái thực hiện, dưới sự chỉ đạo của các Đấng Quang Minh thuộc giới hành khí thứ ba và của Thượng Đế hoạt động qua Hồn nhóm.

There appears first in the astral body a centre, having the function of receiving and responding to vibrations from outside. From this centre, vibrations pass to the etheric body, causing there etheric vortices which draw into themselves dense physical particles: these eventually form a nerve-cell, and groups of cells, which, receiving vibrations from the outer physical world, transmit them back to the astral centres, the physical and astral centres thus acting and reacting on one another, each in consequence becoming more complicated and more effective. Out of these nerve-cells, the sympathetic system is built first, by impulses, as we have seen, originating in the astral world: later the cerebro-spinal system is constructed, by impulses originating in the mental world.

Trước tiên xuất hiện trong thể cảm dục một trung tâm có chức năng tiếp nhận và đáp ứng với các rung động từ bên ngoài. Từ trung tâm này, các rung động truyền sang thể dĩ thái, tạo ra tại đó các xoáy dĩ thái thu hút vào chính chúng các hạt hồng trần đậm đặc; cuối cùng, các hạt này hình thành một tế bào thần kinh và các nhóm tế bào, tiếp nhận các rung động từ thế giới hồng trần bên ngoài rồi truyền chúng trở lại các trung tâm cảm dục. Như vậy, các trung tâm hồng trần và cảm dục tác động và phản tác động lẫn nhau, và do đó mỗi bên trở nên phức tạp hơn và hiệu quả hơn. Từ các tế bào thần kinh này, hệ giao cảm được xây dựng trước tiên, bởi các xung lực, như chúng ta đã thấy, phát sinh trong thế giới cảm dục; về sau, hệ não-tủy được kiến tạo bởi các xung lực phát sinh trong thế giới trí tuệ.

The sympathetic system always remains directly connected with the astral centres: but it is important to note that these astral centres are not the astral chakrams, of which we shall speak later, but are merely aggregations in the astral sheath which form the beginnings of the centres which will build the organs in the physical body. The astral chakrams are not formed till a much later period in evolution.

Hệ giao cảm luôn luôn vẫn liên hệ trực tiếp với các trung tâm cảm dục; nhưng điều quan trọng cần lưu ý là các trung tâm cảm dục này không phải là các luân xa cảm dục, mà chúng ta sẽ nói đến sau, mà chỉ là những tụ hợp trong lớp vỏ cảm dục tạo thành những mầm mống của các trung tâm sẽ xây dựng các cơ quan trong thể xác. Các luân xa cảm dục chỉ được hình thành ở một thời kỳ muộn hơn nhiều trong tiến hoá.

From these centres then – which are not the chakrams – ten organs in the physical are formed: five to receive impressions, Jñânendriyas, “knowledge-senses” or sense-centres in the brain, which eventually are connected with eyes, ears, tongue, nose and skin: and five to convey vibrations from consciousness to the outer world, Karmendriyas, “action senses,” or sense-centres which cause action, these being the motor-centres in the brain, to be connected with the sense-organs in hands, feet, larynx, organs of generation and excretion.

Vậy từ các trung tâm này — vốn không phải là các luân xa — mười cơ quan trong hồng trần được hình thành: năm cơ quan để tiếp nhận ấn tượng, Jnanendriyas, “các giác quan tri thức” hay các trung tâm giác quan trong bộ não, cuối cùng được liên hệ với mắt, tai, lưỡi, mũi và da; và năm cơ quan để chuyển các rung động từ tâm thức ra thế giới bên ngoài, Karmendriyas, “các giác quan hành động”, hay các trung tâm giác quan gây ra hành động, tức các trung tâm vận động trong bộ não, sẽ liên hệ với các cơ quan giác quan nơi tay, chân, thanh quản, cơ quan sinh sản và bài tiết.

The student must carefully note that the prâna which courses along the nerves is quite separate and distinct from what is called a man’s magnetism, or nerve-fluid, which is generated within his own body. This nerve-fluid or magnetism keeps the etheric matter circulating along the nerves, or, more accurately, along a coating of ether which surrounds each nerve, much as the blood circulates through the veins. And just as the blood carries oxygen to the body, so does the nerve-fluid convey prâna.

Đạo sinh phải cẩn thận lưu ý rằng prana lưu chuyển dọc theo các dây thần kinh hoàn toàn riêng biệt và khác hẳn với điều được gọi là từ điện của một người, hay lưu chất thần kinh, vốn được tạo ra bên trong chính thân thể y. Lưu chất thần kinh hay từ điện này giữ cho vật chất dĩ thái lưu chuyển dọc theo các dây thần kinh, hay nói chính xác hơn, dọc theo một lớp phủ dĩ thái bao quanh mỗi dây thần kinh, cũng như máu lưu chuyển qua các tĩnh mạch. Và cũng như máu mang oxy đến thân thể, lưu chất thần kinh truyền tải prana.

Furthermore, just as the particles of the dense physical body are constantly changing and being replaced by fresh particles derived from food, water, and air, so are the particles of the etheric body being constantly changed and replaced by fresh etheric particles, these being taken into the body along with the food eaten, with the air breathed, and with prâna, in the form known as the Vitality Globule, as will presently be described.

Hơn nữa, cũng như các hạt của thể xác đậm đặc không ngừng thay đổi và được thay thế bằng những hạt mới lấy từ thức ăn, nước và không khí, các hạt của thể dĩ thái cũng không ngừng thay đổi và được thay thế bằng những hạt dĩ thái mới; các hạt này được đưa vào thân thể cùng với thức ăn được ăn, không khí được thở, và với prana, dưới hình thức được gọi là Sinh khí cầu, như sẽ được mô tả ngay sau đây.

Prâna, or Vitality, exists on all planes – physical, astral, mental, etc.. Prâna, the One Life, is “the nave to which are attached the seven spokes of the universal wheel” (Hymn to Prâna, Artharva Veda, XI., 4). We are here, however, concerned only with its appearance and methods of work in the lowest, the physical plane.

Prana, hay Sinh lực, tồn tại trên mọi cõi — hồng trần, cảm dục, trí tuệ, v.v. Prana, Sự Sống Duy Nhất, là “trục bánh xe mà bảy nan hoa của bánh xe vũ trụ gắn vào” (Thánh Ca về Prana, Atharva Veda, XI., 4). Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến sắc tướng và các phương pháp hoạt động của nó trên cõi thấp nhất, cõi hồng trần.

It must also be noted that prâna on the physical plane is sevenfold, i.e., there are seven varieties of it.

Cũng cần lưu ý rằng prana trên cõi hồng trần là thất phân, tức là có bảy loại prana.

We have seen already that is quite separate and distinct from light, heat, etc., but nevertheless its manifestation on the physical plane appears to depend upon sunlight: for when sunlight is abundant, prâna also appears in abundance, and where sunlight is absent, prâna also is deficient.

Chúng ta đã thấy rằng nó hoàn toàn riêng biệt và khác hẳn với ánh sáng, nhiệt, v.v.; tuy nhiên, sự biểu hiện của nó trên cõi hồng trần dường như tùy thuộc vào ánh sáng mặt trời: vì khi ánh sáng mặt trời dồi dào, prana cũng xuất hiện dồi dào, và nơi nào thiếu ánh sáng mặt trời, prana cũng thiếu hụt.

DIAGRAM II – SƠ ĐỒ II

The Vitality Globule (1) An Ultimate Physical Atom – Sinh khí cầu (1) Một Nguyên Tử Hồng Trần Tối Hậu

For details of atom, see Occult Chemistry, Plate II, and page 5, et seq.

Để biết chi tiết về nguyên tử, xem Hóa Học Huyền Bí, Bảng II, và trang 5, v.v.

Prâna emanates from the sun, and enters some of the ultimate physical atoms which float about in the earth’s atmosphere in countless myriads. Although we say that this prânic force “enters” the physical atom, it does not do so from outside: it enters from a higher dimension, the fourth, and so appears to the clairvoyant as welling up within the atom.

Prana phát ra từ mặt trời, và đi vào một số nguyên tử hồng trần tối hậu trôi nổi trong bầu khí quyển Trái Đất với số lượng vô số. Mặc dù chúng ta nói rằng mãnh lực prana này “đi vào” nguyên tử hồng trần, nó không làm như vậy từ bên ngoài; nó đi vào từ một chiều kích cao hơn, chiều thứ tư, và vì thế đối với nhà thông nhãn, nó có vẻ dâng lên từ bên trong nguyên tử.

There are thus two forces which enter the atom from within: (1) the Will-force of the Logos, which holds the atom together in its proper shape; (2) the Prânic force. It is important to note that Prâna comes from the Second Aspect of the Solar deity, whereas the Will-force emanates from the Third Aspect

Như vậy có hai mãnh lực đi vào nguyên tử từ bên trong: (1) mãnh lực Ý Chí của Thượng Đế, giữ nguyên tử lại với nhau trong hình dạng đúng của nó; (2) mãnh lực Prana. Điều quan trọng cần lưu ý là Prana đến từ Phương diện thứ hai của Thái dương Thượng đế, trong khi mãnh lực Ý Chí phát ra từ Phương diện thứ ba.

DIAGRAM II – SƠ ĐỒ II

The Vitality Globule (2) Vitality-Force enters Atoms – Sinh khí cầu (2) Mãnh Lực Sinh Lực đi vào các Nguyên Tử

The effect of Prâna on atoms is entirely different from that of electricity, light, heat or other expressions of Fohat. Electricity, rushing through the atoms, deflects them and holds them in a certain way, and also imparts to them a separate and distinct vibration-rate. Any of the variants of Fohat, such as electricity, light, or heat, cause an oscillation of the atom as a whole, an oscillation the size of which is enormous as compared with that of the atom itself, these forces of course acting on the atom from without.

Tác dụng của Prana trên các nguyên tử hoàn toàn khác với tác dụng của điện lực, ánh sáng, nhiệt hay các biểu hiện khác của Fohat. Điện lực, khi lao qua các nguyên tử, làm lệch chúng và giữ chúng theo một cách nhất định, đồng thời cũng truyền cho chúng một nhịp độ rung động riêng biệt và khác hẳn. Bất kỳ biến thể nào của Fohat, như điện lực, ánh sáng hay nhiệt, đều gây ra một dao động của toàn bộ nguyên tử, một dao động có kích thước khổng lồ so với chính nguyên tử, và dĩ nhiên các mãnh lực này tác động lên nguyên tử từ bên ngoài.

Students of occultism will be familiar with the shape and structure of the ultimate physical atom, the smallest particle of matter on the physical plane, out of combinations of which are made the various combinations we know as solid, liquid, gas, etc. In drawings in this document, therefore these ultimate physical atoms are indicated as outlines only.

Các đạo sinh huyền bí học sẽ quen thuộc với hình dạng và cấu trúc của nguyên tử hồng trần tối hậu, hạt vật chất nhỏ nhất trên cõi hồng trần; từ những tổ hợp của nó mà tạo thành các tổ hợp khác nhau mà chúng ta biết là chất rắn, chất lỏng, chất khí, v.v. Vì vậy, trong các hình vẽ của tài liệu này, những nguyên tử hồng trần tối hậu ấy chỉ được biểu thị bằng đường viền.

DIAGRAM III- – BIỂU ĐỒ III-

The Vitality Globule (3) The Atom attracts 6 other atoms – Sinh khí cầu (3) Nguyên tử thu hút 6 nguyên tử khác

The Vitality Force "endows the atom with an additional life, and gives it a power of attraction... "

Mãnh lực Sinh lực “ban cho nguyên tử một sự sống bổ sung, và đem lại cho nó một quyền năng hấp dẫn...”

The force of Prâna, then, radiated from the sun, enters some atoms in the atmosphere and causes them to glow. Such an atom, charged with this additional life, has a sixfold power of attraction, so that it immediately draws round it six other atoms. These it arranges in a definite form, making what is termed in Occult Chemistry a hyper-meta-proto-element, a combination of matter on the sub-atomic sub-plane. This combination, however, differs from all others so far observed, in that the force which creates it and holds it together comes from the Second Aspect of the Solar Deity instead of from the Third. This form is known as the Vitality Globule, and is shown in the appended drawing, which is enlarged from that on p. 45 of Occult Chemistry. This little group is the exceedingly brilliant bead upon the male or positive snake in the chemical element oxygen, and it is also the heart of the central globe in radium.

Vậy, mãnh lực prana, phát xạ từ mặt trời, đi vào một số nguyên tử trong bầu khí quyển và khiến chúng phát sáng. Một nguyên tử như thế, được nạp sự sống bổ sung này, có quyền năng hấp dẫn lục phân, nên nó lập tức kéo quanh mình sáu nguyên tử khác. Nó sắp xếp chúng theo một hình tướng xác định, tạo nên cái được gọi trong Hóa Học Huyền Môn là một siêu-hậu-nguyên-tố sơ cấp, một tổ hợp vật chất trên cõi phụ hạ nguyên tử. Tuy nhiên, tổ hợp này khác với mọi tổ hợp khác đã được quan sát cho đến nay, ở chỗ mãnh lực tạo ra và giữ nó kết hợp lại đến từ Phương diện thứ hai của Thái dương Thượng đế thay vì từ Phương diện thứ ba. Hình tướng này được biết là Sinh khí cầu, và được trình bày trong hình vẽ kèm theo, phóng lớn từ hình ở trang 45 của Hóa Học Huyền Môn. Nhóm nhỏ này là hạt châu cực kỳ rực rỡ trên con rắn đực hay dương trong nguyên tố hóa học oxy, và nó cũng là trái tim của bầu trung tâm trong rađi.

Diagram II- The Vitality Globule – Biểu đồ II- Sinh khí cầu

(4) Formation of the Globule – (4) Sự hình thành của Sinh khí cầu

N.B.- The Vitality Globule is a hper-meta-meta-proto element, i.e., On the sub-atomic level, and is unique in that it is created and held together by force emanating from the Second Logos. H.S.I. Page 67, O.C., Page 45

Lưu ý.- Sinh khí cầu là một nguyên tố siêu-hậu-hậu-sơ cấp, tức là ở cấp độ hạ nguyên tử, và độc nhất ở chỗ nó được tạo ra và giữ kết hợp bởi mãnh lực xuất phát từ Thượng đế thứ hai. H.S.I. Trang 67, O.C., Trang 45

The globules, on account of their brilliance and extreme activity, can be seen by almost any one who cares to look, darting about in the atmosphere in immense numbers, especially on a sunny day. The best way to see them is to face directly away from the sun and focus the eyes a few feet away, with a clear sky as background. Brilliant as is the globule, it is almost colourless, and may be compared to white light.

Do sự rực rỡ và hoạt động cực độ của chúng, hầu như bất cứ ai chịu nhìn đều có thể thấy các sinh khí cầu lao vút trong bầu khí quyển với số lượng khổng lồ, nhất là vào ngày nắng. Cách tốt nhất để thấy chúng là quay mặt trực tiếp khỏi mặt trời và tập trung mắt vào một điểm cách vài bộ, lấy bầu trời trong làm nền. Dù sinh khí cầu rực rỡ, nó hầu như không màu, và có thể được so sánh với ánh sáng trắng.

It has already been remarked that although the force which vivifies these globules is quite different from light, it nevertheless appears to depend upon light for the power of manifestation. In brilliant sunshine this vitality is constantly welling up afresh, and the globules are generated in incredible numbers; but in cloudy weather there is a great diminution in the number of globules formed, and during the night the operation appears to be entirely suspended. During the night, therefore, we may be said to be living upon the stock manufactured during the previous day, and although it appears practically impossible that it should ever be entirely exhausted, that stock evidently does run low when there is long succession of cloudy days.

Trước đây đã nhận xét rằng mặc dù mãnh lực làm sinh động các sinh khí cầu này hoàn toàn khác với ánh sáng, song dường như nó vẫn tùy thuộc vào ánh sáng để có quyền năng biểu hiện. Trong ánh nắng rực rỡ, sinh lực này liên tục dâng trào mới mẻ, và các sinh khí cầu được sinh ra với số lượng khó tin; nhưng trong thời tiết nhiều mây, số sinh khí cầu được tạo thành giảm sút rất nhiều, và vào ban đêm tiến trình này dường như hoàn toàn ngưng lại. Vì vậy, vào ban đêm, có thể nói chúng ta sống nhờ vào nguồn dự trữ được tạo ra trong ngày hôm trước; và mặc dù trên thực tế dường như không thể nào nguồn ấy bị cạn kiệt hoàn toàn, rõ ràng nó vẫn xuống thấp khi có một chuỗi dài những ngày nhiều mây.

It is, of course the work of the physical elemental to defend the body and to assimilate vitality (as will be described in detail in the next chapter) in order to recuperate the physical body. Whilst the physical body is awake, the nerves and muscles are kept tense, ready for instant action. When the body is asleep, the elemental lets the nerves and muscles relax and devotes himself especially to the assimilation of vitality. This accounts for the strong recuperative power of sleep, even of a momentary nap.

Dĩ nhiên, công việc của tinh linh thể xác là bảo vệ thể và đồng hóa sinh lực, như sẽ được mô tả chi tiết trong chương kế tiếp, nhằm phục hồi thể xác. Khi thể xác thức, các dây thần kinh và cơ bắp được giữ căng, sẵn sàng hành động tức thì. Khi thể ngủ, hành khí để cho thần kinh và cơ bắp thư giãn và đặc biệt chuyên chú vào việc đồng hóa sinh lực. Điều này giải thích quyền năng phục hồi mạnh mẽ của giấc ngủ, ngay cả của một giấc chợp mắt thoáng qua.

The elemental works most successfully during the early part of the night, when there is a copious supply of vitality. In the daily cycle the supply of globules is at its lowest ebb in the small hours of the morning, before sunrise, and this is one reason why so large a proportion of deaths occurs during those hours. Hence also the saying that an hour’s sleep before midnight is worth two after it. Similarly of course, the supply of prâna is at a lower ebb in winter than in summer.

Hành khí hoạt động thành công nhất vào phần đầu của đêm, khi có nguồn cung cấp sinh lực dồi dào. Trong chu kỳ hằng ngày, nguồn cung cấp các sinh khí cầu ở mức thấp nhất vào những giờ khuya gần sáng, trước khi mặt trời mọc; và đây là một lý do vì sao một tỷ lệ lớn các ca tử vong xảy ra trong những giờ ấy. Do đó cũng có câu nói rằng một giờ ngủ trước nửa đêm đáng giá bằng hai giờ sau đó. Tương tự, dĩ nhiên, nguồn cung cấp prana vào mùa đông thấp hơn vào mùa hè.

Further, Prâna is poured forth, not only on the physical, but also on all planes, emotion, intellect, and spirituality will be at their best under clear skies and with the inestimable aid of sunlight. It may also be added that even the colours of etheric prâna correspond to some extent to similar hues at the astral level. Hence right feeling and clear thought react on the physical and assist the latter to assimilate prâna and thus maintain vigorous health. We thus find an interesting light thrown on the intimate connection between spiritual, mental, and emotional health and the health of the physical body, and are reminded of the well-known saying of the Lord Buddha that the first step on the road to Nirvâna is perfect physical health.

Hơn nữa, prana được tuôn đổ không chỉ trên cõi hồng trần, mà còn trên mọi cõi; cảm xúc, trí năng và tinh thần sẽ ở trạng thái tốt nhất dưới bầu trời quang đãng và với sự trợ giúp vô giá của ánh sáng mặt trời. Cũng có thể nói thêm rằng ngay cả các màu sắc của prana dĩ thái cũng tương ứng ở một mức độ nào đó với những sắc thái tương tự ở cấp độ cảm dục. Do đó, cảm xúc đúng đắn và tư tưởng sáng suốt tác động trở lại lên hồng trần và trợ giúp hồng trần đồng hóa prana, nhờ vậy duy trì sức khỏe dồi dào. Như thế, chúng ta thấy một ánh sáng thú vị được soi rọi vào mối liên hệ mật thiết giữa sức khỏe tinh thần, trí tuệ và cảm xúc với sức khỏe của thể xác, và được nhắc nhớ câu nói nổi tiếng của Đức Phật rằng bước đầu tiên trên đường đến Niết Bàn là sức khỏe thể xác hoàn hảo.

The vitality globule, once charged, remains as a sub-atomic element, and does not appear to be subject to any change or loss of force unless and until it is absorbed by some living creature.

Sinh khí cầu, một khi đã được nạp, vẫn tồn tại như một nguyên tố hạ nguyên tử, và dường như không chịu bất kỳ thay đổi hay mất mát mãnh lực nào, trừ khi và cho đến khi nó được một sinh vật nào đó hấp thụ.

Before proceeding to study the extremely interesting and important subject of the absorption of Prâna in the physical body, we must first study the mechanism in the Etheric Double by means of which this process is effected.

Trước khi tiếp tục nghiên cứu đề tài cực kỳ thú vị và quan trọng về sự hấp thụ prana trong thể xác, trước hết chúng ta phải nghiên cứu bộ máy trong bản sao dĩ thái, nhờ đó tiến trình này được thực hiện.

CHAPTER III – CHƯƠNG III

FORCE CENTRES – CÁC TRUNG TÂM MÃNH LỰC

In the Etheric Double, as well, incidentally, as in each of our other vehicles, there are certain Force-Centres, or Chakrams, as they are called in Sanskrit, this word meaning literally a wheel or revolving disc.

Trong bản sao dĩ thái, và nhân tiện cũng như trong mỗi hiện thể khác của chúng ta, có một số Trung Tâm Mãnh Lực, hay Luân xa, như chúng được gọi trong tiếng Phạn, từ này theo nghĩa đen là một bánh xe hay đĩa xoay.

The Chakrams are situated on the surface of the Double, that is about a quarter of an inch outside the skin of the body. To clairvoyant sight they appear as vortices or saucer-like depressions of rapidly rotating matter.

Các Luân xa nằm trên bề mặt của bản sao, tức là khoảng một phần tư inch bên ngoài da của thể. Đối với thị giác thông nhãn, chúng xuất hiện như các xoáy hay chỗ lõm hình đĩa nông của vật chất đang xoay rất nhanh.

The force flowing through the chakrams being essential to the life of the Etheric Double, every one possesses such force-centres, though the degree of their development varies considerably in individuals. Where they are undeveloped they glow dully and the etheric particles move sluggishly, just forming the vortex necessary for the transmission of the force, and no more: in developed people, on the other hand, the chakrams glow and pulsate, blazing with blinding brilliance like miniature suns. They vary in size from about two inches in diameter to about six inches.

Vì mãnh lực chảy qua các luân xa là thiết yếu đối với sự sống của bản sao dĩ thái, nên mọi người đều có những trung tâm mãnh lực như thế, dù mức độ phát triển của chúng khác nhau đáng kể giữa các cá nhân. Khi chưa phát triển, chúng phát sáng mờ đục và các hạt dĩ thái chuyển động chậm chạp, chỉ vừa tạo nên xoáy cần thiết cho việc truyền dẫn mãnh lực, không hơn; trái lại, nơi những người đã phát triển, các luân xa phát sáng và đập nhịp, bừng cháy với vẻ rực rỡ chói lòa như những mặt trời thu nhỏ. Chúng thay đổi kích thước từ khoảng hai inch đến khoảng sáu inch đường kính.

In a new born baby they are tiny little circles like a three-penny piece – little hard discs scarcely moving at all, and only faintly glowing.

Ở một em bé mới sinh, chúng là những vòng tròn nhỏ xíu như đồng ba xu — những đĩa nhỏ cứng hầu như không chuyển động chút nào, và chỉ phát sáng lờ mờ.

The etheric chakrams have two distinct functions. The first is to absorb and distribute Prâna, or Vitality, to the etheric and thence to the physical body, thus keeping these alive. The second function is to bring down into the physical consciousness whatever may be the quality inherent in the corresponding astral centre. It is the lack of development of the etheric centres which accounts for the failure to bring into the physical brain memory of astral experiences. Many people are fully awake and vividly conscious on the astral plane and lead active lives in their astral bodies.

Các luân xa dĩ thái có hai chức năng riêng biệt. Chức năng thứ nhất là hấp thụ và phân phối prana, hay Sinh lực, đến thể dĩ thái và từ đó đến thể xác, nhờ vậy giữ cho các thể này sống động. Chức năng thứ hai là đưa xuống tâm thức hồng trần bất cứ phẩm tính nào vốn có trong trung tâm cảm dục tương ứng. Chính sự thiếu phát triển của các trung tâm dĩ thái giải thích việc ký ức về các kinh nghiệm cảm dục không được đưa vào bộ não hồng trần. Nhiều người hoàn toàn thức tỉnh và có tâm thức sống động trên cõi cảm dục, và sống những đời sống hoạt động trong thể cảm dục của họ.

DIAGRAM III – BIỂU ĐỒ III

Structure of Force-Centre – Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(1) Shape – (1) Hình dạng

The appearance is that of a saucer-like depression, or vortex, in the surface of the Etheric Double, i.e., 1/4 inch outside the surface of the physical body.

Vẻ ngoài là một chỗ lõm hình đĩa nông, hay một xoáy, trên bề mặt của bản sao dĩ thái, tức là cách bề mặt thể xác một phần tư inch.

Function: to convey forces from Astral to Etheric.

Chức năng: truyền các mãnh lực từ cảm dục đến dĩ thái.

N.B. Similar centres exists in all vehicles.

Lưu ý. Những trung tâm tương tự hiện hữu trong mọi hiện thể.

When however, they return to their sleeping physical bodies, scarcely any memory of the astral life filters through into the brain, simply because the necessary etheric bridge is not built. When the etheric centres are fully developed, there is full and continuous memory of astral experiences in the brain.

Tuy nhiên, khi họ trở về với thể xác đang ngủ của mình, hầu như không có ký ức nào về đời sống cảm dục lọc qua được vào bộ não, đơn giản vì cây cầu dĩ thái cần thiết chưa được xây dựng. Khi các trung tâm dĩ thái được phát triển đầy đủ, ký ức về các kinh nghiệm cảm dục hiện diện đầy đủ và liên tục trong bộ não.

There appears to be no connection between the activity or development of the etheric chakrams and moral qualities: the two developments are quite distinct.

Dường như không có mối liên hệ nào giữa hoạt động hay sự phát triển của các luân xa dĩ thái với các phẩm tính đạo đức: hai sự phát triển ấy hoàn toàn riêng biệt.

Although there is in the astral body an astral centre corresponding to each of the etheric centres, yet as the astral centre is a vortex in four dimensions, it extends in a direction quite different from the etheric, and consequently the astral centre is by no means always coterminous with the corresponding etheric centre, though some part of it is always coincident. Whilst the etheric centres are always on the surface of the etheric body, the astral centre is frequently in the interior of the astral body.

Mặc dù trong thể cảm dục có một trung tâm cảm dục tương ứng với mỗi trung tâm dĩ thái, song vì trung tâm cảm dục là một xoáy trong bốn chiều, nó mở rộng theo một hướng hoàn toàn khác với trung tâm dĩ thái; do đó trung tâm cảm dục không phải lúc nào cũng đồng giới hạn với trung tâm dĩ thái tương ứng, dù một phần nào đó của nó luôn trùng khớp. Trong khi các trung tâm dĩ thái luôn ở trên bề mặt thể dĩ thái, trung tâm cảm dục thường nằm bên trong thể cảm dục.

DIAGRAM III Structure of Force-Centre – BIỂU ĐỒ III Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(2) Inrush of Vital Force – (2) Sự tràn vào của Mãnh lực Sinh lực

One of the seven varieties of he Vital Force greatly predominate in each centre.

Một trong bảy loại Mãnh lực Sinh lực chiếm ưu thế rất lớn trong mỗi trung tâm.

This inrush of Vital Force brings life to the physical body.

Sự tràn vào này của Mãnh lực Sinh lực đem sự sống đến cho thể xác.

We have already seen (Chapter II) that there are seven varieties of Prâna, all of which are present in all the chakrams; but in each chakram one of the varieties is always greatly predominant.

Chúng ta đã thấy trước đây trong Chương II rằng có bảy loại prana, tất cả đều hiện diện trong mọi luân xa; nhưng trong mỗi luân xa, một trong các loại ấy luôn chiếm ưu thế rất lớn.

The Prâna rushes into the centre of each chakram from a direction at right angles to the plane of the chakram; “welling up” would perhaps be a better term, as the force comes from the astral plane into the etheric. From the centre of the chakram the force then radiates at right angles to the direction from which it came, i.e.., in the plane of the surface of the Etheric Double, in a number of directions, and in straight lines. The number of directions, which are similar to the spokes of a wheel, is different in each chakram.

Prana lao vào trung tâm của mỗi luân xa từ một hướng vuông góc với mặt phẳng của luân xa; “dâng trào” có lẽ là thuật ngữ thích hợp hơn, vì mãnh lực đi từ cõi cảm dục vào cõi dĩ thái. Từ trung tâm của luân xa, mãnh lực ấy rồi phát xạ vuông góc với hướng mà nó đã đến, tức là, trong mặt phẳng của bề mặt bản sao dĩ thái, theo nhiều hướng và theo những đường thẳng. Số hướng, giống như các nan hoa của một bánh xe, khác nhau ở mỗi luân xa.

DIAGRAM III – BIỂU ĐỒ III

Structure of Force-Centre – Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(3) Formation of "Spokes" – (3) Sự hình thành các “Nan hoa”

The Primary Force "wells-up" at centre, and then rushes outwards radially along "spokes", the number of these "spokes" differing in each centre

Mãnh lực Chính “dâng lên” tại trung tâm, rồi lao ra ngoài theo các tia dọc theo những “nan hoa”, số “nan hoa” này khác nhau ở mỗi trung tâm.

The spokes divide the chakram into a number of segments, like the petals of a flower; hence, in Hindu books, the chakrams are often described as resembling flowers.

Các nan hoa chia luân xa thành một số phần, giống như các cánh hoa; do đó, trong các sách Ấn Độ, luân xa thường được mô tả là giống như hoa.

Now somewhat as a bar-magnet thrust into a coil of wire will set up or “induce” a current of electricity in the wire at right angles to the axis of the magnet, so does the primary force of Prâna entering the chakram set up or induce secondary forces in the plane of the chakram. These secondary forces spin round the chakram, passing over and under the spokes, much as the material of the bottom of a circular basket passes over and under the ribs which radiate from the centre.

Giờ đây, phần nào giống như một thanh nam châm được đẩy vào một cuộn dây sẽ tạo ra hay “cảm ứng” một dòng điện trong dây theo góc vuông với trục của nam châm, mãnh lực chính của prana đi vào luân xa cũng tạo ra hay cảm ứng các mãnh lực thứ cấp trong mặt phẳng của luân xa. Các mãnh lực thứ cấp này xoay quanh luân xa, đi trên và dưới các nan hoa, gần giống như vật liệu ở đáy một chiếc giỏ tròn đi trên và dưới các nan tỏa ra từ trung tâm.

Each of these secondary forces, sweeping round the chakram, has its own characteristic wavelength, and in addition moves, not in straight lines, but in relatively large undulations, each of which is a multiple of the wavelength within it. The wavelengths are very minute, and probably some thousands of them are very minute, and probably some thousands of them are included in one undulation, though the exact proportion has not yet been determined. The general effect is shimmering and iridescent, like mother-of-pearl, or a certain variety of Venetian glass.

Mỗi mãnh lực thứ cấp này, khi quét quanh luân xa, có bước sóng đặc trưng riêng, và ngoài ra còn chuyển động không theo đường thẳng, mà theo những gợn sóng tương đối lớn, mỗi gợn là bội số của bước sóng bên trong nó. Các bước sóng rất nhỏ, và có lẽ vài nghìn bước sóng trong số đó rất nhỏ, và có lẽ vài nghìn bước sóng được chứa trong một gợn, dù tỷ lệ chính xác chưa được xác định. Hiệu quả chung là lấp lánh và ngũ sắc, giống như xà cừ, hay một loại thủy tinh Venice nào đó.

DIAGRAM III – BIỂU ĐỒ III

Structure of Force-Centre – Cấu trúc của Trung tâm Mãnh lực

(4) Formation of Secondary Force – (4) Sự hình thành Mãnh lực Thứ cấp

The chakrams are often spoken of as corresponding to certain physical organs, those organs, in fact, which are the nearest to them; but, as already mentioned, the chakrams themselves are not in the interior of the body, but on the surface of the Etheric Double.

Các luân xa thường được nói là tương ứng với một số cơ quan hồng trần nào đó, thực ra là những cơ quan gần chúng nhất; nhưng như đã đề cập, bản thân các luân xa không nằm bên trong thể, mà ở trên bề mặt của bản sao dĩ thái.

The list of the chakrams and their names is as follows:-

Danh sách các luân xa và tên gọi của chúng như sau:-

No

Nearest Physical Organ

Sanskrit Name

1

Base of Spine

Mûladhâra

2

Navel

Manipûra

3

Spleen

Svâdhisthâna

4

Heart

Anâhata

5

Throat

Visuddha

6

Between Eyebrows

Ajnâ

7

Top of Head

Sahasrâra Brahmarandhra

8

Lower Organs

9

10

Numbers 8, 9, and 10, connected with the lower organs of the body, are not used by students of the “white” magic, though there are certain schools in existence which make use of them. The dangers connected with them are so serious that we should consider their awakening as the greatest of misfortunes.

Các số 8, 9 và 10, liên hệ với những cơ quan thấp của thể, không được các đạo sinh của Chánh Thuật sử dụng, dù hiện có một số trường phái dùng đến chúng. Những nguy hiểm liên quan đến chúng nghiêm trọng đến mức chúng ta nên xem sự thức tỉnh của chúng là bất hạnh lớn nhất.

The flow of vitality into or through any chakram is quite separate and distinct from the development of the chakram brought about by the awakening of Kundalini, which will be described in Chapter XIII.

Dòng sinh lực đi vào hay đi qua bất kỳ luân xa nào hoàn toàn riêng biệt và khác hẳn với sự phát triển của luân xa do sự thức tỉnh của Kundalini gây nên, điều sẽ được mô tả trong Chương XIII.

We shall now proceed to study each of the seven chakrams in turn, examining its structure, appearance, function, and the faculties associated with it. For reasons which will presently appear, it will be convenient to commence with the third centre, that situated near the spleen.

Bây giờ chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu từng luân xa trong bảy luân xa, khảo sát cấu trúc, vẻ ngoài, chức năng và các năng lực liên hệ với nó. Vì những lý do sẽ sớm hiện rõ, thuận tiện nhất là bắt đầu với trung tâm thứ ba, tức trung tâm nằm gần lá lách.

CHAPTER IV – CHƯƠNG IV

THE SPLEEN CENTRE – TRUNG TÂM LÁ LÁCH

The spleen centre has six spokes, and therefore the same number of petals or undulations. In appearance it is specially radiant, glowing and sun-like.

Trung tâm lá lách có sáu nan hoa, và vì vậy có cùng số cánh hoa hay gợn sóng. Về vẻ ngoài, nó đặc biệt rạng rỡ, phát sáng và giống như mặt trời.

This centre is unique in this, that it has the all-important function of absorbing the Vitality Globules –

Trung tâm này độc nhất ở chỗ nó có chức năng vô cùng quan trọng là hấp thụ các Sinh khí cầu —

DIAGRAM IV – BIỂU ĐỒ IV

Spleen Centre – Trung tâm Lá lách

(1) Structure – (1) Cấu trúc

General appearance "Radiant and sun-like"

Vẻ ngoài tổng quát “Rạng rỡ và giống như mặt trời”

Function of Astral Centre: vitalises Astral Body. Power to travel consciously.

Chức năng của Trung tâm Cảm dục: tiếp sinh lực cho Thể Cảm dục. Quyền năng du hành một cách có ý thức.

Function of Etheric Centre: vitalises Physical Body, Memory of Astral Journeys.

Chức năng của Trung tâm Dĩ thái: tiếp sinh lực cho Thể Xác, Ký ức về các cuộc du hành cảm dục.

from the atmosphere, disintegrating them, and distributing the component atoms, charged with the specialised and transmuted Prâna, to the various parts of the body.

từ bầu khí quyển, phân rã chúng, và phân phối các nguyên tử thành phần, được nạp prana chuyên biệt hóa và chuyển hoá, đến các phần khác nhau của thể.

The process will most readily be followed with the aid of diagrams, Nos. IV (2), (3) and (4).

Tiến trình này sẽ dễ theo dõi nhất với sự trợ giúp của các biểu đồ số IV (2), (3) và (4).

Diagram IV – Biểu đồ IV

Spleen Centre – Trung tâm Lá lách

(2) Absorption of Vitality Globules – (2) Sự hấp thụ các Sinh khí cầu

Vitality Globules are drawn into centre of Force-Centre

Các Sinh khí cầu được hút vào trung tâm của Trung tâm Mãnh lực.

DIAGRAM IV – BIỂU ĐỒ IV

Spleen Centre – Trung tâm Lá lách

(3) Decomposition of Vitality Globules – (3) Sự phân rã các Sinh khí cầu

Vitality globules, after being drawn into Centre, are decomposed, and the component particles are whirled round by the "Secondary Forces".

Sau khi được hút vào Trung tâm, các sinh khí cầu bị phân rã, và các hạt thành phần được các “Mãnh lực Thứ cấp” cuốn xoay quanh.

The Vitality Globules are first drawn into the spleen centre: then they are broken up into seven component atoms, each atom charged with one of the seven varieties of Prâna: these atoms are then caught up by the rotating secondary forces and spun round the chakram.

Trước hết, các Sinh khí cầu được hút vào trung tâm lá lách; sau đó chúng bị phá vỡ thành bảy nguyên tử thành phần, mỗi nguyên tử được nạp một trong bảy loại prana; rồi các nguyên tử này bị các mãnh lực thứ cấp đang xoay bắt lấy và quay quanh luân xa.

The seven different kinds of Prâna are coloured thus: -

Bảy loại prana khác nhau có màu như sau: -

Violet –Blue – Green – Yellow – Orange – Dark Red – Rose-Red

Tím – Lam – Lục – Vàng – Cam – Đỏ Sẫm – Đỏ Hồng

It will be observed that the divisions are not exactly those to which we are accustomed in the solar spectrum, but resemble rather the arrangement of colours seen on higher levels in the causal, mental, and astral bodies. The indigo spectrum is divided between the violet and blue rays of Prâna, whilst the red of the spectrum is split up into dark red and rose-red Prâna.

Cần lưu ý rằng các phân chia này không hoàn toàn là những phân chia mà chúng ta quen thuộc trong quang phổ mặt trời, mà giống hơn với sự sắp xếp màu sắc được thấy trên các cấp độ cao hơn trong thể nguyên nhân, thể trí và thể cảm dục. Màu chàm của quang phổ được chia giữa các tia prana tím và lam, trong khi màu đỏ của quang phổ được tách thành prana đỏ sẫm và prana đỏ hồng.

Each of the six spokes then seizes on one variety of atom and despatches it to the chakram or part of the body for which it is needed. This accounts for six kinds of atoms only: the seventh variety, - that coloured rose-pink, is despatched through the hub or centre of the spleen chakram itself, whence it is distributed over the whole nervous system. These rose-coloured atoms are the original atoms which first drew round them the six others to form the globule.

Rồi mỗi trong sáu nan hoa nắm lấy một loại nguyên tử và gửi nó đến luân xa hay phần của thể nơi nó cần đến. Điều này chỉ giải thích sáu loại nguyên tử; loại thứ bảy, loại có màu hồng phấn, được gửi qua trục hay chính trung tâm của luân xa lá lách, từ đó nó được phân phối khắp toàn bộ hệ thần kinh. Những nguyên tử màu hồng này là các nguyên tử ban đầu đã kéo quanh mình sáu nguyên tử khác để hình thành sinh khí cầu.

The atoms which bear the rose-coloured Prâna are clearly the life of the nervous system, and it is this variety of Prâna which one man may give to another, as described in Chapter XIII. If the nerves are insufficiently supplied with this rose-coloured Prâna, they become sensitive and intensely irritable: the patient finds himself restless, and the least noise or touch is agony to him. Instant relief may be afforded him by some healthy person flooding his nervous system with a supply of rose-coloured Prâna.

Các nguyên tử mang prana màu hồng rõ ràng là sự sống của hệ thần kinh, và chính loại prana này là thứ một người có thể truyền cho người khác, như được mô tả trong Chương XIII. Nếu các dây thần kinh không được cung cấp đầy đủ prana màu hồng này, chúng trở nên nhạy cảm và cực kỳ dễ kích thích: bệnh nhân thấy mình bồn chồn, và tiếng động hay sự đụng chạm nhỏ nhất cũng là cực hình đối với y. Một người khỏe mạnh có thể đem lại cho y sự nhẹ nhõm tức thì bằng cách làm ngập hệ thần kinh của y bằng một nguồn prana màu hồng.

Although there are seven distinct kinds of Prâna, there are only five main streams, as described in some Indian books, because after issuing from the spleen chakram the blue and violet join into one stream and the orange and dark red join into another stream. The streams leave the spleen centre horizontally.

Mặc dù có bảy loại prana riêng biệt, chỉ có năm dòng chính, như được mô tả trong một số sách Ấn Độ, bởi vì sau khi đi ra khỏi luân xa lá lách, lam và tím hợp thành một dòng, còn cam và đỏ sẫm hợp thành một dòng khác. Các dòng rời trung tâm lá lách theo phương ngang.

Diagram IV – Biểu đồ IV

Spleen Centre – Trung tâm Lá lách

(4) Dispersion of Vitality Particles – (4) Sự phân tán các Hạt Sinh lực

Process:-

Tiến trình:-

1- Vitality globules are drawn into Centre.

1- Các sinh khí cầu được hút vào Trung tâm.

2- Vitality globules are broken up into particles.

2- Các sinh khí cầu bị phá vỡ thành các hạt.

3- Vitality particles are whirled round by "secondary" forces.

3- Các hạt sinh lực được các mãnh lực “thứ cấp” cuốn xoay quanh.

4- Vitality particles are seized by appropriate "spoke", and despatched to destination shown.

4- Các hạt sinh lực bị “nan hoa” thích hợp nắm lấy, và được gửi đến nơi đến được trình bày.

N.B.- The rose-pink atoms are the original atoms which first drew round them 6 others to form the globule.

Lưu ý.- Các nguyên tử hồng phấn là các nguyên tử ban đầu đã kéo quanh mình 6 nguyên tử khác để hình thành sinh khí cầu.

The colours of the streams and their destinations are set out in the following table:-

Màu sắc của các dòng và nơi đến của chúng được trình bày trong bảng sau:-